Dictionary Search
tỷ kheo ni
See Tỳ Kheo Ni.
tỷ lượng
Người tu chánh pháp phải giác ngộ, dùng thí dụ để thuyết minh thực tướng của hiện lượng, khiến người phát khởi tín giải, gọi là Tỷ lượng.
; Inference, i.e. fire from smoke—See Nhị Lượng, and Tông Nhân Dụ.
tỷ lượng tương vi
Viruddha (skt)—Một trong chín lỗi trong Tông Pháp trong 33 lỗi của Nhân Minh như nói cái bình là thường hằng vĩnh cửu vì tính sở tác của nó (nhân)—A contradicting example or analogy in logic, such as the vase is permanent or eternal because of its nature; one of the nine , in the proposition, of the thirty-three possible fallacies in a syllogism.
tỷ lạc ba a xoa
Virupaksa (skt). 1) Một trong những vị thần canh giữ tứ phương quanh núi Tu Di: One of the lokapalas, or guardians of the four cardinal points of Mount Sumeru—See Lokapala in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 2) Ở Trung Quốc, vị Thần nầy được xem như “Quảng Mục” Thiên Vương, da màu đỏ, tay phải cầm một cái tháp nhỏ, tay trái cầm một con rắn: In China known as “Wide-eyed” guardians, red in colour, with a small pagoda in his right hand, and a serpent in his left. 3) Người ta cũng thờ vị Thần nầy như một trong nhị thập tứ vị Thiên Tôn bên Trung Quốc: In China worshipped as one of the twenty-four Deva Arya. 4) Tên của Thần Ma Hê Thủ La: A name for Mahesvara or Rudra (Siva).
tỷ lệ
Proportion—Ratio.
tỷ ma
Tỷ Ma Kim—Vàng ròng—Pure gold.
tỷ ma kim
Vàng ròng—Pure gold.
tỷ ma nhẫn nhục
Hình tượng Phật, tĩnh lặng và hững hờ trước những sướng khổ của cuộc đời—The Buddha's image in atitude of calmness and indifference to pleasure and pain.
tỷ mạn
Unamāna (S)Đối với người quá ưu việt thì cho rằng mình chỉ là hơi kém.
tỷ na dạ
See Vinaya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tỷ như
See Tỷ Dụ.
tỷ nhập
Tỷ căn và tỷ thức—Organ and sense of smell.
tỷ thức
Tỷ thức phát triển trên những điều kiện của khứu giác. Tỷ thức tùy thuộc hoàn toàn nơi tỷ căn. Nơi một người mất khả năng khứu giác, thì khứu giác và mùi vị không bao giờ gặp nhau, do đó tỷ thức không khởi sanh. Người tu Phật phải cố gắng đóng bớt tỷ căn—The sensation or perception of smell—Smell consciousness—Nose consciousness—Olfactory consciousness—The nose consciousness develops immediately from the dominant condition of the nose faculty when it focuses on smell. Nose consciousness completely dependents on the nose faculty. Someone who lacks smelling capability, nose faculty and smell never meet, therefore, nose consciousness will never arise. Buddhist cultivators should always practise meditation to stop or close the nose consciousness.
tỷ tức
1) Hơi thở bằng mũi: The breath of the nostrils. 2) Tỷ thức: The perception of smell.
tỷ xa khư
Vaisakha (skt)—Tháng thứ hai của mùa xuân—The second month of spring. ** For more information, please see Thập Nhị Nguyệt (2) in Vietnamese-English Section.
tỷ y
Tỷ Phục—Y màu tím hay đỏ thẳm, mà người ta nói là dành riêng cho một số Tăng dưới thời nhà Đường—The purple robe, said to have been bestowed on certain monks during the T'ang dynasty.
tỷ đa
Cha—Father.
Tỷ 比
[ja] ヒ hi ||| (1) To compare, contrast; comparison. (2) A part, segment, ratio, percentage. Partial. (3) For example... An example; a figure of speech. (4) Be included in; the same type. (5) To draw (become) close to. (6) A period of time. (7) Contest, match. => 1. So sánh, đối chiếu; sự so sánh. 2. Phần, đoạn, tỷ lệ, tỷ lệ phần trăm. Từng phần. 3. Tỷ dụ...ví dụ; minh hoạ cho lời nói. 4. Bao gồm; cùng loại. 5. Trở nên gần gũi. 6. Một thời kỳ. 7. Cuộc thi, trận đấu.
u
Hidden; dark; dim; gloomy; gmysterious.
; 1) Đen tối bí mật: Hidden—Dark—Mysterious. 2) Dầy: Dense. 3) Lo lắng: Anxious.
u bát la
See Ưu Bát La.
u cư
To live in seclusion.
u cốc
Dark cavern (cave).
U hiển
(幽顯): ẩn hiện, giống như âm dương, cũng chỉ cho cõi dương và cõi âm. Như trong bài Vi Trình Xử Bậc Từ Phóng Lưu Biểu (爲程處弼辭放流表) của Trần Tử Ngang (陳子昂, 661-702) nhà Đường có đoạn: “Tồn giả lưu ly, vong giả ai thống, tân toan u hiển, vi thế sở bi (存者流離、亡者哀痛、辛酸幽顯、爲世所悲, người còn xa lìa, người mất đau xót, chua cay ẩn hiện, nỗi buồn của đời).” Hay trong Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) quyển 1 cũng có đoạn: “Nhất thiết thánh chúng, hà sa phẩm loại, u hiển thánh phàm, tất trượng chơn hương, phổ đồng cúng dường (一切聖眾、河沙品類、幽顯聖凡、悉仗眞香、普同供養, hết thảy thánh chúng, hà sa các loài, ẩn hiện thánh phàm, đều nhờ chơn hương, khắp đồng cúng dường).”
u hiển
The under world and the world of the living.
u huyền
Enigmatic,
u kim
See Ưu Kim.
u linh
3777又作亡靈、亡魂、幽鬼、冥眾。死者之靈魂出現於此世者之稱。一般言之,死者之魂住於幽冥界,但遭非業之死(枉死)或願望未遂而死之人,其魂不安住冥界,而成爲幽靈出現此世。又幽冥界之諸天鬼神,亦稱幽靈;或人之精靈總稱爲幽靈。一般人相信幽靈會經常出現,佛教傳來東土,有關此類之傳說更不乏其數。幽靈觀念之基礎在於原始民族之靈魂信仰與對死者之恐懼感,認爲在夢中或肉體死亡時,靈魂將會離開肉體,自由到冥界。如是,亡靈會守護生存者,或加以傷害,故自古即對幽靈有強烈之恐怖感。爲期安死者之靈,生者須供養消災,藉追悼而鎮壓,或舉行各種儀式加以安定,令其不加害於人類。佛教不主張靈魂永遠徬徨冥界之事,唯言依前生之業因能招次一生之果報,從死後至次一生之間,受中有之身,期間大約七日至四十九日。〔道宣律師感通錄、大唐西域記卷五阿輸陀國、續高僧傳卷一寶唱傳〕(參閱「中有」1017)
; Invisible spirits, the spirits in the shades, the soul of the departed.
; Tinh linh của cõi u minh, thứ mà chúng sanh trong lục đạo không thể thấy được. Sau khi con người chết, hình thể của họ không thể thấy được nên gọi là u linh—Invisible spirits, the spirits in the shades, the souls of the departed.
U Minh
(幽冥): tối tăm, u ám; do đó từ này dược dùng để chỉ cho cõi Địa Phủ (地府), Địa Ngục (地獄), nơi tối tăm, u ám. Đạo giáo cho rằng người quản chưởng U Minh thế giới là Phong Đô Đại Đế (酆都大帝). Theo Phật Giáo, Bồ Tát Địa Tạng (s: Kṣitigarbha, 地藏) được xem như là giáo chủ cõi U Minh, là người thệ nguyện vào cõi Địa Ngục để cứu dộ chúng sanh như trong Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh (地藏菩薩本願經, Taishō No. 412) có dạy rằng: “Địa Ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ Đề (地獄未空誓不成佛,眾生度盡方證菩提, Địa Ngục chưa hết thề không thành Phật, chúng sanh độ tận mới chứng Bồ Đề).” Trong Thiền môn, thỉnh chuông buổi khuya, sáng sớm được gọi là “Thỉnh Chuông U Minh”, nghĩa là thỉnh chuông để cho các chúng sanh trong cõi tối tăm của Địa Ngục được nghe tiếng chuông mà xa lìa khổ đau, chứng quả giải thoát, như trong bài kệ nguyện chuông có dạy rằng: “Nguyện thử chung thanh siêu pháp giới, Thiết Vi u ám tất giai văn, văn trần thanh tịnh chứng viên thông, nhất thiết chúng sanh thành chánh giác (願此鐘聲超法界、鐵圍幽闇悉遙聞、聞塵清淨證圓通、一切眾生成正覺, nguyện tiếng chuông này vang pháp giới, Thiết Vi tăm tối thảy đều nghe, phiền não trong sạch chứng viên thông, hết thảy chúng sanh thành chánh giác)”, và “Văn chung thanh, phiền não khinh, trí huệ trưởng, Bồ Đề sanh, ly Địa Ngục, xuất hỏa khanh, nguyện thành Phật, độ chúng sanh (聞鐘聲、煩惱輕、智慧長、菩提生、離地獄、出火坑、願成佛、度眾生, nghe tiếng chuông, phiền não buông, trí huệ lớn, Bồ Đề sanh, rời Địa Ngục, thoát lửa than, nguyện thành Phật, độ chúng sanh).”
u minh
Mysterious, beyond comprehension; the shades.
; 1) Nơi xa xôi u tối mà kiến thức bình thường không hiểu nổi: A dark, obscure, and mysterious which is beyond comprehension. 2) Cõi âm ty: The shades—Hells.
u minh giới
See U Minh and Minh Giới.
u mê
Stupid, idiot. Làm u mê, to stupefy, besot, deaden, bestialize.
u nghi
The mysterious form, the spirit of the dead.
; Thần thức của người chết—The mysterious form, the spirit of the dead, or the departed.
U quan
(幽關): cõi tối tăm, u ám, thường được dùng để chỉ cho cõi Âm Ty, Địa Ngục của người chết. Trong tác phẩm Kim Bình Mai (金瓶梅), chương 66 Lan Lăng Tiếu Tiếu Sanh (蘭陵笑笑生) nhà Minh có đoạn: “Thái Ất từ tôn giáng giá lai, dạ hác u quan thứ đệ khai, đồng tử song song tiền dẫn đạo, tử hồn thọ luyện bộ vân giai (太乙慈尊降駕來、夜壑幽關次第開、童子雙雙前引導、死魂受煉步雲階, Thái Ất đức từ hạ xuống đây, hang tối cõi u dần dần khai, đồng tử hai bên trước dẫn lối, hồn chết thọ luyện lên tầng mây).” Hay như trong bài Thiền Quan Sách Tấn (禪關策進) của Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏, 1535-1615) nhà Minh có câu: “Cảnh sách tại thủ, tật khu nhi trường trì, phá tối hậu chi u quan (警策在手、疾驅而長馳、破最後之幽關, cảnh tỉnh và sách tấn vốn ở nơi tay mình, thúc chạy mau mà đuổi theo lâu dài, để phá cửa tối tăm cuối cùng).” Trong Vi Lâm Đạo Bái Thiền Sư Xan Hương Lục (爲霖道霈禪師餐香錄CBETA No. 1439) cũng có câu: “U quan đốn phá, hiển thanh tịnh quang minh chi thân; Cực Lạc cao siêu, chứng A Bệ Bạt Trí chi địa (幽關頓破、顯清淨光明之身、極樂高超、證阿鞞跋致之地, nẻo u phá sạch, bày thanh tịnh sáng suốt ấy thân; Cực Lạc lên cao, chứng A Bệ Bạt Trí cảnh địa).” Cũng như trong Tục Truyền Đăng Lục (續傳燈錄, Taishō No. 2077) quyển 19 có đoạn: “Vụ khởi giao nguyên long ngâm thành tế, phong sanh hạm ngoại hổ khiếu đình tiền, mộc đồng chàng xuất u quan, thạch nữ phách khai kim tỏa (霧起郊源龍吟城際、風生檻外虎嘯亭前、木童撞出幽關、石女擘開金鎖, sương nổi đầu nguồn rồng gầm ngoài thành, gió sanh ngoài hiên cọp thét trước đình, người gỗ đánh ra cửa u, gái đá bữa tung khóa vàng).” Câu “mộng đoạn Nam Kha, vĩnh cách u quan chi lộ (夢斷南柯、永隔幽關之路)” có nghĩa là khi giấc mộng Nam Kha chấm dứt thì vĩnh viễn cách xa con đường dẫn đến cõi u tối của Địa Ngục, Âm Ty.
u sầu
Secret sorrow (sad).
U thâm 幽深
[ja] ユウシン yūshin ||| 'Mysterious and deep.' => Huyền bí và sâu mầu.
u thê tự
3777位於江蘇江寧縣南之祖堂山(牛頭山之南峰)中,距離佛窟寺約八公里餘。又作幽栖寺。係劉宋大明年間所建。唐貞觀十八年(644)法融於寺北之巖下建禪室,棲隱於此,寂滅後亦於此建塔,故世稱其法系爲牛頭禪。後改稱祖堂寺、延壽寺(院)。其後又恢復幽棲寺之舊稱,清朝康熙六年(1667)一度重修。法融之後,牛頭宗五世智威,及其弟子慧忠、玄素等皆住於此,直至近世,法系傳至第四十七世。寺內現有金剛殿、大雄殿、毘盧殿及大小伽藍殿宇、虎爪穴、祖師衣鉢塔等。其中,在大雄殿安奉光緒年間所建之三尊像與觀音像等。寺之左方有祖洞,乃昔時法融降伏蛇神之處。寺後有獻花巖,即法融宣講法華經時百鳥獻花之處。迨至清末,因受太平軍火焚燬,損燬甚鉅。〔宋高僧傳卷八、卷九、景德傳燈錄卷四、金陵梵剎志卷四十四〕
U trí 幽致
[ja] ユウチ yūchi ||| Subtle. Sublime meaning. => Huyền ảo, vi tế. Ý nghĩa siêu phàm. U 幽 [ja] ユウ yū ||| (1) Obscure, obscured. (2) Dark, gloomy. (3) Secret, subtle, abstruse. (4) Death, the spirit of the dead. => 1. Tối, che mờ. 2. Tối tăm, u ám. 3. Bí ẩn, tinh tế, thâm thuý. 4. Cõi chết, linh hồn của người chết.
u uất
Oppressive.
u ám
Dark, gloomy, obcure, sombre. Mặt u ám, dismal, melancholy face. Tư tưởng u ám, dismal thoughts.
u đa la
Uttara (skt)—U Đảm La. 1) Hậu Quả: Subsequent—Result. 2) Cao Hơn: Thượng—Upper—Higher—Superior—Further. 3) Phía Bắc: North.
u đa la cứu lưu
Uttarakuru (skt)—U Đa La Câu Lâu. Còn gọi là Câu Lư Châu, hay là châu ở về phía Bắc núi Tu Di, hình vuông, dân cư ở đây cũng có mặt hình vuông—The northern of the four continents around Meru, square in shape, inhabited by square-faced people, described as: a) Cao Thượng Tác: Superior to or higher than other continents. b) Thắng: Superior. c) Thắng Sinh: Đời sống nơi nầy kéo dài đến cả ngàn năm và chúng sanh ở đây không phải sản xuất thực phẩm—Superior life because human life there was supposed to last a thousand years and food was produced without human effort. d) Nơi cư ngụ của chư Thiên, chư Thánh trong cõi Phạm Thiên—The dwelling of gods and saints in Brahmanic cosmology.
u đa la tăng già
Uttarasanga (skt)—Áo bên trên và phía ngoài của chư Tăng (áo thất điều mặc choàng qua vai trái)—An upper and outer garment; the seven-patch robe of a monk (the robe flung toga-like over the left shoulder).
u đa ma
Uttama (skt). 1) Chính Yếu: Chief. 2) Cao Nhứt: Highest. 3) Lớn Nhứt: Greatest.
u đà la la ma tử
Một vị Bà La Môn có nhiều thần thông, một thời là thầy dạy của Phật Thích Ca sau khi Ngài xuất gia—A Brahman ascetic, to whom miraculous powers are ascribed, for a time mentor of Sakyamuni after he left home.
u đảm la
See U Đa La.
U đồ
(幽途): con đường tối tăm, u ám, chỉ ba đường ác Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh luân hồi trong Sáu Đường. Trong bài Hòa Lang Gia Vương Y Cổ Thi (和瑯琊王依古詩) có câu: “Trọng Thu biên phong khởi, cô bồng quyến sương căn, bạch nhật vô tinh cảnh, hoàng sa thiên lí hôn, hiển quỹ mạc thù triệt, u đồ khởi dị hồn, thánh hiền lương dĩ hỉ, bão mạng phục hà oan (仲秋邊風起、孤蓬卷霜根。孤蓬卷霜根、白日无精景。白日無精景、黄沙千里昏。黃沙千里昏、显轨莫殊辙。顯軌莫殊轍、幽途岂异魂。幽途豈異魂、圣贤良已矣。聖賢良已矣、抱命复何怨。抱命復何怨, Giữa Thu gió xa dậy, bèo đơn góp hơi sương, ngày sáng không cảnh sắc, cát vàng muôn dặm buông, xe lăn nào thấy dấu, lối mờ buốt lạnh hồn, thánh hiền xưa nay vậy, giữ mạng lấy gì oan ?).” Hơn nữa, trong Tông Kính Lục (宗鏡錄) cũng có đoạn rằng: “Lục cảnh chi nội, phi Niết Bàn chi trạch cố, tá xuất dĩ khư chi nhĩ, thứ hi đạo chi lưu, phảng phất u đồ, thác tình tuyệt vức, đắc ý vong ngôn (六境之內、非涅槃之宅故、借出以祛之耳、庶希道之流、彷彿幽途、托情絕域、得意忘言, Trong sáu cảnh ấy, vì không phải là nhà của Niết Bàn, bèn mượn để đuổi ra khỏi đó vậy, những hạng người cầu đạo, phảng phất chốn u đồ, phó tình chốn tuyệt vọng, được ý rồi quên lời).”
u đồ
The dark paths, i.e. rebirth in purgatory or as hungry ghosts, or animals.
; Con đường tăm tối, sau khi chết phải đọa vào ba đường ác là địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh (con đường u minh mà thần thức sẽ phải đến để chịu sự phán quyết về tội phúc lúc sanh tiền; tùy theo tội phúc mà phải đọa vào ba đường dữ hay lên cõi trời, hoặc về cõi nhân gian)—The dark paths, i.e. of rebirth in purgatory or as hungry ghosts or animals.
u động
Deep and dark cavern (cave).
u ẩn
Hidden, secret, in seclusion. Sống u ẩn, to live in seclusion.
; Hidden—Secret.
u-ba-vac-ta-na
Upavartana (S)Tên một khu rừng gần thành Câu thi na thuộc vương quốc Mạt La, đây là chỗ đức Thích Ca Mâu ni đã nhập diệt.
U-pa-na-ha
S: upanaha; »Thợ đóng giày«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|U-pa-na-ha là người thợ đóng giày tại Sen-đô-na-ga (seṅdhonagar). Ngày nọ thấy một Du-già sư đi ngang, ông bỗng sinh lòng mến mộ, đi theo xin học Phật pháp. Vị này chỉ ông nguyên nhân của mọi cảnh Khổ trên đời và niềm vui khi thoát được sinh tử. Ông cầu xin phép tu tập để thoát khổ, vị Du-già sư Quán đỉnh cho ông và bảo:|Những chiếc chuông bé tí,|gắn trên hai đôi giày,|buông tiếng chuông dễ chịu.|Lắng nghe tiếng chuông đó,|và quán tưởng như sau:|Âm và Không là một.|Người thợ giày quán như thế chín năm trời. Dần dần các Ô nhiễm trong tâm ông tan biến, những thứ ô nhiễm che mất huệ giác của ông, làm trì trệ khả năng thật sự nơi ông. Ông sống thêm chín trăm năm nữa để giáo hoá. Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Một trái tim thanh tịnh,|khi mong cầu điều gì,|điều đó liền hiển hiện.|Thật tại rất sinh động,|và cũng rất nhạy cảm,|những gì ta muốn có,|tức khắc thành sự thật.
U-đi-li-pa
S: udhilipa; »Người chim«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 9 hoặc 11.||H 71: U-đi-li-pa (udhilipa) đang hoà mình vào không gian.|Ông thuộc giòng dõi vương tước, sống sung sướng trong cung điện xa hoa. Ngày nọ, ông thấy một con chim bay trên trời bỗng nhiên phát ý nguyện muốn bay được như chim. Lần nọ, vị Ma-ha Tất-đạt Thánh Thiên đến khất thực, ông cúng dường hậu hỉ rồi quì lạy xin học phép biết bay. Thánh Thiên cho ông nhập môn một Tan-tra đặc biệt, bảo ông phải đi đến 24 thánh địa, tìm kiếm 24 thuốc quý của 24 vị Không hành nữ (s: catuṣpīṭha-mahāyoginī-tan-tra), đọc thần chú của các vị đó hàng vạn lần. Ông vâng lời, hành hương và sau khi trở về gặp lại Thánh Thiên, ông được chỉ cách sắc thuốc. Sau 12 năm thì thuốc sắc xong, quả nhiên U-đi-li-pa bay được. Người đời gọi ông là »Du-già sư biết bay«. Bài thánh ca của ông như sau:|Chỉ điên mới theo đuổi,|dòng tư tưởng lao xao.|Bỏ đi thói quen đó,|Nghiệp sẽ dứt theo liền.|Ðừng rong ruổi nơi đâu,|tâm tự thấy điểm giữa.|Cố tìm nơi đâu khác,|chỉ phí hoài công thôi.|(Xem tên của 24 Thánh địa dưới Jô-gi-pa).
ujjaya
Ujjaya (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
un khói
To fill with smoke—To smoke out mosquitoes.
un đúc
Hun đúc—To form—To train—To forge.
ung dung
At leisure—Leisurely.
ung sang thích tiễn
6911比喻五欲之害身。眾生因煩惱顛倒,貪著世間五欲之樂,如癰、瘡、刺、箭等之害身。〔大智度論卷三十一、摩訶止觀卷七〕
Ung 癰
[ja] ヨウ yō ||| A tumor, or boil, which is removed by a skillful doctor with a sharp knife. The Buddha removes afflictions in the same way. 〔瑜伽論 T 1579.30.625a26〕 => Khối u, nhọt, áp-xe, cần phải được bác sĩ tài giỏi giải phẩu bằng dao bén nhọn. Đức Phật điều phục phiền não của chúng sinh cũng bằng cách như vậy.
upakala
Upakala (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
upanemi
Upanemi (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
upanita
Upanita (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
upasabha
Upasabha (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
upasidari
Upasidari (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
usabha
Usabha (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
uy
Prabhava (skt)—Dáng vẻ uy nghi—Awe-inspiring majesty.
uy danh
Power and reputation—Prestige.
uy lực
Xem Gia trì.
; Power and influence.
Uy lực 威力
[ja] イリキ iriki ||| Supernatural powers; see 威神力. 〔法華經 T 262.9.36b18〕 => Năng lực thần thông. Xem uy thần lực.
uy nghi
3771<一>威嚴之態度。謂起居動作皆有威德有儀則。即習稱之行、住、坐、臥四威儀。又於佛門中,出家之比丘、比丘尼,戒律甚多,且異於在家眾,而有「三千威儀,八萬律儀」和「僧有三千威儀、六萬細行,尼有八萬威儀、十二萬細行」等之說。一般謂戒重威儀輕,若廣義解之,則制教之戒無非皆亦威儀之義,例如二百五十戒中,唯四重禁爲戒分,餘之僧殘等總爲威儀分。又如離性罪稱之爲具足戒,其餘之遮戒則屬威儀,皆可爲證。〔菩薩善戒經卷五、大比丘三千威儀經,法界次第初門卷上之下、八宗綱要卷上〕(參閱「四威儀」1728)
; (A) Nghĩa của Uy Nghi—The meanings of Respect-inspiring deportment: 1) Đi, đứng, ngồi, nằm, đều có uy nghi phép tắc. Có đến 3.000 uy nghi và 80.000 phép tắc về uy nghi nầy—Majestic—Solemnly—Respect-inspiring deportment, or dignity, i.e. in walking, standing, sitting, lying. There are said to be 3,000 and also 80,000 forms of such deportment. (B) Phân Loại Uy Nghi—Categories of Respect-inspiring deportment: a) Tứ Uy Nghi—Four forms of respect-inspiring deportment: 1) Đi: Walking. 2) Đứng: Standing. 3) Nằm: Lying. 4) Ngồi: Sitting. b) Tam Thiên Uy Nghi: Bao gồm 250 giới cụ túc Tiểu Thừa và tất cả những tế hạnh khác—Three thousand forms of respect-inspiring deportment, including the complete 250 commandments for Hinayana Bhikkhus and all other subtle behaviors. c) Tám Vạn Uy Nghi: Tám vạn tư uy nghi của Bồ Tát Đại Thừa, có nghĩa là nhiều uy nghi vô số kể cho hàng Bồ Tát—Eighty thousand forms of respect-inspiring deportment, meaning there are innumerable forms of respect-inspiring deportment for the Bodhisattvas. *** See Ba Ngàn Oai Nghi and Tám Muôn Tế hạnh.
Uy nghi lộ vô ký 威儀路無記
[ja] イギロムキ igiro muki ||| See 威儀無記. 〔瑜伽論 T 1579.30.668a7〕 =>Xem Uy nghi vô ký威儀無記.
Uy nghi lộ 威儀路
[ja] イギロ igiro ||| That which is related to the deportments 威儀. => Thuật ngữ liên quan đến Uy nghi.
uy nghi pháp sư
Uy Nghi Tăng—A master of ceremonies.
uy nghi sư
3771爲糾正眾僧威儀而負責指導之師。於授戒期間,或法會當中,擔任極重要之職位,其下設有從儀師多人。
uy nghi tăng
See Uy Nghi Pháp Sư.
Uy nghi vô ký 威儀無記
[ja] イギムキ igi muki ||| The morally neutrality and non-impedimentary character of the four modes of deportment 威儀, which is one of the four kinds of non-impedimentary moral neutrality 四無記, originally taught by the Sarvāstivādins 有部. 〔倶舎論、 T 1559.29.181c26〕 =>Đạo đức trung tính và vô ký trong 4 uy nghi, là một trong 4 loại vô ký, thường được đề xướng bởi Hữu bộ.
Uy nghi 威儀
[ja] イギ igi ||| (1) Dignity (of demeanor); majesty; a sense of decorum, the kind of attitude that is appropriate at a sacred rite. (2) Behavior, conduct. Everyday activity. (3) Specifically speaking, the four deportments of walking 行, standing 住, sitting 坐, and lying down 臥 (īrya-patha). (4) Behavior according to proper rules of order; excellent behavior. (5) A synonym for the precepts 戒律. => 1. Phẩm cách (trong phong thái cử chỉ); vẻ oai nghiêm; ý thức về sự đoan nghiêm; phong cách tương ứng với các lễ nghi thiêng liêng. 2. Phong cách, hành vi sinh hoạt hằng ngày. 3. Nói chung là 4 uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm (s: īrya-patha). 4. Phong cách khế hợp với giới luật, phong cách ưu việt. 5. Đồng nghĩa với giới luật.
uy nghiêm
Imposing—Solemn—Grave.
uy nhĩ khẳng tư
3771(Wilkins, Sir Charles; 1750~1836)英國之東方學學者。本爲東印度公司之書記,後設立孟加拉亞細亞協會,致力於東方學之振興,而爲最早研究梵文碑文之西歐人。西元一七八五年出版梵語寓言集與希多帕達莎(梵 Hitopadeśa)、薄伽梵歌(梵 Bhagavadgītā)等英譯本,爲梵文原典英譯之始。印度初任總督哈士汀克斯(Hastings, Warren; 1732~1818)爲了解印度之風土民情,遂鼓勵翻譯工作,由是乃促成古代印度法典翻譯風氣之盛行,以此機緣,氏遂成爲初期印度學之學者。著有:Sanskrit-English Dictionary, 1779; Richardson's Persian and ArabicDictionary, 1806.
uy nhĩ sâm
3771(Wilson, Horace Hayman; 1786~1860)英國印度學學者。本爲東印度公司之醫師,西元一八○八年任職加爾各答,於其時勤修梵文,且爲孟加拉亞細亞協會會長。一八三三年任牛津大學教授,致力於印度學之復興。著有:Dictionary in Sanskrit and English, 1819; History of Cashmere, 1825;Select Specimens of the Theatre of the Hindus, 1826~1827; Ariana Antiqua, 1841;History of British India from 1805 to 1835, 3vols., 1844~1848; Sanskrit Grammar, Rigveda-sanhitā, 6 vols., 1850~1888.
uy nộ
Awe-inspiring; wrathful majesty.
uy nộ vương
3769爲密教明王部之通稱。佛爲教化難化之眾生,遂現忿怒身以折服之。聖無動威怒王立印儀軌(大二一‧一上):「有大威怒王,名聖者無動。」
; Tên chung của chư vị Kim Cang Bộ hiện ra Phẫn Nộ Hộ Pháp trong Phật Giáo—The Wrathful Maharaja guardians of Buddhism.
Uy nộ vương niệm tụng pháp 威怒王念誦法
[ja] イヌオウネンショウホウ Inuō nenshō hō ||| The Weinuwang niansong fa (T 1214.21.73-76); abbreviated title of the Sheng Yanmandejia weinuwang licheng dashen yan niansong fa 聖閻曼德迦威怒王立成大神驗念誦法. => (c: Weinuwang niansong fa ); viết tắt của Thánh diệm mạn đức ca uy nộ vương lập thành đại Phật niệm tụng pháp (c: Sheng Yanmandejia weinuwang licheng dashen yan niansong fa 聖閻曼德迦威怒王立成大神驗念誦法).
uy quyền
Authority—Power.
uy thần
3770梵語 anubhāva。爲勢力或品位之義。滅絕凡念俗慮之品格者。意指佛菩薩等,爲凡夫之智所無法測知,不可思議之德行。威,即威德,對外能令人敬畏;神,即神力,對內難以測度。如佛陀,其端正姝好,猶如星中之月,光耀暐曄,晃若金山,可謂相好具足,威神巍巍。〔中阿含卷六教化病經、卷八未曾有法經、法華經卷七普賢菩薩勸發品、觀世音菩薩普門品〕
; Anubhava (skt)—Uy đức của chư Thần—The awe-inspiring gods or spirits—Pervading power or grace.
uy thần lực
Adhisthana (skt)—See Gia Trì in Vietnamese-English Section, and Adhisthana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Uy thần lực 威神力
[ja] イジンリキ ijinriki ||| Majestic power; mighty divine powers (Skt. tejas, anubhāva). 〔法華經 T 262.9.56c10〕 => Năng lực oai nghiêm; năng lực siêu phàm (Skt. tejas, anubhāva).
uy thế viên đức
3770佛果圓德之一。謂如來神通力之功德圓滿。據俱舍論卷二十七,如來具有如下之威勢:(一)於外境之化生轉變,有住持自在之威勢。(二)於壽量若促、若延,有自在之威勢。(三)於空處或障礙處,皆可速行極遠;無論小如芥子,大如須彌,皆有相入自在之威勢。(四)能令世間種種之本性法爾轉勝,有希奇之威勢。另又有四種法:(一)難化必能化,(二)答難必決疑,(三)立教所化之有情必出難,(四)惡魔、外道等必能降服。
uy tín
Prestige
uy âm na bạn
3770禪林用語。威音王佛乃是過去莊嚴劫最初之佛,此佛出世以前爲絕待無限之境界,故禪家多以威音王佛出世以前稱爲威音那畔,以示學人向上探解之境界,或點醒學人自己本來之面目。其意與「父母未生以前」、「天地未開以前」等語相同。〔五燈會元卷十九、祖庭事苑卷五〕
uy âm tiền nhất tiễn
3770禪林用語。指眾生本具之佛性。於無限悠久以來,眾生即具有清淨之佛心,猶如威音王佛以前所放之一箭。威音王佛,乃過去莊嚴劫最初之佛名,故以之比喻無限悠遠之前。
uy âm vương
Bhisma-garjita-ghosa-svara-raja (skt)—Còn gọi là Uy Âm Vương Phật với âm thanh vi diệu, tên của vô lượng Đức Phật xuất hiện thời “Không Kiếp” (các ngài thị hiện làm sáng tỏ nghĩa thực tế với âm thanh vi diệu của các ngài)—The king with the awe-inspiring voice, the name of countless Buddhas successively appearing during the empty kalpa.
uy âm vương dĩ tiền
3769禪林用語。又作威音王佛出世已前。乃禪林常用以指點學人自己本來面目之語句,意同「父母未生以前」、「天地未開以前」、「空劫以前」等語。蓋威音王佛乃過去莊嚴劫最初之佛名,故以之表示無量無邊的久遠之前。
uy âm vương phật
3770威音王,梵名 Bhīṣma-garjitasvara-rāja。又作寂趣音王佛。乃過去莊嚴劫最初之佛名。法華經卷六常不輕菩薩品(大九‧五○中):「乃往古昔,過無量無邊不可思議阿僧祇劫,有佛名威音王如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊,劫名離衰(梵 Vinirbhoga),國名大成(梵 Mahāsaṃbhāva)。其威音王佛於彼世中,爲天人、阿修羅說法。(中略)是威音王佛壽四十萬億那由他恆河沙劫,正法住世,劫數如一閻浮提微塵;像法住世,劫數如四天下微塵。其佛饒益眾生已,然後滅度。正法、像法滅盡之後,於此國土復有佛出,亦號威音王如來、應供、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。如是次第有二萬億佛,皆同一號。」可知威音王佛乃多數佛之佛名。 另據妙法蓮華經玄贊卷十本載,諸佛同名爲威音王者,即顯說法華之音聲,如王之尊勝,有大威勢,能令眾生獲大利樂。其後禪宗以此佛表示遙遠之古代,以「威音王佛已前」比喻人類本有的純正之精神境界。〔大佛頂首楞嚴經卷五、正法華經卷九常被輕慢品、天台法華疏義決卷六本、五燈會元卷十九、祖庭事苑卷五、法華開示抄卷二十三〕
; Bhismagarjitasvararāja (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Bhìsmagarjitasvara-ràja (S). A former Buddha.
Uy âm vương Phật 威音王佛
[ja] イオンオウブツ Ionō butsu ||| Bhīṣma-garjita-svara-rāja. The buddha Majestic Voice King, who lived in the extremely distant past. 〔法華經 T 262.9.50c3〕 => (s: Bhīṣma-garjita-svara-rāja). Đức Phật đầu tiên thời quá khứ.
uy đức
Uy nghi và đức hạnh (đáng tôn là uy nghi, đáng kính là đức hạnh)—Respect-inspiring virtue; dignified reverence and virtue.
uy đức tam muội
3772爲百八三昧之一。又稱威德定。即發威德力之禪定。菩薩若得此三昧,必顯威德莊嚴。〔大智度論卷四十七〕
uy đức thần thông
Majestic supernatural powers.
Uy đức tự tại 威德自在
[ja] イトクジザイ itoku jizai ||| 'Superb Power,' 'Superb Influence'; one of the twelve bodhisattvas of the Sutra of Perfect Enlightenment (圓覺經). T 842.17. => “Năng lực ưu việt”, “Tác dụng siêu việt”. Tên một trong 12 vị Bồ-tát trong kinh Viên Giác.
Uy đức 威德
[ja] イトク itoku ||| Power (in the sense of the authority held by a ruler) and virtue; which implies the possession of both of the qualities necessary to crush evil. 〔法華經 T 262.9.16c17〕 => Năng lực (trong ý nghĩa quyền lực của một người trị vì) và đức hạnh; hàm ý có được 2 phẩm tính cần thiết để tiêu trừ việc ác.
Uy 威
[ja] イ i ||| (1) Power, authority, influence. Severe, stern, majestic, awe-inspiring. (2) Awe, pomp, to overawe. => 1. Năng lực, uy lực, uy thế. Nghiêm khắc, nghiêm nghị, oai nghiêm, gây kinh hoàng. 2.Sự kính sợ, vẻ tráng lệ, quá kính nể.
uy-nhã-quốc
Ujunnā (P).
uyên
Chim uyên (đôi uyên ương, con trống gọi là uyên, con mái gọi là ương)—Drake of mandarin duck.
uyên ban
6372禪林中,凡誦經之時,東西兩班對面站立,稱為鴛班。〔禪林象器箋禮則門〕
; Đứng thành hàng đối mặt nhau lúc tụng kinh, như kiểu chim uyên đậu—Paired bands, i.e. to stand facing each other when reciting sutras.
uyên bác
Deep—Profound.
Uyên lộ
(鵷鷺, 鴛鷺): nguyên nghĩa là con chim phượng (鵷, uyên) và cò trắng (鷺, lộ). Hai loài chim này khi bay có đường lối chỉnh tề; từ đó nó có nghĩa là trăm quan của triều đình chỉnh tề hàng ngũ. Như trong bài Lạc Chương Nhị Ngự Điện Khánh Hạ Hòa Từ Nhu Ca (樂章二禦殿慶賀禾辭桑歌) của Thanh Sử Cảo (清史稿), quyển 72 có câu: “Quần thần hành lễ phổ bình phủ phất, Chiêu Văn ngưỡng đại quán, tung hô vạn tế hoan, uyên lộ thành hàng ủng bá quan (群臣行禮普平黼黻、昭文仰大觀、嵩呼萬歲歡、鵷鷺成行擁百官, quần thần làm lễ cùng khắp lễ phục, Chiêu Văn ngưỡng trông lên, tung hô vạn tuế, chỉnh tề thành hàng hộ vệ bá quan).”
uyên nho
Deeply learned scholar.
uyên thâm
See Uyên bác.
uyên áo
Mysterious.
uyển
Công viên—A park—Vườn Thượng Uyển—Imperial Park.
uyển công tứ giáo
3950苑公,即慧苑,係唐代賢首大師法藏之弟子,因寶性論中載有凡夫、聲聞、辟支、初心菩薩等四種眾生不識如來藏,遂立下列四教:(一)迷真異執教,謂諸外道凡夫迷於真性而廣起異計,故稱迷真異執教。(二)真一分半教,謂聲聞、辟支佛二種人,於真如隨緣、不變二分義中,僅得隨緣而無得不變,故稱一分;又於隨緣分中唯說生空(人空)所顯之理,而不明法空,故稱半,綜上所述,稱爲真一分半教。(三)真一分滿教,謂初心菩薩僅得不變而無得隨緣,故稱一分;然於不變分中雙辨二空之理,故稱滿,綜上所述,稱爲真一分滿教。(四)真具分滿教,謂菩薩具足隨緣、不變二分之義,以顯真實之理,證識如來藏,故稱真具分滿教。
; Four doctrines, teachings or schools—See Tứ Giáo.
uyển lăng lục
3186全一卷。全稱黃檗斷際禪師宛陵錄。又作斷際禪師宛陵錄。唐代裴休編。收於大正藏第四十八冊。內容輯錄黃檗希運禪師住於安徽宣州宛陵時,與裴休等人之宗乘機緣對話。希運以「禪」乃生死大事,不能等閒視之;並強調公案對於頓悟之重要性,顯示自其開始,禪林已將公案作爲參禪之特殊法門。
uïp
To fall down—To collapse.
uông trí biểu
941籍貫生年不詳。交通大學電機系畢業,曾任商務印書館編輯,後赴美國哈佛大學攻讀無線電工程,回國後歷任大學教授。著有佛教科學觀、一個科學者研究佛經的報告。以科學之客觀立場,闡揚佛法深奧之妙義。以科學家之眼光,證明佛學所詮釋之理論,無一不符合科學家之觀念,初機學佛者不可不讀,以科學非難佛法之人,更應該讀。
uý trì ất tăng
4512七世紀唐代畫家。于闐人(一說吐火羅人)。尉遲為姓,乙僧係相對於其兄「甲僧」之稱而言;並相對其父尉遲跋質那「大尉遲」之稱,乙僧則稱為「小尉遲」。父子均擅長繪畫,父跋質那擅長繪製外國故實、佛像、鳥獸等壁畫,唐初授以宿衛官,且封郡公;乙僧亦擅於丹青,用筆緊勁,如屈鐵盤絲。唐貞觀初年,受該國國王推薦,以畫藝仕於太宗,唐室授以宿衛官,封郡公。寂年與年壽均不詳。作品有長安慈恩寺之千臂千鉢曼殊師利菩薩像、光宅寺七寶臺後之降魔變、洛陽大雲寺三門東兩壁之鬼神及佛殿菩薩六尊、淨土經變等。其畫風受伊朗陰影暈染之影響,迥異於中土,世稱凹凸畫。〔歷代名畫記卷二、卷三、卷八、卷九、太平廣記卷二一一、宣和畫譜卷二、圖繪寶鑑乙僧傳,畫鑒〕
uất
Dense, oppressive, anxious; translit u sounds.
uất ba la
Xem Thanh liên.
uất già thị
3982郁伽,梵名 Ugra,巴利名 Ugga。爲憍薩羅國(梵 Kośala)之都城。亦爲郁伽比丘之誕生地。郁伽比丘爲此市長者之子,於成長後出家得道;長老偈經(巴 Thera-gāthā)之八十偈即彼所作詩。據法句經註(巴 Dhammapada-Atthakathā)三所述,釋尊曾命阿那律(巴 Anuruddha)留於此地弘法。
uất hận
Hidden spite.
uất uất hoàng hoa
6984南朝道生法師(?~434)主張無情亦有佛性,曾以草木闡述一真法界之妙理,而謂(卍續一一三‧七五上):「青青翠竹,盡是真如;鬱鬱黃花,無非般若。」〔祖庭事苑卷五〕
uất đan việt
The northern of the four continents around Meru. Also Bắc cu lô châu.
uất đà ca la la
Ārāḍa-Kālāma (S), Ālāra-Kālāma (P), Alārāma Kālāma (P), Arāda-Kālāma (S)A lam, A la la, A la ra ca lam.Tên vị đạo sĩ, thầy dạy thứ nhất của đức Phật, tu đạt đến cảnh giới Vô sở hữu xứ thiên.
uất đà ca la ma tử
Udraka-Ramaputra (S), Uddaka-Ramaputta (P)Vị thầy thứ hai ma Thái tử Tất Đạt Đa có học đạo sau khi xuất gia Vị thầy thứ nhì, nhờ đó đức Phật đắc Đệ bát thiền vô sắc, thuộc cảnh giới phi tưởng phi phi tưởng, không còn tri giác mà cũng không có không tri giác. Vào thuở này không ai đắc quả thiền nào cao hơn.
uất đà già
Xem Uất đà la.
; Udraka-Ràmaputra (S). A Brahman ascetic to whom miraculous powers are ascribed, for a time mentor of Sàkyamuni when he left home. Also Uất đầu lam phất, Uất đà la.
uất đà la
Udraka-Rama-Putral (S), Rudraka (S)Uất đà già, Uất đầu lam PhấtBậc tu hành thứ nhì mà đức Phật gặp gần thành Vương xá và có thọ học theo người này sau khi rời ngài A la lá, thọ pháp Phi tưởng phi phi tưởng, pháp cao nhất thời ấyXem Udraka.
; Uttara (S). Upper, higher, superior; subsequent; result; excess; the north.
uất đà la tăng
Uttarāsaṇgha (P), Upper robe Thượng y, áo Uất đa la tăng, áo Thất điềuMột trong ba loại áo cà sa của Nam phương Phật giáo.
; Uttaràsanga (S). An upper or outer garment; the seven-patch robe of a monk; also used for the robe flung toga-like over the left-shoulder.
uất đà ma
Uttama (S). Highest, chief, greatest.
uất đầu lam phất
Xem Uất đà la.
; See Udraka-ramaputra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
uất đề thi sơn
6983<一>鬱提尸,梵名 Udeśin。意譯遠聞山。據華嚴經探玄記卷十五載,此山圍繞北印度迦濕彌羅國四周。華嚴經探玄記卷十五(大三五‧三九一下):「鬱提尸山,此云遠聞山;謂多處遠人皆聞故。」 <二>意譯日初出處。翻梵語卷九(大五四‧一○四二下):「鬱提尸山,譯曰日初出處。」
uất để ca
6982梵名 Uttika。意譯能說。又作嗢底迦、郁胝歌、鬱低迦、優陟。為佛世時一外道之名。此外道曾詣佛所,問世間有邊無邊等四句。其餘事蹟不詳。〔雜阿含經卷三十四、俱舍論卷三十〕
uất địa diên na
6979梵名 Uḍḍiyāna 或 Oḍiyāna, Oddiyāna。位於北印度之古地名,乃怛特羅佛教之起源地。為四聖地之一。於近世,此地引起學界廣泛注意,其中,關於其地理位置,有多種異說,代表看法有下列數說:(一)地理學者猶雷(H. Yule)以為鬱地延那位於蘇瓦特河(Swat)流域之白夏瓦(Peshawal)北方,並據玄奘之記錄,進一步推定為興都庫什(Hindu Kush)山脈南方之丘陵地帶之大部分。(二)華德爾(L.A. Waddell)繼承其說,認為此地係指喀什米爾(Kashmīra)西北部之加慈尼(Ghazni),即烏仗那(梵 Udyāna)或烏長(梵 Urgan)。(三)萊維(S. Lévi)認為在喀什噶爾(Kashgarh)地方;又以為係哈拉帕拉沙得薩斯特立(Haraprasāda śāstrī),即奧立沙(Orissa)地方。(四)巴達恰利亞(Benoytosh Bhattacharyya)則主張在阿薩密(Assam)或孟加拉之說。巴氏提出四項理由以支持其主張:(1)西藏史書之記事:烏仗那國王因陀羅浦諦(梵 Indrabhūti),其子蓮華生(梵 Padmasambhava)曾於加荷爾(Jāhor)娶寂護(梵 Śāntirakṣita)之妹;而加荷爾被推定在東孟加拉之達卡(Dacca)地方,即現今之沙波爾村(Sābhār)。準此,烏仗那應在加荷爾附近。(2)除烏仗那以外,另被認為四聖地之一的迦摩基耶(梵 Kāmākhyā)與西利喝達(梵 Sirihaṭṭa)位置鄰近,故烏仗那應亦在不遠之處。(3)據云烏仗那國與楞伽普羅(梵 Laṅkāpuri)為姊妹國。楞伽普羅為阿摩羅犍多迦(梵 Amarakaṇṭaka)山脈之一峰,或在阿薩密或中央印度,或錫蘭。故楞伽普羅之位置若在阿薩密,則烏仗那亦應在同一國,因而推定烏仗那在阿薩密。(4)據著名的印度、西藏、蒙古之佛教史「如意寶樹史」(藏 Dpag bsam ljoṅ bzaṅ)之記載,怛特羅成就者之一的螺巴(藏 Luipā)曾出仕烏仗那國,又據西藏大藏經丹珠爾目錄所述,螺巴乃孟加拉人,其著作多以孟加拉語撰寫。若烏仗那在孟加拉,則此二記述不約而同。然現代學者支持此說者不多,因其所根據西藏史書之記載,未脫傳說之範圍,故未得學界承認。(5)圖吉(G.Tucci)認為鬱地延那即是西北印度蘇瓦特溪谷地帶之烏仗那或鬱地引那(梵 Udnvānaka),此說於諸說之中較為有力。圖吉近年在此地進行考古學發掘,發現多數有關怛特羅佛教之遺品。 圖吉之說如能確定,則此地與佛教有極深之淵源,蓋 Udnvānaka 在漢文典籍中音譯為烏仗那、烏場、烏萇、烏長那、烏填那、烏填曩、越底延、鬱地引那,古來為東西交通之要地。雖在紀元前曾被亞歷山大大帝征服,其後又被匈奴侵略,然於西元一千年頃被回教徒滅亡以前,此處佛教文化一直盛行;經典中所記述佛陀之事蹟及本生故事,如割肉餵鷹、聞半偈而捨身、降伏惡龍等著名故事,皆發生於此地。 大唐西域記卷三詳錄烏仗那國之記載,謂此國之周圍有五千餘里,山谷相屬,川澤連緜,雖有穀稼,然地利不肥。金、鐵極豐,多產蒲萄、鬱金香等,林樹蓊鬱,花果茂盛,寒暑和暢,風雨順序。人性怯懦,俗情譎詭,好學而不切。時人多以禁咒為業。多著白岁,少有餘服。語言大致與印度相同,文字、禮儀亦頗類似。崇重佛法,敬信大乘。沿蘇婆伐窣堵河之河岸,舊有一千四百伽藍,多已荒蕪。昔有僧徒一萬八千,後漸減少。僧徒並學大小乘,而以「寂定」為業;又善於持誦文句,然未究深義;戒行清淨,而特嫺禁咒。律儀傳訓有五部:法密部、化地部、飲光部、說一切有部、大眾部。另有十餘所天祠,異道雜居。又國中有四、五座堅固小城,其王大多治於瞢揭釐城,該城周圍有十六、七里,居民殷盛。 上述記載中之「蘇婆伐窣堵河」,梵名為 Śubhavastu 或 Subhavastu,即是蘇瓦特河,亦即如意寶樹史上所謂之「鬱地延那乃怛特羅教最初發生地」。另據八十四成就者傳一書所記述,鬱地延那係擁有五十萬都市之國,分為二王國,一為三婆羅國(梵 Sambhala),由因陀羅浦諦王統治;另一為楞伽普羅國,由加拉因陀羅王(梵 Jalendra)統治。加拉因陀羅王之子娶因陀羅浦諦王之妹羅珂修明迦羅(梵 Lakṣmīkarā)為妻。彼女得因陀羅浦諦之印可而成為成就者時,因陀羅浦諦乃讓國與子而退位。又據西藏之傳說,佛陀曾在鬱地延那傳授金剛乘(梵 Vajrayāna)之教法予因陀羅浦諦。大抵而言,關於鬱地延那之傳說,皆極具神話色彩,記載此類傳說者,有不少西藏典籍。如布頓(藏 Bu-ston)所作,開啟怛特羅部深義門之寶鑰(藏 Rgyud-sdeḥi zab-don sgo-ḥbyed Rin-chen gces-paḥi lde-mig)、怛特羅概論(藏Rgyud-sde spyiḥi rnam-par-gshag-pa)、青冊(藏 Deb-ther sṅon-po)等書,惟各書記載略有不同。 此外,西藏又有一傳說,謂因陀羅浦諦王常見僧侶於午前由東往西,午後由西往東,成群飛行空中。王知是佛陀之聲聞弟子以神變力往還舍衛城行乞,即請降臨傳授金剛乘教。此一傳說或因 uḍḍīyana 一詞與 uḍḍayana(飛翔)類似而來。然據近人研究,謂鬱地延那國王因陀羅浦諦與祕密集會怛特羅之間並無密切關係;並以為所謂「怛特羅佛教之樂園、理想國土」之鬱地延那,未必真有其地,而係怛特羅佛教徒之空想世界而已。要之,由於該地曾被回教徒侵入,並徹底破壞,故後世怛特羅佛教徒在憧憬昔日佛國鬱地延那之餘,乃將其理想化,種種傳說,或係由是而來。〔布頓佛教史、多羅那他印度佛教史、H. Yule: The book of Ser Marco Polo.ed.H. Cordier 3rd edn; L.A. Waddell: Lamaism; B. Bhattacharyya: An Introduction to Buddhist Esoterism; G. Tucci: Tibetan Painted Scrolls vol. I〕(參閱「烏仗那國」4175)
uất-đa-la-tăng
xem ba tấm pháp y.
Uất-đà-già
xem Uất-đầu-lam-phất.
Uất-đà-la-già
xem Uất-đầu-lam-phất.
Uất-đà-la-ma tử
xem Uất-đầu-lam-phất.
Uất-đầu-lam-phất
, phiên âm từ Phạn ngữ là Udraka-rmaputra, cùng với ông A-la-la, phiên âm từ Phạn ngữ là rḍaklma, là những vị tiên nhân ngoại đạo mà đức Phật tìm đến trước tiên trên con đường học đạo. Sau khi thọ học với các vị này, ngài nhận ra là họ hoàn toàn không có khả năng đạt đến sự giải thoát rốt ráo, nên đã từ bỏ họ để ra đi. Tên gọi Uất-đầu-lam-phất được dịch nghĩa là Mãnh Hỷ hay Cực Hỷ và còn được phiên âm theo nhiều cách khác như Uất-đà-già, Ưu-đà-la-ma tử, Uất-đà-la-ma tử, Ốt-đạt-lạc-ca, Uất-đà-la-già... đều xuất phát từ cùng một tên Phạn ngữ.
Uẩn
[ja] ウン un ||| (1) skandha. Something accumulated; or, something differentiated. The constitutional element (aggregates) of human existence. Looking at human existence from five aspects, the five skandhas are posited. Also translated into Chinese as 陰 and 衆. See wuyun 五蘊. (2) To gather, to hoard, collect, bring together. [ja] ウンカイ unkai ||| A reference to the five skandhas 五蘊 and eighteen realms 十八界. 〔二障義 HPC 1.801c〕 Uẩn xứ giới 蘊界處 [ja] ウンカイショ unkaisho ||| A reference to the five skandhas 五蘊, eighteen realms 十八界, and twelve loci 十二處. 〔二障義 HPC 1.801c〕Uẩn xứ giới tam khoa 蘊處界三科 [ja] ウンショカイサンカ unshokai sanka ||| The division of all elements present in sentient beings into the three categories of the five skandhas 五蘊, twelve loci 十二處, and eighteen realms 十八界.
uẩn
6790梵語 skandha,巴利語 khandha。音譯塞建陀。舊譯為陰、眾。乃積集之義,謂許多物事聚集一起,係指有為法而言,如五根、五境等諸色(物質)聚集,即稱為色蘊。 諸師對蘊之解釋有異。據辯中邊論卷中載,蘊有三義:(一)非一義,謂不論其於時間或空間,均有許多質量。(二)總略義,謂聚集所有。(三)分段義,謂依性質不同而分類。俱舍論卷一亦載有三義:(一)和合聚義,謂種種物事聚集一起。(二)肩義,謂肩能荷擔眾物之故。(三)分段義。又摩訶止觀卷五上則載陰有二義:(一)蔭蓋義,謂色聲等之有為法蔭覆真理。(二)積聚義,謂色聲等之有為法積聚生死之苦果。此外,大乘法苑義林章卷五本以為「陰」之梵語音譯為鉢羅婆陀,「眾」之梵語音譯為僧伽,故 skandha 譯為「蘊」才是正譯。
; Khaṇḍa (P), Aggregate, Skandha (S), phung po nga (T)Vi-đà, Ấm, Kiền độ, Ấm, Uẩn ma vương.1- = Âm: Nghĩa là trái lẽ dương (= negative). 2- = Uẩn: Tích tập, kết hợp lại. Sắc Thọ Tưởng Hành Thức là năm uẩn. Năm món tích tụ ấy làm người mê muội, mê nhiễm vật dục.; 3- Vi-đà, tên một vị Thần Hộ pháp
; Skandha (S). Accumulation, heap; group, aggregates of the existence.
; Skandha (skt)—Tắc Kiện Đà—Ấm. (A) Nghĩa của Uẩn—The meanings of Skandha: 1) Che lấp hay che khuất, ý nói các pháp sắc tâm che lấp chân lý: Things that cover or conceal, implying that physical and mental forms obstruct realization of the truth. 2) Tích tập hay chứa nhóm (ý nói các sắc pháp tâm lớn nhỏ trước sau tích tập mà tạo ra tính và sắc): An accumulation or heap, implying the five physical and mental constituents, which combine to form the intelligence or nature, and rupa. 3) Uẩn chỉ là những hiện tượng hữu vi chứ không phải vô vi: The skandhas refer only to the phenomenal, not to the non-phenomenal. (B) Phân loại Uẩn—Categories of Skandha: 1) Ngũ Uẩn: The five kinds of skandha—See Ngũ Uẩn.
uẩn bất nhiếp vô vi
6790蘊不含攝無為法之意。蘊具有積集性,非積集性者,蘊即不攝;而無為法非積集性,以義不相應,故不攝於蘊之中。俱舍論卷一(大二九‧五中):「蘊不攝無為,義不相應故。」
uẩn lạc
6791蘊,積集之義。蘊落即謂五蘊之聚合猶如人之集居於聚落。釋摩訶衍論卷一(大三二‧五九五中):「四者厭患最,已過五蘊聚落故。」〔祕藏寶鑰卷下〕
; Thân thể gồm ngũ uẩn—Any unit or body, consisting of skandhas.
uẩn ma
6792梵語 skandha-māra,巴利語 khanda-māra。又作陰魔、五蘊魔、五眾魔、身魔。為四魔之一。以身中五蘊皆構成奪命之因緣,故喻為魔。即謂色、受、想、行、識等五蘊積聚,而成生死苦果,此生死法能奪智慧之命,故稱蘊魔。〔不空羂索神變真言經卷十四〕(參閱「魔」6885)
; Những con ma hay chướng ngại của ngũ uẩn—The evil spirits that through the five skandhas. **For more information, please see Ngũ Uẩn.
uẩn ma vương
Xem Uẩn.
uẩn minh hộ kinh
Khaṇḍa-paritta sutta (P)Tên một bộ kinh.
uẩn năng
6791宋代僧。眉州(四川)人,俗姓呂。號慧目。生卒年不詳。少習儒學,博究經典。年二十二,校書於村落,偶閱禪冊,似有所得,遂出家。初參謁寶勝澄甫禪師,因徵詰酬酢,所趣頗異,乃逕往荊湖遍參大德,後得法於大溈瑃禪師處。曾與瑃禪師對機,瑃問收劍因緣,師答如旨,瑃笑曰(大五○‧九二八中):「三十年弄馬騎,今日被驢撲。」由是聞名。返川後,最初主持報恩寺,次居中巖寺,住持三十餘年,說法不許人錄,臨終書偈坐化。〔新續高僧傳卷十四〕
uẩn thông
6791(965~1032)宋代臨濟宗僧。廣東南海人,俗姓張。出家後,參禮百丈道常,繼之參禮首山省念,大悟。後歷參湖北洞山守初、大陽山警延、智門師戒等。景德三年(1006),住襄州石門山,天禧四年(1020),移住谷隱山太平興國禪寺,兩山徒眾多達千人。並交結翰林楊文億、中山劉筠等。天聖十年示寂,世壽六十八,諡號「慈照禪師」。李遵勗為撰碑文。著有語錄石門山慈照禪師鳳巖集一卷。〔天聖廣燈錄卷十七、五燈會元卷十一、釋氏稽古略卷四〕
uẩn thức
6791蘊蓄心識之意。與「含識」同義。即指有情眾生,以一切眾生皆蘊蓄心識之故。大唐西域記序(大五一‧八六七中):「穹儀方載之廣,蘊識懷靈之異。」此外,「識」為五蘊之一,故亦稱蘊識。
; Uẩn thức hay hữu tình thức, uẩn thứ năm trong ngũ uẩn—The fifth of the five skandhas, the skandha of intelligence, or intellectuation, or the skandha of consciouseness. **For more information, please see Ngũ Uẩn .
uẩn tính
Skandhātā (S).
; Character of skandha.
uẩn xứ giới
6791五蘊、十二處、十八界之略稱。舊譯陰入界,或作陰界入。通稱為三科。為諸法分類之名目。 有關於三科之由來,據俱舍論卷一載,係為有情之愚、根、樂等而分別說蘊處界三科。愚,或愚於心所、色法,或愚於色心二法,為愚於心所者說五蘊,為愚於色法者說十二處,為愚於色心二法者說十八界;根有利根、中根、鈍根,為利根說五蘊,為中根說十二處,為鈍根說十八界;有情之樂欲亦有略、中、廣三種,為欲略說者說五蘊、為欲中說者說十二處,為欲廣說者說十八界。〔雜阿毘曇心論卷一、俱舍論光記卷一〕
; The five skandhas uẩn, twelve àyatana or bases xứ, eighteen dhàtu or elements giới.
; Ngũ Uẩn-Thập Nhị Xứ-Thập Bát Giới—The five aggregates or skandhas, the twelve bases or ayatana, the eighteen elements or dhatu.
uẩn đà nam
Udana (skt)—Lành thay! (câu Phật thường hay nói để diễn tả sự tán thán)—An expression of joy or praise, voluntary address (by the Buddha).
uế
Asuddha (S), Asubha (P)Xem Bất tịnh.
; Dirty, filthy, unclean.
; Ô uế—Foul—Filthy—Unclean—Impure.
uế khí
Unhealthy air.
uế khư a tất để ca
Cát Tường—See Swastika in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
uế nghiệp
6586為三業之一。依瞋恚而生之身、口、意三業,統稱穢業。據大乘義章卷七載,瞋恚之心,能污穢自己與他人,故名為穢;而由穢法所生起之身、口、意三業,即名為穢業。三業係指曲業、穢業、濁業。曲業、濁業分別依諂、貪而生起身、口、意三業,故曲、穢、濁三業係就身、口、意三業之染污情形而作之分類。〔大毘婆沙論卷一一七、俱舍論卷十五〕(參閱「三業」638)
; Nghiệp bất tịnh, một trong ba loại nghiệp—Impure karma, one of the three kinds of karma. ** For more information, please see Tam Nghiệp.
uế quốc
See Uế Độ.
uế sát
6586與「穢土」、「穢國」同義。剎,梵語 kṣetra,意譯國土。指此娑婆世界為凡夫所住,係穢惡不淨之國土。唐代迦才所撰淨土論序中,即有「永辭穢剎」之語。
; See Uế Độ.
uế thân
6586由惑業所感得的有漏不淨之肉身。即指凡夫污穢不淨之身。觀無量壽佛經疏卷一(大三七‧二四六中):「唯可勤心奉法,畢命為期,捨此穢身,即證彼法性之常樂。」〔往生要集卷上〕
; Filthy body.
; Thân thể nhơ nhớp, nói về thân phàm phu, ô uế không trong sạch, do nhiễm các mối tham dục, sân hận, và ngu si—The impure or sinful body, that of ordinary people, caused by lust, hatred, and ignorance.
uế thực
6586<一>比喻小乘之法。維摩義記卷二本中,比喻小乘之法如穢食,而比丘之大樂欲猶如寶器,故不應以小乘之穢弊法食投於大乘之樂欲寶器。〔注維摩詰經卷三、維摩經義疏卷三、說無垢稱經疏卷三末〕 <二>指貧困者所食不潔淨之食物。大日經疏卷三(大三九‧六一四中):「如貧里穢食,不可置諸寶器。」
; Thức ăn bất tịnh ô uế như thức ăn còn thừa lại, hay thức ăn mà người bệnh đã ăn—Unclean or contaminated food, e.g. left over, or used by the sick.
uế tích kim cang
Ucchuṣṃa Angusa (S)Ô sô quân tràTên của một minh vương thần có công đức chuyển uế thành tịnh. Vị thần này đầu và khắp lỗ chân lông đều phun ra lửa, mặt mày phẩn nộ, có bốn cánh tay cầm các vũ khí: gươm, dây, roi, xoa hoặc phúc câu (có hình như câu móc)Xem Uế tích Minh vương.
; Ucchuma (skt)—Uế Tích Kim Cương, còn gọi là Ô Sô Sát Ma Minh Vương hay Thần Kim Cang Chấp, chúa tể của những nơi ô uế—The vajra-ruler who controls unclean places.
uế tích kim cương bồ tát
Ucchuṣṃa (S)Ô khu sa ma, Ô sô sáp ma, Ô khu sắt ma; Ô su sa ma Minh vương, Thọ Xúc Kim Cang; Uế Tích Kim Cang, Bất Tịnh Kim CangTên một vị Bồ tát.
uế tích kim cương vương
Xem Uế tích kim cương Bồ tát.
uế tặc
Kṣināśrava (S)Lậu tận.
uế độ
The foul earth, impure land.
; Impureland—Wasteland.
; Uế Quốc—Uế Sát—Cõi uế trược nầy, đối lại với cõi Tịnh Độ—This impure world, in contrast with the Pure Land.
uế độ giả danh nhân
6586指居於穢濁國土之人,即此世界之人。為「淨土假名人」之對稱。佛教不同意人有實體之存在,而認為人僅存立於五蘊和合之假名上,故稱為假名人;又此世界之人所賴以存立之五蘊乃有漏染污之五蘊,故稱為穢土假名人。與之相對者,淨土之菩薩係由無漏清淨而微妙之五蘊所和合,故稱為淨土假名人。準此可知,穢土與淨土之人皆由五蘊和合而成,故皆為假名人;其所以不同者,唯在兩者的五蘊之體有染淨之別而已。 又淨穢二種假名人,其五蘊之體雖有染淨之異,然若自因果相續之意義而言,則兩者實具「不一不異」之關係。大智度論卷十二(大二五‧一五○上):「名、色二法和合,假名為人。」〔中論卷三、往生論註卷上〕(參閱「假名人」4378)
Uế độ 穢土
[ja] エド edo ||| (1) This world; the defiled world, secular world. (2) The three realms, six destinies, etc., as contrasted to the . => 1. Cõi giới đang sống; cõi giới nhiễm ô, thế giới phàm trần. 2. Tam giới, lục đạo v.v... ngược với Tịnh độ (e: Pure Land 淨土).
Uế 穢
[ja] エ、アイ e, ai ||| (1) A growth of weeds. (2) To defile, stain, pollute. (3) Dirty, unclean, polluted. (4) The world of defilement. => 1. Cỏ dại mọc đầy. 2. Làm dơ bẩn, làm ô nhục, làm ô uế. 3. Bẩn thỉu, không trong trắng, bị ô nhiễm. 4. Cõi giới ô nhiễm.
uể oải
Flagging.
uốn
1) Uốn khúc: To curve—To bend (things). 2) Uốn tóc: To curl (someone's hair).
uốn nắn
To shape.
uốn nắn tánh tình ai
To shape someone's character.
uống
To drink.
uổng
1) Sai lầm: Oppression—Wrong—Crooked. 2) Uổng phí: To waste—In vain.
uổng công
To waste one's efforts.
uổng lời
To waste one's words.
uổng mạng
See Uổng đời.
uổng thì giờ
To waste time.
uổng tiền
To waste money.
uổng tử
Wrongly done to death.
uổng đời
To waste one's life.
va chạm
To bump against.
vai chánh
Leading part—Leading role.
vai dưới
Lower rank of relationship.
vai trò
Role—Part.
valmiki
Valmiki Tác giả tập trường thi nổi tiếng Ấn độ viết bằng tiếng Sanscrit. Ngài được công nhận là nhà thơ mà tên tuổi được người ta biết đến trước nhất trong văn học Ấn độ.
van lơn
To entreat—To implore.
van lạy
To beseech.
van xin
To beg—To beseech—To implore.
vang
To echo—To sound—To resonate.
vang danh
Famous—Renowned.
vang dậy
To resound.
vang dội
To re-echo—To resound.
vang tai
deafening.
vassa
Xem Hạ An cư.
vay
To borrow.
vay lãi
To borrow at interest.
vay tạm
To borrow temporarily.
ve
1) Ve chai: Bottle. 2) Ve vãn: To flirt—To court. 3) Ve sầu: Cicada.
veõ
To draw—To paint—To sketch.—To design—To describe.
veû
Appearance—Colour—Look—Air.
vi
Sùksma (S). Minute, small, slight; abstruse, subtle; disguise; not; translit vi, bi. Used in the sense of a molecule seven times larger than cực vi an atom.
; 1) Bởi vì: Because of. 2) Chống lại: To oppose. 3) Cực nhỏ: Anu-raja (skt)—Vi trần cực nhỏ hay vi tế, được dùng với nghĩa là một phân tử, bảy lần lớn hơn một nguyên tử—Very small—Minute—Slight—Small—Subtle. It is used in the sense of a molecule seven times larger than an atom. 4) Hành vi: Act—Deed—Action—To do—To make. 5) Là: To be. 6) Vi ba: Âm thanh—A sound. 7) Vi phạm: To disobey. 8) Vi trần: Anu-raja (skt)—See Vi (3) 9) Viên chu (chung quanh): Surrounding—Encircle—Enclose.
vi ba
Micro-wave.
vi bá
3988(Weber, Albrecht Friedrich; 1825~1901)德國印度學、語言學學者。一八五六至一九○一年間任柏林大學教授。致力於吠陀學之振興,且確立梵文文學、語言學、文獻學等方法論。曾動員其優秀門生,共同校訂、翻譯、出版白夜柔吠陀(The White Yajur-veda 1849~1859)。繼之,爲金剛針論(1860)與黑夜柔(1871~1872)之校訂出版。其後,又集合印度學各部門門生共赴研究而有 Indische Studien,18 vols., 1849~1878 之大著問世,此書予印度學之復興以極大衝擊力。時人尊爲德國印度學之中心實力派。主要著作包括 ]ber die Literatur des Sāma Veda, 1849; Indische Streifen, 3 vols.; The History of Indian Literature, 1878; ]ber die Metrik der Inder, 8 vols., 1863.
vi bằng
To serve as evidence—Proof—Evidence.
vi côn
Xem Hộ pháp thần.
vi cảnh
Cảnh giới trái ngược với thân tâm của mình gây ra khổ đau phiền não (kỳ thật cảnh tướng vốn không sai biệt, nhưng tùy theo tâm ý của mình mà gây ra cảm xúc khác nhau)—To oppose or disregard conditions; opposing or unfavourable circumstances.
vi cứ
See Vi Bằng.
vi diệu
Abstruse, recondite, mysterious.
; 1) Subtly wonderful—Miraculous—Mysterious—Recondite—Abstruse. 2) Tên một vị Tỳ Kheo Ấn Độ, đã cứu độ được 500 Tăng chúng: Name of an Indian monk who converted 500 disciples.
vi diệu hương khiết
Subtly wonderful fragrant and pure.
vi diệu pháp
Xem Luận Kinh.
; Xem A tì đàm, A tì đạt ma.
; Abhidarma
vi diệu pháp luân
Wheel of the wonderful Dharma.
vi diệu thanh phật
Vị Phật ngự trị ở thế giới Liên Hoa Trang Nghiêm phương Bắc hay Phật Thích Ca—Amoghasiddhi Buddha or Sakyamuni Buddha who reigns in the North, the world of the Lotus Adornment.
vi duyên
5679指違逆於吾人身心之事緣,如盜賊、水、火等災難。又作逆緣。與「順緣」對稱。又指將惡師、惡友等遮難(障礙)與誘惑,及誹謗正法等逆事,視作入道之緣者。〔大佛頂首楞嚴經卷六、法華經卷六常不輕菩薩品、觀經散善義傳通記卷一〕
; Sự duyên trái ngược với tâm ta, như tai họa, đạo tặc, vân vân—Opposing or hostile conditions, i.e. calamities, robbers, etc.
vi hiến
Contrary to the constitution.
vi hành
Minute, refined, or subtle action.
; Hành động vi tế—Minute, refined, or subtle action.
vi khuẩn
Bacterium—Bacteria.
vi khốn
To be encircled by the enemy.
vi kỷ
See Vị Kỷ.
Vi Lâm Đạo Bái
(爲霖道霈, Irin Dōhai, 1615-1702): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, tự là Vi Lâm (爲霖), hiệu Lữ Bạc (旅泊), Phi Gia Tẩu (非家叟), xuất thân Kiến An (建安), Tỉnh Phúc Kiến (福建省). Năm 14 tuổi, ông xuất gia ở Bạch Vân Tự (白雲寺) và năm sau học kinh luận. Năm 18 tuổi, ông đến viếng thăm Quảng Ấn (廣印) ở Bảo Thiện Tự (寳善寺), Phần Thường (汾常), rồi theo sự hướng dẫn của vị này ông đến thăm Vĩnh Giác Nguyên Hiền (永覺元賢), hầu hạ nhân vật này mấy năm, nhưng sau ông lại đến tham vấn Mật Vân Viên Ngộ (密雲圓悟) ở Thiên Đồng Sơn (天童山), được đại ngộ song Mật Vân không hứa khả cho. Ông lại đem sở chứng này trình cho Nguyên Hiền, nhưng cũng không được công nhận. Vì vậy, ông giã từ thầy đi du phương tham học, kết am ở Bách Trượng Sơn (百丈山), chuyên tu tịnh nghiệp với mẫu thân trong vòng 5 năm và đến năm thứ 7 (1650) niên hiệu Thuận Trị (順治), ông lại theo tham học với Nguyên Hiền ở Cổ Sơn (鼓山), cuối cùng được thầy ấn khả cho. Năm sau, ông lui về ẩn cư tại Quảng Phước Am (廣福菴) ở Kiến Ninh (建寧). Đến năm thứ 14 cùng niên hiệu trên, ông làm Thủ Tòa của Cổ Sơn, và đến năm sau khi Nguyên Hiền qua đời, ông kế thừa sự nghiệp thầy và bắt đầu thăng tòa thuyết pháp. Sống được nơi đây 14 năm, ông lại hạ sơn và sống cuộc đời phiêu bạc, nhưng vì Cổ Sơn không có ai lãnh đạo nên ông lại phải trở về. Vào năm thứ 41 niên hiệu Khang Hy (康熙), ông thị tịch, hưởng thọ 88 tuổi. Ông có để lại một số trước tác như Vi Lâm Đạo Bái Thiền Sư Bỉnh Phất Ngữ Lục (爲霖道霈禪師秉拂語錄) 2 quyển, Xan Hương Lục (餐香錄) 2 quyển, Hoàn Sơn Lục (還山錄) 4 quyển, Pháp Hội Lục (法會錄) 1 quyển, Lữ Bạc Am Cảo (旅泊菴稿) 4 quyển. Bên cạnh đó, ông còn biên tập bản Thiền Hải Thập Trân (禪海十珍) 1 quyển.
vi lâm đạo bái
5146(1615~1702)明末清初曹洞宗僧。福建建安人,俗姓丁。號旅泊、非家叟,字為霖,法名道霈。永覺元賢之法嗣。十四歲入白雲寺出家,研學經教。侍永覺元賢數年,又往天童山參學於密雲圓悟而徹悟。旋赴百丈山結庵修淨業五年。後移居鼓山二十餘年,皈依者甚眾。康熙四十一年示寂,世壽八十八。著述宏富,有仁王般若經合疏三卷、華嚴經疏論纂要一二○卷、法華經文句纂要七卷、佛祖三經指南三卷、為霖道霈禪師秉拂語錄二卷、旅泊庵稿四卷、禪海十珍一卷、四十二章經指南、佛遺教經指南、鼓山錄六卷、般若心經請益說、八十八佛懺、準提懺、發願文註等。〔五燈全書卷六十三、新續高僧傳卷六十三、禪祖念佛集卷下〕
vi lí tâm
5679謂違悖本不生之理,即違悖真如法性之理之心。淨嚴之大日經住心品疏冠解謂,就「豎」而言,於一切之惡法內,此心與法性相違,於外則能招報諸苦;就「橫」而言,此心違阿字本不生之理。
vi lễ
Impolite.
vi lịnh
To disobey an order.
vi lợi
Vì quyền lợi—For gain, or profit.
vi mật
Mysterious, secret, occult.
; Mysterious—Secret—Occult.
vi nhiễu
4917又作圍繞。包圍環繞之意。即繞右旋而敬禮,一般多指右繞三匝。據賢愚因緣經卷九載,佛世時,須達長者不知禮拜供養佛陀之法,首陀會天遂化為人身,教示右繞三匝之禮。蓋右旋本為印度表示敬意之禮法,經典中常有「繞佛三匝」、「右繞三匝」等語。其法施禮者先對佛或塔廟禮拜,而後自左向右旋繞,或繞一周,或繞三周不等。法會中之行道儀式即本乎此。〔法華經分別功德品、法華文句卷二下、南海寄歸內法傳卷三旋右觀時〕(參閱「行道」2563)
; Đi vòng quanh về bên phải tượng Phật ba vòng để tỏ lòng tôn kính (trong Kinh Hiền Ngu, ngài Tu Đạt từ xa thấy Đức Thế Tôn như một trái núi vàng, mắt nhìn lòng vui, không để ý tới lễ phép liền hỏi tả hữu Đức Thế Tôn, mà không xét tới việc Đức Phật đang sinh hoạt. Đức Thế Tôn bèn bảo ông đến bên tòa. Bấy giờ vua trời Thủ Đà Hội thấy Tu Đạt không biết phép lễ bái cúng dường Phật, bèn hóa thành bốn người xếp hàng bước tới bên Đức Thế Tôn, cúi lạy sát chân, rồi đi vòng quanh ba vòng về bên phải. Khi ấy Tu Đạt mới biết phép lễ kính Đức Thế Tôn và làm theo)—To go round—To surround, especially to make three complete turns to the right round an image of Buddha.
vi nữu
Xem Tỳ Nữu thiên.
; Visnu (S). All-pervading, encompassing; "the preserver" in the Trimùrti Brahmà creator, Visnu preserver, Siva destroyer.
vi nữu thiên
Visnu (skt)—Tỳ Nữu—Tỳ Sấu Nữu—Tỳ Sưu Nữu—Biến Tịnh Thiên là tên riêng của Đại Tự Tại Thiên, sinh trong kiếp sơ thủy đại. Bà vợ là Laksmi. Người Tàu cho rằng khí kiếp cháy hết, tất cả đều là không. Do sức nhân duyên phúc đức của chúng sanh, gió thập phương thổi đến, va chạm cọ sát gây ra nước lớn. Trên nước có người ngàn đầu hai ngàn tay, tên là Vi Nữu. Trong rún của Vi Nữu nẩy sinh ra một bông sen báu, sắc vàng nghìn cánh, tỏa ra ánh sáng rực rỡ như muôn ngàn mặt trời cùng soi, trong hoa có người ngồi xếp bằng tròn, người ấy cũng có ánh sáng , tên là Phạm Thiên Vương. Phạm Thiên vương ở trước ngực sanh ra tám con, tám con lại sanh ra thiên địa nhân dân—All-pervading, encompassing; “the preserver” in the Trimurti, Brahma, Visnu, Siva, creator, preserver, destroyer; the Vaisnavas (Vishnuites) are devoted to him as the Saivas are to Siva. His wife is Laksmi, or Sri. The Chinese describe him as born out of water at the beginning of a world kalpa with 1,000 heads and 2,000 hands; from his navel spring a lotus, from which is evolved Brahma.
vi phác dương
Wei P'o-yang (C)Năm 140 ông viết quyển Chu Dịch tham đồng khế, được xem là tác phẩm luyện đan cổ nhất.
vi pháp
Contrary to the law.
vi phân
Diiferential.
vi phạm
To violate—To trangress.
vi phạm luật pháp
To violate the law.
vi sa lạc khởi đa
Vibharaksita (skt)—Vị Hoàng Hậu của vua A Dục—Asoka's queen.
vi sắt nữu
Visnu (skt)—Còn gọi là Tỳ Nữu, Tỳ Sắt Nô, Tỳ Sắt Nộ, Tỳ Sắt Nữu, Tỳ Sấu Nữu, tên khác của Tự Tại Thiên—All-pervading, or encompassing, identified with Narayana-deva.
vi tha thuận tự
5678<一>因明用語。違他,違反敵者(問難者),即爲敵者所不同意;順自,順從立論者自己,即立論者自己所承認其爲真理者。於因明三支作法中,僅宗(命題)支須違他順自。宗若不順自,立論者應不肯建立;宗若不違他,則又無須建立。至於宗支所藉以構成之名詞及因(理由)、喻(譬喻)二支,則須順自,又須順他,始爲圓滿命題。〔因明入正理論悟他門淺釋〕 <二>「違自順他」之對稱。謂違背他性而隨順自家之本性。係大乘起信論義記卷中論真如與無明之作用所立之名目。即「隨緣真如」與「成事無明」二者相對,且二者各具有違自、順他、違他、順自等四種性質,然違自即含順他之意,違他即含順自之意,故統稱爲違自順他、違他順自。就違他順自而言,可分爲:(一)真如之違他,謂真如反對他無明妄染,顯現自家之德;此爲還滅門之意。(二)真如之順自,謂真如隨順自家之本性,內自重於無明,令起淨用;此亦還滅門之意。(三)無明之違他,謂無明違背他真如之理體而覆真理;此爲流轉門之意。(四)無明之順自,謂無明隨順自家之本性而成妄心;此亦流轉門之意。大乘起信論義記卷中本(大四四‧二五五下):「謂真如有二義:一不變義,二隨緣義。無明亦有二義:一無體即空義,二有用成事義。此真妄中,各由初義,故成上真如門也;各由後義,故成此生滅門也。此隨緣真如及成事無明亦各有二義:一違自順他義,二違他順自義。無明中初違自順他亦有二義:一能反對詮示性功德,二能知名義成淨用。違他順自亦有二義:一覆真理,二成妄心。真如中違他順自亦有二義:一翻對妄染顯自德,二內熏無明起淨用。違自順他亦有二義:一隱自真體義,二顯現妄法義。」
; Theo cách của mình và chống lại với cách của người khác—To disregard or oppose others and follow one's own way.
vi tha tỷ lượng
Xem Tha tỷ lượng.
vi thiên tướng quân
Một trong những tướng quân dưới quyền của Nam Thiên Vương, vị nầy thường là vị hộ pháp trong chùa (dưới tứ Thiên Vương có tám vị tướng quân)—One of the generals under the southern Maharaja guardian in a temple.
vi thiện
1) Làm việc thiện: To do good—To be good. 2) Vì việc thiện: Because of the good.
vi thuận
5679違境與順境之並稱。又作順違。感苦之境界,稱爲違境,即與自己之身心相違悖,以致引起痛苦、不快或瞋恚之環境皆屬之。反之,感樂之境界,稱爲順境。成唯識論卷三(大三一‧一一下):「受謂領納,順違俱非,境相爲性。」往生要集卷上(大八四‧四六上):「以貪、瞋境順違多故,自起煩惱,返墮惡道。」〔法界次第卷上〕
; Nghịch và thuận—Oppose and accord with—Hostile and favourable.
vi thú đà
Visuddha (skt)—Thanh tịnh—Purified—Pure.
vi thất
To be at fault—To be mistaken.
vi thật thí quyền
5146天台宗之教判用語。意謂為歸於真實而施設權便之法。乃「開權顯實」、「廢權立實」之對稱。實,究竟之指歸,始終不改之真實義,為佛隨自意之說;權,權宜,為暫用還廢之方便義,乃隨他意而說。其中,名為權者,指「五時」中之前四時,即華嚴時、鹿苑時、方等時、般若時,並「四教」中之前三教,即藏教、通教、別教;名為實者,指第五時法華圓教。於爾前四時所說逗機益物之法,皆係為使之歸於法華真實之妙圓而暫時假立之方便權說,故稱「為實施權」。〔法華經玄義卷一序、卷七下、法華經釋籤卷一、法華經私記卷一〕
vi thệ da
Vijaya (skt). 1) Người vượt thắng: The overcomer. 2) Thị hiện tướng nữ của Đức Tỳ Lô Giá Na: A female manifestation of Vairocana.
vi tiểu tội
Minute, minor offence to the law.
vi trùng
Microbe.
Vi trần
(s, p: aṇu-raja, aṇu-rajas, 微塵): nhỏ như bụi trần, âm dịch là A Noa (阿拏), A Nậu (阿耨); gọi riêng là vi (微), trần (塵); tức là sắc lượng nhỏ nhất do Nhãn Căn nhận lấy được. Cực nhỏ là đơn vị nhỏ nhất tồn tại của sắc pháp được thuyết trong A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 10, 12. Lấy một cái cực nhỏ làm trung tâm, bốn phương trên dưới tụ tập đồng nhất cực nhỏ mà thành một khối, tức gọi là vi trần. Hợp 7 cực vi thì thành một vi trần, 7 vi trần thành một kim trần (金塵), 7 kim trần thành một thủy trần (水塵). Ngoài ra, các kinh luận cũng lấy vi trần tỷ dụ cho số lượng cực nhỏ, lấy số vi trần để dụ cho số cực lớn. Trong Bắc Tề Thư (北齊書), Truyện Phàn Tốn (樊遜傳), có đoạn: “Pháp vương tự tại, biến hóa vô cùng, trí thế giới ư vi trần, nạp Tu Di ư thử mễ (法王自在、變化無窮、置世界於微塵、納須彌於黍米, Pháp vương tự tại, biến hóa vô cùng, bỏ thế giới trong hạt bụi, gom Tu Di nơi hạt lúa).” Hay trong Phật Thuyết Thập Địa Kinh (佛說十地經, Taishō Tripitaka Vol. 10, No. 287) quyển 6 cũng có đoạn: “Ư nhất mao đoan bách thiên ức, na dữu đa quốc vi trần số, như thị vô lượng chư như lai, ư trung an tọa thuyết diệu pháp (於一毛端百千億、那庾多國微塵數、如是無量諸如來、於中安坐說妙法, trên đầu mảy lông trăm ngàn ức, muôn vạn nước bụi trần số, như vậy vô lượng các Như Lai, trong đó an tọa thuyết pháp mầu).” Hoặc trong Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) có bài niệm hương rằng: “Thử nhất biện hương, bất tùng thiên giáng, khởi thuộc địa sanh, Lưỡng Nghi vị phán chi tiên, căn nguyên sung tắc, Tam Giới nhất khí, tài phân chi hậu, chi diệp biến mãn thập phương, siêu nhật nguyệt chi quang hoa, đoạt sơn xuyên chi tú lệ, tức Giới tức Định tức Tuệ, phi mộc phi hỏa phi yên, thâu lai tại nhất vi trần, tán xứ phổ huân pháp giới, nhiệt hướng lô trung, chuyên thân cúng dường, thường trú Tam Bảo, sát hải vạn linh, lịch đại Tổ sư, nhất thiết Thánh chúng, hà sa phẩm loại, u hiển Thánh phàm, tất trượng chơn hương, phổ đồng cúng dường (此一瓣香、不從天降、豈屬地生、兩儀未判之先、根源充塞、三界一氣、纔分之後、枝葉遍滿十方、超日月之光華、奪山川之秀麗、卽戒卽定卽慧、非木非火非煙、收來在一微塵、散處普薰法界、爇向爐中、專伸供養、常住三寶、剎海萬靈、歷代祖師、一切聖眾、河沙品類、幽顯聖凡、悉仗眞香、普同供養, một nén hương này, không từ trời xuống, sao thuộc đất sanh, Lưỡng Nghi [âm dương] chưa phân đầu tiên, nguồn căn đầy ắp, Ba Cõi một khí, mới chia sau đó, cành lá biến khắp mười phương, siêu trời trăng ấy rực sáng, vượt núi sông bao tú lệ, là Giới là Định là Tuệ, chẳng gỗ chẳng lửa chẳng khói, thâu vào trong một bụi trần, tan biến khắp xông pháp giới, rực hướng lò hương, thành tâm cúng dường, thường trú Tam Bảo, tất cả sinh linh, bao đời Tổ sư, hết thảy Thánh chúng, hà sa các loài, ẩn hiện Thánh phàm, đều nhờ chơn hương, cúng dường khắp cùng).”
vi trần
5444梵語 aṇu-raja 或 aṇu-rajas,巴利語同。音譯阿拏、阿耨。單稱微、塵。即眼根所取最微細之色量。極微,爲俱舍論卷十、卷十二所說色法存在之最小單位。以一極微爲中心,四方上下聚集同一極微而成一團者,即稱微塵。合七極微爲一微塵,合七微塵爲一金塵,合七金塵爲一水塵。此外,諸經論亦每以「微塵」比喻量極小、以「微塵數」比喻數極多。〔法華經卷五如來壽量品、分別功德品、大智度論卷七十、大毘婆沙論卷一三六〕(參閱「極微」5479)
; Anurāja (S)7 vi trần = 1 kim trần. 7 kim trần = 1 thuỷ trần. 7 thuỷ trần = 1 thố mao trần. 7 thố mao trần = 1 dương mao trần. 7 dương mao trần = 1 ngưu mao trần. 7 ngưu mao trần = 1 khích du trần (là hột bụi nhỏ thấy lăng xăng trong tia nắng xuyên qua khe hở, lớn hơn vi trần 117.649 lần). Lúc vi trần tập hợp thành vật chất cụ thể phải có đủ tứ đại (đất nước gió lửa) và tứ trần (sắc hương vị xúc).
; Anu (S). A molecule. Atomic element.
; Motes of dust—See Vi (3).
vi trần kiếp
5445謂長遠之時劫。又作大地微塵劫。法華經卷五如來壽量品中,爲表示如來成佛以來之長遠,設一譬喻(大九‧四二中):「譬如五百千萬億那由他阿僧祇三千大千世界,假使有人抹爲微塵,過於東方五百千萬億那由他阿僧祇國,乃下一塵,如是東行,盡是微塵。諸善男子!於意云何?是諸世界可得思惟校計知其數不?(中略)是諸世界,若著微塵及不著者,盡以爲塵,一塵一劫,我成佛已來,復過於此百千萬億那由他阿僧祇劫。」由此可知微塵劫之長遠,非一般算數可知。
vi trần số
Numerous as molecules, or atoms; numberless.
; Số lượng nhiều như cát bụi—Numerous as molecules, or atoms.
vi tư đặc cách
3989(Westergard, Niels Ludwig; 1815~1878)丹麥之東方學學者。曾遊學於倫敦、巴黎,後至印度、伊朗等地旅遊,且攜回大量古文書與考古學資料。一八四五年任哥本哈根大學教授。精研阿凡士塔注(Zend Avesta)與古典波斯語。著有Journal of the Northern Society of Antiguaries at Copenhagen; Radices LinguaeSanscritae, 1941; ]ber den ältesten Zeitraum der indischen Geschichte, 1862,後者乃自丹麥文譯爲德語者,爲考證佛陀入滅年代之最佳資料。另有“ Zend Avesta ”之校訂出版(1852~1854)。
vi tế
Sukṣma (S), Sukhuma (S), Subtle (S, P), Suhuma (P), Sukhama (S), Sukṣma (S).
; Minute, fine, refined, subtle.
; Subtle—Minute—Fine—Refined.
vi tế sinh tử
5443爲「變易生死」之異名。大乘義章卷八(大四四‧六一五下):「微細生滅無常,念念遷異,前變後易,名爲變易;變易是死,名變易死。」
vi tế thân
5444<一>爲數論學派所立三種生身之一。(參閱「三種生身」650)[1] <二>密教立法身有微細之色形,周遍於法界。據祕藏記卷末之說,凡佛者捨有漏五蘊等身,有無漏五蘊等身;無漏五蘊等微細身,微細身如虛空。
; Mật giáo lập pháp thân có sắc hình vi tế, chu biến khắp trong pháp giới—A refined, subtle body.
vi tế tướng dung an lập môn
5444華嚴宗十玄門之一,此門乃就「相」而言。如琉璃瓶,盛多芥子,隔瓶頓見。微細有三義:(一)所含微細,如芥瓶所含之芥子。(二)能含微細,一毛一塵亦皆能含。(三)微細難知,微塵、國土而能相容,其事難知。一能含多,法法皆同,稱爲相容。一多法相,不壞不雜,稱爲安立。借喻一切門容現於一念正觀心中,是爲微細相容安立之境。 依相即相入之理論而言,固然是一多大小互相容攝,但此門特示無盡緣起之玄妙不可思議,小容大、一攝多、一念收多劫,所含之大不壞小相、一不改多之面目,而各守自相,同時齊頭顯現,以破眾生執「一切法既一時具足,相互攝入時應各失其本相」之疑。〔如來不思議境界經、舊華嚴經盧舍那佛品、新華嚴經十迴向品〕(參閱「十玄門」416)
vi tụ
5445謂極小之色聚。欲界之物質中最單純者爲能生之地、水、火、風四大極微,與所造之色、香、味、觸四境(聲,有無不定,故除之)極微等八種極微,必以聚合俱生爲法,蓋無單一極微而生之物。故謂最小之色聚,稱爲微聚。
; Một phân tử, do những vật chất cực nhỏ hội tụ lại (gồm bảy nguyên tử)—A molecule, the smallest aggregation of atoms.
vi tự thuận tha
5678「違他順自」之對稱。謂違背自家之本性而隨順他性。係大乘起信論義記卷中論真如與無明之作用所立之名目。即「隨緣真如」與「成事無明」二者相對,且二者各具有違自、順他、違他、順自等四種性質,然違自即含順他之意,違他即含順自之意,故統稱爲違自順他、違他順自。就違自順他而言,可分爲:(一)真如之違自,謂真如違背自家之本性而隱其真體;此爲流轉門之意。(二)真如之順他,謂真如隨順他無明而顯現妄法;此亦流轉門之意。(三)無明之違自,謂無明違背自家之本性而詮示真如之功德;此爲還滅門之意。(四)無明之順他,謂無明隨順他真如而能知其名義而成淨用;此亦還滅門之意。(參閱「違他順自」5678)
; Theo cách của người và phế bỏ cách của chính mình—To disregard one's own way and follow others' way.
vi vi tâm
5444乃進入滅盡定前剎那極微細之心。滅盡定之前有三種心,即想心、微細心、微微心,第一想心屬粗想之心,第二爲稍微細之心,第三則轉更微細,故稱微微心。於如是微微心之後,滅盡定方才現前。〔俱舍論卷二十九〕
Vi Đà
(s: Skanda, p: Khanda, 韋馱、韋陀): còn gọi là Vi Đà Thiên (違駄天、韋馱天), Tắc Kiến Đà Thiên (塞建陀天), Tư Kiến Đà Thiên (私建陀天), Kiến Đà Thiên (建陀天), Vi Tướng Quân (韋將軍), Vi Thiên Tướng Quân (韋天將軍), Vi Đà Thiên Tướng (韋馱天將), Vi Đà Tôn Thiên (韋陀尊天), Đại Kiên (大肩), Thiên Thần Quỷ (天神鬼), Âm Cuồng (陰狂); vốn là vị thần của Bà La Môn Giáo. Vị này có tên gọi khác là Ca Hy Cát Dạ (s: Kārttikeya, 迦絺吉夜, ý dịch là Lục Diện Tử [六面子, người có sáu mặt]), Cưu Ma La (s, p: Kumāra, 鳩摩羅, ý dịch là Đồng Tử [童子]), Thiện Phạm (s, p: Subrahmā, 善梵). Nguyên lai vị này là thần chiến đấu, có 6 đầu, 12 tay, tay cầm cung tên, cỡi con chim Khổng Tước (孔雀). Tín ngưỡng sùng bái vị thần này đầu tiên phát xuất ở miền Nam Ấn, đến sau thế kỷ thứ 5 thì được truyền vào Bắc Ấn và sau này được Phật Giáo Đại Thừa hấp thu biến thành vị thần ủng hộ chốn già lam. Vi Đà Thiên được xem như là một trong 8 vị Đại Tướng Quân của Tăng Trưởng Thiên (s: Virūḍhaka, 增長天) ở phương Nam, là người đứng đầu trong 32 vị Tướng Quân dưới trướng của Tứ Thiên Vương (s: Cāturṁahārājakāyika, 四天王). Lúc sanh bình ông rất thông tuệ, sớm lìa dục trần, tu tập Phạm hạnh thanh tịnh, sau được đức Phật phó chúc cho trấn hộ 3 châu là Đông Thắng Thân Châu (s: Pūrva-videha, 東勝身洲), Tây Ngưu Hóa Châu (s: Apara-godhānīya, 西牛貨洲), Nam Thiệm Bộ Châu (s: Jampudīpa, 南贍部洲); cho nên Vi Đà Thiên còn được gọi là Tam Châu Cảm Ứng (三洲感應), Uy Chấn Tam Châu (威鎭三洲). Tương truyền khi đức Phật nhập Niết Bàn, có một con quỷ đến cướp mất một cái răng của Phật, Vi Đà Thiên cấp tốc đuổi theo lấy về. Hình tượng vị này thân mang áo giáp, chấp tay, tay cầm bảo kiếm. Tại Trung Quốc, theo Đạo Tuyên Luật Sư Cảm Thông Lục (道宣律師感通錄, Taishō No. 2107) cho biết rằng từ khi Đạo Tuyên (道宣, 596-667) nhà Đường cảm đắc hình tượng của vị Bồ Tát này, già lam các nơi đều tôn trí thần tượng. Xưa nay, Phật Giáo xem vị này như là vị thần thủ hộ các vật thực cúng dường trong chốn già lam, cho nên phần lớn tượng của vị này được tôn thờ gần Nhà Kho hay Nhà Bếp. Tại Vi Đà Điện (韋馱殿) của Thiên Đồng Tự (天童寺) thuộc Ngân Huyện (鄞縣), Tỉnh Triết Giang (浙江省) có câu đối như sau: “Tam Châu cảm ứng nan tư nhữ hữu chơn tu ngã hộ pháp, nhất chử uy thần khả úy nhân vô tà niệm tự hàng ma (三洲感應難思汝有眞修我護法、一杵威神可畏人無邪念自降魔, Ba Châu cảm ứng khó lường người chơn tu ta hộ pháp, một chày oai thần đáng sợ người không tà niệm tự hàng ma).” Hay tại Thiền Đường của Bảo Quang Tự (寶光寺) ở Tân Đô (新都), Tứ Xuyên (四川) có câu đối tán thán Vi Thiên Tướng Quân rằng: “Hiện Tướng Quân thân chấp hàng ma nhân thiên củng phục, hành Bồ Tát đạo phi khải giáp pháp giới quy y (現將軍身執降魔人天拱服、行菩薩道披鎧甲法界皈依, hiện thân Tướng Quân hàng phục ma trười người kính phục, hành đạo Bồ Tát mang áo giáp pháp giới quy y).” Trong Thiền môn thường tụng bài Tán Vi Đà như: “Vi Đà Thiên Tướng diệu đường đường, thân phi kim giáp hiển uy quang, khai hóa Tam Châu hưng mật dụng, tồi tà phụ chánh hộ đạo tràng (韋馱天將妙堂堂、身披金甲顯威光、開化三洲興密用、摧邪輔正護道塲, Vi Đà Thiên Tướng hiện đường đường, thân mang vàng giáp lộ oai quang, giáo hóa Ba Châu thầm ủng hộ, dẹp tà hiển chánh giúp đạo tràng).” Ngày đản sanh của Bồ Tát Vi Đà là mồng 3 tháng 6 Âm Lịch hằng năm.
vi đà
The guardian facing the main hall of a temple.
; Veda (skt)—Bệ Đà—Bễ Đà—Phệ Đà—Tỳ Đà. 1) Kiến thức: Knowledge. 2) Kinh Vệ Đà: Vedas.
vi đà la
Vetala (skt)—Vi Đà La là vị Vi Đà mặt xoay ra chánh điện trong tự viện, không ai biết được xuất xứ của Vi Đà Hộ Pháp—Wei-To, the guardian facing the main hall of a temple; the origin of Wei-To is uncertain.
vi đà luận
Xem Phệ đà, Vệ đà.
vi đà luận sư
3989請參閱 明論 韋陀,梵名 Veda。又作皮陀、毘陀、吠陀,意譯作智論、明論。印度古代二十種外道之一。據外道小乘涅槃論所載,此一外道主張一切萬物均爲梵天所造,而梵天 則自毘濕笯(梵 Viṣṇu)之臍中所生出;並謂婆羅門生自梵天之口,剎帝利生自梵天之兩臂,吠舍生自兩髀,首陀羅生自兩腳跟;又謂大地乃人類修行福德之道場,一切大地所出之華草乃作爲供養梵天之用者;諸禽獸豬羊等乃梵天所化,故以之爲犧牲供養,可令彼等得生梵天。蓋此類思想大多衍自印度古奧義書(梵 Upaniṣad)及摩訶婆羅多(梵 Mahābhārata)之中。〔大智度論卷八、十住毘婆沙論卷十、分別功德論卷一〕
vi đà thiên
3990韋馱,梵名 Skanda,巴利名 Khanda。又作塞建陀天、私建陀天、建陀天、違馱天。或稱韋將軍、韋天將軍。本爲婆羅門教之神,又稱迦絺吉夜(梵 Kārttikeya,意譯六面子)、鳩摩羅(梵 Kumāra,巴同,意譯童子)、善梵(梵 Subrahmā,巴同),原爲戰神,有六頭十二臂,手執弓箭,騎孔雀。此神之崇拜最初流行於南印度,五世紀後傳到北印度,被大乘佛教吸收而爲伽藍之守護神,爲南方增長天八大將軍之一,乃四天王下三十二將軍之首。生而聰慧,早離塵欲,修清淨梵行童真之業。受佛陀付囑而鎮護東西南三洲(東勝身洲、西牛貨洲、南贍部洲)。世傳佛陀涅槃時,捷疾鬼盜取佛牙一雙,韋馱天乃急追取還。其形像身著甲冑,合掌,腕捧寶劍。於我國,自唐初之道宣律師感得其像後,各處之伽藍均設有其神像。有關其名稱,金光明經卷三鬼神品稱之爲違馱天神,義淨所譯之金光明最勝王經卷八則譯作塞建陀天;又經軌中多稱爲塞建陀或建陀天,而不作韋馱天。蓋金光明經所記之違馱天係爲建馱天之誤寫,梵語應譯作私建陀。〔慧琳音義卷二十五、大明三藏法數卷四十六〕
; Xem Hộ pháp thần.
vi đà thiên phúng kinh
3990即每月五日,早課諷經之後,於韋馱天尊像之前,諷誦般若心經、消災咒等回向,稱爲韋馱天諷經。〔瑩山清規卷上月中行事〕
vi đà thiên thượng đường
3990禪林用語。叢林中,特指於庫院裡,典座等爲大眾之說法。
vi đà thâu
Vitasoka (skt)—Em trai vua A Dục—Younger brother of king Asoka.
vi đạt
3990民國人。香港大學文學碩士、英國皇家藝術學院院士。英文造詣甚深,民國五十四年(1965),曾與旅港佛學名家羅時憲組成香港佛教法相學會,專弘唯識法相之學。此外,曾譯「成唯識論」爲英文,於六十三年在香港出版。
vi đề hi
Vaidehi (S). Wife of Bimbisàra and mother of Ajàtasastru.
vi đề hi phu nhân
3989韋提希,梵名 Vaidehī,巴利名 Vedehī。又作鞞陀提夫人、毘提希夫人、吠提哂夫人。意譯爲思勝夫人、勝妙身夫人、勝身夫人。中印度摩揭陀國頻婆娑羅王之夫人,阿闍世王之生母。依觀無量壽經所載,阿闍世將其父王頻婆娑羅幽閉於七重之室內,企圖將其餓死,夫人以酥蜜和麨塗於身,諸瓔珞盛漿,往探頻婆娑羅,而觸怒於阿闍世,故亦被禁。兩人乃於禁閉處念佛,求佛爲之說法,佛遂顯神通,爲之演說觀無量壽經。故知淨土法門,乃佛因韋提希夫人而說。〔雜阿含經卷四十六、慧印三昧經、出曜經卷二十〕
vi đề hy
Vaidehi (S)Vợ vua Tần bà sa la (Bimbisara).
; See Vaidehi in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
vi ước
To break one's words.
Vi Ứng Vật
(韋應物, 725?-800?): thi nhân thời Trung Đường, xuất thân Trường An (長安, Tây An, Tỉnh Thiểm Tây). Ông đã từng làm Sắc Sứ Tô Châu (蘇州), nên thường được gọi là Vi Tô Châu (韋蘇州). Giống như Đào Tiềm (陶潛), thơ của ông ca ngợi thiên nhiên. Trước tác của ông có Vi Tô Châu Tập (韋蘇州集) 10 quyển.
Vi-da-li-pa
S: vyālipa; »Nhà giả kim của kĩ nữ«;|Là vị Tất-đạt cuối cùng trong hệ thống 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 10.|Ông là một Bà-la-môn rất giàu có và mơ ước chế ra được thuốc bất tử. Ông dành hết gia tài mua thật nhiều thuỷ ngân và dị thảo để chế thuốc nhưng không thành, ông tức giận vứt sách chỉ dẫn xuống sông, trở thành người ăn xin. Lần nọ, bên bờ sông Hằng, ông gặp một nàng kĩ nữ cho ông xem một cuốn sách mà nàng nhặt được, thì ra đó là cuốn sách ông đã vứt. Ông kể cho nàng nghe toàn bộ câu chuyện, nghe xong nàng cho ông 30 đồng tiền vàng để ông nghiên cứu tiếp. Ông lại bỏ tiền ra mua các thứ. Một năm trôi qua mà không có kết quả gì vì thiếu một chất nhất định nào đó. Lần nọ, nàng kĩ nữ đang tắm thì có một cánh hoa rơi vào tay, nàng ném hoa đi thì có một giọt nước từ hoa tiết ra rơi vào thuốc. Nhờ đó, thuốc thành tiên dược. Vi-da-li-pa, nàng kĩ nữ và một con ngựa được uống thuốc này cả ba đạt trường sinh bất tử. Sau đó cả ba sống cô độc trên một tảng đá giữa vùng đầm lầy để tránh không cho ai được biết công thức của thuốc này. Nhưng vị Ma-ha Tất-đạt Long Thụ biết được, dùng thần thông bay đến xin đổi công thức của thuốc lấy một chiếc giày biết bay của ông. Sau khi truyền cho Long Thụ công thức bí mật thì Vi-da-li-pa về lại thế gian, xin làm đệ tử của Cha-ba-ri-pa (s: carbaripa) và đạt Tất-địa. Về sau Vi-da-li-pa trở thành một nhà thơ và chuyên ca những bài ca chứng đạo (s: dohā). Bài hát chứng đạo của ông như sau:|Linh ảnh về Thật tại,|là hình ảnh Ðạo sư.|Ðộc cư cao cả nhất,|là quán không vô biên.|Hoà hợp vẹn toàn nhất,|là ngộ được Tự tính,|của mỗi một hiện tượng.|Khi ngươi uống một hơi,|bầu sữa của trời đất,|mới đích thật là sống.
Vi-na-pa
S: vīṇāpa; »Người chơi đàn Vi-na«, còn có biệt danh khác là »Người mê âm nhạc«; |Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời đại nào, có thể trong thế kỉ thứ 8. |Ông là một hoàng tử được vua cha truyền ngôi nhưng không ham thích gì hơn là chơi đàn Vi-na (vīṇā). Hoàng cung mời vị Du-già sư Phật-đà-ba (buddhapa) khuyên giải. Phật-đà-ba khuyên ông quán tính Không trong tiếng đàn, quán âm thanh siêu việt nhất là »Vô âm.« Sau chín năm thực hành, ông đạt Tất-địa. |Sau nhiều năm kiên trì,|và hết lòng tập luyện,|thuần thục đàn Vi-na|Rồi khi ta tu tập,|tiếng dây đàn vô thanh,|ta đánh mất tự ngã.
Vi-ru-pa
S: virūpa; »Thầy của Không hành nữ«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong đầu thế kỉ thứ 9.|Vi-ru-pa sinh dưới thời vua Ðề-bà Ba-la (Thiên Hộ; s: devapāla), từ nhỏ đã xuất gia thụ giới và được hướng dẫn tu tập Mật giáo. Nữ Hộ Thần của ông là một Không hành nữ (s: ḍākinī) với tên Kim cương Va-ra-hi (s: vajra vārāhī). Sau khi đọc tên của vị này đến hai mươi triệu lần trong mười hai năm không có kết quả, dấu hiệu gì của sự tiến triển, ông định vứt bỏ mọi phép tu tập thì một Không hành nữ hiện lên và khai thị: »Con người may mắn kia, đừng lo ngại! Hãy từ bỏ mọi thói quen, quan niệm thị phi, giữ tâm thức vô niệm.« Sau khi tu luyện thêm mười hai năm, Vi-ru-pa đạt Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi). Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Tính thanh tịnh sẵn có,|Là tự tính của tâm|Kim cương Va-ra-hi đích thật|Ðừng tìm kiếm đâu xa,|dại dột và trẻ con.|Tự tính của tâm thức,|là viên ngọc như ý,|Vượt khỏi mọi khái niệm,|là nhận thức đúng nhất.|Ðặc biệt là sau khi đắc đạo, ông bắt đầu ăn thịt uống rượu do các môn đệ đem đến. Một hôm, các vị trụ trì trong chùa thấy nhiều con bồ câu mất tích, tìm kiếm và thấy ông đang ngồi ăn thịt bồ câu. Kết quả là ông bị trục xuất ra khỏi chùa. Gần chùa có một ao sen lớn và khi Vi-ru-pa rời chùa băng qua ao này, mỗi bước chân ông được một lá sen nâng lên. Thấy vậy, các vị trụ trì hối hận vì đã trục xuất một thánh nhân. Các vị tăng đến hỏi ông vì sao ông lại ăn thịt bồ câu. Bình thản, ông trả lời: »Chúng chỉ là ảo ảnh, ảo ảnh như tất cả các pháp hữu vi.« Ông ra lệnh đem tất cả những xương, lông còn lại của mấy con bồ câu và khẩy ngón tay, tất cả những con bồ câu sống lại và tung cánh bay. Sau đó, ông giao du khắp nơi truyền bá Phật pháp và cuối cùng được lên cõi của các vị Không hành nữ.
vi-đà
Xem Uẩn.
vi-đê-ba
Videba (S)Thành phố Bắc Ấn thế kỳ thứ 7 trước C.N. nay là Sahet Mahet ở hữu ngạn sông Rapti.
Vi-đề
cũng đọc là Vi-đề-hy, phiên âm từ Phạn ngữ Vaidehỵ, dịch nghĩa là Tư Thắng hay Thắng Thân, Thắng Diệu Thân. Vị phu nhân này là mẹ vua A-xà-thế (tức thái tử Thiện Kiến), hoàng hậu của vua Tần-bà-sa-la. Bà có tín tâm mãnh liệt, cảm được đức Phật thuyết kinh Quán Vô lượng thọ, dạy 16 phép quán về cõi Tịnh độ phương Tây của đức Phật A-di-đà. Bà nhờ đó được vãng sanh Tịnh độ.
Vi-đề-hy
xem Vi-đề.
vijita
Vijita (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
Vinh
榮; C: róng; J: yō;|1. Phát triển, tăng trưởng, trở nên phổ biến; phong phú; 2. Sáng rỡ, sự thịnh vượng, phồn vinh. Huy hoàng, tráng lệ, sự kính trọng; 3. Ưu tú, kì diệu (s: samucchraya).
vinh
1) Vinh dự: Honourable. 2) Vinh quang: Glory—Splendour.
vinh dự
Sakkara (S).
; Honor—Honourable.
vinh hoa
Vinh hoa của cuộc đời chỉ là những thứ tạm bợ, thấy đó mất đó—Glory—The glory of life, viewed as transient.
vinh hàm
Honourable title.
vinh hạnh
See Vinh Dự.
vinh lợi
Honour and interest.
vinh nhục
Honor and dishonor. (I) Vinh nhục là một cặp hoàn cảnh trần thế không thể tránh được mà ta phải đương đầu trong đời sống hằng ngày—Honour and dishonour are a pair of inevitable worldly conditions that confront us in the course of our daily lives. 1) Vinh—Honour: a) Chúng ta luôn thích thú với vinh và luôn ghét nhục. Danh dự làm ta vui sướng và nhục làm chúng ta buồn khổ. Chúng ta ham thích trở nên nổi tiếng. Nhiều người ao ước thấy hình ảnh của mình trên tạp chí bằng bất cứ giá nào. Chúng ta rất vui mừng khi thấy những hoạt động của mình được đem ra quảng bá, dù những sinh hoạt ấy hoàn toàn không có nghĩa lý gì, và đôi khi chúng ta quảng bá quá mức. Chúng ta phải công nhận rằng bản chất tự nhiên của con người là cảm thấy sung sướng và hạnh phúc khi danh của ta lan rộng. Nhưng qua kinh nghiệm thực tế, danh dự nào rồi cũng sẽ qua đi, chúng sẽ tiêu tan thành mây khói trong môt sớm một chiều—We always welcome honour or fame and dislike dishonour. Honour gladdens our heart; dishonour disheartens us. We desire to become famous. We long to see our pictures in the papers. We are greatly pleased when our activities, however insignificant, are given publicity. Sometimes we seek undue publicity too. We must agree that human natue is to feel pleasant and happy when our fame is spread far and wide. But through our practical experience, fame and glory are passing away; sooner or later they will vanish. b) Muốn có danh dự, nhiều người sẵn sàng lo lót hay cho các món tiền lớn lao cho những người có quyền hành để làm cho thiên hạ biết đến; một số người trưng bày lòng hảo tâm bằng cách cúng dường cả trăm chư Tăng Ni, nhưng họ lại hoàn toàn lạnh nhạt trước sự đau khổ của người nghèo, hay láng giềng thiếu thốn—To obtain honour, some are prepared to offer gratification or give substantial donations to those in power. For the sake of publicity, some exhibit their generosity by giving alms to a hundred monks and nuns and even more, but they may be totally indifferent to the sufferings of the poor and the needy in the neighbourhood. 2) Nhục—Dishonour: a) Chắc chắn chúng ta sẽ không nghe lọt tai hay xao động khi phải chịu những điều nhục nhã. Lần nữa, đây là bản chất tự nhiên của con người. Phải mất nhiều thời gian mới xây dựng được vinh dự, nhưng vinh dự nầy có thể bị vùi chôn trong nháy mắt. Chuyện nầy dễ hiểu vì bản chất con người là luôn thích khen mình chê người. Không ai có được miễn trừ những lời chê trách. Bạn có thể sống một đời như Đức Phật, nhưng bạn vẫn không được miễn trừ những lời phê bình, tấn công hay mạ lỵ—We will surely perturbed when receiving dishonour. This is again the human nature. It takes a long long time to build up a good reputation, but in no time the hard-earning good name can be ruined. This matter is not difficult to understand because human nature is always like that, we always like to praise ourselves and to dishonour others. Nobody is exempt from the ill-famed remark even the Buddha. You may live the life of a Buddha, but you will not be exempt from criticisms, attacks, and insults. b) Thời Đức Phật còn tại thế, Ngài là một người nổi tiếng nhất về đức hạnh, nhưng cũng là người bị nói xấu nhiều nhất thời bấy giờ. Một số người chống đối Đức Phật đã phao tin về một phụ nữ thường ngủ lại đêm trong tu viện, nhưng họ đã thất bại trong âm mưu hèn hạ nầy. Thế là họ quay sang phao tin Đức Phật và các đệ tử của Ngài đã giết chết người đàn bà và chôn xác trong đống rác hoa héo tàn trong tu viện. Tuy nhiên, về sau nầy chính những người nầy đã xác nhận chính họ là thủ phạm—At the time of the Buddha, the Buddha was the most famous for his virtues, but he was the one who received the most criticisms, attacks and insults. Some antagonists of the Buddha spread a rumour that a woman used to spend the night in the monastery, but they failed because noone believed them. Having failed in this mean attempt, thay spread false news among the people that the Buddha and his disciples murdered that very woman and hid her corpse in the rubbish-heap of withered flowers within the monastery. The conspirators admitted that they were the culprits. (II) Đối trị Vinh Nhục—To treat honour and dishonour. 1) Không cần thiết phải phí phạm thì giờ để cải chánh những báo cáo sai lầm trừ phi những hoàn cảnh bắt buộc cần thiết sự sáng tỏ. Kẻ địch sẽ hài lòng khi thấy bạn bị đau. Đó là điều kẻ địch mong muốn. Nếu bạn dửng dưng thì những xuyên tạc như vậy sẽ rơi vào những lỗ tai điếc. Không thể nào có thể ngăn chận những lời buộc tội, đồn đãi và rỉ tai sai lầm, nên trong Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo, Hòa Thượng Dhammananda đã dạy—It is needless to waste time in correcting the false reports unless circumstances compel you to necessitate a clarification. The enemy is gratified when he sees that you are hurt. That is what he actually expects. If you are indifferent, such misrepresentations wil fal on deaf ears. It is not possible to put a stop to false accusations, reports and rumours; therefore, in The Gems of Buddhism Wisdom, most Venerable Dhammananda taught: a) Thấy lỗi người khác, ta nên cư xử như một người mù: In seeing the faults of others, we should behave like a blind person. b) Khi nghe thấy những lời bình phẩm bất công của người khác, chúng ta nên xử sự như một người điếc: In hearing unjust criticism of others, we should behave like a deaf person. c) Nói xấu về người khác, ta nên cư xử như một người ngu: In speaking ill of others, we should behave like a dumb person. d) Chó sủa mặc chó, khách lữ hành vẫn tiếp tục tiến bước: Dogs bark, but the caravans move on peacefully. e) Chúng ta nghĩ sẽ bị ném bùn nhơ thay vì hoa hồng. Như vậy chúng ta sẽ không bị thất vọng: We should expect mud to be thrown at us instead of roses. Then there will be no disappointments. f) Dù khó khăn chúng ta nỗ lực trau dồi không luyến chấp. Một mình ta đến, một mình ta đi. Không luyến chấp là hạnh phúc trên thế giới nầy: Though difficult, we should try to cultivate nonattachment. Alone we come, alone we go. Nonattachment is happiness in this world. g) Không quan tâm đến những mũi tên độc phóng ra bởi giọng lưỡi buông lung, một mình chúng ta lang thang phục vụ tha nhân với hết khả năng: Unmindful of the poisonous darts of uncurbed tongues, alone we should wander serving others to the best of our ability. h) Thật là lạ lùng những vĩ nhân bị phỉ báng, nói xấu, đầu độc, hành xác và bị bắn. Nhà hiền triết Socrates bị đầu dộc, chúa Jesus cao thượng bị đóng đinh tàn nhẫn trên thập tự giá, Gandhi bị bắn chết, vân vân: It is rather strange that great men have been slandered, vilified, poisoned, crucified or shot. Great Socrates was poisoned, Noble Jesus Christ, and Gandhi was shot, etc. 2) Thế giới nầy đầy rẫy chông gai sỏi đá, không thể nào chúng ta chuyển chúng hết được. Nhưng nếu chúng ta phải bước vào những chướng ngại ấy, thay vì cố gắng loại bỏ chúng đi là không thể được, chúng ta hãy theo lời khuyên là nên mang một đôi giày để bước cho khỏi bị đau—The world is full of thorns and pebbles. It is impossible to remove them all. But if we have to walk, in spite of such obstacles, instead of trying to remove them, which is impossible, it is advisable to wear a pair of slippers and walk harmlessly. 3) Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy—In The Dhammapada Sutta, the Buddha taught: a) Giống như sư tử không run sợ trước những tiếng động: Be like a lion that trembles not at sounds. b) Giống như luồng gió không bám víu vào mắt lưới: Be like the wind that does not cling to the meshes of a net. c) Giống như hoa sen không bị hôi tanh bởi bùn nơi nó mọc lên. Chúng ta đang sống trong một thế giới vẩn đục bùn nhơ. Nhiều đóa hoa sen mọc lên từ đó nhưng không nhiễm bùn nhơ, chúng tô điểm thế giới. Giống như hoa sen, chúng ta hãy cố gắng sống cuộc đời cao thượng thì không ai chê trách được, không quan tâm tới bùn nhơ có thể ném vào chúng ta: Be like a lotus that is not contaminated by the mud from which it springs. We are living in a muddy world. Numerous lotuses spring therefrom without being contaminated by the mud, they adorn the world. Like lotuses we should try to lead blameless and noble lives, unmindful of the mud that may be thrown at us. d) Đi lang thang một mình như con tê giác: Wander alone like a rhinoceros. e) Như chúa sơn lâm, sư tử không hề biết sợ. Do bản chất chúng không sợ hãi trước những tiếng rống của các con vật khác. Trong thế giới nầy, chúng ta có thể nghe những báo cáo trái ngược, lời kết tội sai lầm, lời nhận xét đê hèn của những giọng lưỡi buông lung. Gống như sư tử, ta không nên nghe. Giống như quả tạ Bu-mơ-ren, ném ra rồi sẽ quay về chỗ cũ, tin đồn sai lầm sẽ chấm dứt ngay nơi chúng phát xuất: Being the kings of the forest, lions are fearless. By nature they are not frightened by the roaring of other animals. In this world, we may hear adverse reports, false accusations, degrading remarks of uncurbed tongues. Like a lion, we should not even listen to them. Like a boomerang, false reports will end where they began. 4) Đại trượng phu không màng tới danh dự hay mất danh dự, vinh hay nhục. Họ không rối trí khi bị công kích hay phỉ báng, vì những việc làm của họ không phải vì muốn có tên tuổi hay danh dự. Họ không màng tới người khác công nhân hay không công nhận sự phục vụ của họ. Làm việc, họ có toàn quyền nhưng không phải là để hưởng cái quả của việc làm ấy: Great men are indifferent to honour, or dishonour. They are not upset when they are criticized or maligned for they work not for fame, nor for name or honour. They are indifferent whether others recognize their services or not. To work, they have the right but not to the fruit thereof.
vinh quang
Glorious.
vinh qui
To return to one's native village with honour.
vinh thăng
To be promoted.
Vinh Triêu
(榮朝, Eichō, ?-1247): vị tăng của Phái Hoàng Long (黃龍派) thuộc Tông Lâm Tế Nhật Bản, hiệu là Thích Viên Phòng (釋圓房), tên tục cũng như xuất thân không rõ. Ông kiêm tu cả Hiển mà Mật Giáo, đăc biệt ông có theo học pháp của Dòng Liên Hoa (蓮華流) với Thánh Hòa (聖豪) của Tức Thành Phòng (卽成房) trên Tỷ Duệ Sơn. Sau đó, ông đến nhập chúng ở Thọ Phước Tự (壽福寺, Jufuku-ji) thuộc vùng Liêm Thương, theo hầu Minh Am Vinh Tây và được trao truyền tâm ấn Thiền cũng như Mật Giáo. Sau ông đến thành lập Trường Lạc Tự (長樂寺, Chōraku-ji) ở vùng Thượng Dã (上野, Ueno, thuộc Gunma-ken [群馬縣]), trở thành vị Tổ khai sơn chùa này, và cử xướng Thiền phong rất mạnh mẽ ở vùng Quan Đông (關東, Kantō). Chính Viên Nhĩ (圓爾, tức Thánh Nhất Quốc Sư) ở Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji), Lãng Dự (朗譽) ở Thọ Phước Tự, v.v., là những người xuất thân từ môn hạ của ông. Vào ngày 26 tháng 9 niên hiệu Bảo Trị (寶治) nguyên niên, ông thị tịch.
vinh triều
Eichō (J)Tên một vị sư.
Vinh Tây
榮西; J: eisai; |Minh Am Vinh Tây
vinh tây
5818(1141~1215)日本臨濟宗開祖。備中吉備津人,俗姓賀陽。字明菴(世又稱明菴榮西)。十四歲,於比叡山出家受具足戒。十九歲,學天台宗教義,並學密教。仁安三年(1168)來宋,至天台山求法,得天台新章疏三十餘部,凡六十卷;歸國後,呈天台座主明雲。文治三年(1187)再次來華,登天台山,隨侍萬年寺之虛菴懷敞,苦勵參究,習臨濟宗黃龍派之禪法。建久二年(1191)歸國,始行禪規,道俗滿堂,遂於筑前博多建立聖福寺,此爲日本禪寺之創始。師之聲譽漸揚,爲天台宗僧徒所讒,朝廷宣令禁禪,師乃作出家大綱、興禪護國論,爲新宗申辯,並謁幕府將車,幸得鎌倉幕府信任,建立壽福寺,並於京都開創建仁寺,作爲台、密、禪三宗兼學之道場,並融合三宗而形成日本之臨濟宗。建保三年示寂,世壽七十五。世稱葉上房、千光祖師。著作除出家大綱一卷、興禪護國論三卷之外,另有一代經論總釋、三部經開題、喫茶養生記各一卷等。〔元亨釋書卷二、延寶傳燈錄卷一、本朝高僧傳卷三〕
vinh tây minh am
Eisai myōan (J)Tên một ngôi chùa.
vinh tây thiền sư
Eisai Zenji (J)Tên một vị sư. Người truyền Lâm Tế tông vào Nhật bản.
vitaraga
Vitarāga (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
viêm
Blazing, burning.
; Đốt cháy—Blazing—Burning.
viêm kinh
Tên khác của Kinh Niết Bàn, nói về lễ Trà Tỳ của Đức Phật và giáo thuyết rực rỡ của Ngài—Another name for Nirvana Sutra, referring to the Buddha's cremation and the glorious teaching.
viêm ma giới
Xem Diêm Ma giới.
viêm ma thiên
Suyāmadeva (S)Ngũ Bộ Tịnh Cư Diêm Ma La, Diễm ma thiên, Tu Dạ Ma thiên1- Vị thiên tử quyết đoán nghiệp lành dữ của chúng sanh. 2- Tầng trời cắt đứt tất cả những thiện ác của chúng sanh.
viêm nhiệt địa ngục
Tapa (S), Tāpana (S), Tapana (P), Tarana (S), Thiêu Chích địa ngục.
; Tapana (S). The hell of burning or roasting, the sixth of the eight hot hells, where 24 hours equal 2,600 years on earth.
; Tapana (skt)—Địa ngục đốt nướng, địa ngục thứ sáu trong Bát nhiệt địa ngục (nơi mà 24 giờ tương đương với 2.600 năm trên trần thế nầy, nơi nầy tuổi thọ đến 16.000 năm)—The hell of burning or roasting, the sixth of the eight hot hells (where 24 hours equal 2.600 years on earth, life lasting 16,000 years).
Viêm Đế
(炎帝): truyền thuyết cho rằng ông là thủ lãnh của bộ lạc họ Khương thời cổ đại, còn gọi là Xích Đế (赤帝), họ Liệt Sơn (烈山, có thuyết cho là họ Thần Nông). Tương truyền mẹ ông tên là Nhiệm Tự (任姒), một hôm nọ lên thưởng ngoạn Hoa Sơn, trông thấy một con thần long, thân thể lập tức có phản ứng ngay, khi về đến nhà thì hạ sanh Viêm Đế. Ông hạ sanh tại thạch thất của Liệt Sơn, lấy lửa làm đức, nên có tên như vậy. Lúc còn nhỏ ông đã thông tuệ khác người, sanh ra mới 3 ngày mà ông có thể nói chuyện được, đến 5 ngày thì bước đi và chạy được, sau 3 năm thì biết hết mọi việc. Suốt một đời ông làm rất nhiều việc cho bá tánh như dạy cho họ canh tác, cho nên bá tánh có cơm ăn, áo mặc no đủ; giúp cho bá tánh thoát khỏi cái khổ bệnh tật nhờ các phương thần dược; hay chế ra các nhạc khí và dạy cho người dân biết được lễ nghi, v.v. Ban đầu người dân bộ tộc của ông hoạt động ở miền nam Thiểm Tây (陝西), về sau phát triển hướng về phía đông Hoàng Hà (黃河), thường xảy ra xung đột với Hoàng Đế (黃帝). Trong trận chiến ở Phản Tuyền (阪泉), Viêm Đế bị Hoàng Đế đánh bại, bộ lạc của ông bị sát nhập vào bộ lạc của Hoàng Đế, hình thành nên bộ tộc Hoa Hạ (華夏); vì vậy ngày nay người dân Trung Quốc vẫn tự xưng là “Viêm Hoàng Hậu Đại (炎黃後代, hậu duệ của Viêm Đế và Hoàng Đế).” Có thuyết cho rằng khu vực hoạt động của Hoàng Đế là ở phía tây Thái Sơn (泰山), thuộc miền hạ du Hoàng Hà; trong khi đó, Viêm Đế thì hoạt động ở phía đông Thái Sơn, cũng thuộc hạ du Hoàng Hà. Lăng của Viêm Đế hiện tọa lạc tại sườn núi của Viêm Lăng Sơn (炎陵山), cách khoảng 15 dặm về phía tây nam Thành Viêm Lăng Huyện (炎陵縣城), Phố Châu Châu (株洲市), Tỉnh Hồ Nam (湖南省). Tương truyền rằng ông thường đi hái thuốc trị bệnh cho nhân dân, nhưng không may gặp phải độc dược đến nỗi bị vong thân và được an táng nơi đây.
viên
Dava (S), Garden Xem Tỉnh thức.
; Park, garden. Lộc dã viên, Mrgadava (S). Deer park. Trúc viên. Venuvana (S), Bamboo park. Cấp cô độc viên, Jetavana (S). Garden of the prince Jeta.
; 1) Tròn: Round. 2) Tròn đầy: All-round—Full-orbed. 3) Ôm trọn: Embracing. 4) Toàn: Whole—Perfect—Complete. 5) Vihara (skt)—Vườn, công viên, nơi nhàn tản bách bộ—A place for walking about—Pleasure ground—Garden—Park.
viên anh
5410請參閱 貞元新定釋教目錄(1878~1953)我國近代僧。福建古田人,俗姓吳。法名宏悟,號韜光,以字行。生於清光緒四年。幼失怙恃,十九歲至鼓山出家,主修天台學。後至寧波天寧寺習禪。二十六歲參學於天童寺敬安和尚,並赴福建、浙江及南洋等地講經,聲譽極高。光緒三十二年(1906),與太虛大師締交,訂定「以心印心、白首如新、以善勸勉、疾病相扶、安危與共、事必相商、各自立志」等數條義規,共結兄弟之盟。時年二十九,太虛十八。其後致力於組織中國佛教會與寺產保護運動(當時政府提倡廟產興學運動,主張以寺院財產充作振興教育之資)。民國二十年(1931)四月於上海舉行中國佛教會第三次全國代表大會時,由於議決事項之意見相左,太虛等進步派乃脫離該會,另於南京組織中國佛學會。師與王一亭等則繼續主持中國佛教會。抗戰軍興,師赴南洋募集醫藥費用。翌年,主持檳榔嶼極樂寺。二十八年返上海,主持福建鼓山湧泉寺、寧波天童寺,並於上海玉佛寺、圓明講堂等處講經布教。其中,尤以楞嚴經之註釋、宣講,傾四十餘年之願力而廣說之,機辯縱橫,饒益教界。此外,特重僧伽教育、社會福利事業、各地寺剎復興、佛書刊行、難民救濟等。四十二年九月於北京入寂,世壽七十六。遺有圓瑛文集、圓瑛大師法彙等行世。〔太虛大師年譜、中國佛教近代史下冊(東初)〕
Viên Chiếu
圓照; 999-1090|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông đời thứ 7. Sư kế thừa Thiền sư Ðịnh Hương và là thầy của Quốc sư Thông Biện.|Sư tên Mai Trực, quê ở Phúc Ðường, Long Ðàm, là con của người anh của bà Linh Thái Hậu, vợ vua Lí Thái Tông. Thuở nhỏ, Sư rất thông minh và hiếu học. Một hôm, Sư đến chùa Mật Nghiêm nhờ một vị Trưởng lão xem số. Vị này bảo: »Ngươi có duyên với Phật pháp, nếu xuất gia sẽ là vị Bồ Tát, bằng không thì việc thọ yểu khó giữ.«|Cảm ngộ lời khuyên này, Sư đến ấp Tiêu Sơn thụ giáo với Thiền sư Ðịnh Hương và được truyền tâm ấn. Sư chuyên trì kinh Viên giác và có nhiều điềm linh ứng xảy ra.|Sau, Sư đến kinh đô Thăng Long lập một ngôi chùa để hiệu là Cát Tường. Học giả đến tham vấn rất đông. Sư có soạn một bài thích luận với tên Dược Sư thập nhị nguyện văn, vua Lí Nhân Tông truyền sứ giả mang sang Trung Quốc trình vua Tống Triết Tông. Vua Tống trao cho những vị cao tăng ở đây xem. Xem xong, các vị bảo: »Ðây là nhục thân Bồ Tát ra đời ở phương Nam, giảng giải kinh nghĩa rất tinh vi, chúng tôi đâu dám thêm bớt chữ nào«. Sứ thần về kinh đô tâu lại, vua lại càng kính nể.|Tháng 9 niên hiệu Quảng Hựu thứ 6 đời vua Lí Nhân Tông, Sư gọi môn đồ vào dạy: »Trong thân ta đây, xương lóng gân mạch, tứ đại hoà hợp, ắt phải vô thường. Ví như ngôi nhà khi hoại, nóc mái, xà ngang đều rơi rớt. Tạm biệt các ngươi. Hãy nghe ta nói kệ:|身如牆壁已頹時。舉世匆匆熟不悲|若達心空無色相。色空隱顯任推移|Thân như tường bích dĩ đồi thì|Cử thế thông thông thục bất bi|Nhược đạt tâm không vô sắc tướng|Sắc không ẩn hiển nhậm thôi di.|*Thân như tường vách đã long lay|Ðau đâu người đời luống xót thay|Nếu đạt tâm không, không tướng sắc|Sắc, không ẩn hiện mặc vần xoay.«|Nói xong, Sư ngồi ngay thẳng thị tịch, thọ 92 tuổi, 56 tuổi hạ.|Sư có để lại các tác phẩm như: 1. Tán Viên giác kinh; 2. Thập nhị Bồ Tát hạnh tu chứng đạo trường; 3. Tham đồ hiển quyết.
viên chiếu
5409唐代僧。生卒年不詳。京兆(陝西)藍田人,俗姓張。十歲,依西明寺景雲律師出家,研鑽維摩、法華、因明、唯識等諸經論,旁究儒典,特精律藏。唐開元年間,奉敕譯經。大曆年間,帝詔兩京律師十四人,定新舊兩疏之律條,師與超儕等共任筆受之職,寫成敕僉定四分律疏。世壽八十二。編有貞元新定釋教目錄三十卷、續開元釋教錄三卷、大唐安國利涉法師傳十卷等十九種。〔宋高僧傳卷十五、佛祖統紀卷四十一、佛祖歷代通載卷十九〕
viên chiếu thiền sư
Thiền Sư Viên Chiếu là một trong những thiền sư nổi tiếng của Việt Nam thời nhà Lý, quê ở Long Đàm, Bắc Việt. Ngài xuất gia và trở thành đệ tử của Thiền sư Định Hương tại ấp Tiêu Sơn. Ngài ở lại ấp nầy phục vụ Thầy trong nhiều năm. Sau đó ngài đi Thăng Long khai sơn chùa Cát Tường. Ngài trụ tại Cát Tường để chấn hưng và hoằng dương Phật giáo trong nhiều năm. Ngài đã soạn quyển “Dược Sư Thập Nhị Nguyện.” Ngài cũng là tác giả của bài thơ nổi tiếng sau—Zen master Yien-Zhao was one of the most famous Vietnamese Zen masters during the Ly dynasty. He was from Long Đàm, North Vietnam. He left home and became a disciple of Zen Master Định Hương in Tiêu Sơn hamlet. He stayed there to serve his master for several years. Later he went to Thăng Long Citadel to build a temple named Cát Tường. He stayed there to expand the Buddha Dharma for many years. He composed “Bhaishajya-Guru's Twelve Vows.” He was also the author of this famous poem: “Thân như tường bích dĩ đồi thì, Cử thế thông thông thục bất bi. Nhược đạt tâm không vô sắc tướng, Sắc không ẩn hiện nhậm suy vi.” (Our body is like a shaking old wall, Pitiful people worried about it days in and days out. If they could hold a mindless atitude of no form and no sign. They would no longer worry about form and no form, appearance and disappearance). Ngài dành hầu hết đời mình chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại Bắc Việt, Ngài thị tịch năm 1090, thọ 92 tuổi—He spent most of his life to revive and expand Buddhism in North Vietnam. He passed away in 1090, at the age of 92.
Viên Chiếu Tông Bản
圓照宗本; ?-1099|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Vân Môn, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài. Nối pháp của Sư có bốn vị danh tiếng là Pháp Vân Thiện Bản, Ðầu Tử Tu Ngung, Kim Sơn Pháp Ấn và Tịnh Nhân Phật Nhật.|Sư họ Quản, quê ở Vô Tích, Thường Châu. Sư lúc nhỏ đã dung mạo trang nghiêm, tính tình thuần hậu. Năm được 19 tuổi, Sư theo Thiền sư Ðạo Thăng tại chùa Thừa Thiên Vĩnh An trên núi Cô Tô xuất gia và ở đây hầu hạ thầy.|Bước đầu du phương, Sư đến Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài. Thiên Y dẫn câu chuyện sau hỏi Sư: »Thế Thân (s: vasubandhu) theo đức Di-lặc vào nội cung nghe thuyết pháp rồi trở về. Vô Trước (asaṅga) hỏi Thế Thân: ›Ở nhân gian bốn trăm năm tại cõi trời Ðâu-suất một ngày một đêm. Ðức Di-lặc trong một thời dạy xong năm trăm ức vị thiên tử chứng pháp vô sinh, chưa biết nói pháp gì?‹ Thế Thân đáp: ›Chỉ nói pháp ấy. Thế nào là pháp ấy?‹« Trải qua một thời gian lâu Sư mới ngộ được ý chỉ. Một hôm, Thiên Y hỏi Sư: »Khi tức tâm tức Phật thì thế nào?« Sư thưa: »Giết người đốt nhà có gì là khó!«|Danh tiếng của Sư từ lúc này vang khắp và Sư được thỉnh trụ trì nhiều Thiền viện. Sau, Sư đến chùa Huệ Lâm trụ trì. Vua Tống Thần Tông rất tôn kính Sư.|Sau, Sư lấy cớ tuổi già xin trở về rừng núi. Vua chấp thuận và cho phép Sư tuỳ ý vân du, không ép buộc trụ trì nơi nào. Sư đánh trống từ biệt chúng và nói kệ:|Bản thị vô gia khách|Na kham nhậm ý du|Thuận phong da lỗ trạo|Thuyền tử hạ Dương Châu.|*Vốn là khách không nhà|Nay được tuỳ ý đạo|Thuận gió theo nhịp chèo|Dương Châu thuyền thẳng đến.|Sắp từ biệt nhau, Sư nhắc nhở những người đưa tiễn: »Không nên vui đùa năm tháng, già chết chẳng thẹn cùng người. Chỉ nên siêng năng tu hành chớ lười trể đó mới là thật lòng vì nhau.«|Sau khi chu du hoằng hoá nhiều nơi, Sư lại đến Linh Nham trụ trì. Niên hiệu Nguyên Phù năm thứ hai (1099), lúc sắp tịch, Sư tắm gội xong nằm dài dưới đất. Ðệ tử thấy vậy liền đỡ Sư lên giường nằm và thưa: »Hoà thượng truyền đạo khắp thiên hạ, hôm nay không lẽ chẳng để kệ, mong gắng ngồi yên.« Sư liền bảo: »Kẻ si! Ta bình thường ghét làm kệ, ngày nay cả thảy mong làm gì? Bình thường ta ưng nằm thì nằm, chẳng lẽ ngày nay lại chuyên ngồi? Ðem bút lại.« Chúng đem bút lại, Sư cầm bút viết: »Việc sau trao cho Thủ Vinh«, và ném bút, nằm xuống thị tịch.
viên chuyết
5405(1605~1645)明末臨濟宗僧。出生於漢岳池羊山麓,俗姓不詳。字字水,號鐵龍。十三歲出家,通教學,常參四川牛山、黃龍之講席。一日,閱景德傳燈錄有 P。參謁破山海明,後爲其法嗣。崇禎十一年(1638),住持四川指月院,其後歷住四川棲靈、河南天皇、河北華嚴、四川臥龍等諸剎。順治二年示寂,世壽四十一。原有語錄二十卷,今僅存夔州臥龍禪師語錄三卷。〔五燈全書卷七十〕
viên châu
5405謂心念奔轉不停,如盤上之圓珠。釋門歸敬儀卷上(大四五‧八六一中):「教稱野鹿,又等圓珠。」有情之心念時刻奔轉不停,乃至於一念之中,隨染淨之緣而變現、生起三千諸法,於天台宗,特稱爲事造三千、變造三千、事用三千、修德三千、修起三千。
viên châu ngưỡng sơn huệ tịch thiền sư ngữ lục
4318全一卷。又作仰山寂禪師語錄、智通禪師語錄。唐代僧慧寂(840~916)撰,明代僧語風圓信、郭凝之編,崇禎三年(1630)成書,康熙四年(1665)刊行。收於大正藏第四十七冊,卍續藏第一一九冊御選語錄卷四。仰山之語錄早有成稿,然始終乏人整理。直至圓信等人編輯五家語錄時,始將其稿集錄成書。內容係行實、法門之機緣問答、示眾、遊方語要等,計七十餘項。其法門提撕之精神,皆係舉揚溈山之宗風,故世人常將溈山語錄與仰山語錄合稱父子語錄。
viên châu tuyết nham
Yuan-chou Hsueh yen (C)Tên một vị sư.
viên cơ
The potentiality of becoming fully enlightened at once.
; Tiềm năng trở nên tức thì giác ngộ—The potentiality of becoming fully enlightened at once.
Viên cụ
(圓具): là tên gọi khác của Cụ Túc Giới, vì người thọ trì Cụ Túc Giới thì gần với quả vị viên mãn của Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃). Như trong Tỳ Ni Quan Yếu (毗尼關要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 40, No. 720) quyển 2 có giải thích rằng: “Xuất gia thọ Tỳ Kheo giới, cố vân cận viên, hựu vân cụ viên, diệc danh viên cụ; dĩ thử cụ giới, nãi cụ túc Niết Bàn chánh nhân, cố danh cụ viên viên cụ dã (出家受比丘戒、故云近圓、又云具圓、亦名圓具、以此具戒、乃具涅槃正因、故名具圓圓具也, xuất gia thọ giới Tỳ Kheo, được gọi là cận viên [gần viên mãn], lại có tên là cụ viên [đầy đủ viên mãn], cũng gọi là viên cụ [viên mãn đầy đủ]; nhờ giới Cụ Túc này, mà đầy đủ nhân chính của Niết Bàn, nên gọi là cụ viên, viên cụ).” Từ viên cụ này xuất hiện khá nhiều trong các Ngữ Lục Thiền Tông. Như trong Kiềm Nam Hội Đăng Lục (黔南會燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1591) quyển 6 có câu: “Phổ An Tùng Khuy Thiện Quyền Vị Thiền Sư, Sở Bắc Cù thị tử, nhân thế loạn nhập Kiềm, ngụ An Thuận chi Thái Hư Động trĩ nhiễm, y Hàm Quang viên cụ, tham Nguyệt Tràng Hòa Thượng ấn chứng, trú An Nam chi Vạn Thọ (普安松巋善權位禪師、楚北瞿氏子、因世亂入黔、寓安順之太虛硐薙染、依含光圓具、參月幢和尚印證、住安南之萬壽, Thiền Sư Tùng Khuy Thiện Quyền Vị ở Phổ An, con của nhà họ Cù ở phương Bắc nước Sở, nhân thời loạn lạc mà đến Quý Châu, nhờ Thái Hư Động ở An Thuận được xuất gia, nương theo Hàm Quang thọ Cụ Túc giới, rồi tham vấn Hòa Thượng Nguyệt Tràng được ấn chứng, trú tại Vạn Thọ thuộc An Nam).” Hay trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 22 có đoạn rằng: “Đàm Châu Đại Quy Sơn Tổ Triện Thiền Sư, tánh Ngô thị, Phúc Châu Hầu Quan nhân dã, xuất gia viên cụ, tham Đại Quy Tú Thiền Sư, khế ngộ Tổ ý, đạo hạnh cao khiết, lệ thực thô y (潭州大溈山祖瑑禪師、姓吳氏、福州候官人也、出家圓具、參大溈秀禪師、契悟祖意、道行高潔、糲食麤衣, Thiền Sư Tổ Triện ở Đại Quy Sơn, Đàm Châu, họ là Ngô, người vùng Hầu Quan, Phúc Châu; xuất gia và thọ giới Cụ Túc, rồi tham học với Thiền Sư Đại Quy Tú, lãnh ngộ ý của Tổ, đạo hạnh thanh cao, ăn gạo lức và mặc áo thô sơ).”
viên cụ
5401又作近圓戒、具戒。即具足戒(梵 upasaṃpadā)。具足戒乃比丘或比丘尼所受之戒,此戒之戒品具足,不同於沙彌十戒之未具足;受此戒者,近於涅槃之圓果,故稱圓具。南海寄歸內法傳卷四(大五四‧二三○上):「圓具圓心,遵修律藏。」又具足戒之戒數,若依四分律所載,比丘共二五○戒,比丘尼共三四八戒。此外,於天台宗,智顗大師依法華開顯之妙旨,主張授受梵網經所說之十重四十八輕戒,特稱爲圓頓戒或圓戒。(參閱「具足戒」3078)
; Whole and complete.
; Cụ Túc Giới—Cận Viên Giới—Tên gọi khác của cụ túc giới. Người thọ cụ túc giới gần với viên quả của Niết Bàn—Whole and complete, i.e. the whole of the commandments, by the observance of which one is near to nirvana. ** For more information, please see Cụ Túc Giới.
viên cực
Inclusive to the uttermost; absolute perfection.
; Viên mãn tuyệt đối—Inclusive to the uttermost; absolute perfection.
viên diệu
The mystery of the "perfect" school, i.e. the complete harmony of không giả trung noumenon, phenomenon, and the middle way.
; Theo tông Thiên Thai, viên diệu là sự phối hợp hoàn toàn tuyệt diệu của ba đế Không, Giả và Trung—According to the T'ien-T'ai sect, the mystery of the “perfect” school, i.e. the complete harmony of noumenon, phenomenon, and the middle way. ** For more information, please see Không Giả Trung.
viên dung
5414<一>謂圓滿融通,無所障礙。即各事各物皆能保持其原有立場,圓滿無缺,而又爲完整一體,且能交互融攝,毫無矛盾、衝突。相互隔離,各自成一單元者稱「隔歷」;圓融即與隔歷互爲一種絕對而又相對之對立關係。華嚴宗所謂之「行布門」,爲一種由淺至深,依序漸進之修法;「圓融門」則對立於「行布門」,而謂即使處於極低之品位亦可完成究極之覺悟。此外,天台宗基於法華經所說之實相一理,而立圓融三諦、圓融三觀等教義。華嚴宗則基於華嚴經所說之法界無盡緣起之說,而立事事無礙、六相圓融等教義。〔觀音玄義卷上、十不二門指要鈔卷上、四教義卷六、華嚴五教章卷一、卷三〕(參閱「圓融門行布門」5415) <二>(1906~1969)臺灣屏東人,俗姓李。法名法志,號圓融。民國十八年(1929)依高雄龍湖庵心安法師剃度,四十一年於白河大仙寺受具足戒。師於三十八年,晉任屏東東山禪寺首任住持,樹立清規,分設職位,增建寺宇,開壇傳戒,安僧尼百眾,該寺遂成爲一地名剎。創辦三年制東山佛學院,培植女眾弘法人才,並創立屏東佛教支會,任理事長職。民國五十八年示寂,世壽六十四。
; Complete combination; the absolute in the relative and vice versa; the identity of apparent contraries; perfect harmony among all differences, as in water and waves, passions and enlightenment, transmigration and nirvàna, or life and death, etc; all are of the same fundamental nature, all are chân như bhùtatathatà, and bhùtatathatà is all.
; 1) Dung hòa, dung thông, chu biến khắp cả, hay vạn pháp viên dung không trở ngại: Complete combination. 2) Tuyệt đối trong tương đối và ngược lại: The absolute in the relative and vice-versa. 3) Lý tính của chư pháp vốn đầy đủ hay vạn pháp sự lý đều viên dung không trở ngại, không phải hai, không có phân biệt—The identity of apparent contraries; perfect harmony among all differences. • Như sóng với nước: Sóng tức là nước—As in water and waves. • Như phiền não và Bồ Đề: Phiền não tức Bồ Đề—As in passion and enlightenment. • Như sinh tử và Niết Bàn: Sinh tử tức Niết Bàn—As in transmigration and nirvana. • Như sống và chết: Chết là khởi đầu cho cuộc sống khác, sống là đang đi dần về cái chết—As in life and death. • Bản chất của chư pháp đều giống nhau: All are of the same fundamental nature. • Tất cả là Chân Như: All are bhutatathata. • Chân Như là tất cả: Bhutatathata is all. • Sóng nước là một, nước sóng là một: Waves are one with waves, and water is one with water, and water and wave are one.
viên dung (nguyên lý)
See Duyên Khởi (Nguyên Lý), and Pháp Giới Duyên Khởi.
viên dung chí đức gia hiệu
5415讚歎南無阿彌陀佛名號之用語。意謂由永劫之修行而圓具諸善萬行,由兆載之思性而融攝一切功德,具備無上至極之福德。〔教行信證總序〕
viên dung môn hành bố môn
5415合稱爲圓融行布。乃華嚴宗之教義。從菩薩至佛果之修行階位,就其意義可分爲二門,即初後相即,稱爲圓融;初後次第,稱爲行布。係華嚴經所說,華嚴宗之所判。自第二會名號品至第六會小相光明品之二十八品,說信、住、行、向、地及佛果之次第差別,爲行布門;如言初發心時,便成正覺者,則爲圓融門。 行布門全名爲次第行布門,即於縱線上立有十信、十住、十行、十迴向、十地、等覺、妙覺等五十二位,凡夫可由此順序漸進至佛果位。圓融門全名爲圓融相攝門,即在橫面上,一位中同時具足一切位,不論其爲最高位或最低位,一切悉皆圓滿具足。 行布門爲施設種種差別相所說之方便法門,圓融門則爲由理性之德的平等立場所說之真實法。依華嚴宗之教旨,三乘諸教乃屬行布門,而華嚴之圓教方爲圓融門。由圓融門來看,差別相與理性之德似乎互相矛盾,其實兩者互爲一體,全無矛盾,故華嚴宗強調信滿成佛(十信滿位,完成佛果)。此外,天台宗則以華嚴經教爲行布門,而視法華經爲圓融門。〔華嚴經探玄記卷一、五教章通路記卷二十七〕
viên dung tam quán
5415謂於一心中修空、假、中三觀。爲天台宗之觀法。與「次第三觀」相對。又作一心三觀、不可思議三觀、不次第三觀。空、假、中三諦之理爲即空、即假、即中而圓融,所觀之境體爲一境三諦,故能觀之心亦觀一心之即空、即假、即中而圓融無礙,故稱圓融三觀,以其斷同體之三惑,故得一心三智。〔觀經疏(智顗)、摩訶止觀卷五上、天台傳佛心印記、金光明經玄義卷下〕(參閱「一心三觀」23)
viên dung tam đế
5414又作一境三諦、不次第三諦、不思議三諦。天台宗所說「空、假、中」三諦之前二諦係針對現象面所設立者,中諦則爲針對本體面各自獨立之真理所設立者;此三諦若彼此隔歷不融,前後互成次第,則稱隔歷三諦。圓融三諦則相對於隔歷三諦,即於一諦之中,具足三諦,交互融會,而無所謂個別說法。〔金光明經文句卷二、卷四、卷五、摩訶止觀卷七上〕(參閱「三諦」684、「隔歷三諦」5695)
; Sự viên dung của tam đế trong giáo thuyết của tông Thiên Thai. Nguyên lý mà mỗi hiện tượng tự biểu lộ là ba chân lý trong một hòa điệu, tức Không Giả và Trung, nghĩa là, thật thể vốn nội tại, hoàn toàn nội tại, nội tại trong lý tánh và nội tại trong bản tánh—The three dogmas of the T'ien-T'ai Perfect School, as combined, as one and the same, as a unity. The principle each phenomenon expresses is the triple truth of harmony, as void, as temporary and as mean, i.e., noumenon originally immanent, perfectly immanent, immanency in principle and immanency in nature. a) Không Đế: The universal (không) apart from the particular (giả) is an abstraction—See Tam Đế (1). b) Giả Đế: The particular aprt from the universal is unreal. The universal realizes its true nature in the particular, and the particular derives its meaning from the universal—See Tam Đế (2). c) Trung Đế: The middle path unites these two aspects of one reality—See Tam Đế (3). ** For more information, please see Không Giả Trung, và Tam Đế.
Viên Dung Thiên Hoàng
(圓融天皇, Enyū Tennō, tại vị 969-984): vị Thiên Hoàng sống giữa thời Bình An, Hoàng Tử thứ 5 của Thôn Thượng Thiên Hoàng (村上天皇, Murakami Tennō), tên là Thủ Bình (守平, Morihira).
viên dung tự
EnyŪ-ji (J)Tên một ngôi chùa.
viên dung vạn đức tôn
5415佛之尊稱。佛以一體而圓滿具足萬德,應予尊重,故稱之爲圓融萬德尊。大乘本生心地觀經卷二報恩品中六句歎佛句之第六句謂佛爲「世出世間功德圓滿一切義依」,即言佛乃圓滿一切功德者,故依之始成一切事義。仁王般若波羅蜜經卷上教化品(大八‧八二七中):「佛眾法海三寶藏,無量功德攝在中。」謂佛、法、僧三者爲一體之三寶,亦即真如;於真如海中,具足萬德,爲一切之所依處,歷三世亦不變移而等同一體。日僧源信於其所著往生要集卷上末,依準心地觀經與仁王經之意,而將「圓融萬德尊」一語轉用爲對彌陀聖德之讚歎,謂阿彌陀佛以真如爲體,具足萬德,爲一切眾生之歸依處,故有圓融萬德尊之稱。〔中觀論疏卷九末(吉藏)〕
Viên Giác
(圓覺): tánh giác viên mãn, nghĩa là lý tánh do Như Lai chứng được có đầy đủ muôn đức, tròn đầy cùng khắp, linh diệu sáng tỏ. Hơn nữa, hết thảy chúng hữu tình đều có bản giác, chơn tâm, từ vô thỉ đến nay thường trú thanh tịnh, sáng rực không mê mờ, rõ ràng thường biết; nếu nói về thể thì đó là nhất tâm; nếu nói về nhân là Như Lai Tạng (如來藏); nói về quả là Viên Giác; cùng đồng nhất với chân như, Phật tánh, pháp giới, Niết Bàn, Bồ Đề, v.v. Trong Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (大方廣圓覺修多羅了義經, gọi tắt là Viên Giác Kinh, Taishō Vol. 17, No. 842) giải thích rằng: “Vô thượng Pháp Vương hữu đại Đà La Ni môn, danh vi Viên Giác, lưu xuất nhất thiết thanh tịnh chân như Bồ Đề Niết Bàn cập Ba La Mật, giáo thọ Bồ Tát (無上法王有大陀羅尼門、名爲圓覺、流出一切清淨眞如菩提涅槃及波羅蜜、敎授菩薩, đấng Pháp Vương vô thượng có pháp môn đại Đà La Ni tên là Viên Giác, lưu xuất hết thảy chân như, Bồ Đề, Niết Bàn và Ba La Mật, dạy dỗ và truyền trao cho Bồ Tát).” Hay trong Viên Giác Kinh Lược Sớ Tự Chú (圓覺經略疏序注, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 10, No. 256) của Khuê Phong Tông Mật (圭峰宗密, 780-841) có chú giải rằng: “Vạn pháp hư ngụy, duyên hội nhi sanh, sanh pháp bổn vô, nhất thiết duy thức, thức như huyễn mộng, đản thị nhất tâm, tâm tịch nhi tri, mục chi vi Viên Giác (萬法虛僞、緣會而生、生法本無、一切唯識、識如幻夢、但是一心、心寂而知、目之爲圓覺, muôn pháp không thật, do duyên gặp mà sinh ra, pháp sanh ra vốn không, hết thảy chỉ có biết, biết như huyễn mộng, chỉ là nhất tâm, tâm lặng mà biết, mắt thấy là Viên Giác).”
viên giác
5416圓滿之覺性。謂如來所證之理性具足萬德,圓滿周備,靈明朗然。又以一切有情皆有本覺、真心,自無始已來常住清淨,昭昭不昧,了了常知,就體而言,稱一心;就因而言,稱如來藏;就果而言,則稱圓覺。與真如、佛性、法界、涅槃、菩提等畢竟同一。圓覺經一部即演說此法。圓覺經略疏序載,統眾德而大備,爍群昏而獨照,稱爲圓覺。其實皆爲一心,背之則爲凡,順之則爲聖;迷之則有生死,悟之則息輪迴。終日圓覺而未嘗圓覺者爲凡夫,欲證圓覺而未極圓覺者爲菩薩,具足圓覺而住持圓覺者爲如來。離圓覺無六道,捨圓覺無三乘,非圓覺無如來,泯圓覺無真法,其實皆爲一道。〔圓覺經略疏卷上(宗密)〕
; Engaku (J) Là giác ngộ bản thể tự tánh vốn viên mãn, cùng khắp thời gian không gian.
; Complete enlightenment potentially present in each being, for all have bản giác primal awareness, or chân tâm the true heart (e.g. conscience), which has always remained pure and shining; considered as essence it is the nhất tâm one mind, considered causally it is the Như lai tạng Tathàgata-garbha, considered in its result it is viên giác perfect enlightenment.
; Là giác ngộ bản thể tự tánh vốn viên mãn, cùng khắp thời gian không gian.
; Toàn giác—Theo Kinh Viên Giác, viên giác tiềm ẩn trong mỗi chúng sanh, nó là bản giác hay chân tâm của tất cả các loài hữu tình, từ vô thủy đến nay thường trụ, thanh tịnh và sáng ngời—According to the Complete Enlightenment Sutra, complete enlightenment potentially present in each being, for all have primal awareness or the true heart, i.e. conscience, which has always remained pure and shining. a) Về mặt thể gọi là Nhất Tâm: Considered as essence in it is the One Mind. b) Về mặt nhân gọi là Như Lai Tạng: Considered causally it is the Tathagata-garbha. c) Về mặt quả gọi là Viên Giác: Considered in its result it is Perfect Enlightenment.
Viên giác kinh
圓覺經; C: yuánjué-jīng; J: engaku-kyō; tên ngắn của bộ kinh Ðại phương quảng viên giác tu-đa-la liễu nghĩa kinh (s: mahāvaipulyapūrṇa-buddhasūtra-prasannārtha-sūtra); |Một bộ kinh Ðại thừa quan trọng được Giác Cứu (Phật-đà Ða-la; s: buddhatrāta) dịch sang Hán ngữ năm 693. Kinh này được chia làm mười hai chương, lấy tên của mười hai vị Ðại Bồ Tát làm tên của mỗi chương. Phần nội dung và phần kết thúc bao gồm mười hai lần hỏi đáp. Trong kinh này, mười hai vị Ðại Bồ Tát, trong đó có hai vị Văn-thù và Phổ Hiền, được chỉ dạy về sự viên mãn của Giác ngộ (viên giác). Kinh này có ảnh hưởng lớn trong Thiền tông.
viên giác kinh
5417請參閱 大方廣圓覺修多羅了義經 或 圓覺經 請參閱 圓覺經道場修證儀 請參閱 圓覺經略疏全一卷。爲大方廣圓覺修多羅了義經之略稱。又作大方廣圓覺經、圓覺了義經。收於大正藏第十七冊。唐代佛陀多羅譯。譯者之事跡不詳。近代日本學者以爲此書可能是偽經,並認爲其內容可能是根據大佛頂首楞嚴經而來。全經主要說明大乘圓頓之理及如何觀行實踐之法。注釋書有唐代宗密大疏鈔十三卷等多種。禪宗自古以來即重視維摩經、楞嚴經、圓覺經,然日僧道元認爲圓覺經所說與其他大乘諸經有異,故加以排斥。〔開元釋教錄卷九、續古今譯經圖紀〕(參閱「大方廣圓覺修多羅了義經」765)
; Engaku-kyo (J)Xem Đại phương đẳng viên giác tu đa la liễu nghĩa kinh.
; The Sutra of Perfect Enlightenment—See Kinh Viên Giác.
viên giác kinh lược sớ
5418請參閱 圓覺經道場修證儀凡四卷(或二卷)。唐代宗密(780~841)撰。又作大方廣圓覺修多羅了義經略疏註、圓覺經略疏註、圓覺略疏、大方廣圓覺經略疏註。收於大正藏第三十九冊。宗密曾作圓覺經大疏及圓覺經大疏鈔,然因二書博引旁證,過於廣泛,令人不易受持,乃節略其精要而作「略疏」。又宗密另著有圓覺經略疏科,以科判本書;並作圓覺經略疏鈔,以注釋本書。〔新編諸宗教藏總錄卷一〕(參閱「大方廣圓覺經大疏」766)
viên giác kinh đại sớ sao
5418 請參閱 大方廣圓覺經大疏凡十三卷(或二十六卷)。唐代宗密(780~841)撰。又作大方廣圓覺經大疏鈔、圓覺經大疏釋義鈔、圓覺大鈔。收於卍續藏第十四、第十五冊。宗密於長慶三年(823)著成圓覺經大疏三卷,其後復撰本書加以詳釋。書中屢屢引用儒、道二教之典籍,論釋廣博,非僅限於佛教,故全書體裁已近於佛教百科辭典。本書與宗密之另二著作「禪源諸詮集都序」、「禪門師資承襲圖」,並爲研究禪宗史之重要文獻。
viên giác kinh đạo trường tu chứng nghi
5418 請參閱 圓覺經略疏凡十八卷。唐代宗密(780~841)撰。又作圓覺經修證儀、圓覺廣修證儀、圓覺修證儀。收於卍續藏第一二八冊。內容記載關於禮懺禪觀等之修行儀則。本書係根據大方廣圓覺修多羅了義經(圓覺經),以闡明佛教修行者於實際上之修行及宗教行事方面所應行之坐禪觀法與懺悔滅罪之法,並規定讚仰諷誦加行禮拜之行法。又本書於中國佛教之儀禮方面,係繼承東晉道安至天台智顗之實修體系,而與唐代慧覺之華嚴經海印道場懺儀四十二卷,並稱佳作。書中引用智顗所著天台小止觀之處甚多,然本書之重點在於巧妙地將華嚴與禪之行法加以結合。又宋代淨源(1011~1088)將本書簡化,著成圓覺經道場略本修證儀一卷。〔新編諸宗教藏總錄卷一〕
viên giác tam quán
5417請參閱 圓覺經 指圓覺經所說之三種觀法。即:(一)奢摩他觀,奢摩他,意譯作止,謂靜止心念而入於涅槃。(二)三摩鉢底觀,三摩鉢底,意譯作觀,謂觀如幻之相而證幻化之淨行。(三)禪那觀,禪那,意譯作思惟,謂不取靜相及幻化,思惟而證中道之實相。此三觀單複重疊而爲二十五種,稱爲二十五清凈定輪。圓覺經(大一七‧九一九上):「所謂奢摩他、三摩提、禪那,三法頓漸修,有二十五種。十方諸如來,三世修行者,無不因此法,而得成菩提。」
Viên Giác Tông Diễn
(圓覺宗演, Engaku Sōen, ?-?): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, xuất thân Ân Châu (恩州, Tỉnh Hà Bắc), họ Thôi (崔). Sau khi xuất gia, ông đến tham vấn Nguyên Phong Thanh Mãn (元豐清滿) và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đến trú tại Tuyết Phong Sơn (雪峰山) thuộc Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến) và trong khoảng thời gian niên hiệu Tuyên Hòa (宣和, 1119-1125), ông nhận được sắc chỉ của vua Huy Tông mời vào cung nội thuyết pháp, nhân đó ông được ban tặng cho hiệu là Viên Giác Thiền Sư (圓覺禪師). Vào năm thứ 2 (1120) niên hiệu Tuyên Hòa, ông khai bản trùng khắc bộ Lâm Tế Lục (臨濟錄), và trước sau thời gian này ông còn cho ấn bản bộ Vân Môn Lục (雲門錄).
Viên Giác Tự
(圓覺寺, Engaku-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Viên Giác Tự (圓覺寺派) thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, hiệu núi là Thoại Lộc Sơn (瑞鹿山), hiện tọa lạc tại số 409 Yamanouchi (山ノ內), Kamakura-shi (鎌倉市), Kanagawa-ken (神奈川縣), được xếp hàng thứ hai trong năm ngôi chùa nổi tiếng ở vùng Liêm Thương. Tượng thờ chính của chùa Bảo Quan Thích Ca Như Lai (寶冠釋迦如來). Tên chính thức của chùa là Thoại Lộc Sơn Viên Giác Hưng Thánh Thiền Tự (瑞鹿山圓覺興聖禪寺). Vào năm thứ 5 (1282) niên hiệu Hoằng An (弘安), để truy điệu cầu nguyện cho những người đã tử trận trong cuộc chiến chống quân nhà Nguyên, Tướng Quân trấn thủ vùng Tương Mô (相模, Sagami) là Bắc Điều Thời Tông (北條時宗, Hōjō Tokimune) sáng lập nên chùa này, rồi cung thỉnh Vô Học Tổ Nguyên (無學祖元) làm vị Tổ khai sơn. Tương truyền rằng vào ngày lạc thành chùa thì có bầy nai trắng tập trung đến nghe pháp, nên từ đó ngọn núi này được đặt tên là Thoại Lộc Sơn (瑞鹿山, ngọn núi có điềm lành bầy nai trắng). Vào năm thứ 7 (1400) niên hiệu Ứng Vĩnh (應永), chùa gặp phải trận hỏa tai lớn, rồi sau đó cũng thỉnh thoảng gặp những lần hỏa hoạn như vậy; nhưng đến năm thứ 2 (1625) niên hiệu Khoan Vĩnh thì chùa được tái kiến lại như cũ cho đến ngày nay. Trước thời Duy Tân, chùa có 32 ngọn tháp, 2 tòa viện lớn; nhưng hiện tại chỉ còn có 12 ngọn tháp và 1 tòa viện mà thôi. Quần thể kiến trúc của chùa gồm Tổng Môn (總門), Tam Môn (三門), Phật Điện (佛殿), Tuyển Phật Trường (選佛塲), Phương Trượng (方丈), Xá Lợi Điện (舍利殿), Diệu Hương Trì (妙香池), Lầu Chuông. Bên cạnh đó, còn có khá nhiều ngôi viện tháp khác như Tế Ấm Am (濟蔭庵), Chánh Tục Viện (正續院), Tùng Lãnh Viện (松嶺院), Phật Nhật Am (佛日庵), Hoàng Mai Viện (黃梅院), Quy Nguyên Viện (歸源院), Quế Xương Am (桂昌庵), Long Ẩn Am (龍隱庵), Thọ Đức Am (壽德庵), Chánh Truyền Am (正傳庵), Tục Đăng Am (續燈庵), Như Ý Am (如意庵), Ngọa Long Am (臥龍庵), Bạch Vân Am (白雲庵), Vân Đảnh Am (雲頂庵), v.v. Chùa hiện lưu giữ một số bảo vật thuộc dạng quốc bảo như Xá Lợi Điện (an trí Xá Lợi của đức Phật, tương truyền thỉnh từ nhà Nam Tống sang), Phạn Chung (梵鐘, Hồng Chung, do Tướng Quân Bắc Điều Trinh Thời hiến cúng, được đúc vào năm 1301); và nhiều bảo vật thuộc loại tài sản văn hóa quan trọng.
Viên Giác tự
圓覺寺; J: engaku-ji; |Một thiền viện nổi danh của Nhật Bản, nằm tại Liêm Thương (kamakura). Thiền viện này được một vị Thiền sư Trung Quốc là Vô Học Tổ Nguyên khai sáng, với sự ủng hộ của Tướng quân Bắc Ðiều Thì Tông (hōjo tokimune). Thiền viện này là trụ sở chính của thiền phái Viên Giác (engaku-ji-ha) của tông Lâm Tế tại Nhật, được xếp vào hệ thống Ngũ sơn của Liêm Thương. Viên Giác tự là một trong những thiền viện hiếm hoi vẫn còn hoạt động đến thời nay; rất nhiều thiền viện nhỏ đứng dưới sự quản lí của thiền viện này.
viên giác tự
5417<一>位於日本鎌倉市山內村。日本臨濟宗圓覺寺派大本山。山號瑞鹿山。昔爲定額寺。日本弘安五年(1282),北條時宗所創建,以宋僧無學祖元爲開山。而由宋僧蘭溪道隆監造,於工程中自基土挖出圓覺經之石櫃,故以該經之名爲寺名。寺爲幕府之祈願處,居鎌倉五山中之第二。寺域甚廣,有山門、舍利殿、開山堂、時宗廟等。其中舍利殿建於弘安八年,爲日本現存禪宗建築中之最古者。〔元亨釋書卷八、延寶傳燈錄卷二、鎌倉五山記〕 <二>位於琉球首里城外當藏村。山號天德山。屬臨濟宗。一四九二年,琉球國主尚真王爲亡父尚圓追福而建。一四九四年竣工,以日僧芥隱禪師爲開山,尚真王並賜以紫衣,任爲僧錄,禮遇備至。後將寺改爲御願寺。寺中七堂伽藍具備,爲琉球島中第一巨剎。〔琉球由來記、琉球往來卷下、日本名勝地誌卷十一〕
; Engake-ji (J), Engaku-ji (J)Tên một ngôi chùa.
viên giám thiền sư ngữ lục
5418請參閱 圓覺經道場修證儀全一卷。全稱敕諡圓鑑禪師藏山和尚語錄。又作藏山和尚語錄、藏山錄。日本臨濟宗僧藏山順空(1233~1308)撰,日本延寶八年(1680)刊行。收於大正藏第八十冊。輯錄高城護國禪寺語、東福寺語、法語、小佛事、贊、自贊、偈頌、遺偈等,卷末附錄虎關師鍊所撰之圓鑑禪師傳一篇。
viên giáo
5406<一>指究竟圓滿之佛教。於舊譯華嚴經卷五十五,有爲善財童子說圓滿因緣修多羅之記載。在我國,將諸經典內容體系化,以作教相判釋,而稱究竟圓滿之教爲圓教。 (一)北魏慧光判立漸、頓、圓三教,而將華嚴經列入圓教。 (二)隋代智顗大師判五時八教,其中化法四教即包括三藏教、通教、別教和圓教;其中圓教之「圓」即不偏而圓滿之意。據止觀輔行傳弘決卷一之五載,若就教理義門之大小而言,則通、別二教爲「小中大」,圓教爲「大中大」;若就教相之偏圓而言,則藏、通、別三教爲「偏中圓」,圓教爲「圓中圓」;若就教義之圓滿究竟與否而言,則通、別二教爲「半中滿」,圓教爲「滿中滿」;若就權實而言,則別教爲「權中實」,圓教爲「實中實」;若就頓漸而言,則別教爲「漸中頓」,圓教爲「頓中頓」;若就諦理之真俗而言,藏、通、別三教爲「俗中真」,圓教爲「真中真」;若就義法之了義與否而言,藏、通二教爲「不了義」,別教爲「不了中了」,圓教爲「了中了」;若就經典之判釋而言,於華嚴、方等、般若之說法中,雖亦皆說圓教,但均屬未開顯之圓,而非純粹之圓教,僅有法華經方屬純圓。 (三)唐代法藏判立小乘教、始教、終教、頓教、圓教等五教,而將華嚴經列入第五之圓教。圓教即一乘教法,分爲同教一乘、別教一乘二種。但以別教一乘超越諸經,乃說華嚴經之圓融無礙,故圓教又特指別教一乘。 (四)唐代元政判教,以真言密教爲一大圓教。日本天台之密教亦採此說而發展,並且設立教判。 (五)日本天台圓宗,如圓(頓)戒,在天台宗爲超越一切之差別,而互相融合,相輔相成。圓頓戒之本意乃依於法華開顯之妙旨,授與梵網經所說之十重四十八輕戒。此戒本爲我國天台大師智顗所倡,後由日僧最澄傳入日本。迄今此一教說頗受一般重視,而爲日本天台宗徒所特崇。〔華嚴經旨歸、金剛頂經疏卷一末、四教義卷一〕(參閱「五教十宗」1146) <二>明代民間宗教。又稱大同教。安徽巢縣方榮升所創。宣稱以解除無邊眾生痛苦爲宗旨,謂真命天子下凡,過去爲燃燈佛青蓮掌世,爲無極青陽教;現今是釋迦佛紅蓮掌世,爲太極紅陽教;未來是彌勒佛白蓮掌世,爲皇極白陽教。至彌勒掌天盤之世,混沌七七日,日月改行,氣候更變,唯習圓教者可免此劫。主要經卷有定劫寶卷、破邪顯正明心錄、應劫冊等。盛行於長江下游各省。嘉慶二十年(1815)密謀起義,爲清廷剿滅。
; Engyō (J).
; The complete, perfect, or comprehensive doctrine; the school or sect of Mahàyàna which represents it. The term has had three references. The first was by Quang Thống, sixth century, who defined three shools, Tiệm gradual, Đốn immediate, Viên inclusive or complete. The Thiên Thai called its fourth section inclusive, complete, or perfect teaching Viên, the other three being Tạng Hìnayàna, Thông Màhayàna-cum-Hìnayàna, Biệt Mahàyàna. The Hoa Nghiêm so called its fifth section, i.e. Tiểu thừa, Đại thừa thủy giáo, Đại thừa chung giáo, Đốn giáo and Viên giáo.
; Perfect teaching—Round Doctrine—Round Teaching. 1) Viên Giáo là pháp tối thượng thừa trong Phật giáo, giảng về Nhất Thừa hay Phật Thừa, được Đức Phật thuyết giảng trong các kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm và các kinh khác—Perfect Teaching or supreme teaching of the Buddha, as expressed in the Lotus, Avatamsaka Sutras, among others. Perfect teaching signifies the One-Vehicle or the Vehicle of the Buddha. 2) Đại thừa Viên Giáo, tên gọi của tông Thiên Thai—Mahayana—The Perfect School, the comprehensive doctrine, or the complete immediate school, that of T'ien-T'ai. 3) Theo Quang Thống thời Hậu Ngụy, vào thế kỷ thứ sáu lập ra ba trường phái thời bấy giờ là tiệm, đốn và viên. Tên Viên Giáo bắt đầu từ đó: During the Post-Wei dynasty, around the sixth century, Vinaya Master Kuang-T'ung defined three school, gradual, immediate, and inclusive or complete. 4) Tông Thiên Thai phân tích ra làm tứ giáo, giáo thuyết thứ tư là viên giáo: The T'ien-T'ai defined four schools, the fourth school called “Inclusive or complete teaching.”—See Thiên Thai Hóa Nghi Tứ Giáo. 5) Tông Hoa nghiêm lập ra ngũ giáo, loại thứ năm là viên giáo: The Hua-Yen sect defined five schools, the fifth called “Inclusive or complete teaching.”—See Ngũ Thời Giáo.
viên giáo tứ môn
5406天台宗所立之圓教分爲四門,即有門、空門、亦有亦空門、非有非空門。天台圓教以萬法圓融,故不可有門門各立之義,但一法之上,則有四門入理之異。(一)有門,觀見思之假即是法界,具足一切佛法。爲三諦相即之假。(二)空門,觀一切法不在因、不屬緣,我及涅槃亦皆空。爲三諦相即之空。(三)亦有亦空門,空假相即,故爲亦有亦空。是空假雙亦之中。(四)非有非空門,見思即法性,故見思非有;法性即見思,故法性非空。爲空假雙非之中道。〔摩訶止觀卷六〕(參閱「四門」1723)
viên giới
See Viên Đốn Giới.
viên hoằng đạo
4318明朝湖北公安人。字中郎,號石頭居士。與兄宗道,弟中道共具才名,先後登進士第,時人以三袁稱之。兄弟三人皆好禪宗。宏道曾任吳江知縣,後為禮部主事,未幾,以病辭歸。初學禪於李卓吾,能通信解,好辯論,後覺空談非實際,遂歸淨土,朝夕禮誦,兼持禁戒。博輯經教,於萬曆二十七年(1599)著西方合論十卷,闡明淨土之教義。此書文辭婉雅,義旨概博,世所翫愛。後復官職,再遷稽勳司郎中,復以病辭,歸隱荊州。萬曆四十二年(1614,一說崇禎四年,1631)逝世,年壽不詳。除西方合論十卷外,另著有珊瑚林一卷、金屑編一卷、解脫集五卷。〔淨土聖賢錄卷七、居士傳卷四十六、明史卷二八六〕
viên huy
5409唐代僧。籍貫不詳。幼即研習性相之學,精研俱舍。玄宗初年間,有禮部侍郎賈曾,好俱舍之文義,與師談論,以普光等疏之義旨繁雜,請師略釋頌文。師乃節略聖道寺懷遠之古疏,於京師大雲寺作俱舍頌疏二十九卷。學者皆以爲捷徑,此即所謂之圓暉疏。其後遁麟、慧暉、崇廙等各製疏記釋之。師於普光、法寶二師之後出,於俱舍一宗聲譽甚高。世壽不詳。〔俱舍論頌疏序、宋高僧傳卷五〕
Viên Hành
(圓行, Engyō, 799-852): vị Tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, húy là Viên Hành, xuất thân kinh đô Kyoto. Ông xuất gia với tư cách là người được phép đắc độ hằng năm của Hoa Nghiêm Tông, sau đó ông theo học Mật Giáo với Không Hải (空海, Kūkai). Năm 838, ông cùng với Thường Hiểu (常曉, Jōgyō), Viên Nhân (圓仁, Ennin), Viên Tải (圓載, Ensai) sang nhà Đường lưu học, được Nghĩa Chơn (義眞) ở Thanh Long Tự (青龍寺) truyền trao cho đại pháp của 2 bộ Thai Mật. Sau khi trở về nước, ông khai sáng Linh Nham Tự (靈巖寺, Reigan-ji) ở vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro) và Đại Sơn Tự (大山寺, Daizan-ji) ở Bá Ma (播磨, Harima). Trước tác của ông để lại có Kim Cang Giới Ký (金剛界記), Ngũ Đại Hư Không Tạng Pháp (五大虛空藏法), Thánh Vô Động Tôn Quyết Bí Yếu Nghĩa (聖無動尊決秘要義), Linh Nham Khẩu Truyền (靈巖口傳) 1 quyển, Tấn Quan Thỉnh Lai Lục (進官請來錄) 1 quyển, v.v.
viên hành
5399(800~853)日本真言宗僧。爲日本入唐八家之一。京都人。先於元興寺習學,後從空海學密教。承和五年(838)來唐,至青龍寺義真處,受金剛、胎藏二部大法,翌年攜顯密經論章疏等,凡六十九部一三三卷、佛舍利三千餘顆、佛像曼荼羅樣十二種,及諸種道具歸返日本,創立靈巖寺、大山寺,並任天王寺別當。仁壽二年示寂,世壽五十四。著有金剛界記、五大虛空藏法等書行世。〔入唐五家傳、元亨釋書卷十六〕
; Hành pháp của Viên Giáo, cho rằng một hành tức là tất cả hành—The conduct or discipline of the T'ien-T'ai “perfect” school, the diversity in the unity.
viên hải
The all-embracing ocean, i.e. the perfection or power of the Tathàgata.
; Như Lai lực ví như biển cả ôm trọn tất cả—The all-embracing ocean, i.e. the perfection or power of the Tathagata.
viên hầu tróc nguyệt
5523謂群猿捕捉映在水面之月。原係形容愚者相隨從而受苦惱,引申譬喻憍慢者失策。常作畫題之用。據摩訶僧祇律卷七第十一僧殘條所載,過去世時,有城名波羅奈,國名伽尸。於空閑處有五百獼猴,遊行林中,至一尼俱律樹,樹下有井,井中有月影現。時獼猴主見是月影,語諸伴言(大二二‧二八四上):「月今日死,落在井中,當共出之,莫令世間長夜闇冥。」共作議言:「云何能出?」時獼猴主言:「我知出法,我捉樹枝,汝捉我尾,展轉相連,乃可出之。」時諸獼猴即如主語,展轉相捉,小未至水,連獼猴重,樹弱枝折,一切獼猴墮井水中。爾時樹神便說偈言:「是等騃榛獸,癡眾共相隨;坐自生苦惱,何能救世間?」佛告諸比丘,爾時之獼猴主者,即指提婆達多;爾時之餘獼猴者,即指六群比丘。北本涅槃經卷九亦謂(大一二‧四一八下):「一闡提所作眾惡而不自見,是一闡提憍慢心故,雖多作惡,於是事中初無怖畏,以是義故,不得涅槃,喻如獼猴捉水中月。」
Viên Học
圓學; 1053-1116|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi, pháp hệ thứ 17. Sư nối pháp Thiền sư Chân Không và truyền lại cho đệ tử là Quốc sư Viên Thông.|Sư họ Hoàng, quê ở làng Như Nguyệt. Thuở nhỏ, Sư xuất gia tu học tại chùa Ðại An Quốc, huyện Tế Giang, ban đầu đọc hết các loại sách thế tục, đến năm lên hai mươi mới bước vào nghiên cứu nội điển.|Nhân nghe một câu nói của Thiền sư Chân Không, Sư lĩnh hội huyền chỉ. Sau đó, Sư tuỳ phương giáo hoá.|Về sau, Sư trùng tu chùa Quốc Thanh ở làng Phù Cầm và đúc một quả chuông. Sư làm bài kệ dạy chúng:|六識常昏終夜苦。無明被覆久迷慵|晝夜聞鐘開覺悟。懶神淨剎得神通|Lục thức thường hôn chung dạ khổ|Vô minh bị phú cửu mê dung|Trú dạ văn chung khai giác ngộ|Lãn thần tịnh sát đắc thần thông.|*Sáu thức tối tăm khổ đêm dài|Vô minh che đậy mãi mê say|Sớm tối nghe chuông lòng tỉnh giác|Thần lưỡi dứt sạch, được thần thông.|Năm Bính Thìn, niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự thứ 4, ngày 14 tháng 6, Sư thị tịch, thọ 64 tuổi.
viên học thiền sư
Zen Master Viên Học (1073-1136)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Tế Giang, Bắc Việt. Năm 20 tuổi, ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Chân Không. Ngài là Pháp tử đời thứ 17 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Về sau, ngài trùng tu chùa Quốc Thanh ở Phù Cầm. Hầu hết cuộc đời ngắn ngủi của ngài, ngài hoằng hóa Phật giáo tại Bắc Việt. Ngài thị tịch năm 1136 lúc mới 36 tuổi—A Vietnamese Zen master from Tế Giang, North Vietnam. He left home and became a disciple of Zen Master Chân Không at the age of 20. He was the Dharma heir of the seventeenth generation of the Vinitaruci Zen Sect. Later, he rebuilt Quốc Thanh Temple in Phù Cầm. He spent most of his short life to expand Buddhism in North Vietnam. He passed away in 1136, at the age of 36.
viên hợp
All embracing, all inclusive.
; Dung hợp tất cả—All-embracing, all inclusive.
viên không
5401日本臨濟宗僧。爲著名之佛像雕刻家。江戶時代中期美濃人。自幼出家,後雲遊四方。曾發願雕十二萬尊佛像,遍遊北海道。所雕佛像栩栩如生,雕法豪放粗獷,遺作未被發現者甚多。平生常棲止於山穴窟洞中,故時人稱之爲「窟上人」。晚年寂於池尻,世壽不詳。〔續日本高僧傳卷十一〕
; Complete vacuity, i.e. không không, from which even the idea of vacuity is absent.
; Đệ nhất nghĩa không hay chân không trong đó ý niệm về không cũng không còn---Complete vacuity, from which even the idea of “vacuity” is absent.
viên kính mạn đồ la
5416又作鏡曼荼羅。密教行者於本尊之心上觀想圓明之月輪所成之曼荼羅,或於行者自己圓明之心月輪中觀想種子、印契、形像等三者所成之曼荼羅,稱爲圓鏡曼荼羅。又由此內心之妙曼荼羅出音聲,稱爲轉法輪;其音普遍於十方,稱爲法螺。大日經疏卷九(大三九‧六七○中):「猶如字輪旋轉相成,共爲一體。如字輪者,印輪身亦然。是故解圓鏡漫荼羅義時,即解祕密藏中轉法輪義。轉此法輪時,以一音聲普遍十方世界,警悟眾生,故曰吹大法螺也。」大日經卷六「百字位成品」(大一八‧四○下):「彼能有知此,內心之大我。隨其自心位,導師所住處。八葉從意生,蓮華極嚴麗。圓滿月輪中,無垢猶淨鏡。於彼常安住,真言救世尊。」〔大日經疏卷十九、大日經義釋卷八、大日經義釋演密鈔卷七〕
viên liễu phàm
4318明代江蘇吳江人。名黃,字坤儀,初號學海。自幼好讀書,博學尚奇,無所不通,舉凡天文、象數、河洛、律呂、水利、兵政、堪輿、星命、岐黃、句股等,均能精密研求。萬曆年間舉進士,知寶抵縣,有政績,擢兵部主事。日本侵朝鮮時,佐經略宋應昌、提督李如松往征,多所策劃,後為如松所忌,中察典免歸。氏博學廣知,初銳意功名,屢厄於庸流,顛沛困頓,遂棄官家居,與諸儒往還。後至棲霞山,受教於雲谷會禪師,信受佛法,精勤奉行,並改號「了凡」,蓋取「了脫凡情,優入聖域」之意。著有兩行齋集、曆法新書、皇都水利、評注八代文宗、群書備考、立命論、了凡四訓等書。其中以了凡四訓一書,談論心性因果,極力勸人為善,自明清以來,甚為流行。
viên minh
Emmyō (J)Tên một vị sư.
; Tên một ngôi chùa cổ tọa lạc trong thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre, Nam Việt Nam. Chùa đã được xây dựng từ lâu lắm. Kiến trúc chùa hiện nay là do đợt trùng tu năm 1951 và hoàn tất năm 1959—Name of an ancient pagoda located in Bến Tre town, Bến Tre province, South Vietnam. It was built a long long time ago. The present construction is that of the rebuilding in 1951 (completed in 1959).
viên minh bách vấn
5401乃清世宗雍正皇帝所撰之禪宗問題一百則。收於雍正御選語錄卷十二。雍正自幼耽於典籍,深受宮廷崇信佛教影響,尤好禪宗。嘗從學於迦陵性音禪師及章嘉呼圖克圖。登基後,嘗親自昇座說法,秉拂談禪,從學之徒,近有王室宗親,遠有僧徒道士。帝自稱圓明居士,編有雍正御選語錄一書。其所撰圓明百問,頗爲清朝佛子所樂道。玆舉其中一則爲例:第四十則「有因無爲果,無因有爲果,除此有無,以何爲因?以何爲果?」諸問大體類此,多蘊藏禪理,與古德公案相類。〔答圓明百問(火頭僧,香港佛教第一一七期)〕
viên mãn
5413梵語 Paripūrṇa。周遍充足,無所缺減之意。若指十八圓滿而言,稱十八圓滿,或十八具足;謂諸佛(報身佛)所受用之國土,具足十八種功德事,即:顯色圓滿、形色圓滿、分量圓滿、方所圓滿、因圓滿、果圓滿、主圓滿、輔翼圓滿、眷屬圓滿、住持圓滿、事業圓滿、攝益圓滿、無畏圓滿、住處圓滿、路圓滿、乘圓滿、門圓滿、依持圓滿等。另於瑜伽師地論卷八十五,舉出善說法毘奈耶中具有行圓滿、果圓滿、師圓滿等三種圓滿。此外,如相好圓滿、萬德圓滿、功德圓滿、所願圓滿等,皆表各種周遍圓滿、無所欠缺之意。〔舊華嚴經卷五十五、大佛頂首楞嚴經卷四、佛地經論卷一〕
; Puṇṇa (P), Purṇa (S), Completeness Puṇṇa (P)Xem Phú lâu na.
; Pari- (S). Completely full; wholly complete; the fulfilling of the whole, i.e. that the part contains the whole; the absolute in the relative.
; Hoàn toàn thành tựu—Accomplished, perfection, completion, completely full, wholly complete; the fulfilling of the whole, i.e. that the part contains the whole, the absolute in the relative.
viên mãn báo thân
The perfect reward body.
viên mãn báo thân phật
The Full Reward-Body of the Buddha—Theo Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng đã dạy về Viên Mãn Báo Thân Phật như sau: “Nầy thiện tri thức! Sao gọi là Viên Mãn Báo Thân Phật? Thí như trong một ngọn đèn hay trừ ngàn năm tối, một trí huệ hay diệt muôn năm ngu. Chớ suy nghĩ về trước, đã qua không thể được. Thường phải nghĩ về sau, mỗi niệm mỗi niệm tròn sáng, tự thấy bản tánh. Thiện ác tuy là khác mà bản tánh không có hai, tánh không có hai đó gọi là tánh Phật. Ở trong thật tánh không nhiễm thiện ác, đây gọi là Viên Mãn Báo Thân Phật. Tự tánh khởi một niệm ác thì diệt muôn kiếp nhơn lành, tự tánh khởi một niệm thiện thì được hằng sa ác hết, thẳng đến Vô Thượng Bồ Đề, niệm niệm tự thấy chẳng mất bổn niệm gọi là Báo Thân.”—According to the Dharma Jewel Platform Sutra, the Sixth Patriarch taught: “Good Knowing Advisor! What is the perfect, full Reward-body of the Buddha? Just as one lamp can disperse the darkness of a thousand years, one thought of wisdom can destroy ten thousand years of delusion. Do not think of the past; it is gone and can never be recovered. Instead think always of the future and in every thought, perfect and clear, see your own original nature. Although good and evil differ, the original nature is non-dual. That non-dual nature is the real nature. Undefiled by either good or evil, it is the perfect, full Reward-body of the Buddha. One evil thought arising from the self-nature destroys ten thousand aeons' worth of good karma. One good thought arising from the self-nature ends evils as numerous as the sand-grains in the Ganges River. To reach the unsurpassed Bodhi directly, see it for yourself in every thought and do not lose the original thought. That is the Reward-body of the Buddha.”
viên mãn kinh
The complete, or all-inclusive sùtra, a term applied to the Hoa Nghiêm kinh.
; Kinh bao gồm tất cả, từ dùng để chỉ Kinh Hoa Nghiêm—The complete, or all-inclusive sutra, a term applied to the Hua-Yen sutra.
viên mãn tu đa la
5413 請參閱 見桃錄 [1]指華嚴經。修多羅(梵 sūtra),意譯作經。此係華嚴經中自稱之語。舊華嚴經卷五十五(大九‧七四九上):「爾時,如來知諸眾生應受化者,而爲演說圓滿因緣修多羅。」又曰(大九‧七五○中):「顯現自在力,演說圓滿經,無量諸眾生,悉受菩提記。」故華嚴經別稱圓滿經。華嚴、天台判教中,所立圓教之名,皆依此文。
viên mật
The complete teaching of Thiên Thai and the esoteric teaching. Also the harmony of both as one.
; 1) Viên giáo và Mật giáo: The complete teaching and the esoteric teaching. 2) Thiên Thai và Mật Giáo: Sự hòa hợp của cả hai làm một—The complete teaching of T'ien-T'ai and the esoteric teaching. The harmony of both as one.
viên mật thiền giới
Enmitsu-Zenkai (J).
viên ngưng
Vô dư niết bàn—Complete crystalization, or formation, i.e. perfect nirvana.
viên ngộ
5404<一>(1063~1135)又作圜悟。宋代臨濟宗僧。即佛果克勤禪師。「圓悟」乃師之賜號。(參閱「克勤」2785) <二>(1566~1642)明代臨濟宗僧。江蘇宜興人,俗姓蔣。字覺初,號密雲。諡號「慧定禪師」。家世務農,偶讀六祖壇經,初知宗門之事,一日見積薪有省,乃於二十九歲投龍池院幻有正傳出家。萬曆三十年(1602)正傳入京,師即任禹門寺監院。一日過銅棺山,豁然大悟,三十九年幻有傳以衣鉢,四十五年繼席龍池祖庭。其後歷住天台山、黃檗山、天童山等名剎,凡六座道場,前後三十餘年,宗風大振,被稱爲臨濟中興。弟子逾三萬人,較著者有道忞、通容、法藏等,又日本黃檗宗之祖隱元亦爲其弟子。崇禎十四年(1641),朝廷下詔,令住南京報恩寺,以老病辭免。十五年,示寂於通玄寺,世壽七十七。有語錄十二卷傳世。〔五燈全書卷六十四、五燈嚴統卷二十四、高僧摘要卷一、天童寺志卷八〕
; Completely to apprehend the truth. In Thiên Thai, the complete apprehension at the same time of noumenon, phenomenon, and the middle way.
; Biết chân lý một cách tròn đầy. Theo tông Thiên Thai, viên ngộ là hoàn toàn giác ngộ cùng lúc về thế giới phi hiện tượng, thế giới hiện tượng và Trung đạo—Completely apprehend the truth; the complete apprehension of noumenon, phenomenon and the Middle way at the same time. In T'ien-T'ai, the complete apprehension at the same time of noumenon, phenomenon, and the middle way.
viên ngộ hoạ môn
5405禪宗公案名。又作圜悟禍門。圓悟,即宋代臨濟宗高僧圓悟克勤禪師。一日,有僧問圓悟「如何是佛」,圓悟答以「口爲禍門」。語出圓悟語錄,亦收於宗門葛藤集中。圓悟之意,旨在告誡凡拘泥於語言文字者,不能覺知真正之佛境界。
Viên Ngộ Khắc Cần
(圜悟克勤, Engo Kokugon, 1063-1135): nhân vật sống vào thời nhà Tống, vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, họ là Lạc (駱), tự là Vô Trước (無著). Ông được vua Cao Tông nhà Nam Tống ban cho hiệu là Viên Ngộ (圜悟), rồi vua Huy Tông nhà Bắc Tống ban cho hiệu là Phật Quả (佛果), nên ông được gọi là Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤) hay Phật Quả Khắc Cần (佛果克勤). Ông là người Sùng Ninh (崇寧, phía Tây Bắc Phố Thành Đô, Tỉnh Tứ Xuyên), Bành Châu (彭州), xuất gia từ lúc còn nhỏ, rồi đã từng tu tập với chư vị cao tăng ở các nơi, nhưng cuối cùng đến làm đệ tử của Ngũ Tổ Pháp Diễn (法演) và kế thừa dòng pháp của vị này. Về sau, thể theo lời thỉnh cầu của vị Hàn Lâm Quách Tri Chương (郭知章), ông đến thuyết pháp ở Lục Tổ Tự (六祖寺) và Chiêu Giác Tự (昭覺寺). Trong khoảng thời gian niên hiệu Chính Hòa (政和, 1111-1117), ông tuần du lên phương Nam, gặp Trương Thương Anh (張商英) và cùng đàm luận huyền chỉ của Hoa Nghiêm. Đương thời, Tể Tướng Trương Thương Anh của Phái Dung Phật (容佛派), Thái Thú Thành Đô Quách Tri Chương (郭知章), Đặng Tử Thường (鄧子常), v.v., là những nhà ủng hộ đắc lực cho ông. Sau ông đã từng sống qua các chùa như Đạo Lâm Tự (道林寺) ở Đàm Châu (潭州, Tỉnh Hồ Nam), Tương Sơn Thái Bình Hưng Quốc Tự (蔣山太平興國寺) ở Kiến Khang Phủ (建康府, Nam Kinh), Thiên Ninh Tự (天寧寺) ở Đông Kinh (東京), Kim Sơn Long Du Tự (金山龍游寺) ở Nhuận Châu (潤州, Tỉnh Giang Tô), Chơn Như Viện (眞如院) ở Vân Cư Sơn (雲居山) thuộc Quận Nam Khang (南康郡, Tỉnh Giang Tây), v.v. Ông thị tịch vào tháng 8 năm thứ 5 niên hiệu Thiệu Hưng (紹興), hưởng thọ 73 tuổi, được ban cho thụy là Chơn Giác Thiền Sư (眞覺禪師). Môn nhân của ông có hơn ngàn người, trong đó có Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲), Hổ Kheo Thiệu Long (虎丘紹隆). Sau khi ông qua đời, Hổ Kheo Thiệu Long đã biên tập bộ Viên Ngộ Phật Quả Thiền Sư Ngữ Lục (圜悟佛果禪師語錄) 20 quyển, và Tử Văn (子文) ghi chép thành bộ Viên Ngộ Thiền Sư Tâm Yếu (圜悟禪師心要) 2 quyển.
; 圓悟克勤; C: yuánwù kèqín; J: engo kokugon; 1063-1135, cũng được gọi là Phật Quả; |Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế, hệ phái Dương Kì. Sư nối pháp Ngũ Tổ Pháp Diễn và là thầy của Hổ Khâu Thiệu Long và Ðại Huệ Tông Cảo.|Sư là một trong những Thiền sư danh tiếng nhất thời đó và với những môn đệ nói trên, Thiền tông Trung Quốc phất lên như một ngọn đuốc lần cuối trước khi được truyền sang Nhật và bước đến thời kì suy tàn tại bản quốc. Sư nổi danh nhờ biên soạn tập Công án Bích nham lục, một kiệt tác mà ngày nay vẫn còn được rất nhiều người hâm mộ.|Sư sinh trong một gia đình theo Nho giáo. Sau khi xuất gia, Sư chuyên học kinh luận. Một cơn bệnh nguy kịch làm cho Sư thấy rõ con đường giác ngộ không nằm trong văn tự. Vì vậy, Sư Hành cước, thăm viếng nhiều vị Thiền sư. Ðến Thiền sư Thắng ở Chân Giác, Thắng chích máu ở cánh tay bảo Sư: »Ðây là một giọt nước nguồn Tào« (tức là Tào Khê, ám chỉ Lục tổ), Sư kinh hãi nói: »Ðạo vẫn như thế ư?« và ngay ngày hôm sau, Sư rời Thiền sư Thắng.|Cuối cùng, Sư đến Thiền sư Pháp Diễn ở núi Ngũ Tổ. Mặc dù đã trình hết cơ dụng, sở đắc của mình nhưng Pháp Diễn vẫn không chấp nhận. Sư tức giận – cho rằng Pháp Diễn nói lời bừa bãi xoay chuyển người – bèn bỏ đi. Thiền sư Diễn bảo Sư: »Ðợi ông mắc bệnh nặng mới nghĩ đến ta.«|Sư đến Kim Sơn mắc bệnh thương hàn rất nặng. Nhớ đến lời của Pháp Diễn, Sư trở về làm Thị giả. Mới tham thiền ở đây được nửa tháng, Sư gặp một vị quan Ðề Hình (cảnh sát) đến Pháp Diễn vấn đạo. Pháp Diễn nhân đây hỏi: »Ðề Hình thuở thiếu niên từng học Tiểu diễm thi chăng? Có hai câu hỏi gần nhau ›Cô ấy gọi và gọi, Tiểu Ngọc, nhưng lại chẳng có ý gì, chỉ muốn chàng biết qua lời mình: Em ở đây.‹ (Tần hô Tiểu Ngọc nguyên vô sự, chỉ yếu Ðàn Lang nhận đắc thanh; 頻呼小玉元無事秖要檀郎認得聲)«. Ðề Hình ứng: »Dạ! Dạ!« Pháp Diễn bảo: »Hãy chính chắn.« Sư nhân nghe cuộc đàm thoại này có chút tỉnh và sau khi vị quan từ biệt, Sư hỏi Pháp Diễn xem Ðề Hình có hiểu lời dạy chăng. Diễn bảo: »Ông ấy chỉ nhận được thanh.« Sư thưa: »Chỉ cốt đàn lang nhận được thanh, kia đã nhận được thanh, vì sao lại chẳng phải?« Pháp Diễn hỏi: »Thế nào là ý Tổ sư sang?« và tự đáp: »Cây bách trước sân, xem, xem!« Sư ngay lúc này triệt ngộ, chạy thẳng một mạch ra sân. Thấy con gà đậu trên lan can vỗ cánh gáy, Sư tự bảo: »Ðây há chẳng phải thanh« và trở vào thất trình bài kệ (Ðịnh Huệ dịch):|金鴨香鎖錦繡幃。笙歌叢裏醉扶歸|少年一段風流事。只許佳人獨自知|Kim áp hương tiêu cẩm tú vi|Sảnh ca tòng lí tuý phù quy|Thiếu niên nhất đoạn phong lưu sự|Chỉ hứa giai nhân độc tự tri.|*Lò hương bên trướng khói vừa tan|Say khước dìu về nhạc vấn vương|Một đoạn phong lưu thời trai trẻ|Chỉ có giai nhân mới hiểu chàng.|Mặc dù đã được ấn khả nhưng Sư vẫn ở lại hầu đến lúc thầy tịch. Cùng với hai vị Thanh Viễn Phật Nhãn và Huệ Cần Phật Giám, Sư – với danh hiệu khác là Phật Quả – được xem là bậc thượng thủ trong thiền lâm thời bấy giờ.|Sư đến thăm vị Cư sĩ danh tiếng bấy giờ là Trương Vô Tận và nhân dịp này, hai người luận về kinh Hoa nghiêm. Nhân lúc bàn luận về Lí sự pháp giới (Hoa nghiêm tông), Sư hỏi: »Ðây đáng gọi là Thiền chưa?« Vô Tận đáp: »Chính gọi là Thiền.« Sư cười bảo: »Chưa phải, còn nằm trong Lượng pháp giới bởi Lượng pháp giới chưa diệt. Nếu đến Sự sự vô ngại pháp giới thì Lượng pháp giới diệt, mới gọi là Thiền. Thế nào là Phật? Cục cức khô. Thế nào là Phật? Ba cân gai. Thế nên Chân Tịnh (Bảo Phong Khắc Văn) làm bài kệ: ›Sự sự vô ngại, như ý tự tại, tay cầm đầu heo, miệng tụng tịnh giới, đẩy ra phòng dâm, tiền rượu chưa trả, ở ngã tư đường, cởi mở túi vải.‹« Cư sĩ Vô Tận nghe rất khâm phục, nhận Sư làm thầy. Sư cũng nhận lời mời của Vô Tận trụ trì viện Linh Tuyền ở Giáp Sơn và nơi đây, Sư hoàn tất tập công án Bích nham lục, một tác phẩm được xem là tối trọng trong lĩnh vực thiền ngữ.|Sư dạy chúng: »Bờ ao muôn nhẫn buông thỏng tay, cần phải người ấy, cây nỏ ngàn quân khi ấn máy há vì chuột thỏ? Vân Môn, Mục Châu ngay mặt lầm qua, Ðức Sơn, Lâm Tế nói đùa ngoài cổng, ngoài ra lập cảnh lập cơ làm hang làm ổ, thế là diệt chủng tộc nhà Phật, một câu độc thoát phải nói làm sao? Muôn duyên thay đổi nào còn việc, tháng năm phòng núi lạnh như băng…«|Niên hiệu Thiệu Hưng thứ năm (1135) tháng tám, Sư có chút bệnh, gọi chúng từ biệt và cầm bút viết kệ (Hân Mẫn dịch):|Ðã triệt không công|Bất tất lưu kệ|Hãy để ứng duyên|Trân trọng! Trân trọng!|Viết xong, Sư ngồi kết già an nhiên thị tịch. Vua Cao Tông sắc phong là Chân Giác Thiền sư.
viên ngộ khắc cần
Engo Kokugon (J), Yuan-wu K'o-ch'in (C), Engo Kokugon (J)(đầu thế kỷ 12) Tác giả tập Bích Nham lục.
viên ngộ khắc cần thiền sư
Yuan-Wu-Ko-Chin—See Khắc Cần Phật Quả Thiền Sư.
Viên Ngộ Kích Tiết Lục
(圜悟擊節錄, Engogekisetsuroku): xem Kích Tiết Lục (擊節錄, Gekisetsuroku) ở trên.
viên ngộ phật quả thiền sư ngữ lục
5405凡二十卷。宋代圓悟克勤撰,虎丘紹隆等編。又作圜悟佛果禪師語錄、圜悟語錄、佛果圜悟禪師語錄。收於大正藏第四十七冊。本書編纂於圓悟克勤禪師入寂之前二年,即宋紹興三年(1133)。係蒐集禪師一生之上堂、小參、普說、法語、拈古、頌古、偈頌、真讚、雜著、佛事等之各類語錄,由本書可得知宋代臨濟之宗風及禪師之造詣、事歷。卷首並附有龍圖閣直學士耿延禧、開國侯張浚等之序文。
viên ngộ tâm yếu
5404凡四卷。全稱佛果圜悟真覺禪師心要。又作圜悟心要、佛果克勤禪師心要、圜悟禪師心要。宋代僧圓悟克勤(1063~1135)撰,子文編,理宗嘉熙二年(1238)重刊。收於卍續藏第一二○冊。係克勤向當時士大夫、居士、學人等,開示宗乘旨要之機緣語錄。內容包括示華藏明首座、寄張宣撫相公,乃至示曾待制、示宗覺大師等,共計一四二項。
viên nham đàm thạch
Yun-yen T'an-sheng (C), Ungan Donjo (J), Yun-yen Tan-sheng (C)(Thế kỷ 8 - 9 ) Thầy của Động Sơn Lương Giới.
Viên Nhân
(圓仁, Ennin, 794-864): vị tổ của Phái Sơn Môn (山門派) thuộc Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Bình An, người vùng Hạ Dã (下野, Shimotsuke, thuộc Tochigi-ken [栃木縣]), tục danh là Nhâm Sanh (壬生). Lúc lên 9 tuổi, ông theo học với Quảng Trí (廣智, Kōchi), nhưng sau xuất gia với Tối Trừng. Sau khi thọ giới lúc 23 tuổi, ông khép mình ẩn tu trong núi suốt 12 năm trường, đến năm 35 tuổi mới đến giảng thuyết về Pháp Hoa ở Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji), rồi tuyên dương diệu nghĩa của kinh này ở Tứ Thiên Vương Tự (四天王寺, Shitennō-ji), và tiến hành bố giáo ở địa phương phía bắc. Sau đó, ông lại trở về núi, ẩn cư ở vùng Hoành Xuyên (横川, Yokogawa) mà tu luyện trong vòng 3 năm. Vào lúc 42 tuổi, ông nhận được chiếu chỉ sang nhà Đường cầu pháp, nhưng phải lưu lại Thái Tể Phủ 2 năm; mãi cho đến năm 838 ông mới có thể rời Nhật, sang vùng Dương Châu (楊州, thuộc Tỉnh Giang Tô ngày nay) của Trung Quốc được. Trong thời gian trú tại Khai Nguyên Tự (開元寺), ông có học Tất Đàm với Tông Duệ (宗叡) và Mật Giáo với Toàn Nhã (全雅). Vì không có được sự hứa khả cho nhập quốc, nên năm sau ông dự định trở về nước song không được, vì thế ông phải phiêu lãng đến Pháp Hoa Viện (法華院) ở Huyện Văn Đăng (文登), thuộc vùng Đăng Châu (登州). Sau ông được Tướng Quân Trương Vịnh (張詠) giúp cho xin được điệp trạng nhập quốc, và cuối cùng vào năm 840 ông mới bắt đầu đi đến Ngũ Đài Sơn. Giữa đường ông gặp Tiêu Khánh Trung (蕭慶中) truyền cho yếu chỉ của Thiền, rồi Chí Viễn (志遠) và Huyền Giám (玄鑑) truyềncho diệu chỉ của Chỉ Quán; kế đến ông đến tham bái linh địa của Văn Thù và được truyền thọ hành pháp của Niệm Phật TamMuội. Sau ông đến Trường An, học được Kim Cang Giới ở Nguyên Chính (元政) của Đại Hưng Thiện Tự (大興善寺), Thai Tạng Nghi Quỹ ở Pháp Toàn (法全) của Huyền Pháp Tự (玄法寺), Tất Đàm ở Bảo Nguyệt Tam Tạng (寳月三藏), và Thiên Thai Diệu Nghĩa ở Tông Dĩnh (宗穎) của Lễ Tuyền Tự (醴泉寺). Sau 10 trường lưu học và cầu pháp ở Trung Quốc, năm 847 ông trở về nước. Bộ Nhập Đường Cầu Pháp Tuần Lễ Hành Ký (入唐求法巡禮行記) gồm 4 quyển của ông, đã ghi lại tất cả hành trạng và những kiến văn của ông trong suốt thời gian 10 năm này. Ông đã mang về nước một số kinh luận sớ gồm 589 bộ và 802 quyển. Năm sau, ông trở về Tỷ Duệ Sơn, nhậm chức Truyền Đăng Đại Pháp Sư và khai sáng nên Pháp Hoa Tổng Trì Viện (法華總持院), rồi đến năm 854 thì làm Tọa Chủ của Diên Lịch Tự. Đây là chức Tọa Chủ đầu tiên được công xưng. đệ tử của ông có những bậc anh tú tài ba như An Huệ (安慧, Anne), Huệ Lượng (慧亮, Eryō), Lân Chiêu (憐昭, Renshō), Tương Ưng (相應, Sōō), Biến Chiêu (遍昭, Henjō), An Nhiên (安然, Annen), v.v. Các trước tác của ông để lại cho hậu thế có Kim Cang Đảnh Kinh Sớ (金剛頂經疏) 7 quyển, Tô Tất Địa Kinh Sớ (蘇悉地經疏) 7 quyển, Hiển Dương Đại Giới Luận (顯揚大戒論) 8 quyển.
; 圓仁; J: ennin; 793-864;|Một Ðại sư Nhật Bản, thuộc tông Thiên Thai. Sư là đệ tử của Tối Trừng (j: saichō), từng du học 9 năm tại Trung Quốc. Sư viết một kí sự nổi tiếng về những năm tu học đó.|Lên 15 tuổi, Sư trở thành đệ tử của Tối Trừng. Sau khi thầy mất, năm 838 Sư đi Trung Quốc, tham vấn nhiều Thiền sư danh tiếng và khi trở về năm 847, Sư mang theo 559 bộ kinh, luận. Tại núi Tỉ Duệ (j: hiei), Sư truyền bá Thiên Thai tông và Chân ngôn tông và cả phép niệm danh hiệu A-di-đà để thác sinh về cõi Tịnh độ. Sư kế thừa sự việc của Tối Trừng bằng cách truyền bá tư tưởng Ðại thừa, và với những công lao này, Thiên Thai tông tại Nhật đi vào thời kì hưng thịnh. Kí sự của Sư đi Trung Quốc trong thời nhà Ðường chứa đựng những tư liệu quý báu về học thuật Phật giáo cũng như đời sống xã hội thời đó.
viên nhân
5398(794~864)日本天台宗僧,延曆寺第三世座主。又稱慈覺大師。下野(訤木縣)人,俗姓壬生。十五歲,師事比叡山最澄。二十九歲,最澄入寂,師乃專修苦行。日本承和五年( 838)奉敕來華,從諸師修顯密諸學。居於天台山、長安等地,勤修密教奧義。後遇會昌法難,乃於宣宗大中元年( 847)請經書五五九卷返日。於比叡山開創灌頂壇,建立總持院,成爲修法道場。又於常行三昧堂弘布念佛門,復致力於菩薩大戒之宣揚,爲繼最澄創業後,集日本天台宗之大成者。且亦奠立比叡山日後興隆之基礎,被任爲內供奉十禪師之一。六十一歲敕任延曆寺座主。日本貞觀六年入寂,世壽七十一。著有金剛頂經疏、蘇悉地經略疏、顯揚大戒論。此外,其所著之入唐求法巡禮記四卷,爲記載我國唐代佛教之重要史料。〔慈覺大師傳、元亨釋書卷三〕
; Ennin (J)Tên một vị sư.
viên nhĩ
5413請參閱 佛光國師語錄 [1](1202~1280)日本臨濟宗僧。初名辨圓。駿河(靜岡縣)人,俗姓平。於奈良、京都學各宗教義與儒學,又於鎌倉壽福寺退耕行勇處參禪。嘉禎元年(1235,即南宋理宗端平二年)至宋,師事徑山無準師範,六年後受其心印而返日。於九州諸寺說法,道俗皈依者甚眾。其後又至京都,出入於宮中、公卿之間,爲彼等說禪要,廣爲宣揚禪風。後歷住東福寺、壽福寺、建仁寺等名剎。弘安三年示寂,世壽七十九。敕諡「聖一國師」,爲日本最早受敕國師之號者。門下有東山湛照、無關普門、無住道曉(一圓)等,稱東福寺派,又稱聖一派。著有三教要略、三教典籍目錄、假名法語。〔聖一國師年譜、神子禪師行實、東福寺文書〕
Viên Nhĩ Biện Viên
(圓爾辨圓, Enni Benen, 1202-1280): vị Tăng của Phái Dương Kì và Phái Phá Am thuộc Lâm Tế Tông, sống vào khoảng giữa thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), Tổ khai sáng ra Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji), vị Tổ của Phái Thánh Nhất (聖一派), người vùng Tuấn Hà (駿河, Suruga, thuộc Shizuoka-ken), trước kia có tên là Viên Nhĩ Phòng (圓爾房), sau là Viên Nhĩ (圓爾), còn Biện Viên (辨圓) là tên riêng, nhụ Thánh Nhất Quốc Sư (聖一國師). Lúc 5 tuổi ông nương theo Nghiêu Biện (堯辨) ở Cửu Năng Sơn (久能山) tu tập, đến 8 tuổi thì học Thiên Thai giáo học, và 15 tuổi thì tham dự diễn giảng về Thiên Thai Chỉ Quán (天台止觀). Nhân lúc giảng sư giảng đến đoạn "cố Tứ Đế ngoại biệt lập pháp tánh" (故四諦外別立法性, vì vậy ngoài Tứ Đế có lập riêng pháp tánh) thì bỗng nhiên bị ngưng trệ, ông bèn bước lên giảng tòa giải thích nghĩa lý đoạn văn đó. Đến năm 18 tuổi, ông xuống tóc xuất gia ở Viên Thành Tự (圓城寺) và đăng đàn thọ giới ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Về sau, ông đến Trường Lạc Tự (長樂寺, Chōraku-ji) ở Thượng Dã (上野, Ueno, thuộc Gunma-ken [群馬縣]), theo học với Vinh Triêu (榮朝) và thông cả Tam Tạng giáo điển. Vào năm đầu (1235) niên hiệu Gia Trinh (嘉禎), ông sang nhà Tống cầu pháp. Sau khi tham bái một số danh tăng như Si Tuyệt Đạo Xung (癡絕道沖), Tiếu Ông Diệu Kham (笑翁妙堪), Thạch Điền Pháp Huân (石田法薰), v.v., ông đến tham yết Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) ở Kính Sơn (徑山) và được kế thừa y bát của vị này. Đến năm thứ 2 (1241) niên hiệu Nhân Trị (仁治), ông trở về nước và bắt đầu tuyên xướng Phật Tâm Tông ở hai chùa Sùng Phước Tự (崇福寺) và Thừa Thiên Tự (承天寺) ở vùng Trúc Tiền (筑前, Chikuzen, thuộc Fukuoka-ken [福岡縣]). Nhưng chẳng bao lâu sau, ông được Cửu Điều Đạo Gia (九條道家, Kujō Michiie) mời lên kinh đô thuyết giảng Thiền yếu, và vào năm đầu (1243) niên hiệu Khoan Nguyên (寬元) ông được Đạo Gia ban cho hiệu là Thánh Nhất Hòa Thượng (聖一和尚). Bên cạnh đó, ông còn quy y cho Tướng Quân Bắc Điều Thời Lại (北條時頼, Hōjō Tokiyori) ở Quy Cốc Sơn (龜谷山) vùng Tương Mô (相模, Sagami, thuộc Kanagawa-ken [神奈川縣]). Đến tháng 6 năm 1255, ông tiến hành lễ lạc thành và khai đường Đông Phước Tự (東福寺) do Đạo Gia kiến lập nên. Ông được Hậu Tha Nga Thiên Hoàng (後嵯峨天皇, Gosaga Tennō) mời vào cung thuyết giảng pháp yếu, và trùng tu các chùa như Thọ Phước Tự (壽福寺), Kiến Nhân Tự (建仁寺), v.v. Vào ngày 17 tháng 10 năm thứ 3 niên hiệu Hoằng An (弘安), ông thị tịch, hưởng thọ 97 tuổi. Ông được ban các thụy hiệu như Thánh Nhất Quốc Sư (聖一國師) vào năm thứ đầu (1311) niên hiệu Ứng Trường (應長), Đại Bảo Giám Quảng Chiếu Quốc Sư (大寳鑑廣照國師) vào năm thứ 9 (1780) niên hiệu An Vĩnh (安永), và Thần Quang Quốc Sư (神光國師) vào năm thứ 5 (1930) niên hiệu Chiêu Hòa (昭和). Môn hạ của ông có một số nhân vật xuất chúng như Đông Sơn Trạm Chiếu (東山湛照), Bạch Vân Huệ Hiểu (白雲慧曉), Vô Quan Phổ Môn (無關普門), Nam Sơn Sĩ Vân (南山士雲), v.v. Ông có để lại cho hậu thế các trước tác như Thánh Nhất Quốc Sư Ngữ Lục (聖一國師語錄) 1 quyển, Thánh Nhất Quốc Sư Pháp Ngữ (聖一國師法語) 1 quyển.
; 圓爾辨圓; J: enni ben'en; 1202-1280; cũng được gọi là Thánh Nhất Quốc sư; |Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, hệ phái Dương Kì. Sau một cuộc du học bảy năm tại Trung Quốc, Sư được Thiền sư Vô Chuẩn Sư Phạm Ấn khả. Trở về Nhật, Sư khai sáng và trụ trì nhiều chùa và được Hoa Viên Thiên hoàng (hanazono) sắc phong là Thánh Nhất Quốc sư (聖一國師; shōichi kokushi). Ðây là lần đầu tiên Nhật Bản có danh hiệu Quốc sư.|Sư xuất gia năm lên năm và sớm học giáo lí của Thiên Thai tông. Năm lên mười tám, Sư thụ giới cụ túc và sau đó, trong một khoảng thời gian ba năm, Sư chuyên học Nho giáo. Song song với các giáo lí trên, Sư cũng tu tập theo Mật giáo của Thiên Thai tông và được ấn chứng theo nghi lễ tông này năm 1228.|Năm 1235, Sư sang Trung Quốc và may mắn gặp được một trong những vị Thiền sư danh tiếng nhất thời là Vô Chuẩn Sư Phạm ở Kính Sơn, trụ trì Vạn Thọ Thiền tự. Sau một thời gian tu tập không lâu, Sư được Vô Chuẩn ấn khả và tặng một bức tranh. Bức tranh này ngày nay vẫn còn được trưng bày tại Ðông Phúc tự (tōfuku-ji) tại Kinh Ðô (kyōto).|Trở về Nhật, Sư sáng lập chùa Ðông Phúc và trụ trì nơi đây. Ngoài ra, Sư còn quản lí hai thiền viện khác là Thụ Phúc (jufuku-ji) và Kiến Nhân (kennin-ji), cả ba đều là những thiền viện quan trọng nằm trong hệ thống Ngũ sơn thập sát của Liêm Thương và Kinh Ðô. |Phương pháp dạy đệ tử của Sư bao gồm giáo lí của Thiên Thai, Chân ngôn và Thiền nhưng khác với Minh Am Vinh Tây (myōan eisai), Thiền được xếp cao hơn hẳn hai giáo môn kia. Trong Thánh Nhất pháp ngữ (shōichihōgo), Sư trả lời câu hỏi »Tông này được gọi là nền tảng của tất cả các pháp, hiểu thế nào?«: |»Thiền là Phật tâm, Giới luật chỉ là bề ngoài, giáo pháp là giảng nghĩa bằng văn tự, niệm Phật là Phương tiện (j: hōben), cả ba đều xuất phát từ Phật tâm, vì thế tông này được xem là căn bản.«|Hỏi: »Làm thế nào học để hiểu được ›Kiến tính thành Phật‹?« |Sư đáp: »Cái hiểu biết qua Kinh (s: sūtra), Luận (s: śāstra) là thấy, nghe, thụ tưởng và nhận thức. Ðó là cái hiểu biết của Phàm phu (s: pṛthagjana; j: bonpu), không phải cái hiểu biết chân thật. Ai biết xoay ánh sáng của tâm rọi chiếu trở lại sẽ nhìn ra Phật tính, người ta gọi là có huệ nhãn. Với huệ nhãn người ta kiến tính và thành Phật.«|Sư mất năm 1280 tại Ðông Phúc tự, thọ 80 tuổi. Ðệ tử đắc pháp của Sư hơn 30 người.
viên nhĩ biện viên
Enni ben'en (J)Tên một vị sư.
viên năng
Ennō (J)Tên một vị sư.
viên phúc tự
5413位於臺灣嘉義市。爲佛光山之嘉義分院。初創於清道光十三年(1833),寺境碑銘遺蹟猶存。日據時代,寺院被廢。光復後,重建寺宇,迎回佛像。民國三十七年(1948),政府選定爲嘉義八景六勝之一。四十六年,開正法師晉山接任住持。至六十八年,經全體信徒同意,延請佛光山星雲大師接管,遂由其弟子依嚴法師擔任住持,展開布教工作。並於七十一年春,將原大雄寶殿拆除,改建爲七樓中西合璧之現代化寺院。該寺右前方有義士廟,內奉清乾隆年間抗賊殞命之忠勇義士五○三人之靈位。現任住持爲堅寬法師。
viên phật
The Buddha of the "perfect" school, the perfect pan-Buddha embracing all things in every direction; the dharmakàya; Vairocana identified with Sàkyamuni.
; Pháp thân Phật mà tông Thiên Thai gọi là Phật của pháp giới viên dung, hay Phật Tỳ Lô Giá Na—The Perfect Buddha whom the T'ien-T'ai calls the embracer of all things in every direction, i.e. Vairocana.
Viên Phật giáo
圓佛教; E: won-buddhism; »Won« nghĩa là »Viên«, là tròn tròa, viên mãn;|Một phong trào Phật giáo tại Hàn Quốc, được Soe-Tae San (1891-1943) khai sáng.|Cách tu tập theo giáo phái này bao gồm hai khía cạnh: thực hiện được Phật tính và tu »thiền phi thời gian và không gian.« Như vậy có nghĩa là, các tín đồ của giáo phái này cố gắng tìm thấy Phật tính nơi vạn vật và sống theo quan niệm này. Cách tu tập Thiền nói trên được gọi là »phi thời gian và không gian« bởi vì nó phông phụ thuộc vào một khoảng thời gian nào, thiền đường nào, luôn luôn được thực hiện được ở mọi nơi.|Viên Phật giáo chỉ biết một đối tượng thiền quán duy nhất: một hình tròn màu đen trên một nền trắng, một biểu tượng của Phật thân, Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân); từ biểu tượng này mà phát sinh ra tên của trào lưu Phật giáo này.|Phong trào này không phải là Tăng-già thông thường của Phật giáo: các vị tăng có thể lập gia đình. Viên Phật giáo không theo một nghi lễ nhất định nào, luôn luôn cố gắng viên dung các nhu cầu, điều kiện của con người hiện đại. Các bộ kinh quan trọng nhất được dịch sang tiếng Hàn Quốc dễ hiểu. Tín đồ của Viên Phật giáo đều hăng hái tham dự những hoạt động xã hội, từ thiện; trong những năm sau chiến tranh, họ góp công rất nhiều trong việc xây dựng trường học v.v…|Trong thời niên thiếu, Soe-Tae San đã tu tập khổ hạnh cho tới lúc »Ðại ngộ« năm 1915. Cùng với 9 vị đệ tử, ông tiếp tục tu tập, nghiên cứu Phật giáo. Năm 1924, họ thành lập »Hội nghiên cứu Phật giáo«, nhưng dưới sự đô hộ của Nhật Bản, ảnh hưởng của họ rất hạn chế. Kể từ 1946, giáo lí của Soe-Tae San mới thật sự được phổ biến khắp Hàn Quốc dưới tên Viên Phật giáo. Ngày nay, giáo phái này còn rất nhiều tín đồ.
viên phật giáo
5400爲韓國佛教之新興宗派。創立者爲韓國人朴重彬。朴氏法名「少太山」,通稱「大宗師」,後人尊之爲「教祖」。一九一○年,日人併韓。朴氏有感於其祖國之受異族統治,以及傳統宗教與西洋傳入之信仰相衝突,遂揭櫫「物質開闢,精神開闢」之宗旨,設立教團於其出生地全羅南道靈光郡,時爲一九一三年。一九二四年移至全羅北道裡里市新龍洞,初名「佛教研究會」。一九四五年韓國獨立後,該教之第二代領導人由鼎山宋奎繼任(稱爲宗法師),始正式宣布使用「圓佛教」之名。 該教以○(圓)爲其表徵,取代一般寺廟之佛像。○,是一個無始無終之圓圈,爲強調佛教自性本具萬德的一種表象,即以宇宙萬有之本源、諸佛諸聖之心印、法身佛之一圓相,爲其信仰之對象與修行之基準。其下分真空妙有之修行門,及因果報應之信仰門二門,打消出世間和世間兩種生活之對立,具有大乘佛教求取世法之積極精神。同時,以「天地、父母、同胞、法律」四恩,和「修養、研究、取捨」三學爲信仰與修行之綱領。並主張綜合「教化(指宗教精神修養)、教育(指道德、人格、知識三者一體之培養)、慈善(即對現實人生困境之救濟)」等三者,建立具有生產性與自立性的經濟基礎之宗教。今設有從事農作、藥草園、果樹園、畜產、養蠶業等綜合大農場,及圓光大學、東山禪院、東華醫院、孤兒院,與推廣文化事業之圓光社、正化社等機構。 迄今第三代大山金大舉宗法師,對教內更提出「精神自主力、肉體自主力、經濟自主力」三自之口號,對教外,則求其實踐「出家、在家、國家、世界」等四種奉公會之四行表現。〔韓國佛教的新宗派─圓佛教(張曼濤,現代佛教學術叢刊(82))〕
viên phục
5398爲天台宗圓教之法。即體悟惑體融通,泯絕見思、塵沙、無明等三惑之差別,而於同時伏之。
viên quang
5399<一>放自佛菩薩頂上之圓輪光明。觀無量壽經(大一二‧三四三中):「彼佛圓光如百億三千大千世界,於圓光中有百萬億那由他恆河沙化佛。」 <二>(532~630)新羅攝論宗僧。俗姓朴。二十五歲乘船至金陵,初聞莊嚴寺僧旻之弟子講經,大有感悟,因得陳主之敕許剃髮受具足戒。遊歷講肆,通曉涅槃、成實之理,遍覽經律論等三藏諸典。後投江蘇虎丘山,專修禪觀,深副夙心。未久從信士之請,出山講般若經及成實論。開皇九年(589)遊長安,值攝論之學肇興,乃窮究之,聲譽甚高。新羅王遙聞其名,敕請歸國,虔敬禮遇,以師之年事既高,乃許以乘輿入宮,王又備辦御用之衣服藥食等以供養之。晚年住皇隆寺弘法。建福五十八年(唐貞觀四年)示寂,世壽九十九。〔續高僧傳卷十三、三國遺事卷四、釋氏六帖卷十、六學僧傳卷二十五、朝鮮佛教通史上編〕
; The halo, or aura, surrounding the head of a Buddha, etc.
; Ánh hào quang phóng ra chung quanh đỉnh đầu của Phật—The halo surrounding the head of a Buddha.
viên quang quan âm
5399三十三觀音之一。相當於法華經卷七普門品所載(大九‧五七下)「或遭王難苦,臨刑欲壽終,念彼觀音力,刀尋段段壞」之觀音化身。其形像爲背負熾盛之火燄。〔佛像圖彙卷一〕
viên quang tổ tông
Zen Master Viên Quang Tổ Tông (1758-1827)—Thiền sư Viên Quang Tổ Tông, người Minh Hương. Quê quán của ngài không rõ. Ngài xuất gia lúc tuổi rất trẻ tại chùa Đại Giác. Sau đó ngài đến chùa Từ Ân thọ cụ túc giới với Hòa Thượng Phật Ý Linh Nhạc và trở thành Pháp tử đời thứ 36 dòng Thiền Lâm Tế, nhưng sau đó ngài dời về trụ tại chùa Giác Lâm Gia Định. Vào năm 1804, ngài hoàn tất trùng tu chùa Giác Lâm tại Gia Định. Phần lớn cuộc đời ngài chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại miền Nam cho đến khi ngài viên tịch vào năm 1827, thọ 70 tuổi—A Chinese-Vietnamese monk. His origin was unknown. He left home at young age to come to Đại Giác Temple to become a monk. Later he received complete precepts with Most Venerable Phật Ý Linh Nhạc at Từ Ân Temple, and became the Dharma heir of the thirty-sixth generation of the Linn-Chih Zen Sect, but went to stay at Giác Lâm Temple in Gia Định. In 1804, he completed rebuilding Giác Lâm Temple in Gia Định. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in the South until he passed away in 1827, at the age of 70.
viên quang tự
5399位於臺灣桃園縣中壢市郊之月眉山。民國七年(1918),妙果禪師所創建。大陸變色後,各省來臺僧俗二眾頗多暫駐於此寺者。民國三十七年曾聘請慈航法師自星州來寺辦理「臺灣佛學院」,法務盛極一時。妙果禪師示寂後,能明、本明法師相繼掌理本寺。現任住持如悟法師重建本寺,廊宇一新,並創圓光佛學院,爲教內外所稱道。
viên quán
Sân thượng—A terrace—A garden look-out.
viên quả
Perfect fruit, nirvàna.
; Niết Bàn—Perfect fruit, nirvana.
viên sâm
5409元代僧。晉(山西)人。字仲寶。金末,避亂至內黃(河南)。工詩善畫,有以牋素請其詩畫者,師則隨手應之不厭,士林譽之。結草廬於城側,穿池引水,種白蓮於其中,自號蓮菴。其餘事蹟、年歲等均不詳。
viên thuyên
5410指詮顯圓理之經,如華嚴、法華等經即是。多爲華嚴宗或天台宗所用之語。蓋華嚴宗以華嚴經爲宗奉之主要經典,天台宗以法華經爲宗奉之主要經典,故以其立場觀之,其所宗奉之經乃佛所宣說諸經中最爲圓滿殊勝者。〔摩訶止觀卷一上〕
; Sự phơi bày toàn giáo được tìm thấy trong Kinh Hoa Nghiêm và Pháp Hoa—Exposition of the perfect of all-embracing doctrine, as found in the Hua-Yen and Lotus sutras.
viên thành
Complete perfection.
; Thành tựu viên mãn—(Kinh Lăng nghiêm: “Phát ý viên thành, nhứt thiết chúng sanh vô lượng công đức)—Complete perfection.
viên thành thật tính
5400梵語 Pariniṣpanna-svabhāva。又作圓成實相、圓成自性、第一義諦體性。略稱圓成實。唯識宗所立三性之一。指真如(諸法所依之體性)具有圓滿、成就、真實等三種性質,即:(一)圓滿,諸法之相僅局限於其自身之法體,不通餘處;相對於此,真如之妙理則可周遍四處。(二)成就,諸法具有空、無常、無我等共相;而真如之實體常住,無生滅作用。(三)真實,諸法之體虛妄不真;而真如之性常住遍通。復次,爲解釋圓成實性,又設有二門:(一)常無常門,「常」爲圓成實之名,「無常」則攝於依他起性而不離生滅。(二)漏無漏門,「無漏」爲圓成實之名,「有漏」則攝於依他起性而不離顛倒。〔解深密經卷二、入楞伽經卷三、顯揚聖教論卷六〕(參閱「真空妙有」4215)
; Parinispanna (S). The perfect true nature, absolute reality, the bhùtatathatà.
viên thành thực tính
Pariniśpanna (S).
; Bhutatathata (skt)—Chân Như—Thực Tướng—Pháp Giới—Pháp Tính—Niết Bàn—Tính chân thực của chư pháp hay chân lý tuyệt đối. Tịnh thức có thể tẩy sạch phần ô nhiễm của tạng thức và còn khai triển thế lực trí tuệ của nó. Thế giới của tưởng tượng và thế giới hỗ tương liên hệ được đưa đến chân lý chân thực, tức là viên thành thực tánh—The perfect true nature—Absolute reality. The pure ideation can purify the tainted portion of the ideation-store (Alaya-vijnana) and further develop its power of understanding. The world of imagination and the world of interdependence will be brought to the real truth (Parinispanna).
Viên Thành Tự
(園城寺, Onjō-ji): ngôi chùa trung tâm Tổng Bản Sơn của phái Thiên Thai Tự Môn (天台寺門), tọa lạc tại Ōzu-shi (大津市), Shiga-ken (滋賀縣), được khai sáng vào cuối thời Nại Lương với tư cách là ngôi chùa của dòng họ Đại Hữu (大友, Ōtomo), tương truyền do Hoàng Tử Đại Hữu phát nguyện kiến lập. Nơi đây có giếng nước suối, người ta dùng nước ấy để tắm sau khi hạ sinh 3 vị Hoàng Đế là Thiên Trí (天智, Tenchi), Thiên Võ (天武, Temmu) và Trì Thống (持統, Jitō); cho nên chùa được gọi là Ngự Tỉnh Tự (御井寺, Mii-dera, chùa có giếng nước của nhà vua), và sau này có thường được gọi là Tam Tỉnh Tự (三井寺, Mii-dera). Vào năm 859 (niên hiệu Trinh Quán [貞觀] thứ 1), vị Thiên Thai Tọa Chủ đời thứ 5 là Viên Trân (圓珍, Enchin) đến tái hưng chùa. Vào năm 866, chùa trở thành Thiên Thai Biệt Viện, Viên Trân nhậm chức Biệt Đương (別當, Bettō) của chùa. Ỷ lại vào thế lực của thầy mình, môn đồ của Viên Trân kháng tranh với môn đồ của Viên Nhân (圓仁, Ennin) và cuối cùng rút khỏi Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji), đến trú tại Viên Thành Tự. Đối lập với tên gọi Sơn Môn (山門) của Diên Lịch Tự, chùa này được gọi là Tự Môn (寺門). Để độc lập giáo đoàn, phái Tự Môn có kế hoạch định biệt lập giới đàn, nhưng gặp phải sự áp bức của phía Sơn Môn. Qua cuộc kháng tranh này, chùa bị thiêu cháy phần lớn các đường xá; nhưng nhờ sự hỗ trợ của hoàng thất nên đã phục hưng lại. Sau thời kỳ Viện Chính (院政), hoàng tộc liên tiếp đến chùa, cho nên chùa trở nên hưng thịnh. Trong cuộc chiến loạn thời Chiến Quốc (戰國, Sengoku), chùa bị Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) phá tan và thâu hồi đất đai. Đến năm 1598 (niên hiệu Khánh Trường [長慶] thứ 3), đất đai chùa được trả lại và nhờ sự viện trợ của Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu), quần thể kiến trúc của chùa được phục hưng. Trong khuôn chùa có 3 quần thể viện: Trung Viện có Kim Đường (金堂), Tháp Ba Tầng, Thích Ca Đường (釋迦堂), Đường Viện (唐院, nơi tôn trí các kinh luận, chương sớ, đạo cụ do Viên Trân mang từ bên nhà Đường sang); Nam Viện có Quan Âm Đường (觀音堂)—nơi chiêm bái thứ 14 trong 33 thánh tích ở vùng Tây Quốc; Bắc Viện có Tân La Thiện Thần Đường (新羅善神堂). Ngoài ra, Khuyến Học Viện (勸學院), Quang Tịnh Viện Khách Điện (光淨院客殿) là hai kiến trúc được xây dựng vào năm 1600 và 1601. Chùa hiện vẫn lưu giữ khá nhiều bảo vật như tượng ngồi của Trí Chứng Đại Sư (智証大師), tượng tranh Bất Động (不動), tượng Tân La Minh Thần (新羅明神), v.v.
viên thành tự
5397位於日本大津市別所。爲日本天台宗寺門派之總本山,與稱「山門」之延曆寺相對而稱寺門。山號長等山。通稱御井寺、三井寺。六七四年弘文天皇皇子大友與多王所創建。八五九年圓珍(智珍大師)再度興建,作爲延曆寺之別院,且改別當之職稱爲長吏。然,未久與圓仁之門徒發生爭鬥,圓珍之門徒遂於九九三年撤離延曆寺,而以本寺作爲根據地。其後歷遭燒毀,至一五九九年豐臣秀吉再建金堂,而由德川氏保護之。 本寺之建築,在平安末期有堂塔八十餘,僧房六百餘。其門跡有圓滿院、聖護院、實相院。現有自他處移來之三重塔、食堂(釋迦堂)、仁王門(大門)、新羅善神堂等室町時期之建築。另有創建於慶長年間之金門、經藏、閼伽井屋、勸學院、光淨院之客殿。本寺所藏襖繪皆爲當時名家之作品。另建於山腹地帶之觀音堂,爲西國三十三所觀音第十四號下院。於觀月舞臺之旁側,可遙望著稱於世之琵琶湖。此外,本寺珍藏之佛畫、雕刻、古寫本等甚多。
viên thành vệ đà
Vedànta (S). Last texts of Veda. Also Vệ đàn đà.
viên thành đại sư
Great master Viên Thành—Sư Viên Thành, thế danh là Công Tôn Hoài Trấp, cháu nội của Định Viễn Quận Vương Nguyễn Phước Bính, hoàng tử thứ sáu của vua Gia Long. Sư sinh năm 1879, năm 15 tuổi xuất gia tại chùa Ba La Mật với đại sư Viên Giác. Năm 20 tuổi, bổn sư viên tịch, sư tiếp tục trụ trì chùa Ba La Mật. Năm 1923, ngài giao chức trụ trì cho đệ tử là Trí Hiển, rồi lên núi Ngũ Phong, lập Tra Am để tu tập. Suốt sáu năm cuối đời ở Tra Am, sư đã di dưỡng tinh thần, tu trì thiền quán, giáo hóa đồ chúng—Monk Viên Thành whose worldly name was Công Tôn Hoài Trấp, was the grandson of Lord Nguyễn Phước Bính, the sixth prince of king Gia Long. He was born in 1879, left home and became a disciple of Most Venerable Viên Giác a the age of 15 at Ba La Mật temple. At the age of 20, when Master Viên Giác passed away, he took over the temple. In 1923, he let his disciple Trí Hiển to stay at the temple, then he went to Mount Ngũ Phong to build Tra Am thatched temple to cultivate. In the last six years of his life living simply at Tra Am, he nurtured his spirit, indulged in meditation, and taught his disciples.
Viên Thái Lịch
(園太曆, Entairyaku): bộ nhật ký của nhà công khanh Động Viện Công Hiền (洞院公賢, Tōin Kinkata, 1291-1360), hơn 120 quyển. Chánh bản hiện tồn chỉ có 1 quyển ghi năm 1311 (Ứng Trường [應長] nguyên niên). Ngoài ra, còn có lưư truyền những bản sao lục của hai nhà công khanh khác là Cam Lồ Tự Thân Trường (甘露寺親長, Kanroji Chikanaga, 1425-1500) và Tam Điều Tây Thật Long (三條西實隆, Sanjōnishi Sanetaka, 1455-1537); ghi lại các ký sự từ năm 1344 (Khang Vĩnh [康永] thứ 3) đến 1360 (Diên Văn [延文] thứ 5). Đây là bộ ký lục rất quan trọng của thời đại Nam Bắc Triều. Tên gọi Viên Thái Lịch vốn phát xuất từ xưng hiệu của Công Hiền là Viên Thái Chính Đại Thần (園太政大臣). Sau khi tác giả qua đời, tác phẩm này cũng đã trãi qua bao thăng trầm. Đến năm 1482 (Văn Minh [文明] thứ 14), hơn 120 quyển nhật ký này được chuyển nhượng cho Trung Viện Thông Tú (中院通秀) để đổi lấy hơn 1.000 xấp vải lụa. Nội dung các năm của tác phẩm này được ghi rõ trong bộ nhật ký của Trung Viện Thông Tú là Thập Luân Viện Nhập Đạo Nội Phủ Ký (十輪院入道內府記).
Viên Thông
(圓通): biến mãn cùng khắp tất cả, dung thông vô ngại; tức chỉ cho lý của thật tướng chứng được nhờ trí tuệ vi diệu của bậc thánh. Do nhờ trí tuệ ngộ được chơn như, bản chất tồn tại của vị ấy tròn đầy cùng khắp, tác dụng tự tại; đó gọi là viên thông. Hơn nữa, lấy trí tuệ để thông đạt đạo lý hay thực tiễn của chơn như, cũng có thể gọi là viên thông. Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂首楞嚴經) quyển 5 cho rằng 25 vị Bồ Tát đều có đủ viên thông; có 25 loại viên thông như Sáu Trần, Sáu Căn, Sáu Thức, Bảy Đại, v.v. Ngoài ra, trong số 25 vị thánh của Hội Lăng Nghiêm, Quan Thế Âm được xem như là vị Bồ Tát có Nhĩ Căn Viên Thông bậc nhất; nên được gọi là Viên Thông Tôn (圓通尊), Viên Thông Đại Sĩ (圓通大士). Trong bài kệ xưng tán Bồ Tát Quan Thế Âm có câu: “Quan Âm Đại Sĩ, tất hiệu Viên Thông, Thập Nhị Đại Nguyện thệ hoằng thâm, khổ hải độ mê tân, cứu khổ tầm thanh, vô sát bất hiện thân (觀音大士、悉號圓通、十二大願誓弘深、苦海度迷津、救苦尋聲、無剎不現 身, Quan Âm Đại Sĩ, ấy hiện Viên Thông, Mười Hai Nguyện Lớn thệ rộng sâu, biển khổ độ quần mê, cứu khổ tìm thanh, không đâu chẳng hiện thân).” Hay như tại Viên Thông Điện (圓通殿) của Giang Tâm Tự (江心寺) ở Ôn Châu (溫州), Tỉnh Triết Giang (浙江省) có câu đối rằng: “Quán hạnh viên thông từ quán bi quán thanh tịnh quán, âm văn tự tại diệu âm Phạm âm hải triều âm (觀行圓通慈觀悲觀清淨觀、音聞自在妙音梵音海潮音, quán hạnh tròn suốt quán từ quán bi quán thanh tịnh, tiếng nghe tự tại tiếng mầu tiếng Phạm tiếng tự tại).” Hoặc như tại Quan Âm Tự (觀音寺), vùng Tân Đô (新都), Tỉnh Tứ Xuyên (四川省) cũng có câu đối tương tợ như vậy: “Quán ngã quán nhân quán tự tại, (觀我觀人觀自在、大悲大願大圓通, quán ta quán người quán tự tại, đại bi đại nguyện đại viên thông).” Câu “nhân nhân ngộ Tự Tại chi âm, các cá nhập Viên Thông chi cảnh (人人悟自在之音、个个入圓通之境)” ở trên có nghĩa là mỗi người đều ngộ được âm thanh một cách tự tại vô ngại, và ai ai cũng được thể nhập vào cảnh giới tròn đầy thông suốt của chơn như.
; 圓通; 1080-1151|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 18. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Viên Học và sau đó truyền lại cho đệ tử ưu tú là Y Sơn. Sư được phong danh hiệu Quốc sư.|Sư tên tục là Nguyễn Nguyên Ức, quê làng Cổ Hiền, sau dời về kinh đô Thăng Long lập nghiệp. Cha sư làm quan đến chức Tả hữu nhai tăng lục dưới triều Lí. Sư bẩm chất thông minh, xuất gia lúc còn nhỏ, thụ giáo với Thiền sư Viên Học ở chùa Quốc An. Nơi đây, Sư được truyền tâm ấn.|Sư được hai vị vua Lí là Nhân Tông và Thần Tông hết sức kính trọng, ban cho nhiều danh chức. Nổi danh nhất là lời dạy của Sư cho vua Lí Thần Tông về việc an dân trị nước, được lưu lại trong Thiền uyển tập anh.|Cuối đời, Sư về làng Cổ Hiền, tỉnh Nam Ðịnh lập chùa Quốc Ân trụ trì. Ngày 21 tháng 4 năm Tân Mùi, niên hiệu Ðại Ðịnh, Sư họp chúng từ biệt rồi viên tịch, thọ 72 tuổi.|Sư có đề lại các tác phẩm: 1. Chư Phật tích duyên sự; 2. Hồng chung văn bi kí; 3. Tăng-già tạp lục; 4. Viên Thông tập, gồm hơn 1000 bài thơ.
Viên thông
(圓通): lý của thật tướng chứng được diệu trí gọi là viên thông; tánh thể cùng khắp là viên, diệu dụng không ngăn ngại là thông; biến mãn cùng khắp tất cả, dung thông vô ngại. Vì chân như ngộ được nhờ trí tuệ, bản chất tồn tại của nó là tròn đầy cùng khắp, tác dụng của nó tự tại, nên được gọi là viên thông. Hoặc lấy trí tuệ để thông đạt đạo lý cũng như thật tiễn của chân như, cũng được gọi là viên thông. Như trong Tam Tạng Pháp Số (三藏法數) 46 có giải thích rằng: “Tánh thể châu biến viết viên, diệu dụng vô ngại viết thông; nãi nhất thiết chúng sanh bổn hữu chi tâm nguyên, chư Phật Bồ Tát sở chứng chi thánh địa dã (性體周徧曰圓、妙用無礙曰通、乃一切眾生本有之心源、諸佛菩薩所證之聖境也, thể tánh cùng khắp gọi là viên, diệu dụng không ngăn ngại là thông, là nguồn tâm vốn có của hết thảy chúng sanh, là thánh địa chứng được của chư Phật, Bồ Tát).” Hay trong Lăng Nghiêm Kinh Chánh Mạch Sớ (楞嚴經正脈疏, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 12, No. 275) quyển 5 có câu: “Viên thông tức Lục Căn hỗ dụng, châu biến viên dung chi quả (圓通卽六根互用、周遍圓融之果, viên thông tức là sáu căn cùng tác dụng lẫn nhau, là quả cùng khắp viên dung).” Trong bài thơ Vãn Tập Nam Lâu (晚集南樓) của Phạm Thành Đại (范成大, 1126-1193) nhà Tống có câu: “Lãn chuyết dĩ thành Tam Muội giải, thử sanh hoàn ký nhất viên thông (懶拙已成三昧解、此生還記一圓通, lười vụng đã thành Tam Muội rõ, đời này rốt cuộc một viên thông).” Hoặc trong bài thơ Phụng Tặng Hành Sư Tham Thận Thiền Sư (奉贈行師參愼禪師) của Thẩm Liêu (沉遼, 1032-1085) nhà Tống lại có câu: “Quan Âm nhị thập ngũ viên thông, chỉ tại Thiền sư nhất chỉ trung (觀音二十五圓通、止在禪師一指中, Quan Âm hai mươi lăm viên thông, ngay tại Thiền sư ngón tay trong).” Trong hàng ngũ 25 vị Thánh của Hội Lăng Nghiêm, Nhĩ Căn Viên Thông (耳根圓通, lỗ tai nghe thông suốt cùng khắp) của Bồ Tát Quan Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音) được xem như là trên hết, nên được gọi là Viên Thông Tôn (圓通尊), Viên Thông Đại Sĩ (圓通大士). Như có bài tán về vị Bồ Tát này rằng: “Quan Âm Đại Sĩ, tất hiệu viên thông, thập nhị đại nguyện thệ hoằng thâm, khổ hải độ mê tân, cứu khổ tầm thanh, vô sát bất hiện thân (觀音大士、悉號圓通、十二大願誓宏深、苦海度迷津、救苦尋聲、無剎不現身, Quan Âm Đại Sĩ, hiệu là viên thông, mười hai nguyện lớn thệ khắp cùng, biển khổ độ bến mê, cứu khổ tầm thanh, khắp chốn đều hiện thân).”
viên thông
5407謂遍滿一切,融通無礙;即指聖者妙智所證的實相之理。由智慧所悟之真如,其存在之本質圓滿周遍,其作用自在,且周行於一切,故稱爲圓通。復次,以智慧通達真如之道理或實踐,亦可稱圓通。大佛頂首楞嚴經卷五謂,二十五位菩薩各個皆具圓通,共有六塵、六根、六識、七大等二十五圓通。此外,楞嚴會上二十五聖之中,以觀世音之耳根圓通爲最上,故稱爲圓通尊、圓通大士。〔楞嚴經圓通疏前茅卷下、楞嚴經纂註卷五〕
; Universally penetrating; supernatural powers of omnipresence; universality; by wisdom to penetrate the nature or truth of all things.
; 1) Đem giác tuệ tràn khắp thông hiểu tất cả đi vào cả pháp tính hay cái lý mà diệu trí chứng được (thể tính tràn ngập diệu dụng không trở ngại)—Universally penetrating; supernatural power of omnipresence; by wisdom to penetrate the nature or truth of all things by wisdom. 2) Tên một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa được Tổ Liễu Quán khai sơn năm 1697 tại ấp Tứ Tây, xã An Cựu, phía tây nam chân núi Ngự Bình. Năm 1741, tổ đã mở Đại Giới Đàn tại đây. Cho thấy chùa nầy có qui mô to lớn vào thời đó với pháp khí uy nghi. Sau đó tổ trụ trì tại đây cho đến khi thị tịch vào năm 1742. Nhưng cuối năm 1780, chùa bị hủy hoại. Mãi đến năm 1814, Hòa Thượng Quang Tuấn mới dựng lại được thảo am trên nền cũ, làm nơi phụng thờ nương tựa. Năm Minh Mạng thứ 4, Hội chủ của chùa là Thự Quang Hầu Tôn Thất Thự đã trùng tu và đổi tên là chùa Hưng Phước. Những năm cuối đời vua Thiệu Trị, hoàng tử thứ 30 con vua Minh Mạng là Quảng Ninh Công Miên Bật đã trùng tu chùa lớn hơn lần nữa, nhưng sau đó vì thiếu người trông coi, chùa lại đổ nát. Mãi đến năm 1881, công tử Hường Thiết cùng một số quan lại đã tái thiết và khôi phục lại tên chùa Viên Thông. Tám năm sau, Hòa Thượng Pháp Lâm Chơn Kim với sự hỗ trợ của Thái Hậu Từ Dũ đã trùng tu lại chùa. Vào năm 1966, chùa được trùng tu lần nữa. Viên Thông là một ngôi chùa cổ lưu niệm nơi khai sơn của Tổ Liễu Quán, người đã tổng hợp hai thiền phái Trung Quốc để tạo thành Thiền phái Liễu Quán của Việt Nam—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple was built by Patriarch Liễu Quán in 1697 at Tứ Tây hamlet, An Cựu village, on the southwest of Mount Ngự Bình. It is known that in 1741, the patriarch held a precept-affirming ceremony here. This fact shows that at that time the temple must have been very large with impressive instruments. Later, the patriarch settled at the temple until he passed away in 1742. Then the temple was destroyed in the 1780s. It was not until 1814 that Most Venerable Quang Tuấn built a thatched small temple on the old site for his worship and lodging here. During the 4th year of king Minh Mạng's reign (1823) the temple president of the congregation, Thự Quang Hầu Tôn Thất Thụ, rebuilt the temple again on a larger scale and renamed it Hưng Phước. During the last years of king Thiệu Trị's reign, the temple was once more rebuilt by the 30th prince of king Minh Mạng named Quang Ninh Công Miên Bật, but later, for lack of caretakers, the temple fell to pieces again. It was not until 1881 that prince Hường Thiết and a number of courtiers rebuilt the temple and restored its name Viên Thông. Eight years later, Most Venerable Pháp Lâm Chơn Kim, with the help of the king's Mother Từ Dũ, rebuilt the temple. In 1966, the temple was rebuilt again. Viên Thông temple is an ancient temple, and a memorial to the founding temple of Patriarch Liễu Quán, who had combined two sects of Chinese Dhyana to create a new Vietnamese Zen sect.
viên thông học uyển
5408位於臺灣臺北市。日據時代,原爲曹洞宗南門布教所,日僧內田佛海擔任住持,後改稱圓通閣。臺灣光復後,由張雲鈇居士負責管理。民國五十二年(1963),以中國佛教三藏學院院長白聖法師提議,慨贈該處爲興辦佛教教育、培植尼僧之弘法道場,並改今名。是年聘天乙法師爲住持,領導學佛,負責管理及興建事宜。現任住持爲明熙法師。
Viên Thông Pháp Tú
(圓通法秀, Entsū Hōshū, 1027-1090): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, người vùng Lũng Thành (隴城), Tần Châu (秦州, tỉnh Cam Túc), họ là Tân (辛). Năm 19 tuổi, ông xuất gia thọ Cụ Túc giới, đầu tiên học Viên Giác Kinh, Hoa Nghiêm Kinh và có chỗ sở đắc, cuối cùng nghe danh của Thiên Y Nghĩa Hoài (天衣義懷), ông đến tham học trong nhiều năm, cuối cùng được đạt ngộ và kế thừa dòng pháp của vị này. Ban đầu ông đến trú tại Long Thư Tứ Diện (龍舒四面), rồi Thê Hiền Tự (棲賢寺) ở Lô Sơn (廬山). Sau theo lời thỉnh cầu của Vương An Thạch (王安石), ông đến trú trì Chung Sơn Tự (鍾山寺) thuộc Tỉnh Giang Tô (江蘇省). Ông còn đến sống tại Bảo Ninh Tự (保寧寺) ở Kim Lăng Phụng Đài (金陵鳳臺). Rồi theo chiếu chỉ của nhà vua, ông đến trú trì Sùng Phước Thiền Viện (崇福禪院) ở Trường Lô (長蘆, Tỉnh Giang Tô). Vào năm thứ 7 (1084) niên hiệu Nguyên Phong (元豐), ông chuyển đến Pháp Vân Tự (法雲寺) ở Đông Kinh (東京, Tỉnh Hà Nam) làm vị tổ thứ nhất của chùa này. Ông đã từng thuyết pháp trước mặt vua Thần Tông và được ban cho hiệu là Viên Thông Thiền Sư (圓通禪師). Vào ngày 29 tháng 8 năm thứ 5 niên hiệu Nguyên Hựu (元祐) đời vua Triết Tông, ông thị tịch, hưởng thọ 64 tuổi.
; 圓通法秀; C: yuántōng fǎxiù; ?-1090; |Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Vân Môn, môn đệ nối pháp của Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài.|Sư họ Tân, quê ở Thành Lũng, Tần Châu. Câu chuyện sinh ra Sư rất kì đặc. Có một vị sư già tại núi Mạch Tín muốn theo Hoà thượng Lỗ – vị trụ trì ở chùa Ứng Càn – đi du phương. Hoà thượng Lỗ chê vị này già không đi được và vị sư này nói với Hoà thượng Lỗ »Ngày sau nên tìm tôi ở dưới ngọn Thiết Trường bên rặng tre cạnh sườn núi.« Mẹ của Sư nằm mộng thấy có một vị sư già đến ngủ nhờ và tỉnh dậy biết mình có thai. Sau, Hoà thượng Lỗ nghe thấy Sư được sinh ra liền đến hỏi thăm và khi gặp Hoà thượng Lỗ, Sư liền mỉm cười. Lên ba tuổi, Sư theo Hoà Thượng Lỗ về chùa.|Ðến năm mười chín tuổi Sư đã thông các kinh như Viên giác, Hoa Nghiêm. Nghe danh Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài, Sư liền đến tham vấn. Thiên Y hỏi Sư: »Toạ chủ giảng kinh gì?« Sư thưa: »Kinh Hoa Nghiêm.« Thiên Y hỏi: »Kinh Hoa Nghiêm lấy gì làm tông?« Sư thưa: »Lấy Pháp giới làm tông.« Thiên Y hỏi: »Pháp giới lấy gì làm tông?« Sư thưa: »Lấy tâm làm tông.« Thiên Y lại hỏi: »Tâm lấy gì làm tông?« Sư không đáp được. Thiên Y bảo: »Có sai hào li, cách xa trời đất. Ông phải tự khán ắt sẽ tìm ra được.« Sau, Sư nghe một vị tăng nhắc đến việc Bạch Triệu đến tham vấn Báo Từ với câu hỏi »Khi tình chưa sinh thì thế nào« và câu trả lời của Báo Từ »Cách« cho câu hỏi này, Sư hoát nhiên đại ngộ, chạy đến Thiên Y trình bày sở đắc. Thiên Y khen Sư: »Ngươi thật là pháp khí. Tông của ta sau này đi theo ngươi vậy.«|Ban đầu, Sư trụ trì tại Long Thô Tứ Diện, sau lại theo chiếu của vua Tống Thần Tông về núi Trường Lô trụ trì chùa Pháp Vân và cũng tại đây, Sư được ban hiệu là Viên Thông.|Sư thượng đường dạy chúng: »Trời lạnh mưa tí tách, gió thổi cát bay đá chạy, cây tróc chim kêu, các ngươi cả thảy đều biết. Hãy nói gió có hình sắc gì? Nếu biết được chấp nhận ngươi có con mắt sáng, nếu chẳng biết chớ lấy làm lạ lừa nhau. Tham!… Thiếu Lâm (chỉ Bồ-đề Ðạt-ma) chín năm ngồi lặng, lại bị Thần Quang Nhị tổ (Huệ Khả) ngó phủng. Hiện nay ngọc đá khó phân biệt, chỉ được gai cột giấy gói, hội chăng? Cười ta thì nhiều, nhận ta thì ít.«|Niên hiệu Nguyên Hựu năm thứ năm (1090), lúc sắp tịch, Sư bảo chúng: »Lão tăng sáu chỗ trụ trì có phiền Tri sự, Thủ toạ. Ðại chúng ngày nay Tứ đại chẳng vững chắc, gió lửa sắp tan, mỗi người nên lấy đạo tự an, chớ trái lời ta di chúc«, và nói kệ:|來時無物去時空。南北東西事一同|六處住持無所補。|Lai thời vô vật, khứ thời không|Nam bắc đông tây sự nhất đồng|Lục xứ trụ trì vô sở bổ.|*Khi đến không vật, lúc đi không|Nam bắc đông tây việc vẫn đồng|Trụ trì sáu chỗ không ai bổ.|Sư im lặng giây lâu, vị đệ tử là Huệ Ðương thưa: »Sao Hoà thượng không nói câu rốt sau?« Sư nói: |珍重!珍重!|»Trân trọng! Trân trọng!« |và nói xong liền tịch.
viên thông tam muội
The various samàdhi of supernatural powers of the twenty five "great ones" of the Lăng nghiêm kinh Surangama sùtra.
; Tam muội hành của pháp tính viên thông của 25 đại sĩ trên pháp hội Lăng Nghiêm, đặc biệt là âm thanh có khắp mọi nơi của Đức Quán Thế Âm—The various samadhi of supernatural powers of the twenty-five “great ones” of the Surangama Sutra, especially of the omnipresent hearer of those who call, i.e. Kuan-Yin.
viên thông thiền sư
Zen Master Viên Thông (1085-1151)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Thăng Long, Bắc Việt. Từ nhỏ tư chất rất thông minh. Ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Viên Học ở chùa An Quốc. Ngài là pháp tử đời thứ 18 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Năm 1112, sau khi trùng tu chùa Diên Thọ, vua nhà Lý triệu hồi ngài về trụ trì. Đến năm 1130, vua Lý Thần Tông triệu ngài vào cung để bàn chuyện chính trị và ngoại giao. Về sau, ngài dời đến Cổ Hiền, thuộc tỉnh Nam Định để xây chùa Quốc Ân. Ngài thị tịch tịch năm 1151, thọ 72 tuổi—A Vietnamese Zen master from Thăng Long, North Vietnam. He was very intelligent since his young age. He left home at young age and became a disciple of Zen master Viên Học at An Quốc Temple. He was the Dharma heir of the eighteenth generation of Vinitaruci Zen Sect. In 1112, after rebuilding Diên Thọ Temple, King Lý sent an Imperial Order to summon him to stay there. In 1130, King Lý Thần Tông summoned him to the Royal Palace to discuss with him political and foreign affairs. Later, he moved to Cổ Hiền, Nam Định to build Quốc Ân Temple. He passed away in 1151, at the age of 72.
Viên Thông Tự
(圓通寺, Entsū-ji): ngôi chùa của Tào Động Tông Nhật Bản, tọa lạc tại số 451 Kashiwajima (柏島), Tamashima (玉島), Kurashiki-shi (倉敷市), Okayama-ken (岡山縣), sơn hiệu là Bổ Đà Lạc Sơn (補陀落山). Tượng thờ chính của chùa là đức Thánh Quan Âm Bồ Tát (聖觀音菩薩). Đây là nơi hành hương thứ 7 trong số 33 tượng Quan Âm ở vùng Trung Quốc (中國, Chūgoku). Về niên đại sáng lập chùa hiện tại vẫn chưa biết rõ, nhưng tương truyền vị tăng Hành Cơ (行基, Gyōki, 668-749) của thời đại Nại Lương (奈良, Nara) là người sáng lập ra chùa. Đến thời đại Giang Hộ (江戸, Edo), vào năm thứ 11 (1698) niên hiệu Nguyên Lộc (元祿), chùa được Thiền Sư Đức Ông Lương Cao (德翁良高, Tokuō Ryōkō, 1649-1709) trùng hưng lại với hiệu là Viên Thông Am (圓通庵). Vào khoảng thời gian niên hiệu Chánh Đức (正德, 1711-1716), chùa có hiệu như hiện tại. Vào cuối thời đại Giang Hộ, Lương Khoan (良寛, Ryōkan), bậc Thiền kiệt nổi tiếng, vừa là ca nhân, đã từng tu hành tại chùa này trong vòng 20 năm.
viên thông tự
5408<一>位於江西廬山西麓。爲南唐李後主所創,時以緣德主持寺務。宋慶曆(1041~1048)年間,居訥自歸宗寺移居至此,與歐陽修共結青松社,大興禪法,門下號稱三千之眾。元豐年間,神宗敕賜「東林寺」之號,未久敕改「東林太平興國禪院」,命東林常總主之,大振教化。歷元、明二朝均爲淨土道場,至清代則漸次衰頹,然仍不失爲廬山名剎之一。〔廬山志、古今圖書集成山川典第一三七至第一四四〕 <二>位於雲南昆明。創建於唐代。據創修圓通寺記石碑所載,該寺原名補陀羅寺,於元成宗大德五年(1301)建觀音大士殿時,予以修建,改稱圓通寺,並成爲雲南最具代表性之名剎。雄偉之圓通寶殿爲古代建築之傑作,院內以蓮花池爲中心,架設連接八角亭之石橋,景色宜人。 <三>位於臺灣臺北縣中和市郊。民國十五年(1926),妙清法師創建。第二任住持爲達精法師。該寺大殿全都以大理石築成,寺宇巍峩。供奉彌勒菩薩,後殿即大雄寶殿。另有歸靈塔、望月宮等建築。寺周山壁陡峭,東側石壁刻有一大「佛」字與羅漢像,實爲奇景。山背石壁半腰有洞,深達六十公尺,稱通天洞。
; Entsu-ji (J)Tên một ngôi chùa.
viên thông đại sĩ
5407觀世音菩薩之別號。又稱圓通尊。昔時楞嚴會上大小二十五聖各自說所證之圓通方便,佛敕文殊料簡是非,文殊歷評已,獨以最後觀世音之耳根圓通爲最上;以此土眾生六根中耳根爲最利,故以耳根之圓通方便爲最上。故二十五聖中,圓通之名,特爲觀世音之專稱。
; The omnipresent hearer of those who call, Quán Thế Âm Bồ tát.
; The omnipresent hearer of those who call for help.
viên thông đại ứng quốc sư ngữ lục
5407凡二卷。日本南浦紹明語,侍者祖照等編錄。略稱大應國師語錄、大應和尚語錄、大應語錄、大應錄、南浦錄。今收於大正藏第八十冊。係日本臨濟宗建長寺第十三世敕諡「圓通大應國師」南浦紹明之法語、偈頌等集錄而成者。內容包含語錄、法語、佛祖贊、小佛事、偈頌等。
; EnzŪ dai-ō kokushi goroku (J)Tên một bộ sưu tập.
viên thật
5413圓頓一實之意;乃稱天台圓教之教理。一行圓融一切行,一位圓具一切位,而成佛頓極頓速,稱爲圓頓;又此理爲一而無二三,爲真實而非虛妄,故稱一實。
viên thật đoạ
5413又作圓墮。謂墮於圓理之弊,如謬解煩惱即菩提、生死即涅槃、邪正不二、善惡一如等圓頓教理之義,而破壞戒行,流於放逸。與「惡取空」皆指誤解佛教真理之偏妄見解;惡取空,謂謬解「空」義而執著於「斷空」之見。〔摩訶止觀復真鈔卷一(普寂)〕
viên thừa
5403謂圓滿無缺之教法,指三乘中之佛乘。三乘即聲聞乘、緣覺乘、佛乘(菩薩乘),係佛陀就眾生根機之利鈍所立之三種教法。其中,佛乘因欲求無上菩提、普度一切眾生、修習六度萬行,終將達於圓滿究竟而與佛陀結合,故亦稱圓乘。
; The all-complete vehicle, the final teaching of Buddha.
; Phật Thừa hay giáo pháp viên mãn không thiếu sót—The all-complete vehicle, the final teaching of Buddha.
viên thực
Viên đốn nhứt thực, chỉ giáo lý của tông Thiên Thai giúp hành giả có khả năng đạt được Phật quả tức thời (nương theo giáo thuyết cho rằng một việc làm viên dung hết thảy các việc làm; một ngôi vị đầy đủ hết thảy mọi ngôi vị)—Perfect reality; the T'ien-T'ai perfect doctrine which enables one to attain reality or Buddhahood at once.
viên tiếp biệt
5405三被接之一。又作圓入別。即天台宗所立化法四教之第三別教之菩薩,彼等已了達「不但中」之理,更轉而被接入圓教之中。係指佛應別教菩薩根機之巧,而爲說圓教,令其接合別教,即以圓教引接別教菩薩之謂。別教地前之賢位,合空假而爲假,又於修假之位內,點示發習而爲圓教之菩薩,稱爲圓接別。〔法華經玄義卷二下、天台四教儀、天台四教儀集註卷下〕(參閱「被接」4319)
viên toà
5403又稱蒲團。以蒲編成扁圓形之座墊。原以蒲編,後多包以綾錦。種類甚多,其厚者稱厚圓座;以菅編織者,稱菅圓座。〔禪林象器箋器物門、永平清規辨道法〕
Viên Trân
(圓珍, Enchin, 815-891): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Bình An, thụy hiệu là Trí Chứng Đại Sư (智証大師), xuất thân vùng Tán Khi (讚岐, Sanuki, thuộc Kagawa-ken [香川縣] ngày nay), tục danh là Hòa Khí (和氣), mẹ là Tá Bá (佐伯), đồng hàng với cháu Không Hải. Năm 15 tuổi, ông được người chú Nhân Đức (仁德) dẫn đến đầu sư với Nghĩa Chơn (義眞, Gishin), đến năm 20 tuổi thọ giới rồi sau đó ẩn tu trong núi suốt 12 năm, và đến năm 32 tuổi mới ra lãnh chúng. Vì có chí sang nhà Đường cầu pháp, nên năm 853 ông sang Trung Quốc, đến Khai Nguyên Tự (開元寺) ở Huyện Liên Giang (連江縣), thuộc Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến ngày nay), học Tất Đàm ở Bát Nhã Hằng Duy (般若恒罹) và Luật Sớ ở Tồn Thức (存式). Sau khi đến Khai Nguyên Tự ở vùng Ôn Châu (溫州, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay), ông được Tông Bổn (宗本) trao cho các bản sớ Câu Xá Luận. Tiếp theo ông đến Đài Châu (台州, thuộcTỉnh Triết Giang ngày nay), thọ nhận một số văn bản chương sớ của Duy Ma Kinh, Nhân Minh Luận từ Tri Kiến (知建). Sau đó, ông lại đến Quốc Thanh Tự (國清寺) ở trên Ngũ Đài Sơn và gặp được Vật Đắc (物得), Viên Tải (圓載). Kế đến, ông được Pháp Toàn (法全) của Thanh Long Tự (青龍寺) trao truyền Quán Đảnh của Kim Thai Lưỡng Bộ, và thọ nhận đại pháp của Tất Đàm Địa cũng như Tam Muội Da Giới. Ông cũng có học Mật Giáo với Trí Huệ Luân Tam Tạng (智慧輪三藏). Trong khoảng thời gian 7 tháng lưu lại tại Trường An, ông đã nhận được một số rất nhiều pháp cụ, sớ chương, và tham bái các ngôi chùa nổi tiếng nơi đây. Chính ông đã cúng tiền xây dựng phục hưng Quốc Thanh Tự, nên được gọi là Thiên Thai Sơn Quốc Thanh Tự Nhật Bản Quốc Đại Đức Tăng Viện (天台山國清寺日本國大德僧院).Sau 6 năm lưu học cầu pháp, ông trở về nước, mang theo một số lượng lớn kinh sớ của Thiên Thai, Chơn Ngôn, Câu Xá, Nhân Minh, Tất Đàm, gồm khoảng hơn 440 bộ và 1000 quyển. Năm 859, thể theo lời thỉnh cầu của Đại Hữu (大友), ông chuyển đến ở tại Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji) thuộc vùng Tam Tỉnh (三井, Mii), sau đó ông tạo nơi đây thành Thiên Thai Biệt Viện, và đến năm 868 thì được cử làm Tọa Chủ chùa này thay thế An Huệ (安慧, Anne). Môn hạ của ông có Duy Thủ (惟首, Yuishū), Du Hiến (猷憲, Yuken), Tăng Mạng (増命, Zōmyō), Tôn Ý (尊意, Soni), v.v. Trước tác của ông có Đại Nhật Kinh Chỉ Quy (大日經指歸) 1 quyển, Giảng Diễn Pháp Hoa Nghi (講演法華儀) 2 quyển, Thọ Quyết Tập (授決集) 2 quyển.
viên trân
5402(814~891)日本天台宗僧。爲日本延曆寺第五代座主,又爲寺門派開祖。讚岐(香川縣)人,俗姓和氣。係空海之姪孫,十五歲登比叡山,師事義真,二十歲得道受戒,其後住山十二年,任內供奉十禪師之一。日本仁壽三年(853)來華,居五年,受學於天台、密教、悉曇等宗諸師,攜經疏一千卷返日本。五十五歲奉敕任延曆寺座主。針對圓仁之「理同事別」,乃發揚「圓劣密勝」之思想,其流派稱爲台密系統智證大師之流派。著有法華集論記、授決集、觀普賢經記、大日經指歸、諸家教相同異等,另有傳教大師略傳、行歷抄、山王院在唐記等,收錄於智證大師全集四冊(大日本佛教全書)。相傳圓珍擅長佛畫、雕刻佛像,尤以不動明王像著稱於世,爲密教藝術之傑作。寬平三年示寂,世壽七十八。醍醐天皇延長五年( 927)敕諡「智證大師」。〔天台宗延曆寺座主圓珍傳、日本紀略前篇卷二十、入唐記〕
viên trí đạo ngô thiền sư
Zen master Yuan-Zhi-T'ao-Wu—Thiền Sư Viên Trí Đạo Ngô sanh năm 769 tại Dư Chương (nay thuộc tỉnh Giang Tây), là đệ tử của Thiền Sư Dược Sơn—Zen Master Yuan-Zhi-T'ao-Wu was born in 769 in Yu-Zhang (now in Jiang-Xi Province), was a disciple of Yao-Shan. • Một hôm, Dược Sơn hỏi sư: “Ngươi đi về đâu?” Sư thưa: “Đi dạo núi về.” Dược Sơn bảo: “Chẳng rời thất nầy, đem gì về, nói mau!” Sư thưa: “Sơn thượng điểu nhi đầu tợ tuyết Gián để du ngư mang bất triệt.” (Trên núi chim con đầu tợ tuyết Đáy khe cá lội lo chẳng cùng). One day, Zen master Yao-Shan asked T'ao-Wu: “Where have you been?” T'ao-Wu said: “Walking on the mountain.” Yao-Shan said: “Without leaving this room, quickly speak!” T'ao-Wu said: “On the mountain the birds are white as snow. At the bottom of the brook the fish never stop swimming.” • Sư cùng Đàm Thạnh đứng hầu Dược Sơn. Dược Sơn bảo: “Chỗ trí chẳng nghĩ đến, tối kỵ, nói tới, nói tới tức đầu mọc sừng, Trí đầu đà (ám chỉ sư) hiểu thế nào?” Sư liền đi ra. Đàm Thạnh hỏi Dược Sơn: “Sư huynh Trí vì sao không đáp lời Hòa Thượng?” Dược Sơn bảo: “Hôm nay ta đau lưng, y đã biết, ngươi hỏi lấy y.” Đàm Thạnh đến hỏi sư: “Vừa rồi, sao sư huynh không đáp lời Hòa Thượng?” Sư bảo: “Huynh đến hỏi Hòa Thượng đi.”—One day, T'ao-Wu and Yun-Yan were with Yao-Shan, Yao-Shan said: “Saying that there is a place where wisdom does not reach violates the taboo. Any saying this will grow horns. Monk Zhi (T'ao-Wu), what do you say?”T'ao-Wu then went out. Yun-Yan then asked Yao-Shan: “Why didn't elder brother answer you?” Yao-Shan said: “My back hurts today. Anyway, he knows why. Why don't you go ask him?” Yun-Yan then went to T'ao-Wu and said: “Why didn't you answer the master today?” T'ao-Wu said: “Go ask the master.” • Qui Sơn Linh Hựu hỏi Vân Nham Đàm Thạnh: “Bồ Đề lấy gì làm tòa?” Đàm Thạnh đáp: “Lấy vô vi làm tòa.” Đàm Thạnh lại hỏi Linh Hựu câu ấy. Linh Hựu đáp: “Lấy các pháp không làm tòa.” Linh Hựu lại đem câu ấy hỏi sư. Sư đáp: “Ngồi thì cho y ngồi, nằm thì cho y nằm. Có một người chẳng ngồi chẳng nằm, hãy nói mau! Nói mau!” Qui Sơn liền đứng dậy bỏ đi—Kui-Shan asked Yun-Yan: “With what does bodhi sit?” Yun-Yan said: “It sits with nonaction.” Yun-Yan then asked Kui-Shan the same question. Kui-Shan said: “It sits with all empty dharmas.” Yun-Yan then asked T'ao-Wu: “What do you say?” T'ao-Wu said: “Bodhi sits listening to it. Bodhi lies down listening to it. But as for the one who neither sits nor lies down, speak! Speak!” Kui-Shan got up and left. • Qui Sơn Linh Hựu hỏi sư: “Ở đâu đến?” Sư đáp: “Khán bệnh đến.” Qui Sơn Linh Hựu hỏi: “Có bao nhiêu người bệnh?” Sư đáp: “Có người bệnh, có người chẳng bệnh.” Qui Sơn Linh Hựu nói: “Có người không bệnh đâu không phải Trí đầu đà?” Sư đáp: “bệnh cùng chẳng bệnh đều không can hệ việc nó, nói mau! Nói mau!”—Kui-Shan asked T'ao-Wu: “Where did you go?” T'ao-Wu said: “To see a doctor.” Kui-Shan asked: “How many people are sick?” T'ao-Wu said: “Some are sick, some are not.” Kui-Shan said: “Is one who is not sick has nothing to do with it?” • Sư thị tịch ngày mười tháng chín năm 835—He died on the tenth day of the ninth month in 835.
viên trắc
5409(613~696)唐代法相宗僧。新羅(朝鮮)王族出身,俗姓金。名文雅,以字行世。隋大業九年生。十五歲遊學我國,歷事京師法常、僧辯等,博通毘曇、成實、俱舍、毘婆娑等論。貞觀年間,敕住京邑西明寺,世稱西明圓測。後值玄奘歸返,開設譯場,奉旨參與其事,與窺基(慈恩大師)、普光並肩齊轡,競芳一時。據宋高僧傳卷四載,玄奘爲窺基講新譯成唯識論,師乃賄賂守門者而盜聽,歸西明寺緝綴義章,而先於窺基講之。其後,玄奘講瑜伽師地論,師復同前盜聽受之,亦先窺基而講之。其後,武后禮之爲師,信崇逾恆,新羅遣使請歸,武后不允。歷參日照、提雲之譯事,任證義。後於萬歲通天元年入寂,世壽八十四。著有成唯識論疏、解深密經疏、仁王經疏、心經疏、因明正理門論疏等。弟子有道證、勝莊、慈善等,均爲當世著名學僧,蔚爲慈恩系之亞流。〔六學僧傳卷二十三〕
Viên Trừng
(圓澄, Enchō, 771-836): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, Thiên Thai Tọa Chủ đời thứ 2, húy Pháp Kính (法鏡), Viên Trừng (圓澄), thụy hiệu là Tịch Quang Đại Sư (寂光大師), xuất thân vùng Võ Tàng (武藏, Musashi), họ là Nhâm Sanh (壬生). Khoảng năm 27 tuổi, ông lên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), làm đệ tử của Tối Trừng (最澄, Saichō). Đến năm 34 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới, năm 36 tuổi thì nhập đàn thọ Quán Đảnh, năm sau thì thọ lãnh Viên Đốn Giới. Sau khi thầy qua đời, ông dựng Tây Tháp và khai sáng Tây Tháp Viện. Đến năm 834, ông làm Thiên Thai Tọa Chủ. Ông đã từng cung thỉnh Hộ Mạng (護命, Gomyō) ở Nam Đô, Không Hải (空海, Kūkai) của Chơn Ngôn Tông lên Tỷ Duệ Sơn để tham dự lễ cúng dường ở Tây Tháp Viện và tận lực làm cho Sơn Môn phát triển. Tác phẩm của ông để lại có Diên Lịch Tự Cấm Chế Thức (延曆寺禁制式) 1 quyển, Đường Quyết (唐決) 2 bức, Tịch Quang Viên Trừng Hòa Thượng Tàn Hinh Tập (寂光圓澄和尚殘馨集), Thông Đạt Phật Hải Nguyện Văn (通達佛海願文) 1 quyển, v.v.
viên trừng
5414(1561~1626)明代曹洞宗僧。會稽(浙江)人,俗姓夏。字湛然,號散水道人。得戒於雲棲袾宏,年三十悟道。明萬曆年間匡徒說法,先後住徑山萬壽寺、嘉興東寺、雲門顯聖寺、南京延壽寺、紹興華嚴寺等名剎,以平易簡亮見重一時,宗風大暢。天啟六年十二月示寂,世壽六十六,法臘四十三。遺有湛然圓澄禪師語錄八卷行世。〔會稽雲門湛然澄禪師塔銘〕
viên tu
5403<一>唐代禪僧。福州人,俗姓潘。師之事蹟,各史傳所載有所不同,據宋高僧傳卷十一所載,師受戒於嵩山會善寺,後謁百丈禪師悟道。居秦望山古松巔,與鵲爲鄰,人號鳥窠禪帥。唐元和初,太守裴常棣爲造招賢寺使居之。太和七年( 833)九月入寂,世壽九十九,法臘八十。建塔於石甑山下。 據景德傳燈錄卷四道林傳載,師之法名爲道林,於荊州果願寺受戒,參謁國一禪師悟道,居秦望山長松上,人稱鳥窠禪師。元和年中太守白居易屢前往問法。後於長慶四年(824)二月入寂,世壽八十四,法臘六十三。錄又云(大五一‧二三○中):「有云師名圓修者,恐是諡號。」又宋高僧傳中未舉出道林之名。〔聯燈會要卷二、五燈會元卷二〕 <二>(1575~1635)明代臨濟宗僧。號天隱。江蘇宜興人,俗姓閔。二十四歲出家,未久嗣龍池院幻有正傳之法。歷住江蘇磬山、法濟禪院、浙江報恩禪院。後於崇禎八年九月入寂,世壽六十一,法臘三十七。遺有天隱和尚語錄十五卷行世。〔續燈存稾卷十、五燈會元續略卷八〕
; (1) To observe the complete Thiên Thai meditation, at one and the same time to comprehend the three ideas of không giả trung; (2) to keep all the precepts perfectly.
; 1) Viên tu vạn hạnh để thành Phật: To observe (keep) all commandments perfectly. 2) Pháp môn đồng thời tu tam quán Không Giả Trung của tông Thiên Thai để thành Phật—To observe the complete T'ien-T'ai meditation, at one and the same time to comprehend the three ideas of noumenon, phenoumenon, and the middle path.
viên tu tịnh độ
To keep all the teaching of Pure Land perfectly.
viên tâm
5398指求涅槃圓果之心。南海寄歸內法傳卷四(大五四‧二三○上):「圓具圓心,遵修律藏。」涅槃乃完全滅除煩惱,超越生死輪迴,而證得最高智慧之境地,爲佛教修行所欲達到之最高目的,故涅槃又譯作圓寂;達於涅槃之果,又稱圓果;企求涅槃圓果之心,則稱圓心。
; The perfect mind, the mind that seeks perfection, i.e. niràna.
; Tâm viên mãn hay tâm cầu đắc viên quả niết bàn—The perfect mind, the mind that seeks perfection, i.e. nirvana.
viên tín
5402(1571~1647) 明代臨濟宗僧。浙江鄞縣人,俗姓朱。初號雪庭,後改雪嶠,晚年自稱語風老人。九歲,聞誦彌陀經而發心,至二十九歲出家,四方行腳,後參謁江蘇秦望山普濟寺妙禎,若有所悟,乃返天台尋人印證,偶抬頭,見「古雲門」三字,豁然大悟。復往參雲棲袾宏及龍池之幻有正傳,得幻有之印可。萬曆四十三年(1615),出住徑山千指菴;後住廬山開先寺、浙江東塔寺。師因見「古雲門」大悟,乃發願弘揚雲門一宗。晚年入住浙江雲門寺。清順治四年示寂,世壽七十七。著有雪嶠圓信禪師語錄四卷。〔五燈全書卷六十四、五燈會元續略卷八〕
; Complete-faith; the faith of the "perfect" school. A Thiên Thai doctrine that a moment's faith embrace the universe.
; 1) Tín tâm hoàn toàn—Complete faith. 2) Niềm tin vào Viên Tông. Niềm tin ôm trọn cả vũ trụ vạn vật: The faith of the “perfect” school. A T'ien-T'ai doctrine that a moment's faith embraces the universe.
viên tông
5401<一>乃以大乘真實圓滿之教義爲旨之宗派。例如華嚴、天台二宗自稱爲圓教之宗。至後世,成爲天台宗之專稱。 <二>(1937~ )臺灣高雄人,俗姓李。號法通。十二歲起長齋禮佛,十六歲於大崗山舊超峰寺禮心鉢法師剃度,二十二歲於臺北十普寺受具足戒。中國佛教三藏學院及中國佛教研究院畢業,曾親近白聖法師多年。歷任臺中慈明佛學院訓導主任、中國佛教布教會副團長、高雄縣佛教支會理事。民國六十二年(1973)創建日月禪寺於高雄縣田寮鄉,六十四年復創辦日月幼稚園,對地方福利、社會慈善事業,極爲熱心。
; The sect of the complete or final Buddha-truth, i.e. Thiên Thai.
; Tông phái của viên giáo, chỉ tông Thiên Thai—The sect of the complete or final Budha-truth, i.e. T'ien-T'ai.
Viên tướng
圓相; J: ensō; là hình tròn, vòng tròn;|Theo đạo Phật – nhất là Thiền tông – hình tròn là biểu hiện của Chân lí tuyệt đối, Chân như, Giác ngộ. Trong những bức hoạ của giới hâm mộ thiền, người ta thường thấy những hình tròn. Người ta cho rằng, hình tròn này tiết lộ nhiều về trạng thái tâm thức của người vẽ và chỉ có người nào chú tâm, bình tĩnh mới có thể vẽ được hình tròn cân xứng tuyệt hảo (Quy Ngưỡng tông, Thập mục ngưu đồ).
viên tướng
5403指真理之圓滿與絕對。又作一圓相。於禪宗,描畫一圓形圖以象徵真如、法性、實相,或眾生本具之佛性等。禪僧每以拂子、如意、拄杖或手指等,於大地或空中畫一圓相,有時亦以筆墨書寫此類圓相,表示真理之絕對性。相傳圓相始作於南陽慧忠。圓相中並有文字或記號,以示開悟之過程。如五冠了悟,即以下列圖形表示從初心漸至佛心之境界:桢觏觐搃庼。又近代韓國佛教新宗派「圓佛教」,即主張一圓相爲法身佛,爲宇宙萬有之本源,爲諸佛諸聖之心印,爲一切眾生之本性。〔景德傳燈錄卷四徑山道欽章〕(參閱「圓佛教」5400)
; Enso (J), Round shape Hình tròn.
Viên tịch
(圓寂): ý dịch của Phạn ngữ parinirvāṇa (s.); cựu dịch là diệt độ (滅度), nhập diệt (入滅); còn gọi là quy tịch (歸寂), thị tịch (示寂), nhập tịch (入寂); đồng nghĩa với Niết Bàn (涅槃), thiên hóa (遷化), thuận thế (順世), quy chơn (歸眞); nghĩa là tròn đầy các đức, diệt hết các điều ác. Sự qua đời của đức Phật nghĩ là thâu hóa dụng của cõi mê mà nhập vào cảnh giới giác ngộ; xả đi cảnh tạp nhiễm của Hữu Lậu mà nhập vào cảnh giới Niết Bàn vắng lặng Vô Lậu; nên gọi là viên tịch. Từ này cũng có nghĩa xa lìa cái khổ của sanh tử, đạt đến sự an lạc tịnh diệu. Về sau, chư vị tăng ni qua đời cũng gọi là viên tịch. Trong Bát Nhã Tâm Kinh Giải Nghĩa (般若心經解義, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 26, No. 570) định nghĩa rằng: “Niết Bàn, thử vân viên tịch, đức vô bất bị xưng viên, chướng vô bất tận xưng tịch (涅槃、此云圓寂、德無不僃稱圓、障無不盡稱寂, Niết Bàn, ở đây [Trung Hoa] gọi là viên tịch, đức không nơi nào mà không đầy đủ gọi là viên, chướng không chỗ nào mà không hết gọi là tịch).” Như trong Phật Pháp Kim Thang Biên (佛法金湯編, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1628) quyển 8, phần Lý Bạch (李白), có đoạn: “Bản tâm nhược hư không, thanh tịnh vô nhất vật, phần đãng dâm nỗ si, viên chiếu liễu kiến Phật (本心若虛空、清淨無一物、焚蕩淫怒癡、圓照了見佛, tâm gốc như hư không, trong sạch không một vật, đốt dâm đãng giận si, chiếu rõ rồi thấy Phật).” Hay trong Thiền Lâm Bị Dụng Thanh Quy (禪林僃用清規, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1250) quyển 9, phần Phúng Kinh (諷經), cũng có đoạn: “Thượng lai phúng kinh công đức, phụng vị tân viên tịch mỗ giáp Thượng Tọa (上來諷經功德、奉爲新圓寂某甲上座, khởi đầu tụng kinh công đức, kính vì Thượng Tọa … mới viên tịch).” Hoặc trong Thiền Đăng Thế Phổ (禪燈世譜, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1601) quyển 1, phần Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思), lại có đoạn rằng: “Ấu tuế xuất gia, cư Thanh Nguyên Sơn Tĩnh Cư Tự; Huyền Tông Khai Nguyên nhị thập bát niên thập nhất nguyệt thập tam nhật viên tịch, thụy Hoằng Tế, tháp viết Quy Tịch (幼歲出家、居青原山靜居寺、玄宗開元二十八年十一月十三日圓寂、諡弘濟、塔曰歸眞, sư tuổi nhỏ xuất gia, sống ở Tĩnh Cư Tự thuộc Thanh Nguyên Sơn; vào ngày 13 tháng 11 năm thứ 28 [740] niên hiệu Khai Nguyên đời vua Huyền Tông [tại vị 712-756], sư viên tịch, thụy hiệu là Hoằng Tế, tháp tên là Quy Tịch).”
viên tịch
5405梵語 Parinirvāṇa 之意譯。舊譯滅度、入滅。音譯般涅槃。謂圓滿諸德,寂滅諸惡。佛陀之死爲收迷界之化用而入悟界,既已圓滿諸德,寂滅諸惡,故稱圓寂,後世轉而稱僧徒之死。又作歸寂、示寂、入寂。與涅槃、遷化、順世、歸真同義。即捨去有漏雜染之境,歸入無漏寂靜涅槃界之謂。亦指離生死之苦,全靜妙之樂,窮至極之果德。其中,就離生死之苦而言,賢聖命終即入於涅槃,爲圓寂。大寶積經卷五十六(大一一‧三二七下):「我求圓寂而除欲染。」賢首心經略疏(大三三‧五五四中):「涅槃,此云圓寂。謂德無不備,稱圓;障無不盡,稱寂。」〔成唯識論述記卷一、釋氏要覽卷下送終條〕(參閱「涅槃」4149)
; Perfect rest, i.e. parinirvàna; the perfection of all virtue and the elimination of all evil, release from the miseries of transmigration and entrance into the fullest joy.
; Parinirvana (skt)—Niết Bàn—Diệt Độ—Nhập vào Niết Bàn hoàn toàn an tịnh và tĩnh diệu—Công đức viên mãn, mọi ác quấy đều tận diệt, thoát khỏi những khổ đau của luân hồi sanh tử và bước vào nơi chốn an vui hoàn toàn—Perfect rest, i.e. parinirvana; the perfection of all virue and the elimination of all evil, release from the miseries of transmigration and entrance into the fullest joy.
viên văn
5414謂根機純熟而堪受圓教之聞法。在天台宗中以圓聞爲十信位之前、觀行五品之初。若廣泛言之,則「名字即」以上之聞法皆可稱爲圓聞。在法華玄義中,則指「觀行即」爲圓聞。
viên vị
5399<一>乃天台宗藏、通、別、圓四教中最高之階位。位位相攝圓融,故稱圓位。止觀輔行傳弘決卷一之二(大四六‧一五一下):「如智者釋位,而引南岳用大品文四十二字,以爲圓位。」 <二>(1118~1190)乃日本雲遊僧。京都人,俗姓佐藤。原仕於鳥羽上皇,上皇愛其才,欲擢升之,師拜辭不受。未久,感於生死無常,乃棄妻遁世。二十三歲於嵯峨落髮,改名圓位,又號西行。行腳四方,以終其生。師雅好和歌,常一簑一笠,飄然悠遊,吟詠以自樂。時人有鄙之爲釋門之賊者,有尊之而奉以奇珍異寶者,師輒恬然自若。建久元年,示寂於京都雙林寺畔,世壽七十三。遺有山家集等行世。〔大日本史卷二二五、扶桑隱逸傳卷三〕
; Thứ vị của Viên giáo. Tùy thứ vị mà thu nhiếp viên dung tất cả—The perfect status, the position of the “perfect” school, perfect unity which embraces all diversity.
viên âm
5403圓妙之聲音,指佛語。楞嚴經卷二(大一九‧一一一上):「願佛哀愍,宣示圓音。」此外,據法華玄義釋籤與唯識論載,此土之眾生耳根較利,釋尊遂依音聲,假立名、句、文等,而宣演大法,稱爲圓音一演;若於諸佛國土,則依光明妙香味等而爲說法。〔大乘起信論、釋摩訶衍論卷一〕
; The all-embracing, perfect voice.
viên đoạn
5416 【圓應錄→】請參閱 永源寂室和尚語錄 請參閱 永源寂室和尚語錄即天台宗所說之「圓教之斷惑」。於天台宗,既了達見思、塵沙、無明等三惑之體無有差別,而遠離與圓妙圓滿、惑智一如之理相違之妄念,是爲圓斷,此係初住以上者之斷惑。
; The Thiên Thai doctrine of the complete cutting off, at one remove, of the three illusions, i.e. kiến tư associated with không, trần sa with giả, vô minh with trung.
; Các nhà Thiên Thai giải thích về đoạn pháp viên giáo của tông Thiên Thai cho rằng “viên đoạn” là sự cắt đứt tức thời tam phiền—The T'ien-T'ai doctrine of the complete cutting off, at one remove, of the three illusions. a) Dùng “Không” để đoạn trừ “kiến tư”: Views and thoughts associated with sunyata (void). b) Dùng “Giả” để đoạn trừ “trần sa”: Delusion of dust and sand associated with unreality. c) Dùng “Trung đạo” để pháp bỏ “vô minh”: Ignorance associated with the middle path. ** For more information, please see Tam Phiền Não.
viên đà đà địa
5402禪林用語。形容物之圓形。略稱圓陀陀。禪家以此形容心體之圓滿無際。碧巖錄第四十三則頌語(大四八‧一八○中):「圓陀陀地,切忌認影,且莫當頭!」〔圓悟佛果禪師語錄卷十五、從容錄第八十五則〕
viên đàn
5414梵語 maṇḍala。音譯曼荼羅。舊譯壇,新譯輪圓具足、圓滿具足。係安置諸尊之壇場,故稱圓壇。大日經疏卷一(大三九‧五八五中):「於薩婆若平等心地畫作諸佛菩薩,乃至二乘八部等四重法界圓壇,此一一本尊身語心印皆是一種差別乘也。」
; Round altar; a complete group of objects of worship, a mandala.
; 1) Đàn tràng hình tròn: Round altar. 2) Mạn Đà La, luân viên cụ túc, hay viên mãn cụ túc, là đàn (bàn thờ) hình tròn để đặt bài vị chư tôn túc: A complete group of objects of worship, a mandala.
viên đạo
The perfect way.
; The perfect way (of the three principles of T'ien-T'ai).
Viên đảnh
(圓頂): đầu tròn; tức là sau khi xuống tóc, hiện ra hình tướng của người xuất gia; tượng trưng cho tướng xa lìa phiền não. Vì vậy, vị tu sĩ xuất gia còn có tên gọi là “viên đảnh phương bào (圓頂方袍, đầu tròn áo vuông).” Thuật ngữ này thường xuất hiện trong các điển tịch Phật Giáo. Như trong Phật Thuyết Mục Liên Ngũ Bách Vấn Kinh Lược Giải (佛說目連五百問經略解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 44, No. 750) quyển Hạ, Phẩm Tam Y Sự (三衣事品) thứ 11, có câu: “Viên đảnh phương bào, danh vi Thích tử Tỳ Kheo (圓頂方袍、名爲釋子比丘, đầu tròn áo vuông, gọi là Thích tử Tỳ Kheo).” Hay trong Nhập Chúng Nhật Dụng (入眾日用, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1246) lại có câu: “Xuất trần ly tục, viên đảnh phương bào (出塵離俗、圓頂方袍, xa lìa trần tục, đầu tròn áo vuông).” Trong Quy Sơn Cảnh Sách Cú Thích Ký (潙山警策句釋記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1240) cũng giải thích rằng: “Tâm hình dị tục giả, ngoại tắc viên đảnh phương bào, tướng đồng Như Lai, nội tắc bội trần hợp giác, tâm tề Phật tuệ (心形異俗者、外則圓頂方袍、相同如來、內則背塵合覺、心齊佛慧, tâm và hình tướng khác với thế tục, [nghĩa là] bên ngoài thì đầu tròn áo vuông, tướng giống đức Như Lai; bên trong thì bỏ đi trần tục hợp với giác ngộ, tâm ngang bằng với trí tuệ đức Phật).” Hay trong Thiền Tông Quyết Nghi Tập (禪宗決疑集, Taishō Vol. 48, No. 2021) lại có đoạn: “Xuất gia giả thoát trần ly tục, viên đảnh phương bào, nhập Thánh siêu phàm, danh vi Tăng bảo (出家者脫塵離俗、圓頂方袍、入聖超凡、名爲僧寶, người xuất gia thoát khỏi trần tục, đầu tròn áo vuông, nhập Thánh siêu phàm, gọi là Tăng bảo).”
viên đầu
5397又作圓頭。禪林中,司掌栽培耕作菜園之職稱。敕修百丈清規卷四列職雜務條謂,園頭須不憚勤苦,以身率先,栽種菜蔬,及時灌溉,供給堂廚,毋令缺乏。〔永平知事清規、黃檗清規、禪林象器箋職位門〕
; 1) Người làm vườn—A gardener. 2) Người trông coi hoa viên nhà chùa, để mang lại vẻ đẹp và rau cải cho tự viện: A head of a monastery-garden, either for pleasure, or for vegetables.
viên đỉnh
5409<一>又稱圓顱。即完成剃髮而呈現出家人之形相。此爲象徵出離煩惱之相。(參閱「聲聞形」6498) <二>清代臨濟宗僧。生卒年、籍貫均不詳。號融徹。自幼出家,在其白德富禪師(1627~1690)門下參學四十餘年。其白德富示寂後,師於康熙二十八年(1689),遷住蟠龍山玉泉寺。有玉泉融徹頂禪師語錄一卷。
viên đốn
5410圓滿頓足之意,即一切圓滿無缺。以圓滿具足之心,立地可達悟界,即可頓速成佛。故有「圓頓一乘」、「圓頓止觀」等名稱出現,此爲天台教義所言。又其圓頓之觀法則稱圓觀。此外,諸宗派中,究極之教或修行,亦稱爲圓頓。〔摩訶止觀卷一上、止觀輔行傳弘決卷一之二〕
; Complete and immediate.
; Tức thì giác ngộ, đạt được ba lý không, giả, trung tức thì và cùng một lúc để đi đến tức thì giác ngộ—Immediate and the whole—Complete and immediate, i.e. to apprehend the three principles of void, unreal, and the middle path at one and the same time or to attain immediate enlightenment.
viên đốn bồ tát
See Viên Đốn Giới.
viên đốn bồ tát đại giới
5412係日本天台宗之圓頓戒。讚歎戒德,故稱圓頓;爲別於聲聞、緣覺之所受者,故稱菩薩;相對於小乘戒,故稱大戒。乃依法華開顯之妙旨,授予梵網經所說之十重四十八輕戒。(參閱「圓頓戒」5411)
viên đốn chương
5412全一篇。係天台智顗於三種止觀中所敘述之圓頓止觀大要。又以其卷頭語而稱爲圓頓者。摩訶止觀卷一上,錄有全文如下(大四六‧一下):「圓頓者,初緣實相,造境即中,無不真實。繫緣法界,一念法界,一色一香,無非中道。己界及佛界、眾生界亦然,陰、入皆如,無苦可捨。無明塵勞即是菩提,無集可斷。邊邪皆中正,無道可修。生死即涅槃,無滅可證。無苦無集,故無世間;無道無滅,故無出世間。純一實相,實相外更無別法。法性寂然名止,寂而常照名觀。雖言初後,無二無別,是名圓頓止觀。」計一三三字。其後或有唱頌此章時,附有湛然止觀輔行傳弘決卷五之三所言(大四六‧二九五下)「當知身土一念三千,故成道時,稱此本理,一身一念,遍於法界」等二十四字者。 本章之內容,初論能觀之止觀,其次論所觀之無作四諦,而各自解釋圓頓之相。圓頓止觀係以淺顯之法門,直接說明徹底證得性德本具之妙理,而悟入佛知見之中。其注釋書極夥,計有傳覺運之止觀勘文、憲深之圓頓者私抄、尊海之圓頓章見聞(天台小部集釋所收)、覺然之圓頓章顯正記等十餘種。〔日本彫刻廣益書籍目錄大全、日蓮宗編纂宗學章疏目錄〕
viên đốn chỉ quán
5411<一>略稱圓頓觀。與「漸次止觀」、「不定止觀」並稱三種止觀。靜止妄念稱「止」,真智通達稱「觀」;由止成觀,由觀資止,兩者互成互輔,故稱止觀。止觀之法凡三種,圓頓止觀即其一。其主旨謂,修止觀之法時,不漸次經歷從淺至深之階段,而由初時即直緣純一之實相;實相之外,更無別法可資體達,稱爲圓頓止觀。此一止觀係法華經所說之觀法,其後天台大師智顗宣說之,章安大師灌頂編集之,稱爲摩訶止觀,凡十卷。〔摩訶止觀卷一上、法華玄義卷十上、止觀輔行傳弘決卷一〕(參閱「止觀」1476) <二>指摩訶止觀一書。以書中要旨乃宣說圓頓止觀之法義,故稱之。(參閱「摩訶止觀」6076)
; See Ma Ha Chỉ Quán.
viên đốn giáo
5411<一>圓教之全名,即指華嚴經圓頓之教。乃天台宗所立教義。據天台宗之判教,華嚴經係化儀之頓教、化法之圓教。維摩經玄疏卷一中分爲圓頓教與次第漸圓教,以華嚴經爲圓頓教,以三藏、方等、般若、法華、涅槃爲漸圓教。〔維摩經玄疏卷一〕 <二>明代民間宗教之一。明熹宗天啟四年(1624)由弓長創立。以「末劫總收圓」爲號召,稱弓長爲天真古佛轉世,尊奉無生老母。入教修行之儀則有十分點杖、十樣真言、十分口訣、三皈五戒等。其教派有三宗五派、九杆十八枝。
; The complete immediate teaching, that of Thiên Thai.
; See Viên Giáo.
viên đốn giới
5411又作大乘圓頓戒、圓頓菩薩戒、一乘圓戒、一乘戒、一心金剛戒、一心戒。或單稱圓戒、大戒。係依法華開顯之精神,採用梵網經中三聚淨戒之作法所傳授之十重四十八輕戒。爲天台大師智顗所主張,而由日本天台宗開祖最澄承其意,並加以擴充,宣揚圓頓大戒,屢奏朝廷,請設立一乘戒壇以便傳授,遭南都僧綱猛烈反對。直至最澄入寂後,始得敕許,於弘仁十年(819),公行圓頓戒授與式。舉行圓頓戒之戒場,稱爲一乘戒壇。此戒法通行於出家眾與在家眾,以利他爲主旨,故其戒體一得永不失,即一度受此戒,則成爲永久止惡修善之原動力而永不喪失。〔菩薩戒義疏卷上、顯戒論、山家學生式〕
; Viên Đốn Bồ Tát—Viên Đốn Vô Tác—Viên Đốn Đại Giới. 1) Bồ Tát Giới của chư Tăng Ni—The commands or prohibitions for Bodhisattvas and monks. 2) Quy luật của tông Thiên Thai, đặc biệt về sự đạt đến giác ngộ tức thì: The rules of the T'ien-T'ai school, especially for attaining immediate enlightenment. ** For more information, please see Nhứt Tâm Kim Cang Bảo Giới, Mười Giới Trọng, and Bốn Mươi Tám Giới Khinh trong Kinh Phạm Võng.
viên đốn nhất thừa
5411言諸法圓滿,於頓極開覺證果之一佛乘之法門。圓,圓融圓滿;頓,頓極頓足。天台宗指法華一乘之法門爲圓頓一乘。蓋法華一乘之法門者,眾生一念具足三千之諸法,是爲圓滿;三千諸法融即於眾生之一念,是爲圓融;故一色一香悉必中道,自他融即,生佛不二。故行者修此法,初後不二,以觀實相,三惑同斷,得三智一心,頓速具足諸法,究極證果,故稱圓頓一乘。又足受圓頓一乘教法之利根凡夫,稱爲圓頓凡夫。此外,如華嚴、密教等亦得稱圓頓一乘。華嚴教義中,諸法一多相即相入,事事無礙,重重無盡,是爲圓之義;於一切攝一切位,信滿成佛,是爲頓之義。於密教中,六大周遍,諸法悉爲大日如來之體德,凡聖皆居毘盧遮那之心內,是爲圓之義;若證得此理,於父母所生之身證得大覺位,是爲頓之義。〔法華玄義卷十下、止觀輔行傳弘決卷一之二〕
; Nhất Thừa Viên Đốn giáo của tông Thiên Thai—The complete immediate vehicle, that of T'ien-T'ai.
viên đốn tông
See Viên Giáo.
viên đốn vô tác
See Viên Đốn Giới.
viên đốn vô tác đại giới
5412即日本天台宗所傳之圓頓戒。圓頓、大戒均屬讚歎戒德之語。無作,新譯作無表,爲戒體之通稱。戒體爲非色非心,住於受者之身中,有防非止惡之功能,決非爲可造作發動之法,故稱無作。(參閱「圓頓戒」5411)
viên đốn đại giới
See Viên Đốn Giới.
viếng
To visit.
Viết
曰; C: yuē; J: etsu; |1. Nói, tuyên bố. Nói rằng; 2. Trình bày với lí lẽ, lí do; 3. Vui lòng để nói.
viết
To write.
viển vông
Dreamy.
viễn
Far, distant, far removed.
; Xa—Distant—Far—Far removed.
viễn công
Zendō (J), Shan-tao (C)Thiền đường, Tiền sảnhGiáo tổ Tịnh độ tông ở Trung quốc.
; Zendo (J). Founder of the Pure Land sect in China. Also Tuệ Viễn.
viễn cảnh
Perspective.
viễn cận
Far and near.
Viễn hành địa
xem Mười địa vị.
viễn hành địa
5940梵語 dūraṃgamā-bhūmi。音譯頭羅迦摩普。爲菩薩十地之第七地。又作深行地、深入地、深遠地。此地之菩薩住於純無相觀,遠出過世間與二乘之有相行,故有此稱。菩薩於此地修行方便善巧波羅蜜,斷細相現行障,證得法無別真如。〔成唯識論卷九〕(參閱「十地」419)
; Durangama-bhŪmi (S), Going-Far-Beyond stage Trong Thập địa.
; Dùramgamà-bhumi (S). The seventh of the Ten Grounds of Bodhisattva.
; Duragama (skt)—Tên địa thứ bảy trong thập địa Bồ Tát, ở địa nầy các vị Bồ Tát vượt rất xa thế gian, vượt ra ngoài tư tưởng tự độ để tiến đến độ tha. Trong giai đoạn nầy vị Bồ Tát rời bỏ thế giới hiện tượng để an trụ trong thuần vô tướng quán—The seventh stage of the bodhisattva, the stage of proceeding afar, getting above ideas of self in order to help others. In this stage, a bodhisatva leaves the world of phenomena and enjoys mystic contemplation.
viễn khiển
Remote control.
viễn khách
Stranger.
viễn kiếp
5940指歷劫久遠。劫,乃劫波(梵 kalpa)之略稱,爲計世界成壞之時量。
viễn kị
5940又作遠年忌、遠關日。忌,指忌日,即人死亡之日。遠忌,指五十回忌以上之較遠之忌日,或指五十年忌以後,每五十年舉行一次者。通常行於一宗之開宗祖師、中興祖師,及寺院之開山者。(參閱「年忌」2420、「忌日」2885)
viễn la thiên phủ
5942凡三卷。日本臨濟宗中興之祖白隱慧鶴(1685~1768)著 。本書乃了解白隱對坐禪態度之重要著作。例如對百丈禪師所說之「一日不作,一日不食」,詮釋爲「不斷坐禪」,認爲諸侯致力於朝覲國務,士人不懈於射御書數,農民努力於耕耘,工匠不怠繩墨斧斤,女子勤於紡績機織,各自堅守一己崗位,即不斷坐禪。
viễn lai
To come from afar.
viễn li
5941謂超越修行佛道之障礙。無爲法之本體爲空,乃脫離有爲法之事相者,故有時亦稱無爲法爲遠離。修行佛道者,首要之務在遠離身、心之罪惡而使其清淨,此稱身遠離、心遠離。 據世親之淨土論所載,菩薩欲遠離進趣菩提之障礙,有三法:(一)遠離我心,不貪著自身,即以智慧門遠離我心之貪執,不求自身之安樂。(二)遠離無安眾生心,即以慈悲門拔除一切眾生之苦,而使其安樂。(三)遠離供養恭敬自身心,即以方便門憐愍一切眾生,遠離供養恭敬自身之心。又般若經等以緣生法遠離自性(無自性),故「遠離」一詞即指空義而言。
; Vivarjana (S). Leave afar off, be far removed; absolute separation of unconditioned reality from the realm of phenomena. Abandoning, abstaining from.
viễn li lạc
5941五種樂之一。爲色界初禪天之樂。即初禪天能遠離欲界之愛染煩惱,而生禪定喜樂。〔華嚴大疏鈔卷十三〕(參閱「五樂」1196)
; The joy of the first dhyàna heaven, in which the defilement of desire is left far behind in mystic contemplation.
viễn li nhất thiết chư phân biệt
Sarvakalpanàvirahitam (S). Free from all forms of discrimination.
viễn li sở duyên
Alambànavigata (S).
viễn ly
Vivarjita (S), Vivajjitta (P), Vivarjana (S), Naiṣkrāmya (S), Nekkhamma (P), Abstainment,Viễn trần, ly cấu.
; Vivrj or Vivarjana (skt)—Xa lìa—Xa lìa hay tách rời thực tánh chân như vô vi khỏi những pháp hữu vi hiện tượng—To leave afar off—To be far removed—Free from—Absolute separation of unconditioned reality from the realm of phenomena.
viễn ly lạc
Niềm an lạc của cõi Sơ Thiền Thiên, trong đó hành giả xa lìa mọi cấu chướng phiền não để an trụ trong thuần vô tướng quán—The joy of the first dhyana heaven, in which the defilement of desire is left far behind in mystic contemplation.
viễn ly nhất thiết chư phân biệt
Sarva-kalpa-nāvirahitam (S), Free from discrimination.
; Sarvakalpanavirahitam (skt)—Tách khỏi mọi phân biệt—Being free from all discrimination.
viễn ly sinh trụ diệt kiến
Thoát khỏi cái kiến giải đặt trên sinh trụ diệt—Freeing oneself from the view of birth, abiding, and disapearance.
viễn ly sở duyên
Ālambanavigata (S).
viễn nhân
5939二因之一,五因之一。據大智度論卷九十六載,因有近因、遠因二種,直接引果之原因,稱爲近因;間接引果之原因,稱爲遠因。如人有我心,爲後身當常樂,而修布施,是爲近因;爲離欲界衰惱不淨之身,而修禪定,是爲遠因。又北本大般涅槃經卷二十一就有爲法之因,舉出生因、和合因、住因、增長因、遠因等五因,其中,如依咒力而脫離傷害、依憑國王而免盜賊之難、依父母之精血而生其身等,即爲遠因。(參閱「二因」193、「五因」1074)
; Remote cause.
viễn phương
Remote (far away) place.
viễn quả
5940「近果」之對稱。又作殘果。指引因所引得之結果。如屍骸、枯木等,俱屬遠果。此等屍骸、枯木等於枯死後猶未頓絕,即由引因之力所致。對此,由業種子所生之身,或種子所生之芽、莖等,即爲近果;業種子及種子等能生近果者,稱爲生因。在十二有支中,對於能引支(無明、行)、所引支(識、名色、六處、觸、受)等七支而言,愛、取、有等(能生支)間隔較近,生、老死二果(所生支)間隔較遠,即爲遠果。又對於生、老死二果而言,愛、取、有三支爲生因,能引支與所引支則爲引因。另有一說,謂近果與遠果相對,正果與殘果相對。即由識種子生識支,更生名色支,識支爲近果,名色支爲遠果;又現在之種子生現在之身,稱爲正果,引死後之枯喪屍骸,則爲殘果。〔成唯識論卷二、成唯識論述記卷三本〕(參閱「引因」1392、「近果」3519)
viễn quốc giới đàn
5941指設立於邊遠地方之授戒壇。又作邊國戒壇。爲「中國戒壇」之對稱。佛所制定之戒律,廣行於各地後,因風俗習慣不同,邊地之住民受持戒律多有不便,遂有中國、邊國之區分,於各種規定設有輕重緩急之差別。據十誦律卷二十五載,南方白木聚落、西方婆羅門聚落,北方優尸羅山麓蒲泉薩羅樹、東方婆羅聚落伽郎、東北方竹河等地,限內爲中國,以外即稱邊國。 又據大唐西域記卷上載,睹貨邏國以南、濫波國以北之地,冬末春初時,霖雨相繼,於其時行夏安居,即屬隨時而設教之例。 日本於奈良朝時代有戒壇之設置,以東大寺爲中國戒壇,下野之藥師寺、筑前之觀音寺爲邊國戒壇;此即便利邊遠地方居民之受戒,契合戒律有中國與邊國之古制者。
viễn sư
Tức ngài Tuệ Viễn, một vị sư nổi tiếng của Trung Quốc về đời nhà Đường—Hui-Yuan, a noted monk during the T'ang dynasty.
viễn sư nhị giáo
5941指隋代淨影寺慧遠之教判。即將如來一代聖教判爲漸教與頓教:(一)漸教,對須經長時修行方始覺悟者,所設具有三乘之教。(二)頓教,對能頓悟佛道之根機,直說大乘之教。〔華嚴經疏卷一〕(參閱「二教」211)
viễn thông
Telecommunication.
viễn thị
Far-sighted.
viễn triêm diệu đạo
5940又作遠霑妙道。指佛陀示寂後,眾生於去佛遙遠之末世中聽聞法華經,而沾受恩惠。法華文句記卷一上(大三四‧一五七中):「故從序至正於得脫者,故云開示悟入;降此之外,餘皆種熟,故未脫者,益在流通,故云遠霑妙道。」
viễn trần
Xem Viễn ly.
viễn trần li cấu
5941梵語 viraja vītamala,巴利語同。即遠離塵垢。塵垢,爲煩惱之總名,然此處係指八十八使之見惑(見道所斷之惑)而言。斷八十八使之見惑而得正見,稱爲「遠塵離垢,得法眼淨」。此係二乘初果與菩薩初地所得之益,而多就小乘初果見四真諦之理而言。離垢而得之清淨法眼,稱爲離垢眼。維摩經佛國品(大一四‧五三九上):「三萬二千天及人,知有爲法皆悉無常,遠塵離垢,得法眼淨。」註維摩詰經卷一對此加以說明,謂法眼淨指須陀洹道;始見道跡,故得法眼之名。〔雜阿含經卷五、長阿含經卷二、法華經妙莊嚴王品〕
; Naiskramya (S). To be far removed from the dust and defilement of the world.
viễn trần ly cấu
Xa lìa trần cấu (trần cấu là tên chung của phiền não. Viễn trần ly cấu là xa lìa khỏi mọi cấu chướng của phiền não, đạt được pháp nhãn tịnh của bậc sơ địa bồ tát hay sơ quả nhị thừa)—To be far removed from the dust and defilement of the world.
viễn tượng
View—Prospect.
viễn ảnh
Outlook.
việc
Affair—Business—Work.
việc bất thiện
Unwholesome actions—Unwholesome deeds.
việc gia đình
Family affair.
việc hằng ngày
Everyday work (affair).
việc làm
Deeds.
việc lành
Punya (S). Good deed.
việc phải
Good deed.
việc thiện
Wholesome actions—Wholesome deeds.
việc từ thiện
Benefaction.
việc ác do nghiệp lực
như người sanh trong gia đình đồ tể, đánh cá, thợ săn... do nghiệp ấy mà tiếp tục làm việc giết hại để mưu sanh, rồi sự giết hại đó lại tiếp tục dẫn đến quả xấu ác trong tương lai.
việc ác do quả báo
như người tạo nghiệp phải sanh làm thân súc sanh, như hổ, báo... lại do quả báo đó mà chỉ có một cách sống duy nhất là phải giết hại các loài chúng sanh khác; rồi do việc ác giết hại này lại tiếp tục phải chịu quả báo xấu ác trong tương lai.
việc đã làm
Past actions (deeds).
việc đã rồi
Accomplished fact.
việc đời
Secular responsibilities.
viện
4337於一定區域所規劃之建築物。唐時對官舍寺宇皆用此稱呼,如翻經院、戒壇院、禪院、律院、書院等。翻經院之名早為玄奘譯場所用。有關院之梵語有二:(一)ārāma,音譯作阿羅摩,意指園,然歷來皆訛譯為院。(二)paryāṇa,音譯作波衍那,意指周邊、周圍,較接近院之原語。蓋院有周垣、垣牆之義,然稱院不若稱伽藍適切。後世常以寺為總號,院為寺中別舍之號。如唐之慈恩寺有翻經院。〔釋氏要覽卷上、翻譯名義集卷二十、玄應音義卷十六、慧苑音義卷下〕
; 1) Tự viện: Arama (skt)—Monastery—Hall—Court—Institute—Chamber. 2) Viện trợ: To aid—To assist—To help.
Viện Chính
(院政, Insei): hình thái chính trị mà Thượng Hoàng hay Pháp Hoàng thi hành chính trị ở tại Viện Sảnh (院廳). Hình thái này do Bạch Hà Thiên Hoàng (白河天皇, Shirakawa Tennō, tại vị 1072-1086) định ra, và về mặt danh mục thì nó được kéo dài cho đến thời Quang Cách Thiên Hoàng (光格天皇, Kōkaku Tennō, tại vị 1779-1817) của cuối thời đại Giang Hộ (江戸, Edo), nhưng trên thực tế thì chỉ kéo dài khoảng 250 năm, đến thời kỳ của Hậu Vũ Đa Thiên Hoàng (後宇多天皇, Gouda Tennō, tại vị 1274-1287) thuộc cuối thời Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) mà thôi.
viện chủ
4337又作寺主、住持。禪家監事之舊名。今之監事,古稱院主或寺主,後又稱住持為院主,故改稱原有之院主為監事。今稱院主則為住持之意。〔釋氏要覽卷下、續高僧傳卷十九〕
; Ở Trung Quốc, viện chủ là chủ nhiệm một tòa nhà trong Tòng lâm, ở dưới quyền Trụ trì.
; Còn gọi là Tự Chủ, xưa gọi là Giám Sự trong chùa. Bây giờ viện chủ dùng để gọi vị Tăng trụ trì trong chùa—The abbot of a monastery.
viện chứng
To supply (bring forward as) proofs.
viện cớ
To allege as pretext.
viện dẫn
To adduce (bring forward as) proof—To cite—To refer.
Viện Gia
(院家, Inge): từ ám chỉ các Tăng Ni xuất gia vốn xuất thân dòng dõi Thân Vương hay quý tộc; đặc biệt từ này còn chỉ cho ngôi chùa nơi các vị này ở. Nó cũng được dùng đồng nghĩa với từ Môn Tích (門跡, monzeki), nhưng đến cuối thời Trung Đại thì từ này có ý nghĩa là những ngôi tự viện mà có nguồn gốc cũng như cách thức kế sau Môn Tích. Nguyên lai từ Viện (院) có nghĩa là tòa kiến trúc có hàng rào chắn chung quanh ngôi Viện trong khuôn viên chùa có Chánh Điện, đường xá, cùng các tài sản khác, thì cũng giống như trường hợp ngôi Thiền Viện ở Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji) của Đạo Chiêu (道昭, Dōshō) phát triển thành nơi trú ngục của các vị Tăng có thế lực ở trong chùa. Trường hợp ngự thất của Vũ Đa Thiên Hoàng (宇多天皇, Uda Tennō), vị vua xuất gia sống ở Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), cũng gọi là Viện, và những người đi theo xuất gia với Thiên Hoàng được gọi là Viện Gia. Vào cuối thời Bình An, phong trào xuất gia của hàng Thân Vương và quý tộc càng lúc càng thịnh hành, đặc biệt vào thời kỳ Viện Chính (院政), Thanh Liên Viện (青蓮院), Viên Dung Viện (圓融院), Diệu Pháp Viện (妙法院) ở Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji), rồi Nhất Thừa Viện (一乘院), Đại Thừa Viện (大乘院) ở Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji), giành được địa vị Môn Tích Tự Viện; cho nên hàng con cháu của lớp quyền môn thế gia xuất gia nhập tự, được gọi là Viện Gia hay Viện Gia Chúng. Viện Gia là xưng hiệu của các vị Tăng có địa vị thân phận cao, chứ không phải là phàm Tăng, và cũng có trường hợp từ Viện Gia thăng tiến lên Môn Tích. Dưới thời đại Thất Đinh, trường hợp Viện Gia của sơn môn Diên Lịch Tự, bên cạnh 3 ngôi Viện như đã liệt kê ở trên, tiếp theo còn có An Cư Viện (安居院), Thạch Tuyền Viện (石泉院), Tỳ Sa Môn Đường (毘沙門堂), Tôn Thắng Viện (尊勝院), v.v. Về phía Chơn Ngôn Tông, Tam Bảo Viện (三寶院), Lý Tánh Viện (理性院) ở Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji) được nâng lên thành Viện Gia. Các Viện Gia này không nhận phàm Tăng đến tu, chỉ cho con cháu thuộc dòng dõi quý tốc vào tu để tương truyền, giữ gìn các ngôi đưỡng vũ cũng như tài sản của Viện. Tuy nhiên, đối với trường hợp Chơn Tông, vào năm 1559, Hiển Như (顯如, Kennyo) được cho phép gọi chùa ông là Thế Tập Môn Tích (世襲門跡); rồi đến năm sau, thể theo sắc lịnh của Cung Tôn Trợ Pháp Thân Vương (宮尊助法親王) ở Thanh Liên Viện, 9 ngôi chùa trong đó có Thường Lạc Tự (常樂寺) ở vùng Đại Hòa (大和, Yamato), Giáo Hành Tự (敎行寺) ở Nhiếp Tân (攝津, Settsu), được công nhận vào hàng Viện Gia, và chế độ bổ trợ Viện Gia cho các chùa Môn Tích được thành lập.
viện gia
4337日本佛教用語。為日本寺格名稱之一。屬於門跡寺(皇子、貴族等出家後所住特定寺院之稱),而處理本寺法務之別院。日本宇多天皇(第五十九代天皇)於昌泰二年(899)落髮後,居住於仁和寺御室,仁和寺乃被稱為御門跡,此為「門跡」稱號之始。當時隨從天皇出家之皇族稱為院家眾,此乃院家之起源。其後,凡親王出家,而繼承其法系之寺院,皆稱為院家。此外,具有相當規模之寺院而附屬於天台宗、真言宗等門跡,亦稱院家。於淨土真宗,在顯如光佐之時,敕許世襲門跡,故九個支派之寺院均定有院家之稱號。近代已一般化變成寺格之專稱。(參閱「門跡」3606)
Viện Hiệu
(院號, Ingō): (1) Là xưng hiệu của Thái Thượng Hoàng. Vào năm 823 (Hoằng Nhân [弘仁] 14), sau khi Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō, tại vị 809-823) nhượng vị, lần đầu tiên ông lấy nơi mình ở mà đặt tên thành Tha Nga Viện (嵯峨院). Trường hợp hai vị Thiên Hoàng Lãnh Tuyền (冷泉, Reizei, tại vị 967-969) và Viên Dung (圓融, Enyū, tại vị 969-984) trong lúc sinh tiền cũng đặt cho mình Viện Hiệu là Lãnh Tuyền Viện (冷泉院) và Châu Tước Viện (朱雀院). (2) Là truy hiện của Thiên Hoàng. Từ thời Lãnh Tuyền Thiên Hoàng trở đi, sau khi Thiên Hoàng nhường ngôi vị thì thường dùng Viện Hiệu theo tên gọi nơi mình trú ngụ làm truy hiệu của vị Thiên Hoàng đó. Hơn nữa, từ thời Hậu Nhất Điều Thiên Hoàng (後一條天皇, Goichijō Tennō, tại vị 1016-1036) trở về sau, cũng có thông lệ ban Viện Hiệu cho các Thiên Hoàng đang tại vị mà qua đời. (3) Là xưng hiệu của Nữ Viện. Trường hợp này được khởi đầu từ thân mẫu của Nhất Điều Thiên Hoàng (一條天皇, Ichijō Tennō, tại vị 986-1011) là Hoàng Thái Hậu Đằng Nguyên Thuyên Tử (藤原詮子, Fujiwara-no-Senshi), được ban cho Viện Hiệu là Đông Tam Điều Viện (東三條院) vào năm 991 (Chánh Lịch [正曆] 2). Tiếp theo, sau thời Thượng Đông Môn Viện (上東門院, tức bà Đằng Nguyên ảnh Tử [藤原彰子, Fujiwara-no-Shōshi]), thường phần nhiều lấy mệnh danh theo môn hiệu Cung Thành (宮城, Miyagi) mà thôi. Còn ở Tiền Đông Cung (前東宮) thì chỉ có một trường hợp duy nhất được ban cho Viện Hiệu là Tiểu Nhất Điều Viện (小一條院), tức Đông Cung Hoàng Tử Đôn Minh Thân Vương (敦明親王, Atsuakira Shinnō), con của Hậu Nhất Điều Thiên Hoàng. (4) Là xưng hiệu của Pháp Danh, Giới Danh của những vị quan Nhiếp Chính, Tướng Quân. Tỷ dụ như trường hợp Pháp Hưng Viện (法興院) của quan Nhiếp Chính Đằng Nguyên Kiêm Gia (藤原兼家, Fujiwara-no-Kaneie); hay Đẳng Trì Viện (等持院) của Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji), v.v. Đây là tên gọi của các ngôi tự viện trong lúc sinh tiền họ đã từng góp công rất lớn trong việc kiến lập, tu tạo. Sau này, dù chẳng liên quan đến việc góp công kiến lập chùa chiền gì cả, hàng thứ dân bình thường cũng bắt đầu thêm chữ Viện vào nơi giới danh của họ.
viện hiệu
4337<一>寺院之別稱。有獨立之堂舍;也有附屬大寺院之堂舍。前者如唐代桂琛之漳州羅漢院、宋代汾陽太子院;後者如唐玄奘所建之大慈恩寺翻經院。現代臺灣佛教界,亦有以院稱寺者,如臺北市弘法院、觀音禪院,汐止之彌勒內院等。 <二>日本佛教用語。係於法名之上所加贈之尊號。其起源乃日本嵯峨天皇讓位後,時人以嵯峨院尊稱之。至後世,則演變為不獨天皇所專用,皇后、親王、攝家、將軍、大名,乃至於一般武士均有加贈院號之情形。
viện hóa đạo
Institute for the Propagation of the Dharma. Viện trưởng Viện Hóa Đạo: Head of the Institute for the Propagation of the Dharma.
viện lý
To bring forward arguments.
viện lẽ
See Viện Cớ.
viện nội đạo hành tạp tác y
4337三衣中安陀會之異名。安陀會為五條衣,乃袈裟中之最下者,惟獨居院內或行道時著用,入聚隨眾時不得穿著,故稱為院內道行雜作衣。(參閱「三衣」551)
viện tôn
4337<一>(?~1198)日本佛像雕刻師。活躍於藤原末期至鎌倉初期之院派代表。乃奈良東大、福興兩寺之復興者。據記載知其曾任權要之職位。 <二>日本台密十三流中院尊流之祖。名公因。曾於比叡山師事皇慶阿闍梨,受谷流之密教,後別開一派。著有聖行決。寂年不詳。
viện tăng thống
The Sangha Council. Tăng thống: Supreme Patriarch of the Sangha Council.
viện tế bần
Hospice.
việt
To step over, pass over, surpass, exceed; similar to siêu, with which it is often connected.
; 1) Bước qua: To step over—To pass over. 2) Vượt qua: To exceed. 3) Siêu việt: To surpass.
việt châu càn phong
EsshŪ Kempō (J)Tên một vị sư.
việt dã
Cross-country.
việt hỉ tam muội
The samàdhi of Yasodharà, wife of prince Siddharta and mother of Rahula, which causes all kinds of joy to self and others.
việt hỷ tam muội
Còn gọi là Siêu Hỷ Tam Muội, tam muội của bà Da Du Đà La (vợ của Thái Tử Tất Đạt Đa và mẹ của La Hầu La). Dựa vào tam muội nầy mà sinh ra các loại vui mừng không có gì có thể so sánh được cho mình và cho người—Samdhi of Yasodhara, wife of Sakyamuni and mother of Rahula, which causes all kinds of joys to self and others.
việt khê thốn khiêm
Ekkei shuken (J)Tên một vị sư.
việt nam
Vighna (S). A very rich person in Benares but mean.
việt nam phật giáo
5278越南(Vietnam)地處中南半島諸國之最東,爲熱帶國家,面積約爲臺灣九倍,人口爲臺灣三倍,於東南亞諸國,僅有越南自古受中國文化薰陶,且傳入大乘佛法,餘如緬甸、高棉、泰國、寮國等,均係由錫蘭(今斯里蘭卡)傳入之上座部佛教。越南,北接中國滇、粵,西鄰高棉、寮國,東面與南面瀕臨南海,國土呈S狀之狹長形。在中國秦代時,將越南之河內納入版圖,時稱象郡,漢武帝改爲交趾郡,西晉時越南稱交州,唐代則設安南都護府,惟當時之越南,僅指今北越而言。 將佛教傳入越南者,相傳爲二世紀末之道教徒牟子,惟考其年代,不無可疑。較可信者,爲梁高僧傳卷一所載,康僧會(三世紀)曾因父經商而移居交趾,彼時越南已有人出家,且有三藏教典。至第八世紀頃,越南受印度影響甚鉅,大唐西域求法高僧傳即載有明遠、僧伽跋摩、曇潤、慧命等經印度抵交趾之事蹟;此外,同書亦載有交趾出身之僧人運期、解脫天、窺沖、慧琰等。西元二世紀至十世紀可謂爲越南佛教之傳入期,十世紀末至十四世紀末爲發展期,其間有丁朝之丁先皇於西元九七一年定文武僧三道品階。其後黎朝繼起,帝黎桓遣使入宋乞請大藏經等。一○一○年,李朝王統繼起後,越南佛教進入黃金時代,是時頗受宋朝影響,或迎三藏教典,或倣宋制,以考試百姓而度爲僧,並設立戒場以傳授戒法,李朝第三主聖宗(1054~1072 在位)甚且被形容爲印度之阿育王。其後第四主仁宗、第六主英宗、第七主高宗皆爲崇信佛法且大力護持佛教之君王。計李朝八主凡二百一十五年,先後興建興天御寺、五鳳星樓、勝嚴寺、天王寺、崇度報天寺、永隆聖福寺、真教寺等諸多名剎,然至第八主惠宗(1211~1224 在位)時國勢衰頹至極,帝乃退位出家,號「惠光大師」。代李朝者爲陳朝(1225~1400),凡一百七十五年十二主,亦採保護佛教政策,惟至末期則漸有限制佛教之舉,如規定僧人未滿五十歲者一律參加考試。十五世紀以後,正值明代大興儒學,越南亦大量傳入儒學,宗教方面則道教、喇嘛教日盛,正統佛教遂漸衰頹,代之而起者爲儒釋道三教融合之新局面,大抵王室側重儒學,民間則對佛教保有相當信仰。十九世紀末期,法國佔有越南,由於法國殖民政府支持天主教,頒布各種限制佛教發展之法令,越南佛教因之極度衰頹;此一頹勢,直至二十世紀越南佛教展開復興運動之後始漸復甦。 大抵而言,越南佛教之特色,可謂是中國南方禪宗之支系,於義學方面,無何發展。約可歸納爲毘尼多流支、無言通、草堂等禪宗三大法統。毘尼多流支爲中國禪宗三祖僧璨之弟子,約六世紀末抵越弘法;無言通自謂得法於百丈懷海,約與溈山同時(九世紀前半);草堂禪師爲中國人,於李朝第三主聖宗時代,行化至占城之際,被視作囚兵俘至越南。至十七世紀時,越南禪宗一時絕跡,頓由淨土宗取代,新成立竹林蓮宗,以阿彌陀佛爲信仰中心,乃至成爲以後北越佛教之主流。越南古來盛行之佛典,除漢文經典外,有倣漢字而製之「字喃文字」(陳朝時代),字喃文字之佛典有金剛經國音、法華國語經、阿彌陀經演義等。今羅馬拼音十分普及,字喃幾不再使用。 二十世紀以來,越南佛教振興運動蓬勃發展,一九三一年,「南圻佛學研究會」首先創立於西貢,其後中越、北越相繼成立佛學會。共同致力於復興禪宗、培養佛教青年,倡用越語代替以往所用漢文,並陸續出版各種越文譯本之佛教經典及雜誌。第二次世界大戰雖使此運動一度停頓,戰後,越南獨立,佛教復趨重振。一九四九年開始,於素蓮、智海大師領導下,重修寺院、整頓制度、創辦佛學院,並確立體制嚴格而全盤統籌之佛學院制度,此外又推動恢復翻譯、著作、出版等佛教文化工作,並設立慈善機構等。一九五○年,中越、北越成立聯合性之新佛學會,致力於統一佛教、普及教理等。一九五四年,日內瓦協定將越南分裂爲二,北越與南越佛教之統一發展因而被阻。於北越,以胡志明爲首之共黨政權下,宗教活動遭受全面扼殺。於南越,則爲吳廷琰之共和政府,主張堅決反共、宗教自由、民主選舉等,惟因吳廷琰及其家族逐漸專權,政府漸趨腐敗,政策措施亦走向軍事警察之體制,用以鎮壓民眾日漸激烈之抗議行動。一九六三年,佛教徒挺身而出,抵抗無理之鎮壓,彈劾政府之獨裁腐敗,於軍警鎮壓下,犧牲生命之佛教徒爲數眾多,其中甚而有當街自焚之僧侶,及其他表示強烈不滿之慘烈行動,形成長達十個月之激烈鬥爭,導致當時業已時機成熟之軍事政變爆發,推翻吳廷琰之獨裁政權。未久,即爲楊文明、阮高棋等軍事集團之交互爭權執政,其間,越南十一個佛教會在西貢舍利寺統合爲一個「統一佛教教會」,對政府進行長期而嚴厲之批判,同時各宗派之新興教團亦極力發展組織,推動弘法活動。 自二十世紀中葉至淪陷爲止,越南人民約百分之八十爲佛教徒,然部分舊信仰者未必爲正信之佛弟子;至於新佛教運動者以中越、北越爲多,而推動此一新興佛教運動者,即爲越南佛教總會。總會之下,包括南越僧伽教會、南越佛學會、越中僧伽教會、北越駐南部之僧伽教會、中部駐南部佛教會、越南佛教會(即北越駐南部者)。除繼續以往之佛教事業外,並設立佛學堂,保送僧人出國,利用傳播媒體,積極擴展會務,宣揚佛陀正法,對內教育訓練,對外醫濟貧病。其中,南越佛學會所建之舍利寺,已成爲當時越南佛教之領導中心。 一九六七年,軍人出身之阮文紹被選爲總統,其時越共對越南之攻勢愈形擴大。一九七二年阮文紹宣布終止全國村莊對民意代表之選舉權,民情譁然,局勢混亂,加上美國國內反戰情緒高昂,一九七三年最後一批駐越之美軍奉調回國,越共旋即傾其全力攻入南越。一九七五年西貢淪亡,整個越南佛教亦隨之瓦解,越南僧侶逃亡世界各地,與數十萬難民同其命運。〔大唐西域求法高僧傳、禪苑傳燈輯錄卷上、三祖實錄、三教通考、古珠法雲佛本行語錄、安南志略、大越史記、大南實錄、越南佛教史略(聖嚴)、越南之佛教(慧海,現代佛教學術叢刊(83))、佛教史年表(望月信亨)、南方佛教四樣態(龍山章正)〕
việt nan
Xem Duy để nan.
việt sử
Vietnamese history.
việt tam giới bồ tát
The Bodhisattva who has surpassed the three realms (desire, form, formless)
việt tam muội da tội
5277如來之本誓稱三昧耶;違越如來本誓之罪,稱爲越三昧耶罪。即犯扱取祕密教義之罪。又作越法罪。係密宗所立三種重罪之一。如未受灌頂者,私誦真言;或恣意以祕法授予未灌頂者,或示其灌頂道場之狀。此皆違越如來之誓願,故犯越三昧耶罪。又大日經疏卷九謂,菩薩犯如下諸行時,亦越三昧耶法,即:(一)於眾生諸法中,作種種不平等見。(二)於其平等誓中,作種種限量之心。(三)其所作,皆隨順世間名利,而不爲大事因緣。(四)放逸懈怠,不能警悟其心。〔大日經卷四、卷十四、大日經疏卷二十〕
Việt Tiền
(越前, Echizen): tên gọi của một tiểu quốc ngày xưa, nay thuộc Fukui-ken (福井縣).
Việt Trung
(越中, Ecchū): tên gọi của một tiểu quốc ngày xưa, nay thuộc Toyama-ken (富山縣).
việt tội
Exceeding sin, or transgression of the law, particularly of esoteric law or monastic vows.
; Gọi tắt của Việt Tỳ Ni Tội, hay là tội vượt qua Tỳ Ni Pháp Giới—Exceeding sin, or transgression of the law, particularly of esoteric law or monastic vows.
Việt ấm
(樾蔭): bóng mát của cây, tức ám chỉ sự che chở, giúp đỡ của người khác dành cho mình. Như trong bài thơ Du Bắc Sơn (游北山) của Vương An Thạch (王安石, 1021-1086) nhà Tống có câu: “Khách tọa đài văn hoạt, tăng miên việt ấm thanh (客坐苔紋滑、僧眠樾蔭清, khách ngồi rêu thảm nhẵn, tăng ngủ bóng mát dim).” Hay trong hồi thứ 99 của Hồng Lâu Mộng (紅樓夢) lại có câu: “Tuy cách trùng dương, thượng thao việt ấm (雖隔重洋、尚叨樾蔭, tuy cách trùng dương, còn được che chở).”
vo
1) To wash rice. 2) To roll (trun—Tuck) up (one's sleeves). 3) To roll into a ball (vo tròn).
voi
Dantī (S), Elephant.
Voi chúa giữa loài người
(Nhân trung tượng vương): Cách nói tỷ dụ để tôn xưng những bậc cao quý nhất. Vì voi chúa là oai dũng nhất trong loài voi, nên dùng hình ảnh voi chúa giữa loài người để biểu thị sự oai dũng, mạnh mẽ và cao quý nhất.
vong
Mithya (skt)—False—Untrue—Erroneous—Gone—Lost—Dead.
vong bản
To forget one's origin.
vong danh
728<一>北魏僧。生卒年不詳。從學於洛陽道辯法師。博通經論,辯才無礙,兼富文藻,以負才傲俗,其師道辯聞而杖之。其後,亡名遷徙於黃龍,對師非但毫無恨意,且晨夕遙禮不輟。〔續高僧傳卷六〕 <二>北周僧。生卒年不詳。南郡(湖北)人,俗姓宗(或謂姓宋)。出身望族,年少即事佛而遠絕妻室,富於才華。初事梁元帝(552~554 在位),於梁亡之後出家,投於四川兌禪師門下。北周武帝(561~577 在位)敕為「夏州三藏」。著有息心銘、至道論、淳德論、遣執論、去是非論、修空論等,及文集十卷。〔續高僧傳卷七〕 <三>唐代僧。生卒年不詳。住於汾州(山西汾陽)大乘寺,立志捨身。貞觀(627~649)末年,先斷絕穀食,至期,由道俗眾等送至西山,放身懸崖下,坐地入寂。 <四>唐代僧。生卒年不詳。住漢州(四川廣漢)開化寺。行持精進,屢見靈瑞應現,乃發誓捨身。一夕見菩薩乘五色雲而下,寺內地屋皆變琉璃色,眾皆歎賞。〔宋高僧傳卷二十一〕 <五>唐代僧。生卒年不詳。鄧州(河南鄧縣)人。日食雉鳩兩隻,食畢盥漱時,雙鳩復從口出,飛行自在,人人稱奇。由是因緣,世稱南陽雉鳩和尚。〔宋高僧傳卷二十一〕 <六>唐代僧。生卒年不詳。住褒城西之中梁山寺,奇行異跡甚多。以綱紀處理僧務,人稱興元上座。德高望重,遠近歸信。貞觀年中示寂,世壽約八、九十歲。〔宋高僧傳卷二十一〕
vong giả
Người chết—The dead.
vong hồn
The soul of the dead—Wandering soul.
vong khước
To forget.
vong ký
See Vong Khước.
vong linh
The spirit of the dead person.
vong mạng
To risk (venture) one's life.
Vong ngôn
(忘言): quên lời, nghĩa là trong tâm lãnh hội ý chỉ, không cần dùng đến ngôn ngữ để giải thích, thuyết minh. Như trong Trang Tử (莊子), phần Ngoại Vật (外物), có câu: “Ngôn giả sở dĩ tại ý, đắc ý nhi vong ngôn (言者所以在意、得意而忘言, lời nói vốn ở nơi ý, được ý mà quên lời).” Hay trong bài Khổ Tư Hành (苦思行) của Tào Thực (曹植, 192-232) nhà Ngụy thời Tam Quốc có đoạn: “Trung hữu kì niên nhất ẩn sĩ, tu phát giai hạo nhiên, sách trượng tùng ngã du, giáo ngã yếu vong ngôn (中有耆年一隱士、鬚髮皆皓然、策杖從我遊、敎我要忘言, trong đó có một ẩn sĩ tuổi già, râu tóc đều trắng xóa, cầm gậy theo tôi rong chơi, dạy tôi nên quên lời).” Trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 16, phần Tam Huyền Khảo (三玄考), lại có đoạn: “Nhất cú minh minh cai vạn tượng, Trùng Dương cửu nhật cúc hoa tân, nhược vị vong ngôn, nan khế thử chỉ (一句明明該萬象、重陽九日菊花新、若未忘言、難契此旨, một câu sáng trong trùm vạn tượng, Trùng Dương mồng chín cúc hoa xinh, nếu chưa quên lời, khó hiểu được ý này).” Hoặc trong Chư Phương Môn Nhân Tham Vấn Ngữ Lục (諸方門人參問語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1224) cũng có đoạn: “Tùy cơ thọ pháp, Tam Học tuy thù, đắc ý vong ngôn, Nhất Thừa hà dị (隨機授法、三學雖殊、得意忘言、一乘何異, tùy theo cơ duyên mà truyền trao pháp, Ba Học [Giới, Định, Tuệ] tuy có khác, được ý quên lời, Một Thừa đâu có khác).”
vong ngũ chúng vật
727指五眾死亡後之遺物。五眾即比丘、比丘尼、沙彌、沙彌尼、式叉摩那,就此五眾之遺物而分輕重,三衣等之輕物分與現前之僧眾,金銀、田園等之重物則歸為常住。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷下一〕
vong ngưu tồn nhân
2885為十牛圖之第七圖所表示之境界。十牛圖乃宋代廓庵師遠藉「牧牛」之十階段表示修行過程之十種次第,並附上序、頌以評唱之。其第七階段即「忘牛存人」,係比喻修行到達圓熟、物我一如、無事安閑之境地。乃藉牧牛人既已歸家,自然忘卻手中之牛,比喻主觀之「人」和客觀之「牛」無有對立之境界。 十牛圖頌忘牛存人序七(卍續一一三‧四六○上):「法無二法,牛且為宗,喻蹄兔之異名,顯筌魚之差別。如金出鑛,似月離雲,一道寒光,威音劫外。頌曰:騎牛已得到家山,牛也空兮人也閑;紅日三竿猶作夢,鞭繩空頓草堂間。」(參閱「十牛圖」403)
vong nhân
The dead.
vong niên
1) A long time ago (friends). 2) To forget one's age.
vong thị phi luận
728全一卷。隋代僧曇遷(542~607)撰。本書無單行本,唐代智儼編集之華嚴經孔目章卷四收錄其全文(大正藏第四十五冊),續高僧傳卷十八曇遷傳亦收錄一部分。曇遷為大乘攝論學者,又崇尚老莊之學,本書即其闡論泯絕是非對立之超然境界。此類超越是非之論說,為佛教所本有,然與莊子齊物論「萬物齊同」之思想仍有密切之關聯。智儼收錄本書,概將亡是非論視為華嚴宗「隨順性起」之同類思想;由是,則吾人可自莊子齊物論,經由「亡是非論」,至華嚴思想,而略窺彼等思想演進之脈絡。
vong tăng sách mệnh
729禪宗公案名。鹽官齊安會下有一主事僧將死,鬼使來索其命時,僧告曰(卍續一四八‧一二一下):「身為主事,未暇修行,乞容七日。」至七日後,鬼使來覓僧,已不見。後有人舉此事問一僧:「若來時,如何擬抵他?」洞山代答:「被他覓得也」。洞山之意,謂任鬼使捕捉,即該死時不逃隱,乃為真道人之道。〔禪苑蒙求卷中〕
vong ân
Ungrateful—Unthankful—Thankless—To show ingratitude.
vu cáo
Vu báng—To accuse falsely.
vu giáo nhị đế
3276指「於之二諦」與「教之二諦」。係三論宗嘉祥大師吉藏所創之說。歷來諸經論與各家所說之真俗二諦,有二種、三種、四重、六重等分別,吉藏總攝諸說而歸納爲於教二諦。「於」爲「所依」,「教」爲「能依」。亦即諸佛所依之二諦爲「於之二諦」,諸佛爲眾生所說之法爲「教之二諦」。六塵之境界爲於之二諦,乃如來說法之所依。同樣之六塵境界,凡夫見之,視爲實有,稱爲「於俗諦」;聖者灼鑑,知其爲空,稱爲「於真諦」。又如來依此六塵而說真空妙有。稱爲「教俗諦」;超越言語思慮而宣說無所得之理,稱爲「教真諦」。大乘玄論卷一(大四五‧一五上):「能依是教諦,所依是於諦。」〔二諦義卷上〕(參閱「二諦」244)
vu hồi
3020為「直往」之對稱。古來學者論究學習密法之根機時,常用此語表示修行者所採取輾轉漸進之修行過程與方法。此語尚有不同之說法,有謂若行者之根機雖不堪入身、語、意三密之妙行,然仍可期以真言之果,故以之表示於顯教之修行漸漸昇進之行者,但此說多不被採用;或謂迂迴一語僅指從顯入密之根機。
vu lan bồn
3453梵名 Ullambana 之音譯。爲漢語系佛教地區,根據盂蘭盆經而於每年農曆七月十五日舉行超度歷代宗親之儀式。又作烏藍婆拏。意譯作倒懸。又稱盂蘭盆會、盆會。乃梵語 avalambana(倒懸)之轉訛語,比喻亡者之苦,有如倒懸,痛苦之極。玄應音義卷十三、翻譯名義集卷九、釋氏要覽卷下,及盂蘭盆經略疏等均謂,「盂蘭盆」一詞,原爲音譯之訛,蓋「盆」係梵語 bana 之音,而非如法苑珠林卷六十二所引大盆淨土經之言,謂「俱以七寶盆鉢施與佛及僧」之「盆鉢」,然歷代誤援其義者則不乏其例。初於唐代慧淨之盂蘭盆經贊述中,即謂置珍饈美味於盆中,以奉佛施僧而救倒懸之苦;宗密之盂蘭盆經疏卷下則謂「盂蘭」即倒懸之義,「盆」則爲救護之器,故以盂蘭盆釋爲「救倒懸、解痛苦」之義;此一說法,後世多採之。又據宋代遇榮之盂蘭盆經疏孝衡鈔卷上載,盂蘭盆經之經題,意譯爲覺者說救倒懸器經,盆字爲訛略語,舊譯盆佐那,新譯門佐羅、門佐曩,即救器。蓋「門佐曩」爲梵語 muñcana 之音譯,乃巴利語 muccana 及梵語 mocana 之轉訛語,然「門佐曩」有「救護」之意而無「器皿」之意,故遇榮之說亦有訛誤。 盂蘭盆之起源極早,印度兩大史詩之一的摩訶婆羅多(梵 Mahābhārata)第一大章之第十三章、第十四章,及第四十五章至第四十八章等之中,皆有關於盂蘭盆之敘述。又摩奴法典第九章、摩訶婆羅多第一大章之第七十四章等,其中皆有梵語 putra(子息)語源之說明,謂男兒必須拯救(梵 trayate)墮於地獄(pun)之父之義。因印度古來即相信無子嗣者於死後必墮入惡處,故婆羅門於二十歲修業圓滿後,遂歸家娶妻生子,以祭祀祖先之靈。 據盂蘭盆經所載,佛弟子目連以天眼通見其母墮在餓鬼道,皮骨相連,日夜苦悶相續;目連見已,以鉢盛飯,往餉其母,然其母以惡業受報之故,飯食皆變爲火炎。目連爲拯救其母脫離此苦,乃向佛陀請示解救之法。佛陀遂指示目連於七月十五日僧自恣日(印度雨季期間,僧眾結夏安居三個月,此日乃安居結束之日),以百味飲食置於盂蘭盆中以供養三寶,能蒙無量功德,得救七世父母。盂蘭盆經(大一六‧七七九下):「是佛弟子修孝順者,應念念中常憶父母供養,乃至七世父母,年年七月十五日常以孝順慈憶所生父母,乃至七世父母,爲作盂蘭盆,施佛及僧,以報父母長養慈愛之恩。」另據大盆淨土經載,瓶沙王、須達居士、末利夫人等依目連之法,造五百金盆供養佛及眾僧,以滅除七世父母之罪業。 我國最早行盂蘭盆會者傳爲梁武帝,據佛祖統紀卷三十七載,大同四年(538) 武帝曾至同泰寺設盂蘭盆齋。又釋氏六帖卷四十五載,梁武帝每逢七月十五日,即以盆普施諸寺。其後蔚成風氣,歷代帝王臣民多行此會,以報父母、祖先恩德。據法苑珠林卷六十二祭祠篇、佛祖統紀卷五十一等載,唐代諸帝如代宗、德宗等皆極重視盂蘭盆供。另據大宋僧史略卷中內道場條載,代宗將過去施盆於寺之儀式改設於宮內,供奉更莊嚴之器物。至於民間行盂蘭盆會之盛況,如日僧圓仁之入唐求法巡禮行記卷四會昌四年(844)條所載,長安諸寺在七月十五日供養,作花蠟、花餅、假花等爭奇鬥艷,並於佛殿前鋪設供養,全城士庶巡寺隨喜,競修功德。又據盂蘭盆經疏序載,僧眾亦循例於是日各出己財,造盆供養三寶。 宋代盂蘭盆之風習依舊,然盆供之富麗莊嚴與供養佛僧之情形漸減,而形成薦亡之行事。據東京夢華錄卷八中元節條載,是日焚燒冥錢,衣服,並上演目連救母雜劇等。高承於事物紀原一書中,指責當時之盆會已失供養佛僧之意。又據南宋吳自牧之夢梁錄卷四載,僧寺於七月十五日設盂蘭盆會,集施主之財米等而爲之行薦亡儀式。因知其後盂蘭盆會已成爲寺院中每年重要行事之一。據勅修百丈清規卷七節臘章月分須知條及幻住庵清規載,盆會之內容僅限於諷經施食而已。明代袾宏於正訛集中,指出世人以該日施食鬼神爲盂蘭盆會之非。清代儀潤欲綜合諸說,乃謂宜於白日奉蘭盆以供養三寶,而於夜間普度鬼神。然諸寺院遵行者不多,而民間一般仍多以薦亡度鬼爲主。此外,在盂蘭盆會中所設之齋食供養,稱盂蘭盆齋;供佛僧之百味飲食、百種器具,稱盂蘭盆供;後世多以瓜、果、麵、餅、茶、飯等,供養餓鬼。 日本則於推古天皇十四年(606)起,諸寺於四月八日及七月十五日有設齋之行事。齊明天皇三年(657),始設盂蘭盆會,因與祖先崇拜之民俗相融,故其後即盛行於朝野,至今不輟。因供奉亡靈,故亦稱魂祭、靈祭、精靈祭、精靈會。又行盆會爲除亡者之苦患,而淨土真宗亦以之爲追善、追福之修法,乃稱歡喜會。 現今於七月十五日,僧院循例舉行盂蘭盆會,在諷經施食之外,並有供僧大會,近年臺灣佛教界更醞釀訂定該日爲僧寶節。此日亦爲民間所謂之中元節,於民間之信仰,盛傳此日地獄門大開、釋放餓鬼之說,故民間多於此日屠殺牲畜,備辦飲食,宴請諸餓鬼,亦請道士誦經超度,稱爲中元普度;蓋世人多以爲於此日備辦諸妙好食品宴請餓鬼,可消災免難,保佑平安順利。然以佛教戒殺之立場觀之,如此作法非但不能獲益,反造貪瞋殺業,故其意義、果報實與佛教之盂蘭盆迥異。〔慧琳音義卷三十四、釋氏通鑑卷九、盂蘭盆經折中疏(靈耀)、百丈清規證義記卷八(儀潤)、老學庵筆記卷七(陸游)、元亨釋書卷二十、卷二十二〕
; Ullambana (S)Đảo huyềnUllambana là 'đảo huyền', chỉ nổi khổ bị treo ngược ở địa ngục. Để cứu vong linh thân nhân thoát cảnh khổ này, thân quyến chuẩn bị lễ vật cúng tế rằm tháng bảy để cầu siêu.
; Ullambana (S). All Soul's Day. Also Lễ Vu lan, Cứu đảo huyền.
; Ullambana (skt)—Ô Lam Bà Noa. 1) Đảo Huyền hay treo ngược. Những vong nhân bị treo ngược thật vô cùng khổ sở trong địa ngục: May be another form of Lambana, or Avalamba, meaning “hanging down,” “depending,” “support.” It is interpreted as “To hang upside down,” or “to be in suspense,” referring to extreme suffering in purgatory. 2) Vào ngày 15 tháng bảy âm lịch—Ullambana Basins—The 15th day of the 7th month Lunar calendar—Lễ Vu Lan—Lễ Giải Đảo Huyên. Lễ Xá Tội Vong Nhân. Xuất xứ của ngày lễ này là từ chuyện Mục Liên cứu mẹ. Nhờ thiên nhãn thông mà Mục Liên biết mẹ đang đọa làm ngạ quỷ nên muốn tìm cách cứu mẹ, nhưng ông không biết cách. Mục Liên bèn tìm hỏi Phật. Phật nói rằng chỉ có sự phối hợp của chư Tăng mới có thể giúp mẹ ông giải thoát. Từ truyền thống nầy mới có lệ cúng dường thực phẩm và áo quần lên chư Tăng Ni trong ngày Vu Lan—Festival of the hungry ghosts, celebrated on the fifteenth day of the seventh month lunar calendar. The origin of this ceremony is to be found in the story of Maudgalyayana, who thanks to his divine eye saw that his mother had been reborn as a hungry ghost, and he wanted to save her; however, he didn't know what to do. He went back to ask the Buddha the way to save his mother. The Buddha told him that only the combined effort of all Buddhist monks could help her escape her fate. From this tradition, developed the custom of offering food, clothes and so on to the clergy on Ullambana.
Vu Lan Bồn Kinh
(s: Ulambanasūtra, j: Urabonkyō, 盂蘭盆經): còn gọi là Vu Lan Kinh (盂蘭經), 1 quyển, tương truyền do Trúc Pháp Hộ (竺法護, ?-?) nhà Tây Tấn dịch, thuộc kinh điển bộ Phương Đẳng, được thâu vào trong Taishō quyển 16. Kinh này thuyết về công đức bố thí kết hợp với việc cúng dường cho ông bà tổ tiên đã quá vãng, cho nên rất được xem trọng ở những đất nước có tinh thần hiếu đạo sâu xa như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, v.v. Nội dung kinh cho biết rằng tôn giả Mục Liên (s: Maudgalyāyana, p: Moggallāna, 目連) phát hiện mẹ mình sau khi chết bị đọa xuống thế giới ngạ quỷ rất đau khổ, bèn vâng lời Phật dạy nhân ngày rằm tháng 7, ngày chư tăng hành lễ Tự Tứ sau ba tháng An Cư kiết hạ, tiến hành bố thí cúng dường các thức ăn vật uống, nhờ công đức đó mà mẹ tôn giả được cứu độ thoát khỏi cảnh khổ của địa ngục. Hội Vu Lan Bồn là pháp sự được hình thành trên cơ sở của kinh này. Sách chú thích về kinh này có Vu Lan Bồn Kinh Sớ (盂蘭盆經疏), 2 quyển rất nổi tiếng, của Khuê Phong Tông Mật (圭峰宗密, 780-841); Phật Thuyết Vu Lan Bồn Kinh Tân Sớ (佛說盂蘭盆經新疏) 1 quyển của Ngẫu Ích Trí Húc (蕅益智旭, 1599-1655); Vu Lan Bồn Kinh Sớ Hội Cổ Thông Kim Ký (盂蘭盆經疏會古通今記) 2 quyển, do Phổ Quán (普觀) nhà Tống thuật; Vu Lan Bồn Kinh Sớ Hiếu Hành Sao Khoa (盂蘭盆經疏孝衡鈔科) 1 quyển, của Ngộ Vinh (遇榮) nhà Tống; Vu Lan Bồn Kinh Sớ Sao Dư Nghĩa (盂蘭盆經疏鈔餘義) 1 quyển, do Nhật Tân (日新) nhà Tống sao lục; Vu Lan Bồn Kinh Lược Sớ (盂蘭盆經略疏) 1 quyển, của (元奇) nhà Thanh; Vu Lan Bồn Kinh Sớ Chiết Trung Sớ (盂蘭盆經疏折中疏) 1 quyển, của Linh Diệu (靈耀) nhà Thanh, v.v.
vu lan bồn kinh
3454梵名 Ullambana-sūtra。全一卷。西晉竺法護譯。又稱盂蘭經。屬方等部經典。收於大正藏第十六冊。內容記述佛陀之大弟子目連,因不忍其母墮餓鬼道受倒懸之苦,乃問法於佛,佛示之於七月十五日眾僧自恣日,用百味飯食五菓等供養十方佛僧,即可令其母脫離苦難。依本經之說所行之盂蘭盆會,已普遍流行於我國民間,而有益於民間之孝行。宗密之盂蘭盆經疏,即強調本經特具孝子報恩之思想,與調和中國人倫與佛教間關係之性質。 本經之同本異譯經爲報恩奉盆經,譯者不詳,又稱報像功德經。又法苑珠林卷六十二所述之大盆淨土經,或亦爲異本。此外,歷代三寶紀卷六、武周刊定眾經目錄卷九、開元釋教錄卷二等皆載本經之譯者爲西晉竺法護;然或謂本經爲偽作,指其內容與翻傳等無不有待商榷,出三藏記集卷四即記載本經譯者不詳。蓋「倒懸之苦」印度自古即信之,未可遽斷本經爲偽;若自經文揣摩,並與異本相較,則經文中可能有若干釋者所附加之語句。本經之註疏頗多,較著者有吉藏之盂蘭盆經疏一卷、慧淨之盂蘭盆經贊述一卷、宗密之盂蘭盆經疏二卷、智旭之盂蘭盆經新疏一卷、元奇之盂蘭盆經略疏一卷、高辨之盂蘭盆經總釋一卷等,計六十餘種。〔開元釋教錄卷三〕
; Ullambana-sùtra (S)
vu lan bồn phú
3456唐代楊炯撰。描述則天武后於如意元年(792)將盂蘭盆分送佛寺之情形。內容共八六七字。首段敘述當日天氣、場所,及自宮中引送盂蘭盆之壯麗景象。第二段描繪南門之前整列的近衛兵,及「三公」以下之百官靜默並立,乃至則天武后臨御,舉行盛大法會。第三段讚武后之善政。第四段則敘述夕陽西下,法會結束時,武后乘輿入宮。 文中所歌頌之事實,鮮爲其他史書所傳,然該文仍可作爲當時宮廷佛教之參考史料。著者楊炯,華陰(陝西華縣)人,自幼聰明博學,善巧文章,與王勃、盧照鄰、駱賓王共稱初唐四傑。
Vu Lan hay Vu Lan Bồn
(盂蘭盆, Urabon): âm dịch của tiếng tục ngữ Ấn Độ ullambana, được xem như là viết sai của từ avalambana, ý là đảo huyền (倒懸, treo ngược), là nghi thức cúng bái được tiến hành nhằm để cứu độ cái khổ bị treo ngược. Bên cạnh đó, cũng có thuyết cho rằng từ Vu Lan Bồn vốn phát xuất từ nguyên ngữ ullambana (cứu độ), nhưng cả hai thuyết trên không có xác chứng rõ ràng. Gần đây có thuyết cho rằng nó phát xuất từ ngôn ngữ cũng như nghi lễ nông canh của trung ương Châu Á. Theo Vu Lan Bồn Kinh (s: Ulambanasūtra, 盂蘭盆經), mẹ của Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana, p: Moggallāna, 目犍連), đệ tử của đức Phật, lúc sanh tiền tạo nhiều tội nghiệp, sau khi chết sanh vào đường Ngạ Quỷ, không ăn được, chịu rất nhiều nỗi khổ. Vì vậy, để giải thoát nỗi khổ này, đức Phật đã dạy Mục Kiền Liên thiết trai cúng dường chúng tăng trăm vị thức ăn vật uống nhân ngày Tự Tứ, rằm tháng 7, và thiết lễ cúng thí thực Ngạ Quỷ, cho nên nhờ công đức đó mà cái khổ trong đường Ngạ Quỷ của cha mẹ bảy đời cũng như cũng như cái khổ của cha mẹ đời sau cũng được tiêu trừ. Từ truyền thuyết này, lễ hội Vu Lan ra đời. Nó được truyền từ Trung Quốc sang Nhật Bản và phổ cập trong tầng lớp thứ dân đương thời. Lễ hội này kết hợp tư tưởng bố thí và Tự Tứ (s: pravāraṇā, p: pavāraṇā, 自恣) của chư tăng trong Phật Giáo với tư tưởng hiếu đạo và Trung Nguyên của Trung Quốc, để hình thành nên Phật sự cúng dường tổ tiên không thể thiếu được. Hội Vu Lan Bồn còn được gọi là Bồn Hội (盆會), Hoan Hỷ Hội (歡喜會), Hồn Tế (魂祭), v.v. Vào ngày rằm tháng 7 âm lịch, người ta dựng một cái Nhà Vong Linh, rồi triệu thỉnh các vong linh của ông bà tổ tiên đã qua đời về tại đó và cung thỉnh chư tăng đến tụng kinh cầu nguyện. Trong khoảng thời gian này, trai chủ cúng dường trai phạn vật phẩm cho chúng tăng để tích lũy công đức và hồi hướng lên cho ông bà tổ tiên mình. Phát xuất từ tâm tư mỗi năm vào dịp lễ hội Vu Lan này muốn cho ông bà được ở lâu với mình hơn nữa, người ta kéo dài kỳ hạn ra thêm, dài nhất là từ ngày 13 cho đến 16 tháng 7, nhưng trọn tháng 7 được xem như là tháng Vu Lan Bồn. Ở vùng nông thôn, do vì có liên quan đến mùa vụ cho nên thời gian tổ chức lễ hội này trễ hơn đến ngày rằm tháng 8. Tháng 7 âm lịch gặp tiết mùa Thu, cho nên nguyên lai lễ Hội Vu Lan Bồn là Phật sự mùa Thu. Theo ký lục xưa nhất như Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀) cho thấy rằng ở Trung Quốc lễ hội này được tiến hành đầu tiên vào năm 538 (năm thứ 4 niên hiệu Đại Đồng [大同]). Lúc bấy giờ, vua Lương Võ Đế thân chinh thiết lễ cúng dường trai tăng Vu Lan Bồn tại Đồng Thái Tự (同泰寺). Bên cạnh đó, trong Kinh Sở Tuế Thời Ký (荆楚歲時記) do Tông Lẫm (宗懍, khoảng 501-565) nhà Lương thời Nam Triều soạn, cũng có ghi rằng: “Thất nguyệt thập ngũ nhật, tăng ni đạo tục tất doanh bồn cúng chư Phật (七月十五日、僧尼道俗悉營盆供諸佛, vào ngày rằm tháng bảy, chư tăng ni và tín đồ tại gia đều chuẩn bị Vu Lan Bồn để dâng cúng chư Phật).” Tại Nhật Bản là năm 606 (năm thứ 14 niên hiệu Suy Cổ [推古]). Vào tháng 4 năm này, cũng như mỗi năm vào ngày mồng 8 tháng 4 và rằm tháng 7, Suy Cổ Thiên Hoàng (推古天皇, Suiko Tennō, tại vị 592-628) có thiết trai cúng dường. Đến năm thứ 3 (657) đời Tề Minh Thiên Hoàng (齊明天皇, Saimei Tennō, tại vị 655-661), nhà vua cho dựng tượng Tu Di Sơn (須彌山) ở Phi Điểu Tự (飛鳥寺, Asuka-dera), thiết lập Vu Lan Bồn Hội cúng dường; rồi đến ngày rằm tháng 7 năm 659 thì cho tiến hành thuyết giảng Vu Lan Bồn Kinh tại các ngôi chùa trong kinh đô để hồi hướng công đức cho cha mẹ bảy đời. Vào tháng 7 năm thứ 5 (733) niên hiệu Thiên Bình (天平) đời vua Thánh Võ Thiên Hoàng (聖武天皇, Shōmu Tennō, tại vị 724-749), nhà vua cho thiết lập chức quan Đại Thiện (大膳) để lo việc cúng dường thức ăn trong lễ hội Vu Lan Bồn; từ đó, lễ hội này trở thành Phật sự thông lệ trong cung nội, được quy định tổ chức vào ngày 14 tháng 7 âm lịch hằng năm với tên gọi là Vu Lan Bồn Cúng (盂蘭盆供). Đến thời Nại Lương (奈良, Nara, 710-794), Bình An (平安, Heian, 794-1185), lễ hội được công khai tổ chức vào ngày rằm tháng 7. Và đến thời Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333) thì Thí Ngạ Quỷ Hội (施餓鬼會, Segakie, tức Lễ Cúng Thí Thực, Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn) được kết hợp tiến hành trong dịp Vu Lan Bồn. Từ đó trở về sau, lễ Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn thường được tiến hành song song với lễ hội trọng đại này.
vu pháp khai
726晉代僧。為晉代般若學六家七宗中「識含宗」之代表人物。其生年、籍貫均不詳。師事于法蘭,敏睿善辯,以數術弘教。精通放光般若與法華,又精醫術,多有奇驗。後住白山靈鷲寺,每與支遁論即色空義,士夫和之,聳動一時。晉哀帝時,累召至京師,講放光般若,凡舊學、抱疑者,莫不因之得釋。講畢,還東山。謝安等均與交遊,師高明剛簡,嘗謂「明六度以除四魔之病,調九候以療風寒之疾。」以此自利利人,為時人所崇。年六十寂於所住處。〔梁高僧傳卷四〕
; Yu Fa-k'ai (C).
vu pháp lan
726晉代僧。高陽(河北蠡縣)人。少有異操,十五歲出家,以精勤為業,冠年即名流四遠。性好山泉,常居長安山寺,與竺法護同隱,後移居石城山足。時人以其風力媲美庾元規,孫綽之道賢論則以之比阮嗣宗。師嘗歎曰(大五○‧三五○上):「大法雖興,經道多闕,若一聞圓教,夕死可也。」乃遠適西域,欲求異聞。至交州,罹患重疾,卒於象林。〔梁高僧傳卷四、漢魏兩晉南北朝佛教史第七章(湯用彤)〕
vu sư
2873指在原始社會被認為具有超自然力,並能藉此力而行巫術者。其職能在早期乃靠幻想之超自然力保護氏族、牲畜、農作物不受惡鬼加害,驅趕作祟致病之妖邪,故受到普遍愛戴與尊重。隨著神權主義之擡頭,巫師之權力逐漸增長,地位日重。至中世紀,某些國家則視之為通鬼魔、施妖法以害人者,歐洲基督教國家常於出現黑死病或其他自然災害時,指為女巫作法所致,而大舉殺害涉嫌之無辜者。我國漢武帝時亦有巫蠱之禍,造成皇室骨肉相殘之悲劇。現今某些民族中仍有巫師存在。
vu thuật
2873為準宗教現象之一。起源於早期原始社會。乃幻想依靠超自然力或特定之主觀行動,以影響或控制客觀之事物。此一階段之社會,已具備超自然力之觀念,但不以客體為崇拜對象,亦未涉及神靈觀念,為介於法術與宗教間者。各種宗教產生後,在部分宗教中仍有巫術之存在。
vu vơ
Groundless—Vague—Baseless.
vu vạ
See Vu Cáo.
vu điền
727梵名 Ku-stana。西域古王國。又作于填、于殿、于遁、谿丹。位於新疆西部,即今和闐(Khotan)之地。西元三世紀前後稱為瞿薩旦那(意譯地乳),印度人則稱屈丹,自古即為印度、波斯、中國間之貿易途徑,亦為東西文化之要衝。據大唐西域記卷十二載,此國大半為沙磧,氣候和暢,盛產寶玉及多種礦、植物,人性溫恭,崇尚佛法,初行小乘,至西元五世紀初,盛行大乘佛教,凡傳入中國之經典,十之八九須經此地,乃西域諸國中與我國最親善者。西晉太康七年(286),此地之沙門祇多蜜齎來光讚般若經;東晉之世,支法領於此地得六十華嚴之梵本;北涼時,曇無讖於此得大般涅槃經,沮渠京聲得禪法要解、禪祕要治病經;蕭齊之時,法獻於此得觀世音懺悔除罪咒經;梁太清二年(548),此地之沙門求那跋陀齎來勝天王般若經;至唐代,實叉難陀亦齎來八十華嚴等經。 十一世紀回教徒入侵後,佛教即告衰頹;加上天災等禍害,昔日莊嚴盛大之寺院、佛塔悉已埋入沙土中,逮近時中央亞細亞之探險,始發掘此地之佛教遺跡與珍貴史料。此地語言屬伊朗語系之于闐語,在敦煌千佛洞即發現以此種語言所書寫之佛教經典,現存有金剛般若經、金光明經、大乘無量壽經(無量壽宗要經)、一百五十頌般若波羅蜜多經等。又此地亦發現以印度俗語寫成之古寫本,其文字有月氏時代之梵書,古代之佉盧虱吒文字。〔洛陽伽藍記卷五、開元釋教錄卷九、後漢書西域傳第七十八、五代史四夷附錄第三、古今圖書集成邊裔典第十五、T. watters:On Yunn Chwang, vol. Ⅱ;R. Hoernle: Manuscript Remains of Buddhist Literature, vol. I〕
; Khotan (S)Tên một xứ đầu kỷ nguyên.
vu đạo thuý
727晉代僧。為晉代般若學六家七宗中「緣會宗」之代表人物。敦煌人。自幼即孤,年十六出家,師事于法蘭。當時大德竺法護常稱師高簡雅素,可為大法棟樑。後與于法蘭俱過江,謝慶緒大加推重,士夫爭與締交。性好山澤,多遊履江東名山。為人不屑毀譽,善方藥,美書札,工醫方,精通義學,洞諳殊俗,尤巧談論。後隨于法蘭赴西域,於交阯罹疾而終,享年三十一。〔弘明集喻道論、梁高僧傳卷四〕
vu đạo thúy
Yu Tao-sui (C).
Vu-lan-bồn hội
盂蘭盆會; S: ullambana; là cách dịch theo âm, dịch nghĩa là Cứu đảo huyền (救倒懸), tức là »Cứu nạn treo ngược«, cứu »những oan hồn bị treo ngược dưới địa ngục«;|Một lễ hội cúng các cô hồn, Ngạ quỷ nhằm ngày rằm tháng bảy. Trong ngày này, các quỷ đói dưới Ðịa ngục (Lục đạo) được cúng dường thức ăn, bánh trái, giấy tiền vàng bạc, quần áo, v.v. để họ được giảm khổ đau. Lễ này được tổ chức lần đầu tiên năm 538 tại Trung Quốc và vẫn được tổ chức hàng năm tại các nước Ðông Á như Trung Quốc, Việt Nam.|Nguồn gốc của lễ này xuất phát từ Mục-kiền-liên. Tôn giả nhờ Thiên nhãn thông (Lục thông) thấy được mẹ mình tái sinh làm ngạ quỷ dưới địa ngục và đau xót muốn cứu bà. Ðức Phật bảo là chỉ có sự hỗ trợ của toàn thể Tỉ-khâu trong Tăng-già mới giảm đau cho họ được. Từ đây xuất phát ra truyền thống cúng ngày rằm tháng bảy, nhằm ngày chư tăng làm lễ tự tứ sau ba tháng an cư, và người ta tin rằng, lễ cúng này giải thoát khổ đau cho thân quyến bảy đời trước của người cúng. Sự phối hợp giữa giáo lí Từ bi và truyền thống thờ Tổ tiên tại Trung Quốc là một trong những yếu tố chính để cho lễ cúng này được lưu truyền đến ngày nay (Phóng diệm khẩu).
vua a dục
See King Asoka.
vua a xà thế
See Ajatasatru.
vua ba tư nặc
King Prasenajit.
vua các bài hát
Geyarājan (S), King of songs.
vua của loài a tu la
Balī (S)Ba TrĩTên một vị thiên.
vua trời đao lợi
Cakra-deva-Indra (skt)—Được coi như là Đấng Tối Cao trong Cơ Đốc. Ông trị vì cung trời thứ nhì, thứ nhất và Ta bà thế giới—Trayastrimcas Heaven's King—He is considered the God Almighty in Christianity. He is the ruler of the second level of heaven, first level heaven and earth.
vua tần bà sa la
See Bimbisara.
vui
Merry—Happy—Joyful—Glad—Gay—Lively—Pleasant. Những lời Phật dạy về Vui trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Pleasant” in the Dharmapada Sutra: 1) Gặp bạn xa lâu ngày là vui, sung túc phải lúc là vui, mệnh chung có được thiện nghiệp là vui, lìa hết thống khổ là vui—It is pleasant to have friends when need arises. Enjoyment is pleasant when shared with one another. Merit is pleasant when life is at its end. Shunning of (giving up) all evil is pleasant (Dharmapada 331). 2) Được kính dưỡng mẹ hiền là vui, kính dưỡng thân phụ là vui, kính dưỡng sa-môn là vui, kính dưỡng Thánh nhơn là vui—To revere the mother is pleasant; to revere the father is pleasant; to revere the monks is pleasant; to revere the sages is pleasant (Dharmapada 332). 3) Già vẫn sống đức hạnh là vui, thành tựu chánh tín là vui, đầy đủ trí tuệ là vui, không làm điều ác là vui—To be virtue until old age is pleasant; to have steadfast faith is pleasant; to attain wisdom is pleasant; not to do evil is pleasant (Dharmapada 333).
vui buồn
Joyous and sad.
vui chơi
To anuse (enjoy) oneself.
vui dạ
Satisfied—Content.
vui hưởng
To enjoy.
vui lòng
Satisfied—Content—Glad.
vui mắt
Pleasant to the eyes.
vui mừng
Joyful—Pleased—Full of joy.
vui sướng
Happy.
vui tai
Pleasant to the ears.
vui thích
Happy—Glad.
vui tánh
Cheerful—Joyful—Gay.
vui tính
See Vui tánh.
vui tươi
gay—Cheerful.
vui vẻ
See Vui.
vui đùa
To entertain (amuse) oneself.
vun
To earth up a tree.
vun bón
To fertilize.
vun trồng
To cultivate.
vun tưới
To earth and to water.
vun đắp
See Vun.
vung
Cover—Lid (of a pot).
vung tay
To stretch one's arms.
vuï
1) Business—Affair. 2) Crop—Harvest (vụ mùa). 3) Spinning top (con vụ). 4) Case—Lawsuit (vụ kiện).
vuông
Xem Phương.
; Square.
vuông vắn
Perfectly square.
vuốt
To stroke (one's hair or face).
vuốt ve
To caress.
vuột
To break free—To lose—To escape.
vuột tay
To slip from one's fingers.
vài
Some—Few—A few.
vàm
Mouth of a river.
vàng
1) Yellow. 2) Gold.
vàng anh
Oriole.
vàng bạc
Gold and silver.
vàng diêm-phù-đàn
phiên âm từ Phạn ngữ là jambunadasuvarṇa, là tên loại vàng quý nhất có màu vàng tía, được lấy từ đáy một con sông chảy dưới rừng cây diêm-phù nên gọi tên là diêm-phù-đàn.
vàng mười
Pure gold.
vàng nén
Ingot gold.
vàng ròng
See Vàng Mười.
vàng ròng sắc tía
tử ma kim hay tử ma hoàng kim, là loại vàng ròng tinh luyện được xem là quý nhất, màu chói sáng có ửng sắc đỏ tía.
vàng thiệt không sợ lửa
Real (genuine) gold does not melt away in (fear) fire.
vàng tía
Purple-gold Vàng ở cõi Diêm phù.
vàng vàng
Yellowish.
vàng y
See Vàng Mười.
vàng ở cõi diêm phù đàn
JambŪ gold.
vào cảnh giới cao siêu thâm mật của như lai
To enter into the lofty and esoteric realms of the Tathtagata.
vào khoảng
Approximate—About.
vào trí văn thù
To penetrate the wisdom of Manjusri.
vác
To carry (bear) on the shoulder.
vái
To bow with joined hands.
vân
Abhra (S), Cloud Mây, một trong 12 loại hiển sắc mắt thường có thể thấy được.
; Megha (S). Cloud, cloudy, abundant.
; 1) Mây: Megha (skt)—Cloud—Clouds covering the sun—Spreading clouds. 2) Nhiều: Vân tập—Abundant. 3) Nói: To say—To speak.
vân am khắc văn thiền sư ngữ lục
5347凡六卷。又作雲菴真淨禪師語錄、真淨大師語錄。宋代真淨克文(1025~1102)撰,法深、福深編錄。有兩種,分別收於卍續藏第一一八冊古尊宿語錄卷四十二至卷四十五及第一二○冊。然兩書所收互有出入,收於一一八冊者較爲完備,內容係集錄真淨住筠州聖壽、洞山、金陵報寧、廬山歸宗、寶峰禪院等處之語錄、偈頌,並附錄王安石之請疏、蘇轍之序等;收於一二○冊者則係請疏、雲菴真淨和尚行狀、祭文、真讚、手帖、跋等,可視爲前者之補遺。
Vân biền
(雲騈): có hai nghĩa khác nhau. (1) Loại cỗ xe của tiên nhân trong truyền thuyết. Như trong bài Hoa Dương Tiên Sinh Đăng Lâu Bất Phục Hạ Tặng Trình (華陽先生登樓不復下贈呈) của Thẩm Ước (沉約, 441-513) của nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Vân biền bất triển địa, tiên cư đa lệ tiều (雲騈不展地、仙居多麗譙, xe mây chẳng chấm đất, cõi tiên nhiều lầu xinh).” Hay như trong bài tựa Dong Thành Tập Tiên Lục (墉城集仙錄) của Đỗ Quang Đình (杜光庭, 850-933) nhà Tiền Thục có đoạn: “Hoặc vi chân nhân chi hữu, hoặc vi Thiên Đế chi tân, thúc hốt nhi long giá lai nghênh, tham sai nhi vân biền hà mại (或爲眞人之友、或爲天帝之賓、倏忽而龍駕來迎、參差而雲騈遐邁, hoặc là bạn của chân nhân, hoặc là khách của Thiên Đế, bỗng chốc mà xe rồng đến đón, dần dần mà xe tiên xa tít).” (2) Mây lành tụ tập. Như trong Lễ Xá Lợi Tháp Nghi Thức (禮舍利塔儀式, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1491) có câu: “Đại địa chúng sơn kỳ thắng xứ, Đỉnh Hồ tú xuất bảo liên phong, vân biền thọ vũ phù đồ hiện, vạn cổ thư quang phước Việt trung (大地眾山奇勝處、鼎湖秀出寶蓮峰、雲騈樹舞浮圖現、萬古舒光福粵中, đại địa núi non kỳ lạ chốn, Đỉnh Hồ xuất hiện báu non sen, mây vờn cây múa chùa tháp hiện, vạn cổ sáng ngời đất Việt trong).”
vân biện
5349宋代臨濟宗僧。生卒年不詳。平江府(江蘇)人。從福建之瑞峰章出家,復參學於穹窿圓,後嗣圓悟克勤之法。嘗住平江府,大舉弘化。〔嘉泰普燈錄卷十五、五燈會元卷十九、五燈全書卷四十三〕
Vân bản
雲版; J: umpan;|Một tấm bản bằng đồng dùng để báo hiệu từng khoảng thời gian trong ngày của một Thiền viện. Chữ »Vân« được dùng vì tấm bản này thường được viền trang trí xung quanh với dạng mây.|Những dụng cụ tạo âm thanh như vân bản được dùng để thay thế khẩu lệnh trong thời gian Toạ thiền căng thẳng. Âm thanh của vân bản hoặc một chuông đồng có một tác dụng lớn cho một thiền sinh, tuỳ theo tâm trạng của họ. Trong một thiền viện im lặng, tiếng vang của vân bản có thể đi »sâu đến tận tuỷ«, và cũng có thể là một yếu tố để cho các thiền sinh Kiến tính, ngộ đạo.
vân bản
5332爲禪門中報粥飯時刻等,用以擊打之器具。又作雲板、大版。掛於庫裏、齋堂之前。以其版(板)形如雲,故稱雲版。而於早、午飯前,連打雲版三十六響,稱爲長版;此時眾僧即可取下鉢盂至規定之處集合,故又稱爲「下鉢版」。〔瑩山清規卷上日中行事第一、禪林象器箋唄器門〕
; Umban (J), Umpan (J).
; A sort of cloud-shaped gong, struck to indicate the hour.
; Tấm ván đúc theo hình mây, dùng để báo giờ hay tin tức trong tự viện—A sort of cloud-shaped gong, struck to indicate the hour or to announce news in a monastery.
vân chúng thủy chúng
Du Tăng bạn lữ, có nghĩa là áo sãi mây nước hay hành giả vân du đây đó, xem tất cả đều là bạn lữ—Brothers or men of the clouds and waters, fellow monks.
vân chương nhất khánh
5346(1386~1463)日本臨濟宗僧。號寶清老人,爲一條兼良之兄。師事於東福寺岐陽方秀,精研禪要,通達宋學,於日本文化亦頗具學養,曾對五山之僧講述百丈清規。著有雲桃抄,爲抄物之代表作品,乃弟子桃源瑞仙所筆錄。寬正四年示寂,世壽七十八。敕諡「弘宗禪師」。
vân cái chí ngung
Yung kai Chih yung (C)Tên một vị sư.
vân cái sơn
5348位於湖南長沙善化縣西約三十五公里處,洞庭湖之南。楊岐派之祖方會禪師晚年嘗住此,志元(圓淨禪師)、志罕、證覺景等亦曾住此山。〔大明一統志卷六十三、大清一統志卷二七六〕
vân cư
5329<一>(?~902)唐代僧。世稱雲居道膺禪師。幽州(河北)薊門玉田人,俗姓王。幼伶俐,年二十五,於范陽(河北涿縣)延壽寺受具足戒。初修小乘戒律,後參學於京兆終南山翠微寺無學。又參洞山良价,並嗣其法。一日,洞山問(大五一‧三三五上):「大闡提人殺父、害母、出佛身血、破和合僧;如是,種種孝養何在?」師答「始得孝養」,洞山因而許之爲門下弟子中之領袖。師初住三峰庵,後入洪州(江西)雲居山,宣揚大法,住三十餘年,道遍天下,徒眾多至一千五百人。天復二年一月三日示寂。敕諡「弘覺禪師」。〔祖堂集卷八、宋高僧傳卷十二〕 <二>唐代末年時之牛頭宗僧。生卒年不詳。從學於佛窟惟則,並嗣其法。嘗住於台州(浙江)天台山雲居寺,宣揚其師佛窟之學。著有心境不二篇、雲居集(普智集)等。〔宗鏡錄卷九十八、景德傳燈錄卷四、聯燈會要卷二、五燈會元卷二〕 <三>(929~997)雲居道齊禪師。宋初法眼宗僧。洪州(江西)人,俗姓金。從百丈山明照出家,後遇清涼泰欽,機緣頓契,得嗣其法。住高安(江西)大愚山、幽谷山雙林禪院、江西雲居山等處共三十年,其中於雲居山住二十年。宋太宗至道三年九月示寂,世壽六十九,法臘四十八。著有「拈古代別」,廣爲叢林所用。〔景德傳燈錄卷二十六、禪林僧寶傳卷七、聯燈會要卷二十八、五燈會元卷十〕
Vân Cư Hy Ưng
(雲居希膺, Ungo Kiyō, 1582-1659): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Giang Hộ, húy Hy Ưng (希膺), đạo hiệu Vân Cư (雲居), hiệu Bả Bất Trú Hiên (把不住軒), nhụ Từ Quang Bất Muội Thiền Sư (慈光不昧禪師), xuất thân vùng Thổ Tá (土佐, Tosa, thuộc Kōchi-ken [高知縣]), người của dòng họ Tiểu Tùng (小松, Komatsu). Ông theo xuất gia thọ giới với Hiền Cốc Tông Lương (賢谷宗良) ở Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji), sau theo hầu Đông Mặc (東默) ở Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji) và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Năm 1614, trong khi xảy ra trận chiến ở vùng Đại Phản (大阪, Osaka) thì ông ở trong thành, sau ông về ẩn cư ở Thắng Vĩ Tự (勝尾寺) vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu). Ông đã từng giảng Thiền yếu cho Hậu Thủy Vĩ Pháp Hoàng (後水尾法皇, Gomizunoo Hōō), và nhận lời thỉnh cầu của vị Phiên Chủ Phiên Tiên Đài (仙台藩) là Y Đạt Trung Tông (伊達忠宗), ông đến trú trì Thoại Nham Tự (瑞巖寺, Zuigan-ji) ở Tùng Đảo (松島, Matsushima) và phục hưng lại chùa nầy. Ngoài ra ông còn sáng lập ra Đại Mai Tự (大梅寺). Trước tác của ông có Bát Nhã Tâm Kinh Đại Ý (般若心經大意) 1 quyển.
vân cư la hán
5331禪林用語。形容傲慢自負之狀。以雲居山上安置有五百羅漢,其下數百公尺之道路上行人惟覺仰之彌高,羅漢則以傲慢自負之狀睥睨其下之往來行人。故有以雲居羅漢稱自負之人。碧巖錄第十一則(大四八‧一五一中):「還知大唐國裏無禪師麼?(老僧不會,一口吞盡,也是雲居羅漢)」此外,或依其字義,解爲居於雲上之羅漢,形容超脫世俗者。
Vân Cư Phổ Trí
(雲居普智, Ungo Fuchi, khoảng giữa thế kỷ thứ 9): nhân vật sống khoảng cuối thời nhà Đường, vị tăng của Ngưu Đầu Tông Trung Quốc, pháp từ của Phật Quật Duy Tắc (佛窟惟則). Ông trú tại Vân Cư Tự (雲居寺) thuộc Thiên Thai Sơn (天台山) vùng Đài Châu (台州) và chuyên tâm cử xướng học phong của thầy mình. Trước tác của ông có Tâm Cảnh Bất Nhị (心境不二), Vân Cư Tập (雲居集, có tên khác là Phổ Trí Tập [普智集]) 2 quyển.
vân cư sơn
5329<一>位於河北房山縣西南。即石經山。因時有白雲繞山麓,故稱雲居山。有五峰,號五臺,唐金仙公主各建白石小塔於其上,今僅存其二。雲居東峰爲山最高處,上有雲居寺,爲唐初沙門智苑所居。 <二>位於江西永修西南十七公里處。其山險峻,頂常橫雲,故稱雲居。傳爲歐笈得道之地,故又稱歐山。以洞山之弟子道膺曾住此,舉揚洞山之宗風而聞名。或謂唐代元和八年(813),道容於此建寺,號雲居;中和年間,鍾王奏賜龍昌禪院之額,至宋代大中祥符年間,敕改真如禪院。明代萬曆年間,嘗敕賜佛像經函匾額等。〔宋高僧傳卷十二、景德傳燈錄卷十七、古今圖書集成職方典第八六七、第八七一〕 <三>位於福建連江東七點五公里處。山巒幽谷,奇石怪岩,山顛有上庵寺,建於唐代,宋元之際屢次修復,康熙年間重建,寺前峭壁豎立,中鐫「天上雲間,人間仙境」八字。過山巔有下庵寺,建於明代。山下復有靜益寺。 <四>位於浙江杭州西南。山上有雲居聖水寺,宋代元祐年間,佛印了元始建雲居庵,後有中峰明本別立聖水寺,明代洪武二十四年(1391),二寺合併,賜額雲居聖水寺。寺中之塔藏有中峰禪師之髮爪舍利,供後人瞻仰。其地襟江帶湖,復有天竺寺、靈隱寺等,並稱古剎勝覽。
vân cư thiền sư
Zen master Yun-Ju—See Đạo Ưng Thiền Sư.
vân cư thánh thuỷ tự chí
5330凡六卷。補遺一卷。清代僧明倫撰。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。清代雍正年間,
vân cư tích
Yun Chu hsi (C)Tên một vị sư.
vân cư tự
5330<一>位於河北房山縣西南雲居山(石經山)東峰。又稱石峪寺。隋代大業年中,幽州沙門智苑發願以房山之石造一切經藏,乃鑿巖爲石室,磨四壁以寫經,又取方石刻經書,藏於石室內而密閉之。當時,有煬帝之后助成其業,朝野亦爭相喜捨金品,遂得竣工。唐代貞觀十三年(639),智苑示寂於該寺,玄導、儀公、暹公、玄法等繼其刻經之業。開元年中,金仙公主命人加以修葺,並於五峰之頂各造一白石小塔,賜新舊譯經四千餘卷及莊園。唐末五代時曾一度中斷,至遼時,再興刻經之業,延續六十餘年,完成大藏經之大半。明太祖洪武二十六年(1393)、英宗正統九年(1444)曾兩度重修之。如此,由智苑點燃的護法之燈,歷經隋、唐、遼、金、元、明六代終於完成。而漢、滿、蒙、西藏各族,亦直接、間接參與此項聖業。凡刻經一千餘部,經版一萬五千餘塊,分藏於石經山九個石洞及雲居寺西南之地穴中,除少數因風化殘損外,大部分皆完整。 現存堂塔頗多,寺之西南有以磚築成之十一層塔,係遼天慶七年(1117)所建,稱爲壓經塔,亦稱南塔。塔下埋藏無數石經。寺於抗日戰爭時毀於炮火,現僅存北塔及其四隅之小石塔。又民國七十六年(1987)四月中共宣布在本寺發現裝有佛陀舍利的兩個金鉢,據傳,此二鉢於隋煬帝時即藏於本寺山洞中。〔法苑珠林卷十八、小西天石經堂記、續祕藏石經塔記、古今圖書集成職方典第十一〕 <二>位於河北涿縣城內東北隅。城內有磚塔兩座,城北之塔位於本寺,其建造年代無確實記載,然據金正隆五年(1160)雲居寺重修釋迦佛舍利塔碑記載,此塔建於遼大安八年(1092),而與城南之智度寺塔南北遙峙。北塔呈八角六層之形,一反佛塔之層數多爲奇數之慣例。塔以磚砌,斗栱富於變化,造型優美,與南塔同爲遼代建築之代表。 <三>位於江西永修西南十七公里處之雲居山上。又稱飛白寺、真如寺、龍昌寺。建於唐代元和年間。宋代祥符年中,受敕額「真如禪院 v。後廢毀,明代萬曆年間復重建。開山爲洞山良价之法嗣道膺,其後歷住者有道簡、懷嶽,佛印了元亦曾居此。〔大清一統志卷二四三〕
Vân Cư Ðạo Ưng
雲居道膺; C: yúnjū dàoying; J: ungo dōyō; ?-902; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Ðộng Sơn Lương Giới. Dòng thiền của Sư là dòng chính của tông Tào Ðộng được truyền đến bây giờ tại Nhật. Dòng của Tổ thứ hai là Tào Sơn Bản Tịch chỉ tồn tại được vài thế hệ (xem biểu đồ cuối sách). |Sư họ Vương, quê ở Ngọc Ðiền, U Châu, xuất gia từ nhỏ và thụ giới cụ túc năm 25 tuổi. Ban đầu, Sư học kinh luật Tiểu thừa rồi tự than »Kẻ đại trượng phu đâu thể chịu luật nghi còng trói« và đến Thuý Vi lưu học ba năm. Sau, nghe người ca ngợi pháp hội Ðộng Sơn, Sư đến tham vấn.|Một hôm, Ðộng Sơn hỏi: »Từ đâu đến?« Sư thưa: »Ðạp núi đến.« Ðộng Sơn hỏi: »Quả núi nào nên ở?« Sư hỏi lại: »Có quả núi nào chẳng nên ở?« Ðộng Sơn bảo: »Thế thì cả nước đều bị Xà-lê chiếm hết.« Sư thưa: »Chẳng phải.« Ðộng Sơn hỏi: »Thế ấy là ngươi đã được đường vào?« Sư thưa: »Không đường.« Ðộng Sơn hỏi: »Nếu không đường làm sao được cùng Lão tăng gặp nhau?« Sư thưa: »Nếu có đường thì cùng Hoà thượng cách núi vậy.« Ðộng Sơn bảo: »Kẻ này về sau ngàn muôn người nắm chẳng đứng.«|Sư cất am ở riêng, trải qua nhiều ngày không xuống trai đường. Ðộng Sơn hỏi vì sao thì Sư thưa có Thiên thần cúng dường. Chiều đến, Ðộng Sơn gọi Sư vào hỏi: »Am chủ Ưng!« Sư ứng thinh: »Dạ!« Ðộng Sơn hỏi: »Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, là cái gì?« Sư trở về am ngồi yên, Thiên thần tìm không ra mới thôi cúng dường.|Sau khi được Ðộng Sơn Ấn khả, Sư đến Vân Cư trụ trì, học chúng đến rất đông không dưới 1500 chúng, tông phong của Ðộng Sơn rất thịnh hành.|Sư tịch ngày 03 tháng giêng niên hiệu Thiên Phục năm thứ hai đời Ðường sau 30 năm hoằng hoá tại đây.
Vân Cư Đạo Tề
(雲居道齊, Ungo Dōsai, 929-997): vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Hồng Châu (洪州, Tỉnh Giang Tây), họ là Kim (金). Ban đầu ông xuất gia theo Minh Chiếu Đại Sư (明照大師), sau gặp được Thái Khâm (清涼泰欽), khế ngộ cơ duyên và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đã từng sống qua một số nơi trong vòng 30 năm như Song Phong Thiền Viện (雙峰禪院) ở U Cốc Sơn (幽谷山) và Đại Ngu Sơn (大愚山) thuộc vùng Cao An (高安, Tỉnh Giang Tây), rồi Vân Cư Sơn (雲居山) ở Giang Tây (江西). Vào ngày mồng 8 tháng 9 năm thứ 3 niên hiệu Chí Đạo (至道), ông thị tịch, hưởng thọ 69 tuổi đời và 48 hạ lạp. Ông có để lại rất nhiều trước ngữ, niêm cổ mà sau này trong Thiền lâm thường dùng đến.
Vân Cư Đạo Ưng
(雲居道膺, Ungo Dōyō, 835?-902): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, xuất thân Huyện Ngọc Điền (玉田縣), Kế Môn (薊門), U Châu (幽州, Tỉnh Hà Bắc), họ Vương (王). Lúc còn nhỏ, ông đã lanh lợi, đến năm 25 tuổi thì thọ Cụ Túc giới tại Diên Thọ Tự (延壽寺) ở Phạm Dương (范陽, U Châu). Ban đầu ông chuyên tu trì giới luật Tiểu Thừa, nhưng sau đó đến tham vấn Vô Học (無學) ở Thúy Vi Tự (翠微寺) thuộc Chung Nam Sơn (終南山), Kinh Triệu (京兆). Kế đến, ông tham yết Động Sơn Lương Giới (洞山良价) và kế thừa dòng pháp của vị này. Đầu tiên, ông dừng chân trú tại Tam Phong (三峰), sau đó đến Vân Cư Sơn (雲居山) ở Hồng Châu (洪州, Tỉnh Giang Tây) và bắt đầu xiển dương đại pháp. Sống tại đây được 30 năm, đến ngày mồng 3 tháng giêng năm thứ 2 (902) niên hiệu Thiên Phục (天復), ông thị tịch. Ông được ban cho thụy hiệu là Hoằng Giác Thiền Sư (弘覺禪師), tháp tên là Viên Tịch (圓寂).
vân cư đạo ưng
Ungo Dōyō (J), Yunzhu Daoying (C).
; Yun Chu Tao yin (C), Yun-chu Tao-ying (C), Yunzhu Daoying (C), Ungo Doyo (J)(901-902) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Động Sơn Lương Giới.
Vân Cương
雲岡; C: yúngāng;|Một vùng hang động nổi tiếng tại Trung Quốc, có nhiều di tích Phật giáo, được xây dựng giữa 460 và 540 và là một trong những di tích văn hoá quan trọng nhất. Người ta tìm thấy 53 hang động, dài trên 1km. Tại đó có khoảng 50 000 tranh tượng Phật, Bồ Tát và các vị Thánh khác. Tượng Phật lớn nhất tại đó cao đến 17m và là một trong những tượng lớn nhất tại Trung Quốc. |Ðộng đầu tiên được xây dựng khoảng năm 460. Trong giai đoạn một, các hang động này được thiết lập do sư Ðàm Dược hướng dẫn, đó là các động số 16-20. Các hang động của giai đoạn này thường có hình tròn. Trong giai đoạn hai (động số 5-10), các động có hình vuông thường có tượng Phật ở giữa, cửa vào có vô số tượng nhỏ, tượng Bồ Tát, hình các thánh tích… Ðộng quan trọng nhất là động số 5, 6, trong đó cuộc đời của Phật Thích-ca, từ lúc sinh ra đến lúc giác ngộ được trình bày lại. Trong một số các động khác, bộ kinh Duy-ma-cật sở thuyết (s: vimalakīrtinirdeśa-sūtra) được minh hoạ. Các động cuối cùng được xây vào thời nhà Tuỳ (589-618).|Các động ở Vân Cương là dấu hiệu »sám hối« về việc truy bức đạo Phật trong năm 446, đời nhà Tống và chứng tỏ đạo Phật sau đó được triều đình bảo hộ. Sách vở truyền lại cho thấy việc xây dựng các công trình này vừa do triều đình vừa do giáo đồ đóng góp. Triều đình thì mong được phúc đức để quốc thái dân an, Phật tử thì mong nhờ đó tái sinh trong Tịnh độ.|Nghệ thuật xây dựng và tạc tượng Vân Cương chịu ảnh hưởng mạnh của nghệ thuật Ấn Ðộ (Càn-đà-la) và Trung á; tranh tượng các vị Phật tạo một cảm giác bất động, còn các vị Bồ Tát có vẻ sinh động và gần gủi hơn. Một số trang trí khác như hình rồng, chim, hoa sen, hào quang các vị Phật thì lại thuần tuý nghệ thuật Trung Quốc.
vân cấp thất thiêm
5345凡一二二卷。宋代張君房編。收於上海版道藏。爲道教經典之集大成者。北宋真宗大中祥符三年(1010),命宰相王欽若編纂道藏,後由張君房協助撰集,收錄蘇州、越州、台州等處之舊道藏經本,於天禧三年(1019)完成全藏,帝賜名爲「大宋天宮寶藏」。其後,張君房選錄「大宋天宮寶藏」之精要,輯成本書,號稱「小道藏」。編纂當時之卷數爲百二十卷,而今行世之雲笈七籤則多出兩卷。本書所錄之資料,以達摩大師與曇鸞法師之胎息法最爲著名。
vân cấp thất tiêm
Yunji Qipian (C), Yunchi Ch'i-ch'ien (C), Cloud Book Cassette and Seven Strips of Bamboo Yunji Qipian (C)Bách khoa tự điển Đạo giáo hồi thế kỳ 11 gồm 122 tập.
vân cốc khánh
5329南宋時代臨濟宗僧。生卒年不詳。號雲谷。從學於石溪心月,並嗣其法。理宗寶祐四年(1256),入住平江府(江蘇)聖壽寺。後歷住嘉興(浙江)本覺禪寺、建寧府(浙江)開元禪寺、平江府虎丘山雲巖禪寺。遺有雲谷和尚語錄二卷。〔增集續傳燈錄卷五〕
vân cổ
5348報午齋之鼓。又稱齋鼓。以其鼓上畫有雲彩,故稱雲鼓。據大佛頂首楞嚴經卷三載,齋時擊鼓乃古印度即有之風尚。敕修百丈清規卷下法器章鼓條(大四八‧一一五六上):「齋鼓三通,如上堂時,但節會稍促而已。」〔禪林備用清規卷三、禪苑清規卷一赴粥飯、入眾日用、入眾須知、禪林象器箋唄器門〕
; Trống có vẽ hình mây, dùng để báo giờ cơm trưa trong tự viện—A drum ornamented with clouds for calling to midday meals in a monastery.
vân du
5348指行者至諸方參學行腳,有如浮雲隨風飄遊,不定止於一處。又有以「雲遊萍寄」比喻求道者之居無定所,有若浮雲及漂流之浮萍。〔禪苑清規卷四延壽堂主淨頭〕
Vân Hoa Trí Nghiễm
雲華智儼; 602-668, còn được gọi là Chí Tướng Tôn giả;|Cao tăng kiêm học giả vào đời Đường, về sau được suy tôn như là tổ thứ hai của Hoa Nghiêm tông Trung Hoa. Sư là đệ tử của Đỗ Thuận (杜順), và là thầy của Pháp Tạng (法藏) và Nghĩa Tương (義湘, k: ŭisang). Đương thời, Sư thường được gọi là Chí Tướng Đại sư (至相大師) và Vân Hoa Tôn giả (雲華尊者). Trước khi hành đạo, Sư làm lễ trước Ðại tạng và rút từ đó một quyển kinh ra để tu theo. Quyển kinh đó chính là bộ kinh Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm và từ đây, Sư trì chí tụng đọc kinh này. Sư bắt đầu học Phật với ngài Đỗ Thuận vào năm 12 tuổi tại chùa Chí Tướng ở núi Chung Nam, sau một thời gian, sư thông thạo các giáo lí Đại thừa. Sư thụ giới cụ túc năm 20 tuổi, sau đó sư nghiên cứu sâu vào Tứ phần luật (四分律), A-tì-đạt-ma Câu-xá luận, Thành thật luận (成實論), Thập địa luận (十地論), kinh Niết-bàn, v.v… Sau đó, sư tập trung nghiên cứu kinh Hoa Nghiêm và những lí thuyết xuất phát từ kinh nầy. Sư trứ tác khá nhiều. Các tác phẩm của sư gồm có: Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm kinh sưu huyền phân tể thông trí phương quỹ (大方廣佛華嚴經搜玄分齊通智方軌), 10 quyển; Hoa Nghiêm kinh nội chương môn đẳng tạp khổng mục (華嚴經内章門等雜孔目), 4 quyển; Hoa Nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp (華嚴五十要問答), 2 quyển; Hoa Nghiêm nhất thừa thập huyền môn (華嚴一乘十玄門), 1 quyển; Kim Cương Bát-nhã ba-la-mật kinh lược sớ (金剛般若波羅蜜經略疏); Vô tịnh nhiếp luận sớ (無性攝論疏) v.v… Tiểu sử của sư có thể đọc trong quyển thứ 25 của Tục cao tăng truyện (續高僧傳). Để nghiên cứu sâu hơn, xin xem tác phẩm của Gimello (1976) .
vân hoa tự
5347位於陜西長安終南山之側,南五台中。山林奇幻,泉澗幽邃,爲終南山之冠。本寺創建於隋代,侖奐莊嚴,非他寺所及。唐乾封年中(666~668),沙門智儼於此宏傳華嚴圓教,世稱雲華尊者。由此,寺遂爲華嚴宗之道場。
vân hoành sơn
5349位於浙江義烏縣。又稱雲黃山、松山。南朝梁代大同五年(539),善慧大士捨宅於山下創寺,以有雙檮樹而稱雙林寺。其樹連理,祥煙周繞,雙鶴棲止。陳代天嘉二年(561),善慧大士於山頂繞連理樹行道時,有釋迦前引、維摩後接、七佛相隨之感應,並見山頂有黃雲盤旋,狀如車蓋,故名雲橫山。宋代寧宗時,該寺被選爲十剎中之第八,遂改稱寶林寺。山上有峴壁,高三百餘公尺,廣一百餘公尺,可俯瞰華溪;旁有如來峰、七佛峰等。〔續高僧傳卷二十五、景德傳燈錄卷二十七、佛祖統紀卷三十七、卷四十二、大明一統志卷四十二、大清一統志卷二三一〕
vân huynh thủy đệ
Brothers or men of the cloud and waters, fellow-monks.
; See Vân Chúng Thủy Chúng.
Vân hà
云何; C: yún hé; J: unga;|»Vì sao?«, »Ông nghĩ như thế nào?« (s: ka-tham-krtvā).
vân hà
Tại sao?—Why?
vân hà bái
1041密教所用梵唄之一。即於四句一偈之首,冠上「云何」二字,附音調而諷詠之,稱為云何唄。北本涅槃經卷三壽命品(大一二‧三七九下):「云何得長壽,金剛不壞身,復以何因緣,得大堅固力。」此四句即是云何唄,我國自古有之,唐代道世所著諸經要集卷四唄讚部中即已載錄此偈。除此唄外,亦有用同經卷三之一偈四句(大一二‧三七九下):「云何於此經,究竟到彼岸,願佛開微密,廣為眾生說。」
vân hàng phục
Xem Di Già.
vân hán mãn
5348明代末年時之臨濟宗僧。生卒年不詳。虞山(江蘇)人,俗姓張。崇禎十七年(1644),於三峰清涼寺剃度。清代順治五年(1648),赴海門(江蘇)廣慧寺,參學於浮石通賢,並嗣其法。歷住報恩寺、通州(江蘇)彌勒院、虞山之福城等。著有扶宗論、點華錄等。〔五燈全書卷七十七〕
vân hải
Số lượng nhiều như mây trời hay nước của đại dương—Many as the clouds and waters of the ocean.
vân khai tố tâm
Yun-Kai-Shou-Tsinh (1025-1115)—Thiền sư Trung Quốc, thuộc dòng Hoàng Long của tông Lâm Tế, môn đồ và người kế vị Pháp của Hoàng Long Huệ Nam—Chinese Ch'an master of the Lin-Chih Ch'an school, a student and dharma successor of Huang-Lung-Hui-Nan.
vân long sơn thạch phật
5349雲龍山位於江蘇銅山縣南,常有雲氣蜿蜒如龍,故稱之。東巖石峰圍繞,上有興化寺,寺內有大石佛,石佛爲半身坐像,高約十公尺餘,係北魏晚期就山崖巨石雕鑿而成,當時僅造佛頭,明代建文四年(1402),依山崖建大殿,清代康熙三十四年(1695),復鑿佛身,今存大殿乃明代所重建。後檐墻高尺許,僅用三磚,故有「三磚殿覆三丈佛」之說。石佛兩側岩壁上,有北魏太和十年(486)及唐宋時之造像與題字,大小佛像錯落其中,儼然如畫。
vân lâm tự
5332<一>位於山西陽高縣城內西隅。現存大雄寶殿係明代所建,樑架規整,斗栱細密。殿內有泥塑三世佛、弟子、脅侍菩薩及十八羅漢像。殿前格扇齊備,欞花紋樣精巧,雕工純熟洗練,爲古代建築藝術之精品。 <二>位於浙江杭縣靈隱山麓。又稱靈隱寺。係慧理建於東晉成帝咸和元年(326),嘗毀於火,後重建。康熙二十八年(1689)改稱今名,並頒賜皇帝御書「雲林禪寺」匾額。(參閱「靈隱寺」6942)
vân lâm tự chí
5332凡八卷。清代乾隆九年(1744)厲鶚增修。寺位於浙江杭縣靈隱山。爲晉僧慧理所建。嘉慶二十一年(1816)秋,寺毀於火,道光三年(1823)重建,八年落成,還靈鷲之壯觀,復名山之勝境。最初之寺志因年久而蹟湮,故有續修之舉。當時翰林院之編修沈鑅彪奉命續修,遂薈萃前聞,引證時事,成雲林寺續志,以補前志之未備。內容分十二門:宸音、重興、梵宇、檀樾、禪祖、語錄、藝文、墨跡、詩詠、題名、遺事、糾誤,附以禪祖補遺。
vân lâm viện
5332即位於日本京都市紫野大德寺南方、舟岡東方之天台宗寺院。本爲淳和天皇之離宮,至平安時代中期,成爲元慶寺之別院,以舉行菩提講(法華經之法會)而著名。於寺門極盛之時,院內有西堂、西林寺、念佛寺等。後醍醐天皇之時,隸屬大德寺,漸次衰頹,後雖亦曾再興,而今僅存觀音堂。
vân lôi âm tú vương hoa trí phật
Jaladhara-garjita-ghosa-susvara-naksatra-ràja sankusumità-bhijna (S). A Buddha possessing the wisdom of the Thunder-god and of the flowery stars.
vân lôi âm túc vương hoa trí phật
Djaladhara-gardjitaghochasusvara-nakchatraradjasamkusumitabhidja (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
vân lôi âm vươmg
Megha-dundubhi-svara-ràja. Xem Vân lôi âm túc vương hoa trí Phật.
vân lôi âm vương
Megha-Dundubhi-Svara-Raja (skt)—Còn gọi là Vân Túc Vương Hoa Trí (Jaladhara-garjita-ghosa-susvara-naksatra-raja-sankusumita-bhijna), một vị Phật có âm thanh như tiếng nhạc sấm trên mây—A Buddha who has a voice as musical as the sound of the thunder of the clouds and conversant with the appearance of the regents of the naksatras. A Buddha possessing the wisdom of the Thunder-god and of the flowery stars.
vân lôi âm vương như lai
Meghadundubhi-ṣvara-rāja (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
Vân lộ
(雲路): đường mây; có mấy nghĩa khác nhau. (1) Giữa khoảng mây, trên trời. Như trong bài thơ Du Nhiếp Sơn Thê Hà Tự (游攝山栖霞寺) của Giang Tổng (江總, 519-594) nhà Tùy có câu: “Yên nhai khế cổ thạch, vân lộ bài chinh điểu (煙崖憩古石、雲路排征鳥, khói núi nghỉ đá cổ, trên trời chim bay xa).” (2) Con đường trên trời, con đường tiên bay. Như trong Thủy Kinh Chú (水經注), phần Miện Thủy Thượng (沔水上), của Lịch Đạo Nguyên (酈道元, 470-527) nhà Bắc Ngụy, có đoạn: “Công Phòng thăng tiên chi nhật, tế chi hành vị hoàn, bất hoạch đồng giai vân lộ (公房升仙之日、婿之行未還、不獲同階雲路, ngày Công Phòng lên cõi tiên, người con rễ đi chưa về, không được cùng bước lên đường trời).” (3) Chỉ con đường hẹp trên núi cao. Như trong bài thơ Tặng Ích Phủ Bùi Lục Sự (贈益府裴錄事) của Lô Chiêu Lân (盧照鄰, 636-695) nhà Đường có câu: “Thanh sơn vân lộ thâm, đơn hác nguyệt hoa lâm (青山雲路深、丹壑月華臨, núi xanh nẻo mây sâu, hang đỏ trăng điểm hoa).” (4) Chỉ lộ trình xa xôi, mù mịt. Như trong bài thơ Đăng Phục Châu Nam Lâu (登復州南樓) của Tiền Khởi (錢起, 710-782) nhà Đường có câu: “Cố nhân vân lộ cách, hà xứ ký Dao Hoa (故人雲路隔、何處寄瑤華, cố nhân đường mây cách, chốn nào trọ Dao Hoa [tức Ngọc Hoa Cung]).” Hay trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 3, phần Tiểu Tường (小祥), lại có đoạn: “Dục tư ngô phụ chi vân lộ, tu bằng ngã Phật chi phong quy (欲資吾父之雲路、須憑我佛之風規, muốn giúp thân phụ lên đường mây, nên nương đức Phật ấy phong quy).”
vân môn
The Cloud gate monastery in Quảng Đông, from which Văn Yển derived his tittle, he lived early in the tenth century and founded the Vân Môn thiền tông.
; Tự viện Vân Môn, nơi mà Thiền Sư Văn Uyển đạt được danh hiệu “Vân Môn Văn Yến Thiền Sư”—The Cloud-Gate Monastery in Kuang-Tung province, from which Wen-Yen derived his title—See Vân Môn Văn Yến Thiền Sư.
vân môn cán thỉ quyết
5341禪宗公案名。爲雲門宗之祖雲門文偃禪師對某僧之「如何是佛」一問所作之機緣語句。無門關第二十一則(大四八‧二九五下):「雲門因僧問:『如何是佛?』門云:『乾屎橛。』」乾屎橛指拭人糞之乾橛片。乾屎橛乃污穢之物,而佛爲清淨身。雲門以不淨答清淨身之問,乃示人當離淨、不淨二見,以純一無雜之心參究,方能悟入佛道。又「乾屎橛」亦含無用處之義,意謂佛之名徒然污穢學人之心田,與其遠處求佛,不如力求清淨一己之心;旨在打破學人對於名字之執著。〔雲門匡真禪師廣錄卷上、五燈會元卷十五〕
vân môn cước bả
5342禪宗公案名。本則公案記述雲門宗之祖雲門文偃契悟道法之因緣。據五燈會元卷十五雲門文偃章記載,雲門參訪睦州道明時,接連三日扣門,前二日睦州一見雲門即閉門,至第三日,睦州開門,雲門迅疾拶入,睦州將師擒住,曰(卍續一三八‧二七六上):「道!道!」師稍擬議回答,睦州便將師推出,曰:「秦時蛏轢鑽!」遂掩門,而折損師之一足,師當下大悟。〔禪苑蒙求卷下〕
vân môn dược bệnh tướng trị
5344禪宗公案名。本則公案旨在闡明徹悟「全自己」、「全機現」之機法。碧巖錄第八十七則(大四八‧二一二上):「雲門示眾云:『藥病相治,盡大地是藥,那箇是自己?』」上引中之「藥病相治」,意謂藥與病乃相對之二者,轉指凡夫之相對二見。修行者能滅除藥與病之妄想,始爲真出家。若達於滅除相對二見之境界時,盡大地悉皆爲藥;若自己能活用藥石,則盡大地悉成爲自己,除自己之外,無藥可求,亦無可除之病。
vân môn hoa dược lan
5341禪宗公案名。又作雲門花欄、雲門金毛獅子。本則公案係雲門宗之祖雲門文偃就「清淨法身」之問題所作之機緣語句。碧巖錄第三十九則(大四八‧一七七中):「僧問雲門:『如何是清淨法身?』門云:『花藥欄。』僧云:『便恁麼去時如何?』門云:『金毛獅子。』」 上引中之「清淨法身」,乃指遍一切處之佛身。對於僧所問「如何是清淨法身」,雲門漫不經心地答以「花藥欄」,意謂清淨法身遍於一切處,故答案非僅限於「花藥欄」;而師答以花藥欄,唯因師此時恰於庭前眺望花壇。此答看似漫不經心,實係勢力萬鈞。僧復問:「便恁麼去時如何?」雲門答以「金毛獅子」。金毛獅子一語,意含認可此僧之修行圓熟,然是否爲完全之認可,則未盡然。
vân môn hoàn phạn tiền lai
5343禪宗公案名。本則公案乃雲門宗之祖雲門文偃與一僧,針對「九旬安居之意義」所作之機緣問答。聯燈會要卷二十四雲門文偃章(卍續一三六‧四一六下):「僧問:『秋初夏末,前程忽有人問,作麼生祗對?』師云:『大眾退後。』僧云:『未審過在甚麼處?』師云:『還我九十日飯錢來!』」上引中之「九十日飯錢」,意指九十日安居修行期間之飯錢;轉指修行之事。整則公案係爲闡明「一法究盡」之道理,謂「修行」與「我」乃一體,而非對待。〔雲門匡真禪師廣錄卷上、圜悟佛果禪師語錄卷十六〕
vân môn hồ bính
5344禪宗公案名。又作雲門胡餅、韶陽餬餅。係雲門宗之祖雲門文偃禪師與某僧有關「如何是超佛越祖」一問,所作之機緣問答。碧巖錄第七十七則(大四八‧二○四中):「僧問雲門:『如何是超佛越祖之談?』門云:『餬餅。』」雲門以「餬餅」(胡麻所製之餅)回答佛意、祖意、如何是超佛越祖之問,而絕不容以思量分別之餘地,即顯示超佛越祖之言,除著衣喫飯,屙屎送尿外,別無他意,故即便是超佛越祖之談,亦無如一個餬餅吃卻了事。〔從容錄第七十八則、聯燈會要卷二十四雲門文偃章〕
vân môn khuông chân thiền sư quảng lục
5337凡三卷。守堅編。又稱雲門廣錄、雲門和尚廣錄、雲門文偃禪師廣錄、大慈雲匡真弘明禪師語錄。收於大正藏第四十七冊。乃編錄雲門文偃之法語、偈頌、詩歌等。雲門之機鋒峭峻,嶄新奇拔,頗能發揮獨自之見地;其中用語簡潔,句句皆出人意表,最能詮顯超宗越格之宗風。本語錄中,雲門一寶、雲門露字、雲門乾屎橛、雲門餬餅等皆膾炙人口。卷下之行錄爲集賢殿雷岳所撰,乃信實之禪師紀傳。卷末並附有雲門之弟子圓明大師緣密之頌雲門三句語及餘頌八首。〔古尊宿語錄卷十五至卷十八、五家語錄卷五〕
Vân Môn Khuông Chơn Thiền Sư Quảng Lục
(雲門匡眞禪師廣錄, Unmonkyōshinzenjikōroku): 3 quyển, do Vân Môn Văn Yển (雲門文偃) nhà Đường soạn, Thủ Kiên (守堅) biên, san hành vào năm thứ 9 (1076) niên hiệu Hy Ninh (熙寧) nhà Tống. Quyển thượng thâu lục 320 tắc đối cơ, những bài ca 12 thời, các kệ tụng; quyển trung gồm 185 tắc ngữ yếu trong thất, 290 tắc lời dạy thùy thị; và quyển hạ có 165 tắc khám biện, 31 tắc du phương tham học, các di biểu, di giới, hành lục, thỉnh sớ. Viên Giác Tông Diễn (圓覺宗演) ở Cổ Sơn (鼓山), Phúc Châu (福州) hiệu đính bộ này, Tô Giải (蘇澥) ghi lời tựa và cho san hành. Tại Nhật Bản cũng được lưu truyền rộng rãi với các bản như Bản Ngũ Sơn, bản năm thứ 18 (1613) niên hiệu Khánh Trường (慶長), bản năm thứ 17 (1640) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永), v.v.
vân môn lưỡng bệnh
5338禪宗公案名。又作雲門光不透脫。本則公案記述雲門宗之祖雲門文偃禪師垂示大眾,謂欲得自在之境地,必須除去存於法身之二種病。從容錄第十一則(大四八‧二三四上):「雲門大師云:『光不透脫有兩般病,一切處不明,面前有物是一;透得一切法空,隱隱地似有箇物相似,亦是光不透脫。又法身亦有兩般病,得到法身,爲法執不忘,己見猶存,墮在法身邊是一;直饒透得,放過即不可,子細點檢將來,有甚麼氣息亦是病。』」 上引之中,「光不透脫」係謂凡夫被無明覆蓋而虛妄迷執,猶如光線被遮擋,無法自然透射;「法身」即指清淨法身,亦爲「真空無相」之法身本體。法身又分未法身、到法身。尚未證得法身之前,稱爲未法身、未到底;若已悟得法身,則稱到法身、已到底。雲門於此公案中指出未法身、到法身各有二種病。未法身之病:(一)此階段因有微細之煩惱,故無法迅速到達法身。(二)即使到達,亦非真正之「真空無相」。到法身之病:(一)執著於法身底而不自由。(二)即使能由法身底跳出,亦不能飛轉得無拘無束。故欲自由自在地往還而無心,唯有根本拔除未法身、到法身之病。〔雲門匡真禪師廣錄卷中、聯燈會要卷二十四雲門文偃章〕
vân môn lộ trụ
5344禪宗公案名。又作雲門古佛露柱。此公案乃雲門宗之祖雲門文偃禪師對古佛與露柱相交問題所作之垂示。碧巖錄第八十三則(大四八‧二○八下):「雲門示眾云:『古佛與露柱相交,是第幾機?』自代云:『南山起雲,北山下雨。』」上引之「古佛」指釋迦牟尼佛,乃至諸佛、歷代之祖師等。「露柱」指無論任何人皆能目及之現前事事物物。「機」爲機關、機用、機根、機輪、機法等義,禪語多用以指心之作用,且此一作用尚有各種不同層次之階段。此則公案即雲門就「古佛與露柱相交」爲題,欲令門下衲僧深入勘辨「諸佛諸祖之奧妙世界」與「現前淺易可識之事物諸相」,兩種彷彿截然無關之「個別法」,一旦親切交契、渾然一體而無所分別,此時應屬「第幾機」,或應以何種層次之心法作用來感悟之。然當時門下無一人回答,雲門唯有自答「南山起風,北山下雨」。 北宋雪竇重顯禪師就此則公案而頌曰(大四八‧二○九上):「南山雲,北山雨,四七二三面相睹;新羅國裡曾上堂,大唐國裡未打鼓。苦中樂,樂中苦,誰道黃金如糞土!」此頌文中,「四七」指西天二十八祖,「二三」指東土六祖。蓋西天與東土之祖,以其生存之時空而言,各不相干;南山與北山之雲雨亦本無交會互涉之可能;然若自東西互存、南北一體之完整世界而視之,則自然可了達其親切相交、一體無別之境界,此亦即雲門拈出古佛與露柱相交之本意。〔從容錄第三十一則〕
vân môn lục bất thâu
5335請參閱 雲門匡真禪師廣錄禪宗公案名。本則公案係雲門宗之祖雲門文偃禪師就「法身」一義,與某僧所作之機緣語句。碧巖錄第四十七則(大四八‧一八三上):「僧問雲門:『如何是法身?』門云:『六不收。』」上引之中,「六」指六根、六境、六大、六合等佛教用以概括諸法實相之基本法數(名相);「收」,收攝包含之義。蓋法身爲真如法性之理體,廣如太虛,縱極三際,橫涉十方,乃一絕對之本體,故非六根等之相對世界所能收攝包含者。又雲門所答「六不收」,既充分顯露出法身之鮮活,亦以之示導學人,若欲直下承當生死迷悟之津梁,究盡六不收之端的本源,唯有自己開拓不可思量、不可言說之境地。〔雲門匡真禪師廣錄卷上、聯燈會要卷二十四、禪宗頌古聯珠通集卷三十三〕
vân môn nhất bảo
5333禪宗公案名。又作雲門中有一寶、雲門祕在形山。本則公案係雲門宗之祖雲門文偃禪師向大眾垂示吾人之心性即爲自身既有之一寶。碧巖錄第六十二則(大四八‧一九三下):「雲門示眾云:『乾坤之內,宇宙之間,中有一寶,祕在形山。拈燈籠向佛殿裏,將三門來燈籠上。』」上引中之「形山」,指肉身,又指祕藏於肉身中之吾人心性。蓋祕藏於全宇宙中之一寶,既非乾坤及宇宙、燈籠及佛殿三門,亦非其餘任何之物,而係吾人之心性。〔從容錄第九十二則、雲門匡真禪師廣錄卷中〕
vân môn nhất khúc
5333禪林用語。喻指雲門宗風之艱深玄奧,非尋常人所能理解。雲門曲原爲我國古樂曲之名,曲調艱深,歌者難詠唱,聞者亦難以領受。禪林中遂以雲門曲之艱深,難以歌詠,而評之爲「雲門天子」,並用以轉指雲門宗風。雲門宗祖雲門文偃之家風,向以難以理解著稱,故藉雲門曲之名以喻之。雲門匡真禪師廣錄卷上(大四七‧五四五中):「問:『如何是雲門一曲?』師云:『臘月二十五。』進云:『唱者如何?』師云:『且緩緩。』」
vân môn nhất tự quan
5333指雲門宗之祖雲門文偃化導學人時,慣常以簡潔之一字說破禪之要旨,禪林乃美稱爲雲門一字關。又稱一字關。人天眼目卷二(大四八‧三一二下):「『殺父殺母,佛前懺悔;殺佛殺祖,甚處懺悔?』師云:『露!』」上引之機緣語句,禪林多稱爲雲門露字,爲雲門一字關中極著名之一則。此外,尚有祖、骼、胔、啞、咦、喝、俱、拶、是、聻、嗄、苦等,皆係雲門以簡潔之一字接引學人之慣用語。
vân môn nhật nhật thị hảo nhật
5336禪宗公案名。又作雲門十五日。本則公案係雲門宗之祖雲門文偃禪師於自問自答之中,表現截斷差別妄想之佛法真髓。碧巖錄第六則(大四八‧一四五下):「雲門垂語云:『十五日已前不問汝,十五日已後道將一句來!』自代云:『日日是好日。』」其中「十五日」非指特定之日子,實係雲門欲藉此掃除學人對於「十五」等數字所代表之千差萬別妄想;凡大小、長短、方圓、迷悟、凡聖等之相對概念,皆係差別,故知對於時間之劃分,亦係凡夫之劃地自限與妄想分別而已。我國自古即習以陰陽五行、天干地支等來判定吉凶禍福,實則日由東方出,月有盈虛時,萬古如一日,本無好歹之分。故雲門謂「日日是好日」,每日皆爲舉揚佛法、修行辦道之吉辰;意在截斷學人之差別妄想,揭示修行須在當前時刻。〔雲門匡真禪師廣錄卷中〕
vân môn sa môn hành
5337禪宗公案名。又作曹山喫常住苗。本則公案乃雲門文偃與曹山本寂就「沙門行」之問題所作機緣語句。雲門匡真禪師廣錄卷下(大四七‧五七四上):「師問曹山:『如何是沙門行?』山云:『喫常住苗稼者。』師云:『便與麼去時如何?』山云:『儞還畜得麼?』師云:『學人畜得。』山云:『儞作麼生畜?』師云:『著衣喫飯有什麼難?』山云:『何不道披毛戴角?』師便禮拜。」 整則公案概謂「沙門行」並無特別著重之修行細目,平常生活,舉凡吃飯穿衣、屙屎送尿等行住坐臥,乃至任何語默動靜、造次顛沛之間,一一皆係修行之時節、沙門之德目。
vân môn sơn
5335<一>位於廣東曲江縣東北。以雲門宗之祖雲門文偃居此而稱名於世。文偃初參睦州道明,後至雪峰謁義存,領得玄要。旋承敏禪師之後,住韶州靈樹寺。未久,遷於此山,再興廢址,建立新堂,號光泰禪院。後改稱證真寺、大覺寺、雲門寺。以其教化及於四方,禪徒輻輳,門風甚盛,遂依宗名而名此山爲雲門。〔景德傳燈錄卷十九、古尊宿語錄卷十八、禪林僧寶傳卷二、五燈會元卷十五〕 <二>位於山東益都縣南約三公里。又稱雲峰山。西與馱山隔谷相對,東南扼劈山之通道。因與馱山皆存有隋唐時代之石刻佛像而著名。山中有龍潭,山頂巉巖突兀,上有祠廟。斷崖之南有洞門,可通於山頂,水經注載其「山窟洞開,望之如門」,遂有雲門之名。山之內壁有小佛像三十尊,爲隋代所造。小佛中有開皇十七年(597)、十八年之銘文。〔古今圖書集成職方典第二二○、中國佛教史蹟評解卷四〕 <三>位於浙江紹興縣南十八公里。又稱東山。山中有雲門寺,爲東晉安帝時所建。唐代僧智永嘗居此三十年。此外,鄰近復有顯聖寺、雍熙寺、普濟寺、名覺寺等。〔大明一統志卷四十五、大清一統志卷二二六〕
vân môn sự biến
5337 請參閱 雲門匡真禪師廣錄請參閱 雲門匡真禪師廣錄指中共迫害雲門寺虛雲老和尚之事件。民國四十年(1951)二月,偽公安局派遣百餘人包圍廣東曲江雲門寺。以該寺隱匿革命分子、窩藏軍械及金銀爲由,拘禁僧人,大搜寺內,毀壞大殿屋瓦及佛祖金像、法器,並將監院明空及職事僧惟心、悟慧、真空、惟章等二十六名僧人擄去,酷刑逼供,有被打致死與折斷手臂者。又囚禁虛雲老和尚,並搜去其畢生著述。當時雲老年已一百一十二歲,然仍遭受毒打,並斷絕飲食。事變起於農曆二月二十四日,至五月二十三日始告平息。 事後,雲老口述事變之始末,由弟子筆錄,並祕密書寫於「諸經日誦」之內頁裡層(線裝書之內層),後由香港輾轉送回國內,自由世界始知此一迫害宗教之事件。該書現藏於國立歷史博物館。〔虛雲老和尚法彙〕
vân môn tam bệnh
5334又作雲門三種病、禪病三種。係雲門宗之祖雲門文偃禪師所指佛道修行上所犯之三種弊病,即:未到走作、已到住著、透脫無依。(一)未到走作,指修行未達悟境,仍停滯於相對分別之迷妄中。(二)已到住著,指已達悟境,然因執著悟境,以致無法自由自在。(三)透脫無依,自以爲已達悟境,而得不依於一物之自由。〔五家宗旨纂要卷下〕
vân môn tam cao
5334指雲門宗之三高僧。元代至正年間(1341~1367),韶州(廣東)雲門山有三禪師:浮休允若、斷江覺恩、休耕逸。三師常共諷詠吟誦,世人慕其高風,稱之爲雲門三高。
vân môn tam cú
5334爲雲門宗之祖雲門文偃禪師用以接化學人之三種語句,即:函蓋乾坤、目機銖兩、不涉萬緣三句。五家宗旨纂要卷下卍續一一四‧二七八上):「雲門示眾云:『函蓋乾坤、目機銖兩、不涉萬緣,作麼生承當?』眾無語。自代云:『一鏃破三關。』後德山圓明密禪師遂離其語爲三句:函蓋乾坤句、截斷眾流句、隨波逐浪句。」 「函蓋乾坤」,指絕對之真理充滿天地之間,且函蓋整個宇宙。「目機銖兩」,爲斷除學人之煩惱妄想,謂應超越語言文字,於內心頓悟。「不涉萬緣」,對參學者應機說法,爲活潑無礙之化導。此三句若依大乘起信論之哲理詮釋之,則第一句爲「一心門」,第二句爲「真如門」,第三句爲「生滅門」。後雲門之法嗣德山緣密取雲門三句之觀念,而改其語爲函蓋乾坤、截斷眾流、隨波逐浪,稱爲德山三句,廣爲雲門宗所用,稱之爲雲門劍、吹毛劍。德山嘗以三句示眾,五燈會元卷十五(卍續一三八‧二八一下):「若辯得出,有參學分;若辯不出,長安路上輥輥地。」意謂掌握其含意,即可求得解脫。 若就現代哲學之思辯方式而言,雲門三句係以其內在根本之絕對爲主體,表現出一套辯證歷程之三方面:(一)就普遍性言,無所不在,函蓋宇宙全體。(二)就超越性言,乃截斷眾流,超越宇宙,非吾等所能觸及、窮盡者。(三)就作用言,乃順機接引,隨波逐浪。禪學各宗所共有之特點即在於此種永無止境之精神追求。
vân môn tam nhật
5333請參閱 雲門宗八要禪宗公案名。本則公案係雲門宗之祖雲門文偃禪師對學人所作關於「自我創造」之垂示。雲門匡真禪師廣錄卷中(大四七‧五六七中):「一日云:『三日不相見,不得作舊時看,作麼生?』代云:『千!』」謂原爲愚癡者,卻於三日之間脫胎換骨,令人刮目相看。雲門藉此示導學人,須時時刻刻創造新自我。
vân môn thanh sắc
5343禪宗公案名。又作雲門聞聲悟道。本則公案爲雲門宗之祖雲門文偃禪師針對由聲色(對境)悟道之情形,向大眾垂示全然徹悟者無差別之一如境界。從容錄第八十二則(大四八‧二八○上):「雲門示眾云:『聞聲悟道,見色明心。觀世音菩薩將錢來買餬餅,放下手卻是饅頭。』」 上引之中,「聞聲悟道」係指香嚴智閑由耳聞擊竹之聲而悟道之因緣;「見色明心」係指靈雲志勤從乍見桃花而悟道之因緣。香嚴與靈雲皆爲唐代溈山靈祐之弟子,兩人悟道之因緣,一人聞聲,一人見色,引爲禪林之美談。雲門於上引之垂示語中,先點出香嚴聞聲與靈雲見色之悟機,復謂觀世音菩薩買得餬餅,一放手卻是饅頭。蓋餬餅與饅頭原是互不相干、各有特色之兩物,代表吾人以思量作用所認識之現象界差別相;然對於全然了悟,如觀世音菩薩者之悟境而言,則早已斷除所有對立之差別見解,而達於一如之境界,故自然顯現對餬餅與饅頭不一不異、無有差別之觀感反應。此等悟境,可謂經由聲色並悟、根塵透脫,乃可充分體達者。〔聯燈會要卷二十四雲門文偃章、雲門匡真禪師廣錄卷中、圜悟佛果禪師語錄卷十九〕
vân môn thiên tử
5335禪林用語。喻指雲門宗之宗風。古來禪林比較各家宗風之時,常將「雲門天子」一語與「臨濟將軍」、「曹洞土民」作爲比對之用。(一)雲門天子,謂雲門宗接化學人之方式猶如天子之詔敕,一次即決定萬機,不得再問再應,令人毫無猶豫之餘地。(二)臨濟將軍,臨濟之禪風乃「互換爲機」,蓋臨濟宗之師徒相對挨拶酬答時,每每互換機鋒,易主爲客,任運自如,活潑而嚴峻,展現生殺與奪之機,猶如將軍之叱咤三軍。(三)曹洞土民,曹洞之宗風隱密殷實,故接化學人時,猶如農夫默默耕耘田地。〔槐安國語卷五、宗門十規論〕
vân môn thoại đoạ
5342禪宗公案名。本則公案記述雲門宗之祖雲門文偃責備某僧話墮(失言、失策)之因緣。無門關第三十九則(大四八‧二九七下):「雲門因僧問:『光明寂照遍河沙。』一句未絕,門遽曰:『豈不是張拙秀才語?』僧云:『是。』門云:『話墮也!』後來死心拈云:『且道那裏是者僧話墮處?』」 上引中之「光明寂照遍河沙」,係出自張拙秀才參石霜慶諸悟道時所作之偈「光明寂照遍河沙,凡聖含靈共一家」。死心乃黃龍慧南之法孫死心悟新,爲距雲門二百年後之人。本則公案中,死心舉雲門與該僧之因緣,問「且道那裏是者僧話墮處」,旨在令學人參「話墮」二字,謂該僧借用張拙秀才之語,乃被古人之名句所迷惑,而失卻自己之光明,故當雲門指其失言時,立即令其陷於進退兩難之境。實乃因語非出於自心,故該僧第一句借用他人語句,被識破後,即無法說出第二句。〔雲門匡真禪師廣錄卷中〕
vân môn trần trần tam muội
5342禪宗公案名。又作雲門鉢桶。本則公案係雲門宗之祖雲門文偃禪師爲闡釋禪之意義所作之機緣語句。碧巖錄第五十則(大四八‧一八五中):「僧問雲門:『如何是塵塵三昧?』門云:『鉢裏飯,桶裏水。』」塵塵三昧,謂透過一一微細之法,而入於王三昧。雲門遂舉鉢裏飯、桶裏水等具體事物,藉透過一一微細之法,以闡釋禪之要旨。〔從容錄第九十九則〕
vân môn trụ trượng hoá long
5340禪宗公案名。又作雲門拄杖化爲龍、雲門拄杖子。本則公案爲雲門宗之祖雲門文偃拈拄杖,對大眾垂示自在之妙用。碧巖錄第六十則(大四八‧一九二中):「雲門以拄杖示眾云:『拄杖子化爲龍,吞卻乾坤了也,山河大地甚處得來?』」本則公案闡釋自在之妙用,謂山河大地與自身無差別,盡大地爲沙門之一隻眼,宇宙間之一切即是我。〔雲門匡真禪師廣錄卷中〕
vân môn tu di
5341禪宗公案名。又作雲門須彌山。係雲門宗之祖雲門文偃與某僧關於「不起一念,還有過否」所作之機緣語句。從容錄第十九則(大四八‧二三九中):「僧問雲門:『不起一念,還有過也無?』門云:『須彌山。』」起念固然是過,若不起一念,還有過否?僧有此問,即落入妄想分別之限,雲門遂以「須彌山」一語答之。須彌山即不動或難越之意。此語意謂其過之大,猶如須彌山一般。旨在使該僧遠離有過、無過等對立二見。
Vân Môn Tông
(雲門宗, Unmon-shū): một trong Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗) của Trung Quốc; Vân Môn Văn Yển (雲門文偃), pháp từ của Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存), được xem như là Tổ khai sáng tông này. Ban đầu Văn Yển đến tham vấn Mục Châu Đạo Túng (睦州道蹤), rồi sau đó đến hầu hạ Tuyết Phong Nghĩa Tồn và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông chuyển đến trú tại Vân Môn Sơn Quang Thái Thiền Viện (雲門山光泰禪院) ở Thiều Châu (韶州, Tỉnh Quảng Đông) nỗ lực cử xướng Thiền phong của mình. Môn hạ của ông rất đông, kế thừa tông phong của ông và truyền bá khắp thiên hạ, hình thành nên một tông phái riêng gọi là Vân Môn Tông. Tông phong của phái này là cơ phong sắc bén; ngữ cú thì giản đơn và phương tiện tiếp hóa dứt khoát khác với các tông kia. Rất nhiều bậc kiệt xuất ra đời trong Vân Môn Tông; dưới thời nhà Tống thì tông này cùng phát triển mạnh song song với Lâm Tế Tông, đặc biệt mở rộng trong xã hội thượng tầng; nhưng đến thời Nam Tống thì từ từ suy yếu, đến thời nhà Nguyên thì hoàn toàn tuyệt dứt dòng pháp hệ, rồi lụi tàn với khoảng 200 năm tồn tại.
Vân Môn tông
雲門宗; C: yúnmén-zōng; J: ummon-shū;|Vân Môn Văn Yển, Ngũ gia thất tông.
vân môn tông
5338禪宗五家七宗之一。略稱雲宗。以雲門文偃(864~949)爲宗祖。屬南宗青原法系。文偃住韶州(廣東)雲門山光泰禪院,後唐長興元年(930)以後,大振禪風,因取其山名宗。文偃初參睦州道明,後謁雪峰義存得宗印。道明之宗風峭峻,不容擬議;雪峰之宗風溫密,可探玄奧;文偃得此二風,更自發揮獨妙之宗致,故機辨險絕,語句簡要,如電光石火,而每有千鈞之重。彼時,同爲雪峰門下另有玄沙師備,師備傳桂琛,桂琛傳法眼文益,文益創法眼宗,而與本宗對峙。 文偃門下頗盛,法席常逾千人,嗣法弟子有二十五人,以白雲子祥、雙泉師寬、德山緣密、雙泉仁郁、守初宗慧、香林澄遠等爲著。本宗勃興於五代,宋代時鼎盛,入南宋而宗風日衰,法脈至不可考,其間計傳二百餘年。玆略示本宗法系,如下表: 本宗宗風即所謂「函蓋截流」,取截斷眾流,師徒函蓋相合之意。故雲門宗風有奔流突止之概。本宗接化學人有其特異之處,即所謂雲門八要:(一)玄,接化玄妙。(二)從,從學人之根機以接化之。(三)真要,拈出佛道宗旨。(四)奪,不容學人擬議,截斷其煩惱性。(五)或,不拘言詞,接化自在。(六)過,宗風嚴峻,不許轉身迴避。(七)喪,不執己見。(八)出,接化自由,予學人出身之路。〔景德傳燈錄卷十九、卷二十二、卷二十三、續傳燈錄卷二、卷六、卷八、卷十二、五燈會元卷十五、卷十六、五家宗旨纂要卷下〕
; Ummon-shŪ (J)Tên một tông phái.
; Một dòng Thiền được sáng lập bởi ngài Vân Môn Văn Yển—A Zen sect established by Yun-Mên-Wên-Yen (864-949)—See Vân Môn Văn Yển Thiền Sư.
vân môn tông bát yếu
5339指雲門宗接化學人之八項特點。又作雲門八要。即:玄、從、真要、奪、或、過、喪、出。(一)玄,謂雲門宗師家接化學人之方式,乃玄妙而非言語思量所能測知。(二)從,指從學人之根機力量以接化之。(三)真要,謂立腳於佛道,以拈示宗旨。(四)奪,指接化之時,絲毫不容學人擬議,以截斷其煩惱性。(五)或,謂雲門宗之師家不受言語拘束,能自由自在地活用言語,以接化學人。(六)過,指接化方式嚴峻,不許學人轉身迴避。(七)喪,謂令學人脫離二種謬見:(1)不能鑒照一己清淨之本性(佛性),(2)執著己見。(八)出,謂採取自由接化之方式,給予學人闊然自在之契悟機會。
vân môn tự
5337<一>位於浙江紹興縣南十八公里處雲門山之中。又稱廣孝寺。創建於東晉安帝(397~418 在位)之時。唐代僧智永曾住此三十年。本寺鄰近並有顯聖寺、雍熙寺、普濟寺、名覺寺等。〔大明一統志卷四十五、大清一統志卷二二六〕 <二>即位於廣東曲江縣東北雲門山之光泰禪院。(參閱「雲門山」5335) <三>位於湖南湘鄉城關鎮。又稱石碑寺。建於北宋皇祐二年(1050)。清代道光、同治年間二度重修。主要建築有前殿、大雄寶殿及觀音閣。本寺藏有五公尺高之木雕千手觀音及白石雕十八羅漢,造型精美,刀法純熟,堪稱珍品。
Vân Môn Văn Yển
(雲門文偃, Unmon Bunen, 864-949): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, người vùng Gia Hưng (嘉興, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay), họ là Trương (張). Ngay từ hồi còn nhỏ ông đã có chí xuất gia, nên ông đã theo đầu sư với Chí Trừng Luật Sư (志澄律師) ở Không Vương Tự (空王寺, tức Đâu Suất Tự), năm lên 17 tuổi thì xuống tóc xuất gia, rồi đến năm 20 tuổi thì thọ Cụ Túc giới tại giới đàn ở Tỳ Lăng (毘陵, thuộc Tỉnh Giang Tô); sau ông trở về tu học với Chí Trừng và chuyên học về Tứ Phần Luật, v.v. Về sau, ông có đến tham vấn Mục Châu Đạo Túng (睦州道蹤), người kế thừa dòng pháp của Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運), rồi đến tham yết Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông từ giã Tuyết Phong để đi ngao du khắp các nơi và giao du với rất nhiều Thiền sư. Vào năm 923, ông kiến lập một ngôi Thiền đường tại Vân Môn Sơn, và tương truyền thông thường có khoảng hơn 1000 đại chúng sinh hoạt nơi đây. Ngoài ra, thỉnh thoảng ông có vào trong triều nội nhà Nam Hán thuyết pháp, đến năm thứ 2 (927) niên hiệu Thiên Thành (天成), ngôi Quang Thái Thiền Viện (光泰禪院) của ông được ban sắc ngạch của nhà vua, rồi đến năm thứ 3 (938) niên hiệu Thiên Phước (天福), ông được ban cho hiệu Khuông Chơn Đại Sư (匡眞大師). Rồi vào năm thứ 4 (964) niên hiệu Kiến Long (建隆), ông đổi tên Chứng Chơn Thiền Tự (証眞禪寺) thành Đại Giác Thiền Tự (大覺禪寺). Sau khi sống tại Vân Môn Sơn được khoảng hơn 30 năm, ông thị tịch vào giờ Tý ngày mồng 10 tháng 4 năm thứ 7 niên hiệu Càn Hòa (乾和) nhà Nam Hán.
; 雲門文偃; C: yúnmén wényǎn; J: ummon bun'en; 864-949; |Thiền sư Trung Quốc lỗi lạc, khai sáng Vân Môn tông. Sư nối pháp của Tuyết Phong Nghĩa Tồn và là thầy của nhiều vị đạt đạo như Hương Lâm Trừng Viễn, Ðộng Sơn Thủ Sơ, Ba Lăng Hạo Giám v.v… (khoảng 60 vị). Những pháp ngữ quan trọng nhất của Sư được ghi lại trong Vân Môn Khuông Chân Thiền sư quảng lục (雲門匡眞禪師廣錄).|Sư họ Trương, quê ở Gia Hưng. Lúc nhỏ theo Luật sư Chí Trừng chùa Không Vương xuất gia và thụ giới tại giới đàn Tì Lăng. Hầu hạ Chí Trừng vài năm, Sư đến Mục Châu (Trần Tôn Túc) hỏi đạo. Mục Châu thấy Sư liền đóng cửa lại. Sư đến gõ cửa, Mục Châu hỏi: »Ai?« Sư thưa: »Con.« Mục Châu hỏi: »Làm gì?« Sư thưa: »Việc mình chưa sáng, xin thầy chỉ dạy.« Mục Châu mở cửa, thấy Sư liền đóng lại. Sư cứ đến như vậy ba ngày liên tục. Lần thứ ba, Mục Châu vừa hé cửa, Sư liền chen vào, Mục Châu bèn nắm đứng Sư bảo: »Nói! Nói!« Sư vừa suy nghĩ, Mục Châu xô ra bảo: »Cây dùi đời Tần« và đóng cửa lại khiến một chân Sư bị thương. Sư nhân đây có ngộ nhập. Mục Châu khuyên Sư đến Tuyết Phong và nơi đây, Sư được ấn khả. Lúc đầu, Sư trụ trì chùa Linh Thụ một thời gian, sau đến Vân Môn trụ trì chùa Quang Thới, học chúng tụ tập rất đông.|Sư thượng đường, đưa cây gậy trong tay lên bảo chúng: »Phàm phu gọi nó là thật, Nhị thừa phân tích gọi nó là không, Duyên giác gọi nó là huyễn có, Bồ Tát thì đương thể tức không, Thiền gia thì thấy cây gậy gọi là cây gậy, đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi, không được động đến.«|Những lời dạy của Sư rất được ưa chuộng trong giới thiền sau này và không có vị nào khác Sư được nhắc đến nhiều trong các tập Công án lớn (Bích nham lục, 18 công án, Vô môn quan, 5 công án). Người ta nói rằng, pháp ngữ của Sư lúc nào cũng đạt đủ ba điều kiện: 1. Thích hợp với câu hỏi như »nắp đậy nồi«; 2. Có năng lực cắt đứt vô minh, suy nghĩ cảm giác phân biệt như một cây gươm bén và 3. Thích hợp với khả năng tiếp thu của người hỏi như »một làn sóng theo một làn sóng.«||H 73: Thiền sư Vân Môn, Bạch Ẩn Huệ Hạc minh hoạ.|Sư là một trong những Thiền sư đầu tiên sử dụng những lời vấn đáp của các vị tiền nhân để giảng dạy, và từ đây xuất phát ra phương pháp khán Thoại đầu của Thiền tông sau này. Thông thường, Sư đưa ra một »câu trả lời khác« (別語; biệt ngữ; j: betsugo) những câu trả lời trong những cuộc Vấn đáp (j: mondō) hoặc Pháp chiến (j: hossen) được Sư nêu ra giảng dạy. Sau đó Sư lại nêu ra một câu hỏi và tự trả lời thay cho đại chúng với một »câu thay thế« (代語; đại ngữ; j: daigo), như trong công án thứ 6 của Bích nham lục:|Sư bảo: »Mười lăm ngày về trước chẳng hỏi ông, mười lăm ngày về sau thử nói một câu xem?« Sư tự đáp thay chúng tăng: »Ngày qua ngày, ngày nào cũng là ngày tốt« (Nhật nhật thị hảo nhật).|Những câu trả lời của Sư có lúc chỉ là một chữ duy nhất (Nhất tự quan); chúng được xem là những công án hiệu nghiệm nhất trong thiền ngữ.||H 74: »Ngày qua ngày, ngày nào cũng là ngày tốt« (Bút pháp của Thiện Thuận).|Mặc dù Sư rất đề cao việc dùng ngôn ngữ sống động (hoạt cú) để dạy và sử dụng nó rất tài tình nhưng Sư lại rất kị ngôn ngữ trên giấy và nghiêm cấm môn đệ không được ghi chép lại những lời dạy của mình. Nhiều pháp ngữ của Sư còn được truyền lại đến ngày nay là nhờ một môn đệ lén viết vào một ca-sa rồi sau đó mang xuống núi. Tông của Sư được lưu truyền đến thế kỉ 12 và các vị kế thừa tông này đều đóng góp nhiều cho việc lưu giữ thiền ngữ cho những thế hệ sau.|Niên hiệu Càn Hoà năm thứ bảy (949) nhà Hán, ngày mùng 10 tháng 4, Sư ngồi ngay thẳng viên tịch thọ 81 tuổi.
vân môn văn yển
5336(864~949)唐末五代僧。爲雲門宗之祖。浙江嘉興人,俗姓張。法名文偃。幼懷出塵之志,從嘉興空王寺志澄出家。未久,至毘陵壇受具足戒。遍覽諸經,深究四分律。後至睦州(浙江建德)參學於道明門下。經數載,盡得其道。又謁雪峰義存,依住三年,受其宗印。後歷叩諸方,參究玄要,聲名漸著。後梁乾化元年(911),至曹溪(廣東)禮六祖塔,後投於靈樹如敏會下,如敏推爲首座。貞明四年(918)如敏示寂,師嗣其法席,主持靈樹寺。同光元年(923),於雲門山創建光泰禪院,道風愈顯,海眾雲集,法化四播。後漢隱帝乾祐元年(948),南漢王劉龔敕賜「匡真禪師」。二年四月十日上表辭王,垂誡徒眾,端坐示寂,世壽八十六,僧臘六十六。 北宋乾德四年(966),太祖復追諡「大慈雲匡真弘明禪師」。師之機鋒險峻,門風殊絕,世稱雲門文偃。嗣法者有實性、圓明、明教、道謙、智寂、義韶等八十八人。有廣錄三卷、語錄一卷行世。〔雲門山光泰禪院匡真大師行錄(收於古尊宿語錄卷十八)、景德傳燈錄卷十九、禪林僧寶傳卷二、五燈會元卷十五、釋氏稽古略卷三、佛祖綱目卷三十四、釋氏疑年錄卷五〕
; Ummon Bunyen (J), Yun men Wen Yen (C), Ummon Bun'en (J), Ummon Bunyen (J)Tên một vị sư. (864-949).
vân môn văn yển thiền sư
Yun-Mên-Wên-Yen (864-949)—Thiền Sư Vân Môn, tên thật là Trương Tuyết Phong, sanh năm 864, môn đồ và người kế vị Pháp của Tuyết Phong Nghĩa Tồn, là thầy của Hương Lâm Trừng Viễn, Động Sơn Thủ Sơ, và Ba Lăng Hảo Kiếm. Ông là một thiền sư nổi tiếng vào cuối đời nhà Đường, một người giống như Lâm Tế, sử dụng ngôn ngữ và chiến thuật mạnh bạo để tác động môn sinh đạt tự ngộ. Ông đã sáng lập ra Vân Môn Tông—Zen master Wen-Men, his name was Chang-Hsueh-Feng, was born in 864, a student and dharma successor of Hsueh-Feng-I-Ts'un, and the master of Hsiang-Lin-Ch'eng-Yuan, Tung-Shan-Shou-Chu, and Pa-Ling-Hao-Chien. He was a noted monk during the end of the T'ang dynasty, who, like Lin-Ji, used vigorous language and jarring tactics to bring his disciples to self-awakening. He founded the Cloud-Gate Sect. • Cơ duyên giác ngộ của Vân Môn giới học thiền đều được biết đến. Khi tìm đến “tham độc” với Mục Châu, người sau nầy trở thành Thầy của ông, Vân Môn gõ cánh cửa nhỏ bên cạnh cổng lớn đi vào chùa Mục Châu. Mục Châu gọi ra: “Ai thế?” Vân Môn đáp: “Văn Yến.” Mục Châu thường không cho ai “độc tham” trừ phi người ấy có nhiệt tình. Tuy nhiên, ông cảm thấy hài lòng với cách gõ cửa của Vân Môn, chứng tỏ Vân Môn rất hăng say nỗ lực vì đạo và chấp nhận cho Vân Môn “độc tham.” Vân Môn vừa bước vào thì Mục Châu nhận ra ngay phong thái của Vân Môn, bèn nắm vai bảo Vân Môn: “Nhanh lên, nói đi, nói đi!” Nhưng Vân Môn vẫn chưa ngộ nên không thể đáp ứng được. Để đẩy tâm Vân Môn đến chỗ giác ngộ, đột nhiên Mục Châu đẩy Vân Môn qua cánh cửa đang hé mở và đóng sầm cánh cửa vào chân của Vân Môn, hét: “Đồ vô tích sự,” cùng với tiếng kêu: “Úi chà!” Mục Châu liền đẩy Vân Môn ra khỏi cửa, cánh cửa đóp sập lại làm cho một bàn chân của Vân Môn bị kẹt lại trong đó và gãy đi. Trong cơn đau ngất, tâm của Vân Môn lúc ấy đã trống rỗng mọi tư niệm, bỗng nhiên giác ngộ. Trường hợp của sư không phải là một biệt lệ, vì trước đó nhị Tổ Huệ Khả cũng đã từng chặt một cánh tay khi đứng trong tuyết lạnh, và Đức Khổng Phu Tử cũng từng nói “Sớm nghe được đạo, chiều dẫu có chết cũng cam.” Trên đời nầy quả có nhiều người coi trọng chân lý hơn thân mạng—The circumstances of Yun-Mên's enlightenment are known to all Zen practitioners. Seeking “private consultation” with Mu-Chou, who became his master later on, Yun-Mên rapped on the little door on the side of the large gateway leading to Mu-Chou's temple. Mu-Chou called out: “Who is it?” Yun Mên answered, “Wen-Yen” Mu-Chou, whose habit it was to refuse “private consultation” to all but the most ardent truth-seekers, felt satisfied from Yun-Mên's knock and the tone of his voice that he was earnestly striving for truth, and admitted him. Scarcely had he entered when Mu-Chou, perceiving the state of his mind, seized him by the shoulders and demanded: “Quick, say it, say it!” But Yun-Mên not yet undrstanding, could not respond. To jolt his mind into understanding, Mu-Chou suddenly shoved him out through the partly opened door and slammed it on his leg, shouting: “You good-for-nothing!” With a cry of “Ouch!” While the door was hastily shut, one of Yun-Men's legs was caught and broken. Yun-Mên , whose mind at that moment was emptied of every thought. The intense pain resulting from this apparently awakened the poor fellow to the greatest fact of life. He suddenly became enlightened. The realization now gained paid more than enough for the loss of his leg. He was not, however, a sole instance in this respect, there were many such in the history of Zen who were willing to sacrifice a part of the body for the truth, i.e., Hui-K'o, the second patriarch, who cut his hand while standing in the snow. Confucius also said: “If a man understands the Tao in the morning, it is well with him even when he dies in the evening.” In this life, some would feel indeed that truth is of more value than their own lives. • Vân Môn là một trong những thiền sư xuất sắc nhất trong lịch sử Thiền của Trung Quốc. Tên của ông được nhắc đến trong các ví dụ 15, 16, 21, 39 và 48 của Vô Môn Quan; và 6, 8, 14, 15, 22, 27, 34, 39, 47, 50, 54, 60, 62, 77, 83, 86, 87 và 88 trong Bích Nham Lục. Những thuyết giảng chính của ông được lưu lại trong Vân Môn Quảng Châu Thiền Sư Quang Lục (Sưu tập những lời chính của thiền sư Quảng Châu ở núi Vân Môn)—Yun Men was one of the most important Ch'an masters and one of the last most noted Ch'an masters in the history of Ch'an in China. We encounter Yun Men in examples 15, 16, 21, 39, and 48 of the Wu-Men-Kuan, and the examples 6, 8, 14, 15, 22, 27, 34, 39, 47, 50, 54, 60, 62, 77, 83, 86, 87, and 88 of the Pi-Yan-Lu. The most important of his sayings and teachings are recorded in the Yun-Men Kuang-Chou-Ch'an-Shih-Kuang-Lu (Record of the Essentials Words of Ch'an Master K'uang-Chou from Mount Yun-Men). • Vân Môn có tới hơn 60 người kế vị Pháp, ông nổi tiếng về phương pháp đào tạo nghiêm khắc chẳng kém gì phương pháp của Mục Châu. Ông lập ra phái Vân Môn, tồn tại đến thế kỷ thứ 12. Các hậu duệ của Vân Môn đã góp phần to lớn trong việc truyền thụ thiền cho đời sau. Người được biết đến nhiều nhứt là Đại sư Tuyết Đậu Trùng Hiển (cháu trong Dharma của Vân Môn), người đã tập hợp và công bố những lời dạy hay công án thiền của các thầy xưa. Đó là cơ sở để sau nầy Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần dùng để soạn bộ Bích Nham Lục—Yun Men had more than sixty dharma successors, was known, like master Mu-Chou, as a particularly strict Ch'an master. He founded the Yun Men schol of Ch'an, which survived until the 12th century. The dharma heirs of Yun Men played a major role in the preservation of Ch'an literature for later generations. The best known of them is Yun-Men's “great-grandson in dharma,” the great master Hsueh-T'ou Ch'ung-Hsien, who collected a hundred examples of the ancient masters and provided them with “praises.” These masters Yuan-Wu-K'o-Ch'in later made the basis of his edition of the Pi-Yan-Lu. • Sư đến trang sở của Tuyết Phong, thấy một vị Tăng, bèn hỏi: “Hôm nay Thượng Tọa lên núi chăng?” Tăng đáp: “Lên.” Sư nói: “Có một nhơn duyên nhờ hỏi Hòa Thượng Đường Đầu mà không được nói với ai, được chăng?” Tăng bảo: “Được.” Sư nói: “Thượng Tọa lên núi thấy Hòa Thượng thượng đường, chúng vừa nhóm họp, liền đi ra đứng nắm cổ tay, nói: “Ông già! Trên cổ mang gông sao chẳng cởi đi?” Vị Tăng ấy làm đúng như lời sư dặn. Tuyết Phong bước xuống tòa, thộp ngực ông ta, bảo: “Nói mau! Nói mau! Vị Tăng nói không được. Tuyết Phong buông ra, bảo: “Chẳng phải lời của ngươi.” Vị Tăng thưa: “Lời của con.” Tuyết Phong gọi: “Thị giả! Đem dây gậy lại đây.” Vị Tăng thưa: “Chẳng phải lời của con, là lời của một Hòa Thượng ở Chiết Trung đang ngụ tại trang sở dạy con nói như thế.” Tuyết Phong bảo: “Đại chúng! Đến trang sở rước vị thiện tri thức của năm trăm người lên.” Hôm sau, sư lên Tuyết Phong. Tuyết Phong vừa thấy liền hỏi: “Nhơn sao được đến chỗ ấy?” Sư bèn cúi đầu. Từ đây khế hợp ôn nghiên tích lũy. Tuyết Phong thầm trao tông ấn cho sư—Mu-Chou directed Yun-Men to go to see Xue-Feng. When Yun-Men arrived at a village at the foot of Mount Xue, he encountered a monk. Yun-Men asked him: “Are you going back up the mountain today?” The monk said: “Yes.” Yun-Men said: “Please take a question to ask the abbot. But you mustn't tell him it's from someone else.” The monk said: “Okay.” Yun-Men said: “When you go to the temple, wait until the moment when all the monks have assembled and the abbot has ascended the Dharma seat. Then step forward, grasp your hands, and say: 'There's an iron cangue on this old fellow's head. Why not remove it'?” The monk did as Yun-Men instructed him. When Xue-Feng saw the monk act this way, he got down from the seat, grabbed the monk and said: “Speak! Speak!” The monk couldn't answer. Xue-Feng pushed him away and said: “It wasn't your own speech.” The monk said: “It was mine.” Xue-Feng called to his attendant: “Bring a rope and a stick.” (in order to bind and beat the monk). The monk said: “It wasn't my question. It was from a monk in the village.” Xue-Feng said: “Everyone! Go to the village and welcome the wrothy who will have five hundred disciples.” The next day Yun-Men came up to the monastery. When Xue-Feng saw him he said: “How is it that you have reached this place?” Yun-Men then bowed his head. In this manner did the affinity (between Xue-Feng and Yun-Men) come about. • Vân Môn thường nói một cách tích cực về an tâm lập mệnh và cái giàu phi thế tục của ngài. Thay vì nói chỉ có đôi tay không, ngài lại nói về muôn vật trong đời, nào đèn trăng quạt gió, nào kho vô tận, thật quá đủ lắm rồi như chúng ta có thể thấy qua bài thơ sau đây: Hoa xuân muôn đóa, bóng trăng thu Hạ có gió vàng, đông tuyết rơi Tuyết nguyệt phong ba lòng chẳng chấp Mỗi mùa mỗi thú mặc tình chơi. —Zen master Yun-Men always talked positively about his contentment and unworldly riches. Instead of saying that he is empty-handed, he talked of the natural sufficiency of things about him as we can see throught this poem: “Hundreds of spring flowers; the autumnal moon; A refreshing summer breeze; winter snow: Free your mind of all idle thoughts, And for you how enjoyable every season is!” Theo Thiền sư D. T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, bài thơ nầy không ngụ ý tác giả ăn không ngồi rồi hay không làm gì khác, hoặc không có gì khác hơn để làm hơn là thưởng thức hoa đào nở trong nắng sớm, hay ngắm vầng trăng trong tuyết bạc đìu hiu. Ngược lại, ngài có thể đang hăng say làm việc, hoặc đang dạy đệ tử, hoặc đang tụng kinh, quét chùa hay dẫy cỏ như thường lệ, nhưng lòng tràn ngập một niềm thanh tịnh khinh an. Mọi mong cầu đều xả bỏ hết, không còn một vọng tưởng nào gây trở ngại cho tâm trí ứng dụng dọc ngang, do đó tâm của ngài lúc bấy giờ là tâm 'không,' thân là 'thân nghèo.' Vì nghèo nên ngài biết thưởng thức hoa xuân, biết ngắm trăng thu. Trái lại, nếu có của thế gian chồng chất đầy con tim, thì còn chỗ nào dành cho những lạc thú thần tiên ấy. Kỳ thật, theo sư Vân Môn thì sự tích trữ của cải chỉ toàn tạo nghịch duyên khó thích hợp với những lý tưởng thánh thiện, chính vì thế mà sư nghèo. Theo sư thì mục đích của nhà Thiền là buông bỏ chấp trước. Không riêng gì của cải, mà ngay cả mọi chấp trước đều là của cải, là tích trữ tài sản. Còn Thiền thì dạy buông bỏ tất cả vật sở hữu, mục đích là làm cho con người trở nên nghèo và khiêm cung từ tốn. Trái lại, học thức khiến con người thêm giàu sang cao ngạo. Vì học tức là nắm giữ, là chấp; càng học càng có thêm, nên 'càng biết càng lo, kiến thức càng cao thì khổ não càng lắm.' Đối với Thiền, những thứ ấy chỉ là khổ công bắt gió mà thôi—According to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book I, this poem is not to convey the idea that he is idly sitting and doing nothing particularly; or that he has nothing else to do but to enjoy the cherry-blossoms fragrant in the morning sun, or the lonely moon white and silvery. In the contrary, he may be in the midst of work, teaching pupils, reading the sutras, sweeping and farming as all the master have done, and yet his own mind is filled with transcendental happiness and quietude. All hankerings of the heart have departed, there are no idle thoughts clogging the flow of life-activity, and thus he is empty and poverty-stricken. As he is poverty-stricken, he knows how to enjoy the 'spring flowers' and the 'autumnal moon.' When worldly riches are amassed in his heart, there is no room left there for such celestial enjoyments. In fact, according to Zen master Yun-Men, the amassing of wealth has always resulted in producing characters that do not go very well with our ideals of saintliness, thus he was always poor. The aim of Zen discipline is to attain to the state of 'non-attainment.' All knowledge is an acquisition and accumulation, whereas Zen proposes to deprive one of all one's possessions. The spirit is to make one poor and humble, thoroughly cleansed of inner impurities. On the contrary, learning makes one rich and arrogant. Because learning is earning, the more learned, the richer, and therefore 'in much wisdom is much grief; and he that increased knowledge increased sorrow.' It is after all, Zen emphasizes that this is only a 'vanity and a striving after wind.' • Vân Môn thuộc vào số các đại thiền sư đã xử dụng một cách có hệ thống những lời dạy của tiền bối làm phương pháp đào tạo đệ tử từ tập quán nầy mà có phương pháp “công án”—Yun-Men was among the first of the great Ch'an masters to use the words of preceding masters as a systematic means of training monks. This type of training eventually developed into “koan” practice. • Những câu trả lời và châm ngôn của Vân Môn rất được coi trọng trong truyền thống nhà Thiền. Không một thầy nào được dẫn ra nhiều như ông trong các sưu tập công án. Những lời của ông bao giờ cũng có đủ ba điều kiện của một châm ngôn Thiền có hiệu quả—Master Yun-Men's sayings and answers are highly prized in Ch'an tradition. No other master's words are so frequently cited in the great koan colections as his. It is said that his words always fulfill three important qualificationsof a “Zen word.” a) Những câu trả lời của ông đáp ứng đúng những câu hỏi đặt ra như “cái nắp vừa khít cái hộp.”—His answers correspond to the question posed “the way a lid fits a jar.” b) Những câu trả lời của ông có sức mạnh như một lưỡi kiếm sắc bén chọc thủng sự mù quáng, những ý nghĩ và tình cảm nhị nguyên của học trò—They have the power to cut through the delusion of his students' dualistic way of thinking and feeling like a sharp sword. c) Những câu trả lời của ông thích hợp với trình độ hiểu và với trạng thái ý thức chốc lát của người nghe một cách tự nhiên, giống như “hết đợt sóng nầy đến đợt sóng khác.”—His answers follow the capacity foe understanding and momentary state of mind of the questioner “as one wave follows the previous one.” • Tuy Vân Môn là người biết xử dụng những lời dạy sinh động của các thầy xưa, nhưng ông tỏ ra rất ngờ vực những từ ngữ được viết ra, những từ nầy dễ đọc nhưng không phải lúc nào người ta cũng hiểu được ý nghĩa sâu sắc của chúng. Vì thế ông cấm không cho đệ tử viết lại những lời của mình. Chính nhờ một môn đồ đã bất chấp sự cấm đoán, ghi lại những lời ông dạy trên một chiếc áo dài bằng giấy khi dự các buổi giảng , mà nhiều châm ngôn và lời giải thích bất hủ của đại sư mới còn lại đến ngày nay—Yun-Men, who made such skillful use himself of the words of the ancient masters, was at the same time very mistrustful of the written word, which could all too easily be understood literally but not really grasped. Thus he forbade his students to write his sayings down. Owing to one of his followers, who attended his discourses wearing a paper robe on which he took notes in spite of the ban, that many of the imperishable sayings and explanations of the great Ch'an master have been preserved. • Sư thị tịch năm 949—He died in 949.
vân môn đạo tín
Yun men Tao hsin (C)Tên một vị sư.
vân môn đảo nhất thuyết
5341禪宗公案名。又作雲門目前機。爲雲門宗之祖雲門文偃禪師針對某僧有關「未來」之觀念所作之機緣語句。碧巖錄第十五則(大四八‧一五五上):「僧問雲門:『不是目前機,亦非目前事時如何?』門曰:『倒一說。』」上引之中,「機」爲能觀之心,「事」是所觀之境;心與境即指主觀與客觀。目前能見之機與事容易分辨,然僧所問者,卻屬客觀未生、主觀未起之事。故雲門以「倒一說」答之。倒即顛倒,以僧捨目前之事機而問未發生之事,然既爲未發生之事,則心與境尚未接觸,故此問話本身即是顛倒之見解。
vân môn đối nhất thuyết
5342禪宗公案名。又作雲門一代時教。爲一僧與雲門文偃禪師關於「何爲釋迦佛一代教法」之機緣問答。碧巖錄第十四則(大四八‧一五四下):「僧問雲門:『如何是一代時教?』雲門云:『對一說。』」世尊住世八十年,其中四十五年間說法度眾,故知釋尊一代教說非一時得以述說。雲門答以「對一說」三字,已超出言詮,直指心性,函蓋乾坤,而將顯、密、禪、淨之一代時教包含無遺。然若僅從語言文字或理論義解作揣測,絕不能探知雲門禪師之真意。故圜悟禪師評唱本則公案,謂人多錯會「對一說」之意,或謂係對一時機宜所說之法;或道森羅萬象皆是一法之所印,故謂之對一說。殊不知,古人意不如此。故永嘉大師於「證道歌」中歎道(大四八‧三九六下):「粉骨碎身未足酬,一句了然超百億。」〔五燈會元卷十五〕
Vân nghê
(雲霓、雲蜺): có hai nghĩa. (1) Cầu vồng. Như trong Mạnh Tử (孟子), Lương Huệ Vương (梁惠王) có câu: “Dân vọng chi, nhược đại hạn chi vọng vân nghê dã (民望之、若大旱之望雲霓也, người dân trông đợi đó, như đại hạn trông đợi cầu vồng vậy).” Triệu Kì (趙岐, 108-201), nhà kinh học thời Đông Hán, chú thích rằng: “Nghê, hồng dã, vũ tắc hồng hiện; cố đại hạn nhi tư hiện chi (霓、虹也、雨則虹見、故大旱而思見之, nghê là cầu vồng, trời mưa thì cầu vồng hiện; cho nên khi hạn hán lớn thì mong nó hiện ra).” Hay trong Đàm Tân Văn Tập (鐔津文集, Taishō Vol. 52, No. 2115) quyển 17, bài Hạ Nhật Vô Vũ (夏日無雨), lại có đoạn: “Sơn trung khổ vô vũ, nhật nhật vọng vân nghê, tiểu thử phục đại thử, thâm khê thành thiển khê (山中苦無雨、日日望雲霓、小暑復大暑、深溪成淺溪, trong núi không mưa khổ, ngày ngày ngóng cầu vồng, nắng nhỏ lại nắng lớn, khe sâu thành khe cạn).” (2) Mượn chỉ bầu trời cao. Như trong bài thơ Vọng Cửu Hoa Sơn (望九華山) của Sài Quỳ (柴夔, ?-?) nhà Đường có câu: “Cửu Hoa như kiếm sáp vân nghê, thanh ái liên không vọng dục mê (九華如劍插雲霓、青靄連空望欲迷, Cửu Hoa như kiếm cắm trời cao, xanh khí trên không ngắm muốn say).”
vân ngoạ kỉ đàm
5332凡二卷。又稱感山雲臥紀譚。宋代僧仲溫曉瑩著。收於卍續藏第一四八冊。係紹興年間(1131~1162),曉瑩於豐城曲江感山之雲臥菴閒居中,隨筆記錄諸方尊宿之遺言逸跡、士大夫之嘉言懿行;凡可資修行警策、學人龜鑑者悉皆收錄,自富弼頌書、秀紫芝文、東山吉,至蘇軾衲衣、無著道閑、佛慧北邙行,政書記詩等,約九十餘項,卷末並附雲臥菴主書,記述其師大慧宗杲與學人之機緣問答。
vân ngoại
5329<一>超脫凡俗,出世間之意。雲外雲岫禪師語錄(卍續一二四‧五○四上):「三十餘年無故人,只留雲外伴閒身。」又雲外路指出世間之道、佛道。雲外客指具有高超、殊勝境地之人。〔趙州和尚語錄卷下〕 <二>(1242~1324)即雲岫。宋代曹洞宗僧。浙江昌國人,俗姓李。別號方嵓。(參閱「雲岫」5332)
Vân Ngoại Vân Tụ
(雲外雲岫, Ungai Unshū, 1242-1324): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, tự là Vân Ngoại (雲外), tùy theo từng chỗ ở mà tên gọi của ông khác nhau như Trí Môn Vân Tụ (智門雲岫), Thiên Đồng Vân Tụ (天童雲岫), xuất thân Xương Quốc (昌國, Tỉnh Triết Giang), biệt hiệu là Phương Nham (方嵓), họ Lý (李). Ông theo xuất gia với Trực Ông Đức Cử (直翁德擧) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến sống ở Thạch Môn (石門), Từ Khê (慈谿), nhưng rồi lại chuyển đến các nơi khác như Trí Môn (智門) ở Tượng Sơn (象山), và Thiên Ninh Tự (天寧寺) ở Huyện Ngân (鄞縣). Hơn nữa, ông còn chuyển đến Thiên Đồng (天童), Tứ Minh (四明) và cử xướng tông phong ở nơi đây. Vào ngày 22 tháng 8 năm đầu niên hiệu Thái Định (泰定), ông thị tịch, hưởng thọ 83 tuổi đời và 65 hạ lạp. Ông tuy người nhỏ con nhưng rất lanh lẹ, hoạt bát; thuyết pháp lại hay nên tương truyền có người từ Nhật Bản, Triều Tiên hâm mộ tiếng ông nên đã đến đạo tràng của ông để nghe thuyết giảng. Trước tác của ông có Bảo Kính Tam Muội Huyền Nghĩa (寳鏡三昧玄義). Đệ tử có những nhân vật kiệt xuất như Vô Ấn Đại Chứng (無印大証), Đông Lăng Vĩnh Dư (東陵永璵), v.v. Đông Lăng là người đã từng sang Nhật Bản và sống tại hai chùa Nam Thiền và Thiên Long. Bộ Trí Môn Vân Ngoại Hòa Thượng Ngữ Lục (智門雲外和尚語錄), Vân Ngoại Vân Tụ Thiền Sư Ngữ Lục (雲外雲岫禪師語錄) có lời tựa đề năm thứ 4 (1300) niên hiệu Đại Đức (大德) là trước tác do môn nhân Sĩ Thảm (士慘) biên tập và san hành. Hai bộ này được san hành tại Nhật vào năm thứ 3 (1746) niên hiệu Diên Hưởng (延享). Văn Tú (文秀) soạn bản Thiên Đồng Vân Ngoại Thiền Sư Truyện (天童雲外禪師傳).
vân nguyệt thị đồng khê sơn các dị
5328禪林用語。意謂雖是一樣的雲與月,然被照射之溪與山,則有千差萬別。即處境雖一,然所見卻各異。無門關第三十五則(大四八‧二九七中):「雲月是同,溪山各異;萬福萬福,是一是二?」
Vân Ngọa Kỷ Đàm
(雲臥紀談, Ungakidan): xem Cảm Sơn Vân Ngọa Kỷ Đàm (感山雲臥紀談, Kanzanungakidan) ở trên.
vân nham thụ khởi tảo chửu
5350禪宗公案名。又作雲巖掃地、雲巖拂地。本則公案記述雲巖曇晟接化道吾圓(宗)智,令其覺醒本來面目之因緣。從容錄第二十一則(大四八‧二四○下):「雲巖掃地次,道吾云:『太區區生!』巖云:『須知有不區區者。』吾云:『恁麼則有第二月也!』巖提起掃箒云:『這箇是第幾月?』吾便休去。」上引之中,雲巖將掃箒豎起,問道吾「這箇是第幾月」,意謂除自己本來面目之外,是否尚有另外一個自己,旨在令道吾覺醒「本來之自己」。或謂此則公案亦顯示雲巖忙中有閑之生活情致;蓋凡悟道之人,無論掃地搗米、搬柴運水,當下即是所行所事之三昧,忙中有閑,悠悠其境,既不干涉任何其他之景物、心念,然又含攝森羅萬象於此一當下三昧中。
Vân Nham Tự
(雲巖寺, Ungan-ji): ngôi chùa thuộc Phái Diệu Tâm Tự (妙心寺派), Tông Lâm Tế, hiệu núi là Đông Sơn (東山), hiện tọa lạc ở số 27 Unganji (雲岩寺), Ōtawara-shi (大田原市), Tochigi-ken (栃木縣); tượng thờ chính của chùa là Thích Ca Như Lai. Tương truyền vào khoảng niên hiệu Đại Trị (大治, 1126-1131), thì Tẩu Nguyên (叟元) khai sáng chùa này; đến năm thứ 4 (1281), Cao Phong Hiển Nhật (高峰顯日) đến sống ở vùng đất này. Khi ấy Cao Lê Thắng Nguyện Pháp Ấn (高梨勝願法印) mới đến đến lễ bái xin làm đệ tử của Hiển Nhật, rồi dâng cúng miếng đất để xây chùa. Cũng cùng năm đó, Tướng Quân Bắc Điều Thời Tông (北條時宗, Hoji Tokimune) kiến lập thành ngôi Thiền tự. Hiển Nhật bèn cung thỉnh thầy ông là Vô Học Tổ Nguyên (無學祖元) đến làm Tổ khai sơn của chùa, còn ông thì làm Tổ đời thứ hai. Về sau, chùa cũng gặp bao phen hỏa họa, cháy rụi cả chùa, nhưng sau lại được Vô Trú Diệu Đức (無住妙德) trùng tu lại như cũ. Đặc biệt trong khuôn viên chùa có tấm bia khắc bài ca Haiku, đối đáp qua lại giữa Thiền Sư Phật Đảnh (佛頂) và Tùng Vĩ Ba Tiêu (松尾芭蕉, Matsuo Bashō).
vân nham tự
5350<一>位於江蘇吳縣西北虎邱山(又稱武邱山、武丘山、虎丘山)。號稱十剎之第九。又稱虎阜寺、虎邱寺、武邱寺、報恩寺、東山寺等。始創於東晉咸和二年(327),司王珣及其弟王珣捨私宅建精舍,竺法汰之高徒道一爲其開山(或謂佛日契嵩爲開山)。其同門竺道生,因倡言闡提成佛之義,爲眾所擯,乃至該寺。據傳道生聚石講闡提成佛之義,石皆點頭。其後,劉宋曇諦、岌法師、梁代僧若、隋代智聚等皆先後居此講經。智琰、法恭、僧瑗等人亦曾居此。至北宋,楊岐派之紹隆移住此寺建法幢,寺遂盛極繁榮。明代宣德年中(1426~1435),遭大火焚毀。正統年間(1436~1449),巡撫周忱之重建。寺在虎邱山左側,前有劍池,並有顏真卿之「虎丘劍池」四字石刻,至今猶存。池中尚留有二段石,相傳即是點頭石。池畔有二層臺形之巨岩,上有唐代李陽冰所書之「生公講台」四個篆字,刻於岩上,傳爲道生講經之遺蹟。 山門位於虎邱山腳下,始建於唐代,重建於元代至元四年(1338)。此門爲歇山式,樑略彎曲,似半月形,故稱月樑。其內部樑架與一般不同,柱頂比柱身略小,並做成圓捲形狀。大樑中柱兩側各安二根月樑,看似斷樑,故有斷樑殿之稱,又稱雙樑殿。寺中有塔,俗稱虎丘塔,始建於後周顯德年間(954~959),落成於北宋建隆二年(961),平面八角形,七層,磚建,仿樓閣式。自南宋建炎年間(1127~1130)至清代咸豐十年(1860),曾七次遭火焚毀,頂部及各層檐均毀,塔頂鐵剎已不存,今僅存磚砌部分。〔法華經玄義卷十上、梁高僧傳卷五、續高僧傳卷十、佛祖統記卷三十六、大明高僧傳卷五、虎邱山志〕 <二>位於四川江油竇圌山麓。始建於唐代,明代末年毀於兵火,清代雍正三年(1725)重修。殿宇有五重,建築雄偉,地勢開闊。大殿西側存有宋代木造轉輪經藏(又作飛天藏、星辰庫),高十點三公尺,直徑七點五公尺,外形如木塔,可自由轉動,分上中下三層,上層爲天宮樓閣,設計宏麗精巧;中層爲藏身,四周壁板飾有大小木雕人像二百餘,姿態各異;下層爲藏座。整個轉輪工藝精美,爲珍貴之古代木雕。 <三>位於湖南長沙攸縣東南方之雲巖(靈巖)。唐代藥山惟儼之法嗣曇晟(782~841)爲開山。洞山良价曾於此參曇晟座下,並得其心印。〔大清一統志卷二七六〕
Vân Nham Ðàm Thạnh
雲巖曇晟; C: yúnyán tánshèng; J: ungan don-jō; 781-841;|Thiền sư Trung Quốc, đắc pháp nơi Dược Sơn Duy Nghiễm. Ðộng Sơn Lương Giới là môn đệ giỏi nhất của Sư, là người khai sáng tông Tào Ðộng.|Lúc đầu, Sư đến học nơi Bách Trượng nhưng ở đây hai mươi năm đến lúc Bách Trượng tịch vẫn chưa sáng tỏ. Ðến Dược Sơn, Dược Sơn hỏi: »Từ đâu đến?« Sư thưa: »Từ Bách Trượng đến« Dược Sơn hỏi: »Bách Trượng có ngôn cú gì dạy đồ chúng?« Sư thưa: »Bình thường Ngài nói: ›Ta có một câu đầy đủ trăm vị.‹« Dược Sơn bảo: »Mặn là vị mặn, lạt là vị lạt, chẳng mặn chẳng lạt là vị bình thường, thế nào là một câu đầy đủ trăm vị?« Sư không đáp được. Dược Sơn hỏi tiếp: »Sinh tử trước mắt làm sao tránh?«. Sư thưa: »Trước mắt không sinh tử.« Dược Sơn hỏi: »Ở Bách Trượng bao nhiêu lâu?« Sư thưa: »Hai mươi năm«. Dược Sơn bảo: »Hai mươi năm nơi Bách Trượng mà Tập khí trần tục vẫn chẳng trừ.«|Ngày khác – nhân lúc Sư đứng hầu – Dược Sơn hỏi: »Bách Trượng lại nói pháp gì?« Sư trình: »Có khi thượng đường, đại chúng nhóm họp xong, Ngài lấy gậy đuổi tan, rồi gọi đại chúng. Ðại chúng xoay đầu nhìn lại thì Ngày hỏi: ›Là cái gì?‹« Dược Sơn bảo: »Sao chẳng sớm nói như thế! Ngày nay do ngươi mà ta được thấy Hải huynh.« Sư nghe câu này triệt ngộ.|Sau, Sư đến núi Vân Nham trụ trì, tuỳ duyên hoằng giáo. Một vị tăng hỏi: »Khi một niệm chợt khởi liền rơi vào ma giới, là thế nào?« Sư hỏi lại: »Ngươi nhân đâu từ Phật giới đến?« Tăng không đáp được, Sư hỏi: »Hội chăng?« Tăng thưa: »Chẳng hội.« Sư bảo: »Chớ bảo hội chẳng được, giả sử hội được cũng chỉ là bên trái, bên phải.«|Ngày 26 tháng 10 năm đầu niên hiệu Hội Xương đời Ðường, Sư có chút bệnh, tắm gội xong gọi Tri sự vào bảo: »Sắm sửa trai, ngày mai có Thượng toạ đi.« Tối hôm 27, Sư viên tịch, thọ 60 tuổi.
vân nham đàm thạnh
Yun yen Tan Cheng (C), Ungan Donjō (J).
vân nham đàm thạnh thiền sư
Zen master Yun-Yan-T'an-Sheng—See Đàm Thạnh Vân Nham Thiền Sư.
Vân Nham Đàm Thịnh
(雲巖曇晟, Ungan Donjō, 782-841): người vùng Kiến Xương (建昌), Chung Lục (鐘陸), họ là Vương (王). Hồi còn nhỏ ông xuất gia ở Thạch Môn (石門), theo tham học với Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海) trong suốt 20 năm, nhưng cuối cùng lại kế thừa dòng pháp của Dược Sơn Duy Nghiễm (藥山惟儼). Sau ông đến cử xướng tông phong tại Vân Nham Sơn (雲巖山), Đàm Châu (潭州, Tỉnh Hồ Nam). Môn hạ của ông có Động Sơn Lương Giới (洞山良价). Vào tháng 10 năm đầu niên hiệu Hội Xương (會昌), ông thị tịch, hưởng thọ 60 tuổi, được ban cho thụy hiệu là Vô Trú Đại Sư (無住大師).
vân nham đại bi thủ nhãn
5349禪宗公案名。又作雲巖遍身手眼、雲巖問道吾手眼、雲巖摸枕、雲巖大悲。本則公案乃雲巖曇晟與道吾就「大悲菩薩之千手千眼有何作用」所作之機緣問答。碧巖錄第八十九則(大四八‧二一三下):「雲巖問道吾:『大悲菩薩用許多手眼作什麼?』吾云:『如人夜半背手摸枕子。』巖云:『我會也!』吾云:『汝作麼生會?』巖云:『遍身是手眼。』吾云:『道即太殺道,只道得八成。』巖云:『師兄作麼生?』吾云:『通身是手眼。』」 大悲菩薩即觀世音菩薩。對於此菩薩之千手千眼如何使用之問題,雲巖答以遍身是手眼;道吾答以通身是手眼。二者之意同爲身體全部皆是手眼,遍身與通身亦無優劣之分,故二師皆意指自己乃觀世音菩薩。
vân nạp
Du Tăng—Homeless or roaming monks—See Vân Chúng Thủy Chúng.
Vân Phong
雲峰; ?-956|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông, pháp hệ thứ 3. Sư nối pháp Thiền sư Thiện Hội và truyền lại cho đệ tử là Thái sư Khuông Việt.|Sư họ Nguyễn, quê ở Từ Liêm, quận Vĩnh Khang. Khi mẹ sinh Sư ra, hào quang chiếu đầy nhà. Vì thấy sự linh dị này nên cha mẹ cho phép Sư xuất gia. Lớn lên, Sư theo hầu thiền sư Thiện Hội ở chùa Ðịnh Thiền, làng Siêu Loại. Thiện Hội thường bảo: »Sống chết là việc lớn, cần phải thấu triệt.«Một hôm, Sư hỏi Thiện Hội: »Khi sống chết đến làm sao tránh?« Thiện Hội bảo: »Hãy nắm lấy chỗ không sống chết mà tránh.« Sư hỏi: »Thế nào là chỗ không sống chết?« Thiện Hội bảo: »Ngay trong sống chết nhận lấy mới được.« Sư hỏi: »Làm sao hiểu được?« Thiện Hội bảo: »Ngươi hãy đi, chiều đến!« Chiều đến, Sư lại vào thất. Thiện Hội bảo: »Ðợi sáng mai, chúng sẽ chứng minh cho ngươi.« Sư hoát nhiên tỉnh ngộ, liền quì lạy. Thiện Hội hỏi: »Ngươi thấy đạo lí gì?« Sư thưa: »Con đã lĩnh hội.« Thiện Hội hỏi: »Ngươi hội thế nào?« Sư bèn đưa nắm tay lên thưa: »Chẳng lĩnh hội là cái gì?« Thiện Hội liền thôi.|Sau, Sư trụ trì chùa Khai Quốc trong Kinh Ðô Thăng Long. Niên hiệu Hiển Ðức đời Châu, Sư viên tịch.
vân phong
Yun feng (S), Umpo (J).
Vân Phong Diệu Cao
(雲峰妙高, Umpō Myōkō, 1219-1293): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân Trường Lạc (長樂), Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), hiệu là Vân Phong (雲峰). Ông đã từng đến tham học với Si Tuyệt Đạo Xung (癡絕道沖) cũng như Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範), sau đến tham yết Yển Khê Quảng Văn (偃溪廣聞) ở A Dục Vương Sơn (阿育王山) và kế thừa dòng pháp của vị này. Kế đến ông khai đường giáo hóa ở Đại Lô Tự (大蘆寺), sau ông chuyển đến Kính Sơn (徑山) vào năm thứ 17 (1280) niên hiệu Chí Nguyên (至元) đời vua Thế Tổ. Ông than phiền có người phỉ báng Thiền Tông, bèn tập trung môn đồ các tông phái đến trước mặt Hoàng Đế và giảng về tông yếu của Thiền. Vào ngày 17 tháng 6 năm thứ 30 niên hiệu Chí Nguyên, ông thị tịch ở độ tuổi 75.
vân phong thiền sư
Thiền Sư Vân Phong (?-956). • Vietnamese Zen Master Yun-Feng (?-956)—Thiền sư Vân Phong, đời thứ ba dòng Vô Ngôn Thông, quê ở Từ Liêm, huyện Vĩnh Khương. Sư xuất gia tu học từ khi hãy còn rất nhỏ. Sau sư trở thành một trong những đệ tử xuất sắc nhất của Thiền sư Thiện Hội.—A Vietnamese monk of the third lineage of the Wu-Yun-T'ung, from Từ Liêm, Vĩnh Khương district. He left home to become a monk when he was very young. Later he became one of the most outstanding disciples of Zen Master Thiện Hội. • Một hôm Thiền sư Thiện Hội bảo sư: “Sống chết là việc lớn, cần phải thấu triệt.” Sư hỏi: “Khi sống chết đến làm sao tránh được?” Thiện Hội đáp: “Hãy nắm lấy chỗ không sống không chết mà tránh.” Sư lại hỏi: “Thế nào là chỗ không sống không chết?” Thiện Hội đáp: “Ngay trong sống chết nhận lấy mới được.” Sư hỏi: “Làm sao mà hiểu?” Thiện Hội bảo: “Ngươi hãy đi đi chiều hẳn lại.” Chiều đến sư lại vào và hỏi nữa. Thiện Hội bảo: “Đợi sáng mai, chúng sẽ chứng minh cho ngươi.” Ngay đó sư liền ngộ—One day, Zen master Thiện Hội said to him: “Life and death are great matters, you should thoroughly understand.” He asked: “When life and death arrive, how can we avoid?” Thiện Hội replied: “To avoid life and death by relying on the non-birth and non-death matters.” He asked: “What are the non-birth and non-death matters?” Zen master Thiện Hội said: “You should do all these right in life and death.” He asked again: “How can I understand?” Zen master Thiện Hội replied: “Go and come back in the afternoon.” He came back in the afternoon and asked his master again. His master said to him: “Wait until tomorrow morning, the assembly will prove them to you.” He suddenly awakened. • Khi Thầy viên tịch, sư về trụ tại chùa Khai Quốc tại Thăng Long để hoằng hóa Phật Pháp đến khi viên tịch năm 956 sau Tây Lịch After his master passed away, he stayed at Khai Quốc Temple in Thăng Long to expand the Buddha Dharma until he died in 956 A.D.
vân phong tự
5345<一>位於湖南衡山紫蓋鄉。唐代時,法照嘗住此寺,有諸多瑞應事蹟。代宗大曆二年(767),法照曾於僧堂粥鉢中,見五色祥雲;雲內有山寺,寺之東北沿澗復有一寺,名爲大聖竹林寺。他日鉢中再現瑞雲,雲中數寺,池臺樓閣之上有諸菩薩眾,一僧謂此即五臺山。其後四年,法照於湖東寺開創五會念佛道場,復有此奇瑞,法照遂與同修數人,參詣五臺山之文殊菩薩。 <二>位於四川納谿長江北岸十公里處之方山南麓。唐代時,曾敕建雲峰禪院,後幾經興廢,清代嘉慶年間(1796~1820)重建,歷經二十餘年始成。現存三殿兩院,主要建築爲大雄殿,歇山單檐,宏偉壯觀,木雕石琢,刻工精美。方山四周,群峰環繞,層巒迭嶂,峰巔林嵐飄忽,畫意盎然,故又稱雲峰山。
vân phong văn duyệt
Yun feng Wen yueh (C)Tên một vị sư.
; Yun-Feng-Wen-Yueh—Sư đến với Đại Ngu Thủ Chi để tham học, sư nghe Đại Ngu giảng như vầy: “Nầy các thầy, mỗi ngày các thầy tụ nhau lại ngấu nghiến biết bao cọng rau. Nhưng nếu gọi đấy là một cọng rau, khi vào địa ngục, nó bắn ra như một mũi tên.” Nói xong Đại Ngu bước xuống, không nói thêm gì. Văn Duyệt hết sức kinh ngạc, chẳng hiểu ất giáp gì hết. Tối đến, sư vào phương trượng. Đại ngu hỏi: “Đến tìm cái gì?” Văn Duyệt đáp: “Tìm cầu tâm pháp.” Nhưng Đại Ngu không chịu dạy, mà chỉ bảo: “Bánh xe Chánh Pháp chưa quay mà bánh xe cơm gạo đã quay trước. Những kẻ hậu sinh tươi trẻ khỏe mạnh như ngươi sao không đi xin ăn cho Tăng chúng? Ta chịu đói không rỗi rảnh, rỗi rảnh đâu mà nói Thiền với ngươi.” Văn Duyệt không dám trái lời và để hết đời mình coi sóc việc cung cấp đầy đủ cho trù phòng của Tăng chúng. Chẳng bao lâu, Đại Ngu dời qua chỗ của Ngài Thúy Nham và Văn Duyệt cũng đi theo. Khi Văn Duyệt xin Thúy Nham chỉ thị Thiền cho mình, Thúy Nham bảo: “Phật pháp chưa được sáng tỏ. Nay mùa tuyết lạnh, hãy đi kiếm than cho Tăng chúng.” Văn Duyệt vâng lời làm y như thầy dạy. Lúc trở về, Thúy Nham lại yêu cầu sư giữ việc thơ lại trong chùa, vì thiếu người mà không có ai có thể bổ dụng vào đó. Văn Duyệt chẳng vui khi luôn bị sai khiến làm những việc nghĩ ra không ăn nhập gì với Thiền; sư ân hận vì thầy mình ép buộc mình quá đáng. Nhân lúc đang làm việc phía sau hè, có lẽ tâm trí ngổn ngang trăm mối và tâm trạng căng thẳng khôn cùng, thình lình những cái khoanh của thùng gỗ sư đang ngồi rớt xuống và sư cũng té nhào luôn. Biến cố nầy là cơ hội tuôn tràn dồn dập ánh sáng vào phòng tối của tâm trí bị nhốt chặt trong đấy, và sư chợt thấy cái mật chỉ mà tâm trí của Thầy mình lúc nào cũng vận dụng. Sư vội khoác áo và đến kiếm Thúy Nham. Thúy Nham mỉm cười chào đón và bảo: “Này Duy Na, mừng cho việc lớn đã xong rồi!” Văn Duyệt lạy hai lạy và bước ra, không một lời từ giã—When Yun-Feng-Wen-Yueh came to T'ai-Yu Shou-Chih for study, he heard the master discoursing to this effect: “O monks, you are gathering here and consuming so many vegetables each day. But if you call them a mere bunch of vegetables, you go to hell as straight as an arrow flies;” and without further remark, the master left the pulpit. Wen-Yueh was astonished, not knowing what all this meant. In the evening he went up to the master's room, and the master asked: “What is it that you are seeking?” Yueh said, “I am after the truth of the mind.” But the master was not so ready to teach him, for he said: “Before the wheel of the Dharma (truth) is set turning, the wheel of the staff of life must move. You are set young and strong; why not go around and beg food for the Brotherhood? My time is all taken up in bearing hunger, and how can I talk of Zen for your sake?” Wen-Yueh meekly obeyed the order and spent his time seeing that the larder of the Brotherhood was properly supplied. Before long, however, T'ai-Yu moved to Tsui-Yen and Wen-Yueh followed him. When he asked T'sui-Yen to instruct him in Zen, the master said: “Buddhism does not mind being covered with too many blisters. For this cold and snowy winter, get a good supply of charcoal for the Brotherhood.” Wen Yueh obeyed and carried out the master's order faithfully. When he came back, the master again asked him to take up an office in the monastery as there was a vacancy and none was available to fill it. Wen-Yueh did not like this, for he was always ordered about doing things which he thought were not in direct connection with Zen teaching itself; he was sorry to see the master so cross-grained towards him. While he was working in the back part of the building, perhaps with his mind filled with all sorts of feeling and generally in an intensely strained state of consciousness, the hoops of the wooden cask upon which he was sitting unexpectedly gave way, and he fell from it. This incident was the opportunity to shed an abundance of light into the dark chamber of his hitherto tightly closely mind, and he at onceperceived the secret way in which his master's mind had been functioning all the time. He hastily put on his upper robe and came up to see Shou-Chih the master. The master greeted him smilingly and said: “O Wei-Na, so pleased to see you realize it!” Twice Wen-Yueh reverentially bowed and went off without a comment.
vân thai thạch điêu
5348位於熱河居庸關內之關臺。建於元代。全部以漢白玉砌成,雲臺上原有樓閣寶塔,壯麗巍峨,至今僅殘存基座,然基座內外刻滿精美浮雕,爲長城關隘絕無僅有之建築藝術。雲臺正中開一道拱門,拱門正中刻有人身雙翅鳥口之「金翅鳥」,兩旁刻有頭盤七蛇之「龍女」,另有對稱交叉之金剛杵、巨象、猛龍、花葉等圖案。洞長七十七公尺,從頂至四壁刻滿浮雕,尤以東西洞口對稱之四大天王最爲令人驚歎:東北持國天王、東南增長天王、西南廣目天王、西北多聞天王。四天王雕像均極雄勁,目光烱烱,神態威猛莊嚴,線條粗獷豪放,爲古代浮雕中不可多見之傑作。洞頂部另刻有無數佛像,四邊則刻飾各種花草圖案。除上述藝術價值外,雲臺石雕另具有史學、語言學、佛學上之重要意義,即洞內四大天王浮雕像之間,存有六種不同文字之古代碑刻陀羅尼經文:梵文、藏文(分兩體,一爲加嘎爾文,一爲吐波文)、八思巴蒙古文、維吾爾文、漢文、西夏文。碑刻內容爲佛頂尊勝陀羅尼經文、如來心陀羅尼經文、咒語與造塔功德記。此碑刻經文可供研究古代邊疆語文,亦爲佛教史之重要史料。
Vân Thủy
(雲水, Unsui): từ ý nghĩa phiêu bồng, vô định như mây gió, nó muốn ám chỉ các vị Thiền tăng đi hành cước đó đây, không chỗ nhất định để tầm sư học đạo. Nó còn được gọi là Hành Cước Tăng (行脚僧), Vân Nạp (雲衲). Như trong bài Thị Viên Thường Thượng Nhân (示圓常上人) của Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, CBETA No. 1437) quyển 22 có câu: “Tích nhân bất xuất phi diên lãnh, chỉ đầu thích phá hải sơn bình, mỗi kiến hứa đa linh lợi hán, thiên sơn vân thủy nhậm ma hành, nạp tử tu bằng nhất sấu cung, đăng sơn độ thủy mạc giáo tông, hốt phùng thủy tận sơn cùng xứ, phách chưởng cao ca thiên ngoại phong (昔人不出飛鳶嶺、指頭踢破海山平、每見許多怜利漢、千山雲水恁麼行、衲子須憑一瘦筇、登山渡水莫敎鬆、忽逢水盡山窮處、拍掌高歌天外峰, người xưa chẳng ra đỉnh núi xanh, chỉ đầu đá tan biển núi bằng, lại thấy khá nhiều kẻ lanh lợi, ngàn trùng mây nước biết sao hành, nạp tăng nên dùng gậy nhỏ nương, leo núi qua sông chớ bảo dừng, chợt trông nước tận núi cùng nẻo, tay vỗ ngâm ca ngất trời mừng).” Hay trong bài Thị Tự Không Thiền Nhân (示自空禪人) của Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, CBETA No. 1435) có câu: “Xả khước am cư vân thủy du, yêu bao biều lạp hỷ can hưu, tuy nhiên chỉ xuất Đương Dương đạo, kì lộ đương phòng hoạt Thạch Đầu (捨卻菴居雲水遊、腰包瓢笠喜干休、雖然指出當陽道、岐路須防滑石頭, bỏ hết am cư mây nước chơi, vai mang bầu nón ngả nghiêng cười, tuy nhiên nếu bảo Đương Dương nẻo, ngỏ hẹp nên phòng lão Thạch Đầu).”
Vân thuỷ
雲水; J: unsui; là mây nước;|Trong Thiền tông, danh từ này được dùng để chỉ những thiền sinh mới gia nhập Thiền viện, các Sa-di. Các khung trang trí ở những Thiền viện thường được vẽ hoặc khắc với những mô-típ vân thuỷ.|Ðến và đi vô ý, lưu động tự do tự tại, hợp tán tuỳ theo điều kiện bên ngoài, thích hợp với mọi hoàn cảnh như nước chảy một cách im lặng qua những chướng ngại, tuỳ theo dạng của vật chứa – đó chính là những đặc tính tiêu biểu của mây nước, những đặc tính mà Thiền tông đề cao và tìm cách thực hiện trong cuộc sống.|Lấy mây nước làm gương cho cuộc sống – phong cách này đã được tìm thấy nơi các vị hâm mộ Lão giáo (Lão Tử, Trang Tử), một hệ thống triết lí gây ảnh hưởng rất lớn đến Thiền tông. Rất nhiều thi hào đã ca tụng »mây trắng« (白雲; bạch vân) là biểu tượng của một cuộc sống siêu phàm. John Blofeld viết trong The Wheel of Life: »Trong vạn vật thì người có trí nên chọn nước làm thầy. Nước chinh phục được tất cả… Nước tránh tất cả những chướng ngại với một sự khiêm nhường lạ lùng, nhưng không một chướng ngại nào có thể ngăn cản được nước trên con đường trở về đại dương đã định. Nước thắng bằng sự khiêm nhường, không bao giờ tấn công nhưng vẫn thắng trận cuối. Trí giả noi gương nước mà hành động thì rất khiêm nhường, vô sự, hành động trong vô vi (Bất hành nhi hành) nhưng qua đó mà chinh phục được thế gian.«
vân thuỷ
5328又稱雲水僧、雲眾水眾、雲兄水弟、行腳僧、雲衲。指爲尋師求道,至各地行腳參學之出家人。以其居無定所,悠然自在,如行雲流水,故以雲水喻之。從容錄第九則(大四八‧二三二下):「兩堂雲水盡紛拏,王老師能驗正邪。」又以雲水之性柔順自如、無所不克,具有解脫、自然、謙卑、茓性等性質,故用以喻指有德之行腳僧。又有以雲喻衲衣,以霞喻衣袂,而稱之爲「雲衲霞袂」者。至於十方相聚,親如手足之雲水,則稱雲水兄弟。雲水僧掛搭之居處稱雲水堂,或稱上客堂;專爲雲水僧所設之齋則稱雲水齋。〔永平清規卷下、永平眾寮箴規〕
vân thuỷ lưu nghi
5328形容安居於叢林修行之行腳僧,其舉止行動顯現出清淨、質樸、素雅而純真之樣態。
Vân Thê Châu Hoằng
(雲棲袾宏, Unsei Shukō, 1535-1615): tự là Phật Tuệ (佛慧), hiệu Liên Trì (蓮池), do vì ông từng sống tại Vân Thê Tự (雲棲寺) thuộc Ngũ Vân Sơn (五雲山), Hàng Châu (杭州), Tỉnh Triết Giang (浙江省), nên được gọi là Vân Thê (雲棲), xuất thân Phủ Nhân Hòa (仁和府), Hàng Châu, họ Trầm (沉). Năm 31 tuổi, ông theo xuất gia với Tánh Thiên Lý (性天理) ở Tây Sơn (西山), rồi đến tham học với Tùng Nham Đắc Bảo (松嵓得寳). Sau đó, ông rời vị này, đi qua vùng Đông Xương (東昌), chợt nghe tiếng trống trên chòi cao trên thành mà đại ngộ. Đến năm thứ 5 (1571) niên hiệu Long Khánh (隆慶), ở độ tuổi 37 ông bắt đầu đi hành cước, đến Vân Thê Sơn (雲棲山), dọn sạch cỏ ngôi cổ tự và lưu lại nơi đây. Ông đã dồn hết tâm huyết của mình vào việc giáo dưỡng và trước tác tại vùng đất này và để lại cho đời hơn 30 loại tác phẩm với hơn 300 quyển. Đến cuối thời nhà Minh, khi Phật Giáo cho thấy rõ trạng huống suy thối, chính ông đã lấy sự giáo dục phong phú của Nho Giáo để cử xướng Thiền và làm cho mọi người tin tưởng sâu xa vào pháp môn Niệm Phật. Trong khoảng thời gian niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), ông đã thành lập Liên Xã Phật Giáo rộng lớn, làm sáng tỏ tư tưởng Thiền Tịnh Nhất Trí (禪淨一致), tức là chủ trương Thiền của Tức Thân Thành Phật (卽身成佛, thành Phật ngay nơi thân này) và Niệm Phật để vãng sanh về thế giới bên kia. Trong số các trước tác của ông được mọi người hành trì từ xưa có Vân Thê Pháp Vị (雲棲法彙) gồm 34 quyển, trong đó lại có Thiền Quan Sách Tấn (禪關策進), Tăng Huấn Nhật Ký (僧訓日記), Truy Môn Sùng Hành Lục (緇門崇行錄), Tự Tri Lục (自知錄), Trúc Song Tùy Bút (竹窗隨筆) đều chuyển tải tư tưởng nói trên. Vào ngày mồng 4 tháng 7 năm thứ 43 niên hiệu Vạn Lịch nhà Minh, ông thị tịch, hưởng thọ 81 tuổi đời và 50 Hạ lạp. Đức Thanh (德清) soạn bản Cổ Hàng Châu Vân Thê Liên Trì Đại Sư Tháp Minh (古杭州雲棲蓮池大師塔銘), Ngô Ứng Tân (呉應賓) soạn bản Liên Tông Bát Tổ Hàng Châu Cổ Vân Thê Tự Trung Hưng Tôn Túc Liên Trì Đại Sư Tháp Minh Tinh Tự (蓮宗八祖杭州古雲棲寺中興尊宿蓮池大師塔銘幷序) và Quảng Nhuận (廣潤) viết bài Vân Thê Bổn Sư Hành Lược (雲棲本師行略).
; 雲棲袾宏; C: yúnqī zhūhóng; 1535-1615;|Một Cao tăng Trung Quốc đời Minh. Sư là người phối hợp và phát triển cách tu niệm danh Phật A-di-đà của Tịnh độ tông và phương pháp tu trì của Thiền tông.|Sư cho rằng, khi niệm danh A-di-đà, người ta không nên tập trung vào danh hiệu này thôi, mà còn phải chú tâm vào »sự thật« đứng sau danh hiệu này. Ngoài cái tâm đang niệm danh A-di-đà không có A-di-đà và ngoài A-di-đà không có tâm nào. Ðây là một phương pháp khác để giải thích lời của các vị Thiền sư »Ngoài tâm không có Phật«. Mặt khác, người ta có thể chứng ngộ được chân lí tuyệt đối bằng cách niệm danh A-di-đà và vì vậy, giữa Thiền tông và Tịnh độ tông không có một sự khác biệt nào đáng kể.|Sư ban đầu học Nho, năm 32 tuổi mới xuất gia cầu đạo. Sư tham học với nhiều Cao tăng của các tông phái đương thời. Sư sáng lập chùa Vân Thê tại Hàng Châu, một ngôi chùa có tiếng là giữ giới luật nghiêm ngặt. Sư có quan niệm rằng, người niệm Phật A-di-đà và một người quán Công án trong Thiền tông tuy có khác nhau bề ngoài, khác nhau trong cách tu tập nhưng kết quả đạt được lại như nhau. Niệm danh Phật đến khi tất cả những ý nghĩ được xua đuổi ra khỏi tâm thức, chỉ còn »A-di-đà«, người ta sẽ đạt một trạng thái không khác gì chú tâm vào một công án. Với quan niệm này – song song với việc giữ giới luật – Sư thuyết phục được rất nhiều người tu hành Phật đạo, đặc biệt là trong giới Cư sĩ.
vân thê kỉ sự
5347收於中國佛寺史志彙刊第一輯。編輯者不詳。係輯錄有關雲棲寺之文獻。雲棲寺位於浙江杭州五雲山西麓。宋代乾德五年(967),伏虎禪師在此開山。明代弘治七年(1494),霖雨發洪,殿宇經像隨水漂沒。隆慶五年(1571),蓮池大師袾宏重建爲淨土宗念佛道場。本書內容首記盛典,次繪山圖,次錄碑記、古蹟、僧約、錄賢、題詠,殿以續記。後附「孝義無礙庵錄」係輯錄蓮池大師所建孝義無礙庵有關之碑記、遺囑、囑餘、規約、記賢、塔銘等文獻。
vân thê pháp vị
5346凡三十四卷。明代王宇春等編。乃明代高僧雲棲袾宏之全集。祩宏示寂之年,鄒匡明、王宇春費十晝夜蒐集大師之遺著,得三十一部。歷經十年,於天啟四年(1624),由大賢、大雯、大霖等十七名僧,及居士王宇春等十六人共加校訂印刻。清光緒二十五年(1899)重刻,增補雲棲遺稿、雲棲規約、雲棲紀事、雲棲塔偈讚等數部。
vân thê sơn
5346位於杭州五雲山之西。原有真濟、雲棲、天池三寺,後僅存雲棲一寺。以明代蓮池大師袾宏居此而聞名。據袾宏之雲棲山房雜錄載,初以五雲山巔有五色瑞雲盤旋其上,故名雲棲山。後以瑞雲飛集山塢中,經久不散,時人異之,因號雲棲塢。宋代乾德五年(967),有僧大扇志逢(909~985)結菴以居。塢中多虎,師至,虎輒馴伏,故世稱伏虎禪師。吳越王錢氏爲其建寺,始稱雲棲寺。宋代治平二年(1065)改名棲真院,後復稱雲棲寺。明代隆慶五年(1571),袾宏愛其幽邃,於此設禪室,爲叢林奠立禪淨歸一之教義。其後,雲棲山成爲雲棲念佛派之根本道場。有大殿、祖師殿等。大殿供奉阿彌陀佛、十大弟子、六方六佛及二十四天之像。祖師殿則置有袾宏之像。石徑兩旁,編籬界竹,竹皆一尺圍,寺前大竹一竿,清聖祖賜名「皇竹」,並因建亭,「雲棲竹徑」,爲西湖十八景之一。〔支那佛教史蹟評解卷五〕
vân thê tự
Yun-chi TempleChùa ở Hàng châu do ngài Châu Hoằng xây dựng.
vân thủy
Unsui (J).
vân thủy đường
Clouds and Water Hall—Transient Monks' Quarters.
Vân Tràng
(雲幢, Undō, 1759-1824): học Tăng của Phái Bổn Nguyện Tự thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ; húy là Vân Tràng (雲幢); thụy hiệu Thâm Tín Viện (深信院); hiệu là Huyễn Hoa Am (幻華庵); xuất thân vùng Y Do (伊予, Iyo, thuộc Ehime-ken [愛媛縣]); là con của Từ Linh (慈靈). Ông đến nhập môn làm đệ tử của Tuệ Vân (慧雲) ở Báo Chuyên Phường (報專坊) vùng An Nghệ (安芸, Aki), chuyên học về giáo học của Chơn Tông, sau đó đi du phương giáo hóa ở các địa phương; đến năm 1808, ông dưng ngôi Huyễn Hoa Am ở vùng Trúc Đinh (竹町, Take-chō), An Nghệ và cư trú tại đó. Từ năm 1813 trở đi, tron suốt 21 năm, thỉnh thoảng ông đến thuyết giảng tại Học Lâm của Tây Bổn Nguyện Tự (西本願寺, Nishihongan-ji), và đã từng phụ giảng cho Bổn Như (本如), Trú Trì đời thứ 19 của chùa. Vào năm 1824, khi chức Khuyến Học được thiết lập, ông được bổ nhiệm làm chức này; nhưng bị bệnh nên cáo từ. Trước tác của ông có Đại Kinh Giảng Lục (大經講錄) 1 quyển, Lục Tự Thích Giảng Lục (六字釋講錄) 1 quyển, Vãng Sanh Yếu Tập Khoa (徃生要集科) 1 quyển, Ngũ Nguyện Lục Pháp Đại Ý (五願六法大意) 1 quyển, v.v. 糾明
vân trình
5347指遠方,即萬里青雲之道程。又轉指生天之路程、白雲上之天界,或紫雲環繞之淨土。禪苑清規卷七亡僧(卍續一一一‧四五七上):「茶傾三奠,香爇一爐,用薦雲程,和南聖眾。」
vân tuyền tự
5344位於塞北察哈爾張北縣張家口之西賜兒山麓。寺宇巍峨,有殿廡數十楹。山門內有冰洞、水洞,冰洞雖炎暑而不化,水洞則清泉四溢,景緻甚佳。雲泉寺佔地極廣,周圍環以圍牆,香火之盛,冠絕漠南。
vân tâm
5328西藏語 sbrin-gyi sems。即經常思慮世間憂喜之心。爲凡夫六十種妄心之一。凡夫因有憂樂思慮之心,而常滯於淫昏之中;猶如夏季霖雨綿延之時,亦令人感覺淫昏,故稱此一心念爲降雨時之思念。對治之道,當行捨心,遠離世間之憂喜,而隨順法喜。〔大日經疏卷二、大日經住心品疏私記卷八〕(參閱「六十心」1242)
; Clouded heart, depressed.
; Tâm sầu não—Depressed—Clouded heart.
vân tê ngoạn nguyệt
5347係用以讚歎遊於悟境者之用語。雲犀,又稱靈犀;月,指佛性真如,譬喻得道者之靈妙境界。從容錄第三則東印請祖之頌(大四八‧二二九中):「雲犀玩月璨含輝,木馬游春駿不羈。」意謂禪者之心玲瓏剔透,毫無陰影,且顯現靈妙之光彩。
vân tông
See Bạch Vân Tông.
vân tẩu trụ
5345(1620~1676)明末清初臨濟宗僧。楚安陸(湖北)人,姓名不詳,號雲叟。從溈山受戒,復參學於鶴林而有所得。後師事於山翁道忞,並嗣其法。於清代順治十五年(1658),入住潭州(湖南)龍牙寺。康熙十五年示寂,世壽五十七。有雲叟禪師語錄二卷行世。〔五燈全書卷七十三〕
vân tập
Flocking like clouds, a great assembly.
; A great assembly—Flocking like clouds.
vân tập chúng
5347請參閱 雲菴克文禪師語錄如來之弟子可分爲兩種,常隨佛陀聞法並助其教化者,稱爲常隨眾;受時間或空間之限制,無法常隨佛陀,僅不定時從他方雲集而來者,稱爲雲集眾。「雲集眾」僅限於大乘經典才有。〔首楞嚴經文句卷一〕
vân tụ
5332(1242~1324)元代曹洞宗僧。浙江昌國人,俗姓李。字雲外,別號方嵓。從直翁德舉得度,並嗣其法。歷住慈谿石門、象山、智門、天寧等寺,後移住天童寺,闡揚宗風。泰定元年示寂,世壽八十三,法臘六十五。有語錄、詩偈等行世。師短小精悍,說法善巧,韓、日慕名來訪者眾,弟子中以無印大證、東陵永璵等五人爲著名,東陵嘗至日本,住南禪、天龍二寺。〔五燈會元續略卷一、五燈全書卷六十一〕
vân tự tại vương
Meghasvara-raja (skt)—Vị vương trị vì Vân Cổ, con trai của Đại Thông Trí Thắng Như Lai—Ruler of the cloud drums, a son of Mahabhijnabhibhu.
Vân vân
云云; C: yúnyún; J: unun;|1. Và như thế, »v.v…«; 2. Chấm dứt một đoạn văn được trích dẫn.
vân vân
And so on—And so forth—Continuing to speak—Et cetera.
vân đình
3506爲日本最早成立之圖書館。奈良末期,石上宅嗣(729~781)改私宅爲阿閦寺,廣收典籍,並開放作爲研究佛教之用。至平安初期始告廢絕。
vân đường
5346又稱僧堂。以僧眾聚集,眾多如雲,故稱雲堂。據禪林象器箋殿堂門載,僧堂亦曰雲堂,謂眾集如雲之故。又雲堂亦意指「雲水」聚集修行處。此外,修行僧於僧堂中日常應守之規則,則稱爲「雲堂常規」。〔敕修百丈清規卷上住持章請新住持條〕(參閱「雲水」5328)
; The assembly hall of a monastery, because of the massed congregation.
; Chánh điện của tự viện nơi đại chúng hội họp—The assembly hall of a monastery, because of the massed congregation.
vân đầu
5349<一>原指雲高之處。又轉指超脫世俗之境界。[1] <二>指看似雲一般之物,譬喻凡夫起煩惱、疑情之狀態。而「雲頭點地黑如漆」一語,即形容「疑情」猶如黑漆一般,覆蓋大地。〔槐安國語卷四〕
vâng
To obey.
vâng chịu
To accept—To consent.
vâng dạ
See Vâng.
vâng lệnh
To obey an order.
vâng lời
See Vâng.
vâng mệnh
See Vâng lệnh.
vâng theo
See Vâng.
vây
To besiege—To beset—To surround—To encircle.
vây cánh
Fin and wing—Supporters.
vãi
General term for a Budhist nun.
vãn
1) Buổi tối (chạng vạng): Sunset—Evening. 2) Trễ hay muộn: Late.
vãn chúc
4614即晚間用粥。或謂晡時(午後二至四時)之粥食。律法中雖有過午不食之戒,然佛教傳入我國後,因應國情與時代之需,僧人托鉢乞食之生活方式漸為自耕自足之叢林制所取代,由是「過午不食」亦無法長期支持色身之大量活動;為長養慧命、滋養色身,遂有晚間(或午後)進粥進湯之方便作法。〔敕修百丈清規坐參條〕(參閱「藥石」6691)
; Bữa ăn cháo chiều. Theo giới luật, tuy không được ăn quá ngọ, nhưng nhà thiền vẫn cho phép ăn cháo và gọi đó là thuốc sau giờ ngọ—The evening gruel, which being against the rule of not eating after midday is styled medicine.
vãn hồi
To restore.
Vãn Tham
(晩參, Bansan): đến tham vấn vị tông sư vào buổi tối. Nơi thuyết giảng có thể là Tẩm Đường (寢堂, nhà ngủ), Phương Trượng (方丈), hay Pháp Đường (法堂), v.v. Phần Nghênh Tiếp (迎接) của Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規) 2 có đoạn rằng: “Đương nhật vãn tham, thứ nhật thăng đường, trí thực đặc vi (當日晩參、次日陞堂、置食特爲, hôm nay tham vấn buổi tối, hôm sau lên tòa thuyết pháp, dọn thức ăn đặc biệt mà làm)”.
vãn tham
4614「朝參」之對稱。指晚間之住持開示法要、參禪或念誦。敕修百丈清規晚參條(大四八‧一一一九中):「凡集眾開示皆謂之參。古人匡徒,使之朝夕咨扣,無時而不激揚此道,故每晚必參,則在晡時。」晚參之所,或為寢堂,或為方丈,或為法堂。若不舉行晚參則敲僧堂之鐘,稱為放參鐘。禪師傳記、語錄亦記載有關晚參之故事,如宋代汾陽善昭禪師因北方寒冷,一度廢止晚參,曾有異僧勸諫之。又如宋代方會禪師曾檛鼓請其師慈明禪師舉行晚參。〔禪苑清規卷二迎接條、祖庭事苑卷七、禪林僧寶傳卷三、禪林象器箋垂說門、清拙和尚語錄、僧堂清規行法鈔(面山瑞方)〕(參閱「朝參暮請」5047)
; Tham thiền hay tụng kinh vào buổi chiều (đối lại với tảo tham là tham thiền hay tụng kinh vào buổi sáng sớm)—The evening service.
vãng
To go; gone; past; to be going to, future.
; Đi qua—To be going to—To go—Past.
vãng cận kệ
3203指無量壽經卷下之偈頌。又作東方偈。計五言一百二十句,凡三十頌。記述十方菩薩往詣安養界之事。包括菩薩之往覲、彌陀授記之說法、諸佛之勸讚、釋迦之勸讚等。此偈主旨在說明菩薩之往覲,故稱往覲偈。又此偈頌之初爲「東方諸佛國」,故又稱東方偈。
vãng cận ngũ ích
3203往覲,即往詣佛國見佛。往覲五益,指由十方國土往詣安養界見無量壽佛,而得神通、受記、不退、起願、供佛等五種利益。據淨影之無量壽經義疏所釋,即:(一)神通益,到彼國便得六種神通自在,此依佛之六神通願而得成就。(二)受記益,受佛之記別,得成佛果等覺之位。(三)不退益,至彼國必住於不退位。(四)起願益,至彼國而起至誠之願,亦即起攝國土之願,願己之國土如同佛國;起攝眾生之願,願度一切眾生;起攝法身之願,願名聞十方。(五)供佛益,得自在往來於十方無量諸佛土,並供養諸佛。
vãng hoàn nhị hồi hướng
Two kinds of dedication: Going and returning. 1) Vãng Tướng Hồi Hướng: Hồi hướng công đức đến hết thảy chúng sanh, mong rằng họ cũng được vãng sanh Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà—To transfer one's merits to all beings that they may attain the Pure Land of Amitabha. 2) Hoàn Tướng Hồi Hướng: Khi đã vãng sanh Cực Lạc lại muốn trở về cõi sanh tử và bằng công đức tu trì khiến chúng sanh nơi cõi nầy cũng được vãng sanh Cực Lạc—Having been born in the Pure Land to return to mortality and by one's merits to bring mortals to the Pure Land.
vãng hoàn y
3203十種糞掃衣之一。以廢棄之布塊,或以葬儀時覆蓋死者之布所縫成之僧衣。〔四分律卷三十九〕(參閱「糞掃衣」6484)
; Một trong năm loại y bá nạp—One of the five kinds of monk's robes.
vãng lai
To go and come back; to go to and fro.
; To go to and from (back and forth).
vãng lai bát thiên phản
3203全稱往來娑婆八千返。即謂釋迦牟尼佛於菩提樹下成佛,乃非今生之事,早於曠古之前已然成佛,現今僅爲救度眾生而來此人間,實則佛陀已往來此界八千次之多。梵網經卷下(大二四‧一○○三下):「吾今來此世界八千返,爲此娑婆世界坐金剛花光王座。」
Vãng sanh
(徃生): sau khi mạng chung sanh vào thế giới khác; thông thường từ này được dùng thay thế cho từ “chết”. Nếu nói về nghĩa rộng, vãng sanh có nghĩa là thọ sanh vào Ba Cõi, Sáu Đường cũng như Tịnh Độ của chư Phật; nhưng sau khi thuyết Di Đà Tịnh Độ (彌陀淨土) trở nên thịnh hành, từ này chủ yếu ám chỉ thọ sanh về thế giới Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂). Vãng sanh được chia làm 3 loại: (1) Cực Lạc Vãng Sanh (極樂徃生), căn cứ vào thuyết của Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經), Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經) và A Di Đà Kinh (阿彌陀經); tức là xa lìa thế giới Ta Bà (s, p: sahā, 娑婆), đi về cõi Cực Lạc Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà ở phương Tây, hóa sanh trong hoa sen của cõi đó. (2) Thập Phương Vãng Sanh (十方徃生), căn cứ vào thuyết của Thập Phương Tùy Nguyện Vãng Sanh Kinh (十方隨願徃生經), tức vãng sanh về các cõi Tịnh Độ khác ngoài thế giới của đức Phật A Di Đà. (3) Đâu Suất Vãng Sanh (兜率徃生), y cứ vào thuyết của Di Lặc Thượng Sanh Kinh (彌勒上生經) cũng như Di Lặc Hạ Sanh Kinh (彌勒下生經); có nghĩa rằng Bồ Tát Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒) hiện đang trú tại Nội Viện Đâu Suất (s: Tuṣita, p: Tusita, 兜率), đến 16 ức 7 ngàn vạn năm sau, Ngài sẽ giáng sanh xuống cõi Ta Bà để hóa độ chúng sanh. Người tu pháp môn này sẽ được vãng sanh về cung trời Đâu Suất, tương lai sẽ cùng Bồ Tát Di Lặc xuống thế giới Ta Bà. Phần nhiều hành giả Pháp Tướng Tông (法相宗) đều tu theo pháp môn này. Ngoài ra, còn có các tín ngưỡng vãng sanh khác như người phụng thờ đức Phật Dược Sư (s: Bhaiṣajyaguru, 藥師) thì sẽ được vãng sanh về thế giới Tịnh Lưu Ly (淨瑠璃) của Ngài; người phụng thờ Bồ Tát Quán Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音) thì được vãng sanh về cõi Bổ Đà Lạc Ca (s: Potalaka, 補陀洛迦); người tín phụng đức Phật Thích Ca (s: Śākya, p: Sakya, 釋迦) thì được sanh về Linh Thứu Sơn (靈鷲山); người tín phụng Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經) thì được vãng sanh về Hoa Tạng Giới (華藏界); tuy nhiên, các tín ngưỡng này rất ít, nên vẫn chưa hình thành tư trào. Như đã nêu trên, Cực Lạc Vãng Sanh và Đâu Suất Vãng Sanh là hai dòng tư tưởng chủ lưu của Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, v.v. Đối với Tam Luân Tông, Thiên Thai Tông, Hoa Nghiêm Tông, Thiền Tông, v.v., Cực Lạc Vãng Sanh là phương pháp tự lực thành đạo. Riêng đối với Tịnh Độ Tông, tư tưởng này nương vào sự cứu độ của đức giáo chủ Di Đà làm con đường thành Phật, nên được gọi là Tha Lực Tín Ngưỡng. Còn Đâu Suất Vãng Sanh là tư tưởng thích hợp đối với Pháp Tướng Tông, được xem như là pháp môn phương tiện tu đạo. Tại Nhật Bản, trong Tây Sơn Tịnh Độ Tông (西山淨土宗) có lưu hành 2 thuyết về vãng sanh là Tức Tiện Vãng Sanh (卽便徃生) và Đương Đắc Vãng Sanh (當得徃生). Tịnh Độ Chơn Tông thì chủ trương thuyết Hóa Sanh (化生) vãng sanh về Chân Thật Báo Độ (眞實報土), và Thai Sanh (胎生) vãng sanh về Phương Tiện Hóa Độ (方便化土), v.v. Một số tác phẩm của Trung Quốc về tư tưởng vãng sanh như An Lạc Tập (安樂集, 2 quyển) của Đạo Xước (道綽, 562-645) nhà Đường, Vãng Sanh Luận Chú (徃生論註, còn gọi là Tịnh Độ Luận Chú [淨土論註], 2 quyển) của Đàm Loan (曇鸞, 476-?) thời Bắc Ngụy, v.v. Về phía Nhật Bản, cũng có khá nhiều thư tịch liên quan đến tư tưởng này như Vãng Sanh Thập Nhân (徃生拾因, 1 quyển) của Vĩnh Quán (永觀); Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集) của Nguyên Tín (源信); Nhật Bản Vãng Sanh Cực Lạc Ký (日本徃生極樂記) của Khánh Tư Bảo Dận (慶滋保胤); Tục Bản Triều Vãng Sanh Truyện (續本朝徃生傳) của Đại Giang Khuông Phòng (大江匡房); Thập Di Vãng Sanh Truyện (拾遺徃生傳), Hậu Thập Di Vãng Sanh Truyện (後拾遺徃生傳) của Tam Thiện Vi Khang (三善爲康); Tam Ngoại Vãng Sanh Truyện (三外徃生傳) của Liên Thiền (蓮禪); Bản Triều Tân Tu Vãng Sanh Truyện (本朝新修徃生傳) của Đằng Nguyên Tông Hữu (藤原宗友); Cao Dã Sơn Vãng Sanh Truyện (高野山徃生傳) của Như Tịch (如寂), v.v. Thần chú trì tụng để được vãng sanh về cõi Tịnh Độ là Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni (拔一切業障根本得生淨土陀羅尼), còn gọi là Vãng Sanh Quyết Định Chơn Ngôn (徃生決定眞言) hay Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú (徃生淨土神呪). Trong Tịnh Độ Chứng Tâm Tập (淨土證心集) của Vạn Liên Pháp Sư (卍蓮法師) nhà Thanh có câu: “Tam Giáo đồng nguyên, thống Nho Thích Đạo, câu kham niệm Phật, nhất tâm quy mạng, cụ Tín Nguyện Hạnh, tận khả vãng sanh (三敎同源、統儒釋道、俱堪念佛、一心歸命、具信願行、盡可徃生, Ba Giáo cùng gốc, cả Nho Thích Đạo, đều chung Niệm Phật; một lòng quy mạng, đủ Tín Nguyện Hạnh, thảy được vãng sanh).”
vãng sanh
1) Kiếp lai sanh: The future life—The life to which anyone is going. 2) Đi (sanh) về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà: To go to be in the Pure Land of Amitabha—To be reborn in the Pure Land—To have a rebirth in the Pure Land.
Vãng Sanh Thập Nhân
(徃生拾因, Ōjōjūin): tác phẩm của Vĩnh Quán (永觀, Eikan), vị Biệt Đương của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), 1 quyển, được thành lập trong khoảng thời gian niên hiệu Khang Hòa (康和, 1099-1104). Tác phẩm nói về vấn đề nếu như xưng niệm A Da Đà Phật thì chắc chắn sẽ được vãng sanh nhờ có 10 nhân tố chính: (1) thiện căn rộng lớn, (2) các tội tiêu diệt, (3) túc duyên sâu dày, (4) ánh sáng nhiếp thủ, (5) Thánh chúng độ trì, (6) Cực Lạc hóa chủ, (7) ba nghiệp tương ứng, (8) đạt được Tam Muội, (9) pháp thần đồng thể, (10) tùy thuận bản nguyện. Vĩnh Quán vốn là học Tăng của vùng Nam Đô, nhưng ông lại quay về với tín ngưỡng Tịnh Độ, và khuyên nên mọi người nên xưng danh niệm Phật hơn là quán tưởng niệm Phật.
Vãng Sanh Truyện
(徃生傳, Ōjōden): tập thâu lục truyền ký của những người vãng sanh Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà nhờ tu tập các thiện nghiệp, đặc biệt là niệm Phật. Như trong lời tựa bản Nhật Bản Vãng Sanh Cực Lạc Ký (日本徃生極樂記, Nihonōjōgokurakuki) của Khánh Tư Bảo Dận (慶滋保胤, Yoshishige-no-Yasutane, 931-1002) có dẫn các truyền ký trong Tịnh Độ Luận (淨土論) của Ca Tài (迦才) nhà Đường, cũng như Vãng Sanh Tây Phương Tịnh Độ Thoại Ứng San Truyện (徃生西方淨土瑞應删傳) của Văn Thẩm (文諗), Thiếu Khang (少康), những truyện vãng sanh dưới thời đại Bình An (平安, Heian, 794-1185) lấy truyện vãng sanh của Trung Quốc được biên tập dưới thời nhà Đường, Tống làm mô phạm; bất kể pháp môn tu tập khác nhau như Thiên Thai, Chơn Ngôn, Pháp Hoa, Niệm Phật, v.v., tác phẩm này thâu lục toàn bộ các trường hợp có dị tướng vãng sanh, có nhiều đoạn chấp bút thêm. Dưới thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333), do Thiền Tông khai tông, môn đồ Nhất Hướng của Nhật Liên Tông phát triển, v.v., việc biên tập hành trạng vãng sanh của chư vị Tông tổ bị đứt đoạn. Tuy nhiên, sang đến thời đại Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867), nhờ sự hỗ trợ của chính quyền Mạc Phủ, truyện vãng sanh của thời đại nhà Minh, Thanh bên Trung Quốc cũng ảnh hưởng mạnh; nhờ vậy phong trào thâu lục truyện vãng sanh tái hưng khởi. Thêm vào đó, với bối cảnh hướng thượng thể chế của chính quyền Mạc Phủ, việc biên tập chỉ giới hạn trong phạm vi nữ giới. Hơn nữa, các sách chú thích như Nhật Bản Vãng Lai Truyện Hòa Giải (日本徃來傳和解) do Tăng Thuần (僧純) trước tác vào năm 1851 (Gia Vĩnh [嘉永] thứ 4), cũng như một số tác phẩm thuộc loại sách dẫn như Thập Di Vãng Sanh Truyện Tế Mục (拾遺徃生傳細目), Thập Di Vãng Sanh Truyện Loại Tiêu (拾遺徃生傳類標), v.v., nói về truyện vãng sanh dưới thời Bình An, bắt đầu xuất hiện.
vãng sanh tịnh độ
Gaining rebirth to the Pureland—See Vãng Sanh (2). (I) Theo Tịnh Độ Tông, có hai trường hợp vãng sanh về Tịnh Độ—According to the Pure Land Sect, there are two conditions of rebirth to the Pureland: 1) Vãng sanh Chánh Quốc: To gain rebirth to the main land—Người nào bình thường tinh tấn niệm Phật, một lòng thành tín không lui sụt, khi lâm chung biết trước ngày giờ, chánh niệm rõ ràng, tự mình tắm gội, thay y phục, hoặc được quang minh của Phật chiếu đến thân, hoặc thấy tướng hảo của chư Phật cùng chư Thánh chúng hiện thân ra giữa không trung hay đi kinh hành trước mặt, có điềm lành hiển hiện rõ ràng, kẻ ấy trong một sát na liền được sanh thẳng về Tịnh Độ, gần gũi chư thượng thiện nhơn, dự vào một trong chín phẩm sen nơi chốn liên trì, hằng nghe được pháp âm của chư Phật, rốt ráo thành tựu được chánh quả—This condition is reserved for those who regularly and diligently practice Buddha Recitation, those who have a sincere and faithful mind without regression. They will know beforehand the time and place of their death, having clear and proper thoughts, they will bathe themselves, changing clothes, or receive the great lights of the Buddha shine to their bodies. Or they may see the enlightened characteristics of the Buddhas and an assembly of enlightened beings appearing in the sky often walking in meditation before their eyes. All the various good and wholesome images will appear clearly, within a split moment, these people will gain rebirth to the Pure land, be near the most supremely virtuous beings, and earn a place among the nine levels of the lotus throne. They will often be able to hear the dharma sounds of the Buddhas and ultimately they will attain the enlightenment fruit of Buddhahood. 2) Sanh về Nghi Thành: To be reborn to the outer border of the Pureland—Người bình thường giữ giới, cũng có niệm Phật nhưng không được tinh tấn và tin tưởng cho lắm, khi lâm chung không có tướng lành dữ chi cả, nhắm mắt đi xuôi tựa như người ngủ, vì kẻ ấy nghi tình chưa dứt, tức là tuy có niệm Phật mà lòng không tin tưởng tuyệt đối, nên không được sanh thẳng vào nơi chánh quốc, mà chỉ trụ vào một nơi ở ngoài biên phương tịnh độ mà thôi. Chỗ đó tên là Nghi Thành. Người sanh về cõi nầy có tuổi thọ là 500 năm (một ngày nơi cõi đó bằng 100 năm ở cõi người). Mãn kiếp xong sẽ bị đáo sanh trở lại trong sáu nẻo luân hồi. Tuy nhiên, mỗi ngày đều có chư Bồ Tát về đây thuyết pháp và khuyến tấn niệm Phật. Nếu chúng sanh nào biết tinh tấn tu hành, khi mạng chung sẽ được vãng sanh vào chánh quốc—This condition is reserved for those who normally maintain precepts, who practice Buddha Recitation but are not diligent and lack faith. Thus, when death arrives, they do not have any good or evil thoughts, but close their eyes similar to a sleeping person. Because those people's doubts are not eliminated. They may practice Buddha Recitation, but do not have absolute faith. They do not gain rebirth directly to the main land. Instead, they are born to a domain on the outskirts of the Pureland. That domain is called “Doubtful Land.” People who are born to that domain have a life expectancy of 500 years (a day in that land equals a 100 years in the human realm). After living out their existence, they must return to the six paths of the cycle of rebirths. However, Bodhisattvas come there everyday to expound sutras and to encourage them to diligently recite the Buddha's name. For those who diligently cultivate, when their lives come to an end, they will gain rebirth in the main land. (II) Theo Kinh Duy Ma Cật, chương mười, phẩm Phật Hương Tích, cư sĩ Duy Ma Cật đã nói với chư Bồ Tát nước Chúng Hương về “Vãng Sanh Tịnh Độ” như sau—According to the Vimalakirti Sutra, chapter ten, the Buddha of the Fragrant Land, Upasaka Vimalakirti told Bodhisattvas from the Fragrant Land about “Being reborn in the Buddha's Pure Land” as follows: • Các Bồ Tát nước Chúng Hương hỏi: “Bồ Tát phải thành tựu mấy pháp ở nơi cõi nầy làm không lầm lỗi, được sanh về cõi Tịnh Độ?”—The Bodhisattvas from the Fragrant Land asked: “How many Dharmas should a Bodhisattva achieve in this world to stop its morbid growth (defilements) in order to be reborn in the Buddha's pure land?” • Ông Duy Ma Cật đáp: “Bồ Tát thành tựu tám pháp thời ở cõi nầy làm không lầm lỗi, được sanh về cõi Tịnh Độ. Tám pháp là gì.”—Vimalakirti replied: “A Bodhisattva should bring to perfection eight Dharmas to stop morbid growth in this world in order to be reborn in the pure land. They are: 1) Lợi ích chúng sanh không mong báo đáp: Benevolence towards all living beings with no expectation of reward. 2) Thay thế tất cả chúng sanh chịu mọi điều khổ não: Endurance of sufferings for all living beings dedicating all merits to them. 3) Bao nhiêu công đức đều ban cho tất cả chúng sanh: Impartiality towards them with all humility free from pride and arrogance. 4) Lòng bình đẳng đối với chúng sanh khiêm nhường không ngại, đối với Bồ Tát xem như Phật: Reverence to all Bodhisattvas with the same devotion as to all Buddhas (i.e. without discrimination between Bodhisattvas and Buddhas). 5) Những kinh chưa nghe, nghe không nghi: Absence of doubt and suspicion when hearing (the expounding of) sutras which he has not heard before. 6) Không chống trái với hành Thanh Văn: Abstention from opposition to the sravaka Dharma. 7) Thấy người được cúng dường cũng không tật đố, không khoe những lợi lộc của mình, ở nơi đó mà điều phục tâm mình: Abstention from discrimination in regard to donations and offerings received with no thought of self-profit in order to subdue his mind. 8) Thường xét lỗi mình, không nói đến lỗi người, hằng nhứt tâm cầu các công đức: Self-examination without contending with others. Thus he should achieve singleness of mind bent on achieving all merits; these are the eight Dharmas. • Sau khi ông Duy Ma Cật và ngài Văn Thù Sư Lợi nói pháp nầy rồi, ở trong đại chúng có cả trăm ngàn vị trời, người đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, mười ngàn Bồ Tát chứng đặng Vô sanh Pháp nhẫn—After Vimalakirti and Manjusri had thus expounded the Dharma, hundreds and thousands of devas developed the mind set on supreme enlightenment, and ten thousand Bodhisattvas realized the patient endurance of the uncreate. (III) Theo Kinh Pháp Bảo Đàn, Phẩm Thứ Ba (Nghi Vấn)—According to the Dharma Jewel Platform Sutra, Chapter Three (Doubts and Questions): • Một hôm Vi Thứ sử hỏi Lục Tổ Huệ Năng rằng: “Đệ tử thường thấy Tăng tục niệm Phật A Di Đà, nguyện sanh Tây Phương, thỉnh Hòa Thượng nói, được sanh nơi cõi kia chăng? Nguyện vì phá cái nghi nầy.”—One day, Magistrate Vi asked the Sixth Patriarch, Hui-Neng: “Your disciple has often seen the Sangha and laity reciting 'Amitabha Buddha,' vowing to be reborn in the West. Will the High Master please tell me if they will obtain rebirth there and, so, dispel my doubts?” • Tổ bảo: “Sử quân khéo lắng nghe, Huệ Năng sẽ vì nói. Thế Tôn ở trong thành Xá Vệ nói kinh văn Tây Phương dẫn hóa, rõ ràng cách đây không xa. Nếu luận về tướng mà nói, lý số có mười muôn tám ngàn, tức là trong thân có mười ác tám tà, liền là nói xa, nói xa là vì kẻ hạ căn, nói gần là vì những người thượng trí. Người có hai hạng, nhưng pháp không có hai thứ. Mê ngộ có khác, thấy có mau chậm. Người mê niệm Phật cầu sanh về cõi kia, người ngộ tự tịnh tâm mình. Sở dĩ Phật nói 'tùy tâm tịnh liền được cõi Phật tịnh. Sử quân người phương Đông, chỉ tâm mình tịnh liền không có tội, tuy người phương Tây tâm không tịnh cũng có lỗi. Người phương Đông tạo tội niệm Phật cầu sanh về phương Tây, còn người phương Tây tạo tội, niệm Phật thì cầu sanh về cõi nào? Phàm ngu không rõ tự tánh, không biết trong thân Tịnh độ, nguyện Đông nguyện Tây, người ngộ thì ở chỗ nào cũng vậy. Sở dĩ Phật nói 'tùy chỗ mình ở hằng được an lạc. Sử quân, tâm địa chỉ không có cái bất thiện thì Tây phương cách đây không xa. Nếu ôm lòng chẳng thiện, niệm Phật vãng sanh khó đến. Nay khuyên thiện tri thức trước nên dẹp trừ thập ác tức là được mười muôn, sau trừ tám cái tà bèn qua được tám ngàn, mỗi niệm thấy tánh thường hành bình đẳng, đến như trong khảy móng tay, liền thấy Đức Phật A Di Đà. Sử quân chỉ hành mười điều thiện, đâu cần lại nguyện vãng sanh, không đoạn cái tâm thập ác thì có Phật nào đón tiếp. Nếu ngộ được đốn pháp vô sanh, thấy Tây phương chỉ trong khoảng sát na. Còn chẳng ngộ, niệm Phật cầu vãng sanh, thì con đường xa làm sao đến được? Huệ Năng vì mọi người mà khiến cho quý vị thấy trong sát na cõi Tây phương ở ngay trước mắt, quý vị có muốn thấy hay chăng?”—The Master said, “Magistrate, listen well. Hui Neng will explain it for you. When the World Honored One was in Shravasti City, he spoke of being led to rebirth in the West. The Sutra text clearly states, ''it is not far from here.' If we discuss its appearance, it is 108,000 miles away but in immediate terms, it is explained as far distant for those of inferior roots and as nearby for those of superior wisdom. There are two kinds of people, not two kinds of Dharma. Enlightenment and confusion differ, and seeing can be quick or slow. The deluded person recites the Buddha's name, seeking rebirth there, while the enlightened person purifies his own mind. Therefore, the Buddha said, 'As the mind is purified, the Budhaland is purified.' Magistrate, if the person of the East merely purifies his mind, he is without offense. Even though one may be of the West, if his mind is impure, he is at fault. The person of the East commits offenses and recites the Buddha's name, seeking rebirth in the West. When the person of the West commits offenses and recites the Buddha's name, in what country does he seek rebirth? Common, deluded people do not understand their self-nature and do not know that the Pure Land is within themselves. Therefore, they make vows for the East and vows for the West. To enlightened people, all places are the same. As the Buddha said, 'In whatever place one dwells, there is constant peace and happiness.' Magistrate, if the mind-ground is only without unwholesomeness, the West is not far from here. If one harbors unwholesome thoughts, one may recite the Buddha's name but it will be difficult to attain that rebirth. Good Knowing Advisors, I now exhort you all to get rid of the ten evils first and you will have walked one hundred thousand miles. Next get rid of the eight deviations and you will have gone eight thousand miles. If in every thought you see your own nature, always practice impartiality and straightforwardness, you will arrive in a finger-snap and see Amitabha. Magistrate, merely practice the ten wholesome acts; then what need will there be for you to vow to be reborn there? But if you do not rid the mind of the ten evils, what Buddha will come to welcome you? If you become enlightened to the sudden dharma of the unproduced, you will see the West in an instant. Unenlightened, you may recite the Buddha's name seeking rebirth but since the road is so long, how can you traverse it? Hui-Neng will move to the West here in the space of an instant so that you may see it right before your eyes. Do you wish to see it? ” • Lúc ấy mọi người đều đảnh lễ thưa rằng: “Nếu ở cõi nầy mà thấy được thì đâu cần phải nguyện vãng sanh, nguyện Hòa Thượng từ bi liền hiện Tây phương khiến cho tất cả được thấy.”—At that time, the entire assembly bowed and said, “If we could see it here, what need would there be to vow to be reborn there? Please, High Master, be compassionate and make the West appear so that we might see it.” • Tổ bảo rằng: “Nầy đại chúng! Người đời tự sắc thân là thành, mắt tai mũi lưỡi là cửa, ngoài có năm cửa, trong có cửa ý. Tâm là đất, tánh là vua, vua ở trên đất tâm, tánh còn thì vua còn, tánh mất đi thì vua cũng mất. Tánh ở thì thân tâm còn, tánh đi thì thân tâm hoại. Phật nhằm ở trong tánh mà tạo, chớ hướng ra ngoài mà cầu. Tự tánh mê, tức là chúng sanh, tự tánh giác tức là Phật. Từ bi tức là Quán Thế Âm, hỷ xả gọi là Đại Thế Chí, hay tịnh tức là Đức Thích Ca, bình trực tức là Phật A Di Đà. Nhơn ngã ấy là Tu Di, tà tâm là biển độc, phiền não là sóng mói, độc hại là rồng dữ, hư vọng là quỷ thần, trần lao là rùa trạnh, tham sân là địa ngục, ngu si là súc sanh. Nầy thiện tri thức! Thường làm mười điều lành thì thiên đường liền đến, trừ nhơn ngã thì núi Tu Di ngã, dẹp được tham dục thì biển nước độc khô, phiền não không thì sóng mói mất, độc hại trừ thì rồng cá đều dứt. Ở trên tâm địa mình là giác tánh Như Lai phóng đại quang minh, ngoài chiếu sáu cửa thanh tịnh hay phá sáu cõi trời dục, tự tánh trong chiếu ba độc tức liền trừ địa ngục, vân vân., các tội một lúc đều tiêu diệt, trong ngoài sáng tột, chẳng khác với cõi Tây phương, không chịu tu như thế nầy làm sao đến được cõi kia?”—The Master said, “Great assembly, the worldly person's own physical body is the city, and the eye, ear, nose, tongue, and body are the gates. Outside there are five gates and inside there is a gate of the mind. The mind is the 'ground' and one's nature is the 'king.' The 'king' dwells on the mind 'ground.' When the nature is present, the king is present but when the nature is absent, there is no king. When the nature is present, the body and mind remain, but when the nature is absent, the body and mind are destroyed. The Buddha is made within the self-nature. Do not seek outside the body. Confused, the self-nature is a living being: enlightened, it is a Buddha. 'Kindness and compassion' are Avalokitesvara and 'sympathetic joy and giving' are Mahasthamaprapta. 'Purification' is Sakyamuni, and 'equanimity and directness' are Amitabha. 'Others and self' are Mount Sumeru and 'deviant thoughts' are the ocean water. 'Afflictions' are the waves. 'Cruelty' is an evil dragon. 'Empty falseness' is ghosts and spirits. 'Defilement' is fish and turtles, 'greed and hatred' are hell, and 'delusion' is animals.Good Knowing Advisors, always practice the ten good practices and the heavens can easily be reached. Get rid of others and self, and Mount Sumeru topples. Do away with deviant thought, and the ocean waters dry up. Without defilements, the waves cease. End cruelty and there are no fish or dragons. The Tathagata of the enlightened nature is on your own mind-ground, emitting a great bright light which outwardly illuminates and purifies the six gates and breaks through the six desire-heavens Inwardly, it illuminates the self-nature and casts out the three poisons. The hells and all such offenses are destroyed at once. Inwardly and outwardly, there is a bright penetration. This is no different from the West. But if you do not cultivate, how can you go there?" • Đại chúng nghe nói đều rõ ràng thấy được tự tánh, thảy đều lễ bái, đều tán thán: “Lành thay!” Thưa rằng: “Khắp nguyện pháp giới chúng sanh nghe đó một thời liền ngộ hiểu.”—On hearing this speech, the members of the great assembly clearly saw their own natures. They bowed together and exclaimed, “This is indeed good! May all living beings of the Dharma Realm who have heard this awaken at once and understand.”
Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú
(徃生淨土神呪): còn gọi là Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni (抜一切業障根本得生淨土陀羅尼), Vãng Sanh Quyết Định Chơn Ngôn (徃生決定眞言). Câu thần chú này được tìm thấy trong Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bổn Đắc Sanh Tịnh Độ Thần Chú (抜一切業障根本得生淨土神呪, Taishō No. 368) do Lưu Tống Cầu Na Bạt Đà La (s: Guṇabhadra, 求那跋陀羅) trùng dịch. Và một số bản có nội dung tương tự với thần chú này như Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō No. 901) do Đường A Địa Cù Đa (阿地瞿多) dịch, Cam Lồ Đà La Ni Chú (甘露陀羅尼呪, Taishō No. 901) do Đường Thật Xoa Nan Đà (s: Śikṣānanda, 實叉難陀) dịch, A Di Đà Phật Thuyết Chú (阿彌陀佛說呪, Taishō No. 369), thất dịch, Phật Thuyết Vô Lượng Công Đức Đà La Ni Kinh (佛說無量功德陀羅尼經, Taishō No. 1317) do Tống Pháp Hiền (法賢) dịch. Nguyên âm Hán ngữ của thần chú này là: “Nam mô a di đa bà dạ, đa tha già đa dạ, đa địa dạ tha, a di lợi đô bà tỳ, a di lợi đa, tất đam bà tỳ, a di lợi đa tỳ ca lan đế, a di lợi đa, tỳ ca lan đa, già di nị, già già na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha (南無阿彌多婆夜、哆他伽哆夜、哆地夜哆、阿彌利都婆毗、阿彌利哆、悉眈婆毗、阿彌利哆毗迦蘭諦、阿彌利哆、毗迦蘭哆、伽彌膩、伽伽那、枳多迦棣、娑婆訶)”. Căn cứ vào bộ Trung Hoa Phật Giáo Bách Khoa Toàn Thư (中華佛敎百科全書, bản điện tử) cũng như Hán Phạn-Phạn Hán Đà La Ni Dụng Ngữ Dụng Cú Từ Điển (漢梵、梵漢陀羅尼用語用句辭典, Nhà Xuất Bản Hoa Vũ [華宇出版社], Đài Loan, 1985) của tác giả người Đức là Robert Heineman, Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú được chuyển sang tiếng Sanskrit như sau: “namo amitabhaya, tathagataya, tad yatha, amrtod bhave, amrta siddhambhave, amrta vikrmte, amrta vikrmta gamine, gagana kirti kare, svaha”; và được dịch là: “Con xin quy mạng đức Phật Vô Lượng Quang, đấng Như Lai, liền thuyết chú rằng đấng chủ tể Cam Lồ, người thành tựu Cam Lồ, người truyền rưới Cam Lồ, người rưới khắp Cam Lồ, người tuyên dương (Cam Lồ) khắp hư không, thành tựu viên mãn”. Như trong Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bổn Đắc Sanh Tịnh Độ Thần Chú, đức Phật dạy rằng nếu có người thiện nam và thiện nữ trì tụng thần chú này thì ngày đêm thường được đức Phật A Di Đà trú trên đỉnh đầu của vị ấy để ủng hộ, không khiến cho các điều oan gia xảy ra, đời hiện tại được sống an ổn, và khi lâm chung theo đó mà được vãng sanh về quốc độ của Ngài. Vì vậy, câu thần chú này thường được tụng chung với Thập Chú trong thời công phu khuya của Thiền môn và được dùng trong các buổi lễ cầu siêu.
vãng sinh
3098謂命終時生於他方世界。通常又以「往生」爲「死」之代用詞。往生一詞,就廣義而言,通指受生三界六道及諸佛淨土,然至彌陀淨土之說盛行後,主要指受生極樂世界。一般分爲極樂往生、十方往生、兜率天往生等;而願意往生,即稱願生。 (一)極樂往生,乃基於無量壽經、觀無量壽經、阿彌陀經之說。謂離開娑婆世界,往西方阿彌陀佛之極樂淨土,化生於彼土蓮花中。淨土宗之目的在往生極樂淨土,淨土,即指離開迷界後,所往生無生滅變化之世界。據往生論註卷下載,受生極樂與受生三界之「相」不同,故謂往生即無生之生。又往生之法有多種,如;(1)念佛往生,以念佛名號而往生。(2)諸行往生,又稱萬行往生。修習念佛以外之諸善行而得往生。(3)助念往生,以念佛及修諸善行而得往生。(4)聞名往生,聞佛名號而生信,得以往生。唐代善導之淨土法門即以念佛往生爲主,且以「指方立相」爲旨,謂命終後確實往生西方淨土又善導之弟子懷感,於所著之釋淨土群疑論卷二謂,依第一義諦言,往生係無生之意;依世諦言,即捨此往彼之意。惟天台宗、禪宗等,以唯心彌陀、己心淨土之說,批駁捨此往彼說。 (二)十方往生,係根據十方隨願往生經之說法。謂往生於阿彌陀佛淨土以外之其他淨土。 (三)兜率天往生,又作兜率往生,係基於彌勒上生經、彌勒下生經之說法。謂彌勒菩薩現居於兜率內院,至五十六億七千萬年後,將降生於娑婆世界,救度眾生。修此法門者往生兜率天,將來與彌勒菩薩同來娑婆世界。法相宗之行者多修此法門。 (四)其他之往生信仰,如:信奉藥師如來者,得往生淨琉璃世界;信奉觀音菩薩者,得生補陀落迦;信奉釋迦牟尼佛者,得生靈鷲山、無勝莊嚴國;信奉華嚴經者,往生華藏界等。然此類信仰極少見,故未形成思潮。 上記之極樂往生、兜率往生等二種思想,爲印度、中國、日本等地往生思想之兩大主流。極樂往生之思想,於三論宗、天台宗、華嚴宗、禪宗等,爲自力成道之方法。於淨土宗,則依教主彌陀之救度爲成佛之道,而稱他力信仰。兜率往生之思想爲法相宗所喜好,視之爲修道之方便法門。十方往生之思想,見於唐代道綽之安樂集、智顗之淨土十疑論等書,惟願生之事蹟甚少。此外,善導之轉經行道願往生淨土法事讚卷上,有:難思議往生樂、雙林樹下往生樂、難思往生樂等說。〔法華經卷六藥草喻品〕
; The future life, the life to which anyone is going; to go to be born in the Pure Land of Amitàbha Buddha. (1) vãng tướng hồi hướng to transfer one's merits to all beings that they may attain the Pure Land of Amitàbha. (2) hoàn tướng hồi hướng having been born in the Pure Land to return to mortality and by one's merits to bring mortals to the Pure Land.
vãng sinh giảng
3202於日本,爲發願往生極樂世界而舉行之講習會。據私聚百因緣集卷八所述,此會爲日人永觀於十一世紀晚期所創設。歷經數百年,日人信仰者甚多。男女老少貴賤皆契機,月月結會,時時勤修。集會時,或奏伎樂,或唱伽陀(梵 gāthā,偈),並設供具、備香花等。信眾臨終頗有顯瑞相者。
vãng sinh luận
3200<一>全一卷。梵名 Sukhāvatī-vyūhopadeśa。世親(梵 Vasubandhu)造,北魏菩提流支譯。全稱無量壽經優婆提舍願生偈。又稱淨土論、往生淨土論、無量壽經論、無量壽優波提舍經論、無量壽經優波提舍、願生偈。收於大正藏第二十六冊。本論依無量壽經作願生偈,讚歎極樂淨土之莊嚴,闡說修習禮拜、讚歎、作願、觀察、迴向等五念門,勸往生西方。謂修習五念門可得種種成就,並次第得近門、大會眾門、宅門、屋門、園林遊戲地門等五種功德;前四種功德爲入功德,能入於蓮華藏世界,自受法樂;園林遊戲地門則爲出功德,即迴入生死煩惱,遊戲神通至教化地,如是自利利他,速成就菩提。本論爲唯一印度撰述之淨土論部,淨土宗特重之,與無量壽經、觀無量壽經、阿彌陀經等三部經合稱三經一論,爲正所依之經論。其論述頗爲深妙,大旨與攝大乘論(無著造)十八圓淨之說一致。北魏曇鸞著有往生論註二卷。又日本正倉院聖護藏中藏有本論之古寫本,與現行本略有出入。〔歷代三寶紀卷九、大唐內典錄卷四、開元釋教錄卷六〕 <二>凡三卷。唐代迦才撰。收於大正藏第四十七冊。內容評定極樂淨土之報化與往生之機品,舉理證及實例論述凡夫往生之可能。共分九章,即:定土體性、定往生人、定往生因、出道理、引聖教爲證、引現得往生人相貌、將西方兜率相對校量優劣、明教興時節、教人欣厭勸進其心等。迦才博採諸經、論、釋等之文句,闡明他力易行之法門。
vãng sinh luận chú
3201凡二卷。北魏曇鸞撰。全稱無量壽經優婆提舍願生偈婆藪槃頭菩薩造并註。又作淨土論註、無量壽經論註、無量壽經優婆提舍願生偈註。略稱論註或註論。乃註解世親淨土論之書。收於大正藏第四十冊。本書上卷首揭龍樹菩薩之十住毘婆沙論易行品,說明難、易二道。本論屬易行道,明示他力之法門,謂往生淨土之要因,全仗彌陀本願力;次爲總說分,乃就願生偈一文逐次解釋,並設八項問答,說明願生淨土之機與一切善惡凡夫相。下卷則以長行釋解義分,立有:願偈大意、起觀生信、觀行體相、淨入願心、善巧攝化、離菩提障、順菩提門、名義攝對、願事成就、利行滿足等十科註釋文義,並於利行滿足科之末,開顯自利利他之要義,引無量壽經四十八願中之第十一、十八、二十二等願,作他力增上緣之證。〔歷代三寶紀卷四、法經錄卷六、東域傳燈目錄卷下〕
vãng sinh lễ tán kệ
3202全一卷。唐代善導著。全稱勸一切眾生願生西方極樂世界阿彌陀佛國六時禮讚偈。又作六時禮讚偈、往生禮讚、禮讚。收於大正藏第四十七冊。以龍樹、世親之禮讚偈爲基礎而訂六時禮讚法,印於日沒、初夜、中夜、後夜、晨朝、日中等六時,行不同之禮讚。如於中夜,誦龍樹之十二禮偈,行十六拜;於後夜,誦世親之往生論偈,行二十一拜。此爲念佛行人之修法。〔開元釋教錄卷十三〕
vãng sinh môn
3199請參閱 淨土瑞應傳 爲「正覺門」之對稱。正覺門,指彌陀之正覺;往生門,則指眾生往生之因果。阿彌陀佛於過去世未成佛時,曾立誓言「若不生者,不取正覺」,故眾生皆往生,彼始成正覺。眾生之往生乃依阿彌陀佛之正覺所成,故彌陀之正覺與眾生之往生乃一體之兩面,關係密切,不能截然區分。
vãng sinh quyết định chân ngôn
Mantra for the rebirth in the Pure Land.
vãng sinh thập nhân
3199全一卷。日本永觀著。收於大正藏第八十四冊。謂稱名念佛中有十種往生要素,且主張一心念佛即可往生西方極樂世界。此十種要素爲:廣大善根、眾罪消滅、宿緣深厚、光明攝取、聖眾護持、極樂化主、三業相應、三昧發得、法身同體、隨順本願等。
vãng sinh truyện
3200將往生西方極樂世界者加以集錄而成之傳記。亦有雜載於高僧傳、靈異記、佛教故事集者。此外尚有往生者之專集。唐即迦才之淨土論卷下即載有僧俗男女二十餘人之往生傳。日本平安中期源信著有往生要集;稍前,有慶滋保胤之日本往生極樂記,此書被認爲是日本最早之往生傳,其後各種往生傳之著作紛紛問世。一般高僧傳大都以僧人爲中心;而往生傳則針對高僧傳,備載僧俗男女之往生記錄。茲將現存之往生傳,列表如下。(參閱「淨土往生傳」4688)
vãng sinh tập
3200凡三卷。明代袾宏撰。收於大正藏第五十一冊。本書集錄我國與印度往生西方者,計分九類:(一)沙門往生類,東晉慧遠至明代寶珠,凡九十八人。(二)王臣往生類,烏萇國王至張無盡丞相,凡三十二人。(三)處士往生類,周續之至華居士,凡二十八人。(四)尼僧往生類,尼大明至尼法藏,凡五人。(五)婦女往生類,隋皇后至許氏婦,凡三十二人。(六)惡人往生類,張善和至金奭,凡八人。(七)畜生往生類。(八)諸聖同歸類。(九)生存感應類。另有續錄附於畜生往生類之後,舉出僧明本至吳居士,凡二十人。其中,諸聖同歸類舉出觀無量壽經之擇生極樂、無量壽經之往生無數等;生存感應類則舉出鬼不敢噉、夫婦見佛、卻鬼不現、薦拔亡靈、睡寢得安、病目重明等現世利益。並於附錄普勸必修淨土,最後舉出念佛十種功德。
vãng sinh tịnh độ sám nguyện nghi
3200請參閱 淨土門 請參閱 略諸經論念佛法門生淨土集 請參閱 往生論 請參閱 往生淨土懺願儀 全一卷。宋代遵式(964~1032)撰於大中祥符八年(1015)。又稱往生淨土懺儀。收於大正藏第四十七冊。本書依據大無量壽經、稱讚淨土經等諸經,揭示十種行法:嚴淨道場、方便法(入道場之方便法)、正修意、燒香散花、禮請法、讚歎法、禮佛法、懺願法、旋繞誦法、坐禪法等。淨土信仰流行民間後,依據本書禮拜之懺法亦廣爲流行,即今所謂之「淨土懺」。〔淨土依憑經論章疏目錄〕
vãng sinh yếu tập
3199凡三卷,或以每卷各分本末,共計六卷。日僧源信(惠心僧部)撰(984~985)。收於大正藏第八十四冊。係輯錄一六○餘部經卷之往生要義,以問答體裁撰寫而成。共分厭離穢土、欣求淨土、極樂證據、正修念佛、助念方法、別時念佛、念佛利益、念佛證據、往生諸業、問答料簡等十門。由於辨別現世之無常,而發願往生淨土;若欲往生極樂,則以念佛爲最重要。在念佛中,立有觀念、稱念兩種方式。源信認爲觀念較殊勝;稱念則爲眾人所能實行者。
vãng thế thư
3198梵名 Purāṇa。又作富蘭那聖典、古事記。係古代印度神話傳說之總集。乃印度教主要經典之一,約於西元前一世紀至十世紀間完成。相傳爲廣博(梵 Vyāsa,音譯毘耶娑)所作,然實爲長期積累之作品。現存大往世書(梵 Mahāpurāṇa)十八部,分別爲各教派所依據之經典,即:梵天往世書(梵 Brahmapurāṇa)、蓮花往世書(梵 Padmapurāṇa)、毘濕奴往世書(梵 Viṣṇupurāṇa)、風神往世書(梵 Vāyupurāṇa,又作溼婆往世書)、薄伽梵往世書(梵 Bhāgavatapurāṇa)、那羅陀往世書(梵 Nāradapurāṇa)、摩根德耶往世書(梵 Mārkaṇḍeyapurāṇa)、火神往世書(梵 Agnipurāṇa)、未來往世書(梵 Bhaviṣyapurāṇa)、梵轉往世書(梵 Brahmavaivartapurāṇa)、林伽往世書(梵 Liṅgapurāṇa)、野豬往世書(梵 Varāhapurāṇa)、室建陀往世書(梵 Skandapurāṇa)、侏儒往世書(梵 Vāmanapurāṇa)、龜往世書(梵 Kūrmapurāṇa)、魚往世書(梵 Matsyapurāṇa)、大鵬往世書(梵 Garuḍapurāṇa)、梵卵往世書(梵 Brahmāṇḍapurāṇa)。另有續往世書(梵 Upapurāṇa):卵往世書(梵 Aṇḍapurāṇa)、卡毘拉往世書(梵 Kāpilapurāṇa)、時往世書(梵 Kālikapurāṇa)等十八部。(參閱「富蘭那」4930)
vãng tương hồi hướng
3203謂以自己之善行功德迴向與他人,而成爲他人之善行功德,願共往生極樂淨土;或藉善行功德而希望往生淨土,皆稱爲往相迴向。然此種可能往生淨土之功德,並非眾生之善行所能達成,而須依靠阿彌陀佛之願力方能往生。反之,已往生淨土者,爲救濟眾生,普施教化,而再生此世間者,稱爲還相迴向。〔往生論註卷下、往生禮讚偈、觀經疏散善義〕
vãng tướng hồi hướng
Hồi hướng công đức cho mọi người được cùng vãng sanh Tịnh Độ—To transfer one's merits to all beings that they may attain the Pure Land of Amitabha.
vén
To roll (pull—turn—draw) up.
vén khéo
Orderly.
véo
To pinch and twist sharply.
vét
To clear out—To clean out.
vét sạch
See Vét.
vì
Because of—Due to—Because—For—In view of.
vì bổn nguyện làm lợi ích chúng sanh
To do so many alms things for the living creatures according to one's fundamental vows.
vì cớ gì
For what reason ?
vì lẽ ấy
Therefore.
vì lợi ích
For convenience' sake
vì vậy
See Vì lẽ ấy.
ví
1) To compare. 2) To surround—To beset—To encircle. 3) Handbag—Purse.
ví như
In case.
vía
Vital spirit.
vía ngày đản sanh của đức phật a di đà
Ngày 17 tháng 11 âm lịch—Celebration of Amitabha Buddha's Birthday (17th of the 11th month Lunar calendar).
vía ngày đản sanh đức hoa nghiêm bồ tát
Ngày 29 tháng 12 âm lịch—Avatamsaka Bodhisattva's Birthday (29th day of the twelfth month Lunar calendar).
vía ngày đản sanh đức định quang phật
Ngày mồng 6 tháng giêng âm lịch—Samadhi Light Buddha's Birthday (the 6th of the first month Lunar calendar).
vía quan thế âm bồ tát thành đạo
Ngày 19 tháng 6 âm lịch—Celebration of Kuan Shi Yin Bodhisattva's Enlightenment (the 13th of the 6th month and the 19th of the 6th month Lunar calendar).
vía đản sanh lục tổ huệ năng
Ngày mồng 8 tháng 2 âm lịch—Sixth Patriarch's Birthday (the 8th day of the second month Lunar calendar).
vía đản sanh phổ hiền bồ tát
Ngày 21 tháng 2 âm lịch—Universal Worthy Bodhisattva's Birthday (the 21st day of the second month Lunar calendar).
vía đản sanh tổ bồ đề đạt ma
Ngày 5 tháng mười âm lịch—Venerable First Patriarch Bodhidharma's Birthday (the 5th day of the 10th month Lunar calendar).
vía đản sanh đức bồ tát dược vương
Ngày 28 tháng 4 âm lịch—Medicine King Bodhisattva's Birthday (the 28th of the 4th month Lunar calendar).
vía đản sanh đức long thọ bồ tát
Ngày 24 tháng 7 âm lịch—Nagarjuna (Dragon Tree) Bodhisatva's Birthday (the 24th day of the 7th month Lunar calendar).
vía đản sanh đức nhiên đăng cổ phật
Ngày 22 tháng tám âm lịch—(Dipankara Buddha) Burning Lamp Buddha of Antiquity's Birthday (the 22nd of the 8th month Lunar calendar).
vía đản sanh đức phật dược sư
Ngày 30 tháng 9 âm lịch—Medicine Master Buddha's Birthday (the 30th day of the 9th month Lunar calendar).
vía đản sanh đức quan thế âm
Ngày 19 tháng 2 âm lịch—Kuan Shi Yin Bodhisattva's Birthday (the 19th of the second month Lunar calendar).
vía đản sanh đức văn thù sư lợi bồ tát
Ngày 4 tháng 4 âm lịch—Manjushri Bodhisattva's Birthday (the 4th day of the 4th month Lunar calendar).
vía đản sanh đức đại thế chí bồ tát
Ngày 13 tháng 7 âm lịch—Great Strength Bodhisattva's Birthday (the 13th day of the 7th month Lunar calendar).
vía đản sanh đức địa tạng bồ tát
Ngày 30 tháng 7 âm lịch—Earth Store Bodhisattva's Birthday (the 30th day of the 7th month Lunar calendar).
vía đức lục tổ nhập niết bàn
Ngày mồng 3 tháng 8 âm lịch—Sixth Patriarch's Entering Nirvana Day (the 3rd day of the 8th month Lunar Calendar).
vía đức phật di lặc
Mồng một tháng giêng âm lịch—Maitreya Bodhisattva's Birthday (the first day of the first month Lunar calendar).
vít xuống
To pull down.
víu
1) Vướng víu—To attach (cling) to. 2) Vá víu—To patch.
vò
To crush in one's hand.
vò võ
To be lonely.
vò xé
To crumple up and to tear into piece.
vòi vọi
Very high—Sky-high.
vòm trời
Gaganatala (S), Vault of the sky.
; The arch of the heavens.
vòng
Circle.
vòng hoa
Xem Hoa man.
vòng hào quang
Halo.
vòng luân hồi sanh tử
Samsara (skt)—Circle of birth and death—Circle of misery—Circle of suffering.
vòng lẩn quẩn
Vicious circle.
vòng ngã chấp
The cycle of ego-attachment.
vòng sanh tử
Bhāva-cakra (S).
Vòng sinh tử
S: bhava-cakra; P: bhāva-cakka; nguyên nghĩa Phạn ngữ (sanskrit) là Hữu luân, bánh xe của tồn tại, chỉ cái luân chuyển của thế giới hiện hữu; |Cách nói và biểu tượng của người Tây Tạng chỉ Luân hồi (s: saṃsāra). Thế giới của Hữu tình hiển hiện dưới sáu dạng (Lục đạo): Thiên giới, loài A-tu-la, loài người là ba thiện giới nằm phía trên của bánh xe. Phía dưới của bánh xe là súc sinh, Ngạ quỷ và Ðịa ngục. Tất cả sáu loài này đều chịu Khổ và sự hoại diệt. Cái chết được xem do Diêm vương gây ra, là người quay và giữ (cắn) chặt bánh xe.|Nguyên nhân của khổ được biểu tượng bằng ba con thú nằm ở trung tâm bánh xe: gà (chỉ tham), lợn (chỉ Si) và rắn (chỉ sân). Chu vi của bánh xe được khắc ghi mười hai yếu tố của nhân duyên sinh (Mười hai nhân duyên). Biểu tượng của bánh xe tồn tại được hiểu dưới nhiều cách khác nhau. Ðầu tiên, sáu nẻo tái sinh được trình bày dưới sáu cảnh tượng khác nhau. Tử thư xuất phát từ quan điểm này mà chỉ dẫn những gì cần phải làm lúc chết để được sinh vào các cõi tốt đẹp. Người ta cần hiểu các cõi này chính là sáu loại tâm thức hay sáu mẫu người tiêu biểu hay sáu loại trạng huống ngay trong đời sống bình thường.|Trên một bình diện khác, người xem có thể khám phá ra trong sáu cảnh tượng đó có trình bày sáu dạng xuất hiện của Quán Thế Âm với sáu cách khai thị khác nhau để chúng sinh cõi đó giải thoát. Ngay như câu Man-tra OṂ MA-ṆI PAD-ME HŪṂ với sáu âm cũng được xem là mỗi âm thuộc về một cõi nói trên. Nếu trung tâm bánh xe ghi rõ ba nguyên nhân sinh thành sáu cõi thì vòng ngoài bánh xe là các nguyên nhân cụ thể sinh ra mỗi đời sống cá nhân. Cả hai nơi đều lấy vô minh là cơ sở. Các yếu tố của Mười hai nhân duyên được trình bày trong bức tranh sau (bản vẽ của bà Li Gô-ta-mi, bạn đồng hành của Lạt-ma Gô-vin-đa).|||||H 75: Vòng sinh tử; ① Diêm vương đang cắn và giữ chặt; ② Vòng ngoài cùng tượng trưng cho Mười hai nhân duyên (十二因緣; s: dvādaśāṅga-pratītyasamutpāda), từ trên đỉnh theo chiều kim đồng hồ: 1. Người đàn bà mù chống gậy, vô minh (無明; s: avidyā), 2. Thợ gốm, hành (行; s: saṃskāra), 3. Khỉ, thức (識; s: vijñāna), 4. Hai người trong thuyền, danh sắc (名色; nāmarūpa), 5. Nhà sáu cửa sổ, sáu giác quan, lục căn (六根; ṣaḍāyatana); 6. Cặp trai gái, xúc (觸; sparśa), 7. Mũi tên bắn trúng mắt, thụ (受; vedanā), 8. Người say, ái (愛; tṛṣṇā), 9. Người hái trái cây, thủ (取; upādāna), 10. Cảnh giao hợp, hữu (有; bhava), 11. Mẹ sinh con, sinh (生; jāti), 12. Vai mang xác chết, lão tử (老死; jāra-maraṇa); ③ Vòng giữa, biểu hiện của Lục đạo (六道; từ trên theo kim đồng hồ): 1. Thiên giới (天; deva), 2. A-tu-la (阿修羅; āsura), 3. Ngạ quỷ (餓鬼; preta), 4. Ðịa ngục (地獄; nāraka), 5. Súc sinh (畜生; paśu), 6. Loài người (人; nāra). IV. Trung tâm: gà, tham (貪; rāga), lợn, si (癡; moha) và rắn, sân (瞋; dveṣa).
vòng trôn ốc
Spiral.
vóc
Statture—Height.
vói
To stretch (reach) out.
vô
5068梵語 a。意謂非存在。佛教認為所謂有或無之二邊(即「偏有」或「偏無」之一方)皆為謬誤;唯有超越有與無之相對性,始屬絕對之真如。於原始佛教經典中,如雜阿含經卷七、相應部經典二十四之五、大毘婆沙論卷七十六等,所顯現「無」之觀念,係相對於「有」之「無」,亦即為相對於「存在」之「非存在」。大乘佛教經論更進一步揭示其義,如中論卷一觀六種品謂,一切有與無,本即不存在:若見有、見無之相,即是淺智之見。同論卷四、大智度論卷六等,則藉超越相對性之有無,泯絕諸法之假實斷常等,而以「無」為「一切皆空」之同義語。蓋以諸法皆由因緣和合所生,故本性即是無(空無自性);復以有空義之故,遂得成一切法。 大般若經卷四更藉「無」之徹底否定,而對五蘊、六界、十二處,乃至四果、獨覺、菩薩、佛等佛道修行各階段之人格發展予以「一無所執」之精闢闡論(大五‧二二中):「色不異空,空不異色;色即是空,空即是色。受、想、行、識不異空,空不異受、想、行、識;受、想、行、識即是空,空即是受、想、行、識。(中略)如是空中無色,無受、想、行、識;無地界,無水、火、風、空、識界;無眼處,無耳、鼻、舌、身、意處;無色處,無聲、香、味、觸、法處。(中略)無預流,無預流果;無一來,無一來果;無不還,無不還果;無阿羅漢,無阿羅漢果;無獨覺,無獨覺菩提;無菩薩,無菩薩行;無佛,無佛菩提。舍利子!修行般若波羅蜜多菩薩摩訶薩,與如是等法相應故,當言與般若波羅蜜多相應。」 同經卷三十八亦謂,「無性」乃是般若波羅蜜多之自性;而所謂般若波羅蜜多,即是捨離般若波羅蜜多之自性。此說與上述引文均可視為般若經系統對「無」之核心思想,乃從透徹之否定來開展大乘佛教無所滯礙執著之般若大慧。 見於維摩經卷中之「入不二法門」亦為詮釋「無」之著名典故。據該經記載,一日,文殊師利等三十二菩薩與維摩詰居士談論有關何等為不二法門之究極答案,諸菩薩均先後提出各種超越生滅、善惡等相對原理之看法,而以之為不二法門;文殊則謂無言、無說、無示、無識為不二法門;對此,維摩詰唯以沈默不語顯示之。由是,文殊遂歎之為「是真入不二法門」。要之,維摩詰之「默不二」即是表現一種透骨透髓、積極活潑的「無」之精神。 於我國,如慧遠、僧肇、吉藏、慧思、智顗等諸師對「無」之概念,皆大抵繼承般若系統之思想。如慧思於所著諸法無諍三昧法門卷上謂(大四六‧六二八上):「身本者,如來藏也,亦名自性清淨心,是名真實心;不在內,不在外,不在中間,不斷不常,亦非中道;無名、無字、無相貌,無自、無他,無生、無滅,無來、無去、無住處,無愚、無智,無縛、無解。」此一論點,與上記般若經中之奧義,旨趣全無二致。 「無」之思想,於我國禪宗更有淋漓盡致之發展,最足代表者為趙州從諗禪師之「趙州狗子」公案。無門關第一則(大四八‧二九二下):「趙州和尚因僧問:『狗子還有佛性也無?』州云:『無!』無門曰:『參禪須透祖師關,妙路要窮心路絕。祖關不透,心路不絕,盡是依草附木精靈,且道,如何是祖師關?只者一箇無字,乃宗門一關也。(中略)將三百六十骨節、八萬四千毫竅,通身起箇疑團,參箇無字,晝夜提撕,莫作虛無會,莫作有無會。』」其後之禪林師家,多藉此則公案之拈提,強調徹底破除執著,泯絕念慮分別的「無」之精神。 另於淨土教方面,如唐代道綽有「法身無相,法身無知」之說,謂如來之真法身乃無色、無形、無言說、無住處、無生、無滅者。另如飛錫和尚於念佛三昧寶王論卷下亦提出「無心念佛」之說,迥異於一般「念佛有念」之思想,而為淨土門中唱道「真無念」之重鎮(大四七‧一四一下):「言理門者,真無念也。釋曰:有之與無,即此念而本無矣!何者?佛從念生,心即是佛,如刀不自割,指不自觸,佛不自佛,心不自心,安得佛外立心,心外立佛?佛既不有,心豈有哉?無心念佛,其義明矣!故世人謂念佛有念也,吾則謂念佛無念也。」 此外,如真言密宗以???( a,阿)字揭示「諸法本不生」之理。據大日經疏卷七下載,一切諸法皆由眾緣而生,從緣而生者皆有始有本,然若觀此能生之緣亦復從眾因緣生,如是輾轉從緣,則莫可窮究其根本源頭;如此而觀,即知「本不生際」乃萬法之根本,若徹見「本不生際」者,即是如實了知自心。此乃密教從「諸法本無」、「諸法本不生」之教義來具顯「無」之奧旨。〔雜阿含經卷十二、大乘入諸佛境界智光明莊嚴經卷三、顯揚聖教論卷十六、成實論卷二、卷十一、中論卷三觀有無品、注維摩詰經卷四、攝大乘論釋卷五、二諦義卷上、大乘大義章卷上、大乘玄論卷二、摩訶止觀卷二上、釋禪波羅蜜次第法門卷三下〕
; Sanskrit A, or before a vowel An, similar to English Un-, In-, in a negative sense; not, no, none, non-existent; opposite of hữu. Vô nhất no one; vô nhị vô tam neither two nor three, but only nhất thừa one vehicle.
; 1) Tiếng Phạn “A”: Sanskrit letter “A.” 2) Không—Phi—Bất—Phủ—Not—No—None. 3) Phủ định sự tồn tại của sự vật: Non-exixtence—Nothingness—Inexist—Nihility—Do not have—Be without. 4) Đối lại với “Hữu”: Opposite of “Existence.” 5) To go (come--step) into—To enter.
vô an
5082謂世間一切悉以苦為自性,無安穩之法,故稱無安。法華經譬喻品(大九‧一四下):「三界無安,猶如火宅,眾苦充滿,甚可怖畏。」又與「惛沈」(梵 styāna)同義,為十纏之一。〔仁王經卷下〕(參閱「惛沈」4578)
vô biên
Anantat (S).
; Ananta (S). Endless, boundless.limitless, infinite, i.e. like space.
; Ananta (skt)—Không bờ bến như không gian—Endless—Boundless—Limitless—Infinite, e.g. space.
vô biên hư không xứ giải thoát
Xem Không vô biên xứ định.
vô biên hư không xứ định
Xem Không vô biên xứ định.
vô biên hạnh
Anantacāritra (S)Vô biên hạnh Bồ tátTên một trong vô số Bồ tát đến núi Kỳ sà Quật ủng hộ Phật Thích ca diễn kinh Pháp Hoa.
vô biên hạnh bồ tát
Infinite virtues Bodhisattva.
vô biên minh
Anantaprabhā (S)Vô biên quang.
vô biên pháp giới
5142梵語 ananta-dhātu。法界廣大無邊際之意。法界係成正覺者所見之世界。又無邊法界乃妙有之世界、無盡緣起之世界。如大乘本生心地觀經卷一(大三‧二九五上):「諸佛體用無差別,如千燈照互增明,智慧如空無有邊,應物現形如水月,無邊法界常寂然,如如不動等虛空,如來清淨妙法身,自然具足恆沙德。」即常以虛空之廣大無邊來比喻寂然之無邊法界。成正覺之智慧係以無邊法界為內容,故稱為無邊法界智慧;乃表示無邊無量、無礙智慧之相。〔舊華嚴經卷三、卷十一、華嚴經探玄記卷一〕
; The infinite world of things; the realm of things infinite in number; the infinite universe behind all phenomena.
; Pháp giới rộng lớn không có biên giới, mà hết thảy các pháp đều tồn tại trong đó; chư pháp vô tận nên pháp giới vô biên—The infinite world of things; the realm of things infinite in number; the infinite universe behind all phenomena.
vô biên quang
Xem Vô biên minh.
vô biên quang phật
The immeasurable light Buddha.
vô biên thân
Xem Như Lai.
; Thân Phật không thể đo lường được: người Bà La Môn càng đo thì thân càng cao, cuối cùng vị Bà La Môn ném thước, thước ấy bén rễ và mọc thành một cánh rừng—The immeasurable body of the Buddha: the more the Brahman measured it, the higher it grew, so he threw away his measuring rod, which struck root and became a forest.
vô biên thân như lai
The immeasurable body of the Buddha.
vô biên thế giới
The infinite world, i.e. space ; also infinite worlds; the numberless worlds in infinite space.
; Thế giới vô biên trong không gian vô tận—The infinite world, i.e. space; infinite worlds; the numberless worlds in infinite space.
vô biên thức xứ giải thoát
Xem Thức vô biên xứ định.
vô biên thức xứ thiên
Viānacayatanam (P).
vô biên thức xứ định
Xem Thức vô biên xứ định.
vô biên tế
5143梵語 ananta-koṭi。無邊無際之意。以此表佛、佛德、佛法等之廣大無邊。六十華嚴經卷一(大九‧三九七中):「無盡平等妙法界,悉皆充滿如來身,無取無起永寂滅,為一切歸故出世。諸佛法王出世間,能立無上正教法,如來境界無邊際。」此即表佛之無邊際,以及如來境界之無邊際。又(大九‧四○○上):「佛德如空無邊際,是名生光妙法門。」則說佛德之無邊際。〔大般若經卷四二○、卷五五四、無量壽經卷下、瑜伽師地論卷二十五、卷三十四、卷五十二、成唯識論卷十〕
vô biên âm thanh phật đỉnh
5143無邊音聲,梵名 Ananta-svaraghoṣa,西藏名 Sgra-dbyaṅs mthah-yas-pa。又稱無量聲佛頂、無量聲轉輪佛頂、無邊聲佛頂、無邊音聲佛頂輪王、聖無邊頂輪王菩薩。為三佛頂之一,八佛頂之一。為密教現圖胎藏界曼荼羅釋迦院中尊釋迦牟尼佛右側第五位之尊。此尊主佛德,隨眾生之類,以無邊音聲,說寂滅妙法,故稱無邊音聲佛頂。密號妙響金剛。種子為???(hūṃ)。三昧耶形為蓮花上螺貝。形像為身呈黃色,右手豎掌,屈食指、中指安於胸前,左手垂於腰側,持蓮,蓮上有螺貝。印契為以二手虛心合掌,屈二拇指,以二食指壓之;即商佉(螺貝)之印。真言為:曩莫三滿多沒馱喃吽惹庾鄔瑟抳灑娑嚩賀。〔一字佛頂輪王經卷四、大日經卷一具緣品、卷四密印品、尊勝佛頂修瑜伽法軌儀卷上、胎藏界七集卷中〕
vô biểu
Avijnapti (S). Unconscious, latent, not expressed, subjective. Internal and not visible to others.
; Avijnapti (skt)—Không biểu thị ra ngoài—Unconscious, latent, not expressed, subjective.
vô biểu giới
Khi thọ giới, thân khẩu ý của người thọ giới không biểu thị tướng thọ giới ra ngoài, mà trong thân nảy sinh ra vô biểu giới giúp ngăn ngừa điều sai trái. Giới nầy vĩnh viễn tương tục trong thân để bảo hộ thân khẩu ý tránh điều quấy ác—The inward invisible power received with the comandments during ordination.
vô biểu nghiệp
Vô Tác Nghiệp—Nghiệp không biểu hiện của thân, khẩu, ý, đối lại với nghiệp biểu hiện—The unmanifested activities of the body, mouth, and mind; or invisible power conferred at ordination; in contrast with the manifested activities.
vô biểu sắc
hình sắc không biểu lộ. Nguyên bản Hán văn kinh này dùng無作色(vô tác sắc), dịch từ Phạn ngữ là avijđapti-rpa, cũng dịch là vô biểu sắc hay vô biểu nghiệp; vì là không có biểu hiện bằng hình thể vật chất, người ngoài không thể nhận biết được nên gọi là vô biểu. Do ý nghĩa được giảng giải từ Phạn ngữ nên vô tác sắc được hiểu như vô biểu sắc.
; 5096梵語 avijñapti-rūpa。又作無表業、無作色、假色。或單稱無表、無作、無教。為「表色」、「表業」之對稱。俱舍七十五法之一。即於身中恆轉相續,具有防非止惡或與之相反的障妨善德之功能,而又為不可見,且無障礙性之色法。此為小乘說一切有部之宗義,即認為無表色係以身業與口業為緣,生於吾人身內的一種無形色法;以其具有防非或妨善之功能,故以之為受戒之體;然因不顯於外,故稱無表;又以其乃身內之地、水、火、風等四大所生,故謂之色;然雖屬色法,卻不如其他色法之具有可見性、物質性、障礙性等。入阿毘達磨論卷上(大二八‧九八一上):「無表色者,謂能自表諸心心所轉變差別,故名為表;與彼同類而不能表,故名無表。」 又說一切有部以無表色皆由四大種所造,故為實色,含攝於十一種色之中。俱舍宗之看法類似,認為無表色係由四大種所造,以色業為性,故名為色;然非由「極微」所成,無見無對,故與五根五境等之色法相異。成實家則以之為非色非心,攝於不相應行蘊。經量部及大乘唯識家不認其為實有,於強勝之思的心所所發善惡表業而薰成之種子上假立。又菩薩瓔珞本業經等以心法為戒體,故不別立無表色。其他古來異說甚多。 據俱舍論卷十三、卷十四載,無表色之類別有三:與善心等起之無表色,稱為律儀,能遮滅惡戒之相續;與不善心等起之無表色,稱為不律儀,能遮滅善戒之相續;又非此二者,稱為非律儀非不律儀。 (一)律儀又可分為三種:(1)別解脫律儀,為欲界之戒,即由作禮乞戒之身表業、語表業所得之無表業,共有比丘、比丘尼、正學、勤策、勤策女、近事、近事女、近住等八種律儀。各以盡形壽或一日一夜為要期,隨僧伽等受得五戒、八戒、十戒、具足戒等戒。因受戒之初剎那,表色、無表色各別棄捨諸惡,故稱別解脫,又稱根本業道;第二念以後,唯有無表色相似相續,故特稱為別解脫律儀或後起。俱舍論卷十四(大二九‧七三上):「謂受戒時,初表、無表,別別棄捨種種惡,故依初別捨義,立別解脫名,即於爾時所作究竟,依業暢義,立業道名;(中略)從第二念乃至未捨,不名別解脫,名別解律儀;不名業道,名為後起。」(2)靜慮律儀,為色界之戒,乃由靜慮地之心所得之無表色。(3)無漏律儀,即所謂之無漏戒,亦即已得「無漏」之聖者所成就之無表色。上記三種律儀中,靜慮律儀與無漏律儀皆與心共生滅,故為隨心轉之戒。 (二)不律儀,又稱惡律儀,即生於不律儀之家,依其家法,行殺生等惡法時所生起之無表色;或生於餘家,為求活命,發殺生業等之誓心所生起之無表色。此種惡律儀具有妨善止善之作用。 (三)非律儀非不律儀,又稱處中,即非如律儀受「五、八、十、具」等戒,亦非如不律儀以活命為要期而生惡戒,但由用或重行等而得之無表色,其體不生善或不善者。〔大毘婆沙論卷一四○、俱舍論卷一、順正理論卷二、成實論卷八「九業品」、品類足論卷一、大乘義章卷七〕
; Avijgapti-rŪpa (S).
; Vô Tác Sắc—Theo quan điểm của Đại Chúng Bộ, vô biểu sắc là sắc thể không biểu hiện ra ngoài, nhưng có công năng phòng ngừa sự sai trái và tội ác—According to the Sarvastivadin view, this invisible power can resist evil.
vô bản
To forget one's origin.
vô bất
A double negative, making a positive; also vô phi, vô một.
; Hai cái phủ định làm thành một cái khẳng định—A double negative, making a positive.
vô bổ
Useless.
Vô Bổn Giác Tâm
(無本覺心, Muhon Kakushin, 1207-1298): xem Tâm Địa Giác Tâm (心地覺心, Shinchi Kakushin) bên trên.
vô chuẩn
Wu-chun (C)Tên một vị sư.
Vô Chuẩn Sư Phạm
(無準師範, Bujun Shihan, 1177-1249): vị tăng của Phái Dương Kì và Phái Phá Am thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân Huyện Tử Đồng (梓潼縣), thuộc Kiếm Châu (劍州, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Ung (雍), hiệu là Vô Chuẩn (無準). Năm lên 9 tuổi, ông theo xuất gia với Đạo Khâm (道欽) ở Âm Bình Sơn (陰平山), đến mùa đông năm thứ 5 (1194) niên hiệu Thiệu Hy (紹熙) thì thọ Cụ Túc giới. Năm sau, ông đến tham học với vị Nghiêu Thủ Tòa (堯首座) ở Chánh Pháp Tự (正法寺), cuối cùng tỉnh ngộ. Ông còn đến tham vấn Phật Chiếu Đức Quang (佛照德光) ở Đông Am (東庵) trên A Dục Vương Sơn (阿育王山) và Phá Am Tổ Tiên (破庵祖先) ở Tây Hoa Tú Phong Tự (西華秀峰寺) vùng Tô Châu (蘇州, Tỉnh Giang Tô). Khi Tổ Tiên chuyển đến làm Thủ Tòa của Linh Ẩn Tự (靈隱寺), ông đi theo hầu, nhân nghe câu chuyện về con hồ tôn mà đại ngộ và được kế thừa dòng pháp của vị này. Ông bắt đầu tuyên dương giáo pháp tại Thanh Lương (清涼) vùng Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang), rồi sau khi trãi qua một vài nơi như Tiêu Sơn (焦山), Tuyết Đậu Sơn (雪竇山), A Dục Vương Sơn, ông lên Kính Sơn (徑山). Thể theo lời thỉnh cầu của vua Lý Tông, ông vào cung nội thăng tòa thuyết pháp ở Từ Minh Điện (慈明殿), và được ban cho hiệu là Phật Giám Thiền Sư (佛鑑禪師). Ông thị tịch vào ngày 18 tháng 3 năm thứ 9 niên hiệu Thuần Hựu (淳祐), hưởng thọ 73 tuổi. Ông có một số đệ tử xuất chúng như Tuyết Nham Tổ Khâm (雪巖祖欽), Vô Học Tổ Nguyên (無學祖元), Ngột Am Phổ Ninh (兀菴普寧), Hoàn Khê Duy Nhất (環溪惟一). Mấy vị tăng Nhật Bản như Đông Phước Viên Nhĩ (東福圓爾), Tánh Tài Pháp Tâm (性才法心), Diệu Kiến Đường Đạo Hựu (妙見堂道祐), v.v., đã sang nhà Tống cầu pháp và kế thừa dòng pháp của Sư Phạm. Bộ Phật Giám Thiền Sư Ngữ Lục (佛鑑禪師語錄) 5 quyển của ông hiện vẫn còn lưu hành.
vô chuẩn sư phạm
Bushun shiban (J), Wuzhun Shifan (C)Thiền sư Trung quốc, tông Lâm Tế, thầy của ngài Vô Học Tổ Nguyên.
vô chuẩn sư phạm thiền sư ngữ lục
5126 【無準和尚語錄→】請參閱 無準師範禪師語錄 凡六卷。又作佛鑑禪師語錄、佛鑑錄、無準和尚語錄、無準禪師語錄。宋代僧無準師範撰,宗會、智折等編,理宗淳祐十一年(1251)刊行。收於卍續藏第一二一冊。卷一至卷二輯錄清涼寺、普濟寺、資聖寺等五會之語錄;卷三至卷六輯錄小參、法語、普說、拈古、偈頌、自讚、小佛事、祭佛鑑禪師文、入內引對陞座語錄(奏對錄)、行狀等、其門人中之兀菴普寧、無學祖元、日僧東福圓爾等,對日本之禪宗有極大之影響。
vô chư nan công đức
5138極樂淨土二十九種莊嚴中,屬於十七種國土莊嚴之一。即謂彼淨土離身心之諸難,安樂相續之功德。天親之淨土論(大二六‧二三一上):「永離身心惱,受樂常無間。」無諸難,即畢竟安樂之義,涅槃常樂為無諸難之極致;而娑婆世界之樂,或初樂後苦,或初苦後樂,縱初後俱樂,然安樂無常,故身心不離諸難。
vô chấp thụ
5109梵語 anupātta。又作非執受。為「有執受」之對稱。執受,感覺之意。無執受,即對外境無有執著覺受者。如眼等五根及色香味觸四境,於現在位墮有情處是有執受;於過去未來為無執受。總之,無感覺者即無執受。〔大毘婆沙論卷一三八、俱舍論卷二、順正理論卷四〕( 參閱「有執受」2440)
vô chủ vật
5076指無一定所有主之物。「有主物」之對稱。取無主之物雖不成盜罪,若作有主想,或存疑而取之,亦犯輕罪。〔善見律毘婆沙卷九、十誦律卷一、四分律卷一、四分律行事鈔資持記卷中一、梵網經菩薩戒本疏卷二(法藏)〕(參閱「有主物」2429)
vô chủng tính
The nature without the seed of goodness and so unable to escape from the stream of transmigration.
; Một trong năm tính mà tông Pháp Tướng thành lập, không có thiện chủng vô lậu rốt ráo là không thoát ly được luân hồi sanh tử—The nature without the seed of goodness and so unable to escape from the stream of transmigration, one of the five germ-natures or roots of Bodhisattva development established by the Dharmalaksana Sect. ** For more information, please see Ngũ Chủng Tính.
vô chủng xiển đề
Nhất Xiển Đề không có chủng tánh Phật (mãi mãi không thể thành Phật)—An icchanti, or evil person without the Buddha-seed of goodness. ** For more information, please see Nhất Xiển Đề.
vô chứng
5142謂忘卻證果,全然自由無礙。亦即修行得證果,又不執著於證果之謂。四十二章經指南(卍續五九‧一七三下):「飯百億辟支佛,不如飯一三世諸佛;飯千億三世諸佛,不如飯一無念無住無修無證之者。」
vô cái
That which cannot be covered or contained, universal; also that which includes all, a characteristic of the pity of Buddha.
; 1) Không bao trùm hay chứa đựng được (phổ quát): Cannot be covered or contained, universal. 2) Tính bi mẫn của Đức Phật rộng lớn cùng cực, bao trùm lên tất cả chúng sanh: A characteristic of the pity of Buddha which includes all beings.
vô cái đại bi
Uncontainable, or superlative, pity.
; Lòng đại bi rộng lớn không có gì bao trùm lên được—Uncontainable, or superlative, pity. ** For more information, please see Vô Cái (2).
vô công dụng
5077梵語 an-ābhoga。略稱無功。不借功用之意。即不加造作,自然之作用。亦即不假借身、口、意而任運自在之道。為「有功用」之對稱。八地以前之菩薩,於真如之境未得自在,而八地以上則可續起純無漏而任運自在,故稱無功用道。又於八地以上,得任運無功用智,自在利生,稱為無功用地。然若就佛果而言,則八地以上屬有功用,唯佛果為無功用。〔梁譯攝大乘論釋卷十、卷十四、佛性論卷三、大乘莊嚴經論卷三六門教授習定論、觀經疏玄義分〕(參閱「有功用」2429)
; Without effort. Vô công dụng đức, without merit or virtue.
; Không cố gắng dụng công—Without effort.
vô công dụng hạnh
Anabhoga caryā (S).
vô công dụng trí
5077於小乘,謂發有漏、無漏之智,非由加行而得任運自在。為果圓德(三圓德之一)最初之智圓德所分無師智、一切智、一切種智、無功用智等四種智之一。於大乘,指八地以上之菩薩,不借加用之功,自然契於真性之智。蓋大乘菩薩十地中,八地以上為無功用地,得任運無功用智,自在利生,其念無退。〔西方要決釋疑通規〕(參閱「三德」668、「有功用」2429)
; Tâm không nhờ cái công gia dụng hay phước đức công đức, mà tự nhiên khế hợp với trí chân tính (Bồ Tát từ đệ bát địa trở lên)—A mind with neither effort, nor merit or virtue.
vô công dụng đức
Không cần đến phước đức hay công đức—Without merit or virtue.
vô cùng
Boundless—Infinite—Endless.
vô cùng tận
Infinite.
vô căn
Không có nam hay nữ căn—Without root—Without organ—Without the organ of sex.
vô căn cứ
Unfounded—Baseless—Groundless—Without foundation or reason.
vô căn thụ
5106形容超越情識之境界。景德傳燈錄卷二十三石門慧徹章(大五一‧三九六上):「問:『如何是和尚家風?』師曰:『解接無根樹,能挑海底燈。』」
vô căn tín
xem đức tin vô căn.
; 5106初不知恭敬佛、法、僧三寶之無根(無善根)者,後因蒙佛力而生起信心,稱為無根信。又造五逆極重罪,無善根可以解救,命終必趣無間地獄者,若殷重懺悔,更不重造,並淨信三寶成就信根者,亦稱為無根信。如阿闍世王。〔增一阿含經卷三、卷三十九〕
; Faith produced not of oneself but by Buddha in the heart.
; Nhờ Phật lưc mà phát được tín căn trong tâm—Faith produced not of oneself but by Buddha in the heart.
vô căn, nhị căn
chỉ chung các trường hợp bất thường về giới tính. Vô căn (không giới tính) chỉ người sanh ra không có cơ quan sanh dục, nhị căn hay lưỡng tính chỉ những người sanh ra có cả cơ quan sanh dục nam và nữ.
vô cảm giác
insensible.
vô cấm tróc xà
5126禁,禁制之意。捉毒蛇應有制伏之方法,即以鐵杖先壓其頭,次以手捉拿其頂。如不依此方法,隨便捉蛇腰,則為蛇螫死。以此比喻比丘若無觀智之制法,而漫談空理,放恣五欲,將受極苦,徒自疲勞。止觀輔行傳弘決卷二之五(大四六‧二一○上):「邪空之人濫稱大乘,入惡無觀,故以無禁捉蛇喻之。(中略)貪欲如蛇,觀法如禁;以觀觀欲如捉蛇,不善四句如無禁。」〔中阿含卷五十四阿梨吒經、摩訶止觀卷二〕
vô cấu
5099<一>梵語 vigata-mala。垢(梵 mala),為煩惱(梵 kleśa)之異稱,指污穢心之垢物;無垢,指離煩惱之清淨。又作無漏。煩惱有多種,如貪、瞋、癡之三垢,惱、害、恨、諂、誑、憍之六垢等,為妨礙實現覺悟之一切精神作用。〔六十華嚴經卷五十七、八十華嚴經卷七十六、有部律破僧事卷六〕(參閱「清淨」4667) <二>梵語 nirmala。即無垢者。為「如來」之同義語。 <三>釋尊時代之印度婆羅門僧。兄弟五人,排行第二,曾與兄弟四人等入山學道,獲得五神通。其最小之弟名為弗那,以耕種為業,見佛陀乞食,即施以白淨飯滿鉢;一日,弗那至田中,見所生苗稼均變成數尺高之金禾,收割已盡,還生如初,國王聞之,亦前往割禾,然亦不得盡。此後聞言而往取者,均不能割盡。無垢等四人得知,遂欲以歡喜團供養佛陀,願求生天。於是各持歡喜團,往詣佛所,大兄取一團置於鉢中,佛告以「諸行無常」;無垢復以團置於鉢中,佛謂「是生滅法」;第三亦如法置於鉢中,佛告以「生滅滅已」;第四亦置團於鉢,佛謂「寂滅為樂」;兄弟四人遂各參此偈,得阿那含,後皆趨佛所,出家為僧,得阿羅漢道。〔雜寶藏經卷四〕
; Amala (S), Purity, Vimala (S), Unstained Tịnh,A ma la1-tịnh, thanh tịnh 2-Vô cấu Tôn giả, đại đệ tử của đức Phật, Tỳ ma la, Vô cấu tôn giả (tên một La hán đệ tử đức Phật). 3- ly cấu địa: địa vị thứ hai trong mười địa vi tu hành của Bồ tát, đứng sau Hoan hỷ địa.
; Vimala, amala (S). Undefiled, stainless.
; Vimala or Amala (skt)—Không bị cấu nhiễm (dơ—bất tịnh)—Undefiled—Stainless.
vô cấu hữu luận sư
Vimalamitra (S)Tì mạt la mật đa la.
vô cấu luân
5100即清淨之法輪;指佛之說法。佛所說之清淨教法能摧破眾生心中之煩惱垢染,故稱無垢輪。淨土論(大二六‧二三二中):「安樂國清淨,常轉無垢輪。」論註卷下解釋此語(大四○‧八四一上):「無垢輪者,佛地功德也。佛地功德無習氣煩惱垢,佛為諸菩薩常轉此法輪,諸大菩薩亦能以此法輪開導一切,無暫時休息。」
vô cấu nhãn sư
Vimalaksa (S)Ti ma la xoa pháp sư.
vô cấu nhẫn
5100指菩薩瓔珞本業經卷上所說相應於菩薩階位之六種法忍之第五。即等覺菩薩斷除無明惑染,安住於自性清淨心而不動之位。故等覺菩薩又稱為無垢菩薩。(參閱「六忍」1265)
; The stage of undefiled endurance.
; Bồ Tát trong giai đoạn “vô cấu nhẫn” là giai đoạn chót của Bồ Tát—The stage of undefiled endurance—The final stage of bodhisattva.
vô cấu quang bồ tát
5099無垢光,梵名 Vimala-prabha。為密教現圖胎藏界曼荼羅文殊院中尊文殊菩薩右方第三位之菩薩。又稱無垢光童子。為文殊菩薩眷屬八大童子之一。主文殊畢竟空之理,以本性清淨無垢,外放光明,故稱無垢光菩薩。密號離塵金剛。種子為???(tra),三昧耶形為未敷青蓮。形像為童子形,右手掌持瑪瑙之寶鉢安於臍下,豎左手掌,屈食指、中指二指,持未開敷之青蓮花,趺坐於赤蓮上。印相為舒左手之五指,微屈第三節。乃表由畢竟空智放五智之光明,召五道眾生入無垢本性之掌中。真言為:歸命係(he,呼召)矩忙囉(kumāra,童子)微質怛囉(vicitra,種種)蘗底(gati,行)矩忙囉蛱弩娑蛱囉(kumaamanusmara,童子復憶念)莎訶(svāha)。據大日經疏卷十三載,其真言係顯示此菩薩以種種本誓願行,示現童子身、壯年身或老年身等,以利益一切之義。〔大日經卷四密印品、卷五祕密漫荼羅品、大聖妙吉祥菩薩祕密八字陀羅尼修行曼荼羅次第儀軌法、攝大儀軌卷一、廣大儀軌卷中、玄法寺儀軌卷一、大日經疏卷十六〕
vô cấu tam muội
5099梵語 vimala-samādhi。又作離垢三昧。指佛、菩薩離煩惱而得清淨之三昧。瑜伽師地論卷四十八瑜伽處住品第四之二(大三○‧五六一下):「諸菩薩無礙解住,一切行相遍清淨已,(中略)得離垢等無量無數勝三摩地,作彼所作一切智智,殊勝灌頂後三摩地現在前故,得一切佛相稱妙座身諸眷屬。」三昧,又作三摩地、等持、定,指心集中統一於一境;亦指心集中統一於一境而修行之禪定,及因禪定而得之境界。於三昧之中,含有「止」與「觀」兩種特性;無垢三昧即以具有殊勝的「止」與「觀」為其特徵。此外,說一切有部將禪定分為有漏、無漏二種,認為異生(凡夫)所成就之禪定屬有漏,與聖者所成就之無漏禪定不同;其所謂無漏禪定即相當於無垢三昧。(參閱「三昧」580)
vô cấu thệ bồ tát
5100無垢逝,梵名 Vimalagati,音譯尾摩羅誐底。為密教現圖胎藏界曼荼羅虛空藏院中尊虛空藏菩薩南方下列第一位之菩薩。又稱虛空無垢菩薩。密號明徹金剛。種子為???(haṃ)。三昧耶形為惠刀印,或蓮花上青蓮花。形像為右手作施願印,左手屈食指、中指,持蓮花索,坐於赤蓮花上。印相為以定(指左手)慧(指右手)二手作刀印。真言為:南蛱三曼多勃馱喃伽伽娜難多愚者囉莎訶。此菩薩名,出於玄法寺儀軌卷二,與大日經卷一具緣品等所揭虛空無垢菩薩同體。〔大日經卷二普通真言藏品、卷四密印品、卷五祕密漫荼羅品、胎藏界七集卷中、諸說不同記卷六、胎藏界念誦次第要集記卷十二〕
vô cấu thức
Amala vijāna (S), Consciousness of Purity A mạt la thức, Như lai thức, Yêm Ma La thứcThức thứ 9Xem A lại da thức Xem Như lai tạng.
; Amala vijnàna (S). Undefiled or pure consciousness, formerly considersed as the ninth, later as the eighth consciousness.
; Amala (skt). (A) Vô Cấu Thức hay A Mạt La là tên khác của A Lại Da Thức (thức nầy là chỗ dựa của các pháp vô lậu, mà chỉ Như Lai mới có được)—Undefiled or pure knowing or knowledge, another name for Alaya-vijnana—See A Lại da Thức. (B) Theo Nhiếp Luận Tông (tiền thân của Pháp Tướng Tông), Vô Cấu Thức hay Tịnh Thức chỉ có nơi sự giác ngộ viên mãn của Phật. Vô Cấu Thức có thể tẩy sạch phần ô nhiễm của tạng thức và khai triển thế lực trí tuệ của nó. Thế giới của tưởng tượng và thế giới hỗ tương liên hệ được đưa đến chân lý chân thật, tức viên thành thực tánh. Sau khi đạt đến đó, chủng tử tạng, tức là thức, sẽ biến mất và cuối cùng đưa đến trạng thái nơi mà chủ thể và đối tượng không còn phân biệt. Đây là “Vô Phân Biệt Trí.” Trạng thái tối hậu là vô trụ Niết Bàn, nghĩa là sự thành tựu tự do hoàn toàn, không còn bị ràng buộc ở nơi nào nữa—According to the Samparigraha School (the forerunner of the Dahrmalaksana School), the taintless consciousness is only flashed out from the Buddha's Perfect Enlightenment. This pure ideation can purify the tainted portion of the ideation-store and further develop its power of understanding. The world of imagination and the world of interdependence will be brought to the real truth (parinispanna). This having been attained, the seed-store, as consciousness, will disappear altogether and ultimately will reach the state where there is no distinction between subject and object. The knowledge so gained has no discrimination (avikalpa-jnana). This ultimate state is the Nirvana of No Abode (apratisthita-nirvana), that is to say, the attainment of perfect freedom, not being bound to one place.
vô cấu tôn giả
Xem vô cấu.
vô cấu xưng
Xem Duy ma Cật.
vô cấu y
5100袈裟之美稱。以其無煩惱之垢染,故稱無垢衣。釋氏要覽卷上(大五四‧二六八中):「如幻三昧經云:無垢衣,又名忍辱鎧,又名蓮華衣,謂不為欲泥染故。」(參閱「袈裟」4784)
; The stainless garment, the monastic robe of purity.
; Tên gọi chung cho y áo cà sa (không dính bụi phiền não)—The stainless garment, the monastic robe of purity.
vô cấu địa
The stage of undefilement, the second stage of a Bodhisattva; also applied to the final stage before attaining Buddhahood.
; 1) Địa thứ hai trong Bồ Tát Địa: The stage of undefilement, the second stage of a bodhisattva—See Thập Địa Phật Thừa. 2) Bồ Tát Đẳng Giác Địa: Giai đoạn cuối cùng trong Bồ Tát Địa—The final stage before attaining Buddhahood.
vô cố
Causeless—Without reason (cause).
vô cớ
See Vô Cố.
Vô Cực
(無極): có hai nghĩa chính. (1) Vô cùng tận, không biên giới. Như trong Tả Truyện (左傳), chương Hy Công Nhị Thập Tứ Niên (僖公二十四年), có câu: “Nữ đức vô cực, nữ oán vô chung (女德無極、女怨無終, đức của người nữ không cùng, nỗi oán hờn của người nữ không tận).” Hay trong bài Phụng Hòa Đậu Dung Châu (奉和竇容州) của Nguyên Chẩn (元稹, 779-831) nhà Đường cũng có đoạn: “Tự thán phong ba khứ vô cực, bất tri hà nhật hựu tương phùng (自歎風波去無極、不知何日又相逢, tự than phong ba đi hoài mãi, biết đến ngày nao lại trùng phùng).” (2) Các triết học gia cổ đại Trung Quốc cho rằng Vô Cực là bản nguyên hình thành vũ trụ vạn vật; vì nó không hình tượng, không âm thanh cũng như màu sắc, vô thỉ vô chung, chẳng thể nào đặt tên, nên gọi là Vô Cực. Trong tác phẩm Thái Cực Đồ Thuyết (太極圖說) của Châu Đôn Gi (周敦頤, 1017-1073) nhà Tống giải thích rằng: “Vô Cực nhi Thái Cực, Thái Cực động nhi sanh dương, động cực nhi tĩnh, tĩnh nhi sanh âm, … âm dương nhất Thái Cực dã, Thái Cực bổn Vô Cực dã (無極而太極、太極動而生陽、動極而靜、靜而生陰…陰陽一太極也、太極本無極也, Vô Cực mà Thái Cực, Thái Cực động mà sanh ra dương, động đến tận cùng thì tĩnh, tĩnh thì sanh âm, … âm dương hợp nhất là Thái Cực, Thái Cực vốn Vô Cực vậy).”
vô cực
Không có giới hạn—Limitless—Infinite—Endless—Boundless.
vô cực chi thể
Thân thể của chúng sanh nơi Cực Lạc Tịnh Độ hay trạng thái nơi thân tâm đạt ngộ lý Niết Bàn vô cực—The limitless bodies of those in the Pure Land; the state of one who has attained nirvana.
vô cực thể
5125指證得涅槃妙理之身體。無極,為無盡之意。因涅槃之妙理周遍法界,無處不至,故稱無極。
vô cực tôn
5125<一>為諸佛之通稱。無極,為涅槃之異稱。佛證涅槃,一切萬德皆無窮極,故稱無極尊。十住毘婆沙論卷五易行品讚歎迦葉佛之德(大二六‧四四上):「眼如雙蓮華,弱拘樓陀樹,於下成佛道,三界無所畏,行步如象王,我今自歸命,稽首無極尊。」 <二>阿彌陀佛三十七號之一。彌陀證無極之涅槃,接引往生之人,契自內證,故特有此號。法霖之和讚望溟記闡明其十種無極,即:(一)威神無極,十方諸佛皆共讚歎。(二)名聲無極,十方世界皆聞其號。(三)光明無極,光明無量照十方國無所障礙。(四)壽命無極,盡未來際無有滅期。(五)身量無極,身遍法界。(六)拔濟無極,使人一念往生,昇道無極。(七)與樂無極,與人快樂無極。(八)應變無極,應聲即現。(九)利益無極,廣度有情。(十)施德無極,於一念得無上之功德;或為眾開寶藏,廣施功德寶。〔讚阿彌陀偈〕
vô danh
5081(722~793)唐代荷澤宗僧。渤海(山東陽信)人,俗姓高。移居洛陽。二十八歲於同德寺出家,初學律藏,後從學於荷澤宗祖荷澤神會,並嗣其法,改稱無名。遊歷四方,參訪五嶽之羅浮、廬阜、雙峰、搄公、鑪嶺、牛頭、剡溪、若耶、天台、四明等諸山。據傳德宗(779~804 在位)採納鮮于叔明及令狐峘之意見,欲沙汰僧尼,僅留高僧。無名上表進諫,乃罷。貞元六年(790)遊五臺山。貞元九年示寂於佛光寺,世壽七十二,法臘四十三。著有彌陀經疏行世。澤潞節度使李抱真於佛光寺為其建塔。〔宋高僧傳卷十七〕
; Unnamed—Nameless—Anonymous.
vô danh vô thật
5081謂虛妄不真或不辨別真實之意義。即指名實不符之錯誤見解。蓋「名」為能詮表事物之名言語句,「實」為所詮表之真實事相或道理;「能詮」與「所詮」本為諸法之表與裡,既不可截然而分,視為不相干涉之兩端,亦不可混淆真假,墮入名實顛倒或名實皆妄之荒誕見解中。
vô duyên
5136<一>即無遇佛、聞法之機緣。係「有緣」之對稱。無見佛聞法之機緣者難證菩提,故謂「無緣之眾生難度」。後世轉指無親戚、故舊等之緣者為無緣。無人祭祀之靈魂稱無緣佛;其墓稱無緣墓、無緣塚、義塚等。又過去世未曾與我結緣之佛,亦稱無緣佛。 <二>無對象之謂。佛觀一切皆空,而不以特定之人為對象,故佛之慈悲特稱無緣大慈;其慈心遍及一切眾生,乃為慈悲中之最尊者。〔中阿含卷五十七箭毛經、景德傳燈錄卷四〕(參閱「慈悲」5805) <三>指無因論者主張人所為之一切皆無因、無緣;此屬於邪見。〔中阿含卷三度經〕
; Causeless, without immediate causal connection, uncaused, underived, independent.
; Không có quan hệ ràng buộc, không có sự vin theo của tâm thức—Causeless—Uncaused—Without immediate causal connection—independent.
vô duyên quán bồ tát
Nirālambanadhyāna (S)Tên một vị Bồ tát.
vô duyên tam muội
Anilambha samādhi (S)Một trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội.
; Anilambha (S). "Undropped samàdhi", in which all mental functions cease to connect with environment and cease to function.
; Anilambha (skt)—Diêt Tận Định—Thiền định diệt hết tất cả tâm thức mà xa lìa sở duyên—Unpropped samadhi in which all mental functions cease to connect with environment and cease to function.
vô duyên tháp
5136<一>多人合葬之墓,稱為無緣塔。[1] <二>指無人弔祭之墳塔。義同於無緣塚。
vô duyên thừa
The vehicle, or method, of the subjective mind, by which all existence is seen as mental and not external. The Vô duyên thừa tâm is the sixth of the thập trụ stage.
; Thừa theo vô duyên tâm mà thực hành đạo bồ đề, ngoài tâm ra không có một pháp nào khác từ bên ngoài—The vehicle or method, of the subjective mind, by which all existence is seen as mental and not external.
vô duyên từ
Uncaused compassion.
vô duyên từ bi
5136慈悲分三種,無緣慈悲為其一。龍樹之大智度論卷四十(大二五‧三五○中):「慈悲心有三種,眾生緣、法緣、無緣。凡夫人眾生緣;聲聞、辟支佛及菩薩,初眾生緣,後法緣;諸佛善修行畢竟空,故名為無緣。」此即大乘佛教所言空之思想,完全無自他之對立;乃絕對之慈悲,真實之慈悲,亦為最高之慈悲。〔俱舍論卷十八、佛地經論卷五、大乘義章十四信等十行義、觀無量壽經義疏卷末〕(參閱「慈悲」5805)
vô dư
xem hữu dư.
; 5138梵語 niravaśeṣa。為「有餘」之對稱。達到完全窮盡,一無殘餘之謂。乃無餘依之略稱。依,即依止之意,又作依身,意謂肉身。煩惱與肉身完全滅盡之狀態,稱作無餘依涅槃,或稱無餘涅槃。又佛對諸弟子當來成佛之國土劫數及稱號等了了而記,稱為無餘記。〔中阿含卷二「七車經」、大智度論卷二十三、卷三十一、大毘婆沙論卷三十三、俱舍論卷二十七、大日經疏卷四〕
; Asesa (S). No reminder, no remnant, final; applied to the section of the Vinaya regarding expulsion for unpardonable sin frm the monkhood; also to final nirvàna without remainder for reincarnation.
; Asesa (skt)—Không tàn dư hay không còn sót lại thứ gì (sự tột bậc của sự lý)—Without remainder—No remnant—Final—Nothing for reincarnation to lay hold of.
vô dư (y) niết bàn
Anupadhisesa (S). The nirvàna state in which exists no remainder of the karma of suffering.
vô dư hoàn sinh
5139謂一度入於無餘涅槃界之二乘人再度發大菩提心而迴向大乘。此為天台、華嚴等法性宗所說,唯識等法相宗之主張則異於此。蓋法相宗依據楞伽經而主張「五姓各別」之說,認為一切有情本來具有之種姓有五類,此五類各各別異而不可轉變更易;又認為於五姓之中,有「定性二乘」與「不定性二乘」之別。定性,係謂其種姓已然決定,即不會退轉,又不能藉漸修或頓超而「迴心向大」;反之,種姓尚未決定者則為不定性。基於此,又主張欲入無餘涅槃者為定性之二乘,此類人若一旦入於無餘涅槃,則必形成不再還生而迴向大乘佛果之定局。然法性宗根據「真如緣起」之思想而主張「一性皆成」,認為佛性遍通於一切眾生,故雖已入無餘涅槃之二乘,遲早亦必起動如來藏而迴向大乘。準此,法性宗遂認為無餘涅槃者僅為滅盡定之一種。 又據南本大般涅槃經卷二十、起信論義記卷上等所載,由於根機利鈍之別,已入無餘涅槃之不定性二乘,其起心迴向(得阿耨多羅三藐三菩提之心)之時間,有七種遲速不等之位,稱為「迴心七位」,即:(一)須陀洹果經八萬劫,(二)斯陀含果經六萬劫,(三)阿那含果經四萬劫,(四)阿羅漢果經二萬劫,(五)辟支佛經一萬劫,(六)前面五類人中之利根者未滿一萬劫,(七)最利根者於一念之迴心即可得阿耨多羅三藐三菩提之心。〔楞伽經卷二、華嚴五教章卷二、卷三、大乘義章卷十七末〕(參閱「五果迴心」1114)
vô dư kí
Complete or final prediction, e.g. to Buddhahood, as contrasted with partial prediction.
vô dư niết bàn
5139梵語 nirupadhiśeṣa-nirvāṇa。為「有餘涅槃」之對稱。四種涅槃之一,九諦之一。新譯為「無餘依涅槃」。依,指依身,即人之身體。無餘依涅槃係指斷煩惱障,滅異熟苦果五蘊所成之身,而完全無所依處之涅槃。〔中阿含卷二「七車經」、大毘婆沙論卷三十二、大智度論卷三十一、瑜伽師地論卷十三、卷二十一、卷八十六、成唯識論卷十〕(參閱「有餘涅槃」2459)
; Anupadhisesa (S), Anupadisesa-nibbāna (P), NirŪpadhiśeṣa-nirvāṇa (S), Anapadisesa nibbana dhātu (S) Final nibbana Trạng thái Niết bàn đạt được lúc không còn thân ngũ uẩn.Vô dư y Niết bàn.
; Anupadisesa-nibbana (p)—Anupadhisesa (skt). • Niết bàn sau cùng không còn thứ gì sót lại cho kiếp luân hồi sanh tử, nơi mà tất cả những quả đều chấm dứt, hay sự hiện hữu của mạng căn đã hoàn toàn bị dập tắt—Final nirvana without remainder of reincarnation where all the effects (quả) are ended—The nirvana state in which exists no remainder of the karma of suffering, or the full extinction of the groups of existence. • Niết Bàn của A La Hán nơi thân tâm đều đoạn diệt: The nirvana of arhat extinction of body and mind. • Niết Bàn không còn lại tụ hay uẩn. Nó là sự diệt tận toàn diện những điều kiện của hữu cũng như phiền não. Có thể gọi nó là vô dư của hữu. Đấy là Niết Bàn hay “Giải Thoát Viên Mãn,” là sự nhập diệt của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: The Nirvana without the upadhi remnant. It is the total extinction of the conditions of being as well as of passion. One may call it the annihilation of being. This is Nirvana of Perfect Freedom, or the passing away of Sakyamuni Buddha.
vô dư thọ ký
Lời thọ ký sau cùng của Đức Phật về những đệ tử của Ngài sau nầy sẽ thành Phật, đối lại với hữu dư thọ ký (khi Phật nói sau nầy ngươi sẽ được vị Phật nào đó thọ ký cho)—A detailed (complete or final) Prediction of the Buddha on his disciples' awakening and enlightenment, as contrasted with partial prediction.
vô dư tu
5138為四修之一。四修,指四種修行方法與規範。俱舍論及往生禮讚所說四修皆含無餘修,其義不同。(一)俱舍論卷二十七所舉無餘修,謂福德與智慧二種資糧具修無遺。(二)往生禮讚所舉無餘修,又作專修。謂專念、專想、專禮、專讚阿彌陀佛及一切聖眾,而不雜餘業。〔梁譯攝大乘論釋卷七、卷八、順正理論卷七十八、念佛名義集卷下、往生要集卷中本〕(參閱「四修」1745)
Vô Dư Y Niết Bàn
(s: anupadhiśeṣa-nirvāṇa, p: anupādisesa-nibbāna, 無余依涅槃): hay còn gọi là Vô Dư Niết Bàn, đối lập với Hữu Dư Y Niết Bàn, nghĩa là chứng đạt cảnh giới Niết Bàn mà thân thể do Ngũ Uẩn (s: pañca-skandha, p: pañca-khandha, 五蘊) hợp thành này cũng tận diệt, không còn chỗ sở y nào nữa. Nó cũng là một trong bốn loại Niết Bàn, gồm Tự Tánh Thanh Tịnh Niết Bàn, Hữu Dư Niết Bàn, Vô Dư Niết Bàn và Vô Trú Xứ Niết Bàn. Theo thuyết của Duy Thức thì khi đoạn tận phiền não chướng, thức thứ 8 sẽ chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí, diệt hết tất cả lậu hoặc thì gọi là Vô Dư Y Niết Bàn.
vô dư y niết bàn
Xem Vô dư Niết bàn.
Vô Dị Nguyên Lai
(無異元來, Mui Ganrai, 1575-1630): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, xuất thân Thư Thành (舒城), Lô Châu (廬州, Tỉnh An Huy), họ Sa (沙), húy là Nguyên Lai (元來), Đại Nghĩ (大艤), hiệu Vô Dị (無異). Năm 16 tuổi, ông xuống tóc xuất gia với Tĩnh An Thông (靜安通) ở Ngũ Đài Sơn (五臺山), Tỉnh Sơn Tây (山西省), tu về Không Quán được 5 năm; tiếp theo ông đến Nga Phong (峨峰), tham yết Vô Minh Huệ Kinh (無明慧經), nhưng không hợp khế cơ nên đến địa phương Mân (閩) và tham học với các danh tăng khác. Về sau, ông lại đến tham vấn Huệ Kinh lần nữa và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Đến năm thứ 30 (1602) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), ông sống qua các nơi như Bác Sơn (博山, Tỉnh Giang Tây), Đổng Nghiêm Tự (董嚴寺) ở Mân, Đài Ngưỡng Bảo Lâm Tự (臺仰寳林寺), Cổ Sơn Dũng Tuyền Tự (鼓山湧泉寺), rồi làm trú trì Thiên Giới Tự (天界寺). Vào ngày 18 tháng 12 năm thứ 3 niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông thị tịch, hưởng thọ 56 tuổi đời và 41 hạ lạp. Ông có để lại Vô Dị Thiền Sư Quảng Lục (無異禪師廣錄) 35 quyển, Vô Dị Đại Sư Ngữ Lục Tập Yếu (無異大師語錄集要) 6 quyển.
vô dị nguyên lai thiền sư quảng lục
5113凡三十五卷。明代僧無異元來(1575~1630)撰,法孫弘瀚、弘裕共編。清康熙十年(1671)刊行。又稱博山大艤和尚廣錄。收於卍續藏第一二五冊。本書係集無異元來禪師一代語錄之大成,內容包括無異禪師語錄序、錫類法檀序、賸錄序、禪警語序、宗教答響序、博山能仁寺等五會之語錄、茶話、普說、拈古、頌古、佛事香語、參禪警語、開示偈、淨土偈、宗教答響、宗說等錫、書、啟、序、壽言、輓辭、博山和尚傳、塔銘及序等。 其中,卷二十一至卷二十五所收之宗教答響,又稱博山大師宗教答響,係集無異元來回答學人諸士之種種質問。答響之一、之二又分參悟、淨土、止觀、戒律、布施、願力、懺悔、福報、釋疑、回向等十品。 書中所收之賸錄序,賸錄,即道嵩壁如所編之博山老人剩(賸)錄六卷,相當於元來語錄之補遺,內容有上堂、茶話、頌古、偈、詩、贊等,今僅於本書卷首刊錄黃端伯所撰之賸錄序。又本書卷十三至卷十五之「參禪警語」收於卍續藏第一一二冊(而於卍續藏第一二五冊省略未收),亦收於朝鮮僧清虛堂休靜(1520~1604)所編之禪門撮要卷上。凡二卷,詳稱博山和尚參禪警語,又作博山參禪警語、禪警語、博山警語。成正編,明代神宗萬曆三十九年(1611)刊行。輯錄示初心做工夫警語、評古德垂示警語、示疑情發不起警語、示疑情發得起警語、示禪人參公案警語、示參禪偈十首等。
vô dị thục
5115梵語 avipāka。無異熟果之意。為「有異熟」之對稱。指無記法、無漏法等不招感當來異熟果報者。相對於此,能招感當來之異熟果者,稱有異熟。於二十二根中,眼、耳、鼻、舌、身五根,及男、女二根與命根等八根為無記性,未知當知、已知、具知等三無漏根為無漏性,共攝於無異熟。〔發智論卷三、大毘婆沙論卷十五、卷二十四、卷五十、卷一四四、俱舍論卷三〕(參閱「有異熟」2448)
vô dị tương tự quá loại
5114因明用語。古因明之祖足目所立因明「似能破」十四過類之第四。於因明對論中,敵者(問難者)對立者(立論者)所立之正確論式強加非難,謂對方所提出的宗(命題)之主詞與同喻二項概念皆相同無異,並據以推演出「一切法法皆相同無異」之謬論,試圖難破對方。例如佛弟子立「聲是無常,所作性故,譬如瓶等」之論式。外教徒欲破之,遂謂:「聲是無常,與瓶無異,聲與瓶同為所作性故;聲亦可燒、可見,而非所聞性,於瓶無異。又聲是可燒、可見,非所聞性、所作性故,猶如瓶等。若聲和瓶相同,可燒、可見而非所聞,瓶亦同於聲不可燒、不可見,而如所聞性,則聲、瓶一切法同為一性所成,瓶、聲二物不異。」蓋聲之聞性係由現量所得,外教徒以瓶為比量,雖遮遣聲之所聞,而比量之力比現量為弱,故無法遮遣聲之所聞的現量之境,此乃外教徒所據以破斥佛弟子之方式實乃違於現量,而造成似是而非之駁斥作法。又此過相當於世親如實論道理難品所說之「無異難」。〔因明正理門論、因明大疏瑞源記卷八〕(參閱「十四過類」415、「因明」2276)
vô dụng
Useless.
vô gia cư
Homeless.
vô gia đình
Without a family.
Vô già
(無遮): không ngăn chận, che đậy, cản trở, bao dung quảng đại, độ thoát hết tất cả, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, tăng tục, trí ngu, thiện ác, v.v. Như trong Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō Vol. 19, No. 945) quyển 1 có câu: “Như Lai khai xiển vô già, độ chư nghi báng (如來開闡無遮、度諸疑謗, Như Lai mở bày sự bao dung, độ những người nghi ngờ, phỉ báng).” Từ đó, từ này còn chỉ cho Vô Già Đại Hội (無遮大會) hay Vô Già Hội (s: pañca-vārṣika maha, 無遮會), tức là pháp hội bố thí một cách bình đẳng Tài Thí và Pháp Thí. Như trong bài thơ Linh Cốc Tự (靈谷寺) của Triệu Dực (趙翼, 1727-1814) nhà Thanh có câu: “Thất nhật Vô Già diên, huân thiên chúng hương úc (七日無遮筵、薰天眾香郁, bảy ngày cỗ Vô Già, thơm hương trời ngào ngạt).” Hay trong Trần Thư (陳書), phần Cao Tổ Kỷ Hạ (高祖紀下), có đoạn rằng: “Canh Thìn, chiếu xuất Phật nha ư Đỗ Mụ trạch, tập tứ bộ thiết Vô Già Đại Hội, Cao Tổ thân xuất quan tiền lễ bái (庚辰、詔出佛牙於杜姥宅、集四部設無遮大會、高祖親出闕前禮拜, vào năm Canh Thìn, nhà vua hạ chiếu đem răng Phật ra ở tư gia của Đỗ Mụ, tập trung bốn bộ nhạc công thiết lập Đại Hội Vô Già, vua Cao Tổ đích thân ra trước cổng lễ bái).” Trong Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) cũng có đoạn: “Như tích thí nhất Vô Già Hội, kim đắc như thị đại uy quyền (汝昔施一無遮會、今得如是大威權, ngươi xưa bố thí Vô Già Hội, nay được như vậy đại uy quyền).” Trong Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toản Yếu Nghi Quỹ (瑜伽燄口註集纂要儀軌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1084) quyển Hạ lại có đoạn rằng: “Kim tắc Vô Già Hội khải, Quan Âm hiện Tiêu Diện chi hình; đại thí môn khai, tôn giả thiết Ma Già chi hộc, thỉnh Thất Như Lai nhi tác chứng (今則無遮會啟、觀音現焦面之形、大施門開、尊者設摩伽之斛、請七如來而作證, nay lúc Vô Già Hội mở, Quan Âm hiện Tiêu Diện thân hình; thí thực cửa bày, tôn giả dọn Ma Già hộc cúng, thỉnh Bảy Như Lai mà chứng giám)”, hay “duy nguyện thừa Tam Bảo lực, trượng bí mật ngôn, thử dạ kim thời, lai thọ Vô Già Cam Lộ pháp thực (惟願承三寶力、仗秘密言、此夜今時、來受無遮甘露法食, xin nguyện nương Tam Bảo lực, nhờ bí mật lời, đêm nay lúc này, đến thọ Vô Già Cam Lộ cơm pháp).”
vô già
Bao dung không ngăn ngại. Ân huệ, lòng bi mẫn và lòng thương yêu chúng sanh của Phật—Unconcealing, unconfined; illimitable. Buddha-grace, Buddha-mercy, Buddha-love. ** For more information, please see Vô Cái.
vô già hội
5137梵語 pañca-vārṣika maha。音譯般遮于瑟會。無遮,寬容而無遮現之謂。不分賢聖道俗貴賤上下,平等行財施及法施之法會,稱為無遮會。五年行一度者,特稱五年大會。此風始於印度阿育王。七世紀時戒日王曾邀玄奘參加於曲女城舉行之無遮大會;西域及我國亦盛行。西域記卷五羯若鞠闍國條謂,五年一度設無遮大法會,傾竭府庫,惠施眾生,唯留兵器不予布施。可知設此會當耗巨資。我國梁武帝於中大通元年(529)十月,曾於同泰寺行四部無遮大會,召集僧俗五萬人。日本推古天皇亦曾行之。〔大莊嚴論經卷八、摩訶僧祇律卷三、阿育王傳卷二、高僧法顯傳竭叉國條、玄應音義卷十七〕(參閱「般遮于瑟會」4311)
vô già đại hội
Mokśa-Mahāpariśad (S), Pacapariśad (S), Pacavarṣika (S), Pacavar-ṣika-pariṣad (S).
; Moksa Mahàparisad (S). Council convoked every five years.
; Panca-varsika-parisad (skt)—Cứ năm năm thì chư Tăng Ni họp đại hội một lần để chia xẻ kinh nghiệm tu hành, và cùng nhau phát lồ sám hối (tục có từ thời Lương Võ Đế)—The quinquennial assembly, for having all things in common, and for confession, penance, and remission.
vô giá
5135梵語 anarghya。無法計數價值之謂。如無價衣、無價寶珠等,皆為形容該物珍貴之語。無量壽經卷下(大一二‧二七二下):「寶香無價衣,供養無量覺。」
; Inestimable—Invaluable—Priceless.
vô giá đà sa
5135馱娑,梵語 dāsaḥ,譯作奴。為人使役而不取傭資之奴,稱為無價馱娑。菩薩行無緣大慈,同體大悲,猶如無價馱娑供人使役。俱舍論卷十八(大二九‧九四下):「如世傳有無價馱娑,當知此言自彼菩薩。」
vô giác thiểu quán định
5143梵語 avitarka-vicāramātra-samādhi,巴利語 avitakka-vicāramatta-samādhi。又作無尋惟伺定、無尋有伺定。為三三昧之一。覺(尋),粗大之思惟作用;觀(伺),微細之思惟作用。已無粗大之思惟作用,然仍殘存部分微細思惟作用之禪定,稱為無覺少觀定,係介於初禪與第二禪間之中間定。〔解脫道論卷二〕
vô giác vô quán định
5144梵語 avitarka-avicāra-samādhi,巴利語 avitakka-avicāra-samādhi。又作無尋無伺定。為三三昧之一。指第二禪以上無粗大思惟作用亦無微細思惟作用之禪定。〔解脫道論卷二〕
vô gián
Ānantariya (S), Disinterruption Trực tiếp.
; Avici (S). Uninterrupted, unseparated, without intermission.
; Avici (skt)—Liên tục hay không có sự gián cách về thời gian hay không gian—Without interruption—Uninterrupted—Without intermission—Unseparated.
vô gián duyên
Thứ Đệ Duyên—Connected ir consequent causes—Continuous conditional or accessory cause.
vô gián nghiệp
5122梵語 ānantarya-karman。指犯五逆罪者所作之業,導致受無間地獄苦果。蓋犯五逆罪者,臨命終之際,必定墮入地獄而無間隔,故稱無間業。又地獄稱為無間,以五逆罪業能招受無間地獄之果報,故稱無間業,此乃「從果」立名。又地藏菩薩本願經卷上觀眾生業緣品以五義解釋無間:(一)日夜受罪,以至劫數,無時間歇絕。(二)身形遍滿無間,一人亦滿,多人亦滿,故稱無間。(三)罪器叉棒,鷹蛇狼犬,鐵網鐵繩,饑吞鐵丸,渴飲鐵汁,苦楚相連,更無間斷。(四)不問男子女人,羌胡夷狄,天龍神鬼,罪行業感,悉同受之。(五)從初入時,至百千劫,一日一夜,萬死萬生,求一念間暫住不得;除非業盡,方得受生,以此連緜,故稱無間。〔俱舍論卷十七、大乘義章卷七〕
; The unintermitted karma, or unintermitted punishment for any of the five unpardonable sins.
; Anantarya (skt). Vô gián nghiệp hay hình phạt không ngừng nghỉ dành cho kẻ phạm phải năm tội ngũ nghịch—The unintermitted karma or unintermitted punishment in the Avici hells for any of the five unpardonable sins (năm tội ngũ nghịch)—See Ngũ Nghịch.
Vô gián ngục
xem A-tỳ.
vô gián đạo
5122梵語 ānantarya-mārga,巴利語 ānantarika-magga。指開始斷除所應斷除之煩惱,而不為煩惱所障礙之修行,由此可無間隔地進入解脫道。又作無礙道。四道之一。乃正斷除煩惱之位,生起於加行道之後,而在解脫道之前。俱舍論卷二十五(大二九‧一三二上):「無間道者,謂此能斷所應斷障。」 凡煩惱皆於無間道斷除之,於見道十五心中,八忍皆屬於無間道。又修道所斷之惑,於九地各有九品,故能治之無間道亦各有九品。其中,斷除有頂地第九品惑之最後無間道,稱為金剛喻定。無間道通於有漏、無漏,然唯有頂之斷惑屬於無漏,而不通於有漏。又於有漏之六行觀,緣「上地」之諸有漏法,觀靜、妙、離等三行相之一,稱為解脫道;緣「下地」之諸有漏法,觀粗、苦、障等三行相之一,稱為無間道。無間道以斷惑(斷煩惱之種子)為目的,解脫道以證得真理為目的,因無間道之斷惑仍殘留習氣,至解脫道時,捨此而證寂滅之理,此稱為無間道斷、解脫道捨證。又瑜伽師地論卷六十二,於說明了相等七種作意與四道之相攝中,以遠離、加行究竟果等二作意攝於無間道中。〔大毘婆沙論卷九十、俱舍論卷二十三、順正理論卷六十三、成唯識論卷九〕(參閱「六行觀」1263、「四道」1789)
; Ānantarya-mārga (S), Disinterrupted path.
vô gián địa ngục
5121無間,梵名 Avīci,音譯作阿鼻、阿鼻旨。為八熱地獄之第八。位於南贍部洲(即閻浮提)之地下二萬由旬處,深廣亦二萬由旬,墮此地獄之有情,受苦無間。凡造五逆罪之一者,死後必墮於此。無間之義有五,即(一)趣果無間,命終之後,直接墮此獄中,無有間隔。(二)受苦無間,一墮此獄,直至罪畢出獄,其間所受之苦無有間斷。(三)時無間,一劫之間,相續而無間斷。(四)命無間,一劫之間,壽命無間斷。(五)身形無間,地獄縱橫八萬四千由旬,身形遍滿其中而無間隙。 無間地獄與黑繩、等活等諸地獄,各皆有十六小地獄。正法念處經卷十三舉出無間地獄之十六小地獄,即:烏口處、一切向地處、無彼岸常受苦惱處、野干吼處、鐵野干食處、黑肚處、身洋處、夢見畏處、身洋受苦處、兩山聚處、閻婆叵度處、星鬘處、苦惱急處、臭氣覆處、鐵鍱處、十一焰處。觀佛三昧海經卷五觀佛心品載,阿鼻地獄有十八小地獄,即:十八寒地獄、十八黑闇地獄、十八小熱地獄、十八刀輪地獄、十八劍輪地獄、十八火車地獄、十八沸屎地獄、十八鑊湯地獄、十八灰河地獄、五百億劍林地獄、五百億刺林地獄、五百億銅柱地獄、五百億鐵機地獄、五百億鐵網地獄、十八鐵窟地獄、十八鐵丸地獄、十八尖石地獄、十八飲銅地獄。〔長阿含經卷十九地獄品、地藏菩薩本願經卷下、俱舍論卷十一、翻譯名義集卷二〕(參閱「八熱地獄」311)
; Hell of incessant pain, Avici HellXem A tỳ địa ngục
; The Avici hell, the last of the eight hot hells, in which punishment, pain, form, birth, death continue without intermission.
; Avici (skt)—Địa ngục cuối cùng trong tám địa ngục nóng, trong đó tội nhân phải chịu hình phạt đau đớn khổ sở chết đi sống lại không ngừng nghỉ (nơi dành cho những người phạm phải ngũ nghịch)—The Avici hell—Incessant Hell—Hell Without Respite—The last of the eight hot hells, in which punishment, pain, form, birth, death continue without intermission. ** For more information, please see Địa Ngục (A) (a) (8).
vô giáo dục
Uneducated—Ill-bred.
vô giới
5087依法領納戒體,稱為受戒;受戒後毀壞戒體,稱為破戒;自始未受戒者,稱為無戒。無戒之僧,稱為名字比丘(梵 saṃjñā-bhikṣu)。〔十誦律卷一、俱舍論卷十五〕
vô hiệu
Inefficacious—Ineffectual—Ineffective.
vô hiệu nghiệp
Ahosi-kamma (P), Ineffective karma Một trong 5 loại nghiệp.
; Ahosi-kamma (P). Ineffective karma.
Vô Học Tổ Nguyên
(無學祖元, Mugaku Sogen, 1226-1286): vị Thiền tăng của Phái Dương Kì (楊岐) và Phá Am (破菴) thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, Tổ khai sơn Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), vị tổ của Phái Phật Quang (佛光派); húy là Tổ Nguyên (祖元), tự là Tử Nguyên (子元), đạo hiệu Vô Học (無學), người Phủ Khánh Nguyên (慶元府, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay), Minh Châu (明州); họ là Hứa (許), con của Hứa Bá Tế (許伯濟). Theo lời chỉ thị của anh là Trọng Cử Hoài Đức (仲擧懷德), ông đến tham bái Bắc Nhàn Cư Giản (北礀居簡) ở Tịnh Từ Tự (淨慈寺), Hàng Châu (杭州, thuộc Tỉnh Triết Giang) và xuất gia theo vị nầy. Sau đó, ông đến làm môn hạ của Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) ở Kính Sơn (徑山), được vị nầy ấn khả cho và kế thừa dòng pháp. Sau khi thầy qua đời, ông lại đến tham yết một số danh tăng khác như Thạch Khê Tâm Nguyệt (石溪心月) ở Linh Ẩn Tự (靈隱寺), Yển Khê Quảng Văn (偃溪廣聞) ở Dục Vương Sơn (育王山), Hư Đường Trí Ngu (虛堂智愚), v.v. Sau đó, ông trở về quê cũ, theo làm môn đệ của Vật Sơ Đại Quán (物初大觀) ở Đại Từ Tự (大慈寺) mà tu hành tọa Thiền suốt hai năm ròng. Về sau, thể theo lời thỉnh cầu của vị ấp chủ La Quý Trang (羅季莊), ông đến trú tại Bạch Vân Am (白雲庵) ở Đông Hồ (東湖). Khi ấy ông 37 tuổi, ông sống nơi đây trong vòng 7 năm, rồi sau khi thân mẫu ông qua đời, ông đến phụ giúp với pháp huynh Thối Canh Hành Dũng (退耕行勇) ở Linh Ẩn Tự. Kế tiếp ông lại được Đại Truyền Cống Thu Hác (大傳賈秋壑) cung thỉnh đến trú tại Chơn Như Tự (眞如寺), vùng Đài Châu (台州, thuộc Tỉnh Triết Giang) trong vòng 7 năm. Đến năm đầu (1275) niên hiệu Đức Hựu (德祐), để lánh nạn đao binh của quân nhà Nguyên, ông đến trú tại Năng Nhân Tự (能仁寺) vùng Ôn Châu (溫州, thuộc Tỉnh Triết Giang). Sau đó, ông lại trở về Tứ Vương Sơn (四王山), đến tham viếng pháp huynh ở Thiên Đồng Sơn (天童山) là Hoàn Khê Duy Nhất (環溪惟一), dừng chân lưu lại đây và thuyết giáo cho đại chúng. Đến năm thứ 2 (1279) niên hiệu Hoằng An (弘安), nhân việc Tướng Quân Bắc Điều Thời Tông (北條時宗, Hōjō Tokimune) triệu thỉnh những vị Thiền tăng cao đức sang Nhật làm trú trì Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji) ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), Tổ Nguyên được suy cử, nên vào tháng 5 cùng năm nầy ông rời khỏi Thái Bạch Sơn (太白山), rồi vào ngày 30 tháng 6 thì đến Thái Tể Phủ (太宰府), và tháng 8 thì đến Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Khi ấy Thời Tông nghênh đón ông rất trọng thể, và cử ông làm trú trì Kiến Trường Tự sau khi Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) qua đời. Vào mùa đông năm 1282, Thời Tông kiến lập nên Viên Giác Tự, rồi thỉnh Tổ Nguyên đến làm tổ khai sơn chùa nầy. Về sau, ông kiêm quản cả hai chùa Kiến Trường và Viên Giác, bố giáo Thiền phong khắp vùng Liêm Thương, và trong vòng 8 năm lưu trú tại Nhật, ông đã xác lập cơ sở Lâm Tế Tông Nhật Bản. Vào tháng 8 năm thứ 9 niên hiệu Hoằng An (弘安), ông phát bệnh, và đến ngày mồng 3 tháng 9 thì viên tịch, hưởng thọ 61 tuổi đời, 49 pháp lạp. Ông được ban thụy hiệu là Phật Quang Quốc Sư (佛光國師) và hiệu là Viên Mãn Thường Chiếu Quốc Sư (圓滿常照國師). Bộ Phật Quang Quốc Sư Ngữ Lục (佛光國師語錄) của ông gồm 10 quyển hiện còn lưu hành.
vô hành
5084唐代入竺僧。荊州江陵(湖北江陵)人。其梵名為 Prajñādeva,音譯作般若提婆,意譯作慧天。曾師事三論宗吉藏之高足大福田寺慧英,修習定慧,受具足戒後,更隱於幽巖誦法華經,參訪名師,立志開啟定門。曾遊歷九江、衡岳、嵩岳等地,又參研南山律宗道宣之法,聽聞新舊經論。其後遊學天竺,入那爛陀寺(梵 Nālandā),研習瑜伽、中觀、俱舍、律典等,並依羝羅荼寺之學僧研習大論師如陳那、法稱等之論著,餘暇時則將一切有部律中敘述如來涅槃事之部分譯成漢文,共有三卷,寄送唐朝。曾與當時亦入天竺之義淨共遊靈鷲山,唐垂拱元年(685)義淨歸國時,師年五十六。後不知所終。現存之漢譯大日經,即根據無行從印度所收集之梵本譯成。〔大唐西域求法高僧傳、釋氏六帖卷九〕
vô hành bát
5084梵語 anabhisaṃskāra-parinirvāyin。全稱無行般涅槃。為聲聞四果之第三,五種不還之一。謂於欲界命終後,生於色界,不加勤修之功力,經久自然斷上地之惑而般涅槃者。〔俱舍論卷八〕(參閱「四向四果」1683)
vô hình tướng
Niràbhàsa (S). No appearance, no splendour. Also Vô ảnh tượng.
vô hại
Harmless.
vô hại độc
Amagadha (S)A ma yết đàMột cõi giới của ngài Đế thích tu nhân thời quá khứ.
vô hạn không
Xem Vô thuỷ không.
vô hạn nữ thần
5105無限,梵名 Aditi 或 Āditya,音譯阿底提、阿提緻。印度最古女神之一。據梨俱吠陀載,無限女神能賜福予兒童與牛,並予人自由。據傳為達剎(梵 Dakṣa)之母(一說為其女),乃眾神之母。又據夜柔吠陀所記,此神為天與地之支撐者,為世界之主。
vô hạn định
Indefinitely.
vô hạn định nghiệp
Infinitely effective karma—See Nghiệp Vô Hạn Định.
vô hậu
Heirless.
vô hậu sinh tử
5101七種生死之一。謂等覺位之菩薩,破最後一品無明,入妙覺位,不再受後身,故稱無後生死。〔翻譯名義集卷六、摩訶止觀卷七上〕(參閱「七種生死」115)
; No more birth-and-death, the bodhisattva who will not again be subject to the wheel of transmigration.
; Không còn sinh tử—Bồ tát không còn chịu luân hồi sanh tử nữa—No more birth and death—The bodhisattva who will not again be subject to the wheel of transmigration.
Vô Học
無學|Thuý Vi Vô Học
vô học
5137梵語 aśaikṣa。為「有學」之對稱。雖已知佛教之真理,但未斷迷惑,尚有所學者,稱為有學。相對於此,無學指已達佛教真理之極致,無迷惑可斷,亦無可學者。聲聞乘四果中之前三果為有學,第四阿羅漢果為無學。〔俱舍論卷二十四、法華玄贊卷一〕(參閱「九無學」147、「有學」2458)
; Aśaikṣa (S)Thánh.
; Asaiksa (S). No longer learning, beyond study, the state of arhatship.
; Asaiksa (skt) 1) Không có học thức: Illiterate—Uneducated. 2) Không cần phải học nữa. Khi đạt tới giai đoạn nầy, hành giả không cần phải học hay cố gắng thành tựu theo tôn giáo. Đây là giai đoạn của bậc A La Hán, giai đoạn thứ tư trong Thanh Văn Thừa, ba giai đoạn trước là hữu học—Asaika—No longer learning—Beyond study—Beyond learning stage refers to the stage of Arhatship in which no more learning or striving for religious achievement is needed (when one reaches this stage)—The state of arhatship, the fourth of the sravaka stages; the preceding three stages requiring study; there are nine grades of arhats who have completed their course of learning—See Bất học, and Tứ Thánh Quả (4).
vô học quả
5138梵語 aśaikṣa-phala。即阿羅漢果。以其學道圓滿,不更修學,故稱無學果。〔集異門足論卷四〕
; Quả vị A La Hán hay quả vị cuối cùng trong Tứ Thánh Quả—The last (fourth) stage of the sravaka stages, the state of arhatship. ** For more information, please see Tứ Thánh Quả (4).
vô học thúy vi thiền sư
Zen Master Wu-Xue-Shui-Wei—Thiền Sư Vô Học Thúy Vi là đệ tử của Thiền Sư Đơn Hà—Zen Master Wu-Xue-Shui-Wei was a disciple of Zen master T'an-Xia. • Trong buổi gặp gỡ đầu tiên với Thiền Sư Đơn Hà, sư hỏi: “Thế nào là thấy chư Phật?” Đơn Hà quở: “Thật tự đáng thương, cần thiết cầm khăn lau làm gì?” Sư lùi ba bước. Đơn Hà bảo: “Lầm!” Sư tiến tới ba bước. Đơn Hà lại bảo: “Lầm! Lầm!” Sư giở một chân lên, xoay thân một vòng, đi ra. Đơn Hà bảo: “Được tức được, cô phụ chư Phật khác.” Sư do đây lãnh hội ý chỉ, về trụ núi Thúy Vi tại Chung Nam Sơn— Shui-Wei asked T'an-He: “What is the teaching of all Buddhas?” T'an-He exclaimed: “Fortunately, life is fundamentally wonderful. Why do you need to take up a cleaning cloth and broom?” Wu-Xue retreated three steps. T'an-He said: “Wrong.” Wu-Xue again came forward. T'an-He said: “Wrong! Wrong!” Wu-Xue then lifted one foot into the air, spun in a circle and went out. T'an-He said: “Such an answer! It's turning one's back on all the Buddhas.” Upon hearing these words, Wu-Xue attained great enlightenment. • Thiền sư Đại Đồng đến hỏi sư: “Không biết Nhị Tổ mới thấy Tổ Đạt Ma có sở đắc gì?” Sư bảo: “Nay ngươi thấy ta lại có sở đắc gì?” Đại Đồng đốn ngộ huyền chỉ—When Wu-Xue was abbot of a temple, T'ou-Tzi Yi-Qing said to him: “I'm not clear about what resulted when the Second Patriarch first saw Bodhidharma.” Zen master Wu-Xue said: “Right now you can see mee. What is the result?” At that moment T'ou-Tzi suddenly awakened to the profound mystery. • Một hôm, sư đi trong pháp đường, Đại Đồng tiến đến trước lễ, thưa: “Mật chỉ từ Ấn Độ qua, Hòa Thượng dạy người thế nào?” Sư dừng bước một chút. Đại Đồng lại thưa: “Xin thầy chỉ dạy.” Sư bảo: “Lại cần cái bầu nước nhỏ thứ hai sao?” Đại Đồng tạ lễ lui ra. Sư bảo: “Chớ lấp gốc.” Đại Đồng thưa: “Thời tiết đến, gốc mầm tự sanh.”—One day, Zen master Shui-Wei was walking in the Dharma hall. T'ou-Tzi walked up in front of him, bowed to him and said: “The essential meaning of the First Patriarch coming from the west, how does the master demonstrate this to people?” The master stopped walking and stood there. T'ou-Tzi said: “Please demonstrate it, Master.” Shui-Wei said: “Do you want another adle full of polluted water?” T'ou-Tzi then bowed in thanks. Shui-Wei said: “Don't make matters worse.” T'ou-Tzi said: “It's the season when seeds grow everywhere.” • Nhơn sư cúng dường La Hán, có vị Tăng hỏi: “Đơn Hà đốt tượng Phật gỗ, Hòa Thượng vì sao cúng dường La Hán?” Sư bảo: “Đốt cũng chẳng đốt đến, cúng dường cũng một bề cúng dường.” Tăng lại hỏi: “Cúng dường La Hán có đến chăng?” Sư bảo: “Ngươi mỗi ngày có ăn cơm chăng?” Tăng không đáp được. Sư bảo: “Chẳng có bao nhiêu người khôn.”—When Shui-Wei was making offerings to the sacred images, a monk asked: “Zen master T'an-He burn a wooden Buddha. Why then, Master, do you make offerings to the wooden statues?” Shui-Wei said: “Because they won't burn. But if you want to make them an offering they'll let you do so.” The monk asked: “If you make an offering to the sacred figures will they come or not?” Shui-Wei said: “Aren't you able to eat every day?” The monk didn't answer. Shui-Wei said: “There aren't many clever ones.”
Vô Học Tổ Nguyên
無學祖元; C: wúxué zǔyuán; J: mugaku sogen; 1226-1286;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế, đắc pháp nơi Thiền sư Vô Chuẩn Sư Phạm ở Kính Sơn. Năm 1279, Sư được mời sang Nhật giáo hoá và nối dõi Thiền sư Lan Khê Ðạo Long trụ trì chùa Kiến Trường (kenchō-ji). Sau, Sư thành lập chùa Viên Giác (engaku-ji). Cả hai chùa đều được xếp vào Ngũ sơn của Liêm Thương (kamakura), trung tâm của Thiền tông tại Nhật.
vô học đạo
5138梵語 aśaikṣa-mārga。又作無學位、無學地。為佛教修行階位之一。與見道、修道合稱為三道。係盡證真諦之理,解脫一切煩惱,學道圓滿,而不更修學勝果之道。即指阿羅漢果。大小乘規定無學道之內容有所不同,小乘以阿羅漢果位為無學道,以其餘四向三果為有學道。大乘則以菩薩修行階位之第十地最後所得之佛果為無學道。又無學之阿羅漢有利、鈍之別,鈍根者必須待時而解脫,故稱時愛心解脫、時解脫;利根者不須待時即得解脫,故稱為不動心解脫、不時解脫。〔大毘婆沙論卷五十一、卷六十六、卷六十八、卷九十四、卷一○一、俱舍論卷二十四、卷二十五、成唯識論卷六、大乘義章卷十七〕(參閱「九無學」 147、「阿羅漢」3692、「解脫」5602)
; Aśaikṣa-mārga (S)Một trong Tam đạo, ba giai vị của hàng Thanh văn và Bồ tát.
; The way of arhat, especially his attainment to complete truth and freedom from all illusion, with nothing more to learn.
; Con đường của bậc A La Hán, đặc biệt khi hành giả đã đạt được chân lý và thoát khỏi những ảo tưởng, không còn gì nữa để học. Đây là giai đoạn cuối cùng trong Tứ Thánh---The way of the Arhat, especially his attainment to complete truth and freedom from all illusions, with nothing more to learn—The fourth and last stage in the Four Saints, which is beyond the need of further teaching or study.
vô hồn
Inanimate.
vô hợp quá
5081無合,梵語 ananvaya。因明用語。因明三十三過中,同喻五過之一。即於因明對論中,所舉之因(理由)與宗(命題)缺乏同法喻體,致使彼此不相聯接所犯之過失。例如於「聲是無常(宗),所作性故(因),猶如瓶等(喻)」之論式中,僅具有同法喻依之「瓶等」,以見其兼具能立法之「所作性」及所立法之「無常性」,亦即於「瓶等」雖雙現能立、所立二法,然仍不能證明聲之所作性必定是無常。故無合即是僅具同法喻依,而未舉示同法喻體,以明白表示「所作性」與「無常性」兩者間所應具有相屬不離之關係。若於「猶如瓶等」之同法喻依上,加上「諸所作性者無常也」之同法喻體,使宗與因之間,關係明確,便不致產生無合之謬誤。無合雖為過失,然此過僅係就比量之法式而言,至於實際立量(論式)時,常省略同法喻體,乃因明之通例。〔因明入正理論、因明論疏瑞源記卷七、因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕
vô hữu
Abhāva (P), Non-existence Vô thuyết, Phi hữu, Không tồn tại.
; Vô và hữu—Non-existent and existent.
Vô Không
(無空, Mukū, ?-918): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, Tọa Chủ đời thứ 2 của Cao Dã Sơn, húy là Vô Không (無空). Ban đầu ông theo học Mật Giáo với Chơn Nhiên (眞然), rồi sau đó trở thành Tọa Chủ của Cao Dã Sơn. Vào năm 900, nhân khi Vũ Đa Pháp Hoàng (宇多法皇) đi tham bái các chùa, ông làm tiền đạo dẫn đường cho Pháp Hoàng. Năm 912, Quán Hiền (觀賢) ở Đông Tự yêu cầu ông trả lại bộ Tam Thập Thiếp Sách Tử (三十帖册子) của Không Hải, nhưng ông từ chối; đến năm 916, ông lấy bộ sách này cùng với chúng đệ tử đến Vi Đề Tự (圍堤寺) ở vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro), rồi sau đó chuyển sang Liên Đài Tự (蓮台寺) ở Y Hạ (伊賀, Iga) và qua đời tại đó.
vô khẩu
Vô khẩu thì vô thuyết vô thị (khai thị), gọi là chân thuyết; vô thuyết thì vô thính vô văn (nghe), gọi là chân văn.
vô khổng thiết chuỳ
5074禪林用語。原指無柄之鐵槌;禪林中用以比喻欲引導眾生卻缺乏引導之方法,猶如無孔不得加柄之鐵槌,全無著手處。或比喻拘泥於言教而失去開悟之機緣。碧巖錄第十四則(大四八‧一五四下):「對一說,太孤絕,無孔鐵鎚重下楔。」此例即針對學人徒然執著於祖師或前人之語句而僵化不知變通之情形,諷刺以「太孤絕」,並謂實應開啟活潑圓融之法眼來領受當前之機緣。〔景德傳燈錄卷二十一、卷二十八、如淨和尚語錄卷上、卷下〕
vô khổng địch
5074<一>禪林用語。原謂無法吹鳴的無孔之笛;於禪林中轉指禪宗悟境無法以心思或言語來表達,猶如無法吹鳴之無孔笛。嘉泰普燈錄卷三十參玄歌(卍續一三七‧二一六下):「一喝唯言三日聾,誰憐大辯翻成訥?無孔笛,最難吹,角徵宮商和不齊。」〔碧巖錄第五十一則、第八十二則、信心銘拈提〕 <二>為「少林無孔笛」一書之略稱。凡六卷。日本臨濟宗僧東陽英朝(1428~1504)所撰。(參閱「少林無孔笛」1381)
vô khứ vô lai
Neither going nor coming, eternal like the dharmakàya.
; Không đi không đến, chỉ pháp thân của Đức Như Lai vắng lặng thường trụ (theo Kinh Kim Cang thì Như Lai là không từ đâu tới và không đi đâu; theo Khởi Tín Luận thì Như Lai không sinh không diệt, bốn tướng không làm nó di động, không đi không đến, ba đời không làm nó thay đổi)—Neither going nor coming—Eternal like the dharmakaya.
vô kiến
5088<一>指斷、常二見中之斷見。係否定因果之理,主張無善惡之報,故稱為無見。大毘婆沙論卷三十八(大二七‧一九八中):「無見法,生、住、老、無常,當言無見耶?有見耶?答:『應言無見。』」又法本不有,強視無有之邪見,亦稱無見。宛陵錄(大四八‧三八四中):「法無凡聖,亦無沈寂。法本不有,莫作無見;法本不無,莫作有見。有之與無,盡是情見。」〔大智度論卷七〕(參閱「斷見」6560) <二>(1265~1334)指北宋臨濟宗僧無見先覩,為方山文寶之法嗣,賜號「真覺」。(參閱「真覺」4229)
; Xem Si.
; Holding to the view of entire unreality.
Vô kiến đỉnh
xem Đỉnh tướng.
Vô kiến đỉnh tướng
xem Đỉnh tướng.
vô kiến đỉnh tướng
5088指佛八十種相好之第六十六種。為梵語 uṣṇīṣaśiraskatā(肉髻相)之意譯。謂佛頂高至不得見之相。優婆塞戒經卷一(大二四、一○四○上):「得無見頂相,何以故?為菩薩時,於無量世頭頂禮拜一切聖賢、師長、父母,尊重讚歎,恭敬供養,是故獲得無見頂相。」〔觀無量壽經、楞嚴經卷七〕(參閱「八十種好」268)
; Xem Đỉnh tướng.
; The usnisa, or lump, on Buddha's head, called "the invisible mark on the head" because it was supposed to contain an invisible sign.
; Một trong ba mươi hai tướng hảo, trên đầu Đức Phật có khối thịt hình búi tóc. Trong tướng nầy có cái đỉnh điểm mà trời người không thể thấy được—One of the thirty-two good marks, the usnisa, or lump, on Buddha's head, called “the invisible mark on the head,” because it was supposed to contain an invisible sign; perhaps because it was covered. ** For more information, please see Tam Thập Nhị Hảo Tướng Của Phật.
vô kí
5107梵語 avyākṛta。三性之一。一切法可分為善、不善、無記等三性,無記即非善非不善者,因其不能記為善或惡,故稱無記。或謂無記者因不能招感異熟果(善惡之果報),不能記異熟果,是故稱為無記;但此種解釋僅適用於有漏法,並非一般通說。成為無記之法,稱「無記法」;對此,成為善或不善之法,稱「有記法」。無記分為有覆無記與無覆無記二種。(一)有覆無記,以其無記,故不引生異熟果,但能覆聖道、蔽心性,故為不淨者,例如上二界之煩惱,及欲界之煩惱如身見、邊見俱屬此。(二)無覆無記,又作淨無記,即純粹之無記,絕不覆聖道,蔽心性,故不屬不淨。欲界之無覆無記心分為四:(1)異熟無記,即指異熟生心、報生心。依前世業因招感果報之心。(2)威儀無記,又作威儀路無記。即威儀心、威儀路心。引起行住坐臥之威儀動作或緣此動作之心。(3)工巧無記,又作工巧處無記。即指工巧心、工巧處心。為身語工巧(工作、繪畫、詩歌等)或緣此之心。(4)通果無記,又作變化無記。即指能變化心、變化心、通果心。起入定得神通自在作用之心。以上四無記更加自性無記(如山河大地之色香味觸)與勝義無記(虛空及非擇滅之二無為法),並有覆無記,合謂七無記。同時,唯識宗將所有之無記法分為如下四無記:能變無記(心、心所)、所變無記(色法與種子)、分位無記(不相應行法)與勝義無記等。成實論卷八稱隱沒無記性煩惱為無記。 此外,對於外道之十四難(即問難),釋尊認為無回答之意義,故不答以是或非,此謂十四無記、十四不可記;相當於四記答中之捨置記。十四問難如下:(一)世界(及我)有常(時間之無限)?(二)無常(時間之有限)?(三)亦常亦無常?(四)非常非無常? (五)有邊(空間之有限)? (六)無邊(空間之無限)? (七)亦有邊亦無邊? (八)非有邊非無邊? (九)如來(此際意指眾生)死後有? (十)無? (十一)亦有亦無? (十二)非有非無? (十三)命與身為同一? (十四)異?以上若除去(三)(四)(七)(八),亦稱作四類十問。〔雜阿含經卷三十四、大毘婆沙論卷五十一、卷九十七、卷一四四、俱舍論卷二、卷七、成唯識論卷三、俱舍論光記卷二、卷十三、卷十五、卷五、卷十、大乘義章卷七〕(參閱「十四無記」414、「三性」563、「四無記」1775、「有覆無記」2460、「無覆無記」5139)
; Avyàkrta, avyàkhyàta (S). Unrecordable (either as good or bad); neutral, neither good nor bad; things that are innocent, or cannot be classified under moral categories.
vô kí căn
5108以善、惡、無記(非善非惡)三性來分別二十二根,其中,眼、耳、鼻、舌、身等五根,男、女根及命根,其性質非善非惡,故稱無記根。
vô kí hoá hoá thiền
5107指能於自然無礙之中,作無窮變化之禪定。法華經玄義卷四上、法界次第初門卷下之上皆列舉出九種大禪,其中之第六種為一切行禪,乃含攝大乘一切行法之禪定。一切行禪又細別為十三種,其第二種即無記化化禪,為一種任運自如、無窮變化而又自在無礙之禪定。四明知禮之十不二門指要鈔卷下(大四六‧七一九上):「豈無記化化禪不,即陰不發邪?」
vô kí vãng sinh
5108無記,非善非惡之義;往生,即往生淨土。無記往生為四種往生之一。謂此人已於平生發得皈命信心,臨終時雖由於過去業因,心神衰弱成為無記而不能念佛,然以其過去之念佛功德,得以往生淨土。(參閱「四種往生」1804)
vô ký
chỉ các hành vi không thuộc về thiện cũng không thuộc về bất thiện.
; Avyākṛta (S).
; Avyakrta (skt) 1) Không thể ghi nhận là thiện hay bất thiện: Unrecordable (either good or bad). 2) Trung tính: Neutral—Neither good nor bad. Things that are innocent or cannot be classified under moral categories.
vô ký không
Kẻ tham thiền nếu chẳng có nghi tình, cũng chẳng có vọng tưởng, trong tâm như một tờ giấy trắng, tức lọt vào Vô ký không, là thuộc về thiền bệnh.
vô ký nghiệp
Avyākṛta-karma (S).
vô kế
Without means.
vô kể
Unnumbered—Countless.
vô kỷ luật
Undisciplined.
vô la xoa
5142西晉譯經僧。于闐人。又作無叉羅。與竺叔蘭於陳留倉垣水南寺,譯出朱士行得自于闐之梵書佛經,即放光般若波羅蜜經三十卷。其餘事蹟不詳。〔開元釋教錄卷二〕
vô liêm sĩ
Shameless.
vô luân
Immoral.
vô luận
Regardless of—Without distinction.
vô lý
Unreasonable—Irrational—Absurd.
vô lương tâm
To have no conscience.
vô lượng
5116不可計量之意。指空間、時間、數量之無限,亦指佛德之無限。法華義疏卷十(大三四‧五九六中):「六情不能量,故名無量;又不墮三世,名為無量;又言無空、有之量,故稱無量。」〔攝大乘論釋卷八、勝鬘經寶窟卷中本〕
; Apamaa (P), Avatāra (S), Apramāṇa (S), Immeasurable Apamaa (P).
; Apramàna, amita, ananta (S). Immeasurable, unlimited, e.g. the "four infinite" characteristics of a Bodhisattva are từ bi hỉ xả, loving kindness, compassion, joy and equanimity.
; Apramana (skt)—Rất nhiều, không đong đếm hay đo lường được. Có bốn thứ vô lượng của vị Bồ Tát là Từ, Bi, Hỷ, Xả—Unlimited—Immeasurable—Measureless—Boundless—Infinite—Countless. There are four infinite characteristics of a Bodhisattva: kindness, pity, joy, and self-sacrifice.
vô lượng biên
Anantapratibhāna (S)Vô biên biên.
vô lượng biện tài tam muộ
i Ulimited samādhis and eloquence.
vô lượng chư thiên
Numberless Great Multitudes gods from all heavens.
vô lượng giác
Infinite enlightenment, name of Amtàbha.
; Vô Lượng Giác là tên hiệu của Đức Phật A Di Đà—Infinite enlightenment, name of Amitabha—See A Di Đà.
vô lượng huệ
5121<一>為諸佛之通稱。諸佛如來具有甚深無量之智慧,故稱無量慧。讚阿彌陀佛偈(大四七‧四二四上):「十方三世無量慧,同乘一如號正覺。」〔法華經化城喻品、無量壽經卷上〕 <二>為阿彌陀佛之別稱。阿彌陀佛四十八願中之第十二願為:願光明無量,自成無量光之正覺,照破十方眾生之無明黑闇。如阿彌陀經載,彼佛光明無量,照十方國無所障礙。其中,光明即智慧之相。十住毘婆沙論易行品讚歎阿彌陀佛(大二六‧四三上):「無量光明慧,身如真金山。」
; Infinite wisdom (of the Buddha).
vô lượng kiếp
Asamkhyeyas of eons—Uncountable eons.
vô lượng luân hồi
Innumerable reincarnations.
vô lượng lực bồ tát
Anatavikramin (S)Tên một vị Bồ tát.
; The Bodhisattva with Infinite Power.
vô lượng môn
Xem Phổ môn.
vô lượng môn phá ma đà la ni kinh
Xem Phật thuyết vô lượng môn phá ma Đà la ni kinh.
vô lượng môn vi mật trì kinh
Xem Phật thuyết vô lượng môn vi mật trì kinh.
vô lượng nghiệp
Boundless karma.
vô lượng nghĩa
5118請參閱 平等覺經 [1]請參閱 平等覺經梵語 mahā-nirdeśa 或 ananta-nirdeśa。<一>謂一切諸法各具無量無數之義理,故稱無量義。 <二>為實相之異名。吉藏之法華經義疏卷二載,無量義有二種,即:(一)體無量,實相之體不可限量,稱為體無量。(二)用無量,從實相一法而生出一切法,稱為用無量。此體、用皆有深義,故稱義。〔無量義經〕 <三>指大乘經典。法華經序品(大九‧四中):「時佛說大乘,經名無量義。」
; Infinite meaning, or the meaning of infinity; the meaning of the all, or of all things.
; 1) Nghĩa lý vô lượng vô số: Infinite meaning—Innumerable meanings—Meaning of infinity. 2) Tất cả các pháp. Các pháp là vô lượng, mọi cái đều đầy đủ ý nghĩa: The meaning of all things.
vô lượng nghĩa kinh
5118梵名 Amitartha-sūtra。全一卷。南朝蕭齊曇摩伽陀耶舍(梵 Dharmagatayaśas)譯於建元三年(481)。收於大正藏第九冊。本經之旨趣,係基於有情之煩惱無量,故佛陀說法無量;說法無量,故義亦無量;無量義生自一法,此一法即無相。內容多以法華經為中心。與法華經、觀普賢經合稱法華三部經。注疏有蕭齊劉虬之無量義經疏一卷、唐代圓測之無量義經疏三卷等。異譯本有劉宋求那跋陀羅譯之無量義經一卷,早已佚失。〔法華義記卷一、彥琮錄卷一、閱藏知津卷二十四〕
; Mahānirdeśa (S)Một trong 47 tên khác nhau của Kinh Pháp Hoa.
; Scriptures of measureless meaning (universalistic or the infinite)—See Phương Quảng.
vô lượng nghĩa xứ tam muội
5118梵語 anantanirdeśapratiṣṭhāna-samādhi。指佛陀欲說法華經時所入之三昧。無量,乃三乘、五乘等無量法門,即無量義;義處,乃無量義之依處,即實相。生出無量法義依處之實相無相三昧,稱為無量義處三昧。佛陀既已說無量義之後,將說實相,則於中間入此三昧,依所出之無量義,故為無量義經之三昧;依所歸之義處,則為法華經之三昧。〔法華經序品、法華文句卷二〕
; Anantanir-deśapratiṣṭhāna-samādhi (S).
; Anantanirdesapratisthàna-samàdhi (S). The concentration into which the Buddha is represented as entering before preaching the doctrine of infinity as given in the Lotus-sùtra.
; Phật nhập vào định nầy trước khi Ngài nói kinh Vô Lượng Nghĩa (Pháp Hoa)—The Anatanirdesapratisthana samadhi—Into which the Buddha is represented as entering before preaching the doctrine of infinity (the Lotus Sutra).
Vô Lượng Quang
無量光; S: amitābha;|A-di-đà Phật
vô lượng quang
Appamāṇābha (P), Infinite light, Apramāṇābha (S).
; Apramànànha (S). Immeasurable, or infinite light or splendour.
; Apramanabha (skt)—Tên gọi khác của Phật A Di Đà—Infinite (Immeasurable) Light or splendor, another name for Amitabha Buddha. ** For more information, please see A Di Đà, and Vô Lượng Thọ.
vô lượng quang bồ tát
5117無量光,梵名 Amṛta-prabha,音譯為阿弭多鉢羅婆野。又作甘露光菩薩。賢劫十六尊之一。為密教金剛界曼荼羅三昧耶、微細、供養、降三世等會之輪壇外,位於西方五尊中南端之菩薩。此尊以無量之智光降伏三惑,遍照十方,故稱無量光。密號大明金剛或離染金剛。種子為???(aḥ)。三昧耶形為火焰。於微細會之尊,形像為身呈赤肉色,左手舒掌,安於左膝上;右手屈臂,開掌向外,掌上安置蓮花,蓮花上有火焰。真言為「唵阿彌多鉢羅婆野娑縛賀特鍐」。〔金剛頂瑜伽中略出念誦經卷三、賢劫十六尊、金剛頂大教王經疏卷二、金剛界七集卷下〕
vô lượng quang cõi
Land of Immeasurable Light.
vô lượng quang minh
Amitabha Buddha—See A Di Đà.
vô lượng quang minh độ
Cõi Vô Lượng Quang Minh Độ của Đức Phật A Di Đà—Amitabha's Land of Infinite Light.
vô lượng quang như lai
Boundless Light.
vô lượng quang phật
Buddha of Inconceivable Light Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Amitàbha Buddha.
; Amitabha (skt)—The Buddha of Infinite Light—The Buddha of light that is immeasurable, boundless, irresistible, incomparable, pure, joy, wisdom, unceasing, surpassing thought, ineffable, Surpassing sun and moon. ** For more information, please see A Di Đà.
vô lượng quang thiên
5116無量光,梵名 Apramāṇābha,巴利名 Appamāṇābha,音譯為阿波摩那阿婆、
; Apramāṇābha (S), Infinite Light Appamāṇābha (P)Một trong 3 tầng trời cõi Nhị thiền thiên. Tầng này có anh sáng vô hạn lượng.
; Apramànàbha (S). The heaven of boundless light, the fifth of the Brahmalokas.
; Trời Vô Lượng Quang Thiên trong cõi trời Phạm Phụ thứ năm—The heaven of boundless light, the fifth of the Brahmalokas. ** For more information, please see Thiên (B) (5).
vô lượng quang thọ phật
Buddha of Infinite Light and Life.
vô lượng thanh tịnh
Infinite purity.
vô lượng thanh tịnh phật
The Buddha of boundless purity, Amitàbha.
; The Buddha of boundless purity—Amitabha Buddha—See A Di Đà.
Vô Lượng Thọ
無量壽; S: amitāyus;|Một hiện thân của A-di-đà Phật. Dưới dạng Vô Lượng Thọ, A-di-đà được trình bày trong tư thế Toạ thiền, hai tay cầm bình nước Cam-lộ (bất tử tửu 不死酒, nước bất tử; s: amṛta).
vô lượng thọ
Infinite Life.
; Boundless, infinite Life—Chúng ta đã biết Vô Lượng Quang hay Vô Lượng Thọ là một vị Phật được lý tưởng hóa từ Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni. Nếu Phật A Di Đà chỉ thuần là lý tưởng trên nguyên tắc, đơn giản đó là “Vô Lượng,” Vô Lượng như thế sẽ là một với Chân Như. Xét theo không gian sẽ là Vô Lượng Quang; nếu xét về thời gian thì là Vô Lượng Thọ—As we have seen that the Amitabha or Amitayus, or Infinite Light and Infinite Life, is a Buddha realized from the istorical Buddha Sakyamuni. If the Buddha is purely idealized he wil be simply the Infinite in principle. The Infinite will then be identical with Thusness. The Infinite, if depicted in reference to space, will be the Infinite Light, and if depicted in reference to time, the Ithenite Life.
vô lượng thọ hội
Sukhāvatī-vyŪha-sŪtra (S)Kinh A di đà, Vô lượng Thọ kinh, Kinh Tiểu Vô lượng thọMột bộ kinh trong Bảo Tích bộ.
Vô Lượng Thọ Kinh
(s: Sukhāvatī-vyūha-sūtra [ed. by F. M. Müller & B. Nanjō], c: Wu-liang-shou-ching, t: Ḥphags-pa ḥod-dpog-med kyi bkod-pa shes-bya-ba theg-pa chen-poḥi-mdo, j: Muryōjukyō,無量壽經): còn gọi là Song Quyển Kinh (雙巻經), Đại Vô Lượng Thọ Kinh (大無量壽經), 2 quyển, hiện còn, Taishō 12, 265, No. 360, Tăng Khải (s: Saṃghavarman, Saṅghapāla; 僧鎧, 460-524) nhà Đường dịch vào năm 252 (niên hiệu Gia Bình [嘉平] thứ 4) đời Tào Ngụy.
vô lượng thọ kinh
5119 【無量壽佛觀經→】請參閱 觀無量壽經 請參閱 大乘無量壽宗要經 [1]請參閱 大乘無量壽莊嚴經 [1]請參閱 無量壽經連義述文贊 [1]請參閱 無量壽經義疏 [1]請參閱 往生論 [1]請參閱 往生論註 [1]請參閱 往生論 [1]請參閱 往生論 [1]請參閱 往生論註 [1]請參閱 往生論註 [1]請參閱 往生論 [1]請參閱 觀無量壽經梵名 Sukhāvatī-vyūha。凡二卷。曹魏康僧鎧譯。又稱雙卷經、兩卷無量壽經、大無量壽經、大經。為淨土教三部根本要典之一。收於大正藏第十二冊。本經敘說於「世自在王佛」時,有國王出家為僧,號法藏,誓願度化一切眾生至極樂世界,如四十八願中之第十八願所云(大一二‧三六八上):「十方眾生至心信樂,欲生我國,乃至十念;若不生者,不取正覺。」後成佛,號「無量壽」,國土在西方,名為「安樂」,或稱「極樂」;經中並敘及淨土之莊嚴,又勸發諸天眾生精進修行,以求往生彼佛國土。 本經之漢譯本極多,古來即有「五存七缺」等十二種譯本之說,即:(一)無量壽經,二卷,東漢安世高譯,今已不存。(二)無量清淨平等覺經,四卷,東漢支婁迦讖譯。(三)阿隬陀經,二卷,三國吳之支謙譯。(四)即康僧鎧譯之本經。(五)無量清淨平等覺經,二卷,曹魏帛延譯,今已不存。(六)無量壽經,二卷,西晉竺法護譯,今已不存。(七)無量壽至真等正覺經,一卷,東晉竺法力譯,今已不存。(八)新無量壽經,二卷,東晉佛陀跋陀羅譯,今已不存。(九)新無量壽經,二卷,劉宋寶雲譯,今已不存。(十)新無量壽經,二卷,劉宋曇摩蜜多譯,今已不存。(十一)大寶積經無量壽如來會,二卷,唐代菩提流志譯。(十二)大乘無量壽莊嚴經,三卷,北宋法賢譯。 然近代學者,如日本常盤大定、望月信亨、中村元等人,根據歷代經錄之記載、敦煌本之新資料、梵文原本之對照研究,乃至教理史之發展觀點,而對古來十二譯之說提出質疑之看法,謂本經前後僅有五種之譯本而已,即上記十二譯本中之第三、第五、第十一、第十二譯,另加上西晉竺法護譯之無量壽經二卷,其餘多為重複訛偽之記錄。此外,日本野上俊靜更進一步主張本經係竺法護譯於西晉永嘉二年(308)之譯本,而非康僧鎧所譯。 又南宋紹興三十年(1160),龍舒人王日休所校輯之大阿彌陀經二卷,為各版無量壽經中流通極廣之版本,然該經僅係將現存四譯本(除去大寶積經無量壽如來會),互相參照,重新編纂而成,而非直接譯自梵文本。 本經之梵文原本亦有數種,一八八三年,英國學者麥克斯穆勒(Max Müller)與日本南條文雄共同出版原文本,穆勒又將之英譯,題為 The Larger Sukhāvatī-vyūha。一九○八年,南條文雄亦將此版譯為日文。一九一七年,日本荻原雲來又根據高楠順次郎、河口慧海兩人自尼泊爾所發現之梵本及藏譯本,重新改訂穆勒出版之梵文本,復譯為日譯本、英譯本。此外,寺本婉雅、青木文教兩人亦曾先後將西藏本譯為日文出版。 自本經各種語文版本陸續刊行後,學者乃逐漸採用異語版本之對照研究,其中研究效果最顯著者為漢譯諸本與梵文原本之對照比較,較值得注意者,如全經章段之出入、願文之多寡、與會之大比丘眾人數、菩薩眾之名稱數目、法藏菩薩所見佛剎土之數目,乃至經文中「彌陀入滅,觀音補處」之說、「五惡段」之文、過去佛及十二光佛之數、偈頌之有無、位置之差異等,各譯本與梵本均有所異。 本經既為淨土教之根本聖典,古來有關之注疏贊述自然不勝枚舉,較重要者,有印度世親之無量壽經優婆提舍願生偈一卷(此即著名之「世親淨土論」)、北魏曇鸞之往生論註二卷、隋代慧遠之無量壽經義疏二卷、隋代吉藏之無量壽經義疏一卷、唐代圓測之無量壽經疏三卷、新羅元曉之無量壽經宗要一卷、新羅義寂之無量壽經述義記二卷、唐代玄一之無量壽經記三卷、唐代寂證之無量壽經述義三卷、新羅璟興之無量壽經連義述文贊三卷、清代彭際清之無量壽經起信論三卷等。〔出三藏記集卷二、歷代三寶紀卷四、卷五、卷七、開元釋教錄卷一、卷十一、卷十四、樂邦文類卷一、至元法寶勘同總錄卷一、新編諸宗教藏總錄卷一、大無量壽經の教理史的研究(池本重臣)、無量壽經諸異本の研究(明石惠達)、梵文無量壽經批議(荻原雲來)〕
; Wu-liang-i ching (C)Tên một bộ kinh.
; Sukhàvativyùha-sùtra (S). Sùtra of the Amitabha Buddha.
; The Sukha-vativyuha sutras—Amitayus Sutras—See Kinh A Di Đà.
vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán
5119凡三卷。新羅僧璟興撰。又稱無量壽經述贊。收於大正藏第三十七冊。為西晉竺法護譯(今已不存)無量壽經二卷之注釋書。全篇內容分為來意、釋名、解本文等三門。解說簡明,然現存本約有八處脫文。〔東域傳燈目錄卷上、諸宗章疏錄卷二、淨土真宗教典志附錄卷三〕
vô lượng thọ kinh nghĩa sớ
5121<一>凡二卷,或一卷。隋代慧遠撰。又稱無量壽經疏、大無量壽經疏、大經義疏、淨影大經疏。收於大正藏第三十七冊。係康僧鎧所譯無量壽經之注釋書。於文前舉出二藏二教之教判,以無量壽經為菩薩藏頓教所攝;次釋經名,分科經文,一一解釋文義。本書為無量壽經現存最古之注疏,其分科及三願分類等方法,為古來之淨土諸家所引用。 <二>全一卷。隋代吉藏撰。又稱大經義、大經義疏、無量壽義疏。收於大正藏第三十七冊。本書依據三論宗來解釋無量壽經。初為序文讚歎西方淨土,次說無量壽經之宗致,復論述如來之說法,最後分科節以釋正文。謂經之說相,先示妙果,後勸往生,係為使五濁之眾生捨離穢土而取淨土。
vô lượng thọ kinh sao
5121凡七卷。日僧了慧道光撰。又稱大經鈔、望西鈔、道抄。為無量壽經之注釋書。內容分為大意、釋題、解文等三門。初闡明大意,立有教起所因、所說大猷、宗體定判、藏教所攝等四科,次辨明經題及譯人,復次解釋經文,概採用慧遠之分科方法,又廣泛引用我國及日本諸家之疏記,而主要以日僧良忠相傳之義旨抉擇。現收入淨土宗全書第十四卷。
vô lượng thọ kinh ưu ba đề xá
Amitāyus śāstropadesa (S)Do ngài Thế Thân biên soạn.
vô lượng thọ kinh ưu ba đề xá nguyện sanh kệ
Discourse on the Pure Land with Hymn of Birth (kinh số 1524 trong Đại Chánh Tân Tu).
vô lượng thọ như lai
Amitays-Amitābha-Tathāgata (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; See A Di Đà.
vô lượng thọ như lai hội
5119梵名 Sukhāvatī-vyūha。凡二卷。唐代菩提流志譯。全稱大寶積經無量壽如來會。收於大正藏第十一冊。出自於大寶積經第五會之十七、十八兩卷。為無量壽經異譯五存本之一。本書與曹魏康僧鎧之譯本類似處甚多。(參閱「無量壽經」5119)
vô lượng thọ phật
5119<一>即阿彌陀佛。阿彌陀,意譯為無量壽(梵 amitāyus)、無量光(梵 amitābha),故阿彌陀佛亦稱為無量壽佛、無量光佛。惟密教則以阿彌陀佛之應化身為無量光佛,其報身為無量壽佛。無量壽經卷上言,無量壽佛,威神光明,最尊第一。觀無量壽經亦謂,無量壽佛,身量無邊,非是凡夫心力所及。(參閱「阿彌陀佛」3680) <二>為阿彌陀經證誠段所出之六方恆沙諸佛中住於西方之一佛。以其方處與阿彌陀佛同位於西方,又同名無量壽,故古來有同異之論。〔不可思議諸佛所護念經卷下(隋代叉那屈多譯)、阿彌陀經通贊疏卷下(窺基)、阿彌陀經義疏(元照)、阿彌陀經要解(智旭)〕
; Amitāyus (S), Infinite Lifespan Buddha of Infinite Life, Measureless Life Là tên hiệu khác của A di đà Phật.
; Boundless, measureless, infinite life, a name of Amitàbha.
; Vô Lượng Thọ Như Lai—Vô Lượng Thọ Vương—The Buddha of Infinite Life—Amitabha Buddha—See A Di Đà, and Vô Lượng Thọ. ** For more information, please see A Di Đà.
vô lượng thọ quang
Infinite Life and Light.
vô lượng thọ quyết định vương đà la ni
Aparimitāyur-dhāraṇī (S)Một bộ kinh trong Mật bộ.
vô lượng thọ tông yếu kinh
Xem Đại thừa Vô Lượng Thọ Tông yếu Kinh.
vô lượng thọ vương
See A Di Đà.
vô lượng tinh tiến phật
Measureless vigour Buddha.
vô lượng tinh tấn phật
Anatavirya Buddha (S)Tên một vị Phật hay Như Lai. Một đức Phật vị lai, cõi giới ở phương bam cõi ta bà.
vô lượng tràng phật
Amitadhvaga Buddha (S)Một đức Phật vị lai quốc độ ỡ phương tây cõi ta bà.
; Measureless curtain Buddha.
vô lượng trăm ngàn muôn ức chúng sanh
Countless hundreds of thousands of millions of living beings.
vô lượng tuệ
Infinite wisdom, a term applied to a Buddha.
; Từ ngữ ám chỉ Đức Phật—Infinite wisdom, a term applied to a Buddha.
vô lượng tâm
Appamāṇā (P), Amita, Ananta (S).
; Infinite mind, the mind of Infinity, the mind as large as infinity.
vô lượng tôn
The Infinite Honored One—Amitabha Buddha—See A Di Đà.
vô lượng tướng phật
Measureless Appearance Buddha Amitaskanda Buddha (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Measureless appearance Buddha.
vô lượng tịnh
Apramāṇāsubha (S), Boundless Purity Appamāṇāsubha (P)Một trong 3 cõi trời Tam thiền. Sự thanh tịnh ở cõi này không thể tính lường.
vô lượng tịnh thiên
5117無量淨,梵名 Apramāṇa-śubha,巴利名 Appamāṇa-subha,音譯阿波摩羞、阿波摩首訶、阿波羅摩那、又作無量淨果天、無量善天。色界十八天之一。為第三禪之第二天。此天天眾所受之樂勝於第一天之寂靜愛樂,與三禪相應,故稱無量淨。或謂意地之樂受,於此轉增,難以量測,故稱無量淨。彰所知論卷上、雜阿毘曇心論卷二等謂此天眾生之壽命為三十二劫,身長為三十二由旬。〔長阿含經卷二十忉利天品、立世阿毘曇論卷六、卷七〕
; Appamāṇāsubhadeva (P), Inhabitant of the Realm of Boundless Purity.
; Apramànasubha (S). Boundless purity, the second of the heavens in the third dhyàna heavens of form.
; Apramanasubha (skt)—Cõi trời thứ hai trong ba cõi trời thiền định sắc giới—Boundless purity, the second of the heaven in the third dhyana heavens of form.
vô lượng tứ đế
5116為天台宗智顗大師所立四種四諦之一。此係別教之說,認為三界之內與三界之外有恆沙無量之差別相,此無量法門,乃菩薩用以度化無量眾生者,聲聞、緣覺等二乘則以智眼亦不能知見,而唯有菩薩能通達此法。(一)苦諦,即菩薩能知見眾生之苦有無量之相。(二)集諦,即菩薩能知見眾生之惑業能招集苦果,亦有無量之相。(三)滅諦,即菩薩依方便正修而證入涅槃寂滅之理,有無量之相。(四)道諦,即菩薩所證得之諸波羅蜜有無量之相,此無量道法能自利、利他,救度無量之眾生。〔法華經玄義卷二下、天台四教儀集註卷上、卷下〕(參閱「四諦」1840)
vô lượng tự
5117<一>位於綏遠歸綏西南隅之大召街,周圍達二公里餘。俗稱大召。蒙古語謂「大」為「依克」,「喇嘛寺」為「召」,故又稱依克召。寺中大雄寶殿黃瓦朱簷,雕樑畫棟,極其壯觀。殿中四壁滿繪佛像,內供金色大佛,座前有一銅雕小方城,城內鑄有佛像,玲瓏精巧,令人歎為觀止。寺內設有班禪喇嘛之寶座,藏文藏經甚多,誦經堂可容納喇嘛數百人同時誦經。 <二>位於韓國忠清南道扶餘郡外山面。號萬壽山。為新羅文武王(661~680在位)時之梵日(或謂梵一)國師所創建。後經戰亂,破壞殆盡,現存之建築物乃高麗時代所重建。相傳李朝時代之重臣梅月堂金時習曾隱居於此。
vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp
Measureless limitless asankhyeya kalpas.
vô lượng ý
Anantamati (S).
; Anantamati (S). Boundless mind, intention, will, or meaning.
; Anantamati (skt)—Boundless mind, intention, will or meaning.
vô lậu
không có sự rỉ chảy của những điều bất tịnh, chỉ sự ô nhiễm của sáu căn do tiếp xúc với sáu trần. Vô lậu tức là thanh tịnh, không còn bị ô nhiễm.
; 5128梵語 anāsravaḥ。「有漏」之對稱。漏,為漏泄之意,乃煩惱之異名。貪、瞋等煩惱,日夜由眼、耳等六根門漏泄不止,故稱為漏。又漏有漏落之意,煩惱能令人落入於三惡道,故稱漏。因之稱有煩惱之法為有漏;稱離煩惱垢染之清淨法為無漏,如涅槃、菩提,與一切能斷除三界煩惱之法,均屬無漏。〔俱舍論卷二十、大乘義章卷五本〕(參閱「有漏」2452)
; Anasrāva (S), Anāsava (P), Anasvara (S)Không lậu tiết, không còn các mối phiền não. Bậc Vô lậu là bậc Thánh vì không còn phiền nãoKhông có tập khí phiền não là vô lậuPháp xa lìa phiền não.
; Anàsrava (S). No drip, leak, or flow; outside the passion stream; passionless; outside the stream (of transmigratory suffering); away from the down flow into lower forms of rebirth.
; Không có tập khí phiền não là vô lậu.
; Anasrava (skt) 1) Không dột: No leakage—Without leakage—No drip. 2) Không phiền não—Vượt ngoài dòng dục vọng và những khổ sở của luân hồi sanh tử. Tránh khỏi tam đồ ác đạo. Phước đức và công đức vô điều kiện là những nhân tố chính đưa đến giải thoát—No drip—No leak—No leakage—Outside the passion stream—Passionless—A state without emotional distress—Unconditioned—Outside the stream of transmigratory suffering—Away from the down flow into lower forms of rebirth—Liberation—Nirvana—Unconditioned merits and virtues are the main causes of liberation from birth and death. 3) Trạng thái như thị của sự vật: The state in which things are as they are.
vô lậu căn
Anasravendriyani (S).
; The three roots which produce pure knowledge.
; Cái căn bản của vô lậu trí—Faultlessness—Roots which produce pure knowledge.
vô lậu cửu địa
5128指色界四禪天中之未至定、中間定、四根本定,以及四無色定中之下三無色定(不包括有頂天)等九地。此九地雖皆屬有漏定,但其境地乃為生起無漏定之強力依處,亦為無漏正智之所依,故稱無漏。於小乘,認為欲界及無色界之有頂天皆無無漏法,此因前者為「散地」之故,後者以微細昧劣之故。又二禪以上之近分定,所以無無漏法,乃因其無厭背自地之法。然大乘於有頂天尚有「遊觀無漏」之說,此則異於小乘所說。(參閱「九地」132)
vô lậu duyên
5131謂證得滅諦與道諦所斷之六煩惱緣無漏法。為「有漏緣」之對稱。在九十八隨眠中,與滅、道二諦所斷之邪見、疑相應之無明及不共無明有六惑,此六煩惱親緣滅、道二諦之無漏法,故稱無漏緣。其中滅諦之三惑僅緣自地之擇滅,而不緣異地之擇滅,因擇滅異於苦集,脫離因果之範圍,故上下地之擇滅互不相緣。依此,欲界之三惑僅緣欲界之擇滅,乃至有頂天之三惑僅緣有頂天之擇滅。邪見等煩惱亦如是。又道諦之三惑中,欲界之三惑緣未至定、中間定、四根本靜慮等六地之法智品之無漏道;色界與無色界八地之三惑緣取九地類智品之無漏道。其所緣範圍異於滅諦時之僅緣自地之情形,係由於各地之法類智互為同類因,故六地、九地皆能通緣。〔俱舍論卷十九、順正理論卷四十八、俱舍論光記卷十九〕
vô lậu giải thoát môn
Nirvana.
vô lậu huệ
5131梵語 anāsrava-prajñā。即遠離一切煩惱過非,純真無垢之智慧;指三乘之聖智。俱舍論卷二十六(大二九‧一三四中):「慧有二種,有漏、無漏。唯無漏慧立以聖名。」〔阿毘曇八犍度論卷九〕
; Jnanam-anasrava (skt)—Trí huệ thanh tịnh, không bị ô nhiễm vì vị kỷ—Passionless or pure wisdom (knowledge or enlightenment), which is free from the taint of egotism.
vô lậu hậu thân
5130指二乘無學果之身。與「無漏最後身」同義。因其遠離煩惱垢染,為生死之最後身,故稱無漏後身。法華經授記品(大九‧二○下):「諸聲聞眾,無漏後身,法王之子,亦不可計。」〔法華經方便品〕
vô lậu luật nghi
5130梵語 anāsrava-saṃvara。指斷盡煩惱之無漏戒。三種律儀之一。又作道共戒、道生律儀、無漏戒。即聖者入於無漏定時,所發得防非止惡之戒體,稱為無漏律儀。此無漏律儀與無漏道共生共滅,故稱道共戒。此戒屬無表業。於說一切有部,以無表業為實色,故生於無色界之聖者雖能成就此戒,然必不現起;於唯識家,則以一切無表業為非實色,而於一切無表業中,凡能與色、無色界所有無漏道俱轉,並具有斷除犯戒之功能者皆為無漏律儀。〔俱舍論卷十四、卷十五、雜阿毘曇心論卷三、瑜伽師地論卷五十三、大乘義章卷十〕
vô lậu môn
Asravaksaya-jnàna (S). Entry into spiritual knowledge free from all faults.
; Asravaksaya-jnana (skt)—Lậu Tận Thông—Entry into spiritual knowledge which is free from all faults. ** For more information, please see Lục Thông (6).
vô lậu nghiệp
Karma of Hinayana nirvana.
vô lậu nhân
5128指能招感無漏果報之業因。即能證得涅槃果之無漏清淨之戒、定、慧。相當於四諦中之道諦。大毘婆沙論卷一八九(大二七‧九四八中):「謂知一切法,當言苦智。(中略)謂知擇滅作滅等四行相,當言道智。謂知無漏五蘊作道等四行相,不說餘智者,亦如前釋,顯自性已。」
; Passionless purity as a cause for attaining nirvàna.
; Tu theo giới định tuệ của vô lậu thanh tịnh để chứng nhập quả vị Niết Bàn—Passionless purity as a cause for attaining nirvana.
vô lậu pháp
5129梵語 anāsrava-dharma。為「有漏法」之對稱。指遠離煩惱垢染之清淨法。俱舍論卷一(大二九‧一下):「虛空等三種無為及道聖諦,名無漏法。所以者何?諸漏於中不隨增故。」即虛空、擇滅、非擇滅等三種無為法,及七覺支、八正道等道聖諦之法,皆無「隨增」煩惱,故稱無漏法。其中,擇滅無為,為滅諦涅槃之道果,以離繫(遠離煩惱之繫縛)為性;非擇滅無為,由於緣缺,永遠障礙未來法之生起;虛空無為,僅以無礙為性,皆無作用,非諸漏隨增之依處,故皆為無漏法。此即無為之無漏法。又道諦三十七品為有為法,其中,唯有七覺支、八正道屬於無漏法,其餘之四念住等皆通於有漏與無漏之法。 此外,說一切有部於十八界中,以意、法、意識等後三界通於有漏與無漏法,而以五根、五境、五識等前十五界為有漏法;此部並認為,佛之生身為他所緣,起隨增煩惱,故為有漏法,而非無漏法。然於大眾部等,則認為佛身永斷煩惱習氣,與十八界同為無漏法。〔順正理論卷一、大毘婆沙論卷四十四、卷七十六、卷一七三、俱舍論卷十三、卷二十四、俱舍論光記卷二、大乘義章卷十〕(參閱「有漏法」2453)
; The way of purity, or escape from the passion and lower transmigration.
; Phép thanh tịnh xa lìa mọi phiền não cấu nhiễm để vượt thoát khỏi dục vọng và luân hồi sanh tử—The way of purity or escape from the passions and lower transmigration.
vô lậu pháp tính
5129法性,指諸法之真實體性,為真如之異稱。法性清淨,離一切煩惱垢染,故稱無漏法性。大乘大義章卷上(大四五‧一二七下):「無漏法性生身,名為法身。」〔法華經法師功德品、究竟一乘寶性論卷三〕
; The pure, passionless dharma nature.
; Pháp tính thanh tịnh vô dục—The pure, passionless dharma-nature.
vô lậu quả
5129指由無漏因所證得之果德。即四諦中滅諦之涅槃。又指阿羅漢果。大毘婆沙論卷一二三(大二七‧六四○下):「『頗有業有漏無漏果耶?』答:『有,謂離繫果。』」〔大乘義章卷十五〕(參閱「四向四果」1683)
; The result of following the way of giới, định, tuệ, i.e. purity, meditation, and wisdom, with liberation from the passions and from lower incarnation.
; Quả đức nhờ vô lậu đạo mà đắc được hay kết quả đi theo những việc thanh tịnh, thiền định và trí tuệ, giúp chúng sanh thoát khỏi dục vọng và tái sanh—The result of following the way of immorality (purity), concentration (meditation) and wisdom which helps sentient beings from the passion and from lower incarnation.
vô lậu thiện
5130指遠離煩惱過非之善法。「有漏善」之對稱。為「見道」以上之聖者所生起之善。在小乘指四向三果之聖者所起之有學善、阿羅漢果所起之無學善,及涅槃之勝義善;在大乘則為初地以上之菩薩所修六度等之無漏有為及無為涅槃法。成唯識論述記卷五末載(大四三‧四一八下):「無漏有為、無為亦爾,此世、他世違越生死,有得、有證,及由涅槃獲二世益,非生惡趣等,故並名為善。」(參閱「善」4873)
vô lậu thiện căn
Uncondittioned good roots.
vô lậu thông
5130指漏盡通。於六神通中,前五通為有漏通,第六漏盡通則為無漏通。前五通於有漏道可得,漏盡通則非無漏道不能得,故稱無漏通。翻譯名義集卷七(大五四‧一一七七中):「無漏通者,如來莊嚴入一切佛境界。經云:『言無漏者,謂離四漏,謂欲漏、有漏、無明漏、見漏,以不取彼四種漏故,乃名遠離諸漏。』」(參閱「漏盡智證通」5827)
; Abhijā āsrava (S).
vô lậu thật tướng
Reality as passionless or pure.
vô lậu thực tướng
Reality as passionless or pure.
vô lậu trí
5130梵語 anāsrava-jñāna。指證見真理,遠離一切煩惱過非之智慧。為「有漏智」之對稱。於小乘,證見四諦理之智,稱為無漏智。有法智、類智之分別。證得欲界四諦法理之智,稱為法智。證得色、無色等二界四諦法之智,稱為類智;蓋其境智與法智相似,故稱類智。若由境之差別則分為苦、集、滅、道等四智。於無學位又分盡智、無生智,此二智皆證見四諦之法理。小乘謂無漏智於見道始生起,而漸次修習。 於大乘唯識宗則分無漏智為根本、後得二智,根本智為唯識之性,即證得真如理性之無分別智;後得智由根本智所出,為唯識之相,即了知因緣現起之萬象。大乘謂無漏智於初地見道始生起,而漸次修習,遂證佛果。〔法華經方便品、大毘婆沙論卷九十七、俱舍論卷二十六、順正理論卷七十三〕(參閱「十智」472)
; Passionless knowledge.
; See Vô Lậu Huệ.
vô lậu tuệ
Passionless, or pure, wisdom, or enlightenment.
; See Vô Lậu Huệ.
vô lậu tối hậu thân
The final pure or passionless body.
; Thân không còn dục vọng—The final pure or passionless body.
vô lậu vô vi vô lậu hữu vi
5130無為,為真理之異稱。無漏無為,指遠離有漏雜染之法,為「無漏有為」之對稱。無漏無為與無漏有為皆遠離有漏雜染之法,故同稱無漏。有為、無為之區別,乃從無漏法之本體與作用來分別。無漏法之本體凝寂湛然不動,其作用則自在而應用無窮;故以本體觀之,是為無為,若由作用而言則稱有為。
vô lậu đoạn
5132梵語 anāsrava-viyoga。為「有漏斷」之對稱。謂以無漏道斷除煩惱。無漏道,指以十六行相正觀苦、集、滅、道等四諦理之智慧。此觀智全離煩惱之過非,故稱無漏。此無漏智生起於見道位之初,能斷除三界九地之見惑;於修道位復習之,能斷除修惑。就其所依之定而言,依初禪近分之未至定而起,能斷除九地之煩惱;生起於初禪以上時,能斷除自地及上地之煩惱,此時下地之煩惱已斷除,故不復更斷。與僅能斷除下一地之煩惱,而不能斷除自地及上地之煩惱的有漏斷不同;又與止於下八地,而不能斷除有頂地之惑者有別。以上乃依俱舍論卷二十四等之意,為小乘有部宗之說。 然除非想地之惑外,見、修二惑通於無漏斷及有漏斷二者,故修道之斷惑通於有漏、無漏二斷,此概由行者之意樂而任用其一。見道雖亦通於此,然速疾歷觀三界四諦而斷惑,為有漏道所不堪,必以無漏道方能斷之。又依經部之說,則無漏斷以上為不退,而有漏斷仍有退轉之時。若依大乘唯識家之意,以有漏智可伏住煩惱之現行,然不能斷其種子,唯有無漏斷能斷其種子。其無漏智為唯識之性(即證得真如之根本智),由此出唯識之相(即了知因緣現起之萬相之後得智)。其根本智有「我法二空」之無分別智,後得智則有三心、十六心等分別。菩薩於初地見道位之初生起無漏智,此智既起,即可斷除分別而起之煩惱、所知二障。進一步於十地悉伏修惑之俱生起煩惱障,而於金剛喻定之中全然斷盡;所知障則於十地中漸次斷除,而至金剛喻定現前時方才永遠斷盡。〔成唯識論卷十、俱舍論卷二十一〕
vô lậu đạo
5131梵語 anāsrava-mārga。又作出世間道、聖道。為「有漏道」之對稱。相當於四諦中之道諦。即滅除煩惱、趣向涅槃之聖道。以四靜慮、未至定、中間定及下三無色(空無邊處、識無邊處、無所有處)等九地為所依而生起。於四善根位中,世第一法(於上忍位起無間善根之階位)之無間生苦法忍,為無漏之初起;就四沙門果之性而言,初果及第四果乃修無漏道所得者,第二及第三果則通於有漏、無漏二道。 無漏道有加行、無間、解脫、勝進等四道。其中,無間道為諸惑能斷之道,解脫道為正證解脫之道。下八地之修惑雖通於有漏斷(以有漏道斷煩惱),有頂地之染則唯有無漏道能斷之。蓋有頂地為三界九地中之最上地,此地所起之惑,有見惑、修惑之別,其中,見惑雖於見道一時斷之,而修惑則於修道以六行觀先斷下八地之七十二品,次以無漏智斷有頂九品中之下八品,稱為阿羅漢向,最後斷第九品,即是阿羅漢果。又俱舍論卷十七謂,無漏之斷道有等流、離繫、士用、增上等四果,而無異熟果,即說明由無漏道不招感當來愛、非愛之異熟果。〔大毘婆沙論卷六十六、俱舍論卷二十四、順正理論卷五十七〕(參閱「有漏」2452、「定」3171、「無漏斷」5132、「道」5620)
; The way of purity, or deliverance from the passion.
; Con đường giải thoát khổ đau của luân hồi sanh tử. Thanh Tịnh Đạo hay con đường giải thoát khỏi dục vọng, như tu hành giới, định, tuệ, và đế thứ tư trong tứ đế hay diệt đế—The enlightened way of escape from the miseries of transmigration—The way of purity, or deliverance from the passions, i.e. morality, meditation and wisdom; the fourth of the four dogmas cessation, or annihilation of suffering.
vô lậu đẳng chí
Anasrava-samāpatti (S).
vô lậu định
5129梵語 anāsrava-samāpatti。意譯無漏等至。指於出世間無漏心所得之禪定。又作出世間定、出世間禪。出世間,為無漏之別稱。俱舍論等謂於未至定、中間定、四根本靜慮(即四根本定)、下三無色定等九地能生起無漏定。然唯識家僅以第四靜慮地所起之大乘光明定、集福王定、賢守定、健行定等四定為無漏定。釋禪波羅蜜次第法門卷五將禪分為世間禪、亦世間亦出世間禪、出世間禪、非世間非出世間禪四種。出世間禪有九想、八念、十想、八背捨、八勝處、十一切處、九次第定、師子奮迅三昧、超越三昧等。〔大智度論卷十七、顯揚聖教論卷二、瑜伽師地論卷十二〕(參閱「無漏九地」5128)
vô lễ
Impolite.
vô lợi
See Vô Ích.
Vô Minh
(s: avidyā, p: avijjā, 無明): không sáng suốt nhận rõ chân lý vì vô trí, không có thể sáng suốt lý giải trạng thái thái tinh thần của sự tướng hay đạo lý, là tên gọi khác của phiền não. Từ này ít khi được dùng để chỉ sự vô trí, ngu muội; đặc biệt chỉ sự không lý giải được đạo lý Phật Giáo. Nó còn là một chi trong Thập Nhị Nhân Duyên (s: dvādaśāṅga-pratītya-samutpāda, p: dvādasaṅga-paṭicca-samuppāda, 十二因緣). Theo Câu Xá Luận (倶舍論), Vô Minh là một trong Đại Phiền Não Địa (大煩惱地); trong Duy Thức (唯識), nó là phiền não căn bản. Thiền sư Viên Học (圓學, 1053-1116) của Việt Nam có bài thơ liên quan đến Vô Minh rằng: “Lục thức thường hôn chung dạ khổ, vô minh bị phú cửu mê dung, trú dạ văn chung khai giác ngộ, lãn thần tịnh sát đắc thần thông (六識常昏終夜苦、無明被覆久迷慵、晝夜聞鐘開覺悟、懶神淨刹得神通, Sáu Thức thường mê đêm suốt khổ, vô minh che đậy mãi mờ tăm, đêm ngày nghe chuông bừng giác ngộ, thần lười dứt sạch chứng thần thông).”
Vô minh
無明; S: avidyā; P: avijjā; dịch theo âm là A-vĩ-di;|Chỉ sự u mê, không hiểu Tứ diệu đế, Tam bảo (s: triratna) và nguyên lí Nghiệp (s: karma). Vô minh là yếu tố đầu tiên trong Mười hai nhân duyên (s: pratītya-samutpāda), là những nguyên nhân làm con người vướng trong Luân hồi (s, p: saṃsāra). Vô minh cũng là một trong ba Ô nhiễm (s: āśrava), một trong ba Phiền não (s: kleśa) và khâu cuối cùng của mười Trói buộc (s: saṃyojana).|Vô minh dược xem là gốc của mọi bất thiện trong thế gian và cũng là một đặc tính của Khổ (s: duḥkha). Ðó là tình trạng tâm thức không thấy sự vật »như nó là«, cho ảo giác là sự thật và vì vậy sinh ra Khổ. Vô minh sinh Ái (s: tṛṣṇā) và đó là yếu tố cơ bản sinh ra sự tái sinh. Theo quan điểm Ðại thừa, vì vô minh mà từ tính Không (s: śūnyatā) thoắt sinh ra hiện tượng, làm cho người còn mê lầm tưởng lầm đó là sự thật và không thấy tự tính (Si).|Trong các trường phái Ðại thừa, vô minh cũng được hiểu khác nhau. Trung quán tông (s: mā-dhyamika) cho rằng, vô minh xuất phát từ quan điểm chấp trước tiên thiên của ý thức, và từ đó mà xây dựng lên một thế giới của riêng mình, cho thế giới đó những tính chất của chính mình và ngăn trở không cho con người thấy thế giới đích thật. Vô minh cũng là không thấy thể tính thật sự, và thể tính đó là tính Không. Như thế vô minh có hai khía cạnh: một là nó che đậy thế giới đích thật, hai là nó xây dựng cái ảo, cái giả. Hai mặt này cứ luôn luôn dựa vào nhau. Ðối với Kinh lượng bộ (s: sautrāntika) và Tì-bà-sa bộ (s: vaibhāṣika) thì vô minh là cách nhìn thế giới sai lạc, cho thế giới là thường còn, mà thế giới có thật chất là vô thường. Vô minh làm cho con người tưởng lầm thế giới có một tự ngã. Theo Duy thức tông thì vô minh là Ðảo kiến, cho rằng, thế giới độc lập với ý thức (tâm) mặc dù thế giới và ý thức chỉ là một.
vô minh
5094梵語 avidyā,巴利語 avijjā。為煩惱之別稱。不如實知見之意;即闇昧事物,不通達真理與不能明白理解事相或道理之精神狀態。亦即不達、不解、不了,而以愚癡為其自相。泛指無智、愚昧,特指不解佛教道理之世俗認識。為十二因緣之一。又作無明支。俱舍宗、唯識宗立無明為心所(心之作用)之一,即稱作癡(梵 moha)。 就十二緣起中無明支解之,無明為一切煩惱之根本。阿含經謂,無明乃對於佛教真理(四諦)之錯誤認知,即無智;且其與渴愛具有表裏之關係。說一切有部以「三世兩重」之因果來解說十二緣起,謂其中之無明係指過去煩惱位之五蘊,由於該位諸煩惱中,以無明之作用最強,故總稱宿世煩惱為無明。唯識宗則以「二世一重」之因果加以解釋,謂無明與行能牽引識等五果之種子,故為「能引支」;其中,與第六意識相應之「癡」,能起善惡之業,稱為無明。 有部與唯識宗又將無明分為相應無明與不共無明二種。相應無明,係與貪等根本煩惱相應共起;不共無明,則無與之相應而起者,以其獨自生起,故又作獨頭無明。且成唯識論卷五將不共無明更分為恆行不共無明與獨行不共無明。恆行不共無明,係與第七末那識相應之無明,即與貪等根本煩惱相應而起,此無明無始以來恆行,障礙真義智,故稱恆行;又自一切凡夫心常無間之觀點言,乃與相應於第六意識之無明有異,故稱為不共。獨行不共無明,係與第六意識相應之無明,以其與其他根本煩惱不相應,單獨而起,故亦稱不共。此獨行不共無明復依其與隨煩惱俱起與否,更細分主獨行無明與非主獨行無明。 唯識宗又區分無明為種子與現行,其中,常隨眾生,隱眠在第八阿賴耶識中之無明種子,稱為隨眠無明;對此,無明之現行,纏縛眾生,繫著生死(迷之世界),稱為纏無明。又纏無明有相應與不共,即為隨眠、纏、相應與不共等四種,稱為四種無明、四無明。此外,無明復可分為根本與枝末、共與不共、相應與不相應、迷理與迷事、獨頭與俱行、覆業與發業、種子子時、行業果、惑等十五種無明。 據勝鬘經之說,與見惑及三界之修惑(貪等)相應之相應無明,稱為四住地之惑。所謂四住地即:見一處住地、欲愛住地、色愛住地、有愛住地,其中,見一處住地指見惑,後三住地則指三界之修惑。又獨行不共之無明為無始無明住地之惑(若合以上四住地之惑,則稱五住地之惑),此無明住地為一切煩惱之根本,唯如來之菩提智得以斷之。 據大乘起信論之說,無明為不覺,此不覺分為根本無明與枝末無明二種。根本無明,又作根本不覺、無始無明、元品無明,忽然念起無明或元初之一念。即不了達真如平等之理,故忽然起動差別對立之念的元初,即為諸煩惱之元始、迷妄之最初,皆非由其他煩惱所生者,故謂「忽然」。以其極微細,故難以區別心王與心所之狀態。故根本無明即最細微之動心,而諸種惑、業、苦等皆以此一念起動之心為根本,故稱根本無明。此即無始無明住地之惑。枝末無明,又作枝末不覺,即依根本無明而起之枝末的染污心,有三細六粗之惑業。 據天台宗之說,依空、假、中三觀可斷除見思、塵沙、無明三惑。此中,無明即迷於非有非空之理,而為障礙中道之惑。亦即中觀所斷之對象。關於斷除無明者,在天台所判「化法四教」之別教,於十迴向伏無明,在初地以上至妙覺等十二階位,斷盡十二品無明。此際,十迴向中,最後之第十迴向斷除最初之無明,進入初地;此最初之無明復分三品來斷,故稱三品之無明。在圓教,則於初住以上至妙覺等四十二階位斷盡四十二品無明,此際,第五十一階位(等覺)之最後心即顯妙覺智,由此能斷除最後之無明(稱為元品無明、無始無明、最後品無明)。然以上為過去之說,實則圓教不立三觀之次第,而主張持一心作觀,三惑同體,同時可斷。〔長阿含卷一大本經、大毘婆沙論卷二十三、卷二十五、卷三十八、大智度論卷四十三、成實論卷九、成唯識論卷八、瑜伽師地論卷四十八、卷五十六、卷五十八、卷六十四、十地經論卷八、俱舍論卷九、卷十九、摩訶止觀卷六上、勝鬘經寶窟卷中末〕
; Avijjā (P), Avidyā (S), Delusion, Ignorance,Trái nghĩa với Minh (vidya), cũng gọi là si, tà kiến 1- Một trong 4 pháp trầm luân. 2- Sự mê tối. Một trong ngũ thượng kết: sắc ái kết, vô sắc ái kết, mạn kết, trạo kết, vô minh kết. 3- Mối trói buộc mà người đắc quả A la hàm dứt được là không còn bị vô minh chi phối nữa.Một niệm chưa khởi là vô thủy vô minh, một niệm mới khởi liền thành nhất niệm vô minh. Tiền niệm diệt, hậu niệm sanh, sanh diệt tương tục thì thành sanh tử luân hồiKhông nhận ra được thực tánh hay Phật tánh của sự vật, hay thực tánh của vạn pháp.
; Avidyà (S). Ignorance, and in some senses Mayà, illusion; it is darkness without illumination, the ignorance which mistakes seeming for being, or illusory phenomena for realities; it is also intp. as Si, ignorant, stupid, fatuous; but it means generally, unenlightened, unillumined. The Khởi tín luận distinguishes two kinds as Căn bản the radical, fundamental, original darkness or ignorance considered as a Vô thủy Vô minh primal condition, and Chi mạt "branch and twig" conditions, considered as phenomenal. Avidyà is also the first, or last of the twelve nidànas.
; Một niệm chưa sanh khởi là vô thủy vô minh, một niệm mới khởi liền thành nhất niệm vô minh. Tiền niệm diệt, hậu niệm sanh, sanh diệt liên tục thì thành sanh tử luân hồi.
; Avijja (p)—Avidya (skt). (I) Nghĩa của Vô Minh—The meanings of Avidya: 1) Si: Ignorance—Stupidity—Delusion. 2) Không giác ngộ: Unenlightened—Unilluminated. 3) Mắt xích thứ nhất hay mắt xích cuối cùng trong Thập Nhị Nhân Duyên: The first or last of the twelve nidanas. 4) Cái tâm ám độn, không chiếu rọi được rõ ràng sự lý của các pháp: Illusion or darkness without illumination, the ignorance which mistakes seeming for being, or illusory phenomena for realities. 5) Vô minh, si mê hay không giác ngộ, một trong ba ngọn lửa cần phải dập tắt trước khi bước chân vào Niết bàn. Đây là trạng thái sai lầm của tâm làm khởi dậy sự tin tưởng về bản ngã—Ignorance—Stupidity—Delusion—Unenlightened—Unenlightened condition—Non-perception—Unillumined—One of the three fires which must be allowed to die out before Nirvana is attained—The erroneous state of mind which arises from belief in self. (II) Phân loại vô minh—Categories of Avidya: (A) Theo Khởi Tín Luận có hai loại Vô Minh—According to the Awakening of Faith, there are two kinds of avidya: 1) Căn bản vô minh: Vô thủy vô minh—The radical, fundamental, original darkness or ignorance considered as a primal condition. 2) Mạt Chi Vô Minh: “branch” and “twig” conditions, considered as phenomenal. ** For more information, please see Avidya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Mê Hoặc. (III) Những lời Phật dạy về “Vô Minh” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Avidya” in the Dharmapada Sutra: 1) Người ngu suốt đời gần gũi người trí vẫn chẳng hiểu gì Chánh pháp, ví như cái muỗng múc canh luôn mà chẳng bao giờ biết được mùi vị của canh—If a fool associates with a wise man even all his life, he will understand the Dharma as litle as a spoon tastes the flavour of soup (Dharmapada 64). 2) Kẻ phàm phu không giác ngộ nên đi chung với cừu địch một đường. Cũng thế, những người tạo ác nghiệp nhất định phải cùng ác nghiệp đi đến khổ báo—A fool with little wit, goes through life with the very self as his own greatest enemy. In the same manner, evil doers do evil deeds, the fruit of which is bitter (Dharmapada 66). 3) Khi ác nghiệp chưa thành thục, người ngu tưởng như đường mật, nhưng khi ác nghiệp đã thành thục, họ nhứt định phải chịu khổ đắng cay—As long as the evil deed done does not bear fruit, the fool thinks it is as sweet as honey; but when it ripens, then he comes to grief (Dharmapada 69). 4) Từ tháng này qua tháng khác, với món ăn bằng đầu ngọn cỏ Cô-sa (cỏ thơm), người ngu có thể lấy để nuôi sống, nhưng việc làm ấy không có giá trị bằng một phần mười sáu của người tư duy Chánh pháp—Let a fool, month after month, eats only as much food as can be picked up on the tip of a kusa blade; but he is not worth a sixteenth part of them who have comprehended the truth (Dharmapada 70). 5) Kẻ ngu xuẫn thường hay muốn danh tiếng mà mình không xứng: chỗ ngồi cao trong Tăng chúng, oai quyền trong Tăng lữ, danh vọng giữa các gia tộc khác—The fool always desire for an undue reputation or undeserved honour, precedence among the monks, authority in the monasteries, honour among other families (Dharmapada 73).
vô minh căn bản
Vô thủy vô minh—The radical, fundamental, original darkness or ignorance.
vô minh cương
The snare (lưới) of ignorance.
vô minh hoặc
5096天台宗所立三惑之一。指迷於中道第一義諦之煩惱。即障覆中道之根本無明,為一切生死煩惱之根本。以其不了一法界之微細煩惱,遂成法性之障。此無明惑,聲聞、緣覺不知其名,僅菩薩能了知、斷盡,故又稱別惑。又此惑乃由於受界外生死而有煩惱,故屬界外之惑。別教菩薩從初地起漸斷此惑;而圓教菩薩則從初住起漸斷之,而證中道實相之理。〔法華玄義卷三、卷五、摩訶止觀卷三上〕(參閱「三惑」624、「無明」5094)
; The illusion arising from primal ignorance which covers and hinders the truth of the via media.
; Một trong tam hoặc, những nghi hoặc ảo tưởng khởi sanh bởi căn bản vô minh làm che đậy sự thật—The illusion arising from primal ignorance which covers and hinders the truth, one of the three illusions. ** For more information, please see Tam Hoặc.
Vô Minh Huệ Kinh
(無明慧經, Mumyō Ekyō, 1547-1617): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, tự là Vô Minh (無明), họ Bùi (裴), xuất thân Huyện Sùng Nhân (崇仁縣), Tỉnh Giang Tây (江西省). Lúc còn nhỏ, ông đã có chí xuất gia, nên vào Lẫm Sơn (廩山), theo tu học với Uẩn Không Thường Trung (蘊空常忠) được 3 năm, rồi ẩn cư tại Nga Phong (峨峰) và 3 năm sau thì đại ngộ; ông đem kệ trình lên Thường Trung và được thầy cho là pháp khí của Thiền môn. Sau ông theo Tình Canh Vũ Độc (晴耕雨讀) và đến năm 27 tuổi mới chính thức xuất gia và thọ giới. Từ đó về sau, trong suốt 24 năm trường ông không hề rời khỏi Nga Phong. Vào năm thứ 26 (1598) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), nhận lời thỉnh cầu ông đến trú trì Bảo Phương Tự (寳方寺) trong làng, tự mình làm việc trong vòng mấy năm sau thì dựng được một ngôi nhà mới tại đây và bốn phương tăng chúng tập trung đến theo ông tham học. Sau đó, ông đi tham quan khắp chốn tùng lâm, qua Nam Hải (南海), thăm viếng Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏), rồi đến lễ bái tháp vị sơ tổ Tung Sơn Thiếu Lâm Tự (嵩山少林寺). Tiếp theo, ông đến thăm Đạt Quán (達觀), vào Ngũ Đài Sơn (五臺山) tham yết Thoại Phong (瑞峰), sau đó ông trở về Bảo Phương Tự, bắt đầu khai đường thuyết pháp tại đây và có rất nhiều người đến tham học. Vào năm thứ 36 (1608) niên hiệu Vạn Lịch, thể theo lời thỉnh cầu, ông chuyển đến Thọ Xương Tự (壽昌寺) ở Tân Thành (新城); mấy năm sau ông tiến hành trùng tu lại các ngôi đường vũ bị hoang phế, vẫn tiếp tục làm lao tác, chuyên tâm giáo dưỡng đồ chúng bằng kệ tụng và pháp ngữ. Đến tháng giêng năm thứ 46 cùng niên hiệu trên, ông nhuốm chút bệnh nhẹ và vào ngày 17 cùng tháng thì an nhiên thị tịch, hưởng thọ 71 tuổi. Đệ tử kế thừa dòng pháp của ông có Bác Sơn Nguyên Lai (博山元來), Hối Đài Nguyên Kính (晦臺元鏡), Kiến Như Nguyên Mật (見如元謐), Vĩnh Giác Nguyên Hiền (永覺元賢), v.v. Hám Sơn Đức Thanh (憨山德清) soạn bản Tân Thành Thọ Xương Vô Minh Kinh Thiền Sư Tháp Minh (新城壽昌無明經禪師塔銘), Nguyên Hiền biên bộ Vô Minh Huệ Kinh Thiền Sư Ngữ Lục (無明慧經禪師語錄) 4 quyển và soạn cuốn Vô Minh Hòa Thượng Hạnh Nghiệp Ký (無明和尚行業記).
Vô Minh Huệ Tánh
(無明慧性, Mumyō Eshō, 1162-1237): vị Thiền Tăng của Phái Tùng Nguyên (松源) thuộc Lâm Tế Tông, hiệu là Vô Minh (無明), người vùng Ba Cừ (巴渠) thuộc vùng Viễn Châu (遠州, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Lý. Ban đầu ông đến tham bái Khuất Am Đức Quang (拙庵德光), kế đến theo hầu Tùng Nguyên Sùng Nhạc (松源崇岳). Về sau, ông đến hóa đạo ở Tư Phước Tự (資福寺) thuộc vùng Kì Châu (蘄州, Tỉnh Hồ Bắc), rồi trải qua sống một số chùa như Trí Độ Tự (智度寺), Năng Nhân (能仁), Hoa Tạng (華藏), Thê Hiền (棲賢) thuộc vùng Lô Sơn (廬山), Tôn Tướng (尊相), Vạn Tạng (萬藏) ở Phủ Bình Giang (平江府, Tỉnh Giang Tô, Tô Châu). Đến ngày 20 tháng 7 năm đầu niên hiệu Gia Nguyên (嘉元), ông thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi. Bộ Vô Minh Huệ Tánh Thiền Sư Ngữ Lục (無明慧性禪師語錄) 1 quyển vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay.
vô minh kinh
Avijjā sutta (P), Sutra on Ignorance Tên một bộ kinh.
vô minh kiến
Views produced by ignorance, ignorant perception of phenomena.
; Tà kiến sanh ra bởi vô minh—Ignorant perception of phenomena which produces all kinds of illusion—Views produced by ignorance.
vô minh kết
5096梵語 avidyā-saṃyojana。為九結之一。無明能繫縛人,使之輪迴三界而無法出離,故稱結。辯中邊論卷上(大三一‧四六六下):「無明結能障身見事遍知,由此不知諸取蘊故。」(參閱「九結」148)
; The bond of ignorance.
; Hệ phược của vô minh trói buộc chúng sanh trong vòng sanh tử—The bond of ignorance which binds to transmigration.
vô minh lưu
Unenlightenment, or ignorance, the cause of the stream of transmigration.
; Vô minh là nguyên nhân đưa đến luân lưu trong luân hồi sanh tử—Unenlightenment, or ignorance, the cause of the stream of transmigration.
vô minh lậu
5096梵語 avidyāsrava 或 avidyā-āsava,巴利語 avijjāsava。為三漏之一。漏,流注之義,指令有情流注於三界之煩惱。無明乃三有生死之根本,能令眾生輪迴於生死,無法出離,故稱無明漏;又漏為煩惱之別名,故亦稱無明煩惱。長阿含經卷二(大二‧一二上):「修智心淨得等解脫,盡於三漏,欲漏、有漏、無明漏,已得解脫,生解脫智。」〔雜阿含經卷二、北本大般涅槃經卷二十二、阿毘達磨集異門足論卷三、大毘婆沙論卷四十七〕(參閱「三漏」646)
; Avidyāsrava (S), The defilement of ignorance.
; Một trong tam lậu hoặc. Vô minh lậu có thể khiến chúng sanh rơi vào vòng sống chết, không thể ra khỏi—The stream of unenlightenment which carries one along into reincarnation, one of the three taints.
vô minh nghiệp ái
Ajnànakarmatrsnà (S). Ignorance, karma, desire - the three forces that cause reincarnation.
; Ajnanakarmatrsna (skt)—Vô minh, nghiệp và ái dục là ba lực chính gây ra tái sanh—Ignorance, karma, and desire are the three main forces that causes reincarnation.
vô minh pháp tính nhất thể
Avidyà and Bhùtatathatà are of the same nature, as are ice and water; the ice of avidyà is the water of all things, the source out of which all enlightenment has come.
; Vô minh và pháp tính đồng một thể như băng với nước, băng vô minh là nước của các tính—Avidya and the Bhutatathata are of the same nature, as are ice and water; the ice of avidya is the water of all things, the source out of which all enlightenment has come.
vô minh phụ
5094無明與貪愛相和而生我,故以無明喻為父,貪愛喻為母。天台四教儀(大四六‧七八○上):「永別無明父母,究竟登涅槃山頂。」〔楞伽經卷三〕
; Ignorance as father and desire as mother produce the ego.
; Vô minh như cha, tham ái như mẹ sản sanh ra cái “ngã”—Ignorance as father and desire as mother produce the ego.
vô minh sanh ra tham dục
Ignorance produces desires
vô minh sử
One of the ten lictors, messengers or misleaders, i.e. of ignorance, who drives beings into the chain of transmigration.
; Một trong 10 sử. Vô minh có thể sai sử con người lưu chuyển trong luân hồi sanh tử—One of the ten lictors, messengers, or misleaders, i.e. of ignorance, who drives beings into the chain of transmigration.
vô minh trụ địa
5096梵語 avidyāvāsabhūmi。指一切無知之根源。為五住地惑之第五。無明住地屬根本、枝末煩惱中之根本無明;為我法二執中之法執。乃一切煩惱之所依,為變易生死之因,故稱無明住地。勝鬘師子吼一乘大方便方廣經(大一二‧二二○上):「於有愛數四住地,無明住地其力最大,譬如惡魔波旬於他化自在天色力壽命眷屬眾,具自在殊勝。」〔勝鬘經寶窟卷中末、唯識述記卷八末、大乘義章卷五本〕(參閱「五住地惑」1091、「無明」5094)
; The fifth of the five trụ địa, i.e. the fundamental unenlightened condition, the source or nucleus of ignorance; also ignorance as to the nature of things, i.e. of their fundamental unreality.
; Địa thứ năm trong năm trụ địa vô minh—The state of ignorance, the fifth of the five stages of ignorance.
vô minh tạng
5096無明為無量惑業苦生起之根源,故稱為無明藏。菩薩瓔珞本業經卷上(大二四‧一○一六中):「無明者,名不了一切法,迷法界而起三界業果,是故我言,從無明藏起十三煩惱。」
; The store house of ignorance.
; Kho chứa vô minh, từ đó sản sanh ra mọi thứ khổ đau phiền não—The storehouse of ignorance, from which issues all illusion and misery.
Vô Môn Huệ Khai
(無門慧開, Mumon Ekai, 1183-1260): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Vô Môn (無門), người Tiền Đường (錢塘), Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), họ là Lương (梁). Ban đầu ông đến tham học với Thiên Long Quăng (天龍肱) và xuất gia, sau đi tham vấn chư Thiền sư khác. Ông đến tham học với Nguyệt Khê Sư Quán (月溪師觀) ở Vạn Thọ Tự (萬壽寺) trong vòng 6 năm và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 11 (1218) niên hiệu Gia Định (嘉定), ông bắt đầu khai mở đạo tràng thuyết giảng tại Cát Sơn Báo Nhân Tự (吉山報因寺), rồi sau đó sống qua một số chùa khác như Thiên Ninh Tự (天寧寺), Hoàng Long Tự (黃龍寺), Thúy Nham Tự (翠巖寺) ở Phủ Long Hưng (隆興府, Tỉnh Giang Tây), Phổ Tế Tự (普濟寺) ở Tiêu Sơn (焦山) thuộc Phủ Trấn Giang (鎭江府), Khai Nguyên Tự (開元寺) ở Phủ Bình Giang (平江府), Bảo Ninh Tự (保寧寺) ở Phủ Kiến Ninh (建寧府), và đến năm thứ 6 (1246) niên hiệu Thuần Hựu (淳祐) ông đến trú trì Hộ Quốc Nhân Vương Tự (護國仁王寺). Chính trong khoảng thời gian này ông viết cuốn Vô Môn Quan (無門關). Ông đã từng thuyết pháp cho vua Lý Tông nghe, tiến hành cầu mưa, vì vậy được ban cho pháp y và hiệu là Phật Nhãn Thiền Sư (佛眼禪師). Vào tháng 4 năm đầu niên hiệu Cảnh Định (景定), ông thị tịch, hưởng thọ 78 tuổi.
; 無門慧開; C: wúmén huìkāi; J: mumon ekai; 1183-1260; |Thiền sư Trung Quốc dòng Dương Kì tông Lâm Tế, nối pháp Thiền sư Nguyệt Lâm Sư Quán (月林師觀). Sư là vị Thiền sư nổi danh nhất thời, đến bây giờ vẫn còn được nhắc đến qua tập Công án Vô môn quan.|Sư họ Lương, người Tiền Ðường, Hàng Châu, xuất gia từ thuở nhỏ. Sư ban đầu tham vấn các nơi, sau đến Thiền sư Nguyệt Lâm Sư Quán ở chùa Vạn Thọ, Giang Tô. Ban đầu Nguyệt Lâm giao cho Sư công án »Không« (無) của Triệu Châu làm Thoại đầu. Sư chú tâm vào công án này sáu năm liền nhưng không kết quả. Sư thuật lại rằng, vì quá tập trung vào công án này mà Sư quên cả ngủ mà nếu buồn ngủ trong lúc Toạ thiền, Sư liền đứng dậy đi qua lại trong thiền đường, đập đầu vào cột gỗ cho tỉnh. Một ngày nọ, khi nghe tiếng trống báo hiệu giờ ăn trưa, Sư hoát nhiên đại ngộ, ứng khẩu ngay bài kệ sau (Trúc Thiên & Tuệ Sĩ dịch):|清天白日一聲雷。大地羣生眼豁開|萬象森羅齊稽首。須彌勃跳舞三臺|Thanh thiên bạch nhật nhất thanh lôi|Ðại địa quần sinh nhãn hoát khai|Vạn tượng sum la tề khể thủ|Tu-di bột khiêu vũ tam đài.|*Trời quang mây tạnh sấm dậy vang lừng|Mọi vật trên đất, mắt bỗng mở bừng|Muôn hồng nghìn tía cúi đầu làm lễ|Núi Tu-di cũng nhảy múa vui mừng.|Mừng quá, Sư chạy đến Nguyệt Lâm trình sở đắc. Nguyệt Lâm bắt gặp Sư chạy giữa đường, hỏi: »Chạy đi đâu như bị ma đuổi vậy?« Sư hét một tiếng, Nguyệt Lâm cũng hét một tiếng. Sau đó Sư trình bài kệ rất độc đáo sau:|無無無無無。無無無無無|無無無無無。無無無無無|Vô vô vô vô vô – Vô vô vô vô vô|Vô vô vô vô vô – Vô vô vô vô vô|Vô vô vô vô vô – Vô vô vô vô vô|Vô vô vô vô vô – Vô vô vô vô vô|*Không không không không không|Không không không không không|Không không không không không|Không không không không không|Vì kinh nghiệm giác ngộ thâm sâu của Sư nên mọi người trong viện đều kính trọng nhưng cuộc sống hằng ngày của Sư cũng không có gì thay đổi. Lúc nào Sư cũng giữ một tác phong giản dị, thâm trầm. Sư thân hình gầy ốm, ăn mặc thô sơ nhưng lúc nào cũng xả mình vào làm mọi việc cùng với tăng chúng. Những năm sau khi được Nguyệt Lâm ấn khả, Sư chu du nhiều nơi và nhân đây thu thập tài liệu để soạn tập công án Vô môn quan. Năm 1229, tập này được in lần đầu và với 46 tuổi, Sư đang ở tuyệt đỉnh của cuộc đời hoằng hoá của mình.|Năm 1246 – theo lệnh của vua Tống Lí Tông – Sư sáng lập chùa Hộ Quốc Nhân Vương. Những năm cuối đời, Sư lui về một ngôi chùa nhỏ ở Tây Hồ. Một cơn hạn lớn là nguyên do mà vua Lí Tông mời Sư trở về triều đình làm lễ cầu mưa. Ngay lúc Sư thuyết pháp thì trời mưa như trút và vì vậy Sư được vua ban hiệu Phật Nhãn Thiền sư và tặng cho ca-sa vàng (kim lan y).
vô môn huệ khai
Wu-men Hui-k'ai (C), Mumon Ekai (J) (1183-1260) Thiền sư phái Dương Kỳ, dòng Lâm Tế.
vô môn huệ khai thiền sư ngữ lục
5097請參閱 無門慧開禪師語錄 請參閱 無門慧開禪師語錄凡二卷。宋代僧無門慧開(1183~1260)撰,普敬、普通等編,理宗淳祐九年(1249)刊行。又作佛眼禪師語錄、無門開和尚語錄、無門和尚語錄。收於卍續藏第一二○冊。卷上輯錄慧開於寧宗嘉定十一年(1218),自湖州報因禪寺開法以降,歷天寧寺、黃龍崇恩寺、顯親崇報寺、廣化寺等十會之上堂語;卷下輯錄告香普說、小參、贊佛祖、偈頌、真贊等。卷末之「後記」一文,或係元代至元十六年(1279)重刊時所增錄。
Vô Môn Quan
(無門關, Mumonkan): 1 quyển, tác phẩm do Vô Môn Huệ Khai (無門慧開) nhà Tống chỉ đạo cho đệ tử Tông Chiêu (宗紹) biên tập các ký lục tại Long Tường Tự (龍翔寺) vào năm 1228, và năm sau (năm thứ 2 niên hiệu Thiệu Định [紹定]) thì được san hành. Tên gọi chính thức của tác phẩm này là Thiền Tông Vô Môn Quan (禪宗無門關, Zenshūmumonkan). Nội dung của nó là những bài tụng cũng như bình xướng mà Huệ Khai thêm vào trong 48 tắc công án quan trọng từ xưa đến nay, cùng với Bích Nham Lục (碧巖錄, Hekiganroku), nó được xem như là tập công án đại biểu nhất. Tâm Địa Giác Tâm (心地覺心, 1207-1298), người đã từng sang nhà Tống cầu pháp, khi trở về nước có đem tác phẩm này về và đó là bản đầu tiên được đưa vào Nhật, từ đó về sau, nó được Lâm Tế Tông rất xem trọng, thỉnh thoảng có san hành phổ biến, đặc biệt đến thời Cận Đại nó được quan tâm đến nhiều nhất. So với Bích Nham Lục thì nội dung của nó ít, đơn giản, nhưng là lời trợ ngôn trực tiếp cho người tu tập. Bộ này nổi tiếng với tắc công án thứ nhất là "Triệu Châu Vô Tự" (趙州無字, chữ Không Có của Triệu Châu). Công án này do Triệu Châu Tùng Thẩm (趙州從諗) nhà Đường trả lời là “không có” khi được một vị tăng hỏi rằng con chó có Phật tánh hay không, và đã đem lại sự chuyển cơ rất lớn cho Thiền Công Án. Tuy nhiên, khi xem như là tập công án, thì thế giới phong phú về mặt văn học của Vô Môn Quan giống như trong Bích Nham Lục lại mất đi, chỉ còn lại ấn tượng nhiều vẻ khô khan, gầy gò mà thôi. Tại Trung Quốc không còn truyền bản nữa, nhưng ở Nhật có một số bản như Bản Ngũ Sơn của năm thứ 4 (1291) niên hiệu Chánh Ứng (正應) và năm thứ 12 (1405) niên hiệu Ứng Vĩnh (應永), bản chữ xưa của năm đầu (1624) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永), bản năm thứ 8 (1631) và 9 (1632) cùng niên hiệu trên, v.v. Dưới thời đại Giang Hộ (江戸, Edo, 1603-1867) nó cũng thỉnh thoảng được san hành. Vào thời Trung Đại, người ta vẫn chưa quan tâm gì mấy đến tác phẩm này; nhưng kể từ thời Giang Hộ trở đi, người ta bắt đầu nhận thức được giá trị của nó, cho nên khá nhiều sách chú thích xuất hiện như Thiền Tông Vô Môn Quan Tư Sao (禪宗無門關私鈔) của Quy Bá Huyền Phương (規伯玄方), Vô Môn Quan Sao (無門關鈔) của Vạn An Anh Chủng (萬安英種), Vô Môn Quan Sao (無門關鈔) Tây Bá (西伯) chú giải, Vô Môn Quan Xuân Tịch Sao (無門關春夕鈔), v.v.
Vô môn quan
無門關; C: wúmén-goān; J: mumonkan; nghĩa là »Ải không cửa vào«;|Tên của một tập Công án do Thiền sư Vô Môn Huệ Khai biên soạn. Cùng với Bích nham lục, đây là hai tập công án lừng danh nhất của Thiền tông.|Vô môn quan ghi lại 48 công án, mỗi công án được bổ sung thêm một lời bình và một bài kệ. Những bài kệ tụng trong đây là những kiệt tác của văn chương Phật giáo tại Trung Quốc.|Vô môn quan ra đời khoảng một thế kỉ sau Bích nham lục. Cấu trúc của tập này đơn giản hơn nhiều so với Bích nham lục, chứng tỏ rằng sư Huệ Khai chú trọng đến việc sử dụng những tắc công án trong đây làm phương tiện thực hành, tu tập. Sư xem nó là những »viên gạch gõ cửa tâm« của các thiền sinh và viết như sau trong lời tựa:|»Phật dạy tâm là tông chỉ, cửa Không là cửa pháp. Ðã không cửa, thì sao qua? Há chẳng nghe ›từ cửa mà vào thì không phải là của báu trong nhà, nhờ duyên mà thành đạt tất phải có thành hoại.‹ Nói như vậy thật chẳng khác chi khi không dậy sóng, thịt da đang lành đem ra mổ mụt. Huống chi chấp vào văn tự để tìm mong lí giải, vác gậy quơ trăng, gãi ngứa ngoài giày, có dính líu gì đến sự thật đâu!…|大道無門。千差有路|透得此關。乾坤獨步|Ðại đạo vô môn, thiên sai hữu lộ|Thấu đắc thử quan, càn khôn độc bộ.|*Ðại đạo không cửa, có nghìn nẻo vào|Qua được cửa này, càn khôn lẻ bước«.|Mỗi công án bao gồm ba phần: 1. Công án, nói về một sự kiện, lời nói, dạy của các vị Tổ; 2. Lời bình của sư Huệ Khai và 3. Kệ tụng. Mặc dù nguồn tài liệu của những tập công án danh tiếng đều như nhau nhưng trong tập Vô môn quan, người ta có thể thấy một dấu ấn đặc biệt của sư Vô Môn Huệ Khai, những nét đặc sắc, thật dụng chỉ có ở riêng đây và có lẽ vì thế, Vô môn quan được ưa chuộng và phổ biến rộng rãi đến ngày nay.
vô môn quan
5098全一卷。宋代僧無門慧開撰,彌衍宗紹編。全稱禪宗無門關。收於大正藏第四十八冊。慧開抄錄古來聞名之公案四十八則,再加頌與評唱而成。各則先舉本則,次出評唱,後附自作之頌。「頌」常被視為另一則公案,故本書又可計為九十六則公案。本書第一則「趙州狗子」(大四八‧二九二下):「參禪須透祖師關,妙悟要窮心路絕;祖關不透,心路不絕,盡是依草附木精靈。且道,如何是祖師關?只者一箇無字,乃宗門一關也。遂目之曰禪宗無門關。」全書旨在闡明「無」之境地,同時,入悟應以「無」為「門」,「無門」即是「門」。古來即與碧巖錄、從容錄廣行於禪林間,唯臨濟家特以其屬於正系,故最重用之。 本書於南宋紹定元年(1228)印行,淳祐五年(1245,或謂淳祐三年)重刊,日本則於應永十二年(1405)始有覆刻本,其後並數次刊行。內容除四十八則公案之外,卷首有習菴陳塤之序、紹定二年慧開之表文及自序、題號,卷末有紹定元年之自跋及無量宗壽、孟珙、安晚等人之跋,禪箴、黃龍三關及無庵所追加之第四十九則。〔禪籍志卷上〕
; Wu-men-kuan (S), Mumonkan (J), Mumon (J)Tên một sư tập công án Thiền.
; Vô Môn Quan, một trong những tập sách thiền nổi tiếng nhứt của Thiền tông, do thiền sư Huệ Khai (1183-1260) soạn. Vô Môn Quan đơn giản hơn Bích Nham Lục vì nó chỉ có bốn mươi tám công án và là tác phẩm do một người biên soạn—Wu-Men-Kuan, one of the most famous Zen book of the Zen sect, compiled by Zen master Hui-K'ai (1183-1260). Wu-Men-Kuan is a simpler book than the preceding one (Pi-Yen-Lu), for it containts only forty-eight cases and is one man's work—See Huệ Khai.
vô môn tông
The unsectarian, Thiền tông or meditative sect, so called because it claimed to derive its authority directly đrom the mind of Buddha.
; Thiền Tông hay tên gọi khác của Phật Tông (Phật nói tâm là đệ nhất, tâm là tông, vô môn là pháp môn)—The unsectarian, Ch'an or meditative sect, so called because it claimed to derive its authority directly from the mind of Buddha.
vô mệnh
5089 請參閱 四論玄義梵語 ajīva。為印度耆那教之根本學說。即指命(靈魂)以外之一切總稱,與「命」並為構成字宙之二大要素。「無命」之中,包括四大類,即:(一)物質(梵 pudgala)。(二)法(梵 dharma),為運動之原理。(三)非法(梵 adharma),即靜止之原理。(四)虛空(梵 ākāśa),即萬有存在之場所。(參閱「命」3126)
vô một
See Vô Bất.
vô một thức
Xem A lại da thức.
; Xem A lại da thức.
; Alaya-vijnana (skt)—Tên khác của A Lại Da Thức (tất cả các chủng tử không bị mất mát nên gọi là Vô Một)—Another name for Alaya-vijnana—See A Lại Da Thức.
vô nan
Bunan (J).
vô nghi
Undoubted, without doubt.
; Không nghi ngờ—Undoubted—Without doubt.
Vô Nghiệp
(無業, Mugō, 760-821): xuất thân vùng Thượng Lạc (上洛), Thương Châu (商州, Tỉnh Thiểm Tây), họ là Đỗ (杜). Năm lên 9 tuổi, ông theo học với Chí Bổn (志本) ở Khai Nguyên Tự (開元寺), năm 12 tuổi thì xuống tóc xuất gia và năm 20 tuổi thì thọ cụ túc với U Luật Sư (幽律師) ở Nhượng Châu (襄州, Tỉnh Hồ Bắc). Ông rất tinh thông về Tứ Phần Luật, và thường thuyết giảng Đại Bát Niết Bàn Kinh. Về sau, ông đến tham bái Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) ở Hồng Châu (洪州, Tỉnh Giang Tây) và cuối cùng được vị này truyền trao tâm ấn cho. Sau đó, ông đi tham bái các thánh địa, rồi đọc qua Đại Tạng Kinh ở trên Ngũ Đài Sơn. Tám năm sau, ông đến trú tại Khai Nguyên Tự (開元寺) vùng Phần Châu (汾州, Tỉnh Sơn Tây). Ông đã cố từ không vào trong cung nội, mà chọn đi hành hóa trong vòng 20 năm trường. Đến năm đầu niên hiệu Trường Khánh (長慶), ông thị tịch, hưởng thọ 62 tuổi đời và 42 hạ lạp, được ban cho thụy hiệu là Đại Đạt Quốc Sư (大達國師).
vô nghĩa
1) Insignificance—Meaningless. 2) Ungrateful.
vô nghĩa ngữ
Saṃbhappalapo (P)= tạp uế ngữ, dâm ngữ, lời trây trúa. Tội thứ năm trong thập ác, thuộc khẩu nghiệp.
vô nghề nghiệp
Without profession.
vô nguyên
Xem Vô nguyện.
vô nguyên tam muội
Apranihita-samādhi (S).
vô nguyện
Apraṇihita (S), Desirelessness Appaṇihita (P)Vô tác, Vô nguyên.
; Apranihita (S). Desireless.
; Wishlessness.
Vô ngã
(s: nirātman, nairātmya, p: anattan, 無我): hay còn gọi là Phi Ngã (非我), từ dùng để thể hiện sự phủ định đối với ngã (s: ātman, 我, tôi, cái tôi), nghĩa là không có cái tôi, không có tôi, không chấp nhận thật ngã thật pháp, không đứng trên bản thể hay thật thể mang tính hình nhi thượng học và không có sự chấp trước về ngã. Đối với Phật Giáo Nguyên Thủy thì không chấp nhận cái ngã chủ tể thường hằng duy nhất cũng như sự tồn tại của thật thể mà như hàng ngoại đạo đã từng tuyên thuyết, mà cho rằng hết thảy sự vật, hiện tượng đều vô ngã, cho nên thuật ngữ nổi tiếng là chư pháp vô ngã (p: sabbe dhammā anattā, 諸法無我, các pháp không có thật thể) đã được phổ cập hóa. Cho nên trong Kinh A Hàm thì Năm Uẩn, Mười Hai Xứ, Mười Tám Giới, v.v., đều được xem là giả có, là những cái không có ngã thật thể của chúng. Bên cạnh đó, để đối trị với bốn pháp làm cho điên đảo là Tịnh, Lạc, Ngã, Thường, trong Phật Giáo đã thuyết ra Bốn Niệm Xứ gồm Bất Tịnh (不淨, thân), Khổ (苦, thọ), Vô Ngã (無我, pháp) và Vô Thường (無常, tâm).
; 無我; S: anātman; P: anattā;|Một trong Ba tính chất (s: trilakṣaṇa) của sự vật. Quan điểm vô ngã là một giáo pháp cơ bản của đạo Phật, cho rằng, không có một Ngã (ātman), một cái gì trường tồn, bất biến, nhất quán, tồn tại độc lập nằm trong sự vật. Như thế, theo đạo Phật, cái ngã, cái »tôi« cũng chỉ là một tập hợp của »năm nhóm«, Ngũ uẩn (s: pañcaskandha), luôn luôn thay đổi, mất mát, và vì vậy, »tôi« chỉ là một sự giả hợp, gắn liền với cái Khổ.|Theo Tiểu thừa (s: hīnayāna), tính vô ngã chỉ liên hệ đến cá nhân con người. Theo Ðại thừa (s: mahāyāna) thì tính vô ngã có giá trị cho tất cả các Pháp (s: dharma), vốn tuỳ thuộc lẫn nhau như thuyết Mười hai nhân duyên chỉ rõ. Sự thiếu vắng một tự tính (自性; s: svabhāva) được Ðại thừa gọi là tính Không (空性; s: śūnyatā).|Theo quan điểm thông thường của Ấn Ðộ giáo thì »linh hồn« – cái Ngã (ātman) – vốn là trường tồn và độc lập với mọi ô nhiễm. Theo đạo Phật thì con người là một tập hợp của ngũ uẩn đang vận hành vô chủ, ngũ uẩn đó cũng vô thường biến hoại. Ngoài ngũ uẩn đó không có gì khác, nên con người chỉ được xem có thật một cách quy ước và trong kinh nghiệm thông thường.|Ðối với câu hỏi, Ngã có tồn tại thật hay không, đức Phật thường không trả lời vì không muốn khơi gợi thêm khái niệm mới, chúng chỉ là trở ngại cho các phép tu hành thật tiễn. Vì vậy giáo pháp vô ngã trong thời đức Phật có thể xem là phương tiện giáo huấn, không phải là một quan điểm triết học đích thật. Với thời gian phát triển, Vô ngã trở thành một quan điểm hẳn hoi trong các trường phái Phật giáo và chỉ có Ðộc Tử bộ (s: vātsīputrīya) mới chấp nhận một cái Ngã.|Dần dần, các phép tu học đạo Phật cũng tập trung tiến tới phương pháp đạt Niết-bàn bằng cách giải thoát hành giả ra khỏi ảo tưởng có một cái Ta. Sự ràng buộc vào một cái Ta là nguồn gốc mọi khổ đau, phải phá bỏ vô minh đó mới đạt giải thoát. Lí do là khi con người không thấy tính vô ngã của đời sống này, không thấy nó chỉ nằm trong dòng vận chuyển của sự sinh thành hoại diệt liên tục, thì lúc đó ta chưa hiểu thật sự Tứ diệu đế và không thể thâm nhập, phát huy triệt để chính tri kiến.
vô ngã
5087梵語 anātman 或 nir-ātman,巴利語 anattan。又作非身、非我。我,即永遠不變(常)、獨立自存(一)、中心之所有主(主)、具有支配能力(宰),為靈魂或本體之實有者。主張所有之存在無有如是之我,而說無我者,稱為諸法無我;觀無我者,稱為無我觀。無我係佛教根本教義之一,於三法印中,即有「無我印」。通常分為人無我、法無我二種:(一)有情(生者)不外是由五取蘊(即構成凡夫生存的物心兩面之五要素)假和合而成,別無真實之生命主體可言,稱為人無我,又稱我空。(二)一切萬法皆依因緣(各種條件)而生(假成立者),其存在本來即無獨自、固有之本性(自性)可言,稱為法無我,又稱法空。 此外,尚有以下幾種說法:(一)據阿含經典之說,一切萬法之存在皆賴於各種條件之相互依存,此依存關係一旦有所變化,即產生幻滅、無常之現象;由於無常,故為苦;由於苦而不得自在,故為無我。 (二)說一切有部主張「我空法有」,即一方面認為「人無我」,另一方面又主張構成存在之要素各有其自性,故不說「法無我」。 (三)據成實論之說,五蘊中並無實在之自我,準此而觀人無我者,稱為人空觀;又五蘊之法盡是無常,並無實在之自性,準此而觀法無我者,稱為法空觀。 (四)一般言之,大乘佛教主張二無我,即我法二空(人法二空),然唯識宗依「三性說」而立「三無我」之說。即:(1)「遍計所執」之實我實法乃情有理無者,非為實在之我相,故稱無相無我。(2)「依他起」之似我似法乃如幻假有者,異於被執之我相,故稱異相無我。(3)「圓成實」之自相乃由無我(識之實性)所顯之真如,故稱自相無我。〔雜阿含經卷一至卷三、卷十、大品般若經卷三、大方等大集經卷三十三、瑜伽師地論卷九十三、大毘婆沙論卷九、卷十、俱舍論卷二十九、卷三十、成實論卷三、卷十二、大智度論卷二十二、辯中邊論卷中、唯識二十論〕(參閱「人法二空」256、「我空法有」2941)
; Anattāniya (P), Anattāta (P), Anattā (P), Anātman (S), Nirātmana (S), bdag-nyid (T), dag me (T), Egolessness, selflessness Ngã không.
; Anàtman, nairàtmya (S). No ego, no soul (of an independent and self contained character), impersonal, no individual independent existence (of conscious or unconscious beings, anàtmaka).
; Anatma or Nairatmyam (skt)—Egolessness, no-self, not self, non-ego, or the emptiness of a self—Thuyết Vô Ngã có hai đặc tánh chính là pháp vô ngã và nhân vô ngã—The doctrine of no-self has two main characteristics: selflessness of things (dharma-nairatmya) and selflessness of person (pudgalanairatmya)—See Pháp Vô Ngã, and Nhân Vô Ngã. a) Thuyết tất định chỉ cho lý thuyết có sự quyết định của 'định mệnh,' hay Thiên mệnh, hay thượng đế. Phật giáo chủ trương sự vắng mặt của một bản ngã thường hằng bất biến. Theo Kinh Duy Ma Cật, vô ngã có nghĩa là sự hiểu biết chơn chánh rằng thân gồm ngũ uẩn chứ không có cái gọi là “bản ngã trường tồn.” Tứ đại chỉ hiện hữu bởi những duyên hợp. Không có vật chất trường tồn bất biến trong thân nầy. Khi tứ đại hết duyên tan rã thì thân nầy lập tức biến mất. Vì vật chất do tứ đại cấu thành, trống rỗng, không có thực chất, nên con người do ngũ uẩn kết hợp, cũng không có tự ngã vĩnh cữu. Con người thay đổi từng giây từng phút. Theo giáo lý Tiểu Thừa thì “Vô Ngã” chỉ áp dụng cho loài người, nhưng trong Phật giáo Đại Thừa thì vạn hữu đều vô ngã—Not-self, No-self, Egolessness, Non-Personality, Non-self, or Non-ego—Determinism means the theory of being determined by fate, nature, or god. Buddhism believes in the absence of a permanent, unchaging self or soul—Non-existence of a permanent self. According to the Vimalakirti Sutra, the body consists of the five elements or skandhas, which together represent body and mind, and there is no such so-called “self.” Elements exist only by means of union of conditions. There is no eternal and unchangeable substance in them. When these come apart, so-called “body” immediately disappears. Since the form which is created by the four elements is empty and without self, then the human body, created by the unification of the five skandhas, must also be empty and without self. Human body is in a transforming process from second to second. In Theravada, no-self is only applied to the person; in the Mahayana, all things are regarded as without essence. b) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật giáo, Đức Phật xem thế giới nầy là thế giới của khổ đau, và Ngài đã dạy những phương pháp đối trị nó. Vậy cái gì đã làm thế giới nầy trở thành khổ đau? Lý do đầu tiên như Đức Phật đã dạy, là các pháp đều vô ngã, nghĩa là vạn vật, hữu tình hay vô tình, tất cả đều không có cái mà chúng ta có thể gọi là bản ngã hay thực thể. Chúng ta thử khảo sát con người. Một người không thể xem tinh thần hay hồn của y là một thực ngã. Y hiện hữu nhưng không thể nào nắm được cái thực thể của y, không thể tìm thấy được tinh thần của y, bởi vì sự hiện hữu của con người không gì ngoài cái 'hiện hữu tùy thuộc vào một chuỗi nhân duyên.' Mọi vật hiện hữu đều là vì nhân duyên, và nó sẽ tan biến khi những tác dụng của chuỗi nhân duyên ấy chấm dứt: According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, the Buddha regarded this world as a world of hardship, and taught the ways to cope with it. Then what are the reasons which make it a world of hardship? The first reason, as given by the Buddha is that all things are selfless or egoless, which means that no things, men, animals and inanimate objects , both living and not living, have what we may call their original self or real being. Let us consider man. A man does not have a core or a soul which he can consider to be his true self. A man exists, but he cannot grasp his real being, he cannot discover his own core, because the existence of a man is nothing but an “existence depending on a series of causations.” Everything that exists is there because of causations; it will disappear when the effects of the causation cease. c) Những làn sóng trên mặt nước quả là hiện hữu, nhưng có thể gọi mỗi làn sóng đều có tự ngã hay không? Sóng chỉ hiện hữu khi có gió lay động. Mỗi làn sóng đều có riêng đặc tính tùy theo sự phối hợp của những nhân duyên, cường độ của gió và những chuyển động, phương hướng của gió, vân vân. Nhưng khi những tác dụng của những nhân duyên đó chấm dứt, sóng sẽ không còn nữa. Cũng vậy, không thể nào có cái ngã biệt lập với nhân duyên được: The waves on the water's surface certainly exist, but can it be said that a wave has its own self? Waves exist only while there is wind or current. Each wave has its own characteristics according to the combination of causations, the intensity of the winds and currents and their directions, etc. But when the effects of the causations cease, the waves are no more. Similarly, there cannot be a self which stands independent of causations. d) Khi con người còn là một hiện hữu tùy thuộc một chuỗi nhân duyên thì , nếu y cố gắng trì giữ lấy chính mình và nhìn mọi vật quanh mình từ quan điểm độc tôn ngã là một điều thật vô lý. Mọi người phải từ bỏ cái ngã của mình, cố gắng giúp đỡ kẻ khác và phải nhận hức cái hiện hữu cộng đồng, vì không thể nào con người hoàn toàn hiện hữu độc lập được: As long as a man is an existent depending on a series of causations, it is unreasonable for him to try to hold on to himself and to regard all things around him from the self-centered point of view. All men ought to deny their own selves and endeavor to help each other and to look for co-existence, because no man can ever be truly independent. e) Nếu mọi vật đều hiện hữu tùy thuộc vào một chuỗi những nhân duyên thì cái hiện hữu đó cũng chỉ là tùy thuộc điều kiện mà thôi; không có một vật chất nào trong vũ trụ nầy có thể trường tồn hay tự tại. Do đó Đức Phật dạy rằng vô ngã là yếu tính của vạn vật, và từ đó, đưa đến một lý thuyết nữa là vạn vật đều vô thường, là điều không thể tránh: If all things owe their existence to a series of causations, their existence is a conditional one; there is no one thing in the universe that is permanent or independent. Therefore, the Buddha's theory that selflessness is the nature of all things inevitably leads to the next theory that all things are impermanent (anitya). f) Hầu hết mọi người đều dốc hết năng lực vào việc gìn giữ sự hiện hữu của mình và những tư hữu của họ. Nhưng thực ra, không thể nào tìm được trung tâm hiện hữu của nó, cũng không thể nào giữ nó đời đời được. Không vật nào là không biến chuyển, ngay cả trong một sát na. Không những nó bất ổn trong tương quan với không gian, mà nó cũng bất ổn trong tương quan với thời gian nữa. Nếu ta có thể tìm được một thế giới không có không gian và thời gian, thế giới đó mới thật là thế giới tự do chân thật, tức là Niết Bàn: Men in general seem to be giving all of their energy to preserving their own existence and their possessions. But in truth it is impossible to discover the core of their own existence, nor is it possible to preserve it forever. Even for one moment nothing can stay unchanged. Not only is it insecure in relation to space but it is also insecure in relation to time. If it were possible to discover a world which is spaceless and timeless, that would be a world of true freedom, i.e., Nirvana. g) Nếu như những nhà vật lý hiện đại xác nhận, không gian là một trong những số lượng biến đổi và thời gian là tương đối thì thế giới của không gian thời gian nầy là cái ngục tù mà chúng ta không thể nào thoát ra được, tức là chúng ta đã bị trói buộc trong vòng nhân quả rồi vậy: If, as the modern physicists assert, space is curved and time is relative, this world of space and time is our enclosed abode from which there is no escape; we are tied down in the cycles of cause and effect. h) Khi nào con người chưa tìm được cái thế giới không bị hạn cuộc bởi thời gian và không gian, con người vẫn phải là một tạo vật khổ đau. Xác nhận rằng con người có thể đạt được cảnh giới đó, cảnh giới không bị hạn cuộc bởi thời gian và không gian là sứ mệnh của Phật Giáo: As long as men cannot discover a world which is not limited by time and space, men must be creatures of suffering. To assert that such a state, unlimited in time and space, is attainable by man is the message of Buddhism. i) Lẽ dĩ nhiên không có gì có thể được xem như là không gian vô hạn và thời gian vô cùng. Ngay cả vật lý học ngày nay cũng nhìn nhận cái vô tận của thời gian và không gian. Tuy nhiên, Đức Phật đã xướng thuyết về lý tưởng Niết Bàn hay tịch diệt, theo nguyên tắc vô thường và vô ngã. Niết Bàn có nghĩa là hủy diệt sinh tử, hủy diệt thế giới dục vọng, hủy diệt những điều kiện thời gian và không gian. Sau hết, Niết Bàn có nghĩa là cảnh giới của giải thoát viên mãn. Vô ngã hay không có sự bất biến, vô thường hay không có sự trường tồn là trạng huống thật sự của sự hiện hữu của chúng ta. Niết Bàn theo nghĩa tiêu cực là hủy diệt, nhưng theo nghĩa tích cực là tròn đầy, là lý tưởng của chúng ta, ấy là sự giải thoát trọn vẹn: Of course, there is no such thing as a limitless time. Even modern physical science does not recognize infinity in time and space. However, the Buddha brought forward his ideal, Nirvana (extinction), following his theories of selflessness and impermanence. Nirvana means extinction of life and death, extinction of worldly desire, and extinction of space and time conditions. This, in the last analysis, means unfolding a world of perfect freedom. Selflessness (no substance) and impermanence (no duration) are the real state of our existence; Nirvana (negatively extinction; positively perfection) is our ideal, that is, perfect freedom, quiescence.
vô ngã quán
5087又作界分別觀。為五停心觀之一。謂觀想身由地、水、火、風、空、識等六界所假合,以捨去我執之觀法。〔成實論卷十二滅法心品〕(參閱「五停心觀」1144)
vô ngã tướng kinh
Anattàlakkhana-sùtta (P). Sutta of the Characteristics of Non Ego.
vô ngôn
Without words, silent, speechless.
; Không lời hay im lặng—Without words—Silent—Speechless.
vô ngôn bồ tát
Xem Kim Cang Ngữ Bồ tát.
vô ngôn thuyết đạo
The way, or teaching, without speech; the school which teaches that speaking of things is speaking of nothing, or the non-existent; the acquisition of truth through contemplation without the aid of words.
; Lối thuyết đạo không lời của Thông Giáo; trường phái dạy rằng nói về chư pháp tức là nói về không, quán về sự tướng các pháp tức là quán không—The way, or teaching, without speech; the school which teaches that speaking of things is speaking of nothing, or the non-existent; the acquisition of truth through contemplation without the aid of words.
Vô Ngôn Thông
無言通; ?-826|Thiền sư Trung Quốc, học trò của vị Thiền sư nổi tiếng Bách Trượng Hoài Hải. Năm 820, Sư qua Việt Nam, ở tại chùa Kiến Sơ, ngày nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, thành lập phái thiền Vô Ngôn Thông. Sư mất năm 826, và phái Thiền của Sư kéo dài được 17 thế hệ. Những Thiền sư quan trọng của dòng thiền này là Khuông Việt (?-1011), Thông Biện (?-1134), Mãn Giác (?-1096); Minh Không (mất 1141), Giác Hải. Thế hệ cuối cùng là khoảng cuối thế kỉ thứ 13. Phái Vô Ngôn Thông theo đúng dòng Thiền của Huệ Năng, chủ trương Ðốn ngộ (giác ngộ nhanh chóng). Các vị Thiền sư dòng Vô Ngôn Thông đều có tâm hồn thi sĩ.|Sư họ Trịnh, quê ở Quảng Châu, xuất gia tại chùa Song Lâm, Vũ Châu. Tính tình Sư điềm đạm ít nói, nhưng thông minh nên thời nhân gọi là Vô Ngôn Thông.|Một hôm, Sư lễ Phật, có một thiền khách hỏi: »Toạ chủ lễ đó là cái gì?« Sư thưa: »Là Phật.« Khách liền chỉ tượng Phật hỏi: »Cái này là Phật gì?« Sư không trả lời được. Ðến tối, Sư y phục chỉnh tề đến lễ vị khách, vị này chỉ đến Mã Tổ. Sư lên đường đến Mã Ðại sư nhưng nghe tin Tổ đã viên tịch bèn đến Bách Trượng. Nhân nghe Bách Trượng trả lời một vị tăng »Ðất tâm nếu không, mặt trời trí huệ tự chiếu.« Sư triệt ngộ.|Sau khi rời Bách Trượng, Sư đến trụ trì chùa Hoà An và tương truyền rằng, Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch có đến đây học hỏi. |Năm Canh Tí, niên hiệu Nguyên Hoà đời Ðường, Sư sang An Nam ở chùa Kiến Sơ làng Phù Ðổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Ở đây mấy năm liền Sư chỉ quay mặt vào vách toạ thiền và không ai biết tông tích của Sư. Vị trụ trì nơi đây là Cảm Thành thầm biết Sư là Cao tăng đắc đạo nên hết sức kính trọng. Sắp sửa tịch, Sư gọi Cảm Thành đến nói kệ:|一切諸法皆從心生。心無所生法無所住|若達心地所住無礙。非遇上根慎勿輕許|Nhất thiết chư pháp giai tòng tâm sinh|Tâm vô sở sinh pháp vô sở trụ|Nhược đạt tâm địa sở trụ vô ngại|Phi ngộ thượng căn thận vật khinh hứa.|*Tất cả các pháp đều từ tâm sinh|Tâm không chỗ sinh, pháp không chỗ trụ|Nếu đạt đất tâm chỗ trụ không ngại|Không gặp thượng căn dè dặt chớ dạy.|Nói xong Sư chắp tay viên tịch. Cảm Thành thiêu lấy hài cốt và xây tháp thờ trên núi Tiên Du.
vô ngôn thông
5088(?~826)唐代越南禪宗無言通派初祖。原籍我國廣州,俗姓鄭。自幼慕道,稍長出家於浙江雙林寺。以其性情恬靜寡言,而見解通達,故時人稱為無言通。師曾參學於百丈懷海座下,開悟後回廣州住持和安寺。唐憲宗元和十五年(820),師赴越南,駐錫於夫董村建初寺,終日面壁坐禪。數年後,弟子感誠嗣其法。輾轉相傳,遂成禪宗一大派,是為無言通派。 該派主張佛性無所不在,以及「心、佛、眾生」三無差別等思想,實行面壁禪觀,運用我國禪宗現成公案及體驗方法。為越南早期重要宗派之一。據傳燈輯錄記載,無言通禪派之傳承於無言通之後為感誠、善會、雲峰、真流、多寶、定香、圓照、通辨、道惠、明智、廣嚴、常照、通禪、息慮、應順、逍遙,歷經十六世。十六世後教團組織漸弱,終至滅絕。〔景德傳燈錄卷九、越南佛教略史(善議,菩提樹二四八期)〕
; Thiền Sư Vô Ngôn Thông (?-826)—Zen Master Vô Ngôn Thông (?-826)—Sư là một trong những thiền sư người Trung Hoa, nhưng nổi tiếng tại Việt Nam vào cuối thế kỷ thứ tám. Sư là sơ tổ của phái thiền Vô Ngôn Thông ở Việt Nam. Trước khi đến Việt Nam, có người khuyên sư nên đến tìm gặp Mã Tổ, nhưng khi đến nơi thì Mã Tổ đã viên tịch. Sư tìm gặp Bách Trượng Hoài Hải xin làm đệ tử. Sau sư về trụ trì chùa Hòa An. Sau đó sư sang Việt Nam vào khoảng năm 820, trụ tại chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây sư diện bích suốt mấy năm mà không ai hay biết, duy chỉ có Thiền sư Cảm Thành, vị trụ trì của chùa Kiến Sơ biết được nên rất cảm phục và tôn thờ làm Thầy. Trước khi thị tịch, ngài gọi Cảm Thành lại căn dặn: “Xưa Đức Phật xuất hiện vì một đại sự nhân duyên là khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật. Trước khi nhập Niết Bàn, Ngài đã đem Chánh Pháp Nhãn truyền trao lại cho một trong những đại đệ tử của ngài là Tôn giả Ma Ha Ca Diếp. Tổ tổ truyền nhau từ đời nầy sang đời khác. Đến Tổ Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung Hoa truyền tâm ấn cho Tổ Huệ Khả, rồi Tổ Huệ Khả truyền cho Tổ Tăng Xán, Tổ Tăng Xán truyền cho Tổ Đạo Tín, Tổ Đạo Tín truyền cho Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, rồi Lục Tổ Huệ Năng, Tổ Nam Nhạc Hoài Nhượng, Mã Tổ, Bách Trượng. Tổ Bách Trượng đã truyền tâm ấn cho ta. Nay ông phải vì đời sau mà hoằng dương Chánh Pháp cho thế hệ nối tiếp.” Sư thị tịch năm 826 sau Tây Lịch—He was one of the most outstanding Chinese monks; however, he was famous in Vietnam in the end of the eightth century. He was the founder of the Vô Ngôn Thông Zen Sect in Vietnam. Before going to Vietnam, someone recommended him to go to see Ma-Tsu; however, when he arrived at Ma-Tsu's Temple, Ma-Tsu already passed away. He came to see Pai-Chang and insisted to be his disciple. Sometime later, he moved to stay at Hòa An temple in Kuang-Chou. In 820, he came to Vietnam and stayed at Kien So Temple. There he sat in meditation with face to a wall for several years, but nobody knew his practice except Cảm Thành, the abbot of Kiến Sơ Temple. Cảm Thành respected and honored him to be his master. Before passing away, he called Cảm Thành to his side and advised: “For the sake of a great cause, the Buddha appeared, for the changing beings from illusion into enlightenment. Before entering into Nirvana, he transmitted the right Dharma eye treasury (something that contains and preserves the right experience of reality) to one of his great disciples, Maha-Kasyapa. Patriarchs continued to transmit generation after generation. When Patriarch Bodhidharma came to China from India, he transmitted the Mind-seal to Hui-K'o, from Hui-K'o to Seng-Ts'an, from Seng-Ts'an to T'ao-Hsin, from T'ao-Hsin to Hung-Jung, from Hung-Jung to Hui-Neng, from Hui-Neng to Nan-Yueh-Huai-Jang, from Nan-Yueh-Huai-Jang to Ma-Tsu, from Ma-Tsu to Pai-Chang. I received the mind-seal from Pai-Chang, and now I just want to transmit it to you. Please keep expanding the Correct Dharma to the next generation.” Zen Master Vô Ngôn Thông passed away in 826 AD.
vô ngôn trí
Avacana-jnanam (skt)—Nonverbal knowledge—See Bất Động Trí.
vô ngại
5141<一>梵語 apratihata。又作無閡、無碍、無障礙、無罣礙、無所罣礙。謂無障礙。無礙有心無礙、色無礙、解無礙、辯無礙等區別。品類足論卷五載有四無礙解,法無礙解、義無礙解、詞無礙解、辯無礙解。大寶積經卷十四舉出三種無礙,(一)總持無所罣礙,略作總持無礙。謂菩薩得大總持(大陀羅尼),不失善法,不生惡法,於一切言語諸法分別知悉無礙。(二)辯才無所罣礙,略作辯才無礙。謂菩薩得大辯才,能隨機說大小乘法,悉皆通達。(三)道法無所罣礙,略作道法無礙。謂菩薩得大智慧,能通達大小乘法與世間語言文字。 新華嚴經卷五十六載,如相迴向位(十迴向之第八)之菩薩有眾生無礙用乃至力無礙用等十種自在作用(十無礙用);同經卷四十六說諸佛具十種無障礙住。此外,華嚴經疏卷一載,毘盧遮那佛身具如下十無礙:用周無礙、相遍無礙、寂用無礙、依起無礙、真應無礙、分圓無礙、因果無礙、依正無礙、潛入無礙、圓通無礙。華嚴經探玄記卷三載,蓮華藏世界具如下十無礙:情事無礙、理事無礙、相入無礙,相即無礙、重現無礙、主伴無礙、體用無礙、隱顯無礙、時處無礙、成壞無礙。華嚴法界玄鏡卷上有四法界之說,詳述理事無礙法界、事事無礙法界之相,謂無礙有圓融無礙(萬法圓融,互不障礙)與自在無礙(對一切障礙能自在衝破)二義。又佛之智慧稱無礙智;阿彌陀佛之光明稱無礙光(十二光之一);佛稱無礙人;一乘法稱無礙道。〔大品般若經卷十六、大智度論卷六、卷七十二、華嚴經疏卷四、卷十一、卷五十六〕 <二>(552~645)唐代僧。俗姓陳,生於成都。十歲至長安,依道安法師出家。天和三年(568)受具足戒。建德三年(574),北周武帝興法難,師遂隱遁。隋代開皇年間(581~600)復出,住永寧寺。後聽超法師講大智度論,又至長安學十地、阿毘曇等。大業二年(606),至洛陽四方館教授經論。五年,移住莊嚴寺。武德八年,返故居,修無相觀。貞觀十九年示寂,世壽九十四。 <三>(1590~1643)明代僧。歙州人,俗姓王。出家於黃山,依匡廬敬堂學經教。偶謁湛然澄公,悟別傳密旨,乃入湘鄉荊紫山隱居。崇禎十六年示寂,世壽五十四。
; Apratihata (S). Unhindered, without obstacle, resistless, without resistance, permeating everywhere, all pervasive, dynamic omnipresence which enters everywhere without hindrance like the light of a candle.
; Apratihata (skt). 1) Tự tại thông suốt, không trở ngại—Unhindered—Undoubted—Without doubt—Without obstacle—Resistless—Without resistance. 2) Tự tại qua lại không trở ngại: Permeating everywhere. 3) Tự tại thông dung thành ra một thể, như ánh đèn giao thoa hòa vào nhau: All pervasive, dynamic omnipresence which enters everywhere without hindrance light the light of a candle. ** For more information, please see Tứ Vô Ngại.
vô ngại giải đạo
5142巴利名 Paṭisambhidā-magga。音譯波致參毘陀。為巴利小部經(Khuddaka-nikāya)之一。本經內容係分類解說有關修道解脫諸事,全經可大別為三品,即大品、雙結品、慧品,而各品皆附有十論,其中,大品為全經之中心。本經固屬經藏,但其內容形式亦有論書之格式,僅大品之第四、雙結品之第一、六、七、十及慧品之第九等六論之初,具「如是我聞」等字為始之經典形式。其所揭論目主要採自巴利律藏及經藏之長、增支、相應諸部經,被視為輪藏七論中最早成立之法集論(巴 Dhammasaṅgaṇi)及分別論(巴 Vibhaṅga)之先驅。本經已有原文出版及日譯(收於南傳大藏經第四十、四十一卷),注釋書有摩訶那磨之顯揚正法論。〔善見律毘婆沙卷一、南方上座部論書解說、B.C. Law: A History of Pāli Literature;G.P. Malalasekera: Dictionary of Pāli Proper Names〕
; Patisambhida magga (P), The path of discrimination Con đường đưa đến trí huệMột trong 15 quyển của Tiểu a hàm phân tích một số điểm giáo lý bằng hình thức hỏi đáp.
vô ngại nhân
5141為佛之德號。諸佛如來證知「煩惱即菩提」、「生死即涅槃」,其智融通無礙,故稱無礙人。〔舊華嚴經卷六、讚阿彌陀偈〕
; The unhindered one, the Buddha, who unbarred the way to nirvàna, which releases from all limitations; the omnipresent one; the one who realizes nirvàna-truth.
; 1) Bậc không còn bị chướng ngại: The unhindered one. 2) Vị Phật mở cửa Niết bàn: The Buddha who unbarred the way to nirvana, which releases from all limitations. 3) Bậc siêu phàm đã chứng ngộ chân lý niết bàn: the omnipresent one; the one who realizes nirvana-truth.
vô ngại quang
5142為阿彌陀佛十二光之一。阿彌陀佛之光明有十二種,其中,無礙光謂阿彌陀佛之光明,能照破人、法諸障,無論山河雲霧等外障,貪瞋癡慢等內障,皆不能障蔽,故稱無礙光。由此,阿彌陀佛又稱無礙光佛。〔無量壽經卷上〕
; Ánh sáng của Đức Phật A Di Đà, không bị che khuất bởi núi sông, sương mốc bên ngoài, cũng không bị che khuất bên trong bởi tham sân si mạn nghi tà kiến—The all pervasive light or glory of Amitabha Buddha.
vô ngại quang như lai
Một danh hiệu khác của Đức Phật A Di Đà—Another title for Amitabha Buddha—See A Di Đà.
vô ngại quang phật
The Buddha with the all pervasive light or glory, Amitàbha.
vô ngại quang phật trí
The omniscience of Buddha.
vô ngại trí
Asaṅga-jāna (S).
; Trí thông đạt của Đức Phật—The omniscience of the Buddha.
vô ngại đạo
(Vô Gián Đạo) The way of removing all obstacles, delusions or intervention—The open or unhindered way.
vô nhiễm
5101<一>染,染污、不淨之意,指煩惱、執著之妄念,及所執之事物等。超越一切之煩惱、執著,而保持清淨之心性,即稱無染。 <二>(800~888)新羅禪僧。俗姓金。入唐,於終南山至相寺學華嚴,後從學於五臺山佛光寺馬祖門下之如滿,又參學於山西麻谷山寶徹門下,寶徹傳其心印。文聖王七年(845) 歸返新羅,大振禪風。受憲安王、景文王等之欽重,住於聖住寺,為王師。後移尚州(慶尚北道)深妙寺。憲康王並詔 蝖u廣宗禪師」之號。真聖女王元年示寂,世壽八十九,法臘六十五。門人多達二千之眾。〔朝鮮金石總覽上、海東金石苑卷二、祖堂集卷十七〕
; Aklista (S)Bất nhiễm.
vô nhiễm a ma lặc
Āmalaka (S).
vô nhiễm thanh tịnh tâm
Undeluded pure mind.
vô nhiễm tâm
Undeluded mind.
Vô nhiệt
xem A-na-bà-đạp-đa.
vô nhiệt
Xem A na bà đạt đa Long vương.
; Anavatapta (S). Heatless.
; Anavatapta (skt)—Không có sức nóng—Heatless—No heat.
vô nhiệt não long vương
Xem A nâu đạt.
Vô nhiệt thiên
xem Năm cõi tịnh cư.
vô nhiệt thiên
5136無熱,梵名 Atapa,巴利名同,音譯阿答波、阿陀波、阿答和。又作不熱天、不惱天、無惱天、不燒天、無熟天、無燒天。色界十八天之一,五淨居天之一。位於第四禪之第四天。此天已伏除雜修靜慮之上中品諸障,意樂調柔,離諸熱惱,故名無熱天。或以熱為熾盛義,以未證上品之修靜慮及果,故稱無熱。關於此天眾生之壽量,據大樓炭經卷四載,為二十劫;長阿含經卷二十忉利天品、雜阿毘曇心論卷二、彰所知論卷上謂二千劫;立世阿毘曇論卷七則謂八千大劫。其身量為二千由旬。〔大樓炭經卷一、大毘婆沙論卷一三六、俱舍論卷八、集異門足論卷十四、瑜伽師地論卷四、卷三十七〕
; Sudsa (S)Tên một cõi giới trong ngũ tịnh cư thiên hay Tịnh cư thiên.
; Anavatapta, or Atapta heaven without heat or affliction.
; Anavatapta (skt)—Tầng trời thứ hai của Ngũ Tịnh Cư Thiên trong Tứ Thiền Thiên, cõi trời vô phiền vô não—Anavatapta or Atapta heaven, without heat or affliction, the second of the five pure-dwelling heavens, in the fourth dhyana heaven. ** For more information, please see Ngũ Tịnh Cư Thiên (2).
vô nhiệt trì
Anavatāpa (S), Anātattha (P)= ao Vô nhiệt Xem A na bà đạt đa Long vương Xem A na bà đạt đa Long vương.
; Anavatàpta (S). Mythical lake of the King of Nàgas.
; Manasarovara or Manasa-saro-vara (skt)—A Nậu Đạt Trì hay hồ lạnh quanh năm. Người ta nói hồ nầy nằm về phía nam núi Gandha-madana, là nguồn của bốn con sông Hằng Hà, Ấn Hà, sông Tarim và sông Oxus—Excellent manasa lake, the lake without heat, cold lake, or lake of No Heat. It is said to lie south of the Gandha-madana mountains, and is erroneously reputed as the source of the four rivers Ganges, Indus, Sita (Tarim River), and Oxus.
vô nhân
5081全稱無因有果。指將一切之存在視為果,若追求其原因則不可得。蓋釋尊說因果,外道否定佛教此種人生觀而主張無因,故稱為無因外道,為一種自然外道。(參閱「自然外道」2531)
; Without cause—Without reason—Causeless.
vô nhân ngoại đạo
5082為主張萬物係無因而生之印度外道之一。又稱諸法無因宗、無因見論、無因論師、無因生論。外道十六宗Z之一,二十種外道之一。此派論師以萬物乃無因無緣,自然而生,為一種自然外道。古來印度即盛行無因論。據外道小乘涅槃論載,諸法係非因而生,無因無緣生一切物,無染因,亦無淨因。如棘刺之針不待人作而自尖,孔雀無待人畫色而自然美。六師外道中之末伽梨拘賒梨子即屬此派。 此外,有關無因論之思想,於諸經論中多有列舉,例如長阿含卷十四梵動經所說六十二見外道中,無因論有初見、第二見之別,初見係萬物由無而生,第二見係主張唯自然而生,別無他因。據四分律刪繁補闕行事鈔卷下四載,破十種之外道中,第二為自然外道,第四為無因果外道。又於三論玄義所舉外道之四執中,第二為無因有果,第四為無因無果。〔雜阿含經卷三、大佛頂首楞嚴經卷十、大毘婆沙論卷一九九、瑜伽師地論卷七、大乘法苑義林章卷一本、外道哲學〕(參閱「自然外道」2531)
vô nhân sinh luận
5082即主張世間為無因之見解。為印度古代外道所執六十二見中,依前際(過去)而起之分別見解。有兩大類,故又稱二種無因生論、二無因生論。即:(一)先生於無想天,命終後又轉生人間,此類人雖有宿世通,能憶知彼出於無想天及其後之情形,但卻不能憶知彼生於無想天以前之所有情形,遂妄以為其本時乃無因而生,諸法亦無因而生。(二)自以捷疾智分別觀察,虛妄推求,而以為世間無因,一切皆自然而有。相當於外道十六宗之中,諸法無因宗之見解。〔長阿含卷十四梵動經、大毘婆沙論卷一九九、中觀論疏卷十末〕(參閱「六十二見」1241)
vô nhân tương tự quá loại
5082因明用語。古因明之祖足目所立因明「似能破」十四過類之第九。於因明對論中,敵者(問難者)為破立者(立論者)之能立(因,理由),遂對正確無誤之宗(命題)與因,進行時間先後關係之分析,謂因無論在宗前、宗後,或與宗同時,皆不得成立,強欲令立者之論式陷於無因,而加以非難之,敵者自身反而招致此一無因相似之過失。例如佛弟子立「聲是無常(宗),勤勇無間所發性故(因)」之量(論式),敵者欲破斥之,遂謂:「汝所說勤勇所發之因,究竟於無常之前?或無常之後?或同時?若謂在前,則汝所立之宗由舊而成,乃對宗而立因,義在無常之先,即非勤勇所發;若謂在後,無常未成,非勤勇所發之資,而所立宗之義既已先成,何更勞立因?若謂同時,兩者俱時生,不得論因果,蓋二立一時,如牛二角,何辨果因?」如是之難破,乃敵者不知宗於立、敵之間具有「一許一不許」之性質所引起之過誤。於因明之基本法則中,應以立、敵共許(共同認可)之因來證成宗,而在未證成之前,宗原本即應處於「一許一不許」之立場。敵者不辨此理,不知去論究「因三相」是否具足,而妄難宗與因之前、後、俱時,企圖令立者無因可立,故稱無因相似過類。又此一過誤相當於世親如實論道理難品中之「無因難」。〔因明正理門論本、因明論疏瑞源記卷八、因明十四相似過類略釋(惟賢,現代佛教學術叢刊(21)〕(參閱「十四過類」415、「因明」2276)
vô nhân đạo
Brutal—Cruel---Inhuman.
vô nhãn nhân
5111對無信仰者之貶稱。見佛而不知佛之真義者,稱無眼人;聞法而無法體會其真義者,稱無耳人。世稱無眼子、無耳子。往生論註卷上謂,眼雖明而不識事,譏為盲人;耳雖聰而不解聽義,故譏為聾。〔目連所問經、碧巖錄第五十六則評唱〕
vô nhất
Not one.
vô nhất vật trung vô tận tạng
5068菩提境中無有生死、涅槃之別,亦無迷悟、凡聖之別,更無取捨、執著之一切事物,故稱之為無一物;然於對應人生一切之差別變化,持有自由自在之作用力,故稱無一物中無盡藏。(參閱「本來無一物」1961)
Vô nhậm, vô nhâm
(無任): kính ngữ, nghĩa là không chịu đựng được, khôn xiết. Xưa kia, người ta thường dùng từ này trong các Biểu Trạng, Tấu Chương, Sớ Văn, v.v. Như trong tờ Từ Châu Tạ Tưởng Dụ Biểu (徐州謝獎諭表) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống có đoạn: “Thứ đàn hủ độn, thiểu bổ ti hào, thần vô nhậm (庶殫朽鈍、少補絲毫、臣無任, hầu như hết sức hủ nát đần độn, thêm chút mảy may, thần không chịu được).” Trong các lòng văn Sớ dâng cúng thường xuất hiện cụm từ “vô nhậm kích thiết bình dinh chi chí (無任激切屛營之至, cảm kích thiết tha hãi hùng khôn xiết).”
vô nhị
Advika (P), Non-duality.
; Advaya (S).Non-duality.
vô nhị diệc vô tam
5070謂成佛之道唯一而無二道或三道。法華經方便品(大九‧七中):「如來但以一佛乘故,為眾生說法;無有餘乘,若二若三。(中略)汝等當一心信解受持佛語,諸佛如來言無虛妄,無有餘乘,唯一佛乘。」對此,諸師解說互異。天台宗就藏、通、別、圓四教,成立唯一圓教;餘乘,指別教;若二,指通、別二教;若三,指藏、通、別三教。即謂今之法華時為唯一之圓教,既非如前華嚴時(第一時)之兼別教,亦非如般若時(第四時)之帶通、別二教,更非如方等時(第三時)之對待藏、通、別三教。三論宗之嘉祥、法相宗之慈恩,則就三乘成立唯一佛乘;餘乘者,總指緣覺與聲聞,若二者,指緣覺,若三者,指聲聞。是以佛乘為第一,緣覺乘為第二,聲聞乘為第三。即僅有唯一佛乘,無第二之緣覺乘,亦無第三之聲聞乘。
vô nhị vô tam
Theo Kinh Pháp Hoa, đạo Phật chẳng phải Nhị thừa, cũng chẳng Tam thừa, mà chỉ Nhất Thừa (trong mười phương cõi Phật; chỉ có pháp nhất thừa, không có hai cũng không có ba, trừ Phật thuyết phương tiện)—According to the Lotus Sutra, Buddhism is neither two nor three, but only one Vehicle.
vô niệm
5091<一>為唐代淨眾寺無相、保唐寺無住所舉揚禪宗重要教義之一。即無妄念之意,指意識未存世俗之憶想分別,而符於真如之念。被視為八正道中之正念。禪源諸詮集都序卷二載,覺諸相空,心自無念,念起即覺,覺之即無,此即修行之妙法,故雖備修萬行,唯以無念為宗。傳心法要亦謂,一念不起,即十八界空,即身便是菩提華果,即心便是靈智。此外,俗稱失策、遺恨為無念,此無念則為無正念之意。〔六祖壇經、出曜經卷七、頓悟入道要門論、曆代法寶記無住章〕 <二>為真如之別稱。大乘起信論義記卷二載,一切諸法唯依妄念而有差別,若捨離心念,則無一切境界之相,故一切法本即離言說相,離名字相,離心緣相,達畢竟平等,而無變異,不可破壞,唯係一心,故稱真如。由於妄念,遂有世俗世界之形成,故無妄念即為真如,此種真如亦稱無念真如。(參閱「有念」2432)
; Tức là bản niệm sẳn có, chẳng nổi mt niệm nào khác. Nghĩa là nơi thế lưu bố tưởng chẳng sanh ra trước tưởng. Chẳng phải trăm điều chẳng nghĩ, nếu trăm đều chẳng nghĩ, hoặc cho là niệm tuyệt đều chẳng phải bản ý của vô niệm.
; Without a thought; without recollection; absence of false ideas or thoughts, i.e. correct ideas or thoughts; apart from thought.
; Tức là bản niệm sẵn có, chẳng nổi một niệm nào khác. Nghĩa là nơi Thế lưu bố tưởng chẳng sanh ra trước tưởng, chẳng phải trăm điều chẳng nghĩ, nếu trăm điều chẳng nghĩ là niệm tuyệt đều chẳng phải bản ý của vô niệm.
; Acinta (skt)—Thoughtlessness. 1) Không có vọng niệm: No thought—Without a thought—Without recollection—Absence of false ideas or thoughts; apart from thought. 2) Chánh Niệm: Correct ideas or thoughts.
vô niệm vô tưởng
5091指修禪定,遠離妄念、妄想,而於諸境無礙自在,亦即自念、想之執著中解脫,稱為無念無想。「念」之定義,於俱舍論卷四為(大二九‧一九上):「於緣明記不忘。」於成唯識論卷三為(大三一‧一四上):「於曾受境,恆明記故。」乃指心內之印象或記憶之精神作用而言。「想」之定義,於俱舍論卷一為(大二九‧四上):「能取像為體,即能執取青黃、長短、男女、怨親、苦樂等相。」成唯識論卷三為(大三一‧一一下):「於境取像為性。」此乃指在心外表象之作用而言。無念無想並非否定念想,而是由念想中解脫之意。念想所起之虛妄現象,掠奪心識,使心動搖,迷妄於實相,心受此妄念、妄想之支配,不能覺悟一切境界之本來一心;若修禪定,以解除念或想之執著,覺悟此本來一心,心外無有別境,而至無念無想。此即離妄念、妄想之執著,否定想、念之妄起。〔大乘起信論〕
vô não
Free from trouble
Vô não nhiệt
xem A-na-bà-đạp-đa.
vô nămg thắng phan vương như lai trang nghiêm đà la ni kinh
Dhvajàgrakayùri-dhàrani
vô năng
Unable, without power.
; Không có năng lực—Unable—Without power—Incapable.
vô năng cú nghĩa
Asakti-padarthah (S)Hòa hợp Thật, Đức, Nghiệp cú nghĩa để không quyết định nhân tạo quả.
vô năng kiến giả
Xem Bất khả việt thủ hộ.
Vô Năng Thắng
xem Bồ Tát Di-lặc.
vô năng thắng
Aparājita (S)Thiên nữ. Xem A dật Đa.
; Ajita (S). Invincible, unsurpassable, unconquerable, especially applied to Di lặc Bồ tát Maitreya Bodhisattva. Also A dật đa.
; Ajita—A Dật Đa—Uy đức rộng lớn không gì thắng nổi, chỉ Đức Di Lặc Bồ Tát (Từ Thị Bồ Tát)—Unconquerable, invincible, unsurpassable; especially applied to Maitreya. ** For more information, please see Ajita in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
vô năng thắng minh vương
5106無能勝,梵名 Aparājitaḥ,音譯阿波羅爾多。又稱無能勝菩薩。為密教八大明王之一。位居於現圖胎藏界曼荼羅釋迦院之中尊釋迦牟尼佛左邊。蓋此明王乃釋迦牟尼佛於菩提樹下成道時,以明咒力降服魔軍,退治障礙之尊。無能勝大明陀羅尼經說其本誓及明咒,即表示佛成道降魔之德。密號勝妙金剛。種子???(dhriṃ),義為令法界眾生離塵垢;或???(hūṃ),表降伏之義。三昧耶形為鉞,或為黑蓮上大口。此尊之形像於胎藏界現圖曼荼羅為身呈青色,四面四臂,四面皆嚬眉瞋怒而有火髮。右第一手豎拳,舒食指置於胸前,第二手之中指、無名指壓於拇指上,食指伸直,屈肘向上;左第一手持三戟叉,第二手持鉞斧。而大聖妙吉祥菩薩祕密八字陀羅尼修行曼荼羅次第儀軌法所載此尊之形像為四臂三面像。真言為「南麼三曼多勃馱喃地袭地袭袭袭馹袭馹袭莎訶」。〔大日經卷二真言藏品、卷五祕密漫荼羅品、無能勝大明王陀羅尼經、菩提場所說一字頂輪王經卷二畫像儀軌品〕
vô năng thắng phan vương như lai trang nghiêm đà la ni
DhvajāgrakayŪrī-dhārani (S)Một bộ kinh trong Mật bộ.
vô năng thắng tướng
Ajjtasena (S)Một nhà sư Ấn dịch kinh sách ở Trung quốc khoảng năm 713-741.
vô nộ phật
Xem Phật A súc bệ.
vô phi
See Vô Bất.
vô phiền
Free from trouble.
; 1) Không còn phiền não: Free from trouble. 2) Vô Phiền Thiên: Cõi trời Phạm Phụ thứ 13 thuộc Tứ Thiền Thiên—The thirteenth Brahmaloka, the fifth region of the fourth dhyana—See Tứ Thiền Thiên.
Vô phiền thiên
xem Năm cõi tịnh cư.
vô phiền thiên
5126 【無準禪師語錄→】請參閱 無準師範禪師語錄無煩,梵名 Avṛha,巴利名 Aviha,音譯作阿鞞麗舍、阿浮訶那、阿毘波、阿卑和。又作無大求天、無廣天、無繁天、無誑天、無所觸天、無希望天。色界十八天之一,五淨居天之一。為第四禪之第五天(一說第四天)。據順正理論卷二十一載,繁為繁雜,或繁廣。繁廣天中此天為最劣,故稱無繁。又不求趣入無色界,故稱無求。關於此天之壽命,大樓炭經卷四謂十劫;雜阿毘曇心論卷二、彰所知論卷上等則謂一千劫;立世阿毘曇論卷七謂四千大劫。其身長,據大毘婆沙論卷一三六、彰所知論卷上等載,為一千由旬。〔大樓炭經卷一、集異門足論卷十四、瑜伽師地論卷四〕
; Avrha (S)Aviha (P)Tên một trong 9 cõi trời Tứ thiền. Cõi này không có phiền não.
; The thirteenth Brahmaloka, the fifth region of the fourth dhyàna.
vô phá
Ātyantica (S), Endless.
vô pháp
Vô Pháp hay tánh không của vạn hữu. Vô pháp có nghĩa là sự hiểu biết chơn chánh về tánh không của ngũ uẩn, không phải vì chúng là ngũ uẩn, mà vì bản chất thật của vạn pháp là không. Theo Bát Nhã Tâm Kinh, “Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát quán ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.” Theo Phật giáo Tiểu Thừa, ngã là sự kết hợp của ngũ uẩn hay nhiều vật chất hợp lại mà thành, nên không thật (đây là cái không tương đối). Theo Phật giáo Đại Thừa, vạn hữu giai không, từ bản chất đã là không (đây là cái không tuyệt đối)—No-Dharma or the emptiness of all phenomena. No-Dharma means true understanding that the five skandhas are empty, not only because they are aggregates, but by their very nature. According to the Heart Sutra, “the Avalokitesvara Bodhisattva illuminated the five skandhas and saw that they were empty. Thus he overcame all ills and sufferings.” In Theravada, the self is a composite, or an aggregate of many other elements, and is therefore empty or relative emptiness. In Mahayana Buddhism, al phenomena including the self are empty in their very nature or absolute emptiness.
vô pháp hữu pháp không
Abhāva-svabhāva-śŪnyatā (S)Vô tánh tự tánh khôngTất cả pháp sanh diệt và vô vi trong ba đời đều không thật có.
vô pháp không
Abhāva-śŪnyatā (S)Vô tánh khôngCác pháp đã hoại diệt thì không có tự tánh.
vô phân biệt
Nirvikalpa (S).
; Nirvikalpa (S). Non discriminating.
; Nirvikalpa (skt)—Không phân biệt—Non-discriminating.
vô phân biệt hành
Nirvikalpacara (skt)—Những hành động vô phân biệt—Deeds of non-discrimination.
vô phân biệt pháp
5074諸法實相之理,言語道斷,心行處滅,故稱無分別法。法華經方便品(大九‧一○上):「如三世諸佛,說法之儀式,我今亦如是,說無分別法。」
; The absolute dharma underlying all particular dharmas, the absolute as contrasted with the relative.
; Avikalpa (skt)—Non-discriminating dharma—Cái lý thực tướng của chư pháp là không thể trình bày được bằng lời nói, ngôn ngữ hay bằng suy nghĩ (ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành tận diệt)—The absolute dharma underlying all particular dharmas, which cannot be described by words or thoughts; the absolute as contrasted with the relative.
vô phân biệt trí
5074梵語 nir-vikalpa-jñāna。又作無分別心。指捨離主觀、客觀之相,而達平等之真實智慧。即菩薩於初地入見道時,緣一切法之真如,斷離能取與所取之差別,境智冥合,平等而無分別之智。亦即遠離名想概念等虛妄分別之世俗認識,唯對真如之認識能如實而無分別。此智屬於出世間智與無漏智,為佛智之相應心品。此智有加行、根本、後得等三種之別:(一)尋思之慧,稱為加行無分別智,又作加行智,乃道之「因」。(二)正證之慧,稱為根本無分別智,又作出世無分別智、根本智,乃道之「體」。(三)出觀起用之慧,稱為後得無分別智,又稱後得智,乃道之「果」。另據成唯識論卷十之說,根本無分別智與後得無分別智屬同一種智,惟作用不同,後得智依根本智方能掌握佛教真理,根本智則靠後得智方可於世俗世界之認識中發揮功能。 又據唐譯攝大乘論釋卷八謂,無分別智遠離五種相以為自性,即:(一)離睡眠等之無作意,(二)離二禪以上之過有尋有伺地,(三)離無心定之想受滅寂靜,(四)離色,(五)於真實義離有分別之計度。又無分別智以修慧為體,菩薩於十地之位數數修習,至第八地以後即可相續任運。梁譯攝大乘論釋卷十二亦謂,無分別與菩薩無異,無分別之自性即菩薩之自性,菩薩以無分別智為體。〔梁譯攝大乘論釋卷八、卷九、卷十一、大乘莊嚴經論卷三、大乘阿毘達磨雜集論卷十四、成唯識論卷九〕
; Nirvikalpa-jāna (S)Vô phân biệt tâm.
; Nirvikalpa-jnàna (S). Mind free from discriminating.
; Avikalpajnana or Nirvikalpajnana (skt)—Non-discriminative wisdom—Cái trí vô lậu không phân biệt. Trạng thái mà chủ thể và đối tượng không còn phân biệt—The unconditioned or passionless mind, or non-discriminative wisdom (knowledge), or the knowledge gained has no discrimination. The state where there is no distinction between subject and object—See Vô Phân Biệt Tâm (B) (1).
vô phân biệt tâm
Xem Vô phân biệt trí.
; The mind free from particularization, especially from affection and feelings; passionless.
; Nirvikalpa-jnana (skt). (A) Nghĩa của Vô Phân Biệt Tâm—The meaning of Non-discriminating mind: Tâm thức xa lìa vứt bỏ cái ý thức phân biệt (đạt đến trí tuệ bình đẳng chân thực)—A mind which is free from particularization, especially from affection and feelings—Passionless. (B) Loại của Vô Phân Biệt Tâm—Categories of Non-discriminating mind: 1) Vô Phân Biệt Tâm Vô Lậu hay Chân Như: Vô phân biệt trí, tức cái trí thể hội chân như—Unconditioned or absolute non-discriminating mind, or the mind free from particularization (memory, reason, self-consciousness) as in the bhutatathata. 2) Vô Phân Biệt Tâm Hữu Lậu: Tâm hiện lượng tư tính của cảnh bao gồm trí nhớ do suy nghĩ, lý luận và tự thức—Conditioned as in dhyana. Particularization includes memory, reason, self-consciousness.
vô phân biệt xuất thế gian trí
Nirvikalpalokottarajnanam (skt)—Cái trí xuất thế gian vô phân biệt—Non-discriminative transcendental knowledge.
vô phép
Discourteous—Uncivilized—Rude—Impolite.
vô phú vô kí
5139梵語 anivṛtāvyākṛta。為「有覆無記」之對稱。又作無覆、淨無記。若以道德之性質為準則,一切諸法可大別為善、惡、無記等三大類。其中,無記係指非善非不善,不能記為善業或惡業之法,又可分為有覆與無覆兩種。無覆無記,即指不覆障聖道的非善非惡之法。據俱舍論卷七、俱舍論光記卷七、法宗源卷本等所載,無覆無記可分為有為與無為兩類:(一)有為無記,即由因緣造作所生之無記法,更分為五種,即:(1)異熟無記,又作異熟生,為由過去善、不善之因所生之異熟果體;以其不覆障聖道,故為無覆無記。(2)威儀無記,又作威儀路心,指行、住、坐、臥等四威儀;因其以色、香、味、觸等四處為體,故其性無記。(3)工巧無記,又作工巧處心,有身工巧、語工巧二種。刻鏤等之身工巧,以色、香、味、觸等四處為體;歌詠等之語工巧,以色、聲、香、味、觸等五處為體,其性皆為無記。(4)通果無記,又作變化無記,指天眼、天耳二種神通自在及其變化;以色、香、味、觸等四處為體,其性亦為無記。(5)自性無記,即前四種以外其餘一切無記性之有為法皆稱為自性無記。(二)無為無記,即非由因緣造作所生之無記法,亦稱勝義無記,例如三無為中之非擇滅無為及虛空等,皆屬於無為無記。 俱舍論光記卷二,就「十八界」所包含之法加以分別其中之無覆無記法,先就無記之眼等五根及香、味、觸等共計八界而言,異熟無記遍通於此八界,威儀、工巧、通果等三種無記通於香、味、觸等三界,自性無記通於長養之五根及內外之香、味、觸等八界。復就色、聲二界而言,異熟無記僅通於色界,威儀、工巧、通果、自性等四無記通於色、聲二界。又就眼識等「七心界」而言,異熟、威儀、工巧等三無記遍通於七心界,通果無記通於眼識、耳識、意界、意識界。且於此六種無記中,勝義無記為無為法,自性無記為長養之五根及得與非得等法,皆不通於七心界,故若就「唯心」與否而區別此六種無記法,則僅有異熟、威儀、工巧、通果等四項屬之,稱為「四無記心」。 於欲、色、無色等三界中,欲界之無覆無記具有四無記心,色界具有除工巧無記以外之其餘三項,無色界則僅有異熟無記一種。又於四無記心中,異熟無記能攀緣六根、六境等十二處而起作用,威儀、工巧、通果等三無記能攀緣色、香、味、觸等四處而起作用,而工巧無記中之語工巧無記及通果無記亦能攀緣聲處而起作用,故亦遍通於色、聲、香、味、觸等五境。〔品類足論卷二、大毘婆沙論卷八十七、卷九十五、卷一二六、卷一四四、俱舍論卷二、卷三、卷六、卷十三、順正理論卷十一、卷三十六、瑜伽師地論卷三、卷五十四、成唯識論卷三、大乘法苑義林章卷五本〕
vô phúc
Unhappy—Unfortunate.
vô phương
5076謂佛攝化眾生,泯絕方位之區別,無所際限,亦無一定之方法。方,指方所、方法。即縱橫自在,發揮妙用之意。臨濟錄序(大四七‧四九六中):「妙應無方,不留朕跡。」蓋如來所立教法,遍滿十方,如同空界,群生萬類,普沾其利,不限一隅,故稱無方。〔菩薩瓔珞本業經卷上、四分律刪繁補闕行事鈔卷一之上二〕
; No place, nowhere; unlimited to place and method, i.e. Buddha'spower.
; 1) No place—No where—Unlimited to place or method—Buddha's power. 2) To be at the end of one's resources—Without resource. 3) Phật Lực: Buddha's power which is unlimited to place or method.
vô phật thế giới
5086指現在佛釋迦既已入滅,而未來佛彌勒尚未出世之中間時期。此時期地藏菩薩出世以教化眾生。地藏菩薩本願經卷上(大一三‧七七九中):「汝當憶念,吾在忉利天宮殷勤付囑,令娑婆世界至彌勒出世已來眾生,悉使解脫,永離諸苦,遇佛授記。」
Vô Quan Phổ Môn
(無關普門, Mukan Fumon, 1212-1291): vị tăng của Phái Thánh Nhất (聖一派) thuộc Tông Lâm Tế Nhật Bản, tự là Vô Quan (無關), hiệu là Phổ Môn (普門), người vùng Bảo Khoa (保科), Tín Nùng (信濃, Shinano, thuộc Nagano-ken [長野縣]). Lúc lên 7 tuổi, ông theo hầu Tịch Viên (寂圓) ở Chánh Viên Tự (正圓寺) vùng Việt Hậu (越後, Echigo, thuộc Niigata-ken [新潟縣]), đến năm 13 tuổi thì xuống tóc xuất gia, sau một thời gian lâu ông trở về Tín Nùng, sống ở Diêm Điền (塩田). Năm lên 19 tuổi, ông đến tham yết Thích Viên Phòng Vinh Triêu (釋圓房榮朝) ở Trường Lạc Tự (長樂寺, Chōraku-ji) thuộc vùng Thượng Dã (上野, Ueno, thuộc Gunma-ken [群馬縣]), thọ Bồ Tát giới và học về Hiển Mật Viên Thông. Bên cạnh đó, ông còn đến tham vấn Viên Nhĩ (圓爾, Enni) ở Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji) và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 3 niên hiệu Kiến Trường (建長), ông sang nhà Tống, đến tham yết Kinh Tẩu Như Ngọc (荆叟如珏) ở Linh Ẩn Tự (靈隱寺) và Đoạn Kiều Diệu Luân (斷橋妙倫) ở Tịnh Từ Tự (淨慈寺) và được đại ngộ. Đến năm 1261 (năm đầu niên hiệu Hoằng Trường [弘長]), khi Diệu Luân viên tịch thì ông được trao truyền y ca sa như là ấn tín chứng ngộ truyền pháp. Sau một thời gian lưu lãng tuần bái khắp vùng Triết Giang khoảng 12 năm, ông trở về nước, hầu hạ bên gối Viên Nhĩ. Sau đó ông đã từng sống qua các chùa ở vùng Việt Hậu như An Lạc Tự (安樂寺, Anraku-ji), Chánh Viên Tự (正圓寺, Shōen-ji), rồi đến Quang Vân Tự (光雲寺, Kōun-ji) ở vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]). Nhân sự việc yêu quái quấy nhiễu ở Ly Cung Long Sơn của Quy Sơn Thượng Hoàng (龜山上皇, Kameyama Jōkō, 1259-1274) trong một khoảng thời gian dài, nên vào mùa xuân năm 1291 (năm thứ 4 niên hiệu Chánh Ứng [正應]),ông vào cung tọa Thiền nhập định và xua đuổi được yêu quái, từ đó Thượng Hoàng cho xây Thiền đường trong cung và thỉnh ông đến trú trì với tư cách là vị tổ khai sáng đầu tiên. Đây chính là ngôi Thái Bình Hưng Quốc Nam Thiền Tự (太平興國南禪寺, Taiheikōkokunanzen-ji). Cũng chính vào tháng 12 năm này, ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi đời và 62 hạ lạp. Ông được ban cho hiệu là Phật Tâm Thiền Sư (佛心禪師), Đại Minh Quốc Sư (大明國師). Pháp đồ của ông có Đạo Sơn Huyền Thịnh (道山玄晟), Ngọc Sơn Huyền Đề (玉山玄提), Kim Quang Trúc Ông (金光竹翁), Nham Đậu Minh Đầu (巖竇明投), v.v.
vô quan phổ môn
5143(1212~1291)日本臨濟宗僧。信濃(長野縣)保科人。早年出家,遊諸方學顯密,後參圓爾,並嗣其法,住越後(新瀉縣)華報寺。爾後來宋,十二年後返日,再侍圓爾,從事教化,移住東福寺。受龜山上皇皈依,建南禪寺於其離宮,並任開山。正應四年示寂,世壽八十。敕諡「佛心禪師」、「大明國師」。
vô quang
Unilluminating.
vô quang phật
Vị Phật không phát quang, không đem ánh sáng pháp để chiếu rọi nơi nơi được (Thanh Văn Duyên Giác hay Bích Chi Phật)—An Unilluminating Buddha—A Useless Buddha who gives out no light.
vô quá
Sinless—Have no sin.
vô quý
5125梵語 anapatrāpya,或 atrapā。指做別人認為罪惡之事,而不感慚愧,亦不害怕。心所之名。俱舍七十五法之一,唯識百法之一。與「愧」對稱。為俱舍宗大不善地法之一,唯識宗二十隨煩惱之一。即對現世、未來之惡報不生怖畏;或不顧世法而恣意暴惡,不生畏懼。此法為欲界所繫,其性唯不善,為見、修所斷。又與一切之不善心相應而現起,故與無慚共攝於大不善地法。〔成唯識論卷六、大毘婆沙論卷三十四、俱舍論卷四、卷二十一、品類足論卷一〕(參閱「慚愧」5810)
; Anapatrapya (S)Không biết hỗ thẹn với người khác.
vô quả
Effectless—Have no effect.
vô sai biệt
5105謂諸法本性真如,而無差別。蓋「有為法」之外相雖有種種差別,然其本性不異,如水波之相雖異,而其水性則一,謂之無差別。
Vô sanh
(無生): còn gọi là vô khởi (無起), có hai nghĩa. (1) Thật tướng của các pháp không có sanh diệt; đồng nghĩa với vô sanh diệt (無生滅) hoặc vô sanh vô diệt (無生無滅). Sự tồn tại của các pháp vốn không có thật thể, do nhân duyên mà thành, là không, nên có thể nói rằng không có sanh diệt. Tuy nhiên, hạng phàm phu mê lầm lý vô sanh này, nên khởi lên phiền não về sanh diệt, vì vậy bị lưu chuyển sanh tử. Nếu nương theo kinh luận, quán lý vô sanh thì có thể trừ được phiền não sanh diệt. (2) Là ý dịch của A La Hán (s: arhat, p: arahant, 阿羅漢) hay Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃). A La Hán có nghĩa là bất sanh (不生, không sanh), tức đoạn tận phiền não của Ba Cõi, không còn trở lại thọ sanh trong Ba Cõi này nữa. Lại nữa, người nương theo bản nguyện vãng sanh Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà, là khế hợp với bản nguyện của Ngài, nhân vô sanh này chính là lý của Niết Bàn; cho nên khác với cái gọi là sanh vọng tưởng hư huyễn trong nội tâm của kẻ phàm phu. Về điểm này, Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá Nguyện Sanh Kệ Chú (無量壽經優婆提舍願生偈註, tức Vãng Sanh Luận Chú [往生論註], Taishō Vol. 40, No. 1819) quyển Hạ gọi là “vô sanh chi sanh (無生之生, sanh của vô sanh).” Từ quan điểm không sanh diệt của Niết Bàn mà nói, tức chỉ giác ngộ Niết Bàn, cũng tức là chứng đắc thân vô sanh; Cực Lạc là khế hợp với thế giới của Niết Bàn; và từ nghĩa này, có tên gọi là vô sanh giới (無生界, cõi vô sanh). Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (大方廣圓覺修多羅了義經, Taishō Vol. 17, No. 842) quyển 1 dạy rằng: “Nhất thiết chúng sanh ư vô sanh trung, vọng kiến sanh diệt, thị cố thuyết danh luân chuyển sanh tử (一切眾生於無生中、妄見生滅、是故說名轉輪生死, hết thảy chúng sanh trong vô sanh, lầm thấy sanh diệt, cho nên gọi là luân chuyển sanh tử).” Trong Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明最勝王經, Taishō Vol. 16, No. 665) quyển 1 còn khẳng định thêm rằng: “Vô sanh thị thật, sanh thị hư vọng, ngu si chi nhân, phiêu nịch sanh tử, Như Lai thật thể, vô hữu hư vọng, danh vi Niết Bàn (無生是實、生是虛妄、愚痴之人、漂溺生死、如來體實、無有虛妄、名爲涅槃, vô sanh là thật, sanh là giả dối, người mà ngu si, trôi lăn sanh tử, thật thể Như Lai, không có giả dối, gọi là Niết Bàn).” Hay trong Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh (佛說仁王般若波羅蜜經, Taishō Vol. 8, No. 245) quyển Thượng cũng cho biết rằng: “Nhất thiết pháp tánh chân thật không, bất lai bất khứ, vô sanh vô diệt, đồng chơn tế, đẳng pháp tánh (一切法性眞實空、不來不去、無生無滅、同眞際、等法性, tất cả pháp tánh chân thật không, chẳng đến chẳng đi, không sanh không diệt, đồng với chơn tế, ngang với pháp tánh).” Trong bài kệ thị tịch Thiền sư Quảng Nghiêm (廣嚴, 1121-1190) thuộc thế hệ thứ 11 của dòng Thiền Vô Ngôn Thông Việt Nam có câu rằng: “Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ, sanh vô sanh hậu thuyết vô sanh (離寂方言寂滅去、生無生後說無生, lìa diệt mới cho tịch diệt hết, đạt vô sanh rồi nói vô sanh).”
vô sanh
Anutpaa (P), Anutpatti (S, P), Non-Birth, No-Birth.
; Vô sanh tức vô thủy, vô thủy tức vô sanh, như con gà với trứng gà đều chẳng có sự bắt đầu, tức là hiển bày nghĩa vô sanh.
; Anutpatti or Anutpanna (skt)—Unborn—Immortal—Not born—Uncreated—Without being born or produced—No rebirth—Not to be reborn—Non-appearance—The state without appearance—Exempt from rebirth. 1) Từ “Vô Sanh” được dùng để diễn tả tánh của Niết Bàn. Trong Phật giáo Đại Thừa, Vô Sanh có nghĩa là sự chấm dứt dòng suy tưởng lan man không mạch lạc, qua đó chúng ta nhận biết sự biến hiện của vạn hữu, rồi từ đó chạy theo chúng—Non-Birth is a term used to describe the nature of Nirvana. In Mahayana Buddhism, No-Birth means the 'extinction' of the discursive thinking by which we conceive of things as arising and perishing, forming attachment to them. 2) Theo triết học Trung Quán, Vô Sanh là chân lý của Niết Bàn không sanh không diệt, không tái sanh, hay không còn phải luân hồi sanh tử—According to the Madhyamaka philosophy, non-birth means Nirvana which is beyond birth and death or not subject to birth and death, or reincarnation.
vô sanh bảo quốc
Thiên đàng bất tử của Phật A Di Đà—The precious country beyond birth-and-death—The immortal paradise of Amitabha.
vô sanh bất diệt giới
Amatadhātu (S), The deathless realm.
vô sanh chi sanh
Sanh của vô sanh, như Đức Phật hóa thân thị hiện nơi cõi Ta Bà—A life that is without birth, an immortal life, a nirmanakaya, or transformation appearance of a Buddha in the world.
vô sanh diệt
There is no appearance and disappearance—Without appearance and disappearance.
vô sanh hối
Thiền quán tưởng lẽ vô sanh, dứt các phiền não, tránh được những tư tưởng sai trái cũng như ảo tưởng và màn vô minh che lấp Trung đạo—To meditate to prevent wrong thoughts and delusions that hinder the truth.
vô sanh môn
Giáo thuyết chân lý vượt trên sanh tử tạo tác, như chân như; bất tử môn—The doctrine of reality as beyond birth or creation, i.e. that of the bhutatathata; the gate or school of immortality.
vô sanh nhẫn
An trụ ở cái lý không sanh không diệt mà không động, tức là trạng thái mà trong đó không còn sự can thiệp nào nữa—The patient rest in belief in immortality, or no rebirth, the state in which interference do not arise. ** For more information, please see Vô Sanh Pháp Nhẫn in Vietnamese-English Section.
vô sanh pháp
Luật không còn sanh tử, hay lý chân như và thể của Niết Bàn—The law of no rebirth, or immortality, as the fundamental law of the bhutatathata and the embodiment of nirvana.
vô sanh pháp nhẫn
Anutpattikā-dharma-kṣānti (S).
; Anutpattikadharmakshanti (skt)—Nhẫn đạt được qua hiểu biết rằng tất cả mọi hiện tượng đều không sanh. Sự hiểu biết về tánh không và vô sanh của chư Bồ Tát, những vị đã đạt được Bát Địa hay Bất Thối Địa—Realization of the Dharma of non-appearance. Calm rest, as a Bodhisattva, in the assurance of no rebirth—Tolerance of non-birth (Insight into the non-arising of dharmas—Insight into the non-origination of dharmas—Insight into the non-substantial nature of all phenomenal existence). Tolerance that comes from the knowledge that all phenomena are unborn—Insight into emptiness, the non-origination or birthlessness of things or beings realized by Bodhisattvas who have attained the eight stages to Buddhahood. When a bodhisattva realized this insight, he has attained the stage of non-retrogression. ** For more information, please see Bất khởi pháp nhẫn in Vietnamese-English Section.
vô sanh sám
See Vô Sanh Hối.
vô sanh thân
Pháp thân hằng hữu—The Dharmakaya, the immortal one.
vô sanh trí
dịch từ Phạn ngữ là anutpdajđna, chỉ trí tuệ cao trổi nhất của vị A-la-hán, thấy biết thật tánh của tất cả các pháp không có sự sanh ra.
; Anutpāda-jāna (S).
; Nirvana wisdom—See Thập Trí (A) (10).
vô sanh tánh
Utpatti-Nihsvabhāvata (S).
vô sanh tâm
The mind of no rebirth.
vô sanh tạng
Kinh điển luận về chân như như Trung Luận—The scriptures which deal with the absolute, e.g. the Madhyamika-sastra.
vô sanh tế
The uncreate, or absolute; the region of the eternal.
vô sanh vô diệt
No birth no death.
vô si
5139梵語 amoha。心所名。唯識百法之一。為「癡」之對稱。又作不癡。即明解諸事理、對治愚癡之精神作用。唯識家攝為「善」之一。成唯識論卷六(大三一‧三○上):「云何無癡?於諸理事明解為性,對治愚癡作善為業。」上引之中,理者為苦、空、無常、無我等理,事者現前見聞等五境。故無癡能明了解知諸理事,能生一切善,並有對治愚癡之作用。俱舍、唯識等皆立無貪、無瞋、無癡為三善根,以之為生出一切善之根本。然俱舍論所立之無癡以慧為體,而非另有別體,故不別立一心所。婆沙論、雜心論等所說亦同。而唯識以其與無貪、無瞋同為三善根所攝取,故主張彼等同為實體。(參閱「三善根」622)
; Amoha (S), Non-delusion.
vô sinh
5077<一>又作無起。謂諸法之實相無生滅。與「無生滅」或「無生無滅」同義。所有存在之諸法無實體,是空,故無生滅變化可言。然凡夫迷此無生之理,起生滅之煩惱,故流轉生死;若依諸經論觀無生之理,可破除生滅之煩惱。〔圓覺經卷一、大方等大集經卷十五〕 <二>阿羅漢或涅槃之意譯。阿羅漢有不生之義,即斷盡三界煩惱,不再於三界受生之意。又依彌陀之本願往生淨土者,乃是契合彌陀之本願,此因無生為涅槃之理,故異於凡夫內心所想虛幻之生。於此,曇鸞之往生論註卷下稱之為無生之生。自涅槃無生滅之觀點言,即指覺悟涅槃,亦即證得無生身;極樂為契合涅槃之世界,由此義,故稱為無生界。〔最勝王經卷一、摩訶止觀卷五下〕(參閱「阿羅漢」3692、「涅槃」4149)
; Anutpanna, anutpatti (S). Not born, without being born or produced; uncreated; no rebirth; immortal; nirvàna as not subject to birth and death, or reincarnation, and which negates them; the condition of the absolute.
vô sinh giới
5079指契合無為涅槃之妙理而相即相入之世界。蓋無為涅槃之妙理,乃永離生滅,故稱無生。如阿彌陀佛之極樂淨土,具二十九種莊嚴相,直入無為涅槃之妙理,無一法非無為涅槃,故稱為無生界。〔往生論註卷下〕
vô sinh khởi
Anabhinirvritti (skt)—Not rising.
vô sinh lão mẫu
5078為明清時民間宗教中至高無上之女神。被視為創世主,又為拯救苦海中之人類的救世主,具有無上之權威。其傳說頗多,明末清初河北士人戴明說所作「無生廟碑記」,即有關於無生老母之靈異記載。清代以後,更增添無數民間色彩,如道光年間(1821~1850)流傳於河北白陽教徒間者,即謂無生老母於康熙年間(1662~1722)轉世,出嫁後生一子,後為丈夫休棄,子又被雷殛,遂開始其習教傳徒生涯,顯示其為受過苦難之婦女形象。此外,清代對無生老母之信仰,又與農民之反抗組織結合,而為農民起義之精神柱石,如乾隆三十九年(1774)山東清水教之王倫、嘉慶時林清之天理教、道光二十五年(1845)四川青蓮教等之起義,均奉無生聖母,甚或宣稱「聖母降生,刀槍不入」。
vô sinh môn
5079觀諸法無生之理,為入佛道之初門,即稱為無生門。摩訶止觀卷五下(大四六‧五九下):「無生門能通止觀,到因到果,又能顯無生,使門光揚,何者?止觀是行,無生門是教,依教修行,通至無生法忍,因位具足。淨名三十二菩薩,各說入不二門,皆是菩薩從門入位,而無生為首。」〔摩訶止觀卷六下、止觀大意〕
; The doctrine of reality as beyond birth, or creation, i.e. that of the bhùtatathatà, the gate or shool of immortality.
vô sinh nhẫn
The patient rest in belief in immortality, or no rebirth.
vô sinh pháp
The law of no-birth, or immortality, as the fundamental law of the chân như and the embodiment of nirvàna.
vô sinh pháp nhẫn
5078梵語 anutpattika-dharma-kṣānti。謂觀諸法無生無滅之理而諦認之,安住且不動心。又作無生忍、無生忍法、修習無生忍。為三忍之一,仁王經所說五忍之第四。大智度論卷五十(大二五‧四一七下):「無生法忍者,於無生滅諸法實相中,信受通達,無礙不退,是名無生忍。」大乘義章卷十二(大四四‧七○一中):「從境為名,理寂不起,稱曰無生;慧安此理,名無生忍。」 據大智度論卷八十六載,於聲聞之八人地乃至已辦地、辟支佛地等觀四諦,一切智斷僅得菩薩無生法忍之部分,苦集滅道之四諦實乃分別諸法實相之一諦,以聲聞為鈍根,故觀四諦而得道;以菩薩為利根,故直觀諸法實相而入道。由此可知,無生法忍,即聲聞於入見道位時見四諦之理;菩薩則於入初地時諦認諸法無生無滅之理,以住不退轉地。 據瑜伽師地論卷七十四載,不退轉地之菩薩依遍計所執性、依他起性、圓成實性等三性,得本性、自然、煩惱苦垢三種之無生忍:(一)本性無生忍,又作本來無生忍。謂觀遍計所執之體性均無,而忍知本性無生者。(二)自然無生忍,謂觀依他之諸法因緣生,忍知非自然而生者。(三)煩惱苦垢無生忍,又作惑苦無生忍。謂諸法實性之真如法性,係安住無為與一切雜染不相應,忍知本來寂靜者。此乃忍知三無性之理,故稱無生忍。又六十華嚴經卷二十五「十地品」謂,第七地之菩薩,三業清淨,修無相行,得無生法忍,照明諸法。另仁王般若波羅蜜經卷上菩薩行品列舉伏忍、信忍、順忍、無生忍、寂滅忍等五忍,前四忍分上、中、下三品,而寂滅忍僅分上、下二品,信忍之三品配初、二、三地,順忍之三品配以四、五、六地,無生忍之三品配以七、八、九地。〔大般若波羅蜜多經卷四四九轉不轉品、無量壽經卷上、大寶積經卷二十六、大品般若經卷二十二、入楞伽經卷三、成唯識論卷八、大智度論卷六、卷十五、卷七十三、淨土論卷上、大乘義章卷十四〕(參閱「三法忍」571、「五忍」1097)
; Anutpattikà-dharma-ksànti (S). Endurance, patience of the practitioner who has penetrated the truth, all things are unborn.
vô sinh sinh
5078全稱無生之生。無生,指法性真如之理無生無滅;生,指捨此而往彼處。如佛菩薩以應化身示現於娑婆,眾生往生於淨土,乃離六道四生之生,此生因契於無生,故稱無生生。據曇鸞往生論註卷下載,極樂淨土為阿彌陀如來清淨本願無生之生,非如三有虛妄之生。即彼淨土隨順法性無生之妙理,故往生者能契合自然之土德,而得無生之生,與三界之生不同。
vô sinh thân
5078指證果之身。以佛之法身無有生滅,故稱無生身。觀經疏玄義分(大三七‧二四六上):「定散等迴向,速證無生身。」無生,為涅槃之異稱。蓋涅槃之妙理,無生無滅,證悟無生之理,即得無生身。然無生身有分、圓之別,證悟體達「圓」者為佛果;得「分」者則為菩薩位,即無上忍之菩薩。二者皆稱無生身。〔北本涅槃經卷二十三〕
; The immortal one, i.e. the dharmakàya.
vô sinh trí
5080梵語 anutpādajñāna,巴利語 anuppāda-ññāṇa。二智之一,十智之一。指了知一切法無生之智。亦即滅盡一切煩惱,遠離生滅變化之究極智慧;於四諦已自知苦、斷集、修道、證滅,復更遍知無「知、斷、修、證」之無漏智。又已遍知斷盡欲、有、無明之三漏及結縛、隨眠等不再生起,故稱無生智。阿毘達磨集異門足論卷三(大二六‧三七六上):「無生智云何?謂如實知我已知苦,不復當知;我已斷集,不復當斷;我已證滅,不復當證;我已修道,不復當修。此所從生智、見、明、覺、解、慧、光、觀,是名無生智。」 蓋此智於無學位圓滿完成,獲得「盡智」後,更以一切之聖道為因,圓滿無學果,故為與非擇滅之「得」俱生之無漏正智,此唯利根之聖者能成就。除欲界及有頂地之外,以其他之四根本定、未至定、中間定、下三無色定等九地為依地。〔摩訶般若波羅蜜經卷五廣乘品、大毘婆沙論卷二十九、俱舍論卷二十四、卷二十六、辯中邊論辯無上乘品、異部宗輪論、大乘阿毘達磨雜集論卷十五、品類足論卷一、顯揚聖教論卷二〕(參閱「二智」215、「十智」472)
; The final knowledge attained by th arhat, his release from the chain of transmigration. Also, the knowledge of the bodhisattva of the assurance of immortality, or no rebirth.
vô sinh tương tự quá loại
5080因明用語。古因明之祖足目所立因明「似能破」十四過類之第十一。於因明對論中,立者(立論者)已提出宗(命題)與因(理由),敵者(問難者)欲駁斥之,強指於立者所說之「因」未發生之前,其宗不能成立,如是則敵者自身招致此一過失。例如於「聲是無常(宗),勤勇無間所發性故(因)」之論式中,敵者欲破斥之,遂發難謂:「聲為所依,因是能依;未說所依之聲,不可言能依之因。如是汝犯無因之過失。又無常之宗既不可成立,聲則非勤勇無間所發,故應為常。」並另舉一論式:「聲未發生前,即無如是之因,故聲非無常,此乃因無勤勇所發之因故,如空。」事實上,聲發生後固可成立宗,然未發生之時,其體亦無,故不得視為無常之過。此乃敵者妄自增益「非勤勇」之因,而成立「常住」之宗,以非難立者所招致之過誤。又此一過誤相當於世親如實論道理難品中之「未生難」。〔因明正理門論本、因明論疏瑞源記卷八、因明十四相似過類略釋(惟賢,現代佛教學術叢刊(21)〕(參閱「十四過類」415、「因明」2276)
vô sinh tứ đế
5077我國天台宗智顗所立四種四諦之一。又作無生滅四諦。天台宗判立藏、通、別、圓四教,無生四諦係通教之說,認為因緣諸法,悉皆幻化,當體即空而無有生滅,以此觀苦、集、滅、道四諦,故稱無生四諦,以別於藏教之「生滅四諦」。(一)苦諦,謂觀一切生死皆空,而無逼迫之相。(二)集諦,謂觀一切惑業皆空,無有和合,不生苦果。(三)滅諦,謂觀因緣諸法皆空,昔本無生,今亦無滅。(四)道諦,道,即戒定慧之道。謂觀一切道行皆空,能治之道泯亡不存。〔法華玄義卷二下、天台四教儀集註卷上、卷下〕(參閱「四諦」1840)
vô sinh vô diệt
5080略稱無生。謂諸法之實體無有生滅之相。與「無生滅」、「無生寂滅」同義。又以無生斷離執著,故又稱無生無著。維摩經弟子品(大一四‧五四一上):「諸法畢竟不生不滅。」仁王經卷上載,一切諸佛皆於般若波羅蜜多中「生」,於般若波羅蜜多中「化」,於般若波羅蜜多中「滅」,諸佛實生無所生,化無所化,滅無所滅。一切諸法固無生滅,由因緣和合而成;一切眾生亦無生滅,實由諸法聚集和合而有蘊、處、界、相等。又中論卷二載,眾緣和合而有生,因緣若散則滅,故無實在之生滅可言。又以無生滅之法性為體之佛身土,稱為無生身、無生國。〔不增不減經、北本涅槃經卷九、大智度論卷八、卷三十三、卷五十九、往生論註卷上〕
vô song
Anupameya (S).
; Peerless—Matchless.
vô sân
5136梵語 apratigha。又作不瞋、不瞋恚。為「瞋」之對稱。心所名。俱舍七十五法之一,唯識百法之一。逢違緣而心不瞋恨之謂。即於有情非情無恚害之意,為能對治瞋煩惱之精神作用。其恆與諸善心相應,故說一切有部立其為十大善地法之一,唯識家攝之於十一種善心所。以其能生善法,故與無貪、無癡共稱三善根。又四無量心中之慈無量心以無瞋為體。〔成唯識論卷六、大毘婆沙論卷四十二、俱舍論卷二十九、大乘阿毘達磨雜集論卷一〕(參閱「三善根」622)
; Xem A vĩ xả pháp.
vô sân phật
Xem Phật A súc bệ.
vô sư
Without a teacher, self-attained.
Vô sư giác
(Bậc giác ngộ không có thầy dạy): Vì sự giác ngộ rốt ráo chỉ có thể do trí tuệ của chính mình đạt được, không thể nhờ nơi sự dạy bảo của người khác, nên không có thầy dạy. Chỉ có Phật là bậc giác ngộ rốt ráo, nên Vô sư giác cũng là danh hiệu để tôn xưng ngài.
vô sư giác
Self-attained enlightenment.
vô sư giả
Svayambhuva (skt)—Bậc tự hiện hữu, một trong những danh hiệu của Đức Phật—Self-existing one, one of the epithets of the Buddha.
vô sư trí
5106<一>梵語 anupadiṣṭa-jñāna。指非藉他力,不待他人教而自然成就之智慧。與「自然智」為同義語。碧巖錄第六十二則(大四八‧一九三下):「以無師智,發無作妙用;以無緣慈,作不請勝友。」〔法華經譬喻品、宗鏡錄卷九〕 <二>梵語 svayambhū-jñāna。指無師獨悟之智慧。如佛所證得之智慧,非由師教或外力而得;又如緣覺(獨覺)聖者,觀諸法因緣生滅,不待師教而證成覺智。〔六十華嚴卷三十五〕
; Self-attained enlightenment, wisdom attained without a teacher, Buddha.
; Giác ngộ tự đạt, không thầy chỉ dạy. Đây là trí huệ Phật—Self-attained enlightenment—Wisdom attained without a teacher—Buddha's wisdom.
vô sư độc ngộ
5106謂不待師教而自覺本具真性。一般將辟支佛(梵 pratyeka-buddha)翻譯為「緣覺」或「獨覺」,即有不依師教、現生開悟之意。四教義卷六引用大智度論之文謂,若佛不出世,或佛法已滅時,此人由於先世因緣,能獨生智慧,因不由他聞,而以自智慧得道,故稱之為獨覺。一般在大乘立場,則解為「無師自悟」。〔增一阿含經卷十四、卷十九、法華經譬喻品、法華義疏卷六、大日經疏卷一、圓覺經大疏卷下四〕
vô sắc
Formlessness.
; Arùpa (S). Formless, shapeless, immaterial.
; Arupa (skt)—Formless—Without form of holding on to the illusion of contemplation.
vô sắc dục
Arùparàga (S). Craving for immaterial existence.
Vô sắc giới
xem Ba cảnh giới.
; 無色界; S, P: arūpadhātu, arūpaloka; |Ba thế giới
vô sắc giới
5083梵語 ārūpya-dhātu,巴利語 arūpa-dhātu。又作無色天、無色行天。與欲界、色界共稱三界。即指超越物質之世界,厭離物質之色想而修四無色定者死後所生之天界。謂此界有情之生存,固無色法、場所,從而無空間高下之別,然由果報之勝劣差別,則分為四階級,即空無邊處、識無邊處、無所有處、非想非非想處等四空處,故又稱四無色、四無色天、四無色處、四空天、四空、無色界諸天;若三界分為九地,則此四界相當於後半之四地,而一一附加「地」字稱呼,例如「空無邊處地」等。復以其屬於天界,故有時亦一一附加「天」字,稱為「空無邊處天」等。關於四天之壽命,各有異說,據大毘婆沙論卷八十四載,空無邊處有二萬劫,識無邊處四萬劫,無所有處六萬劫,非想非非想處八萬劫;長阿含經卷二十則依次為一萬劫、二萬一千劫、四萬二千劫、八萬四千劫;依立世阿毘曇論卷七,則將四天各分上、中、下三品,由空無邊處下品之一萬七千五百大劫,至非想非非想處上品之八萬大劫,總有十二品之壽量差別。此外,非想非非想處天因位居世界(有情之生存)之最高位,故又稱有頂、有頂天。又無色界之有情均為男身,但不具男根。〔業報差別經、法蘊足論卷十一、俱舍論卷八、卷十一、卷二十八、大毘婆沙論卷八十三、卷九十八、法苑珠林卷二、大乘法苑義林章卷五本〕(參閱「四無色定」1772)
; ArŪpadhātu (S), ArŪpaloka (S, P), Immaterial realm Có 4 cõi: không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ.
; Arùpaloka, arùpadhàtu (S). The heavens without form, immaterial, consisting only of mind in contemplation, being four in number, which are defined as Tứ không thiên Catùrùpabrahmaloka, and given as Không vô biên xứ, àkàsanantyàyatana; Thức vô biên xứ, vijnànànatyàyatana; Vô sở hữu xứ, akincanyà- yatana; Phi tưởng phi phi tưởng xứ, naivasamjnànasamjnàyatana.
; Arupadhatu or Arupaloka (skt). (A) Nghĩa của Vô Sắc Giới—The meanings of Arupaloka: Trên cõi sắc giới, nơi chỉ có tinh thần thanh tịnh, nơi không còn thân thể, không còn cung điện, không còn vật chất. Cõi trời vô sắc kéo dài không hạn định trong tứ không xứ. Cõi nầy không có vật chất của sắc pháp, mà chỉ còn thức tâm trụ nơi thiền định thâm diệu—The realm of formlessness—Being above the realm of form—Realm beyond form—The formless realm of pure spirit, where there are no bodies, places, things. Its extent is undefinable in the four empty regions (Tứ không xứ)—The heavens without form, immaterial, consisting only of mind in contemplation. (B) Cõi Vô Sắc Giới—The boundaries of Arupaloka: See Tứ Không Xứ.
vô sắc giới cảnh
ArŪpa bhāva (S), Scene of Immaterial realm.
vô sắc giới định
5083巴利語 arūpa-avacara-samādhi。又作無色定。無色界定含空無邊處定、識無邊處定、無所有處定、非想非非想處定等四無色定。此四無色定,係由欲界定、色界定而得之靜寂禪定;於此等禪定中,對欲、色等悉無想念。又根據說一切有部之說,空無邊處、識無邊處、無所有處等三定各又有味定(味等至)、淨定(淨等至)、無漏定(無漏等至)等三種,非想非非想處定則以定相昧劣之故,僅有味定、淨定二種而無無漏定。 以南傳佛教之觀點言之,則不僅於現世中由於精神極度統一之純粹專一現象可得無色定(屬於善淨之無色定),若因果報而生於無色界者亦可得無色定(屬於異熟之無色定);除此二類外,其他另有證成聖道聖果者之「無漏無色定」,及現法樂住的阿羅漢之「唯作無色定」等。〔俱舍論卷二十八、清淨道論第十品、解脫道論卷二〕(參閱「四無色定」1772)
vô sắc hành
Arupyacarin (skt)—Formless deeds—Những hành động vô hình sắc. Nghĩa chính xác của thuật ngữ nầy thật khó biết. Có lẽ nó nhằm ám chỉ đời sống ở cõi vô sắc, hay nó đồng nghĩa với vô công dụng hạnh—The exact meaning of this term is difficult to know. It may refer to the life in the world of no-form, or it is rrgarded as synonymous with “Anabhogacarya.”
vô sắc hữu
Existence in the formless or immaterial realm.
; Existence in the formless or immaterial realm—See Tam Hữu (B) (3).
vô sắc tham
The desire in the world without form of holding on to the illusion of contemplation.
; Ham muốn trong cõi vô sắc giới, hay sự chấp vào vọng tưởng trong thiền quán—The desire in the world without form of holding on to the illusion of contemplation.
vô sắc ái kết
ArŪparāga (S), Desire for immaterial existence 1- Trong hai thằng thúc: dây trói buộc chúng sanh vào vòng luân hồi là ham muốn đeo níu trong Sắc giới (RŪpaloka) và ham muốn đeo níu trong Vô sắc giới (ArŪpaloka). 2- Lòng còn luyến tiếc cảnh tiên vô sắc. Một trong ngũ thượng kết: sắc ái kết, vô sắc ái kết, mạn kết, trạo kết, vô minh kết. 3- Mối trói buộc mà người đắc quả A na hàm dứt được là không còn bị ràng buộc vào cảnh tiên cõi vô sắc giới.
vô sắc định
Arupya (skt)—Có bốn đẳng chí hay sự tập hợp của tâm trí thuộc cõi vô sắc—There are four mental collectednesses or samapattis belonging to the World of No-Form (arupaloka)—See Tứ Không Xứ.
vô sỉ
Shameless.
vô sỉ đại trùng
Một sinh vật to lớn mà không có răng, như cọp không răng (chỉ là vô dụng mà thôi)—A toothless great creature, i.e. a toothless tiger.
vô số
Xem A tăng kỳ.
; Asamkhyeya (S). Numberless.
; Asamkhyeya (skt)—Numberless—Innumerable—Numberless—Countless—Exceedingly numerous.
vô số chúng sanh
Countless sentient beings.
vô sở
Nothing, nowhere.
; Không có thứ gì—Nothing—Nowhere.
vô sở bất chí
Nowhere (it) does not reach.
vô sở bất chí ấn
5092即密教胎藏界大日如來最極祕印。又作遍法界無所不至印、無所不至塔印、佛部率都婆印、大率都婆印、理塔印、毘盧遮那印、大日劍印、大慧刀印。以兩手作未敷蓮華合掌(十二合掌之一),小指、無名指、中指三指端相捻,二拇指稍微彎曲,置於中指之根處,彎曲二食指之中節,橫置其端而使二指端互相頂拄。此心印表阿字本不生之理,依如來之法界力、無等力、正等覺之信解,遍一切法界,與虛空等,無所不至。真言為:南無薩婆怛他蘗帝弊(namaḥ sarva tathāgatebhyaḥ,歸命一切如來等)微濕嚩目契弊(viśva mukhebhyaḥ,種種巧妙門)薩縛他(sarvathā,一切皆)阿(a,因)阿(a,行)闇(aṃ,證)噁(aḥ,入)。然其印相原由師師口傳,大日經及大日經疏均無記載。其印相依口傳而有差異,如印母,或為虛心合掌,或為金剛合掌;又二拇指與二中指間或相離一麥左右,而不相附著;或二拇指開而不相附著,或二拇指並入掌中等諸種說法。又此印古來以口傳表示「六大四曼三密」,即左右兩手之小指、無名指、中指等六指表六大,左右之拇指、食指等四指表四曼,以左右之拇指、食指、中指之六指間所形成之三圓形,表三密。〔大日經卷三悉地出現品、攝大儀軌卷三、大日經疏卷十一、四卷鈔卷上(俊然)〕
vô sở bất năng
Nothing (he) cannot do, omnipotent.
; Không có gì là không làm được, chỉ Đức Phật—Nothing he cannot do, omnipotent, the Buddha.
vô sở bất trí
Không có nơi nào là không đến được, chỉ Đức Phật—Nowhere he does not reach.
vô sở cầu hành
5093菩提達磨二入四行說中,四行之一。謂既已發心,即不求一切世間欲樂、名聞利養,除上求菩提、下化眾生之外,別無所求之態度與行為,稱為無所求行。若有所求,則處處貪著,必有求不得之苦;若無所求,則無諸苦,得大自在。(參閱「二入四行」167)
vô sở hữu
Avidyamàna (S). Non existing, nothing existing, the immaterial.
; Avidyamana (skt)—Tên khác của “Không”—Non-existing—Nothing existing—The immaterial.
vô sở hữu vọng tưởng tịch diệt pháp
Vikalpa-vivikta-dharma (Niràbhasa) (S). The ruth that is detached from discrimination.
vô sở hữu vọng tưởngtịch diệt pháp
Vikalpaviviktadharma (skt)—Cái chân lý vô tưởng và tách khỏi phân biệt—Truth which is imageless and detached from discrimination.
vô sở hữu xứ
5092梵語 ākiñcanyāyatana 或 ākiṃcanya-āyatana,巴利語 ākiñcañña-āyatana。謂厭患識無邊處,修無所有處定,所感之異熟果;即超越識無邊處定,觀所緣皆無所有,思惟無所有之相,依此行力所生之處。又稱無所有處天。四無色界之第三。無所有處分為二種,即:(一)定,係修證所得之無所有處定。(二)生,乃由彼定所感之異熟果,即無所有處天。與其餘之空無邊處等,同以所繫無覆無記之受想行識四蘊為體。又據大毘婆沙論卷八十四載,此處眾生壽六萬大劫。同論卷一八五載,佛弟子生於九地之最後一地有頂地(即非想非非想地),以該地無聖道,故必依鄰近之無所有處定得阿羅漢果,是以此地為有聖道之最後地。〔中阿含卷二十四大因經、大毘婆沙論卷一三七、俱舍論卷八、品類足論卷七、立世阿毘曇論卷八、集異門足論卷六〕(參 「四無色定」1772)
; Akincannayatana (S). Sphere of Nothingness, Heaven of Formless.
; Xứ thứ ba của Tứ Không Xứ—The state of nothing or non-existence—The third region in the realm of formlessness. ** For more information, please see Tứ Không Xứ (3).
vô sở hữu xứ thiên
Akicannayatana (S), Akicancayatanam (P), Sphere of nothingness Cảnh Tiên thứ ba trong cõi vô sắc giới (cõi vô sở hữu xứ).
vô sở hữu xứ định
Akicanyāyatana-Samādhi (S)Diệt địnhKhi vào phép Diệt định thì tâm trí vượt tới cõi vô sắc giới.
; Akincanàyàtana (S). The contemplation of the state of nothingness, or the immaterial.
; Akincanayatana (skt)—Thiền định đi vào cõi vô sở hữu xứ—The contemplation of the state of nothingness, or the immaterial, in which ecstasy gives place to serenity.
vô sở quán
The contemplation of the immaterial reality behind all phenoma.
; Quán về sự thật phi vật chất đằng sau mọi hiện tượng—The contemplation of the immaterial reality behind all phenomena.
vô sở trú
Apratisthita (S). No means of staying, non abiding.
vô sở trước
5093為佛十號之一。異譯為應供(梵 arhat,巴 arahant,音譯阿羅漢),意指應受人天之供養;蓋佛不著塵染,故稱無所著。長阿含卷二遊行經(大一‧一三中):「歡喜信佛、如來、無所著、等正覺,十號具足。」又與「無著」(梵 anabhiniveśa)同義,即無所執著之意。〔中阿含經卷三十六、灌頂經卷十二、四分律行事鈔卷下三之二〕
; 1) Không bị trói buộc: Not bound by any tie, i.e. free from all influence of the passion-nature. 2) Một danh hiệu của Đức Phật: An epithet of Buddha.
vô sở trụ
Apratisthita (skt)—Không trụ vào đâu—Non-abiding—No means of staying.
vô sở trứ (trước)
Not bound by any tie, i.e. free from all influence of the passion-nature, an epithet of Buddha.
vô sở uý
Xem Vô úy.
Vô sở úy địa
địa vị không còn phải sợ sệt bất cứ điều gì, do chứng đắc được thật tánh của tất cả các pháp.
vô sở đắc
5093梵語 aprāptitva。又作無所有。略稱無得。為「有所得」之對稱。謂體悟無相之真理,內心無所執著,無所分別。反之,執著諸法差別之相,墮入有無邊邪之見,則稱有所得。諸法均由因緣所生,本無自性,以無自性,故無決定相可得,稱為無所得。此即不墮於生滅、常斷、一異、來去等四雙八計之中道正觀。大智度論卷十八(大二五‧一九七中):「諸法實相中,受決定相不可得故,名無所得。」 又菩薩永斷一切生死,出離三界,住於一切智,乃無所得大乘之至極,故菩薩亦稱無所得。北本大般涅槃經卷十七(大一二‧四六四中):「有所得者名生死輪,一切凡夫輪迴生死,故有所見。菩薩永斷一切生死,是故菩薩名無所得。」〔大品般若經卷六、卷二十一、大般若經卷四八九、維摩經卷中、般若波羅蜜多心經、大智度論卷八十四、中觀論疏卷二末〕(參閱「有所得」2433)
; Nowhere, or nothing obtainable, the immaterial universal reality behind all phenomena.
; Khi thể hội được chân lý vô tướng, thì trong lòng không có gì chấp trước—Nothing obtainable, the immaterial universal reality behind all phenomena.
vô sỡ hữu vọng tưởng tịch diệt pháp
Vikalpa-vivikta-dharma (S).
vô sự thiền
5089指無所省悟亦不致力於修業求悟之禪法。此係宋代臨濟宗高僧大慧宗杲自「看話禪」立場來批判東林常總(照覺禪師)之坐禪法。大慧宗門武庫(卍續一四二‧四六五上):「蓋照覺以平常無事,不立知見解會為道,更不求妙悟。」 又此亦為宗杲對同時代的宏智正覺所鼓吹「默照禪」之貶稱。由於正覺主張遠離一切造作,杜絕修證參悟等用心,而強調以「坐空塵慮」來默照靈知,遂被主張藉古則公案來逗發悟機之宗杲貶稱為無事禪、枯木死灰禪。〔大慧普覺禪師普說卷一、宏智正覺禪師卷五小參語錄、淨土指歸集卷下〕
vô tang
Without evidence (trace).
vô tham
5111梵語 alobha。為心所之名。又作不貪、不貪欲。俱舍七十五法之一,唯識百法之一。係「貪」之對稱。為於諸境界無愛染,能對治貪煩惱之精神作用。此心所恆與一切善心相應,故說一切有部將之列為十大善地法之一,唯識家則攝之於善心所中。又此根能生餘之諸善法,故與無瞋、無癡共稱為三善根。又四無量中之捨無量,以此心所為體,能對治欲界之貪及瞋。〔品類足論卷三、順正理論卷十一、成唯識論卷六〕(參閱「三善根」622)
; Alobha (P), Non-greed Tác dụng không tham trước thuận cảnh. Một trong 10 thứ của Đại thiện địa pháp.
; Viràga (S). Absence of desire.
Vô thanh
(無聲): không có âm thanh, không có tiếng. Trong Thi Kinh có câu: “Thượng thiên chi tải, vô thanh vô xú (上天之載、無聲無臭, trên trời chở che, không tiếng không hôi).” Vô thanh còn là một công án trong Thiền Tông, như câu chuyện Phó Đại Sĩ (傅大士) giảng Kinh Kim Cang (金剛經) cho Lương Võ Đế (梁武帝). Sau khi thăng tòa, ông dùng cây thủ xích vỗ xuống bàn một cái, xong bước xuống tòa và trở về phương trượng. Khi ấy, Bảo Chí (寶誌) đứng một bên bảo rằng: “Đại Sĩ giảng kinh xong rồi !” Cũng như trường hợp Tu Bồ Đề (s, p: Subhūti, 須菩提) đang ngồi an tọa trong hang động, bỗng nhiên Thích Đề Hoàn Nhân (釋提恒因) rưới mưa hoa cúng dường. Thấy vậy, Tu Bồ Đề hỏi rằng: “Tại sao vì tôi mà rãi hoa ?”. Đế Thích đáp: “Tôi tôn kính người, khéo thuyết Bát Nhã, nên rưới mưa hoa cúng dường.” Tu Bồ Đề bảo rằng: “Tôi chưa từng thuyết pháp mà !” Đế Thích trả lời: “Người không thuyết, tôi không nghe, đó chính là cốt tủy chân thật của Bát Nhã.” Trong Pháp Hỷ Chí (法喜志) quyển 2 có đoạn rằng: “Hữu thanh chi thời, thị thanh trần tự sanh; vô thanh chi thời, thị thanh trần tự diệt; nhi thử văn tánh, bất tùy thanh sanh, bất tùy thanh diệt (有聲之時、是聲塵自生、無聲之時、是聲塵自滅、而此聞性、不隨聲生、不隨聲滅, khi có tiếng thì tiếng nghe tự sanh; khi không có tiếng thì tiếng nghe tự diệt; cho nên tánh nghe này không theo tiếng mà sanh, chẳng theo tiếng mà diệt).”
vô thanh lậu
1) Một loại đồng hồ nước không gây ra tiếng động: The silent clepsydra. 2) Một loại nhang được làm theo những mẫu tự cổ dùng chỉ thời gian khi được đốt lên: Incense in the shape of ancient characters used to indicate the time.
vô thhượng du già tông
Anuttara yogā tantra (S), nal jor la na me pay jŪ (T).
vô thoái đoạ pháp
5109指小乘聲聞四果中最初之預流果;以此階位之聖者不再退墮於地獄、餓鬼、畜生等三惡趣,故稱無退墮法。俱舍論卷二十三舉出稱為無退墮法之五義(大二九‧一二三中):「以不生長退墮業故;違彼生長業與果故;強盛善根鎮彼身故;加行意業俱清淨故;諸有決定墮惡趣業尚不起忍,況得預流!」
vô thuyết
Abyakata (S), Unexplained Xem Vô hữu.
vô thuyết cú nghĩa
Abhāva-padattha (P)Nguyên lý phi tồn tại.
vô thuyết tương tự quá loại
5135因明用語。古因明之祖足目所立因明「似能破」十四過類之第十。於因明對論中,敵者(問難者)假設立者(立論者)之因(理由)未說以前,其宗亦未能成立,如是則敵者自身招致此過誤。例如佛弟子立「聲是無常(宗),勤勇無間所發故(因)」之量(論式),外教徒欲破斥之,遂謂:「因若是勤勇所發,聲即無常;然未說勤勇所發之前,一切都無所有,即非勤勇所發,其時聲應是常,而非無常。」 蓋立者係依因明規則來立量,敵者若欲破斥之,亦應於因明規則中揀擇過誤,而今敵者妄作立者未說因以前之種種設詞,即已違犯無說相似之過;且敵者既已設定「未說勤勇所發之前」的無因狀態,自身復於無因之中妄加「非勤勇所發」之因來成立「聲為常」之宗,如此更造成「無因增益過」。又此一過誤相當於世親如實論道理難品中所說之「未說難」。〔因明正理門論本、因明論疏瑞源記卷八、因明十四相似過類略釋(惟賢,現代佛教學術叢刊(21))〕(參閱「十四過類」415、「因明」2276)
vô thuỷ
5089梵語 anādikāla, anādikālika。一切世間如眾生、諸法等皆無有始,如今生乃從前世之因緣而有,前世亦從前世而有,如是輾轉推究,故眾生及諸法之原始皆不可得,故稱無始。萬法均從因緣生,亦由因緣滅,言無始即是顯因,若有始則無因,以有始則有初,有初則無因。以其無始,則是有因,所以明有因者,即顯佛法是因緣之義。四十華嚴經卷四十(大一○‧八四七上):「我昔所造諸惡業,皆由無始貪恚癡。」〔勝鬘寶窟卷中末〕
vô thuỷ không
5090梵語 anavarāgra-śūnyatā 或 anagra-śunyatā。十八空之一。與「無際空」同義。萬法由因緣而生,亦由因緣而滅,由此理推之,則世間一切法,實為無始。萬法因緣生,故無自性,無自性故,諸法皆空;因無始以來存在之一切法皆屬空,故稱無始空。〔大品般若經卷三、大方等大集經卷五十四、十八空論、大智度論卷三十一〕(參閱「十八空」353)
; Anavaragra-śŪnyatā (S)Vô hạn không, Vô tiền hậu khôngCác pháp tuy sanh khởi từ vô thuỷ nhưng cũng xa lìa tính chấp thủ đối với pháp này.
vô thuỷ vô chung
5090謂生死之世界,自無始以來,至未來永劫,由於惑業苦之輪迴而無停止之時。或表示法性不變而泯絕對待之關係。關於「無始無終」,經典之記載諸說紛紜:如菩薩善戒經卷一(大三○‧九六二下):「云何名性?性有二種,一者本性,二者客性。言本性者,陰、界、六入,次第相續,無始無終,法性自爾,是名本性。」正法念處經卷五亦謂,眾生為生死所縛而不斷次第流轉,無始無終;又謂眾生在五道迷界中,樂著種種業,因而過著無始無終之生死遊戲;又同書卷七十亦謂,為生死根本之貪瞋癡三毒所煩惱,無始又無終,因此墮於地獄、餓鬼、畜生之網,不得解脫其繫縛,而流轉於生死。阿含經則謂輪迴無始,眾生之苦無際。然輪迴由悟而可解脫,故有終時;對此,法性、法界、真如乃斷離一切差別障礙,法爾自然,不常不斷、不生不滅、不去不來,故以無始無終表示之。此外,通常亦以生死之法性─如來藏為無始無終者;又北本涅槃經卷十八論眾生始終之有無;五苦章句經記載有關化生之無始無終之說法;佛本行集經卷二十二謂大梵天之時間的屬性,為永遠性,即表示無始無終。〔方廣大莊嚴經卷十、法集經卷五〕
vô thuỷ vô minh
5090謂無始以來即恆常存在之無明。為生死流轉之根本惑體。平等法界之理不達,妄隔平等之理性,稱為無明;又如是闇惑之心,隔離理性,故又作間隔。依此無明之間隔而生種種煩惱,造種種業,受種種果報。故勝鬘經、大乘起信論等諸經論稱為無始無明,菩提心論則稱為無始間隔。關於無始之名,有如下三種解釋:(一)就因緣生之理而言,謂凡一切有為法,乃因緣和合而生,現世之果,由前世之因而生;前世之果,更由前世之因而生,如是推究,故知無初始,若以為有初始,即是無因生之外道,而非佛法。(二)就惑體相依之義而言,謂枝末無明依根本無明,根本無明依真如,此乃緣起法自然之理。此時無明為惑之根本,無明之先更無初始之惑法,故稱為無始。依此釋,則無始為根本之異稱,以成無明有始之義。依此義,大乘起信論以忽然念起為無明;天台家稱為元品無明,大乘起信論之注疏家則稱為根本無明。故如忽然、元品、根本等,皆為有始之異稱。大乘經論所說,多依此義。此為去妄歸真之一種教法。乃「權大乘」之義。(三)就真妄同體之義而言,謂真如與無明,乃一法之異稱,如水與冰,冰之自性即為水,無明之自性即為真如。非先為水而後為冰,如言先為水,則僅為教法之方便說而已。〔圓覺經、勝鬘寶窟卷中末、大乘起信論義記卷下末〕(參閱「無明」5094)
Vô thường
無常; S: anitya; P: anicca; nghĩa là không chắc chắn, thay đổi;|Một trong Ba tính chất (s: trilakṣaṇa) của tất cả sự vật. Vô thường là đặc tính chung của mọi sự sinh ra có điều kiện, tức là thành, trụ, hoại diệt. Từ tính vô thường ta có thể suy luận ra hai đặc tính kia là Khổ (s: duḥkha) và Vô ngã (s: anātman). Vô thường là tính chất cơ bản của cuộc sống, không có vô thường thì không có sự tồn tại; vô thường cũng chính là khả năng dẫn đến giải thoát. Có tri kiến vô thường hành giả mới bước vào Thánh đạo (s: ārya-mārga) – vì vậy tri kiến vô thường được xem là tri kiến của bậc Dự lưu (s: śrotāpanna).|Vô thường là gốc của Khổ vì Sinh, Thành, Hoại, Diệt tự nó là Khổ. Tính Vô thường của Ngũ uẩn dẫn đến kết luận Vô ngã, vì không có gì vừa vô thường vừa Khổ lại là một cái Ngã trường tồn được. Ngoài ra, trong Ðại thừa, tính vô thường của mọi pháp dẫn đến kết luận về tính Không.
vô thường
5109梵語 anitya,或 anityatā,巴利語 anicca。音譯阿儞怛也。為「常住」之對稱。即謂一切有為法生滅遷流而不常住。一切有為法皆由因緣而生,依生、住、異、滅四相,於剎那間生滅,而為本無今有、今有後無,故總稱無常。據大智度論卷四十三舉出二種無常,即:(一)念念無常,指一切有為法之剎那生滅。(二)相續無常,指相續之法壞滅,如人壽命盡時則死滅。另據辯中邊論卷中所舉,就遍、依、圓三性而有無性無常、生滅無常、垢淨無常之別。即:(一)遍計所執性,其體全無,稱無性無常、無物無常。(二)依他起性,依他緣生之諸法有生滅起盡,稱生滅無常、起盡無常。(三)圓成實性,其位乃由垢轉變成淨,故稱垢盡無常、有垢無垢無常。上述之說,不僅以緣生有為之諸法為無常,且認為圓成實性之法亦含有轉變無常之義。又據顯揚聖教論卷十四成無常品,舉出無性無常、失壞無常、轉異無常、別離無常、得無常、當有無常等六種;另舉出剎那門、相續門、病門、老門、死門、心門、器門、受用門等八種無常。又大乘阿毘達磨雜集論卷六則明示十二種無常之相,即:非有相、壞滅相、變異相、別離相、現前相、法爾相、剎那相、相續相、病等相、種種心行轉相、資產興衰相、器世成壞相。另入楞伽經卷七無常品中載有外道之八種無常。 此外,觀世相之無常,稱無常觀、非常觀;說明無常旨趣之偈頌,稱無常偈;安置病僧之堂院,稱無常院、無常堂、延壽堂。〔雜阿含經卷一、卷十、卷四十七、北本大般涅槃經卷十四、法句經卷上、維摩經卷上、大智度論卷十九、卷二十三、瑜伽師地論卷十八、成唯識論卷八〕(參閱「常無常」4530)
; Anitya (S), Anicca (P), Aniccata (P), Impermanence Anicca (P)Một trong 4 hành tướng của Khổ đế: Vô thường, Khổ, Không, Phi ngã.
; Anitya (S). Impermanent; the first of the tam minh trividyà; that all things are impermanent, their birth, existence, change, and death never resting for a moment.
; Anitya (skt)—Anicca (p)—Impermanence—Ephemeral. 1) Vô thường nghĩa là không thường, không mãi mãi ở yên trong một trạng thái nhất định mà luôn thay hình đổi dạng. Đi từ trạng thái hình thành, cao to, thấp nhỏ, tan rã, vân vân, đạo Phật gọi đây là những giai đoạn thay đổi đó là thành trụ hoại không. Tất cả sự vật trong vũ trụ, từ nhỏ như hạt cát, thân con người, đến lớn như trái đất, mặt trăng, mặt trời đều nằm trong định luật vô thường—Anitya is the state of not being permanent, of lasting or existing only for a short time, of changing continually. Physical changes operating from the state of formation, to that of development, decay and disintegration are exact manifestations of the law of transformation. All things in the universe, from the small grain of sand, the human body, to the big one such as the earth, moon and sun are governed by the aove law, and as such, must come through these four periods. This process of changes characterizes impermanence. 2) Mọi vật trên đời nầy đều phải thay đổi và hoại diệt; không vật gì thường hằng dù chỉ trong phút giây, hay sát na ngắn ngủi. Mọi vật, mọi hiện tượng đều phải qua giai đoạn sanh, trụ, dị, diệt. Kinh Kim Cang dạy: “Nhứt thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ diệc như điện, ưng tác như thị quán.” Nghĩa là hãy xem các pháp hữu vi, nào khác chi bóng bọt, điểm sương, quán xem tất cả vô thường, sanh sanh diệt diệt như tuồng chớp chăng.” Quán chiếu được sự vô thường của vạn hữu sẽ giúp chúng ta không bị trói buộc bởi sự vật của thế gian—The characteristics of Impermanence—Everything in this world is subject to change and perish; nothing remains constant for even a single ksatna or short moment. Everything, every phenomenon passes through a period of birth, maturity, transformation, and destruction. The Diamond Sutra taught: “Just examine the various conditioned dharma, it is no different than a bubble or dwedrop; observe and realize everything is impermanent, births and deaths are like lightning flashes.” Contemplation on the impermanence of things will help us prevent from being imprisoned by the things of the world. 3) Phật tử chơn thuần nên luôn thức tỉnh rằng: “Muôn vật ở đời vốn không bền vững.” Chung quy cũng nằm trong bốn lẽ “Thành, Trụ, Hoại, Không” mà thôi. Hễ có sanh ra, tức nhiên là có trụ nơi đời một thời gian nào đó, kế đến bị hư hoại đi vào kết cuộc quy về nơi cát bụi. Do tỉnh ngộ như vậy, chúng ta mới thấy thuyết “vô thường” mà Đức Phật đã từng tuyên dạy trong kinh điển là đúng. Bao nhiêu công danh, phú quý, thành đạt trong quá khứ, rốt rồi những thứ nầy có khác nào một giấc mơ hoa. Phật tử chơn thuần phải biết quyền biến, tùy duyên, an nhẫn thì rất có thể các nghịch cảnh, khổ não được chuyển biến thành thuận cảnh. Mọi vật trên đời nầy nếu đã có mang cái tướng hữu vi, ắt có ngày hoại diệt. Đời người cũng thế, hễ có sanh là có tử, tuy nói trăm năm, nhưng so với vũ trụ thì có khác nào ánh điển chớp, hay thoáng tựa sương tan, như hoa hiện trong gương, như trăng lồng đáy nước, như hơi thở mong manh, chứ nào có bền lâu? Tấm thân yêu quý nhứt nầy của chúng ta mà chúng ta còn không thể giữ cho trẻ trung, mạnh khỏe mãi được, mà phải bị đến cái thời chịu các mối khổ sanh, già, bệnh, chết. Thế mới biết tất cả sự vật trên đời nầy đều là vô thường, giả tạm, như mộng, như huyễn, như bọt nước mà thôi. Hết nắng lại mưa, hết mưa trời tạnh, hết mạnh rồi đau, hết vui rồi buồn, hết hợp rồi tan, hết vinh rồi nhục, hết lên xe rồi xuống ngựa, sông dài lúc phẳng lặng, lúc lên thác xuống ghềnh. Phật tử chơn thuần nên luôn biết lẽ vô thường, phải luôn cố gắng tu tập, phải cố gắng biến các nghịch cảnh rủi ro cũng như các điều trở ngại cho mình và cho người thành những hoàn cảnh thuận lợi; phải luôn thức tỉnh, bỏ mê theo ngộ mà lập tâm thêm vững mạnh trên bước đường tu—Sincere Buddhists should always be awakened and realize: “Nothing in this world lasts forever.” In the end, everything is a part of the cycle of “Formation, Existence, Decadence, and Emptiness.” If there is birth, naturally, there will be existence for a certain amount of time, then decay will come, and, in the end, return to dirt and sand. Because we are awakened to these conditions of life, we begin realizing the theory of “Impermanence” the Buddha taught in the sutras is accurate. No matter how much glory, wealth, or success was achieved in the past, in the end, these accomplishments are not any different than a beautiful dream. Sincere Buddhists should know how to adapt and make best of their situations, able cleverly to tolerate and endure various conditions and circumstances of life, then they may be able to transform misfortunes, failures, and sufferings into blessings and happiness. Everything in life, if it has form characteristics, then, inevitably, one day it will be destroyed. A human life is the same way, if there is life, there must be death. Even though we say a hundred years, it passes by in a flash, like lightning streaking across the sky, like a flower's blossom, like the image of the moon at the bottom of lake, like a short breath, what is really eternal? Even our dear bodies, we are unable to maintain its youth, health, and vitality forever because it must endure inevitable sufferings, deterioration, old age, sickness, and death. Everything in life is impermanent, artificial, dream-like, and transient like a bubble in water. After the sunshine, there is rain; after rain there is cessation; after health there is sickness; after happiness there is sadness; after being together there is being apart; after success there is failure; after rise there is fall. Along the long river some stretch are straight, others curve; sometimes it is quite peaceful, other times turbulent and chaotic. Sincere Buddhists should always remember the impermanence of all things, should always try to cultivate, should always turn your misfortunes and setbacks as well as obstacles into advantageous situations; should always awaken, abandon ignorance to see the light of enlightenment, and become more determined to solidify your mind to make firm progress on your cultivated path.
vô thường chung
Chuông dùng để đánh lên khi có người lâm chung trong tự viện—The passing bell, or gong, for the dying.
vô thường chóng qua, sống chết đại sự, đừng để thời gian luống qua vô ích
The wave of impermanence is swift, the issue of life and death is great, try not to let the time pass by in vain (without any cultivation for yourself).
vô thường khánh
See Vô Thường Chung.
vô thường kinh
5110梵名 Anityatā-sūtra。全一卷。唐代義淨譯於大足元年(701)。又稱無常三啟經、三啟經。收於大正藏第十七冊。旨在闡說老病死之難免。本經原或為某經之一部分,未知何時被分出,而用於送葬之時請僧侶讀誦。由本經可窺知佛教徒所行葬法之一斑,實為研究宗教風俗之珍貴文獻。〔開元釋教錄卷九、貞元新定釋教目錄卷十三、釋氏要覽卷下送終部〕
vô thường kệ
5110即「諸行無常,是生滅法;生滅滅已,寂滅為樂」。此偈乃闡釋世間萬物無一得以常住不壞,凡生者必滅;故唯超脫此生滅之世界,始可得寂靜之真理。據北本大般涅槃經卷十四、撰集百緣經卷四、大智度論卷十二記載,釋尊前生為雪山童子,在雪山修行時,為求能由釋提桓因所變之羅剎聞無常偈,而自樹上投身捨命。然此偈原根據阿含部中之涅槃經而來;即法顯譯大般涅槃經卷下所記,佛陀於入滅之際告誡諸弟子(大一‧二○四下):「諸行無常,是生滅法;生滅滅已,寂滅為樂。」
vô thường phong
5110以風之壞物比喻有為法之無常。人命無常,瞬時停止,亦如草露受風吹,迅即消散。大智度論卷二謂,佛陀涅槃之際,長老阿泥盧豆即說如下之偈(大二五‧六九中):「咄世間無常,如水月芭蕉;功德滿三界,無常風所壞。」
vô thường quán
5110又作非常觀。觀法之一種。觀一切萬物之變化無有常法,稱為無常觀。此觀法乃入佛門第一要門,古來先聖多以此為發菩提心之根本。〔光讚經卷七〕
vô thường thân
The teporal body of the Buddha.
vô thường tánh
Aniccata (P), Impermanence.
vô thường tưởng
Thinking on the impermanence.
vô thường tấn tốc
5109請參閱 無常經 [1] 無常,謂一切事物之生滅流轉無靜止之時;迅速,則言其移變之快速。雜阿含經卷四十七(大二‧三四五上):「諸比丘!命行遷變倍疾於彼導日月神。是故諸比丘,當勤方便觀察命行無常迅速如是。」御選語錄卷二洞明妙智永嘉覺禪師(卍續一一九‧一八一下):「生死事大,無常迅速。」以上均是說明歲月不待人,人之遷謝如此迅速。
vô thường viện
Vô Thường Đường—Diên Thọ Đường—Niết Bàn Đường—The nirvana hall—See Niết Bàn Đường.
vô thường y
5110為如來之德號。因一切有為法生滅遷流,無有常住,眾生即隨逐於此無常之有為法中輪轉不已;而如來乃一切眾生於此無常生滅中之所依,故稱無常依。
; The reliance of the impermanent, i.e. Buddha, upon whom mortals can rely.
; Như Lai là chỗ dựa (chỗ y nương) cho hết thảy chúng sanh—The reliance of the impermanent, i.e. Buddha, upon whom mortals can rely.
vô thường điểu
Tên một loài chim khóc tiếng vô thường (chim Đỗ Quyên ở cõi Minh Độ)—The bird which cries of impermanence, messenger of the shades, the goat sucker
vô thường đường
See Niết Bàn Đường.
vô thường ấn
Mudda-aniccam (p)—Vô thường ấn là một trong tam pháp ấn—The mark of impermanence, one of the three dharma-seals—See Tam Pháp Ấn.
vô thường, khổ, không, vô ngã
Anitya, Dukkha, Sunya, Anàtman (S). Impermanence, Suffering, Emptiness, Selflessness.
; 1) Vô Thường: Impermanent. 2) Khổ: Suffering. 3) Không: Empty. 4) Vô Ngã: Non-ego.
vô thượng
Xem vô lượng.
; Anuttara (S). Unsurpassed, unexcelled, supreme, peerless.
; Anuttara (skt)—Unsurpassed—Excellent—Unexcelled—Supreme—Peerless.
vô thượng bảo châu danh hiệu
5073以如意珠比喻阿彌陀佛名號。如意珠乃珠寶中之最上者,故稱無上寶珠。此珠自體清淨,而有拂除穢濁、雨萬寶之妙用。南無阿彌陀佛之名號,乃由阿彌陀佛清淨業所成就之清淨果號,能滅眾生之一切煩惱,圓滿萬德,故以如意珠顯之。往生論註卷下(大四○‧八三九上):「譬如淨摩尼珠,置之濁水,水即清淨。若人雖有無量生死之罪濁,若聞彼阿彌陀如來至極無生清淨寶珠名號,投之濁心,念念之中,罪滅心淨,即得往生。」〔淨土高僧和讚〕
vô thượng bồ đề
5072佛、緣覺、聲聞各於其果所得之覺智,稱為菩提;佛之菩提為無上究竟,故稱無上菩提。三菩提之一。又作諸佛菩提、阿耨多羅三藐三菩提、無上正等菩提、大菩提。大寶積經卷二十八(大一一‧一五七上):「常化諸眾生,心不生疲惓;於無上菩提,堅固不退轉。」(參閱「三菩提」631)
; The supreme bodhi, or enlightenment, that of Buddha.
; Giác ngộ Bồ Đề mà Phật đã đạt được—The supreme bodhi or enlightenment of the Buddha. ** For more information, please see Tam Chủng Bồ Đề.
Vô thượng bồ-đề
無上菩提; S: anuttara-samyaksaṃbodhi; |Giác ngộ cùng tột, Phật quả
vô thượng chánh biến tri
Anuttara-samyak-sambodhi (skt)—A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (Đạo không có cái gì lớn hơn được là vô thượng; đạo chân chánh, không pháp nào là không biết được gọi là chánh biến tri)—Sự giác ngộ hoàn toàn và tối thượng. Toàn trí thông hiểu chân lý chỉ đạt được nơi Phật—Supreme perfect enlightenment or wisdom—Unexcelled perfect enlightenment—The perfect wisdom which comprehends truth that is attained only by a Buddha.
Vô thượng Chánh giác Lưỡng túc Tôn
một trong các danh hiệu tôn xưng đức Phật. Vô thượng: cao trổi hơn hết; Chánh giác: bậc giác ngộ chân chánh; Lưỡng túc Tôn: Bậc đáng tôn trọng vì có đủ phước đức và trí tuệ. Xem thêm Lưỡng túc tôn.
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
xem A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
vô thượng chánh đẳng chánh giác
Anuttara-samyas-saṃbodhi (S)A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
; Anuttara-samyaksambodhi (skt)—The supreme right and balanced state of Bodhi (truth)—The supreme balanced and right state of truth. ** For more information, please see Auttara-samyak-sambodhi in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
vô thượng chánh đẳng giác
See Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác in Vietnamese-English Section.
vô thượng chính biến trí
Supreme perfect wisdom.
Vô thượng chính đẳng chính giác
無上正等正覺; S: anuttara-samyaksaṃbo-dhi; dịch âm là A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề;|Giác ngộ cùng tột, chỉ một vị Phật.
vô thượng chính đẳng chính giác
Anuttara-samyak-sambodhi (S). Supreme and perfect Enlightenment. Also Phật quả, A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề.
vô thượng công đức điền
5071佛陀之美稱。諸福德田中,以佛為最上,故稱無上功德田。大乘本生心地觀經卷二報恩品歎佛六句中,第一即為無上功德田。又為阿彌陀佛之別稱。彌陀之教法,至捷圓頓,三根普被,利鈍全收,由此利益,故稱無上功德田。〔往生要集卷上〕
vô thượng diệu giác
5071如來所得之覺體,不可思議,最勝而無有過之者,故稱無上妙覺。圓覺經(大一七‧九一七下):「無上妙覺,遍諸十方,出生如來。」
; The supreme mystic enlightenment.
; Giác thể mà Như Lai sở đắc là không ai hơn được và không thể nghĩ bàn—The supreme mystic enlightenment.
vô thượng du già
Anuttara-yogā (S).
vô thượng du già tan-tra
Hevajra tantra (S), kye dorje (T)Hô Kim cang Tan-tra.
Vô thượng du-già tan-tra
S: anuttara-yoga-tantra; Hán Việt: Vô thượng du-già đát-đặc-la (無上瑜伽怛特羅).|Tan-tra cao cấp nhất (vô thượng; s: anut-tara) trong bốn loại Tan-tra của Phật giáo. Ba loại khác là Tác (kriyā), Hành (caryā) và Du-già (yoga). Các Tan-tra này nằm trong Ðại tạng của Tây Tạng, thuộc phần thứ bảy trong Cam-châu-nhĩ (t: kangyur) và bao gồm 22 bộ. Hai bộ Tan-tra danh tiếng nhất được xếp vào hạng Vô thượng du-già là Bí mật tập hội (s: guhyasamāja-tantra) và Hô kim cương (s: hevajra-tantra).|Trước khi được Quán đỉnh (s: abhiṣeka), được khai thị vào Vô thượng du-già, hành giả cần phải đi qua những cấp Tan-tra khác đã nêu trên, giữ giới luật (vinaya) nghiêm ngặt để dần dần thanh lọc thân tâm. Trong cấp Vô thượng du-già thì tất cả những nghi quỹ đều được gạt qua một bên, hành giả đã vượt qua thế giới nhị nguyên, tương đối, phụ thuộc.|Hai cấp đầu của Tan-tra được xem là cấp thấp vì ở đây thiếu những yếu tố cần được phân tích bằng Trí và nội dung của chúng không vượt ra khỏi những nghi lễ. Nói chung, Tác và Hành tan-tra là sự giao tiếp với thế giới hiện hữu, vẫn còn nằm trong phạm vi cố định, phụ thuộc.|Ngược lại trên, hai cấp Du-già và Vô thượng du-già tan-tra chứa đựng những mầm mống triết lí cao đẳng của Ðại thừa Phật giáo. Những hành giả thực hành hai Tan-tra này (s: tantrika hoặc sādhaka) phải nắm vững những tư tưởng căn bản của Ðại thừa trước khi bước vào một Vô thượng du-già tan-tra và sau khi đạt yếu chỉ, họ được gọi là là một Tất-đạt (siddha), một Thành tựu giả, »người thành đạt«.|Triết lí nền tảng của Vô thượng du-già là Trung quán (s: madhyamaka), chủ trương nhấn mạnh sự bình đẳng tuyệt đối của Niết-bàn (s: nirvāṇa) và Luân hồi (saṃsāra). Vì thế nên không có sự khác biệt giữa kinh nghiệm thu thập qua các giác quan, thế giới hiện hữu, và kinh nghiệm huyền diệu khi đã đến đích, Niết-bàn. Không có một sự khác biệt nào giữa chủ thể và khách thể, tất cả đều »không hai« (Bất nhị; s: advaya). Sự trực nhận thấy chân lí này chính là niềm vui vô biên (大樂; Ðại lạc; s: mahāsukha) xuất phát từ những vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha), được chư vị trình bày trong các bài ca chứng đạo (s: dohā, dịch âm Hán Việt là Ðạo-bả; 道把).|Các kinh nghiệm giác ngộ của chư vị được trình bày trong các kệ tụng có thể được tóm tắt, trình bày như sau:|Chỉ có Phật mới nhận ra Phật|Mỗi khoảnh khắc của nhận thức là Phật|Tất cả các dạng hiện hữu là thân Phật|Tất cả âm thanh là lời Phật|Tất cả tâm trạng thanh tịnh là tâm Phật|Tất cả hiện hữu đều là Tâm|Không có gì cấu uế, nhưng có ý niệm cấu uế|Ðạo là mục đích, mục đích là Ðạo|Sắc tức là Không, Không tức là Sắc.|Vô thượng du-già đưa ra một loạt phương pháp tu tập thiền định để đạt được kinh nghiệm nói trên. Hầu hết tất cả những phương pháp thiền định (được gọi là Nội du-già) này đều được sự phụ trợ của những nghi lễ, khế ấn, thủ ấn (Ngoại du-già). Những nghi lễ này đều mang một biểu hiện tâm lí thâm sâu và tất cả những nghi quỹ, hành động của hành giả Tan-tra đều không tự có giá trị – chúng chỉ là những biểu tượng tư tưởng của người thực hiện. Kinh nghiệm tối thượng của Vô thượng du-già chính là sự thống nhất, sự hoà hợp của hai yếu tố chính để đạt Niết-bàn, đó là Trí huệ (prajñā) và Phương tiện (upāya). Hai yếu tố này đã đưa đến cho Vô thượng du-già những biểu tượng tính dục nam nữ và trong đây, Trí huệ được xem là nữ tính, Phương tiện thuộc nam tính. Biểu tượng giao hợp (s: yuganaddha; t: yab-yum; Yab-yum) của nam nữ được sử dụng vì trong tục thế, không có biểu tượng nào gần gũi, cô đọng hơn và cũng vì những biểu tượng này mà Vô thượng du-già thường bị hiểu lầm. Vô thượng du-già bộ không được truyền qua Trung Quốc và vì vậy, sử sách ở đây hay gọi sai là »tả (với ý nghĩa tà) đạo« mặc dù tại đây chưa bao giờ có truyền thống, điều kiện tu tập. Dù muốn hay không, mỗi người tu tập đạo – có quyến thuộc hay không quyến thuộc – đều là kết quả của sự giao hợp này và nó chính là sự dung hoà, tổng hợp giữa âm và dương mà ở đâu người ta cũng có thể thấy được (tương ưng với mặt trời, mặt trăng trong vũ trụ,…, các cặp âm dương câu sinh, đối đãi của thế giới hiện hữu). Kết quả của sự phối hợp giữa Bát-nhã (般若; s: prajñā) và Phương tiện (方便; s: upāya) được gọi là Bồ-đề tâm (菩提心; s: bodhi-citta). Trong khía cạnh tuyệt đối (vivṛti), Bồ-đề tâm là một kinh nghiệm thật tại siêu việt, được mô tả bằng nhiều tên như Ðại lạc (mahāsukha), Tự chứng phần (svasaṃvedya), cái Tự có sẵn (Câu sinh khởi, s: sahaja).|Hai đặc điểm khác của Vô thượng du-già là cách sử dụng những Man-đa-la (maṇḍala) và ăn những thức ăn hành lễ. Những Man-đa-la này được vẽ như những bức tranh để các hành giả dùng để thiết tưởng linh ảnh hoặc được vẽ thẳng ngay dưới đất, được sử dụng trong lúc hành lễ. Còn những món ăn bao gồm nhiều loại khác nhau (năm loại thịt,…) và các luận giải cho rằng, các món ăn này có công dụng thanh lọc Thân khẩu ý một cách nhanh chóng.|Về phần nội dung thì hai bộ Bí mật tập hội (guhya-samāja-tantra) và Hô kim cương tan-tra (hevajra-tantra) nói trên tương đối giống nhau, mặc dù Bí mật tập hội ghi rõ hơn về những Nghi quỹ trong lúc thực hành nghi lễ. Các bộ Vô thượng du-già tan-tra đều được ghi lại bằng một ngôn ngữ bí mật, nhiều nghĩa, có thể giảng giải bằng nhiều cách và nếu không có Ðạo sư (guru) truyền lại những khẩu quyết thì không ai có thể thực hành được. Vì lí do này và những lí do khác đã nói, Vô thượng du-già tan-tra được giữ kín, bí mật, chỉ dành cho hạng thượng căn có duyên.|Nói tóm lại, cách tu tập theo Vô thượng du-già với mục đích »Thành Phật trong kiếp này với thân này« rất khó và chỉ có những ai dày công tu luyện, đã đạt tâm vô chấp, những kiến giải nhị nguyên phân biệt đã tan biến phần nào mới có thể bước vào Pháp môn này được.
vô thượng giác
5073無上正等正覺之略稱。覺,為梵語 bodhi 之意譯,音譯菩提,指證得佛智、涅槃之妙理;佛所證得之菩提,為最上而無有過之者,故稱無上覺。菩薩本生鬘論卷三(大三‧三三八上):「自捨己身無所貪惜,共諸眾生證無上覺。」〔無量壽經卷上、七佛經、十住毘婆沙論卷一、仁王經疏卷中(良賁)〕(參閱「阿耨多羅三藐三菩提」3674)
; Supreme perfect enlightenment.
vô thượng giác ngộ
Supreme enlightenment.
vô thượng giới
Supreme shila Giới hạnh cao nhất.
vô thượng huệ
Trí huệ vô thượng của Đức Phật—The supreme wisdom, that of Buddha.
vô thượng hành trì
5071指最上、最殊勝之修行。即於修行佛道時,日夜六時皆勤勤懇懇,精進無間,而無一刻之中斷,即稱無上行持。〔正法眼藏行持〕
vô thượng luân
5073<一>指無常輪。係三輪之一。無常如輪之堅厚,破之不易;又如輪之無終始,輪迴不已,故比喻為輪。欲破無常輪,當明了一切有情、無情皆係無常,能生此覺悟,始能捨無常之有為境相。〔往生要集卷上〕(參閱「三輪」679) <二>謂佛之說法。乃無上法輪之略稱。法華經化城喻品(大九‧二三上):「世尊悉知已,當轉無上輪。」
vô thượng lưỡng túc tôn
5072為佛之尊號。略稱兩足尊。如金光明經卷一(大一六‧三三七上):「十方諸佛,現在世雄,兩足之尊。」法華經方便品(大九‧六下):「無上兩足尊,願說第一法。」此尊號有二義,即:(一)兩足,謂如人類之有雙足。佛於兩足眾生中,乃最尊勝無上者,故稱無上兩足尊。(二)以兩足喻指權實、戒定、福慧、解行等,佛即具足此兩足,而遊行法界,無障無礙。依華嚴經、金光明文句記之意,謂諸佛平等,皆具一切行滿,本願滿,福慧具足,方成正覺。〔大乘本生心地觀經卷二、瑜伽師地論卷八十三、法華玄贊卷三〕(參閱「兩足尊」3070)
; Đấng Hai Chân Vô Thượng—The Peerless Two-Legged Honored One.
vô thượng nhãn
The supreme eye, able to discern the inward significance of all things.
; Vô thượng nhãn có thể biện biệt ý nghĩa sâu kín bên trong của vạn hữu—The supreme eye, able to discern the inward significance of all things.
vô thượng nhẫn
5072堪受真理之智,稱為忍;包括有無生忍、寂滅忍等。無上,乃歎稱之語。大寶積經卷二十二(大一一‧一二三下):「菩薩妙智者,斯道為清淨;速至大安隱,成就無上忍。」
; The highest patient equanimity in receiving the truth; also to believe the truth of impermanence without doubt.
; 1) Pháp Nhẫn hay trí huệ có thể tiếp thụ chân lý: Highest patient equanimity in receiving the truth. 2) Tin nơi lý vô thường không chút nghi ngờ: To believe the truth of permanence without doubt.
vô thượng niết bàn
5072證果之名;以涅槃之果無上,故稱無上涅槃。又若對二乘、外道等所證之有上涅槃而言,則佛所證之果,稱為無上涅槃。
; Unsurpassed Nirvāṇa.
; The supreme nirvàna, that of Mahàyàna.
; Quả Niết Bàn, không quả nào hơn được, đối lại với niết bàn Tiểu thừa—The supreme nirvana, that of Mahayana in contrast with the inferior nirvana of Hinayana.
vô thượng pháp
The supreme dharma, nirvàna.
; Theo Trí Độ Luận, Vô Thượng Pháp có nghĩa là Niết Bàn (trong các pháp không có pháp nào hơn được Niết Bàn)—According to the sastra on the Mha-Prajna Sastra, the supreme dharma is the nirvana.
vô thượng pháp luân
The preaching, or propagation of the supreme dharma.
; Như Lai thuyết pháp giáo hóa chư Bồ Tát—The supreme Buddha's Dharma, the peaching or propagation.
vô thượng pháp vương
The Lord of supreme dharma, Buddha.
; Một danh hiệu của Đức Như Lai—A title of Buddha.
vô thượng phúc điền y
The supreme garment of the field of blessedness, i.e good works.
vô thượng phương tiện
5071阿彌陀佛發願,以方便攝取一切眾生,往生極樂淨土;蓋一切善巧方便無有過之者,故稱無上方便。無量壽經優婆提舍願生偈註卷下(大四○‧八四二中):「此中言方便者,謂作願攝取一切眾生,共同生彼安樂佛國,彼佛國即是畢竟成佛道路無上方便也。」
vô thượng phước điền
The supreme garment of the field of blessedness, i.e. good works.
Vô Thượng Sĩ
(s, p: anuttara, 無上士): một trong 10 hiệu của đức Phật; âm dịch là A Nậu Đa La (阿耨多羅); còn gọi là Vô Thượng (無上), Vô Thượng Trượng Phu (無上丈夫); là trí đức của Như Lai, bậc tối thắng trong loài người, không có sai lầm; nên được gọi như vậy. Ngoài ra, Đẳng Giác Vị (等覺位) trong 52 giai vị của Bồ Tát có tên là Hữu Thượng Sĩ (有上士), và Diệu Giác Vị (妙覺位) của Phật gọi là Vô Thượng Sĩ. Trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 8, Phẩm Như Lai Tánh (如來性品) thứ 4, có giải thích rằng: “Như Lai giả danh Vô Thượng Sĩ, thí như nhân thân đầu tối vi thượng, phi dư chi tiết thủ túc đẳng dã; Phật diệc như thị tối vi tôn thượng, phi Pháp Tăng dã (如來者名無上士、譬如人身頭最爲上、非餘支節手足等也、佛亦如是最爲尊上、非法僧也, Như Lai gọi là Vô Thượng Sĩ, giống như thân người thì đầu là trên hết, không phải là các chi tiết tay chân, vân vân; đức Phật cũng như vậy, là tôn kính trên hết, không phải là Pháp và Tăng).” Trong Phật Thuyết Vô Thường Kinh (佛說無常經, Taishō Vol. 17, No. 801) có đoạn rằng: “Khể thủ quy y Vô Thượng Sĩ, thường khởi hoằng thệ đại bi tâm, vị tế hữu tình sanh tử lưu, linh đắc Niết Bàn an ổn xứ (稽首歸依無上士、常起弘誓大悲心、爲濟有情生死流、令得涅槃安隱處, cúi đầu quy y Vô Thượng Sĩ, thường khởi thệ lớn tâm đại bi, vì cứu hữu tình sanh tử trôi, khiến đạt Niết Bàn an ổn chốn).”
vô thượng sĩ
5071梵話 anuttara,巴利語同。音譯阿耨多羅。佛十號之一。又作無上、無上丈夫。如來之智德,於人中最勝,無有過之者,故稱無上士。又涅槃法無上,佛自知之,如諸法中涅槃無上,佛於眾生中亦最勝無上。此外,相對於菩薩五十二階位中之等覺位(又稱有上士),佛之妙覺位,亦稱無上士。〔南本涅槃經卷八、大智度論卷二、大乘義章卷二十末〕(參閱「十號」480)
; Anuttarapuruṣa (S), Supreme One, UnsurpassedXem Đại sĩ.
; Anuttara (S). Unsurpassed. The peerless noble one, the Buddha.
; Vô Thượng Sĩ, một trong mười danh hiệu của Phật—The supreme master—The peerless nobleman, the Buddha, one of the ten titles of the Buddha.
vô thượng sĩ điều ngự trượng phu
Unsurpassed knight taming hero.
vô thượng sư
Xem A nậu đa la.
vô thượng thượng
5071為佛之德號。即無上無上之意。與最勝同義。南本涅槃經卷五「四相品」之餘(大一二‧六三三下):「無上上者,即真解脫,真解脫者,即是如來。」又為涅槃、解脫之美稱。同書又載(大一二‧六三三下):「解脫者,名無上上,譬如北方之於東方為無上上。解脫亦爾,無有上上,無上上者,即真解脫。」〔諸法最上王經〕
; Above the supreme, the supreme of the supreme, i.e. Buddha.
; Vô thượng thượng là chân vị giải thoát, như đấng Như Lai—Above the supreme, the supreme of the supreme, i.e. Buddha.
vô thượng thượng thừa
The most supreme vehicle, the Mahàyàna.
; Đại Thừa—The most supreme vehicle—See Đại Thừa.
vô thượng thắng trưởng giả
The Elder Unsurpassed Victory.
vô thượng thừa
The most supreme Vehicle—Mahayana—See Đại Thừa.
vô thượng tuệ
Supreme wisdom, that of Buddha.
vô thượng tàm quí y
The supreme garment of sensitiveness to the shameful, the monk's robe.
vô thượng tàm quý y
Y áo của chư Tăng Ni (khi mặc nó vào nó nhắc nhở người mặc luôn biết tàm quý mỗi khi làm điều sai trái)—The supreme garment of sensitiveness to the shameful, the monk's robe.
vô thượng tôn
5072為佛之尊稱。佛乃人天中之最勝者,故稱無上尊。[1] <一>諸佛之尊稱。佛德尊勝,非人天乘所可比擬,故方等大集經卷八有(大一三‧四七中)「是人能禮無上尊」之語。無上尊與十力尊(如來具十智力)、十力無等尊、正覺、一切勝、世尊為同義語。如無量壽經卷上(大一二‧二六五下):「吾當於世,為無上尊。」北本涅槃經卷十一(大一二‧四二九下):「惟願無上尊,哀受我等請。」罪業應報教化地獄經(大一七‧四五二中):「念當勤精進,頂禮無上尊。」十住毘婆沙論卷五易行品對毘婆尸佛、尸棄佛、迦那含佛等,稱為(大二六‧四三下)「歸命無上尊」,此則與最勝尊、無比尊、無極尊、勇猛第一尊、妙法王同義。 <二>為阿彌陀佛三十七號之一。無量壽經卷下(大一二‧二七二下)「稽首無上尊」,即指阿彌陀佛。故據無量壽經等所載,無上尊係指諸佛之通稱或彌陀之別號。〔南本涅槃經卷九、往生要集卷上、無量壽經連義述文贊卷上(璟興)、六要鈔卷三末〕
; The peerless honoured one.
; The Peerless Honored One.
Vô thượng vô sở úy
xem Bậc cao nhất không sợ.
vô thượng y kinh
5072凡二卷。南朝梁代真諦(499~569)譯。收於大正藏第十六冊。本經內容包含:校量功德品、如來界品、菩提品、如來功德品、如來事品、讚歎品、囑累品等七品。敘述雕造佛像之功德,並說佛之三十二相、八十種好、六十八法、十八事等功德,為繼涅槃經、勝鬘經等經之後,主張如來藏思想之經典。世親之佛性論及堅慧之究竟一乘寶性論等,均多處引用本經,故於大乘教理史上,有關法身論、佛性論等之發達,本經佔有重要地位。又東漢時譯者不詳之未曾有經一卷,為本經校量功德品之同本異譯。唐代玄奘所譯甚希有經一卷,為本經校量功德品與囑累品之同本異譯。〔歷代三寶紀卷九、大唐內典錄卷五、譯經圖紀卷四、開元釋教錄卷六、貞元新定釋教目錄卷九〕
vô thượng đăng
The supreme lamp.
; Đèn Niết bàn xua tan bóng tối của dục vọng và ảo ảnh—The supreme lamp—Nirvana lamp that disperse the gloom of passion-illusion.
vô thượng đại quả
5071即佛果。對於等覺而言,稱為無上果;對於二乘小果而言,稱為大果。法華經信解品(大九‧一八下):「法王法中,久修梵行,今得無漏無上大果。」
vô thượng đạo
5073指最上無比大道之佛道。蓋如來所得之道,無有出其上者,故稱無上道。具體稱為菩提。又與正覺、無上正等覺、無上菩提同義。無量壽經卷上(大一二‧二六九中):「我建超世願,必至無上道;斯願不滿足,誓不成等覺。」又為「無上道心」之略稱。指願求無上道之心。又稱為菩提心。據眾許摩訶帝經卷二載,敘述菩薩求無上道一事,在觀彌勒菩薩上生兜率天經中,說明得值遇彌勒而聞法,求無上道成不退轉。此種求無上道之心,即稱無上道心。〔出曜經卷十四、大寶積經卷二十五、彌勒大成佛經、法華經疏(吉藏)〕(參閱「菩提心」5200)
; Unsurpassed Way.
; The supreme way, or truth, that of Buddha.
; Đạo mà Đấng Như Lai chứng đắc không thể ai hơn được—The supreme way or truth of the Buddha.
vô thần
Atheistic—Đôi khi người ta nói Phật Giáo là “Vô Thần” hay là một “tôn giáo không có thần linh.” Tuy nhiên, những lời Phật dạy về “Lục Đạo” đã xua tan quan niệm ấy, vì trong lục đạo, Đức Phật đã nói rõ ràng có chư Thiên, nhưng chư Thiên trong Phật giáo không phải là những vị Thần với quyền năng tối thượng sáng tạo vũ trụ, hay thưởng phạt chúng sanh. Theo Phật giáo, các vị thần có thể được tôn thờ nhằm cho những phước lạc có giới hạn của trần gian, nhưng chính các chư thiên nầy cũng vô thường và tầm thường, không thể thỏa mãn cho việc cầu xin liên hệ tới giải thoát hay Niết Bàn, vốn là những thứ siêu thế gian mà chính họ chưa bao giờ chứng đắc. Bất quá Phật giáo chỉ là vô thần trong ý nghĩ rằng Phật giáo phê bác lý thuyết về một nguyên nhân “Đầu Tiên,” một Thượng đế sáng tạo—It is sometimes said that Buddhism is “atheistic” or a “godless religion.” However, the Buddha's teaching about “the six realms of existence” should surely disperse this notion. The Buddha states clearly that there exists a so-called “the realm of gods” in Buddhism, but gods in Buddhism are not those with almighty powers who can create the universe, or who can reward or punish other creatures. According to Buddhism, the gods may be worshipped for limited and worldly blessings but being impermanent and worldly themselves, they cannot grant prayers concerned with that freedom or Nirvana which is supermundane and which they have not gained. Buddhism is only atheistic in the sense that it rejects as false the theory of First Cause, a Creator God.
vô thần giáo
Atheism.
vô thần luận
5106為否定有神存在之思想。自樹立人格性創造神之基督教立場而言,其他視一切為神,或言世界與神一體化之泛神論,皆可作為無神論加以非難。否定神之思想為十八世紀之法國唯物論者所倡,繼承此說而集大成者為馬克斯主義;主張神、靈魂、精神等,凡是理念之存在皆為物質存在之反映,且以為神之觀念是欺瞞大眾,擁護資本主義之產物。 原始佛教並不承認有一絕對神之存在,基於此,佛教被評為無神論者。印度神話中諸神被佛教採用以後,雖成為生滅眾生之一部分,然非居於絕對之地位。佛教謂最高之存在者為佛,但眾生體悟真理(法)時,即稱為佛,故佛與覺者同義,並非指絕對神。考之史載,釋尊在世時代,佛唯限於釋尊一人。釋尊入滅後,雖釋尊遺言依法不依人,然其弟子們難抑追慕釋尊人格之情,欲求代釋尊之佛,遂興起永遠釋尊與久遠佛之觀念。此際之佛,可稱作神之神(天中天),即具人格神崇拜之意味。因此,信奉對象(本尊)究竟應為法或佛,即成為重大之爭論。且佛教主張佛非在我人之外,乃在其中,即所謂佛性、如來藏之說,亦有說遍滿一切處者。故自此觀點而言,佛教復被評為泛神論。然就「佛乃悟法之眾生」之根本觀念言,佛教實不屬於一神論、泛神論或某種神論,乃不容置疑之事。
vô thắng
Ajita (S). Invincible, unsurpassed, unconquered.
; Ajita (skt)—Invincible—Unsurpassed.
Vô Thắng Phát Hạt
xem A-kỳ-đa Sí-xá Khâm-bà-la.
vô thắng quốc
Vô Thắng Quốc hay Tây Phương Tịnh Độ tọa lạc về phía tây của vũ trụ—The Unexcelled land—The Pure Land located west of this universe.
vô thể
Bodiless.
vô thọ
Without love, craving, attachment.
vô thủy
không có điểm khởi đầu.
; Without beginning, as in the chain of transmigration.
; Vũ trụ vạn vật đều chẳng thể tìm tòi sự bắt đầu, vì thời gian vốn chẳng trước sau, nói trước chẳng có thủy, nói sau chẳng có chung, đây cũng là cái nghĩa các pháp vô sanh.
; Không có cái ban đầu, như mắt xích luân hồi sanh tử (đời nay là do cái nhân đời trước, đời trước là do cái nhân đời trước nữa, cứ thế mà suy mãi lên sẽ thấy là không có sự bắt đầu)—Without beginning, as in the chain of transmigration.
vô thủy dĩ lai
Từ lúc hay trước thời khởi thủy—From or before the very beginning.
vô thủy gián cách
See Vô Thủy Vô Minh.
vô thủy khoáng kiếp
Luân hồi sanh tử không có khởi thủy, mà trải qua nhiều niên kiếp xa xôi dằng dặc—Transmigration which has existed without beginning through vast kalpas.
vô thủy không
Without beginning and unreal, void without beginning, the abstract idea of vô thủy, i.e. without beginning.
; 1) Vô Thủy và Không: Without beginning and unreal. 2) Tánh “không” không có khởi thủy: The “void” is without beginning, the abstract idea of without beginning.
vô thủy vô biên
Chân lý Phật pháp không có khởi thủy mà cũng không có sự chấm dứt—The Buddha-truth is without beginning and infinite.
vô thủy vô chung
Without beginning and without end—Vòng sanh tử luân hồi vô thủy vô chung—The cycle of birth and death or transmigration is without beginning or end.
vô thủy vô minh
Xem Căn bản vô minh.
; The period of unenlightenment or ignorance without beginning, primal ignorance.
; Trước khi một niệm chưa sanh khởi gọi là vô thủy vô minh. Đây là nguồn gốc của ý thức, Thiền tông gọi là thoại đầu, cũng gọi là đầu sào trăm thước. Khi ấy trong tâm thanh thanh tịnh tịnh chưa có thức phân biệt, khi bị ngoại cảnh kích thích nổi lên một niệm thì trở thành nhất niệm vô minh.
; Căn Bản Vô Minh—Nguyên Phẩm Vô Minh. 1) Nguyên Phẩm Vô Minh: Hoặc thể căn bản của luân hồi sanh tử không có sự bắt đầu (không thấu đạt được cái lý tính bình đẳng pháp giới). —Primal ignorance—The period of unenlightenment or ignorance without beginning. 2) Gián Cách Vô Minh: Luân hồi sanh tử không có sự bắt đầu; theo luật nhân quả thì tất cả các pháp hữu vi đều là nhân duyên sanh (quả của hiện tại là do nhân của thời trước mà sanh ra), không thể nào có sự bắt đầu—The period of transmigration which has no beginning; since under the law of causality everything has a cause, therefore no beginning is possible; for if there were a beginning it would be without a cause, which is impossible. 3) Vọng Chân Đồng Thể: Căn bản vô minh và chân như đều cùng một thể—Primal ignorance is without beginning; and the bhutatathata is without beginning, the two terms connoting the same idea.
vô thức
Ajnàna (S). Unknowledge. Also Vô tri.
; Unconsciousness.
vô tiết
Xem ni câu đà.
vô tiền hậu không
Xem Vô thuỷ không.
vô tiền khoáng hậu
Unprecedented
vô tranh
Without strife, debate, or contradiction; passionless; abiding in the "empty" or spiritual life without debate, or without striving with others.
; Không cải, không dính dấp gì đến mọi vật, mà chỉ an trụ nơi “Không Lý.”—Without strife, debate or contradiction; passionless; abiding in the “empty” or spiritual life without debate, or without striving with others.
vô tranh tam muội
The samàdhi in which there is absence of debate or disputation or distinction of self and other.
; Thiền định an trụ nơi không lý, không tranh luận với kẻ khác—The samadhi in which there is absence of debate or disputation, or distinction of self and other.
vô tri
5096梵語 ajñāna。<一>謂內心昏闇,不明事理。小乘有部立有染污無知與不染污無知二種。(參閱「二無知」216) <二>謂真智寂靜而不動,泯絕一切分別,稱為無知。實相無相,真智無智,以其無智,故能無所不知。若心起見,則有不見之相,心性離見,即遍照一切法界之義。淨土論註卷下(大四○‧八三九下):「凡心有知,則有所不知;聖心無知,故無所不知。無知而知,知即無知也。」〔注維摩經卷一并序〕
; Anava (S).
; Ignorant; ignorance; absence of perception. Also, ultimate wisdom considered as static, and independent of differentiation.
; 1) Sự ngu ám không biết rõ sự lý: Ignorant—Absence of perception. 2) Chân trí tối thượng tịch tĩnh, dứt bỏ mọi phân biệt: Ultimate wisdom considered as static, and independent of differentiation.
vô tri tán
NirŪpanastava (S).
vô tri vô giác
Inanimated ignorant.
vô tránh
5137梵語 araṇā。音譯阿蘭那。諍,即諍論,為煩惱之異名。<一>為能令諸有情不生貪瞋癡等煩惱之智,並具有止息他人煩惱之力;唯有佛及阿羅漢具此,為其他有情所不能及之殊勝德力。〔俱舍論卷二十七〕 <二>指無漏,即離煩惱之法。相對於此,有漏即稱有諍,乃有煩惱之法。〔俱舍論卷一〕
vô tránh niệm vương
5137係阿彌陀如來於因位為轉輪聖王時之名。據悲華經卷二載,往昔善持劫時,有轉輪王名無諍念,有一大臣名寶海梵志,其子名寶藏,後出家證菩提,號寶藏如來。如來廣為無諍念王說法,王供養如來及諸聖眾。時寶海梵志勸王及王之千子發菩提心,王即發菩提心,願求清淨國土,寶藏如來遂與之授記,即是西方極樂世界阿彌陀佛。
vô tránh tam muội
5137梵語 araṇa-samādhi。謂住於空理而與他無諍之三昧。在佛弟子中,解空第一之須菩提最通解空理,故於弟子中所得之無諍三昧,最為第一。金剛經(大八‧七四九下):「佛說我得無諍三昧,人中最為第一,是第一離欲阿羅漢。」元賢之金剛經略疏釋之謂,無諍三昧者,以其解空,則彼我俱忘,能不惱眾生,亦能令眾生不起煩惱。又天台宗所說圓教初門之行者,於修一切無漏對治觀練薰修之禪定時,即證聖果,為大力羅漢,具足六通、三明,同時證得無諍三昧。〔大智度論卷十一、注維摩經卷三〕
vô tránh trí
5137諍,煩惱之異名。無諍智,即能令諸有情不生貪瞋癡等煩惱之智。唯有阿羅漢及佛具有此智。〔俱舍論卷二十七〕
vô trí
Ajāna (S), Aāṇa (P), Unknowledge, Mindlessness.
; Lacking wisdom.
Vô Trú
(無住, Mujū, 714-774): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, người Huyện Phụng Tường Mi (鳳翔郿縣, Thiểm Tây), họ Quý (季), thường gọi là Quý Liễu Pháp (季了法). Ban đầu ông tu theo phép Nho Giáo, võ nghệ tuyệt luân. Năm 20 tuổi, gặp được Trần Sở Chương (陳楚璋), đệ tử của Thiền Sư Huệ An (慧安) trên Tung Sơn (嵩山), được mặc truyền tâm pháp, từ đó ông quy y theo Phật Giáo. Vào năm đầu (742) niên hiệu Thiên Bảo (天寳), ông đến Thái Nguyên (太原) tham yết Thiền Sư Tự Tại (自在), rồi xuống tóc xuất gia với vị này và 8 năm sau thọ Cụ Túc giới. Vào năm thứ 2 (759) niên hiệu Càn Nguyên (乾元), ông đến tham yết Thiền Sư Vô Tướng (無相) ở Tịnh Chúng Tự (淨眾寺), thuộc Thành Đô (城都), Tứ Xuyên (四川) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau khi thầy qua đời, vào năm thứ 2 (766) niên hiệu Vĩnh Thái (永泰), ông đến trú trì Không Huệ Tự (空慧寺), rồi tháng 10 năm này cùng với Đỗ Hồng Tiệm (杜鴻漸) tranh luận vấn đáp, khai diễn pháp đốn giáo. Sau ông đến trú tại Bảo Đường Tự (保唐寺) khai đàn thuyết pháp, giáo hóa cho rất nhiều người, cho nên người đời thường gọi ông là Bảo Đường Vô Trú (保唐無住). Vào ngày mồng 3 tháng 6 năm thứ 9 niên hiệu Đại Lịch (大曆), ông an nhiên thị tịch, hưởng thọ 61 tuổi. Đời sau gọi pháp hệ của ông là Bảo Đường Tông (保唐宗).
Vô Trước
無著; S: asaṅga; dịch âm là A-tăng-già (阿僧伽), nghĩa là không bị ô nhiễm, cấu uế, vướng mắc; ~ tk. 4;|Một Ðại luận sư của Phật giáo Ấn Ðộ, người sáng lập Duy thức tông (yogācāra). Sư khước từ quan điểm của Long Thụ (nāgārjuna) về tính Không tuyệt đối và thiết lập giáo pháp của mình dưới ảnh hưởng của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda). Tương truyền Sư được Bồ Tát Di-lặc trực tiếp giáo hoá. Có một số luận sư cho rằng Di-lặc này là một nhân vật lịch sử với tên Mai-tre-ya-na-tha (s: maitreyanātha).||H 76: Vô Trước, được trình bày với ấn Sa-môn (s: śramaṇa-mudrā, dấu hiệu của sự đoạn niệm, từ bỏ, thoát li). Sư mang một mũ đầu nhọn, dấu hiệu tượng trưng cho một Học giả (paṇḍita), ba vòng trên mũ là dấu hiệu của một Pháp sư tinh thông Tam tạng. Bình đất đựng nước phía sau cho biết rằng, Sư là một luận sư Ấn Ðộ, xứ nóng. Bình đất đựng nước có công dụng giữ nước mát dưới ánh nắng gắt vì nước có thể bốc hơi một ít qua vành đất nung và giảm nhiệt. Các luận sư Tây Tạng không được trình bày với bình đất vì họ là người xứ lạnh, chỉ uống trà.|Theo Bà-tu Bàn-đầu pháp sư truyện (tức là Thế Thân truyện) của Chân Ðế (paramārtha), Sư sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn và là người anh cả, Thế Thân (vasubhandu) là người em kế và người em út có tên Tì-lân-trì Bạt-bà (viriñcivatsa). Cả ba anh em đều tu học giáo pháp của Nhất thiết hữu bộ. Riêng Sư chú tâm tu tập để chứng ngộ được lí Không (s: śūnyatā) của Long Thụ nhưng không đạt được. Ðang lúc thất vọng thì một vị A-la-hán tên là Tân-đầu-la (piṇḍola) đến, dạy Sư nhập môn phép quán Không theo Tiểu thừa. Sư theo học và đạt được kết quả nhưng vẫn không thoả mãn. Cuối cùng, Sư vận dụng Thần thông (s: ṛddhi) lên Ðâu-suất thiên (s: tuṣita) để được nghe đức Di-lặc thuyết giảng về tính Không. Về lại nhân thế, Sư truyền bá lí thuyết mới này nhưng không ai tin. Sau, Sư lại lên Ðâu-suất để thỉnh đức Di-lặc xuống giáo hoá và sau đó đức Di-lặc giáng trần, thuyết giảng Thập thất địa (s: saptadaśabhūmi, tức là 17 quyển của Du-già sư địa luận) trong một khoảng thời gian bốn tháng. Trong lúc này, Sư ban ngày thì thuyết giảng những lời dạy của Di-lặc, ban đêm lắng nghe và ghi chép lại những lời thuyết đó. Sau đó, Sư bắt đầu trình bày tất cả giáo lí Ðại thừa qua những trứ tác quan trọng của mình và cũng khuyến dụ Thế Thân, người em cùng mẹ khác cha, vốn theo học giáo lí của Hữu bộ và cũng đã viết bộ luận lừng danh là A-tì-đạt-ma câu-xá (abhidharmakośa-śāstra). Thế Thân nghe lời khuyên của Sư và từ đây, hai anh em trở thành hai Luận sư tối trọng của Ðại thừa Phật pháp, đại diện cho nhánh Duy thức, để lại những tác phẩm vô cùng quý giá cho hậu thế.|Những nhà Phật học ngày nay đều nhất trí rằng, Ðại thừa Phật pháp là sự phát triển tuyệt đỉnh của các giáo lí mà đức Phật lịch sử từng tuyên thuyết nhưng không hẳn là chính lời của Ngài. Trong thời của Vô Trước, giáo lí Ðại thừa này bị nhiều trường phái Tiểu thừa chỉ trích, cho là Dị giáo (s: tīrthikā; p: titthiyā), là giáo lí của tà ma, ngoại đạo. Sư cũng đứng trước vấn đề này và đã tìm cách chứng minh tính chất phù hợp, tiếp nối, phát triển của giáo lí mới, nêu ý kiến của mình trong Nhiếp Ðại thừa luận: »Nếu Ðại thừa là giáo lí sau này của một người nào đó thì Phật đã bảo rằng, đây là một mối nguy hại cho tương lai. Nhưng Ngài đã không nói. Ðại thừa xuất phát cùng thời với Thanh văn thừa (s: śrāvakayāna), không phải thời sau. Nếu như thế thì sao người ta không thể xem nó chính là lời Phật (buddhavacana) thuyết? Giáo lí thâm sâu này không thể hội được qua biện luận nghi ngờ; những giáo lí này không thể nào tìm thấy được trong các Dị giáo luận (tīrthikāśāstra) và nếu nó được thuyết giảng, ngoại đạo cũng không thể hiểu nổi…« Sư nhấn mạnh rằng, ý nghĩa (artha) được trình bày trong Ðại thừa không nhất thiết theo ngôn ngữ trình bày trên giấy mực; nó chính là cái cốt tuỷ nằm sau những lời văn này. Người ta không thể thâm nhập huyền nghĩa nếu chỉ chú tâm, bám chặt vào văn tự.|Theo thuyết của Cao tăng Tây Tạng Tā-rā-nā-tha (t: kun-dgaḥ sñyin-po), Sư đến nhiều vùng tại Ấn Ðộ và xiển dương giáo lí Ðại thừa Duy thức, thành lập khoảng 25 tu viện. Thời gian hoằng hoá của Sư được xem là nằm trong thế kỉ thứ tư, đặc biệt là trong những vùng Tây Bắc Ấn Ðộ, bây giờ thuộc về Pakistan.|Các tác phẩm quan trọng của Vô Trước là Du-già sư địa luận, Ðại thừa kinh trang nghiêm luận, Ðại thừa a-tì-đạt-ma tập luận và Nhiếp Ðại thừa luận, một bộ luận viết bằng văn vần trình bày giáo pháp của Duy thức tông, hiện nay chỉ còn bản dịch chữ Hán và Tây Tạng. Tác phẩm này gồm có mười chương và bàn luận các điểm sau: 1. A-lại-da thức; 2. Lí thuyết cho rằng tất cả thế giới đều từ tâm thức hiện nên, thuần tuý duy tâm (s: cittamātra); 3. Cách chứng ngộ được thuyết này; 4. Các hạnh Ba-la-mật; 5. Thập địa; 6. Giới; 7. Thiền định; 8. Bát-nhã; 9. Trí huệ siêu việt vô phân biệt; 10. Ba thân (trikāya). Có thuyết cho rằng, Sư cũng là tác giả của Bí mật tập hội (guhyasamāja-tantra), một tác phẩm quan trọng thuộc hệ Vô thượng du-già tan-tra, và nếu vậy Sư giữ một vị trí quan trọng trong Mật tông Phật giáo.|Các tác phẩm còn lưu lại dưới tên Sư hoặc dưới tên Di-lặc (trích): 1. Hiển dương thánh giáo luận (pra-karaṇāryaśāsana-śāstra, ārya-śāsana-prakaraṇa-śāstra), 20 quyển, Huyền Trang dịch; 2. Du-già sư địa luận (yogācārabhūmi-śāstra), 100 quyển, Huyền Trang dịch; 3. Nhiếp Ðại thừa luận (mahā-yānasaṃgraha), 3 quyển, Chân Ðế dịch; 4. Ðại thừa a-tì-đạt-ma tập luận (abhidharma-samuc-caya), 7 quyển, Huyền Trang dịch; 5. Ðại thừa kinh trang nghiêm luận tụng (mahāyāna-sūtralaṅkāra-kārikā), 13 quyển, Ba-la-phả Mật-đa-la (prabha-kāramitra) dịch, cũng có bản Phạn và Tạng ngữ; 6. Thuận trung luận (madhyāntānusāra-śāstra), 2 quyển, Bát-nhã Lưu-chi (prajñāruci) dịch; 7. Năng đoạn kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa kinh luận tụng (2 bản, āryabhagavatī-prajñāpāramitā-vajrac-chedikā-saptārtha-ṭīkā và triśatikāyā-prajñāpārami-tāyā-kārikā-saptati); 3 quyển, Bồ-đề Lưu-chi dịch, Nghĩa Tịnh cũng dịch một bản; 8. Giải thâm mật kinh chú (ārya-saṃdhinirmocana-bhāṣya), chỉ còn bản Tạng ngữ; 9. Hiện quán trang nghiêm luận tụng (abhisamayā-laṅkāra-nāmaprajñāpāramitā-upa-deśa-śāstra [-kārikā] thường được viết ngắn là abhi-samayālaṅkāra-śāstra), còn bản Phạn và Tạng ngữ; 10. Biện trung biên luận tụng (madhyānta-vibhāga-kārikā), bản Hán và Tạng ngữ vẫn còn. Có hai bản dịch tại Trung Quốc, Huyền Trang dịch ra 3 quyển, Chân Ðế dịch ra 2 quyển dưới tên Trung biên phân biệt luận; 11. Pháp pháp tính phân biệt luận (dharma-dharmatā-vibhāga).
vô trước
5126梵名 Asaṅga。音譯為阿僧伽。生於西元四、五世紀頃。為古代印度大乘佛教瑜伽行派創始人之一。又稱無障礙。北印度健馱邏國普魯夏普拉(梵 Puruṣa-pura,布路沙布邏)人。依婆藪槃豆法師傳,父名憍尸迦(梵 Kauśika),為國師婆羅門。有兄弟三人,皆稱婆藪槃豆(梵 Vasubandhu)。師初於小乘薩婆多部(說一切有部)出家,因思惟空義,不能得入,欲自殺,時東毘提訶(梵 Videha)有賓頭羅(梵 Piṇḍola)前來為說小乘空觀。師初聞悟入,然對此猶不滿意,乃以神通往兜率天從彌勒菩薩受大乘空觀,歸來如說思惟,遂達大乘空觀。後又數往兜率天學瑜伽師地論等大乘之深義,並集眾宣說之。由是大乘瑜伽之法門傳至四方。師致力於法相大乘之宣揚,又撰論疏釋諸大乘經。其弟世親本習小乘,後依其勸遂歸大乘,竭力舉揚大乘教義。著有金剛般若論、順中論、攝大乘論、大乘阿毘達磨雜集論、顯揚聖教論頌、六門教授習定論頌等。〔金剛仙論卷十、瑜伽師地論釋(最勝子)、大唐西域記卷五阿踰陀國條、南海寄歸內法傳卷四長髮有無條、往五天竺國傳〕
; Mujaku (J), Asaṇga (S), thok may (S), Wu-cho (C), Wuzhuo (C), Mujaku (J)(821-900) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Ngưỡng Sơn Huệ Tịch.
; 1) Không chấp trước đối với sự vật hay không vướng mắc vào bất cứ thứ gì—Unattached—Free—Not in bondage to anything. 2) Tên của Ngài Vô Trước, anh của ngài Thiên Thân Bồ Tát (Thế Thân)—Name of Asanga, brother of Vasubandhu—Vô Trước Bồ Tát, một cư dân của xứ Kiện Đà La, nhưng hầu hết thời gian ông sống ở Ayodhya, ông sống khoảng thế kỷ thứ tư sau Tây Lịch, tức khoảng 1.000 năm sau khi Phật nhập diệt. Thật ra họ gồm có ba anh em, trong đó, Vô Trước là anh cả, người thứ hai là Thế Thân, còn người em út là Virincivatsa. Người ta nói ngài là người đã chuyển hóa và giúp cho Thế Thân trở thành Phật tử Đại thừa. Đầu tiên ông là đệ tử của phái Mahisasaka (trường phái nầy tách rời khỏi phái Vibhaiyavadin vào khoảng thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch), nhưng sau đó ông sáng lập phái Du Già hay Mật Giáo với giáo lý căn bản là bộ Du Già Sư Địa Luận do ông trước tác, có thuyết nói Phật Di Lặc trên cõi Trời Đâu Suất đã thuyết cho ông ghi lại bộ luận nầy. Có thể nói rằng hai anh em Vô Trước và Thế Thân là những nhà tư tưởng có đầu óc sáng tạo, đã tạo nên điều có thể gọi là thời kỳ kinh điển của triết học Phật giáo. Các tác phẩm quan trọng nhất của Vô Trước là Đại Thừa Nhiếp Luận (Mahayana-sampari-graha), Du Già Sư Địa Luận (Yogacara-bhmi-sastra), Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận (Mahayana-sutralankara), . Hai cuốn sau cùng là những cuốn sách quan trọng nhất xét về mặt đạo lý và giáo lý. Cuốn Du Già Sư Địa Luận nguyên bản tiếng Phạn được Rahul-Sankrityayan tìm thấy, được phân ra làm mười bảy 'địa' và mô tả chi tiết con đường giới luật theo trường phái Duy Thức Du Già, là một công trình liên liên kết giữa Vô Trước và Thầy của ngài là Maitreyanatha. Maitreyanatha thì viết còn Vô trước thì chú giải—Asanga Bodhisattva (a native of Gandhara, but lived mostly in Ayodhya, presently Oudh), who lived a thousand years after the Nirvana, probably the fourth century A.D. Asanga and Vasubandhu were born in Purusapura in the Gandhara country. They belonged to a Brahmin family of Kausika and were well versed in Brahminical learning. They were educated in Kashmir where they studied the Vibhasa-sastra. They were in fact three brothers, of whom Asanga was the eldest. Vasubandhu was the second brother, while the youngest was called Virincivatsa. He is said to be the one who helped converted Vasubandhu to Mahayana. He was the first follower of the Mahisasaka school, but founded the Yogacarya or Tantric school with his Yogacarabhumi-sastra, which is said to have been dictated to him by Maitreya in the Tusita heaven. We can say that both Asanga and Vasubandhu are among creative thinkers who brought about what may be called the classical age of Buddhist philosophy. The most important works of Asanga are the Mahayana-samparigraha, the Prakarana-aryavaca, the Yogacara-bhumi-sastra, and the Mahayana sutralankara. The last two works are most important from the ethical and doctrinal points of view. The Yogacara-bhumi-sastra, which in its original Sanskrit form has been discovered by Rahul-Sankrityayan, is divided into seventeen bhumis and describes in detail the path of discipline according to the Yogacara school. The Mahayana-sutralankara is the joint work of Asanga and his teacher Meitrayanatha. The Karikas were written by Maitreyanatha and their commentary by Asanga.
vô trước bồ tát
Asaṃgha (S)Tên một vị Bồ tát.Xem Vô Trước.
vô trước giới
5127為菩薩所持十戒之一。又作不住戒。謂菩薩受持戒時,不著欲界、色界、無色界等之戒,亦即不求於三界受生而住。〔摩訶般若波羅蜜經卷二十三、舊華嚴經卷十二菩薩十無盡藏品〕(參閱「十戒」439)
vô trước hành
5126請參閱 八論 [1]無著,無礙之意。為菩薩十行之第七。謂諸行圓融而無執著障礙。〔舊華嚴經功德華聚菩薩十行品〕(參閱「十行」429)
; Các hành viên dung không chướng ngại—Unfettered action, power to overcome all obstacles. ** For more information, please see Thập Hạnh (7).
vô trước hạnh
Unfettered action, power to overcome all obstacles.
vô trước thiên thân tông
The school of Asanga and Vasubandhu, i.e. Pháp Tướng tông.
; Tông Pháp Tướng do hai ngài Vô Trước và Thiên Thân sáng lập—The school of Asanga and Vasubandhu, or Mahayana Dharmalaksana school. ** For more information, please see Asanga, and Vasubandhu in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section; and Pháp Tướng Tông in Vietnamese-English Section.
Vô Trước Văn Hỉ
無著文喜; C: wúzhù wénxǐ; J: mujaku bun 'eki; hoặc Hàng Châu Văn Hỉ, Long Tuyền Văn Hỉ; 821-900; |Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Quy Ngưỡng. Sư nối pháp Ngưỡng Sơn Huệ Tịch.|Lúc nhỏ, Sư vân du khắp nơi, có dịp yết kiến Văn-thù Bồ Tát tại Ngũ Ðài sơn và sự việc này được biên soạn lại thành một Công án nổi tiếng trong Bích nham lục (35).
vô trạch địa ngục
See Vô Gián Địa Ngục.
vô trần
Dustless, without an atom of the material or unclean, immaterial, pure.
; Không vướng bụi trần hay không vướng các pháp của tam giới—Dustless—Immaterial—Pure—Without an atom of the material or unclean.
vô trần pháp giới
5127請參閱 妙法蓮華三昧祕密三摩耶經請參閱 四分僧戒本 或 曇無德戒本 [1]請參閱 汾陽無德禪師語錄塵者,色、聲、香、味、觸、法等六塵;即三界諸法。法界,為真理之異名,理體清淨,一切三界諸法唯由理緣起,理外無塵境,故稱無塵法界。觀經玄義分(大三七‧二四六上):「無塵法界,凡聖齊圓。」
; The immaterial-realm.
; The immaterial realm out of which all things come.
vô trụ
5085<一>梵語 aniketa。住,所住之意,意為住著之所。指無固定之實體;或指心不執著於一定之對象,不失其自由無礙之作用者。又稱不住。將無住引申為否定固定狀態之用語,故謂「一切諸法無自性,故為無所住」。蓋事物不會凝住於自身不變之性質,人之認識亦不應以固定概念作為其固有本質。般若理論據此作為諸法性空之重要內容。摩訶般若波羅蜜序品載,菩薩行般若波羅蜜時,不應色中住,不應受、想、行、識中住。此因諸法均處於因緣聯繫與生滅無常中,故不應住。 又大智度論卷四十七闡釋無住三昧(大二五‧三九九下):「無住三昧者,是三昧名無住三昧,住是三昧中,觀諸法念念無常,無有住時。」故無住實為現象之共性,但於理論之運用上,亦常作一切現象之本源,成為真如、法性之另一稱謂。維摩詰所說經觀眾生品中之從無住本立一切法,僧肇於注維摩詰經卷六詳釋之(大三八‧三八六下):「法無自性,緣感而起,當其未起,莫知所寄;莫知所寄,故無所住;無所住故,則非有無,非有無而為有無之本。」中觀學派並以無住之空性作為因果報應一切法得以成立之證明,六祖壇經更進一步認為於諸法念念不住,即可使思想不受束縛,而得解脫。〔大寶積經卷四、大方等大集經卷二、大品般若經卷五、卷二十一、卷二十六、成唯識論卷十、梁譯攝大乘論釋卷十三〕 <二>(714~774)唐代禪僧。鳳翔郿縣(陝西)人,俗姓李。又稱李僧、李了法。初修儒術,武藝絕倫。年二十,遇嵩山慧安禪師弟子陳楚璋,默傳心法,遂改歸佛。天寶初年(742 頃),往太原參謁自在禪師,從之剃髮,八年受具足戒。乾元二年(759),參謁無相禪師於四川成都淨眾寺,並嗣其法。無相示寂後,師於永泰二年(766)入空慧寺,十月與杜鴻漸問答,開演頓教之法,後住保唐寺開法,教化大行,世稱保唐無住。大曆九年六月三日坐化,世壽六十一。後世稱師之法系為保唐宗。〔禪源諸詮集都序、景德傳燈錄卷四、龍興佛法編年通論卷十七、五燈會元卷二、禪宗史研究(宇井伯壽)〕(參閱「保唐宗」3723)
; Not abiding; inpermanence; things having no independent nature of their own, they have no real existence as separate entities.
; Chẳng chấp thật thì chẳng trụ một cú nào trong tứ cú, ngay khi đó tự tánh hiện hành, lìa tương đối mà nhập vào cảnh giới tuyệt đối.
; Apratshthita (skt)—Vạn hữu không có tánh độc lập của nó, chúng không có sự hiện hữu thật sự như một thực thể riêng biệt, nên không bám víu vào đâu (chỉ tùy theo duyên mà nổi lên)—Not abiding—Impermanence—Things having no independent nature of their own, they have no real existence as separate entities
vô trụ niết bàn
Apratiṣṭhita-nirvāṇa (S).
vô trụ tam muội
The samàdhi which contemplates all things as temporal and evanescent.
; Tam muội quán chiếu chư pháp là tạm bợ và chóng phai mờ—The samadhi which contemplates all things as temporal and evanescent.
vô trụ xứ niết bàn
5085梵語 apratiṣṭhita-nirvāṇa。又作無住涅槃。為唯識宗所說四種涅槃之一。即不住於生死、涅槃之涅槃,稱為無住處涅槃。菩薩以大悲憐愍有情,故不住涅槃;又以般若濟度有情,故不住生死,此無住處涅槃,即指菩薩之涅槃而言。 據成唯識論卷十載,此為大乘之最高佛果,無住處涅槃,即為真如,斷離所知障,大悲般若常為輔翼,由此不住生死、涅槃,利樂有情,窮未來際,用而常寂,故稱涅槃。〔入楞伽經卷四、大乘莊嚴經論卷二、攝大乘論釋卷十三(真諦譯)〕(參閱「涅槃」4149)
; Phật tại Niết Bàn tự do toàn vẹn, muốn sống bất cứ nơi nào tùy ý. Ngài có thể làm bất cứ cách nào Ngài muốn, và vì rằng Ngài không có trụ xứ cố định, nên Niết Bàn của Ngài được gọi là “Vô Trụ Xứ Niết Bàn.”—The Buddha in Nirvana has a perfect freedom to live any where he pleases; he can act in whatever way he wishes and on that account he has no fixed abode and his Nirvana is called the 'Nirvana of No Abode.”
Vô trụ xứ niết-bàn
無住處涅槃; S: apratiṣṭhita-nirvāṇa; |Niết-bàn
Vô Trụ Ðạo Hiểu
無住道曉; J: mujū dōkyō; 1226-1313; còn được gọi là Nhất Viên (j: ichien);|Thiền sư Nhật Bản dòng Lâm Tế, môn đệ của Thiền sư Viên Nhĩ Biện Viên. Sư diêu du khắp nước Nhật và tham vấn nhiều Thiền sư. Sư có một tác phẩm rất hay, được gọi là Sa thạch tập (沙石集; j: shasekishū; được dịch ra Việt ngữ với tên: Góp nhặt cát đá). Tác phẩm này là một bản sưu tầm những ngụ ngôn, lời dạy của các chư Phật, Tổ và những Thiền sư, rất được ưa chuộng trong giới thiền.
vô trụ đạo hiểu
MujŪ Dōkyō (J)Tên một vị sư.
vô trứ (trước)
Unattached, not in bondage to anything. Name of Asanga, brother of Vasubandhu and others.
vô trứ bồ tát
Xem Vô trước Bồ tát.
vô tu tăng
5111四種僧之一。僧侶依其品位可分為四種僧,無羞僧指破戒而無慚之僧。又稱無慚愧僧。據大智度論卷三載,無羞僧即破戒,身、口不淨,無惡不作之僧。〔十誦律卷三十、法苑珠林卷十九〕(參閱「四種僧」1817)
vô tu vô chứng
5105指究極之境界。於此境界,已然超越修行(修)與體悟(證)等之對立分別。亦即證無所證、修無所修的無為真人之境界。〔四十二章經、臨濟禪師語錄〕
vô tài
Incapable.
vô tài ngạ quỷ
5109餓鬼趣之眾生常苦於饑餓,復因果報不同,而分無財、少財、多財等餓鬼。無財餓鬼全無食物,常陷於饑渴之苦惱,雖偶獲食物,然於將食時,又化作火燄,難以下嚥。(參閱「餓鬼」6366)
vô tàm
5127梵語 āhrīkya 或 ahrī。指做壞事不感羞恥。與「慚」對稱。心所之名。俱舍七十五法之一,唯識百法之一。俱舍宗大不善地法之一,唯識宗隨煩惱之一。即對諸功德不崇敬,又對有德之師長忌難不服;或對己過無羞恥心。此法為欲界所繫,其性不善,為見、修所斷。又與一切之不善心相應而現起,故與無愧共攝於大不善地法。〔俱舍論卷四、成唯識論卷六〕(參閱「慚愧」5810)
; Ahrīkata (S), Ahrīka (S), Unshameful Không biết hỗ thẹn với chính mình. Làm việc ác mà không thấy xấu hổ.
; Ahrika (S). Without shame, shameless.
; Ahrika (skt)—Không thấy xấu hổ khi làm việc ác (gây ra tội lỗi tự xét không thấy xấu hổ gọi là vô tàm, làm điều xấu xa trước mặt người khác mà không thấy thẹn thùng gọi là vô quí)—Without shame—Shameless.
vô tàm ngoại đạo
5128為古代印度外道之一。此外道計執一切眾生之罪福皆為大自在天所作,非人之業報所招感。自在天喜,則眾生安樂;自在天瞋,則眾生苦惱。人間之罪福,歸於大自在天之主宰,人不必為己之行業負責,犯罪而不生慚愧,不墮惡道,猶如虛空不受塵水;生慚愧心,反而墮於惡趣,猶如大水之潤濕於地。〔北本大般涅槃經卷十九〕
vô tàm vô quí
No sense of shame or disgrace—Shameless.
vô tác
5086梵語 akarmaka 或 akṛtrima。指無因緣之造作。又指心無造作物之念,如無作三昧;或謂不假身口意之動作而自然相續之法,如無表色、無作戒等。維摩詰所說經卷下(大一四‧五五四下):「修學無相無作,不以無相無作為證。」〔維摩詰所說經卷上、無量壽經卷下〕(參閱「無作三昧」5087、「無作戒」5087、「無表色」5097)
; Xem Vô nguyện.
; Not creating, uncreated; not doing; inactive physically or mentally; independent of action, word or will, i.e. natural, intuitive.
; Asamskrta (skt)—Vô Vi hay sự tạo tác không có nhân duyên—Pháp không nhờ hành động của thân khẩu ý—Not doing—Passive—Inactive, physically or mentally—Non-causative—Not creating—Uncreated—Not being produced—Not becoming. **For more information, please see Asamskrta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
vô tác giới
5087無作,又作無教、無表。戒體有作戒、無作戒兩種。作戒,謂受戒時如法動作之身、口、意三業,即可見聞之業體;無作戒,謂依此時作戒之緣而生於身中不可見聞之業體。此業體初發之緣,雖由身口意之動作(即作戒),而一旦生起,則不假身口意之造作,而恆常相續,故稱為無作。作戒於身口意動作止息之時亦隨之而滅,無作戒則一生之中恆常相續,具有防非止惡之功能,故稱為無作戒體。此戒體對外境外緣而言,可防非止惡,如十戒、二百五十戒等。故特就能防之體,立此無作戒之名;就所防之外境外緣,則判別為二百五十等相。為發此無作戒,故行作戒。(參閱「戒體三種」2920、「無表色」5097)
; The intangible, invisible moral law that influences the ordinand when he receives visible ordination; i.e. the internal spiritual moral law and its influence; the invisible grace of which the visible ordination is a sign. Also vô tác biểu giới.
; Vô Biểu Giới—Thể của ba nghiệp (thân khẩu ý) không biểu hiện mà chỉ dựa vào nhân duyên lúc tác giới nên không thấy không nghe—The tangible, invisible moral law that influences the ordinand when he receives visible ordination; i.e. the internal spiritual moral law and its influence; the visible grace of which the visible ordination is a sign.
vô tác tam muội
5086指於一切生死法中,離願求造作之禪定。即對一切諸法無所願求,為與苦諦之苦、無常二行相,集諦之因、集、生、緣四行相相應之三昧。又作無願三昧(梵 apraṇihita-samādhi)、無作解脫門、無願解脫門。係三三昧之一,三解脫門之一。〔增一阿含經卷十六、大品般若經卷一、無量壽經卷上〕(參閱「三三昧」521)
vô tác tam thân
5086謂天台圓教之法、報、應三身皆為本有自爾之性佛,不藉因行等造作而存。即法華經所說久遠實成之釋尊,不藉因行之造作,本有自爾之三身相即之性佛。全稱本有無作三身、本地無作三身。天台宗首立此無作三身,係針對權教所論之三身而說,標示其本有無作三身之旨。〔法華經文句卷九下〕
vô tác tứ đế
5087為天台宗智顗大師所立四種四諦之一。此係圓教之說,主張迷悟之當體即為實相;認為大乘菩薩圓觀諸法,事事即理而無有造作。(一)苦諦,謂觀五陰、十二入等法皆即真如,實無苦相可捨。(二)集諦,謂觀一切煩惱惑業,性本清淨,實無招集生死之相可斷。(三)滅諦,謂觀生死、涅槃,體本不二,實無生死之苦可斷,亦無涅槃寂滅可證。(四)道諦,謂觀諸法皆即中道,離邊邪見,無煩惱之惑可斷,亦無菩提之道可修。〔法華經玄義卷二下、天台四教儀集註〕(參閱「四諦」1840)
vô tánh
Asvabhāva (S)Vô tự tánh Tên một vị sư.
vô tánh bồ tát
Agotra (S)Tên một vị Bồ tát.
vô tánh luận
Asvabhāva-prakarana (S)Tên một bộ luận kinh.
vô tâm
5075<一>有多種含義:(一)指離妄念之真心。非謂無心識,而係遠離凡聖、粗妙、善惡、美醜、大小等之分別情識,處於不執著、不滯礙之自由境界。宗鏡錄卷八十三(大四八‧八七五下):「若不起妄心,則能順覺。所以云,無心是道。」(二)指無心定之意,即一時休止一切意識作用之狀態,如五位無心。(三)指迷失本性之心,與「亂心」同義。〔道行般若經、光讚經卷三、摩訶般若鈔經、金剛經、瑜伽師地論卷十三、碧巖錄第六十五則、傳心法要卷下〕(參閱「五位無心」1090) <二>明代臨濟宗僧。湖南平江人,俗姓舒。生卒年不詳。自幼隨母住燕京(北平),年十六於法海寺出家受具足戒,復往參謁南明慧廣,得證心印。萬曆十七年(1589),詔賜紫衣,復受慈聖太后懿旨,與妙峰同送龍藏至雞足山華嚴寺,眾等因之迎師駐錫於大覺寺,開法弘化,滇南禪風因而盛極一時。〔增訂佛祖道影卷二(虛雲)〕
; Mindless, without thought, will, or purpose; the real immaterial mind free from illusion; unconsciousness, or effortless action.
; (I) Vô tâm không có nghĩa là không có tâm, vô tâm có nghĩa là cái tâm không vướng mắc—Mindless—Unintentional—Effortless action—Inconsciousness—Unconscious—Mind of non-existence—Without thought, will or purpose—The real immaterial mind free from illusions—Vô tâm does not mean that we don't have a mind or have no mind, it does mean that we have a mind which is free from attachment to thoughts (free from self-consciousness). (II) Trong Thiền Phật giáo, “Vô Tâm” diễn tả trạng thái tâm thức trước khi nhị nguyên bị phân chia bởi tư tưởng—In Zen Buddhism, “No-Mind” describes a state consciousness before the division into duality created by thought takes place. (III) Chỉ khi nào trong tâm không còn một vật, ấy là vô tâm. Phật dạy, trong tu tập phải lấy pháp vô tâm để chế ngự vọng tâm—Only when the mind is empty (does not have anything); thus it is called “mind of non-existence.” The Buddha taught that in cultivation, practictioners should take this mind to tame the deluded mind.
vô tâm luận
5076全一卷。撰者、刊行年代均不詳。收於大正藏第八十五冊。係以十一項問答,闡論無心之旨;以為能悟「無心」者,即了脫一切煩惱、了悟生死涅槃。本論之敦煌古寫本,現今藏於大英博物館,編號史坦因第五六一九號,標題之下有「釋菩提達磨製」六字。或謂本論純屬他人偽作,因其文內有我國固有術語「太上」二字(大八五‧一二七○上):「問曰:『何名為太上?』答曰:『太者,大也;上者,高也。窮高之妙理,故云太上也。』」不似來自異邦之達磨所說者。或以本論之思想內容與形式,酷似牛頭法融所撰之絕觀論,而疑係法融之作。
vô tâm tam muội
5075梵語 niścinta。謂滅絕分別思量之三昧。為百八三昧之一。指滅盡定、無想定等無心之禪定。大智度論卷四十七(大二五‧三九九下):「無心三昧者,即是滅盡定,或無想定。何以故?佛自說因緣,入是三昧中,諸心心數法不行 。」(參閱「「百八三昧」2480)
; Nisacinta (S).
; The samàdhi in which active thought has ceased.
; Vô tâm định—Tam muội diệt bỏ hết những suy nghĩ phân biệt—The samadhi in which active thought has ceased.
vô tâm vị
5075指任何心識不起時。為「有心位」之對稱。依瑜伽師地論卷十三載,除無心睡眠位、無心悶絕位、無想定位、無想生位、減盡定位、無餘涅槃界位等六位外,其餘皆為有心位。然無餘涅槃界之位一旦若斷盡即不復再生起,前五位則為暫時中止之狀態,一般稱為五位無心位。唯識宗認為八識俱起,然因七、八二識恆常相續不斷,而前五識起作用時,必與第六識俱起,故僅就第六識之起與不起,而說有心或無心。俱舍宗僅立六識,不許二心並起,故六識中任何心識均不起時,稱為無心位。〔成唯識論卷七、成唯識論述記卷七本〕(參閱「五位無心」1090)
vô tâm đạo nhân
5076指對於一切無想、無念、無所求之修行者。傳心法要(大四八‧三八○上):「供養十方諸佛,不如供養一個無心道人。何故?無心者,無一切心也。」〔四十二章經〕
; The hermit or saint in ecstatic contemplation, as with emptied mind he become the receptacle of mystic influences
; Các bậc ẩn tu hay Thánh nhân không còn niệm tướng, sở cầu, mà chỉ chuyên tâm vào yếu pháp (Kinh Tứ Thập Nhị Chương: “Cúng dường Tam Thế Chư Phật, chẳng bằng cúng dường một vị vô tâm đạo nhân)—The hermet or saint in ecstatic contemplation, as with empty mind he becomes the receptacle of mystic influences.
vô tình (a)
Involuntary.
vô tình (chúng sanh)
Inanimate.
vô tình hữu tính
5111為天台宗荊溪湛然所提出之佛性論。佛教一般咸認有情(即一切有情識之生物)方具佛性,湛然據大乘起信論所說「真如緣起」,而認為山川、草木、大地、牆壁、瓦石等無情亦具佛性。其所著金剛錍(大四六‧七八二下):「應知萬法是真如,由不變故;真如是萬法,由隨緣故。」主張此真如即一心,或稱本覺;萬物由一心、本覺隨緣所生,故萬物亦體現一心、本覺。並駁斥反對者,而謂:「子信無情無佛性者,豈非萬法無真如耶?故萬法之稱,寧隔於纖塵,真如之體,何專於彼我?」主張一塵一心即一切生佛之心性,唯通過對真如之認識,始可成佛,而悟及無情亦具佛性。
vô tình thuyết pháp
5111謂山川草木等無情(無情識者),亦住於各自之本分,而有說法之義。說法不僅限於有情識之有情,即如無情識之無情亦能說法,以心耳即得聽聞無情說法。筠州洞山悟本禪師語錄(大四七‧五○七下):「也大奇!也大奇!無情說法不思議,若將耳聽終難會,眼處聞時方可知。」蘇軾亦有偈云(卍續一四七‧四五一下):「溪聲便是廣長舌,山色豈非清淨身,夜來八萬四千偈,他日如何舉似人?」〔景德傳燈錄卷十五〕
vô tín xưng danh
5098僅口稱念佛,然無他力真實之信心。即不信自己之念佛為往生之正因,亦不知彌陀之願行,僅口誦名號而已。
vô tính
5091<一>梵語 niḥsvabhāvatva, niḥsvabhāva, asvabhāva。與「無自性」同義。成唯識論卷九(大三一‧四七下):「若有三性,如何世尊說一切法皆無自性?頌曰:『即依此三性,立彼三無性,故佛密意說,一切法無性。』」〔中論卷三、唯識三十論頌、轉識論〕 <二>梵語 asad-bhāva。指諸法無存在之實體。性,體之意。一切諸法因緣和合而生,緣散則滅,無有實體,故稱無性。〔因明正理門論〕 <三>梵語 a-gotra。法相宗所立五性之第五。指不具三乘無漏種子之有情。全稱無性有情。又作無有出世功德種性、人天乘性、無種性。以其唯具人天有漏種子,故不起出世無漏之智以解脫生死,而永遠沈淪六道不能出離。然彼能修人間之善業,遂得人天之善果,此即所謂「無性闡提」。(參閱「五姓」1107) <四>指無性菩薩(梵 Asvabhāva)。生卒年不詳。著有攝大乘論釋十卷,該書為印度大乘諸論釋部之典籍,由書中引用陳那(五、六世紀頃)之掌中論判斷,無性係陳那之後輩。(參閱「攝大乘論釋」6844)
; Without a nature, nothing has an independent nature of its own.
; Tất cả các pháp không có thực thể của riêng nó nên gọi là vô tính—Without nature—Without characteristics or qualities, absolute in itself—Absence of the mind or nature. Nothing has an independent nature of its own.
vô tính hữu tình
Một trong năm tính được Pháp Tướng Tông nói đến—One of the five natures in the doctrine of the Dharmalaksana school—See Ngũ Tính (A) (5).
vô tư
Impartial.
vô tư cách
Disqualification.
vô tư duy biện luận
Avicara (p)—Non discursive thinking.
vô tư lự
Free from care—Free-minded.
Vô Tướng
(無相, Musō, 684-762): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, họ Kim (金), người đời thường gọi là Kim Hòa Thượng, Đông Hải Đại Sư (東海大師), nguyên gốc thuộc vương tộc Tân La (新羅, Triều Tiên). Sau khi xuất gia và thọ giới tại Quần Nam Tự (羣南寺) bên Tân La, ông theo thuyền sứ nhà Đường sang Trung Quốc, đến yết kiến vua Huyền Tông, trú tại Thiền Định Tự (禪定寺). Không bao lâu sau, ông vào đất Thục, đến Đức Thuần Tự (德純寺), muốn theo hầu Xử Tịch (處寂), nhưng lúc ấy Xử Tịch bị bệnh nên không tham kiến được, ông bèn đốt một ngón tay cúng dường, nhờ vậy mà được phép lưu trú tại chùa này 2 năm. Đến năm thứ 24 cùng niên hiệu trên, Xử Tịch cho môn nhân gọi Vô Tướng đến phó chúc y của Đạt Ma do Trí Tiển (智銑) truyền lại, từ đó ông ẩn cư trong núi và thường sống theo hạnh Đầu Đà (s: dhūta-guṇa, 頭陀行). Sau thể theo lời thỉnh cầu, ông khai mở Thiền pháp, đến sống tại Tịnh Chúng Tự (淨眾寺) ở Phủ Thành Đô (城都府), hóa đạo trong vòng 20 năm. Đến năm cuối niên hiệu Thiên Bảo (天寳), khi đến đất Thục, vua Huyền Tông mời ông đến yết kiến, lấy lễ mà trọng đãi. Vào tháng 5 năm đầu (762) niên hiệu Bảo Ứng (寳應), ông lấy y truyền lại cho Vô Trú (無住), rồi đến ngày 19 thì an nhiên tĩnh tọa mà thoát hóa, hưởng thọ 79 tuổi. Hằng năm vào tháng 12 và tháng giêng, ông thường khai đàn thuyết pháp, trước hướng dẫn theo tiếng niệm Phật, sau thuyết về 3 câu vô ức, vô niệm và mạc vong. Tịnh Chúng Tông (淨眾宗) sau này là thuộc pháp hệ của Vô Tướng. Sự truyền thừa và tông chỉ tông phái này được đề cập trong Trung Hoa Truyền Tâm Địa Thiền Môn Sư Tư Thừa Tập Đồ (中華傳心地禪門師資承襲圖) của Tông Mật (宗密).
Vô tướng
無相; S, P: animitta;|Sự vô tướng, tính Không (s: śūnyatā) của tất cả các Pháp (s: dharma), dấu hiệu của tuyệt đối không phân biệt.
vô tướng
5103<一>梵語 animitta。無形相之意。為「有相」之對稱。大寶積經卷五(大一一‧二九上):「一切諸法本性皆空,一切諸法自性無性。若空無性,彼則一相,所謂無相。以無相故,彼得清淨。若空無性,彼即不可以相表示。」此即謂一切諸法無自性,本性為空,無形相可得,故稱為無相。另據北本大般涅槃經卷三十師子吼菩薩品載,涅槃無色相、聲相、香相、味相、觸相、生相、住相、壞相、男相、女相等十相,故涅槃又稱無相。 此外,賴寶之真言名目載,無相有淺略、深祕二義,即:(一)諸法之體性,如幻虛假,自性為空,一相不存,無色無形,此為淺略之無相。(二)一相之中雖具一切相,然不留一相;此非為無色無形之無相,乃係具一切之相而無一相之義,故為深祕之無相。前者表示顯教遮情之意,後者為真言表德之義。另就「教」而言,可分有相教、無相教;就「行」而言,可分有相行、無相行;就「觀」而言,可分有相觀、無相觀;就「土」而言,可分有相土、無相土。〔大品般若經卷十、卷二十一、卷二十二、大智度論卷十八、卷六十一,百論卷上捨罪福品〕(參閱「有相無相」2437) <二>(684~762)唐代禪僧。俗姓金,世稱金和上、東海大師。原為新羅王族,於新羅之群南寺出家受戒後,開元十六年(728)隨入唐使航海來華。謁玄宗,住禪定寺,未久入蜀,至德純寺,欲師事處寂,時處寂因病不得引見,然無相燃一指供養,遂得留止二年。二十四年,處寂遣人喚無相,付囑從智詵所傳之達磨衣,遂隱山中修頭陀行。後應請開禪法,住成都府淨眾寺,化導二十年。天寶末年玄宗入蜀曾召見之,禮錫豐隆。寶應元年(762)五月,將信衣付囑予無住,十九日坐化,世壽七十九。師於每年十二月及正月設道場說法,先引聲教念佛,次說無憶、無念、莫忘三句。後世之淨眾宗,即指無相之法系。其傳承及教旨,見於宗密「中華傳心地禪門師資承襲圖」。〔圓覺經大疏鈔卷三下、宋高僧傳卷十九、神僧傳卷七、曆代法寶記、景德傳燈錄卷四、禪學思想史卷上(忽滑谷快天)、支那淨土教理史(望月信亨)、禪宗史研究(宇井伯壽)〕
; Animitta (S) Aristaka (S)A Lê TraKhông có tướng mạo, hình dạng.
; Animitta, niràbhàsa (S). Without form, or sign; no marks or characteristics; nothingness; absolute truth as having no differentiated ideas.
; Cảnh giới do lục căn tiếp xúc lục trần cảm biết được, nếu chấp là thật thì có tướng, nếu không chấp là thật thì vô tướng.
; Na-vidyate, or Nirabhasa, or Animitta, or Alakshana (skt)—Formlessness or imagelessness oe shadowlessness. 1) Không có hình tướng: Formless—Signlessness—Without appearance, form, or sign—No marks or characteristics—Nothingness—Have no existence—Is not found—Does not occur. 2) Chân lý dứt tuyệt mọi tướng—Absolute truth as having no differentiated ideas. 3) Niết Bàn: Nirvana. ** For more information, please see Nirabhasa, and Animitta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
vô tướng an lạc hành
5104為「有相安樂行」之對稱。天台宗以理觀為無相安樂行,事誦為有相安樂行。此乃天台宗基於普賢觀經之說,及據南嶽慧思之四安樂行偈文而立。普賢觀經(大九‧三八九下):「樂得六根清淨者,當學是觀,此觀功德除諸障礙,見上妙色;不入三昧,但誦持故,專心修習,心心相次,不離大乘,一日至三七日,得見普賢。」 由上所述,可知無相安樂行,係內在之修法,如修止觀等,以入於心相寂滅、畢竟不生之禪定三昧中;有相安樂行,則不入於禪定三昧中,而以一心誦念法華經之文字為修行。此二者乃殊途同歸之修法,若精進勤修而不懈怠,則不論無相或有相,皆得見普賢上妙之身。〔法華經安樂行義、萬善同歸集卷二〕(參閱「安樂行」2407)
vô tướng bồ đề
Tự chứng đắc giác ngộ bồ đề chứ không học nơi ai mà được—The enlightenment of seclusion, obtained by oneself, or of nirvana, or of nothingness, or of immateriality.
vô tướng chân thật
5104又作真空妙有、無相真有、無相如常、情無理有。即指法相宗所說三性中之「圓成實性」。圓成實性係遠離「我」、「法」二執所顯現之真理,以此真如之理具空(無相)、有(真實)二義,故稱無相真實。無相,謂圓成實性真如之理,離一切妄想,於增益損減無執著,而不偏於空,乃中道之空。真實,謂其理常住不變,不生不滅,而不偏於有,乃中道之有。
vô tướng gia hạnh chướng
The continuance of activity even in the formless world.
vô tướng giáo
5105即無相空教。為判教之名。笈法師立三教,笈多立四教,而劉虬、慧觀、波頗蜜多羅等各將如來一代聖教判立為五教,上述諸師皆以講說一切皆空之教法為無相教,如般若經所說即為無相空慧之法門。相對於此,而稱小乘經為有相教。法相宗以之為第二時空教;華嚴宗以之為空始教;天台宗則於所判五時八教中,以之為第四時般若時,謂於此時挾帶通、別二教而正說圓教,此謂之「帶」。〔法華玄義卷十上〕(參閱「三教」609、「五時八教」1132、「五教」1146、「四教」1759)
vô tướng giải thoát môn
The nirvàna type of liberation.
; Niết Bàn giải thoát, tam muội thứ nhì trong ba tam muội—The nirvana type of liberation, the second of the three samadhis. ** For more information, please see Tam Tam Muội.
vô tướng giới
See Ly Tướng Giới.
vô tướng hảo phật
5104簡稱無相佛。指身雖不具佛之三十二相好,而其德與佛同等者。如尊者優婆毱多,於佛滅後百年出世,為付法藏之第五祖,時人尊崇其德,號為無相好佛。〔付法藏傳卷三〕
; Xem Vô tướng Như lai.
; 1) See Vô Tướng Phật. 2) Ưu Ba Cúc Đa, vị tổ Ấn Độ thứ tư: Upagupta, the fourth patriarch in India—See Nhị Thập Bát Tổ Ấn Độ.
vô tướng không giáo
The Tam luận tông or Màdhyamika school.
vô tướng kinh
Xem Đại Phương Đẳng Vô tướng Đại vân kinh.
vô tướng li niệm
5105 請參閱 大方等無想經 [1]謂理觀之行,離名字、心念之相,即離一切之念慮思想,而達真如之境,故稱無相離念。〔觀無量壽佛經疏卷三〕
vô tướng lạc
Animittasukha (skt)—Sự an lạc của vô tướng, hay cái hạnh phúc của sự không có hình tướng. Một vị Bồ Tát sẽ luôn làm cho mình hưởng đúng cái hạnh phúc vô tướng và cũng làm cho người khác an trú đúng trong Đại Thừa—Bliss of formlessness. A Bodhisattva will always make himself properly enjoy the bliss of formlessness, and will also make others properly abide in the Mahayana.
vô tướng như lai
Nirlaksana-Buddha, Alaksana-Buddha (S). The Buddha without the thirty two or eighty marks, i.e. Nagàrjuna.
vô tướng phúc điền y
5105為袈裟之美稱。簡稱無相衣。因袈裟為出世之服,離有為世染諸相,為生無漏福田之道衣,故稱為無相福田衣。〔四分律行事鈔資持記卷下四之二〕(參閱「袈裟」4784)
; The garment of nothingness for cultivating the field of blessing, i.e. the robe, which separates the monk from earthly contamination.
vô tướng phương tiện địa
5104即大乘起信論所立菩薩十地中之第七地遠行地。因此地之無相觀尚有加行方便之功用,故稱無相方便地。若至第八地以上,則於無相無方便功用。
vô tướng phước điền y
Áo cà sa. Y phục xuất thế, xa lìa các tướng hữu vi thế nhiễm—The garment of nothingness for cultivating the field of blessing, i.e. the robe which separates the monk from earthly contamination.
vô tướng phật
Phật không có 32 tướng hảo hay 80 tướng tốt, như ngài Long Thọ---Nirkasana Buddha—Alaksana Buddha—The Buddha without thirty two or eighty marks, i.e. Nagarjuna.
vô tướng sám hối
Thế nào gọi là sám? Thế nào gọi là hối? Sám là sám những lỗi về trước, từ trước có những nghiệp ác ngu mê, kiêu cuống, tật đố, vân vân, các tội thảy đều sám hết, hằng không khởi lại, gọi đó là sám. Hối là hối những lỗi về sau, từ nay về sau có những nghiệp ác ngu mê, kiêu cuống, tật đố, vân vân, các tội nay đã giác ngộ, thảy đều hằng đoạn, lại không tạo lại, ấy gọi là hối, nên gọi là sám hối. Người phàm phu ngu mê, chỉ biết sám lỗi trước, chẳng biết hối lỗi sau, do vì không hối nên tội trước chẳng diệt, lỗi sau lại sanh. Tội trước đã chẳng diệt, lỗi sau lại sanh, sao gọi là sám hối được—What is repentance and what is reform? Repentance is to repent of past errors, to repent so completely of all bad actions done in the past out of stupidity, confusion, arrogance, deceit, jealousy, and other such offenses, that they never arise again. Reform is to refrain from such transgressions in the future. Awakening and cutting off such offenses completely and never committing them again is called repentance and reform. Common people, stupid and confused, know only how to repent of former errors and do not know how to reform and refrain from transgressions in the future. Because they do not reform, their former errors are not wiped away, and they will occur in the future. If former errors are not wiped away and transgressions are again committed, how can that be called repentance and reform?”
vô tướng tam muội
Animitta-samādhi (S).
vô tướng tam quy y giới
Trong Kinh Pháp Bào Đàn, Lục Tổ Huệ Năng dạy về Vô Tướng Tam Quy-Y Giới như sau: “Nầy thiện tri thức! Quy y giác lưỡng túc tôn, quy y chánh ly dục tôn, quy y tịnh chúng trung tôn. Từ ngày nay trở đi xưng 'Giác' làm thầy, lại chẳng quy y tà ma ngoại đạo, dùng tự tánh Tam Bảo thường tự chứng minh, khuyên thiện tri thức quy y tự tánh Tam Bảo. Phật là 'Giác' vậy, Pháp là 'Chánh' vậy, Tăng là 'Tịnh' vậy. Tự tâm quy y Giác, tà mê chẳng sanh, thiểu dục tri túc hay lìa tài sắc, gọi là Lưỡng Túc Tôn. Tự tâm quy y Chánh, niệm niệm không tà kiến, vì không tà kiến tức là không nhơn ngã cống cao, tham ái, chấp trước, gọi là Ly Dục Tôn. Tự tâm quy y Tịnh, tất cả cảnh giới trần lao ái dục, tự tánh đều không nhiễm trước, gọi là Chúng Trung Tôn. Nếu tu hạnh nầy, ấy là tự quy y. Phàm phu không hiểu, từ sáng đến tối, thọ tam quy giới, nếu nói quy y Phật, Phật ở chỗ nào? Nếu chẳng thấy Phật thì nương vào chỗ nào mà quy, nói lại thành vọng. Nầy thiện tri thức! Mỗi người tự quan sát, chớ lầm dụng tâm, kinh văn rõ ràng, nói tự quy y Phật, chẳng nói quy y với Phật khác, tự Phật mà chẳng quy, thì không có chỗ nào mà y được. Nay đã tự ngộ, mỗi người phải quy y tự tâm Tam Bảo, trong thì điều hòa tâm tánh, ngoài thì cung kính mọi người, ấy là tự quy y vậy.”—In the Dharma Jewel Platform Sutra, the Sixth Patriarch taught about the Precepts of the Triple Refuge That Has No Mark as follows: “Good Knowing Advisors, take refuge with the enlightened, the honored, the doubly complete. Take refuge with the right, the honored that is apart from desire. Take refuge with the pure, the honored among the multitudes. 'From this day forward, we call enlightenment our master and will never again take refuge with deviant demons or outside religions. We constantly enlighten ourselves by means of the Triple Jewel of our own self-nature.' Good Knowing Advisors, I exhort you all to take refuge with the Triple Jewel of your own nature: the Buddha, which is enlightenment; the Dharma, which is right; and the Sangha, which is pure. When your mind takes refuge with enlightenment, deviant confusion does not arise. Desire decreases, so that you know contentment and are able to keep away from wealth and from the opposite sex. That is called the honored, the doubly complete. When your mind takes refuge with what is right, there are no deviant views in any of your thoughts. because there are no deviant views, there is no self, other, arrogance, greed, love, or attachment. That is called the honored that is apart from desire. When your own mind takes refuge with the pure, your self-nature is not stained by attachment to any state of defilement, desire or love. That is called the honored among the multitudes. If you cultivate this practice, you take refuge with yourself. Common people do not understand that, and so, from morning to night, they take the triple-refuge precepts. They say they take refuge with the Buddha, but where is the Buddha? If they cannot see the Buddha, how can they return to him? Their talk is absurd. Good Knowing Advisors, each of you examine yourselves. Do not make wrong use of the mind. The Avatamsaka Sutra clearly states that you should take refuge with your own Buddha, not with some other Buddha. If you do not take refuge with the Buddha in yourself, there is no one you can rely on. Now that you are self-awakened, you should each take refuge with the Triple Jewel of your own mind. Within yourself, regulate your mind and nature; outside yourself, respect others. That is to take refuge with yourself.”
vô tướng tri thức
Nirabhasa-buddhi (skt)—The shadowless (imageless) awareness.
vô tướng trạng
Alakkhaṇa (P), Alakṣaṇa (S), Without characteristics.
vô tướng tâm địa giới
5103全稱無相金剛心地戒、無相戒。為大乘戒,以離一切定相堅固不壞之佛心為戒體。戒相有梵網經之十重四十八輕戒。此為禪門正傳之佛戒。而天台宗所傳之戒,稱圓頓無作戒;密宗所傳之戒,稱祕密三摩耶戒;各家皆以其宗義而稱其所傳之戒。〔敦煌本六祖壇經〕
vô tướng tông
Vô Tướng Đại Thừa—Vô Tướng Giáo—Vô Tướng Không Giáo—Tông Tam Luận cho rằng “y tha vạn pháp duyên sinh tức không” (trong khi Pháp Tướng Tông cho rằng “y tha vạn pháp duyên sinh phi không”)—The San-Lun or Madhyamika school because of its “nihilism”
vô tướng tư trần luận
Anākāra cintā rājas śāstra (S)Tên một bộ luận kinh do ngài Trần Na biên soạn.
vô tướng vô lượng
Cái gì không có hình tướng và không thể đo lường được thì gọi là “tế”—That which is without form and measurement is called “fine” or “impalpable.”
vô tướng y
Y áo không có hình tướng bên ngoài—The robe without form—Áo cà sa không có hình tướng, mà chỉ mà một mảnh vải vuông—The Kasaya is without form in the sense that is simple a square sheet of cloth.
vô tướng đạo
Animittapatha or Animittadishthana (skt)—Vô tướng đạo hay vô tướng xứ, nghĩa là con đường hay chỗ ở của vô tướng—Abode of formlessness.
vô tướng định
Nirabhasa (skt)—Dịnh không khởi lên một dấu hiệu nào về hình ảnh—Concentration on the signless (imageless).
vô tưởng
5123梵語 asaṃjñā。指全無想念之狀態。或指入滅盡定,證得無想果者。或為無想天之略稱。(參閱「無想天」5123、「無想果」5124)
; Without thought, absence of thinking.
; Asannasatto (p)—Asamjni (skt)—Không còn suy tưởng—Without thought—Absence of thinking—Senseless—Not having full consciousness—Non-conscious—Non-perception.
vô tưởng giới
Vô tưởng xứ, cõi trời thứ tư trong Tứ thiền thiên, nơi mà mọi suy nghĩ và ý tưởng đều ngưng bặt—Brahmaloka, the fourth in the four dhyana, where thinking or necessity for thought ceases.
vô tưởng luận
5124係認為眾生於死後生於無想天之見解。於古代印度外道所執六十二種錯誤見解中,屬於執著未來所起之常見。瑜伽師地論卷六共列舉八種,又稱八種無想論、八無想論。即:有色無想、無色無想、亦有色亦無色無想、非有色非無色無想、有邊無想、無邊無想、亦有邊亦無邊無想、非有邊非無邊無想。前四種見解分別順次執著我為色、命根、色及命根、非色非命根,死後皆生於無想天。後四種見解中,有邊與無邊之別,係由於執著我為色法、無色法,且我之「量」狹小,故稱為有邊;執著我為色法、無色法,且遍於一切處,故稱為無邊。〔長阿含卷十四梵動經、大毘婆沙論卷一九九〕(參閱「六十二見」1241)
vô tưởng môn
Parinirvana.
vô tưởng quả
5124梵語 āsaṃjñika。指修無想定,死後升入無想天之一種果報。又作無想報、無想事、無想異熟。心不相應行法之一。謂生無想天者,其心、心所悉滅,而呈無意識之狀態。外道謂此為真涅槃界,故於現世修無想定,死後則生於彼天。蓋以無想定為因,感得一種非色非心之境界,使心、心所不生,此非色非心之境界,乃無想定之異熟果,故稱無想果。阿毘曇毘婆沙論卷四十四(大二八‧三三三中):「凡夫人入無想定,得無想果。」〔俱舍論卷五〕
; Asamjnika (S)Thật pháp trong cõi Trời Vô tưởng khiến cho tâm, tâm sở đều diệt.
Vô tưởng thiên
tức là cảnh giới Vô sở hữu xứ (Asaṃjđisattvḥ), thuộc Vô sắc giới, nằm dưới cảnh trời cao nhất là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Người tu thiền đạt đến Vô tưởng định thì thần thức đạt đến cảnh giới Vô tưởng thiên.
vô tưởng thiên
5123無想,梵名 Asaṃjñisattvāḥ。又作無想有情天、無想眾生天、少廣天、福德天。色界天之一。即修無想定所感之異熟果報。生此天者,念想滅盡,僅存色身及不相應行蘊,故稱無想天。此天為外道婆羅門之最高涅槃處,亦為異生凡夫以「出離想」作意,修無想定,所感得的異熟之果報,稱為無想果,或無想異熟、無想事、無想報。此天之位置,有部與經部攝之於第四禪天之廣果天,不另立別處;上座部則於廣果天之上,別立無想天一處。此外,此天眾生之身長有五百由旬,壽命為五百大劫(立世阿毘曇論卷七謂一千大劫),壽終之時,再生念想,而墮欲界。〔起世經卷八、俱舍論卷五、瑜伽師地論卷四〕
; Avihadeva (P), Asannasattadeva (P), Realm of Thoughtless devas.
; Avrha (S). The thirteen Brahmaloka, the fourth in the fourth dhyana where thinking, or the necessity for thought ceases. Also vô tưởng giới, vô tưởng xứ.
; Asamjni-sattvah (skt)—The heaven above thought—Thoughtless Heaven—Những cõi trời sắc giới—A group of heavens in the world of matter.
vô tưởng định
5123梵語 asaṃjñā-samāpatti。指能於定中心想不起,猶如冰魚、蟄蟲,但不能斷惑而證入聖果。心不相應行法之一,俱舍七十五法之一,唯識百法之一。乃心、心所(心之作用)滅盡之定,即使一切心識活動全部停止,以求證得無想果所修之禪定;與滅盡定並稱為二無心定。此定為凡夫及外道所修,即彼等誤信色界第四禪無想天之果報為真悟境。又修此定所得無想天之果報,稱無想果或無想事。蓋無想定屬心不相應行法,依之在五百大劫之間得滅心、心所。諸宗派對此定有各種異說,有部主張無想定、無想果皆有實體,然經部、唯識宗卻稱其為虛假者。〔品類足論卷一、俱舍論卷五、順正理論卷十一、成唯識論卷七〕(參閱「滅盡定」5509)
; Asamjni-samāpatti (P)Định đoạn diệt 6 thức tâm vương, 5 biến hành, 5 biệt cảnh, 11 thiện, toàn bộ 22 pháp. Định vô tâm tu đắc do chứng được Vô tưởng quả.
; The concentration in which all thinking ceases in the desire to enter vô tưởng thiên.
; Phép thiền định diệt tất cả tâm tưởng—The concentration in which all thinking ceases, in the desire to enter avrha.
vô tượng tĩnh chiếu
5116(1234~1306)日本臨濟宗僧。鎌倉人。早年師事東福寺圓爾。建長四年(1252)來華,入徑山(浙江)從石溪和尚參禪,得印證。後遊歷諸山,文永二年(1265)回國。曾歷任諸寺住持,後住持鎌倉淨智寺,致力於宗風之宣揚。德治元年示寂,世壽七十三,敕諡「法海禪師」。著有興禪記、無象和尚語錄等。師所傳之法系稱為法海派、佛心寺派,為日本禪宗二十四流之一。〔延寶傳燈錄卷三、本朝高僧傳卷二十一〕
vô tầm vô tứ định
Avitakko (p)—Trạng thái định trong đó không còn lý luận xét đoán—Non reasoning and judgment.
vô tận
5132梵語 akṣaya。謂無窮無際。無為法離生滅之相,謂之無盡;有為法之緣起,一多相即,亦謂之無盡。又無為法之無盡係權教所說,有為法之無盡則實教所說。於華嚴宗則以無盡為圓融無礙之意,主張一切存在之自身皆可為主體或客體,而不論主體或客體皆融通無礙而了無矛盾,此即所謂主伴無盡;由此形成一切法「相即相入重重無盡」之法界緣起(或無盡緣起)思想。即如華嚴經探玄記卷一、華嚴五教章卷一所載,於華嚴一乘圓教,一切法主伴具足,緣起無礙而重重無際,謂之無盡佛法。 又以無盡之寶藏稱為無盡藏,乃比喻含藏無限之功德,如新華嚴經卷十八明法品說菩薩能得「善見諸佛」等十無盡藏,同經卷二十一「十無盡藏品」亦說得「信藏」等十無盡藏,卷二十五迴向品說得「見佛」等十無盡藏,皆依無盡法界之義而說。 此外寺院蓄積金錢貸與他人,依複利法所生之利息作為供養三寶之用,稱為無盡財;於我國稱為長生錢或庫質錢。日本所行之無盡講(又稱無盡)即淵源於此。又一人聞法後,以所聞之法開導多數人,復由多數人開導更多人,此猶如一燈一燈遞移,點燃無數之燈,於維摩經卷上菩薩品稱此為無盡燈。〔新華嚴經卷三十四、卷三十九、卷四十、大智度論卷八十、仁王護國般若波羅蜜多經疏卷下三、華嚴五教章卷四、宋高僧傳卷十五、卷二十、禪林象器箋錢財門、佛教經濟思想研究〕(參閱「無盡藏」5134)
; Akchaya (S), Aniṣṭhita (S), Endless, Limitlessness Aniṭṭhita (P).
; Ananta (S). Inexhaustible, without limit.
; Bất tận—Timeless—Inexhaustible—Without limit—Endless. • Quyền Giáo dùng từ “vô tận” khi nói về chân lý tuyệt đối: The temporal or functional teaching applied the term to noumenal or absolute, being considered as infinite. • Thực Giáo dùng từ “vô tận” khi nói về hiện tượng vô tận: The real or reliable teaching applied the term to the phenomenal, being considerd as infinite.
vô tận duyên khởi
Unlimited causation, or the unlimited influence of everything on all things and all things on everything; one of the Hoa Nghiêm tứ chủng duyên khởi. Also pháp giới duyên khởi.
; Một trong Tứ Duyên Sanh, tất cả các pháp cùng nhau làm duyên, hay ảnh hưởng không giới hạn của một vật trên mọi vật và của mọi vật trên một vật (theo một pháp mà dấy lên muôn pháp, duyên muôn pháp mà dấy lên một pháp hay trùng trùng duyên khởi)—Unlimited causation—Unlimited influence of everything on all things and all things on everything, one of the Hua-Yen four principal uses of conditional causation. ** For more information, please see Duyên Khởi, Pháp Giới Duyên Khởi, and Tứ Duyên Khởi.
vô tận huệ vô lượng ý bồ tát
Xem Vô Tận ý Bồ tát.
vô tận hải
The Buddha-truth as inexhaustible as the ocean.
; Phật pháp vô tận ví như biển cả rộng lớn—The Buddha-truth as inexhaustible as the ocean.
vô tận tạng
5134<一>意謂含藏無窮之德。又作無盡藏海、無盡法藏。即真如法性之理海廣闊無邊,包藏一切萬象。(參閱「無盡」5133) <二>寺院將信徒奉獻之財物或剩餘之財物貸與他人,以所得之利息充作伽藍之修繕、維持等費用。又稱無盡財、長生錢、庫質錢。釋氏要覽卷下寺院長生錢條(大五四‧三○四中):「律云無盡財,蓋子母展轉無盡故。」 此風源自印度,據有部毘奈耶卷二十二出納求利學處之記載,比丘為修補伽藍而接受無盡施物,然因佛陀曾禁止比丘轉售施物,遂將受施之物置於房庫中,後施主發現寺院未作修繕,即有所責難,比丘將此事稟告佛陀,佛陀遂指示:若為修補伽藍,可將無盡施物輾轉生利。 我國在南北朝時代,信眾基於福田思想亦行無盡藏法。隋代之三階教徒盛倡無盡藏法,唐高祖武德年間(618~626),信義在長安化度寺設置「無盡藏院」,以統一經營無盡藏。太宗貞觀年間(627~649),無盡藏院集蓄錦帛金玉等無盡財,提供天下諸寺院修繕之用。貞觀二十三年(649),無盡藏院舉行無盡藏施,普施供養全國僧俗。則天武后如意元年(692),又於大福先寺行無盡藏施。長安年間(701~704)、景龍二年(708)及四年,化度寺分別舉行無遮大會。然唐玄宗於開元元年(713)敕命破壞化度寺之無盡藏院,十三年,禁斷三階教。 初時,借貸無盡藏之手續十分簡便,不須文件限制,僅要求在約定之日期歸還。然至宋代,諸大寺院或經濟富裕之寺院,爭相設置長生庫(無盡藏院)以圖利,形成高利貸。〔摩訶僧祇律卷三十三、宋高僧傳卷十五、卷二十、松屋筆記卷六十七、禪林象器箋錢財門〕(參閱「長生庫」3591) <三>唐代比丘尼。韶州(廣東)曹侯村人,俗姓劉。生卒年不詳。師常誦大涅槃經,時值六祖欲往黃梅參謁五祖弘忍而途經韶州,聽師誦經,遂為解說。師乃執經卷問字,以為若不識字,即無法會義,六祖則謂諸佛妙理非關文字。師極感驚異,乃遍告里中耆宿大德,推崇六祖為有道之士,宜供養之。其時寶林古寺因隋末之兵火戰亂,已頹圮不堪,遂於故基重建梵宇,延請六祖居之,說法弘化,未久復成寶坊。〔釋氏稽古略卷三六祖慧能大士尊者傳、傳法正宗記卷六震旦三十三祖慧能尊者傳、增訂佛祖道影卷四(虛雲)〕
; Xem Vĩnh cữu.
; The inexhaustible treasury.
; Đức bao hàm vô tận—The inexhaustible treasury.
vô tận ý
Inexhaustible intention or meaning.
; Inexhaustible intention, or meaning.
vô tận ý bồ tát
5133梵名 Akṣayamatir bodhisattvaḥ。又作無盡慧菩薩、無量意菩薩。賢劫十六尊之一。為密教金剛界曼荼羅三昧耶會外壇北方五尊中西端之菩薩。此菩薩因觀一切事象之因緣果報皆為無盡,而發心上求無盡之諸佛功德,下度無盡之眾生,故稱無盡意菩薩。密號定惠金剛、無盡金剛。種子為???(vi),三昧耶形為上雲澤五色雲。其形像呈白肉色,左手握拳置腰間,右手持花雲。依大方等大集經卷二十七無盡意菩薩品載,此菩薩出現於東方不眴國普賢如來之世界。〔法華經觀世音菩薩普門品、大寶積經卷一一五、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷三、阿差末菩薩經、法華玄贊卷十二末〕
; Akṣayamati (S)Vô tận huệ vô lượng ý Bồ tátTên một vị Bồ tát.
; Aksayamati Bodhisattva (S). A Bodhisattva to whom Sàkyamuni is supposed to have addressed the Avalokitesvara chapter, in the Lotus sùtra. Inexhaustible Bodhisattva.
; Tên của ngài A Sai Mạt Để Bồ Tát mà Đức Phật nói đến trong Kinh Pháp Hoa, Phẩm Quán Thế Âm—Infinite Resolve Bodhisattva, name of Aksayamati, a bodhisattva to whom sakyamuni is supposed to have addressed the Avalokitesvara chapter in the Lotus Sutra.
vô tận đăng
5133乃以燈火之無盡喻教化之無盡。謂以一人之,輾轉開導百千人而無盡,猶如以一燈燃百千燈,光明終不盡,故稱無盡燈。後世用為長明燈之別名。〔維摩經卷上菩薩品〕(參閱「無盡」5133)
; The one lamp which is yet limitless in the lighting of other lamps; the influence of one disciple may be limitless and inexhaustible; also an altar light always burning.
; 1) Một cây đèn làm mồi cho những cây đèn khác mà không bao giờ hết: The one lamp that is yet limitless in the lighting of other lamps. 2) Đem pháp của một người dẫn dắt và truyền trao cho nhiều người mãi mà không hết: The influence of one disciple may be limitless and inexhaustible. 3) Kính cứ phản chiếu mãi không hết: limitless mirrored reflections. 4) Đèn trên bàn thờ cứ cháy mãi không tàn: An altar light always burning. 5) Theo Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Bồ Tát, Ma Vương giả làm Trời Đế Thích, đem hiến một muôn hai ngàn thiên nữ cho Bồ Tát Trì Thế—According to the Vimalakirti Sutra, Chapter Bodhisattvas, a demon pretended to be Indra, offered twelve thousand goddesses (devakanya) to the Bodhisattva Ruler of the World. • Ma vương nói với Trì Thế: “Thưa Chánh sĩ! Xin ngài nhận một muôn hai ngàn Thiên nữ nầy để dùng hầu hạ quét tước.”—The demon said to the Ruler of the World Bodhisattva: “Bodhisattva, please take these twelve thousand goddesses who will serve you.” • Trì Thế nói rằng: “Nầy Kiều Thi Ca! Ông đừng cho vật phi pháp nầy, tôi là kẻ Sa Môn Thích tử, việc ấy không phải việc của tôi.”—The Ruler of the World Bodhisattva replied: “Sakra, please do not make to a monk this unclean offering which does not suit me.” • Nói chưa dứt lời, bỗng ông Duy Ma Cật đến nói với Trì Thế: “Đây chẳng phải là Đế Thích, mà là Ma đến khuấy nhiễu ông đấy!” Ông lại bảo ma rằng: “Các vị Thiên nữ nầy nên đem cho ta, như ta đây mới nên thọ “Even before the Ruler of the World Bodhisattva had finished speaking, Vimalakirti came and said: “He is not Sakra; he is a demon who comes to disturb you.” He then said to the demon: 'You can give me these girls and I will keep them.” • Ma sợ hãi nghĩ rằng: “Có lẽ ông Duy Ma Cật đến khuấy rối ta chăng?” Ma muốn ẩn hình mà không thể ẩn, ráng hết thần lực, cũng không đi được. Liền nghe giữa hư không có tiếng rằng: “Nầy Ba Tuần! Hãy đem Thiên nữ cho ông Duy Ma Cật thì mới đi được. Ma vì sợ hãi, nên miễn cưỡng cho—The demon was frightened, and being afraid that Vimalakirti might give him trouble, he tried to make himself invisible but failed, and in spite of his use of supernatural powers he could not go away. Suddenly a voice was heard in the air, saying: 'Demon, give him the girls and then you can go.' Being scared, he gave the girls.' • Khi ấy ông Duy Ma Cật bảo các Thiên nữ rằng: “Ma đã đem các ngươi cho ta rồi, nay các ngươi đều phải phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Rồi ông theo căn cơ của Thiên nữ mà nói Pháp để cho phát ý đạo, và bảo rằng: “Có pháp môn Vô Tận Đăng.”—At that time, Vimalakirti said to the goddesses: “The demon has given you to me. You can now develop a mind set on the quest of supreme enlightenment.” Vimalakirti then expounded the Dharma to them urging them to seek the truth. He declared: “There is a Dharma called Inexhaustible Lamp.” • Các thiên nữ hỏi: “Thế nào là Pháp Vô Tận Đăng?”—The goddesses asked him: “What is the Inexhaustible Lamp Dharma?” • Ông Duy Ma Cật đáp: “Này các chị, có Pháp môn tên là Vô Tận Đăng, các chị nên học. Vô tận đăng là ví như một ngọn đèn mồi đốt trăm ngàn ngọn đèn, chỗ tối đều sáng, sáng mãi không cùng tận. Như thế đó các chị! Vả lại một vị Bồ Tát mở mang dẫn dắt trăm ngàn chúng sanh phát tâm Bồ Đề, đạo tâm của mình cũng chẳng bị tiêu mất, tùy nói Pháp gì đều thêm lợi ích cho các Pháp lành, đó gọi là Vô Tận Đăng. Các chị dầu ở cung ma mà dùng Pháp môn Vô Tận Đăng nầy làm cho vô số Thiên nữ phát tâm Vô thượng Chánh Đẳng Chánh giác, đó là báo ơn Phật, cũng là làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.”—Vimalakirti replied: 'Sisters, there is a Dharma called the Inexhaustible Lamp which you should study and practice. For instance, a lamp can (be used to) light up hundreds and thousands of other lamps; darkness will thus be bright and this brightness will be inexhaustible. So, sisters, a Bodhisattva should guide and convert hundreds and thousands of living beings so that they all develop the mind set on supreme enlightenment; thus his deep thought (of enlightening others) is, likewise, inexhaustible. His expounding of the Dharma will then increase in all excellent Dharmas; this is called the Inexhaustible Lamp. Although you will be staying at the demon's palace you should use this Inexhaustible Lamp to guide countless sons and daughters of devas to develop their minds set on supreme enlightenment, in order to repay your debt of gratitude to the Buddha, and also for the benefit of all living beings.' • Bấy giờ các Thiên nữ cúi đầu đảnh lễ dưới chân ông Duy Ma Cật—The devas daughters bowed their heads at Vimalakirti's feet.
vô tế
Unlimited, boundless.
; Không biên tế—Unlimited—Boundless.
Vô Tế Liễu Phái
(無濟了派, Musai Ryōha, 1149-1224): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Vô Tế (無濟), xuất thân Kiến An (建安, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Trương (張). Ông kế thừa dòng pháp của Chuyết Am Đức Quang (拙菴德光), là pháp tôn của Đại Huệ (大慧). Vào năm thứ 4 (1198) niên hiệu Khánh Nguyên (慶元), ông làm trú trì Bảo An Tự (保安寺) ở Thường Châu (常州, Tỉnh Giang Tô), rồi chuyển sang trú tại Thiên Đồng Sơn (天童山). Khi Đạo Nguyên (道元) của Nhật sang nhà Tống cầu pháp và tu học tại Thiên Đồng Sơn Cảnh Đức Tự (天童山景德寺), ông làm trú trì chùa này. Thỉnh thoảng Đạo Nguyên cũng có vấn pháp nơi ông. Vào mùa Thu năm thứ 17 (1124) niên hiệu Gia Định (嘉定), ông thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi đời và 52 hạ lạp.
vô tỉ
Without comparison, no comparing, incomparable.
vô tỉ pháp
Incomparable truth or law.
vô tỉ thân
5076佛身微妙相好,世無比類,故稱無比。勝鬘經(大一二‧二一七上):「即生此念時,佛於空中現;普放淨光明,顯示無比身。」
vô từ bi
5127缺乏慈悲心之意。指五趣中之一切有情。蓋慈悲與智慧可說同為最高之德性,且佛心即以大慈悲表現之。慈與悲均以無瞋善根為本性。小乘說一切有部將心與心所分開,認為佛之大悲(慧)與慈悲(無瞋)之法體為個別,此係有部特殊之解釋。在大乘佛教則認為心所無別體,即並無另一本質存在。 「慈悲」一語,就給予眾生樂而言,稱為慈(梵 maitrī);就拔除眾生苦而言,稱為悲(梵 karuṇa)。慈、悲與喜、捨,合稱四無量心(又作四梵住)。慈悲係以無量之眾生為對象,而能愛念憐愍無量之眾生,進而根本救度之,此種慈悲則為佛、菩薩所獨具之德性。 二乘有學之聖者,側重自利之行,遂被稱為無慈悲。大毘婆沙論卷一四○謂,有學之聖者,不論現在修與未來修,皆無法成就無量之慈悲。然二乘至阿羅漢位,因修四無量,以四無礙智而得利他之口業力;因修願智,而知眾生之一切念願希望;因修無諍智,而能消弭一切眾生心中之諍執以及眾生間之鬥爭;故不可謂為無慈悲。凡夫雖有慈悲之對象,然即使行慈悲亦不完全,故謂其無慈悲。天趣之眾生,為有漏善之異熟果,僅享受樂淨之境界,缺乏利他之行,故亦無慈悲。又地獄、餓鬼、畜生等三趣之眾生,為苦所逼迫,談不上慈悲,故亦無慈悲。(參閱「慈悲」5805)
vô tự bảo khiếp kinh
Wu-tzu pao-ch'ieh ching (C)Tên một bộ kinh. Tên một bộ kinh.
vô tự tánh
Niḥsvabhāva (S), Niḥsvabhāvata (S), No-self nature Xem Vô tánh.
vô tự tính
5083梵語 asvabhāva, asvabhāvatva, asvabhāvya, niḥsvabhāvatā。指無實在之自體。又作無本性、無性。謂諸法皆因緣所生,故無自性。凡山河大地皆由四大假合而成,四大相離,物即滅盡;人亦為四大所成,四大不調即成病,四大相離則亡。中論卷一(大三○‧二中):「如諸法自性,不在於緣中;以無自性故,他性亦復無。」〔成唯識論卷九、唯識三十論頌〕
; Abhāvasvabhāva (S), Absence of the substance of existence.
; Asvabhàva (S). Without self-nature, without a nature of its own, no individual nature; all things are without tự nhiên tính individual nature or independent existence, being composed with elements which disintegrate.
; Asvabhava (skt)—Không có tự tính. Tất cả các pháp đều là nhân duyên pháp chứ không có tự tính—Without self-nature—Without a nature of its own—No individual nature—No own nature—Not made out of itself. All things are without individual nature or independent existence, being composed of elements which disintegrate.
vô tự tướng
Lakṣaṇam (S).
vô tỷ
Không thể so sánh được—Incomparable—Without comparison---No comparing.
vô tỷ lực
Aṭavika (S)A tra phạ ca; A tra bà câu, Khoáng Dã thầnMột trong 16 Dạ xoa bát đại tướng: Bảo Hiền, Mãn Hiền, Mật Chủ, Oai Thần, Ứng Niệm, Đại Mãn, Vô tỷ lực, Mật Nghiêm. Đây là vị thần giữ gìn đất nước, tiêu diệt chướng nạn.
vô tỷ pháp
Xem Luận.
; Pháp cao tột không gì có thể so sánh được—Incomparable truth or law.
vô tỷ thân
Thân Phật cao tuyệt không gì có thể so sánh được—The incomparable body of the Buddha.
vô uý
5101梵語 vaiśāradya,巴利語 vesārajja;或梵語 abhaya,巴利語同。又作無所畏。係無所怖畏之意。謂佛、菩薩說法時具有無所怖畏之自信,而勇猛安穩。佛、菩薩之無畏皆有四種,稱四無畏、四無所畏。佛之四無畏即諸法現等覺無畏、一切漏盡無畏、障法不虛決定授記無畏、為證一切具足出道如性無畏。佛所具有之十八種功德法(十八不共法),即十力、四無畏、三念住、大悲。而四無畏與「十力」中之處非處智力、漏盡智力、業法集智力、遍趣行智力相配。十力復一一攝四無畏,故總為四十無畏。菩薩之四無畏,即能持無畏、知根無畏、決疑無畏、答報無畏。而華嚴經疏卷五十二記載菩薩十種無畏,即聞持無畏、辯才無畏、二空無畏、威儀無缺無畏、三業無過無畏、外護無畏、正念無畏、方便無畏、一切智心無畏、具行無畏。又密教行者發菩提心之時有六種功德,即善無畏、身無畏、無我無畏、法無畏、法無我無畏、一切法自性平等無畏六種,稱為六無畏。〔增一阿含經卷十九、卷四十二、大日經卷一、大智度論卷五、卷二十五、大日經疏卷三、大乘義章卷十一〕(參閱「六無畏」1294、「四無所畏」1773〕
vô uý bồ tát
Xem A ma đề Bồ tát.
vô uý sơn tự
5101巴利名 Abhayagiri。音譯阿跋耶祇釐。全稱阿跋耶祇釐毘訶羅(巴 Abhayagiri-vihāra)。係位於錫蘭舊都阿㝹羅陀補羅城(巴 Anurādhapura)北之古寺院。本寺建於西元前一世紀中,相當於當時錫蘭教團統一中心大寺(巴 Mahā-vihāra)建造後之二百十七年。乃錫蘭王婆他伽馬尼(巴 Vaṭṭagāmaṇi abhaya)破壞尼乾子之園而建,獻與當時大寺之長老摩訶帝須(巴 Mahātissa),後摩訶帝須被大寺擯出,其門徒遂與大寺分離而據此寺,號稱無畏山寺派(阿跋耶祇釐住部)。錫蘭佛教因而分裂為大寺派(摩訶毘訶羅住部)與無畏山寺派。兩派常為爭取佛教之領導權而相互傾軋。 西元二世紀頃,葛加巴乎卡伽馬尼王(巴 Gajābāhukagāmaṇi)曾擴建本寺,未久,卡尼塔蒂薩卡王(巴 Kaniṭṭhatissaka)亦增建寶殿牆壁及大房舍。後至摩訶勝軍王(巴 Mahāsena)時,嘗破壞大寺之銅殿,並將其堂舍移建至本寺。據高僧法顯傳記載當時之情形(大五一‧八六四下):「王於塔北跡上起大塔,高四十丈,金銀莊挍,眾寶合成。塔邊復起一僧伽藍,名無畏,山有五千僧。起一佛殿,金銀刻鏤,悉以眾寶,中有一青玉像,高三丈許,通身七寶焰光,威相嚴顯。」五世紀中葉,達休聖那王(巴 Dhātusena)復興本寺,並祀佛牙。又高僧法顯傳中所指大塔即今之金粉塔(Ruwanweli Dagoba)之北約二公里處之逝多林塔(巴 Jetavana Dagoba),旁有大僧院址。〔島史(巴 Dīpavaṃsa) XIX;大王統史(巴 Mahā-vaṃsa)XXXIII;R.S. Copleston: Buddhism primitive and present in Magadha and Ceylon;G.E. Mitton: The Lost Cities of Ceylon、大唐西域記卷十一〕(參閱「錫蘭佛教」6327〕
; Abhayagiri-vihāra (P)Tên một ngôi chùa.
vô uý sơn tự phái
5102巴利名 Abhayagirivihāranikāya。又作阿跋耶祇釐住部(梵 Abhayagirivāsin)、法味派(巴 Dhammarucika)。乃錫蘭第一個兼習大乘之上座部部派,因以無畏山寺為中心,故稱為無畏山寺派。該寺於西元前一世紀由婆他伽馬尼王(巴 Vaṭṭagāmaṇi)所建,獻予大寺(巴 Mahā-vihārā)之長老摩訶帝須(巴 Mahātissa)。後摩訶帝須被大寺擯出,其門徒遂與大寺分離,據守無畏山寺,號稱無畏山寺派。錫蘭佛教遂分為大寺派(摩訶毘訶羅住部)與無畏山寺派。據大唐西域記卷十一載,佛教傳至錫蘭後二百餘年,各擅專門,分成二部,一為摩訶毘訶羅住部,斥大乘而習小乘,一為阿跋耶祇釐住部,學兼二乘,弘演三藏。 於三世紀頃,大乘佛教傳入錫蘭,本派成為大乘之重鎮;四世紀中葉,曾經分裂為二;然據高僧法顯傳所述,法顯到錫蘭時,無畏山寺派正當隆盛中。六至十一世紀,因政治因素,本派遭嚴重破壞。至十二世紀時,國王波洛羅摩婆訶一世(巴 Parakkamabāhu Ⅰ)下令取締,敕令破戒比丘還俗,本派遂滅絕。(參閱「錫蘭佛教」6327)
vô uý thí
Xem Thí vô uý.
vô uấn
5124(1309~1386)明初臨濟宗僧。浙江臨海人,俗姓陳。字恕中,號空室。壯年登徑山,投元叟行端剃髮,未久於昭慶律寺受具足戒。後歷參淨慈寺之靈石如芝、資福寺之一元靈。復至四明(浙江)天童山,侍奉平石如砥,司掌藏鑰,參究十年。後與同學木庵聰、大宗興等共至台州紫籜山參禮竺元妙道,一日欲問「狗子無佛性」之語,擬開口,妙道乃一喝。師直下大悟,遂呈一偈,受印可。先後弘化於靈巖廣福寺、瑞巖淨土寺,江湖俊彥來參者頗多,師乃設三問以接禪客,不契則逐,世稱瑞巖三關。後隱居於松巖之頂。明太祖洪武七年(1374),日本遣國使欲請師弘化,師以老病而固辭。十七年弟子於鄞州翠巖山結草堂,迎師養老。十九年罹微疾,七月十日端坐示寂,世壽七十八。著有恕中和尚語錄六卷、山庵雜錄二卷、淨土詩一卷、重拈雪竇拈古百則等。〔天台空室慍禪師行業記、五燈嚴統卷二十一、增集續傳燈錄卷六〕
Vô vi
(s: asaṁskṛta, p: asaṅkhata, 無爲): tồn tại không phải được sinh thành từ nguyên nhân hay nhân duyên, là chân thực tại của thường trú tuyệt đối mang tính siêu thời gian vốn vượt qua khỏi sự thành lập hay hoại diệt, và tách ly khỏi mối quan hệ nhân quả. Đây là ngôn từ dùng để chỉ cái tuyệt đối vô hạn định mà rời xa khỏi hiện tượng, cho nên nó còn được dùng làm tên gọi khác của Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃). Trong Câu Xá Luận (倶舍論) có nêu ra 3 loại vô vi là Hư Không (虛空), Trạch Diệt (擇滅) và Phi Trạch Diệt (非擇滅). Trong Du Già Sư Địa Luận (瑜伽師地論) thì đưa ra 8 loại khác là Hư Không (虛空), Phi Trạch Diệt (非擇滅), Trạch Diệt (擇滅), Thiện (善), Bất Thiện (不善), Vô Ký Pháp (無記法), Chơn Như (眞如), Bất Động Tưởng Thọ Diệt (不動想受滅). Theo Lão Trang thì nó có nghĩa là cứ y theo tự nhiên như vậy, không làm gì cả. Còn trường hợp trong Thiền Tông khi dùng từ nầy không có nghĩa là không làm gì cả, mà hết thảy các hành vi đều tự do, tự tại, không trở ngại, giống như cá lội trong nước, chim bay trên không, chẳng lưu lại vết tích nào. Trong Chứng Đạo Ca (証道歌) của Vĩnh Gia Huyền Giác (永嘉玄覺, 675-713) có đoạn rằng: “Quân bất kiến, tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân, bất trừ vọng tưởng bất cầu chân (君不見、絕學無爲閑道人、不除妄想不求眞, bạn có thấy chăng, người nhàn đạo vô vi chẳng còn học gì nữa thì chẳng trừ bỏ vọng tưởng mà cũng không tìm cầu cái chân thật).” Thiền Sư Pháp Thuận (法順, ?-991) của Việt Nam có bài thơ rằng: “Quốc tộ như đằng lạc, nam thiên lí thái bình, vô vi cư điện các, xứ xứ tức đao binh (國祚如藤絡、南天裏太平、無爲居殿閣、處處息刀兵, vận nước như dây quấn, trời nam trọn thái bình, vô vi nơi điện gác, chốn chốn hết đao binh).”
; 無爲; S: asaṃskṛta; P: asaṅkhata;|1. Vô vi nghĩa là không phụ thuộc, không bị ảnh hưởng, không vì nhân duyên mà sinh ra, đối nghĩa với vô vi là Hữu vi (有爲; s: saṃs-kṛta), cũng thường được hiểu là »Không làm«. Trong Phật giáo nguyên thuỷ thì chỉ có Niết-bàn được xếp vào hạng vô vi, tất cả các Pháp còn lại đều là hữu vi. Quan niệm này được lưu lại trong Thượng toạ bộ (p: theravāda) và Ðộc Tử bộ (s: vātsīputrīya). Tất cả những bộ phái khác đều dần dần thay đổi cách sử dụng danh từ này.|Ðại chúng bộ chấp nhận 9 pháp vô vi, đó là hai cách Diệt độ (s, p: nirodha), trong đó một loại (1.) được đạt bằng sự phân tích phân biệt, gọi là Trạch diệt (s: pratisaṃkhyā-nirodha), tương ưng với Niết-bàn. Loại Diệt thứ hai (2.) được đạt không qua sự phân tích, phân biệt (phi trạch), được gọi là Phi trạch diệt (s: apratisaṃkhyā-nirodha), liên hệ đến những lậu hoặc (ô nhiễm) mà một A-la-hán không còn vướng mắc. Ðược xếp vào vô vi pháp nữa là Hư không (3.), Không vô biên xứ (4.), Thức vô biên xứ (5.), Vô sở hữu xứ, tức là cái »không có gì« (6.), Phi tưởng phi phi tưởng xứ (7.), nội dung của thuyết Mười hai nhân duyên (8.) và Bát chính đạo (9.).|Nhất thiết hữu bộ công nhận ba pháp vô vi là Hư không và hai loại Diệt trên. Duy thức tông liệt kê thêm vào ba vô vi pháp này một loại Diệt bằng một trạng thái thiền định an vui bất động, sự chấm dứt suy nghĩ và thụ cảm của một A-la-hán và Chân như (tathatā). |Pháp Tạng bộ (s: dharmaguptaka) xếp vào loại vô vi pháp Chân như và sự »Trường tồn của mọi pháp.« Dưới »Trường tồn của mọi pháp« họ định nghĩa rằng cái đặc tính gì không biến đổi của nó (Sự không biến đổi của nó chính là sự biến đổi) và định luật nhân quả (Nghiệp) cũng như một vài trạng thái Ðịnh.|2. Về nghĩa »Không làm« xem dưới Bất hành nhi hành.
vô vi
5111梵語 asaṃskṛta。無造作之意。為「有為」之對稱。即非由因緣所造作,離生滅變化而絕對常住之法。又作無為法(梵 asaṃskṛta-dharma)。原係涅槃之異名,後世更於涅槃以外立種種無為,於是產生三無為、六無為、九無為等諸說。於小乘各部派中,說一切有部立擇滅無為、非擇滅無為、虛空無為,合為三無為。大眾部、一說部、說出世部於三無為之外,立空無邊處、識無邊處、無所有處、非想非非想處等四無色處,及緣起支性(十二緣起之理)、聖道支性(八聖道之理)等,總為九無為。化地部則以不動、善法真如、不善法真如、無記法真如取代四無色處,亦作九無為之說。大乘唯識家於三無為外,別立不動、想受滅、真如,合為六無為;或開立真如為善法、不善法、無記法,而為八無為。然無論開立為六無為或八無為,非謂無為有多種別體,而係斷除我、法二執所顯之一種法性;復以此一法性從所顯之諸緣而稱種種之名。準此而言,真如、法性、法界、實相等亦皆為無為法。又以涅槃而言,上記三無為中之擇滅無為、六無為中之真如無為即涅槃;而涅槃乃一切無為法中之最殊勝者。 又關於無為法之體,說一切有部主張其為有體,經量部及大乘唯識家以其為無體,不承認其實相。其中,唯識家依「識變」與「法性」假立六種無為,即:(一)指遠離煩惱所知障之真如,以其無有障礙,恰如虛空,稱為虛空無為。(二)指遠離一切有漏之繫縛而顯之真理,稱為擇滅無為。(三)指本來自性清淨之真如,以其非由無漏智之簡擇力而來,稱為非擇滅無為。(四)指顯現於第四靜慮(第四禪)之真如,以第四靜慮已滅苦、樂二受,寂靜不動,稱為不動無為。(五)指顯現於滅盡定之真如,以滅盡定已滅六識心想與苦、樂二受,稱為想受滅無為。(六)指真實如常,無有絲毫虛妄變異之法性真如,稱為真如無為。〔品類足論卷一、大毘婆沙論卷二十一、卷三十九、俱舍論卷一、卷六〕(參閱「有為」2445)
; Asaṃskṛta (S), Asaṅkhata (P), Mu-i (J), Unconditioned Bất duyên sanhKhông tạo tác, không có nguyên do tạo tác, không cố ý tạo tác.
; Asamkrta (S). Non-active, passive; laissez faire; spontaneous, natural; uncaused, not subject to cause, condition, or dependence; transcendental, not in time, unchanging, eternal, inactive, and free from the passions or senses; non phenomenal, noumenal; also intp. as nirmàna, dharma-nature, reality, and dharmadhàtu.
; 1) Đây là một từ của Lão giáo có nghĩa đen là “không làm,” “không gắng sức,” “không gượng ép,” hay không miễn cưỡng tạo tác. Nó không ám chỉ sự bất động hay lười biếng. Chúng ta chỉ không nên gắng sức vì những việc không chân thật, làm cho chúng ta hóa mù đến nỗi không thấy được tự tánh—This is a Taoist term has the literal meaning of “non-doing” or “non-striving” or “not making.” It does not imply inaction or mere idling. We are merely to cease striving for the unreal things which blind us to our true self. 2) Asamskrta (skt)—Asankhata (p)—Unproduced—Unconditioned. • Không tác động: Non-active—Inactive. • Thụ động: Passive. • Tự động: Spontaneous—Natural. • Không bị lệ thuộc vào nhân: Uncaused—Not subject to cause. • Không chủ ý: Without intention—Not consecrated—Unadorned—Unpolished—Not prepared. • Thoát khỏi sự chế ngự của dục vọng và cảm giác: Free from the passions or senses. • Pháp Tính: Dharma-nature. • Pháp Giới: Dharmadhatu. • Niết Bàn: Nirvana. ** For more information, please see Asamskrta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
vô vi giáo
5113明清兩代之民間宗教。明正德、嘉靖年間由羅因(1442~1527)創立。我國明清時代之民間宗教有兩大系統,一為主張彌勒信仰之白蓮教,可說屬於淨土系統;另一則是講究無為、強調真空之無為教,可說屬於禪宗系統。無為教宗旨近於禪宗南派,不立文字,否定佛像、寺廟,故亦稱悟空教。又以絕對、永恆的真空作為宇宙之根本,而創「真空家鄉、無生父母」八字真訣。 羅因又被尊稱為羅祖,其思想乃基於金剛般若經,而主張無為解脫之無為法,故極力闡揚個人主義傾向之勤學清修宗風,然無為教之末流則傾向祕密結社之性質,此即清初時流傳於冀、魯、皖、蘇、浙等省之羅教,又稱羅祖教、羅道教,此教亦以羅祖為信仰上之開祖,其基本群眾為漕運水手,以運河兩岸為活動中心。大體而言,其結社組織之性質與原來無為教之單純信仰風格已全然迥異,故通常被視為與白蓮教同類之邪教而被嚴厲鎮壓查禁,如雍正五年(1727)至乾隆十八年(1753),浙江、江蘇、江西等地之會堂大多被查禁。其餘緒於清末傳入東南亞及朝鮮,其中傳入福建、臺灣者為齋教中之龍華派,此教亦推羅祖為開祖。此外,如觀音教、大乘門、三乘教、大成教、長生教等皆屬羅教教派或其旁支之流。 羅教於各地均有會堂(又稱齋堂、經堂、庵堂、菜堂),為躲避官府取締,會堂地點常須掩蔽。會堂中通常供奉羅祖像,並常案奉羅祖所著之「五部六冊」等經卷,會堂亦多成為漕運水手宿腳之地。教徒依入信修行情形分為九階位,初信者稱為小乘,其上依次為大乘、三乘、小引、大引、書記、清虛、太空、空空,空空為教主,係最高之指導者。於九階位之教徒中,小乘至書記皆可婚娶,故多為擁有俗務家業之一般信徒,上面三階位則為專任傳道師。此外,另有負責管理齋堂之人,稱為「菜頭」,乃實際掌管齋堂所有信徒,並負責一切祭祀及儀式者。羅教之其他流派,如佔有臺灣早期民間宗教最大勢力之龍華派,其信仰性質、教徒階位等皆與羅教大體一致。(參閱「龍華派」6390、「齋教」6549、「羅悟空」6676)
vô vi giới
5113西藏語 ḥdus ma byas kyi tshul khrims。指密教之三昧耶戒。此戒雖依阿闍梨之加持而受得,然僅暫借外緣,以顯本來自身所具者,為本不生之戒,非世俗戒,故稱無為戒。大日經住心品(大一八‧二上):「為法界眾生,不辭勞倦,成就住無為戒,離於邪見,通達正見。」(參閱「三昧耶戒」583)
vô vi không
Asaṁkṛta-śŪnyatā (S)Không chấp trước pháp niết bàn.
; Asamskrta sùnyatà (S). The immaterial character of thetranscendent.
; Asamskrta-sunyata (skt)—Tất cả vô pháp là phi vật chất nên không thể nắm bắt được—The immaterial character of the transcendent.
vô vi niết bàn
1) Niết Bàn bất sinh bất diệt, lìa mọi tướng hữu vi: The realm of the eternal, unconditioned nirvana. 2) Tịnh Độ Môn hay Cực Lạc: The Pure Land.
vô vi niết bàn (giới)
The realm of the eternal, unconditioned nirvàna.
vô vi niết bàn giới
5113涅槃為不生不滅,離一切有為之相,而達絕對不變覺悟之境界,故稱無為涅槃界。淨土宗之極樂世界,即無為涅槃界。〔轉經行道願往生淨土法事讚卷下〕
; See Vô Vi Niết Bàn.
vô vi pháp
Asaṁkṛta-dharma (S), Asaṅkhata dhamma (P),Unconditioned dharma, Unconditioned reality.Pháp vô vi.
; Asamskrtadharma (S). Any thing not subject to cause, condition, or dependence; out of time, eternal, inactive, supra-mundane. Pháp tướng tông enumerates 6 vô vi pháp non-created elements: (1) hư không vô vì àkàsa, space. (2) trạch diệt vô vi pratisamkhyà nirodha, extinction obtained by knowledge; (3) phi trạch diệt vô vi apratisa khyà nirodha, extinction not by knowledge but by nature; (4) bất động diệt vô vi acala nirodha, extinction by a motionless state of heavenly meditation; (5) thụ tưởng diệt vô vi samjnà vedayita nirodha, extinction by the stoppage of idea and sensation by an arhat; (6) chân như vô vi tathàtà, true suchness.
; Asamskrta dharma (skt)—Asankhata-dhamma (p)—Unconditioned or unproduced dharma. (A) Nghĩa của Vô Vi Pháp—The meanings of Asamskrta dharma: 1) Pháp xa lìa nhân duyên tạo tác hay không còn chịu ảnh hưởng của nhân duyên: Anything not subject to cause, condition or dependence. 2) Pháp thường hằng, không thay đổi, vượt thời gian và siêu việt: Dharmas which are out of time, eternal, inactive, unchanging, and supra-mundane. 3) Niết Bàn và hư không được xem như là Vô Vi Pháp: Nirvana and space are considered to be unconditioned dharmas. (B) Theo Đại Chúng Bộ có ba loại vô vi pháp—According to Sarvastivadins there are three categories of Asamskrta dharma: 1) Hư Không: Akasa (skt)—Space or ether. 2) Thức Diệt : Pratisamkhya-nirodha (skt)—Conscious cessation of the contamination of the passions. 3) Vô Thức Diệt: Apratisamkhya-nirodha (skt)—Unconscious or effortless cessation.
vô vi pháp thân
5113又作無為法性身。即無為之佛之本體。法身,即無形無色,遍滿宇宙,顯絕對真理之佛身。因佛所證之法身湛然寂靜,離一切因緣造作,故稱無為法身。〔金剛仙論卷二、淨土論註卷下〕
; Asamskrta-dharmakàya (S). The eternal body of Buddha not conditioned by cause and effect.
; Asamskrta dharmakaya (skt)—Pháp thân mà Phật sở chứng là vĩnh hằng, không chịu chi phối bởi luật nhân quả hay xa lìa mọi nhân duyên tạo tác (trong Tịnh Độ Luận: “Vô Vi Pháp Thân là pháp tính thân. Pháp tính tịch diệt cho nên pháp thân vô tướng)—The eternal body of Buddha not conditioned by any cause and effect.
vô vi sanh tử
Hóa thân Bồ tát, không do sanh tử luân hồi, hay sự sống chết của Thánh nhân không bị dấy lên bởi nghiệp báo hữu vi—The birth and death of saints, i.e. without action and transformation—Effortless mortality—Transformation such as that of Bodhisattva.
vô vi sinh tử
The birth-and-death of saints, i.e. without any action, transformation.
vô vi tạng
Asaṁkṛta kośa (S).
vô vi tự
5112位於韓國全羅南道康津郡城田面月下里。係新羅真平王十九年(597),元曉所創建,原名觀音寺,後衰微。憲康王元年(875),先覺大師道詵再興,改稱葛屋寺。高麗定宗元年(1399),詵覺再建先覺大師之靈塔、塔碑,改稱茅屋寺。朝鮮明宗十年(1555),太甘營造堂舍,改為今名。後因戰火,漸次衰頹,英宗之世,唯存彌陀、千佛、十王堂等殿。現存極樂寶殿,係於明宗十年所建,為天竺之建築式樣,乃朝鮮唐式建築中之特例。又有先覺大師遍光靈塔及塔碑。碑為高麗初期之傑作。〔無為寺記(朝鮮英祖十五年克鋴作)、東國輿地勝覽卷三十七〕
vô vi tự nhiên
Causeless and spontaneous, a tr. of nivrtti.
; Nivrtti (skt)—Tự nhiên và không do nhân mà có—Causeless and spontaneous.
vô vi tự tháp
5112位於江西安遠縣城西門外。唐代長慶四年(824)建無為寺,明代改稱大興寺。北宋紹聖四年(1097),建無為塔,計六面九層,高五十公尺,塔壁係用黃泥拌穀糠,將長方形、三角形、菱形、正方形等不同形狀之青色火磚交錯砌成;以杉木為樑,杉板為樓板,上覆琉璃瓦。迄今已近九百年,原寺早廢,然塔猶完好。
vô vi xá
The nirvàna home.
; Vô vi Niết Bàn hay niết bàn là ngôi nhà yên ổn của con người—The nirvana home.
vô vân thiên
5123無雲,梵名 Anabhraka,音譯作阿那婆伽、阿那婆迦、阿那婆訶。又作無陰天、無罣礙天、無陰行天。色界十八天之一。為第四禪之第一天。此天無苦、樂、憂、喜等四受,僅有捨受,故稱無雲。或謂此天以上為無雲地,此天即在無雲之初,故稱無雲。據立世阿毘曇論卷七載,此天眾生之壽命三百大劫;彰所知論卷上則謂壽命一二五劫,身長一二五由旬。〔中阿含卷九地動經、大品般若經卷十二、雜阿毘曇心論卷八、俱舍論卷八〕
; Anabhraka (S), Asannasattadeva (P)Tên một cõi giới. Một trong 9 cõi thuộc Tứ thiền thiên. Tâm chư thiên trong cõi này không hoạt động.
vô văn
Không cần được chỉ dạy—Tự tin—Untutored—Self-confident.
vô văn tỉ khâu
5135巴利語 assutavā-bhikkhu。缺乏智慧經驗之凡夫比丘。彼自我臆斷佛之說法,而修行結果又不符自己所信,遂謗佛難法。無聞比丘即指持此邪見之比丘。楞嚴經卷九(大一九‧一四七上):「如第四禪無聞比丘妄言證聖,天報已畢,衰相現前,謗阿羅漢,身遭後有,墮阿鼻地獄。」〔正法眼藏四禪比丘〕
vô văn tỳ kheo
Vị Tỳ Kheo từ chối sự hướng dẫn của một vị Y Chỉ Sư—A monk who refuses instructions.
Vô Văn Đạo Xán
(無文道燦[璨], Mumon Dōsan, ?-1271): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, pháp từ của Tiếu Ông Diệu Kham (笑翁妙堪), hiệu là Vô Văn (無文), xuất thân Thái Hòa (泰和), Cát An (吉安, Tỉnh Giang Tây). Vào tháng 6 năm thứ 2 (1254) niên hiệu Bảo Hựu (寳祐), nhận lời thỉnh cầu, ông bắt đầu khai đường giáo hóa tại Tiến Phước Thiền Tự (薦福禪寺) vùng Nhiêu Châu (饒州, Tỉnh Giang Tây). Tiếp theo ông đến trú trì Khai Tiên Hoa Tạng Thiền Tự (開先華藏禪寺) ở Lô Sơn (廬山, Tỉnh Giang Tây), rồi lại trở về Tiến Phước Thiền Tự. Vào năm thứ 8 niên hiệu Chí Nguyên (至元), ông thị tịch. Ông có sở trường về thi kệ, hiện tồn tập thơ Vô Văn Ấn (無文印) 20 quyển, và trong cuốn Vô Văn Hòa Thượng Ngữ Lục (無文和尚語錄) 1 quyển có lời bạt của Hư Chu Phổ Độ (虛舟普度) vào năm thứ 9 (1273) niên hiệu Hàm Thuần (咸淳).
vô văn đạo xán thiền sư ngữ lục
5076請參閱 無文道燦禪師語錄 [1]請參閱 無文道燦禪師語錄全一卷。宋代僧無文道燦撰,法嗣惟康編。度宗咸淳九年(1273)刊行。又作無文道璨禪師語錄、無文和尚語錄。收於卍續藏第一五○冊。為育王山笑翁妙堪之法嗣無文道燦之語錄。內容包括薦福寺語、開先華藏寺語、再住薦福寺語、小佛事、讚、偈頌、題跋等。道燦另撰有「無文印」二十卷,係詩文集。
vô vấn
Unasked; not to ask; volunteered.
; Không đợi hỏi mà tự tình nguyện (thuyết pháp)—Unasked—Not to ask.
vô vấn tự thuyết
Udāna (S), Verses of Uplift Phật tự thuyết Kinh, Cảm hứng ngữ, Ưu đà na80 bài kinh do Phật tự khai thị giáo thuyết mà không đợi có thưa hỏi.
; Udàna (S). That part of the canon spoken voluntarily and not in reply to questions or appeals.
; Udana (skt)—Một trong mười hai bộ Kinh Tiếng Phạn gọi là Ưu Đà Na, tức là “Vô Vấn Tự Thuyết” nghĩa là Phật tự thuyết để răn chúng chứ không phải trả lời cho câu hỏi nào—Impromptu—Unsolicited—One part of the scriptures spoken voluntarily and not in reply to questions or appeals, one of the twelve parts of the Buddhist scriptures.
vô vấn tự thuyết kinh
Udana—Kinh Phật tự nói chứ không phải trả lời cho những câu hỏi—Canon spoken voluntarily and not in reply to questions—Impromptu—Unsolicited.
Vô vấn đạo
xem Tứ đạo thánh nhân.
vô vị
Nih-svadu (skt)—Tasteless.
vô vị chân nhân
5085指徹見本來面目者。即不墮於菩薩四十二位、五十二位等品位,並超越凡聖、迷悟、上下、貴賤等分別,而無所滯礙,已得解脫之人。於禪林,轉指人人本具之真如佛性。臨濟錄(大四七‧四九六下):「上堂云:『赤肉團上有一無位真人,常從汝等諸人面門出入,未證據者看看。』時有僧出問:『如何是無位真人?』師下禪床把住云:『道!道!』其僧擬議,師托開云:『無位真人是什麼乾屎橛?』」
vô vọng
Hopeless.
vô xoa la
Moksala (skt)—Vô La Xoa—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Vô Xoa La là một cư dân của thành Kustana, hoằng hóa tại Trung Quốc qua dịch kinh và giới thiệu cách chuyển ngữ Phạn vào khoảng năm 291 sau Tây Lịch—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Moksala, a native of Kustana who laboured in China as a translator and introduced there a new alphabet for transliteration of Sanskrit around 291 A.D.
vô xưng phật
5134為阿彌陀佛三十七號之一。阿彌陀佛之莊嚴功德,無量無數,一一皆微妙難思議,故有此稱。讚阿彌陀偈(大四七‧四二二中):「稽首無稱佛。」阿彌陀佛另有「無稱光佛」之名,係就其光明而稱;今謂無稱佛係就其一切莊嚴而稱。
Vô Xạ
(無射): có hai nghĩa chính:(1) Tên gọi âm thứ 6 trong 6 âm thanh thuộc về Dương của 12 luật âm, tương đương với âm Thần Tiên (神仙, shinsen) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong Chu Lễ (周禮), chương Xuân Quan (春官), Đại Ty Nhạc (大司樂) có ghi rằng: “Nãi tấu Vô Xạ, ca Giáp Chung, vũ Đại Võ, dĩ hưởng tiên tổ (乃奏無射、歌夾鍾、舞大武、以享先祖, bèn tấu điệu Vô Xạ, ca điệu Giáp Chung, vũ khúc Đại Võ, để dâng cúng tổ tiên).” Hay trong bài thơ Cửu Nhật Bồi Đăng Cao (九日陪登高) của Trương Thuyết (張說, 667-730) nhà Đường có câu: “Trùng Dương sơ khải tiết, Vô Xạ chánh phi hôi (重陽初啟節、無射正飛灰, Trùng Dương tiết mới đến, Vô Xạ đúng tro bay).” (2) Tên gọi khác của tháng 9 Âm Lịch. Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 có giải thích rằng: “Cửu nguyệt kiến Tuất viết Yêm Mậu, hựu viết Vô Xạ, hoặc danh Quý Thu, Mộ Thu, Thâm Thu, Diểu Thu; hựu xưng Nguyên Nguyệt, Cúc Nguyệt đẳng (九月建戌曰閹茂、又曰無射、或名季秋、暮秋、深秋、杪秋、又稱元月、菊月等, tháng Chín kiến Tuất, gọi là Yêm Mậu, hay gọi là Vô Xạ, hoặc gọi là Quý Thu, Mộ Thu, Thâm Thu, Diểu Thu; lại có tên là Nguyên Nguyệt, Cúc Nguyệt, v.v.).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 cho biết thêm rằng: “Tuất vi Vô Xạ, cửu nguyệt chi thần danh Tuất; Tuất giả, diệt dã; ngôn thời suy diệt dã, cố vị chi Tuất (戌爲無射、九月之辰名戌、戌者、滅也、言時衰滅也、故謂之戌, Tuất là Vô Xạ, chi của tháng Chín là Tuất; Tuất là diệt [mất, hết]; có nghĩa là suy diệt, nên gọi nó là Tuất).” Trong Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Luân Quán (地藏本願經綸貫, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 383) có câu: “Thời Trinh Hanh ngũ niên Vô Xạ nguyệt sóc nhật Chi Na từ tổ Sa Môn Cao Tuyền Tánh Đôn kính đề ư Phật Quốc Phương Trượng (時貞亨五年無射月朔日支那嗣祖沙門高泉性潡敬題於佛國方丈, lúc bấy giờ nhằm ngày mồng 1 tháng 9 năm thứ 5 [1688] niên hiệu Trinh Hanh, Sa Môn kế thừa dòng pháp ở Trung Hoa là Cao Tuyền Tánh Đôn kính ghi ở Phật Quốc Phương Trượng).” Hoặc trong Pháp Hoa Nghĩa Sớ (法華義疏, Taishō Vol. 34, No. 1721) quyển 1 có câu: “Vĩnh Nhân Quý Tỵ Vô Xạ thượng tuần đầu Quảng Long Tự chúng đồ chi tịnh tài điêu Nghĩa Sớ đệ nhất quyển chi ấn bản (永仁癸已無射上旬投廣隆寺眾徒之淨財彫義疏第一卷之印板, vào thượng tuần tháng 9 năm Quý Tỵ [1293] niên hiệu Vĩnh Nhân, dốc hết tịnh tài của tăng chúng Quảng Long Tự để khắc ấn bản Pháp Hoa Nghĩa Sớ quyển thứ nhất).”
vô y
5089梵語 anālambya。猶言無著。謂雖處於萬境而一無所依,即不被任何外在條件所左右。或指遠離煩惱繫縛之境界。又不被任何事物所束縛之佛道修行者,稱為無依道人。臨濟慧照禪師語錄(大四七‧四九八下):「唯有聽法無依道人,是諸佛之母,所以佛從無依生,若悟無依,佛亦無得。」〔傳心法要〕
; Nothing on which to rely; unreliable.
; Không nương tựa vào đâu cả—Nothing on which to rely—Unreliable.
vô y niết bàn
Final nirvàna.
; Niết Bàn tối thượng—Final nirvana.
vô yếm túc
1) Tham lam vô độ (không bao giờ biết thỏa mãn): Insatiable. 2) Tên của một loài La Sát Nữ: Name of a raksasi—See Rakchasas in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
vô yểm túc la sát nữ
Xem Bất động Tôn Bồ tát.
vô ái
Without love, or craving, or attachment.
; Không luyến ái—Without love, or craving or attachment.
vô ân
Thankless—Ungrateful.
vô ích
Unavailing—Unprofitable—Useless—Without avail—Of no avail.
Vô Ðoan Tổ Hoàn
無端祖環; J: mutan sokan; ?-1387; |Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Tào Ðộng, một trong năm vị đại đệ tử của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (j: gasan jōseki, 1275-1365).|Sư khai sáng rất nhiều Thiền viện ở các tỉnh Echizen, Noto và Iwami. Môn đệ của Sư sau truyền bá tông Tào Ðộng tại miền Bắc Nhật Bản.
vô úy
Abhaya (P), Fearlessness Vô sở uý, A bà giaLòng chẳng sợ, đức dạn dĩ. Cũng còn là tên của một vị Phật và Bố tát, tên một người con của Bình sa vương.
; Abhaya (S). Fearless, dauntless, secure; nothing and nobody to fear; also Vira, courageous, bold.
; Abhaya or Vira, or nir-bhaya (skt)—Không sợ hãi, vô sở úy—Courage—Dauntless—Fearless—Nothing or nobody to fear—Fearlessness.
vô úy chú
Xem Căn bản Trung quán luận thích vô úy chú.
vô úy sơn
Abhayagiri (S), Mt Fearless.
; Abhayagiri (S). Mount Fearless in Sri Lanka with an ancient monastery where Fa-hsien Pháp Hiển found 5,000 monks.
; Abhayagiri (skt)—Núi Vô Úy ở Tích Lan, với một tự viện cổ, nơi mà ngài Pháp Hiển đã tìm thấy 5.000 chư Tăng tòng tu trong đó—Mount fearless in Ceylon, with an ancient monastery where Fa-Hsien found 5,000 monks.
vô úy sơn trụ bộ
Abhayagirivāsin (S), School of Abhayagiri Một chi phái đạo Phật nhận Ngài Ca chiên Diên (Katyayana) là Tổ, lập ra khoảng năm 246 BC. Vô Úy sơn là tên một ngọn núi ở Tích Lan.
; Abhayagiri-vasinah (P)Tên một tông phái.
; Abhayagirivasin (S). A buddhist sect.
vô úy tam tạng
Subhàkarasimha (S). Name. Also Thiện Vô úy, Tịnh Sư tử.
vô úy thí
Abhayapradàna (S). The bestowing of confidence by every true Buddhist, i.e. that none fear may him. Gift of fearlessness.
; Abhaya-dana (skt)—Một trong tam thí, đem cái vô úy bố thí cho người—Courage (unfearful—not dangerous—secure—fearless—undaunted—peace—safety—security)-giving—The bestowing of confidence by every true Buddhist, i.e. that none may fear him—Absence or removal of fear, one of the three forms of giving. ** For more information, please see Tam Thí.
vô úy thọ
Viradatta (skt)—Tên một vị Phật tử tại gia trong thời Phật còn tại thế—“Hero-giver,” name of prominent layman, contemporary with Sakyamuni
vô úy tạng
1) Kho chứa đức vô úy—The storehouse of fearlessness. 2) Vô Úy Tạng là tên của một vị sư Mật Giáo: Name of a monk of the esoteric sect.
vô úy vương
Mattabhaya (S)Vua Tích Lan, thời vua A Dục.
vô úy địa
Abhaya-bhŪmi (S), Fearlessness position Ở vào chỗ không còn sợ sệt đối với Tham Sân Si, Sanh Lão Bệnh Tử, ba nẻo ác, chúng sanh ác,...
vô úy ấn
Abhaya-mudrà (S). Gesture of fearlessness.
vô ý
Absence of subjective thought, of will, or intention; absence of idea.
; Ý tứ không hư vọng, đây là chỗ cao tột của thiền định—Without objective, will, or intention—Absence of idea—Absence of objective thought, of will or intention—The highest stage of dhyana.
vô ý bồ tát
Akṣayamati Bodhisattva (S).
vô ý thức
Unconscious.
vô đao đại tặc
5070不持刀之劫賊。以此比喻無德之比丘劫掠他人之信施。凡夫狂癡,外智內愚,未有戒定,示現戒定相,彰揚善名,招引利養,隱匿垢過,外顯清白,常向道俗揚說己身之功德,此即無刀大賊。〔淨心誡觀法卷下〕
; Giặc cướp không đao, dùng để ví với hạng Tỳ Kheo không có đạo đức, cướp đoạt đạo đức của người khác hay chỉ làm ra vẻ đạo đức giả—A bandit without a sword, e.g. a virtueless monk robbing others of their virtue.
vô đoạn nghiệp
Aheya-karma (S).
vô đạo
Inhuman.
vô đạo đức
Immoral.
vô đảo
Chánh kiến lìa khỏi tất cả mọi điên đảo, không cho hình tướng là thật, không cho vô thường là thường (ngược lại phàm phu thì hiểu biết điên đảo cả sự lẫn lý, cho khổ làm vui, cho vô thường là thường)—Not upside-down, seeing things right side up, or correctly, i.e. correct views of truth and things, e.g. not regarding the seeming as real, the temporal as eternal, etc.
vô đảo trí
5105為遠離顛倒之智慧;指佛智。俱舍論卷二十九(大二九‧一五五上):「於所欲知境,無倒智起,故名一切智。」
vô đẳng
5115梵語 asama。音譯為阿娑磨、阿娑摩。為佛之尊稱。諸佛如來之智慧,於一切法中無可譬類,亦無法超過,稱為無等。又指眾生、聲聞、菩薩等無法與諸佛齊等,故稱為無等。〔大智度論卷二、十地經論卷二、大日經疏卷三〕
; Asama (S), Unequal.
; Asama (S). Unequal, unequalled; the one witout equal, Buddha.
; Asama (skt). 1) Không ai bằng: So với các loài sinh vật khác không một loài nào sánh bằng—Unequal—The one without equal. 2) Tôn hiệu của Phật: Trí tuệ của Như Lai, trong tất cả các pháp không gì so sánh nổi, cũng không gì vượt được—An honoured title of the Buddha.
vô đẳng giác
The unequalled enlightenment possessed by Buddhas.
; Sự giác ngộ của chư Phật là không gì sánh kịp—The unequalled enlightenment possessed by Buddhas.
vô đẳng thừa
The unequalled vehicle, Mahàyàna.
; Mahayana—The Unequalled Vehicle—See Đại Thừa.
vô đẳng đẳng
5116<一>梵語 asamasama。音譯阿娑摩娑摩、阿娑磨娑摩。為佛之尊稱,或表示佛乘之語。佛之煩惱淨盡,且神力廣大,非其餘之菩薩所能等同,稱為無等;佛與佛之果位平等,故稱無等等。又佛道超絕,無有能與等同者,故稱無等;唯佛與佛道等同,故稱無等等。維摩經義疏卷一(大三八‧九二二中):「諸佛無等,唯佛與佛等,是故號佛為無等等也。又實相無等,唯佛與實相等,名無等等。」此外,又形容最尊、最貴而無有與之相等者,如般若心經於諸部般若經典中乃最為扼要之精髓,故古來又稱為無等等咒、無等等明咒。〔法華經普門品、法華文句卷十、注維摩詰經卷一〕 <二>為阿彌陀佛三十七號之一。讚阿彌陀佛偈(大四七‧四二一中):「稽首無等等,願共諸眾生,往生安樂國。」此乃取佛位之通名為阿彌陀佛之別號。
; Asamasama (S), Equal to matchlessness Ở đẳng cấp hơn hẳn (vô đẳng: đạo Phật là đạo siêu tuyệt không đạo nào sánh kịp; đẳng: chỉ có Phật mới ngang hàng với Phật), được dùng làm tôn hiệu của chư Phật.
; Asamasama (S). Of rank unequalled, or equal with the unequalled, Buddha and Buddhism.
; Asamasama (skt). 1) Cái không gì sánh nổi, lại không gì sánh ngang bằng: Equality without equal—The unequalled state of equilibrium—Of rank unequalled, or equal with the unequalled. 2) Tôn hiệu của chư Phật và đạo Phật (Phật không ai sánh bằng, đạo Phật siêu tuyệt không đạo nào sánh bằng): Buddha and Buddhism are without equal.
vô đẳng đẳng thừa
Tên gọi chung của Đại Thừa, ý nói không một thừa nào có thể sánh kịp—The unequalled vehicle, Mahayana—See Đại Thừa.
vô định
Undetermined—Indefinite—Indeterminate.
vô đối
5127梵語 apratigha。對,為礙之意。無對,即非極微所成之無障礙法。「有對」之對稱。十二處中,眼、耳、鼻、舌、身等五根及色、聲、香、味、觸五境等十處有障礙,故為有對;意處、法處無障礙,故為無對。然有對分為障礙有對、境界有對、所緣有對三種。今十色處為有對,意處、法處為無對,乃就障礙有對而論。〔大毘婆沙論卷七十六、俱舍論卷二、成唯識論述記卷二〕(參閱「有對」2451)
vô đối quang
Incomparable light.
vô độ
Immoderate—Excessive (eating and drinking).
vô động
Aksobhya (S). Imperturbable, calm, serene, unagitated. Also Bất động.
; Aksobha (skt). 1) Unmoved—Imperturbable—Unagitated—Serene—Calm. 2) Từ được dùng để chỉ sự không thay đổi như cánh sao Bắc Đẩu, sự vô úy, và lãnh đạm trước cám dỗ hay dục vọng—The term is used for the unvarying or unchanging, for the pole-star, for fearlessness, for indifference to passion or temptation.
vô động hành
5109又作不動業。三行之一。謂修有漏之禪定而得生色界、無色界之果。因禪定離心之散動,故稱無動;又生天之果報決定而不移,故稱無動。前義係就因而言,後義係就果而說。(參閱「三行」550)
vô động phật
Xem Phật A súc bệ.
; Aksobhya-Buddha (S). Imperturbable Buddha. Also Bất động Phật, A súc Phật.
; Aksobhya (skt)—Bất Động Minh Vương—Bất Động Phật—Vô Động Tôn—Đức A Súc Bệ Phật của thế giới Diệu Hỷ, ngự trị nơi Đông Độ. Ngài là một trong năm vị Phật Thiền Định hay Siêu Việt. Ngài luôn tỉnh lặng, thanh khiết và vô tham dục. Theo Kinh Pháp Hoa thì ngài là con trai trưởng trong 16 người con của Phật Đại Thông Trí Thắng. Đặc tính chính yếu của ngài là hàng phục dục vọng—The Imperturbed (Unperturbed or motionless) Buddha who is always calm, serene and absence of passion. He is one of the Five Dhyani-Buddhas, and generally reigns over the east, his kingdom being Abhirati, realm of mystic pleasure. In the Lotus Sutra he is named as the first of the sixteen sons of Mahabhijnabhibhu. One of his principal characteristics is that of subduing the passions. ** For more information, please see Ngũ Phật, Ngũ Phật Ngũ Đại, Ngũ Phật Ngũ Sắc, Ngũ Phật Ngũ Sinh Bồ Tát, Ngũ Kim Cang, Ngũ Phẫn Nộ.
vô động tôn
Acalaceta.
vô ơn
Thankless—Ungrateful.
vô ưu
Vilaksa (S), Asoka (P)A du ca, Tất lạc xoa, Tất thích xoaPhật ra đời dưới gốc cây này- cây Vô ưu.
; Asoka (S). Without sorrow, not feeling or not causing sorrow.
; Không lo âu—Without sorrow—Ungrief—Not feeling or not causing sorrow. Những lời Phật dạy về “Vô Ưu” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Without sorrow” in the Dharmapada Sutra: 1) Hãy diệt mẹ (ái dục) và cha (kiêu căng), diệt hai dòng sát-đế-lợi, diệt Vương quốc, luôn cả quần thần mà hướng về Bà-la-môn vô ưu—Let's kill the mother of craving, the father of arrogance, two warrior kings of wrong views of eternalism and nihilism. Let's destroy the kingdom of senses and officials of attachments. Let's turn to the Brahman of ungrief (Dharmapada 294). 2) Hãy diệt mẹ (ái dục) và cha (kiêu căng), diệt hai dòng Bà-la-môn, diệt luôn hổ tướng “nghi” thứ năm mà hướng về Bà-la-môn vô ưu—Let's kill the mother of craving, the father of arrogance, two Brahaman kings of the wrong views of eternalism and nihilism. Let's destroy the official of Doubt and turn to the ungrieving Brahman (Dharmapada 295).
vô ưu già lam
Asokarama (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Vô Ưu Già Lam là một tịnh xá nơi lần kết tập kinh điển lần thứ ba được tổ chức—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Asokarama, a vihara in Pataliputra in which the “third synod was held.”
vô ưu thụ
A Thâu Ca—A Thuật Ca—Người ta nói Đức Phật đản sanh dưới gốc cây nầy—The tree under which Sakyamuni is said to have been born.
vô ưu tử phương ưng
1- Theo sử ghi trên đá trong xứ của ngài, lên ngôi năm 273BC, thì ngài được tôn vương năm 268 BC, qui y Phật năm 261 BC, thọ Tỳ kheo năm 259BC. Ngài mở đại hội kết tập thứ nhất, ở ngôi 37 năm, tịch năm 256 BC. 2- Hoa Vô Ưu: Hoa A du ca, A thúc ca. Hoa được người Ấn độ ăn hay dâng cúng thần Siva. 3- Vị thị giả Phật Tỳ bà Thi, dịch là: A thúc Ca, Vô Ưu tử Phương Ưng.
vô ưu vương
King Asoka. Also vua A dục.
; Vua A Dục—King Asoka—See Asoka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
vô ương số kiếp
5077梵語 asaṃkhyeya-kalpa。指無限長之時間。央,盡之意;劫,極長之時間,原為古代印度表示極大時限之時間單位,佛教亦沿用之。無央數,為梵語 asaṅkhya(音譯阿僧祇)之意譯。無量壽經卷上(大一二‧二六九下):「自行六波羅蜜,教人令行,無央數劫,積功累德。」〔法華經見寶塔品、灌頂經卷十二〕(參閱「阿僧祇」3666)
; Asankhyeya kalpa (S). A period of numberless kalpas.
; Asankhyeya kalpa (skt)—Một thời kỳ thật dài—A period of numberless kalpas.
vô ảnh tượng
Niràbhàsa (S). Without image or shadow, without semblance or appearance.
; Nirabhasa (skt)—Không cần ảnh tượng hay hình tướng bên ngoài—Without image or shadow—Without semblance or appearance.
võ phu
Brutal man.
võ sĩ đạo
Bushidō (J).
võ tắc thiên
Wu-tse-t'ien (C).
võ vẽ
To know imperfectly.
võ xá
Varsakara (S)Một vị đại thần triều vua A xà thế (Ajatasatru).
Võ Điền Tín Huyền
(武田信玄, Takeda Shingen, 1521-1573): vị Võ Tướng của thời đại Chiến Quốc, con trai đầu của Võ Điền Tín Hổ (信虎武田, Takeda Nobutora); tên húy là Tình Tín (晴信), Tín Huyền là pháp danh sau khi xuất gia; giới danh là Pháp Tánh Viện Cơ Sơn Tín Huyền (法性院機山信玄). Năm 1541, ông đuổi cha ông đi rồi làm chủ tiểu quốc Giáp Phỉ (甲斐, Kai). Ông đã mấy lần đánh nhau với Thượng Sam Khiêm Tín (上杉謙信, Uesugi Kenshin) ở Đảo Xuyên Trung (川中島, Kawanakajima), rồi cũng có dự định tranh thư hùng với Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga); nhưng trong khi tấn công Thành Dã Điền (野田城, Noda-jō) ở vùng Tam Hà (三河, Mikawa), ông bị bệnh và qua đời ở Y Na (伊那, Ina).
võng
1) Cái lưới: Jala (skt)—A net—A web. 2) Kinh Phạm Võng: The Brahmajala Sutra—See Kinh Phạm Võng in Vietnamese-English Section. 3) Cái võng: Hammock.
Võng cực
(罔極): vô cùng, không cùng tận. Như trong Thi Kinh, chương Tiểu Nhã có câu: “Phụ hề sanh ngã, mẫu hề cúc ngã, … dục báo chi đức, hạo thiên võng cực (父兮生我、母兮鞠我…欲報之德、昊天罔極, cha chừ sanh ta, mẹ chừ nuôi ta, … muốn báo đức ấy, trời cao vô tận).” Hay trong bản Cầu Thông Thân Thân Biểu (求通親親表) của Tào Thực (曹植, 192-232) nhà Ngụy thời Tam Quốc cũng có câu: “Chung hoài lục nga võng cực chi ai (終懷蓼莪罔極之哀, mãi nhớ đến nỗi đau buồn vô cùng tận khi mất cha mẹ).”
võng cực
Boundless—Endless.
võng lọng
Hammock and parasol.
võng minh bồ tát
5888網明,梵名 Jālinīprabha,又譯作明網、光網、網光。或稱網明童子菩薩。賢劫十六尊之一。此尊係金剛界曼荼羅三昧耶會等之輪壇外西方五尊中,安於北方之第二位。密號方便金剛、普願金剛。種子爲???(jaḥ)。三昧耶形爲羅網。此尊於微細會之形像,爲通身呈白肉色,左手握拳置於腰,右手持羅網。印契爲寶瓶印,或傘蓋印。真言爲「唵 惹哩儞 鉢羅婆野 娑嚩賀」。 此菩薩爲思益梵天所問經之對告眾,據該經卷二難問品載,此菩薩受佛之聖旨,現福報光明,其右手指間放大光明,普照十方無量之佛國,於其中之地獄、餓鬼、畜生,以及盲聾瘖瘂者皆遇其光而得快樂,故號網明。又同卷問談品載,此菩薩過七百六十萬阿僧祇劫將成佛,號普光自在王如來,其世界名集妙功德。〔持心梵天所問經卷二、勝思惟梵天所問經論卷一、金剛界七集卷下〕
võng minh phật
Net Brightness Buddha Một đức Phật vị lai cõi giới ở phương bắc cõi Ta bà. Xem Minh Võng Bồ tát.Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Light-net Buddha.
võng mục
Mắt lưới—The “eyes” or meshes of a net.
võng ngữ
Nonsense.
vùi
To to hide (bury) in the ground.
vùi dập
To mistreat—To ill-treat—To handle roughly.
vùi đầu
To be absorbed in—To give oneself up to.
vùn vụt
Swiftly—Rapidly.
vùng
District—Area—Zone—Region.
vút
Very high—Very tall.
văn
1420梵語 vyañjana。音譯便膳那。為心不相應行法之一,七十五法之一,百法之一。即字,為名與句之所依。據俱舍論卷五、俱舍論光記卷五載,文為字(梵 akṣara,音譯惡剎羅)之同義詞,具有「能彰顯」之義,或顯名、句,或顯義。即芈(a)、阿(ā)、壹(i)、伊(ī)等字稱為文,其體無詮表,但為名、句二者所依,攝於不相應行,與我國之書法文字不同。乃為彰顯本有之芈、阿等字而製作紙上書分,非為彰顯紙上書分之文字而製作諸字,故諸字非為書分之名。 文有三種,說一字時稱為「文」,說二字時稱為「文身」,說三字或四字則稱「多文身」。小乘說一切有部主張文別有自體,經部及唯識家則認為文僅為名、句之所依,故離聲即別無自體,而視其為分位假立之法。〔大毘婆沙論卷十四、大乘阿毗達磨雜集論卷二、成唯識論卷二、大乘義章卷二〕(參閱「名」2254)
; 5897耳聽。與思、修合稱三慧。對於根據經典而來之教說,聽聞而信解之,稱爲聞法、聞信。佛陀之弟子常聽聞聲教,稱爲聲聞;後世之行人唯依經卷而知佛法,或遇善知識而得聞法。北本涅槃經卷三十六迦葉菩薩品載,僅信仰佛之教說一半者、不能爲他人解說者,及爲議論或爲得名譽利益而身持教說者,凡此皆爲聞不具足。又據無量壽經卷下載,聞其(阿彌陀佛)名號,而信心歡喜,乃至一念,即得往生淨土,住於不退轉之位。又深信佛之光明有攝受救度眾生之作用,則稱爲「聞光力」。
; To hear; to make known to; to smell.
; 1) Nghe: To hear—To make known to. 2) Ngửi được: To smell. 3) Văn chương: Literature. 4) Văn, đối lại với võ: Civilian, opposed to military.
văn chuẩn lặc đàm
Thiền sư Văn Chuẩn Lặc Đàm (1061-1115)—Zen master Wen-Chun-Le-T'an—Thiền sư Trung Hoa, quê quán ở phủ Hưng Nguyên, sanh năm 1061. Từ thuở nhỏ đã gia công tinh cứu triết lý Phật giáo, nhưng về sau lại bỏ, nói rằng không quan tâm lắm. Rồi sư khởi sự học Thiền. Sang phương Nam ngụ với Qui Sơn Chân Như trải qua nhiều năm. Nhưng chẳng có tiến bộ nào. Sau đó sư đến tìm Cửu Phong Chân Tịnh, một đại Thiền sư đương thời—Zen master Wen-Chun-Le-T'an, a Chinese Zen master from Hsing-Yuan, China, was born in 1061. Since he was young he devoted himself to the mastery of Buddhist philosophy, but later abandoned it, saying that he did not care very much for it. He then began to study Zen, and going south stayed with Chen-Ju of Wei-Shan. He then came to Chen-Ching of Chiu-Feng, who was one of the great Zen masters of the time. • Một hôm Chân Tịnh hỏi: “Quê quán ở đâu?”—One day Chen-Ching asked: “Where is your native town?” • Sư đáp: “Ở Hưng Nguyên phủ.”—We-Chun replied: “Hsing-Yuan Fu.” • Chân Tịnh lại hỏi: “Vừa từ đâu đến đây?”—Chen-Ching asked: “Where do you come from now?” • Sư đáp: “Đại Ngưỡng.”—Wen-Chun replied: “Ta-Yang.” • Chân Tịnh hỏi: “An cư mùa hạ ở đâu?”—Chen-Ching asked: “Where did you pass your summer?” • Sư đáp: “Ở Qui Sơn.”—Wen-Chun said: “At Wei-Shan.” • Bấy giờ Chân Tịnh dang tay ra bảo: “Tay ta sao lại giống tay Phật thế?”—Chen-Ching now produced his hand, saying, “How is that my hand so resembles the Buddha's?” • Văn Chuẩn mù tịt không trả lời được câu nào—Wen-Chun was dumbfounded and unable to make any answer. • Chân Tịnh quở: “Trước thì ông trả lời ta từng câu rõ ràng sáng sủa. Vừa nhắc đến bàn tay Phật thì lại bí. Hỏng ở chỗ nào?”—Chen-Ching scolded: “So far you have been fluent enough in answering all my questions naturally and in a most splendid manner. As soon as the subject turned to the Buddha'' hand, you halt. Where is the trouble?" • Văn Chuẩn thú nhận là không hiểu—Wen-Chun confessed ignorance. • Chân Tịnh nói: “Mọi cái đều mở rộng hết ra trước mắt ngươi. Còn dạy cái gì nữa?”—Chen-Ching said: “Everything lies open in full revelation right before you; and whom would you get to teach you?” • Trải qua mười năm, Văn Chuẩn ở lại với thầy mình là Chân Tịnh; thầy đi đâu thì đi theo. Chân Tịnh là một ông thầy im lặng không có chỉ giáo riêng biệt cho bất cứ ai, dù môn nhân ngày càng nhiều ra. Nếu có một thầy Tăng vào thất của ngài để xin chỉ giáo, thì ngài cứ nhắm mắt và quỳ, chẳng nói gì hết. Nếu thấy có ai đến, ngài đứng dậy, đi ra vườn cuốc đất với những người làm vườn. Đây là lối tiếp xúc với môn nhân rất thường của ngài. Văn Chuẩn thường nói với bạn mình rằng “Thầy không có ý dạy pháp cho môn nhân sao? Khó mà hiểu nổi.” Một hôm nhân đưa gậy lên khơi ngòi nước để giặt áo, tâm trí sư đột nhiên tỉnh ngộ; sư chạy kiếm thầy và kể cho thầy nghe tất cả việc đã xãy ra. Nhưng thầy vẫn lạnh lùng mà còn mắng cho: “Ở đây sao dám lộn xộn như thế?”—For ten years Wen-Chun stayed with his master Chen-Ching and went about wherever he moved. Chen-Ching was a silent teacher and gave out no special instruction to anybody although his pupils grew considerably in number. When a monk entered his room for advice he would close his eyes and sit up on his knees and say nothing. If he saw somebody coming to him, he would rise, go out into the garden, and join the gardeners in hoeing. This was his usual way of dealing with his disciples. Wen-Chun used to say to his friend Kung: “Has the master no intention whatever to teach his followers in the Dharma? It is hard to know him.” One day Wen-Chun removed the dam with a stick, and while washing his clothes his mind suddenly woke to a state of enlightenment. He ran to the master and reported to him all that happened to him. But the master coldly blamed him, saying, “Why have you to be so unmannerly in this?” • Sư thị tịch năm 1115—He passed away in 1115.
văn châu
1429(1930~ )廣東湛江人,俗姓詹。十歲依福壽山果敬尼師出家,十六歲受具足戒,同時開始研究法華、楞嚴及天台教觀。後入香港中文大學及東京大正大學深造。四十二歲創辦美國羅省美西佛教會,往返於港美之間教學及弘法。四十五歲於美國羅省創建圓覺寺。歷任香港佛教青年會會長、香港佛教青年會學校校監兼校長、香港佛教聯合會董事、世界佛教友誼會港澳分會執行委員、美國美西佛教會會長。著作有人性之覺悟、佛學與教育、正信與迷信、般若心經講義、金剛經講義、觀世音菩薩普門品講義、大佛頂首楞嚴經笔記、妙法蓮華經講義、人間佛教與現代青年等。
văn chương
Literature.
văn chương cổ
Archaic Literature style.
văn chứng
The evidence of the written word, or scripture.
văn cú
1421<一>指解釋經文。又稱章、疏、述義、記、釋解等。以文句為題之書名有天台智者之妙法蓮華經文句、金光明經文句等。一般文句係以釋者之句,分別解析本經經文之義。 <二>凡十卷,或作二十卷。為妙法蓮華經文句之略稱,通稱法華文句。隋代智顗說,灌頂筆錄。今收於大正藏第三十四冊。為法華三大部之一。(參閱「法華文句」3399)
; Giải thích và phê bình văn chương, từ nầy áp dụng cho các áng văn về kinh điển—Textual explanation or criticism, this term applies to works on canonical texts.
văn cương
1431(636~727)唐代律僧。會稽(浙江紹興)人,俗姓孔。十二歲出家,勤奮好學,潛心律部,兼及禪那。永徽末年受具足戒,從京兆道成學四分律諸章疏,該通南山之教。中宗嗣聖二十一年(704),奉敕於歧州迎佛舍利。景龍年中,又敕於乾陵宮,為二聖內尼講四分律。先天元年(712),睿宗從受菩薩戒。後於開元十五年八月十五日入寂,享年九十二。師畢生弘通南山、相部兩宗,受戒者千餘人,世有尊為南山第二祖者。〔釋氏稽古略卷三、宋高僧傳卷十四〕
văn danh
5898謂聞佛之名號,特指聞阿彌陀佛名號而言。阿彌陀佛四十八願中第四十七願爲聞名不退願。無量壽經卷上載其願文爲(大一二‧二六九中):「設我得佛,他方國土諸菩薩眾聞我名字,(中略)不能即得不退轉者,不取正覺。」
; To hear the name of; fame, famous; to hear the name of Buddha, or a Buddha.
; 1) Nghe hồng danh Phật: To hear the name of a Buddha, i.e. Amitabha Buddha. 2) Nghe tên: To hear the name of. 3) Nổi danh: Fame—Famous.
văn duyệt
1423(998~1062)宋代臨濟宗僧。江西南昌人,俗姓徐。七歲時剃髮於龍興寺,十九歲遊歷諸方。參謁筠州(江西)大愚守芝,開悟後承其法,並隨侍守芝八年。守芝入寂後,師再遊方,參謁同安院慧南,為首座。歷住翠巖寺、南嶽法輪寺等,後又住南嶽雲峰,故又稱雲峰文悅。嘉祐七年示寂,世壽六十五。有語錄二卷行世。〔建中靖國續燈錄卷八、禪林僧寶傳卷二十二、五燈會元卷十二、佛祖歷代通載卷十八〕
văn gia
Writer.
văn giác
1432日本真言宗僧。生卒年不詳。原係北面武士,因誤殺源渡之妻而悲痛出家。後欲興復荒廢之高雄山神護寺,乃至「後白河上皇」之離宮強訴,引起騷亂,被流放至伊豆。於此地,受源賴朝之知遇,助滅平家,後經源賴朝之援助而復興神護寺,並完成東寺之修復。及源賴朝歿,圖謀不軌,事發,被流放於佐渡,入寂於九州。〔神護寺緣起、元亨釋書卷十四〕
văn giáo
Education and religion.
văn giáp
1423收置書札之手箱,禪林稱之為文夾。
; A satchel for Buddhist books.
văn hiến
See Văn minh.
văn hoa
Flowery.
văn hoá tài bảo hộ pháp
1421日本為保存及應用各種文化資產所制定之法律。昭和二十五年(1950)年五月公布,法律第二一四號。內容包括:(一)總則。(二)文化財保護委員會。(三)有形文化財、無形文化財、民俗資料。(四)埋藏文化財。(五)史跡名勝天然紀念物。(六)補則。(七)罰則、附則。其有關之律令條文亦包含古社寺保存之規定。此法律類似我國之文化資產保護法。
văn huệ
Srutanmayu-prajā (S)Một trong Tam huệ.
; See Văn Tuệ.
Văn Huệ Trùng Nguyên
(文慧重元, Bune Jūgen, ?-1063): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, người vùng Thanh Châu (青州, Tỉnh Sơn Đông), họ là Tôn (孫). Năm lên 17 tuổi, ông xuất gia, đến năm 20 tuổi thọ Cụ Túc giới. Ban đầu ông theo học giáo lý với Giảng Tứ (講肆), rồi có đêm nọ chợt thấy có linh cảm, bèn đến dự vào pháp tịch của Thiên Y Nghĩa Hoài (天衣義懷), cùng với đại chúng nghiên cứu tông phong chư tổ, chẳng bao lâu thì được khai ngộ, được Nghĩa Hoài ấn khả cho và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, ông đến trú tại Thiên Bát Tự (天鉢寺) ở Bắc Kinh (北京), rồi trãi qua khoảng 4 ngôi chùa như vậy. Trong thời gian này ông đã nỗ lực tuyên xướng tông phong của Vân Môn, và được rất nhiều tăng tục quy ngưỡng theo. Ông thị tịch vào năm thứu 8 niên hiệu Gia Hựu (嘉祐) và được ban cho thụy hiệu là Văn Huệ Thiền Sư (文慧禪師).
văn hào
Great writer.
văn hóa
Culture.
văn hương giáo
5899爲明代民間宗教之一。又稱東大乘教。萬曆(1573~1619)年間,河北灤州石佛口之王森所創立。自稱曾救一狐,狐自斷其尾贈之,有異香;以此號召徒眾,人多歸附,故稱聞香教,自號聞香教主,教徒遍及冀、魯、贛、晉、豫、秦、川等地。信奉燃燈佛、釋迦佛、未來佛,宣揚三期末劫、返本歸源等思想。萬曆四十一年(1613)二度入獄,後死獄中。其子好賢與徒弟徐鴻儒繼續傳教,天啟二年(1622)組織起義,徐鴻儒自稱中興福烈帝,建元「大乘興勝」,不久敗亡。王森之子孫復將聞香教改爲清茶門,代代傳習,嘉慶年間始趨衰微。
văn hải phúc tụ
1428(1686~1765)清代僧。為律宗千華派第七祖。浙江義烏人。受戒於江蘇寶華山,深究律藏。未久,繼承珍輝實詠之法嗣。雍正十二年(1734),世宗召見,住北京大法源寺傳戒,遂開千華派弘於國都之端緒。後歸寶華山,受戒者達數十萬。乾隆三十年示寂,享年八十。著有南山宗統、瑜伽補註、施食儀軌等。
văn học
Literary.
văn học sử
Literary history.
văn khoa
Letters—Faculty of Letters.
văn khế
Act—Contract.
văn khố
Archives.
văn kinh
The words of the sutras.
văn kiện
Document.
văn liệu
Literary materials.
văn loại
1431指集成之書。即蒐集整理經、論、釋重要文章所成者。例如宋代宗曉所編之樂邦文類、日本親鸞之集教行信證(全稱顯淨土真實教行證文類)等。文類雖非闡述自說,然編輯之同時,亦可披瀝一己之信仰於其中。此外,以敬虔信順之態度從事,書名附集、抄等,亦具同樣之旨趣。
văn lí
1430文句及義理。文句為能詮者,義理為所詮者,文理融會貫通,經義乃明。
văn lý
The written word and the truth expressed—Written principles—A treatise.
văn manh
Mù chữ—Illiterate—Unlettered.
văn minh
Civilization.
văn minh trung ương
Medhyadesa (S)Nên văn minh xuất hiện ở Trung á váo thế kỷ thứ 9, thứ 10 trước Công nguyên.
văn nghĩa tứ dụng
1431法華文句記將眾生應用文字、義理之情形分為四種,即:(一)有文有義,常人用之。謂 Z立言立論,有文字可資證據,有義理可以依憑者,此尋常之人皆能用,故稱常人用之。(二)無文有義,智人用之。謂凡立言立論,雖無文字可資證據,但有義理可以依憑者,此唯智者能用,故稱智人用之。(三)有文無義,暗者用之。謂凡立言立論,雖有文字可資證據,但無義理可以依憑者,此暗昧之人不明義理而強自用,故稱暗者用之。(四)無文無義,迷者用之。謂凡立言立論,既無文字可資證據,又無義理可以依憑,此愚迷之人不了文義而強自用,故稱迷者用之。
văn nghệ
Letters and arts.
văn ngôn
Wen-yen (C), Commentary on the Words of the Text Một trong 10 luận giải trong Thập Dực.
văn nhân
Man of letters.
văn nhã
Elegant.
văn ni
Mâu Ni—Muni (skt)—Sakyamuni.
văn phái
Literary school.
văn pháp
5898又作聽法、聞經。謂聽聞佛之教法。凡從佛直接聞法、從高僧聞法、從經典聞法等,均通稱爲聞法。聞法乃信教入道之第一步,非易期得,諸經論多說聞法爲世間難事,故稱爲聞法難,由聞法所得之智慧,稱作聞慧;係三慧(聞、思、修)之一。有關聞法之功德利益,正法念處經卷六十三列舉心生歡喜、隨所思惟等三十二種,毘尼母經卷六列舉生信心、因信心歡喜等九種。〔無量壽經卷下、北本涅槃經卷二十五、舊華嚴經卷十八、瑜伽師地論卷六十四〕(參閱「三慧」670、「四難」1851)
; To hear the doctrine.
; 1) Nghe giáo pháp: To hear the doctrine. 2) Văn pháp trong một bài văn: Syntax.
văn pháp học phái
1423在古代印度,語言係作為一種思考之對象,然在吠陀(梵 Veda)神學中,有關祭典上實際之補助文獻中,有所謂「吠陀六支分(梵 Vedāṅga)者,其中即有音聲學(梵 śikṣā)、韻律學(梵 chandas)、文法學(梵 vyākaraṇa)及語源學(梵 nirukta)等。至波爾尼(梵 Pāṇini)、迦旃延(梵 Kātyāyana)、巴丹闍梨(梵 Patañjali)等文典家輩出,對語言機能亦作綿密之思考,後世分為數派,其中伐㮹呵利(梵 Bhartṛhari)究明語言之本質,確立有關語言哲學之吠檀多(梵 Vedānta)哲學體系。屬於此一學說者,即稱為文法學派。該學派之特色,乃在於史波達說(梵 Sphoṭa)。即在語言內在之本質中,顯示其常住不滅之意義,謂與宇宙最高原理之「梵」為同一,個個所生之差別相係根據添性(梵 upādhi)之說而來。又主張了悟此一最高梵(梵 brahman)與個人我(梵 ātman)為一如,而滅除無明時,即得解脫。〔E.B. Cowell and A.E. Gough: The Sarvadarśanasaṃgraha by Mādhava ācarya, 1882、哲學的思索の印度的展開(中村元)〕
văn phòng
Office—Bureau.
văn phạm
Grammar.
văn quan
Civilian official.
văn quang lực
5898聞,聽聞而信解之;光,光明;力,威力。聞光力,謂聞信佛之光明有攝取眾生的作用。如聞阿彌陀如來之智慧光明,有超世希有之願力,及攝取不捨之威神力,而正信之。
; Nghe được “Quang Lực” hay lực của ánh sáng cõi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà—To hear of the power of the light of Amitabha.
văn quang tháp
1421請參閱 法華文句記 位於廣東潮陽縣城。舊為千佛塘,建於宋咸淳二年(1266),為道士趙汝箎所創,當時規模較小。明崇禎八年(1635)興工重建,改稱文光塔。全塔為磚石結構,高約二十九公尺,寬三十八點四公尺,八面七級,每層設石欄,中有銅鑄佛像。文光塔之故基藏有石函,其中三點二公尺刻曰「天下太平」。另有玉像三尊、銅像三尊、銀瓷像各十六尊,及細如豆粒之珍珠數百顆,捶擊不碎。塔下尚藏有各種文物、銅版、方尺等。
văn quả
1423清代臨濟宗僧。法名超揆,號輪菴,乃長洲文徵明之孫。年十七,以白衣參退翁弘儲於江蘇靈巖寺。永曆四年(1650)受菩薩戒,後剃染。歷住越州(浙江)大能仁寺、成都昭覺寺、雲南文殊院、吳江靈巖寺。康熙年中,朝廷召住玉泉山普陀寺,又遷澄心園古華嚴寺,晚年返南中,未久入寂,年壽不詳。曾校閱霽崙超永編集之五燈全書。〔五燈全書卷八十六〕
văn siêu
1430華嚴宗三祖法藏之弟子。生卒年及其生平均不詳。其著作亦僅存「隨聞要科自防遺忘集」(又稱華嚴經義鈔)、「華嚴關鍵」之部分,雖係斷簡,猶可自此窺得其獨具之十觀組織。
văn sách
Dissertation—Essay.
văn sĩ
See Văn nhân.
văn sức tôn giả
Xem Ca chiên diên.
; Kàtyana (S). Also Ca chiên diên.
văn thi
Prose and Poetry.
văn thành công chủ
1423為西藏佛教史上極力護持佛法的重要人物之一。姓李,為唐宗室女。生卒年不詳。貞觀十四年(640),吐蕃(西藏之古名)棄宗弄贊請和親,唐以公主嫁之。臨行,選文士技工數百人、高僧經像千數而去。至其國,建立佛寺,廣布教化,以佐銢F,百姓大治,視之如神。後唐僧西行求法者,經其國,皆優禮之。曾出兵助王玄策平天竺。永徽初年,棄宗弄贊卒,立其子,國賴以安。一生作為,對西藏佛教之發展,具有重大之影響。〔舊唐書卷一九六上、新唐書卷二一六上〕
văn thành tựu
5898爲六成就之一。每一經典首端均有「如是我聞:一時,佛在某處,與大比丘眾」等數言,順次以如是、我聞、一時、佛、在某處、與大比丘眾,爲信、聞、時、主、處、眾等爲六成就。此乃爲使後世聞經者信解,故列此六事,證明其非虛謬。聞成就即其中之「我聞」二字。(參閱「六成就」1266)
văn thái
1428(?~1289)宋末曹洞宗僧。太原(山西)汾州陽城人,俗姓魏。字崧山。少即穎悟過人,篤好宗乘,禮本鄉智禪師剃髮受業,潛心禪修,傾慕別傳之法,遂辭師遊學,經太行入東魯,初習教乘於演三藏、德律師之法席;復參臨濟宗之雪峰恒,參請累年,得蒙授記;次參曹洞宗太原深之丈室,復蒙印證;後詣燕京(北平)大萬壽寺,參雪庭福裕,得契玄旨並嗣其法。當時雪庭之高弟中有稱二泰一肅者,師居其首。侍錫十年,迨福公將入寂,特囑師開堂於少林祖剎,遂繼席少室。至元二十六年正月示寂,世壽不詳。〔五燈會元續略卷一、續指月錄卷九、續燈存稾卷十一、五燈全書卷六十一〕
; See Văn nhã.
văn thân
Vyanjana-kāya (S)Sự nương tựa của Danh và Cú.
văn thù
Monju (J).
văn thù bát nhã kinh
1425凡二卷。扶南人曼陀羅仙譯,書成於梁天監二年(503)。全稱文殊師利所說摩訶般若波羅蜜經。又稱文殊說摩訶般若經、文殊師利般若波羅蜜經。收於大正藏第八冊。曼陀羅仙示寂後,扶南人僧伽婆羅復譯文殊師利所說般若波羅蜜經一卷;唐玄奘譯大般若波羅蜜多經,其中第七會曼殊室利分,亦為本經之同本異譯。內容敘述文殊室利、佛如來及有情界之一相不可得、福田相之不可思議,及一相莊嚴三摩地等之說法。〔開元釋教錄卷八〕
văn thù bát đại đồng tử
The eight messengers of Manjusri.
văn thù bồ tát
1426請參閱 文殊師利問經 文殊,梵名 Mañjuśrī,音譯作文殊師利、曼殊室利、滿祖室哩,意譯為妙德、妙吉祥、妙樂、法王子。又稱文殊師利童真、孺童文殊菩薩。為我國佛教四大菩薩之一。與般若經典關係甚深。或謂其為已成之佛,如首楞嚴三昧經卷下載,過去久遠劫有龍種上如來,於南方平等世界成無上正等覺,壽四百四十萬歲而入涅槃,彼佛即今之文殊師利法王子。或謂其為實在人物,如文殊師利般涅槃經謂,此菩薩生於舍衛國多羅聚落梵德婆羅門家,生時屋宅化如蓮花,由其母之右脅出生,後至釋迦牟尼佛所出家學道。此外,亦有說文殊菩薩為諸佛菩薩之父母者。一般稱文殊師利菩薩,與普賢菩薩同為釋迦佛之脅侍,分別表示佛智、佛慧之別德。所乘之獅子,象徵其威猛。 有關文殊菩薩之淨土,於經典記載說法不一。據文殊師利佛土嚴淨經卷下、大寶積經卷六十文殊師利授記會載,此菩薩自往昔那由他阿僧祇劫以來,發十八種大願,嚴淨佛國,當來成佛,稱為普現如來,其佛土在南方,號離塵垢心世界、無垢世界、清淨無垢寶寘世界。悲華經卷三諸菩薩本授記品、法華經卷四提婆達多品等亦有相同之說法。又據新華嚴經卷十二如來名號品載,過東方十佛剎微塵數之世界有一「金色世界」,其佛號為不動智,此世界之菩薩,即稱文殊師利。華嚴宗稱東方清涼山為其住所,而以我國山西五臺山(清涼寺)為其道場。 於密教胎藏曼荼羅中臺八葉院中,呈金色童子形,頭有五髻,左手捧青蓮花,上立五股杵,右手持梵篋。密號吉祥金剛,三昧耶形為青蓮花上金剛杵。胎藏界曼荼羅另設文殊院,以文殊菩薩為中尊,又稱五髻文殊,密號吉祥金剛、般若金剛,三昧耶形為青蓮上三股或梵篋。形像為童子形,身呈紫金色,頂有五髻,右手仰掌,指端向右,左手執青蓮花,上立三股杵。由其真言字數之不同,有一字文殊、五字文殊、六字文殊、八字文殊等區別。 在印度、西域等地,有關文殊信仰之記載甚少。我國自東晉以來,崇信文殊之風漸盛。據貞元新定釋教目錄卷十六載,唐代宗大曆四年(769)由不空三藏之奏請,敕令天下佛寺,食堂中除賓頭盧尊者像外,另安置文殊菩薩像,以為上座。現今敦煌千佛洞中存有文殊維摩變、文殊普賢像、千臂千鉢文殊師利等之壁畫及絹本畫。〔文殊師利所說摩訶般若波羅蜜經、阿闍世王經卷上、菩薩瓔珞經卷四四諦品、大方廣菩薩藏文殊師利根本儀軌經卷一、舊華嚴經卷二十九菩薩住處品、大日經卷一具緣品、卷二普通真言藏品、卷四密印品、大智度論卷一、卷一○○、大日經疏卷五〕(參閱「文殊信仰」1425)
văn thù hiệu pháp vương tử
Chư Bồ Tát đều là con của Pháp Vương Như Lai, duy chỉ có Văn Thù được gọi là Pháp Vương Tử vì Ngài còn là bậc thượng thủ của Bồ tát chúng—All Bodhisattvas are sons of the Buddha, Manjusri is looked on as the chief of the Bodhisattvas and represents them, as the chief disciple of the Buddha.
văn thù hối quá
Phép sám hối của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, sám hối cho nghi tâm đời quá khứ—The repentance of Majusri, such as his former doubting mind.
văn thù hội
1426指日本每年七月八日祭祀文殊菩薩,為祈求諸人化益,或孤獨者得養育所行之法會。於會期前後三日禁斷殺生,至該日,則授予會眾三歸五戒。又於是日,施給貧者即同於供養文殊菩薩。此外,又於每年此日兼修堂塔經藏等之破損。
văn thù kim cang sư lợi
Śrīmanjuvajra (S)Tên một vị Bồ tát.
văn thù pháp vương
1424 (1379~1448)西藏名 Ḥjam-dbyaṅs chos-rje。音譯甲養曲吉、江樣曲吉。其名為拉西佩典(藏 Bkra-śis dpal-ldan),即吉祥德之意。係西藏喇嘛教黃帽派開祖宗喀巴之高足。奉宗喀巴之命,創建別蚌寺(藏 Ḥbras-spuṅs),該寺位於拉薩西方約八公里之丘陵,係黃帽派四大寺院之一。別蚌寺完成後,至達賴喇嘛五世為止,皆為法王之宮殿,文殊法王即住於此研究佛法,凡三十餘年。與第一世班禪等六人同被尊為「事業虛空平等之七子」。
văn thù sư lị bồ tát
Manjusri Bodhisattva.
Văn Thù Sư Lợi
(s: Mañjuśrī, 文殊師利): hay Man Thù Thất Lợi (曼殊室利), Tàu dịch là Diệu Đức (妙德) hoặc Diệu Cát Tường (妙吉祥). Ngài sanh ra từ vai phải của mẹ, trong một gia đình Bà La Môn ở tụ lạc Đa La (多羅) tại Xá Vệ Quốc (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛國). Thân thể Ngài có màu vàng tía, về sau Ngài xuất gia với đức Phật. Trong Đạo Giáo, Ngài được gọi là Văn Thù Quảng Đại Thiên Tôn (文殊廣法天尊). Văn Thù và Phổ Hiền là hai vị Bồ Tát thường theo hầu bên đức Phật Thích Ca, được gọi là Thích Ca Tam Tôn (釋迦三尊), khác với Di Đà Tam Tôn, hay Tây Phương Tam Thánh. Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh (首楞嚴三昧經) cho biết rằng: “Vào thời quá khứ vô lượng A Tăng Kỳ Kiếp, có thế giới ở phương Nam tên Bình Đẳng (平等), đức Phật của thế giới ấy tên là Long Chủng Thượng Như Lai (龍種上如來), tức là đức Văn Thù Bồ Tát hiện tại.” Hay như Ương Quật Ma La Kinh (央掘魔羅經) có giải thích về xuất xứ của Ngài rằng: “Đức Hoan Hỷ Tạng Ma Bảo Tích Phật (歡喜藏摩尼寶積佛) ở thế giới Thường Hỷ (常喜) ở phương Bắc hiện tại chính là đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.” Tuy nhiên, trong Bi Hoa Kinh (悲華經) lại cho rằng: “Khi đức Phật A Di Đà đang còn làm Chuyển Luân Thánh Vương, có vị Vương Tử thứ ba tên Vương Chúng (王眾), đã phát tâm Bồ Đề, nguyện trong đời tương lai, đời đời kiếp kiếp, thực hành đạo Bồ Tát, không có dừng nghỉ, không giới hạn nơi chỗ, để trang nghiêm thanh tịnh quốc độ Phật; khiến cho tam thiên đại thiên thế giới, hằng hà sa số mười phương quốc độ rộng lớn, hợp lại thành một thế giới của vị này giáo hóa. Trong thế giới ấy có vô lượng đầy đủ các của báu, không có xúc chạm những điều nhơ nhớp, đau khổ, không có người nữ, thậm chí không có danh từ người nữ; lại không có chúng sanh chưa phát tâm Bồ Đề. Vị Vương Tử thứ ba phát nguyện xong, Bảo Tạng Phật bèn đặt cho Vương Tử tên là Văn Thù Sư Lợi, thọ ký vào thời mạt pháp tương lai sẽ thành tựu viên mãn vô thượng chánh đẳng chánh giác tại quốc độ tên Thanh Tịnh Vô Cấu Bảo Chấn (清淨無垢寶窴) với danh hiệu là Phổ Hiện Như Lai (普現如來).” Trong Quán Phật Tam Muội Hải Kinh (觀佛三昧海經) lại cho biết thêm rằng đương thời khi đức Thế Tôn sau khi vì đại chúng thuyết Quán Phật Tam Muội Hải Kinh xong, Văn Thù Bồ Tát thưa với đại chúng rằng: “Vào thời quá khứ đức Bảo Uy Đức Như Lai (寶威德如來), có một người con của Trưởng Giả kia tên Giới Hộ (戒護), khi đang con trong bào thai mẹ đã thọ Tam Quy Y. Năm lên 8 tuổi, song thân cậu bé cung thỉnh đức Thế Tôn đến tư gia thiết lễ cúng dường. Khi cậu bé diện kiến đức Phật, uy nghi an tường, từng bước đi bình ổn, khoan thai, nơi từng bước chân của Ngài đều nở ra một đóa sen, và thân tướng Ngài phóng ra ánh sáng rực rỡ. Thấy vậy cậu bé vô cùng hoan hỷ, hướng Phật cung kính lễ bái, xong từ từ nhìn chăm chăm đức Thế Tôn mà không hề chớp mắt. Chỉ một lần thấy được Phật, tức trừ đi được trăm vạn ức kiếp các tội nặng sanh tử. Đồng tử này do nhờ duyên đã thọ Tam Quy và lễ bái đức Phật, rồi quán sát tướng hảo của đức Như Lai rất kỹ lưỡng, tâm không mệt mỏi, lười biếng, nhờ vậy mà có thể gặp được vô số các đức Phật. Đồng tử lúc bầy giờ chính là Văn Thù Sư Lợi tôi đây.” Sau khi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói xong, đức Phật bảo A Nan rằng: “Con hãy nên ghi nhận, nhớ kỹ câu chuyện của Văn Thù Sư Lợi, đem phổ biến đến khắp các chúng sanh, chúng sanh trong đời tương lai, nếu như có người có thể nhất tâm lễ bái, có thể tâm thành niệm Phật, có thể tâm thành quán Phật, nên biết rằng người ấy có công đức ngang bằng với Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.” Lại trong Văn Thù Phát Nguyện Kinh (文殊發願經) có nêu lên bài kệ phát nguyện phần lớn giống với bài kệ của Phổ Hiền Bồ Tát (普賢菩薩): “Nguyện con lúc mạng chung, diệt trừ các chướng ngại, mắt thấy A Di Đà, vãng sanh An Lạc Sát, sanh nơi nước Phật kia, trọn thành các nguyện lớn, A Di Đà Như Lai, trước mắt thọ ký con, trang nghiêm Phổ Hiền hạnh, đầy đủ Văn Thù nguyện, tận cùng kiếp tương lai, cứu cánh Bồ Tát hạnh.” Văn Thù, Phổ Hiền là hai vị Đại Thánh bổ tá cho đức Phật Tỳ Lô Giá Na (毘盧遮那) trên hội Hoa Nghiêm (華嚴). Hạnh nguyện độ sanh của hai vị Bồ Tát này đều lấy cơ sở của pháp môn Niệm Phật, lấy Tịnh Độ là nơi quy hướng cuối cùng. Đặc biệt trong Phóng Bát Kinh (放缽經), đức Phật có đề cao vai trò của Văn Thù Sư Lợi rằng: “Nay ta thành Phật, có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, oai thần tôn quý, độ thoát mười phương hết thảy chúng sanh, thảy đều nhờ ơn của Văn Thù Sư Lợi; Văn Thù Sư Lợi chính là thầy của ta. Vô lượng vô số chư Phật trong quá khứ đều là đệ tử của Văn Thù Sư Lợi, tương lai thành Phật cũng nhờ oai thần thế lực của vị ấy; ví như trên đời con nhỏ có cha mẹ, Văn Thù là cha mẹ trong Phật đạo.” Văn Thù Sư Lợi là hóa thân của trí tuệ, nên thường được gọi là Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (大智文殊師利菩薩). Bồ Tát Văn Thù thường được gọi là Tam Thế Giác Mẫu (三世覺母, mẹ giác ngộ của ba đời). Danh hiệu Long Chủng Thượng Tôn Vương Như Lai (龍種上尊王如來), hay Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật trong Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh (首楞嚴三昧經) là Bồ Tát Văn Thù. Hay như danh hiệu Phổ Minh Phật (普明佛) trong Bát Thập Bát Phật Hồng Danh Bảo Sám cũng là Bồ Tát Văn Thù. Trong các kinh điển thường gọi Bồ Tát Văn Thù là Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử (s: Mañjuśriyā Kumārabhūtena, 文殊師利法王子), có nghĩa rằng tất cả Bồ Tát đều gọi là con của đức Như Lai Pháp Vương. Kinh điển thường nêu Bồ Tát Văn Thù là Pháp Vương Tử là vì ngài là vị đệ tử thượng thủ trong hàng Bồ Tát, được xem như cánh tay phải bên cạnh Đức Phật. Trưởng Lão Xá Lợi Phất là Trí Tuệ Đệ Nhất trong hàng đệ tử Thanh Văn, còn Văn Thù Sư Lợi là Trí Tuệ Đệ Nhất trong hàng Bồ Tát Đại Thừa. Nhân trong quyển 80 của Hoa Nghiêm Kinh có câu: “Tại phương Đông Bắc có ngọn núi tên Thanh Lương Sơn (清涼山); từ xưa đến nay, các chúng Bồ Tát đều dừng chân trú tại núi đó, hiện có Bồ Tát tên Văn Thù Sư Lợi, cùng với quyến thuộc, các vị Bồ Tát một vạn người, thường trong núi ấy, tuyên diễn thuyết pháp.” Cho nên, Ngũ Đài Sơn (五台山, còn gọi là Thanh Lương Sơn) ở Tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc được công nhận là đạo tràng của Văn Thù Bồ Tát, trở thành một trong 4 ngọn núi danh tiếng. Nga Mi Sơn (峨嵋山) là thánh địa của Phổ Hiền Bồ Tát (普賢菩薩). Phổ Đà Sơn (普陀山) là thánh địa của Quan Thế Âm Bồ Tát. Cửu Hoa Sơn (九華山) là thánh địa của Địa Tạng Vương Bồ Tát (地藏王菩薩).
văn thù sư lợi
Manjusri (skt)—Mãn Thù Thi Lợi—Mạn Thù Thất Lợi—Văn Thù—Một biểu tượng cho trí tuệ của người tu Phật. Trong Kinh Liên Hoa diễn tả Ngài nhảy vọt lên từ trong đại dương. Chữ Manju có nghĩa là đẹp, chữ Sri có nghĩa là gia tài, đức hạnh hay chúa. Nguyên chữ Manjusri có nghĩa là “đức hạnh tuyệt vời.” Văn Thù một tay cầm kiếm Kim Cương đoạn diệt mê hoặc, ngồi trên lưng sư tử. Văn Thù được xem như là vị bảo hộ trí tuệ, và thường được đặt bên trái Phật Thích Ca, trong khi Phổ Hiền bên phải được coi như là vị Hộ Pháp. Văn Thù cũng biểu thị sự giác ngộ tức sự hốt nhiên nhận ra nhất thể của tất cả cuộc tồn sinh và năng lực phát sinh từ đó, mà sức mạnh của sư tử là biểu tượng—A symbol of Buddhist wisdom or an idealization of a particular quality. The Lotus Sutra describes him as springing out from the great ocean. Manju is beautiful, Sri is good fortune, virtue, majesty or lord. Manjusri means the beautiful virtue (fortune or lord). Manjusri with his delusion-cutting vajra sword in one hand, sits on the back of a lion on the Buddha's left. He is considered as a guardian of wisdom and is often placed on Sakyamuni's left, with Samantabhadra on the right side as guardian of Law. Manjusri also represents awakening, that is, the sudden realization of the Oneness of all existence and the power rising therefrom, of which the lion's vigor is symbolic. There are six different definitions: 1) Diệu Thủ: Wonderful or beautiful head. 2) Phổ Thủ: Universal head. 3) Nhu Thủ: Glossy head. 4) Kính Thủ: Revered head. 5) Diệu Cát Tường: Wonderful auspicious.
văn thù sư lợi bồ tát
Majuśrī Bodhisattva (P), Mondjou-bosatu (J), Jampeian (T) Man thù thất lỵ, Diệu Đức Bồ tát (Vô lượng thọ kinh và Niết bàn Kinh), Diệu Kiết tường Bồ tát (Đại Nhựt Kinh), Diệu Thủ Bồ tát (Vô hạnh Kinh), Phổ Thủ Bồ tát (Đại tịnh Pháp môn Kinh). Ngài Văn thù là một vị cổ Phật. Trong quá khứ, Ngài đã là Long chưởng thượng tôn vương Như Lai. Về vị lai, Ngài sẽ là Phật Phổ Kiến Như Lai (= Phổ Hiền Như Lai). Đức Văn thù có 108 tên, Ngài tượng trưng cho trí huệ.
; Manjusri Bodhisattva—Bậc Toàn Trí.
văn thù sư lợi bồ tát cập chư tiên sở thuyết cát hung thời nhật thiện ác tú diệu kinh
1425請參閱 須真天子經 請參閱 文殊般若經 請參閱 文殊般若經 凡二卷。略稱宿曜經。唐代不空譯,楊景風修注。今收於大正藏第二十一冊。本經共分八品,內容係詳敘二十 C宿、七曜等事,及吉凶占卜之法。高麗藏與明藏中收之。〔貞元新定釋教目錄卷十五〕(參閱「宿曜經」4512)
; Majusrī-bodhisattva-sarvaṛṣinirdeśa-puṇyā-puṇyākala-nakṣatra-tārā-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
văn thù sư lợi pháp vương bồ tát
MajuśrīkumarabhŪta (S)Tên một vị Bồ tát.
văn thù sư lợi pháp vương tử
Dharma Prince Manjuri Tên một vị Bồ tát.
; Dharma Prince Manjushri.
văn thù sư lợi phật độ trang nghiêm kinh
Majusrī-buddhakṣetra-guṇa-vyŪhālaṅkāra-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
văn thù sư lợi sở thuyết bát nhã ba la mật kinh
Wen-shu shih-li so-shuo pan-jo t'o-lo-mi ching (C)Tên một bộ kinh.
văn thù sư lợi sở thuyết bất tư nghị phật cảnh giới kinh
Aciṇtya-Buddhaviṣayanirdeśa-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
văn thù sư lợi thần biến phẩm chi đại thừa kinh
Xem Ma Nghịch kinh.
văn thù sư lợi vấn kinh
1425凡二卷。梁‧僧伽婆羅譯。略稱文殊問經。收於大正藏第十四冊。本經係佛應文殊師利菩薩之發問,而答以種種問題者。全經計分十七品,卷上十四品,卷下三品。內容包括菩薩戒、佛身、無我、涅槃、般若、有餘氣、來去相、中道、三歸、十戒、無垢、無所著無漏、發菩提心、字母及部派分裂等問題。唐代不空譯「文殊問經字母品第十四」一卷(收於大正藏第十四冊),即本經第十四品之別譯。〔歷代三寶紀卷十一、大唐內典錄卷四、古今譯經圖紀卷四、開元釋教錄卷六、貞元新定釋教目錄卷九〕
văn thù tam danh
1424文殊,指文殊師利菩薩。據翻譯名義集載,文殊師利(梵 Mañjuśrī)又作滿殊尸利、曼殊室利。意譯作妙德、妙首、妙吉祥,故稱文殊三名。即:(一)文殊師利(妙德),謂具不可思議種種微妙功德,故稱妙德。(二)滿殊尸利(妙首),謂具不可思議微妙功德,在諸菩薩之上,故稱妙首。(三)曼殊室利(妙吉祥),謂具不可思議微妙功德,最勝吉祥,故稱妙吉祥。
văn thù tam muội
1424發得無相妙慧之三昧。為文殊菩薩及其眷屬所住之三昧。大日經疏卷五(大三九‧六三五中):「各作一奉教者,皆跪向使者,如承受音告之形,悉是文殊三昧,故經云侍衛無勝智也。」
; The samadhi of Manjusri styled the formless wonderful wisdom (vô tướng diệu huệ).
văn thù tát ca ban thiền
1427請參閱 文殊般若經 (1182~1251)西藏名 Sa-skya paṇ-chen。又稱孔迦嘉贊(藏 Kun-dgaḥ rgyal-mtshan)。為薩禪之第四子巴爾煎火普(藏 Dpal-chen ḥod-po)之長子。生後一年餘,即能寫字,讀梵語,且知西藏與中國文字之讀法。初於薩迦派第四世寶尊者(其伯父)之座下,受梵行優婆塞之戒,次依二流之儀軌門而發菩提心,入大悲空智金剛曼荼羅,受灌頂,又受真言之戒,在寶尊者之下,掌下僕之勞役。以其能恭敬信解,故尊者授予喇嘛瑜伽。自少時,即宣說成就法海生(梵 Sādhana-saroruha)、小祕密真言、分別、瑜伽、怛特羅等法,迄七十歲示寂為止,對於經、真言、諸明處之說示不絕。當其十八歲時,在夢中聽聞阿闍梨世親講俱舍論,夢醒後,對俱舍論皆了悟無遺。又於迦濕彌羅之大班底達修學量論,從僧伽師利等學僧習量、般若、聲明、詩、音韻,歌舞等,通達諸明處。二十五歲,以釋迦師利為勘布,以須巴普伊哈巴(藏 Spyi-bo-lhas-pa)為阿闍梨,以須拍拉琚]藏 Shu-ḥphrad-pa)為祕密教主,後受具足戒。六十五歲(1246),應蒙古哥旦汗之招請而至蘭州大城。次年,面謁蒙王,傳授大乘經、大悲空智金剛等頗多深廣之法,此後王與蒙古人民多數歸依三寶,又重新製訂蒙古文字,在蒙七年之間,從事教法與利益眾生之業。西元一二五一年,於蘭州入寂,享年七十。其著作範圍甚廣,有三戒律分別(藏 Sdom-pa gsum-gyi bar-dudbye-ba)、量明藏(藏 Tshad-ma rig-paḥi gter)七部、善說寶藏(藏 Legs-par bśad-pa rin-po-cheḥi gter)、牟尼意趣明(藏 Thub-po dgons-gsal)等多種論著,以其通達五明處,故被譽為無擬慧之最上大班底達。〔蒙藏佛教史、蒙古佛教史、Deb-ther sṅon-po(The Blue Annals);L.A. Waddell: The Buddhism of Tibet; H. Hoffmann: Die Religionen Tibets(The Religions of Tibet)〕
văn thù tín ngưỡng
1424以山西五臺山為中心,傳播遍及西藏、蒙古、關外等地。此係基於六十華嚴菩薩住處品所稱,文殊菩薩住於東北方清涼山之說而來者。唐大曆四年(769),依大興善寺三藏沙門不空等之奏請,敕令天下食堂中,於賓頭盧尊者像外,另安置文殊師利形像以為上座;七年更敕令天下僧尼寺內各選一勝處,設置大聖文殊師利菩薩院,安置文殊塑像。此外,據古清涼傳卷上載,北魏文帝遊五臺山,於中臺建造一寺,安置菩薩像。宋高僧傳卷四亦載,窺基曾於五臺山造立文殊菩薩玉像。類此之記載,不勝枚舉。今敦煌千佛洞存有多種文殊維摩變、文殊普賢像,及千臂千鉢文殊師利等之壁畫及絹本畫等。〔貞元新定釋教目錄卷十六、法苑珠林卷十四、山西通志卷二十九〕(參閱「文殊菩薩」1426)
văn thù viện
1425<一>為密教胎藏界曼荼羅十三大院之一。位於上方第三重,即釋迦院之東方。以文殊師利菩薩為主尊。文殊之右方,次第安置觀音菩薩、髻設尼等文殊五使者、五使者之眷屬,左方則依次置有普賢菩薩、光網童子及其眷屬四位等等,合之共二十五尊。〔大日經義釋演密鈔、胎藏界大法對受記〕 <二>位於四川成都。其前身為創建於唐代之信相寺,於明代曾因戰火而荒廢,至清康熙三十年(1691)始大事重建,並更改寺名為文殊院。有天王殿、三大士殿、大雄寶殿及藏經樓等大殿堂。大雄寶殿內,供奉釋迦如來及文殊、普賢菩薩像,皆為清末作品。藏經樓除收藏經典外,另有一座放置玄奘法師頭蓋骨之寶塔。
; Viện thứ bảy trong mười ba viện lớn của Thai Tạng Mạn Đồ La, lấy Văn Thù Sư Lợi làm trung tâm của nhóm 25 vị—The seventh great court of the thirteen in the Garbhadhatu group; it shows Majusri in the centre of a group of twenty-five.
văn thù vấn bát nhã kinh
Majuśrīpucchaprajā (S)Tên một bộ kinh.
Văn Thù Ứng Chơn
(文殊應眞, Monju Ōshin, ?-?): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, sống vào thời Ngũ Đại, pháp từ của Đức Sơn Duyên Mật (德山緣密), và đã từng sống tại Văn Thù Sơn (文殊山) thuộc Đỉnh Châu (鼎州, Tỉnh Hồ Nam).
văn thúy khâm sơn thiền sư
Thiền sư nổi tiếng đời Đường, đệ tử và người kế vị Pháp của Thiền sư Động Sơn Lương Giới. Trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, người ta kể rằng Văn Thúy, sau khi đến một ngôi chùa, đã cùng với Nham Đầu Toàn Khoát và Tuyết Sơn Nghĩa Tồn đi chu du để tầm học với các thiền sư khác. Cuối cùng ba người đến gặp Đức Sơn Tuyên Giám. Nham Đầu và Tuyết Phong trở thành những học trò xuất sắc và người kế vị Pháp cho Đức Sơn. Khâm Sơn không quen sự khắt khe quá mức của thầy, đã bị thầy đánh trọng thương phải mang đến y xá. Sau đó Khâm Sơn đến gặp và đạt được đại giác với thiền sư Đông Sơn. Khâm Sơn trở thành viện trưởng tu viện trên núi Khâm vào lúc ông mới 27 tuổi—Wen-Shui-Ch'in-Shan, a famous Ch'an master during the T'ang dynasty, a disciple and dharma successor of T'ung-Shan-Liang Chieh. In the Ching-Te-Ch'uan-Teng-Lu, it is reported that Ch'in-Shan, after already having entered a Ch'an monastery in his early years, went on pilgrimage with Yen-T'ou Ch'uan-Huo and Hsueh-Feng-I-Ts'un to seek out various Ch'an masters. At last the three of them came to Te-Shan-Hsuan-Chieh. While Yen-T'ou and Hsueh-Feng became outstanding students and dharma successors of Te-Shan, Ch'in-Shan could not get used to master Te-Shan's extremely strict style of training. After the master had beaten him so hard that he had to be taken sick to bed, Ch'in—Shan left and went to master Tung-Shan, under whom he also at last experienced enlightenment. Ch'in-Shan is said to have become abbot of the monastery on Mount Ch'in at the age of twenty-seven.
văn thư
Letter—Document.
văn thắng
1430(?~1026)宋代之法眼宗僧。世稱慈濟禪師。婺州(浙江)人,俗姓劉。自幼即出家受戒,其後參謁洪州(江西)雲居山道齊禪師,並嗣其法。據天聖廣燈錄卷二十九載,雲居道齊一日上堂,舉示:龐居士問馬祖道一(卍續一三五‧四四四上):「不與萬法為侶者是什麼人?」之公案後,隨即轉問師:「不與萬法為侶者,且道是阿誰?」師從此契悟,遂留雲居山,不再外遊。後住於杭州靈隱山之南院,大弘法化,晚年退隱於杭州興慶庵。仁宗天聖四年,朝廷特以故駙馬吳元扆宅捨為精舍,親筆御書賜額為「慈孝寺」,肇建禪林,是年春,詔師往住。師奉詔之後,行至楚州(安徽),病發而示寂,年壽不詳。〔五燈會元卷十〕
văn thể
Literary form or style.
văn thục
1430生卒年不詳。於唐武宗在位時(840~846),每於正月、五月、九月等三長齋宣講法華經,為俗講之第一人。然與假託經論而說淫穢之事之文淑是否同一人,則不得而知。〔因話錄卷四(趙璘)〕
văn thủ
1422(1608~1646)日本臨濟宗僧。為山城靈源院之開山。俗姓源。字一絲。十四歲出家,十九歲受具足戒,後入愚堂寔之室,並蒙其印可,時與妙心寺之雲居膺、雪窓崔等相往來,道契甚深。於後光明天皇正保三年三月入寂,享年三十九。遺有緇門寶藏註垂誡、童行談苑等行世。〔正法山志卷四〕
Văn Tinh
(文星): tức Văn Xương Tinh (文昌星), hay Văn Khúc Tinh (文曲星). Tương truyền sao này chủ quản về học thuật, văn chương; cho nên người thuộc sao này thì có tài hoa về nhiều phương diện khác nhau. Sao này đồng cung với Thiên Lương (天梁), Tử Vi (紫微), Thiên Tướng (天相), Thiên Phủ (天府), Võ Khúc (武曲), Lộc Tồn (祿存). Như trong bài thơ Hí Huỳnh Dương Công (獻滎陽公) của Nguyên Chẩn (元稹, 779-831) nhà Đường có câu: “Từ Hải khiêu ba dũng, Văn Tinh phất tọa huyền (詞海跳波湧、文星拂坐懸, Từ Hải đạp sóng vượt, Văn Tinh phủi bàn ngồi).” Hay trong bài Hồi Tố Đài Ca (懷素臺歌) của Bùi Thuyết (裴說) nhà Đường lại có câu: “Đỗ Phủ, Lý Bạch dữ Hoài Tố, Văn Tinh, Tửu Tinh, Thảo Thư Tinh (杜甫、李白 與 懷素、文星酒星草書星, Đỗ Phủ, Lý Bạch cùng Hoài Tố là Văn Tinh, Tửu Tinh và Thảo Thư Tinh).” Hoặc trong Đào Viên Thi Thoại (隨園詩話) của Viên Mai (袁枚, 1716-1797) nhà Thanh có câu: “Lưỡng giang nguyệt đán quy danh sĩ, hựu báo Văn Tinh nhập tòa lai (兩江月旦歸名士、又報文星入座來, hai bờ đầu tháng về danh sĩ, lại báo Văn Tinh vào tòa ngồi).”
văn toại
1431宋代法眼宗僧。浙江杭州人,俗姓陸。自幼出家,十六歲遊方,禪教俱修。謁大法眼文益禪師,文益以八還義勘之,不能對,乃服膺請益,後嗣其法。初住吉州(江西)止觀院,乾德二年(964)遷長慶寺,更歷清涼、報慈諸剎。署雷音覺海大導師,年壽不詳。〔景德傳燈錄卷二十五、聯燈會要卷二十七、五燈會元卷十〕
văn trì
To hear and keep; hearing and keeping in mind; hearing and obeying,
; 1) Nghe và thọ trì: To hear and keep; hearing and keeping in mind; hearing and obeying. 2) Văn trì hay long trì bên cạnh Tòa Kim cang Thủ—The dragon pool by the side of the throne of Vajrapani.
văn trì đà la ni
Nghe và trì giữ hay tổng trì (văn có nghĩa là nghe, đà la ni có nghĩa là trì giữ)—To hear and keep, hear and remember the teaching (Văn means to hear, dharani means to hold to or to maintain).
văn trí
Sruta (S).
văn trí tuệ
Xem Văn tuệ.
văn tuyển
See Văn Tập.
văn tuệ
Hearing the word and become wise in it; wisdom obtained from hearing.
; Nghe pháp rồi phát huệ, hay trí huệ phát bởi nghe pháp—Hearing the word and becoming wise in it; wisdom obtained from hearing.
văn tài
1420<一>(1241~1302)元代僧。俗姓楊。字仲華。博通古今墳典史籍,尤精性理之學。壯年出家,遍遊講肆,專究華嚴。曾隱於成紀,築室植松,人稱松堂和尚。後奉敕領洛陽白馬寺,聲譽日隆。成宗時,受帝師迦羅斯巴之推舉,為大萬聖佑國寺開山第一世,賜號「真覺國師」。大德六年示寂,世壽六十二。著有肇論新疏三卷、肇論新疏游刃三卷、惠燈集二卷傳世。〔佛祖歷代通載卷三十五、大明高僧傳卷二〕 <二>(1273~1352)元代曹洞宗僧。平陽府(山西)臨汾人,俗姓姚。號淳拙。從福巖普公受業,初閱證道歌欣然有省,謁還源福遇,呈所解,得其印可。於龍門閱藏經三年,泰定元年(1324)住少林寺,五年退隱香嚴寺,詮釋佛典。至正五年(1345)再住少林寺,建立鐘樓等。於十二年四月示寂,世壽八十。〔續指月錄卷十一、五燈全書卷六十一、續燈存稾卷十一〕
văn tín
5899謂聞阿彌陀佛之名號而生信。無量壽經卷下(大一二‧二七二中):「諸有眾生聞其名號,信心歡喜,乃至一念,至心迴向願生彼國。」聞信一語爲日本真宗宗學之樞要,即聞彌陀名號,依如來之他力而決定往生。〔淨土見聞集〕
văn tú
1430(1345~1418)明代臨濟宗僧。江蘇崑山人,俗姓李。號南石。從同邑紹隆院智興出家。洪武四年(1371)聞行中至仁於虎丘山演法,參之,師資證契而為侍司,繼為記室。其後歷住蘇州普門寺、靈巖寺、萬壽寺。永樂四年(1406)春,奉詔與修永樂大典,遂留京三年。永樂七年住浙江興聖寺,舉揚宗風。晚年歸萬壽松院,編集「增集續傳燈錄」四卷。十六年示寂,世壽七十四。〔增續傳燈錄卷五、續燈存稾卷六、五燈嚴統卷二十二、五燈全書卷五十六〕
văn tư tu
5899聞,指聽聞教法;思,指思惟義理;修,指修行。而聞慧、思慧、修慧等三慧,即爲經由聞、思、修而成之智慧。此三慧乃佛法修行之次第,聞慧者,聞他人說教法而得之智慧;思慧者,自我思惟而得之智慧;修慧者,實地修行而得之智慧。〔大乘義章卷十、佛遺教經〕(參閱「三慧」670)
văn tải
1431(1452~?)明代曹洞宗僧。蔚州廣寧人,俗姓王。字月舟。號虛白。十二歲禮白菴空入道,後參無方從禪師,發明己見,得其印可。孝宗弘治十五年(1502)開法於登封華嚴寺。武宗正德元年(1506),奉敕繼席少林祖庭,參徒雲集。後於世宗嘉靖三年(1524)隱退,結菴煙霞峰側。著有洞山緒餘。後人稱之為嵩少祖。卒年不詳。〔五燈續略卷一、釋氏疑年錄卷十〕
văn tập
Literary collection.
văn tế
Funeral oration.
văn tố
1429請參閱 金陵清涼院文益禪師語錄 唐代僧。德宗建中二年(781)應吐蕃(西藏)贊普赤松德贊之請,受遣與良琇入藏弘法。
văn từ
Literature.
văn tự
Monji (J).
; Akshara or Ruta (skt)—Chữ viết—The letter—The written words—Văn tự được diễn tả như là hơi thở hay sinh mệnh của pháp thân—The written word is described as the breath and life of the dharmakaya—See Akshara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
văn tự bát nhã
1422三種般若之一,五種般若之一。指般若波羅蜜經等。文字雖非般若,但能詮般若,又能生般若,故稱之為般若。〔大乘義章卷十〕(參閱「三般若」603、「五種般若」1183)
; Văn từ dùng để diễn đạt Bát Nhã, một trong ba loại Bát Nhã—The written word which is used to describe the prajna, one of the three kinds of prajna. ** For more information, please see Bát Nhã.
văn tự nhân
1422「暗禪者」之對稱。指拘泥執著於文字之學問,而無真修實行之修業者。與「文字法師」為同類用語。
; A literalist.
văn tự pháp
Dharma of statements lung gi ch (T)lung gi chö.
Văn tự pháp sư
文字法師; J: monji-hōshi;|Chỉ một »Pháp sư« tinh thông chữ nghĩa trong kinh luận nhưng lại không thấu được huyền nghĩa và trực nhận chân lí, nghĩa là chưa đạt đến trình độ Tri hành hợp nhất, chưa Kiến tính.
văn tự pháp sư
1422禪林中,對專習教相而不修禪行者之蔑稱。又禪門修行之人,無坐禪修行之實際體驗,僅於文字上解釋禪之文字禪者,亦稱文字法師。
; Người giảng về chữ nghĩa trong kinh điển, nhưng không biết hết tinh thần giáo lý trong kinh điển—A teacher of the letter of the Law, who knows not its spirit. of the Law, who know not its spirit.
văn tự thiền
1422<一>凡三十卷。石門文字禪之略稱。又稱筠谿集。乃宋代石門寺僧慧洪覺範禪師之詩文集,為門人覺慈所集錄。有明萬曆二十五年(1597)刊行本(四部叢刊景明本)。〔宋詩鈔初集第四帙、四部叢刊第一○八帙〕(參閱「石門文字禪」2116) <二>又作葛藤禪。謂以文字言語解說禪法。(參閱「葛藤」5595)
văn tự và ý nghĩa
Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật nhắc Mahamati: “Vị Bồ Tát Ma Ha Tát thành thục với từ ngữ và ý nghĩa, nhận biết rằng từ ngữ không khác không không phải không khác với ý nghĩa, và ngược lại.”—In the Lankavatara Sutra, the Buddha reminded Mahamati: “Oh Mahamati, the Bodhisattva-mahasattva who is well acquainted with words and meaning, recognizes at once that word is neither different nor not different from meaning, and vice versa.
văn tự đẳng
Aksharasamata (skt)—Sự bình đẳng của chữ—The sameness of letters.
văn võ
Civil and military.
Văn Võ Thiên Hoàng
(文武天皇, Mommu Tennō, tại vị 697-707): vị Thiên Hoàng trị vì vào thời kỳ xác lập luật lịnh quốc gia, con của Thảo Bích Hoàng Tử (草壁皇子), mẹ là Nguyên Minh Thiên Hoàng (元明天皇, Gemmei Tennō), tên là Kha Lưu (珂瑠, Karu), người chế định ra Đại Bảo Luật Lịnh (大寳律令).
văn vũ thiên hoàng
Monmu (S)697 - 700.
văn vương
Wen Wang (C).
văn vần
Verse—To write in verse.
văn vật
See Văn Hóa.
văn xuôi
Prose.
văn xương
Wenchang (C), Wen-ch'ang (C), Wenchang (C)Thần văn chương của Đạo gia.
Văn Yển
文偃|Vân Môn Văn Yển
văn ích
1429(885~958)五代僧。餘杭(浙江餘杭)人,俗姓魯。七歲出家,初依明州希覺攻毘尼。後投長慶慧稜學禪法,久之不契。偶遇羅漢桂琛於漳州,遂嗣其法。出世於臨川崇壽院。南唐國主李氏禮敬有加,並迎至金陵,住報恩院,事以師禮,賜號「淨慧大師」。後主且從之受戒,為建清涼伽藍。高麗、日本等國渡海來學者,相望於途。顯德五年秋閏七月示寂,世壽七十四。諡「大法眼」,為法眼宗之開祖。著有宗門十規論、大法眼文益禪師語錄各一卷。〔隆興佛教編年通論卷二十八、宋高僧傳卷十三、景德傳燈錄卷二十四、禪林僧寶傳卷四〕
văn ích pháp nhãn thiền sư
Fa-Yan-Wen-Yi 885-958—Thiền sư Văn Ích Pháp Nhãn sanh năm 885. Ông là đệ tử và người kế thừa Pháp của Thiền sư La Hán Quế Sâm, và là thầy của Thiên Thai Đức Thiều. Văn Ích là một trong những thiền sư xuất sắc nhất vào thời của ông. Ông đã làm cho dòng Thiền Huyền Sa Giang Biểu phát triển mạnh. Chính vì vậy mà sau nầy dòng Huyền Sa được mang tên Pháp Nhãn. Hiện nay chỉ một phần nhỏ sự nghiệp biên soạn của Văn Ích Pháp Hiển đến được với chúng ta, như Văn Ích Thiền Sư Ngữ Lục. Ông xuất gia năm 7 tuổi. Lúc đầu ông học những kinh điển Khổng giáo, sau đó là kinh điển Phật giáo, đặc biệt là bộ kinh Hoa Nghiêm, giáo thuyết cơ bản của trường phái Hoa Nghiêm Trung Quốc. Việc học triết lý không làm ông thỏa mãn nên ông quay sang tu thiền. Thầy dạy thiền đầu tiên của ông là Thiền sư Trường Khánh Huệ Lăng. Sau ông đến gặp Thiền sư La Hán Quế Lâm, còn gọi là thiền sư Địa Tạng, và nhận được đại giác sau khi nghe Địa Tạng nói “sự ngu dốt là cái gì có bề dày nhất.”—Chinese Zen master Wen-Yi Fa-Yan was born in 885, a disciple and Dharma successor of Lo-Han-Kuei-Ch'en, and the master of T'ien-T'ai Te-Shao. Wen-Yi was one of the most outstanding Zen masters of his time; he was in the lineage of Hsuan-Sha Shih-Pei. The latter's dharma teaching was widely propagated by Wen-Yi and as a result this lineage, which had hitherto been known as the Hsuan-Sha school, was thereafter known as the Fa-Yen school. Nowadays only a few of Fa-Yen's voluminous writings are extant, among them a few poems and a treatise. His sayings and instructions are recorded in the Record of the Words of the Ch'an Master Wen-Yi-Fa-Yan. Wen-Yi-Fa-Yan became a monk at the age of seven. First he studied the Confucian classics and the Buddhist sutras, particularly the Avatamsaka-sutra, the fundamental work for the Hua-Yen school of Chinese Buddhism. However, he was not satisfied by such philosophical study, he eventually sought instruction in Ch'an. His first Ch'an master was Ch'ang-Ch'ing-Hui-Leng. Later he came to meet Zen master Lo-Han-Kuei-Ch'en, who was also called Master Ti-Ts'ang. Here he attained his enlightenment experience when he heard Ti-Ts'ang's words “ignorance is the thickest.” • Khi đi đến viện Địa Tạng gặp trời trở tuyết, ba người cùng xin ngụ tại đây. Trời lạnh, cùng vây quanh lò sưởi, thiền sư Quế Sâm (trụ trì Viện Địa Tạng) thấy hỏi: “Đây là đi làm gì?” Sư thưa: “Đi hành khất.” Quế Sâm hỏi: “Việc hành khất là thế nào?” Sư thưa: “Chẳng biết.” Quế Sâm bảo: “Chẳng biết rất là thân thiết.” Qua câu nói nầy Văn Ích bỗng tỉnh ngộ. Đến khi tuyết tan, ba người cùng đến từ biệt Quế Sâm đi nơi khác. Quế Sâm đưa ra đến cửa, hỏi: “Bình thường Thượng Tọa nói 'Tam giới duy tâm vạn pháp duy thức,' vậy phiến đá dưới sân nầy, là ở trong tâm hay ở ngoài tâm?” Sư thưa: “Ở trong tâm.” Quế Sâm bảo: “Người hành khất mắc cớ gì lại để phiến đá lên trên đầu tâm?” Sư bí không có lời để đáp, bèn dẹp hành lý vào chùa, xin ở lại tham cứu. Hơn một tháng, sư trình kiến giải nói đạo lý, vẫn bị Quế Sâm bảo: “Phật pháp không phải thế ấy.” Sư thưa: “Con đã hết lời cùng lý rồi. Quế Sâm bảo: “Nếu luận Phật pháp thì tất cả hiện thành.” Qua câu nói ấy, sư đại ngộ—While on a pilgrimage with some other monks, Wen-Yi and his friends were sidetracked by a snowstorm and forced to stay at the Ti-Zang Monastery. Zen master Kui-Chen (served as abbot there) asked: “Where are you going?” Wen-Yi replied: “On an ongoing pilgrimage.” Kui-Chen asked: “Why do you go on a pilgrimage?” Wen-Yi replied: “I don't know.” Kui-Chen said: “Not knowing is most intimate.” At these words, Wen-Yi instantly experienced enlightenment. When the snow was gone, the three monks bade farewell and started to depart. Kui-Chen accompanied them to the gate and asked: “I've heard you say several times that 'the three realms are only mind and the myriad dharmas are only consciousness.'” Kui-Chen then pointed to a rock lying on the ground by the gate and said: “So do you say that this rock is inside or outside of mind?” Wen-Yi said: “Inside.” Kui-Chen said: “How can a pilgrim carry such a rock in his mind while on pilgrimage?” Dumbfounded, Wen-Yi couldn't answer. He put his luggage down at Kui-Chen's feet and asked him to clarify the truth. Each day for the next month or so Wen-Yi spoke about the Way Kui-Chen and demonstrated his understanding. Kui-Chen would always say: “The Buddhadharma isn't like that.” Finally, Wen-Yi said: “I've run out of words and ideas.” Kui-Chen said: “If you want to talk about Buddhadharma, everything you see embodies it."”At these words, Wen-Yi experienced great enlightenment. • Vị Tăng đến bạch sư: “Bốn chúng đã vây quanh dưới pháp tòa của Hòa Thượng.” Sư nói: “Chúng nhơn đến tham chơn thiện tri thức.” Lát sau, sư lên tòa, chúng đảnh lễ xong, sư bảo: “Chúng nhơn trọn đã đến đây, sơn Tăng chẳng lẽ không nói, cùng đại chúng nhắc một phương tiện của người xưa.” Trân trọng! Liền xuống tòa—A monk said to Wen-Yi: “Monks everywhere are now crowded around the master's Dharma seat waiting for you to speak.” Wen-Yi said: “In that case, the monks are practicing with a genuine worthy!” After a while, Wen-Yi ascended the Dharma seat. The monk said: “The assembly has gathered. We ask the master to expound the Dharma.” Wen-Yi said: You've all been standing here too long!” Then he said: “Since all of you have assembled here, I can't say nothing at all. So I'll give you all an expedient that was offered by one of the ancients. Take care!” Wen-Yi then left the Dharma seat. • Ngày kia Văn Ích hỏi Tu sơn chủ: “Sai một đường tơ, đất trời phân cách, ông hiểu thế nào?” Tu đáp: “Sai một đường tơ, đất trời phân cách.” Văn Ích nói: “Thế là nghĩa lý gì?” Vị Tăng bạch: “Tu tôi chỉ biết có vậy, còn ý Hòa Thượng thế nào?” Văn Ích đáp ngay: “Sai một đường tơ, đất trời phân cách.” Văn Ích quả là một cao thủ về phép nói nhại—One day, Wen-Yi asked one of his disciples: “What do you understand by this: 'Let the difference be even a tenth of an inch, and it will grow as wide as heaven and earth?'” The disciple said: “Let the difference be even a tenth of an inch, and it will grow as wide as heaven and earth.” However, Wen-Yi told the monk that such an answer will never do. The disciple said: “I cannot do otherwise; how do you understand?” Wen-Yi said: “Let the difference be even a tenth of an inch and it will grow as wide as heaven and earth.” Wen-Yi was a great master of repetitions. • Sau sư dời về ở Viện Thanh Lương, thượng đường dạy chúng: “Người xuất gia chỉ tùy thời tiết, liền được lạnh thì lạnh, nóng thì nóng, muốn biết nghĩa Phật tánh phải quán thời tiết nhơn duyên, xưa nay phương tiện chẳng ít. Đâu chẳng thấy Hòa Thượng Thạch Đầu nhơn xem Triệu Luận, trong ấy nói: 'Hội muôn vật về nơi mình, kia chỉ là người Thánh vậy.' Ngài liền nói: 'Thánh nhơn không mình, cái gì chẳng mình?' Liền làm mấy lời gọi là Đồng tham khế, trong ấy câu mở đầu nói: 'Tâm đại tiên trúc độ' không qua lời nầy, vậy khoảng giữa chỉ tùy thời nói thoại.” Thượng Tọa! Nay muốn biết vạn vật là mình chăng? Bởi vì đại địa không có một vật có thể thấy. Ngài lại dặn dó rằng: “Ngày tháng chớ qua suông.” Vừa rồi, nói với các Thượng Tọa chỉ tùy thời và tiết liền được. Nếu là đổi thời mất hậu tức là qua suông ngày tháng, ở trong cái phi sắc khởi hiểu sắc. Thượng Tọa! Ở trong cái phi sắc khởi hiểu sắc tức là đổi thời mất hậu? Hãy nói sắc khởi hiểu phi sắc lại đúng chẳng đúng? Thượng Tọa! Nếu biết thế ấy tức là không giao thiệp, chính là si cuồng chạy theo hai đầu có dùng được chỗ gì? Thượng Tọa! Chỉ giữ phần tùy thời qua là tốt. Trân trọng!—When Zen master Wen-Yi became abbot of Qing-Liang temple, he addressed the monks, saying: “Students of Zen need only act according to conditions to realize the Way. When it's cold, they're cold. When it's hot, they're hot. If you must understand the meaning of Buddha nature, then just pay attention to what's going on. There is no shortage of old and new expedients. Haven't you heard about Shi-T'ou? Upon reading the Zhao-Lun, he exclaimed: 'Understanding that all things are the self. This is what all the ancient holy ones realized!' Shi-T'ou also said: 'The holy ones did not have a self. Nor was there anything that was not their selves' Shi-T'ou composed the Cantonjie. The first phrase in that text says: 'The mind of the greta sages of India.' There's no need to go beyond this phrase. Within it is what is always put forth as the teaching of our school. All of you should understand that the myriad beings are your own self, and that across the great earth there isn't a single dharma that can be observed. Shi-T'ou also admonishes: 'Don't pass your days and nights in vain.' What I have just said may be realized if you seize the opportunity before you. If you miss the opportunity, then that is 'passing your days and nights in vain.' If you spend your time trying to understand form in the middle of nonform, just going on this way, you are missing your opportunity. So, do we therefore say that we should realize nonform in the midst of form? Is that right? If your understanding is like this, then you're nowhere near it. You're just going along with the illness of two-headed madness. Of what use is it? All of you, just do what is appropriate to the moment! Take care!” • Sau đó tiếng tăm ông lan rộng rất nhanh, các thiền sư khắp nơi kéo đến từng nhóm. Lúc ông còn sống, số đệ tử không lúc nào dưới 1000. Những người kế thừa Pháp của ông đã truyền bá khắp cả Trung Quốc, tận đến Triều Tiên—Later his reputation spread quickly. It is said that Ch'an monks around him never to have been less than a thousand. The dharma successors of Fa-Yen spread his dharma all over China and as far as Korea. • Tên của Văn Ích được nhắc tới trong thí dụ thứ 26 của Vô Môn Quan và thí dụ thứ 7 của Bích Nham Lục—Wen-Yi-Fa-Yen appears in example 26 of the Wu-Men-Kuan as well as in example 7 of the Pi-Yen-Lu. • Thiền sư Văn Ích thị tịch năm 958. Sau khi thị tịch sư được ban hiệu “Đại Pháp Nhãn Thiền Sư.” Dù ảnh hưởng của sư rất lớn và sư có đến 63 Pháp Tử, dòng thiền của sư chỉ truyền lại được năm đời mà thôi—Zen master Wen-Yi passed away in 958. After his death, Wen-Yi received the posthumous title “Great Zen Master Dharma Eye.” Though the influence of his school was widespread during and for a period after his life and he had sixty-three Dharma heirs, the lineage died out after five generations.
văn đà kiệt
Murdhajata (skt)—Đỉnh Sanh Vương—Sanh ra từ trên đỉnh đầu của mẹ, nên được gọi là Đỉnh Sanh Vương, là tiền thân của Đức Phật Thích Ca—Born from his mother's head, a reputed previous incarnation of the Buddha, who still ambitious, despite his universal earthly sway, his thousand sons, flew to Indra's heaven, saw the celestial devi (thiên thượng ngọc nữ), but on the desire arising to rule there on Indra's death, he was hurled to earth.
văn đà la ni
5899又作聞持陀羅尼、法陀羅尼。爲四陀羅尼之一。瑜伽師地論卷四十五將陀羅尼分爲法、義、咒、忍四種,其中,聞陀羅尼指聞持佛之教法而不忘。〔大乘義章卷十一末〕(參閱「四陀羅尼」1725)
; To hear and keep, hear and and remember the teaching; đà la ni meaning to hold to, maintain.
; See Pháp Đà La Ni and Tam Đà La Ni.
văn đàn
Literary club.
văn để văn thượng
1423日本日蓮宗用以解釋法華經意義之二種方法。謂文字除了文上明顯的意義外,尚有隱寓之深義,稱為文底祕沈。〔開目鈔卷上、錄內啟蒙卷四〕
Văn Đức Thiên Hoàng
(文德天皇, Montoku Tennō, tại vị 850-858): vị Thiên Hoàng sống vào đầu thời kỳ Bình An, Hoàng Tử thứ 1 của Nhân Minh Thiên Hoàng (仁明天皇, Nimmyō Tennō), tên là Đạo Khang (道康, Michiyasu), còn gọi là Điền Ấp Đế (田邑帝).
văn ấn
1422(1909~1975)臺灣臺中人,俗姓何。幼隨慈母出入寺廟齋堂,深受薰陶。十七歲投月眉山靈泉寺出家,禮德玄和尚為師。曾負笈東瀛,畢業於日本早稻田大學、日本書道學院。二十一歲於福州鼓山湧泉寺受具足戒,參訪各地名山古剎。二次世界大戰中,師隨善慧長老掛錫上海,救濟苦難,設義學,幫助失學青年,促進中日民間友誼,貢獻甚多。曾任靈泉寺第五代住持,基隆市佛教支會理事長、中國佛教會理監事等職,並受聘為慶安宮住持,對該宮重建工程,厥功至偉。
Văn-thù
文殊; S: mañjuśrī; |Văn-thù Sư-lị
Văn-thù Sư-lị
文殊師利; S: mañjuśrī; tên dịch theo âm, thường được gọi tắt là Văn-thù, dịch nghĩa là Diệu Ðức (妙德), Diệu Cát Tường (妙吉祥), cũng có lúc được gọi là Diệu Âm (妙音; s: mañjughoṣa);|Một vị Bồ Tát tượng trưng cho trí huệ, một trong những vị Bồ Tát quan trọng của Phật giáo. Lần đầu tiên người ta nhắc đến Văn-thù trong tác phẩm Văn-thù Sư-lị căn bản nghi quỹ (s: ārya-mañjuśrī-mūlakalpa) ở thế kỉ thứ 4. Tranh tượng trình bày Văn-thù với lưỡi kiếm và kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, được vẽ khoảng ngang đầu. Người ta xem đó là biểu tượng trí huệ phá đêm tối của Vô minh.|Trong Phật giáo Tây Tạng, các vị luận sư xuất sắc như Tông-khách-ba (t: tsong-khapa) thường được xem là hiện thân của Văn-thù (Chu-cô). Dưới tên Diệu Âm (妙音; mañjughoṣa), »Người với tiếng nói êm dịu«, Văn-thù Bồ Tát thường được tán tụng trước khi hành giả nghiên cứu kinh điển, nhất là kinh điển thuộc hệ Bát-nhã ba-la-mật-đa và học thuyết của Trung quán tông. Ngài là vị Bồ Tát tượng trưng cho kinh nghiệm giác ngộ, đạt được bằng Phương tiện tri thức.|Văn-thù cũng xuất hiện dưới dạng Hộ Thần (s: iṣṭadevatā, sādhita; t: yidam) phẫn nộ, có tên gọi là Diêm-mạn Ðức-ca – »Người chiến thắng tử thần« (s: yamāntaka), có dạng vị thần mang đầu bò. Dạng này là Hộ Thần quan trọng của phái Cách-lỗ (t: gelugpa) tại Tây Tạng.||H 72: Văn-thù Sư-lị dưới dạng mười hai tay (s: nāmasaṅgīti-mañjuśrī). Hai tay dưới cùng đang bắt Ấn thiền, hai tay kế trên đang nhúng vào Bát trong tư thế chuẩn bị rưới nước Cam-lộ, hai tay trước ngực đang bắt ấn chuyển pháp luân, bốn tay bên hông đang trong tư thế cầm cung tên, kiếm và sách (kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa), nhằm tiêu diệt Vô minh. Hai tay trên đầu bắt Ấn tối thượng bồ-đề.|Theo truyền thống Phật giáo Trung Quốc, Văn-thù được Phật đích thân Thích-ca giao phó việc truyền bá Phật pháp tại đây và Ngũ Ðài sơn chính là nơi Ngài thuyết pháp. Vì vậy, Ngũ Ðài sơn cũng được xem là trụ xứ của Ngài (Tứ đại danh sơn). Một thuyết khác bảo rằng, Ngài đã từng xuất hiện tại Trung Quốc trong thế kỉ 1, đời Hán Minh Ðế.
vĩ cận nan đắc ca minh vương
2869尾覲難得迦,梵名 Vighnāntaka,意譯為征伏障礙。為密教諸明王之中,用以對治毘那迦夜(意譯障礙者)之尊。與軍荼利同尊。據瑜伽大教王經所載此尊之形像,全身呈大青雲色,具三面六臂,每面各有三目,正面作笑容,右面白色,左面黃色,均作忿怒相,咬唇,右腳踏諸魔,左腳踏蓮花,右手持利劍、鉞斧、箭,左手執羂索、般若經、弓。據妙吉祥平等祕密最上觀門經載,其種子為???(hūṃ)。印契為「降伏自在印」,即兩手之無名指、中指、食指相鉤,二小指之指峰相拄,伸二拇指相合。真言為:唵(oṃ)阿蜜哩多軍拏里(amṛitakuṇḍali,甘露瓶)尾覲難得迦(vighnāntaka)吽(hūṃ)。〔忿怒明王經〕
vĩ cận nan đắc ca vuơng
Xem Hàng Phục Chấn Động Giả.
vĩ phù
2869梵名 Vibhū。為佛之別名。大日經疏卷十七(大三九‧七五四上):「尾扶是佛之別名,亦是法王義,謂聲便故,用此音說也。」
vĩ phương quang vận
4626(1904~ )日本佛教學者。畢業於東京大學文學部印度哲學科。任東京水產大學教授。著有原始般若經の研究,及菩薩の十地思想について、佛教的思考等論文。
Vĩ Thượng Cúc Ngũ Lang
(尾上菊五郎, Onoe Kikugoro, 1785-1849): diễn viên Ca Vũ Kỷ, thuộc đời thứ 3, người vùng Giang Hộ, con nuôi của người diễn viên đời đầu, hiệu của kịch trường là Âm Vũ Ốc (音羽屋); biệt hiệu là Thực Mộc Ốc Tùng Ngũ Lang (植木屋松五郎), Cúc Ốc Vạn Bình (菊屋萬平); bổn danh là Thần Ngũ Lang (辰五郎); là người rất nổi tiếng về loại Quái Đàm Cuồng Ngôn (怪談狂言).
vĩ túc
2869梵名 Mūla。為二十八宿之一。即位於密教北斗曼荼羅外院東方、現圖胎藏曼荼羅外院西方之星宿。又作牟藍、暮羅、辰天、根元宿。其星數有二、三、九顆等之不同說法。在現圖胎藏曼荼羅中,其形象為:仰右掌向前,豎左掌,屈食指、中指,持蓮,蓮上有珠,交腳而坐。三昧耶形為蓮上星。印相採用二十八宿總印。真言為:歸命暮羅(mūla)那乞叉多羅(nakṣatra,宿)婆縛賀;或二十八宿總咒。
vĩ đa lý minh phi
Vetali (S)Một trong 8 minh phi ở 8 hướng quanh ngài Hô Kim Cang, minh phi này ngự ở tây cung.
vĩnh
Vĩnh viễn—Everlasting—Eternal—Perpetual.
Vĩnh An Đạo Nguyên
(永安道原, Eian Dōgen, ?-?): vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, pháp từ của Thiên Thai Đức Thiều (天台德韶). Ông đã từng trú trì Thừa Thiên Vĩnh An Viện (承天永安院) ở Tô Châu (蘇州), là người biên tập nên bộ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄). Vào năm đầu (1004) niên hiệu Cảnh Đức (景德), ông đem trình tấu bản này lên vua Chơn Tông (眞宗) và được cho nhập vào Đại Tạng.
vĩnh biệt
To be separated forever.
vĩnh bình nguyên hoà thượng tụng cổ
2010請參閱永代經 全一卷。略作永平頌古。日本曹洞宗祖永平道元(1200~1253)撰,詮慧等編。收於大正藏第八十二冊。係自永平廣錄卷九,抄錄頌古部分另行刊印。內容包括世尊妙心付屬、佛言三界唯心、尊者寶珠明鑑、初祖九年面壁,至香嚴千尺懸崖、宏智失錢遭罪、二祖心不可得、真歇豁然契悟等,計九十則,一○二首頌。
Vĩnh Bình Quảng Lục
(永平廣錄, Eiheikōroku): bộ Ngữ Lục của Đạo Nguyên (道元, Dōgen), vị Tổ khai sơn Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji), gồm 10 quyển. Đây được xem như là bộ Ngữ Lục do các đệ tử của Đạo Nguyên như Thuyên Tuệ (詮慧), Cô Vân Hoài Trang (孤雲懷弉), Nghĩa Diễn (義演), v.v., biên tập lại những phần Thượng Đường Pháp Ngữ, Tiểu Tham Pháp Ngữ, Tụng Cổ, Tán do Đạo Nguyên trước tác, cọng thêm các trước tác khác như Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi (普勸坐禪儀), Tọa Thiền Châm (坐禪箴), v.v. Hơn nữa, bộ Vĩnh Bình Nguyên Thiền Sư Ngữ Lục (永平元禪師語錄) được xem như là thư tịch vốn theo lời văn bạt của Vô Ngoại Nghĩa Viễn (無外義遠) thì vào năm 1246, khi Hàn Nham Nghĩa Duẫn (寒巖義尹) sang nhà Tống cầu pháp, Vô Ngoại mới ghi lời bạt thêm từ bộ Quảng Lục của Đạo Nguyên, rồi trao lại cho Nghĩa Duẫn. Tuy nhiên, chúng vẫn không biết rõ rằng bản Vĩnh Bình Quảng Lục hiện tồn có cùng nội dung với bản trên hay không. Hơn nữa, qua bản hiện tại này, ta vẫn có thể tìm thấy những chỗ viết sai, mất chữ, và có khá nhiều điểm ta không thể nào khẳng định được rằng đây là nguyên hình văn bản do Đạo Nguyên truyền trao. Các san bản được thâu lục vào trong Tào Động Tông Toàn Thư (曹洞宗全書), Đạo Nguyên Thiền Sư Toàn Tập (道元禪師全集) quyển Hạ do Đại Cửu Bảo Đạo Chu (大久保道舟) biên, Thừa Dương Đại Sư Thánh Giáo Toàn Tập (承陽大師聖敎全集) 3, Nhật Bản Đại Tạng Kinh (日本大藏經), phần Tào Động Tông Chương Sớ (曹洞宗章疏) 1, Vĩnh Bình Đạo Nguyên Hòa Thượng Quảng Lục (永平道元和尚廣錄), và bản Vĩnh Bình Nguyên Thiền Sư Ngữ Lục (永平元禪師語錄) của nhà xuất bản Nham Ba Văn Khố (岩波文庫, Iwanami-bunko).
vĩnh bình quảng lục
Eihei kōroku (J)Tên một bộ sưu tập.
vĩnh bình thanh qui
Eihei shingi (J).
Vĩnh Bình Thanh Quy
(永平清規, Eiheishingi): 2 quyển, trước tác của Đạo Nguyên (道元, Dōgen), gọi cho đúng là Nhật Vức Tào Động Tông Sơ Tổ Đạo Nguyên Thiền Sư Thanh Quy (日域曹洞宗初祖道元禪師清規), hay Vĩnh Bình Đại Thanh Quy (永平大清規), là thư tịch nói về quy cũ tòng lâm và ý nghĩa của các quy cũ ấy; bộ này gồm 6 thiên. Điển Tòa Giáo Huấn (典座敎訓) là thiên nói về những điều tâm đắc của vị chuyên trách về việc ăn uống của chúng Tăng hằng ngày, được viết vào mùa Xuân năm 1237, tại Hưng Thánh Tự (興聖寺, Kōshō-ji), Kyoto. Phó Chúc Phạn Pháp (赴粥飯法) là thiên nói về cách ăn uống một ngày hai thời tại Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji). Chúng Liêu Châm Quy (眾寮箴規), hay Liêu Trung Châm Quy (寮中箴規), là thiên quy định về những uy nghi tế hạnh của chung Tăng ở trong hay ngoài liêu phòng của mình đang sống tại Vĩnh Bình Tự, được viết vào tháng giêng năm 1249. Đối Đại Kỷ Ngũ Hạ A Xà Lê Pháp (對大己五夏阿闍梨法) là thiên được viết vào ngày 21 tháng 3 năm 1244 tại Cát Phong Tự (吉峰寺) thuộc vùng Việt Tiền (越前, Fukui-ken [福井懸] ngày nay), dạy về nghi lễ của hàng hậu bối đối với các bậc tôn túc đi trước đã từng tu hành và trãi qua trên 5 Hạ Lạp ở trong tòng lâm. Tri Sự Thanh Quy (知事清規) là thiên được viết vào ngày 15 tháng 6 năm 1246 tại Vĩnh Bình Tự, giải thích về chức vụ Tri Sự (知事), Đầu Thủ (頭首), Tiểu Đầu Thủ (小頭首), những người chuyên quản lý việc chùa cũng như việc của chư Tăng. Bộ Vĩnh Bình Thanh Quy này có phần dựa vào bộ Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規), nhưng ít hạng mục hơn bộ kia. Mỗi thiên của bộ này ban đầu được viết riêng lẽ, rồi cứ như vậy mà lưu truyền. Sau này vào năm 1667, Quang Thiệu Trí Đường (光紹智堂), vị trú trì đời thứ 30 của Vĩnh Bình Tự, mới thâu tập thành 1 bộ và cho san hành bản đầu tiên. Đến năm 1794, Huyền Thấu Tức Trung (玄透卽中), vị trú trì đời thứ 50 của chùa, cùng với một vào đạo hữu khác, tiến hành hiệu đính những sai lầm về văn tự trong bản này; đặc biệt, ông còn chú thích về nghĩa từ, nghĩa âm, điển cứ, v.v., và ghi phần mạo đầu cho bộ này, rồi cho ấn hành với tên gọi là Hiệu Đính Quan Chú Vĩnh Bình Thanh Quy (校訂冠註永平清規). Đây chính là bản hiện tại đang lưu hành. Sách chú thích về bộ này có Điển Tòa Giáo Huấn Văn Giải (典座敎訓文解), Chúng Liêu Châm Quy Văn Giải (眾寮箴規文解), Đối Đại Kỷ Pháp Văn Giải (對大己法文解) của Diện Sơn Thoại Phương (面山瑞方); Chúng Liêu Châm Quy Nhiên Tê (眾寮箴規然犀) của Đức Nham Dưỡng Tồn (德巖養存), Chúng Liêu Châm Quy Cầu Tịch Tham (眾寮箴規求寂參), Đối Đại Kỷ Pháp Cầu Tịch Tham (對大己法求寂參) Thiền Uyển Quy Kính Văn Cầu Tịch Tham (禪苑龜鏡求寂參) của Hạt Đạo Bổn Quang (瞎道本光), cũng như Vĩnh Bình Đại Thanh Quy Biện Giải (永平大清規辨解) của Đinh Nguyên Thôn Không (町元吞空), v.v.
vĩnh bình thanh quy
2010請參閱 學道用心集 凡二卷。又作永平元禪師清規。與玄透即中之永平小清規三卷相對,故亦稱永平大清規。為日本曹洞宗初祖道元,以曹洞教團應守之規則與理想為根本而記述之清規。內分六部,即:典座教訓、辨道法、赴粥飯法(食事作法)、吉祥山永平寺眾寮箴規、對大己五夏闍梨法、日本國越前永平寺知事清規等。又附錄僧堂四板被位圖並凡例、僧堂十二板首鉢位圖並凡例等。
Vĩnh Bình Tự
(永平寺, Eihei-ji): ngôi chùa trung tâm của Tào Động Tông Nhật Bản, tọa lạc tại Eiheiji-chō (永平寺町), Yoshida-gun (吉田郡), Fukui-ken (福井 縣), tên núi là Cát Tường Sơn (吉祥山). Người khai cơ chùa là Ba Đa Dã Nghĩa Trọng (波多野義重). Sau thể theo lời thỉnh cầu của Nghĩa Trọng, vào năm 1243 (niên hiệu Khoan Nguyên [寬元] nguyên niên), từ Hưng Thánh Tự (興聖寺, Kōshō-ji) ở vùng Thiển Thảo (淺草, Asakusa), Đạo Nguyên (道元, Dōgen) chuyển lên địa phương Việt Tiền (越前, Echizen), năm sau khai sáng Đại Phật Tự (大佛寺, Daibutsu-ji), và đến năm 1246 (năm thứ 4 niên hiệu Khoan Nguyên) thì đổi tên chùa thành Vĩnh Bình Tự. Trừ ra thời kỳ hành hóa ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), Đạo Nguyên đã trải qua giai đoạn cuối đời, chuyên tâm giáo hóa đồ chúng và soạn thuật bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏, Shōbōgenzō) tại chùa này. Xuất xứ tên gọi Vĩnh Bình (永平) được giải thích trong Vĩnh Bình Quảng Lục (永平廣錄) 2 với câu “thiên thượng thiên hạ đương xứ vĩnh bình (天上天下當處永平, trên trời dưới đất ngay nơi đây mãi bình an)”, là tên niên hiệu Vĩnh Bình (永平, 58-75 sau công nguyên) của nhà Hậu Hán, lúc Phật Giáo được công truyền vào Trung Quốc. Vào năm 1253 (năm thứ 5 niên hiệu Kiến Trường [建長]), sau khi Đạo Nguyên qua đời, Hoài Trang (懷弉, Ejō) trở thành vị tổ thứ 2 của chùa; nhưng vì bị bệnh nặng nên vào năm 1267 (năm thứ 4 niên hiệu Văn Vĩnh [文永]), ông nhường lại cho Triệt Thông Nghĩa Giới (徹通義介, Tettō Gikai) và vị này làm tổ thứ 3. Về sau, phái của Nghĩa Giới tập trung phát triển giáo đoàn đã tạo sự tranh chấp với phái của Nghĩa Diễn (義演, Gien) vốn chủ trương cố thủ truyền thống Chỉ Quản Đả Tọa (只管打坐, Shikantaza) của Đạo Nguyên. Trãi qua 3 lần luận tranh của hai phái tân cựu này, cuối cùng phái của Nghĩa Giới phải rời khỏi sơn môn Vĩnh Bình Tự, chuyển đến Đại Thừa Tự (大乘寺, Daijō-ji) vùng Gia Hạ (加賀, Kaga); môn nhân của Nghĩa Giới là Oánh Sơn Thiệu Cẩn (瑩山紹瑾, Keizan Jōkin) sáng lập ra Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji) ở vùng Năng Đăng (能登, Noto). Tại Vĩnh Bình Tự, Nghĩa Diễn, Tịch Viên (寂圓, Jakuen), Nghĩa Vân (義雲, Giun) liên tiếp nhau thay thế làm trú trì. Pháp hệ của Tịch Viên kéo dài lãnh đạo chùa cho đến vị trú trì đời thứ 20 là Môn Hạc (門鶴, Mongaku). Sau đó, các đời trú trì không phải thuộc môn hạ của Tịch Viên. Đến thời kỳ Giang Hộ (江戸, Edo) thì chùa trở thành ngôi Đại Bản Sơn trung tâm của tông phái. Bảo vật của chùa có bản Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi (普勸坐禪儀), thủ bút của Đạo Nguyên.
Vĩnh Bình tự
永平寺; J: eihei-ji;|Một trong hai ngôi chùa chính của tông Tào Ðộng ở Nhật Bản, được Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền thành lập năm 1243. Chùa thứ hai là Tổng Trì tự (sōji-ji).
vĩnh bình tự
2010<一>位於臺灣桃園中壢。民國四十七年(1958),由獅頭山萬佛庵達清率其弟子真念等至中壢,暫設佛堂於民權路,至五十六年,真念購現址土地開始籌建,六十二年大雄寶殿落成。寺貌莊嚴,環境幽雅,為清修佳境。 <二>位於日本福井縣吉田郡永平寺町。山號吉祥山,為日本曹洞宗之大本山。鎌倉時代寬元二年(1244),日本曹洞宗之祖道元為避天台宗延曆寺之壓迫,遂於信徒波多野義重之領地創建傘松峰大佛寺(距今永平寺九公里之深山內),至第五世弟子義雲始移至今址。一四七三年曾遇大火。德川時期(1603~1867)制訂永平寺法度,而與總持寺並為曹洞宗本山,共掌宗務。一八七九年又遇大火。現今伽藍有山門、中雀門、佛殿(覺皇寶殿)、法堂等,呈一字型排列。除僧堂(雲堂、禪堂)、承陽殿(道元廟)、大庫院(三階建)之外,又有聖寶館、玲瓏閣、傘松閣、大祠堂殿、瑞雲閣、大光明藏、不老閣、妙高臺等大建築物連結一處,為具有近代設備之山中巨剎。寺寶有道元之遺骨、道元親筆書寫之普勸坐禪儀、道元之撰述記,與孤雲懷奘(1198~1280)所書寫之正法眼藏佛性第三等。
; Eihei-ji (J)Tên một ngôi chùa.
vĩnh bình tự bản
Eihei-ji-han (J).
vĩnh bình tự tam tổ hành nghiệp ký
Eihei-ji sanso gyōgōki (J)Tên một bộ luận kinh.
vĩnh bảo tự
Eiho-ji (J)Tên một ngôi chùa.
vĩnh bất hiện hành vị
2010即在大乘菩薩修行階位之「十地」中,自第八地以後至佛果之間,以無漏心任運相續而不起煩惱之位。又此位之功德於剎那間增進,故亦稱剎那增進位。
vĩnh cửu
Sanàta (S). Eternal, forever. Also Bất diệt.
vĩnh cửu chủ nghĩa
Sàsvatavàda (S). Eternalism.
vĩnh cữu
Akṣaya (S), Akkhaya (P), Akkhara (P), Aksara (S), Dhuva (S), Long-lasting, EternalVô tận tạngTừ Xem đạo quả Vô sanh bất diệt.
vĩnh cữu chủ nghĩa
Sassatavāda (P), Śāśvatavāda (S), Eternalism Sassatavāda (P).
vĩnh dạ
2011與「長夜」之義同,謂暗夜漫漫而永無天明破曉之時,比喻生死輪迴之長久。蓋愚癡眾生流轉於生死暴流而無法解脫,猶如處於漫漫暗夜。觀經玄義分(大三七‧二四六上):「灑甘露潤於群萌,輝智炬則朗重昏於永夜。」
Vĩnh Gia
永嘉; C: yŏngjiā; J: yōka;|Vĩnh Gia Huyền Giác (永嘉玄覺).
Vĩnh Gia chứng đạo ca
永嘉證道歌; C: yŏngjiā zhèngdào gē; J: yōka shōdō ka; |1 quyển, tác phẩm của Vĩnh Gia Huyền Giác, có sự liên hệ rất mật thiết về văn phong và nội dung với kinh Viên Giác.
vĩnh gia chứng đạo ca
2015請參閱永嘉集 全一卷。又作永嘉真覺禪師證道歌、證道歌。唐永嘉玄覺(665~713)撰。收於大正藏第四十八冊。玄覺初學天台,後聞禪宗六祖慧能說法,遂改宗入禪門,著作本文,全文有二四七句,每句大部分為七字,共一八一四字(一作二六七句一八一七字),為古體詩之體裁,或四句或六句一解,只分五十一解,揭示其悟境之要旨。撰述年代推定為神龍五年(705)頃。本書以流麗之文體敘述禪宗真髓,乃禪文學之絕唱,故廣受禪門喜愛。 本書之注釋書有多種,如宋僧彥琪、知訥等各作證道歌註一卷。〔宋高僧傳卷八、景德傳燈錄卷三十、祖庭事苑卷八、濟北集卷十八〕(參閱「證道歌註」6704)
Vĩnh Gia Huyền Giác
(永嘉玄覺, Yōka Genkaku, 675-713): người Huyện Vĩnh Gia (永嘉), Phủ Ôn Châu (溫州), Tỉnh Triết Giang (浙江), tự là Minh Đạo (明道). Ông xuất gia hồi còn nhỏ tuổi, tham cứu Tam Tạng thánh điển, đặc biệt rất tinh thông pháp môn Thiên Thai Chỉ Quán và chuyên tu về Thiền quán. Thể theo lời khuyên của Tả Khê Huyền Lãng (左谿玄朗), ông cùng với Đông Dương Huyền Sách (東陽玄策) đến tham vấn Huệ Năng (慧能) ở Tào Khê (曹溪). Khi hai bên gặp nhau, trãi qua mấy lần hỏi đáp, cuối cùng ông được Huệ Năng ấn khả cho, và hôm ấy ông lưu lại một đêm tại Tào Khê. Vì vậy người đương thời gọi ông là “Nhất Túc Giác” (一宿覺, một đêm giác ngộ). Hôm sau ông hạ sơn, trở về lại Ôn Châu (溫州) và bắt đầu cử xướng Thiền phong của mình. Học đồ đến tham học với ông rất đông. Ông có hiệu là Chơn Giác Đại Sư (眞覺大師), thị tịch vào năm thứ 2 (713) niên hiệu Tiên Thiên (先天) đời vua Huyền Tông (玄宗) nhà Đường. Ông được ban cho thụy hiệu là Vô Tướng Đại Sư (無相大師). Trước tác của ông để lại có Chứng Đạo Ca (証道歌), Vĩnh Gia Tập (永嘉集).
Vĩnh Gia Huyền Giác
永嘉玄覺; C: yòngjiā xuānjué; J: yōka genkaku; 665-713;|Thiền sư đời Đường. Sư còn có các tên Minh Đạo (明道), Chân Giác (眞覺), và Đạo Minh (道明). Thuỵ hiệu là Vô Tướng Đại Sĩ (無相大士). Sư là đệ tử được Huệ Năng ấn chứng, sư tinh thông cả 3 tông Thiền, Thiên Thai, và Hoa Nghiêm, Sư nổi tiếng với tên Nhất Túc Giác (一宿覺), có nghĩa là »giác ngộ trong một đêm«, với câu chuyện sư nghỉ lại một đêm với Lục tổ. Sư còn là tác giả của 2 tác phẩm ngắn nhưng rất thông dụng là Chứng đạo ca (證道歌) và Thiền tông Vĩnh Gia tập (禪宗永嘉集). Cả 2 tác phẩm đều giải quyết những vấn đề tư tưởng quan trọng trong giai đoạn ấy và cũng là đề tài của luận Đại thừa khởi tín, kinh Viên Giác, kinh Thủ Lăng Nghiêm. |Sư họ Ðới, quê ở Vĩnh Gia, Ôn Châu. Sư xuất gia từ nhỏ và sớm tham học Ðại tạng kinh, tinh thâm Chỉ-Quán. Nhân xem kinh Duy-ma-cật sở thuyết, Sư hoát nhiên liễu ngộ. Môn đệ của Lục tổ là Thiền sư Huyền Sách thấy Sư đàm luận lời lẽ thích hợp với chư Tổ bèn khuyên Sư đến Lục tổ để được ấn chứng chỗ sở đắc. Trận Pháp chiến sau đây giữa Sư và Tổ đã đi vào lịch sử của Thiền tông:|Sư cùng Huyền Sách đến Tào Khê tham vấn Tổ. Ðến nơi, Sư tay cầm tích trượng, vai mang bình bát đi nhiễu Tổ ba vòng. Tổ hỏi: »Phàm Sa-môn phải đủ ba ngàn uy nghi tám muôn tế hạnh, Ðại đức là người phương nào đến mà sinh đại ngã mạn như vậy?«|Sư thưa: »Sinh tử là việc lớn, Vô thường quá mau.«|Tổ bảo: »Sao không ngay nơi đó thể nhận cái vô sinh, liễu chẳng mau ư?« Sư thưa: »Thể tức vô sinh, liễu vốn không mau.« Tổ khen: »Ðúng thế! Ðúng thế!«|Ðại chúng nghe vậy đều ngạc nhiên. Sư bây giờ mới đầy đủ trang nghiêm lễ bái Tổ. Lát sau, Sư cáo từ, Tổ bảo: »Trở về mau quá!« |Sư thưa: »Vốn tự không động thì đâu có mau.« |Tổ hỏi: »Cái gì biết không động?« |Sư thưa: »Ngài tự phân biệt.« |Tổ bảo: »Ngươi đạt ý vô sinh rất sâu!« |Sư thưa: »Vô sinh há có ý sao?«|Tổ hỏi: »Không có ý, cái gì biết phân biệt?« |Sư thưa: »Phân biệt cũng không phải ý.« |Tổ khen: »Lành thay! Lành thay!«|Sư lưu lại một đêm hỏi thêm đạo lí và sau đó cùng Huyền Sách xuống núi. Thời nhân gọi Sư là »Giác giả một đêm« (一宿覺; Nhất túc giác).|Sư sau trụ trì ở Ôn Giang, học chúng đến tấp nập.|Ðời Ðường, niên hiệu Tiên Thiên thứ hai, ngày 17 tháng 10, Sư ngồi vui vẻ thị tịch, thọ 49 tuổi. Vua sắc phong là Vô Tướng Ðại sư, tháp hiệu Tịnh Quang. Sư trứ tác hai tập là Chứng đạo ca (證道歌) và Thiền tông ngộ tu viên chỉ, được lưu hành rộng rãi.
vĩnh gia huyền giác
Yongjia Xuanjue (C), Yung-chia Hsuan-chueh (C), Yongjia Xuanjue (C), Yoka Genkaku (J)(665-713) Người ta tin rằng Ngài là đệ tử của ngài Huệ Năng.
; Thiền sư Trung Quốc vào đời nhà Đường, ông sanh năm 665. Ông là một trong những đệ tử xuất sắc của Lục Tổ Huệ Năng. Bài Chứng Đạo Ca là một bài viết về thiền rất được phổ biến. Ông tịch năm 713 sau Tây Lịch—Yung-Chia-Hsuan-Chueh was born in 665, a great Zen master during the T'ang dynasty. He was one of the famous disciples of the Sixth Patriarch Hui-Neng. His “Song of Realization” is a popular Zen writing. He died in 713 A.D. ** See Huyền Giác Vĩnh Gia Thiền Sư.
vĩnh gia thiền tông tập chú
2014請參閱 永嘉集 凡二卷。明代僧無盡傳燈重編並注釋,熹宗天啟二年(1622)刊行。收於卍續藏第一一一冊。唐慶州刺史魏靜曾編集永嘉集,揭示永嘉玄覺之修禪要義及悟道歷程,然傳燈以為永嘉集之內容雜亂,迭有訛謬,與永嘉玄覺之本意相去甚遠,故將原有之十項目(慕道志儀、戒憍奢意、淨修三業、奢摩他頌、毘婆舍那頌、優畢叉頌、三乘漸次、理事不二、勸友人書、發願文)更改次序與內容為:歸敬三寶、發宏誓願、親近師友、衣食誡警、淨修三業、三乘漸次、事理不二、簡示偏圓、正修止觀、觀心十門。又詳予注釋,並附錄宋僧行靖所撰永嘉集註之注釋,以闡明玄覺大師之止觀觀心宗旨。
Vĩnh Gia tập
永嘉集; C: yŏngjiā jí; J: yōkashū; |Gọi tắt của Thiền tông Vĩnh Gia tập (禪宗永嘉集).
vĩnh gia tập
2014凡一卷。全稱禪宗永嘉集。又稱永嘉禪集、永嘉禪宗集、玄覺永嘉集。唐代永嘉玄覺(665~713)撰,慶州刺史魏靜輯。收於大正藏第四十八冊。玄覺早年學天台,其後參訪南宗禪六祖慧能,於某夜開悟得證,遂改宗入禪門。本書內容即以天台止觀遮照之旨解釋禪宗之禪,揭示禪定之用意及修行之歷程。 本書共分十篇:第一慕道志儀、第二戒憍奢意、第三淨修三業、第四奢摩他頌、第五毘婆舍那頌、第六優畢叉頌、第七三乘漸次、第八理事不二、第九勸友人書、第十發願文。卷首附有魏靖之序,初三門為序分,次五門為正宗分,後二門為流通分。 本書為台禪融合之初作,故頗受矚目。有關之注釋書有宋僧行靖之永嘉集註二卷、明僧傳燈之永嘉禪宗集註二卷、高麗僧己和之永嘉集說誼二卷等。〔佛祖統紀卷十高麗諦觀條、天台四教儀集註卷下、宋高僧傳卷八、禪籍志卷上、唐書藝文志第四十九、佛典疏鈔目錄卷下〕
Vĩnh Giác Nguyên Hiền
(永覺元賢, Yōkaku Genken, 1578-1657): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, hiệu là Vĩnh Giác (永覺), vì ông từng sống tại Cổ Sơn (鼓山) nên còn được gọi là Cổ Sơn Nguyên Hiền (鼓山元賢), xuất thân Kiến Dương (建陽), Tỉnh Phúc Kiến (福建省), họ Thái (蔡). Lúc nhỏ ông học Nho Giáo, đến năm 25 tuổi, nhân nghe vị tăng đọc kinh chợt cảm ngộ, bèn theo học với Vô Minh Huệ Kinh (無明慧經) trong nhiều năm, đến năm 40 tuổi mới được thầy cho phép xuất gia và kế thừa dòng pháp. Không bao lâu sau, Huệ Kinh qua đời, ông theo thọ giới Cụ Túc với Bác Sơn Nguyên Lai (博山元來), rồi chuyển đến tu học trong mấy năm ở các nơi như Hương Lô Phong (香爐峰), Kim Tiên Am (金僊庵), Hà Sơn (荷山), v.v. Vào năm thứ 7 (1634) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông đến trú tại Cổ Sơn, lúc đó ông đã gần 50 tuổi. Ông từng quản lý các đạo tràng Khai Nguyên (開元), Chơn Tịch (眞寂), Bảo Thiện (寳善), v.v., và đến ngày mồng 7 tháng 10 năm thứ 14 niên hiệu Thuận Trị (順治), ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi. Trước tác của ông có Động Thượng Cổ Triệt (洞上古轍), Bổ Đăng Lục (補燈錄), Kế Đăng Lục (繼燈錄), Tứ Hội Toàn Lục (四會全錄), Tịnh Từ Yếu Ngữ (淨慈要語), Kiến Châu Hoằng Thích Lục (建州弘釋錄), Chư Tổ Đạo Ảnh Tán (諸祖道影贊), Kim Cang Kinh Lược Sớ (金剛經略疏), Bát Nhã Tâm Kinh Chỉ Chưởng (般若心經指掌), v.v. Pháp từ Vi Lâm Đạo Bái (爲霖道霈) trùng biên bộ Vĩnh Giác Hòa Thượng Quảng Lục (永覺和尚廣錄).
vĩnh giác nguyên hiền thiền sư quảng lục
2018凡三十卷。又作永覺和尚廣錄。明代僧元賢(1578~1657)所撰,為霖道霈重編。清順治十四年(1657)刊行。收於卍續藏第一二五冊。編集福州鼓山湧泉寺語、泉州開元寺語、杭州真寂禪院語、劍州寶善庵語、小參、普說、茶話、拈古、頌古、佛事、書問、序、記、文、考、疏、銘、諸祖道影贊、偈頌等,及卷二十七與二十八之洞上古轍、卷二十九與三十之寱言。卷首收錄禪餘內集序、禪餘外集序、最後語序、鼓山晚錄序,於林之蕃所撰之序文中謂,以上諸單行本原皆收於本廣錄中,其中,「禪餘內集」為語錄集,「禪餘外集」則為詩文,各八卷,太冲道順編,皆刊行於崇禎十六年(1643)。「鼓山晚錄」係元賢六十七歲至七十五歲間再住鼓山之語錄,凡二卷,太冲道順編,約刊行於永曆六年(1652)間。「最後語」係元賢八十歲示寂前之最後絕唱,凡二卷,傳善編,約刊行於永曆十一、十二年間。
vĩnh hòa
Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, Nam Việt Nam. Chùa đã có từ lâu, nhưng chỉ là một ngôi chùa nhỏ. Đến năm 1961, Hòa Thượng Trí Đức về xây lại cảnh chùa khang trang như bây giờ, lập trường trung học Bồ Đề tỉnh Bạc Liêu—Name of a temple, located in Bạc Liêu town, Bạc Liêu province, South Vietnam. It was built a long time ago; however, it was only a small temple. In 1961, Most Venerable Trí Đức had it rebuilt and opened Bồ Đề High School of Bạc Liêu province.
vĩnh hưng tự
Eiko-ji (J)Tên một ngôi chùa.
vĩnh kiếp
2011永久劫(梵 kalpa)之略稱。謂無限長之時間。劫,即古代印度表示極大時限之時間單位。又作曠劫。兆、載皆表極大之數。據無量壽經卷上載,阿彌陀佛於「因位」為法藏菩薩時,為濟度眾生而發四十八願,更於重發誓後謂(大一二‧二六九下):「於不可思議兆載永劫,積植菩薩無量德行。」故阿彌陀佛因位之修行,稱為永劫修行,或兆載永劫行。或形容眾生輪迴流轉時間之久長,稱為永劫,如淨土五會念佛略法事儀讚末所說(大四七‧四八七中):「十惡、五逆、至愚人,永劫沈輪在久塵。」若用於指未來之情形,則稱為未來永劫。(參閱「兆載永劫」2186)
; Thời gian rất lâu dài—Eternity—The everlasting aeon.
vĩnh kì
2012(1820~1865)朝鮮僧。湖南古阜人。十四歲入漢陽三角山僧迦寺,從沙門大演出家。後居寶蓋山地藏庵,倣效沙門省常之行,勤於書寫阿彌陀經。未久,入三角山刻製阿彌陀經、觀無量壽經、蓮宗寶鑑等,而將板木藏於水落山興國寺,其後即住持該寺。哲宗六年(1855),住於奉恩寺,與印虛性惟等募資印刻華嚴經疏演義鈔八十卷、別行一卷、準提千手合璧一卷、天台三隱詩集等。哲宗十一年,結庵於寶蓋山足臺喜峰巒,刻地藏經、觀心論等。李太王二年,印行海印寺大藏經二帙,藏於雪岳五歲寺及五臺山寂滅寺。同年示寂,享年四十六。
Vĩnh Minh Diên Thọ
(永明延壽, Yōmei Enju, 904-975): vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, xuất thân Dư Hàng (餘杭), Phủ Lâm An (臨安府, Tỉnh Triết Giang), họ là Vương (王), tự Xung Huyền (冲玄), Bảo Nhất Tử (抱一子). Ngay từ nhỏ ông đã có chí xuất trần nhưng không được toại nguyện, nên làm quan cho nước Ngô Việt. Đến năm 28 tuổi, ông theo xuất gia với Thúy Nham Linh Tham (翠巖令參, thế kỷ thứ 9-10, pháp từ của Tuyết Phong); sau đó theo hầu hạ Thiên Thai Đức Thiều (天台德韶), kế thừa dòng pháp của vị này và trở thành vị tổ thứ 3 của Pháp Nhãn Tông. Vào năm thứ 2 (952) niên hiệu Quảng Thuận (廣順), ông đến trú trì Tuyết Đậu Sơn Tư Thánh Tự (資聖寺). Về sau, thể theo lời thỉnh cầu đặc biệt của Trung Ý Vương (忠懿王), ông nhậm chức trú trì Linh Ẩn Tự (靈隱寺), rồi chuyển sang Vĩnh Minh Tự (永明寺) trong vòng 15 năm và đã độ khoảng 1700 đệ tử. Ông là người kiêm tu cả Thiền lẫn Tịnh Độ, ban đêm thường hành trì pháp môn Niệm Phật. Nhà vua cho xây dựng Tây Phương Quảng Giáo Điện (西方廣敎殿) và cử ông đến đây trú trì. Chính vì lẽ đó, Thạch Chi Tông Hiểu (石芝宗曉) kính ngưỡng ông như là vị tổ đời thứ 7 của Liên Tông. Người đương thời tôn sùng ông là đấng Từ Thị (慈氏, Di Lặc) hạ sanh. Thanh danh ông rất cao, đến nỗi vua Quang Tông (光宗) nước Cao Lệ (高麗) mến mộ đức độ của ông, đã phái 36 vị tăng sang học giáo pháp của ông. Nhờ vậy, Pháp Nhãn Tông được truyền bá sang Cao Lệ và Tông Thiền Tịnh đã phát triển mạnh ở Triều Tiên. Sau khi tiến hành độ tăng, truyền thọ giới pháp và phóng sanh, vào ngày 26 tháng 12 năm thứ 8 (975) niên hiệu Khai Bảo (開寶), ông đốt hương, dặn dò đồ chúng và ngồi kiết già thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi đời và 42 hạ lạp. Ông được ban cho thụy hiệu là Trí Giác Thiền Sư (智覺禪師). Ông để lại khá nhiều trước tác như Vạn Thiện Đồng Quy Tập (萬善同歸集) 3 quyển, Huệ Nhật Vĩnh Minh Tự Trí Giác Thiền Sư Tự Hành Lục (慧日永明寺智覺禪師自行錄), Duy Tâm Quyết (唯心訣), v.v. Tác phẩm chính của ông phải kể đến là Tông Kính Lục (宗鏡錄). Đây là tác phẩm gồm 100 quyển, tập trung tất cả các học giả của Duy Thức, Hoa Nghiêm, Thiên Thai để cùng nhau tiến hành giải đáp những nghi vấn, cuối cùng thống nhất lại với nhau thông qua Tâm Tông, là thư tịch dẫn dụng các yếu văn từ những trước tác chính yếu của các tông phái Phật Giáo mà khởi đầu bằng Thiền Tông, và nói về tư tưởng của các phái. Chủ trương nhằm mục đích tổng hợp Phật Giáo như vậy được thể hiện rất rõ qua các tác phẩm như Vạn Thiện Đồng Quy Tập, v.v., và cũng thể hiện lập trường căn bản của Diên Thọ. Đời sau, khi các tư tưởng như Thiền Giáo Song Tu, Giáo Thiền Nhất Trí được thực hiện thành công, dần dần Diên Thọ được mọi người tôn trọng hơn. Với tư tưởng như vậy, đương nhiên Diên Thọ cũng chẳng bài xích Tịnh Độ Giáo.
; 永明延壽; C: yòngmíng yánshòu; J: yōmyō enju; 904-975, cũng được gọi là Huệ Nhật Trí Giác (慧日智覺); |Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Pháp Nhãn, nối pháp Quốc sư Thiên Thai Ðức Thiều. Tông Pháp Nhãn rất phồn thịnh dưới sự hoằng hoá của Sư. Học chúng đến rất đông – có lúc đến 2000 người để tham thiền. Sư có soạn bộ Tông kính lục (宗鏡錄) gồm một trăm quyển, được lưu truyền khá rộng trong giới thiền.|Sư họ Vương, quê ở Dư Hàng, mộ đạo từ nhỏ. Sư lúc nhỏ không ăn thịt cá, mỗi ngày chỉ ăn một bữa. Năm 28 tuổi, Sư được làm quan trấn ở Hoa Ðình và có dịp tiếp xúc với Thiền sư Thuý Nham Vĩnh Minh. Sư lễ Thuý Nham làm thầy, làm việc hằng ngày phục vụ chúng mà quên cả chức vụ quan tước của mình. Cơ duyên xuất gia của Sư cũng rất thú vị và thường được nhắc đến. Vì thương dân nên Sư trộm lấy tiền của vua mà phân phát cho người nghèo. Một vị quan khác biết được bèn tâu lại với vua. Nghe chuyện này vua rất ngạc nhiên vì ông cứ cho rằng Sư là người thuần lương, thành thật. Ðể răn chúng dân, vua ra lệnh xử trảm nhưng lại căn dặn vị quan là nếu Sư nhận lệnh mà an vui trầm tĩnh thì tha tội và đến trình vua. Quả thật như nhà vua tiên đoán, Sư không tỏ vẻ sợ hãi khi nghe tin này. Ðược vua hỏi vì sao, Sư trả lời: »Thần muốn từ quan, cống hiến cuộc đời cho tất cả chúng sinh, muốn xuất gia tu học Phật pháp với trọn tấm lòng.« Nghe như vậy, Sư được vua cho phép từ quan chức để xuất gia.|Lên núi Thiên Thai, Sư yết kiến Quốc sư Ðức Thiều và được thầm trao huyền chỉ. Quốc sư bảo: »Ngươi cùng Nguyên Soái có duyên, sau này sẽ làm hưng thịnh Phật pháp.«|Ban đầu Sư đến núi Tuyết Ðậu, Minh Châu hoằng hoá, học chúng đến rất đông. Niên hiệu Kiến Long (950), Trung Hiến Vương thỉnh Sư trụ trì ở núi Linh Ẩn. Năm sau lại thỉnh Sư về trụ trì đại đạo trường ở Vĩnh Minh. Nơi đây, học chúng tấp nập có đến hai ngàn người.|Có vị tăng ra hỏi: »Thế nào là diệu chỉ của Vĩnh Minh?« Sư đáp: »Lại thêm hương đi.« Tăng thưa: »Tạ thầy chỉ dạy.« Sư bảo: »Hãy mừng chớ giao thiệp.«|Sư làm bài kệ:|欲識永明旨。門前一湖水|日照光明生。風來波浪起|Dục thức Vĩnh Minh chỉ|Môn tiền nhất hồ thuỷ|Nhật chiếu quang minh sinh|Phong lai ba lãng khởi.|*Biết diệu chỉ Vĩnh Minh|Trước cửa nước một hồ|Trời soi ánh sáng dậy|Gió sang sóng mòi sinh.|Tăng hỏi: »Ðâu chẳng phải lìa thức tính riêng có chân tâm ư? Trường Sa (Cảnh Sầm) có kệ: ›Học đạo mà không hiểu lí chân, bởi tại lâu rồi nhận thức thần, gốc nguồn sinh tử vô thuỷ kiếp, người ngu lại gọi là chủ nhân.‹«|Sư đáp: »Như Lai Thế Tôn trên hội Thủ-lăng-nghiêm vì ngài A-nan-đà giản biệt rất rõ mà ngươi vẫn cố chẳng tin. Ngài A-nan lấy cái suy xét theo đuổi làm tâm, bị Phật quở đó. Cái suy xét theo đuổi ấy là ›Thức‹ vậy. Nếu lấy cái biết pháp, theo tướng là Phiền não thì gọi thức, chẳng gọi tâm. Ý là nhớ, nhớ tưởng cảnh trước khởi vọng đều là vọng thức, chẳng can gì về việc của tâm. Tâm chẳng phải có không, có không chẳng nhiễm. Tâm chẳng phải cấu tịnh, cấu tịnh chẳng nhơ. Cho đến mê ngộ phàm thánh đi đứng ngồi nằm đều là vọng thức, chẳng phải tâm vậy. Tâm xưa nay chẳng sinh, nay cũng chẳng diệt. Nếu biết tâm mình như thế, đối chư Phật cũng vậy. Cho nên Duy-ma-cật nói ›Trực tâm là đạo trường‹ vì không có hư giả vậy.«|Niên hiệu Khai Bảo năm thứ tám (975), tháng chạp, Sư có chút bệnh. Buổi sáng ngày 26, Sư thắp hương từ biệt chúng rồi ngồi kết già thị tịch, thọ 72 tuổi, 42 tuổi hạ.
vĩnh minh diên thọ
Yang ming Yen shou (C), Yōmyō Enju (J), Yung-ming Yen-shou (C), Yomyo Enju (J), Yomeiji (J)(904-975) Đệ tử của Thiên Thai Đức Thiều Tên một vị sư..
vĩnh minh diên thọ thiền sư
Zen master Yong-Ming-Yan-Shou—Thiền sư Vĩnh Minh, một cao Tăng đầu đời nhà Tống. Ngài sanh năm 904 tại Dư Hàng (nay thuộc tỉnh Triết Giang), là đệ tử của Thiền sư Thiên Thai Đức Thiều. Ngài chỉ sống nhiều hơn Thầy mình có ba năm. Ngài là một trong những đại sư cuối cùng của phái Thiền Pháp Nhãn. Ngài là tác giả bộ sách Thiền Tông Canh Lục, gồm một trăm quyển—Zen master Yong-Ming-Yan-Shao, one of the most famous monks in early Sung Dynasty. He was born in 904 in Yu-Hang (now located near Hang-Chou in Zhe-Jiang Province), was a disciple of Zen Master T'ian-T'ai-Te-Shao. He survived his master only by three years, was one of the last important masters of the Fa-Yan school of Ch'an. He was the author of a book called Record of Truth-Mirror in one hundred volumes. • Tình cờ sư nghe tiếng bó củi rơi xuống đất mà tỏ ngộ và có bài kệ như sau—His realization took place when he heard a bundle of fuel dropping on the ground: Có gì rơi xuống chỉ lâng lâng Khắp khắp hai bên chẳng mảy trần Sông núi cỏ cây toàn vũ trụ Đâu là chẳng hiện Pháp Vương thân Something dropped! It is no other thing; Right and left, there is nothing earthy: Rivers and mountains and the great earth, In them all revealed is the Body of the Dharma-raja (Dharma-king). • Một hôm sư thượng đường dạy chúng: “Trong núi Tuyết Đậu mây vươn lên ngàn tầm không dừng mảy thóc, dựa đảnh muôn nhẫn không có chỗ để chơn. Tất cả các ngươi nhằm chỗ nào tiến bộ?” Có vị Tăng hỏi: “Một lối tắt của Tuyết Đậu làm sao dẫm đi?” Sư đáp: “Bước bước hoa lạnh kết, lời lời suốt đáy băng.”—One day Zen master Yong-Ming-Yan-Shou addressed the monks, saying: “This place, Xue-T'ou, has erupted eight thousand feet into the air and the earth has turned into slippery grain, stacked in a freakish 80,000-foot peak. You have absolutely nothing upon which to stand. In what direction will you step forward?” • Có vị Tăng hỏi: “Thế nào là diệu chỉ của Vĩnh Minh?” Sư đáp: “Lại thêm hương đi.” Vị Tăng thưa: “Tạ thầy chỉ dạy.” Sư nói: “Hãy mừng chớ giao thiệp.” Vị Tăng đảnh lễ. Sư nói: “Hãy lắng nghe bài kệ nầy.” “Dục thức Vĩnh Minh chỉ Môn tiền nhất hồ thủy Nhật chiếu quang minh sanh Phong lai ba lãng khởi.” (Biết diệu chỉ Vĩnh Minh Trước cửa nước một hồ Trời soi ánh sáng dậy Gió sang sóng mòi sanh). A monk asked: “What is Yong-Ming's wondrous mystery?” Yan-Shou said: “Add more incense.” The monk said: “Thank you, master, for your instruction.” Yan-Shou said: “So you've satisfied and don't want to delve deeper?” The monk bowed. Yan-Shou said: “Listen to this verse” “If you desire to know Yong-Ming's mystery, Before the gate is the lake's surface. The sun illuminates all life. The wind arises and waves come up.” • Vào tháng mười hai năm 975, sư nhuốm bệnh, hai ngày sau sư nói lời giã biệt cùng Tăng chúng, rồi ngồi kiết già thị tịch. Tháp của sư được đặt trên núi Đại Bi—During the twelfth month of 975, Yong-Ming became ill. Two days later he bade the monks farewell. Sitting cross-legged in an upright position, he passed away. His stupa was placed on “Great Compassion” Mountain.
Vĩnh Minh Trí Giác Thiền sư duy tâm quyết
永明智覺禪師唯心訣; C: yŏngmíng zhìjué chánshī wéixīn jué; J: youmyō chigaku zenshi yuishin ketsu; |1 quyển; của Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽). Thường gọi tắt là Duy tâm quyết (唯心訣)
vĩnh minh trí giác thiền sư duy tâm quyết
2012全一卷。略稱唯心訣。宋代僧永明延壽(904~975)著。收於大正藏第四十八冊。本書為永明延壽闡明其唯心思想之著作。延壽主張千途異說歸於一法,而萬法歸於一心;法華、般若、思益、華嚴、圓覺、楞嚴、大集等諸經亦一法之千名而已,重要者在於觀心而達一心,故於書中列舉一二○種邪宗見解,以觀心之法解其迷惑、照其暗冥,並謂觀徹此一真心,是非取捨即可俱消,豁然清淨,而達於圓融解脫之境。卷末並附定慧相資歌。
vĩnh minh tự
2012<一>位於洛陽閶闔門外。係北魏宣武帝永平二年(509)下詔為外國沙門而創立者。殿宇房舍有千餘間,足見其壯麗。當時佛教興盛,自異域而來之沙門有三千餘人,亦有遠自大秦國或南方之歌營國而來者。〔洛陽伽藍記卷四〕 <二>位於浙江杭縣南郊之南屏山。建於後周顯德元年(954),初稱慧日永明寺,至宋代改稱淨慈寺。北宋法眼宗高僧延壽即曾居此弘法十五年,世稱永明延壽。又寺中存有一口鑄於明代之巨鐘,鐘聲可遍徹山谷,即為著名的「南屏晚鐘」。(參閱「淨慈寺」4708) <三>位於臺灣陽明山。內設蓮華學佛園與華梵佛教學術院,由曉雲法師領導,培養佛教人才。 <四>位於韓國平安南道平壤之錦繡山中,浮碧樓之西,麒麟窟之上方。為韓國佛教三十一本山之一。又稱萩丹坮。本寺位於山中,視野遼闊,眺望絕佳。昔時曾為高句麗王之離宮,相傳創建於廣開土王三年(394),其後事蹟不詳。又寺中之八角五層石塔為韓國佛教重要建築遺蹟。〔朝鮮金石總覽下永明寺碑、東國輿地勝覽卷五十一〕
Vĩnh Minh Đạo Tiềm
(永明道潛, Yōmei Dōsen, ?-961): vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, sống ở Vĩnh Minh Tự (永明寺) vùng Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), xuất thân Phủ Hà Trung (河中府, Tỉnh Sơn Tây), họ Võ (武). Ông xuất gia lúc còn nhỏ, đến yết kiến Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益), trãi qua nhiều năm tham cứu và cuối cùng được khai ngộ và ấn khả. Sau đó, ông đi tham vấn khắp chốn tùng lâm, và dừng chân nơi một ngôi chùa cổ ở Cù Châu (衢州, Tỉnh Triết Giang) đọc kinh tạng. Khi ấy, vâng mệnh của Trung Ý Vương (忠懿王) họ Tiền, ông vào phủ nội truyền Bồ Tát giới cho nhà vua, và được ban cho hiệu là Từ Hóa Định Huệ Thiền Sư (慈化定慧禪師). Nhà vua còn lập nên Huệ Nhật Vĩnh Minh Tự (慧日永明寺, tức Tịnh Từ Tự [淨慈寺]) và thỉnh ông đến trú trì chùa này. Tăng chúng vân tập theo ông có đến 5.000 người. Vào năm thứ 2 niên hiệu Kiến Long (建隆), ông thị tịch.
vĩnh mệnh
To live long.
Vĩnh Nghiêm
(永嚴, Yōgon, 1075-1151): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Bình An, vị Tổ của Dòng Bảo Thọ Viện (保壽院流), húy là Vĩnh Nghiêm (永嚴), thông xưng là Hạ Dã Pháp Sư (下野法師), tự là Bình Đẳng Phòng (平等房), con của vị Trưởng Quan Kami vùng Hạ Dã (下野, Shimotsuke) là Bình Sư Quý (平師季). Ông theo xuất gia với Khoan Trợ (寬助) của Thành Tựu Viện (成就院) ở Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), rồi đến năm 1108 thì nhậm chức Truyền Pháp A Xà Lê (傳法阿闍梨). Năm 1113, ông đến trú tại Đông Tự (東寺, Tō-ji), chuyên hành lễ Quán Đảnh; và vào năm 1138 thì làm Quyền Thiếu Tăng Đô (權少僧都). Sau đó, ông sáng lập Bình Đẳng Viện (平等院) trên Cao Dã Sơn. Vào năm 1145, ông làm Tự Trưởng của Đông Tự, đến năm 1150 thì làm chức Pháp Ấn (法印), rồi khai sáng Bảo Thọ Viện (保壽院) ở Nhân Hòa Tự và trở thành Tổ của Dòng Bảo Thọ Viện. Trong khoảng niên hiệu Bảo Diên (, 1135-1141), vâng mệnh của Điểu Vũ Thượng Hoàng (鳥羽上皇), ông soạn bộ Đồ Tượng Sao (圖像抄, 10 quyển). Đệ tử phú pháp của ông có Giác Thành (覺成), Thiền Thọ (禪壽), Trường Giác (長覺), Giác Hiểu (覺曉), v.v. Trước tác của ông có Yếu Tôn Pháp (要尊法) 1 quyển, Bình Đẳng Sao (平等抄) 2 quyển, v.v.
vĩnh nghiêm
Tên một ngôi chùa nổi tiếng nằm trong quận ba, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được kiến lập năm 1964. Sân thượng chùa dài 10 mét, bên trái có tháp Quan Âm bảy tầng, bên phải có tháp chuông xây cao trên sân thượng. Quả đại hồng chung do Giáo Hội Phật Giáo Nhật Bổn hiến cúng. Bái điện là một tòa nguy nga, dài 35 mét, rộng 22 mét, cao 15 mét. Những công trình chạm khắc gỗ ở chùa Vĩnh Nghiêm bao gồm bao lam tứ linh, Long, Lân, Quy, Phụng, bao lam cửu long, tượng các vị La Hán, đặc biệt là những bức phù điêu trên bàn hương án, chạm trổ các ngôi chùa danh tiếng trong nước và các nước Á Châu. Điện thờ Phật được trang trí tôn nghiêm. Chính giữa thờ Đức Phật Thích Ca, hai bên thờ hai vị Bồ Tát Phổ Hiền và Văn Thù. Trong Chánh điện, có sáu tượng La Hán, gồm các vị: Khuyến Học La Hán, Thuyết Pháp Văn Pháp La Hán, Đạo Sơn Địa Ngục Tiếp Hóa La Hán, Cúng Dường Bố Thí La Hán 1, Cúng Dường Bố Thí La Hán 2, Đại Hàn Địa Ngục Tiếp Hóa La Hán. Mỗi tượng ngang 1,10 mét, cao 1,90 mét; đế ngang 1,43 mét, cao 47 phân. Hai bên tượng có quỷ đội đèn cúng Phật. Bên trái sân thượng là tháp thờ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, trên một diện tích 200 mét vuông. Tháp bảy tầng, cao 35 thước. Tháp hình vuông, mỗi cạnh của tầng chót là 7 mét. Hai bên cửa ra vào có hai pho tượng Kim Cang đắp nổi. Trên tầng thứ bảy của tháp có đắp nổi 25 tượng Thất Phật và chư Tổ, mỗi tượng có khung vuông, mỗi cạnh là 1,05 mét—Name of a famous pagoda located in the third district, Saigon City, South Vietnam. It was built in 1964 and completed in 1971. The upper floor court is 10 meters long. On the left of the pagoda stands the stupa of Avalokitesvara Bodhisattva with seven storeys. On the right, there is a bell tower built emerging from the court. The great bell was donated by the Japanese Buddhist Sangha. The Holy Shrine is a magnificient building, 22 meters wide, 35 meters long, and 15 meters high. The wooden carvings conserved at Vĩnh Nghiêm Pagoda include carved drafts of the four sacred animals, the dragon, the unicorn, the tortoise, and the phoenix, those of nine dragons, the statues of the Eighteen Arahats, etc. Especially noticeable are the bas-reliefs on the altars illustrating famous pagodas in home and Asian countries. The Buddha Shrine is decorated solemnly. The statue of Sakyamuni Buddha is worshipped between those of Samantabhadra Bodhisattva and Manjusri Bodhisattva. In the Main Hall, there are six sets of Arahats: the Arahats admonishing to study Dharma, preaching and listening to Dharma, saving the beings in Mount Sword Hell, giving alms, saving beings in extremely cold hell. Each statue is 1.10 meters long, 1.90 meters high. The base is 1.43 meters and 0.47 meter high. On both sides of the statues are two devils with lamps on their heads for worshipping the Buddha. On the left side of the upper court stands the statue of Avalokitesvara Stupa in an area of 200 square meters. It is a seven-storey stupa, 35 meters high. It is shaped in square, each side of the first storey is 7 meters long. On both sides of the door stand two statues of bas-relief-carved Vajradeva. On the seventh storey of the stupa, there are bas-reliefs of twenty-five Holy statues, i.e. seven Buddhas and Patriarchs. Each of the statue is bounded in a square frame, each side is 1.05 meters wide.
vĩnh nguyên tịch thất hoà thượng ngữ lục
2014凡二卷。又作寂室錄、圓應禪師語錄、圓應錄。日本臨濟宗僧寂室元光(1290~1367)撰。收於大正藏第八十一冊。輯錄偈頌、佛祖贊、小佛事、說 、書簡、法語、遺誡、遺偈、江州永源寺開山圓應禪師行狀等。
vĩnh nguyên tự
2014位於日本滋賀縣神崎郡永源寺町(山腰上)。山號瑞石山。又稱飯高山、山上寺。為日本臨濟宗永源寺派之大本山。康安元年(1361),國守佐佐木氏賴皈依臨濟宗之寂室元光,並獻地建寺,元光遂為永源寺開山之祖。足利義滿亦贈地為寺領,頗受皇室尊崇。其後為織田信長燒毀。至一絲文守(1608~1646)時始重建,乃營造東福門院,而以井伊藩主為外護。該寺總門、山門、大方丈、法堂、開山堂、禪堂、經堂等建築極其壯偉,風景亦佳,尤以楓樹馳名遠近。寺中藏有開山祖師寂室元光之肖像、遺誡、墨蹟等。〔寂室和尚行狀、延寶傳燈錄卷十六、扶桑五山記卷二、本朝高僧傳卷三十一〕
; Eigen-ji (J)Tên một ngôi chùa.
vĩnh ninh
2015<一>(1292~1369)元末明初僧。江蘇南通人,俗姓朱。字一源,諱永寧。世稱虛堂禪師,又號虛幻子。曾參謁太湖山無用禪師而了悟玄旨。至治年間(1321~1323),住持宜興之龍池。其後,歷住李山、天寧諸寺。頗受元順帝之歸敬,曾三次賜號。明洪武二年示寂,世壽七十八。遺有四會語錄。〔續稽古略卷二〕 <二>(1483~1565)明代僧。江蘇六合人,俗姓郭。字西林。幼年出家,參禮報恩寺無瑕玉為師。武帝南巡,駐蹕寺中,師曾隨侍之,甚受禮重,遂任僧錄之職。每以僧侶無學為憂,特請雲谷、守愚等師敷席講授,並親督學人列坐恭聽。嘉靖四十四年示寂,世壽八十三。〔憨山大師夢遊全集卷三十〕
vĩnh ninh tự
2015<一>位於河南洛陽以東十五公里之處,地當漢魏洛陽故城內。今為廢寺,僅存部分塔基,及燒焦之甎塊、佛像等。北魏時,菩提流支等曾於此譯述諸經論。原係北魏獻文帝皇興元年(467)建於山西大同之大寺。遷都洛陽後,孝明帝之生母靈太后胡氏於熙平元年(516,梁天監十五年)創建一新寺,亦號永寧寺。據洛陽伽藍記卷一載,寺在宮前閭闔門南御道之東,規模鉅大。北面為正殿,形制仿太極殿,中置諸像,甚為工巧綺麗。僧房周接千餘間,臺、觀等參差其間。正南有三門樓,高二百尺,雄壯如天門。殿南且立九層浮圖,高九十餘丈,上置金剎,復高十丈,凡出於地面千餘尺,繡柱漆扉,極盡土木之工;簷間綴飾金鐸五千餘枚,高風永夜,鏗錚之聲聞及十里,門外尚有青槐、綠水之景。其時,與西域之往來頻繁,西域人多次贈與佛像、經典,皆藏於寺內。永熙三年(534,北魏滅亡),該寺九層塔之第八級忽發大火,救之無及,連燒三月,因而荒廢。其後魏衰,高歡遷都於鄴,寺遂毀於兵火。然隋唐以來造寺置塔,多倣其制。〔續高僧傳卷一、開元釋教錄卷六、佛祖統紀卷三十八、魏書卷十三、北周書卷十七〕 <二>位於黑龍江口特林地方。今之東北地區,在歷史上為邊族之領地或羈縻地區,至明太祖派兵收復遼東,設立遼東都司,才再入版圖。經成祖、宣宗兩朝經略招撫,聲威一度遠至黑龍江口、庫頁島,明代史籍多有記載此經營東北之事實。至清初,因對其起源地曾為明廷臣屬之事甚為忌諱,故蓄意抹煞,湮滅禁焚史籍文獻,致使後人對明初在東北之情形日久淡忘。永樂九年(1411),明成祖於黑龍江口設奴兒干都司,招撫女真族。永樂十一年,內官亦失哈等奉敕建永寧寺,並刻「敕修奴兒干永寧寺碑記」。宣德六年(1431)重建,並立「重建永寧寺記」碑,其後不詳。 清嘉慶十四年(1809),曾為日人間宮林藏發現。至光緒十一年(1885),二碑再度為曹廷杰發現,今藏於蘇俄海參崴博物館。其中,永樂十一年之碑,四面均有刻文,正面為漢文,背面為同一內容之女真文、蒙古文;兩側則刻有漢、女真、蒙古、西藏等四種文字之「唵嘛呢叭荞吽」六字咒。永寧寺碑之發現,已廣泛引起國內外學者研究之興趣,對於明初經營東北史實之確定極具重要性。〔吉林通志卷一二○、滿州金石志、女真文金石志稿、明初の滿洲經略下編(和田清,滿鮮地理歷史報告一五)〕
vĩnh phúc
Eternal happiness
vĩnh phúc am
Eifuku-an (J)Tên một ngôi chùa.
vĩnh phúc tự
2017<一>位於浙江杭縣。東晉咸和年間(326~334)沙門慧理創建。唐長慶四年(824),於此寺刻石壁法華經。據元稹所撰之刻經記謂,本寺又名孤山寺,位於杭州錢塘湖心孤山上。初於元和十二年(817)左古,沙門慧皎曾於本寺刻法華經而未果。至長慶四年白居易來為刺史,始完成刻經之業。其石上下六尺五寸,長短五十七尺六寸。 <二>位於江西鄱陽。創建於南朝梁天監元年(502),由鄱陽王蕭恢獻出自宅而成。初名顯明寺,元代始更名永福寺,又據鄱陽縣志載,天台山僧寶倫於北宋天聖二年(1024)在寺之東側建立甎塔,歷經修葺,至今仍十分完整美觀。〔大明一統志卷五十、大清一統志卷二四一〕
; Eifuku-ji (J)Tên một ngôi chùa.
Vĩnh Quang Tự
(永光寺, Yōkō-ji): ngôi tự viện của Tào Động Tông, hiệu núi là Động Cốc Sơn (洞谷山); hiện tọa lạc tại số 11 Sakai-chō (酒井町), Hakui-shi (羽咋市), Ishikawa-ken (石川縣). Tượng thờ chính là Thích Ca Như Lai. Vào khoảng năm 1313 (Chánh Hòa [正和] 2), Ni Tổ Nhẫn (祖忍) phát tâm xây dựng chùa và cung thỉnh Thiền Sư Oánh Sơn Thiệu Cẩn (瑩山紹瑾) làm Tổ khai sơn. Kiến trúc già lam được chỉnh bị vào năm 1323 (Nguyên Hanh [元亨] 3). Đến năm 1339 (Lịch Ứng [曆應] 2), thể theo sự phát nguyện của hai Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji) và Túc Lợi Trực Nghĩa (足利直義, Ashikaga Tadayoshi), ngôi Tháp Lợi Sanh ở tiểu quốc Năng Đăng (能登, Noto) được kiến lập tại chùa này. Sau vụ Loạn Ứng Nhân (應仁の亂, Ōnin-no-ran), thể theo sắc nguyện của Hậu Thổ Ngự Môn Thiên Hoàng (後土御門天皇, Gotsuchimikado Tennō), chùa được tái kiến lại; nhưng trong vụ binh loạn vào năm 1579 (Thiên Chánh [天正] 7), chùa bị thiêu cháy hầu như toàn bộ, chỉ còn lại kiến trúc Ngũ Lão Phong (五老峰) của Khai Sơn Đường (開山堂) mà thôi. Về sau, Tiền Điền Lợi Gia (前田利家, Maeda Toshiie) cho xây dựng lại như cũ. Quần thể kiến trúc hiện tại được tái kiến dưới thời Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867).
vĩnh quyết
To separate forever.
Vĩnh Quán
(永觀, Eikan hay Yōkan, 1033-1111): vị Tăng kiêm học của Tam Luận Tông và Tịnh Độ Giáo, cha là Tiến Sĩ Văn Chương Nguyên Quốc Kinh (源國經). Năm lên 11 tuổi, ông theo hầu Thâm Quán (深觀) ở Thiền Lâm Tự (禪林寺), năm sau thì thọ Cụ Túc Giới ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), rồi ông học thêm Tam Luận với Hữu Khánh (有慶) và Hiển Chơn (顯眞), cũng như giáo học các Tông phái khác. Ông đã sớm tu theo hạnh Niệm Phật, đến độ tuổi 30 thì đến ẩn cư ở Quang Minh Sơn (光明山). Vào năm 1072, lúc 40 tuổi, ông trở về sống ở Thiền Lâm Tự. Từ năm 1100 trở đi trong vòng 3 năm trường, ông làm chức Biệt Đương của Đông Đại Tự; ngoài ra thông qua những hoạt động từ thiện giáo hóa chúng sanh, xưng danh niệm Phật, ông đã nỗ lực hết mình để lưu bố Tịnh Độ Giáo. Trước tác chủ yếu của ông là bộ Vãng Sanh Thập Nhân (徃生拾因) 1 quyển, Vãng Sanh Giảng Thức (徃生講式) 1 quyển.
vĩnh sinh
2011<一>指涅槃。佛教大小乘對涅槃之觀點各異,小乘佛教認為涅槃表示灰身滅智或滅盡煩惱之狀態;大乘佛教則具有積極性之涅槃思想,如涅槃經所說之涅槃四德「常、樂、我、淨」即為典型代表,又如南本涅槃經卷三所列舉之涅槃八味中即有「不老、不死、無垢、快樂」之狀態。準此,在大乘,涅槃乃不生不滅之法;取其不滅之義,故言永生。又以「永生樂果」一語指涅槃之妙果。(參閱「涅槃」4149) <二>指彌陀之淨土。因生於淨土,則悉為無量壽,故為永生。觀經玄義分(大三七‧二四六上):「開示長劫之苦因,悟入永生之樂果。」〔無量壽經卷下〕
; 1) Cuộc sống vĩnh viển nơi cõi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà: Enternal life or perpetual life in the Pure Land of the Amitabha Buddha. 2) Bất Tử: Immortality. 3) Niết Bàn: Nirvana (không sanh không diệt—not being born, not reborn, therefore not dying).
vĩnh thái tự
2013位於河南登封縣太室山西麓。創建於北魏,原名明練寺,唐代為紀念魏孝明帝之妹永泰公主入寺為尼,更名為永泰寺。寺境現存有毘盧殿、大雄殿、皇姑樓等清代所建殿宇三十餘間,及唐塔一座、明塔一 座。山門置有唐代八角形經幢兩座,上刻陀羅尼經。寺外有唐碑一座,陳述寺史甚詳。另有其他碑刻數座。
vĩnh thọ tự
2016位於山西榆次。據山西通志所載,本寺創建於後漢建寧元年(168)。然或謂唐代元和十二年(817)自村東地方移至今址。宋代大中祥符年間(1008~1016)建藏經閣。崇寧三年(1104)修建四聖舍利塔,至明、清二代續有增建。寺內存有北齊武平二年(571)之石佛,及金代大定五年(1165)之甎塔等。
vĩnh tinh
2013(1926~ )熱河喀左旗人,俗姓劉。法名演霖。年十三,投增福寺常修法師座下出家。民國三十一年(1942),於長春般若寺受具足戒。嘗先後就學於哈爾濱觀音佛學院、青島湛山佛學院、香港華南佛學院。師熱心於佛教事業,先後於香港創辦東林念佛堂、西方寺、虛雲和尚紀念堂、菩提學會、東林安老院、菩提佛學院、華夏學院,及美國德州佛教會等,並經常組團訪問美、加、日、韓及東南亞諸國,以促進佛教文化之交流。歷任西方寺住持、香港菩提學會會長、香港佛教會常務董事、香港佛教僧伽會董事、美國德州佛教會主席、華夏學院董事長等職。著有菩提文選一書行世。
vĩnh tràng
Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng tọa lạc trong xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, Nam Việt Nam. Chùa có từ đầu thế kỷ thứ 19 do ông Bùi Công Đạt xây dựng. Đến năm 1849, Hòa Thượng Huệ Đăng, nguyên ở chùa Giác Lâm Gia Định, xuống trụ trì, đứng ra xây dựng ngôi đại tự với tên Vĩnh Tràng. Đến năm 1907, Hòa Thượng Chánh Hậu đã cho trùng tu và tôn tạo lại. Mặt tiền chánh điện và nhà Tổ được xây dựng lại và trang trí theo kiều mới, vừa theo kiến trúc cả đông lẫn tây. Trong chánh điện, có nhiều pho tượng và rui mè được chạm trổ công phu. Đặc biệt là bộ thập bát La Hán là những tác phẩm chạm khắc trên gỗ độc đáo của các nhà điêu khắc miền Nam vào tiền bán thế kỷ 20. Bộ thập bát La Hán do Hòa Thượng Chánh Hậu người Minh Hương đúc năm 1907. Tượng bằng danh mộc, mỗi tượng cao 8 tấc, bề ngang khoảng 58 phân, được đặt hai bên chánh điện. Mỗi vị tay cầm bửu bối tượng trưng cho các giác quan mà theo đạo Phật gọi là lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý)—Name of a famous ancient pagoda located in Mỹ Phong village, Mỹ Tho City, South Vietnam. The pagoda was built by Mr. Bùi Công Đạt in the early nineteenth century. In 1849, it was rebuilt to become a great one with its new name Vĩnh Tràng Tự by Most Venerable Huệ Đăng, Head of the pagoda. In 1907, it was restored and solemnly decorated by Most Venerable Chánh Hậu. The facade of the Main Hall and the Patriarch Hall were also rebuilt and decorated in a new style, that is, the Eastern architecture combined with the Western one. In the Main Hall stand a lot of painstakingly carved statues and drafts. Distinguished from them is a set of Eighteen Arahats which are skillfully engraved wooden masterpieces created by the artists from South Vietnam in the early twentieth century. This set of eighteen Arahats cast in 1907 by Most Venerable Chánh Hậu from Minh Hương, the statues are made of precious wood. Each of which is 0.80 meter high, 0.58 meter wide and placed on both sides of the Main Hall. Each image with its own magic wand is a symbol of the six senses known as the Six Internal Sense Fields in Buddhism (eyes, ears, tongues, nose, body, and mind).
Vĩnh Trạch Tự
(永澤寺, Yōtaku-ji): ngôi tự viện của Tào Động Tông, là ngôi chùa con trực thuộc vào Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji); hiện tọa lạc tại số 210 Eitakuji (永澤寺), Sanda-shi (三田市), Hyōgo-ken (兵庫縣). Vào khoảng thời gian niên hiệu Ứng An (應安, 1370), vâng mệnh của Hậu Viên Dung Thiên Hoàng (後圓融天皇, Goenyū Tennō), vị Trưởng Quan Kami của Ngũ Châu (五州) là Tế Xuyên Lại Chi Khanh (細川賴之卿) tiến hành kiến lập Thất Đường Già Lam và cung thỉnh Thiền Sư Thông Huyễn Tịch Linh (通幻寂靈) làm Tổ khai sơn chùa. Tượng thờ chính của chùa là Thích Ca Như Lai, Đại Nhật Như Lai và A Di Đà Như Lai.
vĩnh tường tự
Eishō-ji (J)Tên một ngôi chùa.
vĩnh tồn
To exist forever.
vĩnh tộ tự
2013<一>位於浙江杭縣。又稱中峰寺,古稱天竺寺。座落於稽留峰北側,隋開皇年間(581~600)肇建,晚唐為禪僧修靜之所,南宋列為禪宗十剎之首。屢遭兵燹而數度重建,現存之寺宇,即清末太平天國亂後所重建者。 <二>位於山西太原市東南。又稱雙塔寺。該寺大雄殿所存鐵鉦上載有明萬曆三十九年(1611)之銘文,謂宣文塔及永祚寺由沙門妙峰福登所建。宣文塔係慈聖太后所資助而建於該寺之二座高塔,永祚寺乃因該塔而亦稱雙塔寺。據憨山大師夢遊全集卷三十敕建五臺山大護國聖光寺妙峰登禪師傳及新續高僧傳卷五十五等載,福登在萬曆三十三年建寺於五臺山,翌年竣工,帝賜額「大護國聖光永明寺」。萬曆四十年福登示寂,時年七十,足見該寺建立於其晚年。 寺經清順治十五年(1658)重修,今有二層之大雄殿,及圍繞前庭之廓廡與前門,寺東即八角十三層之雙塔,高六十公尺,直聳入雲,為太原最高點。建築均不用一木,乃至於細部皆以甎砌成,構築極其巧妙。〔古今圖書集成神異典第一○八、職方典第三○一、支那文化史蹟解說卷八〕
vĩnh viễn
2017指永恆。永遠一詞,可分為三種概念:(一)無限之持續性,即時間無限持續者,此乃一般人之時間概念。(二)無時間性,即與時間無關係之永遠概念,適用於數學理論中,如愛因斯坦之相對論所強調者。(三)超時間性,完全超越時間之概念,如基督教徒視其信仰對象即為具有超時間性之永遠者。 佛教本來即非以超越時間之永遠為前提,而係以直接逼視因緣生滅之無常現實為時間概念之出發點,而以「法」為永遠之真理;然就頑強無常之現實而言,現實界並未能超越時間而如吾人所預期,可以說現實之事事物物皆在相依相關之情況下生滅不已。在佛教中,與永遠類似之用語有:永劫、久遠、常住等。其中,所謂永劫(又稱曠劫),係指時間長久而無所終了;久遠一詞,根據法華經如來壽量品之說,謂釋尊實於久遠之前即已成佛,後為教化眾生而再入世。依準此說,乃產生「久遠實成之古佛」等思想及語句,然此「久遠實成」,是否即指無始無終之永遠,則成為後世爭論之根源。又大乘佛教之重要經典大般涅槃經亦謂,佛之法身乃常住不變者,而此種佛性本來亦皆存於一切眾生中;以此之故,涅槃經又稱停`住教。復次,佛教所說之無常觀,並非是一種束縛,亦非屬偏見之常住觀(常見),而係超越常見與斷見兩種偏見之真理;而佛教所謂之「常、樂、我、淨」,其消極意義,旨在指出世人對人生所執著的四種顛倒之見解(四顛倒),其積極意義則在標示佛身所具有的「涅槃四德」,並以之表現佛教哲理超越常住與斷滅二元對立的空與中道精神。此外,大乘佛教常以法、佛、淨土等積極說明久遠、常住之道理,然究其根柢,則仍不可以尋常的永遠概念為其前提,而須從佛教根本立場之空與中道精神中,來體悟所謂永遠之意義。
; Abhisthiti (S), Long lasting.
; Eternal—Everlasting—Endless—Perpetual.
Vĩnh vô
永無; C: yŏngwú; J: yōmu; |Hoàn toàn không hiện hữu.
Vĩnh đoạn
永斷; C: yŏngduàn; J: yōdan; |Vĩnh viễn cắt đứt, thường nói đến sự cắt đứt phiền não. Theo Du-già sư địa luận, dạng nầy thù thắng hơn Phục đoạn (伏斷), là chỉ chặn đứng phiền não nhất thời.
vĩnh đoạn tập khí trí
2017指永遠斷除煩惱之智慧。於密教中,即大日如來出生西方金剛利菩薩之智。金剛利菩薩以般若波羅蜜之劍,能滅盡自、他之無量雜染諸苦。金剛頂瑜伽三十七尊出生義(大一八‧二九八中):「就一切如來永斷習氣智而生金剛利。」又永斷習氣之智力,為如來證得實相、了達一切的十力之一,即漏盡智力。(參閱「十力」361)
vĩnh đại kinh
2010日本佛教用語。永代讀經之略稱。日本淨土真宗之寺院應信徒之請,於死者忌日,讀誦經典,後漸演變為寺院之職責,且代代沿襲,故稱永代讀經。又有施行於春秋二季之特別祭日者。
vũ
1) Mưa: Varsa (skt)—Rain—To rain. 2) Vần vũ—Dull with rain.
vũ an cư
3698又作安居、夏安居。爲僧眾修行制度之一。印度夏季雨期長達三個月,此期間,僧尼禁止外出,以免踏殺草木小蟲,而聚居一處,坐禪修學,接受供養,稱爲雨安居。(參閱「安居」2398)
; Varsas or Varsavasana (skt)—Mùa mưa hay mùa an cư kiết hạ—The rains, the rainy season, when was the summer retreat—See An Cư Kiết Hạ.
vũ bão
Rain and typhoon.
vũ bảo đà la ni kinh
3699梵名 Vasudhārā-dhāraṇī。全一卷。唐代不空譯。收於大正藏第二十冊。又稱妙月長者所問經、能獲一切財寶伏藏經、一切如來稱讚雨寶陀羅尼經。本經敘述佛陀在憍睒彌國建吒迦林時,該國之長者妙月,前來請問得財寶、除疾病之法,佛告以過去無數劫前,曾遇持金剛海音如來,由彼如來處得雨寶陀羅尼。若受持、讀誦、思惟、計念,並爲他人廣說流布,則由此陀羅尼之威德力,可得快樂安穩;且諸天悉皆歡喜,即降下財寶榖麥。長者聞之,大喜而歸。佛陀遣阿難訪長者宅,見財榖充滿庫藏。阿難還問其故,佛陀答以如來不異語,真言句不可壞。 密教以此經爲基礎,立持世菩薩、寶生如來爲本尊,修祈福祕法,稱爲雨寶陀羅尼法。又此經凡四譯,初爲玄奘所譯之持世陀羅尼經,第二譯即前所述,第三譯爲宋代法天之大乘聖吉祥持世陀羅尼經,第四譯爲宋代施護之聖持世陀羅尼經,以上四種譯本均收於大正藏第二十冊。又本經之梵本現存。〔大唐內典錄卷五、開元釋教錄卷八〕
vũ bảo đồng tử
3699日本神名。全稱金剛赤精善神雨寶童子。於日本兩部神道中,傳爲天照大神下生之像,亦是大日如來之化現。右手拄金剛寶棒,左手仰掌持珠而立,頂戴五輪塔,作童子形。〔國寶全集第四輯〕
vũ chúng
Varsya (skt)—Các đệ tử của phái Số Luận—The disciples of Varsya, i.e. Varsaganya, a leader of the Sankhya school.
vũ chúng ngoại đạo
3699梵名 Varṣagaṇa。音譯嚩利沙鍵拏。又稱雨際外道。乃數論學派十八部之一。然又有以雨眾外道爲數論學派之別稱者。成唯識論述記卷一末載,此派爲迦毘羅仙上足弟子筏里沙所立。筏里沙,梵名 Vārṣya,又作伐里娑,意譯雨期,生於印度之雨期,故名。又依俱舍遁麟記卷一載,其弟子多如雨際時之雨,故稱雨際外道。此外道主張因中有果論。〔瑜伽師地論卷六、顯揚聖教論卷九、因明入正理論疏卷中本、華嚴經隨疏演義鈔卷十三〕
vũ hoa
Mưa hoa Trời—The rain down celestial flowers.
vũ hoa thuỵ
3699又作雨花瑞。釋尊將說法華經而入於三昧時,從天降下曼陀羅花、摩訶曼陀羅花、曼殊沙花、摩訶曼殊沙花等四種花,此現象稱爲雨華瑞。〔法華經疏卷二〕
Vũ Hành
tên người, dịch từ Phạn ngữ là Varṣakra, phiên âm là Bà-lợi-ca hoặc Bà-lợi-sa-ca-la, cũng dịch nghĩa là Vũ Xá, Vũ Thế, Hành Vũ... chính là người trước đây cùng Đề-bà-đạt-đa xúi giục vua làm chuyện ác hại cha. Sau khi vua A-xà-thế lên ngôi, Vũ Hành trở thành đại thần nắm giữ binh quyền, được vua tin cậy.
vũ hành
3698梵名 Varṣakāra,巴利名 Vassakāra。音譯作婆利沙迦羅、婆利迦。又稱禹舍、雨勢、雨舍、行雨。乃古印度摩揭陀國阿闍世王之重臣,以嘗於恆河南岸築華氏城而聞名。據長阿含卷二遊行經載,摩揭陀國阿闍世王欲征伐跋祇,派遣雨行詣耆闍崛山請問世尊可行否。世尊告雨行,跋祇有講論正義等七事,故其國能久安而不損。雨行返回,以此稟告阿闍世王,王遂停止伐跋祇,而命雨行築華氏城以禦之。又王之父頻婆娑羅王皈依佛陀時,雨行亦隨之皈依。〔長阿含卷十七沙門果經、中阿含卷三十五雨勢經、增一阿含經卷三十四、有部毘奈耶雜事卷三十五〕
vũ khê liễu đế
2505(1883~1974)日本佛教學者。福井縣人。京都大學、文科大學哲學科畢業,後留學歐美,曾數度至我國考察佛教遺蹟,而以「西域佛教の特徵」得文學博士。歷任佛教大學、臨濟宗大學、龍谷大學、大谷大學、京都大學教授及龍谷大學校長。著有西域之佛教、阿彌陀佛の信仰、佛教の現代的意義、佛教教育學等書。
vũ khất
Cầu mưa—To pray for rain.
vũ lâm linh ẩn tự chí
3326凡八卷。清朝孫治撰,徐增重編。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。靈隱寺位於浙江杭縣西湖靈隱山,其呼猿洞與冷泉亭乃錢塘八景之一。寺始建於晉咸和五年(330),爲慧理所建。元、明兩代,毀興屢作。清順治年間宏禮重建,康熙三十八年(1699),賜名「雲林寺」。寺志舊有明萬曆白珩所修之稿;清康熙九年,孫治重修爲十二卷;十年,徐增就孫治之志重編爲八卷十四門:開山、重興、山水、梵宇、古塔、古蹟、禪祖、法語、檀越、人物、藝文、詩、遺事、雜記。故康熙以前之靈隱寺文獻詳載於此寺志。
vũ lâm lí an tự chí
3325凡八卷。清朝杭世駿撰。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。理安寺位於浙江杭縣南山,五代伏虎逢禪師創建,原名法雨寺,宋理宗時改名理安寺。明弘治四年(1491),龍井山洪水暴發,寺遭廢。萬曆年間,法雨大師重建。清康熙五十一年(1712),以僧眾多,生產微薄,不敷支出,乃發帑重建,增寺下千畝,齋田二百餘畝。寺位於九溪十八磵中,而四繞之峰巒,高接天日,煙霞鬱勃,風景殊勝。 關於該寺之寺志,舊有法雨大師撰寺紀四卷,然因日久板毀而不存。康熙年間,迦陵老人又撰寺志六卷,稿成未刻而遭火燒毀。乾隆年間,僧實月再纂志稿,亦失於火,時杭世駿受智朗上人之請而撰寺志,共計八卷,分爲八門:恩寵、梵宇、山水、田畝、禪宗、規約、著述、藝文。志出於名家,體例嚴謹,實爲寺志之善本。
vũ lâm phạm chí
3325凡十二卷。明朝吳之鯨撰。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。武林位於浙江杭縣之西約九公里處。爲靈隱、天竺、韜光、吳山、雲棲等諸山之總稱。宋室南遷,偏安江南。武林梵剎歷經戰亂而衰廢,至南宋始再重建。一時梵剎林立,高僧輩出,與南朝金陵(南京)先後輝映,造成佛寺建築之黃金時代。後雖經元、明兩代戰禍之破壞,然古寺梵剎之遺留於今日者,終較南京六朝古蹟爲多。吳氏鑑於南宋武林梵剎,至明代而殘頹者頗多,恐遺蹟漸趨湮沒,乃博考乘牒,撰武林梵志,分爲城外、城內、南山、北山及諸屬縣,凡得寺院四二六所,詳載各寺之創置始末及其山川形勝,繼而又分天朝寵錫、宰官護持、古德機緣、歷代勳績等四門,分別記載名流勝蹟、高僧支派,而各編爲小傳,序錄井然。 本志收羅詳實,較其他記載武林之諸書爲勝,不僅爲伽藍增加故實,爲佛教流傳收存史料,亦足爲談藝之資正。
vũ nhục
To disgrace—To dishonour.
vũ phu
Strong and brutal man.
vũ sư
3698我國古代神話中司雨之神。後漢書祭祀志:「以丙戌日祠風伯於戌地,以己丑日祠雨師於丑地。」
vũ thiên
Heavenly rain—Mưa trời.
Vũ Thế
xem Vũ Hành.
vũ tiến thiên ninh tự chí
3326凡十一卷,卷首另一卷。民國濮一乘撰。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。江蘇武進天寧寺,肇基於唐永徽元年(650)牛頭法融禪師之築室。五代天福年間(936~943)維亢禪師重建寺宇。寺名屢更,元至元年間,始定名天寧,以迄於今。梵宇巍峨,宗風峻整,高僧輩出。清末曾仿楊文會(1837~1911)之金陵刻經處而創毘陵刻經處,所刊方冊經藏,卷帙無遜於金陵刻經處;曾先後設立佛學院,造就僧才。惜無寺志,民國十六年]1927),繆乾初乃撰寺志,以倉促成書,閱者詬病之。三十年,乃由濮一乘重行編撰,歷時五年,乃成此「武進天寧寺志」十一卷,分爲八門:建置、僧伽、法語、著作、貞石、藝文、規約、志餘。「著作」一門乃天寧寺於民國間所刊方冊大藏之目,「法語」一門多錄專集所無、流通不廣或久佚者,堪供研究佛教史與佛學者之參考。
vũ trụ
Universe—Cosmos.
vũ trụ luận
2387宇,指四方上下;宙,指古往今來。宇宙,含有空間與時間無限連續之意;亦即指質能世界之總體而言。宇宙論,即探討宇宙整體之過去、現在、未來之論說;亦即就宇宙之起源、發生、構造、變化等情形,加以研究分析,而歸納出一套完整有系統之學說。關於宇宙之起源論,有所謂一元論、二元論、多元論等;宇宙之發生論,則有創造說、流出說(即開展說)。 印度哲學之宇宙論,通常有轉變說(開展說,梵 Pariṇāmavāda)與積集說(梵 Ārambha-vāda)兩種。所謂轉變說,即指由一生多之意,此為正統婆羅門之思想,後經僧佉學派之改革,而立二元論之說。所謂積集說,即指宇宙本由多數之原子結合而成,此說初為耆那教之主張,後由勝論學派加以整理組織。 至於佛教,原即認為宇宙為「無始」,而不設定宇宙起源之論說,故既不主張宇宙創造說,亦未認可所謂轉變說與積集說等。然於同時,由於佛學包容廣闊,教義淺深不同,故對宇宙之思想見解亦不免錯綜互異,有就現象事物之因果連續,說明萬有由多元生起之學派;有主張物質現象為精神原素所開展的唯心一元論之學派;有肯定超越現象的實在本體論之學派;亦有不辨本體與現象,以現象歸於本體活動,提倡現象即本體之學派。然若從全部佛教義理觀之,則將宇宙從本體與現象的兩方面去解釋,最後自可到達現象即本體之歸結。但僅從現象的一面去考察,說明現象生起之因由及次第者,稱為緣起論;僅從本體的一面去考察,說明本體究竟如何者,稱為實相論。然兩方面之分別考察,僅係為到達現象即本體的理想之階段,故兩方面之理論實乃互相包容、彼此含攝,故知緣起論與實相論有著互為表裏之關係。所謂「諸法即實相」、「事事無礙」、「介爾一念,圓具法界三千之法」、「三世十方國土,普現一微塵中而不迫迮」,此乃萬法一如之妙相,一乘究竟之極理。 又若將宇宙論之內容加以分類,並以之配合佛教之各種深淺教義,則可概述如下:(一)宇宙綜合論(世間論),即觀察宇宙的系統形狀之論說,如須彌山說、三千大千世界說、成住壞空四劫說、三界說、十界說等。(二)宇宙分析論(萬法論),即分析宇宙的成立要素之論說,如五蘊、十二處、十八界,乃至五位百法、五位七十五法等。(三)宇宙轉動論(因果論),即說明宇宙的因果法則之論說,如四緣說、六因說、五果說等。(四)宇宙現象論(緣起論),即考察宇宙各種差別現象從何處生起、如何顯現等問題之論說,如業感緣起、賴耶緣起、真如緣起、法界緣起、六大緣起等。(五)宇宙本體論(實相論),即探討宇宙之實相與體性之論說,如法有論、法空論、有空中道論、無相皆空論、諸法實相論。大抵而言,實相論之發展,係啟端於小乘之有空論,轉而為大乘之有空中道論,最後到達「本體即現象,萬有皆一如」之諸法實相論,此亦為佛教宇宙論之極峰。
; Cosmology.
vũ trụ luận của phật giáo
Buddhist cosmology—Vũ Trụ Luận của Phật Giáo không phải chỉ bàn đến sự hiện hữu của vô số hệ thống thế giới tập hợp thành những nhóm mà ta vẫn gọi là các thiên hà, mà nó còn đề cập đến những khái niệm rộng rãi về thời gian của vũ trụ. Những bản kinh Phật cổ xưa nhất nói đến các thành kiếp và hoại kiếp với những khoảng thời gian lớn lao của những thiên hà ấy, chúng dần dần hình thành như thế nào và sau một thời kỳ tương đối ổn định và có đời sống trong các thế giới của chính chúng đã tồn tại rồi tất nhiên phải suy tàn và hủy diệt như thế nào. Tất cả đều là sự vận hành của những quá trình, biến cố nầy dẫn đến biến cố khác một cách hoàn toàn tự nhiên—Buddhist cosmology not only takes into account the existence of innumerable systems of worlds grouped into what we should call galaxies, but has equally vast conceptions of cosmic time. The most ancient Buddhist texts speak of the various phases in the evolution and devolution over enormous time-periods of these galaxies, how they gradually formed and how after a period or relative stability during which life may be found on their worlds, how, inevitably having come into existence, they must in due course decline and go to destruction. All this is the working of processes, one vent leading quite naturally to another.
vũ tắc thiên
3326(624~705)唐代許州(河南許昌)人,名曌。十四歲,被選入宮,爲太宗才人,以黠慧獲寵。帝崩,依制削髮爲尼。高宗即位後,召入宮爲昭儀,未久立爲后。於高宗晚年,專決政事。帝崩,先後廢中宗、睿宗。天授元年(690)改國號爲周,自稱則天金輪皇帝,爲中國歷史上唯一之女皇帝。富於權略,善於用人,執政達四十餘年。與比丘曇慈造大雲經,以爲符讖。然師事高僧神秀、法藏、義淨等,頗能屈己盡禮。又度僧、造寺、塑像、寫經,歷年爲之,從不厭倦。晚年恣肆專橫,朝政日壞。神龍元年十一月薨,世壽八十二。諡「則天皇后」。〔唐書卷六、新唐書卷七十六〕
vũ tế
Varsa-rtu (S)Mùa mưa.
vũ tỉnh bá thọ
2385(1882~1963)日本曹洞宗學僧。為現代日本印度哲學、佛教學權威。愛知縣人。十二歲入檀那寺小坂井町伊奈東漸寺(曹洞宗)活山卍壽和尚之門,得度後改名伯壽,號活翁。及長,為靈洞臺雲之法嗣。明治三十九年(1906)入東京帝國大學專攻印度哲學。大正二年(1913)留學歐洲。四年後返國,任曹洞宗大學教授。十二年任東北帝國大學教授。十五年任東漸寺住持(第三十四世)。昭和五年(1930)任東京帝國大學教授,而東北帝國大學教授之職則轉為兼任。六年著成印度哲學研究六卷,而得帝國學士院賞獎。十四年十一月,曾至我國。十六年九月,出任駒澤大學校長。十七年一月,辭退校長及東漸寺住持之職。二十八年以其開拓印度哲學研究之功勞,獲得文化勳章。 在其五十餘年研究、教學之生涯中,著書、翻譯之數頗眾,弟子亦遍於日本各大學中,其對日本曹洞宗之貢獻至鉅,尤其以近代之研究方法,架構成印度哲學史及中國、日本佛教史之體系,更是立下了不朽之功績。其主要著作有:印度哲學史、支那佛教史、攝大乘論研究、禪宗史研究三冊、佛教思想研究、印度哲學研究、參考論理學等。另與久保勉氏共譯之書有哲學概論、巴利文梵網經、阿育王法敕、大乘起信論、傳心法要、頓悟要門、禪源諸詮集都序、寶慶記、因明入正理論、「中論‧百論‧十二門論」、成實論、中邊分別論等。此外,尚編纂西藏大藏經總目錄,及著作佛教論理學、佛教汎論、安慧護法唯識三十頌釋論、四譯對照唯識二十論研究、陳那著作の研究、瑜伽論研究、寶性論研究、大乘莊嚴經論研究、瑜伽論菩薩地索引、釋道安研究等。昭和三十八年七月入寂,世壽八十二。
Vũ Xá
xem Vũ Hành.
vũ xương phật học viện
3325請參閱 大周刊定眾經目錄 請參閱 大周刊定眾經目錄 我國近代佛學院之一。民國十一年(1922)太虛大師創辦於武昌,自任院長,梁啟超爲首任董事長。第一屆爲專修科性質,二年制,學僧八十餘人。教師除太虛大師外,另有北京大學教授數人。後改專修科爲大學部,並增設研究部。十五年以北伐戰事而停辦,十八年恢復。二十一年於該院成立世界佛學苑圖書館。二十二年及二十四年皆曾分別招生。
Vũ Đa Thiên Hoàng
(宇多天皇, Uda Tennō, tại vị 887-897): vị Thiên Hoàng sống vào đầu thời Bình An, hoàng tử thứ 7 của Hiếu Quang Thiên Hoàng (孝光天皇, Kōkō Tennō), tên là Định Tỉnh (定省, Sadami). Ông dùng Quản Nguyên Đạo Chơn (菅原道眞, Sugawara-no-Michizane) để trấn áp dòng họ Đằng Nguyên (藤原, Fujiwara) và cách tân nền chính trị. Vào năm 897 (niên hiệu Khoan Bình [寬平] thứ 9), sau khi nhường ngôi vị, ông trở thành Khoan Bình Pháp Hoàng (寬平法皇) và sáng lập Đình Tử Viện (亭子院). Khoan Bình Di Giới (寬平遺誡) là di thư nhà vua để lại cho Hoàng Tử (tức Đề Hồ Thiên Hoàng [醍醐天皇, Daigo Tennō] sau này).
vũ đa thiên hoàng
2386(867~931)為日本第五十九代天皇。又稱亭子院帝、寬平法皇。諱定省。光孝天皇之第七皇子。藤原基經逝後,乃提擢菅原道真,攬回天皇實權。八九七年禪位於太子,得醍醐天皇贈「寬平御遺誡」一冊。八九九年於仁和寺削髮出家,以東寺之益信為師,法號空理,潛心佛道,後改名「金剛覺」。世稱「寬平法皇」,此為日本有法皇稱號之始。九三一年崩於仁和寺。世壽六十五。著有金剛頂蓮華部念誦次第二卷、胎藏界念誦次第二卷,及宸記(殘本)。此外,擅長於和歌。
vũ điền dã bá du
2505(1911~ )日本佛教學者。一九三六年東北帝國大學印度學科畢業,其後,任教於該校多年。一九五一年,以「西藏佛教史序說」一書獲得文學博士。一九六二年,任倫敦大學教授,從事西藏及中亞史料之研究,成為日本研究酉藏文獻學之先驅。著作有西藏撰述佛典目錄等。
vũ đương sơn miếu
3327位於寧夏平羅縣大武口西北之武當山上。因山得名。爲銀川以北著名佛教寺院之一。有山門、鐘鼓樓、過殿、塔、後殿等。前後殿之間有一座五層磚砌樓閣式塔,高二十餘公尺,平面方形,四角略有收進,其風格類似銀川海寶塔,但又有獨特之處。後殿乃廟之主要建築,單檐裤山頂,宏偉壯觀,左右二側山牆磚雕甚爲精美。始建年代不詳,據現存清嘉慶十四年(1809)武當山建立獅子碑記所載,武當山廟乃山林古剎,西夏名藍,乾隆三十年(1765),省翁禪師駐錫于此,發願建寺,大佛殿宇三轉五楹,巍然壯麗,矗立雲霄,更有蒙古人等皈依瞻拜。可見此廟始建於清代以前,爲蒙漢等各族人民頻繁交往、促進思想文化交流之重要場所。
vũ đế
Wou-ti (C)
vũ đức tự
3327位於山西太原。隋開皇元年(581)勅建。北周時,文帝曾率軍作戰於此,兵敗,逃潛澤中,得免於難。即位後,乃於深幽之處建此寺。以地唯濕泥,乃遍舖石塊,周閭千計,廊廡九重,靈塔雲張,景臺星布。又詔慧覺法師爲寺僧主。慧覺大弘華嚴,僧侶雲集,乃又造千人講堂,盛極一時。
vũng
Pool—Pond—Lagoon.
vũng liêm
Tên của một ngôi chùa thuộc Phật Giáo Nguyên Thủy trong quận Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, Nam Việt Nam. Người ta nói chùa được xây dựng vào năm 1339, đây là một trong những ngôi chùa cổ nhất trong tỉnh Vĩnh Long—Name of a temple of the Theravada Buddhism in Vũng Liêm district, Vinh Long Province, South Vietnam. The temple also called Sanghamangala. It is said that the temple was built in 1339, one of the oldest temples in Vinh Long Province.
vơ vét
To sweep off.
vơi
Not empty but not full.
vơï
Wife.
vơù
1) To seize—To snatch—To grab. 2) Stocking—Sock.
vươn
To stretch oneself—To stretch one's neck or arms.
vương
1508梵語 rājan,巴利語同。印度佛教興盛之時代,王權亦有逐漸強化之趨勢。至阿育王、迦膩色迦王時,將印度建設成一統國家,王之威勢因此愈加神聖化,佛教亦受其影響;在大乘本生心地觀經等經典中,即將王恩列為四恩之一。然佛教原不承認王有絕對之權威,而應以保護人民之權益為其職守,如金光明最勝王經、仁王般若經均主張正法(佛法)為主,王法(世法)為從。我國東晉時代,有沙門不敬王者論之說,遂與儒家產生爭論。此外,佛教稱理想之王為轉輪聖王,而所謂「十善王」之真正意義,即指能以十善之正法教導人民。
; Rajā (S), King Dùng làm tiếp vĩ ngữ.(e.g: Thiên vương = Devaraja).
; Ràjà (S). King, prince, royal; to rule.
; Raja (skt)—King—Royal--Prince.
Vương An Thạch
(王安石, 1021-1086): chính trị gia, văn nhân dưới thời Bắc Tống, xuất thân Lâm Xuyên (臨川, Tỉnh Giang Tây), tự là Giới Phủ (介甫), hiệu Bán Sơn (半山). Dưới thời vua Thần Tông, ông được trọng dụng, thi hành chính sách mới do mình đề ra, nên làm quan đến chức Tể Tướng và có ý đồ cải cách chính trị, nhưng bị Phái Bảo Thủ phê phán và phản đối kịch liệt. Ông còn nổi tiếng với tư cách là nhà văn chương và tư tưởng, được liệt vào một trong 8 nhân vật nổi tiếng thời Đường Tống. Trước tác của ông có Lâm Xuyên Tập (臨川集), Chu Quan Tân Nghĩa (周官新義), v.v.
vương bật
1512(226~249)三國魏山陽人。字輔嗣。精通儒、道二家之說,早年即以文學辯才聞名於世,對老莊玄學之注釋頗見重於當時,相傳文壇泰斗何晏見王弼之老子注,大為傾服,遂廢棄己之老子注。此類老莊玄學之思想,對當時佛教影響很大。嘉平元年卒,享年二十四。
; Wang-pi (C)(226-249) Một trong những nhà bình giải quan trọng về Đạo Đức Kinh và Kinh Dịch.
vương chấn
1513浙江吳興人。字一亭。初皈依上海海潮寺應乾法師,於佛法信仰至切,致力商務及社會慈善公益事業。曾任上海中國濟生會會長、居士林副會長等,並協助成立中國佛教會,參予其工作。民國二十一年(1932),戴季陶發起修葺白馬寺,氏用力最大。抗戰期間,復聯合商政人士,組織僧侶救護隊,安頓淞滬難民。〔中國佛教近代史下冊(釋東初)〕
vương cung hội
1511為觀無量壽經二會之一。佛初臨王宮,為韋提希夫人講說本經一部,是為王宮會。後還至耆闍崛山,復為阿難等大眾宣說,是為耆闍會。
vương cung tháp
1510位於韓國全羅北道益山郡金馬面。塔之詳細史實不詳,因其所在地稱王宮面、王宮里,故稱此塔為王宮塔。石塔高五層,約八公尺餘,造型優雅,足以使人回想當時文化之隆盛。其造立年代,有依其現況而謂係百濟帝釋寺之遺物;亦有就其樣式,推斷其為新羅時代末期(九世紀)乃至後百濟之石塔。此外雖有其他諸說,但就石塔本身而言,由於其與佛教之關係,因而備受重視。
vương cư chính
1509宋代永濟(山西臨晉)人。字憨哥,號竹西先生。其父善繪釋道人物,居正受父學,更求教於周昉,技術益精。仁宗天聖中,詔入畫院。秉性孤梗,不為同僚所容,未久放還。所畫圖像,世人視為神品。〔宋史卷三八一、南宋書卷二十四〕
vương cổ
1509宋代開封人。字敏仲。宋徽宗時為禮部侍郎,崇尚新法,唯與宰相蔡京不合,遂出知成都府,後復被貶為別駕。其居京師時,多與禪門耆宿道交。及遊江西,復與黃龍、翠巖、晦堂、楊岐等諸師締交,深契禪旨。其後又與楊傑共悟淨土法門之勝義,博考諸經,遂撰往生淨土傳、直指淨土決疑集各三卷,高倡禪淨一致之旨。既離都,終日修觀念佛,精進不息,遙追廬山高士之遺風。臨終,不覺苦痛,滿室生光明,端坐而逝,年壽不詳。〔元祐黨人傳卷四、宋元學案卷九十六〕
; Người Đông Đô đời Tống, làm quan tới chức Lễ Bộ Thị Lang vào cuối thế kỷ thứ 11—Wang-Ku, name of a president of the board of Rites during the Sung dynasty, who was also a devout Buddhist, end of eleventh century.
Vương Duy
(王維, 701-761): thi nhân thời nhà Đường, xuất thân Thái Nguyên (太原, Tỉnh Sơn Tây), tự là Ma Cật (摩詰). Ông có làm việc cho vua Huyền Tông, nhưng bị bắt trong vụ loạn An Lộc Sơn (安祿山), rồi sau đó được vua Túc Tông trọng dụng và làm đến chức Thượng Thư Hữu Thừa. Phần lớn thơ của ông thường ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, có phong thái thoát tục và được phê bình là “trong thơ có tranh vẽ”. Bên cạnh đó, ông cũng là nhà danh họa về tranh sơn thủy và được xem như là vị tổ của tranh phương Nam. Trước tác của ông có Vương Hữu Thừa Tập (王右丞集) 6 quyển.
; 王維; C: wángwéi; 701-761 hoặc 699-759, tự Ma-cật, thường được gọi theo chức vụ là Vương Hữu Thừa;|Cư sĩ ngộ đạo kiêm thi hào nổi danh người Trung Quốc đời Ðường. Ông được xếp ngang hàng với ba đại thi hào đời Ðường là Lí Thái Bạch, Ðỗ Phủ và Bạch Cư Dị. Ông rất đa tài, thơ hay, chữ đẹp, tinh thông hội hoạ và âm nhạc. Ðời sau tôn ông là »Khai sơn tổ sư« của lối vẽ »Thuỷ mặc Nam phương.«|Ông người huyện Kì (nay thuộc phủ Thái Nguyên ở tỉnh Sơn Tây). Cha mất khi ông còn nhỏ. Mẹ ông rất sùng bái đạo Phật và sự việc này có ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng của ông sau này.|Năm lên 21, ông thi đỗ tiến sĩ, được phong quan đến chức Thượng thư hữu thừa. Vợ mất lúc ông ba mươi tuổi nhưng ông không tục huyền, sống yên tĩnh với một chức quan văn nhàn hạ, »suốt ngày gãy đàn thổi sáo, làm phú vịnh thơ,« và »mỗi lần bãi triều thì về đốt hương ngồi một mình, tụng kinh niệm Phật.«|Ông ăn chay trường, thường kết bạn, đàm luận với các nhà sư và cung cấp thực phẩm cho hơn mười vị tăng. Người đời rất tôn trọng, gọi ông là »Thi Phật« (詩佛). Ông rất đa tài: tinh thông thư pháp, hội hoạ, âm nhạc và thư ca. Những khía cạnh nghệ thuật nói trên đều được phối hợp chặt chẽ, cân đối trong những tác phẩm của ông. Ðại văn hào Tô Ðông Pha đời Tống ca ngợi các tác phẩm của ông là »Thưởng thức thơ của Ma-cật, trong thơ thấy có hội hoạ; ngắm những bức hoạ của Ma-cật lại thấy trong đó có thơ« (vi Ma-cật chi thi, thi trung hữu hoạ, quan Ma-cật chi hoạ, hoạ trung hữu thi).|Trong các bài thơ, ông thường mô tả cuộc sống nông thôn yên tĩnh, trong sáng, con người nhàn nhã phù hợp với tư tưởng thấm nhuần triết lí »bất sinh, bất tử« của đạo Phật và cách nhìn thế gian theo quan niệm »Vô vi« của Lão Tử và Trang Tử (theo Lê Nguyễn Lưu).|Sau đây là hai bài thơ tiêu biểu cho tư tưởng đạo Phật của ông:|Quá Hương Tích tự 過香積寺 – Ghé chùa Hương Tích (Trần Trọng Kim dịch):|不知香積寺。數里入雲峰|古木無人徑。深山何處鐘|泉聲咽危石。日色冷青松|薄暮空譚曲。安禪制毒龍|Bất tri Hương Tích tự|Sổ lí nhập vân phong|Cổ mộc vô nhân kính|Thâm sơn hà xứ chung?|Tuyền thanh yết nguy thạch|Nhật sắc lãnh thanh tùng|Bạc mộ không đàm khúc|An thiền chế độc long.|*Chẳng hay Hương Tích chùa đâu|Trèo lên mấy dặm núi cao mây hồng|Một đường cây cổ vắng không|Chuông đầu nghe vẳng chỗ cùng non xa|Tiếng khe bên đá tuôn ra|Vẻ trời lạnh lẽo bơ phờ cây thông|Chiều hôm đầm vắng uốn vòng|Phép thiền mầu nhiệm, độc long nép mình.|Thu dạ độc toạ 秋夜獨坐 – Ðêm thu ngồi một mình (Lê Nguyễn Lưu dịch):|獨坐悲雙鬢。空堂欲二更|雨中山果落。燈下草蟲鳴|白髮終難變。黃金不可成|欲知除老病。惟有學無生|Ðộc toạ bi song mấn|Không đường dục nhị canh|Vũ trung sơn quả lạc|Ðăng hạ thảo trùng minh|Bạch phát chung nan biên|Hoàng kim bất khả thành|Dục tri trừ lão bệnh|Duy hữu học vô sinh.|*Ngồi chạnh thương màu tóc|Canh hai, nhà lặng yên|Trong mưa rừng trái rụng|Dưới nến cỏ giun rền|Tóc trắng thay nào được?|Thuốc vàng luyện khó nên|Bệnh, già mong dứt hết|Ðạo Phật học cho chuyên.
vương duy
1512(699~759)唐代太原祁(山西)人。字摩詰。生時,其母夢維摩入室,故以為名。開元九年(721)舉進士,累官左拾遺給事中。後任監察御史,遷尚書右丞。歸隱後,時共高僧遊,與處士裴迪等日談經典,不覺倦乏。曾皈依荷澤神會禪師,並從之參禪。其詩精緻巧妙,頗具禪味,所作律詩堪與杜甫、李白並稱,為盛唐大家。又能畫,創破墨法,為南派之開祖。亦善草書,知名於時,有集行世。乾元二年七月入寂,享年六十一。〔新唐書卷二○二、舊唐書卷一九○〕
vương hoằng nguyện
1509潮安人。為近代中國佛教弘闡東密之先驅。民國七年(1918),曾將日僧權田雷斧之「密宗綱要」譯為中文。十三年,從雷斧習密,且受其傳法灌頂。後遂於廣州六榕寺為人灌頂,主張居士身可作阿闍黎,受比丘頂禮,備受太虛、曼殊揭諦等之非議,開僧俗、顯密諍論之端。晚年事蹟不詳。
vương huyền sách
1509唐代人。籍貫、生卒年均不詳。太宗時,印度戒日王入貢,貞觀十七年(643,一說二十二年)春,王玄策奉敕出使印度,是年冬至摩揭陀國;途中,巡省佛鄉,覽觀遺跡,並參訪摩訶菩提寺,於塔西建碑;貞觀二十年,攜梵本經論六百餘部歸國。翌年,戒日王歿,國中大亂,其臣那伏帝阿羅那順篡立,發兵拒玄策,玄策得文成公主之助,乃發吐蕃、泥婆羅兵討伐,生擒那伏帝阿羅那順歸唐土,太宗大悅,即行獻廟禮,封玄策為朝散大夫。高宗顯慶二年(657)玄策再次出使印度,送佛袈裟往西國,並巡撫諸國,錄其樂章、醫卜、農田、種樹之術,於龍朔元年(661)春,奉持佛頂、圖籍等歸國。其後,五天竺俱來臣服,玄策復奉命三蒞其土,君臣敬之若神。撰有中天竺行記十卷、西域志六十卷、畫圖四十卷等。〔法苑珠林卷十六、卷二十九、諸經要集卷一、釋氏要覽卷上、舊唐書卷一九八〕
Vương Hội Đồ
(王會圖): tác phẩm do Diêm Lập Bổn (閻立本) soạn vào năm thứ 3 (629) niên hiệu Trinh Quán (貞觀) nhà Đường (唐太宗三年). Như trong Cựu Đường Thư (舊唐書) quyển 197 có đoạn rằng: “Trung Thư Thị Lang Nhan Sư Cổ tấu ngôn: 'Tích Chu Võ Vương thời, thiên hạ thái bình, viễn quốc quy khoản; Chu Sử nãi thư kỳ sự vi Vương Hội Thiên; kim vạn quốc lai triều, chí ư thử bối chương phục, thật khả đồ tả; kim thỉnh soạn vi Vương Hội Đồ (中書侍郎顏師古奏言、昔周武王時、天下太平、遠國歸款、周史乃書其事爲王會篇、今萬國來朝、至於此輩章服、實可圖寫、今請撰爲王會圖, xưa kia thời Chu Võ Vương, thiên hạ thái bình, các nước xa xôi cũng quy phục; sử nhà Chu mới ghi chép việc này thành Vương Hội Thiên; nay vạn quốc đều đến triều cống, cho đến lũ này cũng phải thần phục, thật nên vẽ chép nên; nay xin thỉnh soạn thành Vương Hội Đồ).”
vương khẳng đường
1510明代金壇(江蘇丹陽)人。字宇泰。官至福建參政。好讀書,精於醫道,為時人所欽崇。並博通教乘,尤善相宗。初參高原昱公,昱公為之講說唯識論,肯堂筆受,成唯識俗詮一書。又著唯識證義十卷、因明入正理論集解一卷等。〔明史卷二二一、明史稿卷二○七〕
vương la hán
1514(?~968)北宋僧。年籍姓氏俱不詳,人稱王羅漢。嗜食彘肉,常作瘋語而多所應驗。住於明州乾符寺,於開寶元年六月坐化,肉身不毀,自落舍利。僧正贊寧立碑以記其異,吳越王錢氏賜號「密修神化尊者」。
vương nhật hưu
1508(?~1173)南宋龍舒(安徽舒城)人。字虛中,又號龍舒居士。原為國學進士,所著六經訓傳達數十萬言,一日棄之,專修西方淨土之業,布衣蔬食,日課千拜。紹興三十年(1160)校輯大阿彌陀經,歷三年完成,全書共五十六分,現收於藏經中。並著淨土文十卷勸世。乾道九年正月示寂,年壽不詳。〔佛祖統紀卷二十八、淨土聖賢錄卷六〕
vương nhựt
See Vương Nhựt Hưu.
vương nhựt hưu
1) Người Long Thư còn gọi là Hư Không cư sĩ, người đời nhà Tấn, đậu Tiến Sĩ nhưng không ra làm quan, chỉ lo chuyên chú tu Tịnh Độ và trở thành tín đồ mộ đạo và học giả, chuyên tu tịnh nghiệp Tịnh Độ và phép Quán Âm. Ông viết quyển “Long Thư Tịnh Độ” khuyên dạy người về phép tu Niệm Phật. Đây là một trong những quyển sách quan trọng hàng đầu trong việc hoằng dương Tịnh Độ (Long Thư là tên quê của ông chứ không phải là Pháp Danh hay tên ông)—Wang-Jih-Hsiu, from Lung-Shu, also known as Hsu-Khung, lived during the Chin Dynasty (265-420 A.D.). He obtained his Doctorate Degree but chose not to take office as a mandarin. He became a devout and learned follower of Amitabha and Kuan-Yin. He focused all his time to cultivate Pureland Buddhism. He wrote the book titled “Pureland Dragon Poetry” teaching and advising others the cultivated path of Buddha Recitation. This Buddhist text was one of the most important books in propagating Pureland Buddhism (Lung-Shu is his hometown, not his Buddha name, nor his name). 2) Bát Vương Nhật: Eight royal days—See Bát Vương Nhật.
Vương phi
(王妃): có hai nghĩa. (1) Người phối ngẫu của Hầu Vương, Thái Tử. Như trong Quốc Ngữ (國語), Tấn Ngữ (晉語), có đoạn: “Nhược Địch công tử, ngô thị chi y hề; trấn phủ quốc gia, vi vương phi hề (若狄公子、吾是之依兮、鎭撫國家、爲王妃兮, như Địch công tử, ta nương vị ấy chừ; trấn yên quốc gia, là vương phi chừ).” (2) Người vợ lẽ của vua, vị trí sau Hoàng Hậu. Như trong Kim Quang Minh Kinh (金光明經, Taishō Vol. 16, No. 663) quyển 4, Phẩm Xả Thân (捨身品) thứ 17, có câu: “Vương phi văn dĩ, sanh đại ưu não, thế khấp mãn mục, chí Đại Vương sở (王妃聞已、生大憂惱、涕泣滿目、至大王所, vương phi nghe xong, sanh tâm lo buồn, nước mắt ràn rụa, đến chỗ Đại Vương).” Hay trong Tỳ Kheo Ni Truyện (比丘尼傳, Taishō Vol. 50, No. 2063) quyển 3, Tập Thiện Tự Huệ Tự Ni Truyện (集善寺慧緒尼傳) 12, cũng có câu: “Dự Chương vương phi cập nội quyến thuộc, kính tín thậm thâm tùng thọ Thiền pháp (豫章王妃及內眷屬、敬信甚深從受禪法, vương phi ở Dự Chương vùng với quyến thuộc của bà, kính tin rất sâu, theo thọ Thiền pháp).”
vương pháp
Chánh pháp trị nước mà Đức Phật giảng cho các hàng vua chúa—The royal law, the law by which a king should rule his country.
vương pháp chính lí luận
1510全一卷。彌勒菩薩造,唐代玄奘譯。今收於大正藏第三十一冊。此論乃彌勒菩薩述說佛對出愛王說王者之正道正理,故稱王法正理論。內容引世尊說帝王之九種過失、九種功德、五種衰損門、五種方便門、五種可愛法、五種能引可愛法,並說三士區別、四種補特伽羅、三種受欲補特伽羅、三圓滿、四語、三種受欲、三種貪染等。與不空所譯王法正論經同本,皆為瑜伽師地論卷六十一之別譯。〔開元釋教錄卷八、卷十二、貞元新定釋教目錄卷十一〕
vương pháp kinh
Phật Vị Thắng Quang Thiên Tử Thuyết Vương Pháp Kinh, được Ngài Nhất Hành biên soạn—A sutra on royal law (by I-Ching).
vương pháp vi bản
1510請參閱 佛為優填王說經 為日本淨土真宗之主張。就出世間之立場言,即以佛法為本而仰仗如來之救渡。就世間之立場言,則以王法為本,人民遵崇王法即是實踐為人之道的第一步。〔破邪顯正鈔卷中〕
vương phù
1511西晉惠帝時道士。嘗與僧帛遠論爭佛道,屢為帛遠所屈,浮含瞋難忍,乃偽作老子化胡經,謂老子曾入印度,化身為釋迦佛以教化胡人,誣謗佛法。生卒年不詳。
vương phạm chí thi tập
1511全一卷。隋代王梵志撰。收於大正藏第八十五冊。內容係以通俗之語句,闡示現實生活中所反映之佛教無常、因果等義理。由於說理平易,極受一般道俗所喜愛,教界亦常援引其詩文為弘法之教材。 王梵志之詩在唐宋時代十分盛行,與寒山、拾得等師之作品同受重視,蘇東坡、黃庭堅等文人,亦撰文品評之。惟宋代以後其詩作漸散逸,及至近代始於敦煌陸續發掘其詩作之寫本,如史坦因第五一六號、伯希和第二一二五號等。又蘇聯列寧格勒本第一四五六號卷尾載有,沙門法忍於大曆六年(771)抄寫梵志詩一一○首之語句。 現今所知王梵志之生平十分簡略。據桂苑叢談、太平廣記卷八十二等載,王梵志由隋代衛州黎陽(今河南濬縣)之王德祖撫養成人,因梵志幼時於林檎樹樹癭中為德祖發現,故沿用德祖之姓氏、籍貫。又德祖以此幼兒出自林檎樹,故取名梵天;後改稱梵志,或係受佛教熏習,及時人喜以佛典名相為字號之社會風尚所影響。〔白話文學史(胡適)、王梵志出生時代的新觀察(潘重規)、王梵志詩校輯序(任半塘)、王梵志について(入矢義高,中國文學報第三、第四期)〕
Vương quan
(王官): có hai nghĩa. (1) Là quan viên của vương triều. Như trong bài thơ Vương Mạng (王命) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Thâm hoài dụ Thục ý, đỗng khốc vọng vương quan (深懷喻蜀意、慟哭望王官, nhớ hoài rõ ý Thục, gào khóc trông vương quan).” Hay trong Cô Trung Tùy Bút (菰中隨筆) của Cố Viêm Võ (顧炎武, 1613-1682) nhà Thanh cũng có câu: “Triều đình thường thu kỳ tuấn vĩ, dĩ bổ vương quan chi khuyết (朝廷常收其俊偉、以補王官之缺, triều đình thường thâu nạp người tuấn kiệt, để bổ sung sự thiếu sót của quan vua).” (2) Là thuộc quan của Phiên Vương Phủ (藩王府). Như trong Cảnh Thế Thông Ngôn (警世通言), phần Triệu Xuân Nhi Trọng Vượng Tào Gia Trang (趙春兒重旺曹家莊), có đoạn: “Nhất niên nhị tải, tựu thăng nhĩ cố vương quan, hữu quan vô chức (一年二載、就陞你做王官、有官無職, một hai năm, lại thăng ngươi lên làm chức quan, hữu danh mà vô thực).”
Vương Sĩ Trinh
(王士禎, Ō Shitei, 1634-1711): thi nhân dưới thời nhà Thanh, xuất thân Tỉnh Sơn Đông (山東省), tên thật là Sĩ Chân (士禛), nhưng để tránh tên húy của vua Ung Chính (雍正), ông đổi tên thành Sĩ Trinh; tự là Di Thượng (貽上), hiệu Ngư Dương Sơn Nhân (漁洋山人), ông cùng với Chu Di Tôn (朱彝尊) được gọi là Chu Vương (朱王). Ngoài khả năng làm thơ ra, ông còn có biệt tài về cổ văn, rất xem trọng thần vận trong thi luận. Trước tác của ông có khá nhiều như Cư Dị Lục (居易錄), Hương Tổ Bút Ký (香祖筆記), Ngư Dương Thi Tập (漁洋詩集), v.v.
vương sơn trụ bộ
Rawagiriya (S)Một trong 4 bộ phái của án đạt la phái.
vương tam muội
1508指三昧之王。全名三昧王安立三昧(梵 samādhi-rāja-supratiṣṭhito nāma samādhiḥ),又作三昧王三昧、三昧王。即三昧中之最勝者。為首楞嚴定之異名。據大智度論卷七釋之,謂王三昧於諸三昧中最第一自在,能緣無量諸法,一切三昧皆入於其中。又選擇本願念佛集以念佛為王三昧,坐禪用心記則以坐禪為王三昧。〔放光般若經卷一、大品般若經卷五、念佛三昧寶王論卷上〕
; The king of samàdhis, the highest degree of samàdhi, the Thủ lăng nghiêm định.
; Tam Muội Vương—Tam Muội Vương Tam Muội—Thủ Lăng nghiêm Định—Loại Tam Muội thắng diệu nhứt trong tất cả các thứ tam muội, cũng là tên khác của Thủ Lăng Nghiêm định—The king of samadhi, the highest degree of samadhi, obtained by invoking Buddha or sitting in meditation or trance.
vương thiếu dương
Wang Hsiao-yang (C)Một đệ tử đạo gia vào thế kỷ 12, phái Truyền Chân đạo.
vương thiện
1513即以饑餓遇王膳(饍)來譬喻小乘蒙佛之授記。法華經授記品(大九‧二一上):「如從饑國來,忽遇大王饍,心猶懷疑懼,未敢即便食,若復得王教,然後乃敢食。我等亦如是,每惟小乘過,不知當云何,得佛無上慧,雖聞佛音聲,言我等作佛,心尚懷憂懼,如未敢便食,若蒙佛授記,爾乃快安樂。」
; Bữa tiệc hoàng gia được Phật nói đến trong Kinh Pháp Hoa, những người đói chẳng dám ăn cho đến khi nào đích thân nhà vua đến kêu họ ăn, cũng như Phật quả và lời kêu gọi của Phật—A royal feast referred to in the Lotus Sutra, where the hungry people feared to accept the King's feast till he came himself and called them, such as the feast of Buddhahood and the Buddha's call.
vương thẩm tri
1513(862~925)五代十國閩王。光州(河南)固始人。字信通。唐僖宗時黃巢為亂,領有閩五州之地,昭宗時為福州武威軍節度使,封琅邪王,後受後梁太祖封為閩王。性儉約,能禮賢下士。致力於佛教之建設,如造佛像、建塔、寫經等事,更能厚遇僧眾,如雪峰義存等,遂造成福建佛教之隆盛。後唐同光三年歿,世壽六十四。子鏻於後唐明帝長興四年(933)稱帝,追尊之為太祖。〔五代史卷六十八〕
Vương Thế Trinh
(王世楨, 1634-1711): quan đại thần dưới triều Khang Hy (康熙), tự là Di Thượng (貽上), hiệu Nguyễn Đình (阮亭), biệt hiệu Ngư Dương Sơn Nhân (漁洋山人); xuất thân vùng Tân Thành (新城, nay là Hằng Đài [恆台], Sơn Đông [山東]). Vào năm thứ 15 (1658) niên hiệu Thuận Trị (順治), ông đỗ Tiến Sĩ, làm quan đến chức Hình Bộ Thượng Thư (刑部尚書). Ông sở trường về thi từ, cùng với Chu Di Tôn (朱彝尊) xưng là Bắc Vương Nam Chu (北王南朱).
vương thống kí
1512請參閱 王統記 西藏名 Rgyal-rabs gsal-baḥi me-loṅ。又作王統明鏡、西藏王統記、藏王紀。西藏史籍之一,綏南監增(藏 Bsod-nams rgyal-mtshan)著,成書年代不詳,據推測為西元一五○八年。其內容分為十五章,自世界形成與西藏地理述起,歷西藏各代至微松系諸王系譜及其事蹟,最末說明撰述緣起。雖為西藏王統系譜及其事蹟之文獻,但內容甚讚歎佛教,並述及佛教在西藏弘通之經過,以及佛教與政治之密切關係。唯是書神話色彩較濃,史料價值稍低於教法史、青史。書中對端美三菩提(藏 Thon-mi Sambhoṭa)仿梵語創造西藏文字之說明甚為詳確,其對藏文三十字母之特質與構造之說明,為今日研究西藏語文之寶貴資料。〔略述西藏史籍─王統記(內明雜誌第十四期)〕
vương tiên
1509轉輪聖王捨家修道,而具足天眼通、天耳通、他心通、宿命通、如意通等五通者,稱為王仙。〔俱舍論光記卷五〕
; Người đã rút lui khỏi thế giới bên ngoài, và đạt được ngũ thông—A royal rsi, a sovereign who retires from the world and attains to the five transcendent powers.
vương tiến thuỵ
1512(1913~ )臺灣高雄縣人。早歲東渡日本習禪,並畢業於東京駒澤大學佛教學科。自幼即富鄉土之意識。時值日本統治臺灣,日本臨濟宗曾有統治瓜分臺灣佛教寺廟之計劃,經王氏撰文批駁,乃引起各教派公憤,玆議始告平息。大學畢業後,除授課於開元寺之外,並擬著手組織臺灣各派寺廟,旋以日本當局之反對而作罷。中年以後,先後執教於延平佛學院、開元佛學書院、佛光山叢林大學、德源禪學院等校。著作有碧巖錄講義、佛學基本教材等書,譯有唯識根本原理、參禪悟道記、印度佛教史等書。
vương tiểu từ
1508(?~1948)安徽蕪湖人。 W季同,字小徐。客居蘇州,曾留學英國。精於電機科學及西洋哲學。由於受楊仁山之影響,乃開始涉獵佛法。凡法相唯識、因明之學皆有研究。並參究話頭,專做禪宗工夫。認為佛法乃唯一之根本真理,為實證哲學,亦為應用科學。氏為民初科學界人士研佛有成之學者。著有佛法與科學之比較研究、佛法省要等書。
vương triều bình an
Heian period.
vương triều tư na
Sena (S)Tồn tại trong khoảng thế kỳ X, XI, XII ở Ấn độ. Cuối thế kỷ XII vương triều này bị tín đồ Hồi giáo tiêu diệt đưa đến sự tiêu diệt của Đát Đặc La giáo ở Ấn độ (Tantric Buddhism).
vương trùnng dương
Wang Ch'un-yang (C)Người sáng lập phái Truyền chân đạo.
vương tuỳ
1514宋代河陽(河南孟縣)人。字子正。生卒年不詳。真宗時,以給事中知杭州,往興教寺謁小壽禪師,機語契合,竟明大法。曾為長水子璿禪師之首楞嚴義疏注經作序,並刪次景德傳燈錄三十卷為傳燈玉英集十五卷行世。明道年間,參知政事。臨終書偈而逝。〔宋史卷三一一、宋史新編卷九十七〕
Vương Tùy
(王隨, Ōzui, ?-1035?): người vùng Hà Dương (河陽, Tỉnh Hà Nam), tự Tử Chánh (子正). Dưới thời vua Chơn Tông (眞宗), ông làm quan ở Hàng Châu (杭州), thường đến Hưng Giáo Tự (興敎寺) tham yết Thiền Sư Tiểu Thọ (小壽), có chỗ khế hợp về Thiền cơ. Ông đã từng viết lời tựa cho bản chú sớ Kinh Thủ Lăng Nghiêm của Thiền Sư Tử Tuyền (子璿), và biên tập bộ Truyền Đăng Ngọc Anh Tập (傳燈玉英集) gồm 15 quyển. Khi lâm chung, ông viết kệ để lại rồi thoát hóa.
Vương xá
王舍; S: rājagṛha; P: rājagaha;|Thành phố cách Patna ngày nay khoảng 70 km về phía Ðông Nam, nằm cạnh sông Hằng, kinh đô của nước Ma-kiệt-đà (magadha) do vua Tần-bà-sa-la (s, p: bimbisāra) trị vì trong thời Phật tại thế. Tại Vương xá có 16 Tinh xá dành cho đức Phật giảng pháp và trong đó có Tinh xá Trúc Lâm (s: veṇuvana; p: veḷuvana) do chính Tần-bà-sa-la tặng. Phật Thích-ca từng lưu trú ở Vương xá trong số mùa mưa và nơi đây cũng là hội nghị Kết tập lần thứ nhất được tổ chức sau khi Phật diệt độ.
vương xá
Rajagrha (skt)—Kinh đô của vương quốc Ma Kiệt Đà mà bây giờ là Rajgir thuộc bang Bihar miền Đông Bắc Ấn, một thời là kinh đô của nước Ma Kiệt Đà hùng mạnh. Người ta kể lại là vua Bình Sa Vương đã di chuyển kinh đô xa về hướng đông vì hỏa tai cũng như các thiên tai khác. Thành Vương Xá được bao bọc chung quanh bởi năm ngọn núi, trong đó núi Linh Thứu là nổi tiếng nhứt. Vương Xá là kinh thành từ thời Vua Bình Sa Vương đến A Dục. Các di tích của thành phố cổ không còn nhiều. Nơi nầy có vẻ như đã chịu nhiều tàn phá của thời gian. Những phế tích của nó vẫn còn rãi rác tại làng Rajgir, khoảng 16 dậm Nam Tây Nam khu thị trấn Bihar. Những phế tích nầy cho thấy rằng đã có nhiều tín đồ của các tôn giáo khác nhau sinh sống tại đây. Các di tích Phật giáo, ngoại trừ rất ít ỏi tượng còn lại rải rác,và không phải không thể thấy rằng các công trình kiến trúc tại đây đã bị cướp phá một phần do bởi sự hận thù tôn giáo. Thậm chí việc xác định hang Sattapanni , nơi tổ chức Nghị Hội Phật giáo đầu tiên, cũng không phải là chắc chắn. Thành Vương Xá có ý nghĩa thiêng liêng đối với Phật tử vì nhiều lý do. Không những Đức Phật đã nhiều lần đến an cư tại thành phố danh tiếng nầy, mà đây còn là nơi mà người anh em họ của Phật là Đề Bà Đạt Đa đã nhiều lần âm mưu ám hại Ngài. Hơn nữa, tại thành phố nầy, trong hang Sattapanni đã diễn ra Nghi Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ nhất của Phật giáo ngay sau khi Đức Phật nhập diệt. Vương Xá còn là một trung tâm hoạt động mạnh mẽ của Kỳ Na Giáo, trong thời xưa cũng như hiện nay, hiện vẫn còn những di tích quan trọng của các điện thờ và công trình điêu khắc Kỳ Na Giáo. Có thể nhận ra một đài kỷ niệm kỳ lạ nơi một điện thờ hình lăng trụ bằng gạch, gần như ở ngay trung tâm thành phố cổ. Ngôi điện nầy có tên là Maniyar Matha, và theo truyền thuyết địa phương, nó được dành để thờ cúng Mani-naga, vị thần bảo hộ của thành Vương Xá—Rajagaha—Capital of ancient kingdom of Magadha which is now Rajgir in the state of Bihar in northeast India, once the capital of the powerful State of Magadha. King Bimbisara is said to have removed his capital here from Kusagrapura a little further eastward, because of fire and other calamities. Rajagrha was surrounded by five hills, of which Grdhrakuta (Vulture Peak) became the most famous. It was the royal city from the time of Bimbisara until the time of Asoka. The remains of the ancient city are very few. The site appears to have suffered much at the hand of time. Its ruins are still extant at the village of Rajgir, some sixteen miles South Southwest of Bihar; they form an object of pilgrimages for the Jains. The ruins indicate that the followers of different religious denominations lived here. The Buddhist remains, except for a few isolated images, it is not impossible that the visible monuments were denuded partly through religious animosities. Even the identification of the Sattapanni cave, the site of the First Council, is not beyond doubt. Rajagrha was sacred to the Buddhists for more than one reason. Not only did the Buddha go into a retreat several times in this famous city, but it was also the place where Devadatta, his wicked cousin, made several attempts on his life. Moreover, in this city, in the Sattapanni cave of the Vaibhara hill, was held the first Buddhist Council just after the parinirvana. Rajagrha was also an active center of Jainism in ancient times, as it is now, and interesting remains of Jaina shrines and sculptures are still extant. A singular monument may be recognized in the cylindrical brick shrine, almost at the center of the old city. It is known as Maniyar Matha, and was dedicated, according to local tradition, to the worship of Mani-naga, the guardian deity of the city of Rajagrha. ** For more information, please see Rajagriha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Vương Xá Thành
(s: Rājagṛha; p: Rājagaha, 王舍城): âm dịch là La Duyệt Thành (羅閲城), La Việt Kỳ Thành (羅越祇城), thủ đô của nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), ở miền trung Ấn Độ. Tại địa phương Bihar, vùng Rajgir thuộc phía Nam thành phố Patna của trung lưu sông Hằng có di tích cũ của Thành Vương Xá. Đây là đô thành rất nổi tiếng với các nhân vật như Vua Tần Bà Sa La (s, p: Bimbisāra, 頻婆娑羅), A Xà Thế (s: Ajātaśatru, p: Ajātasattu, 阿闍世), phu nhân Vi Đề Hy (s: Vaidehī, p: Vedehī, 韋提希). Chính cuộc kết tập kinh điển lần đầu tiên đã được tiến hành tại đây.
vương xá thành
1510王舍,梵名 Rājagṛha,巴利名 Rājagaha,音譯曷羅闍姞利呬、羅閱祇。或譯王舍國。中印度摩羯陀國之都城。舊址位於恆河中游巴特那市(Patna)南側比哈爾(Behar)地方之拉查基爾(Rajgir)。頻婆娑羅王時,由上茅宮城(梵 Kuśāgrapura,音譯矩奢揭羅補羅,又稱舊王舍城、山城)遷至今地,為頻婆娑羅王、阿闍世王、韋提希夫人等在位時之都城。此城為佛陀傳教中心地之一,附近有著名之釋尊說法地:迦蘭陀竹園、靈鷲山等。相傳佛陀入滅後第一次經典結集在此舉行。其後,阿育王將摩羯陀國首都遷至華氏城。 另據大唐西域記卷九所載,王舍城附近尚有佛陀伐那山、杖林、二溫泉、伏醉象塔、畢鉢羅石室、提婆達多入定石室、自殺比丘塔、佛舍利塔、阿難半身舍利塔、阿育王石柱等佛教遺蹟多處。〔善見律毘婆沙卷八、大智度論卷三〕
; Rājagaha (P), Rajagṛha (S),, Rajagriha (S)Thủ đô xứ Ma kiệt đà, trung tâm văn hóa thời đức Phật.Bồ đề đạo tràng đầu tiên của Phật giáo dotrưởng lão Kalanda và vua Bình sa vương xứ Ma kiệt đà xây dựng tại thành Vương xá. Thành này cũng là nơi 500 vị A la hán tổ chức kiết tập kinh lần thứ nhất.
; Ràjagrha (S). King Bìmbìsara is said to have removed his capital here from Kusàgrapura. Actual Ràjgir.
vương ân dương
1511民國四川南充縣人。一名化中。就讀北京大學,由黃樹因引見而從歐陽漸學,精於法相唯識學。為歐氏支那內學院之一大法將。所撰大乘起信論料簡,本諸法相唯識學立場,判定大乘起信論一書為「梁陳小兒」之作,遂掀起當時佛學界之軒然大波。曾於內學院講授唯識通論、成立唯識義、佛學概論等課程。又撰有「人生學」,融匯佛儒諸子之說,揭櫫大乘精神,頗為學界所重。此外,另有心經通釋等書行世。生卒年不詳。〔中國佛教近代史(釋東初)〕
vương điền
1514(?~1146)南宋明州慈溪人。字無功。再舉進士不第,布衣蔬食,徧參講席,晚年專修念佛三昧。紹興十六年,趺坐而化。著有淨土自信錄一書傳世。〔居士傳卷二十四〕
vương đạo
1513(267~330)東晉臨沂人。字茂弘。元帝時宰相,識量清遠,輔佐成帝,奠定東晉之基礎,朝野號稱仲父。師事帛尸梨密多羅,敬事竺法義、慧嚴、康僧淵、竺潛等一代名德。歷事三朝,出將入相,成帝咸和五年卒,世壽六十四。
vướng chân
To entangle one's feet in (a rope).
vướng mắc
Greed—Anger—Afflictions—Love-attachment—Delusion—Stupidity—Arrogance—Doubt—Improper views.
vướng mắt
To block (obstruct) the view.
vướng nợ
In debt.
vướng víu vào
To be attached to.
vườn
Garden.
vườn bố tát
Uposatharama (S).
vườn Hoan Hỷ
cũng gọi là vườn Hoan Lạc, vườn Hỷ Lâm, là một trong bốn khu vườn của cõi trời Đao-lợi. Vườn này nằm ở phía bắc, bên ngoài thành Hỷ Kiến. Khi chư thiên vào vườn thì tự nhiên sanh tâm hoan hỷ, nên gọi tên là vườn Hoan Hỷ.
vườn Hoan Lạc
xem vườn Hoan Hỷ.
vườn Hỷ Lâm
xem vườn Hoan Hỷ.
vườn lâm tì ni
Lumbini Park.
vườn lộc dã
Xem Mạn Trực lâm.
vườn lộc uyển
The Deer Park—See Lộc Uyển.
vườn nai
Mrgadàva, Rsivadana, Sàranganàtha (S). Deer Park. Also Lộc uyển, Lộc dã viên.
vườn trúc ca lan đà
Xem Thước viên.
vưởng
Vất vưởng—Unstable—Uncertain.
vượng
Thạnh vượng—To prosper.
vượng vận
Good luck.
vượt
To surpass—To exceed—To go beyond.
vượt qua
To overcome—To outdo.
vượt qua ba cõi để lên ngôi bất thối chuyển
To transcend the triple realm and attain the stage of non-regression.
vượt qua luyến ái
Muốn qua luyến ái chúng ta nên tu tập thiền định và quán tưởng rằng một người bạn hôm nay có thể trở thành kẻ thù ngày mai, do đó không có gì cho chúng ta luyến ái—To overcome attachment—We should meditate or contemplate that a friend today may become an enemy tomorrow and therefore, there is nothing for us to attach to.
vượt qua sự sân hận
Theo thuyết nhà Phật, muốn vượt qua sân hận chúng ta phải quán rằng một con người hay con thú làm cho mình giận hôm nay có thể đã từng là bạn hay là người thân, hay có thể là cha là mẹ của ta trong một kiếp nào đó trong quá khứ—To overcome anger—According to the Buddhist theory, in order to overcome anger, one must contemplate that a person or an animal which causes us to be angry today may have been our friend, relative or even our father or mother in a certain previous life.
vượt quá
To exceed—To go beyond one's goal or right.
vượt sông
To cross a river.
vượt thoát tam giới
See Find liberation from the three worlds.
vượt trội
To surpass.
vạ
1) Misfortune. 2) Phạt vạ—To impose a fine on someone.
vạ lây
To bear the brunt of another's wrong deed.
vạ miệng
Misfortune caused by the mouth (a slip of the tongue).
vạc
Chảo nấu cơm loại lớn—A big rice pan—Caldron.
vạc dầu
Oil pans—Địa ngục nơi tội nhân bị bỏ vào vạc dầu mà nấu. Đây là nơi trị tội những kẻ trên dương thế cố ý chiên, xào, nấu nướng các loài vật vô tội để thỏa mãn lòng tham dục—The hell where offenders are cooked until their bodies are completely mangled. This hell is reserved for those who intentionally cooked, fried, barbecued innocent creatures to satisfy their desires while they were humans.
vại
A large earthernware jar.
vạn
Xem kiết tường.
; Myriad, 10,000; all.
; Sauvastika or srivatsa (skt). 1) Dấu hiệu hình chữ “Vạn” trước giữa ngực của Đức Phật, có nghĩa là sự tập hợp vạn đức tốt lành: The auspicious sign in the middle of the Buddha's chest. The srivatsa-laksana, the mark on the breast of Visnu, a particular curl of hair on the breast; the lightning; a sun symbol; a sign of all power over evil and all favour to the good; a sign shown on the Buddha's breast. 2) Dấu kiết tường thứ tư dưới lòng bàn chân Phật—The fourth of the auspicious signs in the footprint of Buddha, and is a mystic diagram of great antiquity, one of the marks on a Buddha's feet. 3) Mười ngàn: Ten thousand.
vạn an
Good health—Peace.
vạn bát thiên thế giới
The 18,000 easterly worlds lighted by the ray from Buddha's brow.
; Theo Kinh Pháp Hoa thì đây là 18.000 thế giới Đông phương được chiếu khắp bời ánh hào quang phóng ra từ sợi lông trắng giữa hai lông mày Đức Phật, khi Ngài giảng Kinh Pháp Hoa—According to the Lotus Sutram this is the 18,000 easterly worlds lighted by the ray from the Buddha's brows
vạn bảo
Ten thousand precious things.
vạn bất nhất sinh
5540謂雜修行者,萬人中無一人得往生於彌陀之報土。係表示雜修之錯失之語。〔釋淨土群疑論卷四(懷感)、高僧和讚(親鸞)〕
vạn bất năng
Impossible to do.
vạn bất đắc dĩ
Very reluctantly—Quite unwillingly.
vạn chỉ
5543意謂萬人。林間錄卷上(卍續一四八‧二九三上):「王公復至寺,眾橫撞大鍾,萬指出迎。」
vạn cảnh
All realms, all regions.
; Tất cả mọi cảnh giới—All realms, all regions.
vạn cổ
Ten thousand generations—Thousand-ages old.
vạn dân đức dụng
Banmin tokuyō (J)Tên một vị sư.
vạn hành
1) Tất cả giới luật: All disciplines. 2) Tất cả mọi hành động: All actions. 3) Tất cả mọi phương thức cứu độ: All modes of salvation. 4) Tất cả những phương thứ thực hành: All procedures.
vạn hành viên bị gia hiệu
5540「阿彌陀佛」名號之美稱。昔法藏菩薩,於「因位」時,代眾生修一切萬行,悉圓滿具備,故得此名號。淨土文類聚鈔(大八三‧六四四上):「萬行圓備嘉號消障除疑。」又其所具之萬行乃異於「因人」所修之行,即指悉能如理體達,隨順法性。
Vạn Hạnh
萬行; ?-1018|Thiền sư Việt Nam, thuộc đời thứ 12 dòng Thiền Tì-ni-đa Lưu-chi.|Sư họ Nguyễn, người làng Cổ Pháp, thuở nhỏ đã là người thông minh, học Tam giáo (Nho, Lão, Thích) và nghiên cứu Bách luận. Năm 21 tuổi, Sư theo Thiền sư Ðịnh Huệ xuất gia và thụ học với Thiền Ông Ðạo Giả ở chùa Lục Tổ làng Dịch Bảng, phủ Thiên Ðức. Sau khi Thiền Ông tịch, Sư kế tiếp trụ trì chùa này, chuyên tập »Tổng trì Tam-ma-địa« và cũng vì thế khuynh hướng Mật giáo của Sư rất rõ. Vua Lê Ðại Hành rất tôn kính Sư.|Năm 980 tướng Tống là Hầu Nhân Bảo đem quân đánh nước ta, Sư tiên đoán vài ngày sau giặc sẽ rút, quả nhiên đúng như thế. Ðến lúc Lê Ngọa Triều lên ngôi, nhân dân oán ghét sự tàn bạo của vua. Lúc đó Lí Công Uẩn làm chức Thân vệ, có theo học thiền với Sư. Nhân cơ hội đó Ðào Cam Mộc bàn mưu tính kế với Sư đưa Lí Công Uẩn lên ngôi, xưng là Lí Thái Tổ, niên hiệu Thuận Thiên. Ðể chiêu an bá tính, Sư ra yết thị:|蒺藜沉北水。李子樹南天|四方戈干靜。八表賀平安|Tật Lê trầm Bắc thuỷ, Lí tử thụ Nam thiên|Tứ phương qua can tịnh, Bát biểu hạ bình an.|*Tật Lê chìm biển bắc,|Cây Lí che trời nam.|Bốn phương binh đao dứt,|Tám hướng thảy bình an.|Năm Thuận Thiên thứ 9 (1018), Sư không bệnh, gọi chúng nói kệ:|身如電影有還無。萬木春禜秋又枯|任運盛衰無怖畏。盛衰如露草頭鋪|Thân như điện ảnh hữu hoàn vô|Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô|Nhậm vận thạnh suy vô bố uý|Thạnh suy như lộ thảo đầu phô.|*Thân như bóng chớp có rồi không,|Cây cỏ xuân tươi, thu đượm hồng,|Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi,|Thịnh suy như cỏ hạt sương đông.|Sau đó Sư bảo: »Các ngươi cần trụ chỗ nào? Ta chẳng lấy chỗ trụ mà trụ, chẳng y không trụ mà trụ.« Sau khi Sư tịch, nhà vua và đệ tử làm hoả táng và xây tháp cúng dường.|Về sau vua Lí Nhân Tông có bài truy tán:|萬行融三際,眞符古讖機|鄉關名古法,柱錫鎭王畿|Vạn Hạnh thông ba mé,|Thật hợp lời sấm xưa,|Quê nhà tên Cổ Pháp,|Dựng gậy vững kinh vua.|Hiện chùa Tiêu Sơn tại tỉnh Hà Bắc thờ tượng của Sư.
vạn hạnh
Sabba-kuśala-kamma (S).
; All procedures, all actions, all disciplines, or modes of salvation.
; 1) Ten thousand conducts. 2) Ten thousand chances. 3) Vạn Hạnh Thiền Sư (?-1018): Zen Master Vạn Hạnh—Tên của một Thiền sư Việt Nam, quê ở Cổ Pháp, Bắc Việt Nam. Ngày sanh của Thiền Sư không ai biết. Lúc thiếu thời ông đã tỏ ra thông minh đĩnh ngộ phi thường. Ngài xuất gia năm 21 tuổi và trở thành một trong những đệ tử xuất sắc của Thiền Sư Thiền Ông. Khi Thiền Ông thị tịch, ngài tiếp tục trụ trì tại chùa Lục Tổ để hoằng dương Phật Pháp. Ngài rất được vua Lê Đại Hành kính trọng và tôn vinh. Ngài thị tịch vào đêm trăng tròn năm 1018. Ngài là tác giả của bài thơ nổi tiếng sau đây—Name of a Vietnamese Zen master from Cổ Pháp, North Vietnam. Zen Master Vạn Hạnh's date of birth was unknown. At the young age, he was extraordinarily intelligent. He left home at the age of 21 and became one of the most outstanding disciples of Zen Master Thiền Ông at Lục Tổ Temple in Thiên Đức. He was always admired and honored by king Lê Đại Hành. He died on the full moon night of 1018—He was also the author of this poem below: Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bố úy Thịnh suy như lộ thảo đầu phô! Our life is a simple lightning which Comes and goes (appears then disappears). As springtime offers blossoms, Only to fade (wither) in the fall. Earthly flourish and decline, O friends, do not fear at all. They are nothing, but A drop of dew on the grass of morning! 4) Tên của một Thiền Viện tọa lạc trong quận Phú Nhuận, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Thiền viện do Hòa Thượng Thích Minh Châu sáng lập trước năm 1975. Thoạt tiên nó chỉ là một chi nhánh của Viện Đại Học Vạn Hạnh. Cổng Tam Quan của Thiền Viện được xây theo kiến trúc cổ của Kinh Thành Huế. Thiền viện còn được dùng làm Văn Phòng Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt NamVăn Phòng Hội Đồng Phiên Dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam, và trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam—Name of a Ch'an Monastery, located in Phú Nhuận district, Saigon City, South Vietnam. It was established by Most Venerable Thich Minh Châu before 1975. At first, it was a branch of Vạn Hạnh University. Its three-entrance gate was built following the ancient architectural style of Huế City. The Institute is also used as the office of the Vietnam Buddhist Research Institute, the office of the Vietnam Tripitaka Translating and Publishing Heading Council, and Vietnam School of Higher Buddhist Studies Offices.
vạn hằng
5543(1249~1319)高麗僧。熊津郡(忠清南道公州)人,俗姓朴。生於儒者世家,幼年即出家爲僧。爲曹溪山天英之法嗣。及第九山佛選之魁元,由楓岳移住智理山。應忠烈王招請,入住三藏社。其後歷 住朗月社、雲興社、禪源社等名剎。接化弟子多達七百餘人,其中士大夫亦多不勝數。宋代之蒙山德異讚歎師之文偈,賜號「古潭」。忠宣王五年(1313),蒙賜「別傳宗主重續祖燈妙明尊者」之號。於忠肅王六年示寂,世壽七十一,法臘五十八。追贈塔號「慧鑑國師廣照之塔」。李齊賢撰師之碑銘,碑立於松廣寺(全羅南道順天郡)。〔東國僧尼錄、益齋集卷七〕
vạn hồi
5543(632~711)唐代僧。河南閿鄉人,俗姓張。其兄從征遠調安西,父母憂思,萬迴每朝往視之,暮持兄書返家,鄉人異之,因號萬迴。高宗時,得度爲僧。武后詔入內道場,賜錦衣,號「法雲公」。安樂公主將謀逆,萬迴遇之,望塵呼曰(大五○‧八二四中):「腥腥不可近也!」未幾,安樂公主果因謀反受誅。玄宗在藩,曾私謁萬迴,萬迴拊其背曰:「五十年太平天子。」其神異大多類此。景雲二年,忽求閿鄉河水,飲畢而逝,世壽八十。追贈「司徒虢國公」。〔景德傳燈錄卷二十七、神僧傳卷七、太平廣記異僧類〕
vạn hữu
Sarvabhava (skt)—Vạn pháp hay chư pháp—All dharmas—All beings.
vạn hữu thân giáo
Xem phiếm thần giáo.
vạn kiếp
5542劫,分別世界成壞之時量名,爲古印度表示時間之最大單位。萬劫,經歷世界之成壞一萬次,即言時間之極長。
; Ten thousand existences.
Vạn linh
(萬靈): (1) Các vị thần. Trong phần Phong Thiền Thư (封禪書) của bộ Sử Ký (史記) có đoạn rằng: “Hoàng Đế tiếp vạn linh Minh Đình (皇帝接萬靈明廷, Hoàng Đế tiếp các vị thần ở Minh Đình).” Trong bài Thứ Vận Trương Xương Ngôn Hỷ Vũ (次韻張昌言喜雨) của thi hào Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống, có câu: “Tinh quán thiên nhân nhất ngôn túc, vân hưng nhạc độc vạn linh xu (精貫天人一言足、雲興岳瀆萬靈趨, thông rõ trời người một lời đủ, mây lên đỉnh núi khiến thần đi)”. Tự Điển Tạp Nghị (祀典雜儀) 4 của Củng Tự Trân (龔自珍, 1792-1841) nhà Thanh cũng có đoạn rằng: “Chiêu vạn linh chi hữu, tích cửu lưu chi phước (召萬靈之佑、錫九流之福, Mời các vị thần giúp đỡ, ban phước cho chín loài).”(2) Các sinh linh. Sách Hạt Quan Tử (鶡冠子) có đoạn rằng: “Duy thánh nhân năng chánh kỳ âm, điều kỳ thanh, cố kỳ đức thượng cập Thái Thanh, trung cập Thái Trữ, hạ cập Vạn Linh (唯聖人能正其音、調其聲、故其德上及太清、中及泰宁、下及萬靈, chỉ có thánh nhân mới có thể sửa đúng âm của mình, điều chỉnh tiếng của mình; cho nên đức của vị ấy trên vang tận Thái Thanh, giữa lan đến Thái Trữ và dưới đến các sinh linh)”. Trong Bão Phác Tử (抱朴子), phần Tiên Dược (仙藥) của Cát Hồng (葛洪, 284-364) nhà Tấn có ghi rằng: “Ngao du thượng hạ, sử dịch vạn linh (遨遊上下、使役萬靈, ngao du trên dưới, sai khiến mọi loài)”.
vạn lý
Ten thousand miles.
vạn nan
Very difficult.
vạn nguyên sư man
2202請參閱 東林語錄 (1626~1710)日本臨濟宗僧。小田原人。號獨師。出家於妙心寺。後遊歷諸方,歷時三十餘年,致力於僧傳史料之收集,後歷住妙心寺、盛德寺、清音寺。寶永七年示寂,世壽八十五。著有延寶傳燈錄四十一卷、本朝高僧傳七十五卷、東國高僧傳彈誤十卷等。〔盛德寺位牌銘、延寶傳燈錄序、本朝高僧傳序〕
vạn nhất
If ever.
vạn niên
Ten thousand years.
vạn niên tự
5540<一>位於四川西南峨嵋山腰。爲峨嵋山六大古剎之一。始建於晉代,原名普賢寺,唐代慧通改名爲白水寺,後屢遭火災。明神宗時,重建成磚砌之螺旋式無樑殿,改稱聖壽萬年寺,凡七殿,規模之大,山中少見。其圓頂形承塵(即藻井)充滿異國情調,上有繪於明代之彩色飛天神像。明末三度大火,僅存毘盧、磚、接引等三殿。現分爲三部分:一爲新殿,藏貝葉經及舍利子。二爲磚殿,殿內有宋代所製之青銅普賢菩薩坐像,另藏有佛牙,珍貴異常。三爲毘盧殿,其內供奉明嘉靖年間所製三大銅佛。(參閱「峨嵋山」4087) <二>位於浙江天台縣西北三十五公里處。爲天台山著名之古剎。寺爲普岸禪師創建於唐文宗太和年中(827~835),原名平田禪院。寺外八峰環立,巨杉蔽天。清代曾大加修葺,後又屢毀於火,已不復舊觀。寺內原藏經甚多,亦多散失。
; Mannen-ji (J)Tên một ngôi chùa.
vạn năng
All powerful—Omnipotent—Almighty.
vạn pháp
5542 【萬松老人評唱天童和尚頌古從容庵錄→】請參閱 從容錄 請參閱 請益錄 語同「諸法」。總賅萬有事理之語。即色、心所亙即之一切差別之法。與一般所說之萬象、萬事、萬物等語相當。往生拾因(大八四‧一○○上):「覺知法界唯真,萬法一如,無煩惱可斷。」
; Xem Nhất thiết pháp.
; All things, everything that has noumenal and or phenomenal existence.
; Tất cả sự lý của vạn hữu (tự thể quy tắc, ngay cả những điều không có đề cũng gọi là pháp)—All (ten thousand) dharmas—All things, noumenal and phenomenal existence.
vạn pháp duy tâm tạo
All dharmas are created only by the mind.
vạn pháp nhất như
5543萬法指一切諸法,即一切所有存在(者)之總稱;「一」爲不二之義;「如」爲不異之義。一切諸法皆由因緣生起,故無常、無我,而無固定不變之實體,即無自性,乃空性平等者。即萬法以空爲性而歸於一理,故稱萬法一如。〔往生拾因〕
; The absolute in everything; the ultimate reality behind everything.
; Vạn pháp đều có chung một tánh là “không tánh” (vạn pháp đều do nhân duyên sanh diệt, chứ không có tự tánh, vì không có tự tánh nên ta gọi “tánh không” là tánh chung của vạn hữu)—The absolute in everything; the ultimate reality behind everything.
vạn pháp nhất tâm
5543一切法盡歸入一心,稱爲萬法一心。大方廣圓覺修多羅了義經略疏註卷上二(大三九‧五三七中):「諸經論俱說萬法一心,三界唯識。」〔唐譯華嚴經卷三十一、般若經卷五六八〕
; Myriad things but one mind; all things as noumenal.
; Duy Tâm Luận cho rằng hết thảy mọi pháp đều do tâm tạo ra (theo Kinh Hoa Nghiêm thì mọi thứ trong tam giới chỉ là một tâm; theo Kinh Bát Nhã, tâm là thiên đạo đối với vạn pháp. Nếu biết được tâm tức là biết được vạn pháp)—Myriad things but one mind; all things as noumenal.
vạn phúc
Thousand happiness—Very happy.
vạn phúc tự
5545<一>我國黃檗山萬福寺。黃檗山位於福建福清縣西南十七公里之處,以山多檗木,故有此稱。其上有乳香巖,巖間有飛瀑懸空,甚爲壯觀。本寺建於唐德宗貞元五年(789),原名般若堂,後改名建德禪寺,曾以禪宗道場而名聞遐邇。該寺之隆盛,於宋代達於最高峰,至元代漸趨衰微。明神宗萬曆四十二年(1614),蒙御賜藏經,並敕額「萬福禪寺」,重建諸堂,遂得復興。明末隱元禪師曾居於此。民國十七年(1928)因山崩,寺毀,今僅存法堂。然寺後之丘陵上,尚存黃檗宗歷代僧侶之無縫墓塔,墓塔係以整塊石頭造成而無縫稜級層,又稱卵塔。 <二>日本黃檗宗之大本山。山號黃檗山。位於日本京都府宇治市。係德川家綱爲我國明代僧隱元所建者,爲日本黃檗宗之根據地,頗爲興盛。寺中建築皆採明代之規制,凡山門、天王殿、佛殿、法堂皆並列成一直線,爲寺之中心,其左右另有諸堂排比一起。匾額及聯柱有隱元、木庵等高僧之文字。背後山腹藏有黃檗版大藏經。
vạn phật
Tên một ngôi chùa nổi tiếng của người Hoa, tọa lạc trong quận năm, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được kiến lập năm 1959. Chánh điện được đặt trên tầng hai, dài 14 mét, rộng 10 mét, thờ Đức Phật Thích Ca, tượng cao 2,3 mét, bệ đá cao 1,13 mét, ở lòng bàn tay có tượng Đức Phật Đản Sanh cao 20 phân. Chung quanh ba mặt chánh điện có 3.638 bức hình Phật được in trên mặt của từng tấm gạch men trắng ốp vào tường. Viên gạch vuông mỗi cạnh 15 phân. Chùa có tên “Vạn Phật” cũng từ lý do nầy—Name of a famous Chinese pagoda, located in the fifth district, Saigon City, South Vietnam. It was built in 1959. On the second floor, there is the Buddha Shrine, 14 meters long and 10 meters wide, is used to worship Sakyamuni Buddha. The Buddha statue is 2.3 meters high. In the palm of the statue stands a 0.2 meter-high statuette of the Lord Buddha at His Holy Birth. Three sides of the Shrine are surrounded with 3,638 Buddha pictures printed on the surface of white ceramic bricks fixed on the walls. The white brick is square in shape with each side 0.15 meter. The fixing was carried out in 1959. The name of the Pagoda "Vạn Phật” or Thousand of Buddhas, results from this fact.
vạn phật thiền tự
5541位於新竹市東山里。民國二十五年(1936),妙義尼師率達果、達善二徒來此開山,初規模甚簡,四十五年陸續增建大雄寶殿、齋堂、客房及左右兩廂樓房等。六十二年妙義示寂,由達果法師晉任住持。
vạn phật tự
5541位於臺灣臺中縣霧峰鄉。爲臺灣中部新興之名剎。民國六十年(1971),由聖印法師所創。設有慈明商工職業學校、中華佛教學院等。曾數次舉辦大專佛學夏令營。寺中萬佛寶殿高約八公尺,殿頂塑造約二十二公尺之藥師大佛像,殿前有九龍獻瑞塑像。其正殿左右兩側有地藏殿、大悲殿。
vạn phật đường
5541位於遼寧義縣西北約十公里處,大凌河對岸之凝灰岩崖壁。爲北魏時所造之石窟寺院,乃東北地方最古之佛蹟。石窟有六所,第一窟規模最大,內部十平方公尺,中央有繞方柱之迴廊,方柱四面作佛龕,四隅表現須彌山,上置方塔,飾以天蓋,其間有化佛,其內壁各有佛龕,惜已遭磨損。第二、三、四窟後來改爲通廊,壁面之小佛龕、蓮花及雕刻有飛天之藻井仍留有北魏之色彩。第四窟有景明三年(502)所刻之銘記,文中之契冊,一說屬於契丹。第五窟較大,前半窟已崩毀,內部仍殘存彌勒、文殊、維摩、千佛等像,根據碑文所載,係太和二十三年(499)營州刺史元景爲皇帝而造。第六窟亦毀,有近世所造之本尊像。〔滿洲義秌万仏堂(關野貞,支那の建築と芸術‧一九四一)、遼西義秌の石窟寺(浜田耕作,東洋美術史研究‧一九四二)〕
vạn phật động
See Đôn Hoàng Thạch Thất.
vạn quốc
Bankoku (J).
vạn sam tự
5542位於江西星子縣慶雲峰下。始建於南朝梁代。至唐代,稱爲慶雲院。宋景德年中(1004~1007),僧大超手植萬杉。天聖年中(1023~1031)改今名。爲廬山五大叢林之一。原寺毀於太平天國之亂,今寺係清光緒年中(1875~1908)所重建者。
vạn sơn đạo bạch
2201(1635~1714)日本曹洞宗僧。備後(岡山縣)人,俗姓藤井。號復古道人、隨時子。十歲剃髮出家,後受印可於加賀大乘寺之月舟宗胡。其後,嗣宗胡之法,住持大乘寺。因鑑於當時法系嗣承之混亂不清,為求改正而投訴於幕府,經其努力奔走之後,終獲許可,世稱復古卍山。著有宗統復古志二卷等。正德四年示寂,世壽八十。〔續日本高僧傳卷六、日本禪宗史要)
vạn sự
Everything.
vạn sự như ý
Everything is okay.
vạn thiên ý
5540元魏譯經居士。雲中人,本姓拓跋。又稱萬俟氏,單稱萬氏。世居洛陽,故又爲河南人。少曾出家,師事婆羅門。聰慧有志力,善梵書梵語,兼工咒術。迨入齊世,奉敕參與耶舍三藏譯經。北齊河清年間(562~564),曾於鄴都譯出尊勝菩薩所問經一部。其餘事蹟及生卒年等不詳。〔歷代三寶紀卷九、開元釋教錄卷七〕
vạn thiện
All goodness, all good works.
; Tất cả các việc thiện lành—All goodness, all good works.
Vạn Thiện Đồng Quy Tập
(萬善同歸集, Manzendōkishū): 3 hay 6 quyển, trước tác của Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽) nhà Bắc Tống, là bộ sách phân khoa 1 bộ thành 10 nghĩa, dẫn chứng các kinh luận và làm cho các điều thiện đều quay về với thật tướng. Từ lập trường Thiền Giáo Nhất Trí, thiết lập nên pháp môn lần lượt theo đốn ngộ tiệm tu, tác phẩm này đã hệ thống hóa toàn bộ giáo nghĩa của các tông phái thông qua hình thức vấn đáp.
vạn thiện đồng quy tập
5544凡三卷(或作六卷)。北宋延壽述。收於大正藏第四十八冊。係廣舉經論、祖釋等禪家心要之書。各卷之初,首敘其概旨,而後以問答體解明其意旨。問答總數有一一四條,其中第一一二條(大四八‧九九二上):「問:『此集所陳,有何名目?』答:『若問假名,數乃恆沙。今略而言之,總名萬善同歸,別開十義。一名理事無閡,二名權實雙行,三名二諦並陳,四名性相融即,五名體用自在,六名空有相成,七名正助兼修,八名同異一際,九名修性不二,十名因果無差。』」由此可知本書之概要,乃逐條解說其意義者。然實際之記述卻未必依上所述之順序。 卷上之初,即說理事相即、萬行由心等義,次則以三十三條問答解說其意;卷中之初,即略示波羅蜜等實踐行法,後復以二十七問答細說之。卷下之初,舉示妙行圓滿之趣旨,再揭以五十四條問答,論述其意義。全書雖以宣揚禪旨爲主幹,而華嚴、天台、淨土等諸宗思想之融合,隨處可見,所引用之書目亦甚多。〔至元法寶勘同總錄卷十、禪籍志卷下、總淨土依憑章疏目錄〕
vạn thọ
Long life.
vạn thọ sùng quán
Wan shou Chung kuan (C)Tên một vị sư.
vạn thọ tự
5544位於北平西直門外。爲北平名剎之一,創建於明萬曆五年(1577),殿宇宏麗,門臨大道,清康熙、乾隆皆曾重加修葺。本寺建築規模極大,有正殿、前殿、後殿、銅佛 、碑亭。碑文爲翁同龢撰書。寺內有千佛閣,閣七楹,兩層壁間安置小佛像數千,寺中各建築均完好無缺。
vạn toàn
Excellent—Perfect.
vạn trung
Banzui (J).
vạn tuế tự
5544位於福建福州九仙山。原爲唐末天祐元年(904)瑯琊王王審知所創建之七層塔,初稱報恩定光塔,後梁開平(908~910)初年改稱萬歲塔寺。宋熙寧八年(1075)建立千秋堂,乾道九年(1173)改爲華峰堂。王審知曾投入巨資營建伽藍,並納入大藏經五千餘卷,爲佛教展開文教政策之設施。更每日營建盛大齋會,當時高僧雪峰義存、玄沙師備、安國弘瑫、安國慧球等諸師均曾參與其會。
Vạn Tùng Hành Tú
(萬松行秀, Banshō Gyōshū, 1166-1246): vị Tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, được gọi là Vạn Tùng Lão Nhân (萬松老人), xuất thân vùng Giải Lương (解梁), Huyện Hà Nội (河內), Tỉnh Hà Nam (河南), họ là Thái (蔡). Ngay từ lúc còn nhỏ ông đã có khí cốt siêu phàm, có chí xuất gia, sau theo xuất gia với Bân Công (贇公) ở Tịnh Độ Tự (淨土寺邢), vùng Hình Châu (邢州), Tỉnh Hà Nam. Sau đó, ông đến tham học với Thắng Mặc Quang (勝黙光), rồi đến Tuyết Nham Mãn (雪巖滿) ở Đại Minh Tự (大明寺) vùng Từ Châu (磁州), Tỉnh Hà Bắc (河北省). Ông lưu lại đây 2 năm rồi trở về Tịnh Độ Tự, dựng am tu tập và đặt tên là Vạn Tùng Hiên (萬松軒). Năm 27 tuổi, ông được vua nhà Kim là Chương Tông (章宗) cung thỉnh đến thuyết pháp. Về sau, ông đến sống tại Thê Ẩn Tự (棲隱寺) ở Ngưỡng Sơn (仰山) cũng như Báo Ân Hồng Tế Tự (報恩洪濟寺) ở Phủ Thuận Thiên (順天府). Vào năm 1230, dưới thời vua Thái Tông nhà Nguyên, ông được cử đến trú trì Vạn Thọ Tự (萬壽寺), nhưng rồi cũng quay trở về Tùng Dung Am (從容庵, tức Vạn Tùng Am). Bộ Tùng Dung Lục (從容錄) của ông là bản niêm bôn của tụng cổ gồm 100 công án của Thiên Đồng (天童) được trình tấu lên vua Ninh Tông (寧宗) nhà Tống vào năm thứ 16 (1223) niên hiệu Gia Định (嘉定). Vào ngày mồng 7 tháng 4 năm đầu nhuận niên hiệu Định Tông (定宗), ông thị tịch, hưởng thọ 81 tuổi đời và 60 hạ lạp.
vạn tùng hành tú
5542(1166~1246)南宋曹洞宗僧。河內(河南沁陽)人,俗姓蔡。字報恩。早歲從邢州(河北邢臺)淨土寺贇允出家,受具足戒後,至慶壽寺謁勝默光有省。不久至磁州大明寺參訪雪巖滿,未逾月徹悟,遂留會下二年,悉盡其蘊底。未久還邢州,築萬松軒居之,潛志自修,世稱萬松老人,或報恩老人。金章宗明昌四年(1193),帝賜師錦綺大僧衣。承安二年(1197),奉詔住西山仰山棲隱禪寺。後應諸方之請,歷住淨土寺、中都萬壽寺、燕京報恩寺等名剎。未幾,退居從容庵,應耶律楚材之請,以宏智正覺所評唱之頌古百則爲底本,著從容錄六卷,傳曹洞宗禪風,又著請益錄二卷,二錄迄今 椰璈髂I林,爲禪宗語錄之代表作。另著有祖燈錄、釋氏新聞、鳴道集、四會語錄等。元定宗元年(一說端平三年,1236)示寂,世壽八十一。遺偈(卍續一四一‧一五一下):「八十一年,只此一語;珍重諸人,切莫錯舉!」〔五燈嚴統卷十四、續燈存稾卷十一、五燈全書卷六十一〕
Vạn Tùng Lão Nhân
(萬松老人): xem Vạn Tùng Hành Tú(萬松行秀, Banshō Gyōshū, 1166-1246) bên trên.
Vạn Tùng Lão Nhân Bình Thiên Đồng Giác Hòa Thượng Tụng Cổ Tùng Dung Am Lục
(萬松老人評天童覺和尚頌古從容菴錄, Manshōrōjinbyōtendōkakuoshōjukoshōyōanroku): xem Tùng Dung Lục (從容錄, Shōyōroku) ở trên.
Vạn Tùng Lão Nhân Bình Xướng Thiên Đồng Giác Hòa Thượng Niêm Cổ Thỉnh Ích Lục
(萬松老人評唱天童覺和尚拈古請益錄, Manshōrōjinhyōshōtendōkakuoshōnenkoshinekiroku): xem Thỉnh Ích Lục (請益錄, Shinekiroku) ở trên.
vạn tăng cung dưỡng
5544即邀請萬僧,以飲食等供養之。又稱萬僧供、萬僧齋。如佛祖統紀卷四十二載,唐咸通十二年(871),懿宗於禁中設萬僧齋,自升座爲讚唄,時有長眉梵僧(即賓頭盧)來應供,受嚫畢陵空而去。同書卷四十四又謂,於宋真宗大中祥符四年(1011),詔賜黃金三千兩,增修峨嵋山普賢寺,設三萬僧齋,歲度僧四人。
vạn tạ
Many thanks.
Vạn tự
(卍字): chữ Vạn, còn viết là 萬、万、卐; nguyên ngữ tiếng Sanskrit là śrīvatsalakṣana, âm dịch là Thất Lợi Mạt Xoa Lạc Sát Nang (室利靺蹉洛剎囊), ý dịch là Cát Tường Hải Vân (吉祥海雲), Cát Tường Hỷ Toàn (吉祥喜旋), là một trong 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp của Phật, là đức tướng thường hiển hiện nơi ngực của chư Phật cũng như các Bồ Tát chứng quả Thập Địa (s: daśa-bhūmi, 十地). Đây cũng là một loại phù hiệu thường thấy ở các tượng Phật cũng như văn vật Phật Giáo. Một số kinh điển Phật Giáo nêu rõ vị trí của chữ Vạn như Đại Bổn Kinh (大本經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō No. 1) quyển 1 cho biết rằng chữ Vạn thuộc tướng tốt thứ 16: “Thập lục, hung hữu Vạn tự (十六、胸有萬字, thứ mười sáu, trên ngực có chữ Vạn).” Hay Đại Tát Già Ni Càn Tử Sở Thuyết Kinh (大薩遮尼乾子所說經, Taishō No. 272) quyển 6 cũng cho hay rằng: “Sa Môn Cù Đàm hung hữu Vạn tự thị công đức tướng (沙門瞿曇胸有萬字示功德相, nơi ngực của Sa Môn Cù Đàm có chữ Vạn, thể hiện tướng công đức).” Trong Phương Quảng Đại Trang Nghiêm Kinh (方廣大莊嚴經) quyển 3 giải thích rằng trong 80 vẻ đẹp của đức Phật thì chữ Vạn thuộc về vẻ đẹp thứ 78, thường thấy ở trên tóc: “Phát hữu ngũ Vạn tự (髮有五卍字, tóc có năm chữ Vạn).” Thập Địa Kinh Luận (十地經論) quyển 12 nêu rõ rằng khi Thái Tử Tất Đạt Đa (s: Siddhārtha, p: Siddhattha, 悉達多) chưa thành Phật, nơi ngực người có chữ Vạn Kim Cang công đức trang nghiêm. Trong khi đó, Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (有部毗奈耶雜事) quyển 29 cho hay rằng nơi lưng của Phật có tướng chữ Vạn. Bên cạnh đó, Đại Bát Nhã Ba La Mật Kinh (大般若波羅蜜多經) quyển 381 cho biết chữ Vạn nằm nơi ngực cũng như tay chân của đức Thế Tôn. Vào thời cổ đại Ấn Độ, chữ Vạn tượng trưng cho sự tốt đẹp. Ngoài đất nước này, Ba Tư, Hy Lạp đều có loại phù hiệu này, thông thường được xem như tượng trưng cho mặt trời, điện quang, lửa, dòng nước chảy, v.v. Xưa kia, Phật Giáo, Bà La Môn Giáo, Kỳ Na Giáo đều có sử dụng chữ Vạn. Người Ấn Độ cổ đại cho rằng phù hiệu chữ Vạn này hiện hữu nơi sợi lông xoăn ở ngực của Phạm Thiên, thần Viṣṇu, Kṛṣṇa, rộng khắp thể hiện tướng cát tường, thanh tịnh, viên mãn. Trong Phật Giáo, chữ Vạn là tướng cát tường ở nơi ngực của đức Phật cũng như chư vị Bồ Tát chứng quả Thập Địa, về sau dần dần trở thành dấu hiệu tiêu biểu cho Phật Giáo. Về tiếng Hán dịch của chữ này, xưa nay có vài thuyết khác nhau. Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413), Huyền Trang (玄奘, 602-664), v.v., thì dịch là “đức (德)”. Trong Thập Địa Kinh Luận (十地經論), Bồ Đề Lưu Chi (s: Bodhiruci, 菩提流支, 562-727) dịch là “vạn (萬)” với ý nghĩa “vạn đức viên mãn (萬德圓滿)”. Trong Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳) quyển 3, chữ này được dịch âm là vạn, nhưng không có ý dịch. Cho đến năm thứ 2 (693) niên hiệu Trường Thọ (長壽) của Võ Tắc Thiên (武則天, 624-705), Hoàng Hậu bắt đầu quy định chữ này đọc là “vạn”, với ý nghĩa là “tập trung vạn đức tốt lành”. Tiếng Phạn ngữ của chữ Vạn (卍) không phải chỉ có một, tỷ dụ như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh (新華嚴經) có đến 17 chỗ xuất hiện chữ này, đều dịch là vạn; nhưng nếu lấy nguyên ngữ đối chiếu, nguyên ngữ của chữ này có 4 loại: (1) śrīvatsa, âm dịch là Thất Lợi Mạt Xoa (室利靺蹉), ý dịch là Cát Tường Ức (吉祥臆), Cát Tường Độc (吉祥犢); như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 48 (Taishō No. 10) có đoạn: “Như Lai hung ức hữu đại nhân tướng, hình như Vạn tự, danh cát tường hải vân (如來胸臆有大人相、形如卍字、名吉祥海雲, nơi ngực của đức Như Lai có tướng của bậc đại nhân, hình như chữ Vạn, tên là mây biển tốt lành).” Trong đó, nguyên ngữ chữ Vạn là śrīvatsa, ý chỉ cho lông tóc xoắn quanh, chồng lên nhau như hình dạng đám mây biển. (2) nandy-āvarta, âm dịch là Nan Đề Ca Vật Đa (難提迦物多), ý dịch là Hỷ Toàn (喜旋); như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 27 có đoạn: “Kỳ phát hữu toàn, quang tịnh nhuận trạch, vạn tự nghiêm sức (其髪右旋、光淨潤澤、卍字嚴飾, tóc của Ngài xoay về bên phải, ánh sáng thanh tịnh, thấm khắp, chữ Vạn làm cho trang nghiêm).” Chữ Vạn trong câu này là nandy-āvarta, chỉ cho tướng tóc của Phật xoay về bên phải. (3) svastika, âm dịch là Tắc Phạ Tất Để Ca (塞嚩悉底迦), ý dịch là Hữu Lạc (有樂). Như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 27 có đoạn: “Nguyện nhất thiết chúng sanh đắc như Vạn tự phát, loa văn hữu toàn phát (願一切眾生得如卍字髪、螺文右旋髪, nguyện hết thảy chúng sanh đều được như mái tóc có chữ Vạn, mái tóc xoay về bên phải theo hình trôn ốc).” Chữ Vạn trong câu này là svastika, có hàm nghĩa “có niềm an lạc”. (4) pūrṇaghaṭa, âm dịch là Nang Già Tra (囊伽吒), ý dịch là Tăng Trưởng (增長). Như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 27 có đoạn: “Nguyện nhất thiết chúng sanh đắc luân tướng chỉ, chỉ tiết viên mãn, văn tướng hữu toàn, nguyện nhất thiết chúng sanh đắc như Liên Hoa Vạn tự toàn chỉ (願一切眾生得輪相指、指節圓滿、文相右旋、願一切眾生得如蓮華卍字旋指, nguyện cho hết thảy chúng sanh có ngón tay tướng bánh xe tròn, kẻ ngón tay tròn đầy, hoa văn tay xoay về bên phải, nguyện cho hết thảy chúng sanh có được ngón tay chữ Vạn như hoa sen).” Nguyên ngữ chữ Vạn trong câu này là pūrṇaghaṭa, chỉ hình tướng đầu bộ hay các kẻ ngón tay tròn đầy. Từ xa xưa, chữ Vạn đã có sự khác nhau về phương hướng xoay có nó. Trong Ấn Độ Giáo, các vị thần nam tánh thường dùng chữ Vạn (卐, hướng về bên phải) và thần nữ tánh thì dùng chữ Vạn (卍, hướng về bên trái). Đối với Phật Giáo, hiện tồn tại ngôi cổ tháp ở Vườn Lộc Uyển (s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿苑) là chữ Vạn (卍). Ngôi tháp này được kiến tạo dưới thời A Dục Vương (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育王) để kỷ niệm đức Phật xưa kia đã từng nhập định tại đây. Tại Tây Tạng, phần lớn các giáo đồ của Lạt Ma Giáo đều dùng chữ Vạn (卐). Tại Trung Quốc, trãi qua các đời đều dùng cả hai. Trong bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (大正新脩大藏經) của Nhật Bản thì lấy chữ Vạn (卐) làm tiêu chuẩn; tuy nhiên, các bản Đại Tạng Kinh của nhà Tống, Nguyên, Minh đều dùng chữ Vạn (卍). Gần đây, vào khoảng thập niên 40 của thế kỷ 20, Đức Quốc Xã Hitler có dùng đến chữ Vạn (卍). Và cho đến nay, vẫn còn khá nhiều tranh luận về chiều xoay của chữ này theo quan điểm của Phật Giáo.
vạn tự
2202梵語 śrīvatsalakṣana。又作万字、萬字、罴字。音譯作室利靺蹉洛剎曩。意譯作吉祥海雲、吉祥喜旋。為佛三十二相之一,八十種好之一。乃顯現於佛及十地菩薩胸臆等處之德相。長阿含卷一大本經、大薩遮尼乾子所說經卷六、大般若經卷三八一等,均記載佛之胸前、手足、腰間等處有卍字。於今印度阿摩羅婆提(梵 Amarāvatī)出土之佛足石,亦刻有數個卍字。 卍之形,原是古代印度表示吉祥之標誌。除印度外,波斯、希臘均有此類符號,通常被視為太陽、電光、火、流水等之象徵。在古代印度,佛教、婆羅門教、耆那教均使用之。最早時,古印度人認為此一符號乃存於梵天、毘濕笯(梵 Viṣṇu)吉栗瑟拏(梵 Kṛṣṇa)胸部之旋毛,而普遍視之為吉祥、清淨、圓滿之標相。在佛教,卍字為佛及十地菩薩胸前之吉祥相,其後漸成為代表佛教之標誌。 卍字之漢譯,古來有數說,鳩摩羅什、玄奘等諸師譯為「德」字,菩提流支則譯為「萬」字,表示功德圓滿之意。另於宋高僧傳卷三則謂,卍字譯為「萬」並非取其意譯,而係準其音。然卍字之音,初時不入經傳,至武則天長壽二年(693)始制定此字讀為「萬」,而謂其乃「吉祥萬德之所集」。 然「卍」本為一種記號,而非一字。歷來之所以聯讀為「卍字」者,一方面固因習慣使然,最主要者則因自梵文譯成漢文時之訛誤。蓋梵語 lakṣṇa,音譯作洛剎曩,為「相」之義;另一梵語 akṣara,音譯作惡剎羅,為「字」之義。或因洛剎曩、惡剎羅兩音相近,遂將其字義混同。準此而言,則卍字、萬字應作卍相、萬相,始符其梵語本義。 相當於「卍」字之梵語不只一字,以新華嚴經為例,全經之卍字共有十七處,皆讀為「萬」,然以梵本對勘之,則其原語共有四種:(一)śrīvatsa,音譯作室利靺蹉,意譯作吉祥臆、吉祥犢。新華嚴經卷四十八(大一○‧二五三下):「如來胸臆有大人相,形如卍字,名吉祥海雲。」其中,「卍」之原語即為 śrīvatsa,係指毛髮等旋轉重疊如海雲之相。(二)nandy-āvarta,音譯作難提迦物多,意譯為喜旋。新華嚴經卷二十七(大一○‧一四六上):「其髮右旋,光淨潤澤,卍字嚴飾。」其中,「卍」之原語即為 nandy-āvarta,係指佛髮右旋之相。(三)svastika,音譯作塞嚩悉底迦、濊佉阿悉底迦,意譯為有樂。新華嚴經卷二十七(大一○‧一四四中):「願一切眾生得如卍字髮,螺文右旋髮。」其中,「卍」字之原語即為 svastika,含有「有樂」之義,意指毛髮右旋,自成紋樣,令見者咸得欣悅之相。(四)pūrṇaghaṭa,音譯作本囊伽吒,意譯為增長。新譯華嚴經卷二十七(大一○‧一四八中):「願一切眾生得輪相指,指節圓滿,文相右旋,願一切眾生得如蓮華卍字旋指。」其中,「卍」之原語即為 pūrṇaghaṭa,為「滿瓶」之義,意指佛之頭部或指節等處圓滿隆起之相。由是可知,上舉四相之中,除 pūrṇaghaṭa 之外,其餘三者皆與毛髮有關,然三者之語義亦略有差異,惟諸經論所譯一概皆作「卍」字,實與梵本語義有所出入。 卍字自古即有左右旋之別,於印度教,男性神多用罴表示,女性神多用卍表示。於佛教,現存於鹿野苑之古塔,其上之卍字全為「卍」,該塔係阿育王時代之建築物,為紀念佛陀昔時於此入定而建者。在西藏,喇嘛教徒多用罴,棒教徒則用卍。我國歷代左右旋混用各半,慧琳音義與高麗大藏經皆主張罴,日本大正藏亦準之而採用罴,然宋、元、明三版藏經均用卍。卍字產生左右旋之紛歧,主要係由於「立場」之差異。蓋經中多處有「右旋」之說,且佛眉間白毫亦宛轉右旋,又如禮敬佛菩薩時亦需右繞而行,故「右旋」一詞已成定說,惟究竟以「卍」為右旋,抑或以「罴」為右旋,則是爭論之關鍵。若以卍字置於吾人之前,而以吾人之立場觀望卍字,右旋則成罴;然若以卍字本身之立場而言,則卍乃符右旋之方向。〔普曜經卷二、十地經論卷十二、毘奈耶雜事卷十三、慧苑音義卷二、經律異相卷五、法苑珠林卷三十五、翻譯名義集卷六、祖庭事苑卷四、曼荼羅の研究、罴字之變遷及び分布(堀謙德,東亞之光第六之三)〕
; The sauvastika, also styled srivatsa-laksana, the mark on the breast of Visnu; the lightning; a sun symbol; a sign of all power over evil and all favour to the good; a sign shown on the Buddha's breast. One of the marks on a Buddha's feet.
; See Vạn (1).
vạn vật
All things—Nature.
vạn vật giai thần luận
Xem thần vật đồng thể luận.
vạn vật hữu linh luận
5543乃英國人類學家泰勒(Edward Burnett Tylor, 1832~1917)提出之理論。主張原始人在形成宗教之前,先產生萬物有靈之觀念,而以爲在人類物質身體中含有非物質之物,使人具有生命,此物若離,身體則喪失活動、生長能力,停止呼吸。泰勒以拉丁字 anima 命名之,認爲原始人推論一切具有生長或活動現象之物,如動植物、日月河川等皆具有 anima。然近代部分宗教學家則認爲,原始人,尤其爲宗教尚未形成之遠古早期之原始人,其思維方式未必達到能綜合各種現象而加以抽象推理之地步,且目前尚無發現任何實例,足以證明歷史中確實曾經具有此一觀念之現象。
vạn đăng hội
5545即萬燈供養。爲懺悔與祈求滅罪,以萬燈供養佛、菩薩之法會。與獻花供養相同。燃燈供養之功德甚大,其說散見於諸經之中。日本極盛行此種法會,東大寺將之列爲重要年中行事之一。〔悲華經卷二、菩薩藏經、阿闍世王授決經〕
vạn đức
All virtues.
; Tên một ngôi chùa cổ tọa lạc trong quận Bình Thạnh, thành phố Sài Gòn. Chùa được xây vào thế kỷ thứ 18 trong quận Gò Vấp, được dời về quận Bình Thạnh, tại địa điểm hiện tại vào năm 1945, và đã được trùng tu nhiều lần. Chùa vẫn còn giữ được nhiều tượng Phật cổ của thế kỷ thứ 19. Tầng trên cùng bàn thờ bên trong Chánh điện tôn trí tượng Đức Phật A Di Đà; tầng kế thờ Bồ Tát Chuẩn Đề, Bồ Tát Quán Thế Âm, và Đại Thế Chí; tầng thứ ba thờ Thiên Vương; hai bên là ông Thiện và ông Ác. Bàn thờ bên ngoài cùng trong Chánh điện tôn trí Đức Phật Di Lặc và Phật Thích Ca Đản Sanh—Name of an ancient pagoda, located in Bình Thạnh district, Saigon City. The pagoda was built in the eighteenth century in Gò Vấp district and was moved to the current location in 1945, and has been rebuilt many times. A lot of wooden statues from the nineteenth century have been kept in Vạn Đức Pagoda. On the top shelf of the altar placed in the Main Hall are worshipped three statues of Amitabha Buddha, the statues of Cundi Bodhisattva, Avalokitesvara Bodhisatva, and Mahasthama Bodhisattva are enshrined on the second shelf; on the third shelf is the statue of King of Heaven, on both sides of which are the Good and the Evil. The statues of Maitreya and Infant Sakyamuni Buddha are worshipped on the altar outside the Main Hall.
Vạn đức hồng danh
(萬德洪名): Hồng danh (洪名) nghĩa là thanh danh to lớn, tiếng tăm vĩ đại, tiếng thơm. Như trong bản Hồi Nhân Hạ Thọ Sử Quán Tu Soạn Trạng (回人賀授史館修撰狀) của Tằng Củng (曾鞏) nhà Tống có câu: “Thùy liệt thánh chi hồng danh (垂列聖之洪名, tắm gội tiếng thơm của chư vị thánh).” Vạn đức hồng danh có nghĩa là danh hiệu có đầy đủ công đức to lớn để thành Phật; cho nên danh hiệu của chư Phật, Bồ Tát thường được gọi là vạn đức hồng danh. Một số kinh điển xưng tán hồng danh của chư Phật như Bát Thập Bát Phật Hồng Danh Bửu Sám (八十八佛洪名寳懺), Tam Thiên Phật Hồng Danh Bửu Sám (三千佛洪名寳懺), Vạn Phật Hồng Danh Bửu Sám (萬佛洪名寳懺), v.v.
vạt tử
6792又作曢子、韤子。四分律載佛陀聽許僧侶著襪禦寒。四分律卷三十九(大二二‧八四九上):「有比丘從寒雪國來,腳凍壞。(中略)佛問比丘:『彼國法何所著?』比丘言:『著富羅菴鞮。』佛言:『聽著,若須曢,聽作曢。』」在印度,非寒天不用,我國及日本不用則違例,且違禮儀,蓋防鄙醜污穢之故。〔五分律卷二十一、釋氏要覽卷上法衣、禪林象器箋服章門〕
vạy
Crooked—Dishonest.
vấn
Hỏi—To ask—To inquire—To question—To adjudicate.
vấn già
4413即授菩薩戒時,戒師問受戒者,過去是否曾犯七重罪。七重罪即:出佛身血、殺父、殺母、殺和尚、殺阿闍梨、破羯磨僧、殺聖人。〔禪門授菩薩戒規〕
vấn kiều
4413指徒然無益之發問。此語典故係佛陀為勸說莫多問於身無利益之事,而敘述過去世曾為一比丘,因常生無窮疑問,終誤失真正之利益。據大方等陀羅尼經卷三所載,此一比丘因甚貧窮,欲往大布施會所,於途中就所見而生種種愚問,如橋何人所作等,作七千八百問,因此耽誤至會所之時間,以致所需物品蕩然無餘,終無所獲而歸。摩訶止觀卷十下(大四六‧一三七上):「方等云:『種種問橋,智者所呵。』」
vấn kế
To ask for advice.
vấn nạn
To question someone closely.
vấn pháp ấn
Ra dấu bằng tay để đặt câu hỏi—The manual sign indicating the putting of a question.
vấn quá
4413禪林用語。即師家提出質問以試驗對方之境地。碧巖錄第四十一則(大四八‧一七九上):「藥忌何須鑒作家?(若不驗過,爭辨端的?遇著試與一鑒,又且何妨?也要問過)」
vấn thiền
4413即參禪問答之意。又作問話。宋代以後之禪院,逢檀越及官人來向住持求陞座說法時,有選派一特定僧人向住持質問之慣例,此質問僧稱為禪客。禪林象器箋職位門:「蓋官人入寺,屢請陞座說法,及時禪客出眾問答,名之曰問禪。」此外,一般問者以對句之韻語求問,有時亦有用頌叩問之通例。爾後,此種問禪漸次傾向口頭之形式,而脫離本來禪問答之領域。〔楊岐方會禪師語錄、古尊宿語錄卷二十二、黃海東山演和尚語錄、禪林寶訓卷三〕
; Hỏi về những phương cách hành thiền—To ask about methods of meditation.
vấn thoại
4413<一>禪林中,修行者向師家請問疑惑之語句。 <二>又作問禪。即禪客對師家之參禪問答。臨濟錄上堂(大四七‧四九六中):「此日法筵為一大事故,更有問話者麼?速致問來!」又古來學人常以學習問話為能事,產生不少弊病。故瑞鹿寺本先禪師曾謂,學問話未必是參學佛法。(參閱「問禪」4414)
vấn thủ
4411即與「問著」同為詢問之意。大慧普覺禪師語錄卷二十二(大四七‧九○四上):「石頭云:『爾往江西問取馬大師去!』」又如(大四七‧九○六中):「十回被師家問著,九回祗對不得。」
vấn tâm
To ask oneself.
vấn tấn
4412請參閱 大梵天王問佛決疑經梵語 pratisaṃmodana。敬禮法之一。即向師長、尊上合掌曲躬而請問其起起居安否。大智度論卷十,載有二種問訊法,若言是否少惱少患,稱為問訊身;若言安樂否,稱為問訊心。至後世之問訊,僅為合掌低頭。 禪宗所用之作法有九種:(一)三巡問訊,於方丈小座湯(眾僧坐於方丈室慢吮湯)之際,行揖坐、揖香、揖湯(揖即行禮)之三回問訊。(二)四處問訊,對僧堂之四板頭(四板之頭首)燒香問訊。(三)七處問訊,就僧堂內七處之爐燒香問訊。(四)座下問訊,在法堂之須彌座前問訊請法。(五)借香問訊,當維那於出班上香之際借住持香時,先向住持問訊,待燒香之後,再向住持行問訊禮,其時則稱謝香問訊。(六)趺坐問訊,秉拂人(持拂子代住持上法座向大眾開示說法者)請住持趺坐,令侍者問訊。(七)請座問訊,於方丈行茶禮時,先由侍者行至住持前問訊。(八)普同問訊,又作普問訊、普通問訊,即普向大眾問訊,或大眾一時問訊。(九)略問訊,又作小問訊,僅為合掌低頭。此外,一般所行之問訊法,以兩手相屈,曲腰至膝,操手下去,合掌上來,兩手拱齊眉。我國佛教徒多於拜佛將結束時,以問訊作結。〔中阿含卷六教化病經、法華經卷五從地踊出品、大智度論卷十、大宋僧史略卷上、釋氏要覽卷中〕
; Chấp hai tay lại và miệng vấn an ai thì gọi là vấn tấn (chấp tay cung kính hỏi thăm sức khỏe của ai)—To make inquiry; ask about another's welfare, orally or by folding the hands; interrogate; to try a case.
vấn vít
See Vấn Vương.
vấn vương
To be involved to.
vấn vương lão sư tác thập ma
4411 【問大乘中深義十八科→】請參閱 大乘義章禪林用語。意即自己本來面目原本具足,何必向外四處尋問師家。碧巖錄第二十一則(大四八‧一六二中):「江北江南問王老。(主人公在什麼處,問王老師作什麼?爾自踏破草鞋)」主人公即指自己本來面目;王老師,則指諸善知識。
vấn đoan
4413即問題、問話之意。係指依質問而得論議之端緒。碧巖錄第二十九則(大四八‧一六九中):「劫火光中立問端,衲僧猶滯兩重關,可憐一句隨他語,萬里區區獨往還。」(參閱「問話」4413)
Vấn đáp
問答; C: wèndá; J: mondō;|Là những cuộc đối đáp trong Thiền tông, giữa thầy và trò về một Công án hay một vấn đề làm thiền sinh thao thức. Thiền sư thường thường trả lời theo một cách nằm ngoài quy ước, với mục đích đánh thức trực giác nơi thiền sinh (Pháp chiến).|Nhiều vấn đáp đã trở thành công án trong lịch sử Thiền:|Tăng hỏi Ðộng Sơn (Thủ Sơ): »Thế nào là Phật?« Ðộng Sơn đáp: »Ba cân gai« (麻三斤).|Tăng hỏi Mã Tổ: »Thế nào là Phật?« Mã Tổ đáp: »Tức tâm tức Phật« (即心即佛).|Tăng khác cũng hỏi: »Thế nào là Phật?« Mã Tổ đáp: »Phi tâm phi Phật« (非心非佛).
vấn đáp
4412即往返答覆以闡明法門之義理。<一>質問者與解答者分別相對交換議論。經典之體裁多為佛應答他人請問而說法之形式,論、注釋或釋義之書則以採用問答體為多,此法具有明確顯示論旨之優點。 <二>禪林中,弟子問、師家答之方法。為教育、接引門徒的重要方法之一,並成為禪宗獨特之宗風,盛行於中唐以後。師家回答時,多不用理論或邏輯答覆之,而往往以看似怪異、荒謬不可解之語句或姿勢來觸發弟子之悟性。古尊宿語錄卷十三趙州真際禪師語錄并行狀上(卍續一一八‧一五五下):「問:『凡有問答,落在意根;不落意根,師如何對?』師云:『問。』學云:『便請師道。』師云:『莫向者裏是非。』」 <三>論義或宗派間之論諍,亦多稱為問答。(參閱「論義」6173)
; Mondō (J), Paṅhā-vyākaraṇa (S), Question-answer.
; Hỏi và trả lời, một kiểu đối thoại độc đáo của Thiền giữa một một thầy một trò, trong ấy trò hỏi các vấn đề Phật giáo làm mình bối rối sâu xa, và thầy men theo lãnh vực lý thuyết và lý luận, đáp bằng cách nào để gợi lên câu trả lời từ các tầng mức trực thức sâu hơn của trò—To question and to answer, a uniquely Zen type of dialogue between a master and a student wherein the student asks a question on Buddhism which has deeply perplexed him, and the master, skirting theory and logic, replies in such a way as to evoke an answer from the deeper levels of the student's intuitive mind.
vấn đáp man
4412梵名 Upadeśa-sāhasrī。為八世紀頃之印度吠檀多派哲學家、宗教改革家商羯羅(梵 Śaṅkara)撰,以問答方式闡論其教說。內容由韻文篇(梵 Padyabandha)、散文篇(梵 Gadyabandha)組成;若以三十二音節為一單位(即 śloka,首盧迦)計算散文節數,加上韻文篇,全書共約有一千詩節。注釋家對兩篇先後次序之安排各有說法,一說韻文篇應列於前,一說散文篇應列於前。韻文篇有十九章,以大聖句「祂即你」(梵 tat tvam asi)為主題,反覆解說「不二一元論」之各種基本問題。散文篇有三章,闡述以聽聞(梵 śravaṇa)、思惟(梵 manana)、冥想(梵 nididhyāsana)為到達解脫之三階段,此外,並討論無明(梵 avidyā)、附託(梵 adhyāropaṇā)等各種哲學重要問題。本書為研究商羯羅思想之入門書。〔Swāmi Jagadānanda: A Thousand Teachings in Two Parts─Prose and Poetry─of Sri Sankarāchārya, Madras 1949〕
vấn đề
Topic—Subject—Matter---Problem—Question.
vấn đề cố hữu
An inherent problem
vấn đề khô khan
Dry subject
vấn đề sống chết
A matter of life and death.
vấn đề thế tục
Worldly affairs
vấp chân
To stumble over.
vấp ngã
To stumble and fall.
vấp váp
To stumble (speak).
vất
To cast—To throw.
vất vưởng
Unstable—Uncertain.
vất vả
Very hard.
vấy bùn
Covered with mud.
vần vũ
Dull with rain.
vầng
Halo—Aureole.
vầng hào quang
Halo.
vẩn
Chết—To perish—To fall—To become extinct.
vẩn vơ
Undecided.
vẩn đục
Cloudy—Turbid.
vẫn
The same—Just—Still.
vẫn có
Always existent.
vẫy
To wag the tail (dog).
vẫy tay
To wave the hand.
vẫy vùng
To act freely.
vận
1) Vận chuyển: To transport—To carry. 2) Vận mệnh: Fate—Fortune—Luck—Destiny. 3) Mặc quần áo: To dress oneself. 4) Xoay vầng: To revolve—The turn of the wheel.
Vận Am Phổ Nham
(運庵普巖, Unan Fugan, 1156-1226): vị tăng của Phái Tùng Nguyên và Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Thiếu Chiêm (少瞻), xuất thân Tứ Minh (四明, Tỉnh Triết Giang), họ Đỗ (杜). Sau khi xuất gia, ông đến tham yết Thạch Cổ Hy Di (石鼓希夷) và Vô Dụng Tịnh Toàn (無用淨全). Vào năm thứ 11 (1184) niên hiệu Thuần Hy (淳熙), ông đến tham học với Tùng Nguyên Sùng Nhạc (松源崇岳) ở Trừng Chiếu Thiền Viện (澄照禪院), Phủ Bình Giang (平江府, Tỉnh Giang Tô) và đã từng theo hầu thầy chuyển đến Quang Hiếu Thiền Tự (光孝禪寺) ở Giang Ấm Quân (江蔭軍, Tỉnh Giang Tô), Thật Tế Thiền Viện (實際禪院) ở Trị Phụ Sơn (治父山), Vô Vi Quân (無爲軍, Tỉnh An Huy). Theo hầu Tùng Nguyên Sùng Nhạc được 18 năm, cuối cùng ông kế thừa dòng pháp của vị này. Đến tháng 8 năm thứ 2 (1202) niên hiệu Gia Thái (嘉泰), Sùng Nhạc viên tịch; người anh ruột của thầy ông có xây dựng ngôi Vận Am (運菴) ở Tứ Minh, bèn cung thỉnh ông đến đây trú trì. Vào tháng 3 năm thứ 2 (1206) niên hiệu Khai Hy (開禧), ông chuyển đến Đại Thánh Phổ Chiếu Thiền Tự (大聖普照禪寺) ở Phủ Trấn Giang (鎭江府, Tỉnh Giang Tô). Sau đó, ông từng sống qua các nơi khác như Quang Hiếu Tự (光孝寺) ở Chơn Châu (眞州, Tỉnh Giang Tô), Đạo Tràng Sơn Hộ Thánh Vạn Thọ Thiền Tự (道塲山護聖萬壽禪寺) ở An Cát Châu (安吉州, Tỉnh Triết Giang). Vào ngày mồng 4 tháng 8 năm thứ 2 (1226) niên hiệu Bảo Khánh (寶慶), ông thị tịch, hưởng thọ 71 tuổi. Các thị giả Nguyên Tĩnh (元靖), Trí Năng (智能), Duy Diễn (惟衍) biên tập cuốn Vận Am Phổ Nham Thiền Sư Ngữ Lục (運庵普巖禪師語錄) 1 quyển. Tông Trứ (宗著) soạn bản Hành Thật (行實) về cuộc đời và hành trạng của ông.
vận bĩ
See Vận Đen.
vận hành
Working—To revolve—To move.
vận hành vũ trụ
Working of the cosmo
vận hên
See Vận đỏ.
vận hạn
See Vận Đen.
vận khánh
5614日本佛像雕刻師,爲七條佛師之第六代。又稱雲慶。康慶之子。爲鎌倉時期極具代表性之雕刻家。曾率弟子於東大寺造佛像,活躍一時。與弟子快慶共造南大門仁王像,此外作品有圓成寺大日如來坐像(青年時期作品)、興福寺北圓堂之彌勒菩薩像、無著像、世親像等,被譽爲鎌倉佛師之祖。其雕刻之佛像流傳極多,然除上述外,皆無可確證。其子甚眾,湛慶、康運、康辨,康勝、運賀、運助等,其中以湛慶較著名。生卒年不詳。〔東大寺造立供養記、東寶記卷一〕
vận may
See Vận đỏ.
vận mệnh
Destiny.
vận rủi
See Vận Đen.
vận suy
See Vận Đen.
vận tâm
5613即受菩薩戒時,在戒師面前,觀、念種種法,而懺悔所造之罪過。運心有二種:(一)順流十心,即從無始以來隨順生死之流,即下列十者:(1)妄計我人,(2)外加惡友,(3)不喜他人之善,(4)縱恣三業,(5)惡心遍布,(6)晝夜相續,(7)覆諱過失,(8)不畏惡道,(9)不慚不愧,(10)撥無因果。(二)逆流十心,即消滅生死之觀法,亦即:(1)正信因果,(2)自愧剋責,(3)怖畏惡道,(4)發露瑕玼,(5)斷相續心,(6)發菩提心,(7)修功補過,(8)守護正法,(9)念十方佛,(10)觀罪性空。總從此二十心對一切三寶懺悔,披露已往之罪過。〔授菩薩戒儀(妙樂)、摩訶止觀卷二上、卷四上、授菩薩戒儀要解〕
; Tâm suy nghĩ về vấn đề gì—To revolve in the mind—To have in mind—To carry the mind, or thought, towards.
vận tâm cung dưỡng
5614四供養之一。又稱以心供養、理供養。但於心中起供養之思,而不現於事實。亦即心中興起至誠之供養想。蘇悉地經卷中(大一八‧六一五下):「有四供養,遍通諸部,一切處用,一謂合掌,二以閼伽,三用真言及慕捺囉,四但運心。此善品中,隨方應作,或復長時供養中,最無過運心。如世尊說,諸法行中,心爲其首。若能標心而供養者,滿一切願。」同經又謂,欲行供養時,若乏花香根菓 者,可至心虛虔,合掌頂奉,而運心想,於想中以花菓等供養本尊,即可獲甚大之功德。〔大日經卷二入漫荼羅具緣真言品、阿娑縛抄卷七十三摩耶戒儀本運心供養條〕
vận tâm cúng dường
Chỉ sự suy nghĩ về việc cúng dường trong tâm chứ không hiển lộ ra ngoài—To carry the thought of offerings in mind, not to show it up.
vận tệ
5615(1614~1693)日本新義真言宗僧。大阪人,俗姓藤原。字元春,號泊如。十三歲出家,學於智積院、醍醐寺。後任尾張(愛知縣)長久寺與江戶圓福寺住持,且爲智積院第七代繼承人。精通漢文學,以講述性靈集著稱,大振學風。元祿六年九月示寂,世壽八十。著作甚多,計有大疏談義、三教指歸刪補、寶鑰纂解、釋論談義十餘種,另有詩文谷響集二十卷行世。〔泊如僧正傳、續日本高僧傳卷四〕
vận xấu
See Vận Đen.
vận đen
Bad luck—Ill fortune.
vận đỏ
Good luck—Good fortune.
vận độ
5614謂佛以大慈悲運載有情眾生,濟度生死海,到達涅槃之彼岸。安樂集卷上(大四七‧七下):「大慈悲爲本,恆擬運度爲懷。」
vận động
To move—To exercise.
vập
To run against.
vật
1) Đồ Vật: Thing. 2) Đấu Đô Vật: To wrestle. 3) Sự vật: Matter.
vật báu
Precious thing.
Vật Bộ Vĩ Dư
(物部尾輿, Mononobe-no-Okoshi, ?-?): vị đại Muraji của vương triều Khâm Minh Thiên Hoàng (欽明天皇, Kimmei Tennō, tại vị 539-571). Truyền thuyết cho rằng chính ông đã làm cho người đồng cấp với ông, Ōmuraji Đại Bạn Kim Thôn (大伴金村), phải mất chức, rồi phản đối Tô Ngã Đạo Mục (蘇我稻目, Soga-no-Iname, ?-570) trong việc chấp nhận đưa Phật Giáo vào Nhật Bản. Ông đã đem tượng Phật ném xuống sông Khuất Giang (堀江) và thiêu hủy chùa chiền.
vật chướng ngại
Barricade.
vật chất
3451即佛教所稱之色。色(梵 rūpa),有變壞及質礙(占有一定之空間,與他者不相容)二義。廣義之色,乃物質所有存在之總稱,即指物質之屬性、作用、能力等,相當於五蘊中之色蘊、五位中之色法。經論中對於色有諸種分法,據俱舍論卷一載,色包含五根、五境、無表色。狹義而言,指物質屬性中之顯色、形色、表色等眼根所取之境,相當於五境中之色境。 印度對物質要素之考察,始自遠古的梵書時代,而至奧義書時代始確立地、水、火、風四大爲物質構成之要素,或再加上空(虛空、空間),而成五大。且上述諸元素,尚能分析至極小不可分之分子(極微 para-māṇu)。俱舍、唯識兩宗採用四大說。密教採用五大說,復有更於五種物質要素(色法)之上,再加精神要素(心法)之識大,而形成六大說,以此說明構成萬有之要素。另外,就物的要素與心的活動間關係之闡釋,有六根、六境、六識(十八界)之說。
; Materials—Material objects
vật chất chủ nghĩa
Materialism
vật dùng trong việc thờ cúng
Caityaka (S), Object of veneration cetika (S), Caitya (S), Cetika (S).
vật dục
Carnal desire.
vật dụng
Item—Tool.
vật giới
The material world.
vật kị
3450指祭祀佛神前所做之預備行爲,如潔淨身心、謹慎飲食、不近諸穢等。然一般多流於迷信之作法。
vật liệu
Material.
vật lý
Physics
vật lý lượng tử
Quantum Physics
vật lộn
See Vật (2).
vật ngoại
3450<一>謂超越世間事物,而達於絕對之境界。楞伽師資記大通神秀章(大五一‧一二九○中):「禪師亦遠俗塵,神遊物外,契無相之妙理,化有結之迷途。」〔景德傳燈錄卷八〕 <二>(813~885)唐代天台宗十二祖。候官(福建閩縣)人,俗姓楊。初依廣修,習止觀。後爲眾講說,又自習不懈。唐宣宗大中年間,天下大饑,緇徒行乞艱難,師遂跏趺一室,妙入正定,並謂弟子曰(大四九‧一九○中):「汝若不死,至五穀登時,可擊磬引我出。」越歲餘,弟子如所教而行,果從定出。因號「正定尊者」。僖宗中和五年,示寂於國清寺,世壽七十三。葬於智者塔院之側。上首弟子如元琇、敬休、慧凝,皆傳道於世,以紹家學。〔佛祖統紀卷八〕 <三>(?~1351)日本臨濟宗鎌倉建長寺僧。號物外。法名可什。師事大應國師。元應二年(1320)來元,歷訪諸師。元德二年(1330)東返,入住崇福寺,又應鎌倉幕府之請,住建長寺。觀應二年(1351)示寂於天源庵。勅諡真照大定禪師。 <四>(1795~1867)日本曹洞宗僧。伊豫松山人,俗姓三木。字物外。法名不遷。十二歲出家,學修內外,且及劍術。十六歲遊大阪,晝行乞,夜讀書,耽於修禪。後得磨磚和尚知遇,從其至興聖寺,與京燦、回天等專心參究。後任備後御調郡栗原村濟法寺住持。慶應三年(1867),自大阪乘船歸濟法寺途中,疾發而寂,世壽七十三。師爲人精悍,禪餘,好武藝,精通擊劍、相撲(角力)、弓術、馬術、和歌、俳句、漫畫等。〔近世禪林言行錄〕
vật ngã
3451指我與物,亦即人、法,人、境。物,即客觀之境;我,即主觀之人。宋朝延壽冲玄(904~975)之註心賦卷三:「夫大乘法體,爲一爲多?(中略)若是多法,即非一體,非一體故,物我各別。」另「物我一如」同於「物我無差」,亦即「人境不二」、「人法一如」等意;概謂主觀、客觀本非對立,而同爲生命活動之要素。
; To throw down.
vật nài
To insist.
vật quái
3451肉體死亡後,靈魂從肉體分離,而繼續存在,能予人災害、疾病與恐怖;此多由人類之想像所建立之物怪。若行加持祈禱,則能除物怪之作祟。
Vật Sơ Đại Quán
(物初大觀, Mossho Taikan, khoảng giữa thế kỷ thứ 13): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, người Hoành Khê (横溪), Huyện Ngân (鄞縣), Phủ Khánh Nguyên (慶元府, Tỉnh Triết Giang), họ là Lục (陸). Ông thọ giới với Bắc Hải Ngộ Tâm (北海悟心) ở Đạo Tràng Sơn (道塲山) và kế thừa dòng pháp của Bắc Nhàn Cư Giản (北礀居簡). Vào năm đầu (1241) niên hiệu Thuần Hựu (淳祐), ông chuyển đến sống các nơi như Pháp Tướng Thiền Viện (法相禪院) ở Phủ Lâm An (臨安府, Tỉnh Triết Giang), Hiển Từ Thiền Tự (顯慈禪寺) ở An Cát Châu (安吉州, Tỉnh Triết Giang), Tượng Điền Hưng Giáo Thiền Viện (象田興敎禪院) ở Phủ Thiệu Hưng (紹興府, Tỉnh Triết Giang), Trí Môn Thiền Tự (智門禪寺) ở Phủ Khánh Nguyên, Giáo Trung Báo Quốc Thiền Tự (敎忠報國禪寺) ở Đại Từ Sơn (大慈山, Tỉnh Triết Giang), v.v. Hơn nữa, vào tháng 11 năm thứ 4 (1263) niên hiệu Cảnh Định (景定), ông đến trú tại Quảng Lợi Thiền Tự (廣利禪寺) trên A Dục Vương Sơn (阿育王山), và tận lực cử xướng Thiền phong Lâm Tế của Đại Huệ cũng như tiếp độ tăng chúng. Vào năm thứ 3 (1267) niên hiệu Hàm Thuần (咸淳), ông có viết lời tựa cho cuốn Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu (古尊宿語要) do cư sĩ Giác Tâm (覺心) san hành. Môn nhân ông biên tập cuốn Vật Sơ Hòa Thượng Ngữ Lục (物初和尚語錄) 1 quyển, ngoài ra ông có tập thơ Vật Sơ Thặng Ngữ (物初賸語) 25 quyển. Vào ngày 17 tháng 6 năm thứ 4 niên hiệu Hàm Thuần, ông thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi.
vật thí
Bố thí đồ vật, một trong ba loại bố thí—Almsgiving of things, one of the three kinds of almsgiving. **For more information, please see Tam Thí.
vật tướng
3451日本佛教用語。又作盛相、盛糟。即分配定量米飯之器具,或指盛裝佛飯之器具。〔雍州府志卷六、下學集卷下〕
vật vã
To throw oneself on the ground.
vật vờ
Wandering.
vật để bố thí
Dānavatthu (P), Object for a gift.
vậy
Then—Thus—Therefore—So.
vậy mà
Nevertheless—Yet.
vậy thì
Thus—Then.
vắn
Short.
vắn tắt
Short—Brief.
vắng
1) Deserted—Unfrequented. 2) Absent.
vắng bóng
See Vắng Mặt.
vắng lặng
Xem Tịch tịnh.
vắng mặt
Absence.
vắng ngắt
Bare of men.
vắng tanh
Quite deserted.
vắt
1) To squeeze—To crush out. 2) To hang—To suspend. 3) Trong vắt—Very clear—Limpid.
vắt khô
To squeeze dry.
vắt tay lên trán
To put the hand on the brow.
vặn
1) To turn—To wring—To twist. 2) To turn on or off (light).
vặn hỏi
To question someone closely.
vẹn
Complete—Perfect.
vẹo
Distorted.
vẹt
parrot.
vẻ buồn
Air of sadness.
vẻ khổ sở
Unhappy look.
vẻ mặt
Look—Countenance.
vẻ sung sướng
Happy look.
vẻ tư lự
Worried look.
vẻ vang
Glorious.
vẻ vui tươi
Gay appearance.
vẻ đài các
Noble air.
vẻ ảm đạm
Melancoly air (look).
vẽ chuyện
To make up a story.
vẽ vời
To invent.
vết
Trail—Trace—Track.
vết nhơ
Taint. Những lời Phật dạy về “Vết Nhơ” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Taints” in the Dharmapada Sutra: 1) Không tụng tập là vết nhơ của kinh điển, không siêng năng là vết nhơ của nghiệp nhà, biếng nhác là vết nhơ của thân thể và nơi ăn chốn ở, phóng túng là vết nhơ của phép hộ vệ—Non-recitation is the rust of incantation; non-repair is the rust of houses; sloth is the rust of bodily beauty; carelessness is the rust of the cultivator (watcher) (Dharmapada 241). 2) Tà hạnh là vết nhơ của người đàn bà, xan lẫn là vết nhơ của sự bố thí; đối với cõi nầy hay cõi khác, thì tội ác lại chính là vết nhơ—Misconduct is the taint of a woman; stinginess is the taint of a donor. Taints are indeed all evil things, both in this world and in the next (Dharmapada 242). 3) Trong hết thảy nhơ cấu đó, vô minh cấu là hơn cả. Các ngươi có trừ hết vô minh mới trở thành hàng Tỳ kheo thanh tịnh—The worst taint is ignorance, the greatest taint. Oh! Bhikshu! Cast aside this taint and become taintless (Dharmapada 243).
về
1) Thigh (đùi). 2) Rank (vai vế).
vệ
To protect—To escort—To guard—To defend.
vệ nguyên tung
6290北周時代益州(四川)成都人。精通陰陽曆算,且能文,性頗譎詐。年少時於益州野安寺從亡名禪師為沙彌,不耐清苦,佯為狂放,諸僧譏恥之,遂赴長安。天和年中(566~571),造作讖緯,預言世事。又倣效太玄經作「元包」一書十卷,另著有齊三教論七卷。武帝即位後,元嵩上書詆毀佛法,自此還俗,並與道士張賓進言廢毀寺院及僧尼,帝頗信重之,遂有毀法之舉。後不知所終。〔廣弘明集卷七、續高僧傳卷三十五、周書卷四十七、北史卷八十九〕
vệ sĩ độ
6290西晉惠帝(290~306 在位)時司州汲郡汲縣(河南)人。生卒年不詳。秉性安貧樂道,常思佛法。臨終之日,清淨澡漱,誦經一千餘言,後安詳示寂。譯有道行般若經二卷。〔出三藏記集卷十五〕
vệ thế sư
Vaisesika (skt)—Thắng Luận Tông—Vệ Thế Sư Ca—Một trong sáu phái triết học ở Ấn Độ, do Ca-Na-Đà sáng lập. Giống như phái Triết Học Tăng Kỳ, đây là phái đa nguyên luận duy vật và linh hồn không đứt đoạn. Họ phân biệt thành sáu thức—One of the six Indian schools of philosophy. An atomistic school founded by Kanada. Like the sankhya philosophy it taught a dualism and endless number of souls, also by its doctrine of particularity or individual essence. They distinguished in six categories of cognition: 1) Thực: Dravya (skt)—Bản thể—Substance. 2) Đức: Guna (skt)—Phẩm chất—Quality. 3) Nghiệp: Karma (skt)—Tác dụng—Activity. 4) Đồng: Samanya (skt)—Tính cộng thông hay cùng loại—Species. 5) Dị: Visesa (skt)—Sự khác biệt—Distinction. 6) Hợp: Samavaya (skt)—Tính cố hữu giữa các sự vật—Correlation.
vệ thế sư phái
Xem Thắng Luận phái.
vệ tắc tiết
6290梵名 Viśākha,巴利名 Vesākha。即月圓日之祭典。又作毘舍佉節、吠舍佉節、衛塞日(巴 Vesākhapūjā)。此日係衛塞月(巴 Vesākha-māsa)之月圓日,亦即古印度陰曆六月十五日。南傳佛教國家於此日盛大慶祝佛陀之誕生、成道、涅槃。如錫蘭(今斯里蘭卡)即以此節為最偉大之慶典,人民往佛寺禮敬、供養三寶,並持戒聽法;政府亦禁止殺生、賣酒,間或釋放囚犯;僧人則日夜說法,及念誦守護經以消災祈福。西元一九五○年,世界佛教徒聯誼會在錫蘭首都可倫坡舉行首屆大會,議決佛陀誕生於西元前六二三年,涅槃於西元前五四三年,成道於西元前五八八年;而南傳上座部佛教徒認為佛陀降生、成道、涅槃皆在陽曆五月月圓日,故此三個節日之匯集節慶,即稱衛塞節。又因同時紀念三事,故稱三期同一慶。一九五四年,世界佛教徒聯誼會於緬甸首都仰光召開第三次會議,議決將衛塞日定為世界佛陀日,以此一節日顯示佛陀自覺、覺他、覺行圓滿之智慧光輝照耀全球;並藉以發揚佛陀慈悲平等之教義,倡導世界和平。〔佛陀的年代及三期同一慶(陳少英,無盡燈季刊第四十八期)〕
vệ đà
Veda (S)Phệ đà, Tiết đà luậnKinh điển của Bà la môn có 4 bộ kinh luận chủ yếu: - Tiết đà (Rig-veda) = Thọ minh: giải thích về số mạng, dạycách bảo tồn thiện pháp, cách giải thoát. - Dã thọ Tiết đà (Yajur-veda) = Tự minh: dạy việc tế tự, cầu đảo chư thiên chư thần... - Sa ma Tiết đà (Sama-veda) = Bình minh: dạy cách chiếm quẻ, binh pháp, việc ở đời, phép ở đời... - A đạt Tiết đa (Atharva-veda) = Thuật minh: dạy kỹ thuật như toán, y...
vệ đà lục luận
Veda-anga (S), Supplementary texts of Vedas Gồm: Thức xoa luận, Tỳ già la luận, Kha bạt la luận, Thục để sa luận, Xiển đà luận, Ni lộc da luận.
vệ đằng tức ứng
6290(1888~1958)日本佛教學者。大分縣人。畢業於曹洞宗大學、京都大學,後又留學西歐,帶回宗學研究之新風氣。歷任曹洞宗大學教授、駒澤大學教授及校長。著有宗祖としての道元禪師、國譯一切經華嚴經之日譯、大乘起信論講義等。
Vệ-thế-sư
phiên âm từ Phạn ngữ là Vaiśeṣika, cũng đọc là Tỳ-thế-sư hay Phệ-thế-sử, Hán dịch là Thắng luận (勝論), một trong các bộ luận rất nổi tiếng của ngoại đạo thời đức Phật.
Vệ-xá-li
S: vaiśālī; P: vesāli; Hán Việt: Phệ-xá-li (吠舍釐), Tì-da-li;|Thành phố quan trọng trong thời Phật còn tại thế, cách thành phố Patna ngày nay khoảng 40 km, nằm giữa sông Hằng và dãy Hi-mã-lạp sơn. Ðây là kinh đô của dòng Licchavi, thuộc liên minh Bạt-kì (p: vajjī), là nơi vua A-xà-thế định tấn công. Phật Thích-ca đã nhiều lần thăm viếng Vệ-xá-li, là nơi nàng Am-ba tặng Phật một vườn trái cây để an nghỉ với tên Am-la thụ viên (p: āmravāna). Phật đã thuyết nhiều bài kinh quan trọng tại đó. Vệ-xá-li là nơi Kết tập lần thứ 2 năm 386.|Năm 1958 người ta tìm thấy tại đây trong một tháp cũ, một bình nhỏ đựng di cốt, tro và nhiều vật dụng. Có thể đây là phần Xá-lị của Phật được chia cho dân Licchavi.
Vị
味; C: wèi; J: mi;|Có các nghĩa sau: 1. Mùi vị, hương vị; 2. Nếm; 3. Độ nghiêng, khuynh hướng; 4. Cảm giác, không khí; 5. Lí lẽ, ý nghĩa.
; 位; C: wèi; J: i;|1. Địa vị, tầng lớp, vị trí, mức độ, chỗ ngồi, thế. Giai vị (s: daśā, avasthā); 2. Đặt vào vị trí, đặt vào một chỗ nhất định; 3. Địa thế, trường hợp; 4. Giai vị chứng đạo; 5. Địa vị của người thống trị.
vị
3110梵語 rasa,巴利語同。依感覺器官或感覺機能(即五根),所得知對象(五境)之一。即由舌根所嘗之味,亦即舌根所受用之境。乃十二處之一,十八界之一,七十五法之一,百法之一。味之種類,諸說有異,如品類足論卷一,將味分爲可意、不可意、順捨等三種。法蘊足論卷十,分味爲根、莖、枝、葉、花、果、食、飲、諸酒、苦、酢、甘、辛、鹹、淡、可意、不可意、順捨等十八種。大毘婆沙論卷十三、俱舍論卷一等,將味分爲甘、醋(又作酢、酸)、鹹、辛、苦、淡等六味。六味之外另加澀、不了,稱爲八味;六味中,若除去淡味,則爲五味。 大乘阿毘達磨雜集論卷一,以上述之三味、六味,再加俱生、和合、變異等成爲十二種味。此外,攢搖牛乳而有乳、酪、生酥、熟酥、醍醐等五味之分別。須彌山之七內海,及淨土之浴地等,其水有甘、冷、軟等八味。具足多種之好味,稱百味之飲食。又愛樂於正法而產生殊妙之味,稱爲法味,或禪味。於涅槃悟境所具足之常、樂、我、淨四德,可開演爲八味,即常、恆、安、清淨、不老、不死、無垢、快樂等,此稱八功德水,又稱八味水。 另依北本大般涅槃經卷十四載,佛陀說法之順序,由廣說至要略可分爲五階段,乃以牛乳之乳、酪等五味比喻層層進階之境界。天台宗則將釋尊一代之教說,分爲華嚴時、鹿苑時、方等時、般若時、法華涅槃時等五時,以之配合乳、酪等五味,闡釋佛陀說法之順序與內容。〔順正理論卷一、瑜伽師地論卷一、卷三、大毘婆沙論卷一二七、大乘義章卷八末〕(參閱「五時八教」1132)
; Not yet, the future.
; 1) Vị: Rasa (skt)—Một trong sáu giác quan—Taste—Flavour—The sense of taste, one of the six senses. 2) Chưa: Not yet—The future. 3) Thiên Vị: Partial. 4) Giờ Mùi: Tứ 1 PM đến 3 PM—From 1 PM to 3 PM. 5) Ngôi vị: Position—Seat—Throne.
vị bài
Tấm thẻ bài ghi lại hồ sơ của một viên quan—The board or record of official position.
vị bất thoái
Một trong ba “Bất Thoái” (Bồ Tát từ ngôi thập trụ trở lên, không còn thoái chuyển đọa xuống hạ giới phàm phu hay lưu chuyển trong ác đạo nữa)—One of the three kinds of “never receding.” (non-backslidings or non-retreats). ** For more information, please see Tam Bất Thối Chuyển.
vị bổn sư
tsa way lama (S), Root lama, tsa way lama (T).
Vị chí
未至; C: wèizhì; J: mishi;|Viết tắt của Vị chí định (未至定).
Vị chí định
未至定; C: wèizhìdìng; J: mishijō; |Công phu tu tập chuẩn bị để thể nhập vào định Sơ thiền (初禪定).
vị chí định
1935請參閱 未生怨經 梵語 anāgamya-samādhi。又作未到定、未到地。於色界四禪定中,即將發得初禪定之前的準備修行之定,稱為未至定。因取其尚未至根本定之義,故稱未至定。色界之四禪定與無色界之四無色定,每一禪定之自體皆稱為根本定,每一根本定之前有準備階段之近分定,故自斷欲界之修惑所發之禪定(初禪之根本定),乃至斷無所有處之修惑所得之禪定(非想處之根本定),共有八根本定,又由伏滅欲界煩惱而發得近似初禪根本定之禪定(初禪之近分定),乃至伏滅無所有處煩惱而發得近似非想處根本定之禪定(非想處之近分定),共有八近分定。然在八根本定與八近分定中,唯有初禪之近分定與其他近分定有相異之處,故立別名,特稱為未至定。(參閱「近分定」3517)
Vị cư
位居; C: wèijū; J: ikyo;|Trú xứ, nơi cư ngụ.
Vị cảnh
味境; C: wèijìng; J: mikyō; S: rasa-visaya.|Một trong 5 loại trần cảnh (vị trần, đối tượng nhận biết của giác quan). Đối tượng của vị giác được nhận biết bởi thiệt thức.
vị cảnh
Rasa-visaya (S).
vị danh
For fame or honour.
vị dục
Sự ham muốn mùi vị—The material or medium of sensation—The sensation taste or taste desire, hankering after pleasure of food, etc, the bond of such desire.
vị dục địa
Xem Bạc Địa.
vị dục, vị trước
The taste-desire, hankering after the pleasures of food, etc.
vị giác
Rasa (S), Sayāna-kicca (P), Taste,Function of tasting.
; Organ of taste.
vị hiển chân thật
1938謂世尊從成道時起,至說法華經為止,凡四十餘年間,在法華經以前所說諸經皆為方便權教,未顯真實,至說法華經時,始宣說真實之教。(參閱「四十餘年未顯真實」1646)
vị hiển chân thực
Vị Khai Hiển. 1) Chưa nói rõ pháp chân thực: The unrevealed truth. 2) Chân lý chỉ được Đức Phật nói rõ trong Đại Thừa Viên Giáo—The Truth only revealed by the Buddha in his final Mahayana doctrine.
Vị hữu
未有; C: wèiyŏu; J: miu; |Không hiện hữu; chưa bao giờ có; chưa từng có. (s: abhāva, abhūtvā, vinā; t: med pa)
vị kim cương
3111梵名 Rasa-vajra。又作金剛味菩薩。相當於密教金剛界曼荼羅理趣會之鈴菩薩,居於外院之北門。據不空三藏之「十七尊義述」所載,金剛味菩薩以味清淨智,持瑜伽三摩地無上法味,以爲歡樂之事,故持鈴爲印契。又鈴有說法、歡喜之意,表示法喜禪悅:而美味最令人歡喜,猶如法喜禪悅,故以「味」爲鈴菩薩。其真言爲:唵(oṃ)嚩日囉(vajra,金剛)囉細(rase,味)穀(hoḥ,歡喜之種子)。手印爲通常之四明印,即二拳相背,二小指、二食指鉤結,二食指之面相合。
vị kỷ
Selfish—Egoistical—For self.
Vị lai
未來; C: wèilái; J: mirai; S: anāgata. |Thời gian chưa đến; tương lai, thế hệ kế tiếp, thời đại tiếp theo.
vị lai
1935梵語 anāgata,巴利語同。三世之一。又作當來、將來、未來世(梵 anāgatādhvan,巴 anāgataddhan)。即未起作用時之法,如事物之作用、眾生之果報等之當來而尚未來者。 一切有為諸法之生滅變化過程可分三種時限,即過去世、現在世、未來世三世,略稱過去、現在、未來,或過現未。此係就現在之一剎那為中心,及其前後,而立為三世。另有就一個人之現世、前世、來世,而說三世。或以劫為單位,建立三世者。茲就「現在即是一剎那」之說,以法之作用為衡量標準,謂未起作用時之法,稱未來法;現在正起作用者,稱為現在法;而已起作用者,則稱過去法。又無論就時間或諸有為法之體性而言,「未來」本無邊際,然為言詮思辨之方便,遂假說為有邊際,即稱盡未來際。〔集異門足論卷三、大毘婆沙論卷七十六、卷七十七、俱舍論卷二十、瑜伽師地論卷五十一、卷五十二、大乘阿毘達磨雜集論卷三〕(參閱「三世」536)
; Anāgata (S).
; Anagata (skt)—Đương lai—The future—That which has not come or will come.
vị lai thế
1) Đời Tương Lai—A future life or lives. 2) Thời Vị Lai: The future tense.
vị lai tinh tú kiếp thiên phật danh kinh
Wei-lai hsing-hsiu-chieh ch'ien-fo-ming ching (C)Tên một bộ kinh.
vị lai tạng
Anāgata kośa (S).
vị lai, đương lai
Anàgata (S). That which has not come, or will come; the future, e.g. vị lai thế a future life, or lives; also the future tense, one of the tam thế, i.e. quá past, hiện present, vị future.
Vị li dục
未離欲; C: wèilíyù; J: miriyoku; |Trạng thái chưa tự tại đối với sự ham muốn (s: avītarāga). Trong Du-già sư địa luận, giai đoạn nầy tương đương với quả vị Dư lưu, và là giai vị đầu tiên trong ba quả vị li dục (Tam li dục 三離欲).
vị li dục giả
1938指未離欲之人。即尚未斷欲界修惑者。反之,已離欲界修惑者,稱為已離欲者、已離欲人。未離欲者之中,唯斷盡欲界之見惑者,稱為未離欲聖者;即指已斷三界之見惑,而未斷欲界修惑之預流果、一來果之聖者。已離欲者有凡夫與聖者二種之別,前者為在凡夫位修有漏六行觀,已斷欲界之修惑者,其入於見道即成為不還向之聖者;後者於入見道以後斷欲界之修惑,成為不還果以上之聖者。
vị liễu nhân
The karma of past life not yet fulfilled.
; Nghiệp chưa dứt trong quá khứ—The karma of past life not yet fulfilled.
vị lợi
For gain, or profit.
vị ngã
See Vị kỷ.
vị nhân tất đàn
5146全稱各各為人悉檀。四悉檀之一。佛化導眾生之教法可分四個範疇(即四悉檀),為人悉檀乃佛應眾生之根機與能力不同,而說各種出世實踐法,令眾生生起善根,故又稱生善悉檀。〔大智度論卷一〕(參閱「四悉檀」1758)
vị nể
To have regard (respect) for someone.
vị phu liên hoa
1937乃半開而即將盛開之蓮華。「未敷蓮華合掌」則係密教基本印母十二合掌之一,呈現蓮華未開而將開之形,作二掌相合而中虛空且稍穹窿狀,又稱未開蓮合掌、如來開蓮合掌。(參閱「十二合掌」336)
; Cánh sen chưa nở hết, như bông sen mà Phật Quán Âm cầm trong tay—A half-opened lotus, such as one of the forms of Kuan-Yin holds in the hand.
vị phát bồ đề tâm thụ kí
1937請參閱 未曾有正法經 請參閱 未曾有正法經 乃四種授記之一。謂尚未發菩提心Y授與成佛之預記。蓋有眾生往來五道,諸根猛利,好樂大法,雖然尚未發起菩提心,但佛預知其經若干阿僧祇劫必成無上菩提,故先授予成佛之記莂,即稱為未發菩提心授記。(參閱「四種授記」1812)
Vị phân
未分; C: wèifēn; J: mibun; |Không khác biệt; chưa bị phân biệt; chưa bị tách rời.
vị quan
See Vị giác.
vị quá hiện
Future, past and present.
Vị sanh oán
kẻ oán thù từ lúc chưa sanh, dịch nghĩa từ Phạn ngữ Ajtaśatru, phiên âm là A-xà-thế, sau là vương hiệu khi thái tử Thiện Kiến lên ngôi.
vị sanh oán
Xem A xà Thế.
; 1) Không có kẻ thù: Having no enemy. 2) Tên Vua A Xà Thế: Name of King Ajatasatru.
vị sanh oán kinh
Vị Sanh Oán Kinh diễn tả lại việc Vua A Xà Thế giết hoàng phụ là vua Bình Sa Vương—“Having No Enemy” Sutra, describing King Ajatasatru's murdering of his father, King Bimbisara.
vị sinh oán
Ajatasatru (S). Xem A xà thế.
vị sinh oán kinh
1935全一卷。三國時代吳‧支謙譯。收於大正藏第十四冊。又作未生冤經。內容係敘說佛陀在世時,中印度摩揭陀國之頻婆娑羅王為其子阿闍世(未生怨)太子所害之史實。頻婆娑羅王於受幽禁期間,欣喜佛陀之教法,雖受幽禁,然對於阿闍世之惡行亦不慍怒。〔歷代三寶紀卷五、大唐內典錄卷二、古今譯經圖紀卷一、開元釋教錄卷二〕
vị tha
Self-forgetfulness (n)—Altruistic (a)—Altruism (n)—Cherish other (v)—Vị tha hay làm vì người khác là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta không đổ thừa đổ lỗi cho người—Altruism or working for the sake of others is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we do not blame others.
vị thầy tâm linh
Good Spiritual Advisor.
vị thọ cụ nhân
Vị sư chưa thọ cụ túc giới (theo giáo luật, vị sư chưa thọ cụ túc giới thì không thể thuyết giới)—A monk who has not yet fully pledged himself to all the commandments.
Vị Trung Tịnh Phù
(位中淨符, Ichū Jōfu, ?-?): xem Bạch Nham Tịnh Phù (白巖淨符) bên trên.
vị trí
Position.
vị trần
Taste-dust; one of the six "particles" which form the material or medium of sensation.
; Rasarammana (p)—Vị trần, một trong lục trần—Taste-dust, one of the six particles which form the material or medium of sensation.
vị tông tự
5443位於察哈爾多倫諾爾(Dolon nor)之北端。又稱爲東廟、黃寺。據大清一統志卷四○九之二載,康熙三十年(1691),喀爾喀諸部爲噶爾丹所破,來降清朝,聖祖於巡察蒙古之際,遂集喀爾喀七部、四十八旗於此地,賜宴引見,遂應各旗之請,建立此寺,寺名並寓四十八旗朝宗之意。此寺創建以來,第十四世章嘉呼圖克圖阿噶旺羅布桑卻拉丹(藏 Ṅagdbaṅ blo-bzaṅ chos-ldan)應請住持,乃於內外蒙宏揚黃教,其後之十六世、十七世、十九世章嘉呼圖克圖均同時住持本寺與善因寺。原寺於嘉慶元年(1796)燒燬,現存建築物爲後世再建者。寺領以圍牆環繞,內有眾多佛倉及若干官倉,其中以章嘉呼圖克圖倉最爲壯觀,除安置諸佛、菩薩像外,並藏有佛畫八十幅。〔內蒙黃教調查記(天純)、蒙藏佛教史(妙舟)、滿蒙の喇嘛教美術解說(逸見梅榮、仲野半四郎)〕
vị tương ưng
1935請參閱 懸記 為「已相應」之對稱。謂修行者之心未與其真如之自體、業用相互薰習,或謂修行者未與諸佛之自體、業用相應。於佛教各種「薰習」說中,大乘起信論主張真如與無明互為薰習,並以染法薰習與淨法薰習大別此說,於淨法薰習中,又分為妄心薰習與真如薰習兩種。真如薰習,即指真如淨法自能薰習眾生之心;就其作用而言,又可別為自體相薰習、用薰習。為闡明真如薰習之自體相薰習與用薰習,乃就未相應、已相應二門加以區別,其中未相應者,指菩薩修行階位中,初地(乾慧地)以前,即凡夫、二乘及三賢(十住、十行、十迴向)之菩薩等,依於信力,雖能修行,但尚須於具有分別事識之染妄心位中薰習,此因未得無分別智(即根本智),故與真如之自體不相應,由是乃無真如之自體相薰習;又因未得後得智(為一種善能鑒照諸法差別之智),故與真如之業用不相應,由是乃無真如之用薰習。此外,大乘起信論義記卷下本謂,修行者因未得根本智,故與諸佛自體不相應;又因未得後得智,故與諸佛自在之業用不相應。
vị tất
Not necessarily.
Vị tằng hữu
xem A-phù-đà-đạt-ma.
; 未曾有; C: wèicéng yŏu; J: misōu; |1. Không bao giờ, chưa bao giờ. Chưa từng có bao giờ, từng thấy, từng trải qua; chưa từng xảy ra; chưa từng có bao giờ…; hiếm, bất thường; 2. Trong kịch nghệ và mỹ học Ấn Độ, có một loại thơ gọi là adbhuta, nghĩa là »ngạc nhiên«, hoặc »tôi chưa từng bao giờ…« Do kinh Phật là điều chưa từng thấy trên thế gian, nên thuật ngữ nầy trở nên được dùng như một thuật ngữ chỉ cho 12 thể loại trong kinh văn Phật giáo. A-phù-đạt-ma (阿浮達磨), là sự giải thích những biểu hiện mầu nhiệm của Đức Phật hay của các vị Bồ Tát. Còn được dịch là Hi pháp (希法), Thắng pháp (勝法), Kì đặc pháp (奇特法), Vị tằng hữu pháp (未曾有法), Vị tằng hữu kinh (未曾有經) và phiên âm là A-phù-đà Đạt-ma (阿浮陀達磨), A-phù-đa Đạt-ma (阿浮多達磨), Át-phù-đà Đạt-ma (頞浮陀達磨), và A-phù-đạt-ma (阿浮達磨).
vị tằng hữu
1936梵語 adbhuta-dharma,巴利語 abbhuta-dhamma。譯為希法、勝法、奇特法、未曾有法、未曾有經。音譯為阿浮陀達磨、阿浮多達磨、頞浮陀達磨、阿浮達磨。乃原始佛教經典基本型態之一。佛陀入滅以後,弟子們取佛陀之言行,依其性質,類集為九部經或十二部經;「未曾有」即為九部經之一,亦為十二部經之一。乃在經典中記錄有關佛之神祕不可思議,種種向所未有之奇特境界,或讚歎佛之偉大功德者。例如佛陀誕生時,其身放大光明,燭照三千大千世界及幽闇之處,復照十方無量諸佛之三千大千世界。其時於佛母前有清淨之池,以浴太子。又有梵王執蓋、帝釋洗身、二龍吐水等無量希有之事,凡此種種,皆稱為未曾有經。另據成實論卷一載,舉凡劫盡之大變異事、諸天之身量、大地之震動等不可思議之事,皆為「未曾有經」所記載者,並不限指佛之不可思議事。又瑜伽師地論卷八十一載,宣說「未曾有法」之人,有如來、聲聞弟子、在家居士等三種之別。〔北本大般涅槃經卷十五、大毘婆沙論卷一二六、顯揚聖教論卷六、卷十二、大乘義章卷一〕(參閱「十二部經」344)
; AdbhŪta (S), Wonderful.
; Adbhuta (S). Never yet been, non such, rare, marvellous. Also hi hữu.
; Hy hữu—Adbhuta (skt)—Never yet been—Rare—Marvelous—Non-such.
vị tằng hữu chánh pháp kinh
Bản dịch mới của Kinh A Xà Thế Vương do Pháp Thiên đời Tống dịch ba quyển—A Sung translation of the Ajatasatru-Kaukriyavinodana, three books.
vị tằng hữu chính pháp kinh
1936凡六卷(或三卷)。宋代法天譯。為阿闍世王經之新譯本。又作未曾有經、未曾經。收於大正藏第十五冊。本經敘述阿闍世王曾幽禁其父,欲致之死。後悔悟其弒逆之罪行,故求佛救度。佛陀乃與文殊等諸菩薩為之講說無污、無著、無畏、無想、無願等般若空之旨。 又本經之同本異譯有:(一)阿闍世王經。凡二卷。東漢支婁迦讖譯。(二)放鉢經。全一卷。西晉時代譯,譯者佚名。本經相當於文殊支利普超三昧經之舉鉢品。(三)文殊支利普超三昧經。凡三卷或四卷。西晉竺法護譯。又作普超三昧經、普超經、阿闍世王經。以上三經皆收於大正藏第十五冊。〔出三藏記集卷二、卷三、古今譯經圖紀卷一、開元釋教錄卷一、卷二、貞元新定釋教目錄卷一、卷四〕
vị tằng hữu hi pháp
Xem A phù đạt ma.
Vị tằng hữu kinh
未曾有經; C: wèicéngyŏu jīng; J: misōu kyō; |Chưa từng trải qua; chưa từng xảy ra; hiếm có, bất thường (s: adbhuta). Một trong 12 thể loại trong kinh Phật. Vị tằng hữu (未曾有).
vị tằng hữu kinh
Xem Kinh Vị tằng hữu pháp.
; Adbhutadharma-paryàya (S). One of the twelve divisions of the Canon.
; A Phù Đạt Ma—Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên, một trong mười hai bộ kinh Đại thừa (ghi lại Phật và Bồ Tát thị hiện vô số thần lực bất khả tư nghì)—Adbhutadharma-paryaya (skt)—One of the twelve divisions of the sutras.
vị tằng hữu nhân duyên kinh
1937又作未曾有經。<一>全一卷。東漢時代譯。譯者佚名。收於大正藏第十六冊。未曾有,意指如來之善根功德廣大、希有。本經旨在闡明建造佛塔及佛像之功德無量。又本經與梁代真諦所譯無上依經之校量功德品為同本異譯。 <二>凡二卷。南齊曇景譯。收於大正藏第十七冊。內容敘述佛遣目犍連至迦毘羅城,說服耶輸陀羅,令其子羅睺羅出家;及佛陀為波斯匿王與群臣宣說聽法之功德,為四石女闡說業報,為祇陀王子說五戒開遮之方便等。並將此經付囑阿難,令其宣布教化,以度眾生。〔歷代三寶紀卷十一、大唐內典錄卷四、古今譯經圖紀卷四、開元釋教錄卷六、貞元新定釋教目錄卷八〕
Vị tằng hữu pháp
未曾有法; C: wèicéngyŏu fă; J: misōu hō; |Chưa từng trải qua; chưa từng xảy ra; hiếm có, bất thường (s: adbhuta; adbhuta-dharma); Vị tằng hữu (未曾有).
vị tằng hữu pháp
AdbhŪta-dharma (S), Collection of the Description of marvellous phenomena Vị tằng hữu pháp, A phù đà đạt ma, Hy phápKinh văn nói về thần lực của Phật và thánh tăng.
vị văn ích
1937即未聞之利益。指希有勝妙之利益。善導觀無量壽佛經疏中多用此語指觀經之利益。如序分義中載,天王眾等,見佛世尊隱王宮,必說希有之法,彼等天人以韋提希之因,故得聽未聞之益。定善義中亦謂,更開三福之因,以作未聞之益。散善義謂,聞所未聞,見所未見。
vị vị lai thế kinh
5146即觀無量壽經。因此經非為佛陀在世時之上根而說,乃為佛陀滅度後未來世之一切眾生而說,故稱為未來世經。此經乃佛陀應中印度摩揭陀國韋提希夫人之請而宣說淨土往生之法。夫人依佛力選擇西方淨土為其往生之處。(參閱「觀無量壽經」6967)
vị vị uyển nhiên
2600指曹洞宗所說之「偏正五位」,其一一之位,明瞭清晰,不相混亂。宛然,乃明瞭之意。偏正五位即正(平等)中偏(差別)、偏中正、正中來、偏中至、兼中到,乃曹洞宗之祖洞山良价所立,用以表示平等即差別、理事圓融無礙之究極世界,後於禪林中廣為流傳。其正偏之五位,各有特色又相互融攝,故雖別為五,然五位唯一,而於各各之位又歷然清晰,毫不互為混淆。
Vị xả ác kiến yết-ma
(未捨惡見羯磨), cũng gọi là ác kiến bất xả yết-ma, vị tỳ-kheo có tội vì không dứt bỏ được tà kiến, tin rằng ái dục không ngăn cản sự tu đạo (thuyết dục bất chướng đạo), nên phải chịu phép yết-ma này, không được sống chung trong tăng chúng.
vị đà
Arbuda (skt)—100 or 10 million.
vị đáo
Vị Trí—Chưa đến—Not yet arrived or reached.
vị đạo
Đạo vị—The taste or flavour of Buddha-truth—Tasting the doctrine.
vị đắc vị đắc
1936指未得聖法而謂已得,由此而起慢心,為一種增上慢之心。其同類用語尚有未見謂見、未知謂知、未獲謂獲、未觸謂觸、未證謂證等,經論中常以此類用語形容尚未完成修行境地,卻生起自大自是的傲慢心之修行人。法華經卷一方便品(大九‧七上):「增上慢,未得謂得,未證謂證。」〔十誦律卷二、品類足論卷一辯五事品、大乘義章卷五末〕(參閱「慢」5812、「增上慢」5965)
vị đắng
Bitterness.
vị đẳng chí
Asvadana-samāpatti (S).
vị định
3110梵語 āsvādana-samādhi, āsvādana-samāpatti。又作味等至。味,有執著、耽溺、玩味之意。指執著於諸欲、諸禪,而與愛味相應之禪定;亦即鈍根貪行之人,對禪定靜慮功德之味著。乃相對於淨定、無漏定而稱。通常以之爲外道凡夫禪定之貶稱。又味定存在於未定至(欲界定)中,即於四禪、四無色,及初禪以前之階段。此外,玩味於佛道,稱爲味道。〔俱舍論卷二十八、三論玄義〕
vọ thượng giác
See Vô Thượng Bồ Đề.
vọc
To play with—To amuse oneself with—To dabble.
vọng
MŪṣa (S), Mṛṣa (S), Mṛṣā (S), Musā (P)Hư dối.
; Mithyà (S). False, untrue, erroneous, wild.
; 1) Hy vọng: Hope—To expect. 2) Không thật: Vitatha (p & skt)—Untrue—False—Unreal—Futile—Vain. 3) Nhìn về: To look at, or for. 4) Tiếng vọng: To sound-To echo. 5) Vọng ngữ: Lying—See Nói Dối, and Nói Lời Đâm Thọc.
vọng chấp
2340謂違背緣起之理,而迷妄的執著實我、實法或假名言相。亦即顯現我執、法執之相。大乘起信論(大三二‧五七七上):「計名字相,依於妄執,分別假名言相故。」又(大三二,五五七中):「計我、我所種種妄執。」 依唯識宗所說,我執、法執有分別起與俱生起二種:(一)分別起之我執與法執,係受邪教及邪師等說之影響,由後天而起,乃吾人經驗上的意識現象之領域,故此類妄執易斷。(二)俱生起之我執與法執,乃吾人生起分別意識以前本來具有者,即無始以來,為執著我、法之虛妄所薰習而與生俱來者,此乃真正之妄執。 俱生起之我執與法執其「相續」分為間斷、無間斷二種。前者屬現象的意識作用之第六意識,後者屬於較第六意識更微細之第七末那識,故末那識為妄執之根源,亦即其當體。末那識最顯著之作用,係以阿賴耶識之見分為對象,於見分生起我相及自心相,以此執著實我、實法。其本質為我癡、我見、我愛、我慢等。又於末那識所起之我執與法執極微細而難斷,若多修習殊勝之生空觀、法空觀則能斷除。
; False tenets, holding on to wrong views.
; Quan niệm chấp trước hay cố giữ lấy không lìa bỏ hư vọng—False tenets—Holding on to false views.
vọng chứng
False witness.
vọng cáo
To accuse falsely.
vọng cảnh giới
Vọng tâm xuất hiện nên mới có cảnh hư vọng (vọng cảnh nầy chính là mọi hiện tượng, mọi sự vật trên thế gian nầy)—False environment—The unreal world.
vọng duyên
2343指虛妄不實之緣。金剛般若波羅蜜經破取著不壞假名論卷下謂(大二五‧八九六下):「有為諸法,亦復如是,體性本空,從妄緣有,有緣既散,還復歸無。」又內在、外在之事物(緣),係眾生生起妄情之緣由,故亦稱妄緣。景德傳燈錄卷九古靈神贊章(大五一‧二六八上):「靈光獨耀,迥脫根塵,體露真常,不拘文字;心性無染,本自圓成,但離妄緣,即如如佛。」
; The unreality of one's environment; also the causes of erroneous ideas.
; Duyên là những sự vật trong và ngoài có quan hệ với thân ta, tất cả những cái đó đều là hư vọng cả. Chính những thứ đó là đầu mối tạo ra những tư tưởng sai lầm—The unreality of one's environment—The causes of erroneous ideas.
vọng kiến
Mithya drsti (S). False views (of reality), Wrong views.
; Sự hư vọng phân biệt không đúng với sự thật, cho những thứ hư giả là thực—False views of reality—Taking the seeming as real.
vọng kế tự tính
Prabhedanayalakshana or Parikalpita (skt)—Sự tưởng tượng—Imagination—Khía cạnh của sự đặc thù sinh khởi từ sự tưởng tượng sai lầm—The aspect of individuation arising from false imagination—See Tam Tự Tính Tướng (1).
vọng liêu
4623禪林職稱。為候補副寮之職。輔佐寮主之職,稱為副寮,即作點檢寮內之掃除及道具之有無等事。副寮若缺,望寮一職即可轉上而候補之,故稱望。備用清規卷七列項職員條(卍續一一二‧五七上):「望寮之職,先輩深有意焉。」〔僧堂清規卷五〕(參閱「眾寮」4753)
vọng nguyệt hoan hậu
4622(1881~1967)日本佛教學者。畢業於日蓮宗大學。曾任立正大學教授。著有觀心本尊鈔講義、法華經講話等。世壽八十七。
vọng nguyệt phật giáo đại từ điển
4622為日文之佛教辭典,十六開本,凡十冊。第一冊至第七冊為望月信亨主編,歷時三十年,完成於一九三六年。八至十冊為補遺,先後由望月信亨、塚本善隆主編,完成於一九六三年。其中第六冊為佛教大年表,第七冊為索引,其餘皆為辭典本文。其中所收佛教教義、人物、名相、歷史等條目,廣引經典原文,詳加解釋。所附佛教大年表則自釋迦牟尼佛至今,依年代分欄記載印度、中國、日本等國之佛教史實,年代分帝紀、佛紀、公元,所記事項皆注明出處(書目、卷數),查閱簡便而詳實。此一辭典在綜合性之佛教辭典中篇幅最大,引用之資料最多,所列舉之參考書目亦最為詳盡,故頗為世界各國研究佛教者所重用。尤其對佛教之專業研究者,裨益最大。
vọng nguyệt tín hanh
4622(1869~1948)日本佛教學者。新潟縣人。先後修學於淨土宗大學、比叡山。歷任淨土宗高等學院教授、大正大學教授、校長。曾參與淨土宗全書、大日本佛教全書之編輯。更自明治三十九年(1906)至昭和十一年(1936),凡三十年,編纂佛教大辭典一部與佛教大年表,成為研究佛學不可或缺之工具書。其餘著作有淨土教の起原及發達、支那淨土教理史等書。
vọng ngã
Illusory ego, in contrast with the real or nirvana ego (chân ngã).
vọng ngã chấp
The wrong ego-attachment.
vọng ngôn
Vọng thuyết—False words or talk—Lies.
vọng ngôn, vọng thuyết
False words, or talk; lies.
vọng ngữ
2343十惡之一。又作故妄語、虛妄語、虛誑語、妄舌、虛偽、欺。特指以欺人為目的而作之虛妄語。妄語戒為五戒、十戒之一。據四分律卷十一所載,妄語為波逸提(必須向眾僧懺悔之罪),此係小妄語(虛偽不實);另據同書卷二載,未至菩提而妄言得菩提(即妄稱證得佛道)者,即犯波羅夷(為教團驅逐之大罪),此係大妄語(未得言得,未證謂證)。此外,據大智度論卷十三載,犯妄語戒而無慚愧心者,自斷於至涅槃及生天之道,並有口氣臭、善神遠離等十種罪過,此稱為妄語十罪。〔雜阿含經卷三十三、優婆塞五戒相經、瑜伽師地論卷五十四、順正理論卷三十六、大智度論卷十四、大乘義章卷七、卷十二〕(參閱「律」3789)
; Mṛṣāvāca (S), Musāvāca (P), Micchāvāca (P), Mithyāvacā (S), Musāvado (P)Hư cuống ngữ, Vọng ngôn, Hư vọngXem Vọng ngữ.
; Mithya màrga (S). Wrong speech.
; Vitatha-vac or Vitatha-vadin (skt). • Lời nói giả dối để phỉ báng, khoe khoang hay lừa dối người khác—False (nonsense or transgression) speaking—lying (either slander, false boasting, or deception). • Theo Kinh Pháp Cú, câu 306, Đức Phật dạy—According to the Dharmapada Sutra, verse 306, the Buddha taught: “Thường nói lời vọng ngữ thì sa đọa; có làm mà nói không, người tạo hai nghiệp ấy, chết cũng đọa địa ngục—The speaker of untruth goes down; also he who denies what he has done, both sinned against truth. After death they go together to hells.”
vọng nhiễm
2340即煩惱。妄,謂虛妄不實;染,謂染污不淨。指一切不善、有覆無記法。廣義言之,則以一切生死之法為妄染之法;或以妄染特指煩惱染法而言。煩惱自體為虛妄性,又因煩惱乃妄取境界,故稱為妄染。大乘起信論(大三二‧五八○上):「煩惱染法,唯是妄有,性自本無。」又(大三二‧五七八上):「以有妄境界染法緣故,即熏習妄心。」 將煩惱視為「染」之說法,乃源於「心性本淨客塵煩惱」之思想。蓋染污無垢淨心之煩惱本源即無明,依無明所起之染法極多,如九十八隨眠、百八煩惱等。又依此類煩惱染法之性質而分為二種:(一)理惑,指諸惡見及疑。(二)事惑,指貪、瞋、癡、慢等。
; Vọng Phong—Truyền đi những gì (tư tưởng) không có thật hay không đúng—The spread of lies, or false ideas.
vọng nhiễm huân tập
2340即始覺上轉之義;而「淨法薰習」則與此相對,為本覺下轉之義。妄染薰習包括意識薰、十一末那薰習。所謂「意識薰」,即指菩薩修行階段中之十信位、三賢位(包括十住位、十行位、十迴向位)之凡夫及聲聞、緣覺二乘等,以意識中本覺之智薰習無明之迷癡,厭離生死之苦,欣求涅槃之樂,漸次轉昇而趨向佛道。所謂「十一末那薰習」,即由初地至第十地,依其次第,以能斷之智品薰習所斷之惑而證入佛道。蓋吾人阿賴耶識之覺知可分為本覺、始覺,本覺即指吾人本有之覺性,亦即如來之平等法身;始覺則指由發心修行而漸次覺知心源。故始覺所以稱為「妄染」之原因,有二種意義:(一)就妄染為「所依」之義而言,即以妄識為所依而生起始覺之智。(二)與本覺相對而言,本覺稱為淨法,則始覺稱為妄染。〔大乘起信論、釋摩訶衍論記卷五〕
vọng nhiễm, vọng phong
The spread of lies or false ideas.
vọng niệm
2339指虛妄之心念。亦即無明或迷妄之執念。此係因凡夫之迷心不知一切法之真實義,而遍計構畫顛倒之情境,產生錯誤之思考。據大乘起信論載,此妄念能攪動平等之真如海,而現出萬象差別之波浪,若能遠離,則得入覺悟之境界。
; False or misleading thoughts.
; Vitathavitakka (p)—False or misleading thoughts—Transient thoughts—Khi vọng tưởng khởi mà chúng ta bất chấp được thì tự nhiên chúng sẽ biến mất—If we are able to disregard when false thoughts arise, they will naturally vanish.
vọng phong
See Vọng Nhiễm.
vọng pháp
Bhrànti (S). Error, ill conduct.
; Bhranti—Going astray, eror.
vọng sắc
To admire someone's beauty.
vọng thuyết
False words.
vọng thức
Deluded consciousness.
vọng trần
The unreal and unclean world.
; Muôn vật trên đời nầy vốn hư vọng và nhiễm cấu—The unreal or unclean world.
vọng tâm
2338指虛妄分別之心。即雜染虛假,生滅轉變之心。即指能生起善惡業之妄識。大乘起信論所舉之四種薰習中,即有「妄心薰習」之說。由妄心而生之境界,稱為妄境界;蓋諸法之本體,本來無自性而不可得,然因妄緣之故,以為實有,故妄境界又稱妄法、妄境、妄有。又由虛妄之因緣所現之色、聲、香、味、觸、法等六塵,乃凡夫有情之煩惱執著,稱為妄塵。此外,以妄心分別計度事物,稱為妄計。〔大佛頂首楞嚴經卷十、占察善惡業報經卷下〕
; A wrong, false, or misleading mind.
; Vọng tâm gây nên sự phức tạp và phiền não trên đời nầy—The unenlightened mind or heart of all men—The illusion (deluded, wrong, false, or misleading)-mind, which results in complexity and confusion in this world.
vọng tâm quán
2339與天台宗山外派之「真心觀」相對。乃宋代天台宗四明知禮(屬山家派)所盛倡之觀心法。謂於一心三觀、一念三千中,所觀之境若一心一念皆為凡夫心念情識上之微細剎那心,稱為妄心觀;若一心一念皆為實相真如之理心者,稱為真心觀。蓋知禮認為圓教之觀心,必須就凡夫之微細心念來彰顯三千三諦之圓理;亦即觀迷妄之凡心,以達實相真如之理心。此乃因圓教雖開顯諸法本真之妙解,然尚未離盡無明之妄心,為還源復本,故須達妄以顯真。蓋此妄心觀乃就初心修觀之機而言,山外派之真心觀則係就利根之機而言。〔四明十義書、四明尊者教行錄卷二、卷三、卷六、金光明經玄義、摩訶止觀卷五上〕(參閱「山家山外」949、「真心觀」4194)
vọng tâm sở thủ danh nghĩa
Parikalpitābhidhāna (S).
; Parikalpitàbhidhàna (S). The net of phraseology woven by erronous imagination.
vọng tình
2340指凡夫之虛妄情識。亦即脫離真實之認識與見解。成唯識論卷一(大三一‧二上):「隨自妄情,種種計度。」〔順正理論卷二十三〕
vọng tưởng
2341梵語 vikalpa。又作分別、妄想分別、虛妄分別、妄想顛倒。與「妄念」、「妄執」等語同義。即以虛妄顛倒之心,分別諸法之相。亦即由於心之執著,而無法如實知見事物,遂產生謬誤之分別。 據宋譯楞伽經卷二舉出十二種妄想:(一)言說妄想,謂計著種種妙音歌詠之聲,而認為其有自性。(二)所說事妄想,謂凡所說之事,窮其自性,唯聖者所知,凡愚不了,僅依彼事而生言說。(三)相妄想,謂隨事而起見,於一切法相,虛妄計著。(四) 利妄想,謂樂著世間種種財利,不知其物本為虛幻而起貪著。(五) 自性妄想,謂執持諸法,起自性之見,以自為是,餘皆為非。(六) 因妄想,謂於因緣所生之法,起有、無等見,妄想分別而形成生死之因。(七) 見妄想,謂於五陰等法,妄計有無、一異,起諸邪見,執著分別。(八) 成妄想,謂於假名實法上,計度我、我所而起言說,成決定論。(九) 生妄想,謂妄計一切法,若有若無,皆從緣起而生分別。(十) 不生妄想,謂妄計一切法皆先有自體,不假因緣而生。(十一)相續妄想,謂於一切諸法,執著此與彼遞相繫屬,無有斷絕。(十二)縛不縛妄想,謂於一切法,以情生著之故,則成繫縛,若離妄想,則無繫縛,凡夫不了,而於此無縛解中產生計著。 此外,菩薩地持經卷二真實義品則舉出自性、差別、攝受積聚、我、我所、念、不念、俱相違等八種妄想。大佛頂首楞嚴經卷十,舉出堅固、虛明、融通、幽隱、罔象虛無等五種妄想。〔舊華嚴經卷五、大佛頂首楞嚴經卷一、觀普賢菩薩行法經、宋譯楞伽經卷四、瑜伽師地論卷三十六、佛性論卷二、注維摩詰經卷三、大乘義章卷三、卷五〕
; Erroneous thinking.
; Vitathavitakka (p)—Chấp giữ mọi phân biệt sai lầm—False (erroneous) thinking—Erroneous thought—False notions—False ideas—False thoughts—The mental processes of living beings on greed, hatred and stupidity.
vọng tưởng vi tế
Subtle delusive thoughts.
vọng tận hoàn nguyên quán
2341全一卷。唐代法藏撰。收於大正藏第四十五冊。全稱修華嚴奧旨妄盡還源觀。本書分為六門,前三門述說圓頓之妙解,後三門正明觀法;全書乃教修華嚴之觀法,而還歸於一心之本源。據卷末所附宋代淨源之重校記載,孤山智圓法師依唐中書舍人高郢之北塔銘序,以本書為杜順所作,然淨源依唐丞相斐休所述之妙覺塔記所載,則認為本書係賢首(法藏)所作。蓋從文中屢次引用新譯華嚴經而論,可知本書當係賢首晚年之作。 賢首認為華嚴經義富博宏深,難究至極,故統收玄奧,囊括大宗,敘述妄盡還源觀六門,以令後學修習觀法,斷除諸妄,復歸真源。六門為: (一)顯一體,謂顯示一切諸法即是自性清淨圓明之體。 (二)起二用,謂依上述之淨體而起二用,即:(1)海印森羅常住用,謂入於海印三昧,寂照真如本性,妄盡心澄,眾德並現。(2)法界圓明自在用,謂入於華嚴三昧,寂照法界本體,眾德具足,圓融無礙。 (三)示三徧,謂依上述之二用,而示現三徧性,一一普周於法界,即:(1)一塵普周法界徧,謂塵無自性,依真理而成立,於一一塵中,皆見法界。(2)一塵出生無盡徧,謂塵依真理而起,真理具足眾德,故依真起用時,萬法繁興而無盡。(3)一塵合容空有徧,謂塵無自性(即空),而幻相宛然(即有),於一一塵中,事理該羅,容納無礙。 (四) 行四德,謂依上述一塵能徧之境而修行四德,即:(1)隨緣妙用無方德,謂隨順機緣起萬千妙用,神變莫測。(2)威儀住持有則德,謂整肅威儀,闡揚教法,拯物導迷,以為軌範。(3)柔和質直攝生德,謂慈悲平等,質直無偽,而以正法攝化眾生。(4)普代眾生受苦德,謂眾生受苦無量,常懷悲愍救度之心。 (五) 入五止,謂依上述四德之行而修五止,即:(1)照法清淨離緣止,謂觀照真俗二諦之法,乃空有不二,清淨虛廓,智境雙亡。(2)觀人寂泊絕欲止,謂觀五蘊之身本空,寂然淡泊,諸欲皆盡。(3)性起繁興法爾止,謂依體起用,應用萬化,任運常然。(4)定光顯現無念止,謂入於光明炳現,內外洞徹,無思無慮之止中。(5)理事玄通非相止,謂真性之理,幻相之事,隱顯俱融,性相雙泯。 (六) 起六觀,謂依上述五止而修六觀,即:(1)攝境歸心真空觀,謂觀一切諸法唯一心所造,境本空寂,無有實體。(2)從心現境妙有觀,謂依體起用,具修萬行,莊嚴佛土,成就報身。(3)心境祕密圓融觀,謂心與境圓融無礙,心境雙融,了無迫隘。(4)智身影現眾緣觀,謂智身唯一,鉣蓂{眾緣,猶如日輪照現,眾皆能見。(5)多身入一鏡像觀,謂以大止妙觀之法力加持,而能一身變化多身,多身入於一身,如鏡現像,無有障礙。(6)主伴互現帝網觀,謂以一身為主,多身為伴,主伴互現,重重無盡,如帝釋之珠網,光光交映,無有窮盡。
vọng tận hoàn nguyên quán sớ sao bổ giải
2342全一卷。宋代淨源撰。全稱華嚴經還源觀疏鈔補解。收於卍續藏第一○三冊。本書依清涼澄觀之華嚴經疏及演義鈔,匡補解釋法藏之「妄盡還源觀」一書,故有此名。其內容係將「妄盡還源觀」之六門及序文中諸種觀法,加以字義及義理之解釋。本書完成於宋元豐二年(1079),為「妄盡還源觀」現存最早之注釋書。作者以澄觀之教義,解釋法藏之著作,為本書之特點。
vọng tộc
Honourable family.
vọng vân
Clouds of falsity (delusion).
vọp bẻ
To cramp.
vỏ
1) Skin—Bark---Peel—husk (rice). 2) Appearance (people).
vốc
A handful.
vốn
Originally.
vồn vã
To Show attention—To be attentive to someone.
vồng
1) Curved—Arched. 2) To bounce (vồng lên). 3) Rainbow.
vỗ vai
To slap on the shoulder.
vỗ về
To comfort—To console.
vội
In a hurry—Hurried—Pressing.
vội vàng
To hurry—To hasten—To make haste.
vớ trật
To fail to catch.
vớ vẩn
Stupid—Foolish.
với
1) With. 2) To reach for.
với lại
Moreover.
với nhau
Together.
vớt
1) To pull someone or something out of the water. 2) To give a candidate a chance to pass an exam.
vớt vát
To recuperate.
vờ
To pretend—To act—To simulate—To feign.
vờ vĩnh
See Vờ.
vời
1) To summon (invite). 2) Far-away—Distant (vời vợi).
vỡ
To break—To be broken.
vỡ chuyện
To become known.
vỡ lở
To be disclosed—To leak out.
vỡ nợ
To go bankrupt.
vỡ tan
Broken into pieces—To be burst.
vỡ tung
To burst.
vợ con
Wife and children.
Vụ
(婺): tên một ngôi sao, tức sao Vụ Nữ (婺女), hay Nữ Tú (女宿), Tu Nữ (須女), là một trong 24 ngôi sao; là sao thứ 3 trong bảy ngôi sao Huyền Võ (玄武). Như trong bài Tống Võ Tuyên Quý Phi Lụy (宋武宣貴妃誄) của Tạ Trang (謝莊, 421-466) nhà Tống thời Nam Triều có câu: “Vọng nguyệt phương Nga, chiêm tinh tỷ Vụ (望月方娥、瞻星比婺, ngắm trăng xem Hằng Nga, nhìn sao sánh Vụ Nữ).”
vụ
Mahika (S)Sương mù, một trong 12 loại hiển sắc mắt thường có thể thấy được.
Vụ Loạn Bình Trị
(平治の亂, Heiji-no-ran): vụ nội loạn xảy ra vào tháng 12 năm đầu (1159) niên hiệu Bình Trị (平治). Nguyên nhân là do sự tranh giành thế lực giữa Đằng Nguyên Thông Hiến (藤原通憲, Fujiwara-no-Michinori, tức Tín Tây [信西, Shinzei]) và Đằng Nguyên Tín Lại (藤原信賴, Fujiwara-no-Nobuyori); rồi giữa Nguyên Nghĩa Triều (源義朝, Minamoto-no-Yoshitomo) với Bình Thanh Thạnh (平清盛, Taira-no-Kiyomori); hai bên đánh nhau kịch liệt, cuối cùng dòng họ Đằng Nguyên bị bại về tay họ Bình. Tín Lại bị tử tội chém đầu, còn Nghĩa Triều thì bị Trường Điền Trung Trí (長田忠致, Osada Tadamune) giết chết ở vùng Vĩ Trương (尾張, Owari).
Vụ Loạn Bảo Nguyên
(保元の亂, Hōgen-no-ran): vụ nội loạn xảy ra vào tháng 7 năm đầu (1156) niên hiệu Bảo Nguyên (保元). Trong nội bộ Hoàng Thất thì Sùng Đức Thượng Hoàng (崇德上皇) với Hậu Bạch Hà Thiên Hoàng (後白河天皇, Goshirakawa Tennō, tại vị 1155-1158), còn trong nội bộ Nhiếp Chính thì Đằng Nguyên Lại Trường (藤原賴長, Fujiwara-no-Yorinaga) và Đằng Nguyên Trung Thông (藤原忠通, Fujiwara-no-Tadamichi), thì trở nên đối lập nhau mãnh liệt. Về phía phe của Sùng Đức và Lại Trường thì có quân chủ lực của Nguyên Vi Nghĩa (源爲義, Minamoto-no-Tameyoshi), phía phe của Hậu Bạch Hà và Trung Thông thì có quân của Bình Thanh Thạnh (平清盛, Taira-no-Kiyomori) và Nguyên Nghĩa Triều (源義朝, Minamoto-no-Yoshitomo); hai bên giao chiến với nhau dữ dội. Cuối cùng thì phe của Sùng Đức đại bại và Thượng Hoàng bị lưu đày đến địa phương Tán Kì (讚岐, Sanuki) thuộc Tứ Quốc (四國, Shikoku). Qua cuộc đại loạn này, có thể nói đây là cơ hội lớn cho hàng võ sĩ tham gia vào chính giới.
Vụ Loạn Pháp Hoa Thiên Văn
(天文法華の亂, Tembunhokke-no-ran): xem Vụ Pháp Nạn Thiên Văn (天文の法難, Tembun-no-hōnan) bên dưới.
Vụ Loạn Thừa Cửu
(承久の亂, Jōkyū-no-ran): còn gọi là vụ Biến Động Thừa Cửu (承久の變, Jōkyū-no-hen), Thừa Cửu Hợp Chiến (承久合戰, Jōkyūgassen), là vụ chiến loạn xảy ra vào năm thứ 3 (1221) niên hiệu Thừa Cửu (承久), do Hậu Điểu Vũ Thượng Hoàng (後鳥羽上皇) có mưu đồ muốn lật đổ, tiêu diệt chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương; nhưng bị thất bại. Thay vào đó, thế lực Hoàng Gia thì suy vi, còn thế lực võ gia thì càng mạnh thêm.
Vụ Loạn Đảo Nguyên
(島原の亂, Shimabara-no-ran): còn gọi là Đảo Nguyên-Thiên Thảo Nhất Quỹ (島原・天草一揆, Shimabara-Amakusa-ikki), Loạn Đảo Nguyên-Thiên Thảo (島原・天草の亂, Shimabara-Amakusa-no-ran); là cuộc phản loạn nhất tề nổi dậy của Thiên Chúa Giáo có quy mô lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản, xảy ra vào đầu thời Giang Hộ, và cuối cùng trở thành cuộc nội chiến hùng vĩ. Vụ loạn này bắt đầu bộc phát vào ngày 11 tháng 12 năm 1637 (Khoan Vĩnh [寛永] 14) và chấm dứt vào ngày 12 tháng 4 1638 (Khoan Vĩnh 15). Cụ thể là tầng lớp nông dân của Bán Đảo Đảo Nguyên (島原, Shimabara), Phì Tiền (肥前, Hizen) thuộc Phiên Đảo Nguyên (島原藩, Shimabara-han) do Tùng Thương Thắng Gia (松倉勝家, Matsukura Katsuie) quản lãnh, và quần đảo Thiên Thảo (天草, Amakusa), Phì Hậu (肥後, Higo) thuộc Phiên Đường Tân (唐津藩, Karatsu-han) do Tự Trạch Kiên Cao (寺澤堅高, Terazawa Katataka) quản lãnh, nổi dậy phản loạn do vì đối xử ngược đãi với bá tánh, thuế cống nạp hằng năm quá cao làm họ không đảm đương nỗi, kèm theo sự đàn áp Thiên Chúa Giáo, và cuộc sống người dân bị lâm vào cảnh nghèo cùng, đói khát. Đương thời tín đồ Thiên Chúa Giáo rất đông, Ích Điền Thứ Lang Thời Trinh (益田次郎時貞, Masuda Shirō Tokisada, tức Thiên Thảo Tứ Lang [天草四郎, Amakusa Shirō]) làm thủ lãnh cùng với giáo đồ của ông hơn 2 vạn người xông đến chiếm cứ thành. Chính Bảng Thương Trùng Xương (板倉重昌, Itakura Shigemasa), người được chính quyền Mạc Phủ phái làm đặc sứ đến tấn công thành, cuối cùng cũng bị chết trong trận chiến. tiếp theo vị quan Lão Trung là Tùng Bình Tín Cương (松平信綱, Matsudaira Nobutsuna) chỉ huy các Đại Danh ở vùng Cửu Châu (九州, Kyūshū) tiến đánh mới giải phóng được thành.
Vụ Loạn Ứng Vĩnh
(應永の亂, Ōei-no-ran): vụ biến loạn xảy ra vào năm thứ 6 (1399) niên hiệu Ứng Vĩnh (應永) do Đại Nội Nghĩa Hoằng (大內義弘, Ōuchi Yoshihiro) khởi xướng nhằm chống đối chính quyền Mạc Phủ Thất Đinh. Do Túc Lợi Nghĩa Mãn (足利義滿) khiêu chiến, ông cử binh đánh, nhưng vì tình hình bất lợi nên ông đã bị chết trong trận chiến.
Vụ Luận Tranh Tông Phái An Thổ
(安土宗論, Azuchi-no-shūron): cuộc luận tranh về Tông nghĩa giữa hai Tông phái được tiến hành ở Tịnh Hành Viện (淨行院) của Phái Trấn Tây (鎭西派) thuộc Tịnh Độ Tông, trong khuôn viên Từ Ân Tự (慈恩寺) ở Thôn An Thổ (安土村, Azuchi-mura), Quận Bồ Sanh (蒲生郡, Kamō-gun), Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]), dưới thời đại An Thổ Đào Sơn (安土桃山, Azuchimomoyama). Vào trung tuần tháng 5 năm 1597 (Thiên Chánh [天正] 7), vị Tăng của Phái Trấn Tây là Ngọc Niệm (玉念) từ Quan Đông (關東, Kantō) đến Thành An Thổ (安土城, Azuchi-jō) của Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga), rồi đàm luận về pháp trong vòng 7 ngày. Khi ấy, có 2 tín đồ của Nhật Liên Tông là Kiến Bộ Thiệu Trí (建部紹智) và Đại Hiếp Truyền Giới (大脇傳介) mới đặt ra những điều chất vấn về pháp; nhân đó Ngọc Niệm mới bảo 2 người này nên đi hỏi những vị tăng họ đã quy y theo; nên cuộc tranh luận kéo dài đến 11 ngày. Từ Vụ Pháp Nạn Thiên Văn (天文の法難, Tembun-no-hōnan) trở đi, Nhật Liên Tông đã tiến hành luận tranh với các phái Tịnh Độ Tông khắp nơi; nên đương thời Tín Trưởng cũng có ác cảm với tông này. Vào ngày 27 tháng 5 năm 1579, trong sự canh giữ nghiêm mật và có sự giám sát của nhà cầm quyền lúc bấy giờ, hai Tông phái này đã tiến hành luận tranh về Tông nghĩa, mỗi bên ngồi đối lập nhau 4 người. Phía Tịnh Độ Tông thì có Ngọc Niệm, Giáo Liên Xã Thánh Dự Trinh An (敎蓮社聖譽貞安) của Tây Quang Tự (西光寺), Tưởng Liên Xã Tín Dự Động Khố (想蓮社信譽洞庫), Tổ khai sơn Chánh Phước Tự (正福寺) ở vùng Cận Giang (近江, Ōmi); và Trợ Niệm (助念) của Nhất Tâm Viện (一心院) thuộc Tri Ân Viện (知恩院, Chion-in) ở kinh đô Kyoto làm Thư Ký. Còn phía Nhật Liên Tông thì có Nhật Quang (日珖) ở Đảnh Diệu Tự (頂妙寺), Nhật Đế (日諦) của Thường Quang Viện (常光院), Nhật Uyên (日淵) của Cửu Viện Tự (久遠寺) Thuộc Diệu Mãn Tự (妙滿寺), và vị tăng của Pháp Âm Viện (法音院) thuộc Diệu Hiển Tự (妙顯寺) làm Thư Ký. Hai bên ngồi đối mặt nhau để tranh luận dưới sự phán xét của Thiết Tẩu Cảnh Tú (鐵叟景秀) ở Nam Thiền Tự (南禪寺), Hoa Khê Chánh Tắc (華溪正稷), Cư sĩ Nhân Quả (因果, học giả của Hoa Nghiêm Tông) và Tiên Giác Phường (仙覺坊, học tăng của Pháp Tướng Tông). Mười ba câu hỏi được nêu lên và cuối cùng thì do sự can thiệp của Cư sĩ Nhân Quả cũng như ý đồ của Tín Trưởng, nên Tịnh Độ Tông thắng luận. Với kết quả đó, các ngôi chùa của Nhật Liên Tông ở kinh đô phải nộp tiền phạt; từ Nhật Quang trở đi phải trở về ẩn cư, không được ló mặt ra ngoài hoạt động. Hơn nữa, Tín Trưởng còn ban bố chính sách khắp toàn quốc, cấp tiền thưởng cho những ai gây áp bức cho Nhật Liên Tông, và ông có kế hoạch muốn đàn áp thẳng tay tông phái này. Về sau, đến thời Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) thì Nhật Liên Tông mới được khôi phục lại.
Vụ Pháp Nạn Khánh Trường
(慶長法難, Keichō-no-hōnan): vụ pháp nạn xảy đến với nhóm Nhật Kinh (日經) thuộc môn hạ Nhật Thập (日什) của Nhật Liên Tông, xảy ra vào khoảng thời gian niên hiệu Khánh Trường (慶長, 1596-1615). Vào tháng 9 năm thứ 13 (1608) niên hiệu trên, khi Nhật Kinh đang bố giáo ở vùng Nhiệt Điền (熱田, Atsuta) thuộc tiểu quốc Vĩ Trương (尾張, Owari), ông bắt đầu đối lập với hàng tăng tục của Chánh Giác Tự (正覺寺) thuộc Tịnh Độ Tông. Khi bị phía Tịnh Độ Tông tố cáo, Nhật Kinh mới tiến hành cuộc luận tranh về Tông nghĩa ở Thành Giang Hộ (江戸城, Edo-jō) vào ngày 15 tháng 11 cùng năm này. Nhưng trước đó một đêm thì Nhật Kinh bị ai đó đánh lén, bị trọng thương gần chết. Vì thế, đệ tử ông mới xin chính quyền Mạc Phủ cho kéo dài cuộc đàm luận, nhưng không được chấp thuận; cho nên cuộc luận tranh chấm dứt với kết quả phe Tịnh Độ Tông thắng lợi. Cuối cùng Nhật Kinh cùng với 5 người đệ tử ông bị xử tội xâu mũi và tai cho đến khi tắt thở mà thôi.
Vụ Pháp Nạn Nhiệt Nguyên
(熱原の法難, Atsuhara-no-Hōnan): còn gọi là Pháp Nạn Gia Đảo (加島法難), vụ đàn áp môn đồ Nhật Liên Tông vào năm 1279 tại địa phương Nhiệt Nguyên (熱原, Atsuhara, thuộc Fuji-shi [富士市], Shizuoka-ken [靜岡縣]) thuộc tiểu quốc Tuấn Hà (駿河, Suruga). Trước đó, Nhật Hưng (日興), đệ tử của Nhật Liên, lấy Tứ Thập Cửu Viện (四十九院) ở Bồ Nguyên (蒲原, Kanbara) làm cứ điểm để truyền bá giáo lý của thầy ở khu vực Quận Phú Sĩ (富士郡, Fuji-gun), rồi thâu nhận nhóm Nhật Tú (日秀), Nhật Biện (日辨) ở Lang Tuyền Tự (瀧泉寺) làm đệ tử. Từ đó, nhóm này cũng truyền bá giáo lý của Nhật Liên đến tầng lớp nông dân ở địa phương này. Tuy nhiên, vì Hành Trí (行智), viện chủ của Lang Tuyền Tự, là người thuộc Tịnh Độ Tông, có quyền lực rất lớn trong vùng; nên ông có dự định muốn ức chế hoạt động của nhóm Nhật Tú và nông dân. Chuyện này đã sớm xảy ra, nông dân bị thương hại rất nhiều, rồi năm ấy nhân vụ cắt cỏ mà ông kiện lên chính quyền Liêm Thương về việc nhóm Nhật Tú phỉ báng các tông phái khác và cắt cỏ ruộng bừa bãi; cho nên 20 người nông dân bị bắt giam ở Liêm Thương. Lúc bấy giờ, Nhật Liên thay thế cho nhóm đệ tử Nhật Tú, viết bản trạng văn trần tình. Khi điều tra lấy khẩu cung, quan điều tra bắt mấy người nông dân niệm Phật; nhưng thay vào đó, họ lại xướng cao đề mục Kinh Pháp Hoa. Với kết quả đó, 3 người bị xử trảm, còn lại thì bị giam trong lồng tre. Nhân sự việc này, Nhật Liên kêu gọi toàn thể môn đồ của ông nhất tề đứng lên phản đối. Theo chỉ thị của Nhật Liên, nhóm Nhật Tú, Nhật Biện đến lánh nạn trong nhà tín đồ ở Hạ Tổng (下總, Shimōsa); và người bị hại chính là nông dân.
Vụ Pháp Nạn Thiên Văn
(天文法難, Tembun-no-hōnan): còn gọi là Vụ Loạn Pháp Hoa Thiên Văn (天文法華の亂, Tembunhokke-no-ran), là vụ loạn xảy ra vào năm 1536 (Thiên Văn [天文] 5), do đồ chúng Tỷ Duệ Sơn kết hợp với chúng Lục Giác Cận Giang (六角近江), loạn nhập vào vùng Lạc Trung (洛中) và đốt cháy tan tành 21 ngôi chùa trung tâm lớn của Pháp Hoa Tông ở kinh đô Kyoto. Đối với Pháp Hoa Tông, đây được gọi là Vụ Pháp Nạn Thiên Văn hay Vụ Pháp Loạn Thiên Văn. Nguyên nhân trực tiếp của vụ loạn này phát xuất từ sự việc vào tháng 2 năm này, Hoa Vương Phòng (華王房) của Tỷ Duệ Sơn luận tranh Tông nghĩa với Tùng Bổn Cửu Cát (松本久吉), môn đồ của Pháp Hoa Tông, và kết quả bị bại trận; từ đó, tiếng đồn vang ra khắp nơi, nên chúng Sơn Môn bị mất mặt. Vào đầu tháng 6, đại chúng Sơn Môn mở ra hội nghị tập trung cả Tam Viện, quyết định đuổi Pháp Hoa Tông ra khỏi vùng Lạc Trung, đồng thời phát ra điệp trạng cầu viện binh ở các chùa lớn khác như Đông Tự (東寺), Thần Hộ Tự (神護寺), Căn Lai Tự (根來寺), Phấn Hà Tự (粉河寺), Cao Dã Sơn (高野山), Tam Tỉnh Tự (三井寺), Đông Đại Tự (東大寺), Hưng Phước Tự (興福寺), Thạch Sơn Bổn Nguyện Tự (石山本願寺), v.v. Nhóm Lục Giác Định Lại (六角定賴) cũng như Mộc Trạch Trường Chính (木澤長政) đã khuyên hai bên nên điều đình; nhưng không thành công, ngược lại chúng của chúng của Lục Giác Cận Giang lại đứng về phía Sơn Môn mà xuất trận. Cuộc chiến xảy ra vào ngày 22 tháng 7 năm 1536, kéo dài trong vòng 28 ngày. Thế lực của Sơn Môn 150.000 người, chúng của Lục Giác có 30.000; phái Tự Môn có 3.000. Còn phía Pháp Hoa Tông thì gồm những tăng đồ của hết cả 21 ngôi chùa trung tâm, có khoảng 20.000 hay 30.000 người. Ban đầu, trận chiến diễn ra rất gay gắt; đến ngày 27 thì chúng của Cận Giang mới loạn nhập vào các vùng ở kinh đô, phóng hỏa đốt cháy các chùa. Vùng Hạ Kinh thì cháy tan toàn bộ, còn vùng Thượng Kinh thì cháy khoảng 1/3, và cho đến hôm sau thì toàn bộ 21 ngôi chùa trung tâm lớn của Pháp Hoa Tông đều bị đốt cháy rụi. Về phía Pháp Hoa Tông, có rất nhiều tăng tục đã hy sinh trong trận chiến như trường hợp Nhật Triệu (日兆), trú trì Diệu Giác Tự (妙覺寺), đã mổ bụng tự vẫn. Số lượng người hy sinh lên đến 10.000 hay 3.000, 4.000 người. Hàng ngàn dân chúng phải chạy đi lánh nạn; đàn bà con nít thì bị giết chết, cũng có trường hợp khát nước mà chết, tính ra có đến mấy trăm người. Tai hại của vụ loạn này nếu so với vụ Loạn Ứng Nhân (應仁の亂) thì hơn xa. Hơn nữa, ảnh hưởng của vụ loạn này đã gây thiệt hại nhiều vô kể. Sau đó, vào tháng 10 nhuận, Tế Xuyên Tình Nguyên (細川晴元), tín đồ của Pháp Hoa Tông có quyền lực rất lớn, nghiêm cấm không được tái kiến những ngôi chùa trung tâm ở vùng Lạc Trung. Về sau, khi lệnh cấm này được giải bỏ thì trong số 21 ngôi chùa lớn trung tâm, chỉ có 15 ngôi được tái kiến mà thôi.
Vụ Pháp Nạn Vĩnh Hưởng
(永享の法難, Eikyō-no-hōnan): vụ đàn áp môn đồ Nhật Liên Tông ở vùng Liêm Thương vào năm 1436. Trước khi xảy ra vụ này, Nhật Xuất (日出) mở rộng phạm vi giáo hóa của ông rất mạnh ở Liêm Thương và hàng phục được các tông phái khác. Nhân đó, Tâm Hải (心海), vị Tăng ở Kim Cang Bảo Giới Tự (金剛寶戒寺) thuộc Thiên Thai Tông, mới nổi giận và khiêu khích luận tranh về giáo lý với Nhật Xuất. Cuộc luận tranh được tổ chức vào ngày 13 tháng 5 năm 1436, và được gọi là Cuộc Vấn Đáp Vĩnh Hưởng. Lúc ấy, đệ tử của Nhật Thân (日親) là Nhật Xuất cũng tham gia vào cuộc luận tranh này. Kết quả thì Tâm Hải bị bại trận. Nhật Xuất ghi lại tất cả sự việc này rồi đem trình lên cho người quản lãnh Liêm Thương lúc bấy giờ là Túc Lợi Trì Thị (足利持氏, Ashikaga Mochiuji), để tuyên xướng về Tông nghĩa của mình và can gián đừng gây tổn hại cho Tông môn ông nữa. Đương thời, chính Trì Thị cũng hay có sự bất hòa với Thượng Sam Hiến Thật (上杉憲實), người quản lãnh vùng Quan Đông (關東, Kantō) và rất được chính quyền Mạc Phủ tín nhiệm, đến nỗi Hiến Thật phải cử binh đánh Trì Thị. Phần Tâm Hải thì sau khi bị bại về tay Nhật Xuất, ông đã gởi thư kháng tố lên Trì Thị. Theo Truyền Đăng Sao (傳燈抄) của Nhật Thân, Trì Thị đã tịch thâu khoảng 16 ngôi chùa của Nhật Liên Tông ở vùng Liêm Thương; tu sĩ thì bị đày đi xứ xa, còn tín đồ thì bị chém đầu. Chủ yếu ông dùng thủ đoạn này để làm cho tín đồ sợ hãi, không còn chí hướng hành đạo nữa. Nhưng ngược lại khi nghe như vậy, khoảng 10 người đại diện cho tín đồ đã tập trung đứng dậy đấu tranh. Khi nghe vậy, Trì Thị mới hạ lệnh tha tội cho những người bị bắt.
vụn
Pieces—Crumbs.
vụng
1) Unskilled—Awkward—Clumsy—Unhandy—Unskilful. 2) Secretly—On the sly (quiet).
vụng dại
Silly—Foolish—Stupid.
vụng trộm
See Vụn (2).
vụng tính
To miscalculate.
vụng về
See Vụn (1).
vụng ở
To behave awkwardly.
vụt
1) To strike with a whip. 2) To throw something. 3) Suddenly—Rapidly.
vụt nhớ
To remember suddenly.
vụt quên
To forget just now.
vứt bỏ
To give up.
vừa khít
Ti fit exactly.
vừa khỏi bào thai lại nhập thai
As soon as sentient beings escape one womb, they enter another.
vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ
Both shaken and joyful.
vừa lòng
Satisfied—Content—pleased.
vừa lúc
Just at the moment.
vừa mắt
Pleasant to the eyes.
vừa phải
Moderate—Reasonable.
vừa sức
Withnone's capability (reach).
vừa tầm
Within one's reach.
vừa vặn
To fit exactly.
vừa ý
Pleased—Content.
; 1) Contented. 2) To fit perfectly (clothes)—To suit. 3) Just now (vừa mới).
vừa đủ
Sufficient—Enough.
vững
Firm—Stable—Steadfast.
vững bền
Lasting—Durable.
vững bụng
Confident—Sure.
vững chãi
Steady—Firm—Stable—Fast.
vững chắc
See Vững Chãi.
vững dạ
Reassured—Confident.
vững lòng
See Vững Dạ.
vững vàng
Certainty.
vực
1) Biên địa: Limit—Frontier. 2) Khu vực: Region.
vực long
Xem Trần Na.
; Dignàga, Dinnàga (S). Name of person. Also Trần Na, Đồng Thụ.
; Dignaga, or Dinnaga (skt)—Còn gọi là Đại Vực Long, tên của một vị luận sư nổi tiếng, tiếng Phạn là Trần Na, tác giả của bộ Tân Nhân Minh Học, và cũng là vị tổ của trường phái nầy—A celebrated Buddhist philosopher, author of a famous treatise on logic. He was also the founder of this sect.
vực thẳm
Abyss—Deep ravine.
vực tâm
The limits of the mind, natural endowment.
vỹ
Tail—End.
Wabicha
(侘茶): một hình thức của Cha-no-yu. Đối xứng với Thư Viện Trà (書院茶) lưu hành dưới thời đại Đông Sơn (東山, Higashiyama), kể từ sau thời của Thôn Điền Châu Quang (村田珠光, Murata Shūkō) trở đi, Wabicha rất thịnh hành dưới thời đại Đào Sơn (桃山, Momoyama) và rất chú trọng cảnh địa tịch tĩnh, đơn giản. Tương truyền Lợi Hưu (利休) là người đã hình thành nên hình thức nầy.
xa
1) Khoảng xa: Distant—Far—Far away. 2) Họ xa: Far off in relation—Distant. 3) Mua bán bằng tín dụng: To buy or sell on credit. 4) Thừa (xe cộ): Car—Vehicle—Wheeled conveyance. 5) Xa cách: To separate—To part from. 6) Xa hoa: Extravagant.
xa bát la bà
Tên của một loài thần—Name of a spirit.
xa cách
Far—Separated—far-off.
xa cừ
5167梵語 musāragalva。為五寶之一,七寶之一。又作車
; Musaragalva, or Musalagarbha (skt)—Một trong thất bảo—Mother-of-pearl, or coral, one of the saptaratna. ** For more information, please see Thất Bảo.
Xa cừ 硨磲
[ja]シャコ shako ||| A precious gem derived from the shell of a shellfish (musāra-galva). One of the seven jewels 七寶. => Ngọc quý có từ trong con sò hoặc trai (musāra-galva). Là một trong bảy loại báu.
xa di
Sami (skt)—Tên của cây Câu Kỷ—A leguminous tree associated with Siva.
xa di thôn kinh
Sāmagāmasuttanta (S)Tịnh bất động đạo kinhTên một bộ kinh.
xa gần
Far and near.
xa hoa
Luxurious—Lavish.
xa hơn
Farther.
xa lìa
Separated.
xa lìa ba pháp chướng
To abandon the three things that hinder enlightenment.
xa lạ
Strange.
xa lắc
Very far.
xa lợi da
Tên gọi nơi ở của các vị Bà La Môn—Name of the residence of Brahmins.
xa lợi phất
Sarputra (skt)—See Xá Lợi Phất.
xa ma tha
Samàtha (S). To cease; tranquility, serenity. Also Chỉ.
xa ma địa
Samatha (skt)—Xá Ma Tha—Xa Ma Đà—Xá Ma Đà—Một trong bảy tên gọi của thiền định (thu nhiếp tâm vào một duyên, xa lìa mọi tán loạn; trong các cảnh nhiễm tịnh mà tâm không vọng duyên)—One of the seven names for dhyana. 1) Chỉ: Quiet. 2) Tịch tĩnh: Tranquility—Calmness of mind. 3) Năng diệt dục: Absence of passion—Rest—Peace—Power to end passions.
xa mù
Very far—Very far away.
xa mặt cách lòng
Out of sight, out of mind.
xa na
Xem Thương na.
xa nhau
Far from each other.
xa nặc
3020梵名 Chandaka,巴利名 Channa。初為六群比丘之一。又作闡鐸迦、闡陀迦、闡特、闡怒、羼陀、孱那、車那、闍那、栴檀。譯為應作、樂作、欲作、覆藏。乃淨飯王之僕役,悉達太子踰城出家時,為太子之馭者,以太子意堅不返,遂持太子剃脫之鬚髮、寶冠、明珠還宮。佛陀證道歸城時,隨佛陀出家。初傲慢,惡口之性不改,犯罪亦不悔過,與諸比丘不和,人稱惡口車匿、惡性車匿。佛陀欲涅槃時,阿難請示佛陀,如何與闡怒等惡行比丘相處,佛陀謂(大一‧二六上):「我滅度後,若彼闡怒不順威儀,不受教誡,汝等當共行梵檀罰,敕諸比丘,不得與語,亦勿往返教授從事。」此即後世佛弟子與不受教誡者相處之道。佛陀入滅後,弟子依法治之,車匿比丘始悔悟,後隨阿難學道,證阿羅漢果。〔長阿含卷四遊行經、增一阿含經卷三十七、佛般泥洹經卷下、太子瑞應本起經卷上、佛所行讚卷二車匿還品、過去現在因果經卷二、五分律卷十五、十誦律卷三十一、大智度論卷二、大唐西域記卷六、慧琳音義卷四十七〕
; Candaka (S), canna (S)Tên người đánh xe ngựa trung thành của đức Phật. Xa nặc dùng con ngựa tên Kiền Trắc (Kanthaka) đánh xe đưa Ngài trốn ra khỏi hoàng cung Kapilavastu để đi tuNgười giữ ngựa của Thái tử Tất đạt đa.
; Chandaka (S). The coachman of the Prince Siddhàrtha.
; Chandaka (skt)—Channa (p)—Người hầu cận của thái tử Sĩ Đạt Đa. Ông đã đánh xe đưa Thái tử Sĩ Đạt Đa rời cung điện trong đêm Ngài xuất gia, để vào rừng và bắt đầu cuộc sống không nhà để tìm phương cứu nhân loại. Sau nầy Xa Nặc cũng trở thành một đệ tử của Đức Phật. Tuy nhiên, trong Hội Nghị Kết Tập Kinh Điển lần thứ nhất, các Tỳ Kheo đã thông qua hình phạt cao nhất áp dụng cho Xa Nặc vì ông đã tỏ ra xem thường Tăng đoàn từ cao đến thấp và vô cùng ngạo mạn. Hình phạt áp dụng là sẽ bị cô lập hoàn toàn về mặt xã hội. Khi hình phạt được thông báo thì Xa Nặc đã tỏ ra hối hận, buồn phiền sâu sắc và đã sửa chữa hết mọi lỗi lầm của mình. Sau đó ông đã đắc quả A La Hán—Channa, the servant of Prince Siddhartha, the Buddha's charioteer or driver, one who drove Prince Siddartha from his father's palace into the forest on the night of his renunciation of the world, where he entered the homeless life to seek salvation for mankind. Chandaka later became a disciple of the Buddha. However, at the First Council, the ighest penalty was passed on him because he had slighted every member of the Order, high and low, and was arrogant in the extreme. The penelty imposed was complete social boycott. When the punishment was announced to Channa, he was seized with profound repentance and grief and was purged of all his weaknesses. Soon after that, he became an Arhat.
xa phường
3020租賃車、馬之所。如唐代寺院,為維持寺院本身日常所需、擴建發展,以及伽藍修護、諸種法會等,皆需龐大費用,故以經營車坊作為經費來源之一。
xa quá
Very far.
xa vời thiếu thực tế
Far-fetched and unrealistic.
xa xăm
Distant—Remote.
xa xỉ
Luxury—Unnecessary.
xa yết la
Sakala (skt)—Kinh đô cổ của Takka của toàn vùng Punjab. Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, thì Xa Yết La là vùng bây giờ gọi là làng Sanga, vài dậm về phía tây nam Amritsar, nhưng điều nầy không chắc—The ancient capital of Takka and under Mihirakula of the whole Punjab; the Sagala of Ptolemy. According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Sakala is the place of present village of Sanga, a few miles south-west of Amritsar, but this is doubtful.
xa yết la thành
4925奢羯羅,梵名 Śākala, Śāgala,巴利名 Sākala。為北印度磔迦國之舊都。又作奢揭羅城、舍竭城。據大唐西域記卷四磔迦國條載,奢羯羅故城在大城西南十餘里處,垣堵皆已毀壞,周環二十餘里,其中築有小城,周環六、七里;數百年前,摩醯邏矩羅王(梵 Mahirakula)以此城為都,統治印度,曾對佛教大加迫害。城中有一伽藍,僧眾百餘人,修學小乘法,世親菩薩曾於此處撰勝義諦論。其側有窣堵波,高達二百餘尺,過去四佛曾於此地說法,並有四佛經行之遺蹟。伽藍西北五、六里處另有大窣堵波,為無憂王所建,亦為過去四佛說法之處。又此地古時為彌蘭陀王(巴 Milinda)之居城,王與那先比丘(梵 Nāgasena)曾在此論法。此城約位於今之旁遮普省。〔那先比丘經卷上、釋迦方志卷上、解說西域記、V.A. Smith:Early History of India; A. Cunningham: Ancient Geography of India; S. Beal:Buddhist Records of The Western World, vol. Ⅰ〕
xa đa
5930梵語 śānta。寂滅之義。大智度論卷四十八(大二五‧四○八下):「若聞賒字,即知諸法寂滅相。賒多,秦言寂滅。」(參閱「寂滅」4505)
; Santa (skt)—Pacified—At ease—Ceased—Dead—Liberated.
xa đế
Tên của một hang động tại Ấn Độ trong thời Đức Phật còn tại thế—The name of a cave, said to be Sataparna, or Saptaparnaguha during the Buddha's lifetime.
xa-ma-tha
phiên âm từ Phạn ngữ Śamatha, là tên gọi khác của thiền định, thường được dịch với các nghĩa như là: chỉ, tịch tĩnh, năng diệt. Xem chỉ và quán.
Xa-ma-tha 奢摩他
[ja] シャマタ shamata ||| A transliteration of the Sanskrit term śamatha which means 'calm abiding' or 'stabilization.' Stopping the wandering of the mind and focusing it on one object, thus bringing about a condition of quietude. In Chinese Buddhist literature it is usually rendered with the ideographs 止 and 定. => Phiên âm chữ śamatha từ tiếng Sanskrit, có nghĩa là “tĩnh chỉ” hoặc “an tĩnh”. Tâm ý không tán loạn và tập trung vào một đối tượng, dẫn đến trạng thái thanh thản. Trong kinh văn Phật giáo tiếng Hán, thường dịch từ nầy là 'chỉ' (止 )và 'định'(定).
Xa-nặc
phiên âm từ Phạn ngữ Chandaka, là một tỳ-kheo tính tình kiêu mạn, xấu ác; cũng là một trong nhóm Lục quần tỳ-kheo. Xa-nặc chính là người hầu cận và đánh xe cho thái tử Tất-đạt-đa khi còn ở vương cung, sau khi Phật thành đạo xin xuất gia tu học, ỷ mình có xuất thân gần gũi với Phật năm xưa nên khinh thị các vị tỳ-kheo khác, thường làm nhiều việc xấu, ác khẩu, vì thế thường có tên gọi là Ác khẩu Xa-nặc hay Ác tánh Xa-nặc. Sau khi Phật nhập diệt, ông có lần bị chúng tăng trừng trị bằng phép mặc tẩn (cách ly không tiếp xúc); cuối cùng theo ngài A-nan được dạy bảo đến khi chứng quả A-la-hán.
xan
5810梵語 mātsarya。心所之名。俱舍七十五法之一,唯識百法之一。即對財施、法施慳吝之心理。俱舍宗以之爲小煩惱地法、八纏、十纏、九結之一,認爲慳乃貪之等流,別有實體;唯識宗則以之爲隨煩惱之一,係以貪愛之一分爲其體,離於貪則別無慳之相用。據成實論卷十雜煩惱品舉出五慳,即:住處慳、家慳、施慳、稱讚慳、法慳等,意指對住處、家宅、布施、稱讚、法義等心存獨占欲。此外,財慳、法慳即指吝於財物與教法而不願施捨,稱作二慳。又據大明三藏法數卷三十載,法慳之人有七種惡報,即生盲報、愚癡報、生惡家報、胎夭報、物恐報、善人遠離報、無惡不作報。〔大毘婆沙論卷五十、俱舍論卷二十一、成唯識論卷六、瑜伽師地論卷八十九、大乘阿毘達磨雜集論卷一〕
; (慳) Phạm:Màtsarya. Cũng gọi: Xan. Bỏn sẻn, tên của một tâm sở, 1 trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Tông Câu xá cho rằng Khan là 1 trong các Tiểu phiền não địa pháp, 1 trong 8 triền, 10 triền, 9 kết; đẳng lưu của Khan là tham, có thực thể riêng biệt. Tông Duy thức thì cho Khan là 1 trong các Tùy phiền não, lấy một phần tham ái làm thể, lìa tham thì không có tướng dụng riêng của Khan. Cứ theo phẩm Tạp phiền não trong luận Thành thực quyển 10, thì Khan có 5 loại: Trụ xứ khan, Gia khan, Thí khan, Xưng tán khan và Pháp khan, nghĩa là tâm còn muốn chiếm riêng cho mình về chỗ ở, nhà cửa, bố thí, khen ngợi và pháp nghĩa. [X. luận Đại tì bà sa Q.50; luận Câu xá Q.21; luận Thành duy thức Q.6; luận Du già sư địa Q.89; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1].
xan pháp thất báo
5811據成實論卷十二、大明三藏法數卷三十所舉,慳吝說法而不行布施者,滅佛法種,三世十方諸佛視之爲冤賊,其後世所受之惡報有七種。即:(一)生盲報,指從母胎出生,即不能見日月光明。(二)愚癡報,指於諸法迷惑而不能了知。(三)生惡家報,指生於不信三寶、造作重罪之家,或生於有冤之家。(四)胎夭報,指於胎中即夭死。(五)物恐報,指爲一切惡物所恐怖。(六)善人遠離報,指賢善之人皆遠離之,而不加親近。(七)無惡不作報,指於一切惡業無所不作。
; (慳法七報) Bảy quả báo xấu mà người bỏn xẻn giáo pháp phải hứng chịu. Cứ theo luận Thành thực quyển 12 và Đại minh tam tạng pháp số quyển 30, thì người bỏn sẻn không ưa bố thí pháp là tiêu diệt hạt giống Phật, 3 đời 10 phương chư Phật coi họ là giặc, đời sau phải chịu 7 thứ ác báo là: 1. Sinh manh báo: Từ thai mẹ sinh ra đã bị mù, không thấy được ánh sáng mặt trời, mặt trăng và muôn vật. 2. Ngu si báo: Mê lầm, không biết rõ các pháp. 3. Sinh ác gia báo: Sinh vào nhà người không tin Tam bảo, gây các tội ác, hoặc sinh vào nhà có thù oán. 4. Thai yểu báo: Chết non ngay khi còn trong bụng mẹ. 5. Vật khủng báo: Bị tất cả vật ác làm cho sợ hãi. 6. Thiện nhân viễn li báo: Người lương thiện đều xa lánh, không muốn gần gũi. 7. Vô ác bất tác báo: Làm tất cả các việc ác, không từ một việc nào.
xan tham
5811梵語 mātsarya-rāga。慳吝貪著之意。即惜物而不布施與人,並貪求而無滿足。法華經方便品(大九‧八上):「若以小乘化,乃至於一人,我則墮慳貪。」大乘起信論(大三二‧五八一上):「以知法性體無慳貪故,隨順修行檀波羅蜜。」此慳貪之心,可以六度中之布施波羅蜜對治之。又俗稱無情且苛酷爲慳貪,蓋係由慳吝貪著之義而轉來者。〔中阿含經卷三十一、菩薩本行經卷上、法華經文句卷四下〕
; (慳貪) Phạm:Màtsarya-ràga. Cũng gọi: Xan tham. Bỏn sẻn và tham lam. Tiếc tiền của không bố thí cho người và tham cầu không biết chán. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 8 thượng), nói: Nếu dùng pháp Tiểu thừa để giáo hóa người, thì dù chỉ một người thôi ta cũng rơi vào khan tham. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 581 thượng), nói: Vì biết thể của pháp tính không có khan tham, nên tùy thuận tu hành Bố thí ba la mật Tâm khan tham có thể dùng Bố thí ba la mật để đối trị. [X. kinh Trung a hàm Q.31; kinh Bồ tát bản hạnh Q.thượng; Pháp hoa kinh văn cú Q.4 hạ].
xan tâm
5810又作慳貪心。爲六蔽心之一。心爲慳吝貪饜之惑所迷蔽,而不行布施;又雖行布施,亦不能以好物與人,稱爲慳心。〔大智度論卷三十三、大明三藏法數卷二十七〕(參閱「六蔽」1311)
; (慳心) Cũng gọi: Xan tham tâm. Tâm bị các thứ phiền não bỏn sẻn, tham lam che lấp nên không chịu làm việc bố thí, hoặc có bố thí thì cũng chỉ đem những vật mình không dùng được nữa để cho người. Là một trong Lục tế(6 thứ tâm xấu xa). [X. luận Đại trí độ Q.33; Đại minh tam tạng pháp số Q.37]. (xt. Lục Tế).
xan tích gia huỷ giới
5811顯教十重禁戒之一。又作慳生毀辱戒、慳惜財法戒、故慳加毀戒、慳戒、不慳戒。即制止慳惜財、法,不給與他人之所求,且反加毀辱之戒。梵網經卷下(大二四‧一○○四下):「若佛子,自慳,教人慳,慳因、慳緣、慳法、慳業。而菩薩見一切貧窮人來乞者,隨前人所須,一切給與。而菩薩以惡心、瞋心,乃至不施一錢、一針、一草;有求法者,不爲說一句、一偈、一微塵許法,而反更辱罵者,是菩薩波羅夷罪。」〔菩薩戒義疏卷下〕(參閱「十重禁戒」461)
xan tích gia hủy giới
(慳惜加毀戒) Cũng gọi: Xan sinh hủy nhục giới, Xan tích tài pháp giới, Cố xan gia hủy giới, Xan giới, Bất xan giới. Giới răn không được sẻn tiếc tài pháp và làm nhục người. Là 1 trong 10 giới trọng cấm của Hiển giáo. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1004 hạ), nói: Khi Bồ tát thấy những người nghèo khổ đến cầu xin, lẽ ra phải tùy nhu cầu của họ mà cung cấp theo khả năng của mình, nhưng vì tâm xấu xa, tâm hờn giận, nên chẳng những Bồ tát đã không cho ai được một đồng tiền, một cây kim, một ngọn cỏ; hoặc nói một câu kinh, một bài kệ cho người cầu pháp, mà trái lại, còn nhục mạ họ, thì đó là tội Ba la di của Bồ tát. [X. Bồ tát giới nghĩa sớ Q. hạ]. (xt. Thập Trọng Cấm Giới).
Xan 慳
[ja] ケン ken ||| (mātsarya, matsara, lobha; Pali pariggaha); Tib. ser sna. 'stinginess,' 'parsimony.' One of the lesser afflictions as listed in the Abhidharmakośa-bhāsya, one of the twenty secondary afflictions (隨煩惱) in the doctrine of the Yogācāra school 瑜伽行派. The name of the mental function whereby one is unable to give to others due to addiction to assets and/or dharma. 〔成唯識論T 1585.31.33b〕 (s: mātsarya, matsara, lobha; p: pariggaha; t: ser sna). => Keo kiệt, bủn xỉn. Là một trong Tiểu phiền não địa pháp theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, và là một trong 20 tuỳ phiền não theo giáo lý Duy thức. Là tâm hành do mình không sẵn lòng bố thí cho người khác vì tham đắm tài sản hoặc bỏn sẻn pháp.
xao lãng
To distract—To neglect.
xao xuyến
Excited—Stirred.
Xao xướng 敲唱
[ja] コウショウ kōshō ||| The ideograph 敲 means to knock, referring to the student's questioning of the teacher, and 唱 refers to the appropriate answer on the part of the teacher. Chan technical teaching terminology. => Chữ Xao có nghĩa là gõ, nói đến câu hỏi giữa môn đệ và thầy, và chữ Xướng Là câu trả lời đáp lại của thầy. Là thuật ngữ về cách dạy người của Thiền tông.
xao động
Xem trạo cử.
; See Xao Xuyến.
xe
Chariot.
xe trâu
Goratha (S).
xem
To watch—To see—To look at.
xem bói
To consult a fortune-teller.
xem chừng
It sems that.
xem khinh
To contemn—To scorn—To disdain.
xem lại
To see again.
xem mặt
To see the future bride before deciding on the marriage.
xem như
To regard—To consider.
xem qua
To run (look) through--To look over.
xem ra
See Xem Chừng.
xem sao
1) To observe the stars. 2) To see what happens.
xem sơ qua
To skim—To scan.
xem thường
To underestimate—To look lightly—To disregard—Chúng ta không nên xem thường những việc xấu nhỏ như chẳng có gì vì sau khi chết quả báo phải trả không thiếu một chi tiết nào—One should never looks lightly upon slight and small evils, considering them not be offenses; for after death retribution in undergone in the most exact detail.
xem tuổi
To study the horoscope of a boy and a girl before deciding on the marriage.
xem tướng
Phán đoán con người qua hình dung tướng mạo—To judge temperament and character from facial features or form of body.
xem xét
To examine—To see (look) into—To consider.
xen
1) To insert. 2) To interfere—To intervene. 3) To interrupt.
xen kẻ
To put between.
xen lẫn
Intermingled.
xen vào
To interfere—To intervene.
xich ngọc
Kiṁśuka (S).
xin
To demand—To ask for—To request—To beg—To beseech.
xin giữ giới là lìa bỏ sát sanh
Take precepts to give up killing.
xin keo
To consult the oracles.
xin kiếu
1) To send excuse for not coming. 2) To say good-bye.
xin lỗi
Kāmayati (S), Excuse.
; To apologize—To beg pardon—To ask to be excused—To make excuse.
xin nghỉ phép
To ask (request) for leave of absence.
xin thôi
To resign—To send in one's resignation.
xin tiền
To ask for money.
xin việc
To ask for work—To apply for a job.
xin xăm
See Xin Keo.
xin xỏ
To demand—To request—To ask for.
xin ăn
To beg for food.
xinh
Pretty—Charming.
xinh xắn
Cute—Lovely.
xinh đẹp
See Xinh.
xiêm châu
Xem Xà đề.
xiêm la phái
6243 【暹羅派】(Siam-nikāya)錫蘭三大佛教派別之一。為錫蘭佛教復興運動領袖薩羅難迦羅(Saraṇaṅkara, 1699~1778)與暹羅僧優波離(巴 Upāli)創於一七五三年,以坎底(Kandy)之摩爾伐多寺與阿斯羯利寺為中心。該派發展至今,僧伽數最多,約佔全國僧伽總數百分之六十五。其後分為摩爾伐多派(Malwatta)、阿斯羯利派(Asgiri)、拘提派(Kotte)、賓多羅派(Bentara)、迦耶尼派(Kalyāṇī),此五派雖各自獨立,不相統屬,但一切律儀完全相同。各派僧侶領袖皆稱摩訶那耶迦(大導師)及阿努那耶迦(副導師),由各派僧侶代表選出,終身任職。比丘皆屬僧伽羅族之瞿維伽姆種姓。主張禮拜佛舍利而不拜佛像。在政治方面亦頗有其影響力。
xiên
1) Slanting—Inclined—Leaning---Oblique. 2) To stab (pierce) through.
xiên qua
To transpierce—To pierce through.
xiên xẹo
Crooked.
xiêu
Inclined—Leaning—Aslant.
xiêu bạt
Phiêu bạt—To have no fixed home—To wander from place to place—To drift.
xiêu lòng
To be persuaded (allured).
xiêu lạc
To lose one's way—To go astray.
xiêu vẹo
See Xiêu.
xiếc
Circus.
xiết
1) To seize (xiết đồ). 2) To rub hard. 3) To flow fast (water).
xiển sĩ
6841僧人之尊稱。李白登巴陵開元寺西閣贈衡嶽僧方外詩:「衡嶽有闡士,五峰秀真骨。」
xiển đà
6841<一>又作車匿、闡那、闡鐸迦。意譯欲作、應作。為悉達多太子出家踰城時隨從之馭馬者。後出家,成為六群比丘之一。直至佛陀入滅後,闡陀始受默擯法之懲治,遂從阿難學道,而證阿羅漢果。〔雜阿含經卷二十三〕(參閱「車匿」3020) <二>即闡陀論。為古代印度外道六論之一。闡陀,係吠陀經典中由韻文所組成之部分;闡陀論,即講述音韻等之論書,屬於吠陀之輔助學。百論疏卷上之下(大四二‧二五一上):「闡陀論釋作首盧迦法,佛弟子五通仙等說偈,名首盧迦。」上引之首盧迦,係於經論中長行或偈頌,以滿三十二字(音節)為一節(一偈)之單位名稱。〔雜阿含經卷五、佛本行集經卷三、金七十論卷中〕 <三>婆羅門讀誦之法。有部毘奈耶雜事卷六之注(大二四‧二三二下):「言闡陀者,謂是婆羅門讀誦之法—長引其聲,以手指點空而為節段;博士先唱,諸人隨後。」據五分律卷二十六載,有婆羅門兄弟二人,原誦習闡陀鞞陀(吠陀)書,後依正法出家。聞諸比丘誦經,乃譏笑並訶斥彼諸比丘,不明語長語短、輕音重音等誦經之法。諸比丘聞之而覺羞恥,遂往告佛陀,佛言(大二二‧一七四中):「聽隨國音讀誦,但不得違失佛意,不聽以佛語作外書語,犯者偷蘭遮。」
; Chandaka (skt)—See Xa Nặc in Vietnamese-English Section.
xiển đà luận
Chandas (S)Vệ đà.
xiển đề
Xem Nhứt điên ca.
; Atyantika (S). Also Nhất xiển đề.
; Phế bỏ Phật pháp—Abandon Buddha-truth.
xiển đề thành phật
6842謂一闡提亦能成佛。一闡提指樂欲生死而不願求出離之眾生,故楞伽等經中多稱闡提畢竟不能成佛。蓋闡提成佛之說係出自大般涅槃經,其根本思想在於認為佛性常住而一切悉有,從而主張一闡提亦具有佛性,縱然斷善根,其佛性仍常住不變,最後亦能成佛。 據梁高僧傳卷七載,鳩摩羅什之門人竺道生,見法顯所譯六卷泥洹經後,大唱闡提成佛之說。初時道生曾遭守舊僧徒之抨擊,直至曇無讖譯出涅槃經後,其說始漸為人所接受。其後天台、華嚴等一乘家亦對闡提成佛之理深表贊同,並各從自家之見地加以解說。此外,日本真言宗立闡提得度(古義)、闡提定性(新義)之論題,以闡提成佛為密乘不共之法。〔北本大般涅槃經卷二十六、南本大般涅槃經卷二十四〕(參閱「一闡提」85)
xiển đề tỳ kheo
Vị Tỳ Kheo không chịu vào Niết Bàn mà ở lại trần thế để tế độ chúng sanh—Bhiksus who refuse to enter upon their Buddhahood in order to save all beings
xiển-đà
(闡陀): Trong Hữu bộ Tỳ-nại-da tạp sự (有部毘奈耶雜事), quyển 6 có lời chú như sau: 言闡陀者,謂婆羅門讀誦之法(Ngôn xiển-đà giả, vị bà-la-môn độc tụng chi pháp. - Nói xiển-đà, đó là nói phép tụng đọc của đạo Bà-la-môn...) Vì thế, xiển-đà tức là phép tụng đọc của ngoại đạo vào thời đức Phật.
xiểng liểng
Crushing defeat.
xiệc
See Xiếc.
xo
Buồn xo—Very sad.
xoa
To rub.
xoa bóp
To massage.
xoa dầu
To rub with oil.
xoa dịu
To be placated.
xoa tay
To rub one's hands together to express satisfaction.
Xoa thủ 叉手
[ja] サシュ shashu ||| (1) Folding the palms of the hands together with the fingers crossed. Also, the palms together with the middle fingers crossing each other--an old Indian form of greeting. (2) Both hands overlapping on the breast. Bending the left hand and folding the remaining four fingers to make a fist, a small distance away from the breast, then covering with the right hand, spreading the elbows in the area of the breast. => 1. Chắp hai bàn tay lại từng ngón đan lại với nhau. Cũng vậy, hai bàn tay chắp lại với những ngón giữa đan lại với nhau--một hình thức chào nhau của người Ấn Độ thời xưa. 2. Cả hai tay ấp lên ngực. Co tay trái và giữ bốn ngón tay còn lại thành nắm tay, giữ một khoảng cách nhỏ với ngực, rồi dùng tay phải nắm lấy tay trái, dang khuỷu tay ra phía trên vùng ngực.
Xoa 叉
[ja] サ, シャ sa, sha ||| (1) Also, again. (2) To clasp the hand; to interlock the fingers. (3) A prong, a fork. => 1. Lại nữa, lần nữa. 2. Siết chặt tay; Các ngón tay đan vào nhau. 3. Cái chĩa, cái nĩa.
xoay quanh
To revolve.
xoay tiền
To find money.
xoay xở
To be resourceful.
xoi bói
Xoi mói—To find fault with.
xong
To accomplish—To end—To finish.
xong chuyện
To have done with something.
xong hẳn
To finish (accomplish—end) completely.
xong nợ
To get out of debt.
xong xuôi
Ended—Finished.
xong đời
To pay the debt to nature—To have done with life.
xoàng xĩnh
Mediocre.
xoáy
To swirl—To whirl.
xoạc
To spread wide apart.
xoắn
To attach oneself to—To hang on—To cling to.
xoắn xít
See Xoắn.
xu
Chốt hay trục cửa—A pivot—An axis.
xu hướng
Tendency—Inclination.
xu thế
Tendency.
xu thời
To be an opportunist.
Xu yếu
樞要; C: shū yào; J: sūyō; |1. Điểm then chốt; điểm sinh động; điểm quan trọng; 2. Luận giải với dụng ý làm sáng tỏ yếu điểm của kinh văn, như Thành Duy thức luận xu yếu (成唯識論樞要) của Khuy Cơ.
xu yếu
Nguyên tắc—The pivot—Principles.
xua đuổi
To get rid of someone—To drive away someone—To put away from the mind (something).
xui
1) Out of luck—Unlucky—Unfortunate. 2) To urge—To induce—To excite—To persuade—To tempt.
xui bảo
To advise.
xui giục
See Xui (2).
xui khiến
To bring about—To cause.
xui ngầm
To incite in an underhand way.
xui nên
See Xui khiến.
Xung
冲 (沖); C: chōng; J: chū;|Có các nghĩa sau: 1. Sự hài hoà, tính ân cần, vui lòng; 2. Sâu, thăm thẳm; 3. Không, trống không; 4. Xông tới, va chạm; 5. Toả ra, truyền đi; 6. Bay vút lên, đi lầm đường.
xung
Nổi xung—To fly into a rage—To get into a fury (passion—temper).
xung gan
To be angry (in a temper).
xung khắc
Disagreeing with—Incompatible.
xung quanh
About—Round—Around.
xung thiên
To ascend to the sky.
xung yếu
Important ground.
xung đột
Conflict
; Struggle—Conflict.
Xung 冲
[ja] チュウ chū ||| (1) Harmonious, complaisant, agreeable. (2) Deep, profound. (3) Nothingness, emptiness, void [空, 虚]. (4) To dash against, to clash with. (5) To pour out; to infuse. (6) To soar, to wander from. => Có các nghĩa sau: 1. Sự hài hòa, tính ân cần, vui lòng. 2. Sâu, thăm thẳm. 3. Không, trống không [không, hư]. 4. Xông tới, va chạm. 5. Tỏa ra, truyền đi. 6. Bay vút lên, đi lầm đường.
xuy
Thổi—To blow—To puff—To praise.
Xuy cữu mộng
(炊臼夢): giấc mơ thấy đốt cối xay. Từ này phát xuất từ câu chuyện của Trương Chiêm (張瞻) trong Tây Dương Tạp Trở, phần Mộng (夢) của Đoàn Thành Thức (段成式, khoảng 803-863) nhà Đường như sau: “Cổ khách Trương Chiêm tương quy, mộng xuy ư cữu; vấn Vương Sanh, Sanh ngôn: 'Quân quy, bất kiến thê hỉ; cữu trung xuy, cố vô phủ dã.' Cố khách chí gia, thê quả tốt dĩ sổ nguyệt (賈客張瞻將歸、夢炊於臼、問王生、生言、君歸、不見妻矣、臼中炊、固無釜也、賈客至家、妻果卒已數月, vị khách buôn tên Trương Chiêm chuẩn bị về nhà, chợt mộng thấy đốt chiếc cối xay; bèn hỏi Vương Sanh, Sanh đáp: 'Ông về đến nhà thì không gặp được vợ nữa, đốt trong cối, cứng không có nồi.' Khi người khách buôn về đến nhà, quả nhiên vợ ông đã qua đời mấy tháng rồi).” Từ “vô phủ (無釜)” đọc trại là “vô phụ (無婦)”, nghĩa là không có vợ, không còn vợ nữa, tức là vợ đã chết. Cho nên, xuy cữu (炊臼) hay xuy cữu mộng đều là những từ được dùng để chỉ cho vợ chết. Từ đó, có một số từ liên quan khác như xuy cữu chi thống (炊臼之戚), xuy cữu chi thích (炊臼之痛) để nói lên niềm đau xót vô biên khi mất vợ, hay để tang vợ. Trong Liên Pha Thi Thoại (蓮坡詩話) quyển trung của Tra Vi Nhân (查爲仁, 1693-1749) nhà Thanh có câu: “Tân xú trọng xuân, dư tao xuy cữu chi thống, đồng nhân hòa điệu vong thi thậm đa (辛醜仲春、餘遭炊臼之痛、同人和悼亡詩甚多, giữa mùa xuân xui xẻo, gặp phải tang vợ, mọi người cùng làm thơ thương tiếc rất nhiều).” Khi đám tang người vợ, trong một số đối liễn, thường có câu: “xuy cữu mộng lai (炊臼夢來, giấc mơ đốt cối đến).”
xuy diệt chỉ chúc
2830禪宗公案名。又作龍潭紙燈、龍潭滅燭、久響龍潭。為唐代德山宣鑒禪師(780~865)契悟之故事。德山,俗姓周,出家後初學律及性相等,以其常講說金剛經,故世稱周金剛。後歸於禪宗,參謁青原法系下之龍潭崇信。一夜,德山欲辭龍潭,龍潭燃紙燭遞予德山,當德山伸手接燭之剎那,龍潭即將燭火吹熄,以致一片黑闇,其時德山頓然大悟。 景德傳燈錄卷十五德山宣鑒章(大五一‧三一七中):「朗州德山宣鑒禪師,劍南人也。(中略)因造龍潭信禪師,問答皆一語而已,師即時辭去,龍潭留之。一夕於室外默坐,龍問:『何不歸來?』師對曰:『黑!』龍乃點燭與師,師擬接,龍便吹滅,師乃禮拜。龍曰:『見什麼?』曰:『從今向去,不疑天下老和尚舌頭也。』」〔無門關第二十八則、五燈會元卷七〕
xuy mao
Kiếm “Xuy Mao” có thể chẻ đôi một chiếc lông đang rơi—Name of a sharp sword, that would sever a falling feather.
xuy pháp loa
2830法螺即梭尾螺,吹其殼即發高聲,佛之說法廣被於大眾,故比喻佛說法為吹法螺。法華經卷一序品(大九‧三下):「今佛世尊欲說大法,雨大法雨,吹大法螺,擊大法鼓。」今譏人誇言無實者稱為吹法螺。
; Thổi loa pháp. Ví việc Phật thuyết pháp như thổi tù và hiệu lệnh cho ba quân vậy—The blow the conch of the Law, the Buddha's teaching.
xuy quang
To blow out a light.—A blown-out light.
xuy vạn thiền sư ngữ lục
2830凡二十卷。明代僧吹萬廣真(1582~1639)撰,三山燈來重編。崇禎十六年(1643)刊行。係吹萬說法之廣錄,內容包括卷一至卷二之衡州東禪院、忠州聚雲寺等處五會之語錄,卷三之普說、小參,卷四之示眾、茶話,卷五之法語、入堂、入室、勘辨、問答,卷六至卷七之頌古,卷八至卷九之偈,卷十之佛事、像讚、書問,卷十一至卷十三之詩、歌,卷十四之賦、記、引,卷十五之序、文,卷十六之傳、篇,卷十七至卷十八之說,卷十九之緣起,卷二十之雜著等,卷末附錄田華國撰之吹萬禪師塔銘、至善撰之行狀、高仰之所撰重刻全錄疏等。吹萬一生致力於弘揚佛法,令當時衰弊之禪風為之一振。 崇禎十五年,刊行燈來較早期所編之吹萬真禪師語錄三卷,全稱聚雲吹萬真禪師語錄。其後,於重編廣錄時,大幅度收錄之。
xuyên
1) Con suối: A stream—A mountain stream. 2) Tỉnh Tứ Xuyên: Ssu-Ch'uan province in China. 3) Mặc (quần áo): To wear. 4) Xuyên qua (dùi): To bore—To pierce—To thread.
xuyên lão
Chuan lao (C).
xuyên nhĩ khách
Một từ mà người Trung Hoa dùng để gọi Tổ Bồ Đề Đạt Ma—A term which Chinese used to call Bodhidharma—See Xuyên Nhĩ Tăng.
xuyên nhĩ tăng
Sư Tăng Ấn Độ phần nhiều đeo vòng nơi tai. Tổ Bồ Đề Đạt Ma được người Trung Hoa gọi là Xuyên Nhĩ Khách—Pierce-ear monks, many of the Indian monks wore ear-rings. Bodhidharma was called (by the Chinese) the ear-pierced guest.
xuyên qua
To go through—To pass through something.
xuyên sơn
To pierce a mountain by tunnel.
xuyên thanh
Trans-sonic.
xuyên thí ngạ quỷ
956日本佛教用語。指為溺死者祈求冥福,而於河岸舉行之餓鬼供養法會。多行於夏季。
; Cúng thí những ngạ quỷ chết đuối nơi thác ghềnh—Making offerings at the streams to the hungry ghosts of the drowned.
xuyên thấu
To penetrate.
xuyên tạc
To distort the truth.
xuyên tỉnh tầm thủy
Khoan giếng tìm nước, nước từ từ được phát hiện, cũng giống như người ta từ từ tìm ra được Phật tánh của mình—To bore a well and gradually discover water, likened to the gradual discovery of the Buddha-nature .
xuyên điền hùng thái lang
955(1899~ )日本佛教學者。畢業於東京大學文學部哲學科。曾任東京大學教授。著有プラトンの辨證書、哲學小論集、文化と宗教、倫理學、西洋哲學史等。
xuyến nhĩ khách
3924禪林用語。指異國人,或指菩提達磨。於叢林中,轉指聞法悟道之伶俐衲僧。碧巖錄第五十五則之夾注(大四八‧一八九上):「罕逢穿耳客,多遇刻舟人。」
xuyến quá độc lâu
3924禪林用語。謂斷滅一切情識之境地。從容錄第二十四則(大四八‧二四三中):「雪竇亦云:『如今藏在乳峰前,來者一一看方便。』師高聲喝云:『看腳下!』萬松道:『雪竇貪觀腳下,不知穿過髑髏。』」
xuyến tỉnh
3924即鑿井,用以譬喻漸見佛性。法華經法師品(大九‧三一下):「藥王!譬如有人渴乏須水,於彼高原穿鑿求之,猶見乾土,知水尚遠。施功不已,轉見濕土,遂漸至泥;其心決定,知水必近。」
xuân
Spring.
xuân cảnh
Spring landscape (scenery).
xuân hòa thần
Xem Chủ dạ thần.
xuân kim cang nữ
Xem Kế Lị Cát La Bồ tát.
xuân lan thu cúc
3834禪林用語。春之蘭與秋之菊,皆芳香馥郁,難定優劣,故以之比喻勝負優劣之難以分別者。從容錄第六十三則(大四八‧二六六中):「三聖、雪峰,春蘭秋菊;趙州、投子,卞璧燕金。」
xuân nhật bản
3832日本佛教名詞。凡自平安中期至鎌倉時代,奈良興福寺與春日神社所開版之佛典皆稱春日版,此爲明治以降之稱呼。遺品中所刊記者,以寬治二年(1088)之成唯識論爲最古。至平安朝則有成唯識論述記、成唯識論了義燈、大乘法苑義林章等法相宗經典之開版。鎌倉時代有大般若、法華、仁王、金光明等經,與瑜伽師地論之開版。此時期開版之經書,無論紙質、書法、墨色等皆極優良。又其卷子本、折本等甚多。由於春日版之刺激,東大寺與其他奈良諸大寺之開版事業乃因而大興。〔日本古刻書史、日本印刷史〕
xuân nhật mạn đồ la
3832日本佛教名詞。爲垂跡美術之一種。乃春日神社之祭神四所與若宮五社之本地佛(釋迦、藥師、十一面、文殊、地藏)、社殿與神像之圖畫,稱爲春日曼荼羅。另繪有神鹿背負袯鏡之圖,稱春日鹿曼荼羅。此種春日曼荼羅圖繪,鎌倉與室町時代均極盛行。又春日曼荼羅畫於廚子內,稱爲春日廚子。〔諸社一覽卷五、日本佛教史之研究〕(參閱「春日廚子」3833)
xuân nhật quyền hiện nghiệm kí
3833凡二十卷,目錄一卷。日本之繪卷,爲日本御物。詞書爲鷹司基忠父子四人主筆,繪畫則出自繪所預右近將監高階隆兼之手。內容以春日明神之靈驗譚爲主,其中大半與佛教有關。原藏於春日神社,至幕府末年散佚,後經各方收集獻納,復又完璧珍藏。此繪卷呈一周密筆調,其蔚然完整,堪稱嫌倉末期之冠。摹本藏於東京帝室博物館。
xuân nhật trù tử
3833日本佛教名詞。爲一種供佛小龕。其形狀爲平面長方形或正方形,正面壁上繪有春日曼荼羅,扉內繪有十六善神等圖畫。爲春日神社信仰禮拜之對象。此風盛行於鎌倉、室町時代。(參閱「春日曼荼羅」3833)
xuân nhật tỉnh chân dã
3832(1914~ )日本佛教學者。畢業於大谷大學。曾任佛教大學教授。著有金剛般若波羅蜜經諸譯對照研究,及中國古代文化の性格、原始無量壽經思想形態推定の課題等諸篇論文。
xuân thu bát vương nhật
3834據法苑珠林引提謂經載,春秋八王日係指天地陰陽交替之日。於此八日之時,帝釋輔臣案行於天下,比較善惡而定生註死,增減罪福。善者若於此八日能持齋修道,則能致福。八日即:(一)立春,立春則三陽交泰,天氣下降,地氣上升,萬物萌生。(二)春分,春分則天地和煦,萬物長茂。(三)立夏,立夏則草木盛長,百物孕育。(四)夏至,夏至則日長之極,生物繁盛。(五)立秋,立秋則秋令之始,生物將遂。(六)秋分,秋分則秋律平分,萬物成遂。(七)立冬,立冬則天氣始肅,萬物歛藏。(八)冬至,冬至則一陽初生,冬日之始。
xuân thu kinh
Ch'un-chiu ching (C), Spring and Autumn Annals Do Khổng Phu Tử san định.
xuân ốc diệu ba
3833(1311~1388)日本臨濟宗僧。號不經子。甲斐(山梨縣)人。早年隨夢窓疎石參禪,研究宗意。歷住等持寺、天龍寺、南禪寺,後任僧錄司。日本臨濟宗創業當時,協助夢窓甚力,對於五山文學之發展貢獻頗大。日本元中五年(或嘉慶二年)入寂,享年七十八。勅號「普明國師」、「智覺普明國師」。著有語錄七卷。
xuôi
Easy—Favourable.
xuôi dòng
Down stream—With the current.
xuýt chết
To escape death by a hair's breath.
xuýt nữa
A little more.
xuýt xoát
Almost—Nearly.
Xuất
出; C: chū; J: shuchi;|Có các nghĩa sau: 1. Lộ ra, hiện ra, xuất hiện, trình hiện (s: abhipravartate, pravartate; t: skye ḥgyur); 2. Sinh ra từ bào thai; 3. Vượt quá, vượt hơn.
xuất
Nairyanika (S)Một trong 4 hành tướng của Đạo đế: Đạo, Như, Hành, Xuất.
; To go out, come forth, put forth; exit; beyond.
; Bhavet (skt) 1) (v) To exit—To put forth—To go out—To come out—To come forth. 2) (adv) Beyond—Outside this world—Not of this world—Of Nirvana character.
xuất ban thiêu hương
1561又作出班上香。禪宗寺院,於供養諸佛或祖師之大法會中,依準出班之儀式,行至諸佛祖師之圖像前上香,用表虔誠禮敬之意。出班,即出於兩班之行列。通常上香之後,即合掌歸位。
xuất chư pháp tam muội
Sarva-dharmodgata-samādhi (S).
xuất cách kiến giải
1560禪林用語。格,指一定之標準。出格,又作越格,謂超出標準,乃超群之意。故禪林每謂超越一般凡常之見解為「出格見解」。又「出格玄談」則指超越凡俗觀點的深奧道理,即佛法之宗旨。若形容諸佛祖師等了達悟境者之言談,則稱「出格詞」。
xuất diệu kinh
1562凡三十卷(或二十卷)。尊者法救(梵 Dharmatrāta)造,姚秦竺佛念譯。書成於東晉永和六年至義熙十三年(350~417)之際。又稱出曜論。收於大正藏第四冊。係由佛教教訓式偈頌及其注釋之故事合輯而成,凡三十四品。出曜,舊名譬喻(梵 avadāna,音譯阿波陀那),即十二部經之第六,指為助於理解教理,以譬喻或寓言說明之部分。全經透過譬喻來解說人生無常,以修行戒、定、慧積集善根而達到解脫之道理,內容與法句經相近。出曜經卷六(大四‧六四三下):「所謂出曜者,從無常(本經之第一品)至梵志(本經之最後品),採眾經之要藏,演說布現,以訓將來,故名出曜。」〔出三藏記集卷二、開元釋教錄卷四〕
; Avadanas (skt)—A Ba Đà Na—Kinh nói về những chuyện đáng nhớ; phần thứ sáu trong 12 phần của kinh điển, chọn lấy yếu nghĩa của các kinh, để diễn thuyết phô bày cho người sau—Stories of memorable deeds; the sixth of the twelve sections of the canon, consisting of parables of comparisons.
Xuất gia
(s: pravrajyā, p: pabbajjā, j: shukke, 出家): âm dịch là Ba Phệ Nễ Da (波吠儞耶), tức ra khỏi sinh hoạt gia đình thế tục, chuyên tâm tu tập tịnh hạnh của bậc Sa Môn (s: śramaṇa, p: samaṇa, 沙門). Từ này còn chỉ chung cho những người xuất gia, đồng nghĩa với Sa Môn, Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘); đối lập với từ tại gia (在家). Trong Quy Sơn Cảnh Sách Cú Thích Ký (溈山警策句釋記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1240) quyển Hạ giải thích xuất gia có 2 nghĩa: “Xuất gia hữu nhị, nhất xuất thế tục gia, túc ly trần tục, viễn tham tri thức; nhị xuất phiền não gia, đoạn vọng chứng chơn, đốn siêu Tam Hữu (出家有二、一出世俗家、足離塵俗、遠參知識、二出煩惱家、斷妄證眞、頓超三有, xuất gia có hai, một là ra khỏi nhà thế tục, chân xa lìa trần tục, đi xa tham vấn tri thức; hai là ra khỏi nhà phiền não, đoạn sai lầm chứng chân thật, vượt ra khỏi Ba Cõi).” Hay trong Tứ Thập Nhị Chương Kinh Chú (四十二章經註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 37, No. 669) lại giải thích xuất gia có 3 nghĩa: “Cát ái từ thân, thân xuất gia dã; thức tâm đạt bổn, tâm xuất gia dã. Xuất gia hữu tam, nhất từ thân, xuất thế tục gia; nhị ngộ đạo, xuất Ngũ Uẩn gia; tam chứng quả, xuất Tam Giới gia (割愛辭親、身出家也、識心達本、心出家也、出家有三、一辭親、出世俗家、二悟道、出五蘊家、三證果、出三界家, cắt yêu thương, từ cha mẹ là thân xuất gia; biết rõ tâm, đạt nguồn chơn là tâm xuất gia; xuất gia có ba, thứ nhất từ cha mẹ, ra khỏi nhà thế tục; thứ hai ngộ đạo, ra khỏi nhà Năm Uẩn; thứ ba chứng quả, ra khỏi nhà Ba Cõi).” Bên cạnh đó, Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 23 cho rằng xuất gia có 4 nghĩa: “Nhất xuất trần tục ân ái gia, nhị xuất Tam Giới hỏa trạch gia, tam xuất thô hoặc phiền não gia, tứ xuất tế hoặc Vô Minh gia, xuất đắc tứ chủng gia, thỉ xưng Nạp Tăng gia (一出塵俗恩愛家、二出三界火宅家、三出麤惑煩惱家、四出細惑無明家、出得四種家、始稱衲僧家, thứ nhất ra khỏi nhà ân ái trần tục, thứ hai ra khỏi nhà bốc lửa Ba Cõi, thứ ba ra khỏi nhà phiền não thô hoặc, thứ tư ra khỏi nhà Vô Minh tế hoặc, ra khỏi được bốn loại nhà ấy, mới gọi là nhà Nạp Tăng).” Ngoài ra, xuất gia còn có 3 loại khác là thân xuất gia mà tâm không xuất gia, tâm xuất gia mà thân không xuất gia, và cả thân và tâm đều xuất gia. Phàm người phát tâm xuất gia thì phải cạo bỏ râu tóc, xả đi áo quần thế tục mà mang vào áo hoại sắc; cho nên xuất gia còn được gọi là lạc sức (落飾), thế phát (剃髮), lạc phát nhiễm y (落髮染衣), thế phát nhiễm y (剃髮染衣), thế nhiễm (剃染), lạc nhiễm (落染), trĩ nhiễm (薙染). Trong 7 chúng đệ tử của Phật, ngoại trừ 2 chúng tại gia là Ưu Bà Tắc (s, p: upāsaka, 優婆塞) và Ưu Bà Di (s, p: upāsikā, 優婆夷); 5 chúng còn lại thuộc hàng ngũ xuất gia là Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘), Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼), Sa Di (s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌), Sa Di Ni (s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerā, sāmaṇerī, 沙彌尼), Thức Xoa Ma Na (s: śikṣamāṇa, p: sikkhamānā, 式叉摩那); được gọi là Ngũ Chúng Xuất Gia. Từ xưa, xuất gia vốn phát xuất từ Ấn Độ, từ thời đại Phệ Đà (s: Veda, 吠陀) đã có người từ bỏ thế tục, xa gia đình để cầu giải thoát. Về sau, giáo đồ Bà La Môn kế thừa phong tục này, phần nhiều vào trong rừng sâu thanh vắng, chuyên tâm tu đạo. Phật Giáo khởi đầu từ việc xuất gia học đạo của đức Thích Tôn, về sau mới tổ chức thành giáo đoàn. Tuy nhiên, một trong những nguyên tắc quan trọng phải tuân thủ khi xuất gia là phải được sự chấp thuận của cha mẹ. Cho nên, trong Căn Bổn Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Phá Tăng Sự (根本說一切有部毘奈耶破僧事, Taishō Vol. 24, No. 1450) quyển 17 có khẳng định rằng: “Phụ mẫu bất thính, bất đắc xuất gia thọ giới (父母不聽、不得出家受戒, cha mẹ không bằng lòng, không được xuất gia thọ giới).” Có khá nhiều tác phẩm tranh vẽ, điêu khắc về hình tượng xuất gia của đức Phật, tối cổ nhất là tác phẩm ở Đại Tháp Madras, Amarāvatī, Ấn Độ. Trên cửa phía Đông của Đại Tháp Sanchi ở miền Trung Ấn cũng có các phù điêu diễn tả cảnh tượng đức Phật xuất gia như thế nào. Về phía Trung Quốc, tại Thê Hà Tự (棲霞寺) ở Giang Tô (江蘇), Linh Nham Quật Tự (靈巖窟寺) ở Sơn Tây (山西), vẫn còn những bức phù điêu khắc cảnh đức Thích Tôn đến nơi thanh tĩnh, cỡi bỏ mũ báu trao cho Xa Nặc (s: Chandaka, p: Channa, 車匿), rồi tự lấy bảo kiếm cắt tóc xuất gia. Về công đức xuất gia, Phật Thuyết Xuất Gia Công Đức Kinh (佛說出家功德經, Taishō Vol. 16, No. 707) có thuật rõ như sau: “Bất xuất gia giả, mạng chung hoặc năng đọa ư Địa Ngục (不出家者、命終或能墮於地獄, người không xuất gia, sau khi mạng hết hoặc có thể bị đọa vào Địa Ngục)”; hay “dĩ nhất nhật nhất dạ xuất gia cố, mãn nhị thập kiếp, bất đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, thường sanh thiên nhân, thọ phước tự nhiên (以一日一夜出家故、滿二十劫、不墮地獄、餓鬼、畜生、常生天人、受福自然, vì lấy một ngày một đêm xuất gia, nên tròn hai mươi kiếp, không đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, thường sanh Trời người, hưởng phước tự nhiên).”
; 出家; C: chūjiā; J: shukke; S: pravraiyā; P: pabbajjā;|Rời bỏ gia đình và từ bỏ mọi quan hệ xã hội, đó là bước đầu tiên của một Tỉ-khâu Tiểu thừa, là người phải xa lánh thế gian để đạt thánh đạo. Tỉ-khâu phải cạo râu tóc, mang y vàng và bắt đầu giai đoạn làm Sa-di (s: śrā-maṇera).|Kinh sách nói về đời sống xuất gia như sau: »›Ðời sống tại gia đầy trở ngại, là nơi thiếu thanh tịnh, sống xuất gia thì nhẹ như khí trời. Khó khăn thay sống tại gia mà giữ được một đời không uế nhiễm. Còn nếu ta, cạo râu tóc, đắp y vàng, bước vào cuộc sống không nhà cửa thì sao?‹. Người đó nghĩ như thế, một thời gian sau, bỏ tài sản lớn, tài sản nhỏ, bỏ quyến thuộc lớn, quyến thuộc nhỏ, cạo râu tóc, đắp y vàng, bỏ nhà ra đi, bước vào cuộc sống không nhà.«
xuất gia
1557梵語 pravrajyā。音譯作波吠儞耶。即出離家庭生活,專心修沙門之淨行;亦兼指出家修道者,與沙門、比丘同義。為「在家」之對稱。又以出家乃遠離世俗之塵,故又稱出塵。出家須剃落鬚髮,拋棄服飾,並穿著壞色之衣,故出家又稱落飾、剃髮、落髮染衣、剃髮染衣、剃染、落染。在七眾弟子中,除優婆塞與優婆夷二眾屬在家眾外,其餘比丘、比丘尼、式叉摩那、沙彌、沙彌尼等五眾皆為出家眾,稱為出家五眾。 出家自古即行於印度,早在吠陀時代即有捨世捨家以求解脫者。爾後婆羅門教徒承其風尚,多入山林閑寂之處專心修道。佛教則以釋尊之出家學道為其濫觴,其後以出家人組織教團。有關釋尊出家之記事,詳載於修行本起經卷下、太子瑞應本起經卷上等。 摩訶僧祇律卷二十三、二十四中列舉二十六種不被允許出家者,如太小、太老、負債者、外道等。中阿含卷三十六何苦經說出家、在家各有自在與不自在之苦樂,如在家以金銀、畜牧等不增長之不自在為苦,出家以隨貪欲瞋癡自在任運為苦。大寶積經卷八十二郁伽長者會亦廣說在家、出家之得失,如在家塵污多,出家妙好;在家具縛,出家無礙;在家攝惡,出家攝善;在家怯弱,出家無怯;在家順流,出家逆流。又大智度論卷十三闡明在家與出家有行道難易之別,若居家欲專道業,則家業廢,故為難;若出家離俗,絕諸紛亂,一向專心行道,故為易。瑜伽師地論卷四十七揭示出家、在家菩薩修學功德之勝劣,皆謂出家功德較在家廣大。另外賢愚經卷四亦說出家功德無窮盡。 然大乘並不拘於形服持戒,而係以發菩提心及修利他行為出家要諦,故反對聲聞僧單以剃髮得戒為出家之本義。維摩詰所說經弟子品(大一四‧五四一下):「『我聞佛言,父母不聽,不得出家。』維摩詰言:『然汝等便發阿耨多羅三藐三菩提心,是即出家。』」大莊嚴法門經卷下(大一七‧八三○中):「菩薩出家者,非以自身剃髮名為出家,(中略)非以自身守護律儀名為出家;若能廣起四無量心,安置眾生,是名出家。」 凡欲出家者,必先生起善法之心,而後從師剃除鬚髮,披著袈裟,受持戒法。出家又有身出家心不出家、心出家身不出家、身心俱出家三種之別;小乘之比丘、大乘之菩薩僧屬身心俱出家者;大乘之菩薩居士,如維摩詰、賢護則屬心出家身不出家者。 又出家為釋迦八相之一,自古表現於雕畫之作品頗多,尤以印度馬德拉斯(Madras)阿摩羅婆提(Amarāvatī)大塔欄楯上所刻者為現存最古之作,係描繪車匿牽犍陟,帝釋執蓋跟從之光景。中印度山琦(Sanchi)大塔東門上,亦見釋尊出家始末詳細之浮雕。我國江蘇棲霞寺、山西靈巖窟寺中,刻出釋尊至閑靜處,脫寶冠與車匿,自以利劍剃髮之狀。〔大莊嚴法門經卷下、瑜伽師地論卷二十一、卷四十七、南海寄歸內法傳卷三受戒軌則條〕
; Nekkhamma (P), Pravrajyā (S), Pravrajyāta (S), Pabbajjā (S), Pabbajjāta (P), Pabbajati (P), Abhiniṣkramaṇa (S), Abhinikkhamaṇa (P), Nekkhamma samkappa (P), Renunciation, Away from home to be a monk, Entrance into ascetic life Cạo râu tóc, đắp y vàng, qui y tam bảo, thọ 10 giới Xem Lễ xuất gia.
; Pravrajyà (S). To leave home and become a monk or nun.
; Pravraj (skt). (I) Nghĩa của “Xuất Gia”—The meanings of Pravraj—“Xuất gia” có nghĩa là từ bỏ gia đình để gia nhập giáo đoàn và trở thành Tăng sĩ, đối lại với “tại gia” có nghĩa là cư sĩ còn ở tại gia đình—Leaving Home—Renunciation—Ordination—To leave home and family or to get out of a family and to become a monk or a nun—To leave one's home and family in order to join the Buddhist community to become a monk or nun, in contrast with “staying home” which means the life of a layman—To enter monkhood (monastic life or the order)—Ordination in Buddhism is initiation into the Buddhist Order (Sangha) in the presence of witnesses and self-dedication to monastic life. • Thời Đức Phật còn tại thế, các trưởng giả tử ở thành Tỳ Xá Ly đến chỗ ngài La Hầu La cúi đầu làm lễ hỏi rằng: “Thưa ngài La Hầu La, ngài là con của Phật vì đạo bỏ ngôi Chuyển Luân Thánh Vương mà xuất gia, việc xuất gia đó có những lợi ích gì?”— At the time of the Buddha, the sons of the elders at Vaisali came to Rahula's place and bowed to salute him, saying: “Rahula, you are the Buddha's son and left the throne to search for he truth; what advantage derives from leaving home?” • La Hầu La liền đúng theo Pháp mà nói sự lợi ích của công đức xuất gia— Rahula then spoke of the advantage of earning merits that so derive. • Lúc đó, ông Duy Ma Cật đến nói với La hầu La rằng: “Thưa La Hầu La! Ngài không nên nói cái lợi của công đức xuất gia. Vì sao? Không lợi, không công đức, mới thật là xuất gia. Về Pháp hữu vi có thể nói là có lợi, có công đức, còn xuất gia là pháp vô vi, trong Pháp vô vi không lợi, không công đức. La Hầu La! Vả chăng xuất gia là không kia, không đây, cũng không ở chính giữa; ly sáu mươi hai món kiến chấp, ở nơi Niết Bàn, là chỗ nhận của người trí, chỗ làm của bực Thánh, hàng phục các ma, khỏi ngũ đạo, sạch ngũ nhãn, đặng ngũ lực, lập ngũ căn, không làm não người khác, rời các tạp ác, dẹp các ngoại đạo, vượt khỏi giả danh, ra khỏi bùn lầy; không bị ràng buộc, không ngã sở, không chỗ thọ, không rối loạn trong lòng, ưa hộ trợ ý người khác, tùy thiền định, rời các lỗi. Nếu được như thế mới thật là xuất gia.”—Vimalakirti came and said: “Rahula, you should not speak of the advantage of earning merits that derive from leaving home. Why? Because home-leaving bestows neither advantage nor good merits. Only when speaking of the worldly (way of life) can you talk about advantage and merits. For home-leaving is above the worldly, and the transcendental is beyond advantage and merits. Rahula, home-leaving is beyond thisness, thatness and in between; is above the sixty-two wrong views, and abides in (the state of) nirvana. It is praised by all wise men and practiced by all saints. It overcomes all demons, liberates from the five realms of existence, purifies the five kinds of eyes, helps realize the five spiritual powers and sets up the five spiritual faculties, releases from earthly grievances, keeps from varied evils (derived from a mixed mind), frees from the unreality of names and terms, gets out of the mud (of defilement), relieves from all bondages, wipes our the duality of subject and object and all responsiveness and disturbances; it gives inner joy, protects all living beings, dwells in serenity and guards against all wrongs. If all this can be achieved, this is true home-leaving.” • Khi ấy ông Duy Ma Cật bảo các trưởng giả tử: “Các ngươi nay ở trong Chánh Pháp nên cùng nhau xuất gia. Vì sao? Phật ra đời khó gặp.”—Vimalakirti then said to the sons of the elders: “During this period of correct Dharma you should leave home to join the Sangha. Why? Because it is very difficult to have the good fortune of living in the Buddha-age.” • Các trưởng giả tử nói: “Thưa cư sĩ, chúng tôi nghe Phật dạy rằng cha mẹ không cho, không được xuất gia.”—The sons of the elders replied: “Venerable Upasaka, we have heard the Buddha said that once cannot leave home without the consent of one's parents.” • Ông Duy Ma Cật nói: “Phải, các ngươi nếu phát tâm Vô thượng Bồ Đề, đó chính là xuất gia, đó chính là đủ Giới Pháp.”—Vimalakirti said: 'Yes, it is so, but you will really leave home the moment you develop a mind set on the quest of supreme enlightenment (anuttara-samyak-sambodhi) which completes your home-leaving.' • Bấy giờ ba mươi hai vị trưởng giả tử đều phát tâm Vô thượng Bồ đề—At that time, all the thirty-two sons of the elders developed the anuttara-samyak-sambodhi mind. (II) Lời Phật dạy về “Xuất Gia” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Pravraj” in the Dharmapada Sutra: 1) Chẳng phải do giới luật đầu đà, chẳng phải do nghe nhiều học rộng, chẳng phải do chứng được tam muội, chẳng phải do ở riêng một mình, đã vội cho là “hưởng được cái vui xuất gia, phàm phu không bì kịp.”—Not only by mere morality and austerities, nor by much learning, nor even by serene meditation, nor by secluded lodging, thinking “I enjoy the bliss of renunciation, which no common people can know.” (Dharmapada 271). 2) Các ngươi chớ vội tin những điều ấy khi mê lầm phiền não của các ngươi chưa trừ—Do not be confident as such until all afflictions die out (Dharmapada 272).
xuất gia (người)
Renunciant.
xuất gia a xà lê
1560又作出家闍棃。五種阿闍棃之一。阿闍棃,為梵語 ācārya 之音譯,意即師範。出家阿闍棃即指傳戒時之戒師。又初出家時所依之授業師,亦稱出家阿闍棃。
xuất gia bái
1560剃髮出家時所唱誦之梵唄。又稱毀形唄。法苑珠林卷二十二剃髮部載有(大五三‧四四八中)「毀形守志節,割愛無所親;棄家入聖道,願度一切人」之出家唄。〔諸德福田經、諸經要集卷四〕
xuất gia chánh hạnh
Samacara (S)Một phẩm trong Căn bản chánh hạnh luận (Mulacara).
xuất gia công đức kinh
1559全一卷。東晉時所譯,然譯者佚名。收於大正藏第十六冊。佛陀欲令阿難度化鞞羅羨那王子出家,乃令阿難為之解說出家之功德,謂出家乃勝於布施等一切功德,諸功德中以此為最上。初時,佛聞鞞羅羨那王子之音樂,記彼七日當命終,遂使阿難勸其一日一夜出家。以此出家功德,命終後生於天上,二十劫間不墮三塗,常生天上、人間,最後得辟支佛果。阿難又問助人出家之福與障人出家之罪,佛具答之。
xuất gia duyên kinh
1560全一卷。東漢安世高譯。又作出家因緣經。收於大正藏第十七冊。本經旨在說明毀犯五戒之罪報,即:(一)殺生,若犯此罪,則有恒常痛苦、怨怨不息、思慮多惡、見者怖懼等十惡報。(二)偷盜,若犯此 o,則有恒為眾疑、親友惡逆等十惡報。(三)邪淫,若犯此罪,則有室家不和、危敗軀身等十惡報。(四)妄語,若犯此罪,則有為人輕毀不起恭肅、雖言有實人不奉用等十惡報。(五)飲酒,若犯此罪,則有散盡財賄、惡名遐邇等三十五惡報。
xuất gia ngoại đạo
1559指外道之中,外形同於出家人者。經典中常載有此例,如異部宗輪論載,佛陀入滅滿二百年時,有一出家外道捨邪歸正。又馬鳴菩薩傳述,中印度有一出家外道,世智辯聰,善通論議。法華文句記卷九上(大三四‧三一九中):「在家事梵,名為梵志;出家外道,通名尼乾。」即特以「尼乾子」通稱出家外道者。〔摩訶僧祇律卷十七、大智度論卷五十六、大毘婆沙論卷四、異部宗輪論述記〕
xuất gia nhân
One who has left home and become a monk or nun. Two kinds are named: (1) Thân xuất gia, one who physically leaves home, and (2) tâm xuất gia one who does so in spirit and conduct. A further division of four is: (1) thân xuất gia tâm không xuất gia one who physically leaves home, but in spirit remains with wife and family; (2) thân không xuất gia nhưng tâm xuất gia one who physically remains at home but whose spirit goes forth; (3) thân và tâm đều xuất gia one who leaves home body and spirit; and (4) thân và tâm đều không xuất gia one who, body and mind, refuses to leave home.
; Người đã từ bỏ gia đình để trở thành Tăng sĩ hay Ni cô. Có sáu loại xuất gia—One who has left home and become a monk or a nun. There are six kinds of monks or nuns: 1) Thân xuất gia: One who physically leaves home, but spirit remains with wife and family. 2) Thân Xuất gia, Tâm tại gia: One who physically leaves home, but in spirit remains with wife and family 3) Tâm xuất gia: One who leave home in spirit and conduct. 4) Thân tại gia, tâm xuất gia: One who physically remains at home, but whose spirit goes forth. 5) Thân tâm đều xuất gia: One who leave home body and spirit. 6) Thân tâm đều tại gia: One who, body and mind, refuses to leave home.
xuất gia nhập đạo
1559謂出恩愛之家而進入菩提之道。心地觀經卷四(大三‧三○七上):「發菩提心,捨離父母,出家入道。」遺教經論(大二六‧二八七中):「出家入道之人,為解脫故,自降其身而行乞。」出家入道本為一事,後世引申指入寺為僧稱出家,在家修行者稱入道。
; To leave home and enter the Way.
xuất gia nhị giới
1558指沙彌、沙彌尼之十戒,與比丘、比丘尼之具足戒。以此二種戒為出家眾所持者,故稱出家二戒。然若謂「出家戒」,則僅指比丘、比丘尼所受之具足戒。又比丘、比丘尼受此具足戒圓滿之後,稱為出家具戒、出家受戒、出家受具。(參閱「戒」2896)
xuất gia nhựt
The day of renunciation.
xuất gia thụ cận viên yết ma nghi quỹ
1560全一卷。元代拔合思巴(八思巴)集記。又作出家授近圓羯磨儀範、根本說一切有部出家授近圓羯磨儀範。收於大正藏第四十五冊。本書旨在說明出家作法及受具足戒之作法。與義淨譯之根本說一切有部百一羯磨中之受具足戒作法相比較,則本書所舉之作法較為慇重,且於四依法文及四重禁戒之戒文增加甚多。此外,本書卷末附有根本說一切有部苾芻習學略法。
xuất gia tác pháp
1559請參閱 出家緣經 指有關出家受戒之作法。世尊以來即有關於出家受戒之規定,此類規定詳載於諸部派之律藏犍度部受戒犍度中,印度部派佛教皆依從此類規定。然於我國,一般出家二眾不僅依四分律受二百五十戒、三百四十八戒,另須受梵網戒、瑜伽戒等之大乘戒,始能稱為大乘僧。
xuất gia tứ nguyện
1559指世尊初欲出家時所發之四種願。即:(一)願濟眾生困厄,(二)願除眾生惑障,(三)願斷眾生邪見,(四)願度眾生苦輪。〔普曜經卷四〕
Xuất gia 出家
[ja] シュッケ shukke ||| Literally, to "leave home." To renounce the secular life, or, in other words, to enter the Buddhist monastic system. The purpose of leaving home is to allow the believer to leave behind all kinds of worldly distractions and concentrate his/her full energies on the practice of the Buddhist path. The world-renunciant practitioner stands in contrast to the "lay practitioner" 在家, who attempts to conduct his or her Buddhist practice while continuing to meet worldly responsibilities. (pravrajita) => Từ bỏ cuộc sống thế tục, hoặc là, nói cách khác, tự nguyện làm Tăng sĩ Phật giáo. Mục đích của việc Xuất gia là để cho người có tín tâm lìa bỏ mọi thứ hấp dẫn của thế giới phàm trần, tập trung toàn bộ năng lực của mình vào việc tu học Phật pháp. Hàng Xuất gia khác với hàng Phật tử Tại gia, là người nỗ lực tu tập theo Phật pháp trong khi họ tiếp tục đảm đương trách nhiệm cuộc sống ở đời.
xuất giả hành
1561於空、假、中三種觀法中,菩薩從空觀出而入於假觀,稱為出假行。菩薩之修行,雖已證知空理,然不僅止於空理,而由空理再度於現象界起假觀,一一了別差別之相,以化益眾生。與「從空出假觀」一語同義。(參閱「三諦」684、「三觀」706)
; Bồ Tát khởi ý giả quán mà nhận sai biệt tướng, để giáo hóa làm lợi ích cho chúng sanh—A bodhisattva's entry into time and space, or the phenomenal, for the sake of saving others.
Xuất hiện
出現; C: chūxiàn; J: shutsugen;|Sự đến, sự ra đời. Sự thị hiện nơi thế gian (s: utpāda).
xuất hiện
1561請參閱 觀普賢菩薩行法經 謂諸佛菩薩為教化眾生之故,示現化身而出於世間。法華經方便品(大九‧七上):「諸佛世尊唯以一大事因緣,故出現於世。」
; To manifest, reveal, be manifested, appear, e.g. as does a Buddha's temporary body, or nirmànakàya. Name of Ưu đà di Udàyi a disciple of Buddha to be reborn as Samantaprabhàsa.
; 1) To appear—To become visible—To come into sight—To manifest—To reveal. 2) Chư Phật vì đại sự nhân duyên mà hiện ra nơi đời hay là 'hóa thân' của Phật nơi đời—To be manifested—To appear (as does a Buddha's temporary body or nirmanakaya). 3) Ưu Đà Di: Udayi (skt)—Ưu Đà Di, một trong những đệ tử của Phật mà sau nầy sẽ tái sanh làm Phổ Minh Như Lai—A disciple of Buddha to be reborn as Samantaprabhasa. 4) Con trai của vua A Xà Thế: A son of Ajatasatru.
Xuất hiện 出現
[ja] シュツゲン shutsugen ||| Appearance, arrival. Appearance in the world (utpāda). => Sự đến, sự ra đời. Sự thị hiện nơi thế gian (s: utpāda).
xuất huệ
1562能令人出離世間生死之妙慧。佛地經論卷二(大二六‧二九九上):「得能出離生死妙慧,故名出慧 C」
; Diệu huệ đưa chúng sanh ra khỏi luân hồi sanh tử—The wisdom of leaving mortality, or reincarnations—The wisdom of leaving the world.
xuất hành
To go out.
xuất khổ kị
1557又作卒哭忌、幽回忌。即人死後百日期滿之追忌供養。人死百日,亡者家屬之悲痛通常已告一段落,應可漸覺「出苦」而「卒哭」,故有此稱。
Xuất kinh
出經; C: chūjīng; J: shutsukyō;|Tên gọi tắt của Kim Cương Trí sở dịch chi Kim Cương đỉnh du-già trung lược xuất niệm tụng kinh (金剛智所譯之金剛頂瑜伽中略出念誦經).
Xuất kinh 出經
[ja] シュツキョウ Shutsukyō ||| The Chūjīng; the abbreviated title of the Jingangzhi suoyi zhi jingangding yuqie zhong lüechu niansong jing 金剛智所譯之金剛頂瑜伽中略出念誦經. => (c: Chūjīng) Tên gọi tắt của Kinh Kim Cương Trí Sở Dịch Chi Kim Cương Đỉnh Du Già Trung Lược Xuất Niệm Tụng.
xuất kiến
1556指以所修之道必得出離之妄見。釋門歸敬儀卷上(大四五‧八六一上):「還執出見,猶承愛種。」
xuất kì
1561即出離生死苦海之期限。無量壽經卷下(大一二‧二七五上):「數千億劫無有出期,痛不可言。」四分律刪繁補闕行事鈔卷上三(大四○‧二六上):「行者破戒之人,功德無量,遠有出期。不受戒者,隨流苦海,永無解脫。」
xuất kỳ
Kỳ hạn ra khỏi nỗi khổ đau của luân hồi sanh tử—The going forth period, i.e. from the suffering of mortality; the appointed time of going forth; the period of setting forth.
xuất kỳ bất ý
Unexpectedly—Suddenly.
xuất li
1562請參閱 出曜經 梵語 naiṣkramya,巴利語 nekkhamma。超出脫離之意。即離迷界、出生死輪迴之苦,而成辦佛道,以達於解脫之境,亦即出離三界之牢獄,了脫惑業之繫縛,故一般有「出離三界」、「出離生死」、「出離得道」之慣用語。又華嚴五教章卷三載,聲聞修道之人有漸出離與頓出離之別。華嚴經卷五(大一○‧二一下):「調伏眾生,令究竟出離。」仁王經卷上(大八‧八三七中):「天人俱修出離行,能習一切菩薩道。」長阿含卷一大本經(大一‧九上):「讚歎出離為最微妙清淨第一。」又據瑜伽師地論卷七十載,出離有二種,即:(一)出離三惡趣而趣向人天之善趣,(二)出離生死輪迴而趣向三菩提。此外,巴利佛教有所謂十波羅蜜之說,其中之第六即出離波羅蜜(巴 nekkhamma-pāramitā)。〔瑜伽師地論卷八十三、顯揚聖教論卷五、俱舍論卷十〕
; To leave, come out from.
xuất li phiền não
To leave the passions and delusions of life.
xuất li sinh tử
1563謂出離三界生死輪迴之境而成辦佛道。與「轉迷開悟」一詞為同義語。(參閱「出離」1563)
xuất li y
1563為「耽嗜依」之對稱。即指與善心相應之喜受、憂受、捨受三者;以此三者為出離三界、證得涅槃之所依,故稱出離依。又此三者於六塵之境不生愛著,心湛然安住,故以之為出離生死之所依。此外,若就其所對之六塵而言,稱為「六出離依」;若以心恆住妙清淨受(捨)而言,則稱「六恆住」、「六常行」。又以此為有漏法,特稱為意近行。「六出離依」與所對治之「六耽嗜依」各有十八意近行,合為三十六師句(三十六受);若亙於三世,則有一百八受。〔中阿含卷四十二「六處經」、俱舍論卷三、卷十、大毘婆沙論卷一三九、集異門足論卷十五〕
xuất ly
Ra khỏi sanh tử—To leave—To come out from.
xuất ly ba la mật
Naiṣkrāmya-pāramitā (S), Perfection of Renunciation.
xuất ly phiền não
Ra khỏi dục vọng phiền não, chứng nhập Niết Bàn—To leave the passions and delusions of life—Nirvana.
Xuất lĩnh
出嶺; C: chūlǐng; J: shutsurei;|Xuống núi.
Xuất lĩnh 出嶺
[ja] シュツリョウ shutsurei ||| To descend from the mountain. => Xuống núi.
xuất lệnh
To issue an order.
xuất nhập bản
1551指禪林僧堂中聖僧龕之左右為出入板,由此而分前堂、後堂。前堂首座領前堂之大眾,後堂首座領後堂之大眾。頭首、大眾均從出入板往來。〔敕修百丈清規卷五坐禪條、禪林象器箋卷一殿堂門〕
xuất nhập tức
1551出息與入息之合稱。出息為呼氣,入息為吸氣。摩訶止觀卷七(大四六‧九三下):「風氣依身,名出入息。此息遷謝,出不保入。」止觀輔行傳弘決卷七之三(大四六‧三七四上):「有一比丘言:『出息不保入息。』佛言:『是名精進,善修無常。』」(參閱「十六特勝」389、「數息觀」6090)
xuất phàm
Transcendent—Excelling—Outstanding.
xuất phát
To start—To originate.
xuất phật thân huyết
1556又作出佛身血罪。五逆罪之一。據增一阿含經卷四十七、俱舍論卷十八等所載,若傷害佛之身體以致出血者,則犯此罪,將墮無間地獄。如提婆達多以石投佛,傷佛足趾,以致出血,遂犯出佛身血罪。於禪宗,轉指於清淨佛身中生一念之執著;蓋佛性清淨,凡夫之人以愚癡無明之故,妄生執著,纏縛不解,闇冥不明,猶如出佛身血。
; To shed a Buddha's blood, one of the five grave sins.
; Làm chảy máu thân Phật, một trong ngũ nghịch—To shed a Buddha's blood, one of the five grave sins.
Xuất quán
出觀; C: chūguān; J: shukkan;|Ra khỏi cảnh giới thiền định, khi hành giả muốn giáo hoá người khác. Như Xuất định (出定), phản nghĩa với Nhập quán (入觀, theo luận Kim Cương tam-muội 金剛三昧論).
Xuất quán 出觀
[ja] シュッカン shukkan ||| To emerge from meditation, which one must do if one wants to teach others. Same as 出定, and the opposite of 入觀 .〔金剛三昧論 T 1703.34.〕 => Ra khỏi cảnh giới thiền định, khi hành giả muốn giáo hóa người khác. Như Xuất định, phản nghĩa với Nhập quán. Theo Luận Kim Cương Tam Muội.
xuất sinh
1556禪林僧堂中,於進食之時,從應量器中取出「生飯」,施與大鵬金翅鳥、曠野鬼神眾、訶利帝母等羅剎鬼子母諸鬼神,稱為出生。生飯,意指施與鬼神眾生之飯,為「眾生食」之略稱,而非指未經煮熟之飯。專門用來出生(放置生飯)之臺,稱為出生臺、生臺。出生之時所唱之偈,稱為出生偈。禪苑清規卷一赴粥飯條(卍續一一一‧四四一上):「汝等鬼神眾,我今施汝供;此食遍十方,一切鬼神共。」今一般稱為出食。
; To be born; to produce; monastic food, superior as bestowed in alms called xuất sinh phạn.
; 1) Sanh ra: To be born—To produce. 2) Xuất chúng sanh phạn (cơm gạo hay thực phẩm của tự viện): Monastic food. 3) Xuất Phạn Sinh Phạn: Lấy ra một phần cơm trong bữa ăn để thí thực cho chúng sanh trong bữa ăn—Superior as bestowed in alms.
Xuất sinh nhất thiết Như Lai pháp nhãn Biến Chiếu Đại Lực Minh vương kinh
出生一切如來法眼遍照大力明王經; C: chūshēng yīqiè rúlái fǎyăn biànzhào dàlì míngwáng jīng; J: shusshō issai nyorai hōgen henjō dairiki myōō kyō; S: mahābala.|Kinh; 2 quyển. Tên gọi tắt là: Tịch trừ chư ác kinh (辟除諸惡經), và Biến Chiếu Đại Lực Minh Vương kinh (遍照大力明王經), Thí Hộ (s: dānapāla) dịch.
Xuất Sinh Nhất Thiết Như Lai Pháp Nhãn Biến Chiếu Đại Lực Minh Vương Kinh. 出生一切如來法眼遍照大力明王經
[ja] シュツショウイチサイニョライホウゲンヘンショウダイリキミョウオウキョウ Shusshō issai nyorai hōgen henjō dairiki myōō kyō ||| The Chusheng yiqie rulai fayan bianzhao dali mingwang jing; Skt. Mahābala; (Sutra of the Greatly Powerful Mantra King [The Universally Shining Dharma-Eye from which All Tathāgatas Arise]) 2 fasc. (T 1243.19.207-215), abbreviated as 辟除諸惡經, and as 遍照大力明王經, trans. Dānapāla 法護. => (s: Mahābala). Kinh; hai quyển. Tên gọi tắt là: Tịch Trừ Chư ác Kinh辟除諸惡經, và Biến Chiếu Đại Lực Minh Vương Kinh遍照大力明王經. Pháp Hộ 法護dịch.
Xuất Sinh Vô Biên Môn Trì Kinh 出生無量門持經
[ja] シュツショウムリョウモンジキョウ Shusshō muryōmon ji kyō ||| The Chusheng wuliangmen chi jing; alternative translation of the Chusheng wubian men tuoluoni jing => Tên gọi khác bản dịch của Kinh Xuất Sinh Vô Biên Môn đà-la-ni 出生無邊門陀羅尼經..
xuất sinh vô biên môn đà la ni kinh
Xem Phật thuyết xuất sinh vô biên môn Đà la ni kinh.
Xuất Sinh Vô Biên Môn Đà La Ni Kinh 出生無邊門陀羅尼經
[ja] シュッソウムヘンモンダラニキョウ Shusshō muhen mon daranikyō ||| The Chusheng wubian men tuoluoni jing; Skt. Anantamukha-dhāraṇī; Tib. ['phags pa] sgo mtha' yas pas bsgrub pa shes bya ba'i gzungs; (Dhāraṇī of the [Birth of the] Infinite Portal) [To.140/525/914, P.539/808] alt. Anantamukhanirhāra-dhāraṇī, Anantamukhasādhaka-nāma-dhāraṇī. Said to be redacted by the historical Buddha at Vaiśālī three months before his parinirvāṇa 大涅槃. Those who recite the dhāraṇī 陀羅尼 may overcome all hindrances and be remembered by the buddhas; those who realize its meaning rapidly gain bodhi, for its practice relies on non-perception of things (anupalaṃbha 無所得). In order for the dhāraṇī to be effective, the practitioner should renounce the world, live a virtuous life and understand the significance of the eight seed syllables (akṣarabīja 種字: pa, la, ba, ja, ka, dha, śa, kṣa). The presence of such practices in this relatively early text indicates its strong influence on the development of Buddhist esotericism. Of the eight Chinese translations, Amoghavajra's 不空 version is authoritative for the Shingon school 眞言宗. They are, in historical order: (1) 1 fasc. (T 1011.19.680-682) Sublime Sustainer Sutra of the Immeasurable Portal 無量門微密持經, tr. Zhiqian 支謙. Unusually, this version translates rather than transliterates the eight seed syllables; that is, the equivalent Han characters are chosen to represent the meaning of words suggested by the syllables, and are not simply phonetic transcriptions. (2) 1 fasc. (T 1012.19.682-685) Sustainer of the Birth of the Immeasurable Portal 出生無量門持經, tr. Buddhabhadra 佛陀跋陀羅 during the early 5th cent. CE. (3) 1 fasc. (T 1013.19.685-688) Bạt-đà-la dịch 阿難陀目怯尼呵離陀經, tr. Guṇabhadra 求那跋陀羅. (4) 1 fasc. (T 1014.19.688-692) Dhāraṇī of the Immeasurable Portal which Obliterates Demons 無量門破魔陀羅尼經, tr. Gongdezhi 功德直 and Xuanchang 玄暢. (5) 1 fasc. (T 1015.19.692-695) Anantamukhanirhāra-dhāraṇī 阿難陀目怯尼呵離陀隣尼經, trans. Buddhaśānta 佛陀扇多. (6) 1 fasc. (T 1016.19.695-698) Dhāraṇī for [the benefit of] Śāriputra 舍利弗陀羅尼經, trans. Saṅghavarman 僧伽婆羅. (7) 1 fasc. (T 1017.19.698-702) Sutra of the Consistent Birth of Bodhisattvas 一向出生菩薩經, tr. Jñānagupta 闍那崛多. (8) 1 fasc. (T 1018.19.702-707) Dhāraṇī of the Birth of the Infinite Portal 出生無邊門陀羅尼經, tr. Zhiyan 智嚴. (9) 1 fasc. (T 1009.19.675-679) Dhāraṇī of the Birth of the Infinite Portal 出生無邊門陀羅尼經, tr. Amoghavajra 不空. This version is the basis for a manual composed by Amoghavajra, the Ritual Procedures for the Birth of the Infinite Portal Sutra 出生無邊門經儀軌 (T 1010.19.679-680). For a study from Chinese, Khotanese, Sanskrit, and Tibetan sources, citing Jñānagarbha's Anantamukhanirhāradhāraṇīṭīkā [To.2696, P.3520], see Inagaki (1987); for a Japanese translation of this commentary, see Horiuchi (1967) Horiuchi (1968) and Horiuchi (1969). BGBT4/71. => (s: Anantamukha-dhāraṇī; t: ['phags pa] sgo mtha' yas pas bsgrub pa shes bya ba'i gzungs). Các tên khác là Anantamukhanirhāra-dhāraṇī và Anantamukhasādhaka-nāma-dhāraṇī. Tương truyền Kinh nầy được biên tập bởi Đức Phật lịch sử tại thành Tỳ-xá-ly (s: Vaiśālī) 3 tháng trước khi Ngài nhập Niết-bàn (s: parinirvāṇa). Những ai trì tụng Đà-la-ni nầy có thể vượt thoát mọi chướng ngại và được chư Phật hộ niệm; những ai thâm nhập được nghĩa Đà-la-ni thì nhanh chóng được giác ngộ, vì sự hành trì Đà-la-ni dựa vào ý niệm vô sở đắc (s: anupalaṃbha 無所得). Để cho Đà-la-ni có được hiệu nghiệm, hành giả phải từ bỏ thế tục, sống đạo hạnh và thông hiểu ý nghĩa 8 chủng tự (s: akṣarabīja 種字 : pa, la, ba, ja, ka, dha, śa, kṣa). Sự hiện diện của pháp tu như thế trong kinh văn tương đối sớm cho biết ảnh hưởng mạnh mẽ của sự phát triển Mật tông Phật giáo. Trong 8 bản dịch tiếng Hán, bản của Ngài Bất Không (s: Amoghavajra's) có uy tín nhất đối với Chân ngôn tông (c: Shingon). Các bản dịch được sắp xếp thứ tự theo lịch sử như sau: 1. Vô Lượng Môn Vi Mật Trì Kinh. 1 quyển , Chi Khiêm (c: Zhiqian ) dịch. Điểm khác thường là bản kinh nầy đã dịch 8 chủng tự hơn là chuyển âm chúng thành chữ Hán, có nghĩa là, chọn những chữ Hán tương đương để biểu thị cho nghĩa của những mẫu tự mà chủng tự sử dụng, và đó không phải đơn thuần là việc phiên âm. 2. Xuất Sinh Vô Lượng Môn Trì Kinh. một quyển , Phật-đà Bạt-đà-la dịch vào thế kỷ thứ năm. 3. A-nan-đà-mục-khiếp-ni-kha-ly-đà Kinh (s: Anantamukhanirhāra-dhāraṇī ), một quyển, Cầu-na Bạt-đà-la (s: Guṇabhadra) dịch. 4. Vô Lượng Môn Bạt Quỷ Đà-la-ni Kinh, một quyển, Công Đức Trực(c: Gongdezhi ) và Huyền Sướng (c: Xuanchang 玄暢 ) dịch. 5.A-nan-đà-mục-khiếp-ni-kha-ly-đà-lân-ni Kinh (s: Anantamukhanirhāra-dhāraṇī), một quyển, Phật-đà -phiến-đa (s: Buddhaśānta )dịch. 6. Xá-lợi-phất Đà-la-ni Kinh, một quyển, Phật-già-bà-la dịch. 7. Nhất Hướng Xuất Sinh Bồ-tát Kinh, một quyển, Già-na-khuất-đa dịch. 8. Xuất Sinh Vô Biên Môn Đà La Ni Kinh, một quyển, Trí Nghiêm (c: Zhiyan) dịch. 9. Xuất Sinh Vô Biên Môn Đà La Ni Kinh, một quyển, Bất Không dịch. Bản dịch nầy là nền tảng của tập Xuất Sinh Vô Biên Môn Kinh Nghi Quỹ do Ngài Bất Không soạn. Để nghiên cứu thêm trích dẫn Xuất Sinh Vô Biên Môn Đà La Ni Kinh của Jñānagarbha từ nguồn gốc tiếng Hán, Khotanese, Sanskrit, và tiếng Tây Tạng, xin xem tác phẩm của Inagaki (1987); về luận giải bằng tiếng Nhật , xem Horiuchi (1967) Horiuchi (1968) and Horiuchi (1969).
Xuất sinh vô biên môn đà-la-ni kinh
出生無邊門陀羅尼經; C: chūshēng wúbiān mén tuóluóní jīng; J: shusshō muhen mon dara-nikyō; S: anantamukha-dhāraṇī; t: ['phags pa] sgo mtha' yas pas bsgrub pa shes bya ba'i gzungs.|Các tên khác là anantamukhanirhāra-dhā-raṇī và anantamukhasādhakanāma-dhāraṇī. Tương truyền kinh nầy được biên tập bởi đức Phật lịch sử tại thành Tì-xá-li (s: vaiśālī) 3 tháng trước khi ngài nhập Niết-bàn. Những ai trì tụng Đà-la-ni nầy có thể vượt thoát mọi chướng ngại và được chư Phật hộ niệm; những ai thâm nhập được nghĩa Đà-la-ni thì nhanh chóng được giác ngộ, vì sự hành trì Đà-la-ni dựa vào ý niệm vô sở đắc (s: anupalaṃbha 無所得). Để cho Đà-la-ni có được hiệu nghiệm, hành giả phải từ bỏ thế tục, sống đạo hạnh và thông hiểu ý nghĩa 8 chủng tự (種字; s: akṣarabīja: pa, la, ba, ja, ka, dha, śa, kṣa). Sự hiện diện của pháp tu như thế trong kinh văn tương đối sớm cho biết ảnh hưởng mạnh mẽ của sự phát triển Mật tông Phật giáo. Trong 8 bản dịch tiếng Hán, bản của Bất Không (不空; s: amoghavajra) có uy tín nhất đối với Chân ngôn tông (眞言宗). Các bản dịch được sắp xếp thứ tự theo lịch sử như sau:|1. Vô lượng môn vi mật trì kinh (無量門微密持經), 1 quyển, Chi Khiêm (支謙) dịch. Điểm khác thường là bản kinh nầy đã dịch 8 chủng tự hơn là chuyển âm chúng thành chữ Hán, có nghĩa là, chọn những chữ Hán tương đương để biểu thị cho nghĩa của những mẫu tự mà chủng tự sử dụng, và đó không phải đơn thuần là việc phiên âm; 2. Xuất sinh vô lượng môn trì kinh (出生無量門持經) 1 quyển, Phật-đà Bạt-đà-la dịch (佛陀跋陀羅; s: buddhabhadra) vào thế kỉ thứ 5; 3. A-nan-đà mục-khiếp-ni-kha-li-đà kinh (阿難陀目怯尼呵離陀經; s: anantamukha-nirhāra-dhāraṇī), 1 quyển, Cầu-na Bạt-đà-la (求那跋陀羅; s: guṇabhadra) dịch; 4. Vô lượng môn bạt quỷ đà-la-ni kinh (無量門破魔陀羅尼經), 1 quyển, Công Đức Trực (功德直) và Huyền Sướng (玄暢) dịch; 5. A-nan-đà mục-khiếp ni-kha-li đà-lân-ni kinh (阿難陀目怯尼呵離陀隣尼經; s: anan-tamukhanirhāra-dhāraṇī), 1 quyển, Phật-đà Phiến-đa (佛陀扇多; s: buddhaśānta) dịch; 6. Xá-lợi-phất đà-la-ni kinh (舍利弗陀羅尼經), 1 quyển, Tăng-già Bà-la (僧伽婆羅; s: saṅghavarman) dịch; 7. Nhất hướng xuất sinh Bồ Tát kinh (一向出生菩薩經), 1 quyển, Xà-na Quật-đa (闍那崛多; s: jñānagupta) dịch; 8. Xuất sinh vô biên môn đà-la-ni kinh (出生無邊門陀羅尼經), 1 quyển, Trí Nghiêm (智嚴) dịch; 9. Xuất sinh vô biên môn đà-la-ni kinh (出生無邊門陀羅尼經), 1 quyển, Bất Không dịch. Bản dịch nầy là nền tảng của tập Xuất sinh vô biên môn kinh nghi quỹ (出生無邊門經儀軌) được Bất Không soạn. |Để nghiên cứu thêm từ nguồn gốc tiếng Hán, Khotanese, Phạn, và tiếng Tây Tạng, có trích dẫn Anantamukhanirhāradhāraṇīṭīkā của Jñānagarbha, xin xem tác phẩm của Inagaki (1987); về bản dịch sang tiếng Nhật của luận giải này, xem Horiuchi (1967) Horiuchi (1968) và Horiuchi (1969).
Xuất sinh vô lượng môn trì kinh
出生無量門持經; C: chūshēng wúliángmén chí jīng; J: shusshō muryōmon ji kyō;|Tên gọi khác của kinh Xuất sinh vô biên môn đà-la-ni kinh (出生無邊門陀羅尼經).
xuất sơn thích ca
1552請參閱 出三藏記集 請參閱 出三藏記集 為佛傳畫題之一。又作出山如來、出山相、出山像。相傳釋迦在雪山苦行林中修苦行,成道之後,頭頂明星,全身放光而出山。自宋以降,此一故事成為水墨畫描繪之畫題,與文人賞翫之題材。其實釋迦早已覺悟苦行無益而中止,並非由苦行成正等覺。又出山釋迦多作身形消瘦,兩眼光亮,滿頭亂髮,皮骨相連之立形。禪林於每年十二月七日,必於僧堂懸掛此類圖像。〔過去現在因果經卷三、佛像圖彙卷一、僧堂清規卷四佛成道會行法條、古今圖書集成神異典第九十二〕
Xuất tam tạng kí tập
出三藏記集; C: chū sānzàng jìjí; J: shutsu sanzō kishū;|Sách; được Tăng Hựu (僧祐) biên soạn vào khoảng năm 515. Sư hoàn chỉnh bản mục lục ngay trước khi viên tịch. Sư đã sưu tập một danh sách đồ sộ dựa vào những tài liệu có được trong thời đại của sư (nay đã thất lạc) song song với công trình nghiên cứu của mình. Thêm vào mục lục của rất nhiều kinh văn, tập này còn bao gồm những tiểu luận giới thiệu việc phiên dịch kinh điển và tiểu sử của các dịch giả tiền bối, và như vậy, làm cho công trình nầy hoàn chỉnh và đáng tin cậy nhất trong các tác phẩm được đề cập trước thời đó. Mục lục của Tăng Hựu có ghi cả dạng kinh đáng ngờ và kinh nguỵ tạo, mà không có một phân định rõ ràng giữa hai loại ấy.
xuất tam tạng kí tập
1551請參閱 出三藏記集 凡十五卷。南朝梁代僧祐(445~518)撰。又作出三藏記集錄、梁出三藏集記、出三藏集記、出三藏記、僧祐錄。收於大正藏第五十五冊。係集錄後漢至南朝梁代之際所翻譯經律論等之緣由、目錄及翻譯之同異、序跋等,並附譯經者之傳記。 內容共分五部:(一)緣起,收錄有關三藏成立之緣由,共五篇,合為一卷。(二)名錄,以新集撰出經律論錄為中心,另合併其他十七篇目錄而成,共四卷(卷二~卷五)。其中包含東晉道安(312~385)所作綜理眾經目錄中之古異經錄、失譯經錄、涼土異經錄、關中異經錄、疑經錄等。道安之綜理眾經目錄乃我國最早之經錄,於今雖已不存,然對本書之成立,提供不少重要資料,例如十七篇中之新集安公注經及雜經志錄、小乘迷學竺法度造異儀記、長安叡法師喻疑等,皆為我國佛教學者對佛教聖典提出看法之珍貴文獻。(三)經序,收載一一○種序、後記,共六卷(卷六~卷十一)。為有關聖典之傳來、翻譯、研究、流布等史實之基礎資料,而為了解佛教傳入中國初期時教理之途徑,此在思想史上具有極大之意義。(四)雜錄,收載宋明帝敕中書侍郎陸澄撰法論以下十書之序及其目錄,收於卷十二。其中,最初之法論目錄收集古來之法論集,將總共一○三卷之論文集,依其內容分類為法性集、覺性集、般若集、法身集、解脫集、教門集、戒藏集、定藏集、慧藏集、雜行集、業報集、色心集、物理集、錄序集、雜論集、邪論集等十六種目錄,為南北朝初期佛教學重要論題之集錄,故頗受學者之重視。(五)列傳,為三十二位譯經家之傳記,共三卷(卷十三~卷十五)。雖非完備之僧傳,然卻成為日後寶唱名僧傳與慧皎高僧傳之先驅。 僧祐之著作,現存者除本書之外,尚有弘明集、釋迦譜。僧祐雖為一位推弘「十誦律」之學者,然在文獻資料之收集整理上貢獻至鉅。本書為有關漢文經典現存最古之經錄,如道安之綜理眾經目錄一書亦必透過本書,方能窺見其經緯。本書雖分為異譯、失譯、疑經等項目,但於內容上則尚未作大小乘之分別。由於本書編纂於南朝之都建康,故所記述之內容不免偏重於南方而較疏忽北方。後世之法經錄卷七與開元釋教錄卷十雖曾指摘本書之缺點與誤謬,然卻無損於其在中國佛教史學上之價值。本書在明朝南藏本為十五卷,北藏本為十七卷。北藏本原缺卷六,而將卷六作為卷七,又將卷十二分為兩卷;然在內容上,南北藏本並無差異。〔出三藏記集卷首自序、譯經總錄(常盤大定)、經錄研究(林屋友次郎)〕
xuất tam tạng ký tập
Ch'u san-tsang chi-chi (C)Tên một bộ luận kinh.
Xuất Tam Tạng Ký Tập 出三藏記集
[ja] シュツサンゾウキシュウ Shutsu sanzō kishū ||| (A Compilation of Notes on the Translation of the Tripitaka). Compiled around 515 by Sengyou 僧祐. T 2145.55.1a-114a. Sengyou, who completed his catalog shortly before his death, compiled an extensive list which relied on the (currently missing) earlier catalogs available to him at the time, along with his own research. In addition to its exhaustive lists of sutras, it contains introductory essays on the sutra translations and biographies of the early translators, making it the most complete and reliable early reference work known. Sengyou's listing included both suspicious and spurious sutras, but without making a rigorous distinction between the two types. => Sách; do Tăng Hựu (c: Sengyou 僧祐) biên soạn khoảng vào năm 515. Sư hoàn chỉnh bản mục lục ngay trước khi viên tịch, sư đã sưu tập một bản mục lục đồ sộ dựa vào những tài liệu có được trong thời đại của sư (nay đã thất lạc), song song với công trình nghiên cứu của mình. Thêm vào đó là mục lục của rất nhiều kinh văn, bao gồm những tiểu luận giới thiệu việc phiên dịch kinh điển và tiểu sử của các dịch giả tiền bối, làm cho công trình nầy hoàn chỉnh và đáng tin cậy nhất trong các tác phẩm được đề cập trước thời đó. Mục lục của Tăng Hựu có ghi cả dạng kinh đáng ngờ và kinh ngụy tạo, mà không có một phân định rõ ràng giữa hai loại ấy.
xuất thai
1557即佛陀降生。為佛陀八相成道之一。指四月八日於藍毘尼園,佛陀由摩耶夫人右脅出生之相。(參閱「八相」289)
xuất thánh
The surpassing sacred truth, or the sacred immortal truth.
; The surpassing sacred truth, or the sacred immortal truth.
xuất thân
1) To come from a family. 2) To start (begin) life as….
xuất thân hoạt lộ
1556禪林用語。又作出身之路、出路。出身,指出於生死之身;比喻不滯於迷悟二邊,了達闊達無礙之作用。活路,指活命之路。出身活路即謂:脫離生死束縛,任運自由,乃指超脫悟道境界而不滯留之自在作用。據此,臨濟宗有「出身句」之語,形容入於自由自在悟境者之無礙自在之語句。五家宗旨纂要卷上(卍續一一四‧二六一上):「出身句,今日且去,明日再來。」
xuất thảo
1561禪林用語。為「入草」、「落草」之對稱。草,比喻世間、俗眾。超出世俗,稱為出草。宣說超出世俗之宗旨奧義,或提示佛法第一義,即稱為出草談。雲門禪師語錄卷中(大四七‧五五四上):「師一日云:『古來老宿皆為慈悲之故,有落草之談,隨語識人。若是出草之談,即不與麼!』」禪林又有「出草入草」一語,即向上把住之玄談,稱為出草,乃屬佛法之究竟義;向下放行之接化方法,稱為入草,乃屬佛法之方便法。〔碧巖錄第三十四則〕
Xuất thế
出世; C: chū shì; J: shusse; S: lokottara; P: lokuttara; nghĩa là »vượt lên trên thế gian«;|1. Chỉ đặc tính của tất cả những gì nhằm giải thoát khỏi ràng buộc thế gian và hướng đến Niết-bàn (s: nirvāṇa; p: nibbāna). Ví dụ như Thánh đạo (s: ārya-mārga; p: ariya-magga) là đạo xuất thế, trong đó có đạo và Thánh quả Dự lưu (s: śrotāpanna; p: sotā-panna), Nhất lai (s: sakṛḍāgāmin; p: sakaḍā-gāmin), Bất hoàn (s, p: anāgāmin), A-la-hán (s: arhat; p: arahant) và Niết-bàn.|Trong Ðại thừa, đức Phật được xem là con người xuất thế, thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, thọ mệnh vô lượng, đã đạt Nhất thiết trí.|2. Từ bỏ cuộc sống thế tục để tu tập Phật pháp; |3. Đức Phật hay Bồ Tát thị hiện ở thế gian để cứu độ chúng sinh (s: utpāda);|4. Sự đề cử một vị Thiền sư đảm nhiệm việc trú trì một tu viện.
xuất thế
1553<一>出世間之略稱。即超越世俗、出離世塵之意。又作出塵。(參閱「出世間」1554) <二>指諸佛出現於世間成佛,以教化眾生,如謂「諸佛出世之本懷」。 <三>禪師於自身修持功成後,再度歸返人間教化眾生,亦稱出世。或被任命住持之職、昇進高階位之僧官等,皆稱為出世。禪苑清規卷七尊宿住持條(卍續一一一‧四五八上):「傳法各處一方,續佛慧命,斯曰住持;初轉法輪,命為出世。」
; Xem Siêu nhiên.
; (1) Appearance in the world, e.g. the Buddha's appearing. (2) To leave the world; a monk or nun. (3) Beyond, or outside, this world, not of this world; of nirvàna character. Lokottara (S). Supermundane, transcendental.
; To leave the world—Beyond or outside this world—not of this world—Of nirvana character—To transcend the secular world—To manifest oneself in the world (sự xuất hiện của Đức Phật nơi đời).
xuất thế bản hoài
1553本懷,意謂初衷。指釋尊出現於此世之本意。直接宣說其出世本意之經典,稱出世本懷經。佛之出世,即欲令眾生「開、示、悟、入」佛之知見之一大事因緣。此一大因緣,稱為出世大事。如法華經方便品所稱,諸佛世尊唯以一大事因緣,故而出現於世。天台宗即依此認為法華經為出世本懷經,而以「開權顯實」、「開迹顯本」為佛出世之本懷。然諸宗派各有不同之看法,華嚴宗認為華嚴經為出世本懷經;淨土宗以「念佛往生」為出世本懷,而以淨土三經為出世本懷經;日本淨土真宗尤以三經中之無量壽經為出世本懷經。〔舊華嚴經卷三十三寶王如來性起品、華嚴經探玄記卷一、觀經玄義分傳通記卷五〕
; The aim cherished by the Buddha in appearing in the world.
xuất thế bổn hoài
Bổn ý xuất thế của Phật nơi cõi Ta Bà—The aim cherished by the Buddha in appearing in the world.
xuất thế bộ
Lokottaravàdinah, an offshoot of the Màhàsangrikàh, division of the eighteen Hìnayàna schools.
; Xuất Thế Gian Thuyết Bộ—Xuất Thế Gian Thuyết Ngữ Ngôn Bộ—Lokottaravadinah (skt)—Một trong mưới tám tông phái Tiểu Thừa—An offshoot of the Mahasanghikah division of the eighteen Hinayana schools; the tenets of the schools are unknown, but the name as implied by the Chinese translation, suggests if not the idea of Adi-Buddha, yet that of supra-mundane nature.
xuất thế gian
1554梵語 lokottara,巴利語 lokuttara。略稱出世。超出世間之意;即出離有漏繫縛之無漏解脫法。為「世間」之對稱。又世間若指世俗之事,則出世間即指佛法;世間若表有漏(煩惱),則出世間即意謂解脫。亦即一切生死之法為世間,涅槃之法為出世間。於苦、集、滅、道四諦中,苦、集二諦為世間法;滅、道二諦為出世間法。又為解脫而修之四諦、六度等,皆稱為出世間法。據華嚴五教章卷一之說,若以修道之階位而言,初地、二地、三地稱為世間行,以其僅僅斷除煩惱之故;四地至七地稱為出世間行,此四階位之人既已了斷煩惱,又斷除「知障」;八地以上則斷除「體障」或「治想」,稱為出出世間行。另據楞伽阿跋多羅寶經卷三載,外道、凡夫之智,稱為世間智;聲聞、緣覺之智,稱為出世間智;諸佛、菩薩之智,稱為出世間上上智。〔大方等大集經卷十七、成唯識論卷九、往生論註卷上〕(參閱「世間」1524)
; To go out of the world; the world (or life) beyond this; the supra-mundane; the spiritual world.
; Đi ra ngoài vòng sinh tử của cõi Ta bà—To go out of the world—The supramundane—The spiritual world.
xuất thế gian giáo
The teaching of Buddha-truth of other worldly happiness in escaping from mortality.
Xuất thế gian pháp
出世間法; C: chū shìjiān fǎ; J: shussekenhō; |Xuất thế pháp (出世法).
xuất thế gian pháp
The teaching of leaving the world.
; See Xuất thế gian đạo.
Xuất thế gian pháp 出世間法
[ja] シュッセケンホウ shussekenhō ||| Same as 出世法. => Như Xuất thế pháp 出世法
xuất thế gian thiền
1555略稱出世禪。三種禪(世間禪、出世間禪、出世間上上禪)之一。指發無漏智之禪,共有四種,即:(一)觀禪,有九相、八背捨、八勝處、十一切處。(二)練禪,有九次第定。(三)薰禪,即獅子奮迅三昧。(四)修禪,即超越三昧。〔釋禪波羅蜜次第法門卷一上、法華經玄義卷四上、法界次第初門卷上之下〕
xuất thế gian thượng thượng thiền
1554指最高境界之出世間無漏禪。共有九種,即:自性禪、一切禪、難禪、一切門禪、善人禪、一切行禪、除煩惱禪、此世他世樂禪、清淨禪。此九種大禪為菩薩以上之階位藉修行所得之禪境,而非外道、凡夫或二乘之人所能獲得者。〔法界次第初門卷下、法華玄義卷四上〕
xuất thế gian thượng thượng trí
1554指佛菩薩之智。三智之一。諸佛菩薩觀察一切諸法寂靜之實相,證得如來地之智慧;此一智慧超出凡夫、外道之世間智與聲聞、緣覺之出世間智,故稱出世間上上智。〔楞伽阿跋多羅寶經卷三〕
; Lokottaratama-jāna (S)Trí Bồ tát, Phật.
; Jnanam-lokottaratam (skt)—Supreme supra-worldly knowledge—Xuất thế gian thượng thượng trí là Như Lai trí thanh tịnh có được trong sự nhận biết về nhẫn, tịch tịnh tuyệt vời, và nó tạo ra ý nghĩa tuyệt vời nhất vượt khỏi mọi hành động—Supreme supra-worldly knowledge is the Tathagata-knowledge which is obtained in the Kshanti, tranquil and most excellent, and it gives birth to the most excellent meaning which transcends all doings.
xuất thế gian thừa
The Vehicle or teaching for the attainment in lives outside this world, in contrast with the ordinary vehicle or teaching for the attainment of good fruit in the present life (Thế gian thừa).
xuất thế gian thực
1554指資益出世間法身之慧命者。即「世間食」之對稱。如九食中之禪悅食、法喜食、願食、念食、解脫食等五食均屬之,稱為出世五食。(參閱「九食」143、「食」3997)
xuất thế gian trí
1555梵語 lokottara-jñāna。指聲聞、緣覺二乘之智。三智之一。二乘之人,以一切智修四諦十二因緣,能出離世間,故稱之為出世間智。〔楞伽阿跋多羅寶經卷三〕(參閱「三智」625)
; Lokattara-jāna (S)Trí hàng Thanh Văn - Duyên Giác, có nhàm chán sanh tử, có Niết bàn để mong cầu.
; Jnànam-laukottara-tamam (S). Knowledge of the supra-world.
; Jnanam-lokottaram (skt)—Supra-mundane, or spiritual wisdom, or Super-worldly knowledge.
xuất thế gian đàn
Supramundane dana.
Xuất thế gian đạo
出世間道; C: chūshìjiāndào; J: shusse-kendō;|Đạo xuất thế đưa đến giác ngộ. Đạo giác ngộ được hành trì để tăng trưởng đạo tâm: đó là Kiến đạo (見道), Tu đạo (修道) và Cứu cánh đạo (究竟道).
xuất thế gian đạo
1555指出離有為迷界之道。即菩提道,乃除滅煩惱、趣向涅槃之無漏正道。又指佛陀於成道之初所宣說之八正道,即:正見、正思惟、正語、正業、正命、正精進、正念、正定。(參閱「無漏道」5131)
; The way of leaving the world, i.e. of enlightenment.
; Xuất thế gian pháp—Pháp môn ra khỏi thế gian; pháp môn giác ngộ—The way of leaving the world—The way of enlightenment—The spiritual law.
Xuất thế gian đạo 出世 間道
[ja] シュッセケンドウ shussekendō ||| The transmundane path(s) to enlightenment. The paths to enlightenment pursued by those of higher spiritual advancement: the Path of Seeing 見道, Path of Cultivation 修道 and the Final Path 究竟道. 〔二障義 HPC 1.802b24〕 => Đạo xuất thế đưa đến giác ngộ. Đạo giác ngộ được hành trì để tăng trưởng đạo tâm: đó là Kiến đạo, Tu đạo và Cứu cánh đạo.
xuất thế nghiệp
The work or position of one who has quitted the world, that of a monk.
; Nghiệp của người đã xuất thế gian (Tăng Sĩ)—The work or position of one who has quitted the world—The work or position of a monk.
Xuất thế pháp
出世法; C: chūshì fǎ; J: shussehō;|Các pháp siêu việt thế gian. Các pháp của thế giới giác ngộ, như Lục độ, Tứ diệu đế, Niết-bàn…
xuất thế pháp
Pháp xuất thế gian (thực hành pháp nầy sẽ ra khỏi vòng luân hồi sanh tử)—Supramundane dharmas.
Xuất thế pháp 出世法
[ja] シュッセホウ shussehō ||| transmundane dharmas. Things of the world of enlightenment, such as the six pāramitās, Four Noble Truths, nirvāna, etc. => Các pháp siêu việt thế gian. Các pháp trong cảnh giới giác ngộ, như Lục độ, Tứ diệu đế, Niết-bàn ...
xuất thế phục
The garment of one who has left the world.
; Y phục của người tu xuất thế—The garment of one who has left the world.
xuất thế quả
1553指獲得涅槃。涅槃為出離塵世、證得菩提之極果,故稱為出世果。金剛三昧經序品第一(大九‧三六六中):「令彼眾生獲得出世之果。」
; The fruit of leaving the world, the result in another world; nirvàna.
; Nhờ công hạnh xuất thế tu hành mà đắc quả Niết Bàn—The fruit of leaving the world—The result in another world—Nirvana.
xuất thế thuyết bộ
1555梵語 lokottara-vāda。乃小乘二十部之一,屬於大眾部之一派。又作出世間語言部、出世部。為「說出世部」之舊譯名。其宗義既違反一說部,又異於說一切有部;前者主張一切諸法皆假,後者則視諸法為實有者。出世說部折衷上述兩部之說,而謂凡世間之法(苦諦、集諦)皆為假名,凡出世間之法(道諦、滅諦)皆真實;以此一宗義,於小乘六宗中被歸納為俗妄真實宗。〔法華經玄贊卷一本、異部宗輪論述記發軔卷上〕
; See Xuất Thế Bộ.
xuất thế trí
The knowledge of leaving the world.
xuất thế tâm
1553相當於無漏心。即出離俗世之菩提道心。成唯識論卷二(大三一‧九上):「亦熏本有無漏種子,令漸增盛,展轉乃至生出世心故。」
; The nirvàna, or other-world mind.
; Vô Lậu Tâm hay tâm Niết Bàn—The nirvana, or other world-mind.
xuất thế xá
1554指出離世俗人之住處。乃寺院十名之一。〔大宋僧史略卷上〕(參閱「寺號」2417)
; An abode away from the world, a monastery, hermitage.
; Nơi cư ngụ của người xuất thế (tịnh xá)—An abode away from the world—A monastery—A hermitage.
xuất thế ích
1554指獲得華嚴宗三乘教之法益。乃相對於一乘教之得「出出世益」而稱。華嚴五教章卷一教義攝益條下(大四五‧四八○上):「或唯攝界內機,令得出世益,即以為究竟。」界內係指三界(欲界、色界、無色界)。華嚴宗主張,獲得三乘教之法益者,即可出離三界之迷,而截斷生死之流,故稱出世益。〔華嚴五教章指事卷上之末〕
xuất thế đại sự
The great work of the Buddha's appearing, or for which he appeared.
; Đại sự nhơn duyên mà Đức Phật đản sanh nơi đời—The great work of the Buddha's appearing, or for which he appeared.
Xuất thế 出世
[ja] シュッセ shusse ||| (1) supramundane; to transcend the mundane world. (2) Renouncing the world to practice Buddhism. (3) A Buddha or a bodhisattva's appearance in the world to save sentient beings (utpāda). (4) The promotion of a Zen monk to the headship of a temple. => Có các nghĩa sau: 1. Vượt ngoài cõi phàm trần; siêu việt thế gian. 2. Từ bỏ cuộc sống thế tục để tu tập Phật pháp. 3. Đức Phật hay Bồ-tát thị hiện ở thế gian để cứu độ chúng sinh (s: utpāda). 4. Sự đề cử một vị Thiền sư đảm nhiệm việc trú trì một tu viện.
xuất thể
1563解釋經典方法之一,即提出諸法之體。乃為建立某種主張而使其主要內容清楚明確之方法。體,體質或體性之意。即解釋經典時,提出應解釋之問題之主體,和釋名、辨相等同為經典解釋法之一種形式。對此,法相宗有四重出體(四出體)之說,乃對所有存在(諸法)之本體,立四種軌範。據成唯識論述記卷一本之說,即:(一)攝相歸性體,例如將一切之存在,悉以真如為其本體,即將現象界之相,攝歸於本質之性,來彰顯其體。(二)攝境從識體,又作攝餘歸識體、攝境從心體。如將存在於外界而可被認識者,視之為「識」所變現,即以識為本體,攝外境歸於心識,以彰顯其體。(三)攝假隨實體,例如「瓶」乃土與水之假和合而形成者,故將假歸入於實,以彰顯其體。(四)性用別論體,又稱假實別論體。例如一切之存在各有其本體,故個別地顯示其體。然成唯識論了義燈卷一本則另舉異說,有五門、八門、六門出體之說。又大乘法苑義林章卷一本,除上記四重出體外,另舉出真如、無相、唯識、因緣等四重之說,對前所揭示之法相四重而言,此四重稱為觀門四重。另外華嚴宗亦有四門出體,大致與法相宗之四重說相同,出自起信論義記卷上。(參閱「四重出體」1738)
; Xuất thể của các pháp—To put forth (come out) a body—External—The components of a thing or matter.
xuất thủ
1553禪林用語。禪宗之師家教導學人,稱為垂手;對此而言,學人接受教化以求證悟則稱出手。
xuất triền
Rời bỏ những phiền trược của trần thế—To leave the dusty world of passion and delusion.
xuất triền chân như
The unfettered, or free bhùtatathatà, as contrasted with the tại triền chân như.
; Chân như không phiền trược, đối nghĩa lại với tại triền chân như—The unfettered or free bhutatathata, as contrast with fettered bhutatathata (Tại triền chân như). ** For more information, please see Nhị Chân Như (D).
xuất trình
To show—To produce—To exhibit (one's passport).
Xuất trần
出塵; C: chūchén; J: shutsujin;|Lìa xa ô nhiễm của thế giới phàm trần. Tự nguyện sống đời xuất gia, nhập viện.
xuất trần
1562請參閱 大悲懺法 出離塵俗。即出離煩惱之塵垢。引申為出家之意。同義之語有遠塵、離塵、出俗、離俗等。又如:願遂出塵、意欲出塵、有出塵之志等語,皆表志在出家之意。與絕風塵、厭塵網、厭俗累、遁塵寰等詞均有離俗塵而出家入道之意。〔續高僧傳卷二、宋高僧傳卷五禮宗傳〕
; To leave the dusty world of passion and delusion.
; To leave the dusty world of passion and delusion.
Xuất trần 出塵
[ja] シュツジン shutsujin ||| To leave the dust of the secular world. To enter the monastery. => Lìa xa ô nhiễm của thế giới phàm trần. Tự nguyện sống đời xuất gia.
xuất trận
1561禪僧出眾問話。又作出眾。禪門中於問答論議時,若為問答出於眾中,稱為出陣。反之,稱為入陣或入眾。楊岐方會和尚語錄(大四七‧六四二下):「一日,七人新到,師問:『陣勢既圓,作家戰將何不出陣與楊岐相見?』」〔禪林象器箋第十二類參請門〕
; To stand out from the class or rank (i.e. to ask a question).
xuất tuệ
The wisdom of leaving mortality, or reincarnations.
; Diệu Tuệ đưa chúng sanh ra khỏi vòng luân hồi sanh tử—The wisdom of leaving mortality, or reincarnations—The wisdom of leaving the world.
xuất tức
Thở ra—Xuất Tức Bất Trì Nhập—(Phật dạy, 'hơi thở ra chẳng bảo đảm được hơi thở vào,' nên cố mà tu mau kẻo trễ)—To breath out (the Buddha taught, 'there is no certainty that we will have a breath-in after the breath-out or breathing-out not waiting for breathing-in or we can be breathless at any time,' so we should take advantage of any time we have to cultivate).
xuất tức bất thiệp chúng duyên
1560禪林用語。出息,指呼出氣息、呼氣。呼氣,本是向外之動作,然謂「不涉眾緣」,則因縱使向外呼氣,然亦不迷於外在對境之事物;意味身處千姿萬態之現象世界中,然任運自在不為所動。從容錄第三則(大四八‧二二九上):「王問曰:『何不看經?』祖云:『貧道入息不居陰界,出息不涉眾緣;常轉如是經,百千萬億卷。』」
xuất tức bất đãi nhập
1560形容無常迅速之用語。出息,指呼氣;入,指吸氣。蓋生死無常,呼氣之際猶不能保證是否可安然至吸氣。止觀輔行傳弘決卷七之三引大智度論謂(大四六‧三七四上):「有一比丘言:『出息不保入息。』佛言:『是名精進,善修無常。』往生要集卷上(大八四‧四三中):「經言出息不待入息,入息不待出息。」(參閱「出入息」1551)
xuất viện
1561出,擯出之意。指犯過而被擯逐出寺院。〔禪苑清規卷一赴茶湯條〕
xuất vô lượng môn trì kinh
1562全一卷。南朝劉宋求那跋陀羅(394~468)譯。又作阿難陀呵離陀經、阿難陀目佉尼呵離陀經。收於大正藏第十九冊。本經旨在揭示菩薩行之要義。內容敘述佛陀居於惟舍梨(毘舍離)國大黎樹間之時,對舍利弗等宣說,菩薩若欲得無邊門總持,須具備四種預備行,並依四種清淨住以清淨身心,證得深智。此外又宣說阿彌陀佛亦是受持陀羅尼,始能成就功德。 本經之同本異譯有八種,即:(一)無量門微密持經,三國時代支謙譯。(二)出生無量門持經,東晉佛陀跋陀羅譯。(三)舍利弗陀羅尼經,南朝梁代僧伽婆羅譯。(四)阿難陀目佉尼訶離陀鄰尼經,北魏佛陀扇多譯。(五)一向出生菩薩經,隋代闍那崛多等譯。(六)無邊門陀羅尼經,唐代不空譯。(七)出生無邊門陀羅尼經,唐代智嚴譯。(八)無量門破魔陀羅尼經,宋代功德直及玄暢合譯。
xuất vô môn nhập vô hộ
1561禪林用語。門戶為出入建築物必經之途,故以世間常識衡量之,無有出入宅舍而不假門戶者。禪宗特別強調任運自如、了無掛礙之精神,故以「出無門入無戶」一詞,一則表達自由自在之境地,再則打破「非藉門戶無從出入」之常識執著。
xuất xuất thế gian
1555指超出出世間之一乘法。為八地以上之諸佛菩薩所證得者。華嚴五教章卷一(大四五‧四七七下):「如本業經、仁王經及地論、梁攝論等,皆以初、二、三地寄在世間,四地至七地寄出世間,八地已上寄出出世間。於出世間中,四地、五地寄聲聞法,第六地寄緣覺法,七地寄菩薩法,八地已上寄一乘法。」(參閱「出世間」1554)
; Vượt qua thế gian pháp, hay ở trên địa thứ tám của Thập Địa—Surpassing the supra-mundane, the stage of bodhisattvahood above the eighth ground—See Thập Địa Bồ Tát.
xuất xuất thế nhất thừa pháp
1555指八地以上至第十地之一乘妙法;乃稱讚唯佛一乘超出二乘、三乘之出世間法而言。據華嚴五教章卷一之說,修行階段之初、二、三地猶在於世間,四地以上至七地則已入於出世間法,例如二乘、三乘等均屬之;八地以上至第十地(佛地)則為出出世。另依攝大乘論釋卷十五之說,若以出世間法來對治世間法,則出出世間法乃為出世間法之對治。〔華嚴經探玄記卷九、華嚴孔目章卷三〕
xuất xuất thế ích
1555指獲得華嚴宗一乘教之法益。乃相對於三乘教之得「出世益」而稱。華嚴五教章卷一教義攝益條下(大四五‧四八○上):「或攝界外機,令得出出世益,方為究竟。」界外乃相對於三界內之凡夫世界,而指諸佛菩薩之淨土。即對已出離三界之界外根機,宣說一乘之教法,令得無上究竟之法益,稱為出出世益。又出出世益可分二種:(一)先以三乘教法,令出離三界,得出世益,其後宣說三一和合之教法,令此等「迴三入一」之根機,得出出世益。相當於法華經所說「同教一乘」之攝益。(二)始終皆以一乘教法饒益之,既令得出世益,亦令得出出世益。亦即令於一乘教法中專致於見聞、解行、證入,而達於圓融之佛果境地,即所謂之「三生成佛」,此乃華嚴「別教一乘」之攝益。〔華嚴五教章指事卷上之末、五教章通路記卷十〕(參閱「三生成佛」544)
xuất xứ
Origin.
xuất yếu
1557與出離同義。要,含有願、要道之意,故世多稱「出離之要道」、「出離生死之要法」等語。長阿含卷十三阿摩晝經(大一‧八八上):「欲為穢汙,上漏為患,出要(梵 nissaraṇa)為上,演布清淨。」中阿含卷十九梵天請佛經(大一‧五四七上):「此處出要,此出要更無出要過其上,有勝有妙有最者。」十地經論義記卷七(卍續七一‧二四四下):「出要者,謂果為出,因為要道。」行事鈔卷上一(大四○‧四中):「慕存出要,無染於世。」摩訶止觀卷七(大四六‧九四上):「眠不安席,食不甘哺,如救頭然,(中略)以求出要。」〔中阿含卷二十四大因經、長阿含卷十一阿㝹夷經、廣博嚴淨不退轉輪經卷三〕(參閱「出離」1563)
xuất yếu tưởng
Naiṣkrāmya-saṃjā (S)Xuất ly tưởngý tưởng thoát ly.
xuất đạo
To leave the world and enter the nirvàna way.
; Xuất Gia—To leave the world and enter the nirvana way. ** For more information, please see Xuất Gia.
xuất đầu lộ diện
To make one's appearance.
Xuất định
出定; C: chūdìng; J: shuchijō;|Ra khỏi trạng thái tập trung tâm ý trong thiền định (s: vyutthāna).
xuất định
1556梵語 vyutthāna,巴利語 vuṭṭhāna。即出起、起出、出離。為「入定」(梵 samāpatti,等至)之對稱。出於禪定之意。即由入定狀態恢復平常狀態。比丘修禪定時,必須熟達巧練入定與出定,此稱為入定善巧、出定善巧。欲出定之時,應徐徐動身,安詳而起。阿毘達磨集異門足論卷二(大二六‧三七○下):「復有二法,謂入定善巧、出定善巧者。入定善巧云何?答:定謂八部八蘊定,即四靜慮、四無色定入定善巧。(中略)出定善巧云何?答:定謂八部八蘊定 ,即四靜慮、四無色定出定善巧。(中略)出初靜慮定(中略),乃至出非想非非想處定。復次,(中略)於出初靜慮定,有善巧作意。(中略)乃至於出非想非非想處定,有善巧作意,(中略)於如是出種種定中解了,乃至毘鉢 舍那,是謂出定善巧。」熟達禪定者,心傾向禪定,入於禪定(入定或稱等至),持續禪定狀態(在定或稱攝持),出於禪定(出定或稱出離),出定後觀察之法,能得五種自在,詳載於巴利佛教經典。又所謂出定,即出四禪四無色之根本定,而至欲界心。佛教聖者可入現法樂住與滅盡定,外教人則入無想定,在預定之期限到來,則由禪定中出,即稱為出定。〔增支部第二集十五入定品、攝阿毘達磨義論卷九、俱舍論卷二十八、禪苑清規卷八坐禪儀〕
; To come out of the state of dhyàna; to enter into it is nhập định.
; Ra khỏi trạng thái “Thiền Định”—To come out of the stage of dhyana (deep meditation)—To exit (emerge) from meditation.
Xuất Định Tiếu Ngữ
(出定笑語, Shutsujōshōgo): 4 quyển, trước tác của Bình Điền Đốc Dận (平田篤胤, Hirata Atsutane, 1776-1883), được san hành vào năm 1649 (Gia Vĩnh [嘉永] 2); vốn bắt chước bộ Xuất Định Hậu Ngữ (出定後語, Shutsujōgogo) của Phú Vĩnh Trọng Cơ (富永仲基, Tominaga Nakamoto, 1715-1746). Đây là bộ sách bài xích Phật Giáo vào cuối thời Giang Hộ, đặc biệt nhắm vào Nhật Liên (日蓮, Nichiren) và Thân Loan (親鸞, Shinran).
Xuất định 出定
[ja] シュツジョウ shuchijō ||| To emerge from meditation (vyutthāna). => Ra khỏi trạng thái tập trung tâm ý trong thiền định (s: vyutthāna).
xuất đội
1562又作出鄉。指住持離大眾之隊,出發向遠方有緣之地勸募財糧,亦即托鉢。住持出隊歸寺後之上堂說法,或出隊之際所行之上堂說法,皆稱為出隊上堂。〔禪林象器箋第十四類雜行門〕
; Khả năng vượt trội hơn đại chúng—Outstanding—Of outstanding ability—Egregious—Standing forth.
xuất đội ca đề
1562出隊,出眾隊之意。迦提,為梵語 kārttika 之音譯,乃印度曆第八月之名,相當於夏安居結束時之月份。大宋僧史略卷上載,於夏安居終了時,僧眾持花、執扇、吹貝、鳴鐃而行於道,稱為出隊迦提。
xuất đội ca để
Tháng cuối cùng trong mùa an cư kiết hạ, Tăng chúng công bố phân phát 'công đức y' trước khi ra khỏi đội ngũ của đại chúng—The public announcement of distribution of the kathina garment (công đức y) in the last month of the rainy season, i.e. of the coming forth of the monks from their retreat.
Xuất 出
[ja] シュツ shuchi ||| (1) To come out; to manifest; to appear (Skt. abhipravartate, pravartate; Tib. skye ḥgyur). 〔法華經 T 262.9.02c20〕 (2) To come out of the womb. (3) To go beyond, to trancend (transcend). => Có các nghĩa sau: 1. Lộ ra, hiện ra, xuất hiện (s: . abhipravartate, pravartate; t: skye ḥgyur) 2. Sinh ra từ bào thai. 3. Vượt quá, vượt hơn.
xuẩn động
Inconsiderate actions.
xuẫn ngu
Ngu xuẫn—Stupid.
xuề xòa
Easy-going.
xuể
Capable.
xuống
To go (get—come) down—To descend—To lower—To drop.
xuống giọng
To lower the tone.
xuống lịnh
To give an order.
xuống lỗ
To pass away—To die.
xuống âm phủ
To go to hell—To die.
xà
1) Âm thanh—Sounds. 2) Rắn: Sarpa (skt)—Snake—Serpent.
xà bà lệ
6531梵語 jvāla。意譯為熾然。為正法念處經所列三十六種餓鬼之第十九種。據正法念處經卷十六載,此類餓鬼熾火燃身,悲號大叫,奔馳不止;由於彼等過去受貪嫉覆心,故行諸惡業,如以妄語誑人、劫奪他人財物,或攻城掠地、殺害無辜百姓等,故於命終時墮為闍婆隸餓鬼。
; Jvala (skt)—Loại quỷ miệng phun ra lửa—Flame-mouth demon, a class of hungry ghost.
xà da bổ la
Jayapura (skt)—Theo Trung Anh Phật Học Từ Điển, Xà Da Bổ La, một thành phố cổ nằm trong khu Punjab, khoảng 30 dậm về phía tây bắc của Lahore—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Jayapura, an ancient city in the Punjab, probably the present Hasaurah, 30 miles north-west of Lahore.
xà da cúc đa
Jayagupta (skt)—Thầy của ngài Huyền Trang tại thành Srughna—A teacher of Hsuan-Tsang in Srughna.
xà da nhân đà la
Jayendra (skt)—Tự viện Xà Da Nhân Đà La ở Pravarasenapura, bây giờ là Srinagar, thuộc Kashmir—A monastery of Pravarasenapura, now Srinagar, Kashmir.
xà da tể na
Jayasena (skt)—Một học giả Phật giáo nổi tiếng về Kinh Vệ Đà, người miền tây Ấn Độ—A noted Buddhist scholar of the Vedas, a native of west India.
xà da đa
Jayata (S)Xà-đà-giàTổ thư 20 trong hàng 28 vị tổ Phật giáo Ấn độ.
; Jayata (S). The Indian 20th patriarch, teacher of Vasubandhu.
xà diễn đế
6531梵語 jayanta, jayanti。意譯戰勝。即能降伏他人之意。大日經疏卷十有(大三九‧六八三下)「阿波(入)囉誓帝(無能勝也)闍演帝(勝之別名,即是戰勝之義,能降伏他之義也)」之真言。
; Jayanta (skt)—Người chế ngự—Tên của Thần Siva và các vị Thần khác—Conqueror—Name of Siva and others.
xà duy phần
6532凡二卷。又稱大般涅槃經荼毘分、大涅槃經後譯荼毘分、涅槃經後分、後分。唐代若那跋陀羅譯。收於大正藏第十二冊。即大般涅槃經後分,說明佛陀入滅前後之事跡,及荼毘後分配舍利、起塔等情形。(參閱「大般涅槃經後分」846)
xà dược
Xà dược hay thuốc rắn là tên của tự viện Sarpausadhi ở Udyana, nơi mà trong một tiền kiếp Đức Phật Thích Ca đã hóa ra một con rắn lớn, bố thí thịt để cứu những người đang chết đói—Snake-medicine, name of the Sarpausadhi monastery in Udyana, where Sakyamuni in a former incarnation appeared as an immense snake, and by giving his flesh saved the starving people from death.
xà dạ
Jaya (skt)—Chế ngự, dấu hiệu của sự chế ngự—Conquering, a manual sign of overcoming.
xà dạ đa
6530北天竺人。付法藏因緣傳卷六載為付法相承第十九祖,禪宗則謂西天第二十祖。父母素信三寶,然坎坷多疾,師遂生不平之疑。後於中天竺遇鳩摩羅多尊者,乃向之請益,尊者釋以因果罪福之說,師頓釋所疑,承言領旨,萌發宿慧,遂出家受具足戒,並嗣其法。 師學識淵博,化導無量。後至羅閱城(王舍城)敷揚頓教,當時之學眾唯尚辯論,為首者名為婆修盤頭(世親),常日僅一食,晝夜不臥,六時禮佛,清淨無欲,為眾所歸,師遂度化之。臨入滅時,即傳法予婆修盤頭。其付法偈曰(大五一‧二一三中):「言下合無生,同於法界性,若能如是解,通達事理竟。」付法之後,奄然歸寂,世壽不詳。〔寶林傳卷四、祖堂集卷二、景德傳燈錄卷二〕
; Jayata (skt)—Vị tổ thứ 20 của Ấn Độ—The Indian twentieth patriarch—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ in Vietnamese-English Section.
xà dạ ấn
6530闍夜,梵語 jaya。又作闍耶。為密教印契之一。意譯作勝印,或得勝印。據陀羅尼集經卷四所說闍夜印之印相為:左右手之小指、無名指、食指等皆屈於掌內,二中指直豎而指尖相拄,二拇指壓於食指中節之上,二腕相合。復謂若吾人作此印後,念觀世音菩薩名號,得令一切菩薩悉皆歡喜。
xà hành
1) Đi như rắn đi bằng bụng: To crawl, to go on the belly. 2) Đức Phật nói về những Tỳ Kheo có “Xà Hành” pháp—The Buddha talked about those Bhiksus who crawl or go on the belly as follow: • Sát sanh, tay thường dấy máu: Killing beings with their bloody hands. • Hành thập ác: Practice ten evil deeds or actions—See Thập Ác. • Thân Xà Hành: Practice evil actions. • Khẩu Xà Hành: Speak evil words. • Ý Xà Hành: Their mind always bears evil thoughts.
xà hành pháp
4783指行十不善,如殺生、偷盜、惡口、瞋恚等,凡身、口、意所作之十種不善行為。出於雜阿含經卷三十七,佛告諸比丘有蛇行法一語。其文載(大二‧二七三下):「何等為蛇行法?謂殺生惡行、手常血腥,乃至十不善業跡,如前淳陀修多羅廣說,彼當爾時,身蛇行、口蛇行、意蛇行。彼如是身口意蛇行已,於其二趣向一一趣,若地獄、若畜生。蛇行眾生,謂蛇、鼠、貓、狸等腹行眾生,是名蛇行法。」(參閱「十善十惡」468)
xà la
Jhapita (skt)—Trà Tỳ—A monk's funeral pyre.
xà lâu
6532即指胎衣。南本涅槃經卷九(大一二‧六六○下):「女人產者,闍樓不出,若服此藥,闍樓即出,亦令嬰兒安樂無患。」大般涅槃經疏卷十二以上引中之女人比喻菩薩,生產比喻正觀,胎衣比喻常教與無常教,而謂嬰兒在母體內須受胎衣裹護,然出生後即須去除胎衣,否則反成大患;猶如常教與無常教可生正觀,然觀解若成,即須去除此二教,教若不去,反成障難。
; Jarayu (skt)—Nhau của thai nhi—A placenta—An after-birth.
xà lê
Acàrya (S). A teacher, instructor, exemplar.
; Acarya (skt)—See Acarya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
xà lạn đạt la quốc
6532闍爛達羅,梵名 Jālandhara。又作左闌陀羅國、惹爛馱囉國、闍蘭陀國。為北印度之古王國。位於至那僕底國(梵 Cīna-bhukti)東方,相當於現今五河地方薩特日(Sutlej)與比阿斯(Beas)兩河間之地。 據大唐西域記卷四載,此國東西廣達千餘里,南北八百餘里,氣候溫暑,風俗剛烈。有伽藍五十餘所,僧徒二千餘人,專學大小二乘,另有天祠三所,外道五百餘人。唐初玄奘曾至該國,住於那伽羅馱那寺,參謁大德旃達羅伐摩,修學眾事分毘婆沙論,並受烏地多王(Udita)之厚遇。貞觀末年,玄照亦於此止住四年,並蒙國王供養。北宋初年來華之三藏沙門天息災,即為此地密林寺之僧。〔大慈恩寺三藏法師傳卷二、卷五、大唐西域求法高僧傳卷上、佛祖歷代通載卷二十六〕
xà lạn đạt na
Jalandhara (skt)—Vương quốc và thành phố cổ trong khu vực Punjab, bay giờ là Jalandar—An ancient kingdom and city in the Punjab, the present Jalandar.
xà lợi
6529<一>梵語 jala,為水之異名。北本涅槃經卷十三又舉出水之其他異譯名稱,如波尼、欝持、
; Jala (skt)—Nước—Water.
xà na
Djnà (S). The Buddha's wisdom.
xà na da xá
6529梵名 Jinayaśa, Jñānayaśa。北周譯經僧。又稱耆那耶舍。意譯為藏稱,或勝名。中印度摩伽陀國人。北周時攜二弟子耶舍崛多、闍那崛多入華,於長安舊城四天王寺從事譯經,先後譯出佛頂咒經並功能一卷、大方等大雲經請雨品一卷。〔續高僧傳卷一、開元釋教錄卷七、歷代三寶紀卷十一、古今譯經圖記卷四〕
; Jnanayasas (skt)—Người xứ Ma Kiệt Đà, là thầy của Da Xá Quật Đa và Xà Na Quật Đa. Ông đã cùng với một nhà sư khác dịch sáu bộ kinh sang Hán văn—A native of Magadha, teacher of Yasogupta and Jnanagupta, co-translator of six works, A.D. 564-572.
xà na quật đa
6530(523~600)梵名 Jñānagupta。意譯德志、至德、佛德、志德。陳隋時代僧。北印度犍陀羅國人。自幼即入大林寺出家,師事闍那耶舍、闍若那跋達囉。後巡禮聖蹟,至諸方弘法,曾至迦臂施國、厭怛國、于闐、吐谷渾等地。北周明帝武成年間(559~560),偕師耶舍、跋達囉及同參耶舍崛多等來至長安,住於草堂寺。未久,入四天王寺從事譯經工作,譯出十一面觀世音神咒經、金仙問經等。後任益州僧主,止於龍淵寺。 北周武帝滅法時,逼令僧眾受爵返俗,師以不屈而遭流放。乃經甘州入突厥,未久,耶舍與跋達囉相繼入寂。師與北齊僧惠琳、寶暹等相遇,共居於突厥譯經,並習禪定。隋興,文帝遣使請還,敕主譯事,法席移至大興善寺。共譯出佛本行集經、大法炬陀羅尼經、添品妙法蓮華經、起世經等,計三十七部,一七六卷,及梵文古書世典等二百餘卷。後因事擯流東越,邊陲士人多為所化。開皇二十年示寂,世壽七十八。〔續高僧傳卷二、佛祖統紀卷三十九、六學僧傳卷二、開元釋教錄卷七〕
; Jnanagupta (skt)—Một vị sư người xứ Kiện Đà La, miền bắc Ấn Độ, người đã dịch 43 bộ kinh sang chữ Hán vào khoảng những năm 561-592 sau Tây Lịch (một vị Tỳ Kheo đời Trần Tùy, người vùng bắc Ấn Độ)—A native of Gabdhara, translated forty-three works into Chinese A.D. 561-592.
xà na quật đa tỳ kheo
Jānagupta (P)Đức Chí, Chí Đức, Phật Đức Tỳ kheoTên một vị sư.
xà nhập trúc đồng
4783<一>原謂彎曲之蛇進入竹筒自然變直。比喻進入禪定之境,其心自然端直。與楞伽師資記之「蛇入筒改曲」一語同義。大智度論卷二十三(大二五‧二三四上):「是心從無始世界來,常曲不端,得正心行處,心則端直;譬如蛇行常曲,入竹筒中則直。」<二>禪林用語。於禪林中,多指昧於靈活無礙之圓融機法,以致陷於進退維谷、滯礙不暢之境地。虛堂和尚語錄卷二(大四七‧九九七中):「僧問:『仰山謂香嚴云:「如來禪許師兄會,祖師禪未夢見在!」此意如何?』師云:『蛇入竹筒。』」
xà ni sa
6529梵名 Janeśa。意譯為勝結使 。為毘沙門天王五太子之一。又稱赦儞娑、禪膩師。據長阿含經卷五載,闍尼沙昔時為人王,於如來法中皈依為優婆塞,以一心念佛而取命終,故得生為毘娑門天王太子。〔金光明最勝王經卷六、毘沙門天王經〕
xà pha lạ
Xem Quang minh.
xà phạ la
Jvàla (S). The halo. Also Vầng hào quang, quang minh.
; Jvala (skt)—Quang minh hay ánh sáng (còn có nghĩa là vô tướng bất sinh)—Shining—Light.
xà phọc la
6532梵語 jvālā。<一>意譯為光明。即謂由安住於無去無來之行,成就無與倫比之大威光。大日經疏卷十有(大三九‧六八五上)「闍嚩(二合)羅(光英明義也,由住無去無來之行,成大威光,無與為比也)娜母(歸命也,由住斯法故我歸命也)」之真言。 <二>為無相不生之義。大日經疏卷十三(大三九‧七一七中):「闍者,生也;嚩,縛也;羅,相也,側有阿點,與不生義同,無相不生也。」
xà phọc la ma lí nễ
6532梵語 jvālāmālinī。jvālā,意譯為焰;mālinī,意譯為鬘。即謂如來之光焰如鬘,連環而不斷。〔大日經義釋演密鈔卷八〕
xà quật
Grdhrakùta (S). Vulture peak mount. Also Linh thứu sơn, Linh sơn, Kì xà quật, Kì sơn.
xà quật sơn
Grdhrakuta (skt)—Vulture Peak—See Grdhrakuta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
xà thằng ma
4784即以蛇、繩、麻三種,比喻遍計所執性、依他起性、圓成實性等三性之義。喻執著有實我實法之遍計所執,是為見繩為蛇之妄覺;觀依他起性而除去我法之執,猶如知繩而遣蛇之妄覺;見圓成實性而悟依他之假有,猶如知繩由麻所成,更除繩之錯覺。〔梁譯攝大乘論釋卷七、大乘法苑義林章卷一末〕(參閱「三性」563)
; Cái mà ta tưởng là rắn chỉ là một sợi dây thừng, kỳ thật khi đã biết ra thì mới biết thực tướng của dây thừng chỉ là những sợi đay mà thôi—The seeming snake, which is only a rope, and in reality hemp.
xà thằng ma dụ
Thí dụ về sự lầm tưởng sợi dây là con rắn—The parable of the seeming snake—See Xà Thằng Ma.
xà thế
See Ajatasatru in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
xà tón
See Xvay Ton in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
xà túc
Chân rắn, ý nói về chuyện không tưởng như lông rùa sừng thỏ vậy—Snake's legs, i.e. the non-existent, e.g. the turtle's hairs or the rabbit horns.
xà tỳ
Xem Trà tỳ.
; Jhapita (skt)—Trà Tỳ—Burial and cremation.
xà vương
Ajatasatru (skt)—A Xà Thế—See Ajatasatru in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
xà y na
Jaina (skt)—Kỳ Na Giáo được sáng lập bởi Ni Kiền Đà Nhã Tử, một người cùng thời với Đức Phật Thích Ca (kỳ thật giáo phái nầy ra đời sớm hơn đạo Phật một chút. Lý tưởng của giáo phái nầy giống như Phật giáo ở chỗ bác bỏ quyền uy của Phệ Đà và bốn giai cấp của xã hội Ấn Độ thời bấy giờ)—The Jains, founded by Jnatrputra, a contemporary of Sakyamuni.
xà y na giáo
6529闍伊那,梵名 Jaina。又稱耆那教。開祖為尼乾陀若提子(梵 Jñātiputra)。此教起源於紀元前六世紀頃,較佛教稍早;其開宗之動機,亦與佛教同,在於排斥吠陀之權威,打破四姓階級。其教理類似數論學派,主張「 心物對立論」,承認知覺、推證、聞知三者為有效知識之來源,認為「靈魂」不但存於人體,即使動植物,甚至一微塵中亦有靈魂,個人之業障乃因物質及外界之影響而導至靈魂受束縛,限制了靈魂本來之完善能力。故吾人一切之進德修業,皆應從苦行禁欲開始,試圖從物質界解脫,由一切智而得常滿精神(梵 nityasiddha)。其與佛教異者,即自我之實在論,主張外在世界之真實性,並相信最終之實體,故屬多元主義。開教後二百年頃,北方摩揭陀之信徒與南方加羅奈克地方之信徒間,產生教義上之諍論,北方取寬容主義而著白衣,南方依然嚴守教祖之旨,而主張裸體,前者稱白衣派,後者稱空衣派,二者各自編輯其所依之教典。(參閱「耆那教」4283)
; Jaina (S). Jainism. Also Kì na giáo, Ni kiền đà.
; Jain (skt)—See Xà Y Na.
xà đa già
6529梵語 jātaka。又作闍陀伽、闍多迦、闍陀。意譯為本緣、本起、本生。略稱生。為敘述佛陀及彌陀、彌勒等佛菩薩或佛弟子,於過去世永劫受生為種種身形、角色時,行菩薩道之故事,為佛典九種類別(九部經)或十二種類別(十二部經)之一。(參閱「十二部經」344、「本生經」1952)
; Jataka (skt)—Xà Đà—Xà Đà Ca—Xà Đà Già—Kinh Bản Nguyên—Kinh Bản Khởi—Kinh Bản Sanh, gồm những câu chuyện nói về tiền thân của chư Phật và chư Bồ Tát (thụ sinh thành vô số thân hình, sắc tướng để hành Bồ Tát Đạo. Đây là một trong 12 bộ kinh)—Stories of previous incarnations of Buddhas and Bodhisattvas.
xà điêu
5686佛像雕刻之一種。盛行於日本藤原末期至鎌倉時代,地域上僅限於中部以東。其雕刻之法,係於木雕完成後,保留粗雕之刻痕,猶如尚未完成。
xà đà ba la
6530為菩薩修行階位之一。意譯作度黑闇、無畏地、滿定。仁王經卷下(大八‧八三一下):「入無相闍陀波羅位,化一切眾生。」〔仁王經疏卷五(吉藏)〕
xà đà già
Xem Bổn sanh. Xem Bổn sanh truyện.
; Jataka (skt)—See Xà Đa Già.
xà đà già kinh
Jatakas (S). Also Kinh Bản sinh.
xà đâu bát tự
6531位於泰國曼谷。又稱福寺。約建於大城王朝(1350~1767)時期。一八○二年曼谷王朝拉瑪一世進行修繕,一八四八年拉瑪三世又予以整修擴建。畫廊、畫館與藏經閣有大量之雕刻品與繪畫,內容介紹佛本生故事、醫藥知識、道德準則語錄、占卜算命術語、佛教九次結集、泰國佛教新年宋乾節等宗教民間節日,及有關泰國、錫蘭、非洲、荷、法、阿拉伯、中、日等各國之信仰。
xà đề
Satha (P)Xiêm Châu, Xiểm châuMột trong hai Trung châu của Tây ngưu hoá châu.
; Jati (S). Birth, production. Also Sinh.
; Jati (skt). 1) Sanh—Birth—Production. 2) Tên của một vài loại thảo mộc: Name of several plants, e.g. marigold.
xà đề hoa
6531闍提,梵語 jāti,或 jātī, jātika,巴利語 jāti。又作闍帝花、闍底花。意譯為生花、實花。學名 Jasminum grandiflorum。屬於亞熱帶常綠灌木之肉豆蔻類植物,或稱肉冠花、荳蔻花、金錢花。其花色白而外緣為紅色,富香氣,葉為對生,呈卵狀。產於尼泊爾及喜馬拉雅山西北部高約六○○至一八○○公尺之地區。法華經卷六法師功德品所列舉之數種香花中,闍提華即為其一。〔香王菩薩陀羅尼咒經、大陀羅尼末法中一字心咒經、翻梵語卷十〕
xà đề thủ na
6531梵名 Jatisena。意譯為願勇。據北本涅槃經卷三十九載,闍提首那原為婆羅門,執著涅槃無常,一日與阿闍世王共詣佛所請益,佛陀就其所執為說四真諦法,闍提首那即得正見而皈依佛法,由憍陳如為之剃髮,下手時鬚髮與煩惱俱落,於處得阿羅漢果。另據成唯識論了義燈卷二本、慧琳音義卷二十六等載,闍提首那曾造三彌叉論,廣明二十五諦,並執著涅槃是無常;所說屬於邪見外道。
; Jatisena (skt)—Tên của một vị Bà La Môn, một nhà thông thái được Phật nói đến trong Kinh Niết Bàn, người đã chịu quy-y Phật sau khi nghe Phật thuyết giảng—Name of a Brahman, an ancient sage mentioned in the Nirvana Sutra, who converted to Buddhism after hearing a preaching from the Buddha.
xà đề xà la
Jatijara (skt)—Sanh và lão—Birth and decrepitude (aging).
Xà-dạ-đa
闍夜多; S: śayata;|Tổ thứ 20 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Xà-lê
闍黎|A-xà-lê
Xà-đà-già
phiên âm từ Phạn ngữ là Jtaka, dịch nghĩa là bổn sanh, là những kinh nói về tiền thân đức Phật khi còn tu hành đạo Bồ Tát. Xem Mười hai bộ kinh.
xà-đà-già
Xem Xà da đa.
xài
To expend—To spend
xài phí
To squander one's money.
xào xạc
Noisy.
xá
4590梵語 upekṣā,巴利語 upekkhā 或 upekhā。音譯憂畢叉。意即平靜、無關心。<一>全稱行捨。俱舍宗以捨為遍一切善心共起的心所之一(十大善地法),唯識宗則列為善心所之一。即遠離惛沈之沈沒與掉舉之躁動,為不浮不沈,保持平靜、平等之精神作用或狀態。 關於捨之說法,俱舍論卷四、品類足論卷四皆謂,「捨」即平等正直、無警覺之性,而住於寂靜之心;於唯識大乘則認為依於精進、無貪、無瞋、無癡等四法,令心遠離掉舉等障而住於寂靜、無有雜染之心境。大毘婆沙論卷九十五、瑜伽師地論卷二十九以「捨」為七覺支中之捨覺支,為「奢摩他品」所攝。摩訶止觀卷三上,轉用此義而以捨為中道觀之異名。〔北本大般涅槃經卷三十、大毘婆沙論卷四十二、成唯識論卷六〕 <二>三受之一,五受之一。又稱捨受、不苦不樂受(梵 aduḥkhāsukha-vedanā)、不苦不樂覺。即非苦非樂的下意識之印象感覺。伴有捨受之禪定,稱捨俱定(巴 upekkhā-sahagata-samādhi),指色界第四禪定、四無色定及依捨俱欲界善淨心之欲界定。大毘婆沙論卷一一五以三受業配三界九地,廣果繫之善業及無色界繫之善業為順不苦不樂受業。又於八識中,前六識皆與三受相應,第七、第八兩識僅與捨受相應。成實論卷六辯三受品依雜阿含經卷十七之意,謂樂受中有貪使,苦受中有瞋使,不苦不樂受中有無明使。又不苦不樂受,其相寂滅,如無色定,以寂滅之故,煩惱細行,凡夫以為解脫,故以之為無明使。又巴利佛教中以捨為十波羅蜜之一。〔大毘婆沙論卷一四三、俱舍論卷三、成唯識論卷五、清淨道論卷三〕(參閱「三受」559) <三>捨失之義。為「得」之對稱。即已得而今捨失之。與「不成就」同義。〔大毘婆沙論卷六十三、卷一一七、雜阿毘曇心論卷四、俱舍論卷二十一〕 <四>悉曇字???(śa)。為悉曇五十字門之一、四十二字門之一。又作舍、賒、奢、
; 1) Nhà nhỏ hay chòi: A shelter—A cottage. 2) Từ được dùng để xưng hô “ của tôi” một cách khiêm nhường: A term of humility for “my.” 3) Trú ngụ: To lodge. 4) Xá bỏ: To let go—To relinquish.
xá bà đề
Xem Xá vệ thành.
xá bà đề quốc
Sravasti (S). Also Xá vệ quốc, Xá vệ thành, Thất la phiệt thành.
xá bế các phao
4592日本佛教用語。為日本淨土宗之祖源空於選擇本願念佛集一書中,為勸修淨土門與正行(念佛),而否定聖道門與雜行所使用之詞。捨,謂捨棄自力修行之心;閉,謂閉塞禪定修德之門;閣,同「擱」,謂擱置一切之功夫;拋,拋卻萬事智慧。蓋源空以專修念佛法門為主,主張歸入稱名念佛一門,故有上述之說法。 於源空之後約八十年,以法華信仰為根本而開創日蓮宗之日蓮,針對源空之主張,在立正安國論一書中,亦以「捨閉閣拋」四字為標語,加以非難批判。 日蓮謂源空引用我國淨土教高僧曇鸞、道綽、善導等人對淨土法門之解釋,而建立捨閉閣拋四字;認為此四字係表示對法華經誹謗之態度,並謂源空以此四字迷惑一切眾生。〔選擇本願念佛集第一章、第二章,第十二章、第十六章〕
xá chi
3503梵名 Śacī 或 Śaci 或 Śacikā,巴利名 Sujā 或 Sujātā。又作舍之、舍支、釋脂、設芝、設支、娑呬迦。意譯淨量、妙安。乃帝釋天之妃,阿修羅之女。 據雜阿含經卷四十載,舍脂爲帝釋天之第一天后,帝釋因此而稱舍脂鉢低。據玄應音義卷二十五載,舍脂,意爲能縛,謂女人若可愛,能令男子生染著。又據新華嚴經卷四十四載,舍支能於一音之中出千種音。大毘婆沙論卷六十一則載,設芝發諂媚之音時,令洲胤仙人生愛欲,而退失勝定,螺髻隨之墮落。 此外,據大莊嚴論經卷十載,舍之嘗與帝釋共同供養摩訶迦葉。又大三摩惹經載,娑呬迦爲天女之一。〔別譯雜阿含經卷二、北本大般涅槃經卷三十三、正法念處經卷二十五、大智度論卷五十六、慧琳音義卷二十六〕
; Sasa, Sasi, Sasin, Sakti (skt). 1) Thiết Thi: Sasi (skt). • Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Thiết Thi (Sasa) là tên của một loài thỏ rừng (tiền thân của Đức Phật), đã quăng mình vào lửa, để làm thức ăn cứu vớt những người đang đói. Thỏ được Vua Trời Đế Thích đưa vào trung tâm của mặt trăng—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, sasa is a hare, which threw himself itself into the fire to save starving people. It was transferred by Indra to the center of the moon. • Lực của khẩu và hành: The power of speech and action. 2) Xá Chi là vợ của một chư Thiên, có lẽ là của vua Trời Đế Thích: Sakti is the wife or female energy of a deity, maybe of Indra. 3) Xá Chi là bộ phận sinh dục của nữ phái: The female organ.
xá chi bát đê
Sacipati (skt)—See Thiên Đế Thích.
xá chào ai
To salute someone with joined hands.
xá chỉ
Indra (skt)—Tên của hoàng hậu vợ vua Đế Thích—Name of Indra's chief consort (wife).
xá cứu ni
Sakuni (S)Một trong Thập ngũ quỷ thần thường não loạn trẻ em.
xá di
Sakya (skt)—Có lẽ đây là một trong năm họ của Đức Phật—Probably one of the five surnames of the Buddha.
xá di thôn
3504梵名 Syāmagrāma,巴利名 Sāmagāma。即釋迦族之村。又作舍摩迦子聚落、緬祇優婆塞林。某次,世尊居住於此村中,獲悉裸形外道之師尼乾子(巴 Nigaṇṭha Nātaputta)之死訊,乃講說舍彌村經(巴 Sāmagāma-sutta)。上述之事載於巴利文中部經第一○四,長部經第二十九清淨經(Pāsādika-suttanta)中亦有類似記載。〔中阿含卷五十二周那經、息諍因緣經〕
xá do lục duyên
4591又作捨心由六。據俱舍論卷十五舉出六種受因緣之斷壞而當捨棄者,即:(一)由受心斷壞故捨,謂心先受一切惡法,然於得戒、得定後則捨棄之。(二)由勢力斷壞故捨,謂由淨信之力而使煩惱勢力自然斷壞。(三)由作業斷壞故捨,謂由悔改而使往昔所造諸種惡業不再重蹈覆轍。(四)由事物斷壞故捨,謂所施之諸事物皆斷壞而無常。(五)由壽命斷壞故捨,謂所依之壽命皆有斷盡壞滅之日。(六)由善根斷壞故捨,謂由起加行而斷壞欲界一切非色界之善法根,即能上生色界。(參閱「得戒捨戒」4550)
xá dạ đa
Shayata (S)Tổ thứ 20 giòng Ấn.
xá gia khí dục
4591即出家成為沙門。捨離對家庭之愛著及五欲色味之貪愛,而發心出家之修行法。與「捨家染衣」同義;捨家,即出家;染衣,即著墨染之衣,亦即出家為僧。〔無量壽經卷下、大唐西域記卷二〕
xá giác chi
4593 請參閱 默置記 梵語 upekṣā-saṃbodhyaṅga,巴利語 upekha-sambojjhaṅga。七覺支之一。又作捨等覺支、護覺支、行護覺意。捨,為捨離之意;覺支,以近菩提之位,能成就如實之覺;捨覺支,即捨離所見念著之境時,能覺了而永不追憶虛偽不實之法。即心為平等性,以行捨為體,而住於寂靜。〔雜阿含經卷二十六、法界次第卷中(智顗)〕(參閱「七覺支」125)
xá kiệt quốc
Sagala (S).
xá la
3505<一>梵語 sāra。即百舌鳥之雄鳥,能說人語。據玄應音義卷二十一載,舍羅,乃百舌鳥之雄鳥;若稱舍利(梵 sārīkā),則爲雌鳥。(參閱「舍利」3495) <二>梵語 śalākā。意譯籌。即以竹、木、銅、鐵等所作之細板,用於教團行滅諍或布薩時計算比丘之數。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷上四〕(參閱「籌」6777)
; Sari or Sarika (skt). 1) Xá Lợi: Sari (skt)—See Xá Lợi. 2) Tên của loài chim “Bách Thiệt”: Name of a kind of bird. 3) Thẻ bài bằng tre để điểm danh chư Tăng trong tự viện: Bamboo or wooden tallies used in numbering monks in a monastery.
xá la bà ca
Xem Thanh văn.
; Sravaka (skt). 1) Đệ tử từng được nghe lời Phật dạy: A hearer, disciple, who has heard the voice of Buddha. 2) Những đệ tử từng theo bên Phật thì gọi là Đại Thanh Văn: All the personal disciples of sakyamuni, the chief disciples being called Mahasravakas. 3) Bậc Thánh quả thấp nhất, những bậc cao hơn gồm Bích Chi Phật, Bồ Tát, và Phật: The lowest degree of saintship, the other higher being Pratyeka-buddhas, bodhisattvas, and Buddhas—For more information, please see Thanh Văn and Sravaka.
xá la ma nã
Sramana (skt)—See Sa Môn in Vietnamese-English Section and Sramanera in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
xá la phạm
4593梵語 śarāvam。意譯瓦椀。大日經卷二(大一八‧一三中):「依於嚩庾方,闔於捨囉梵。」據慧琳音義卷三十六載,此梵語唐譯為瓦椀,於西北隅之風神王位,作法令止風雨,以瓦椀合之。
xá la đà
4593梵語 śraddhā。深信之意。大日經疏卷三解釋「信」有二梵音,即:(一)阿毘目底,為信解之意,即明見是理,心無疑慮;如鑿井已漸至泥,雖未見水,知必在近。(二)捨攞馱,為深信之意,即依事依人之信,如聞長者之言而信之;或聞某人出乎常情之言語,然以其人未嘗欺誑他人,故仍信受依行。與「信諸佛菩薩」同義。
xá li quốc
Xem Tì xá li.
xá ly
Xem Quảng nghiêm thành.
xá lâu già
Saluka (skt)—Một loại thực phẩm lỏng làm bằng rễ sen—A kind of cooked liquid food made of lotus roots.
xá lặc
Sataka (skt)—Xá Tra Ca—Quần áo mặc bên trong—An inner garment, or a skirt.
xá lị (lợi)
Sàrìra (S). Relic.
xá lị phật
Sàrìradhàtu (S). Relic of the Buddha.
xá lị răng phật
Dasanadhàtu (S). Tooth relic (eyetooth) of the Buddha.
xá lị tháp
Sàrìraka (S). Stùpa of relic.
Xá Lợi
(s: śarīra, p: sarīra, 舍利): âm dịch là Thật Lợi (實利), Thiết Lợi La (設利羅), Thất Lợi La (室利羅); ý dịch là tử thi (死屍), di cốt (遺骨), xác chết, thân, thể, thân cốt (身骨), di thân (遺身). Thông thường, từ này được dùng để chỉ cho di cốt của đức Phật, nên có tên là Phật cốt (佛骨), Phật Xá Lợi (佛舍利); về sau chỉ cho phần xương cốt lưu lại sau khi hỏa thiêu của chư vị cao tăng. Bảo tháp nơi được an trí Xá Lợi Phật được gọi là Xá Lợi Tháp (舍利塔), bình có an trí Xá Lợi thì gọi là Xá Lợi Bình (舍利瓶), hay pháp hội cúng dường Xá Lợi Phật thì có tên là Xá Lợi Hội (舍利會). Như trong Hợp Bộ Kim Quang Minh Kinh (合部金光明經, Taishō Vol. 16, No. 664) quyển 8 định nghĩa rằng: “Thử Xá Lợi giả, thị Giới Định Tuệ chi sở huân tu, thậm nan khả đắc, tối thượng phước điền (此舍利者、是戒定慧之所熏修、甚難可得、最上福田, Xá Lợi này được huân tu bởi Giới Định Tuệ, thật khó có được, là ruộng phước tối thượng).” Dục Phật Công Đức Kinh (浴佛功德經, Taishō Vol. 16, No. 698) chia Xá Lợi làm 2 loại: (1) Sanh Thân Xá Lợi (生身舍利), tức di cốt của đức Phật; (2) Pháp Thân Xá Lợi (法身舍利), hay Pháp Tụng Xá Lợi (法頌舍利), là giáo pháp, giới luật của Ngài để lại và lấy Xá Lợi để ví dụ. Trong khi đó, Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 40 lại phân Xá Lợi làm 3 loại: (1) Cốt Xá Lợi (骨舍利, Xá Lợi xương), có màu trắng; (2) Phát Xá Lợi (髮舍利, Xá Lợi răng), màu đen; (3) Nhục Xá Lợi (肉舍利, Xá Lợi thịt), màu đỏ. Xá Lợi nói chung chủ yếu là mảnh xương, có hình trạng lớn nhỏ bất đồng, cứng chắc, nhỏ vụn, thường như hạt đậu. Theo kinh điển cho biết rằng Xá Lợi đức Phật được chia làm 3 phần cho chư Thiên, Long Vương và con người. Trong đó, tương truyền Trời Đế Thích (s: Indra, p: Inda, 帝釋天) thì nhận Xá Lợi răng, đem về Trời cúng dường, nhưng bị quỷ chạy nhanh đoạt mất một miếng. Ngoài việc lễ bái Xá Lợi đức Phật, còn có truyền thống lễ bái Xá Lợi của các tôn giả A Nan (s, p: Ānanda, 阿難), Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana, p: Moggallāna, 目犍連), Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗), v.v. Bên cạnh đó, lễ bái các Thánh địa như nơi đức Phật đản sanh, gốc cây Bồ Đề nơi Ngài Thành Đạo, tòa báu Kim Cang, nơi Ngài từng đi kinh hành, v.v., đều có ý nghĩa tạo nhân duyên gọi là “gặp Phật nghe pháp” để sớm thành đạo quả. Về sự kiện sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, 8 quốc gia phân phối Xá Lợi của Ngài như thế nào, các kinh điển ghi lại rất rõ. Theo Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 4, Du Hành Kinh (遊行經) thứ 2, lúc bấy giờ dân chúng Mạt La (p: Malla, 末羅) của nước Ba Bà (p: Pāvā, 波婆) muốn có được Xá Lợi để dựng tháp cúng dường ngay tại xứ sở mình, bèn chuẩn bị 4 loại binh lính đến thành Câu Thi Na (s: Kuśinagara, p: Kusinagara, 拘尸那), sai sứ giả cầu xin phân chia Xá Lợi. Thế nhưng, quốc vương nước này lại bảo rằng đức Phật diệt độ tại nước ông, nên dân chúng trong nước có thể tự lo liệu cúng dường và từ chối không chia Xá Lợi. Đồng thời, dân chúng Bạt Ly (p: Buli, 跋離) của nước Già La Phả (p: Allakappa, 遮羅頗), dân chúng Câu Lợi (p: Koḷiya, 拘利) của nước La Ma Già (p: Rāmagāma, 羅摩伽), chúng Bà La Môn của nước Tỳ Lưu Đề (p: Veṭhadīpa, 毘留提), dân chúng dòng họ Thích Ca (p: Sakya, 釋迦) của nước Ca Tỳ La Vệ (p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛), dân chúng Ly Xa (p: Licchavī, 離車) của nước Tỳ Xá Ly (p: Vesālī, 毘舍離), vua A Xà Thế (p: Ajātasattu, 阿闍世) của nước Ma Kiệt Đà (p: Magadha, 摩掲陀); mỗi đoàn đều chuẩn bị 4 loại binh lính, tiến qua sông Hằng. Trong khi đó, Bà La Môn Hương Tánh (香姓) cũng xin chia Xá Lợi, nhưng bị từ chối. Các nước nhất tề muốn dùng sức mạnh của binh khí, đao gậy để tranh giành; song Bà La Môn Hương Tánh ngăn cản, khuyên họ không nên làm như vậy; bèn phân chia Xá Lợi cho 8 quốc gia. Các nước nhận được Xá Lợi xong, trở về bôn quốc, dựng tháp cúng dường. Trong Ngụy Thư (魏書), phần Thích Lão Chí (釋老志), có đoạn: “Phật ký tạ thế, hương mộc phần thi, linh cốt phân toái, đại tiểu như lạp, kích chi bất hoại, phần diệt bất tiêu, hoặc hữu quang minh thần nghiệm, Hồ ngôn vị chi Xá Lợi, đệ tử thâu phụng, trí chi bảo bình, kiệt hương hoa, trí kính mộ, kiến cung vũ, vị chi tháp (佛旣謝世、香木焚屍、靈骨分碎、大小如粒、擊之不壞、焚亦不燋、或有光明神驗、胡言謂之舍利、弟子收奉、置之寶瓶、竭香花、致敬慕、建宮宇、謂爲塔, đức Phật đã qua đời, lấy gỗ thơm đốt thi hài, linh cốt chia nhỏ ra, lớn nhỏ như hạt gạo, đập vào không vỡ, đem đốt không cháy, hoặc có ánh sáng linh nghiệm, người Hồ [Tàu] gọi đó là Xá Lợi, đệ tử thu gom thờ phụng, đặt vào trong bình báu, dốc hết hương hoa [cúng dường], tận tâm kính mộ, kiến lập cung điện nhà cửa, gọi đó là tháp).” Hay trong tác phẩm Cổ Kim Tiểu Thuyết (古今小說, tức Dụ Thế Minh Ngôn [喻世明言]) quyển 30, phần Minh Ngộ Thiền Sư Cản Ngũ Giới (明悟禪師趕五戒), của Bằng Mộng Long (馮夢龍, 1574-1646) nhà Thanh, lại có đoạn: “Tụng xong, Trà Tỳ chi thứ, kiến hỏa trung nhất đạo thanh yên, trực thấu vân đoan, yên trung hiển xuất Viên Trạch toàn thân bổn tướng, hiệp chưởng hướng không nhi khứ; thiểu yên, Xá Lợi như vũ, chúng tăng thâu cốt nhập tháp (頌畢、茶毗之次、見火中一道青煙、直透雲端、煙中顯出圓澤全身本相、合掌向空而去、少焉、舍利如雨、眾僧收骨入塔, sau khi đọc bài tụng xong, khi làm lễ Trà Tỳ [hỏa thiêu], thấy trong lửa có một làn khói xanh, xuyên thẳng lên tầng mây, trong làn khói ấy hiện rõ toàn thân hình tướng của Thiền Sư Viên Trạch, chấp tay hướng không trung mà đi; lát sau, Xá Lợi như mưa, chúng tăng thu gom cốt nhập tháp).” Hoặc trong Tục Truyền Đăng Lục (續傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2077) quyển 36, phần Tịnh Từ Trọng Dĩnh Thiền Sư Pháp Từ (淨慈仲穎禪師法嗣), Ôn Châu Giang Tâm Nhất Sơn Thiền Sư (溫州江心一山禪師), cũng có đoạn rằng: “Hoàng Khánh nguyên niên thập nhất nguyệt nhị thập lục nhật, cấu tật nguy toạn bất cận dược; duyệt thất nhật, mạng cụ dục cánh y, xuất cứ thất kỷ, thư quyết chúng ngữ tọa thệ; Xà Duy thâu ngũ sắc Xá Lợi như thục, bất khả kế, song mục tình bất tẫn (皇慶元年十一月二十六日、遘疾危坐不近藥、閱七日、命具浴更衣、出據室几、書訣眾語坐逝、闍維收五色舍利如菽、不可計、雙目睛不燼, vào ngày 26 tháng 12 năm đầu [1312] niên hiệu Hoàng Khánh [đời vua Nhân Tông nhà Nguyên], Thiền Sư nhuốm bệnh, vẫn ngồi ngay thẳng mà không uống thuốc; trãi qua 7 ngày, ngài bảo tắm rửa, thay áo quần, ra ngồi tựa vào ghế dựa của thất, viết thư giã từ vài lời rồi ngồi mà ra đi; khi làm lễ Xà Duy [hỏa thiêu], thâu Xá Lợi năm màu nhiều như hạt đậu, không đếm được, hai tròng mắt không cháy thành tro).”
; (s: śarīra, p: sarīra, 舍利): âm dịch là Thất Lợi La (室利羅), ý dịch là thân, thân cốt, di cốt, linh cốt. Nguyên gốc nó có nghĩa là thân thể, nhưng phần nhiều nó được dùng để chỉ thân cốt của Phật hay các vị cao tăng.
xá lợi
3494<一>梵語 śarīra,巴利語 sarīra。即死屍、遺骨之意。又作實利、設利羅、室利羅。意譯體、身、身骨、遺身。通常指佛陀之遺骨,而稱佛骨、佛舍利,其後亦指高僧死後焚燒所遺之骨頭。金光明經卷四捨身品(大一六‧三五四上):「舍利者,是戒定慧之所熏修,甚難可得,最上福田。」又安置佛舍利之寶塔,稱爲舍利塔;安置佛舍利之瓶,稱爲舍利瓶;供養佛舍利之法會,則稱爲舍利會。 梵語 śarīra,或由動詞 śri(令依)轉爲名詞,意謂所依之身體;或由動詞śṛ(破壞)轉變而來,意謂易破壞。又梵語 dhātu,音譯馱都,爲舍利之異稱,據巴利文長部經註(Sumaṅgala-vilāsinī)所說,連結完整之身體(sarīra)火焚後,變成如磨過之真珠、黃金等之粉末(dhātuyo,爲 dhātu 之複數);依之可知,sarīra 即指死屍;dhātuyo 則指荼毘後之遺骨;前者即稱全身舍利,後者稱爲碎身舍利。 長阿含卷四遊行經、菩薩處胎經卷三常無常品、法華經提婆達多品等亦有全身舍利與碎身舍利之說。另有謂將遺骨全部收入一塔者,稱爲全身舍利;將遺骨分置多處者,稱爲碎身舍利。關於全身、碎身舍利之說,或起源於古代印度梨俱吠陀時期所行之土葬與火葬二法,而以土葬之遺體稱爲全身舍利,以火葬後之遺骨稱爲碎身舍利。浴佛功德經分舍利爲二:(一)生身舍利,又稱身骨舍利,即佛之遺骨。(二)法身舍利,又稱法頌舍利,即佛所遺之教法、戒律,而以舍利比喻之。法苑珠林卷四十分舍利爲三:(一)骨舍利,其色白。(二)髮舍利,其色黑。(三)肉舍利,其色赤。 一般所說之舍利係骨片,故其形狀、大小不一,質地堅硬而細緻;我國則多以豆粒狀者稱爲舍利。據傳佛之遺骨三分與諸天、龍王及人間;如帝釋天得受佛之牙舍利,歸返天上供養,捷疾鬼曾奪走一枚。又於禮拜佛舍利外,亦有禮拜阿難、目連、舍利弗等之舍利者。蓋禮拜遺身舍利之趣旨,與禮拜佛成道之菩提樹、金剛寶座、佛經行之足跡等皆同,即欲結下「值佛聞法」之因緣而速成菩提之意。 關於佛入涅槃後,八國分配佛舍利之事蹟,詳載於諸經。依長阿含卷四遊行經記載,其時,波婆國(巴 Pāvā)之末羅(巴 Malla)民眾欲分得舍利,於本土起塔供養,乃備四種兵至拘尸城(巴 Kusīnāra),遣使者請分舍利。然拘尸王謂世尊於該國滅度,國內之士民當自供養,遂拒分舍利。同時遮羅頗國(巴 Allakappa)之諸跋離(巴 Buli)民眾、羅摩伽國(巴 Rāmagāma)之拘利(巴 Koḷiya)民眾、毘留提國(巴 Veṭhadīpa)之婆羅門眾、迦毘羅衛國(巴 Kapila)之釋種(巴 Sakya)民眾、毘舍離國(巴 Vesālī)之離車(巴 Licchavī)民眾、及摩揭陀國(巴 Magadha)阿闍世王(巴 Ajāta-sattu)亦各備四種兵進渡恆水,勅香姓婆羅門(巴 Doṇa)請分舍利,拘尸王亦以同理由拒分舍利,諸王即欲執干戈以力取,香姓婆羅門告諭彼等不可,乃八分舍利與八國,八國皆得舍利而歸,各起塔供養。 有關八塔之位置亦有多種傳說。西元一八九八年,法人皮佩(W.C. Peppé)於尼泊爾國南境之皮普拉瓦(Pīprāvā)發掘古墳,得一大石櫃,其中藏有蠟石壺二個、蠟石器一個、蠟石篋一個及水瓶之破片若干。蠟石壺一小一大,皆收骨片,小壺爲球狀,分成上下二部,上半爲壺蓋,附有瓶形之把手,蓋上刻有阿育王時代或該時代以前所使用之 Brahmī 文字之銘文二行,內容謂:此乃佛陀舍利龕,爲著名的釋迦族及其妹、妻子等所奉祀。由此刻銘可知其骨片爲八國分配釋尊舍利時分與迦毘羅衛國之一分,亦可證明長阿含等經所傳者爲事實。尼泊爾發掘之佛骨後由英國政府贈與暹羅國王,王復以部分贈與錫蘭(斯里蘭卡)、緬甸及日本等國。 八分舍利後,至阿育王時,王開啟羅摩伽國以外之七塔,取其舍利盛於八萬四千寶篋,建立八萬四千寶塔。據巴利文大史(Mahāvaṃsa, ch. xvii)載,阿育王之子摩哂陀(巴 Mahinda)至錫蘭弘教,天愛帝須王(巴 Devānaṃpiya-tissa)即向阿育王請求舍利,並以極莊嚴之儀式迎請。另據高僧法顯傳師子國(錫蘭)條載,該國王城中有佛齒精舍。大唐西域記卷十一亦有相同之記載,謂僧伽婆羅國(錫蘭)王宮之側有佛牙精舍。 西域地方亦盛行供養佛舍利,如法顯傳載,那竭國界醯羅城中有佛頂骨精舍。西域記卷一迦畢試國條載,該國有龍王所建之窣堵波,其中供奉如來之骨肉舍利;在王城西北之大河南岸有舊王伽藍,其中供奉如來頂骨一片。又據西域記卷十二載,玄奘歸國時攜回如來舍利一五○粒。宋高僧傳卷一則載,唐代義淨歸國時攜回舍利三百粒。 在我國,由於至誠而感得舍利之記述甚多,如出三藏記集卷十三載,康僧會至江東見吳王孫權,王問佛法之靈驗事,乃祈請三七日,感得舍利,王命力士以鐵槌砧擊之,無絲毫異狀,大爲歎服,遂創立建初寺。又廣弘明集卷十七、集神州三寶感通錄卷上、法苑珠林卷三十八、卷四十等,亦多記載晉代、劉宋以後有關舍利之神異及建造舍利塔之事蹟。該類由至誠感得之舍利,與佛之真身舍利自是不同。 據法苑珠林卷三十八載,廣弘明集卷十五所列舉之十九座舍利塔中的岐陽法門寺,於北周武帝滅佛(574)後,復於唐顯慶四年(659)重開塔基,得舍利八粒。翌年,勅令請入東都大內供養,龍朔二年(662)還寺,憲宗元和十四年(819)再請入宮中,其時韓愈上奏「佛骨表」,謂佛乃夷狄之人,其枯骨不得入宮中,宜付諸水火而根絕之,帝怒而貶之爲潮州刺史,另勅張仲素撰「佛骨碑」。 在日本,亦早有感得舍利之事,如日本書紀卷二十敏達天皇十三年條載,司馬達等於所設齋會中感得舍利,呈與大臣蘇我馬子,馬子嘗試以鐵鎚擊之而不壞,投入水中而不沈。此外,據大智度論卷五十九載,即使供養小如芥子之舍利,功德亦無量無邊。〔雜阿含經卷二十三、佛般泥洹經卷下、佛本行集經卷七「八王分舍利品」、大品般若經卷十法稱品、寶篋印陀羅尼經、無垢淨光大陀羅尼經、十誦律卷六十「五百比丘結集三藏法品」、法華經玄贊卷二、俱舍論光記卷八、四分律行事鈔資持記卷下四之一、廣弘明集卷一、洛陽伽藍記卷五、慧琳音義卷二十七〕 <二>梵語 śāri 或 śārikā,巴利語 sārī 或 sālikā。即百舌鳥。音譯奢利、奢唎、奢梨迦。又稱鴝鵒鳥、鸚鵒鳥、鶖鷺鳥、鶖露鳥、春鸜鳥、反舌鳥。大樓炭經卷二阿須倫品(大一‧二八七中):「樹上有飛鳥止,名爲鶴、孔雀、鴝鵒、白鴿,悉在樹上,甚好相和而鳴。」 蓋此鳥有二種,(一)學名 Gracula religiosa,(二)學名 Turdus salica。前者棲息於印度、緬甸、馬來半島等地,身長約二十五公分,嘴爲橙色,腳黃色,羽毛黑色,眼下及下頭部有肉垂,能爲人語。 又據玄應音義卷二十一所載,梵語 sārīkā(舍利)爲雌鳥;梵語 sāra(舍羅)則爲雄鳥。〔起世因本經卷七、大威德陀羅尼經卷七、阿彌陀經、玄應音義卷二十二、慧苑音義卷下〕 <三>爲舍利子之略稱。即舍利弗(梵 Śāriputra),爲佛陀十大弟子之一,以智慧第一著稱。其母之眼似舍利鳥,故取名舍利,所生之子,則稱舍利子。〔大智度論卷十一〕
; ringsel (T), Śarīra (S), Relic Sarira (P)Thất lỵ la, Thiết lỵ laTro tàn, thân cốt còn lại của Phật sau khi tịch diệt và hoả thiêu. Là vô lượng công đức lục độ họp thành, là do sự huân tu của giới đdịnh tuệ mà thành. Xá lợi có 3 màu: trắng là xá lợi bằng xương, đen là xá lơi bằng tóc, đỏ là xá lợi bằng thịt. Có 2 loại xá lợi khác nữa: toàn thân xá lợi như xá lợi Phật Đa bảo trong Kinh Pháp hoa, Toái thân xá lợi là do thân đốt vụn ranhư xá lợi đức Thích ca. Lại có 2 thứ nữa: Sinh thân xá lợi: Như Lai sau khi tịch diệt lưu lại thân cốt để Trời Ngườiđược phúc cúng dường, Pháp thân xá lợi: hết thảy kinh sách để lại.
; (A) Sari (skt)—Những tinh túy của các bậc chân tu. Theo kinh điển, sau khi hỏa thiêu, Phật đã để lại 84.000 viên xá lợi. Chúng trông giống như những viên ngọc thạch. Tùy theo nghiệp của mỗi người mà họ nhìn thấy xá lợi một cách khác nhau. Theo kinh điển thì trong quá khứ có rất nhiều vị giác ngộ đã để lại xá lợi. Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, xá lợi của Ngài được chia làm tám phần và giao cho tám vương quốc xây tháp thờ (Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, Đại Đức Ma Ha Ca Diếp từ núi Kỳ Xà Quật đến thành Câu Thi Na làm lễ trà tỳ tức là lễ hỏa táng cho Đức Phật. Sau khi hỏa táng xong, xá lợi của Phật được dòng Mạt La trong thành Câu Thi Na quản thủ phụng thờ, tuy nhiên, các vương quốc kế cận đem binh mã đến tranh giành, do đó mọi người đồng ý chia xá lợi của Ngài ra làm 8 phần)—Relics or remains—The Buddha's or his disciples' physical remains or relics—Objects left behind by Buddha or other enlightened beings. It comes from their merits and virtues in Cultivation of the Way. The sutra states (the Buddha left behind 84,000 relics) when the Budha was cremated, his body turned into 84,000 saris (relics). These are like gems and depending on each individual's karma, everyone can look at the same Sari but see completely different things. According to the sutras, other enlightened high ranking monks of the past also left behind relics. After the Buddha's nirvana, his relics were divided into eight parts and distributed to eight kingdoms. 1) Thành Câu Thi Na: Kusinaga. 2) Thành Ba bà: Pravari. 3) Thành Giá La: Carya. 4) Thành La Ma Già: Ramaya. 5) Thành Ca Tỳ La Vệ: Kapilavastu. 6) Thành Tỳ Lưu Đề: Virupaksa. 7) Thành Tỳ Xá Ly: Vaisali. 8) Xứ Ma Kiệt Đà: Magadha. (B) Tên một ngôi chùa nổi tiếng nằm trong quận ba, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được xây vào năm 1956. Chánh điện trên lầu một dài 31 mét, rộng 15 mét, có tôn trí tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tượng do trường Mỹ Nghệ Biên Hòa thực hiện năm 1958 bằng bột đá màu hồng. Trên tường chánh điện có những bức tranh họa đời sống Đức Phật. Trước kia chùa Xá Lợi là nơi đặt trụ sở của Hội Phật Học Nam Việt. Chùa được chọn làm nơi tổ chức đại hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, họp từ ngày 30 tháng 12 năm 1963 đến ngày 1 tháng 1 năm 1964. Tháp bảy tầng của chùa được xây từ năm 1960. Đại hồng chung được dựng lên ngày 17 tháng 10 năm 1961 dưới sự chứng minh của cố Hòa Thượng Tịnh Khiết—Name of a famous pagoda located in the third district, Saigon City, South Vietnam. It was built in 1956. The statue of sakyamuni Buddha was worshipped in the Main Hall on the first floor, 31 meters long and 15 meters wide. This statue was cast in pink powder of stone by the School of Fine Art of Bien Hòa in 1958. On the wall of the Main Hall, there are various paintings illustrating the Sakyamuni Buddha's lifetime. Formerly, Xá Lợi pagoda was intended to be the office of South Vietnam Association of Buddhist Studies. It was chosen as the place for holding the Congress of the Vietnam Buddhist Sangha from December 30, 1963 to January 1, 1964. The seven-storeyed tower was built in 1960. The great bell was hung in the tower on October 17th, 1961 under the honourable attestation of the late Most Venerable Thích Tịnh Khiết.
xá lợi (chim)
Egrets—Một loại cò trắng.
xá lợi dung khí
3500盛裝舍利之器皿。又作舍利瓶、舍利壺、骨壺。舍利,梵語 śarīra,巴利語 sarīra;瓶,梵語 kumbha,巴利語同。多以金屬、石器、陶器、木材等製造,形狀不一。據長阿含卷四遊行經所載,佛涅槃後,荼毘遺骸,諸國遣使欲得佛舍利,時有香姓婆羅門,乃將佛舍利八分,分與八國,婆羅門則自得舍利瓶而歸。 今健馱邏出土之石刻品中,刻有桌上排列八個舍利瓶,而諸國代表圍繞其旁之相狀。又於吉希爾(Kizil)摩耶洞(Māyā-Höble)壁畫中,上半有八人各捧舍利瓶,將受舍利之像,下半則有八國代表騎馬參集,各於馬頸縛舍利瓶之圖像。凡此,均與佛般泥洹經卷下之記載吻合。 我國有關舍利瓶之記錄,如梁高僧傳卷一康僧會條載,僧會潛心祈請二十一日,果於銅瓶中感得佛舍利。又如歷代三寶紀卷九載,北魏孝明帝熙平元年(516),靈太后造永寧寺,立九層木浮圖,浮圖之上復有寶剎,剎上之金寶瓶含容舍利二十五石。 韓國曾於慶尚北道尚州發現金銅舍利壺,爲新羅時代所造,呈圓筒形,高約十一公分,直徑長約七公分,瓶蓋上有獅子鈕,瓶身陰刻四天王像。於日本,則多以琉璃瓶盛佛舍利,如上宮聖德法王帝說裏書所載。〔北本大般涅槃經卷下、廣弘明集卷十七、集神州三寶感通錄卷上、法苑珠林卷三十八、卷四十、東寶記卷二舍利納物壺形事、禪林象器箋殿堂門卵塔條、W.C. Peppé: The Piprahwa Stupa containing Relicsof Buddha, 1898〕(參閱「舍利」3495)
xá lợi hội
3502全稱舍利供養會。即供養佛舍利,讚歎其功德之法會。又稱舍利懺法。印度自古即崇敬舍利並行供養。據長阿含卷四遊行經載,佛陀涅槃後,大眾以香花、伎樂等供養其全身舍利。又大品般若經卷十法稱品、大悲經卷二舍利品等載有供養佛舍利之諸功德,如得受天上、人中之福樂,得涅槃之果等。 廣弘明集卷十七、法苑珠林卷四十述及我國唐代以前,造舍利塔、行供養之事,如唐顯慶五年 (660)以後,屢次迎請岐陽法門寺之佛舍利入禁中供養。其後,歷代皆有供養舍利之舉,至清代,繼僧撰舍利懺法一卷、弘贊撰禮舍利塔儀式一卷傳世。 在日本,初有司馬達等感得舍利之事,繼有鑑真、空海、圓行、圓仁等請來佛舍利,於唐招提寺、東寺、延曆寺、法隆寺、藥師寺、中尊寺等依年例而行舍利供養,稱爲舍利會、舍利講,或舍利報恩會;於真言宗則爲涅槃講、羅漢講、遺跡講、舍利講等四座講式之一。〔蓮華面經卷上、分別善惡報應經卷下、大智度論卷五十九、興禪護國論卷三、今昔物語卷十二〕
xá lợi lễ văn
3502指禮讚佛陀舍利及佛願眾生得脫的平等大智之讚文。如諸回向清規式卷五所舉(大八一‧六八六下):「一心頂禮,萬德圓滿,釋迦如來,身心舍利,本地發心,法界塔婆,我等禮敬,以我現身,入我我入,佛加持故,我證菩提,以佛神力,利益眾生,發菩提心,修菩薩行,同入圓寂,平等大智,今將頂禮。」 舍利禮文主要爲日本真言宗及禪宗所傳承。今亦有於葬禮中誦讀舍利禮文之例。〔淨土苾蒭寶庫卷下、持寶通覽卷下涅槃條、舍利禮文鈔一卷〕
Xá Lợi Phất
(s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗): một trong 10 vị đệ tử lớn của đức Phật, còn gọi là Xá Lợi Phất Đa (舍利弗多), Xá Lợi Phất La (舍利弗羅), Xá Lợi Phất Đát La (舍利弗怛羅), Xá Lợi Phất Đa La (舍利弗多羅), Xà Lợi Phú Đa La (闍利富多羅), Xà Lợi Phất Đa La (闍利弗多羅); ý dịch là Thu Lộ Tử (鶖鷺子、秋露子), Cù Dục Tử (鴝鵒子、鸜鵒子), Thu Tử (鶖子); thường gọi là Xá Lợi Tử (舍利子), cựu dịch là Thân Tử (身子). Mẹ ông là con gái của một vị luận sư Bà La Môn ở Thành Vương Xá (s: Rājagṛha; p: Rājagaha, 王舍城) thuộc nước Già Đà (伽陀). Khi vừa mới sanh ra, con mắt ông giống như mắt con chim Xá Lợi, nên ông được đặt tên là Xá Lợi Phất (con của chim Xá Lợi). Hay ông có tên khác là Ưu Ba Để Sa (s: Upatiṣya, p: Upatīṣya, 優波底沙), Ưu Ba Đế Tu (優波), v.v.; ý dịch là Đại Quang (大光), được lấy theo tên cha. Theo Bản Hạnh Tập Kinh (本行集經) quyển 48, Phẩm Xá Lợi Mục Liên Nhân Duyên (舍利目連因緣品), từ nhỏ tướng mạo của Xá Lợi Phất đã đoan nghiêm; đến khi lớn lên, rèn luyện các kỹ năng, thông hiểu các bộ kinh Phệ Đà. Năm lên 16 tuổi, ông đã có thể hàng phục các luận nghị của người khác, mọi người đều quy phục ông. Thời niên thiếu, ông từng kết giao với Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana, p: Moggallāna, 目犍連) ở làng bên cạnh, thường đến tham dự những buổi tế lễ ngoài Thành Vương Xá, thấy mọi người vui chơi hỗn tạp, chợt cảm ngộ lẽ vô thường, bèn cắt bỏ râu tóc, theo xuất gia học đạo với một trong 6 vị thầy ngoại đạo là San Xà Da Tỳ La Chi Tử (s: Sañjayavairaṭṭiputra, 删闍耶毘羅胝子), chỉ trong 7 ngày đêm mà có thể thông suốt toàn bộ giáo nghĩa của vị này, hội chúng có 250 người đều tôn kính ông là bậc thượng thủ, song Xá Lợi Phất vẫn thâm cảm được rằng mình chưa được giải thoát. Lúc bấy giờ, đức Phật thành đạo không được bao lâu, hiện đang trú tại Tinh Xá Trúc Lâm (竹林精舍) ở Thành Vương Xá. Đệ tử Ngài là A Thuyết Thị (s: Aśvajit, Aśvaka; p: Assaji, 阿說示, còn gọi là Tỳ Kheo Mã Thắng [馬勝比丘]) đắp y, cầm bình bát vào trong thành khất thực. Xá Lợi Phất thấy vị này oai nghi đoan chính, bước đi khoan thai, bèn đến hỏi xem thầy là ai và thực hành pháp môn gì ? A Thuyết Thị bèn lấy pháp nhân duyên do đức Phật thuyết giảng để chỉ cho Xá Lợi Phất, để hiểu được lý các pháp là vô ngã. Nghe xong, Xá Lợi Phất cùng với Mục Kiền Liên, mỗi người thống lãnh 250 đệ tử, cùng đến Tinh Xá Trúc Lâm quy y với đức Phật. Theo Thập Nhị Du Kinh (十二遊經), sau khi quy y với đức Phật, ông thường tùy tùng theo Ngài, giúp giáo hóa mọi người, là bậc thượng thủ trong đại chúng. Ông là người thông minh xuất chúng, được tôn xưng là Trí Tuệ Đệ Nhất (Trí Tuệ Số Một). Lại căn cứ vào Chúng Hứa Ma Ha Đế Kinh (眾許摩訶帝經) quyển 11, 12, Hiền Ngu Kinh (賢愚經) quyển 10, Phẩm Tu Đạt Khởi Tinh Xá (須達起精舍品), v.v., Xá Lợi Phất tinh thông ngoại điển, từng dùng biện tài siêu tuyệt để hàng phục ngoại đạo Mắt Đỏ; hay sự việc trưởng giả Tu Đạt Đa (p: Sudatta, 須達) quy y theo đức Phật, phát tâm kiến tạo Kỳ Viên Tinh Xá (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍), v.v., cũng nhờ sự khuyến hóa tài tình và đầy trí tuệ của Xá Lợi Phất. Hơn nữa, theo Tứ Phần Luật (四分律) quyển 46, Thập Tụng Luật (十誦律) quyển 37, v.v., vào cuối đời của đức Phật, Đề Bà Đạt Đa (s, p: Devadatta, 提婆達多) tuyên xướng về 5 điều không đúng pháp, muốn phá hoại tăng đoàn, thống lãnh 500 Tỳ Kheo vào trong núi Già Da (伽耶); khi ấy Xá Lợi Phất cùng với Mục Kiền Liên đến ngọn núi này, khiến cho 500 Tỳ Kheo kia nhận ra sai lầm của mình, quay trở về với Phật. Suốt cả đời Xá Lợi Phất luôn được mọi người tôn kính, lại được đức Phật tán dương. Ông nhập diệt trước đức Phật, sau 7 ngày thì làm lễ Trà Tỳ (茶毘); y bát và di cốt của ông được an táng tại Kỳ Viên. Trưởng giả Tu Đạt Đa dựng tháp cho ông. Theo Phẩm Thí Dụ của Kinh Pháp Hoa cho biết rằng Xá Lợi Phất được đức Phật thọ ký cho rằng vào thời tương lai sẽ làm Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai (華光如來).
xá lợi phất
3495梵名 Śāriputra,巴利名 Sāriputta。佛陀十大弟子之一。又作舍利弗多、舍利弗羅、舍利弗怛羅、舍利弗多羅、奢利富多羅、奢利弗多羅、奢唎補怛羅、設利弗呾羅。意譯鶖鷺子、秋露子、鴝鵒子、鸜鵒子。梵漢並譯,則稱舍利子、舍梨子。舊譯「身子」,或係誤以 śāri(舍利鳥)作 śarīra(身體)。梵語putra(弗),意謂子息。其母爲摩伽陀國王舍城婆羅門論師之女,出生時以眼似舍利鳥,乃命名爲舍利;故舍利弗之名,即謂「舍利之子」。又名優波底沙(梵 Upatiṣya,巴 Upatīṣya),或作優波提舍、優波帝須等。意譯大光,即從父而得之名稱。 據佛本行集經卷四十八舍利目連因緣品載,舍利弗自幼形貌端嚴,及長,修習諸技藝,通曉四吠陀。年十六即能挫伏他人之論議,諸族弟悉皆歸服。年少之時,與鄰村之目犍連結交,嘗偕伴赴王舍城外祇離渠呵之大祭,見眾人混雜嬉戲,頓萌無常之感,即剃除鬚髮,投六師外道中之刪闍耶毘羅胝子(梵 Sañjayavairaṭṭiputra)出家學道,僅七日七夜即貫通其教旨,會眾二百五十人皆奉之爲上首,然舍利弗猶深憾未能盡得解脫。 其時,佛陀成道未久,住於王舍城竹林精舍,弟子阿說示(又稱馬勝比丘)著衣持鉢,入城中乞食。舍利弗見其威儀端正,行步穩重,遂問所師何人,所習何法。阿說示乃以佛陀所說之因緣法示之,令了知諸法無我之理。舍利弗旋即與目犍連各率弟子二百五十人同時詣竹林精舍皈依佛陀。 據十二遊經載,舍利弗歸佛後,常隨從佛陀,輔翼聖化,爲諸弟子中之上首;復以聰明勝眾,被譽爲佛弟子中「智慧第一」。另據眾許摩訶帝經卷十一、卷十二、賢愚經卷十須達起精舍品等載,舍利弗並通曉外典,屢以超絕之辯才摧伏赤眼婆羅門等外道;而須達多長者之皈依佛陀,捐建祇園精舍等事,亦爲舍利弗撮挽接引所致。又據四分律卷四十六、十誦律卷三十七等載,佛陀晚年,提婆達多唱五事非法,欲破僧團,並率五百比丘遁入伽耶山中,舍利弗乃與目犍連共至彼山,令五百比丘自悟其非,復歸佛陀。 舍利弗一生爲僧伽長老崇敬,且屢爲佛陀所讚美。後較佛陀早入滅,七日後荼毘,葬遺骨衣鉢於祇園,須達多長者並爲之建塔。又據法華經譬喻品所載,舍利弗得佛陀之記莂,於未來世當得作佛,號華光如來。又現存之阿毘達磨集異門足論二十卷、舍利弗阿毘曇論三十卷,相傳係舍利弗所講說者。〔雜阿含經卷四十五、增一阿含經卷三弟子品、卷三十三、佛所行讚卷四大弟子出家品、中本起經卷上舍利弗大目犍連來學品、僧伽羅剎所集經卷下、有部毘奈耶出家事卷一、大智度論卷十一、卷四十五、大唐西域記卷四、卷六、玄應音義卷三、P. Bigandet: The Life or Legend of Gandama, vol. I〕
; Sāriputta (P), Śāriputra (S), shari pu (T)Một trong thập đại đệ tử của đức Phật.
; Sàriputra (S). One of the ten great disciple of the Buddha.
; Sariputra (skt)—Xa Lợi Phất—Xá Lợi Phất Đa—Xá Lợi Tứ—Xá Lợi Phú Đa La—Xá Lợi Bổ Đát La—Một trong mười đệ tử lớn của Phật, ông là bậc đệ nhứt trí tuệ trong số những đệ tử A La Hán của Phật. Ngài Xá Lợi Phất sanh tại vùng Nalandagrama, con của Sarika và Tisya, nên có tên gọi Xá Lợi Phất, lại được gọi theo tên cha là Ưu Bà Đề Xá. Ngài nổi tiếng về trí tuệ và đa văn. Ngài là vị thị giả đứng hầu bên phải Phật Thích Ca. Các môn đồ phái Vi Diệu Pháp thì cho rằng Ngài chính là sơ tổ của họ. Tên ngài nổi bật trong một số kinh điển Phật giáo. Người ta nói ngài thị tịch trước thầy là Phật Thích Ca. Ngài và Mục Kiền Liên là hai biểu tượng đứng bên cạnh Phật khi nhập niết bàn. Ngài thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai ở cõi Ly Cấu Thế Giới (ngài Xá Lợi Phất nguyên là bạn của Mục Kiền Liên, cả hai là học giả của phái Lục Sư Ngoại Đạo, học vấn trí thức cao thâm được mọi người đương thời kính nể. Nhân tín phục giáo nghĩa của Đức Phật, hai ngài cùng đem 200 đệ tử đồng quy-y Phật, thọ giới xuất gia. Về sau hai Ngài phụ tá Đức Phật để tuyên giáo, công nghiệp hoằng hóa của hai ngài rất lớn đối với Phật giáo)—One of the ten major disciples of the Buddha, the foremost in wisdom among his Arhat disciples. He was born at Nalandagrama, the son of Sarika and Tisya, hence known as Upatisya; noted for his wisdom and learning; he is the right-hand attendant on Sakyamuni. The followers of the Abhidharma count him as their founder and other works are attributed, without evidence, to him. He figures prominently in certain sutras. He is said to have died before his Master; he is represented as standing with Maudgalyayana by the Buddha when entering nirvana. He is to appear as Padmaprabha Buddha.
xá lợi phất a tì đàm luận
3499請參閱 舍利弗阿毘曇論 梵名 Śāriputrābhidharma-śāstra。凡三十卷。又稱舍利弗阿毘曇。姚秦曇摩耶舍、曇摩崛多等合譯。收於大正藏第二十八冊。內容係解釋小乘諸法之名義,並加以分類組織。體裁同於六足論中之集異門足論。計分四分三十三品:第一問分十品,第二非問分十一品,第三攝相應分二品,第四緒分十品。 其中,第一問分,就十二入、十八界、五陰、四諦、二十二根、七覺、三不善根、三善根、四大、五戒等作問答解釋。第二非問分,先略解色界非色界等之一六○事、思業思已業等之二○五事、凡夫人非凡夫人之七十五事、正見正智等之二三四事;其次,再詳釋十二因緣、四正勤、四神足,又隨釋所引中阿含經卷二十四、雜阿含經卷三十等之文,復依增上法列舉解釋身念處乃至十一解脫入之三十八事,及恃生乃至六十二見等四二○事。第三攝相應分,初舉苦諦繫法非苦諦繫法四二三事,次分性門攝事門,又闡釋眼識界耳識界等七十二事,而說各法之相應關係。第四緒分,闡釋因緣無間緣等十緣、因因無間因等三十三因、因起等六十六名色、見結等十結、身口意等三行、一五八觸、聖心非聖心等一三七心、殺生等十不善業道、不殺生等十善業道、五支定五智定等二六三定。 本論之內容與其他小乘之諸大論書相比略有異同,例如與法蘊足論相比,缺少預流支、證淨、聖種等三品;與品類足論辯千問品相比,缺少四證淨、四聖種等二事;與巴利文毘崩伽(Vibhaṅga)相比,則缺少有關法心(巴 dhammahadaya)之論述。此外,關於本論之成立、弘傳,及其論旨與各部派之關係,有下列說法:(一)根據大智度論卷二、部執異論疏與三論玄義等之說,本論係佛陀十大弟子之舍利弗所講說,後由犢子部弘傳。(二)法華經玄贊卷一則認爲本論係正量部之教義。(三)若由本論第二十七假心品之立論內容觀之,則顯然與大眾部所立之義相同,故可謂本論論旨亦通於大眾部之教說。〔出三藏記集卷二、開元釋教錄卷四、大藏經南條目錄補正索引、宗教界第十之八法蘊足論の成立(椎尾辨匡)〕
xá lợi phất chi sở thuyết
Sariputra-prakaruṇā (S)Tên một bộ luận kinh.
xá lợi phất mục liên tiên phật nhập diệt
3498佛陀十大弟子中之舍利弗與目連二人,聽聞佛告諸比丘,三月後當入涅槃,因不忍眼見佛陀入滅,乃徵得佛之應許而先行入滅。大方便報恩經卷五、賢愚因緣經卷五等,記述舍利弗入滅,及佛爲說往昔因緣。 據長阿含卷八眾集經、卷九「十上經」所載,目連由於宿業,遭執杖外道以瓦石毆擊而入涅槃,其時舍利弗得知此事,亦欲先取涅槃,遂至佛所辭別佛陀,與弟子均頭同返故鄉那羅陀,因偶感疾病終至涅槃。又據月光菩薩經所說,舍利弗、目連二人上告佛陀請求入滅,佛即爲彼等說往昔因緣。蓋上足二人先佛入滅之舉,乃仿效過去諸佛上足弟子之通規而行。 增一阿含經卷十八(大二‧六四○上):「舍利弗言:『(中略)又我躬從如來聞此語,諸過去當來今現在諸佛上足弟子先取般涅槃,然後佛取般涅槃。』」另據薩婆多毘尼毘婆沙卷七載,舍利弗與目連以不忍見佛涅槃,便先行涅槃,以其先涅槃,而有七萬阿羅漢亦同時涅槃。
xá lợi phất vấn kinh
3500請參閱 造像量度經 梵名 Śāriputra-paripṛcchā。全一卷。譯於東晉,譯者佚名。又作菩薩問喻。收於大正藏第二十四冊。屬小乘律部。乃佛在王舍城音樂樹下,答舍利弗之所問。計有戒律傳持之次第、戒律諸部之分派、開遮衣鉢食酒殺生等事、說偏袒兩肩之作法、八部鬼神聞法之因緣、滅後像法之佛教、分若多羅之受戒施物、淨食不淨食、如來宗親出家之因緣、父母及師恩等。本經爲大眾部所傳,有關小乘諸部之分裂係依據文殊問經、異部宗輪論所說而立論。〔法經錄卷五、開元釋教錄卷三、大藏經南條目錄補正索引〕
xá lợi phất đà la ni kinh
Śāriputra-dhāraṇī-sŪtra (S)Một trong 9 bản dịch khác tên của bộ kinh Anantamukha-nirhara-dharani-vyakhyana-karika trong Đại tạng Trung quốc.
xá lợi phật
Śarīradhātu (S), Relics of the Buddha, shari pu (T).
xá lợi sa bà
Sarsapa (skt). 1) Một hạt cải—A mustard seed. 2) Một đơn vị đo lường tương đương với một phần 10.816.000 do tuần: A unit which is equivalent to the 10,816,000th part of a yojana.
xá lợi tháp
3501安置佛陀舍利之塔婆,或安置一般遺骨之塔。又作舍利浮圖、骨塔。佛陀涅槃後,由香姓婆羅門將佛舍利分爲八份,分與迦毘羅衛等八國請回起塔供養。其後,阿育王並建立八萬四千塔以供養佛舍利,於法顯、玄奘至印度時仍可見及阿育王所建之塔,惜該類舍利塔今已不存,其形或近似於山琦古塔。 我國素來盛行舍利之崇拜,故歷代所建之舍利塔、舍利殿極多。據出三藏記集卷十三載,三國吳‧孫權之時,康僧會感得舍利,孫權令人以鐵槌擊之不碎,乃建塔供養,是爲造立舍利塔之嚆矢。隋文帝之時,天下諸州建舍利塔之風氣極盛。據廣弘明集卷十七載,仁壽元年至二年(601~602),文帝並詔勅天下八十二寺立塔。其中,蔣州(江蘇南京攝山)棲霞寺所立之塔極爲著稱,塔高約十六公尺,八角五層,基壇每面約十七公寸,全塔係以質地精細的灰黑色大理石所築成,然今所存者或係唐末改建而成。其後,歷代皆有造立、修治舍利塔之事。 於韓國,全羅南道金山寺設有舍利塔,爲新羅末期之石造建築,立於二重方壇之上,壇之四面有天人浮彫,四隅爲獸形,塔身呈砲彈狀,上置九頭龍,並冠以蓮花及寶珠,極爲壯麗。於日本,則盛行以金銅造小塔,如四天王寺御手印緣起所載,在金銅舍利塔內置舍利十三粒。另如西大寺、法隆寺、唐招提寺之舍利塔亦極著名。〔長阿含卷四遊行經、佛本行經卷七、蓮華面經卷上、寶篋印陀羅尼經、大唐西域記卷二健馱邏國條、廣弘明集卷十五、卷十六、法苑珠林卷四十、廬山記卷三、攝山志卷二、國寶目錄〕
; ŚarīrastŪpa (S), Śārīraka (S), Stupa of relics Dhātucetiya (P).
; Sarira-stupa (skt)—Tháp đặt xá lợi của Đức Phật—A reliquary, or pagoda for a relic of Buddha.
xá lợi tử
Xem Xá lợi phất.
xá ma
3503<一>梵語 śama。意譯寂靜。據四分律卷十二載,柳、舍摩、羅婆醯他等樹皆屬枝種。然舍摩究竟爲何種植物則不詳,或係菩提樹之別名。據智首之四分律疏卷九壞生種戒條載,舍摩爲菩提樹,羅婆醘陀爲貝多樹,二種樹皆生於交州,而未見於他處。另據摩訶僧祇律卷十四、有部毘奈耶卷二十七等,說及莖種(即枝種)植物時,列舉祕鉢羅、菩提樹等名稱;故或謂智首之說亦見允當。〔翻梵語卷九、四分律疏(法礪)卷五本〕 <二>梵語 śālmali。即木棉。又作舍摩利、舍婆利等。
; Sama (skt). 1) Yên tịnh: Calm—Quiet. 2) Một tên khác của cây Bồ Đề: Another name for the Bodhi-tree.
xá ma lợi
3503梵語 śālmali 或 śalmal, śalmalī, śālmalī, śālmalin。又作舍摩、舍摩梨、舍婆利、奢摩羅(梵 śalmala)。意譯作木棉,俗稱班枝花。學名 Bombox heptaphyllum。乃高達十二、三公尺之落葉大喬木,樹皮如青桐,葉呈掌狀,其枝有銳利之刺,花爲黃赤色,形狀如樁,果殼內有絮,成熟即自出,細滑光亮,無粘著力,故不適於紡絲,人多取之作枕褥。〔起世經卷三、大智度論卷十二、翻梵語卷九、和漢三才圖繪卷八十四〕
xá ma xa na
Smasana (skt). 1) Nghĩa trang hay lò hỏa táng: A cemetery or crematorium. 2) Một ụ đá thấp để địa táng các nhà sư (trong những xứ ở phía Tây trung Quốc): A low mound of stone under which the remains of monks are buried in countries west of China.
xá ma đà
See Xá Ma.
xá na thân
Thân Phật Tỳ Lô Giá Na—The body or person of Vairocana.
xá na tôn đặc
The special and sacred body of Vairocana Buddha.
; Locana (skt)—Thân tôn nghiêm đặc biệt của Đức Tỳ Lô Giá Na (vị giáo chủ của Kinh Hoa nghiêm)—The adorned person of Vairocana.
xá na đại giới
3503即梵網經所說之大乘菩薩戒,因係盧舍那佛所說之戒法,故稱舍那大戒。內容涵蓋持律儀、修善法、度眾生等三大門之一切佛法,作爲禁戒以持守之。(參閱「菩薩戒」5216)
xá phụ đào thệ
4590與出自法華經信解品中「長者窮子」之譬喻同義。據傳,有一富有長者之子,不知將會繼承父親之財產而離開家園,迷失於他鄉,以致窮困乞食;以此比喻眾生不知將來必可成佛,因妄想邪念之覆蓋,以致流轉於迷界,無法自覺。禪門引用此語,批評愚人遠離自己本性,而向外境求佛法。
Xá thành 舍城
[ja] シャジョウ shajō ||| Abbreviation of 舍衛城 (Śrāvastī) => Viết tắt của Xá-vệ thành 舍衛城 (s: Śrāvastī).
xá vô lượng tâm
4592梵語 upekṣāpramāṇa,巴利語 upekkhā appamaññā。四無量心之一。對無量之眾生無愛無憎,住於平等之心。即捨怨親、喜樂、苦憂等念之心,並能捨貪、瞋、癡之煩惱。眼耳鼻舌身五識為捨無量心之識體,而成所作智為智體,相當於虛空庫菩薩之德,可配釋於彌勒之內證。俱舍論卷二十九以四無量心對治四障,謂捨無量心能對治欲界之貪瞋煩惱。〔大乘義章卷十一、大日經疏卷十六、祕藏記〕(參閱「四無量」1777)
xá vệ
Śrāvāsti (S), Sāvatthi (P)Thất la phiệt thành, Xá bà đề1- Kinh đô nước Câu tát la (Kosala). Trong thành Xá vệ này, vườn Kỳ thọ Cấp cô độc là nơi đức Phật thường ngự đến để giáo hóa tín đồ và cứu độ chúng sanh. Chính nơi này ngài Xá lợi Phật viên tịch và người ta có xây tháp thờ ngài, mỗi nam có kỷ niệm công đức ngài.
; S(h)ravasti—See Xá Vệ Quốc.
Xá Vệ Quốc
(s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛國): tên của một vương quốc cổ của Ấn Độ, còn gọi là Xá Bà Đề Quốc (舍婆提國), Thất La Phiệt Quốc (室羅伐國), Thi La Bạt Đề Quốc (尸羅跋提國), Xá Ra Bà Tất Đế Quốc (舍囉婆悉國); ý dịch là Văn Vật (聞物又以此城多出名人,多产胜物,故称闻物国。), Văn Giả (聞者), Vô Vật Bất Hữu (無物不有), Phong Đức (豐德), Hảo Đạo (好道). Hơn nữa, thành này vốn xuất phát nhiều danh nhân, nhiều sản vật nổi tiếng, nên có tên là Văn Vật Quốc (聞物國). Nguyên gốc nó là tên thành đô của Bắc Kiều Tát La Quốc (s: Uttara-Kośalā, 北憍薩羅國), khác với Nam Kiều Tát La Quốc (s: Dakṣiṇa-Kośalā, 南憍薩羅國). Về xuất xứ tên gọi Xá Vệ Quốc, có nhiều thuyết khác nhau. Như trong tác phẩm Tỳ Thấp Nô Phú Lan Na (s: Viṣṇu-purāṇa, 毘濕奴富蘭那) có ghi rằng người sáng lập ra thành này là Nhật Chủng Vương (s: Śrāvasta, 日種王). Khi đức Phật còn tại thế vua Ba Tư Nặc (s: Prasenajit, p: Pasenadi, 波斯匿) trị vì thành này. Theo Phân Biệt Công Đức Luận (分別功德論) quyển 2, đức Phật sống tại Thành Xá Vệ trước sau 25 năm, lâu hơn so với các nơi khác. Do vì quốc gia này rất vi diệu, nhiều vật trân kỳ, nhân dân tai đây hiểu rõ nghĩa lý; hơn nữa, Tinh Xá Kỳ Hoàn (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍) lại có nhiều điều thần nghiệm. Khi chư tăng tập trung nghe pháp, có cả ngàn con khỉ, vượn hội tụ về hai bên phải trái để lắng nghe, nhưng vắng lặng chẳng một tiếng động. Ngay cả loài chim chóc cũng bay đến đây để nghe pháp. Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 3 có ghi rằng Xá Vệ Quốc là vùng đất xuất sanh của đức Phật, cho nên có nhiều chúng sanh sống tại đây để báo ơn Phật. Phần lớn trong các kinh điển đều thấy có tên của quốc gia này, như các kinh của hệ A Hàm (p: Āgama, 阿含), Hiền Kiếp Kinh (賢劫經), Di Lặc Hạ Sanh Kinh (彌勒下生經), Di Lặc Thượng Sanh Kinh (彌勒上生經), Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經), A Di Đà Kinh (阿彌陀經), Văn Thù Bát Nhã Kinh (文殊般若經), Kim Cang Bát Nhã Kinh (金剛般若經), v.v. Tương truyền khi đức Thế Tôn còn tại thế, vương quốc này có đến 9 ức ngôi nhà; tuy nhiên, đến đầu thế kỷ thứ 5 sau công nguyên, lúc cao tăng Pháp Hiển (法顯, 340?-?) sang chiêm bái, nơi đây đã hoang phế rồi. Đến 200 năm sau, khi Huyền Trang (玄奘, 602-664) đến, nơi đây vẫn còn hoang phế. Các thánh tích như Đại Pháp Đường do Thắng Quân Vương (勝軍王) kiến tạo, Tinh Xá Bát Ra Xà Để (缽邏闍底精舍), nơi ngoại đạo Chỉ Man (指鬘) hối cải chứng đạo, Tinh Xá Kỳ Viên (祇園精舍), nơi đức Phật chăm sóc bệnh cho Tỳ Kheo, nơi Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) và Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana; p: Moggallāna, 目犍連) tranh nhau về thần thông, nơi ngoại đạo giết người dâm nữ hủy báng Phật, nơi Đề Bà Đạt Đa (s, p: Devadatta, 提婆達多) bị rơi vào hầm lớn địa ngục, v.v., đều trở thành hoang tàn, đỗ nát. Về vị trí của thành này, theo suy định của nhà khảo cổ học người Anh là A. Cunningham cho biết rằng thành này nằm gần Oudh (xưa gọi là Sa Chỉ [p: Sāketa, 沙只]), khoảng hơn 90 dặm về phía Bắc, tức là địa phương Sahet Mahet ở vùng tả ngạn sông Rapti. Nhân gần đây người ta phát quật tại nơi này, phát hiện có một tượng Phật to lớn trên có khắc dòng chữ Śrāvastī; thêm vào đó, trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記) quyển 6 có đề cập đến khu thành chu vi khoảng 5 công lý, bản đồng ghi lại việc bố thí ruộng đất cho Kỳ Viên Tinh Xá, như vậy cũng đủ chứng minh nơi đây là vùng đất ngày xưa của Xá Vệ Quốc.
xá vệ quốc
3504舍衛,梵名 Śrāvastī,巴利名 Sāvatthī。爲中印度古王國名。又作舍婆提國、室羅伐國、尸羅跋提國、舍囉婆悉帝國。意譯聞物、聞者、無物不有、多有、豐德、好道。又以此城多出名人,多產勝物,故稱聞物國。本爲北憍薩羅國(梵 Uttara-Kośalā)之都城名,爲別於南憍薩羅國(梵 Dakṣiṇa-Kośalā),故以都城代稱。 關於舍衛國名稱之由來有數種說法,如毘濕奴富蘭那(梵 Viṣṇu-purāṇa)所載,該都城之創建人爲日種王(梵 Śrāvasta)。另如南方佛教所傳,有人問:「此城有何種貨物?(巴 kim bhaṇḍaṃ atthi)」城中之人則答:「無物不有。(巴 sabbaṃ atthi)」又梵語 śrava, śravas 係耳、聞、好名聞之意,後轉釋爲舍衛國之名。 佛陀在世時,波斯匿王統治此國。據分別功德論卷二載,佛陀於舍衛國前後居止二十五年,較住於其他諸國長久,由於此國最妙、多珍奇,人民知義理;而祇洹精舍特有神驗,當眾僧講集時,有獼猴數千前來,在左右觀聽,寂靜無聲,諸飛鳥亦普皆來集;以此國多仁慈,故異類影附。大智度論卷三載,舍衛城爲佛出生地,爲報生地之恩,故多住此。諸經典中,常見其名,且阿含部之諸經、賢劫經、彌勒下生經、彌勒上生經、大寶積經郁伽長者會等諸會,阿彌陀經、文殊般若經、金剛般若經等皆於此處說。 佛在世時,舍衛國有九億之家,然至西元五世紀初,法顯至此地巡禮時,已頗荒廢,再經二百年,玄奘經此地時,更爲荒蕪。如城內原有勝軍王所建大法堂、鉢邏闍鉢底精舍、須達長者故宅、指鬘外道悔改證果之處等遺址;城外則有祇園精舍、佛陀爲病比丘看病處、舍利弗目連競神通處、外道殺淫女謗佛處、提婆達多陷入地獄大坑、群盜得眼林,及城外西北約十八公里處之迦葉佛本生地等遺址,種種聖蹟皆成廢墟。 有關此國之位置,據英國考古學家康林罕(A. Cunningham)推定,近於尼泊爾之奧都(Oudh,古稱沙祇,巴 sāketa),北方約九十餘公里處,即拉布提河(Rapti)左岸之沙赫瑪赫(Sahet Mahet)地方。因近年在該處發掘銘刻有 śrāvastī 之巨大佛像、大唐西域記卷六所說周長約五公里之城壁,及記述布施祇園精舍田地之銅板等,足資證明此處即舍衛國故址之地。〔雜阿含經卷二十三、中阿含卷五十五持齋經、長阿含經卷三、增一阿含經卷四十九、十二遊經、四分律卷五十、摩訶僧祇律卷八、阿育王傳卷二、金剛般若經疏、阿彌陀經疏、勝鬘寶窟卷上本、高僧法顯傳、釋迦方志卷上、玄應音義卷三、慧苑音義卷下、A. Cunningham: Ancient Geography of India;J.Ph. Vogel: The site of Śrāvastī(J.R.A.S. 1908)〕
; Xem Xá vệ thành.
; Shravasti—Xá Bà Đề—Thất La Phạt—Thất La Phạt Tất Để—Thi La Bạt Đề—Xả La Bà tất Đế Da—Xá Vệ mà nay là Saheth-Maheth ở Uttar Pradesh, kinh đô của vương quốc Kiều Tất La. Trong thời Đức Phật, Xá Vệ là tên của một vương quốc lớn ở Ấn Độ, vương quốc của vua Ba Tư Nặc, cha của Thái Tử Kỳ Đà. Người ta nói đây là thành phố nổi tiếng về người và vật (xứ văn vật hay xứ mà cái gì cũng có), một thành phố trong vương quốc cổ ở vùng bắc Ấn Độ, nam ngạn sông Hằng, khoảng 500 dậm về phía tây bắc của thành Ca Tỳ La Vệ, bây giờ là Rapetmapet, phía nam sông Rapti. Chính nơi đây, thương gia Cấp Cô Độc (Anathapindika) đã cho xây một tu viện lớn trong khu vườn mua lại của Thái Tử Kỳ Đà bằng số vàng với cái giá thần thoại để đón tiếp Đức Phật. Câu chuyện mua lấy khu vườn và dâng tặng cho Đức Phật là một đề tài được yêu chuộng trong nghệ thuật Phật giáo thời trước. Sau đó, nhiều đền đài và tu viện đã được xây dựng lên tại đây và nơi nầy vẫn tiếp tục là một trung tâm phồn thịnh của Phật giáo trong một thời gian dài. Người ta nói nước Xá Vệ nằm trong Vương Quốc Bắc Kiều Tất La, khác hẳn với Vương Quốc Nam Kiều Tất La. Nước Xá Vệ là một nơi an cư mà Đức Phật rất thích, trong đó có ngôi vườn Kỳ Thọ nổi tiếng—Sravasti, modern Saheth-Maheth in Uttar Pradesh, the capital of the ancient kingdom of Kosala. During the time of Sakyamuni Buddha, Sravasti was the name of a great kingdom in India, the kingdom of King Prasenajit, father of Prince Jeta. People said this was a city of famous things, or men, or the famous city; it was a city and ancient kingdom in northern India, on the southern bank of the Ganges River, about 500 miles northwest of Kapilavastu, now Rapetmapet, south of Rapti River. Even from the days of the Buddha, Sravasti was an active center of Buddhism and it was here that the merchant Anathapindika built a large monastery for the reception of the Master (in the garden of Prince Jeta, and was purchased at a fabulous price in gold). The story of its purchase and its eventual presentation to the Buddha was a favorite theme in early Buddhist art. In later times, shrines and monasteries arose on this sacred spot which continued to be a flourishing center of the Buddhist faith for a long time. It is said to have been in northern Kosala, distinct from the southern kingdom of that name. It was a favourite resort of Sakyamuni, the famous Jetavana being there.
xá vệ thành
Sāvatthi (P), Śṛāvāsti (S).
; Sràvasti (S). Name of an Indian city.
xá xá ca
Sasaka (skt)—A hare—A rabbit—See Xá Chi.
xá đa tỳ sa
Satabhisa (skt)—Một chòm sao trong vùng sao Bảo Bình—A constellation in the Aquarius.
xá đa đề ba ma mâu xá nam
Sastadeva-manusyanam (skt)—Thiên Nhân Sư (bậc thầy của cõi trời và người), một trong mười danh hiệu của Phật—Teacher of gods and men, one of the ten titles of a Buddha. ** For more information, please see Thiên Nhân Sư.
xá đầu gián
Sardula-karna (skt)—Tên nguyên thủy của Ngài A Nan, được diễn dịch là “Lỗ tai cọp.”—The original name of Ananda, interpreted as “Tiger's ears.”
Xá 舍
[ja] シャ sha ||| (1) Hut, house, inn, shed, lodge. (2) To lodge at, reside, stay overnight. (3) One day's travel. 30 li. (4) To cast off, throw away (捨). To stop, put a stop to. (5) Separate from. (6) Put, place. (7) Used in transliterating Indian śa sound. => 1. Túp lều, ngôi nhà, lữ quán, nhà nghỉ. 2. Ở, cư ngu, nghỉ qua đêm. 3. Đoạn đường dài đi được trong một ngày (30 lý, dặm=khoảng 500m). 4. Âm xả (捨), liệng bỏ, xả bỏ. Dừng lại, dừng nghỉ. 5. Tách rời ra. 6. Đặt, để. 7. Dùng để đọc mẫu tự Śa trong tiếng Phạn.
Xá-bà-đề
phiên âm từ Phạn ngữ là Śrvastỵ, cách đọc khác thường gặp hơn là Xá-vệ, kinh đô của nước Câu-tát-la (Kosala). Đúng ra đây chỉ là tên thành, nhưng nhiều khi cũng được dùng để chỉ cả nước Câu-tát-la, như ở đây gọi là nước Xá-bà-đề, hoặc có nơi khác gọi là nước Xá-vệ, đều là để chỉ nước Câu-tát-la, vào thời ấy do vua Ba-tư-nặc cai trị.
Xá-lị
舍利; S: śarīra;|Chỉ chung những gì còn sót lại sau khi thiêu thân Phật Thích-ca hoặc các bậc đắc đạo, thường được thờ trong các Tháp hay chùa chiền.|Người ta cho rằng, tục thờ Xá-lị có lẽ bắt đầu với Phật Thích-ca. Tro của Ngài được chia ra nhiều phần cho các bộ tộc và lần đó có sự tranh chấp về vấn đề này. Danh từ Xá-lị cũng được dùng để chỉ Kinh (s: sūtra), Ðà-la-ni (s: dhāraṇī) hay tranh tượng đức Phật, mang tính chất thiêng liêng. Tục thờ cúng Xá-lị được lưu truyền trong dân chúng, người ta tin rằng nhờ vậy mà trừ được rủi ro.|Người ta đã tìm thấy Xá-lị của Phật Thích-ca tại quê hương của Ngài là Ca-tì-la-vệ (s: kapilavastu) và Vệ-xá-li (s: vaiśālī). Một răng của Phật được thờ tại Candy (Tích Lan), tóc của Ngài được thờ tại Miến Ðiện. Người ta cho rằng bình khất thực của Ngài ngày nay vẫn còn: theo Ðại sử (p: mahāvaṃsa) của Tích Lan thì bình này được vua A-dục cho mang qua Tích Lan, sau thời Marco Polo thì vua Tích Lan Kublai Khan cho mang bình qua Trung Quốc.
Xá-lị-phất
舍利弗; hoặc Xá-lị tử; S: śāriputra; P: sāriput-ta;|Một trong Mười đại đệ tử của Phật. Xá-lị-phất xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn. Sau khi đức Phật giác ngộ, Xá-lị-phất cùng bạn thân là Mục-kiền-liên (s: mahāmau-dgalyāyana; p: mahāmoggallāna) gia nhập Tăng-già và mang danh hiệu là »Trí huệ đệ nhất«. Tôn giả mất vài tháng trước ngày Phật nhập diệt. Trong nhiều chùa, người ta thấy tranh tượng của Xá-lị-phất và Mục-kiền-liên tả hữu bên cạnh đức Phật.|Xá-lị-phất là một người đầy nghi ngờ trước khi gia nhập Tăng-già. Theo kinh sách, Tôn giả trở thành đệ tử của Phật sau khi gặp Tỉ-khâu A-thuyết-thị (assaji). Thấy gương mặt sáng ngời trang nghiêm, phong độ nhàn nhã của A-thuyết-thị, Tôn giả liền hỏi ông ta tin tưởng nơi ai. A-thuyết-thị trả lời bằng bốn câu kệ, được gọi là Duyên khởi kệ:|若法因緣生,法亦因緣滅|是生滅因緣,佛大沙門說|Nhược pháp nhân duyên sinh|Pháp diệc nhân duyên diệt|Thị sinh diệt nhân duyên|Phật Ðại sa-môn thuyết.|*Các pháp nhân duyên sinh|Cũng theo nhân duyên diệt|Nhân duyên sinh diệt này|Phật Ðại sa-môn thuyết.|Nghe xong, Xá-lị-phất liền trực nhận ngay về lí »Có sinh thì có diệt« thuật lại cho bạn là Mục-kiền-liên rồi hai người xin Phật cho gia nhập Tăng-già, trở thành đệ tử.
xá-lợi Phật
xá-lợi Phật có hai loại. 1. Sanh thân xá-lợi: Tro cốt của Phật sau khi thiêu nhục thân của ngài còn lại, được thờ trong các chùa tháp. 2. Pháp thân Xá-lợi: Diệu pháp mà Phật để lại, tức là giáo pháp thường trụ mà Phật đã thuyết dạy trong kinh điển.
Xá-lợi 舍利
[ja] シャリ shari ||| (śarīra). The relics of the Buddha or a revered monk. The remains after cremation. Also written as 佛骨. => (s: śarīra) Linh cốt của Đức Phật hay của các vị cao tăng. Phần còn lưu lại sau khi hoả táng. Còn gọi là Phật cốt 佛骨.
Xá-lợi-phất tử 舍利弗子
[ja] シャリホツシ Shaributsu(shi) ||| Śāriputra, the first of the ten principal disciples of Śākyamuni Buddha. Born of the brahman caste, he was from a town called Upadeśa near Magadha. He was originally a disciple of the skeptic philosopher Sañjaya, but when he converted to Buddhism along with Maudgalyāyana 目連, they brought 250 Sañjaya disciples with them. He served as tutor to Śākyamuni's son Rāhula. He became so deeply enlightened in the buddhadharma (he is considered to be the wisest of the disciples) that he sometimes even gave sermons in the Buddha's absence, and was named among the ten principal disciples as being "the greatest in wisdom" 智慧第一. Being somewhat older than Śākyamuni, he passed away before him. He appears as an interlocutor in prajñāpāramitā works, such as the Heart Sutra. => (s: Śāriputra), đứng đầu trong số 10 vị đệ tử lớn của Đức Phật. Thuộc dòng dõi Bà-la-môn, sinh ở thành Upadeśa gần Ma-kiệt-đà (Magadha). Ngài vốn là môn đệ của triết gia San-xà-dạ (s: Sañjaya) theo thuyết hoài nghi. Nhưng khi chuyên sang đạo Phật cùng với Mục-kiền-liên, đã mang theo 250 môn đệ của San-xà-dạ cùng quy y Phật. Ngài được giao việc giáo huấn trưởng tử của Thích Ca Mâu Ni là La-hầu-la. Ngài rất thông thạo Phật pháp (được xem là người có trí huệ bậc nhất trong số 10 vị đệ tử lớn của Đức Phật), nên thường được giao việc giảng pháp thay Đức Phật. Ngài có tuổi cao hơn Đức Phật, nên đã viên tịch sớm hơn. Ngài đại biểu cho đương cơ trong các kinh Bát-nhã, như trong Bát-nhã tâm kinh.
Xá-vệ
xem Xá-bà-đề.
; 舍衛; S: śrāvāsti; P: sāvatthi;|Thủ đô của nước Kiêu-tát-la (s: kośala; p: kosala). Nơi đây trưởng giả Cấp Cô Ðộc đã cúng dường Kì viên (s, p: jetavana) cho Phật. Phật trú tại Xá-vệ 25 mùa mưa, 19 mùa tại Kì viên và 6 mùa tại vườn trái cây (p: pubā-rāma), một nơi an trú được Ưu-bà-di tên Vi-sākhā cúng dường.
Xá-vệ thành 舍衛城
[ja] シャエイジョウ Shaejō ||| Skt. Śrāvastī, Pali Sāvatthī. The city where such Mahāyāna sermons as the Śrīmālā and Diamond sutras are recorded as having been preached. At the time of Śākyamuni, it was the capital of Kosala. Located in the modern Sāheth-Māheth, on the borders of Gonda and Bahraich districts of Oudh. Zongmi says that the word Śrāvastī means "to hear things." was from here. The venue of the preaching of the Diamond Sutra 金剛經. => (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī). Nơi mà các giáo pháp Đại thừa được thuyết giảng như đã ghi lại trong kinh Thắng Man và kinh Kim Cương. Vào thời Đức Phật, thành nầy là thủ đô của nước Kośala, nằm ở Sāheth-Māheth ngày nay, ranh giới giữa Gonda và quận Bahraich của xứ Oudh. Khuê Phong Tông Mật (Zongmi) cho rằng Śrāvastī có nghĩa là “văn giả 聞者 c: wenzhe”. Ngài Mã Minh (Aśvaghoṣa 馬鳴) sinh trưởng ở thành nầy. Kinh Kim Cương (Diamond Sutra 金剛經) được thuyết giảng nơi thành nầy.
Xá-vệ 舍衛
[ja] シャエ shae ||| Śrāvastī, Pali Sāvatthī Kumārajīva's transliteration of Śrāvastī. The 'city of fame', the capital of the Kingdom of Śrāvastī in ancient India. Also transcribed with the variant 舍衞. Alternate Chinese renderings include: wenzhe 聞者 (Dharmagupta), and mingcheng 名稱 (Yijing) => (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī). Ngài Cưu-ma-la-thập(s: Kumārajīva) phiên âm sang tiếng Hán từ chữ Śrāvastī. Là thủ phủ của một vương quốc cổ Ấn Độ. Hán dịch là Văn giả (c: wenzhe 聞者), Đạt-ma Cấp -đa (Dharmagupta) dịch; Danh xưng (c: mingcheng 名稱), Nghĩa Tịnh (Yijing) dịch.
xác chết
Corpse.
xác nhận
To confirm—To affirm—To be affirmed.
xác tàng
(殼藏) Trứng chim. Từ ngữ này được dùng để ví dụ con người bị phiền não vô minh trói buộc, che lấp, giống như con chim con bị bọc trong lớp vỏ trứng (xác tàng: Bị giấu trong trứng) vậy. Kinh Thắng Man (Đại 12, 221 trung) nói: Chân lí này Như lai Ứng Chính Đẳng Giác đã chứng biết, vì muốn mở toang màn vô minh sác tàng cho thế gian, nên mới thị hiện diễn nói chính pháp.
xáo trộn
Disturbance—To mix—To confuse—To mix up.
xáo trộn xúc cảm
Emotional disturbance
xâm lược
See Xâm Lấn.
xâm lấn
To invade—To conquer.
xâm nhập
To penetrate—To infiltrate.
xâm phạm
To violate.
xâm đoạt
To seize—To ravish.
xâu xé
To tear to pieces.
xây
1) To build—To construct—To erect. 2) To turn.
xây chùa dựng tháp
To build temples and to erect stupas.
xây dựng
See Xây (1).
xây lưng
To turn one's back on.
xây xẩm
To feel dizzy.
xây đắp
See Xây (1).
xã
3466<一>古代土地神之稱。禮記祭法:「共工氏之霸九州也,其子曰后土,能平九州,故祀以爲社。」 <二>指祭祀社神。禮記月令載:「命民社」。後引申爲祭祀社神之節日。
; 1) Làng: A village—Clan—Society. 2) Thần Hoàng: Gods of the land.
xã giao
Social relations.
xã già
Jagat (skt)—Tất cả chúng sanh—All the living.
xã hội
3466佛教語中,相當於社會之詞爲「世間」(梵 loka)。佛教強調出世間法,主張克服人間之苦,然其意義並非脫離社會,而是超越親人之羈絆與種族血緣之束縛,即超越家與國;由於能超越家與國,故能對同世間之世人施予慈悲。佛陀被稱爲世尊(即世間所尊敬之人)與世間解(梵 loka-vid),意謂佛陀能了解世間,理解社會,而覺悟現實世界。故佛陀所主張之慈悲,乃是超越狹隘的人倫關係,而擴展至無限寬廣的領域。梵語之 maitrī(慈),乃來自 mitra(友),是友情之意。友情,須是無條件而深厚之友情(無緣的慈悲);而對於一切人平等地施予友情,並非基於地緣或血緣之關係,而是超越地域、人種、國境等狹隘社會之開放精神。佛教成立之初,即具有深厚的社會意義。阿育王(261 B.C.~232 B.C.頃在位)以佛法(梵 dharma)爲其施政方針而統一全印度,此予西方社會影響極大。蓋所謂世間解,必須兼具出世之特質;換言之,必須有一種超越社會之立場,方能深刻了解社會,而將社會淨化成一種善良和諧的社會,此即佛教所謂之社會性。
; Society.
xã hội thần
3466將社會現象與社會力量人格化而形成之神。原始社會結構簡單,當時的神靈觀念皆屬自然神,其後,隨著生產力之發展與社會結構之複雜化,各種社會力量逐漸引起人們更多之注意,彼等與自然力同樣表現爲不可理解與不能駕馭之盲目力量。相應於此等社會情況,乃出現命運神、愛神、戰神等,乃至財神、祿神,以及民族與地域之守護神、各行業之行業神等。此等神已非單純之自然神,而係具社會功能之社會神。
xã luận
Leading article.
Xã Tăng
(社僧, Shasō): còn gọi là Cung Tăng (宮僧), Thần Tăng (神僧), là tên gọi của những tu sĩ làm Phật sự ở các đền thờ Thần Xã, thường sống ở những ngôi Thần Cung Tự (神宮寺). Địa vị của họ cao hơn Thần Quan; trong số đó có người có quyền mang theo vũ khí bên mình nữa. Chức này có nhiều giai cấp khác nhau như Biệt Đương (別當, Bettō), Tọa Chủ (座主, Zasu), Viện Chủ (院主, Inju), Kiểm Hiệu (檢校, Kengyō, Kenkō), v.v. Chức này được đặt ra vào cuối thời Nại Lương và đến năm 1869 (Minh Trị [明治] 2) thì không còn nữa.
xã đắc ca
Jataka (skt)—Bản Sanh Kinh nói về tiền thân của chư Phật và chư Bồ Tát (một trong 12 bộ Kinh Phật)—Previous births or incarnations, especially of Buddhas or Bodhisattvas.
xã đắc ca ma la
Jatakamala (skt)—Bản Sanh Man, hay tên của các bài tán tụng (tập hợp các chuyện về sự tu khổ hạnh của Đức Phật)—A garland of incarnation stories in verse.
xãy ra vì tình cờ
To happen by mere chance
xãy đến
To occur—To happen—To take place—To come about.
xé
To tear (a sheet of paper).
xé nát
To tear up (to pieces).
xén
To trim—To cut down partially.
xéo
1) Not straight—Askew. 2) To tread under foot (dày xéo).
xép
Small room.
xét
To judge—To examine—To audit.
xét hỏi
To examine.
xét mình
To examine one's conscience.
xét nghĩ nông cạn
Shallow thinking.
xét nét
To examine closely.
xét vì
Considering that.
xét xử
See Xét Đoán.
xét đoán
To judge.
xê
To shift—To move—To displace.
xê dịch
See Xê.
xê ra
To move away—To get out of one's way.
xê xích
To move a little about.
xì ra
To blow off—To escape—To leak out.
xì xào
To whisper.
xì xụp
To eat (soup) noisily.
xìu
To go down.
xí
1) Cánh: A wing—A fin. 2) Cầu tiêu: Còn gọi là Tây Tịnh hay Đông Tịnh trong tự viện—A privy, or cesspool. 3) Cờ Phướn: Banner—Flag. 4) Cháy Bừng: • (a) Effulgent (phóng quang). • (n) Flame. • (v) To blaze—To burn.
xí chỗ
To reserve a place (seat).
xí di la
Áo lông—Feather robes.
xí do la
Keyura (skt)—Cái kiềng đeo cổ—A necklace.
xí gạt
To cheat—To deceive.
xí khổng
4938即便所。略稱廁。又稱圊。亦用為譬喻極污穢者之詞。臨濟錄(大四七‧五○二下):「道流!莫將佛為究竟,我見猶如廁孔,菩薩、羅漢盡是枷鎖縛人底物。」禪林中又稱為西淨(西序之廁)、東淨(東序之廁)、東司、雪隱、後架、起止處。 關於廁之位置,在印度之精舍,廁院通常設於僧房之西方或南方。據業疏濟緣記卷二上所載,印度多吹東風,故僧寺之門皆向東方,廚、廁則皆在西南,而廁更位於廚之後。中國崇尚正陽,故寺門多向南方,廚、廁則設於東北方。此外,廁所予人方便,去除垢穢,使人身心獲得清淨、安穩,故設廁能得無量福報與安樂,若掃淨之,亦能滅除罪垢。〔增一阿含經卷十、福田經、釋氏要覽卷下〕
xí ma
Khemanama (P).
Xí nhiên 熾然
[ja] シネン shinen ||| A burning lamp; the condition of a burning lamp (dīpa). => Ngọn đèn cháy sáng; trạng thái ngọn đèn đang cháy sáng (s: dīpa).
xí thạnh quang phật
Tên của một vị Phật nổi tiếng phóng quang rực rỡ từ mỗi lổ chân lông—Name of a Buddha, noted for effulgence, light streaming from every pore.
Xí Thạnh Quang Phật Đảnh
(s: Prajvaloṣṇīṣaḥ, 熾盛光佛頂): là Giáo Lịnh Luân Thân (敎令輪身) của đức Phật Thích Ca, ngọn lửa tỏa sáng hừng hực từ lỗ chân lông lưu xuất ra. Chủng tử là bhrū (悖嚕吽, bột rô hồng). Hình Tam Muội Da là 12 vòng tròn xe, hoặc 3 cây chày. Trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 4, phần Thiên Thu Tuế (千秋歲), có đoạn: “Chí tâm tín lễ Xí Thạnh Quang Như Lai, Tự Tại Thiên trung xuất hiện, đại uy đức thần thông biến, hồng liên đài thượng tử kim dung (志心信禮熾盛光如來、自在天中出現、大威德神通變、紅蓮臺上紫金容, một lòng kính lạy Xí Thạnh Quang Như Lai, xuất hiện trên cõi Trời Tự Tại, oai đức lớn thần thông biến, sen hồng trên đài vàng tía thân).” Hay trong Thiền Lâm Bảo Huấn Bút Thuyết (禪林寶訓筆說, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1266) quyển Trung lại có đoạn rằng: “Toại linh phần hương trai giới, trì Xí Thạnh Quang Vương thần chú kỳ chi, vị cập thất nhật, dạ mộng lão nhân trước bạch y kỵ ngưu hãm địa toàn một nhi khứ, lạp nhật toàn gia tật dũ hĩ (遂令焚香齋戒、持熾盛光王神咒祈之、未及七日、夜夢老人著白衣騎牛陷地旋沒而去、翌日全家疾愈矣, bèn sai đốt hương ăn chay giữ giới, trì tụng thần chú Xí Thạnh Quang Vương để cầu nguyện, chưa được bảy ngày, đêm mộng thấy một ông lão mặc áo trắng cỡi trâu đi xuống đất trong thoáng chốc rồi biến mất; hôm sau cả nhà lành bệnh hết).”
Xí Thạnh Quang Vương Phật
(熾盛光王佛): hay Xí Thạnh Quang Phật Đảnh (s: Prajvaloṣṇīṣaḥ, 熾盛光王佛頂), vị Phật xuất hiện trong Kinh Xí Thạnh Quang Đại Uy Đức Tiêu Tai Cát Tường Đà La Ni (熾盛光大威德消災吉祥陀羅尼經, 1 quyển, còn gọi là Đại Uy Đức Tiêu Tai Cát Tường Đà La Ni [大威德消災吉祥陀羅尼], Tiêu Tai Cát Tường Kinh [消災吉祥經], Bất Không dịch, Taishō 19). Đây là thân giáo lịnh của Phật Thích Ca, do ánh sáng rực rỡ phát ra từ lỗ chân lông, nên có tên gọi như vậy, chủng tử của vị Phật này là bhrūṁ (悖嚕吽, bột rô hồng), hình Tam Muội Da là 12 vòng tròn bánh xe hay 3 cây chày. Vị Phật này có nhiều thân thuyết pháp khác nhau, có thuyết cho rằng vị này đồng nhất với Nhất Tự Kim Luân (一字金輪), hay Kim Luân Phật Đảnh (金輪佛頂) trong 8 vị Phật đảnh, hoặc như Quang Tụ Phật Đảnh (光聚佛頂).
Xí thạnh 熾盛
[ja] シジョウ shijō ||| To flourish, thrive, blaze, bloom. 〔攝大乘論 T 1595.31.〕 => Sự phồn thịnh, phát đạt, chiếu sáng rực, rực rỡ.
xí thần
4938指烏樞沙摩明王(梵 Ucchuṣma)。烏樞沙摩,為火頭金剛之名字,意為不淨、穢跡,但有轉穢為淨之功能,故祭於廁中,後人引為廁神。(參閱「烏樞沙摩明王」4180)
xí trù
4939指於廁所中用以代紙拭糞之小木、竹片。又作廁籌、廁橛、廁篦、廁簡、廁簡子。凡已經使用而污穢之籌,稱觸籌;未經使用而乾淨者,稱淨籌。籌,一般長約八寸,呈三角形,粗如拇指,或有塗漆者。印度夙皆用籌,我國禪僧亦多襲之,而間有用紙者,即稱為廁紙。據江南野錄載,李後主曾親為沙門削作廁簡子,試之腮頰,若有澀滯之感,即再加修整。毘尼母經卷六(大二四‧八三八中):「木、竹,葦作籌,度量法,極長者一搩,短者四指。」禪苑清規卷七大小便利條(卍續一一一‧四五六上):「不得涕唾狼籍、努氣作聲、廁籌劃地、隔門壁共人語笑。」〔摩訶僧祇律卷三十四、禪林象器箋器物門、正法眼藏卷七洗淨〕
xí xá khâm bà la
Kesakambala (skt). 1) Phát y: Áo tóc—A hair garment or covering. 2) Tên của vị ngoại đạo thứ năm trong mười vị ngoại đạo tại Ấn Độ: Name of the fifth of the ten heretical Indian schools.
xí xóa
To compromise—To let go.
xía
To chip in—To interfere.
xích
1382計量物體長短之用具。又為長度單位。古代印度對尺之製法不詳,但關於長度單位,則有各種規定,如大乘入楞伽經卷一載,一一剎為幾塵(梵 rajas),一一弓(梵 dhanu)為幾肘(梵 hasta),幾弓為俱盧舍(梵 krośa)、半由旬(梵 ardha-yojana)、由旬(梵 yojana)等。此外,另有兔毫(梵 śaśa)、隙遊(梵 vātāyana)、蟣(梵 likṣā)、羊毛(梵 eḍaka)、穬麥(梵 yava)等名稱。另於俱舍論卷十二,亦詳細列舉各種有關長度之單位名稱,從最小單位之極微(梵 paramāṇu),以七進位法,次第為微(梵 aṇu)、金塵(梵 loha-raja)、水塵(梵 ab-raja)、兔毛塵(梵 śaśa-raja)、羊毛塵(梵 avi-raja)、牛毛塵(梵 go-raja)、隙遊塵(梵 vātāyanacchidra-raja)、蟣、蝨(梵 yūka)、
; Lohita (S)Màu đỏ, một trong 12 loại hiển sắc mắt thường có thể thấy được.
; 1) Cột lại thành xâu: To chain—To enchain. 2) Cùm: Shackles—Fetter. 3) Dây xích: Chain. 4) Xích lại gần: To move nearer—To approach. 5) Màu đỏ: Kasaya (skt)—Red. 6) Nóng: Hot. 7) Phía Nam: South. 8) Thước: Meter (Chinese)—Meter.
xích bạch nhị đế
Hai giọt tinh túy xích đế (máu huyết của mẹ) và bạch đế (tinh của cha) hòa hợp lại với nhau thành thai—The drops of red and white, i.e. female and male sperm which unite in conception.
xích ca sa
3013赤色之袈裟。又作絳赤衣、絳色衣、赤絳衣、絳袈裟、絳衣、赤衣。印度五部僧袈裟之色各異,依舍利弗問經所載,摩訶僧祇部著黃衣,薩婆多部著皂衣,迦葉維部著木蘭衣,彌沙塞部著青衣,曇無屈多部著赤衣。蓋佛制法衣須用壞色,不許純正之色,故絳赤色即以他色染成壞色之赤濁色。然因翻譯者對壞色難以名之,故仍以青、黃、赤、皂稱之。 有部毘奈耶卷三十九以青、泥、赤三色為佛制之壞色,謂赤色為樹赤皮色,即為十誦律卷十五所說之茜色、四分律卷十六等所說之木蘭色,非為純赤色。故十誦律卷十五、薩婆多毘尼毘婆沙卷八等謂,禁著青、黃、赤、白、黑等五種純色之袈裟。 依大宋僧史略卷上服章法式條載,漢魏之世,出家者多著赤布僧伽梨,可知我國早已用之。密教亦重赤色,據陀羅尼集經卷一金輪佛頂像法下所載,畫世尊像,身為真金色,著赤色袈裟。〔要略念誦經、有部毘奈耶雜事卷二十九、四分律刪補隨機羯磨卷上、釋氏要覽卷上、佛像標幟義圖說卷上〕(參閱「法衣」3346、「袈裟」4784)
xích chiểu trí thiện
3012(1885~1937)日本真宗大谷派學僧。畢業於真宗大學研究科。為研究原始佛教,曾遊學印度、英國。歸國後就任真宗大谷大學教授,爾後兼任該校圖書館館長。院號樹心院。追贈學階講師。譯有釋尊之生涯及其教理(Rhys Davids 原著)、長部經及相應部經之一部(南傳大藏經)、撰集百緣經、順正理論(日本國譯一切經)等。編著方面則有:教行信證講義三卷、新譯佛教聖典(以上二部與山邊習學共著)、阿含の佛教、漢巴四部四阿含互照錄、印度佛教固有名詞辭典、佛教教理之研究、原始佛教之研究、佛教經典史論等。〔佛教經典史論の附錄〕
xích chân
See Xích (5).
xích châu
3013梵語 lohitamuktikā,巴利語 lohitaṅka。又作赤寶、赤真珠。世間七寶之一。佛地經論卷一以赤珠為赤蟲之所出,或其體赤色,故稱赤珠。(參閱「七寶」124)
; Red pearl.
; Red pearls.
xích lại
See Xích (3).
xích mai đàn
Một loại cây dùng làm nhang—A tree used for incense.
xích mích
Petty quarrel—Bickering Disagreement.
xích ngạc nhai na
Chagayana (skt)—Một tỉnh và thành phố cổ của xứ Tukhara, bây giờ là Chaganian—An ancient province and city of Tukhara, the present Chaganian.
xích nhãn
Mắt đỏ như rùa—The red-eye, i.e. a turtle.
xích nhãn quy tông
3013即指馬祖道一之法嗣廬山歸宗寺智常禪師。其眼生而重瞳,遂以藥手按摩,致眼角成為赤色,故世號之「赤眼歸宗」。〔景德傳燈錄卷七歸宗智常章、禪林口實混名集卷上〕
xích nhục đoàn
3012狹義指心臟。廣義則指肉體。臨濟義玄禪師語錄(大四七‧四九六下):「赤肉團上,有一無位真人。」〔景德傳燈錄卷十二〕(參閱「肉團心」2513)
; Một khối thịt đỏ hay quả tim—The red flesh lump, the heart.
xích phan
3014又作赤旛。有兩種:(一)指赤色之旗。在古代印度,佛弟子與外道論議後,勝利之一方往往高舉赤色旗幡,並奏凱歌。碧巖錄第十三則(大四八‧一五四上):「西天論議,勝者手執赤旛,負墮者返披袈裟,從偏門出入。」(二)於日本,施餓鬼會之際,在赤紙上書寫「焦面大鬼王」並懸掛之。
xích quỷ
Quỷ đỏ trong địa ngục, có con đầu bò, có con đầu ngựa—The red demons of purgatory, one with the head of a bull, another with that of a horse, etc.
xích ra
To move aside.
xích sao lân
3013禪林用語。又作赤梢鯉、燒尾魚。赤,燒焦之意;梢,樹枝之末端,此處指魚尾。原指不同凡響之鯉魚,該魚之鱗甲雖已被電火燒焦,卻猶能化作龍而隨激浪奔流遠去;在禪林中,以此語形容能克服難事,顯示大機用之禪僧,或用以讚歎出類拔萃之禪者。 從容錄第三十五則(大四八‧二五一上):「搖頭擺尾赤梢鱗,(中略)師云:『洛浦辭臨濟,濟云:臨濟門下有箇赤梢鯉魚,搖頭擺尾,向南方去也。』」
xích sơn minh thần
3011供奉於日本京都市左京區修學院村。為赤山明神社之天台宗守護神。又稱赤山大明神、赤山權現。為天台守護三十番神之一。唐代,日僧圓仁至我國,曾居於山東登州之赤山法華院,其後由於常得山神太山府君之衛護,而安然返日。其後,延曆寺座主安慧勸請將太山府君奉為天台宗之守護神(一說係圓仁勸請者),供於比叡山西南麓之赤山禪院(後為延曆寺之別院)。此神乃延壽、富貴之神,素為日本商賈所信仰。
Xích sắc
xem Ca-tỳ-la.
xích sắc
3012赤,梵語 lohita。為五色(青、黃、赤、白、黑)之一。有熾燃猛利之義。在密教所說五字、五大之中,赤色為???(ra)字,屬「火大」之色;在五佛之中,為東方寶幢佛之色;在金、胎兩部之中,為金剛界之色;在四種法之中,為降伏法之色。赤色又有愛著之意,故在瑜伽護摩軌中記載,赤色為與敬愛法及鉤召法相應之色。 另據大日經疏卷六載,赤為寶幢如來之色,行者既發菩提心,於明道中降伏魔怨,滅除蓋障;故謂赤色主降伏之德,其性猛利。又以赤有大勤勇之義,故為精進之色,並以之配為信、精進、念、定、慧等五根及五力中之精進力。或謂赤有「心障淨除,光明顯照」之義,亦即「念」之義,故以之配為念根、念力。另於諸經軌中,尚有種種配釋之說。(參閱「五色」1082)
xích sắc xích quang
red colored red light.
xích sắt
Chain of iron.
xích thằng
Red thread—Bond of marriage.
xích thể kim cương
3014為密教中,位列於阿闍梨所傳曼荼羅金剛部院中之金剛。於胎藏圖像中,稱為赤身金剛,侍於金剛薩埵之下。其形像呈裸體忿怒形,右手置於胸前,左手高舉獨股杵,屈右腳,伸左腳,遍身有火焰。
xích tâm
Red mind—The state of sincerity—The mind as it is—Loyalty—Faithfulness.
Xích Tùng Mãn Hựu
(赤松滿祐, Akamatsu Mitsusuke, 1373-1441 hay 1381-1441): vị Võ Tướng sống vào khoảng giữa thời đại Thất Đinh, vị quan Thủ Hộ vùng Bá Ma (播磨, Harima), Bị Tiền (僃前, Bizen), Mỹ Tác (美作, Mimasaka). Thân phụ là Xích Tùng Nghĩa Tắc (赤松義則, Akamatsu Yoshinori). Ông mời Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Mãn (足利義滿, Ashikaga Yoshimitsu) đến tư dinh của mình rồi giết chết vị này và đào tẩu đến vùng Bá Ma; nhưng ông bị nhóm người của Sơn Danh Trì Phong (山名持豐, tức Tông Toàn [宗全]) truy nã, nên đã tự vẫn. Pháp danh của ông là Tánh Cụ (性具).
xích tùng quang ánh
3012(1819~1895)日本第二三三世天台座主。字曇覺、棘樹。號一如庵、如如院。十二歲,從東叡山見明院光千得度。十七歲受三部密灌。弘化二年(1845)昇大阿闍梨位。文久三年(1863)住談山竹林坊,任學頭職,得青蓮院尊融法親王賜紫衣,慶應三年(1867)任僧正。四年東叡山兵難之際,擁護輪王寺宮一品法親王至奧羽,明治二年(1869)歸住金臺院,專修淨土法門,並從事著作。此後,歷任延曆寺住持、天台宗管長、大僧正等職。明治二十八年寂於金臺院里坊,享年七十七。著有台門指月鈔、遊行噴飯集、龜桑夜談、棘樹唾壺各二卷等二十餘部。
xích tư tỳ bà sa
Buddhayasas (skt)—Phật Đà Da Xá, vị sư râu đỏ đến Trung Quốc từ xứ Thiên Trúc vào khoảng năm 407 sau Tây Lịch—The red-moustached or bearded Vibhasa, a name for Buddhayasas, came to China around 407 A.D.
xích đầu xán
3014指禪宗傳法第三祖僧璨。赤頭,禿頭之意。僧璨出家前因得風疾,後雖治癒,然頭髮脫落殆盡,無法復元,故舒州(安徽潛山)人稱其為赤頭璨。〔傳法正宗記卷六「三祖僧璨章」、禪林口實混名集卷上〕
xích đế
Fire god.
xích đống hồng địa
3013禪林用語。赤地,即因旱災或蟲害成不毛之地;凍地,即凍得無法耕作之地;紅地,即赤色粘土,無法作育農作物之地。原謂由於天寒地凍、旱災或蟲害,致使無法耕作而成不毛之荒地。在禪林中,轉指修行者處於飢凍、貧乏,以致進退極困之境遇。 趙州錄卷上(卍續一一八‧一五七下):「師云:『若不修行,爭得撲在人王位中,餧得來赤凍紅地,無有解出期!』大夫乃下淚拜謝。」
xích đồng diệp bộ
3014梵名 Tāmra-śāṭīya。又稱紅衣部。此派由上座部分出,佛教傳至錫蘭,取錫蘭地名以為部名。(參閱「小乘二十部」928、「銅鍱部」5945)
xính vính
Very anxious.
xíu
Tiny—Very small.
xó
Corner.
xóa bỏ
To cross out—To annul.
xóa ha
Xem ta bà ha.
xóa nhòa
To fade away.
xóc nước
To draw out the water from the drowning person.
xóm giềng
Neighborhood.
xót
To itch—To have an irritating feeling in the skin.
xót dạ
To suffer.
xót thương
Pity.
xô lui
To push back.
xô ngã
See Xô Đổ.
xô tới
To push forward.
xô vào
To push in.
xô đổ
To overthrow—To push down.
xôi
1) Steamed glutinous rice—Sticky rice. 2) Xa xôi—Distant—Remote—Far-away.
xông
1) To have a steam bath. 2) To exhale—To emit—To give out some gas. 3) To be the first footer (xông nhà). 4) To rush—To dash (xông vào).
xông khói (hương)
To smoke out a room—To fill a room with smoke or incense.
xõa
To hang down—To fall.
xùng xình
See Xúng Xính.
xú
1) Mùi hôi thối: Stink—Stinking—Smell. 2) Xấu xa—Ugly—Disgraceful—Shameful.
xú khẩu quỷ
Loại quỷ hơi thở và đầu tóc xuất ra mùi hôi thối—Demons with stinking breath, or hair.
xú mục thiên vương
Virupaksa (skt)—See Quảng Mục Thiên Vương.
xú ngạ quỉ
Putana (S)Phú đơn na1- Một loại chúng sanh, một trong 8 loại quỉ: Càn thát bà, Đảm tinh quỉ, Cưu bàn trà, Ngạ quỉ, Chư long, Phú đơn na, Dạ xoa, La sát. 2- Một trong Thập ngũ quỷ thần thường não loạn trẻ em.
xú ngạ quỷ
See Phú Đơn Na in Vietnamese-English Section.
Xú uế
朽穢; C: xiǔhuì; j: kue;|Thối rữa, ô uế, bẩn thỉu.
Xú uế 朽穢
[ja] クエ kue ||| Rotten, defiled, unclean. 〔瑜伽論、 T 1579.30.428c〕 => Thối rữa, ô uế, bẩn thỉu.
Xúc
觸; S: sparśa; P: phassa;|Chỉ sự tiếp xúc giữa các giác quan (Lục căn) và các đối tượng của chúng (trần) với sự hiện diện của Thức (s: vijñāna; p: viññāṇa). Xúc sẽ sinh ra Thụ (s, p: vedanā). Xúc chỉ là tiếp cận chớp nhoáng giữa giác quan và đối tượng, chưa có phân biệt tốt xấu. Có sáu loại Xúc: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Xúc là một hoạt động tâm lí (Ngũ uẩn) và là yếu tố thứ sáu trong Mười hai nhân duyên.
xúc
6802<一>梵語 sparśa,巴利語 phassa。為心所(心之作用)之一。俱舍宗以其為十大地法、七十五法之一,唯識宗視為五遍行、百法之一。指境(對象)、根(感官及其機能)、識(認識)三者和合時所產生之精神作用;亦即指主觀與客觀接觸之感覺而言。 此時之根、境、識各分為六種,則觸亦有六觸(六觸身,身為複數之意)。例如由眼根、色境、眼識三者和合而產生之觸為眼觸,如由耳、鼻、舌、身、意產生耳觸乃至意觸。此為說一切有部所立三和合生觸之義,即根、境、識和合時,能生其他心所。經量部則唯以根、境、識三者和合名為觸,無有別體,名三和成觸。 於六觸中,前五觸所依之根為有對(二物有相互為障之性質),故稱有對觸。第六觸之意觸,以名(增語)為對象,故稱增語觸;此增語觸對第<二>項中所說之以身根為對象之所觸而言,此為能觸。 又隨染淨等相應法之別而有八種觸,即與無漏相應之明觸、與染污相應之無明觸、與有漏善及無覆無記相應之非明非無明觸,及無明觸中與愛相應之愛觸、與恚相應之恚觸,以及隨受之不同而產生樂受之順樂受觸、生苦受之順苦受觸、生不苦不樂受之順不苦不樂受觸。 此外,十二緣起之第六支為觸,又稱觸支,有部依分位緣起釋為嬰兒期之「觸」。即於嬰兒期根、境、識三者和合而未了知苦樂差別之位。〔雜阿含經卷十三、大毘婆沙論卷二十三、俱舍論卷四、卷九、卷十、大乘義章卷四〕 <二>梵語 spraṣṭavya,巴利語 phoṭṭhabba。五境之一,十二觸之一,十八界之一,俱舍七十五法之一,唯識百法之一。即被觸之對象,故亦譯為「所觸」。指身根感覺之對象,即所觸之對境,稱為觸境,乃五境、六境之一。共有十一觸:即地、水、火、風四大種,與滑、澀、重、輕、冷、饑、渴等十一種。其中四大種為能造之觸,後七種為所造之觸。〔大毘婆沙論卷一二七、俱舍論卷一、大乘阿毘達磨雜集論卷一、品類足論卷一〕
; Sparśa (S), Contact.
; Sparsa (S). To butt, strike against; contact; touch; collision; the quality of tangibility. One of the twelve nidànas.
; 1) Múc (đồ ăn): To scoop up—To get out with a spoon or bowl. 2) Tiếp xúc: Sparsa (skt)—Tát Ba La Sa—Một trong lục trần, cũng là một trong 12 nhân duyên—Contact—Touch—To strike against—Collision—The quality of tangibility, feeling and sensation, one of the six gunas or objects, one of the twelve nidanas. 3) Xúc: Phassa (p)—Theo Vi Diệu Pháp của Tỳ Kheo Bồ Đề, từ “Phassa” lấy từ động từ “phusati,” có nghĩa là xúc chạm; tuy nhiên, không nên hiểu chỉ là sự xúc chạm vật lý suông vào một vật thể hay thân. Xúc còn phải được hiểu như là một yếu tố tinh thần—The wood “phassa” is derived from the verb “phusati,” meaning “to touch,” however, contact should not be understood as the mere physical impact of the object on the bodily faculty. It is, rather, the mental factor by which consciousness mentally touches th object that has appeared, thereby initiating the entire cognitive event.
xúc bình
6805觸,不淨之意。為清掃廁所而攜至廁中之瓶,稱為觸瓶。
xúc bội quan
6805禪宗公案名。又作祖心背觸。為黃龍祖心禪師(1025~1100)接化學人之機語。禪苑蒙求卷下(卍續一四八‧一四○上):「黃龍祖心室中常舉拳問僧曰:『喚作拳頭則觸,不喚作拳頭則背,喚作甚麼?』」莫有契之者,叢林稱之觸背關。
xúc chung
6806於鳴鐘時,最初一聲與最後一聲稱為觸鐘。禪林象器箋唄器門:「凡鳴鐘法,其起、止一聲,名觸鐘。」〔百丈清規抄卷八維那條〕
; Đánh chuông (loại chuông lớn)—To strike a bell.
xúc chỉ
6804意即不淨之手指。指左手無名指、小指。印度之習俗,如廁後以左手無名指、小指洗淨,故稱觸指,忌觸及食器。入眾日用清規(卍續一一一‧四七二下):「護第四指、第五指,為觸指,不得用。」〔日用軌範展鉢法〕
; Ngón tay thứ tư và thứ năm (ngón đeo nhẫn và ngón út), theo phong tục Ấn Độ, là những ngón dùng để rửa rái sau khi đi vệ sinh, vì vậy hai ngón nầy được xem như bất tịnh, không được chạm vào thức ăn—The fourth and fifth fingers of the left hand, which in Indian custom, are used at stool, the unclean fingers (not to be used to pick up or to prepare food).
xúc công đức
6802極樂淨土二十九種莊嚴中,屬於十七種國土莊嚴之一。謂莊嚴極樂淨土之種種珍寶皆悉柔軟,能令觸者得勝樂功德。出於天親淨土論(大二六‧二三○下):「寶性功德草,柔軟左右旋,觸者生勝樂,過迦旃鄰陀。」迦旃鄰陀為天竺一種柔軟草名。(參閱「二十九種莊嚴」170)
xúc cảnh
Sprastavya-visaya (S).
; To be moved at the sight (scenery).
xúc dũng
6805禪林用物之一。即糞器。又作淨桶。原為不淨之器,今名淨器,乃因廁所為觸穢之處,而以淨潔為要,故稱淨桶。又指盛水以清潔觸器之水桶。〔禪林象器箋器物門〕
xúc dục
Desire awakened by touch.
; Một trong ngũ dục, dục vọng dấy lên từ sự xúc chạm (thân thể trai gái tiếp xúc đụng chạm với nhau một cách cố ý và vui thích, khiến dấy lên trong người lòng ham muốn tình dục)—Desire awakened by touch, one of the five kinds of desire. **For more information, please see Ngũ Dục.
xúc giác
Tactile or touch sensation.
xúc kim cang
See Bất Tịnh Phẫn Nộ.
xúc kim cang nữ
Xem Kế Lị Cát La Bồ tát.
xúc kim cương bồ tát
6804觸金剛,梵名 Kelikila-vajra,音譯髻離吉羅金剛、髻利吉羅金剛、計里計羅金剛。又作金剛喜悅菩薩。全稱髻利吉羅金剛菩薩、金剛髻離吉羅菩薩。為密教金剛界曼荼羅理趣會十七尊之一,即安於中尊金剛薩埵右方之菩薩。種子為???(hā)或???(hūṃ),三昧耶形為三鈷杵。其形像,全身呈白色,頂戴五佛寶冠,交臂抱三鈷杵。所謂「觸」,雖指觸五欲境界之生存欲望,然此菩薩以五智照五境,色聲香味等五欲境界為其本有不壞之體,觸性即菩提。據金剛頂瑜伽金剛薩埵五祕密修行念誦儀軌載,此菩薩能給與無邊眾生安樂,而拯拔無邊眾生溺於貧匱之泥者,凡有所求,無論世間、出世間之希有願望,皆令滿足。〔理趣釋卷上、大樂金剛薩埵修行成就儀軌、十七聖大曼荼羅義述〕
xúc loại thị đạo
6806為洪州禪之修行主張。觸類,指人類之各種行為;道者,指佛道。意謂人類之任何思想與行為均為佛性之表現。據宗密之圓覺經大疏鈔卷三下載,起心動念,彈指、謦欬、揚眉、瞬目,凡所作所為,皆是佛性全體之用,即全體貪、瞋、癡,造善造惡,苦受樂受故,一一皆屬佛性。故知其主張在佛教之修習上,要求縱任心性,而不必刻意去做修善斷惡等之佛事,道即是心,惡亦是心;不斷不造,任運自在,致使無法可拘,無佛可作。觸類是道與縱任心性遂成為此派禪法之特點。〔禪門師資承襲圖〕
xúc lạc
6805觸,指根、境、識和合而生之精神作用,計有六種,即眼觸、耳觸乃至意觸。觸樂,即指因觸而發生之樂情,如男女觸身之樂。
; The pleasure produced by touch.
; Sự vui thích trong khi đụng chạm nhau (thân thể trai gái tiếp xúc đụng chạm với nhau mà sanh ra cảm giác vui thích khoái lạc)—The pleasure produced by touch.
xúc lạc bài
6805觸,不淨之意;落,遺落之意。為禪宗修行道場懸掛於廁所之告示板。廁所內若污穢狼籍,自己不加清洗,則掛牌,報之淨頭,令洗淨。或謂於牌之一面書「觸」字,一面書「落」字,若廁內不淨污穢,則掛觸牌,若有鞋履等落於廁內,則掛落牌,而告知淨頭。〔禪林象器箋圖牌門〕
xúc lễ
6805又作略拜、即禮、速禮。指摺疊坐具置於地而行叩拜之禮。依大鑑清規載,古法規定小僧見大比丘時,須兩度展摺坐具而禮拜三回,大比丘則約制小僧免行此禮;小僧即以坐具觸地三拜,大比丘答以一拜。〔禪苑清規卷一旦過〕(參閱「兩展三拜」3073)
; Phủ phục đầu lên ghế hay xuống ngạch cửa, để tỏ lòng tôn kính—To prostrate one's head to a stool, or footstool, in reverence.
xúc nhân
Touch, or sensation cause.
; Nhân gây ra bởi sự xúc chạm—Touch, or sensation cause.
xúc phạm
To give offence to someone—To offend.
xúc phạm danh dự của ai
To wound someone's honour.
xúc quang nhu nhuyễn nguyện
6803即願佛之光明照觸十方世界眾生,令得遠離罪惡、身心柔軟。為阿彌陀佛四十八願之第三十三願。又作光明攝益願、蒙光獲利願、光普益願、光明觸身得勝柔軟願、攝取不捨願、光觸滅罪願。阿彌陀佛之因位為法藏比丘,欲以光明攝化十方,故發此願,而得成就。 關於此願與第十二光明無量願之別,據了慧之無量壽經鈔卷四載,此願為攝眾生,光明無量願為攝佛身。若就佛光而別,第十二願為光之體,第十八願為光之名,此願則為光之用;十二願為緣,十八願為因,此願則為化益。由此可知,第十二願乃願光明之體無量,此願則願光明之用攝取眾生而不捨。〔無量壽經卷上、極樂淨土九品往生義〕
xúc sở duyên
Phottabbarammāna (P).
xúc sự nhi chân
6804又作即事而真。事,謂事象、現象。即所有生滅差別現象界之事物皆是常住真實之真理。此係隋唐時代佛教之基本概念。僧肇之不真空論即有(大四五‧一五三上):「然則道遠乎哉?觸事而真;聖遠乎哉?體之即神。」之語。又大日經疏卷一釋應化身中有云(大三九‧五七九中):「如來金剛之幻亦復如是,緣謝即滅,機興則生,即事而真無終盡。」日僧宥快於大日經口之疏鈔卷二對此加以解釋,謂即事而真之義,顯教諸家係約攝相歸性門而解之;密教諸家則約性相法爾之義而解,以一切事法生滅之當相即為真如實相。〔法華玄義卷六下、摩訶止觀卷七上、華嚴經疏卷五十六〕
xúc thực
The food of sensation.
; Một trong bốn loại thực phẩm. One of the four nutriments or four kinds of food. a) Đồ ăn bất tịnh vì bị tay chân chạm vào: Food made unclean by being touched, or handled; any food soiled, or unclean. b) Cảm xúc vui sướng làm cho mình no như đã ăn rồi (nghe hát, xem kịch, v. làm cho thân tâm thoải mái vui sướng): The food of sensation, or imagination, mentally conceived. **For more information, please see Tứ Thực.
xúc tiến
To push on.
xúc trần
The medium or quality of touch.
; Phassarammana (p)—The tactile object—Một trong lục trần, thân căn tiếp xúc với cảnh (trần), làm huyễn hoặc ý thức của con người đến mức làm nhơ bẩn cả chân tính (trần)—The medium or quality of touch, one of the six gunas.
xúc tị dương
6805禪林用語。原指羊,於禪林轉指不識法之昏昧學人;蓋羊目不能辨物,凡有觸於鼻者即食之,故有觸鼻羊之喻。臨濟錄(大四七‧四九八上):「今時學者總不識法,猶如觸鼻羊,逢著物,安在口裏,奴郎不辨,賓主不分。」
xúc uế
6805謂觸於不淨物。印度婆羅門法中,嚴立觸穢之條制,且有祓除之法。大日經疏卷二十(大三九‧七八○上):「觸穢時者(謂失淨法,如沙門犯戒也。或謂有時犯逸不覺,人截其髮,或絡身繩斷,或三奇杖折,或食時為首陀觸等)」
; Chạm vào vật bất tịnh và trở thành bất tịnh—To touch anything unclean and become unclean.
xúc y
6803不淨之衣。指直接接觸肌膚或床之衣類,如裙子、內衣、襪子等。禪苑清規卷一裝包條(卍續一一一‧四三九下):「後包內安被單、綿衣、襯汗,應係觸衣之類。」
xúc địa ấn
6803梵語 bhūmisparśamudrā。又作觸地契、破魔印、驚發地神印、能摧伏印。乃表降魔之印契。其印相為左手或斂作拳,置於臍上,右手下垂,手掌向內,五指並伸觸地,或覆於膝上;或謂以左手五指執袈裟之衣角。金剛頂蓮花部心念誦儀軌(大一八‧三○五上):「左拳安於臍,右羽垂觸地。」膝為地大之意,在深祕表本有大菩提心堅固不動之義。觸地則表驚發本有之心。據大唐西域記卷八載,釋尊成道時,天魔前來嬈亂,釋尊以此印按地,即有地神踊出,證明釋尊之福業勝德,天魔為之退散,故此印又稱證成印、證誠印。又以此印能令諸魔鬼神、一切煩惱悉皆不動,故又稱能滅毘那夜迦諸惡鬼神印。密教現圖金剛界曼荼羅之阿閦如來、胎藏界曼荼羅北方之天鼓雷音如來等皆以此為印相。〔方廣大莊嚴經卷九降魔品、諸佛境界攝真實經卷中金剛界大道場品、大日經疏卷四〕
xúc độc
xem bốn thứ độc.
; 6804謂觸塵害人,猶如毒之傷人。觸塵,為六塵之一,指身根所對之境,共十一觸,即地、水、火、風四大種(以堅、濕、煖、動為性),及滑性、澀性、重性、輕性、冷、饑、渴。毘奈耶雜事卷九(大二四‧二四四下):「女是觸毒,被摩觸時,心便動亂,發諸惡念。」
; The poison of touch.
; Sự độc hại của xúc chạm, từ ám chỉ đàn bà—The poison of touch, a term applied to woman.
xúc động
To be moved (touched—affected).
xúi
See Xui.
xúi quẩy
Unlucky.
xúm
To gather together—To assemble—To meet.
xúm lại
To gather together—To crowd around someone.
xúng xính
Ample (clothes).
xưa kia
Formerly.
xưa nay
Formerly and today.
xưng
To call, style, invoke.
; 1) Kêu gọi: To call—To invoke. 2) Nhận tội: To confess.
xưng danh
5873又作稱佛、唱名、念佛。即稱念諸佛、菩薩之名號,目的在袪除災害苦惱,消滅罪障,往生淨土,乃至得不退轉。增一阿含經卷四十七(大二‧八○五下):「皆稱南無佛,釋師最勝者;彼能施安隱,除去諸苦惱。」又法華經觀世音菩薩普門品(大九‧五六下):「若有無量百千萬億眾生,受諸苦惱,聞是觀世音菩薩,一心稱名,觀世音菩薩即時觀其音聲,皆得解脫。」 另據觀彌勒菩薩上生兜率天經載,於一念間稱彌勒之名,得除卻一千二百劫之生死罪。據觀無量壽經載,稱「南無阿彌陀佛」,能於念念中除八十億劫之生死罪,得往生極樂世界。 淨土宗多稱念南無阿彌陀佛,並將念佛解釋爲稱名,主張稱名念佛爲往生淨土之正定業。念佛之「念」,本爲「觀念」之念,將此特指稱念佛陀之名號,亦稱爲「稱名念佛」。於往生禮讚後序與觀經玄義分中,皆說彌陀本誓之重願不虛,行者若一心歸命,即便稱念十聲亦得往生。又往生禮讚前序說明勸人稱念之原因,謂眾生之障礙極重,以粗心觀細境,神飛而識揚,難有成就,故彌陀以大聖悲憫,直勸眾生修行極簡易之稱名。 又據釋淨土群疑論卷七載,大念,意謂大聲稱佛,較易成三昧;小念,意謂小聲稱佛,多易馳散,難得有成。此外,以一聲稱名,或以一念之信心,即可消除迷界罪業之因,稱爲一念滅罪。而在一生當中,多念佛名而漸次消除罪業者,則稱爲多念滅罪。〔長阿含經卷十五、觀佛三昧海經卷九本行品、悲華經卷一、法華經方便品、請觀世音菩薩消伏毒害陀羅尼咒經、法華經文句卷十下〕(參閱「念佛」3208)
; To invoke the (Buddha's) name, especially that of Amitàbha.
; 1) Niệm hồng danh một vị Phật, đặc biệt là Phật A Di Đà: To invoke the Buddha's name, especially that of Amitabha. 2) Tự nói tên mình ra: To say one's name.
xưng danh chánh hành
Còn gọi là Chánh Ngữ Hành—See Bát Chánh Đạo (3).
xưng danh tạp hành
5874爲唐代淨土宗善導大師所立五種雜行之一。除稱念阿彌陀佛之名號外,稱念其餘一切佛、菩薩及諸天等名號,稱爲稱名雜行。(參閱「五雜行」1208、「正雜二行」2005)
; Tín ngưỡng nhiều vị Phật thay vì chỉ trung thành với Đức Phật A Di Đà, nghĩa là không chuyên tụng niệm danh hiệu Đức A Di Đà, mà niệm hồng danh chư Phật, chư Bồ Tát, và ngay cả chư tổ sáng lập ra các tông phái—To worship a variety of Buddhas, etc., instead of cleaving to Amitabha alone.
xưng dương chư phật công đức kinh
5875凡三卷。北魏吉迦夜譯。又稱現在佛名經、諸佛華經、稱揚諸佛經、集諸佛華經、集華經。收於大正藏第十四冊。佛陀於經中自命本經經名爲「稱揚諸佛功德法品」或「集諸佛花」。經中列舉諸佛世界及佛名,並讚歎其功德。上卷以東方天神世界之寶海如來爲首,讚歎四十九佛之德;中卷讚歎南方真珠世界之日月燈明如來以下三十八佛之德;下卷讚歎以西方極樂世界阿彌陀佛爲始之三佛及北方阿竭流香世界寶月光明如來爲始之三佛,其次爲上方寶月世界之金寶光明如來以下二十七佛之功德。
xưng hiệu
5875請參閱 稱揚諸佛功德經 又作名稱。於諸佛之稱號中,自古即以如來(梵 tathāgata)、應供(梵 arhat)、正遍知(梵 samyak-sambuddha)、明行足(梵 vidyācaraṇa-saṃpanna)、善逝(梵 sugata)、世間解(梵 loka-vid)、無上士(梵 anuttara)、調御丈夫(梵 puruṣa-dymya-sārathi)、天人師(梵 śāstā deva-manuṣyānāṃ)、世尊(梵 bhagavat)等十號著名於世。於僧眾之稱號中,依戒律而有阿闍梨、和尚等,依僧官之職務則有僧正、僧都、律師等。此外,又有國師、大師、禪師等尊稱。
xưng hô
Tăng: - chú tiểu - chú: dành cho Sa di - Đại đức: dành cho Tỳ kheo - Thượng toạ - Hoà thượng: cấp bực cuối cùng bên Tăng.
xưng niệm
5874口中稱誦佛之名號,心中亦同時念佛,即稱名念佛之意。若僅於內心觀想佛理及佛之相好,則稱爲觀念。護國尊者所問大乘經卷四(大一二‧一二中):「旋遶世尊,志心稱念:『南無成義意如來應正等覺所說妙法,及苾芻眾,我悉歸依。』」(參閱「念佛」3208)
xưng pháp bản giáo
5874又作稱性本教。爲「逐機末教」之對稱。謂契合法性之根本教說。爲華嚴宗用語,特指華嚴經之旨趣。據華嚴經所載,釋尊始成正覺之時,曾將自心之悟證,向文殊、普賢等大機菩薩開示。其教法卷舒自在、融通無礙,均契合真理而成爲根本教說,故稱「稱法本教」。其後爲適應小乘,三乘等根機而說之枝末教法,稱爲逐機末教。逐機,應機之意。華嚴宗即以闡揚別教一乘之華嚴經說爲稱法本教,或根本法輪;而謂該經以外其餘經典之所說皆演生自華嚴經,遂稱爲逐機末教,或枝末法輪。 華嚴一乘教義分齊章卷一(大四五‧四八二中):「教起前後者,初明稱法本教,二明逐機末教。初者謂別教一乘,即佛初成道第二七日,在菩提樹下(中略)演說十十法門。」
xưng pháp giới
5874又作稱性、稱法。謂契合於法界之真性。華嚴宗以華嚴經之所說,無不契合於法界真性,故謂之稱法界。華嚴經傳記卷一(大五一‧一五三上):「此經是毘盧遮那佛法界身雲,在蓮華藏莊嚴世界海,於海印三昧內,與普賢等海會聖眾,爲大菩薩之所說也;凡一言一義,一品一會,皆遍十方虛空法界及一一微塵、毛端、剎土,盡因陀羅網微細世界,窮前後際一切劫海。(中略)此乃圓滿法輪稱法界之談耳。」
xưng phật
Niệm hồng danh một vị Phật—To invoke a Buddha.
xưng tán
5875謂稱揚讚歎其功德。據稱揚諸佛功德經卷下載,受持諷誦諸佛名字,顯揚讚歎如來功德而廣於宣傳者,得不退轉,速成無上正真道,無數之天魔亦不能毀壞其無上道心,所生之處皆爲嚴淨佛剎,常得值遇諸佛世尊;又端正殊妙而容顏光澤,常能解了無量智慧,得無礙辯才,常爲眾生闡揚大法等。阿彌陀經(大一二‧三四八上):「舍利弗!如我今者稱讚諸佛不可思議功德。」 又據四十華嚴經普賢行願品載,常讚揚如來之聖德,稱爲「稱讚如來」,爲菩薩十種行願之一。此外,吝於讚揚者,稱爲稱讚慳,屬五慳吝之一。〔稱讚淨土經、成實論卷十二〕
; To praise
; To praise.
Xưng tán Như Lai công đức thần chú kinh 稱讚如來功德神呪經
[ja] ショウサンニョライクドクシンジュキョウ Shōsan nyorai kudoku shinju kyō ||| The Chengzan rulai gongde shenzhou jing (T 1349.21.863-864); alternative translation of the Shier fo ming shenzhou jiaoliang gongde chuzhang miezui jing 十二佛名神呪校量功德除障滅罪經. => (c: Chengzan rulai gongde shenzhou jing). Tên gọi khác của kinh Thập nhị Phật danh thần chú hiệu lượng công đức trừ chướng diệt tội kinh (c: Shier fo ming shenzhou jiaoliang gongde chuzhang miezui jing 十二佛名神呪校量功德除障滅罪經).
xưng tán thất phật danh hiệu công đức kinh
5875全一卷。又稱受持七佛名號所生功德經、受持七佛名號經、七佛名號功德經、七佛名經。唐代玄奘(602~664)譯。收於大正藏第十四冊。內容係佛陀對舍利子開示受持七佛名號者將得無量功德。七佛,即:(一)離垢眾德莊嚴土之輪遍照吉祥如來,(二)妙覺眾德莊嚴佛土之妙功德住吉祥如來,(三)眾生主土之一寶蓋王如來,(四)自在力土之善逝定迹如來,(五)最勝寶土之寶華光吉祥如來,(六)寂靜珠土之超無邊迹如來,(七)最上香土之妙香王如來。又上記之前五佛皆位於東方,後二佛則位於南方。
Xưng tán thất Phật danh hiệu công đức kinh 稱讚七佛名號功德經
[ja] ショウサンシチブツミョウゴウクトクキョウ Shōsan shichibutsu myōgō kudoku kyō ||| An alternative title for the 受持七佛名號所生功德經. => Tên gọi khác của Thọ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức kinh受持七佛名號所生功德經.
Xưng tán tịnh độ Phật nhiếp thọ kinh 稱讚淨土佛攝受經
[ja] ショウサンジョウトブツショウジュキョウ Shōsan jōdo butsu shōju kyō ||| The Chengzan jingtu fo sheshou jing Sukhāvatī-vyūha (Sutra In Praise of the Pure Land). One fascicle, T 367.12.348-351. translated by Xuanzang 玄奘 in 650 at Dacien Monastery. This is an important Pure Land Sutra commonly known as the Smaller Sukhāvati Sutra. Separate English translations of Sanskrit and Chinese versions of the Larger and Smaller Sukhāvati Sutras are offered in Gomez (1996). Gomez uses the Kumārajīva version of the Smaller Sutra, with some reference to Xuanzang's version. => (c: Chengzan jingtu fo sheshou jing Sukhāvatī-vyūha; e: Sutra In Praise of the Pure Land). Một quyển, Huyền Trang dịch năm 650 tại Đại từ Ân tự. Đây là bảm kinh quan trọng của Tịnh độ tông thường được biết với tên Tiểu bổn A-di-đà kinh (e: Smaller Sukhāvati Sutra). Sự khác nhau trong bản dịch tiếng Anh từ bản tiếng Sanskrit và bản tiếng Hán của Đại bổn và Tiểu bổn A-di-đà kinh (e: Larger and Smaller Sukhāvati Sutras) được Gomez đưa ra năm 1996. Gomez đã dùng Tiểu bổn A-di-đà kinh của Cưu-ma-la-thập dịch, cùng tham khảo nhiều đoạn với bản dịch của Huyền Trang.
xưng tán tịnh độ phật nhiếp thụ kinh
5876全一卷。唐代玄奘譯。略稱稱讚淨土經。收於大正藏第十二冊。內容闡說極樂國土之依報莊嚴,及阿彌陀佛與聲聞菩薩眾之數無量,並勸說一日至七日一心不亂,以求往生。爲鳩摩羅什所譯阿彌陀經之異譯。兩譯本之文段章句等大略一致,然於諸佛之稱讚部分,阿彌陀經列舉六方三十八佛,本經則列舉十方四十二佛。本經之注釋書有靖邁之稱讚淨土佛攝受經疏一卷、窺基之稱讚淨土佛攝受經述讚一卷等。〔大唐內典錄卷六、古今譯經圖紀卷四、開元釋教錄卷八〕
xưng tán tịnh độ thất kinh
5876即淨土教所依據之七部經典;此七經皆讚歎淨土之殊勝,故有此稱。又稱淨土七經。七經,即:(一)無量清淨平等覺經四卷,後漢支婁迦讖譯。(二)大阿彌陀經二卷,宋代王日休校輯(另一本爲吳之支謙譯)。(三)無量壽經二卷,曹魏康僧鎧譯。(四)觀無量壽經一卷,劉宋畺良耶舍譯。(五)阿彌陀經一卷,姚秦鳩摩羅什譯。(六)稱讚淨土佛攝受經一卷,唐代玄奘譯。(七)阿彌陀鼓音聲王陀羅尼經一卷,譯者不詳。
Xưng tán Đại thừa công đức kinh 稱讚大乘功德經
[ja] ショウサンダイジョウクトクキョウ Shōsan daijō kudoku kyō ||| The Chengzan dasheng gongde jing; (Sutra on the Merit of Extolling Mahāyāna). One fascicle, T 840.17.910-912. Translated in 654 by Xuanzang. Makes distinctions between the relative merits of lesser and greater vehicles. => (c: Chengzan dasheng gongde jing; e: Sutra on the Merit of Extolling Mahāyāna). Một quyển, Huyền Trang dịch năm 654. Kinh đề cập đến sự khác nhau giữa công đức của Tiểu thừa và Đại thừa.
xưng tội
Xem Ba la đề đề xá niXem Phát lồ.
; To confess one's sins.
xưng tụng
To praise.
xưng ý hoa
Còn gọi là hoa “đẹp ý,” được Sir Aurel Stein cho rằng đây là loại “đại hoàng” dại (loại hoa đẹp ý, còn gọi là Tu Mạn Na hay Tu Mạt Na, có nghĩa là thiện nhiếp ý hay hoa “đẹp ý,” màu vàng trắng, hương rất thơm, cây không lớn, cao khoảng dưới mười bộ Anh, tàn lá xòe ra như cái lọng)—The soma plant, suggested by Sir Aurel Stein as possibly wild rhubarb.
Xưng Đức Thiên Hoàng
(稱德天皇, Shōtoku Tennō, tại vị 764-770): vị Thiên Hoàng sống vào khoảng cuối thời Nại Lương, người lên ngôi lần thứ hai (trước đó là Hiếu Khiêm Thượng Hoàng [孝謙上皇, Kōken Jōkō]). Vào năm 764 (niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo [天平勝寳] thứ 8), sau khi Thuần Nhân Thiên Hoàng (淳仁天皇, Junnin Tennō) bị phế vị, ông lên ngôi vua, bắt đầu trọng dụng Đạo Kính (道鏡, Dōkyō), ban cho vị này chức Pháp Vương và tiến hành chính trị chuyên chế.
Xưng 稱
[ja] ショウ shō ||| (1) To measure weight. (2) Measure, weight. (3) To praise, admire. (4) Praise, admiration; fame, honor, prestige. => 1. Cân lượng. 2. Đơn vị đo lường, trọng lượng. 3. Tán dương, ca ngợi. Thán phục. 4. Sự tán thán, sự thán phục; danh tiếng, thanh danh, uy tín. Xướng 唱 [ja] ショウ shō ||| (1) To call out, to shout out. (2) To praise, extol, admire, laud. (parikīrtayati) (3) To sing. [歌] (4) To guide, instruct. [導] (5) To explain. [説] => 1. Có các nghĩa sau: 2. Gọi, kêu lên. 3. Tán dương, ca tụng, thán phục, khen ngợi (s: parikīrtayati). 4. Ca hát. 5. Hướng dẫn, chỉ dẫn (Đạo導). 6. Giảng giải (Thuyết 説).
xương
Bone.
xương bọc da
The body was reduced to almost a skeleton.
Xương hạp
(閶闔): (1) Cửa Trời, cổng Trời. Trong bài Lương Phủ Ngâm (梁甫吟) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Xương hạp cửu môn bất khả thông, dĩ ngạch khấu quan hôn giả nỗ (閶闔九門不可通、以額叩關閽者怒, cửa Trời chín cổng chẳng thể thông, lấy trán gõ cửa lính nổi giận).” (2) Cửa chính của Hoàng Cung. Như trong bài thơ Hòa Cổ Xá Nhân Tảo Triều Đại Minh Cung Chi Tác (和賈舍人早朝大明宮之作) của Vương Duy (王維, 701-761) nhà Đường có câu: “Cửu thiên xương hạp khai cung điện, vạn quốc y quan bái miện lưu (九天閶闔開宮殿、萬國衣冠拜冕旒, chín tầng cửa chính bày cung điện, vạn quốc áo mão bái hoàng triều).” (3) Gió thu, còn gọi là xương hạp (昌盍). Như trong đoạn thứ 2 của Du Tiên Thi (游仙詩) do Quách Phác (郭璞, 276-324) nhà Tấn sáng tác, có câu: “Xương hạp Tây Nam lai, tiềm ba hoán lân khởi (閶闔西南來、潛波渙鱗起, gió Thu Tây Nam đến, ẩn sóng vây cá nỗi).”
Xương Hải
(昌海, Shōkai, ?-?): vị Tăng của Pháp Tướng Tông sống vào khoảng đầu thời Bình An, tự là Xương Hải (昌海), xuất thân vùng Nại Lương (奈良, Nara). Ông xuất gia lúc còn nhỏ tuổi, và học Pháp Tướng cũng như Duy Thức với Thiện Châu (善珠) ở Thu Tiểu Tự (秋篠寺) thuộc vùng Đại Hòa (大和, Yamato). Sau ông đến sống ở Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji), rồi chuyển đến vùng Quảng Cương (廣岡) ở Đại Hòa và hoằng bá Pháp Tướng Tông. Tác phẩm của ông có A Di Đà Hối Quá (阿彌陀悔過) 1 quyển, Tây Phương Niệm Phật Tập (西方念佛集) 1 quyển.
xương xương
Slightly.
Xước Như
(綽如, Shakunyo, 1350-1393): vị Tăng sống vào khoảng thời đại Nam Bắc Triều, vị Tổ đời thứ 5 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), húy là Thời Nghệ (時芸), tên lúc nhỏ là Quang Đức Hoàn (光德丸), thông xưng là Trung Nạp Ngôn, hiệu là Xước Như (綽如), Nghiêu Văn (堯文), Châu Viên (周圓), xuất thân vùng Kyoto, con trai của Thiện Như (善如, Zennyo), vị Tổ kế thế đời thứ 4 của Bổn Nguyện Tự. Năm 1375, ông kế thế trú trì Bổn Nguyện Tự. Đến năm 1385, 1389 ông viết tờ trạng nhường chức lại cho con mình là Xảo Như (巧如, Gyōnyo) để đi khắp nơi giáo hóa, vào năm 1390 thì ông Thoại Truyền Tự (瑞泉寺, Zuisen-ji) ở vùng Việt Trung (越中, Ecchū). Một mặt ông mở rộng địa bàn hoạt động giáo hóa ở vùng Bắc Lục (北陸, Hokuriku), mặt khác thì ông đặt ra chức Gíam Dịch, Ngự Đường Chúng ở Bổn Nguyện Tự, và chỉnh đốn thể chế trong chùa theo quy mô Tự Viện. Đến năm 1393, lần thứ 3 ông trao tờ trạng nhượng chức cho con mình rồi qua đời. Trước tác của ông để lại có Nhập Xuất Nhị Môn Kệ Dẫn Ký (入出二門偈引記) 1 quyển, v.v.
Xướng
唱; C: chàng; J: shō;|Có các nghĩa sau: 1. Gọi, kêu lên; 2. Tán dương, ca tụng, thán phục, khen ngợi (s: parikīrtayati); 3. Ca hát (ca 歌); 4. Hướng dẫn, chỉ dẫn (đạo 導); 5. Giảng giải (thuyết 説).
xướng
1) Ca hát: To sing. 2) La lớn lên: To cry out.
xướng ca
See Xướng.
xướng danh
1) Kêu tên—To call on, or to cry out, the name. 2) Niệm hồng danh của Phật: To call on the name of Buddha.
xướng họa
Unison.
xướng hồng danh chư phật
To call on the names of the Buddhas.
xướng khởi
To take the initiative in doing something.
xướng lễ
4419即在法會時唱頌禮拜之儀式,一般唱頌五悔、五大願等文。於密教,則指行者對於附上曲譜之正法守護善神等偈頌,唱頌並禮拜之。唱禮之初,所唱奉請之佛名,有金剛界、胎藏界,及金胎兩部合供等三種差別。(一)金剛界,唱禮南無常住三世淨妙法身金剛界大悲毘盧遮那佛、南無金剛堅固自性身佛、南無福德莊嚴聚身阿閦佛、南無受用智慧身寶生佛等。(二)胎藏界,唱禮南無清淨法身毘盧遮那佛、南無東方寶幢佛、南無西方無量壽佛、南無南方華開敷佛、南無北方天鼓雷音佛等。(三)金胎兩部合供,唱禮南無胎藏金剛界清淨法身大悲毘盧遮那佛、南無東方寶幢阿閦佛、南無南方華開敷寶生佛、南無西方無量壽阿彌陀佛等。此蓋依法會而異,如阿彌陀三昧時,用金剛界之彌陀唱禮;盂蘭盆三昧時,用胎藏界之彌陀唱禮。我國夙有唱禮儀式,依日僧圓仁之入唐求法巡禮行記所載,關於揚州觀音院之天台大師忌日設齋之行事,其順序為梵音、轉經、三禮、歎佛、齋文、佛名、唱禮。日本東密別無唱禮名目,惟表白終後,由導師唱五悔(胎藏界則是九方便)、勸請、五大願(胎藏界則是五誓願)、小祈願、禮佛,而總稱為唱禮。又法會中,唱禮多由供養導師所兼。〔大日經卷一具緣品、三昧流口傳集卷下(良祐)〕
; Biểu bạch trong pháp hội (các sư đăng lễ đàn xướng đọc bài văn ngũ hối, ngũ đại nguyện)—To announce the ceremonial duty.
xướng nghị
To propose.
xướng phách tương tuỳ
4417指唱歌與相合之拍手節奏相當緊密、調和。比喻師徒之證契相溝通。碧巖錄第六十四則(大四八‧一九五上):「南泉復舉前話,問趙州,州便脫草鞋,於頭上戴出。南泉云:『子若在,恰救得貓兒。』(唱拍相隨,知音者少,將錯就錯)」
xướng thực
4418即唱施食之偈。又稱施食。禪院行粥飯食事時,唱咒願文,稱為唱食。禪苑清規卷一載,粥時唱(卍續一一一‧四四一下):「粥有十利,饒益行人,果報生天,究竟常樂。」齋時則唱:「三德六味,施佛及僧,法界人天,普同供養。」〔敕修百丈清規卷四維那條〕
; Chúc phúc cho chúng sanh trong các bữa ăn—To give the blessing at meals.
xướng tịch
Niệm Niết Bàn, như người ta nói Đức Phật đã làm lúc Ngài thị tịch—To cry or to call on Nirvana, as the Buddha is said to have done at his death.
xướng y
4417由僧之唱和,分配亡僧三衣等物。出於佛制,律中定其作法。據五分律卷二十、四分律卷四十一所載,亡僧生前已與人之物,即與其人,已與人而尚未持取者,作白二羯磨而與之;其生前未與人者,則於現前僧眾中分配之。另對看護病人者之送與,則視彼看護程度而與之。此等分配工作,禁止於亡僧屍身前進行。 又亡僧生前若負債,或為給付療養、喪葬等費用時,一般皆由維那預先評定遺物價格,集合僧眾而競售讓渡之,稱為估唱、提衣、估衣,或稱賣衣。其後,唱衣之法漸生弊病,釋氏要覽卷下唱衣條即述其事,謂於唱賣時爭議價格之高低,喧鬧取笑,以為快樂。〔毘尼母經卷三、十誦律卷二十八、有部目得迦卷八、薩婆多毘尼毘婆沙卷五、四分律刪補隨機羯磨卷下諸分衣法、敕修百丈清規卷二遷化唱衣條、禪林象器箋喪薦門〕
; Còn gọi là Cô Y, hoặc Cô Xướng, nghĩa là khi trong hàng Tỳ Kheo có vị thị tịch, đem phân phối y áo của vị nầy cho chúng Tỳ Kheo có mặt gọi là Xướng Y (khi một vị Tỳ Kheo thị tịch, di vật của vị nầy được chia làm hai loại khinh trọng khác nhau. Vàng bạc, ruộng vườn, nhà cửa là của quý hay trọng vật, được đưa vào hàng vật thường trụ; còn y áo cà sa chúng Tăng đều có gọi là thường vật, được phân phối cho chúng Tăng có mặt bằng cách gọi chư Tăng lại để thỉnh bán những thường vật nầy)—To cry for sale the robes of a deceased monk.
xướng đạo
4418法會或齋會時,宣說教理以開導眾心。與演說、說教同義,然為一種較淺近之教導方法。又唱導係有關經典之講演說話,即就經文而講,故又稱講經、講說、唱說、說法、講導、宣講、宣唱。唱導一詞,出自法華經卷五從地踊出品(大九‧四○上):「是四菩薩,於其眾中,最為上首唱導之師。」天台三大部補注卷九謂,啟發法門稱為唱,引接物機,稱為導。據梁高僧傳卷十三載,昔時佛法初傳,於時齋集,止宣唱佛名,依文致禮,至中宵疲極,事資啟悟,乃別請宿德昇座說法,或雜序因緣,或傍引譬喻。其後,廬山慧遠每於齋集自昇高座,先明三世因果,復辯一齋大意,後代沿襲,遂成永則。 佛世時,舍利弗曾為上座,唱導頗佳。梁高僧傳卷十三復列舉我國當世著名之唱導師,如道照、曇穎、曇光等十人。續高僧傳卷三十雜科聲德篇列舉慧明、立身等人;宋高僧傳卷二十九、卷三十雜科聲德篇亦舉出唱導家法真、無迹等。梁高僧傳卷十三亦舉出唱導師所須具備之四種條件,即:(一)聲,吐音嘹亮則可洗滌塵心。(二)辯,論難時之應變能力。(三)才,出口成章,臨時採博。(四)博,博通經論書史乃至民間技藝。 唐代時,由於部分佛教徒致力於佛法之普及,「唱導」法會逐漸演化為「俗講」法會。故講經對象,不限於教團內僧侶,寺院外之一般世俗民眾亦為說法對象。為布教傳道之方便,平易通俗之說法成為其特色。為使民眾易於理解,於是選擇教材,融合轉讀、讚唄、講經說話。隨著唱導之世俗化,唱導師亦被稱為說法師、化俗法師。續高僧傳收錄數篇唱導時所用之種本、詞章、懺悔文、唱導文等。又從廣弘明集所收二十餘篇廣被依用之唱導文,可知大多為羅列華麗辭藻所成的表白體之唱導文,如真觀之夢賦、王僧孺之禮佛唱導發願文十數首、懺悔禮佛文、初夜文等。此外,我國分類編排有關佛教故事之「經律異相」、「法苑珠林」、「諸經要集」以及感應傳、往生傳、靈驗傳之編纂、流布皆與唱導有密切關係,故唱導為佛教文學之基礎。 日本之唱導,始於七世紀左右聖德太子時,於中世時與平民之日常倫理生活相結合,更加平民化;唱導亦漸成為獨立而職業性之工作,專事技巧,唱導師亦有蓄妻者。唱導亦為日本之藝能、文學形成與發展之要素,由宗教信仰產生內省功夫及敏銳邏輯、倫理能力,賦予日本文學於思索方面之新生命,提供藝能、文學創造之題材。〔大宋僧史略卷中行香唱導條、南海寄歸內法傳卷四、法苑珠林卷二十四〕(參閱「俗講」3727、「說法」5922)
; Thuyết pháp và dẫn dắt chúng sanh—To preach to people and lead them to conversion.
xướng đạo sư
4418<一>法會之首座,唱頌經文時,擔任指導眾僧之職務。又稱導師。(參閱「導師」6219) <二>日本之唱說佛法,以指導人心者,稱為唱導師。又作唱道師。後更運用技巧說教,附加高低曲調,甚或以淚誘人感悟,而終至變質。(參閱「唱導」4418)
; 1) Người thuyết pháp: A preacher. 2) Vị Tăng thủ tòa trong pháp hội: Vị nầy xướng đọc kinh văn để dẫn chúng trong các buổi lễ—The president of a monastic assembly.
xướng đề
4419即唱誦經名。與稱名念佛不同之處,乃前者為唱誦經典題目,後者為稱念佛菩薩名號。經題總攝經典全部內容,若一心唱念經題,則一經所註諸法實相功德,自然圓融,即身成就妙果。南嶽思大禪師立誓願文中載,慧思為人所害,將死時,念般若波羅蜜經之經題,而起死回生。續高僧傳卷十七智顗傳謂,智顗臨終唱誦法華經及觀無量壽經等二經之經題。此外,日本最澄亦闡說唱誦南無妙法蓮華經之功德,至日蓮更力倡唱題之功德為證佛果之方法;故日蓮宗一般又稱唱題宗。(參閱「信念唱題」3717)
xược
Hỗn xược—Impolite—Insolent.
xạ hương
6890梵語 kastūrī。音譯迦薩吐羅。為香料名,乃麝腹部香腺之分泌物。據金光明最勝王經卷七大辯才天女品載,麝香為三十二味香藥之一;其梵語為 mahā-bhāgā(音譯莫迦婆伽)。慧琳音義卷十九(大五四‧四二二下):「麝香,獸也,似鵇而處深山險徑中。雄者,口有牙,臍中有香;雌者,無牙亦無香。」
Xả
捨; S: upekṣā; P: upekkhā;|Là xả bỏ, một trong những đức hạnh quan trọng trong đạo Phật. Xả có nội dung: 1. Tình trạng không vui không buồn, độc lập với vui buồn; 2. Tâm thức vững chắc, nằm ngoài mọi phân biệt. Trong kinh sách đạo Phật, người ta hay hiểu nghĩa thứ hai nói trên. Xả là một trong Bảy giác chi (s: bo-dhyaṅga; p: bojjhaṅga) và Bốn phạm trú (s, p: brahma-vihāra).
xả
Upekśā (S), Equanimity Upekkhā (P), Upekkhā (P), Thản nhiênTha thứ cho chúng sanh, lìa bỏ ý niệm chấp trước các pháp và trụ trong bình đẳng. Trong Tứ vô lượng tâm, gồm: từ (maitri), bi (karuna), hỉ (mudita), xả (upeksa).
; Upeksà (S). Neglect, indifference. abandoning; to relinquish, renounce, abandon, reject, give. Translit sa.
; Upeksa (skt). 1) Còn gọi là Một Xa, nội tâm bình đẳng và không có chấp trước, một trong những đức tính chính của Phật giáo, xả bỏ sẽ đưa đến trạng thái hửng hờ trước những vui khổ hay độc lập với cả hai thứ nầy. Xả được định nghĩa là tâm bình đẳng, như không phân biệt trước người vật, kỷ bỉ; xả bỏ thế giới vạn hữu, không còn bị phiền não và dục vọng trói buộc. Xả là một trong thất giác phần hay thất bồ đề phần. Đức Phật dạy: “Muốn được vào trong cảnh giới giải thoát thậm thâm của các bậc Bồ Tát, Phật tử trước hết cần phải xả bỏ tất cả dục lạc của ngũ dục của phàm phu Self-sacrifice, Neglect, Abnegationt, Indifference, Abandoning, Relinquish, Renounce, Equanimity, To let go—Neutral feeling. One of the chief Buddhist virtues, that of renunciation, leading to a state of iddifference without pleasure or pain, or independence of both. It is defined as the mind in equilibrium, i.e. above the distinction of things or persons, of self or others; indifferent, having abandoned the world and all things, and having no affections or desirs. Upeksa is one of the seven Bodhyangas. The Buddha taught: “If one wishes to penetrate into the profound realm of liberation of the Maha-Bodhisattvas, Buddhists must first be able to let go of all of the five desires of ordinary people.”—See Thất Bồ Đề Phần. 2) Theo Kinh Duy Ma Cật, khi ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đến thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật, ông có hỏi về lòng “xả” như sau—According to the Vimalakirti Sutra, when Manjusri Bodhisattva called on to enquire after Upasaka Vimalakirti's health, Manjusri asked Vimalakirti about “Upeksa” as follows: • Văn Thù Sư Lợi hỏi Duy Ma Cật: “Sao gọi là lòng xả?”—Manjusri asked Vimalakirit: “What should be relinquish (upeksa) of a Bodhisattva?” • Duy Ma Cật đáp: “Những phước báo mà vị Bồ Tát đã làm, không có lòng hy vọng.”—Vimalakirti replied: “In his work of salvation, a Bodhisattva should expect nothing (i.e. no gratitude or reward) in return.”
xả bỏ thân mạng
Pariccaga (S), Self-sacrifice.
xả gia khí dục
Ly gia cắt dục để trở thành một vị Tăng—To leave home and cast off desires, i.e. to become a monk.
xả giác chi
Upekśāyaṅga (S), Upekśā-saṁbodhyaṅga (S)Một trong Thất giác chi.
xả giác phần
Upeksa-bodhyanga (skt)—Abandonment—Xả giác phần còn là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta có thể từ bỏ ngũ dục—Abandonment is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we can turn away from the five desires. ** For more information, please see Thất Bồ Đề Phần in Vietnamese-English Section.
xả giác phần tam muội
Upekśā-Saptabodhyaṅga-Samādhi (S)Một trong Thất giác phần Tam muội. (Xem Saptabodhyanga-Samadhi).
xả la phạn
Sarava (skt)—Bình sứ—A shard—An earthernware vessel.
Xả lạm lưu thuần thức 捨濫留純識
[ja] シャランルジュンシキ sharanrujunshiki ||| One of the 'five-fold penetration to the principle of Consciousness-only' in Consciousness-only theory. The naming of this layer refers to the expulsion of confusion (the dependently arisen objective aspects of consciousness) and the retention of the dependently arisen subjective awareness (見分), the witnessing aspect (證自分), and the rewitnessing aspect (證自證分). The rejection of the confusion caused by the external world and the retention of subjective purity. Also referred to in Consciousness-only as (心境相對)--The 'relation of mind and objects.' => Một trong “Ngũ trùng Duy thức” theo giáo lý của Duy thức tông. Tên của lớp quán nầy là do sự giải trừ mê vọng (sinh khởi do tướng phần của thức) và sự lưu giữ của kiến phần, Tự chứng phần và Chứng tự chứng phần. Sự khiển trừ mê vọng do ngoại cảnh và lưu giữ lại thức thanh tịnh bên trong. Giáo lý Duy thức còn gọi là Tâm cảnh tương đối, nghĩa là 'tính chất tương đối của tâm và cảnh'.
xả nhất thiết công dụng hành
Sarvabhogavigata (skt)—Xả bỏ hết mọi công việc có tính cách dụng công—Discarding all effortful works.
xả niệm thanh tịnh địa
The pure land or heaven free from thinking, the fifth of the nine Brahmalokas, in the fourth of dhyàna region.
; Địa thứ năm trong cửu địa tam giới trong đệ tứ Thiền thiên—The Pure Land or heaven free from thinking, the fifth of the nine Brahmalokas in the fourth dhyana region.
xả thân
4591<一>梵語 ātma-parityāga。指捨棄身命。又作燒身、遺身、亡身。以捨身供養佛等,或布施身肉等予眾生,乃布施行為之最上乘。據大智度論卷十一載,布施財物為外布施,捨身則稱為內布施(所謂內外,意即屬主觀之身與屬客觀之物)。又同論卷十二亦將布施分為上中下三等,其中捨身屬於上布施。有關菩薩捨身之意義,大丈夫論卷上捨身命品謂,菩薩為求一切種智,及悲愍眾生故捨身,同時亦令慳貪之眾生起羞恥心。經典中有不少捨身之例,如:法華經藥王菩薩本事品之藥王菩薩燒身供養、金光明經捨身品之薩埵王子捨身飼虎、北本大般涅槃經卷十四之雪山童子為聞法而捨身予羅剎等。我國自盛行信仰法華經以後,傚藥王菩薩燒身供養者不少,計有梁高僧傳卷十二亡身篇僧群以下十一人,續高僧傳卷二十七遺身篇法凝以下正傳十二人、附見二人,宋高僧傳卷二十三遺身篇僧藏以下正傳二十二人、附見二人等。日本亦屢見不鮮,同時,伴隨淨土宗之流行,亦出現投身、入水往生之風。然凡夫自殺乃佛教所嚴加禁止,四分律卷二曾述及教唆自殺之比丘觸犯戒律之事。此外,南海寄歸內法傳卷四中,於此事亦有詳盡之記載。〔大品般若經卷十六,大寶積經卷八十、菩薩投身飴餓虎起塔因緣經、釋氏要覽卷中〕 <二>設齋會儀式,而捨己身入佛寺。我國南朝梁陳時代,貴族為對佛教表皈依之心,經常有此行為。梁武帝一生曾四次捨身同泰寺,群臣為贖回帝王之身,須納巨額金錢入寺庫,但實際卻導致帝王私寺集贖錢之結果。 <三>於禪門中,指捨身相之執著,為求得真解脫之方法。楞伽師資記(大八五‧一二八九上):「凡捨身之法!先定空空心,使心境寂靜,鑄想玄寂,令心不移。」
; Bodily sacrifice.
; Hoặc như báo ân mà đốt cánh tay, đốt thân thể, hoặc vì bố thí mà cắt thịt xả thân—To sacrifice one's life—Bodily sacrifice, e.g. by burning or cutting off a limb, etc.
xả thí
Tyagà (S). Generous.
xả thọ
Upekśā-vedanā (S)Một trong ngũ thọ.
; Một trong năm trạng thái cảm thọ, trạng thái trong đó con người đã xả bỏ sự đớn đau cũng như lạc thú—One of the five vedanas or sensations, the state in which one has abandon both pain and pleasure—The state of renunciation or indifference to sensation—See Vô Khổ Vô Lạc Thọ, and Ngũ Thọï.
Xả thọ 捨受
[ja] シャジュ shaju ||| (upekṣā). "Perception of neither pleasure nor pain." => (s: upekṣā) Cảm giác không vui thích, không đau khổ.
xả trừ phật đảnh
Xem Trừ Chướng Phật Đảnh.
xả tâm
The mind of renunciation
; Tâm vứt bỏ tất cả, không vướng mắc, một trong tứ vô lượng tâm—The mind of renunciation, one of the four immeasurable minds—See Tứ Vô Lượng Tâm.
xả tâm ba la mật
Upekkhā-pāramitā (P), Perfection of Equanmity.
xả tướng
Upeksà (S) Xem xả.
Xả vô lượng
xem Bốn tâm vô lượng.
xả vô lượng tâm
Upeksa (skt)—Hoàn toàn xả bỏ, một trong tứ vô lượng tâm của chư Phật—Complete abandonment, or absolute indifference (renunciation of the mental faculties), one of the four forms of unlimited, or unsparing mind of all Buddhas—Limitless indifference—Giving up all things—See Tứ Vô Lượng Tâm.
xả định
ra khỏi thiền định, cũng gọi là xuất định.
Xả đọa
xem Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
xả đọa
Niḥsargika (S)Một trọng tội ghi trong Luận tạng: tội thủ đắc trái phép.
; Naihsargika-Pràyascittika (S). The 30th of 250 rules of bhiksus.
xả đọa giới
Trimsan naisargita (P)30 trong số 250 giới của Tỳ kheo.
Xả 捨
[ja] シャ sha ||| (1) To throw away, relinquish, give up, discard, abandon, forsake, renounce (nikṣipati). (2) Transliteration of the Sanskrit sound sa. (3) To abandon mistaken views; the cessation of evil actions by a religious practitioner; to discard evil and attachment. (4) Not striving, as a result of indifference. (5) Serenity of mind. The mental condition of not feeling pleasure or pain, not perceiving things as good or evil (upekṣā). The mind of equality; an unbiased viewpoint. One of the Four Unfathomable Minds (四無量心); one of the Ten Virtuous Elements in the Abhidharmakośa-bhāsya, one of the Eleven Good Function Elements in Yogācāra theory. => 1. Ném đi, từ bỏ, xả bỏ, loại bỏ, không thừa nhận (s: nikṣipati). 2. Chuyển tự âm Sa trong tiếng Sanskrit. 3. Từ bỏ tà kiến; dứt trừ việc ác thông qua tu tập; trừ bỏ việc ác và chấp trước. 4. Không tranh giành. 5. Tâm an tịnh. Tâm hành không có cảm giác vui thích hoặc đau khổ, không thấy có việc tốt hoặc xấu (s: upekṣā). Tâm bình đẳng, không thành kiến. Là một trong Tứ vô lượng tâm; một trong 10 thiện địa pháp theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận , là một trong 11 thiện tâm sở theo giáo lý Duy thức.
xảo
Skilful—Clever.
xảo an chỉ quán
1897指巧用止觀以安心。為天台宗十乘觀法之一。善巧安心止觀之略稱。又作巧修止觀、勤修止觀、止觀修習。謂巧用止觀,以安心於法性之中。因既已發誓,故須依誓立行,然立行之先,須自止觀入手。(參閱「十乘觀法」463)
xảo diệu trí
1897指巧智慧,即一切智智。謂遠離、永息一切戲論,則能穸庖撮z。大日經義釋卷十二(卍續三六‧四五五上):「巧妙智者,即是一切智智之別名也。」〔大日經卷五〕(參閱「一切智智」16)
; 1) Trí thông minh khéo léo: A skillful mind. 2) Trí Huệ Phật: The Buddha's wisdom—See Nhất Thiết Trí Trí.
Xảo diệu 巧妙
[ja] ギョウミョウ gyōmyō ||| Skillful and wondrous; subtle; skillful and wonderful (sauṣṭhava). => Tài giỏi kỳ lạ; tinh tế, vi diệu (s: sauṣṭhava).
xảo minh
Silpasthana-vidya (skt)—See Công Xảo Minh.
Xảo Như
(巧如, Gyōnyo, 1376 -1440): vị Tăng của Chơn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, vị Tổ thứ 6 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), húy là Huyền Khang (玄康), tên hồi nhỏ là Quang Đa Hạ Lữ (光多賀麿), thông xưng là Đại Nạp Ngôn (大納言), hiệu Chứng Định Các (証定閣), Xảo Như (巧如); xuất thân vùng Kyoto, con trai thứ 2 của Xước Như (綽如), vị Tổ đời thứ 5 của Bổn Nguyện Tự. Năm 1394, ông kế thế trú trì Bổn Nguyện Tự. Đến năm 1411, ông lo tổ chức lễ kỵ 150 lần của Thân Loan, rồi năm 1436 thì nhường chức lại cho người con trai đầu của ông là Tồn Như (存如, Zonnyo).
xảo sắc ma ni
1897為雜色之摩尼珠(梵 maṇi)。巧色,即雜色之意。摩尼原具普雨寶財之功能,有令世人充滿希望之德;故藉此比喻佛之萬德能滿足法界一切眾生之各種希求願望。〔大日經疏卷九〕
xảo trí tuệ
The Buddha's wisdom—See Nhất Thiết trí Trí.
xảo độ
1897即菩薩之觀法。相對言之,小乘之觀法,則稱拙度。度,即度越生死之一切行法。
xấu bụng
Bad (ill)-intentioned.
xấu hoắc
Very ugly.
xấu hơn
Worse.
xấu hổ
Shameful—Ashamed.
xấu người
To have an ugly appearance.
xấu nết
To have a bad character.
xấu số
Ill-fated.
xấu tiếng
To have a bad name.
xấu xa
Bad—Evil.
xấu xí
Ugly.
xằng bậy
Foolishly—Wrongly.
xẹp
To be deflated.
xẹp lép
Completely deflated.
xẹp xuống
To become deflated.
xẹt
Shooting (stars).
xẻ
Tu cut or saw up (wood).
xẻ mương
To dig a ditch.
xẻn lẻn
Bashful—Shy.
xẻo
Cut off or out a piece—To excise.
xế
To decline.
xếch
Slant—Askew (eyes).
xếp
1) To fold (up). 2) To set in order—To arrange. 3) Master—Supervisor—Manager.
xếp bằng
To sit cross-legged.
xếp cánh
To fold the wings.
xếp xó
To put in a corner—To neglect.
xếp đặt
To put in order—To arrange—To dispose.
xếp đống
To pile (heap) up.
xề
To come near—To approach.
xềnh xoàng
Simple.
xệ
To prolapse—To drop--Hagging.
xệp
See Xẹp.
xệp xuống
See Xẹp xuống.
xệu xạo
Loose (teeth).
xỉ
Xấp xỉ—Approximately.
xỉ mặt
To shake (point shakingly) the forefinger at someone's face.
xỉ mộc
6203梵語 danta-kāṣṭha,巴利語 danta-kaṭṭha,或 danta-poṇa。音譯禪多抳瑟插、憚哆家瑟詑。又作楊枝。即磨齒刮舌之木片。為印度僧團日常用品。比丘常持十八物之一。五分律卷二十六(大二二‧一七六中):「有諸比丘,不嚼楊枝,口臭食不消。有諸比丘,與上座共語,惡其口臭,諸比丘以是白佛,佛言:『應嚼楊枝。嚼楊枝有五功德,消食、除冷熱唌唾、善能別味、口不臭、眼明。』」可知嚼齒木主要在於除口中臭氣,兼為消化等。 五分律卷二十七舉出關於其嚼法之種種事例。即(大二二‧一七七中):「諸比丘不住一處嚼楊枝,處處污地,佛言:『不應爾。有阿練若處,比丘住一處嚼楊枝。』(中略)有諸比丘臨井嚼楊枝,佛言:『不應爾。』有諸比丘用楊枝竟不洗,虫食而死,佛言:『不應爾,用竟,淨洗乃棄。』有諸比丘乏楊枝,佛言:『聽截去已用處,餘更畜用。』有一比丘以盛革屣囊盛楊枝,革屣糞污之,佛言:『應更以餘物盛。』有諸比丘於溫室、講堂、食堂、作食處、和尚、阿闍梨、上座前嚼楊枝,佛言:『不應爾。』有諸比丘病,和尚阿闍梨上座看之,不敢於前嚼楊枝,佛言:『病時聽。』」關於其長短,有部毘奈耶雜事卷十三載有長、中、短三種。長者十二指,短者八指,介於長、短間之長度為中。玄應音義卷十五載,長者十二指,短者六指。 關於質料,五分律卷二十六載,除漆樹、毒樹、舍夷樹、摩頭樹、菩提樹等五種木不應嚼外,其餘皆可嚼。毘尼日用切要之夾注(卍續一○六‧六七下):「今咸以柳條當楊枝。柳條垂下,乃小楊也。若無柳處,將何梳齒?須知一切木皆可梳齒,皆名齒木,但取性和有苦味者嚼之,不獨謂柳木一種。」此外,密教特於入灌頂道場時,先於三摩耶戒壇由阿闍梨授弟子嚼之。〔增一阿含經卷二十八、大日經卷一具緣品、十一面觀自在菩薩心密言念誦儀軌經卷中、蕤呬耶經卷上、四分律卷十五、卷五十三、十誦律卷十三、摩訶僧祇律卷十六、薩婆多毘尼毘婆沙卷八、有部毘奈耶卷三十六、南海寄歸內法傳卷一朝嚼齒木條〕
xỉ vả
To scold and curse.
xỉa
1) To pick (one's teeth). 2) To interfere. 3) To pay attention (take notice) to—Đếm xỉa.
xỉa xói
See Xỉ Mặt.
xỉn
Bủn xỉn—Misery—Stingy.
xỉu
To faint—To swoon.
xị
Xuôi xị—Bí xị—Sad—Confused (face).
xịt
To spray.
xọc
Dài xọc—Very long.
xọp
To contract—To shrink.
xỏ
1) To thread (needle). 2) To intervene—To interfere.
xỏ lá
Roguish.
xỏ mũi
To lead by the nose.
xốc
To lift—To raise.
xốc xếch
Careless—Untidy.
xối
To pour water (liquid).
xốp
Spongy.
xồm xàm
Hairy.
xổ lồng
To break free from the cage.
xổi
Temporary.
xổm
To squad down.
xộ
Wrong—Erroneous—Mistaken.
xộp
See Xốp in Vietnamese-English Section.
xứ
4782梵語 āyatana,巴利語同。音譯阿耶怛那。處,舊譯為入。為心、心所生長門之義。心王、心所以處為所依,緣處而生長,若離處,則不得生長。一切諸法分為五蘊、十二處、十八界等三科,其中六根、六境合為十二處。亦即指以六根為所依、六境為所緣,根與境為能生長心、心所作用之處所,故稱十二處或十二入。法界次第卷上載,舊譯入者,為「涉入」之義,根、塵(即境)相對則產生「識」,故識係依根、塵而為「能入」,根、塵即是識之「所入」。大毘婆沙論卷七十三除列生門之義,更舉生路、藏、倉、經、殺處、田、池、流、海、白、淨等十一義。〔俱舍論卷一、阿毘達磨雜集論卷二、大乘法苑義林章卷五本〕(參閱「三科」589)
; Āgāra (S), Dwelling Nhà.
; To dwell, abide; a place, state. Ayatana (S). also tr. Nhập, place or entrance of the sense, both the organ and the sensation, or sense datum. Sphere, regions. Lục xứ. Sadàyatana (S). Six spheres of sense-organs. Thập nhị xứ, twelve àyatana, i.e. six organs and six sense data that enter for discrimination.
; 1) Nơi chốn: Place. 2) Trú ngụ: To dwell—To abide.
xứ bất thoái
Not to fall away from the status attained.
; Nơi không còn thoái lui trở lại nữa—Not to fall away from the status attained.
xứ khiêm
4783<一>(1011~1075)北宋永嘉(浙江永嘉)人,俗姓潘。字終倩。九歲出家,從契能學教觀,後師事神照,深究圓、頓教之旨,不久擢為第一座。契能入寂,師繼其席。其後歷住慈雲、妙果、赤城等剎,講道益盛。又應節度使李端
xứ mạt-lê-viên
Mallikā (S)Mạt lỵ lợi- Vợ vua Ba tư nặc, thành Xá vệ, có qui y tam bảo. - Mạt lỵ còn là tên một thứ hoa rất thơm ở Thiên trúc.
Xứ phi xứ lực
cũng gọi là “xứ phi xứ trí lực”. Theo luận Du-già quyển 50, tờ 2, đức Như Lai thành tựu Xứ phi xứ trí lực nên đối với các nhân đều rõ biết như thật; đối với các quả cũng rõ biết như thật, vì thế có thể hàng phục các luận thuyết vô nhân hoặc ác nhân của ngoại đạo. Vì thế, trí lực này cũng có thể gọi là Trí lực phân biệt như thật. Xem Mười sức.
xứ trung
4782謂處於非空非有之中道。世尊出世,即隨順眾生之根機,為其說處中妙理之道。又「非律非不律儀」亦稱處中,即既非如一般受五戒、八戒、十戒、具足戒等戒之律儀,亦非如立誓殺生而得惡戒等之不律儀(又稱惡律儀),其體不出善或不善,故稱處中。
xứ tịch
4782(648~734)唐代淨眾宗僧。綿州(四川)浮城人,俗姓唐。又稱唐和尚、唐禪師。然宋高僧傳載其俗姓為周。家系世代為名儒。十歲喪父。出家後,師事智詵;或謂師事寶修禪師。據傳曾北上修苦行,受則天武后徵召入內,賜予袈裟。後歸四川住資州德純寺,教化眾生。弟子有淨眾寺無相。開元二十二年示寂,世壽八十七。又其生卒年尚有他說。
xứ xứ kinh
4783全一卷。東漢安世高譯於建和二年至建寧三年間(148~170)。收於大正藏第十七冊。本經係以彙集佛教各方面之知識為主,屬漢譯經典中之初期譯作。內容分為五十餘項,間有介紹佛、菩薩、阿羅漢、辟支佛等之特性。又全經較著重修行及道德實踐之記述,故有關戒律之記載亦隨之增加。〔出三藏記集卷四、眾經目錄(法經)卷四、眾經目錄(靜泰)卷四〕
Xứ xứ 處處
[py] chùchù [wg] ch'u-ch'u [ko] 처처 ch'ŏch'ŏ [ja] ショショ shosho ||| Here and there; each place; each situation. (tatra-tatra, deśe-deśe) => Khắp đó đây; hiện diện ở mỗi nơi, trong mỗi hoàn cảnh
Xứ 處
[ja] ショ sho ||| (1) To be at (a certain place), to be located. To dwell, to abide in, to occupy. To stop, to stay at. (2) To place; to put in a certain place. (3) To distinguish, to decide, to settle, to judge. (4) A place 所, a location, a scene, a situation, a region, an area. (5) To manage, to adjust, to attend to, to deal with. (6) To have use for. [Buddhism] (sthāna, deśa, prthivīpradeśa). (1) 'Locus.' A place or location of a 'scene' of occurrence, especially referring to the location of the material realm. (2) The place of the meeting between the organs of perception and their objects. See shierchu 十二處. The locus for the arising of the mental functions. (3) A standpoint, viewpoint. (4) An indicator of the locative.
xứng
4270計物輕重之用具。又稱權衡。大莊嚴論經卷十二(大四‧三二二下):「爾時(尸毘)大王,不惜身命,即登秤上。」長阿含經卷十三(大一‧八四上)亦有「不為虛詐斗秤欺人」之句。大方廣菩薩藏文殊師利根本儀軌經卷三將秤宮列為三十六宮之一。印度之窟院壁畫及浮雕,大多繪有秤之圖像,如描寫地獄諸種變相,或死者於閻魔王前被計量罪之輕重等。古代印度之重量單位異說殊多,然西元前四世紀頃已有錘、秤製作法之記載。佛典中有關重量單位之說,如大乘入楞伽經卷一(大一六‧五九二中):「幾塵成芥子,幾芥成草子,復以幾草子,而成於一豆。幾豆成一銖,幾銖成一兩,幾兩成一斤,幾斤成須彌。」或法華經卷六藥王菩薩本事品(大九‧五三中):「又雨海此岸栴檀之香,此香六銖,價直娑婆世界。」皆為其例。 我國單位構成及進位法與印度不同,秦漢時代通行絫、銖、兩、斤、鈞、石之單位,其中鈞、石不久即廢,其他則為後世計量之基準。唐代之二銖四絫,約當於一兩的十分之一。北宋太宗時,一錢之千倍為一貫,一貫的十分之一稱為一分,又以一分的十分之一稱為一釐。除絫等為通用之重量單位,另有錘、錙之單位。如慧琳音義卷一○○錙銖條,以黍為始,十黍為一絫,十絫為一銖,六銖為一錙,錙即是分。四分為一兩,十六兩為一斤,三十斤為一鈞,四鈞為一石,即一二○斤。日本初沿襲唐制,後又承北宋貫錢制而普遍使用。〔修行道地經卷五、順正理論卷一、漢書卷二十一上律歷志〕
; Correspondent to (with)—Commensurate with—Suitable.
xứng cung
4270梵名 Tulā。十二宮之一。又作秤量宮、天秤宮。位於黃道上,當太陽九月時之位置。於密教之圖像中,位於北斗曼荼羅第二院之東方,或胎藏現圖曼荼羅外院之西方。其形像為仙人狀之裸體老人,左臂上舉,執秤,兩足立地,作步行狀。宿曜經(大二一‧三八七中):「第三角二足,亢西足,氐三足,太白位焉。其神如秤,故名秤宮,主寶庫之事。」
xứng hợp
To be suitable.
Xứng Hữu 稱友
[ja] ショウユウ Shōyū ||| Yaśomitra, an early Indian Abhidharma scholar. Author of the Sphuṭārthā Abhidharmakośavyākhyā, which is extant only in Sanskrit and Tibetan (Peking no. 5593). =>Shōyū (j); Yaśomitra (s). Nguyên học giả Ấn Độ về môn A-tỳ-đạt-ma, là tác giả của Sphuṭārthā Abhidharmakośavyākhyā, hiện chỉ còn bản tiếng Sanskrit lưu hành ở Tây Tạng.
Xứng lý 稱理
[ja] ショウリ shōri ||| To accord with reality (yukta). => (s: yukta). Phù hợp, khế hợp với chân lý (thực tại, thực tế).
Xứng lượng 稱量
[ja] ショウリョウ shōryō ||| To determine; to figure out. => Xác định, quyết định; hiểu ra, luận ra.
xứng pháp hạnh
Hạnh nầy được áp dụng cho cả Tịnh Độ lẫn Thiền Tông—True Thusness Dharma—The practice being in accord with the Dharma. This practice is applied in both the Pure Land and the Zen sects: 1) Tịnh Độ Xứng Pháp: Tâm của hành giả Tịnh Độ phải luôn tập trung vào lục tự Di Đà—True Thusness Dharma for the Pure Land. Practitioners' mind should always focus on the words “Amitabha Buddha.” 2) Thiền Tông Xứng Pháp: Tâm của hành giả nhà Thiền lúc nào cũng như tâm Phật, từ đi, đứng, nằm, ngồi, không rời chánh niệm. Hành giả dù chỉ rời chánh niệm một chốc, thì chốc ấy người nầy chẳng khác một thây ma—True Thusness Dharma for the Zen—Zen cultivators' mind should always be in accord with the Thusness, whether they are walking, standing, reclining, or sitting, without leaving the “Mindfulness.”
Xứng pháp 稱法
Phù hợp, khế hợp với chính pháp.
Xứng thể tài y 稱體裁衣
[ja] ショウタイサイエ shōtai sai-e ||| "To cut the garments according to the body." => Tuỳ theo vóc dáng mà may áo quần cho vừa vặn.
xứng với
To be correspondent to (with) something.
xừng
To rise—To raise.
xử
1) Đối xử: To behave towards someone—To treat. 2) Xét xử: To condemn—To judge—To try.
xử hòa
To conciliate—To settle the difference with no one loss—To reconcile.
xử phạt
To punish according to the law.
xử sự
To behave.
xử trí
To act—To resolve.
xử trị
To punish.
Xử Tịch
(處寂, Shojaku, 648-734): vị tăng của Tịnh Chúng Tông (淨眾宗) Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, người vùng Phù Thành (浮城), Tuyến Châu (線州), họ Đường (唐), nên được gọi là Đường Hòa Thượng, Đường Thiền Sư; tuy nhiên Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳) lại ghi họ ông là Chu (周). Gia đình ông thuộc loại danh Nho, năm lên 10 tuổi đã để tang cha. Sau khi xuất gia, ông theo hầu Trí Tiển (智銑, 609-702), hay có thuyết cho là theo hầu Thiền Sư Bảo Tu (寳修). Truyền ký cho biết rằng ông từng lên miền Bắc tu khổ hạnh, được Tắc Thiên Võ Hậu triệu vào cung nội, ban cho Tử Y. Sau ông trở về Tứ Xuyên, sống ở Đức Thuần Tự (德純寺) vùng Tư Châu (資州), chuyên tâm giáo hóa chúng sanh. Đệ tử của ông có Vô Tướng (無相) ở Tịnh Chúng Tự (淨眾寺).
xử đoán
To judge and decide.
xửng
very light.
xửng vửng
To feel dizzy.
Y
依; C: yī; J: e.|Cơ sở, căn bản (s: saraya, sama-, samupa-, samyoga, niśraya, niśrita, niśritya); 2. Nguyên nhân khiến cho mọi vật hiện hữu; 3. Nền tảng, nơi an trú (của mọi vật); 4. Nền tảng của sự chấp trước. Những yếu tố tạo nên sự hiện hữu (trong sự tạo thành thật thể luân hồi từ quá khứ đến tương lai). Phiền não, nhiễm ô, chấp trước. Vì phiền não là điều kiện căn bản (sở y) của vô số cảnh giới (năng y) khổ đau, nên có hai tầng bậc ý nghĩa của thuật ngữ (s: upādhi: thật thể luân hồi); 5. Quy tắc, luật lệ, sự chỉ đạo. Hiện hữu vì mục đích cho sự gia trì (s: adhisthāna); 6. Sự tùy thuộc, nương vào; 7. Theo triết học của phái Số luận, đó là những pháp hiện hữu tùy thuộc vào một cái gì đó khác (s: āśrita); 8. Chiếu theo căn cứ đáng tin (kinh văn, luận giải…, s: āśraya); 9. Vật, nơi được dựa vào; 10. Sinh khởi từ, căn cứ vào, dựa vào, xuất phát từ; 11. Được đặt vào vị trí (trong, trên, ngay, s: upādāya, pratisarana).
y
2152<一>悉曇字???(i)。又作億、縊、益、壹。悉曇十二摩多(母韻)之一,五十字門之一。(一)瑜伽金剛頂經釋字母品解伊字為「一切法根不可得」之義;文殊問字母品解釋為「諸根廣博聲」之義;方廣大莊嚴經卷四解釋為「諸根本廣大聲」之義。以上所指之「根」,乃眼、耳、鼻、舌、身、意等六根,此六根之體遍至法界而不住,乃絕對本不生者,故稱為「根不可得」。此伊字係由梵語 indriyam(音譯為因姪利炎,意譯為根)之字首 i 而來,故伊字又稱「根之伊字」。(二)據北本大般涅槃經卷八所舉,伊即是佛法,梵行廣大清淨無垢,比喻如滿月。〔佛本行集經卷十一、文殊師利問經卷上、大日經疏卷十四〕 <二>悉曇字???(ī)。又作縊、翳。為悉曇十二摩多之一,五十字門之一。(一)瑜伽金剛頂經釋字母品釋之為「一切法災禍不可得」之義;文殊問字母品釋之為「世間災害聲」;方廣大莊嚴經卷四釋之為「一切世間眾多病聲」。此伊字係由梵語 īti(意譯為災禍、疾病)之字首ī而來,故又稱「災禍之伊字」。(二)北本大般涅槃經卷八另出二釋:(1)解釋為自在之義,係由梵語 īśa(音譯為伊沙,意譯為自在、主宰)、īśvara(音譯為伊濕嚩囉,意譯為自在天)之轉釋而來。(2)解釋為嫉妒之義,係由梵語 īrṣyā(音譯為伊利沙,意譯為嫉妒)之轉釋而來。〔文殊師利問經卷上、悉曇三密鈔卷上末、悉曇藏卷五、卷六〕
; 3051梵語 saṃniśraya。爲依止、依憑之意。有能依、所依之別,二者係相對而立者。依賴、依憑者,稱爲能依;被依賴、依憑者,稱爲所依。如地與草之關係,地爲所依,草爲能依。對所依者而言,有直接力量者(親所依),稱爲所依;反之,力量微弱而間接者(疏所依),稱爲依。 所依有因緣依、增上緣依、等無間緣依等三所依。如心與心所之生起必有此三所依。然僅心與心所具備此三所依,其他之生滅法(有爲法)則必待因與緣而起,故稱因緣依;對此,心與心所之生起必依賴眼等諸根始能發生作用,故眼根等有時亦稱所依。又二種以上共同依止者,稱共依,反之則爲不共依。〔成唯識論卷四、成唯識論述記卷四末、成唯識論了義燈卷四末〕
; 2568原為一切衣服之總稱,於佛典中,則統稱僧尼所著用之袈裟、覆肩、裙類等法衣。長阿含卷二遊行經(大一‧一二中):「於是世尊即從座起,著衣持鉢,與大眾俱詣彼講堂。」(參閱「法衣」3346)
; Clothes, especially a monk's robe.
; 1) Chữa lành: To heal. 2) Giống y: Identical—Same. 3) Hắn (y): He—Him. 4) Vastra (skt)—Phạ Tát Đát—Từ dùng để chỉ áo cà sa, từ ngũ (năm) điều cho đến nhị thập ngũ (25) điều—A monk's robe, from five to twenty-five pieces. 5) Quần áo cho phép mặc để làm việc trong tự viện: The permissive clothing for the manual work of the monastery. 6) Y theo: Y nương—To depend—To rely on—To follow. ** For more information, please see Tam Y.
y an đà hội
Xem y mặc trong.
y biến quốc độ
3059禪宗以欲界、色界、無色界等三界乃因緣和合而生,故稱爲依變國土。臨濟錄示眾(大四七‧四九九下):「爾向依變國土中,覓什麼物?乃至三乘十二分教皆是拭不淨故紙。佛是幻化身,祖是老比丘。」
y bá nạp
Xem áo bá nạp.
Y báo
依報; C: yībào; J: ehō.|»Nghiệp báo theo hoàn cảnh«. Hoàn cảnh, môi trường mà chúng ta được sinh vào, như tình trạng xã hội, địa lí, xuất phát từ nghiệp mà ta đã tạo từ kiếp trước. Đối lại, thân tâm là chính báo (正報, nghiệp báo trực tiếp).
y báo
Xem Y chính.
y báo (y quả)
Hoàn cảnh và điều kiện bên ngoài, tốt hay xấu, mà chúng ta bị lệ thuộc vào do nghiệp đời trước, như xứ sở, gia đình, và vật sở hữu, vân vân, ngược lại với chánh báo của đời nầy—The dependent condition or material environment, good or bad, on which a person depends on condition, environment or results from former karma, e.g. country, family, possessions, etc., in contrast with being the resultant person of this life (chánh báo).
y báo chánh báo
See Chánh Báo Y Báo.
y báo thiên
The Vajradeva in the Vajradhatu group who guards the unborn child.
Y báo 依報
[ja] エホウ ehō ||| The "circumstantial reward;" the circumstances we are born into, such as societal status and geographical location, based on the karma of our prior lifetimes. As contrasted to the direct reward 正報 of mind and body. => Hoàn cảnh, môi trường nà chúng ta được sinh vào, như tình trạng xã hội, địa lý, xuất phát từ nghiệp mà ta đã tạo từ kiếp trước. Đối lại, thân tâm là chính báo.
y bát
2569梵語 pātra-cīvara,巴利語 patta-cīvara。指三衣及一鉢。三衣,指九條衣、七條衣、五條衣三種袈裟。鉢,乃修行僧之正式食器。為出家眾所有物中最重要者,受戒時,三衣一鉢為必不可少之物,亦為袈裟、鐵鉢之總稱。禪宗之傳法即傳其衣鉢予弟子,稱為傳衣鉢,因此亦引申為師者將佛法大意傳授予後繼者。據付法藏因緣傳卷一載,摩訶迦葉於將涅槃時,入雞足山敷草而坐,身著佛陀所授之糞掃衣,手持自己之鉢,誓言將傳衣鉢予當來出世之彌勒菩薩。我國禪宗初祖達摩由印度來時,亦傳其衣鉢予二祖慧可,以為傳法相承之證。此外,衣鉢亦有用以稱僧家之錢財;蓋以錢財非僧家應持之物,故以委婉之詞稱之。而掌管住持資具、錢帛之僧,稱衣鉢侍者。儲放住持之資具、錢帛之處,稱衣鉢閣。登記衣鉢閣內財物之帳簿,稱衣鉢簿。〔增一阿含經卷四十四、彌勒下生經、大毘婆沙論卷一三五、大智度論卷三、敕修百丈清規卷三遷化條、禪林象器箋簿券門、錢財門〕
; Cassock and almsbowl.
; Robe (cassock) and alms-bowl.
y bát bạc
2570指記錄住持私有財產之簿冊。衣鉢亦指僧人之私財。據西巖了慧禪師語錄卷末所附之西巖了慧禪師行狀所載,師晚年退隱太白山,以衣鉢簿交予執事,囑咐示寂後之私財處理。可知衣鉢簿係生前私財之記錄,以便於侍者之管理。僧逝後,或充作喪送之資,或作為拍賣亡僧遺物時之憑藉,以避免疑誤。敕修百丈清規卷三遷化條(大四八‧一一二七中):「示疾覺沈重,預請兩序勤舊點對,封收衣鉢行李,就留方丈,差公謹行僕看守,以俟估唱。」黃檗清規遺物條(大八二‧七七九上):「住持人所有遺物,當一一登簿、散眾、 ]齋、俵嚫,餘者分及耆宿、檀越、故舊等,以表遺意;若有可鎮山門者,存焉。」〔禪林象器箋簿券門、錢財門〕
y bát các
2570指收藏住持之資具、錢帛等物之庫室。又作衣鉢閤。後轉為收藏開山及歷代住持之遺品、衣鉢、財物之寶庫。〔校定清規入院視篆條、禪林象器箋殿堂門〕
y bát thị giả
2569指掌管住持資具、錢帛之僧。禪林象器箋職位門衣鉢侍者條載,衣鉢侍者掌住持錢帛。敕修百丈清規卷四兩序章衣鉢侍者條(大四八‧一一三一下):「先輩多以叢林老成之士為之,蓋能納忠救過羅致人才,內外庶事通變圓融,庶幾上下雍肅。」又衣鉢侍者之居處,稱衣鉢侍者寮、衣鉢局、侍局。
y bảo
See Y Châu.
Y Bồ
(伊蒲): từ gọi khác của Ưu Bà (s: upasa, 優婆), nghĩa là thức ăn chay. Trong Phật Giáo thường có các dụng ngữ như “Y Bồ soạn (伊蒲饌, món ăn chay)”, “Y Bồ cúng (伊蒲供, thức cúng chay)”, v.v. Trong đó có từ “Y Bồ đệ nhất (伊蒲, thức ăn chay số một)” là muốn nói đến loại Nấm Trúc (竹蕈, trúc khuẩn). Từ thời nhà Tống trở đi, loại nấm này trở thành vật nổi tiếng nhất, là sản phẩm xuất xứ từ Dương Tiện (陽羡, ngày xưa gọi là Kinh Khê [荆溪], nay thuộc Ngô Hưng [呉興], Tỉnh Triết Giang [浙江省]). Theo tác phẩm Kinh Khê Sớ (荆溪疏) của Vương Trĩ Đăng (王穉登, 1535-1612) nhà Minh, loại Nấm Trúc này được đánh giá rất cao như: “Trúc Cô, khuẩn dã; tiểu như tiền, xích như Đơn Sa, sanh dĩ nhị nguyệt, sơn trung sở tại giai hữu chi, phong vị cực giai, đương vi Y Bồ đệ nhất (竹菇、蕈也、小如錢、赤如丹沙、生以二月、山中所在皆有之、風味極佳、當爲伊蒲第一, Nấm Trúc là một loại nấm, nhỏ như đồng tiền, đỏ như Đơn Sa, sanh trưởng vào tháng 2, trong núi sâu mới có nấm này, mùi vị vô cùng ngon, chính là món ăn chay số một).” Hay như trong Đông Pha Mộng (東坡夢) của Ngô Xương Linh (吳昌齡, ?-?) nhà Nguyên có câu: “Đô quy nhất cá không, chỉ hữu na Y Bồ cúng (都歸一個空、只有那伊蒲供, thảy đều trở về tay không, chỉ có chút thức cúng chay).” Hơn nữa, trong bài Cẩm Châu Sắc Sứ Lưu Ấm Huyên Trú Tạng Hồi Thục Viễn Ký Tạng Phật Nhất Tôn Phú Tạ (錦州刺史劉蔭萱駐藏回蜀遠寄藏佛一尊賦謝) của Triệu Dực (趙翼, 1727-1814) nhà Thanh cũng có đoạn rằng: “Quý vô thất bảo trang nghiêm Bát Nhã tọa, diệc thiểu hữu bách hoa cúng dường Y Bồ diên (愧無七寳莊嚴般若坐,亦少有百花供養伊蒲筵, thẹn chẳng có bảy báu để trang nghiêm tòa Bát Nhã, lại ít có trăm hoa để cúng dường diên cúng chay).”
Y Bồ soạn
(伊蒲饌): tức thức cúng chay, đồ chay, cỗ chay; gọi tắt là Y Bồ (伊蒲). Như trong bài thơ Phong Lãnh Thượng Nhân Phụng Mẫu Cư Sơn Trí Thư Hữu Nhân Khất Thi Vi Thọ (崶嶺上人奉母居山致書友人乞詩為壽) của Lý Trường Tộ (李長祚, ?-?) nhà Thanh có câu: “Y Bồ đồng thục thủy, thanh tịnh phụng từ thân (伊蒲同菽水、清凈奉慈親, món chay cùng lễ mọn, thanh tịnh dâng từ thân).” Trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 1, văn sớ Phật Thành Đạo Nhật (佛成道日), có giải thích rằng: “Trai cúng thực viết Y Bồ soạn, Hậu Hán Sở Vương nghệ khuyết dĩ kiêm thục tội, chiếu báo viết: 'Vương háo Hoàng Lão chi ngôn, thượng Phù Đồ chi giáo, hoàn kỳ thục dĩ trợ Y Bồ Tắc tang môn chi soạn' (齋供食曰伊蒲饌、後漢楚王映詣闕以縑贖罪、詔報曰、王好黃老之言、尚浮屠之敎、還其贖以助伊蒲塞桑門之饌, thức cúng chay gọi là Y Bồ soạn, Sở Vương nhà Hậu Hán vào cung lấy lụa dâng xin chuộc tội, chiếu chỉ viết rằng: 'Vua thích lời dạy của Hoàng Lão [Hoàng Đế và Lão Tử], mà lại tin lời dạy của Phật Đà, trả lại vật chuộc tội để giúp thêm món cúng của tăng sĩ, Ưu Bà Tắc').”
y bồ tắc
2157梵語 upāsaka 之音譯。又作優婆塞、烏婆塞、鄔波索迦。意譯近事男。為四部弟子之一,在家二眾之一。乃親近、供養三寶,或為之給使作務之男子。大唐西域記卷九(大五一‧九一九下):「鄔波索迦(唐言近事男,舊曰伊蒲塞,又曰優婆塞)」(參閱「優婆塞」6409)
; Upasaka (skt)—A male lay member of the Buddhist temple—See Ưu Bà Tắc.
y ca ba đề la na
Một danh hiệu của Như Lai được diễn giảng như là Tối Thượng Thiên Vương—A title of a Tathagata, interpreted as the Supreme Deva-King.
y cai
2569乃盛花之器具。又作華祴。於印度,供養高貴之人時,用以盛花而捧之。又據玄應音義卷八、窺基之阿彌陀經疏、智圓之阿彌陀經義疏等之說,皆謂衣祴即指衣之前衿、衣襟、大帶、衣袖等,亦即以衣之一部分盛花供養。諸佛境界攝真實經卷上(大一八‧二七一上):「各各脫身所著天衣,手執衣祴,旋轉空中,以供養佛。」另據智顗之阿彌陀經義記所載,衣祴乃盛花之器,其狀如函,具有一足,可持之以為供養之用。〔法華經卷二化城喻品、阿彌陀經疏鈔卷三、慧琳音義卷七十八、希麟音義卷九〕
y chuyển cực thành
3059因明用語。極成,至極成就之意,即符合至實之理而爲立(立論者)、敵(問難者)雙方共同認可。如於因明對論中,提出宗(命題)時,宗之前陳(主詞)與後陳(賓詞)必須爲立敵雙方所共同認可,方能進行其餘之對論內容,此即「極成」之義,乃因明基本規則之一。極成有四種:自性極成、境界極成、差別極成、依轉極成。依,指因(理由)須與宗之主詞有必然之關係;轉,爲生起、現前之義,指因支須出現在宗之同品與異品中。以上兩者合之,且皆同爲立敵雙方所認可,即稱爲依轉極成。〔因明大疏蠡測〕
y châu
The pearl in the garment, i.e. Buddha-nature.
; Theo lời Phật dạy trong Kinh Pháp Hoa, phẩm thứ sáu về Thọ Ký: “Hạt ngọc minh châu trong áo, thí dụ nói về một chàng cùng tử, có hạt minh châu trong chéo áo mình mà không biết, nên cứ lang thang cùng khổ mãi.”—According to the Buddha's teaching in the Lotus Sutra, the sixth chapter of Prediction: “The pearl in the garment, i.e. a man starving yet possessed of a priceless pearl in his garment, of which he was unaware.”
y châu dụ
2568法華七喻之一。又作繫珠喻、衣內明珠喻。比喻有大器而滿足於小智者,猶如衣內繫寶珠而不自知。據法華經卷四「五百弟子授記品」載,有人至親友家醉酒而臥,此時親友忽有官事當行,以無價寶珠繫其衣裏,與之而去,其人醉臥都不覺知。起已,行至他國,為求衣食,倍受艱難,若稍有得,便以為足。後會遇親友,具語前事,其人乃以寶珠購其所需。蓋昔佛為菩薩時,教化聲聞弟子,令發一切智心,而今彼等忘失不覺知,既得阿羅漢道,即謂真滅度;今佛出現令彼等覺醒,指示其所得非為究竟,而令其歸入一乘。(參閱「法華七喻」3394)
y chính
The two forms of karma resulting from one's past; Chính báo, being the resultant person; Y báo, being the dependent condition, or environment, e.g. country, family, possessions, etc.
; Y báo và chính báo, hậu quả của nghiệp quá khứ của chúng sanh—Two forms of karma resulting from one's past. 1) Y Báo: Hết thảy mọi sự vật thế gian mà thân tâm ta nương tựa vào như quốc độ, gia đình, tài sản, vân vân thì gọi là Y Báo—All dependent conditions or environments, i.e. country, family, possessions, etc—See Y Báo, and Nhị Báo. 2) Chánh Báo: Quả báo do nghiệp của quá khứ mà thân tâm ta thụ nhận gọi là Chánh Báo—The resultant person of this life—See Chánh Báo, and Nhị Báo.
Y chính chân như 依止眞如
[ja] エジシンニョ eji shinnyo ||| The suchness of the bases of practice, referring to the truth of suffering. One of the seven kinds of suchness 七種眞如. 〔十八空論 T 1616.31〕 => Căn bản của sự tu tập, liên quan đến khổ đế. Một trong 7 pháp Chân như (Thất chủng chân như). Theo Thập bát không Luận.
y chính nhị báo
3054即依報與正報。略稱二報。正報,即指依過去善惡業因而感得之果報正體,如生於人間,則具備四肢五官,受人間之果報;生於畜牲,則具備羽毛齒革,受畜牲之果報。依報,即指依於正報而受相應止住之所的果報,如受人間之正報者,則必有與其相應之家屋器物等依報;受畜牲之正報者,則必有與畜牲相應之巢穴等依報。 概言之,依報指國土世間,即有情依託之處所;正報指眾生世間,即能依之有情。華嚴經行願品疏鈔卷二(卍續七‧四二四上):「依者,凡聖所依之國土,若淨若穢;正者,凡聖能依之身,謂人天、男女、在家出家、外道諸神、菩薩及佛。」又以依正二報均屬果報之一種,故又可分別稱爲依報依果(略稱依果)、正報正果(略稱正果)。〔菩薩瓔珞本業經卷上、無量壽經疏(慧遠)、觀經玄義分、往生論註卷下、大明三藏法數卷二十七〕
Y chính 依止
[ja] エジ eji ||| (1) Reliance, dependence. (2) To depend upon something which possesses power and virtue. A basis, a support (āśraya, adhistāna). (3) To serve (samśraya). (4) To serve as a disciple, learn the practices of discipline and be taught the dharma. (5) According to. (6) To make (something) the theme. To refer to. => Có các nghĩa: 1. Sự tin cậy, sự nương vào. 2. Nương vào điều gì có năng lực và đạo đức. Một nền tảng, một lực gia trì.(s: āśraya, adhistāna). 3. Phụng sự (s: samśraya). 4. Phụng sự (thầy)với tư cách là đệ tử, để tu tập và học hỏi giáo pháp. 5. Y theo. 6. Làm (việc gì) theo chủ đề. Xem tham khảo, nói đến, đề cập đến.
Y chỉ
xem Cầu-na.
; 依止; C: yīzhǐ; J: eji;|Có các nghĩa: 1. Sự tin cậy, sự nương vào; 2. Nương vào điều gì có năng lực và đạo đức. Một nền tảng, một lực gia trì (s: āśraya, a-dhistāna); 3. Phụng sự (s: samśraya); 4. Phụng sự (thầy) với tư cách là đệ tử, để tu tập và học hỏi giáo pháp; 5. Y theo; 6. Làm (việc gì) theo chủ đề. Xem, tham khảo, nói đến, đề cập đến.
y chỉ
(依止): y (依) là nương dựa, chỉ (止) là dừng lại, ở yên. Y chỉ là chỗ để cho người ta nương dựa và dừng yên ở đó, tức là bậc có đủ phước đức và trí huệ, đủ sức dìu dắt người khác, như Phật là bậc Y chỉ của tất cả chúng sanh.
; 3051即依存而止住之意;或以某事物爲所依而止住或執著。又一般謂依賴於有力、有德者之處而不離,亦稱爲依止。法華經方便品(大九‧八中):「若有若無等,依止此諸見。」大乘莊嚴經論卷四述求品,謂依止(梵 āśraya)作意爲十八種作意之一,同經卷八以依止(梵 niśraya)爲八無上之一。 大乘莊嚴經論卷一種性品則列舉菩薩種性之四種依止,即:(一)無量善根依止,(二)無量智慧依止,(三)一切煩惱障、智障得清淨依止,(四)一切神通變化依止。又同經卷七度攝品載菩薩修習諸波羅蜜有五依止,即:(一)物依止(梵 upadhi-saṃniśrita),(二)思惟依止(梵 manasikāra-saṃniśrita),(三)心依止(梵 āśaya-saṃniśrita),(四)方便依止(梵 upāya-saṃniśrita),(五)勢力依止(梵 vibhutva-saṃniśrita)。〔雜阿含經卷二十四、廣義法門經、小品般若經卷二塔品、大乘入楞伽經卷三、金光明最勝王經卷五重顯空性品、善見律毘婆沙卷四、辯中邊論卷上辯相品、止觀輔行傳弘決卷一之一、法華玄義卷五上〕
; To depend and rest upon.
; Nương dựa hay dừng trụ lại (nơi có lực có đức)—To depend and rest upon.
y chỉ a xà lê
3051五種阿闍棃之一。又作依止師。比丘新剃度後,依止其他先輩比丘,而受其監督學法,此師即稱依止阿闍棃。據釋氏要覽卷上載,師有二種:一爲親教師,即比丘依之出家、受經者;二爲依止師,即比丘依之稟受三藏者。而禪林中,亦稱參禪之師爲依止師。 戒律中有關依止之規定者,稱爲依止法。在五分律卷十六、卷十七之受戒法,四分律卷三十三、卷三十四之受戒犍度,巴利律藏(Vinaya-piṭaka)之大品(Mahā-vagga)第一大犍度(Maha-kkhandhaka)等廣律之受戒篇,及巴利律藏附隨(Parivāra, XV, 1)依止品(Nissaya-vagga)中,均有關於受戒者依止師之詳細記載。 四分律行事鈔卷上之三師資相攝篇就其依止,開立明弟子依止、明二師攝受二門,後者設有依止意、得無師時節、簡師德因明諸師不同、明請師法、師攝受法、明治罰訶責法、明失師法等七門而詳釋之。其中依止意條載,新受戒者初入佛法,萬事無知,動輒違教,故律中制定未滿五歲,或已滿五夏之愚癡者,應依止有德者,咨承法訓。(參閱「阿闍棃」3688)
Y chỉ chân như
依止眞如; C: yīzhǐ zhēnrú; J: eji shinnyo;|Chân như, bản chất Như như của sự tu tập, liên quan đến khổ đế. Một trong 7 pháp Chân như (Thất chủng chân như 七種眞如; theo Thập bát không luận 十八空論)
y chỉ sư
The acàrya, or master of a junior monk.
; Acarya (skt)—Y Chỉ A Xà Lê—Thầy giáo thọ của các Tỳ Kheo vừa mới được thọ giới để dạy dỗ và nhắc nhở trong việc tu hành—Master of a new or junior monk.
y chỉ thậm thâm
3052爲五種甚深之一。謂如來所證悟之真如法體,乃無染無淨,不變不遷,遍於一切法中,不即不離,不可思議,爲一切萬有所依止;然此實深妙難解,非聲聞、緣覺者所能了知,故稱依止甚深。〔大明三藏法數卷十九〕(參閱「依止」3051)
; The profundity on which all things depend, i.e. the bhùtatathatà; also the Buddha.
; Pháp thể chân như mà Như Lai đã chứng ngộ, bao trùm khắp pháp giới, làm chỗ dựa cho hết thảy chư pháp—The profundity on which all things depend, i.e. the bhutatathata; also the Buddha.
y chủ thích
3052梵語 tat-puruṣa。又作依士釋、即士釋、屬主釋。略稱依主、依士。爲解釋梵語複合詞的六種方法(六合釋)之第二。即連結二個名詞以上之複合詞,其詞性係以前段之詞限定後段之詞。如「中國人」一詞,前段「中國」即限定後段「人」之表達範圍。唯識宗準此而論,謂「依」乃能依,「主」乃所依之法體;亦即從所依之體,而立能依法之名。例如梵語之 rāja-puruṣaḥ,漢譯爲「王臣」,係由梵語之 rājñaḥ puruṣaḥ(王之臣)所組成之複合詞,其中「王」爲所依,「臣」爲能依,則準此依主釋之規則,能依之臣依於所依之王,即成「王臣」一詞。另如「攝大乘論」一書之名,梵名爲 Mahāyānasaṃgrahaśāstra,係由梵語之 prakaraṇasya mahāyānasaṃgrahasya śāstraṃ(大乘攝論,意指解釋阿毘達磨中之攝大乘品之論書)所組成之複合詞,其中「攝大乘」爲所依,指所攝、所詮之理;「論」爲能依,指能詮之教。即藉此依主釋之規則而將「詮顯大乘法門的道理之論書」組成「攝大乘論」之複合詞。又如「眼識」一詞,原指依於眼而生之識,即「眼之識」之意,是以眼爲所依之體,識爲能依之法。 於梵語文法複合詞之中,依主釋又可分爲六種,即於梵語文法變化「八轉聲」中,除去第一之主格與第八之呼格,其餘六項均有依主釋,即:第二轉業聲依主釋,如 deva-dattaḥ(天授,依於天而授之義);第三轉具聲依主釋,如 yupa-dāru(烏婆木,以烏婆樹之材作成之木柱);第四轉爲聲依主釋,如 pādodakam(足水,作爲洗足用之水);第五轉從聲依主釋,如 svarga-patitaḥ(天墮,由天墮下之神─因陀羅);第六轉屬聲依主釋,如上記之王臣、攝大乘論即屬此例;第七轉於聲依主釋,如上記之眼識即屬此例。 此外,梵語文法家有謂,若於持業釋之前段爲形容詞或副詞,後段爲名詞或形容詞;帶數釋之前段爲數詞等之特殊情況,則此類之持業釋、帶數釋等皆屬於依主釋之範圍。〔大乘法苑義林章卷一總料簡章、俱舍論光記卷一、慧琳音義卷五十、華嚴經探玄記卷三、大明三藏法數卷二十六〕(參閱「六合釋」1255)
y của chư tăng
Xem nạp y.
Y cứ
依據; C: yījù; J: ekyo;|Sự dựa vào, sự tin vào.
Y cứ 依據
[ja] エキョ ekyo ||| 'Dependence.' => Sự dựa vào, sự tin vào.
y cửu điều
Xem nạp y.
y diệp ba la
2157 梵名 Īśvara。意譯自在。南朝譯經家。西域人。善通三藏,明解四阿含。劉宋元嘉三年(426)東遊彭城,為北徐州刺史太原王仲德譯雜阿毘曇心論,然至擇品即中輟,凡十卷;八年,由求那跋摩續譯,補足為十三卷。〔梁高僧傳卷三、出三藏記集卷二、開元釋教錄卷十五〕
y diệp bà la
Isvara (skt). 1) Tự tại thiên vương và các thiên vương khác như Quan Âm: King, sovereign; Siva and others; interpreted by self-existing, independent; applied to Kuan-Yin and other popular deities. 2) Một vị sa môn ở Tây Ấn học rộng về Tam Tạng kinh điển: A sramana of the West of India, learned in the Tripitaka.
y dược thần
Xem A tu vân.
y dạng hoạch miêu nhi
3058禪林用語。謂依照畫本臨摹虎之形相,然所畫出之形相不似虎,卻似貓;虎與貓雖外形相似,然二者實有極大之差距。故學者於修學之際,若僅一味模仿,而不知用心體悟,則所習得者必與當初所欲修學者不同,即永遠無法參透宗門法要。〔碧巖錄第九十三則〕
y dụ kinh
6629全一卷。北宋施護譯。收於大正藏第四冊。內容以世間良醫具有四法成就比喻如來以四諦法療治眾生諸病。世之醫王所具四法為:(一)善知病,(二)善知病源,(三)善知病之對治,(四)善治病已,更知斷除病源。如來出現世間,亦如世間醫王,善能闡說苦、集、滅、道四諦之法以療治眾生,令斷除生死根本而得涅槃。
y giác la
2568五種濾水囊之一。以一尺四方之密絹作成,將之繫於瓶口,或安於鉢中,作為過濾水之用。
y giáo phân tông
3058謂依本身所信仰之教派而判別教理。如華嚴宗依華嚴經將佛陀一代之教說判別爲十宗。反之,若係依義理而判別教派,則稱爲依宗教別,如華嚴宗所立之五教,及天台宗所立之八教即是。
y giới
3055(1940~ )臺灣雲林人,俗姓楊。從事幼兒教育八年。民國五十五年(1966),入東方佛教學院研讀佛學,六十年,禮星雲大師披剃出家。曾負笈日本京都佛教大學攻讀佛學,歸國後,主持育幼院工作。其後在佛學院擔任教職,協理教務。現住持彰化八卦禪寺,致力於弘法事業之推動。
Y hi
(依稀、依希、依俙): có ba nghĩa. (1) Lờ mờ, mơ hồ, không sáng tỏ. Như trong bào thơ Hành Điền Đăng Hải Khẩu Bàn Tự Sơn (行田登海口盤嶼山) của Tạ Linh Vận (謝靈運, 385-433) nhà Tống thời Nam Triều có câu: “Y hi thái lăng ca, phảng phất hàm tần dung (依稀採菱歌、彷彿含嚬容, mơ hồ ca hái ấu, phảng phất dáng u sầu).” Hay trong bài thơ Chí Hòa Nguyên Niên Tứ Nguyệt Nhị Thập Nhật Dạ Mộng Giác Nhi Lục Chi (至和元年四月二十日夜夢覺而錄之) cũng có câu: “Hoảng lãng thiên khai Vân Vụ Các, y hi thân tại Phụng Hoàng Trì (滉朗天開雲霧閣、依稀身在鳳皇池, rực rỡ trời bày Mây Sương Gác, mơ hồ thân tại Phụng Hoàng Hồ).” (2) Tương tự, giống như. Như trong bài Di Tống Tiểu Trứ Thư (貽宋小著書) của Điền Tích (田錫, 940-1004) nhà Tống có câu: “Vi văn vi thi, vi minh vi tụng, vi châm vi tán, vi phú vi ca, nhân ôn vẫn hợp, tâm dữ ngôn hội, nhậm kỳ hoặc loại ư Hàn, hoặc tiêu ư Liễu, hoặc y hi ư Nguyên Bạch, hoặc phảng phất ư Lý Đỗ (爲文爲詩、爲銘爲頌、爲箴爲贊、爲賦爲歌、氤氳吻合、心與言會、任其或類於韓、或肖於柳、或依稀於元白、或髣髴於李杜, là văn là thơ, là bài minh là bài tụng, là bài châm là bài tán, là bài phú là bài ca, như khí trời đất hòa hợp, tâm và lời gặp nhau, cho dù nó hoặc giống với Hàn Dũ [768-824], hoặc như Liễu Tông Nguyên [773-819], hay tương tự với Nguyên Chẩn [779-813] và Bạch Cư Dị [772-846], hay giống với Lý Bạch [701-762] và Đỗ Phủ [712-770]).” (3) Nhỏ mọn, chút ít. Như trong bài Tế Trần Tiên Bối (祭陳先輩) của Hoàng Thao (黃滔, 840-911) nhà Đường có câu: “Cẩn dĩ y hi sơ quả, nhất nhị tinh thành, nguyện minh phù ư hật hưởng, thân vĩnh quyết ư u minh (謹以依稀蔬果、一二精誠、願冥符於肹蠁、申永訣於幽明, xin lấy rau quả ít ỏi, một hai tấc thành, nguyện thầm chứng thảy cùng khắp, mong trối trăn chốn âm dương).” Trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Đại Trai Phổ Lợi Đạo Tràng Tánh Tướng Thông Luận (法界聖凡水陸大齋普利道塲性相通論, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1498) quyển 9 có đoạn: “Nhân thiên hình tượng, diện mục y hi, y thường đạm bạc, thần tình phiêu động, tợ vô sở y, tợ hữu sở y (人天形像、面目依稀、衣裳淡白、神情飄動、似無所依、似有所依, hình tượng trời người, mặt mày giống hệt, áo quần đạm bạc, tinh thần lay động, như không chỗ nương, như có chỗ nương).” Hay trong Trạm Nhiên Viên Trừng Thiền Sư Ngữ Lục (湛然圓澄禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1444) quyển 8, phần Ưng Khòa Đảnh Vân Tụ Am Vô Hoại Quan Chủ (鷹窠頂雲岫菴無壞關主), lại có đoạn: “Tích nhật văn danh vị kiến y, kim triêu dung mạo thượng y hi, thiên nhai hải giác tầm tương tợ, nhược cá mi mao bất hạ thùy (昔日聞名未見伊、今朝容貌尚依稀、天涯海角尋相似、若個眉毛不下垂, ngày xửa nghe danh chẳng thấy hình, sáng nay dung mạo lại mờ thinh, bờ trời góc bể tìm tương tự, giống mấy lông mày chẳng rũ hàng).”
y hẹn
To keep one's appointment.
y học tông
3059指僅爲依學經論學問之宗派,而非講求信心修行之宗派。如俱舍宗、成實宗即是。
y hỗ
3056即依恃之意,如子女之依賴父母。佛教中,轉指眾生因貪瞋等無明纏身,造作各種惡業,而墮於輪迴之中,須仰賴佛、菩薩之慈心悲願,予以濟度,力能出離苦厄,故稱爲依怙。〔妙法蓮華經普門品〕
y kinh giải nghĩa
3058又作依文解義。指僅依據經典、語錄等之所述,以理解佛法義理之修學方法。即謂一般學者拘泥於文字、言句之表面意義,執著於爲方便權巧所述之世間法理,未能深入經藏,更對出世間之真理妙諦作透徹之觀照、修證。故此類依經解義之徒必受文詞之束縛、障礙,難以了悟究竟解脫之最高境界。〔景德傳燈錄卷六百丈懷海章〕
y kiền độ
2569巴利語 cīvara-kkhandhaka。乃二十犍度之一。犍度(巴 khandhaka),分段之義。戒律關於僧尼受戒、安居等行持之法,分為二十類,衣犍度即其中關於著衣之法。有糞掃衣、十種衣、冢間衣、願衣、檀越施衣、三衣等之受持,割截衣之製法,衣之分配,病比丘之衣法等。(參閱「二十犍度」181)
y la bà na
Airavana (skt). 1) Tên loại voi chúa mà vua trời Đế Thích cỡi: Indra's elephant. 2) Tên loại cây Y-La: A tree named Airavana. 3) Tên của khu vườn Lâm Tỳ Ni, nơi mà người ta nói Đức Phật đã được đản sanh: Name of a park, i.e. Lumbini, where the Buddha is said to have been born.
y la bà na long tượng vương
2158伊羅婆那,梵名 Airāvaṇa,巴利名 Erāvaṇa,又作堙羅婆那、愛囉博拏、煙羅槃那、伊那鉢那、藹羅筏拏、伊羅滿。意譯持水者、守地子、持地子。乃因陀羅天所乘御之白象王,係由乳海攪拌而生之十四寶之一。又或係雷鳴時所湧現之雲,而將之比擬為動物,蓋雲湧之時,其形猶如象王成列。一般常將其與伊羅鉢多羅龍王混同。〔正法念處經卷二十一、大寶積經卷六十六、大樓炭經卷四、慧苑音義卷下〕(參閱「醫羅鉢呾羅龍王」6630)
; See Y La Bà Na (1).
y la bát
Elapattra (skt). 1) Tên của Y La Bát Long vương (trên đầu có loại cây rất hôi thúi), hủy hoại giới cấm của Phật làm tổn hại cây y-la: Name of a naga, or dragon-king, who breaks the Buddha's commandments. 2) Tên của một nơi trong xứ Taxila: Name of a place in Taxila.
y la bát long vương
See Y La Bát (1).
y la bát đát la long vương
6629醫羅鉢呾羅,梵名 Elāpattra,巴利名 Erāpatha。又稱㖶罹鉢多罹龍王、伊羅鉢多羅龍王、伊那跋羅龍王。醫羅,樹名;鉢呾羅,葉之義。或梵漢並稱作伊羅葉龍王、黳羅葉龍王、毉羅葉龍王。據慧苑音義卷下載,伊羅譯作臭氣;跋羅,譯作極。然亦有將此龍王名譯作香葉、藿香葉者。此龍王前身為比丘時,曾損醫羅樹葉,以致受龍王之身,且頭上生醫羅樹。又傳說此龍王之首在嚩囉拏城,尾在怛叉始羅國。關於此龍王尚有諸多傳說,如「釋迦牟尼如來像法滅盡之記」載,僧眾至伊羅葉龍王所住之海岸,龍王自變其身為蛇橋,人畜皆由其上過,時蛇脊破裂,血流如雨,海中皆血水。 醫羅鉢呾羅龍王池在北印度怛叉始羅國,據大唐西域記卷三怛叉始羅國條載,此池周圍百餘步,水清如鏡,盛開雜色蓮華,具有異彩。此池即在怛叉始羅國首府之遺址夏德利(Shah Dheri)西北十餘公里處,相當於今之哈珊亞帕德(Hasan Abdal)。現今當地土著以之為錫克教(Sikh)聖地。又印度巴赫特塔(梵 Bharhūt)柱子之浮雕,有此龍王之禮佛圖像,圖中央刻以阿育王時代文字 erapato nāga rājā bhagavato vandete(醫羅鉢呾羅龍王禮佛)。此為初期佛教美術中之珍貴遺跡。〔佛本行集經卷三十七、五分律卷十五、四分律卷三十二、有部毘奈耶雜事卷二十一、大智度論卷二十五、玄應音義卷二十四、佛教の美術及び歷史〕
y la bạt đề hà
Eravati (skt). 1) Loài rồng hay voi: See Y La Bà Na (1). 2) Loài rồng bảo hộ biển cả hay sông hồ: A naga-guardian of a sea or lake (who had plucked a herb wrongfully in a previous incarnation, been made into a naga and now begged the Buddha that he might be reborn in a higher sphere).
y la lạp
2158(Ellora)位於印度西海岸孟買市東北四百餘公里,奧蘭迦巴巿(Aurangābād)西北二十公里處之小村莊,以古代窟院聞名於世。三十二窟院中,十二個屬佛教,其他屬婆羅門教及耆那教。開鑿年代約為六至八世紀,繼阿旃多石窟後,為古代佛教美術之寶庫。窟院之建築、佛像、浮雕等,可觀者甚多。〔印度佛蹟實寫解說、世界美術全集卷八〕
y la thụ
2158伊羅,梵語 elā。屬襄荷科。產於南印度,外觀略似葦,有根莖,葉細長如劍,葉脈與主脈平行,花呈冠狀,白色帶紫,果實為長橢圓形之蒴果,表皮有橫線,種子灰色,富香氣,與鬱金、生薑共為藥用。此外,慧苑音義卷下,將 elā 譯作臭氣,為龍王之一種。(參閱「醫羅鉢呾羅龍王」6630)
y lan
Eravana (S)Một loại hoa đẹp nhưng mùi rất thối xa đến hàng chục dặm, tượng trưng cho phiền não (đối nghĩa với hoa chiên đàn).
; Airavana or Eravana (skt). 1) Tên của một loài cây có bông rất đẹp nhưng mùi rất thúi, mùi có thể tỏa đi xa tới 40 dậm: Name of a tree with beautiful flowers of nauseous scent which spreads its odour for 40 miles. 2) Y Lan được dùng để ví với phiền não (dục vọng và ảo tưởng): Typifying the passions and delusions.
y lan thụ
2159伊蘭,梵語 eraṇḍa。又作伊那拔羅樹。意譯為極臭木。屬蓖麻類,有惡臭,與栴檀之香氣適反,其種子可提煉蓖麻油。經論中多以伊蘭比喻煩惱,而以栴檀之妙香此喻菩提。印度古諺:「國無智者,少智亦被稱揚;國若無樹,伊蘭亦是樹矣。」十門辨惑論卷上(大五二‧五五三上):「伊蘭,惡木也,汝何以用之?迦摩,重病也,汝何以療之?」〔觀佛三昧海經卷一、翻梵語卷十、慧琳音義卷二十五〕
y liên thiền
Nairanjàna (S). Xem Ni liên thiền. Name of a river.
y lê sa bàn đồ ca
Y Lê Sa Chưởng Nô—Irsyapandaka (skt)—Thái giám—Eunuchs or impotent save when stirred by jealousy.
y lê sa chưởng nã
2156 梵語 Īrṣyā-paṇḍaka。意譯妒黃門。為五種不能男之一。即見他人行淫而有妒心,生起淫根之病者。〔翻譯名義集卷二〕(參閱「五種不能男」1175)
y lí áo đặc
2154(Eliot, Sir Charles Norton Edgecumbe; 1864~1931) 英國外交官及東方學學者。牛津大學畢業。一八八八年以來,歷任匹玆堡、摩洛哥、君士坦丁堡、保加利亞、華盛頓、東非等地之外交官。退休後(1904)任香港大學第一任校長(1912)。一九一九年與英國駐日大使赴日,大力推動英日親善工作,並且致力於佛學之鑽研。歸國後又以研究上之須要再度赴日(1929),於奈良過著寫作著述之生活。後罹病歸國,途中病歿。伊氏專攻東方諸宗教,尤其是佛教思想。所撰印度教與佛教(Hinduism and Buddhism)三卷(1921),為其代表作。通東方各種語言。此外,尚有 A Finnish Grammar, 1890; Turkey in Europe, 1890;The East Africa protectorate, 1905; Letters from the Far East, 1907;Japanese Buddhism, 1935 等著作,為亞、非文化研究之先驅。
y lĩnh thụ
2570據十王經卷二載,乃位於冥途中三途河(葬頭河)畔之大樹。樹下有懸衣翁、奪衣婆二鬼,凡過此樹之死者,必為二鬼剝其所著之衣而懸掛於樹,故稱衣領樹。死者罪業愈重,則樹枝愈低垂。
y lạn nã bát phạt đa
Irina-Parvata or Hiranya-Parvata (skt)—Một vương quốc cổ được ghi nhận có ngọn núi lửa gần kinh đô mà bây giờ là Monghir—An ancient kingdom noted for a volcano near its capital, the present Monghir.
y lạn nã bát phạt đa quốc
2158伊爛拏鉢伐多,梵名 Īraṇa-parvata。又稱伊蘭拏鉢伐多國、伊爛拏國。位於摩揭陀國東,殑伽河南岸之國。據大唐西域記卷十載,此國之大都城氣候和暢、風俗淳質,有伽藍十餘所、僧徒四千餘人,多習小乘正量部之法。境內之伊爛拏山含吐煙霞,蔽虧日月,為一火山,今其附近僅有溫泉湧出,而不見噴火。釋尊往昔曾居住此國,為諸天人廣說妙法。〔大慈恩寺三藏法師傳卷三〕
y lời
To keep one's promise.
y lữ ba ca
2153又稱色葉、以呂波。為日本人習字歌詞之一。以不同發音之假名編成七五調之歌,稱為伊呂波歌,其歌曰:「色は罖へど散りぬるを、我が世誰ぞ常ならむ、有為の奧山今日越えて、淺き夢見じ醉ひもせず‧」等四十七字。自古以來皆謂作者為日僧空海,然審其文あ行與や行之「え」無甚區別,考證其因,或為平安中期之大乘佛教徒所作。由覺鍐所作伊呂波歌注釋書中可知,伊呂波歌乃取涅槃經四句偈:「諸行無常(色は罖へど散りぬるを),是生滅法(我が世誰ぞ常ならむ);生滅滅已(有為の奧山今日越えて),寂滅為樂(淺き夢見じ醉ひもせず)。」之意而作成。〔北本大般涅槃經卷十四、類聚名物考卷二八○〕
y mặc trong
Antarvāsaka (S)Y An đà hộI.
y nang
2570梵語 cīvara-bṛsikā。指收納三衣之囊袋。又作衣袋、三衣袋、袈裟袋、袈裟行李、袈裟文庫、盛衣、打包。三衣,乃僧眾之三種袈裟。據十誦律記載,僧眾應護三衣如護身皮,護鉢如護眼目,不得著大衣(即三衣中九條或二十五條之僧伽棃)從事除草、剷土、掃地等作務。故三衣不用時,應收入衣囊。關於衣袋之縫製法,根本薩婆多部律攝卷五(大二四‧五五三中):「三衣袋法,長三肘,廣一肘半。長牒兩重,縫之為袋,兩頭縫合,當中開口。長內其衣,搭在肩上,口安
y nghiêm
3059(1939~ )高雄市人,俗姓林。民國五十五年(1966),禮佛光山星雲大師披剃。五十六年,於臺中慈明寺受具足戒。先後畢業於佛光山東方佛教學院及中國佛教研究院研究部。曾任其母校之訓導主任、總務主任及佛光山慈善堂堂主、嘉義市佛教支會理事、嘉義圓福寺住持等職。
y ngoại khổ
Adhibhautika-dukkhata (S).
y nguyên
Intouched—Intact.
y ngô
2153位於新疆東北,天山南麓之古地名,即今哈密之地。東漢時稱伊吾盧,明帝十六年(73)征伐北匈奴時取此地,置都尉屯田。隋末、唐初時設伊吾郡。依據大慈恩寺三藏法師傳卷一所載,玄奘入天竺時,曾費八日始通過莫賀延沙漠,而抵伊吾國境,由此可知其地交通之困難。 此地為天山山脈南北二道之相交處,亦當我國西域交通之要衝,故早為世所共知,因而於歷代中,屢為其他民族所爭奪。〔後漢書西域傳第七十八、唐書西域列傳第一四六下、明史列傳第一一七、解說西域記〕
y ngôn
Chân Như (thể tính cuả chư pháp là thường như)—The bhutatathata in its expressible form.
y ngôn chân như
The bhùtatathatà in its expressible form, as distinguished from it as Li ngôn inexpressible.
; Chân như diễn tả bằng văn tự, phân biệt với chân như không diễn tả được bằng văn tự (ly ngôn chân như)—The bhutathata in its expressible form, as distinguished from it as inexpressible. ** For more information, please see Nhị Chân Như.
y ngũ điều
Xem áo ngũ điều.
y nhiên chỉ tại cựu khoà quật lí
3058禪林用語。指修行尚未達到解脫自在,仍爲原有之迷妄境界所困者。依然,又作依前。意在點醒學者,勿執著拘泥於常格,以致無法達到更上一層之修行境界。碧巖錄第六則(大四八‧一四六中):「徐行踏斷流水聲(莫問腳跟下難爲體究,打入葛藤窟裏去了也),縱觀寫出飛禽跡(眼裡亦無此消息,野狐精見解,依前只在舊窠窟裏)。」
y nhân
3055梵語 niśraya。五因之一。謂地、水、火、風四大種爲物生起之所依者。蓋四大所造之色常追隨於能造之大種,大種若轉變,所造之色亦隨之轉變,如弟子常隨於師,不論正邪,追隨如一。故依因可謂變化之因。
; Nirsraya (S)Một trong ngũ nhân.
y như
Identical—In conformity with.
y như lục vô vi
3055爲「識變六無爲」之對稱。六無爲乃由一真如之義而立名,真如本非言詮所及,故依真如而立言詮之六無爲即稱依如六無爲。〔成唯識論卷九、成唯識論述記卷二〕(參閱「六無爲」1294)
y ni diên
2152梵語 eṇī, aiṇeya。又作伊泥延、因泥延、翳泥耶、瑿泥延、伊梨延陀。羚羊之一種。自古譯為鹿王。毛黑,足脛纖圓,長短得所,故常以之比喻佛三十二相中之「腨相」。〔慧苑音義卷下、玄應音義卷一、卷二十二〕(參閱「伊尼延腨相」2152)
; Aineva (skt)—Y Nê Diên—Ê Ni Diên—Nhân Ni Diên—Con hươu—A deer—An antelope.
y ni diên nhân tướng
2152梵語 aiṇeyajaṅgha,巴利語 eṇijaṅgha。佛三十二相之一。即比喻佛之足膝、腳肚圓滿纖細,猶如鹿王。腨字,又作膊、
y nội
The under robe.
y nội khổ
Adhytmika-dukkhata (S).
y pháp
2568指衣與法。禪宗之傳承,師傳法於弟子係以付授之袈裟為表徵,故傳衣亦具傳法之義。景德傳燈錄卷三((大五一‧二二三上):「『然以無上微妙祕密圓明真實正法眼藏,付于上首大迦葉尊者。展轉傳授二十八世,至達磨屆于此土。(中略)承襲以至于吾。今以法寶及所傳袈裟,用付於汝。善自保護,無令斷絕。(中略)』能居士跪受衣法。」〔正法眼藏卷十三傳衣〕
; E-hō (J).
; Y áo và giáo pháp của Phật—The robe and the Buddha-truth.
y pháp bất y nhân
To rely upon the dharma, or thuth itself, and not upon (the false interpretations of) men.
; Nương vào pháp chứ không nương vào người, một trong bốn phép nương vào để hiểu thấu Phật Pháp—To rely upon the dharma, or truth itself, and not upon the false interpretations of men, one of the four basic principles for thorough understanding Buddhism. ** For more information, please see Tứ Y Pháp.
y phương
Toa thuốc—A prescription.
y phương luận
Luận về y phương—Discussion on medicine. ** For more information, please see Ngũ Minh.
y phương minh
6628梵語 cikitsā-vidyā。又作醫明、醫方論(梵 cikitsita)。五明之一。係古印度解說有關疾病、醫療、藥方之學。「明」,即「學」之意。經律之中,有關醫療之記載甚多,尤以律典中,對於瞻病之法,所載甚詳,可視為佛教醫術之重要史料。佛世時之耆婆(仕於頻婆娑羅王)以精通醫術著稱於世,曾多次治癒各種疑難病症,四分律卷三十九即詳載其前後六次之重要治術。此外,耆婆於平居之時亦常為佛弟子療治疾病。 南海寄歸內法傳卷三載有「先體病源」及「進藥方法」二章,其中對於印度古來各種診察投藥之法,歸納為八類,乃所謂「八分醫方」,即:(一)論所有諸瘡,兼及體內外之瘡毒。(二)論針刺及頭部之疾病。(三)論身患,即咽喉以下之疾病。(四)論鬼瘴,即一般流行病及邪魅所引發之疾病。(五)論惡揭陀藥,論述遍治諸毒之藥。(六)論童子病,包括自胎內至十六歲各階段所易患之疾病。(七)論長命之方法。(八)論體健力足,即一般保健強身之基礎。 印度自古以來大多認為飲食過度乃導致疾病之原因,由是自然衍生以斷食、絕食為直接有效療病方法之風習。然於佛教,一般皆認為構成人類身體之地水火風四要素之失調乃疾病產生之主因,故所採用之療病方法自然與單純斷食之法大異其趣。如佛醫經、修行道地經卷六所說之「四百四病」即是依照人體內四大失調所分類之疾病總稱,經中並舉其病症及對治之法。另如摩訶僧祇律卷十則揭舉服用油脂、酥、蜜等為療病之重要藥材。 於大藏經中所收錄有關醫藥之典籍極多。如佛醫經一卷、醫喻經一卷、治禪病祕要經二卷、療痔病經一卷、囉嚩拏說救療小兒疾病經二卷、迦葉仙人說醫女人經一卷、能淨一切眼疾病陀羅尼經一卷、除一切疾病陀羅尼經一卷、咒齒經一卷、咒時氣病經一卷、咒目經一卷、咒小兒經一卷等。〔修習止觀坐禪法要、大乘起信論義記卷下、止觀輔行傳弘決卷九之二、大唐西域記卷二〕(參閱「五明」1112、「四百四病」1689、「佛教醫術」2711)
; Sikitsavidyā (S), Cikitsavidyā (S)Đề cao về thuốc trị bệnh. Một trong ngũ minh: - thinh minh - công xảo minh - y phương minh - nhân minh - nội minh Một trong Ngũ minh của Vệ đà kinh: Thanh minh, Công xảo minh, Y phương minh, Nhân minh, Nội minh.
; Cikitsa (skt)—Hiểu biết về y phương là một trong ngũ minh—Medicine, one of the five studies or sciences. ** For more information, please see Ngũ Minh.
y phất lan tự
2152位於韓國平城之古寺。始建於高麗國第十七代小獸林王即位之第五年(375)二月。本寺與肖門寺並為高麗建立佛寺之濫觴。最初由我國晉代僧阿道住之,其後沿革不詳。〔海東高僧傳卷上、東國通鑑卷四〕(參閱「肖門寺」2989)
y phục
3054指對佛、法、僧三寶之誠心禮拜、絕對信奉。據大乘義章卷十載,依伏之義,如百姓歸順、敬伏君王,又如怯懦弱小者依附、信靠強勇者。
y phục thiên
Y Phục Thiên (màu đen) trong nhóm Kim Cang Giới, người bảo hộ thai nhau của một đứa trẻ chưa sanh; trên tay cầm cung và tên—The Vajradeva in the Vajradhatu group who guards the placenta and the unborn child; his colour is black and he holds a bow and arrow.
y phục tùy niệm nguyện
Lời nguyện của Đức Phật A Di Đà, nguyện rằng chư Thiên nhơn trong cõi nước của Ngài đều tức thời có đầy đủ y áo đẹp đẽ như ý nguyện—The vow of Amitabha that all the devas and men in his realm shall instantly have whatever beautiful clothing they wish.
y sa
Y Xá Na—Isa (skt)—Master—Lord.
y sa na
Isana (skt). 1) Hữu: Possessing. 2) Tụ Lạc: A settled place—Locality.
y sa đà la
Xem Trì thục.
; Isadhara (skt)—Dãy núi thứ hai trong bảy dãy bao quanh núi Tu Di, được làm bởi bảy báu, biển rộng 42,000 do tuần, đầy những bông hoa thơm ngát. Nó được định nghĩa như là—The second of the seven concentric circles surrounding Sumeru which is made of seven precious things, and its sea, 42,000 yojanas wide, is filled with fragrant flowers. It is defined as: a) Trì Trục: Holding the axis or axle. b) Xa Trục: The axle-tree. c) Tự Tại Trì: Sovereign control.
y sa đà la sơn
2153伊沙馱羅,梵名 Īṣādhara,巴利名 Īsadhara。又作伊沙陀羅山、伊沙多山。意譯持軸山、自在持山。乃七金山之第二座。繞第一座踰健達羅山(梵 Yugaṃdhara),高二萬由旬。〔俱舍論光記卷十一、玄應音義卷二十四〕(參閱「七金山」100)
y sát ni
2155梵語 Īkṣaṇikā。又作伊叉尼柯。意譯見命、論命、觀察。即指觀察命運之占相或咒術之意。持此咒術,能知他人心念。乃露形外道師所造。〔俱舍論卷二十七、俱舍論光記卷二十七、玄應音義卷二十四〕
; Iksani or Iksana (skt)—Theo Câu Xá Luận thì đây là một loại chú thuật mà người luyện có thể biết được những ý nghĩ trong tâm người khác—According to the Kosa Sastra, this is a kind of magic mode of reading another's thoughts.
Y Sơn
依山; ?-1213|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 19. Sư nối pháp Quốc sư Viên Thông.|Sư họ Nguyễn, quê ở làng Cẩm, tỉnh Nghệ An. Thuở nhỏ Sư đã tinh thông sách sử, cả kinh sách của nhà Phật. Năm 30 tuổi, Sư xuất gia với một vị Trưởng lão trong làng và sau đó đến kinh đô tham học với Thiền sư Viên Thông. Nhân một câu nói của Viên Thông mà Sư ngộ được yếu chỉ.|Về sau, Sư chu du tuỳ duyên hoằng hoá và thường khuyên đồ chúng: »Mến danh thích lợi, đều như bọt nước mặt ghềnh. Cấy phúc gieo duyên, trọn là trong lòng hoài bão.«|Sắp tịch, Sư gọi chúng đến bảo: »Ta chẳng trở lại cõi này nữa.« Ngày 18 tháng 3 năm Bính Tí, năm thứ ba niên hiệu Kiến Gia, Sư an nhiên thị tịch.|Sau đây là bài kệ Hoá vận – 化運 của Sư:|真身成萬象。萬象成真身|月殿榮丹桂。丹桂在一輪|Chân thân thành vạn tượng|Vạn tương thành chân thân|Nguyệt điện vinh đan quế|Ðan quế tại nhất luân.|*Một thật thân thành nghìn tướng sắc|Dẫu muôn nghìn cũng tức chân thân|Khác nào quế tốt muôn phần|Nghìn thu vẫn ở giữa vầng trăng trong.|(Phạm Tú Châu dịch)|Y tha khởi |依他起; C: yītāqǐ; J: etaki.|Sinh khởi tùy thuộc vào các pháp khác (s: paratantra, t: gshan gyi dbaṅ). Xem Y tha khởi tính (依他起性; theo Hiển dương luận 顯揚論)
y sơn thiền sư
Zen Master Y Sơn (?-1213)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Nghệ An, Bắc Trung Việt. Lúc 30 tuổi, ngài xuất gia với một vị sư già trong làng. Sau đó, ngài đến Thăng Long học thiền với Quốc Sư Viên Thông. Sau khi trở thành pháp tử đời thứ 19 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, ngài trụ tại chùa Đại Bi. Lúc cao tuổi, ngài dời về làng Yên Lãng để tiếp tục hoằng hóa Phật giáo cho đến khi ngài thị tịch vào năm 1213—A Vietnamese Zen master from Nghệ An, North of Central Vietnam. At the age of thirty, he left home and became a disciple of an old monk in the village. Later, he arrived at Thăng Long to study Zen with the National Teacher Viên Thông. After he beame the dharma heir of the nineteenth generation of Vinitaruci Zen Sect, he stayed at Đại Bi Temple. When he was old, he moved to Yên Lãng village to preach Dharma until he passed away in 1213.
y sư ca
(A) Isika (skt). 1) Mũi tên—An arrow—A dart. 2) Tròng mắt voi: Elephant's eye-ball. (B) Rsigiri (skt)—Một ngọn đồi cao trong thành Vương Xá—A high hill at Rajagrha.
y sư ca sơn
2156伊師迦,梵名 Isika。意譯仙人山。位於中印度摩揭陀國王舍城附近。增一阿含經卷三十二、大毘婆沙論卷四十六、阿毘曇毘婆沙論卷二十五等,均載有仙人在此山修道之事。此山即指雜阿含經卷三十九所載,瞿低迦(梵 Godhika)因恐退轉而自殺之王舍城仙人山。此外,因伊師迦山高聳堅固,故常被用以比喻我慢或常見如山之堅固難除。〔瑜伽師地論卷六、卷三十四、高僧法顯傳、大唐西域記卷九、玄應音義卷二十三〕
y sư ca thảo
2156伊師迦,梵語 iṣīka。意譯為虎鬢、葦草、藺草。屬蘆科之草名。外表雖柔,內部實堅,極不容易枯死。故取以比喻永不衰壞之事物。〔北本大般涅槃經卷十九、瑜伽論記卷二上、瑜伽師地論略纂卷三〕
y tha
Dependent on or trusting to someone or something else; trusting on another not on self or "works".
; Dependent on or trusting to someone or something else—Dependent or trusting on another, not on self.
y tha bát dụ
3052唯識宗爲彰顯諸法乃依於眾緣和合而成,一切爲假有,無有實體,故立八種譬喻,以示此「非有似有」之義。八喻即:(一)幻事喻,謂色等所緣之六處,其體雖無,遍計度時,所緣六處似又顯現,猶如幻事之實無似有。(二)陽焰喻,謂器世間實無,而係心、心所之所現,猶如陽光照射飄動之沙塵,閃耀如火焰,口渴之人視此幻境,以爲前有流水。(三)夢境喻,謂外在器世間之愛、非愛之受用差別,猶如夢中本無男、女等種種外境,而起愛、非愛境界之受用。(四)鏡像喻,謂諸法無實體,以善惡之思業爲緣,而生愛、非愛之果,此果虛幻,猶如鏡中所現之影像。(五)光影喻,謂諸法本無實體,而因諸識之轉起,猶如由弄影而起種種之影像。(六)谷響喻,謂諸法本無實體,而轉起種種言說戲論之相,猶如空谷迴響,無實音聲。(七)水月喻,謂諸法所緣之境無實體,而定心能起如實知、如實見之心法,恰如水中之月非實存,然因其性澄清乃能顯現月相。(八)變化喻,謂遍計所執之有情雖無,然證真之諸菩薩爲哀愍利樂依他所起之諸有情類而受生其中,恰如變化實不存,而能成一切事。〔唐譯攝大乘論卷五、成唯識論卷八、成唯識論述記卷九〕
Y tha khởi tính
依他起性; C: yītā qǐxìng; J: etakishō; S: para-tantra-svabhāva.|1. Tính hiện hữu của các pháp sinh khởi tùy thuộc vào các pháp khác; nên nói các pháp sinh khởi nhờ vào nhân duyên. Còn được gọi là Duyên hữu (縁有); 2. Các pháp sinh ra do nhân duyên và hoại diệt khi các nhân duyên không hội đủ. Theo lí thuyết của Duy thức tông, nó liên quan đến 94 yếu tố nhân duyên. Dù các pháp hiện hữu, nhưng nó không hiện hữu trong một ý niệm cơ bản, nên nó không thể được xem là không hiện hữu (vô 無). Đây được gọi là »giả hữu pháp« (假有法) hoặc là »không hiện hữu thật sự, có vẻ như hiện hữu« (phi hữu tự hữu 非有似有).
y tha khởi tính
3054梵 para-tantra-svabhāva。又作依他起相、緣起自性、因緣法體自相相。略稱依他起、依他。唯識宗所立三性之一。指依於他緣而生起一切如幻假有等現象之諸法。此依他起性乃屬有爲之法,在百法中,除六無爲法外,其他九十四法皆攝於此性之中。又眾緣分因緣、所緣緣、等無間緣、增上緣等四緣,若具足四緣,則能生起心法;若具足因緣、增上緣,則能生起色法。乃知一切有爲之現象皆由因緣和合而生,因緣離散則諸法滅盡,此即一切諸法,有而非有、無而非無之意,故佛典中常有「如幻假有、非有似有、假有無實」等說法。 依他起性又可分爲染分、淨分二種:(一)染分依他,指依虛妄分別之緣而生起的有漏雜染之諸法。(二)淨分依他,指依聖智之緣而生起的無漏純淨之法。其中,若就別義而言,淨分依他亦攝於唯識三性之第三「圓成實性」中。〔解深密經卷二、入楞伽經卷三、顯揚聖教論卷六、唐譯攝大乘論卷四、成唯識論卷八〕(參閱「三性」563)
; Paratantra (S)Duyên khởi tính.
; Paratantra (S). Depending on another that which arises. Not having an independent nature, not a nature of its own, but constituted of elements.
; Paratantra (skt)—Không có tánh độc lập, chỉ nương nhau mà thành—Not having an independent nature—Not a nature of its own, but constituted of elements—See Tam Tự Tính Tướng.
Y tha khởi tính. 依他起性
[ja] エタキショウ etakishō ||| (paratantra-svabhāva) (1) The nature of existence as arising from dependence on other things; said of existence arising from causes and conditions. Also expressed as 縁有.(2) That which is born of causes and conditions and will cease when causes are absent. In Consciousness-only theory, it refers to the 94 conditioned elements. Though existing, it does not exist in a fundamental sense, yet it cannot be called non- existent (無). This is called a "provisional existence" (jiayoufa 假有法) or "not existing, appearing to exist" (feiyousiyou 非有似有). => (s: paratantra-svabhāva) 1. Tính hiện hữu của các pháp sinh khởI tùy thuộc vào các pháp khác; nên nói các pháp sinh khởi nhờ vào nhân duyên. Còn được gọi là Duyên hữu. 2. Các pháp sinh ra do nhân duyên và hoạI diệt khi các nhân duyên không hội đủ. Theo lý thuyết của Duy thức tông, nó liên quan đến 94 yếu tố nhân duyên. Dù các pháp hiện hữu, nhưng nó không hiện hữu trong một ý niệm cơ bản, nên nó không thể được xem là không hiện hữu (vô-無). Đây được gọi là "giả hữu pháp"(c: jiayoufa ) hoặc là "không hiện hữu thực sự, chỉ hình như hiện hữu " (phi hữu tợ hữu 非有似有;
Y tha khởi 依他起
[ja] エタキ etaki ||| Arising in dependence on other things (Skt. paratantra; Tib. gshan gyi dbaṅ). See 依他起性. 〔顯揚論, T 1602.31.508b4〕 => Sinh khởi tùy thuộc vào các pháp khác (s: paratantra); (t: gshan gyi dbaṅ). Xem Y tha khởi tính.
y tha thập dụ
3053以十種譬喻表示人身乃依於眾緣和合而成,而其本質無有實體(空),亦無恆常之性(無常)。十喻即:(一)如聚沫喻,謂人身如沫,撮摩即逝。(二)如泡喻,謂人身如泡,瞬息破滅。(三)如炎喻,謂人身從渴愛生。(四)如芭蕉喻,謂人身之中無堅固不壞之實體。(五)如幻喻,謂人身從虛妄顛倒所生。(六)如夢喻,謂人身如夢,所見皆屬虛妄。(七)如影喻,謂人身從業緣顯現。(八)如響喻,謂人身屬諸因緣之和合。(九)如浮雲喻,謂人身須臾即滅。(十)如電喻,謂人身之心念無一常住。〔維摩詰所說經方便品〕
; The unreality of dependent or conditioned things, e.g. the body, or self, illustrated in ten comparisons: foam, bubble, flame, plantain, illusion, dream, shadow, echo, cloud, lightning.
y tha tâm
The mind in a dependent state, that of the Buddha in incarnation.
; The mind in a dependent state (that of the Buddha in incarnation).
y tha tự tánh
Paratantra (skt)—Vạn hữu nương nhau mà thành chứ không có tự tánh—The nature of being dependent on constructive elements and without a nature of its own—See Tam Tự Tính Tướng.
y tha tự tính
One of the Tam tính dependent on constructive elements and without a nature of its own.
y theo
According to—In conformity with.
y thiên khổ
Adhidaivika-dukkhata (S).
y thiền bảng
A board to lean against when in meditation.
y thuyên đàm chỉ
3058謂勉強以語言表達無法形容之義理內容。譬如真如爲永離言詮、無實可名之妙諦,然爲使學人了悟其體義,乃勉強立真如之名,藉言語文字以真實如常之事理闡釋此一無體無相之妙諦,即稱爲依詮談旨。 真如既僅依開悟之智慧始能了解,而無法以相對之言語說明之,故於表明其義理後,再否定言語文字之限制,則稱爲廢詮談旨。〔大乘法苑義林章卷二末二諦章、百法問答鈔卷四〕
y thân
3056指吾人之肉體。吾人之肉身爲心及心之作用所依靠之處所,故稱依身。「依」有積集、依止之義,亦即身爲眾生之依處及眼、耳等之依處,又爲智、定等生起之所依。〔俱舍論卷十、卷二十六、翻譯名義集卷六〕
; The body on which one depends, or on which its parts depend.
; Thân là chỗ nương tựa cho loài hữu tình, cũng là chỗ dựa cho các phần như mắt, tai, mũi, lưỡi, vân vân—The body on which one depends, or on which its parts depend, i.e eyes, ears, nose, tongue, etc.
y thông
3058五種通力之一。即憑藉藥力、咒力等術法而顯現神通之作用。如乘符往來、藥餌靈變等任意無礙之神仙術。〔臨濟錄示眾、宗鏡錄卷十五、三藏法數卷二十一〕(參閱「五種通」1185、「神通」4251)
; The magical powers which depend on drugs, spells etc.
; Một thứ thông lực y nương vào dược lực hay chú thuật mà thể hiện, một trong ngũ thông—One of the five magical powers, the magical powers which depend upon drugs, spells, etc. ** For more information, please see Ngũ Thông.
y thưởng na bổ la
Isanapura (skt)—Một vương quốc cổ ở Miến Điện—An ancient kingdom in Burma.
y thưởng na bổ la quốc
2157伊賞那補羅,梵名 Īśānapura。橫跨安南、暹羅,位於三摩咀吒國(今東孟加拉)東南之國。即義淨三藏所稱之扶南。扶南,又稱跋南,地當今柬埔寨,勢力大時曾領有湄公河西南(今泰國)之地。東漢時,與附近諸國相繼入貢。伊賞那乃印度之神名,補羅則係都城之義。〔大唐西域記卷十、南海寄歸內法傳序〕(參閱「扶南國」2945)
y thảo phụ mộc
3056禪林用語。又作依草附葉。本指人死後生緣未定之際,精靈無法獨立自存,必須依附草木而住。禪宗轉指學者爲語言文字所拘束,無法頓然達到絕對自由自在之悟境。從容錄第七十三則(大四八‧二七三上):「示眾云:『依草附木,去作精靈;負屈啣冤,來爲鬼崇(疑作祟)。」又對無力自行證悟而一味追隨他人意旨之學者,稱爲依草附木精靈。〔臨濟錄示眾、禪宗無門關第一則〕
y thấp phất la bạt na
6573 請參閱 右繞佛塔功德經 [1]梵語 īśvaravāṇa。又作毉羅跋那。指佛之音聲。意譯為自在聲、圓音。毉濕弗,乃自在、無礙之義,係諸佛及上位菩薩所具之功德;羅跋那,乃聲或大聲之義。是謂佛之圓妙音聲涵具眾音而廣大自在。〔華嚴疏鈔卷十二、慧苑音義卷上〕
y thất điều
Xem áo thất điều.
y thể
2571法衣之材體;即製法衣之材料。又作衣財。如法之材料在律中雖無一定之規定,然大抵可用綿、麻、樹皮、野蠶絲、絹、羊毛、鳥毛等所製。四分律刪繁補闕行事鈔卷下一(大四○‧一○五中):「財體如(疑缺『法』字),必須厚重熟緻者,若細薄生疎綾羅、錦綺、紗縠、細絹等,並非法物。」大乘佛教則以三輪體空為重要,衣體為何物,並不重要,將其判如糞掃衣,亦無不可;三輪,指施主、受者與施物。 至於蠶衣是否如法,說法有異。據道宣律師感通錄、章服儀等載,殺生所得之衣財,不得用為袈裟法服;大智度論載佛陀著粗布之袈裟;又西來之梵僧著布岁,五天竺國無著蠶衣者。凡此,皆謂蠶衣非法。然義淨則排斥上述說法,而於所著之南海寄歸內法傳卷二主張絹絁亦為如法之財體。 四分律卷六與卷三十九除舉出糞掃衣外,並許可絁衣、劫貝衣、欽婆羅衣、芻摩衣、讖摩衣、扇那衣、麻衣、翅夷羅衣、鳩夷羅衣、讖羅半尼衣等十種;十誦律卷五十六則舉白麻衣、赤麻衣、芻麻衣、憍施耶衣、翅夷羅衣、欽跋羅衣、劫貝衣、鉢兜路衣。頭頭羅衣、俱遮羅衣等十種。又摩訶僧祇律卷二十八舉有七種。善見律毘婆沙卷十四舉有六種。佛像標幟義圖說則舉有粗布衣、金襴衣等種種衣體。 此外,衣體復為出家人所用法衣規制之總稱。有袈裟與法衣兩種,袈裟乃三衣之演變,有五條、七條、九條、二十五條之分;法衣則有袍服、〖⿱ 車 糸〗絹、直綴等。有時又依宗派、身分之不同,裁法、染色亦有異。〔四分律行事鈔資持記卷下之一、佛門衣服正儀編、僧服正檢卷上本〕(參閱「法衣」3346、「直綴」3460)
y tiện
2570乃三賤之一。出家沙門為對治貪著之心,故其所著用之袈裟須以截斷之布,縫製成粗惡之衣,稱為衣賤。〔善見律毘婆沙卷七〕(參閱「三賤」678)
y toà thất tam quỹ
2568又作弘經三軌。指弘傳法華經者所應遵守之三種軌則。衣、座、室乃三種譬喻,以如來之衣譬喻柔和忍辱之心,如來之座譬喻一切法空,如來之室譬喻利益一切眾生之大慈悲心。故依此三軌,初發菩提心之法師不因毀譽迫害等而動念,是為忍辱之衣;離執著,是為法空之座;願利益眾生,是為慈悲之室。此三軌之德廣大,相當於佛之三身,忍辱心能空二邊之情,遮遣自他之諍,故為法身;諸法空為般若之智德,故為報身;大慈悲室為解脫自在之德,故為應身。 法華經卷四法師品(大九‧三一下):「若有善男子、善女人,如來滅後,欲為四眾說是法華經者,云何應說?是善男子、善女人入如來室,著如來衣,坐如來座。爾乃應為四眾廣說斯經。如來室者,一切眾生中大慈悲心是;如來衣者,柔和忍辱心是;如來座者,一切法空是。」天台大師智顗並將此段經文進一步闡釋之,法華文句卷八上(大三四,一○八上):「慈悲覆物,惠利歸己,名之如室;遮彼惡,障己醜,名之為衣;安心於空,方能安他,安他安己,名之為座。」〔法華經玄義卷四下、法華義疏卷九(吉藏)、法華經玄贊卷八末〕
y trì
3056若有一法爲一切法所依,能令一切法住持相續者,則該法爲一切法之依持。此說爲地論宗南北兩道派諍論之焦點。南道派倡導真如依持說,北道派則主張阿梨耶識依持說。 (一)南道派所倡真如依持說:據北齊法上之十地論義疏所載,法上係以阿梨耶爲第七識,真如爲第八識,故主張以有體之如來藏真識爲無體之阿梨耶以下七識之依持。法上之弟子慧遠於所著大乘義章卷三末八識義之十門分別第五,闡明依持之義,首先,就真妄相對以說依持,並就真妄共相識說本末相對依持之二義,其中,初義再細別爲真妄相對、唯妄、唯真三義。其次,依序就唯妄辨依持,就唯真辨依持,復就真妄共相識中,以本末相對辨依持。慧遠亦主張真如依持說,然異於其師之說而建立八識之論,謂第八識爲阿梨耶,第七爲阿陀那;視阿梨耶同於如來藏心,阿陀那同於根本無明識。歸納其說有四點,即:(1)第八之真識與前七識之妄識相對待;真爲所依能持,妄爲能依所持。(2)將前七妄識分別本末,以第七爲本,前六識爲末,就本末相對待而論所依、能依。(3)就第八真識分別體用,以性淨之義爲體,隨緣之義爲用,亦以體、用之相對而論所依、能依。(4)於真妄共相識中分別本末,以與無明和合之阿梨耶識爲本,前七識爲末,就本末相對而論依持義。 (二)北道派所倡阿梨耶識依持說:關於此教說,今日並無完整資料可供稽考,試引大乘義章論真妄相之文,略窺北道派之主張。大乘義章卷三末(大四四‧五三二下):「性雖常住,而彼水相隨風波轉,(中略)有人一向說:『彼海水喻第七識,不喻真識。』此言大偏。如彼經中說如來識以爲藏識,第七妄心名業相識。經自說言:『藏識如巨海,業相猶波浪。』云何乃言水喻七識?彼文復云:『如來之藏,爲彼無始虛偽惡習所熏,名爲藏識,生無明住地,與七識俱。如海波浪。』云何海水不喻真識?良以世人迷覆真心,妄取空義以爲真識。故爲此論。」上引中之「彼經」乃指楞伽阿跋多羅寶經。於其中,慧遠破斥此「一向說」,而以空理爲真識,故不爲物之依持;並以第七阿梨耶識爲能依持,前六識喻如波浪爲能轉,此正相當於北道派之阿梨耶識依持說。該說爲攝論宗所繼承,攝論師主張法性不爲惑所染,故不成妄法,不爲真所淨,故不成淨法,凝然而常住,故不爲依持;阿梨耶識爲無沒無明隨眠之識,能盛持一切種子,故阿梨耶識爲一切法所依持。此外,據瑜伽師地論卷二所載,建立、藏覆、豐稔、安穩、日月、食等,稱爲六種依持,此乃能令有情之身保持安定、成長者,而與前述之依持說有異。〔楞伽阿跋多羅寶經卷一、卷四、十地經論卷三、十地經論疏卷三、法華經玄義釋籤卷十八、法華經文句記卷七中、摩訶止觀卷五上、講述大乘起信論(望月信亨)、華嚴思想史(高峰了州)、南北兩道の地論學派の主張と起信論(大正學報二八)、中國佛教史(黃懺華)第二章第十四節〕
y tòa thất
The robe, throne and abode of the Tàthagata, See Lotus Sùtra Pháp sư phẩm.
y tăng già lê
The double robe—A large robe.
y tư lan giáo
2156(Islām)為阿拉伯人穆罕默德所創。又稱回教、回回教、清真教、石室教、天方教、依斯蘭教。因由回紇(回鶻)人傳入中國,故稱回教。伊斯蘭意謂絕對信奉真神阿拉。其經典為教主穆罕默德從「唯一真神阿拉」處獲得之啟示,而編纂成可蘭經(Qurān)。其歸依之信徒,稱為穆斯利姆(Muslīm)。教義以六信五行為中心思想,所謂六信即信仰神、天使、經典、預言者、死後之世界(來世)及天命;五行即指信徒必修之功課:告白、禮拜、斷食、喜捨、朝拜聖地麥加(Makkah)。 回教主要之三派,(一)為尊重教統之正統派(Sunnī)。(二)為重視穆罕默德血統之什葉派(Shī'ah)。(三)為興起於十八世紀之極端禁欲主義之瓦哈比派(Wahhābī)。各派信徒分別占百分之九十、八、二之比例。教徒分布則以發祥地阿拉伯為中心,向東至土耳其、阿富汗、伊朗、伊拉克、巴基斯坦、印度、馬來西亞、印尼,直到菲律賓;西從阿拉伯聯邦起,到蘇丹、阿爾及利亞、摩洛哥為止之非洲一帶,形成一個伊斯蘭教區域,教徒總數約有四、五億。 回教自唐徽宗二年(651)傳入我國,其在文化上最大之貢獻,係將我國之造紙術西傳。近世以來,在我國蒙古、新疆等地,如維吾爾、哈薩克等少數民族大多信仰回教。在臺灣,目前之回教徒約有五萬人左右,清真寺共五座,臺北兩座,臺中、高雄、中壢(龍崗)各一座。〔回典要會(馬復初)、辨理明證(馬聯元)、伊斯蘭文化(詹柏煉)、中國回教史(傅統先)、天方至聖實錄、回教概論(大川周明)〕
y tọa thất
Áo, chỗ ngồi và chỗ ngụ của Đức Như Lai—The robe, throne, and abode of the tathagata
y tử
Bài kệ tẩy độc cho những đứa con của vị Đại Phu trong Kinh Pháp Hoa—The parable of the healing of his poisoned sons by the doctor in the Lotus Sutra.
y tử dụ
6628法華經所說七種譬喻之一。又作醫師喻。某良醫因事至他國,其諸子誤飲毒藥;迨父還,取好藥濟諸子,諸子有尚未失心者,服之而癒,已失心者,則拒不敢服;父便往他國,詐言死。諸子聞之,哀切之餘,乃醒悟而服好藥,悉除病毒,父乃歸來相見。此係以良醫比喻如來,以諸子比喻三乘人。三乘之人信受權教,未得正道;如來以方便力,使服大乘法藥,速離苦惱。〔法華經如來壽量品〕
Y tự
伊字; C: yīzì; J: iji;|Nguyên âm i trong tiếng Phạn (sanskrit), được viết như hình có ba cạnh trong một vòng tròn nhỏ (s: i-kara).
y tự khởi phái
3055梵名 Svātantrika。爲印度佛教中觀派之分支。約於西元五、六世紀間,由中觀論師眾護(梵 Saṃgharakṣita,音譯僧伽羅苦什達,又作僧護)之弟子清辯(梵 Bhāvaviveka)所創。中觀派自二世紀頃之龍樹(梵 Nāgārjuna)造立中論、宣揚中道空觀之旨開始,歷經提婆、羅睺羅跋陀羅、青目等論師相繼撰著諸論,闡釋祖意,弘揚真空中道之說。 至六世紀初,有佛護(梵 Buddhapālita)、清辯爲同時代較具影響力之中觀論師,二人皆就學於眾護,研習龍樹之教說,然兩人見解互異,各自撰書立說,並批駁對方之論點,自此,中觀派乃分裂爲二,即以佛護之學說爲主流之具緣派(梵 Prāsaṅgika),及以清辯爲主流之依自起派。 清辯作般若燈論一書以解釋中論之教旨,並於書中對佛護之論說詳加批評,另又著有中觀寶燈論、中觀心論頌、中觀心論頌註、攝中觀義論、大乘掌珍論等書。其後有觀誓論師(梵 Avalokitavrata),著般若燈論註一書以弘揚其師之說。另據唐代地婆訶羅三藏之傳說,謂當時那爛陀寺有智光論師者,稟承提婆、清辯之教說,依般若經、中論之旨,倡立「心境俱有」等之三時教,以對抗當時另一著名論師戒賢之說。準此而言,智光亦屬本派之重要論師。 自七、八世紀開始,中觀派與瑜伽派漸有相互融攝之傾向,而形成中觀瑜伽派,由是,本派與具緣派之對立,及各自流傳之情形,即自然消融於中觀、瑜伽兩大派交流之時潮中。〔大唐西域記卷十、南海寄歸內法傳序、多羅那他印度佛教史、W. Wassiljew:Der Buddhismus; Th. Stcherbatsky: The Conception of Buddhist Nirvāṇa〕(參閱「中觀派」1037、「具緣派」3079)
; Svatamtrika (S)Do Ngài Thanh Biện (Bhavaviveka) sáng lập vào thế kỷ IV - V.
y tự khởi tông
Svātantrika (S).
Y tự tam điểm
伊字三點; C: yīzì sāndiǎn; J: ijisanten;|Trong tiếng Sanskrit, nguyên âm I được viết bằng ba chấm theo hình tam giác (∴). Vì ba điểm nầy được xếp theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc, nên nó được dùng cho chuyển nghĩa »không giống cũng không khác- bất đồng diệc bất dị«. Trong kinh Niết-bàn, ba điểm nầy được dùng cho chuyển nghĩa về sự tương quan giữa Pháp thân với Giải thoát (s: mokṣa).
y tự tam điểm
2153悉曇字???(i,伊)字係由三點組成,此三點既非縱列,亦非橫列,乃呈三角形狀,故以譬喻物之不一不異、非前非後。據南本大般涅槃經卷二所載,摩醯首羅面上之三目,其狀如伊字之三點。同書並將伊字三點譬喻為涅槃之法身、般若、解脫等三德;因此三德具有相即不離之關係,由此三德而成涅槃實義,譬如伊字係由三點組成。 關於伊字之書體有多種。灌頂於大般涅槃經疏卷六,認為伊字有新舊之分,並以舊伊字譬喻別教教理之無法圓融,而以新伊字譬喻圓教之圓融相即之理。此種新伊(圓伊)又稱真伊。此外,摩訶止觀卷三上等,則以伊字三點配於法身、般若、解脫(三德),實性、實智、方便(三菩提),或正因、了因、緣因(三佛性),或佛、法、僧(三寶),或苦、煩惱、業(三道)等諸種三法,並以新伊字來說明其彼此之關係。〔華嚴經隨疏演義鈔卷八十、悉曇字記、大般涅槃經玄義卷上、大乘入道次第章、悉曇藏卷五〕
; 1) Chỉ chữ “Y” trong Phạn ngữ được hình thành từ ba điểm, chẳng dọc chẳng ngang, mà có quan hệ ba góc, nên dùng để ví với tánh bất nhất bất dị, phi tiền phi hậu của sự vật: Refers to a specific Sanskrit sign of “Y” which means neither across nor upright, being a triangular shape, and indicating neither unity nor difference, neither before nor after. 2) Trong Kinh Niết Bàn, dùng để ví với ba đức Pháp thân, Bát Nhã, và Giải Thoát cần thiết cho việc đi đến niết bàn—The Nirvana Sutra applies the three parts which are necessary to complete the nirvana: a) Pháp Thân: Dharmakaya. b) Bát Nhã: Prajna. c) Giải Thoát: Vimoksa (skt). 3) Liên hệ với ba mắt của Ma Hê Thủ La—It associated with the three eyes of Siva: a) Khi nhìn ngang thì chúng tiêu biểu cho lửa: When considered across they represent fire. b) Khi nhìn dọc thì chúng tiêu biểu cho nước: When considered upright they represent water. c) Khi nhìn tổng thể chúng biểu hiện cho sự giải thoát: When considered totally they represent vimoksa.
Y tự tam điểm 伊字三點
[ja] イジサンテン ijisanten ||| In Sanskrit script the sound i is written in the form of three dots in a triangle (∴). Since these three line up with each other either horizontally or vertically, it is used as a trope for "neither the same nor different." In the Nirvāna-sūtra it is used as a trope for the relationship between the dharma-body 法身, Abhidharmakośa and mokṣa 解脱. => Trong tiếng Sanskrit, nguyên âm I được viết bằng ba chấm theo hình ram giác (∴). Vì ba điểm nầy được xếp theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc, nên nó được dùng cho chuyển nghĩa "không giống cũng không khác- bất đồng diệc bất dị". Trong Kinh Niết-bàn, ba điểm nầy được dùng cho chuyển nghĩa về sự tương quan giữa Pháp thân (e: dharma-body) với Giải thoát (s: mokṣa ).
Y tự 伊字
[ja] イジ iji ||| The Sanskrit vowel sound of i, which is written with a triangular configuration of the small circles (i-kara). => Nguyên âm I trong tiếng Sanskrit, được viết như hình có ba cạnh trong một vòng tròn nhỏ (s: i-kara)
y vai trái
The upper robe.
Y Vương
(醫王): vua của các thầy thuốc, tiếng tôn xưng dành cho chư Phật và Bồ Tát. Quý ngài thường trị tâm bệnh của chúng sanh, nên người ta dùng vị lương y để ví dụ cho quý ngài. Vì từ vô thỉ cho đến ngày nay hàng phàm phu bị trầm luân trong Ba Đường, khó được giải thoát; cho nên chư Phật và Bồ Tát phát khởi tâm đại bi, biết rõ phiền não căn bản chính là nguồn gốc sanh, lão, bệnh, tử của tất cả chúng sanh, vì vậy quý ngài tùy theo căn cơ, nhân duyên để hóa độ cho chúng sanh được lợi ích và giải thoát. Cũng giống như vị lương y trong đời, có thể khéo chẩn đoán người bệnh, biết chứng bệnh của người đó để điều trị. Trong quyển 15 của Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經), Y Dụ Kinh (醫喩經) có đề cập đến Bốn Pháp Thành Tựu của một vị vua của các thầy thuốc như: (1) Biết rõ bệnh; (2) Biết rõ nguồn gốc bệnh; (3) Biết rõ sự đối trị cho căn bệnh ấy; (4) Khéo chữa trị cho lành bệnh. Hơn nữa, vị ấy cũng phải biết khả năng cũng như nhân duyên có thể tái phát của căn bệnh ấy để chữa cho dứt hẳn. Kinh này ví dụ sự thành tựu 4 pháp của vị y vương cũng giống như sự thành tựu 4 đức của chư Như Lai. Các ngài xuất hiện giữa cõi đời, diễn thuyết pháp Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦) gồm Khổ, Tập, Diệt và Đạo để điều trị căn bệnh của tất cả chúng sanh. Ngoài ra, quyển 22 của Đại Trí Độ Luận (s: Mahāprajñāpāramitopadeśa[-śāstra], 大智度論, Taishō 25) cũng có thí dụ nổi tiếng như: “Phật như y vương, pháp như lương dược, tăng như chiêm bệnh nhân, giới như phục dược cấm kỵ (佛如醫王、法如良藥、僧如瞻病人、戒如服藥禁忌, Phật như vua của các thầy thuốc, pháp như phương thuốc hay, tăng như người chăm sóc bệnh nhân, giới như sự cấm kỵ khi dùng thuốc).” Hay như trong bài Thê Sản Tử (妻產死) của Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) quyển 6 có câu: “Nguyệt trầm hương cáp nhân hà tại, vụ thảm minh quan lộ cánh trường, hồn phách tưởng quy vu hạp khứ, tảo hồi Đâu Suất lễ Y Vương (月沉香閤人何在、霧慘冥關路更長、魂魄想歸巫峽去、早回兜率禮醫王, trăng lặn gác hương người đâu tá, sương thảm cửa u nẻo thêm dài, hồn phách những quy khe suối vắng, mau về Đâu Suất lễ Y Vương).”
y vương
6628<一>佛菩薩之尊稱。佛、菩薩能醫治眾生之心病,故以良醫為喻,而尊稱為醫王。蓋凡夫自無始以來,因煩惱之故,沈淪於三途,難以解脫,佛、菩薩乃起大悲心,了知眾生生老病死等共同之根本煩惱與各別之根機、因緣,而一一施以化益,令得解脫;猶如世間之良醫,善能診察病者,知其病症而治之,毫無謬失。 另如雜阿含經卷十五、醫喻經等,亦舉出大醫王所具足之「四法成就」,即:(一)善知病。(二)善知病源。(三)善知病之對治。(四)善治病已,更知將來復發之可能與因緣,而斷除之。經中並以大醫王成就此四法比喻如來成就四德,出現於世,闡說苦、集、滅、道等四諦法,以療治眾生之病。此外,大智度論卷二十二亦有(大二五‧二二五下)「佛如醫王,法如良藥,僧如瞻病人,戒如服藥禁忌」等之著名譬喻。〔大乘本生心地觀經卷八、維摩經卷中問疾品、維摩經略疏卷七、慧琳音義卷二十九〕 <二>為藥師如來之別稱。藥師如來十二別願中之第七願即是「除病安樂」之願,故有此別稱。又一般藥師如來之造像,常有手執藥壺之造型。於日本,以藥師如來為本尊之寺院,通稱為藥王寺。此外,或謂「醫王」乃諸佛通用之名;若專指藥師如來時,則特稱為「醫王善逝」。
; 1) Bậc vua trong các thầy thuốc: The Medicine King. 2) Phật được tán thán như là bậc Y Vương chữa lành mọi khổ đau phiền não cho chúng sanh: The Buddha as healer of sufferings.
y xa na luận sư
2157即以伊賒那(梵 īśāna,意譯司配者)為一切萬物根源之外道。為二十種外道之一。盛行於龍樹、提婆時代,屬大自在天外道。伊賒那,在梨俱吠陀中,原稱為嚕捺羅(梵 Rudra),後成為濕婆之異名,其後則被視同摩醯首羅,如大智度論卷五十六以伊賒那為大自在天王及其眷屬,即將二者混為一談。然此外道與摩醯首羅論師之不同,乃在於後者以摩醯首羅為有形而常住不變;前者則以伊賒那為無形不可見之體。蓋此外道以伊賒那為常住實在,萬有皆由此發生,故主張歸之即是涅槃。(參閱「大自在天外道」784、「伊舍那天」2155)
y xa năng già la thôn
2154梵名 Icchānaṅgala,巴利名同。又作一奢能伽羅村、一車難伽羅村、那楞伽羅村。為位於憍薩羅國(梵 Kosalā)之婆羅門村。據南傳巴利本相應部經典五四‧十一所載,釋尊居住此地時,於林中三個月,任何人皆不能親近。其後,從林中出而告諸比丘,依入出息念定而安住於雨安居之法。另據雜阿含經卷二十九記載,釋尊曾住於一奢能伽羅林中,坐禪二月後告諸比丘,以安那般那念坐禪可得思惟住之法。又南傳巴利本增支部經典五‧三十、六‧四二記載,釋尊入伊車能伽羅村時,此村婆羅門居士等仰慕釋尊名望,於夜半立門外發高聲求見,釋尊向侍者那耆多(巴 Nāgita)說:「我不欲遇榮華,榮華亦不欲遇我。」而終不見。此外據經集(巴 Suttanipāta)三‧九婆私吒經(巴 Vāseṭṭha-sutta)所記述,釋尊居住此地時,與婆私吒(巴 Vāseṭṭha)、婆羅豆婆遮(巴 Bhāradvāja)二婆羅門判論人以生世為貴或以行為為貴。可見此村人之名譽心強而好議論。〔長部經典三阿摩晝經(巴 Ambaṭṭha-suttanta)、有部藥事卷八、梵志阿
y xá la
2155東印度人。於唐時來華,玄宗開元十一年]723),金剛智三藏奉敕在長安資聖寺譯經,譯出七俱胝佛母准提大明陀羅尼經一卷、金剛頂瑜伽中略出念誦經四卷。當時即由伊舍羅擔任譯語之工作,沙門溫古筆受。〔宋高僧傳卷一、開元釋教錄卷九〕
y xá na
See Y Sa.
y xá na hậu
Isani (skt)—Vợ của thần Y Xá Na—Wife of Siva.
y xá na phương
2155指東北方。又作伊舍尼方。於密教中,有所謂守護佛法之八方天,即於世界之東、南、西、北、東北、東南、西南、西北等八方,各有一守護天神,稱為護世八方天、護方八位,其中,東北之護方天,稱為伊舍那天,故東北方又稱伊舍那方,或直接聯稱為東北伊舍那方。又因伊舍那(梵 Īśāna)意譯作自在,故東北方又稱自在方。〔大日經卷一具緣品、大日經疏卷五〕(參閱「八方天」278、「伊舍那天」2155)
y xá na thiên
2154伊舍那,梵名Īśāna。又作伊遮那天、伊邪那天、伊賒那天、伊沙天。意譯自在、眾生主。司配者之義。十二天之一,十力護法神王之一,護世八方天之一。位於密教胎藏界曼荼羅外金剛部之東北,為三目之天人形,左手持盛血劫波杯,右手持三戟鎗,坐於氍罚座;或坐於黃豐牛臺座上。伊舍那天舊稱摩醯首羅天,亦即大自在天;然此尚有異說。日本有一種神稱為伊奘諾尊,亦被視為伊舍那天。〔十二天供儀軌、供養十二大威德天報恩品、瑜伽論記卷九、現圖曼荼羅〕(參閱「大自在天」783)
; Isana (skt). 1) Chư thiên trong cõi trời dục giới thứ sáu: The deva of the sixth desire-heaven. 2) Ma Hê Thủ La Thiên: Mahesvara (skt). 3) Mặt trời là một hình thức của thần Siva: The sun as a form of Siva. 4) Viện chủ của bên ngoài Kim Cang Viện trong nhóm Kim Cang giới: Head of the external Vajra-hall of the Vajradhatu. 5) Thần Siva ba mắt nhiều sừng: Siva with his three firece eyes and horns.
Y xứ
依處; C: yīchù; J: esho;|Quan điểm, lập trường căn bản. Căn nguyên (s: adhikāra, adhiṣṭhāna, vastu, hetu).
Y xứ 依處
[ja] エショ esho ||| A basis, locus, standpoint. A cause. (adhikāra, adhiṣṭhāna, vastu, hetu.) => Quan điểm, lập trường căn bản. Căn nguyên(s: adhikāra, adhiṣṭhāna, vastu, hetu).
y đan
2569衣,即指衣鉢;單,即書寫人名之小紅紙片。據禪林象器箋座位門記載,僧堂中,各人座席之壁上皆貼有名單,稱之為單位,其上可掛置衣鉢,故又以衣單為座席之代稱。又作單席。禪苑清規卷十「百丈規繩頌」(卍續一一一‧四六七下):「自己衣單下,尋常要整齊。」
Y Đạt Chính Tông
(伊達政宗, Date Masamune, 1567-1636): vị Võ Tướng sống giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, con của Huy Tông (輝宗), tự xưng là Độc Nhãn Long (獨眼龍). Ông kế thừa sự nghiệp của cha, xưng bá ở vùng Áo Vũ (奥羽, Ōu), nhưng đến năm 1590 thì phụ thuộc vào Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi). Về sau do vì ông lập công lớn trong trận hợp chiến ở Sekigahara cũng như trận Đại Phản (大阪, Osaka), ông được ban cho quản lãnh vùng Tiên Đài (仙台, Sendai).
y đằng nghĩa hiền
2158(1885~1969)日本山口縣人。畢業於佛教大學。歷任教授、本願寺局長、侍真、部長,及明恩寺住持、本願寺勸學、佛教民和黨總裁。生平律己、治學甚嚴,力主大乘係佛所說。
Y Đằng Nhân Trai
(伊藤仁齋, Itō Jinsai, 1627-1705): Nho gia sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; Tổ của Học Phái Cổ Nghĩa; tên là Duy Trinh (維楨); tự Nguyên Tá (源佐); hiệu Nhân Trai (仁齋); xuất thân kinh đô Kyoto. Suốt đời ông không hề làm quan, mà chỉ làm nhà Nho bình thường. Ông khai sáng Cổ Nghĩa Đường (古義堂) ở Quật Xuyên (堀川, Horikawa), kinh đô Kyoto và giáo dưỡng khá nhiều môn đệ. Ông phê phán Chu Tử Học, đề xướng cổ nghĩa học vốn lấy trực tiếp ý nghĩa xưa nay của các kinh thư như Luận Ngữ (論語), v.v. Ông đã lấy lời dạy của Khổng Tử làm giáo lý nhân luân hằng ngày, rồi thuyết ra tư tưởng luân lý vốn xem trọng mối quan hệ con người hằng ngày; và rất coi trọng Luận Ngữ, Mạnh Tử. Các trước tác của ông như Luận Ngữ Cổ Nghĩa (論語古義), Mạnh Tử Cổ Nghĩa (孟子古義), Trung Dung Phát Huy (中庸發揮), Ngữ Mạnh Tự Nghĩa (語孟字義), Đồng Tử Vấn (童子問), v.v., sau này được nhóm đệ tử Đông Nhai (東涯) san hành. Đông Nhai kế thừa Cổ Nghĩa Đường; đệ tử của ông có Trung Giang Dân Sơn (中江岷山), Tinh Hà Thiên Dân (幷河天民), Bắc Thôn Đốc Sở (北村篤所), v.v.
y đế mục
Ityuktas (skt)—Bổn sự thuyết, một trong mười hai bộ kinh Phật—The Buddha's discourses arsing out of events (personal events or Jataka stories, one of the twelve classes of Buddhist liturature).
y đế mục đa
Xem Bổn sự.
y đế viết đa già
2155梵語 iti-vṛttaka 或 ity-uktaka,巴利語 itivuttaka。乃十二部經之一,九部經之一。又作伊帝越多伽、伊帝目多伽、一目多迦、一筑多。意譯本事、出因緣、如是語經、此事過去如是。據大智度論卷三十三等舉出伊帝曰多伽之二義:(一)如是語經,相當於梵語 ity-uktaka,即宣說佛過去為諸弟子說如是法。(二)出因緣(本事),相當於梵語 iti-vṛttaka,即宣說前際(過去)所見聞之事。〔大毘婆沙論卷一二六、成實論卷一、瑜伽師地論卷二十五、卷八十一、顯揚聖教論卷六、卷十二〕(參閱「本事」1959、「如是語經」2366)
y để ha bà luận
Itihasa (S)Tên một bộ luận kinh. Vệ đà.
y địa
3055<一>指身心依存之所。 <二>梵語 bhūmy-āśrava。與「依身」相對。指有情眾生生起智慧與善根或修觀時所依止之定境(即精神統一之狀態);以地比喻之,故稱依地。各種修行階段所依之地有種種差別,如俱舍論卷二十二謂,修不淨觀時(大二九‧一一七下):「依十地,謂四靜慮及四近分、中間、欲界。」持息念時(大二九‧一一八上):「依五地,謂初二三靜慮近分、中間、欲界。」又同論卷二十五說無學之依地有九種,即未至定、中間定、四禪定、三無色定;有學之依地僅有六種,即未至定、中間定、四禪定。此外,俱舍論另有十智之依地、三重等持之依地等之記載。〔阿毘曇心論經卷四、俱舍論卷二十三、卷二十六、卷二十八、大毘婆沙論卷四〕
; The ground on which one relies; the body, on which sight, hearing etc., depend; the degree of samadhi attained.
; Loại định lấy thân làm chỗ sở y—The ground on which one relies; the body on which sight, hearing, etc., depend; the degree of samadhi attained.
Y 依
[ja] エ e ||| (1) A foundation, a ground, a basis (saraya, sama-, samupa-, samyoga, niśraya, niśrita, niśritya). (2) A cause of something coming into being. (3) Ultimate ground, dwelling place. (4) A ground for attachment. Elements that compose existence. A basic factor (in the composition of past and future transmigratory existence). Affliction, defilement, attachment. Since defilement is the basic condition (依) for the unfolding of the realm (依) of suffering, there are two levels of meaning of the term (upādhi). (5) Control, rule, guidance. That which exists for the purpose of control (adhisthāna). (6) Dependence, reliance (anusārin, apekṣana, apekṣa). (7) In Saṃkya philosophy, that which exists in dependence upon something else (āśrita). (8) To conform to the authority of (a text, an explanation, etc.) (āśraya). (9) That which is relied upon. (10) Arise from, be based upon, to be predicated on, to originate in. (11) To be located (in, on, at) (upādāya, pratisarana). => Cơ sở, nền tảng, căn bản (s: saraya, sama-, samupa-, samyoga, niśraya, niśrita, niśritya) 2. Nguyên nhân khiến cho mọi vật hiện hữu. 3.Nền tảng cơ bản, nơi an trú (của mọi vật). 4. Nền tảng của sự chấp trước. Những yếu tố tạo nên sự hiện hữu (trong sự tạo thành thực thể luân hồi từ quá khứ đến tương lai. Phiền não, nhiễm ô, chấp trước. Vì phiền não là điều kiện căn bản (sở y) của vô số cảnh giới (năng y) khổ đau, nên có hai tầng bậc ý nghĩa của thuật ngữ (s: upādhi: thực thể luân hồi). 5. Quy tắc, luật lệ, sự chỉ đạo. Hiện hữu vì mục đích cho sự gia trì (s: adhisthāna). 6. Sự tùy thuộc, nương vào. 7. Theo triết học của phái Số luận, đó là những pháp hiện hữu tùy thuộc vào một pháp khác (s: āśrita). 8. Chiếu theo căn cứ đáng tin (kinh văn, luận giải...)(s: āśraya). 9. Vật, nơi được dựa vào. 10. Sinh khởi từ, căn cứ vào, dựa vào, xuất phát từ. 11. Được đặt vào vị trí ( trong , trên, ngay) (s: upādāya, pratisarana).
y-lan
phiên âm từ Phạn ngữ ervaṇa, là một loại cây nở hoa màu hồng rất đẹp nhưng có mùi hôi lan xa đến hàng mấy chục dặm. Trong kinh luận thường dùng hoa y-lan để so sánh với những phiền não tụ tập trong thân.
y-sa-na
Isāna (P).
y-sư-ca
(iṣỵk), một loài cỏ có tính bền bỉ, chắc chắn, dùng để ví với những gì chắc chắn, không thể phá hoại. Sách Du-già lược toản (瑜伽略纂) quyển 3 có viết: “有草名伊師迦,體性堅實” (Hữu thảo danh y-sư-ca, thể tánh kiên thật. - Có loài cỏ tên y-sư-ca, bản tính bền chắc.) Các bản Hán văn cũng có khi dịch tên cỏ này là đăng tâm thảo (燈心草).
Y-đế-mục-đa-già
phiên âm từ Phạn ngữ là Iti-vṛttaka, dịch nghĩa là ‘bản sự’, là những kinh nói về sự ra đời, thuyết pháp của chư Phật. Xem Mười hai bộ kinh.
; 伊帝目多伽; C: yīdìmùduōqié; J: itaimokuta-ka;|Phiên âm từ chữ itivṛttaka trong tiếng Phạn (sanskrit). Là một trong 12 thể loại của kinh Phật (Thập nhị bộ kinh 十二部經), theo sự sắp xếp của các đệ tử Phật từ thời quá khứ.
Y-đế-mục-đa-già 伊帝目多伽
[ja] イタイモクタカ itaimokutaka ||| Transcription of the Sanskrit itivṛttaka, one of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經, which are accounts of the past lives of the disciples of the Buddha. => (j: itaimokutaka) Phiên âm từ chữ itivṛttaka trong tiếng Sanskrit. Là một trong 12 thể loại của Kinh Phật (Thập nhị bộ kinh), theo sự sắp xếp của các đệ tử Phật từ thời quá khứ
Yab-yum
T: yab-yum; S: yuganaddha; nghĩa là »Phụ mẫu«;|Hình tượng thường thấy trong nghệ thuật Tây tạng trình bày nam thần nữ thần trong tư thế giao hợp, vấn víu nhau. Trong Kim cương thừa, đây là biểu tượng cho sự thống nhất của hai nguyên lí âm dương. Hình tượng này cũng được vẽ trên các Thăng-ka (t: than-ka) và đôi khi được một số Du-già sư (yogin) dùng để thiền quán, nhằm thống nhất năng lực âm dương trong người mình, theo những phép hành trì mật tông, Nghi quỹ (s: sādhana) nhất định.
yasassi
Yasassi (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili.
Ye-she Tsog-yel
T: ye-shes mtsho-rgyal; 757-817, nghĩa là »Nàng công chúa của hồ trí huệ«;|Người phụ nữ nổi tiếng nhất của tông Ninh-mã (t: nyingmapa) tại Tây Tạng, là bạn đồng hành của Liên Hoa Sinh (padmasambhava). Bà thuộc dòng vương tước Khar-chen, năm 12 tuổi đã được vua Tri-song Ðet-sen (t: trisong detsen) chú ý, cho đưa vào cung. Tại đây bà gặp vị Cao tăng Ấn Ðộ Tịch Hộ (śāntarakṣita). Sau đó bà được Liên Hoa Sinh chọn làm bạn đồng tu, truyền cho phép Phur-bu. Bà là người ghi lại vô số lời khai thị của Liên Hoa Sinh trong các bí lục Ter-ma và cũng chép lại cuộc đời của Ngài. Khoảng cuối đời bà sống tại miền đông Tây Tạng. Ngày nay người ta còn thờ cúng bà như một Không hành nữ (s: ḍākinī).
yêm ma la thức
Xem Vô cấu thức.
Yêm-ma-la-thức 庵摩羅識
[ja] アンマラシキ anmarashiki ||| The āmala-vijñāna. The undefiled consciousness of true thusness. Also called the "ninth consciousness." The concept of an immaculate consciousness was developed in East Asia in response to the Faxiang doctrine that the eighth consciousness was defiled. => (s: āmala-vijñāna). Thức thanh tịnh chân như. Còn gọi là 'thức thứ chín'. Ý niệm về thức thanh tịnh được phát triển ở Đông Á để đáp lại với giáo lý Pháp tướng tông cho thức thứ tám vẫn còn nhiễm ô.
yên
Dhuma (S), Smoke Khói, một trong 12 loại hiển sắc mắt thường có thể thấy được.
; 1) Yên bình: Peaceful—Calm—Quiet—Still. 2) Yên ngựa: Saddle. 3) Khói: Smoke—Tobacco—Opium.
yên cái
Khói phủ, màn khói nhang—A smoke cover, i.e. a cloud or smoke of incense like a canopy.
Yên diệt 煙滅
[ja] エンメツ enmetsu ||| (1) The dying out, or disappearance of smoke. (2) To disappear like smoke. => 1. Sự tàn lụi, tắt ngấm của khói. 2. Tan biến như khói.
yên hoa
Smoke and flower.
yên hà động
5515位於浙江杭縣西南高峰下。據大明一統志所載,煙霞洞在杭州府城南十六里,洞中舊有石刻羅漢六尊,吳越王別刻十二,共成十八。其洞深奧古雅,於林木掩映之半山中,雲煙瀰漫,故稱煙霞洞。洞上有聯峰,高闊數十丈,並有石筍倒垂而下,形如佛手,稱「佛手岩」。奇巒怪石,形形色色,洞右列有象鼻石、落石岩、石羅漢等,洞外尚有琳瑯滿目之石刻雕像。洞口兩旁有石刻觀音與大勢至菩薩像,爲宋代初期之作品,造像神態莊嚴典麗,頗具獨特之藝術風格。另有降龍、伏虎等十二尊羅漢,皆爲宋代作品。
yên lòng
To be easy in one's mind.
yên phận
To be content with one's lot.
yên tịnh
Xem An.
Yên Tử
安子|Một dòng thiền Việt Nam, bắt đầu trong thế kỉ thứ 13. Dòng Yên Tử được xem là sự hợp nhất của ba phái Thiền Thảo Ðường, Vô Ngôn Thông và Tì-ni-đa Lưu-chi. Yên Tử được Thiền sư Hiện Quang (mất năm 1221) sáng lập. Tổ thứ sáu của Yên Tử là Trần Nhân Tông (hiệu Trúc Lâm), một vì vua lỗi lạc cho nên dòng Yên Tử sau được gọi là dòng Trúc Lâm Yên Tử và Trần Nhân Tông được tôn là Ðệ nhất tổ. Dòng Yên Tử tập hợp nhiều vị Thiền sư xuất sắc của Việt Nam như Trúc Lâm Ðầu Ðà Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang và các nhà vua đời Trần như Trần Thái Tông, Anh Tông cũng như Huệ Trung Thượng sĩ. Khác với truyền thống chia nhiều phái Thiền như tại Trung Quốc, tại Việt Nam, Yên Tử là nơi tập hợp ba thiền phái thành một dòng thiền duy nhất. Cơ sở của dòng Thiền Yên Tử Trúc Lâm là các bộ kinh Ðại thừa như Kim cương, Diệu pháp liên hoa, Bát-nhã ba-la-mật-đa, Nhập Lăng-già và Hoa nghiêm.
yên ổn
See Yên (1).
yêu
1) Cái eo: The waist—Middle. 2) Thương yêu: To love. 3) Yêu ma: Spirit—Ghost.
yêu bạch
1) Màu trắng (không bị nhuộm): A white, or undyed. 2) Tang phục: Khăn tăng—Sash worn in mourning.
yêu chuộng
To esteem—To love.
yêu cầu
To request—To require—To ask.
yêu dấu
To love—To cherish.
yêu kính thần thánh
Prema-bhakti (S), Ecstatic love of God..
Yêu ma
(妖魔): yêu tinh ma quái, cũng dùng để chỉ cho thế lực tà ác. Như trong bài thơ Độc Tồ Lai Tập (讀徂徠集) của Âu Dương Tu (歐陽修, 1007-1072) nhà Tống có đoạn: “Tồn chi cảnh hậu thế, cổ giám chiếu yêu ma (存之警後世、古鑑照妖魔, còn mãi răn hậu thế, gương cổ chiếu yêu ma).” Hay trong hồi thứ 83 của Tây Du Ký (西游記) lại có đoạn: “Vận dụng thần lực, pháp hàng cửu thập lục động yêu ma, thần thông quảng đại (運用神力、法降九十六洞妖魔、神通廣大, vận dụng thần lực, pháp hàng phục yêu ma của chín mươi sáu động, thần thông quảng đại).” Hoặc trong Nan Nễ Kế Thấp Phạ Ra Thiên Thuyết Chi Luân Kinh (難你計濕嚩囉天說支輪經, Taishō Vol. 21, No. 1312) có câu: “Hoặc trọng Phật pháp nhạo tu thiện sự, hoặc mộ yêu ma tín tà tạo ác (或重佛法樂修善事、或慕妖魔信邪造惡, hoặc xem trọng Phật pháp thích làm việc thiện, hoặc mến mộ yêu ma tin tà làm ác).”
yêu ma
See Yêu (2).
yêu mến tha nhân
To cherish others.
yêu mến tự thân
Self-cherishing.
yêu quí
Beloved—Dear.
yêu sách
To require—To demand.
yêu thương
Love—Buddha taught: “Love is the only way to destroy hatred. Hatred cannot be defeated with more hatred.
yêu thần
Ahura-mazda (S)Vị chúa tể yêu đạo.
; Ahura-Mazda.
yêu tà
See Yêu (2).
yêu y
Cái củng—A skirt—Shorts.
yêu ác
Wicked—Cruel.
yêu đạo
Mazdeism.
Yāska
(khoảng thế kỷ thứ 7 trước công nguyên): âm dịch là Da Tư Khải (耶斯卡), nhà từ nguyên học và văn pháp học tiếng Sanskrit, sống trước thời Pāṇini. Tác phẩm nổi tiếng của ông là Nirukta (sách ngữ học tối cổ hiện tồn của thế giới), bàn về từ nguyên, phạm trù từ vựng và ngữ nghĩa của từ. Tương truyền ông kế thừa Sakatāyana, nhà văn pháp học xưa và người trình bày các thánh điển Phệ Đà (s: Veda, 吠陀), được nhắc đến trong tác phẩm của Yāska. Đôi khi ông được gọi là Yāska Acharya. Tác phẩm Nirukta nổ lực giải thích các từ ngữ có nghĩa của chúng như thế nào, đặc biệt trong ngữ cảnh diễn dịch những văn bản Phệ Đà. Nó bao gồm một hệ thống các nguyên tắc để hình thành từ ngữ từ tiếp vĩ ngữ và tiếp đầu ngữ, một bảng chú giải về các từ bất quy tắc, và hình thành cơ sở cho từ vựng và tự điển sau này. Tác phẩm này gồm 3 phần: (1) Naighantuka, một tuyển tập các từ đồng ngữ; (2) Naigama, tuyển tập các từ khác với những thánh thư Phệ Đà; và (3) Daivata, những từ ngữ đề cập đến các vị thần và tế lễ.
yếm
5757梵語 nirvid。心所之名。爲「欣」之對稱。即嫌惡生存現象諸苦之無量過患而欲出離之善的精神作用。大毘婆沙論卷二十八、順正理論卷十一等立之爲善心所,且謂「厭」係於慧及無貪外另有之別法;俱舍論等則不別立。俱舍論光記卷四申其理由,謂厭與欣二行相乃相違之心所,於一心中不並起、不恆起,又不普於善心周遍相應,故不別立。〔大毘婆沙論卷一四三、卷一九六〕(參閱「欣厭」3325)
; 1) Chán ghét: Tên của tâm sở đối lại với “hân”—Disgusted with, satiated; in contrast with delight, or joy. 2) Mệt mỏi: Weary of.
Yếm bối 厭背
[ja] エンバイ enbai ||| To grow weary of (affliction); to lose interest in (the Way); to abandon, become bored with. 〔二障義 HPC 1.811b〕 => Trở nên buồn chán (phiền não); không còn quan tâm(đến Đạo); buông thả, trở nên chán nản.
yếm cầu
5758即厭苦求樂。大乘起信論(大三二‧五八○中):「厭生死苦,欲求無上菩提。」往生要集卷上本載(大八四‧三三上):「厭離穢土,欣求淨土。」
; Chán ghét những khổ sở của thế gian mà tìm cầu giải thoát—Weary of the miseries of earth and seking deliverance.
yếm hân
5759厭離穢土欣求淨土之意。詳稱厭離穢土欣求淨土。又作欣厭、欣淨厭穢、厭穢欣淨、厭離欣願。因三界六道爲充滿眾苦之罪惡穢土,故厭離之;而淨土爲快樂安穩之處,故欣求之。源信之往生要集所立十門中,第一門闡說厭離穢土,第二門闡說欣求淨土。於日本淨土宗,以厭欣之心爲總安心,以三心爲別安心。〔淨土十疑論、觀經玄義分、般舟讚、選擇傳弘決疑鈔卷三〕
; 1) Tên của hai tâm sở đối nghịch nhau, chán ghét và hân hoan—Disgusted with and rejoicing in. 2) Yếm ly uế độ, hân cầu Tịnh Độ (vui cầu): Detest and want to leave the defilement of the samsara; seek rebirth in the Pure Land.
yếm hân chân thật
5759詳稱厭離真實心、欣求真實心。日本真宗開祖親鸞之愚禿鈔將自利(自力)真實分爲二種:(一)厭離真實,爲聖道門、難行道、豎出(法相等之權教)自力。所謂豎出,乃難行道之教,以厭離爲本,有自力心,故稱厭離真實。(二)欣求真實,爲淨土門、易行道、橫出(要門等之方便義)他力。所謂橫出,乃易行道之教,以欣求爲本,由願力而厭捨生死,故稱欣求真實。 蓋依唐代善導大師觀經散善義之說,凡屬定散之行、能修之心,不雜虛假,而內外無不調者,即謂之「真實」;此係親鸞用以說示厭離與欣求二種真實心之本據。
yếm hân quán
xem pháp quán Sáu hạnh.
yếm khổ duyên
5759善導將觀無量壽佛經之發起序分爲七段,自韋提希夫人被幽閉至共爲眷屬之一段,是爲厭苦緣。蓋此一段係闡明韋提希夫人被阿闍世王幽閉,起厭娑婆苦之緣起,故稱厭苦緣。〔觀經序分義〕
yếm li
5759梵語 udvega 或 saṃvega。於物生厭而捨去之意。維摩經佛國品(大一四‧五三八上):「佛以一音演說法,或有恐畏或歡喜或生厭離,或斷疑。」〔成唯識論卷六〕
; To weary of the world and abandon it. Also Chán ghét.
yếm li tứ cú
5759即指有厭非離、有離非厭、有厭亦離、有非厭離等四句。蓋所謂「厭」,係指觀苦、集之現象而厭斥之行相;所謂「離」,係指既厭斥之,乃生起斷惑離染之作用。厭與離各有廣狹之不同,故成四句分別,稱爲厭離四句,即:(一)有厭非離,謂緣苦、集二諦而不令惑斷之所有忍、智;此乃因僅緣厭境而不離染之故。於此狀況可分爲三類;(1)於見道位之前斷盡欲界之煩惱者,稱爲苦法智忍、集法智忍;於此位中,因已斷盡,再無可斷,故非斷惑之位。(2)見道位中之一切苦法智、集法智;此位之斷惑係在忍位之無間道位,而不存於智位。(3)修道位中之加行道、解脫道、勝進道所攝之苦智、集智;然非無間道的斷惑之位。(二)有離非厭,謂緣滅、道二諦而能令惑斷之所有忍、智;蓋滅、道二諦並非可厭之境,以其緣欣境,能離染之故,稱爲有離非厭。此狀況亦可分爲三類:(1)未離欲界之修惑而入見道位之滅道法忍。(2)全部之滅道類忍;此係在見道位以前無有斷盡,故於見道位而斷盡者。(3)於修道位中之無間道所攝之滅道智。(三)有厭亦離,謂僅緣苦、集而能令惑斷之所有忍、智。即未斷欲界惑而入見道位者之苦集法忍,及所有之苦集類忍、修道位中之無間道所攝之苦集智皆屬之。(四)有非厭離,謂緣滅、道而不令惑斷之忍、智。其中,先離欲界之惑,後入見道位之滅道法忍及見道位中之滅道智,及修道位之加行、解脫、勝進等三道所攝之滅道智皆屬之。〔俱舍論卷二十五、順正理論卷七十二〕
yếm ly
Chán ghét và lìa bỏ thế sự—To weary of the world and abandon it.
yếm ly uế độ
Chán ghét sự ô trược của cõi Ta Bà—Detest and want to leave the defilement of the Samsara—See Hân Cầu Tịnh Độ.
yếm mị
Vetala (skt)—See Yếm Đảo Quỷ.
yếm nhân
Misanthrope.
yếm thế
5758謂厭惡世上之一切。又遁世一語乃形容中世紀隱遁者之生活態度,厭世則爲一般所用,如厭世思想、厭世主義等。
; Weary of the world; to renounce the world.
; 1) Chán đời: Chán ghét thế gian—To hate or distrust mankind—To avoid human society—Weary of the world. 2) Chối bỏ thế nhân: To renounce the world. 3) Qua đời: To pass away—To die.
yếm thế quán
5758爲一種認爲人生並無真正幸福可言之思想。又作厭世主義、悲觀哲學。亦即主張宇宙人生有苦而無樂,有惡而無善,或樂與善均不足匹敵苦與惡;而此一充滿不幸與不合理之世間亦無謀取改革與進步之可能。於近世之西洋哲學中,最足代表厭世主義者爲德國之叔本華(Arthur Schopenhauer, 1788~1860),其於「意志及表象之世界」一書中充分顯現絕對之厭世觀,謂芸芸眾生,日惑於求樂,而樂終不可得,苦終不能脫;又當前之人類文化生活皆由無數個體生命之盲目本能所致,故無所謂進步與發展可期。準此而觀,人生於世,雖欲避苦求樂,然順此盲目意志而生存,亦將苦痛終生而已。 論者咸謂,叔本華之厭世觀乃受印度哲學或佛教思想所影響。然於印度吠陀時代初期,厭世觀並無明顯之表現,其後,自梵書至奧義書時代,因受「業」及「輪迴」思想之影響,厭世之色彩乃漸趨濃厚,當世之思想家普遍倡言自苦惱之人生求得解脫,亦即自肉體及煩惱中解放靈魂(梵 ātman; puruṣa; jīva; prāṇa; manas),因而強調禁欲、苦行及冥想(修定)爲解脫途徑。但至中期奧義書及正統婆羅門則持相反觀點,主張「梵我一如」之說,故產生樂天而肯定之世界觀。另一方面,於六師外道中,更由厭世觀進一步否定靈魂之存續,而出現唯物、虛無之思想。 釋尊主張人生無常、無我(空)、苦,認爲所謂「我」與「靈魂」,並無不變常住之本質。由是,遂被視爲徹底之厭世觀,或虛無論者。然釋尊之主張,旨在揭示自人生無常、無我、苦等事實中尋求如實知見,如實知見乃是走向解脫之道。所謂道,即四聖諦、八正道,而解脫之世界即是涅槃寂靜。在大乘佛教中,此世界所表現者乃爲積極之常樂我淨,蓋涅槃之境界實乃洞徹厭世、虛無後所達到之突破境界。
Yếm tâm 厭心
[ja] エンシン enshin ||| (samvejana). 'Disgusted mind'; 'weary mind.' A mind sick of the world. => Tâm chán ghét, tâm mệt mỏi. Tâm buồn chán thế gian.
yếm đảo quỷ
Vetala (skt)—Một loài quỷ nhập tràng, hiện đến dựng đứng thây ma dậy để sát hại kẻ thù—A demon appealed in order to raise a corpse and with it to cause the death of an enemy.
Yếm ố 厭惡
[ja] エンオ en'o ||| To dislike, hate, detest, loathe; be disgusted with, get sick of. => Không thích, ghét, ghê tởm, kinh tởm, chán ghét, buồn chán.
Yếm 厭
[ja] エン en, on ||| (1) To be satisfied, to be sated, to be filled up with. Tranquil, serene. (2) To be wearied with, be bored with. (3) To dislike, to detest, to hate, (Skt. dūsana, nirveda), to be repugnant. (4) To cover up, to conceal, to repress. (5) To be fed up with the worldly lifestyle. (Pali: nibbidā). (6) Especially satiety or weariness with that with which one should be weary. The 'disgusted mind' (udvega, saṃvega). (7) Not getting rid of desire (anta). => Có các nghĩa sau: 1.Hài lòng, thoả mãn, tràn đầy. Yên tĩnh, lặng lẽ. 2. Chán nản, buồn bực. 3. Không thích, ghét, căm hờn(s: dūsana, nirveda), không hợp nhau. 4. Lý do đưa ra để che đậy, giấu diếm, ngăn chặn. 5. Được nuôi dưỡng trong phong cách thế tục (p: nibbidā). 6. Đặc biệt chán ngấy, mệt mỏi với những gì đáng chán. Tâm chán ghét (s: udvega, saṃvega). 7. Chưa rũ sạch ham muốn (s:anta).
yếm, yểm
Satiated; weary of; disgusted with. Also Chán.
yến
1) Bữa tiệc—A banquet. 2) Dễ chịu: At ease. 3) Nghỉ ngơi: To repose.
Yến cư 燕居
[ja] エンキョ enkyo ||| To be relaxed; at ease. => Thanh thản, thoải mái.
yến mặc
4085安然而沈默。默即無言,與說相對。諸佛菩薩或說或默,皆能顯現無窮妙理。〔大明三藏法數卷四〕
; Yên bình và trầm mặc—Peaceful and silent.
Yến mặc 宴默
[ja] エンモク enmoku ||| The maintenance of verbal silence along with the practice of meditation, as is carried out by certain monks and nuns within the monastic training system (pratisaṃlayana). => Duy trì sự nhớ thầm cùng với công phu toạ thiền mà một số tăng ni trong tự viện thực hành.
yến toạ
6262梵語 pratisaṃlayana,巴利語 patisallāṇa。又作宴坐。乃安禪、坐禪之異名。謂寂然安息,即於身心寂靜中安住坐禪。維摩經卷上弟子品(大一四‧五二一下):「坐當如法,不於三界現身意,是為宴坐;不於內意有所住,亦不於外作二觀,是為宴坐。(中略)若賢者如是坐,如是立,是為明曉如來坐法。」又月燈三昧經列舉宴坐有心不濁、住不放逸等十利。另據日用清規所說,古有定制,登床坐禪者,不可垂衣。〔中阿含經卷二十八、卷六十、十誦律卷二十三、碧巖錄第六則〕
; 4085又作燕坐。安身正坐之意,指坐禪。又為「坐禪」之代名詞。(參閱「燕坐」6266)
Yến toạ 宴坐
[ja] エンザ enza ||| Also written 燕坐. 宴 (yan) means ease or comfort. To sit at ease. To sit quietly. Sitting meditation (zazen). To do zazen. To do basic quiet meditation, clearing the mind of external distractions (nisdya). => Còn viết là 燕坐. Yến có nghĩa là thoải mái, tiện nghi. Ngồi thong thả. Ngồi tĩnh lặng. Tĩnh toạ (zazen). Ngồi thiền. Thực hành pháp tĩnh toạ căn bản, thanh tịnh tâm ý thoát khỏi sự xao nhàng do ngoại cảnh (s: nisdya).
yến tịch
4085又作圓寂。涅槃(梵 nirvāṇa)之新譯。圓滿一切智德,寂滅一切惑業之意。又轉為安然入寂。指離生死之苦,圓滿成就果德之聖賢之死。又一般亦稱僧侶之逝世。〔法華經化城喻品、般若心經略疏〕
; Silent, quiet.
; Yên lặng mà thị tịch, chỉ cái chết nhẹ nhàng như nằm ngủ vậy—To enter into rest, to die peacefully as if in a sleep.
Yến tịch 宴寂
[ja] エンジャク enjaku ||| Serene quiescence; peaceful tranquility. 〔法華經 T 262.9.26c16〕 => Sự tĩnh lặng, sự an tĩnh.
yến tọa
Sitting silently.
; Ngồi hay tọa thiền (theo Thiên Thai Duy Ma Kinh Sớ, yến tọa như rùa rút vào mai, thú vật khác không làm hại được. Biết co rút luc thức thì ma lục trần không thể gây phiền não được)—To sit in meditation.
Yến 宴
[ja] エン en ||| (1) Rest, quiet, repose. (2) A feast, a banquet, to entertain. => 1. Nghỉ ngơi, yên lặng, thư thái. 2. Bữa tiệc. Tiệc lớn, chiêu đãi.
yết
1) Giở lên—To lift up—To uncover. 2) Yết thị: To make known—To publish.
yết bàn đà
Khavandha (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Yết Bàn Đà là một vương quốc và thành phố cổ, bây giờ là Kartchou, về phía đông nam của hồ Sirikol—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Khavandha is an ancient kingdom and city, modern Kartchou, south-east of the Sirikol Lake.
yết bố la
Karpura (skt)—See Kiết Bố La.
yết chu ốt chỉ la quốc
6136羯朱嗢祇羅,梵名 Kajūghira,巴利名 Kajaṅgalā。又稱羯蠅揭羅國、迦徵伽羅國。為中印度之古王國,位於恆河下流。據大唐西域記卷十載,此國周圍二千餘里,土地卑濕,稼穡豐盛,氣候宜人,風俗淳厚,敦尚高才,崇重學藝,有伽藍六、七所,僧徒三百餘人,又有天祠十所,異道雜居。玄奘來遊以前,王族絕嗣,役屬鄰國。戒日王遊東印度時,曾於此築宮,處理國務;至則葺茅為宇,去則縱火焚之。北境離恆河不遠有大高臺,基址廣崎,刻有佛像及諸天,自此東渡恆河,行六百餘里可至奔那伐彈那國。又十誦律卷二十五載,伽郎婆聚落為在東方之中國與邊國之分界,或指此國之都邑。又於巴利文之那先比丘經(Milindapañha)中,謂此地乃那先比丘之出生地。關於其位置,英國考古學家康林罕認為係在孟加拉州恆河河畔巴加舖(Bhagalpur)之下流一四四公里之拉機瑪哈爾(Rājmahal),其古名為坎喀爾(Kankjol)。〔雜阿含經卷十一、大唐西域記卷五羯若鞠闍國條、A. Cunningham: The Ancient Geography of lndia〕
yết chuyên bát thất già bạc để ca
6137意譯作不重受食。指一時受食,再度則不受。其義有二:(一)不作餘法而食。(二)一時受訖,則不再受。此為四分律疏飾宗義記卷五本所揭出之比丘受食法。然據十二頭陀經所載之受一食法(梵 ekāsanika,巴 ekāsanikaṅga,又作一坐食、一受食),則指每日唯受一食,而不數次受食,以免妨礙一心修道,此與上記之說似不盡相同。
yết chức
Gachi (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Yết Chức là một vương quốc cổ nằm giữa Balkh và Bamian, vào khoảng Rui—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Budhist Terms, Gachi is an ancient kingdom between Balkh and Bamian, about Rui.
yết dăng yết la
Kajinghara or Kajingala or Kajughira (skt)—Vương quốc Yết Dăng Yết La mà gia đình hoàng tộc bị tiêu diệt vào khoảng năm 400 sau Tây Lịch. Những phế tích kinh đô của vương quốc nầy hãy còn tại làng Kadjeri, gần Farakhabad, thuộc tỉnh Agra—A kingdom whose ruling family was extinct in 400 AD. The ruin of the capital are situated at the village of Kadjeri, near Farakhabad, in the province of Agra.
yết kiến
To have an interview with a higher ranking official.
yết kê đô
Karketana (S)Một loại ngọc hay thủy tinh.
yết la ha thần
Graha (S)Nga la ha, Nghiệt la ha1- Thần ngang ngạnh, bướng bỉnh. 2- Loài quỷ gá vào thân người không chịu xa.
yết la la
Kalala (skt)—See Yết La Lam.
yết la lam
6142梵語 kalala,巴利語同。指父母之兩精初和合凝結者。又作迦羅邏、歌邏邏、羯剌藍。為胚、胎之義。意譯作凝滑、和合、雜穢、胞胎、膜。為胎內五位之一。即託胎以後初七日間之狀態。一切經音義卷四十七(大五四‧六二二上):「羯邏藍(梵語,舊言歌邏邏,此云凝滑。父母不淨和合,如蜜和酪,泯然成一;於受生七日中,凝滑如酪上凝膏,漸結有肥滑也。) 瑜伽師地論卷一之中,以此位為色與心、心所之共同安危之所依處,故稱為「依託」;書中並闡明此位乃吾人之「識」之最初依託處。〔雜阿含經卷四十九、北本大般涅槃經卷十四、卷三十八、有部毘奈耶雜事卷十一、大毘婆沙論卷九十、俱舍論卷六、瑜伽師地論卷二、俱舍論光記卷九、瑜伽師地論略纂卷一、玄應音義卷二十四、慧苑音義卷下〕(參閱「胎內五位」3933)
; Kalala (skt)—Yết La La—Ca La La—Thai nhi trong giai đoạn bảy ngày đầu—The human embryo during the first seven days.
yết la nã tô phạt lạt na quốc
6142羯羅拏蘇伐剌那,梵名 Karṇa-suvarṇa,巴利名 Kaṇṇasuvaṇṇa。譯作金耳國。為東印度之古國。據大唐西域記卷十載,此國周四千四、五百里,氣序調暢,風俗淳和,人民崇尚學藝,邪正兼信,有伽藍十餘所,僧徒二千餘人,多習正量部法。另有天祠五十餘所,異道甚多,別有三伽藍不食乳酪,係遵提婆達多之遺訓。大城側有絡多未知僧伽藍(梵 Raktaviṭi)及無憂王塔。六世紀末,國勢盛張,設賞迦王(梵 śaśāṅka)信受外道,嫉毀佛法,破壞伽藍,砍伐佛陀成道處之菩提樹,並曾暗殺曲女城賢主曷邏闍伐彈那(梵 Rājya-vardhana)。逮國勢衰微後,佛教始再興隆。此國位置在今木路西達巴度(Murshidabad),首府在倫歌木諦(Rungmuti)。〔大唐西域記卷五、卷八、A. Cunningham: The Ancient Geography of India; T. Watters: On Yuan Chwang, vol. II〕
yết la nã tô phạt lặc na
Karnasuvarna (skt)—Một vương quốc cổ củøa Gundwana trong vùng Gangpoor, phía Nam Ấn Độ (một số các nhà sư ở đây tu theo phái Chánh Lượng Tiểu Thừa của Đề Bà Đạt Đa, không ăn phó sản làm bằng sữa bò)—An ancient kingdom of Gundwana, the region about Gangpoor, south of India.
yết la vi la thụ
6143羯囉微囉,梵語 karavīra,巴利語同。又作羯羅尾羅樹、迦囉毘囉樹。意譯作羊躑躅樹。即夾竹桃。學名 Nerium odorum。屬夾竹桃科。產於印度、尼泊爾等地。其莖高達丈餘,葉呈狹長針形,夏季枝梢常開淡紅或帶黃白色之花。其葉汁可治眼疾,據陀羅尼集經卷八載,若人患眼闇之症,取迦囉毘囉樹之葉汁,持咒二十一遍,塗於眼上,則可見光明。〔蘇悉地羯囉經卷下、蕤呬耶經卷中〕
yết la xá
Kalasa (skt)—Bình đựng nước—A water-pot—Pitcher—Jar.
yết lan đạt ca
Kalandaka (skt)—Một loài chim ở Ấn Độ—A species of bird in India.
yết lí li xá
Xem Sư tử Phát.
yết lăng già
Kalinga (skt)—Ca Lăng Già. 1) Một vương quốc cổ nằm về phía Đông Nam của Kosala, nơi đào tạo và nuôi dưỡng những tông phái tà giáo, bây giờ là Kalingapatnam—An ancient kingdom southeast of Kosala, a nursery of heretical sects, the present Kalingpatnam. 2) Ca Lăng Tần Già: Một loại chim có giọng hót rất hay—Name of Kalavinka, a species of bird which sings very well.
yết lăng già quốc
6142羯
yết lạc ca lưu đà
Krakucchanda (skt)—Câu Lưu Tôn Cổ Phật—A Buddha of previous age of the world.
yết lạp bà
Karaphu or Kalahu (skt)—Yết Lạp Phược—A particular higher number. 1) Một số cao đặc biệt: A particular high number. 2) Tiểu yết Lạp Bà: Ten quintillion (one hundred million billion trilion=1030 ). 3) Đại Yết Lạp Bà: One hundred quintillion (1032 =Ten thousand million billion trillion).
yết lộ trà
Garuda (skt)—Ca Lâu La—Chim thần thoại mà Tỳ Ni Thiên trong huyền thoại Ấn Độ cưỡi—The mytical bird on which Visnu rides. ** For more information, please see Garuda in English-Vietnamese Section.
yết lợi ha bạt để
Grhapati (skt). 1) Trưởng lão: An elder. 2) Cư sĩ: Householder. 3) Địa chủ: Proprietor—Landlord.
yết lợi sa bát
Đồng tiền nặng khoảng 176 hạt (1 hạt=0,0648 grams)—A coin weighing around 176 grains (11.41grams).
yết lợi vương
Kaliraja (skt)—Là một tiền kiếp của Kiều Trần Như, khi làm vua ông đã từng cắt tay chân của một vị ẩn sĩ khi những thứ thiếp của ông bị lạc vào lều của vị ẩn sĩ nầy. Ông đã chuyển sang quy-y Tam Bảo vì sự nhẫn nhục đến lạnh lùng của vị ẩn sĩ, người ta tiên đoán sau nầy ông trở thành đệ tử Phật—A former incarnation of Kaundinya, when as king he cut off the hands and feet of Ksanti-rsi because his concubines had strayed to the hermit's hut. Converted by the hermit's indifference, it was predicted that he would become a disciple of Buddha.
Yết Ma
(羯磨): tức Yết Ma A Xà Lê (s: karmācārya, p: kammācarya, 羯磨阿闍梨), là tên gọi của một trong Tam Sư (三師), gồm Giới Sư (戒師, tức Đàn Đầu Hòa Thượng [壇頭和尚]), Yết Ma A Xà Lê (羯摩阿闍梨) và Giáo Thọ A Xà Lê (敎授阿闍梨). Hay là một trong 5 loại A Xà Lê, như trong Di Sa Tắc Bộ Hòa Ê Ngũ Phần Luật (彌沙塞部和醯五分律, Taishō Vol. 22, No. 1421) quyển 16 có nêu rõ là: “Hữu ngũ chủng A Xà Lê, hữu Xuất Gia A Xà Lê, Giáo Thọ A Xà Lê, Yết Ma A Xà Lê, Thọ Kinh A Xà Lê, Y Chỉ A Xà Lê (有五種阿闍梨、有出家阿闍梨、敎授阿闍梨、羯磨阿闍梨、受經阿闍梨、依止阿闍梨, có năm loại A Xà Lê, có Xuất Gia A Xà Lê, Giáo Thọ A Xà Lê, Yết Ma A Xà Lê, Thọ Kinh A Xà Lê, Y Chỉ A Xà Lê).” Yết Ma A Xà Lê còn gọi là Yết Ma Sư (羯磨師), Yết Ma Giới Sư (羯磨戒師); là vị A Xà Lê hướng dẫn cho Giới Tử trong giới đàn cách thức Yết Ma xin cầu giới pháp, v.v. Cho nên, trong Ngũ Phần Luật quyển 16 nêu trên có giải thích rõ vai trò của vị này như sau: “Thọ Cụ Túc giới thời vi tác Yết Ma, thị danh Yết Ma A Xà Lê (受具足戒時爲作羯磨、是名羯磨阿闍梨, tác pháp Yết Ma khi thọ Cụ Túc giới, đó gọi là Yết Ma A Xà Lê).” Tiểu Thừa Giới thì lấy vị thầy hiện tiền làm Yết Ma A Xà Lê; cùng với vị Giáo Thọ A Xà Lê có giới lạp phải từ 5 tuổi trở lên. Đối với Đại Thừa Viên Đốn Giới (大乘圓頓戒) thì cung thỉnh đức Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利) làm Yết Ma A Xà Lê, như trong Thọ Bồ Tát Giới Nghi (受菩薩戒儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1085) có ghi rằng: “Phụng thỉnh Văn Thù Sư Lợi Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật tác Yết Ma A Xà Lê (奉請文殊師利龍種上尊王佛作羯磨阿闍梨, cung thỉnh Văn Thù Sư Lợi Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật làm Yết Ma A Xà Lê).” Trong phần Thỉnh Giới Sư Pháp (請戒師法) của Tăng Yết Ma (僧羯磨, Taishō Vol. 40, No. 1809) quyển Thượng có đoạn rằng: “Đại Đức nhất tâm niệm, ngã mỗ giáp, kim thỉnh Đại Đức vi Yết Ma A Xà Lê, nguyện Đại Đức vị ngã tác Yết Ma A Xà Lê, ngã y Đại Đức cố, đắc thọ Cụ Túc Giới (大德一心念、我某甲、今請大德爲羯磨阿闍梨、願大德爲我作羯磨阿闍梨、我依大德故、得受具足戒, Đại Đức một lòng ghi nhớ, con tên là …, nay cung thỉnh Đại Đức làm Yết Ma A Xà Lê, cúi mong Đại Đức vì con làm Yết Ma A Xà Lê, vì con nương vào Đại Đức, được thọ Cụ Túc Giới).” Trong Diệu Cát Tường Bình Đẳng Bí Mật Tối Thượng Quán Môn Đại Giáo Vương Kinh (妙吉祥平等祕密最上觀門大敎王經, Taishō Vol. 20, No. 1192) quyển 4 có đoạn rằng: “Yết Ma A Xà Lê linh đệ tử ư Bắc môn diện hướng đàn, hữu tất trước địa hồ quỳ hiệp chưởng (羯磨阿闍梨令弟子於北門面向壇、右膝著地胡跪合掌, Yết Ma A Xà Lê bảo đệ tử nơi cửa Bắc mặt hướng về đàn tràng, đầu gối phải chấm đất, quỳ xuống chấp tay).”
; (羯磨): tức Yết Ma A Xà Lê (s: karmācārya, p: kammācarya, 羯磨阿闍梨), là tên gọi của một trong Tam Sư (三師), gồm Giới Sư (戒師, tức Đàn Đầu Hòa Thượng [壇頭和尚]), Yết Ma A Xà Lê (羯摩阿闍梨) và Giáo Thọ A Xà Lê (敎授阿闍梨). Hay là một trong 5 loại A Xà Lê, như trong Di Sa Tắc Bộ Hòa Ê Ngũ Phần Luật (彌沙塞部和醯五分律, Taishō Vol. 22, No. 1421) quyển 16 có nêu rõ là: “Hữu ngũ chủng A Xà Lê, hữu Xuất Gia A Xà Lê, Giáo Thọ A Xà Lê, Yết Ma A Xà Lê, Thọ Kinh A Xà Lê, Y Chỉ A Xà Lê (有五種阿闍梨、有出家阿闍梨、敎授阿闍梨、羯磨阿闍梨、受經阿闍梨、依止阿闍梨, có năm loại A Xà Lê, có Xuất Gia A Xà Lê, Giáo Thọ A Xà Lê, Yết Ma A Xà Lê, Thọ Kinh A Xà Lê, Y Chỉ A Xà Lê).” Yết Ma A Xà Lê còn gọi là Yết Ma Sư (羯磨師), Yết Ma Giới Sư (羯磨戒師); là vị A Xà Lê hướng dẫn cho Giới Tử trong giới đàn cách thức Yết Ma xin cầu giới pháp, v.v. Cho nên, trong Ngũ Phần Luật quyển 16 nêu trên có giải thích rõ vai trò của vị này như sau: “Thọ Cụ Túc giới thời vi tác Yết Ma, thị danh Yết Ma A Xà Lê (受具足戒時爲作羯磨、是名羯磨阿闍梨, tác pháp Yết Ma khi thọ Cụ Túc giới, đó gọi là Yết Ma A Xà Lê).” Tiểu Thừa Giới thì lấy vị thầy hiện tiền làm Yết Ma A Xà Lê; cùng với vị Giáo Thọ A Xà Lê có giới lạp phải từ 5 tuổi trở lên. Đối với Đại Thừa Viên Đốn Giới (大乘圓頓戒) thì cung thỉnh đức Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利) làm Yết Ma A Xà Lê, như trong Thọ Bồ Tát Giới Nghi (受菩薩戒儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1085) có ghi rằng: “Phụng thỉnh Văn Thù Sư Lợi Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật tác Yết Ma A Xà Lê (奉請文殊師利龍種上尊王佛作羯磨阿闍梨, cung thỉnh Văn Thù Sư Lợi Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật làm Yết Ma A Xà Lê).” Trong phần Thỉnh Giới Sư Pháp (請戒師法) của Tăng Yết Ma (僧羯磨, Taishō Vol. 40, No. 1809) quyển Thượng có đoạn rằng: “Đại Đức nhất tâm niệm, ngã mỗ giáp, kim thỉnh Đại Đức vi Yết Ma A Xà Lê, nguyện Đại Đức vị ngã tác Yết Ma A Xà Lê, ngã y Đại Đức cố, đắc thọ Cụ Túc giới (大德一心念、我某甲、今請大德爲羯磨阿闍梨、願大德爲我作羯磨阿闍梨、我依大德故、得受具足戒, Đại Đức một lòng ghi nhớ, con tên là …, nay cung thỉnh Đại Đức làm Yết Ma A Xà Lê, cúi mong Đại Đức vì con làm Yết Ma A Xà Lê, vì con nương vào Đại Đức, được thọ Cụ Túc giới).” Trong Diệu Cát Tường Bình Đẳng Bí Mật Tối Thượng Quán Môn Đại Giáo Vương Kinh (妙吉祥平等祕密最上觀門大敎王經, Taishō Vol. 20, No. 1192) quyển 4 có đoạn rằng: “Yết Ma A Xà Lê linh đệ tử ư Bắc môn diện hướng đàn, hữu tất trước địa hồ quỳ hiệp chưởng (羯磨阿闍梨令弟子於北門面向壇、右膝著地胡跪合掌, Yết Ma A Xà Lê bảo đệ tử nơi cửa Bắc mặt hướng về đàn tràng, đầu gối phải chấm đất, quỳ xuống chấp tay).”
yết ma
6137梵語 karman,巴利語 kamma。<一>意譯作「業」。意指所作、事、辦事、辦事作法、行為等。含有善惡、苦樂果報之意味,亦即與因果關係相結合之一種持續不斷之作用力。業,原係流行於印度社會之一般性觀念,對印度思想影響頗大,後為佛教基本教義之一,即是一切萬有基於因果之法而生。依據大毘婆沙論卷一一三,業之定義有二說:其一,以作用、任持七眾法式、能分別愛與非愛之果等三義為業;其二,以作用(即語業),行動(即身業)、造作(即意業)等三義為業。 業之種類雖多,不外乎身業、語業、意業三者,中阿含經卷三以意業最重,藉此標示佛教之動機論。此外,引一生果報(或生人界,或生畜生界等)之業,稱為引業;若生於人界,個體之間復以不同方式(如男女、貴賤、賢愚、美醜等)完成,是為滿業。是故,引業能引總報,滿業則圓滿別報。其他,如山河、大地之器世間,為諸生物共通之果報,稱為共業;各生物之間復有不同之果報,即稱不共業。又以受報時限之不同,業亦可分為順現法受業(於現身受報)、順次生受業(於次生受報)、順後次受業(於次生以後受報)、不定業等。 由業之觀念所產生之輪迴思想,主要在強調人類對未來應有之努力,然因此反緣生一宿業之說(即前世之業招後世之報),此一宿命論已與業之原始意義相悖。(參閱「業」5494) <二>於受戒、懺悔、結界等有關戒律行事之場合,意指生善滅惡之作法。受戒之際,受戒者因羯磨而得戒體。羯磨之內容包含法(羯磨之作法)、事(有關羯磨之所有事實)、人(與羯磨有關之人)、界(行羯磨之場所)等四者,一般稱為羯磨四法,分別言之:(一)法,分為心念法、對首法、眾僧法三種。(1)心念法,乃自己獨自心想口念之法,適用於懺悔微小罪障之情況。又分三種:1.但心念法,即本來之心念法,不須對人,唯得自說,如懺輕微之突吉羅罪。共有三種。2.對首心念,本為對首之法,但因界內無人,而以心念秉法。共有七種,如說淨、受藥等事。3.眾法心念,本為眾僧法,但因界內無人,故以心念秉法。共有四種,如說戒、自恣等事。(2)對首法,係面對同法者二三人申白之法,適用於受三衣或一鉢為自己所有物之情況。又分兩種:1.但對首法,為當分之對首法,界中雖有多僧,僅須對首於一人乃至三人即可。共有二十九種,如受三衣、捨受鉢等事。2.眾法對首,本為眾僧法,以界中無人而開對首。有四種,與眾法心念相同。(3)眾僧法,即指向四人以上(即僧伽)申白之法,適用於布薩、自恣或受戒等重要行事之情況,為滅罪生善其力最強者。又分三種:1.單白法,又稱白羯磨,即一度告知僧眾,經常施於慣例、事關輕微或已有嚴格規定不得提出異議等情況。共有三十九種,如說戒、行鉢、剃髮等事。2.白二法,又稱白二羯磨,即一度告知(一白)僧眾、一度問其可否(一羯磨),經常用於結界等場合。共有五十七種,如離衣、受日等事。3.白四法,又作一白三羯磨,即一度告知僧眾(一白),三度問可否(三羯磨),經常用於受具足戒或懺悔重罪(如僧殘罪等)之情況。此外,授具足戒之際,授白四羯磨作法者,稱為羯磨師(羯磨阿闍梨)。依事而計,以上所舉加以比丘之二法,羯磨合計一百八十三法(一說一百八十四法),但一般以百一羯磨稱之,蓋以「百」表示滿、眾之數,意指各一法皆包含一羯磨。但依十誦律所傳者,實際僅有百一羯磨。 (二)事,分為有情事、非情事、二合事等三種。有情事指有關有情(即眾生)之事,如突吉羅罪之責心悔乃至波逸提、四提舍尼、偷蘭遮等之懺悔;非情事指有關三衣一鉢等無生物之事,如三衣之分別法、鐵鉢之守持法等;若合以上兩方之事,是為二合事,如藥守持法,藥本身為非情事,病患則為有情事,即是二合事。所謂一百八十三法之事,皆不出於此三者。 (三)人,分為一人、二三人、僧人(四人以上)。大凡「法」係隨人而分別其體。即上述所說之「心念法」為一人之法。於「界」無人時,方成此法。若有一人,即名「非法別眾」。對首法係二人面對,共同秉法。又有邊人則要問之,如三十捨懺必須問於邊人,九十單墮雖「但對」亦無妨;此即二三人之法。「眾法」係四人以上方秉法,此即「僧人」之法。界中有比丘則以全數聚集為法。若有一人未參加,則形成「非法別眾」。 (四)界,即指進行羯磨之場所。有自然界、作法攝僧界之別。自然界即指自然成為僧眾住處之境界,如寺院等;以非特意劃定、布置而成,故又稱不作法界。對首、心念之二法及一人、二三人眾中之雜法、四人之自恣法等,皆可在自然界進行。作法界係指局限於一定之境域而施行結界法之三小界、三大界及戒場。小界係同一界內有不同意之人,或對法有呵難者時,另外結界而舉行受戒、自恣、說戒者。若為一時之方便而結界者,則於法事完了即解除。如四分律卷三十五所說「結已即解,非久住之法」即為其意。大界係僧眾常行之所,指人法二同之界,普通以一二○里為定量(下品)。戒場原係為恐因常常集合僧眾而引生困惱,故允許結之,用以行受戒、懺悔等法;但在說戒及自恣之時,則不得行之。〔毘尼母論卷八、四分律卷三十三、卷三十九、摩訶僧祇律卷二十三、菩薩戒羯磨文、僧羯磨卷上、關中近出尼二種壇文夏坐雜十二事并雜事共卷前中後三記(出三藏記集卷十一所收)、受菩薩戒儀、菩薩戒義疏卷上、四分律刪繁補鬖璅ⅱr卷上一、卷上二、卷上三、四分律行事鈔資持記卷上一之五、卷上二之一、四分律刪補隨機羯磨疏卷一、玄應音義卷十四〕 <三>在密教中,指如來之作業或諸尊之威儀事業,故有羯磨曼荼羅、羯磨部等語。此外,亦可作為「羯磨金剛」之略稱。(參閱「羯磨金剛」6140)
; Karmadāna (S)Kiết ma, Duy na, Thứ đệ, Kiết ma đà na, Duy Na Yết Ma, Tri sựVị tam sư, có nhiệm vụ thi tác nghi lễ, phép tắc. Cũng còn gọi là Duy na sư Kiết ma, là một trong am cương: Thượng tọa, Duy na, Điển tọa.
; Karmadana (S).
; 1) Nghiệp: Tác nghiệp dẫn đến những điều kiện trong tương lai—Karma (skt)—Action—Work—Deed—Performance—Service—Duty—religious action—Moral duty—Deeds or character as the cause of future conditions. 2) Một buổi họp hay nghi thức tuyên cáo thụ giới, sám hối, hay trục xuất ra khỏi giáo đoàn những người phạm tối “bất khả hối.”—A meeting of the monks for the purpose of ordination, or for the confession of sins and absolution, or for expulsion of the unrepentant. ** For more information, please see Karma in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Nghiệp in Vietnamese-English Section.
yết ma a xà lê
6137梵語 karmācārya,巴利語 kammācariya。為受戒三師之一。即於戒場為受戒者指示作禮乞戒等規矩儀式之阿闍梨。又稱羯磨戒師、羯磨師。僧羯磨卷上(大四○‧五一四中):「今請大德為羯磨阿闍梨,願大德為我作羯磨阿闍梨,我依大德故,得受具足戒。」黃檗清規梵行章(大八二‧七六九中):「凡欲開壇弘戒,頭首知事預白堂頭,議請羯磨、教授、尊證、引請諸闍黎并侍者、直壇。」小乘以現前之師(學德與夏臘具備者)作羯磨阿闍梨,大乘圓頓戒則請文殊菩薩為羯磨師。〔四分律卷三十九、四分律刪繁補闕行事鈔卷上三、菩薩戒義疏卷上、慧苑音義卷上〕(參閱「受戒」3101、「羯磨」6137)
yết ma ba la mật bồ tát
Xem Nghiệp Ba la mật Bồ tát.
yết ma bộ
6141又作迦嚕摩部。為密教金剛界五部之一。在金剛界五大月輪中,北方為羯磨部。即為眾生垂慈悲,成種種事業之部分。金剛界九會曼荼羅中,表示諸尊自受法樂之三昧耶形,如金剛鉤、金剛鏁、金剛索、金剛鈴,及諸尊取捨屈伸之威儀、利他之各種事業,皆攝於此部。在四佛中,此部象徵不空成就如來成所作智之德。若就眾生而言,舉凡吾人之一切行住坐臥、語默等,皆攝於此部之中。部主為不空成就如來,部母為業波羅蜜菩薩。〔金剛頂瑜伽中略出念誦經卷一、卷二、瑜伽瑜祇經卷下〕
yết ma hội
Thành Thân Hội—Căn Bản Hội. 1) Hội tăng chúng trong sinh hoạt tự viện: An assembly for monastic duty 2) Nhóm trung tâm của Kim Cang giới Mạn Đà La: The central group of the vajradhatu Mandala. ** For more information, please see Thành Thân Hội.
yết ma kim cương
6140梵語 karma-vajra。為密教之法器,屬於輪寶。又作十字金剛(十字縛日羅)、十字羯磨、羯磨縛日羅、羯磨杵、輪羯磨。略稱羯磨。係以三股金剛杵組合成十字形,置於大壇四隅,以此象徵諸佛本具之作業智。三股在四方,係「三」乘以「四」,表摧破十二因緣之義。又將羯磨金剛置於大壇上時,亦有採用蓮花形之羯磨臺者。大日經疏卷十六(大三九‧七四九上):「金剛有二種,一者智金剛,二者業金剛。此梵云金剛羯磨,謂所作事業也。以此金剛業而加持故,得淨除其地。」〔陀羅尼集經卷四、大日經卷五入祕密漫荼羅品、金剛頂瑜伽護摩軌、一字佛頂輪王經卷五、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷三〕
yết ma kiền độ
6141巴利名 Kamma-khandaka。為二十犍度之第十一。又稱呵責犍度。即說比丘治罰法之篇章。本行持法起源自佛陀處分好諍鬥之般茶(荼)比丘(巴 Paṇḍuka)與盧伽比丘(巴 Lohitaka),因對彼二人行呵責羯磨,而有此法,故亦稱般茶盧伽法。此犍度之內容共有七種,其中規定受呵責羯磨者之治罪法,例如三十五種不應作(三十五事)、呵責犍度之如法或非法,及其解羯磨,及擯羯磨、依止羯磨、遮不至白衣羯磨、不見罪羯磨、不懺悔罪羯磨、不捨見羯磨等各種羯磨,以及各項之不應作,乃至解羯磨之法。其中之呵責,據四分律刪繁補闕行事鈔卷上二僧綱大綱篇載,係於僧眾面前呵責犯過比丘,並宣告剝奪其三十五事之權利,如奪其供給、證正他事之權利等。〔十誦律卷三十一〕
yết ma mạn đồ la
6140梵語 karma-maṇḍala。譯為作業輪圓具足。略稱羯曼。為四種曼荼羅之一。指密教諸尊之威儀事業。即描繪佛、菩薩之威儀(動作)事業之曼荼羅,以及佛、菩薩之鑄像、畫像、捏像等。蓋密教謂一切如來皆具有三種祕密身,即字(種子,即法曼荼羅)、印(種種標幟,即三昧耶曼荼羅)、形像(相好具足之身,即大曼荼羅),此三種身各具威儀事業,即是羯磨曼荼羅。四種曼荼羅中,羯磨曼荼羅係就體上之相(威儀)及用(事業)而立名,其餘三者則就體而立名。又此羯磨曼荼羅能貫通於其他三種,故稱通三羯磨。再擴充其義言,凡眾生之舉止動作,乃至宇宙一切所作事業,皆可稱為羯磨曼荼羅。又金剛界九會曼荼羅中,供養會之諸尊,表示供養之事業,此會亦稱羯磨曼荼羅。〔大教王經卷八、金剛頂經瑜伽十八會指歸、都部陀羅尼目、即身成佛義〕
yết ma thân
6140指密教諸尊之形體。為「法門身」之對稱。密教針對顯教之法、報、應三身,立種子、三昧耶、尊形三身。以種子身為阿等字,三昧耶身為獨股等器,而以羯磨身為諸尊之形體。此即由微赴顯,法、報、應三身之次第。〔大日經疏演奧鈔卷一、性靈集卷六〕
; Hình tượng, một từ được dùng bởi Mật Giáo—An image, a term used by the esoterics.
yết ma tăng
6141梵語 karma-saṅgha。指受具足戒之比丘四人以上,不論凡聖,在同一結界內,行羯磨之作法者。大乘義章卷七(大四四‧六○八下):「出家之中,具戒比丘四人已上,不簡凡聖,在一界內,於彼百一羯磨之法,同遵不乖,名羯磨僧。」
; 1) Một chúng gồm bốn vị Tỳ Kheo trở lên: A monastery assembly, usually composed of four or more monks. 2) Vị Tăng Yết Ma Thiền tập hay vị Tăng hướng dẫn buổi tọa thiền: A monk on duty in a meditation.
yết ma đà na
6140梵語 karmadāna。司一寺事務之職稱。意譯作授事、悅眾、寺護、次第。又稱維那。維,綱維之義;那,羯磨陀那之略。南海寄歸內法傳卷四之夾注(大五四‧二二六中):「授事者,梵云羯磨陀那。陀那是授,羯磨是事;意道以眾雜事指授於人。」(參閱「維那」5890)
; Karmadana (skt)—Duy Na—Vị sư làm việc tạp dịch trong chùa—The director of duties in a monastery.
yết ma ấn
Hình ảnh nói lên biểu tượng tu hành của một vị Bồ tát—An image showing the symbol of a bodhisattva's activity.
yết nhã cúc xa
Kanyakubja (skt)—Nước thành Khúc Nữ, ở miền Trung Ấn Độ. Thành phố lớn sau Ayodhya, gần Ayodha mà bây giờ là Oudh—“Hump-backed maidens.” An ancient city and kingdom of Central India. In antiquity this city ranks next to Ayodhya in Oudh
yết nhã cúc xà quốc
6136羯若鞠闍,梵名 Kanyakubja,巴利名 Kaṇṇakujja。又作葛那及國、迦那鳩闍國、伽那慰闍國、罽饒夷國。意譯曲女、妙童女。為中印度之古國。據大唐西域記卷五載,此國都城原名拘蘇磨補羅,梵授王時,有大樹仙人慕王女而求之;王之百女中,唯最年幼者自請當之,仙人懷怒,便出惡咒,使九十九女一時腰曲,故後名曲女城。此國周四千餘里,國之大都城,西臨殑伽河,城隍堅峻,異方奇貨多聚於此;伽藍百餘所,僧徒萬餘人,兼習大小二乘,另有天祠二百餘所。城西北有無憂王塔、過去四佛之座及經行遺蹟。東南有高三百餘尺之大精舍,中有如來立像,四周石壁雕畫如來前生修菩薩行所經事蹟。昔玄奘遊此時,戒日王曾設無遮大會,佛教甚為興盛。此地現今稱之為卡娜齊(Kanauji),位於印度西北恆河支流迦利河(Kālī)之東岸。〔佛本行集經卷五、起世經卷十、起世因本經卷十、有部毘奈耶破僧事卷一、大慈恩寺三藏法師傳卷五、翻譯名義集卷七、T. Watters: On Yuan Chwang, vol. I〕
yết ni ca
Kanaka (skt)—See Kiết Ni Ca.
yết ni ca thụ
6136羯尼迦,梵語 karṇikāra,巴利語 kaṇikāra。又稱迦尼迦樹、尼迦割羅樹。意譯為耳作樹。學名 Pterospermum acerifolium。產於印度。據大慈恩寺三藏法師傳卷三載,此樹處處成林,發萼開榮,四時無間,葉呈金色。一說此樹係學名 Cassia fistula 之植物,其花與新葉美麗異常,果肉可作緩下劑。〔大唐西域記卷九、慧琳音義卷二十五、翻梵語卷九〕
yết nô bộc
Kanabhuj (skt)—See Kiết Nô Bộc.
yết sĩ la
Khattika (skt)—See Yết Sĩ Na.
yết sĩ na
Khattika (skt)—Yết Xĩ La—Già Hy Na—Cẩu Nhân—Theo Du Già Luận, người Yết Sĩ Na thuộc giai cấp Chiên đà la, người có căn bản xấu ác, nương chấp theo cái ác—According to the Yogacara, Khattika, a Candala, always attached to the bad deeds.. 1) Đoán Ngục Quan: Quan coi ngục—Lictors in hades. 2) Người nấu thịt chó: Cẩu Nhân—Dog-cookers. 3) Người bán thịt heo: Butchers. 4) Thợ Săn: Hunters. 5) Những kẻ sống bằng nghề giết và bán thịt thú vật: Those who live by killing and selling animals. 6) Người thuộc giai cấp hạ tiện: Persons of very low classes.
yết sương na
Kasanna (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Yết Sương Na, một vương quốc cổ khoảng 300 dậm tây nam Kharismiga, bây giờ là Karshi—According o Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Kasanna, an ancient kingdom 300 miles southwest of Kharismiga, on the Oxus, the present Koorshi or Karshi.
yết sỉ na
6137梵語 khaṭṭika。又稱羯恥羅、伽絺羅、伽縛那。意譯作煮狗人、殺狗人、斷獄官。指屠殺者流。若比丘眾祈願自己所行圓滿,則當遠離此類惡人,莫與之往來。大乘阿毘達磨雜集論卷八(大三一‧七三一下):「所行圓滿者,遠離五種諸比丘眾所不行處故;何等為五?謂唱令家、婬女家、酤酒家,王家、旃荼羅羯恥那家。」〔大方等大集經卷三十八、瑜伽論記卷五下、成唯識論了義燈卷二本、玄應音義卷二十三〕
yết tra bố đảm na
Kataputana (skt)—Một loại Xú Quỷ (có mùi hôi thúi) hay ngạ quỷ nơi hạ giới—A kind of ill-smelling demon or a preta in the lower region.
yết trung tân dịch thượng vị tướng
3764請參閱 阿毘達磨品類足論 梵語 rasa-rasāgratā,巴利語 rasaggas-aggi。又作味中得上味相、得味中上味相、次第得上味相、常得上味相、得上味相、諸味中得最上味相。指佛所具足三十二相中之第二十六相。佛之咽喉中常有津液,凡進食因之而得上妙美味,如同甘露流注。所謂之上味,凡有二義:(一)謂三千界中之最上味。(二)縱是劣食粗味,然入於佛口即轉爲上味。佛在因位時,於無量世之中予眾生所須之飯食,又視眾生如子,迴向菩提予眾生所須之善法,不待祈求即能施與,遂感得此妙相,故此相又可表佛法能滿足眾生志願之德。〔大般若波羅蜜多經卷三八一、菩薩善戒經卷九、大智度論卷四〕
yết trá bố đát na quỷ
6136羯吒布怛那,梵語 kaṭa-pūtana。又作迦吒富單那鬼、迦吒布單那鬼。意譯作奇臭鬼、極醜鬼。古印度認為剎帝利種若有劣行時,則死後成為此種鬼形,住於下界,受餓鬼之苦。羯吒(梵 kaṭa),為屍體、火葬場之意,故或指住於葬地之鬼神。〔大乘大集地藏十輪經卷一、大佛頂首楞嚴經卷七、北本大般涅槃經卷十六、慧琳音義卷十八、翻譯名義集卷六、玄應音義卷二十一〕
yết tỳ ca la
Kalavinka (skt)—Yết Tỳ Già La—Ca Lăng Tần Già—Tên một loài chim—Name of a species of bird.
yết tỳ già la
See Yết Tỳ Ca La.
yết đà bố đảm na
Kataputana (skt)—See Kiết Đà Bố Đảm Na.
yết đăng yết la
Kajangala (S).
yết đế
Gati (skt)—See Yết Để.
Yết đế 掲帝
[ja] ガテイ gatei ||| (gate). A transliteration of the Sanskrit. To go. => (s: gate).Phiên âm tiếng Sanskrit. Nghĩa là đi.
yết để
Gati (skt)—Một con số thật cao—A particular high number.
yết địa lạc ca
Khandiraka (skt)—See Kiết Địa Lạc Ca.
yết đồ quốc
6137羯荼,梵名 Kaccha。位於蘇門答臘北端。即今之庫塔拉查(Khota-raja)。根本說一切有部百一羯磨卷五之義淨註(大二四‧四七七下):「從斯兩月汎舶東南到羯荼國,此屬佛逝。舶到之時,當正二月,若向師子洲西南進舶,傳有七百驛。」〔大唐西域求法高僧傳卷下〕
Yết 掲
[ja] ガ、ケイ ga, kei ||| (1) To lift high; to hang. To put up; hoist. (2) To be high. (3) Used for transliteration of Sanskrit ga sound. => 1. Nhấc lên; treo lên. Đưa ra, nhấc bổng lên. 2. Ở trên cao. 3. Dùng để chú âm ga trong tiếng Sanskrit.
yết-ma
(羯磨), phiên âm từ Phạn ngữ là karma, dịch là tác pháp, là hình thức phán xét tập thể, do chúng tăng nhóm họp (thường ít nhất cũng phải từ 4 vị trở lên) mà xem xét đưa ra quyết định tùy theo từng trường hợp.
Yết-ma 羯磨
[ja] カツマ コンマ katsuma kyarama konma ||| (1) [katsuma kyarama] A transription of the Sanskrit karman, therefore deed, action, activity (業、作、事). (2) A ceremony in which one vows to observe the precepts. (3) A ceremony in which one confesses one's transgressions of the rules of discipline. (4) [konma] Proceedings, ritual or ceremony performed by an authoritative clerical group. In the above four senses, it is usually a technical term used by the Vinaya schools. (5) An abbreviation of the esoteric school technical term 羯磨金剛. katsuma kyarama konma (k); katsuma kyarama (j); => 1. Phiên âm chữ karman từ tiếng Sanskrit, có nghĩa là nghiệp, việc làm, hành vi (nghiệp業, tác 作, sự 事). 2. Là nghi thức mà giới tử phát nguyện để thọ trì giới. 3. Là nghi thức mà tăng sĩ sám hối về giới luật mình đã phạm. 4. [konma] Tiến trình nghi thức được cử hành bởi chư tăng có thẩm quyền (để giải quyết những vấn đề có liên quan đến sự tu tập của tăng chúng). Trong 4 nghĩa nêu trên, thường là thuật ngữ chuyên môn được dùng trong Luật tông. 5. Viết tắt một thuật ngữ chuyên môn của Mật tông là Yết-ma Kim cương 羯磨金剛.
yếu
1) Yếu đuối: Feeble—Weak. 2) Trọng yếu: Essential—Important—Necessary—Strategic—Need—Want.
yếu chỉ
Nghĩa lý hay mục tiêu quan trọng và thiết yếu—The important meaning or aim.
yếu diệu
Phật pháp thiết yếu và vi diệu—Essential and mystic nature (of Buddha truth).
yếu gia
3953爲研究四分律派別之一。唐代南山律宗之祖道宣,一生致力弘傳四分律,著作極多,其中「四分律刪繁補闕行事鈔」一書(十二卷)乃研究四分律之重要著作,爲我國律學名著。道宣之同門道世亦爲一代高僧,所著之「四分律討要」(五卷),亦爲世人所重。上述兩書,對我國律宗之發展有極大之影響。對於道世之「四分律討要」之研究者,稱爲要家;而對於道宣之「四分律刪繁補闕行事鈔」之研究者,則稱鈔家。
yếu hành
Phương pháp tu tập quan trọng—The essential mode of action, or conduct.
yếu hành xả thân kinh
3952全一卷。收於大正藏第八十五冊。本經之大意謂,人於臨終之際,若能以歡喜之心(心心相續)施捨自身皮肉筋骨於一切有情,則可不墮地獄,天曹地府之罪惡記錄亦將隨之消失。此經於唐代智昇所撰開元釋教錄中受到嚴厲批判,被斷定爲偽經,而反對將之編入大藏經中,然民間普遍信仰流傳此經。近代於敦煌發現十餘種本經之手抄本,其中以英國學者史坦因(M.A. Stein 1862~1943)所發現者爲最優。〔疑經研究(牧田諦亮)〕
yếu hèn
To be weakling.
yếu kém
Weak and frail
yếu lược niệm tụng kinh
3953全一卷。金剛智譯。爲大毘盧遮那佛說要略念誦經之略稱。收於大正藏第十八冊。內容記述大日經之供養法,係大日經卷七之同本異譯。
yếu lộ
Yếu Đạo—The essential or strategis way.
yếu môn
3953謂精要之法門,指觀無量壽經所說之定散二門。出自善導之觀經疏玄義分(大三七‧二四六中):「娑婆化主,因其請故,即廣開淨土之要門,安樂能人,顯彰別意之弘願。」其中,娑婆之化主係指釋尊,安樂之能人(能化人之意)指阿彌陀佛。要門即往生淨土之重要道路,係觀無量壽經所說十六觀之定散諸行。弘願即指救度一切眾生往生淨土之阿彌陀佛本願。此一用語後爲日本淨土宗所特重,然其意義隨各宗派而有異同: (一)日本淨土宗謂要門爲凡夫所修之念佛及諸行,即作往生之內因;弘願爲阿彌陀佛之救濟力,即作往生之外緣。 (二)日本淨土宗西山派立行門、觀門、弘願門等三門,以要門爲觀門,弘願爲弘願門。 (三)日本淨土真宗稱要門與弘願二門時,謂要門爲方便,指釋迦教而言;弘願爲真實,指彌陀教而言。同時立要門、真門、弘願門,於淨土教則表真實與方便。即依念佛以外之諸行而往生者爲要門,信賴自己念佛力而得往生者爲真門,依他力念佛之信心而得往生者爲弘願門。〔教行信證化身土卷〕(參閱「三三法門」520、「行門觀門弘願門」2555)
; Essential door, or opening.
yếu nguyện
Sarvasa (S)Lời nguyện quan trọng.
yếu ngôn
Important, or essential words.
yếu pháp
3952簡明顯示教法中重要之意義。從廣文中摘出要義,特爲日本佛教所重視,例如日蓮宗以「妙法蓮華經」五字爲法華經之心,係代表佛陀一代重要之教說,稱作要法五字。
Yếu Pháp Tự
(要法寺, Yōbō-ji): một trong 7 ngôi chùa trung tâm của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại Shintakakura-dōri (新高倉通), Sakyō-ku (左京區), Kyoto-shi (京都市); hiệu là Đa Bảo Phú Sĩ Sơn (多寶富士山), thông xưng là Chùa Tùng. Người khai cơ chùa là Nhật Tôn Thượng Nhân (日尊上人), pháp đệ của Nhật Hưng (日興). Năm kiến lập chùa là 1308 (Diên Khánh [延慶] nguyên niên) hay 1312 (Chánh Hòa [正和] nguyên niên), được gọi là Thượng Hành Viện (上行院). Trong khoảng niên hiệu Trinh Hòa (貞和, 1345-1350), đệ tử của Nhật Tôn là Nhật Đại (日大) mới tách riêng khỏi chùa này và sáng lập ra Trú Bổn Tự (住本寺); trong vụ Loạn Pháp Hoa Thiên Văn thì chùa bị đốt cháy tan tành, nên ông mới hợp chung cả hai chùa lại, lấy tên là Yếu Pháp Tự. Trong khoảng niên hiệu Thiên Chánh (天正, 1573-1592), thể theo mệnh lệnh của Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi), chùa được chuyển về phía Bắc của Kinh Cực Nhị Điều (京極二條); rồi đến năm 1708 thì lại bị cháy lần nữa, và cuối cùng chùa được dời về vị trí hiện tại. Vào năm 1770 (Minh Hòa [明和] 7), ngôi Chánh Điện được xây dựng lại rất tráng lệ, rồi đến Khai Sơn Đường, Khách Điện, Thư Viện, Pháp Bảo Tàng, Kinh Tàng, Nhà Lầu Chuông, v.v. Trong khuôn viên chùa có khá nhiều cây tùng to lớn, đặc biệt là loại Ngọa Long Tùng (臥龍松) rất nổi tiếng.
yếu sức
Weak.
yếu thế
To be in a bad position.
yếu tố
Factor—Element.
yếu tố tinh thần
Mental factors
yếu tố vật chất
Physical factors (elements).
yếu văn
Những văn bản trọng yếu—The important text or texts.
yếu đuối
Frailty—Delicate—Feeble—Weak.
yếu đuối của con người
Human frailty
yếu đạo
See Yếu Lộ.
yếu ớt
See Yếu (1).
yểm
Che dấu—To cover with the hand, to screen, or to shut up.
yểm mị quỷ
Xem Kiết bàn trà.
; Cưu Bàn Trà—Kumbhanda (skt)—Một loài ác thần chuyên hút hết sinh lực của sinh vật, kể cả con người—A type of evil god that sucks the life energy from living creatures, including humans.
yểm sắc
4585即掩隱白毫之色。指佛陀涅槃,或用於指高僧示寂。所謂「青蓮罷笑,白毫掩色」,即形容入滅、示寂之意。
; Che mặt người chết—To cover the form, or face, i.e. the death of the Buddha, or a noted monk, referring to the covering of the face.
yểm thất
4585閉室而不與外界接觸。指佛陀成道後,於三七日間,坐思而不說法。肇論新疏卷下(大四五‧二三○中):「所以釋迦掩室於摩竭,(中略)法華說『如來成佛,三七日中,而不說法』智論第七云『佛得道五十七日不說』等,義言掩室也。」
; Đóng chặt cửa để ngồi thiền như Đức Phật đã làm—To shut oneself in a room, as did the Buddha for meditation.
yểm trợ
To support.
yểm vọng
Hopeful.
yểm độ
4585通稱土葬。即全身埋葬於土。掩土之法,掘地作窖,切石舖底,且隨龕樣側立,其畔岸塗以泥粉,塞其孔隙,深埋後,立石浮圖而為表。又與「掩壙」同義,壙為墓穴;掩壙,即死者入墓以土掩覆之意。〔禪林象器箋喪薦門、空華日工集卷四、小叢林略清規卷中送喪儀〕
; Lấp đất lại hay chôn người chết—To inter, or to bury.
Yển Khê Quảng Văn
(偃溪廣聞, Enkei Kōmon, 1189-1263): vị tăng của Phái Dương Kì và Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Yển Khê (偃溪), xuất thân Huyện Hầu Quan (候官縣), Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Lâm (林). Năm lên 18 tuổi, ông thọ giới Cụ Túc tại Uyển Lăng Quang Hiếu Tự (宛陵光孝寺), rồi đến tham học với Thiết Ngưu Ấn (鐵牛印). Sau đó, ông theo hầu Triết Ông Như Diễm (浙翁如琰) ở Thiên Đồng (天童), nhân nghe câu chuyện rửa bát của Triệu Châu (趙州) mà dứt hết mối nghi ngờ và đại ngộ. Vào năm đầu (1228) niên hiệu Thiệu Định (紹定), ông bắt đầu tuyên xướng tông phong của mình ở Tịnh Từ Tự (淨慈寺) thuộc Phủ Lâm An (臨安府, Tỉnh Triết Giang). Từ đó về sau, ông sống qua một số chùa như Hương Sơn Trí Độ Tự (香山智度寺), Quảng Lợi Tự (廣利寺) trên A Dục Vương Sơn (阿育王山), Linh Ẩn Tự (靈隱寺), v.v. Ông được ban cho thụy hiệu là Phật Trí Thiền Sư (佛智禪師). Vào ngày 14 tháng 6 năm thứ 4 niên hiệu Cảnh Định (景定), ông thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi đời và 58 hạ lạp. Ông có để lại bộ Yển Khê Hòa Thượng Ngữ Lục (偃溪和尚語錄) 2 quyển.
yểu
Ma thuật—Magical—To bewitch.
yểu mệnh
Mandayus (S), short-lived.
yểu thông
Năng lực biến hình đổi dạng thành cây cỏ hay thú vật—The power to change miraculously into trees and animals. ** For more information, please see Ngũ Thông.
yểu điệu
Graceful.
á
① Thuật ngữ này được dùng trong trường hợp người học tuy muốn biểu hiện sở đắc của riêng mình, nhưng khi ấy tận cùng ngôn ngữ cũng không cách gì biểu đạt; hoặc là thuật ngữ dùng để biểu thị chân lí Phật pháp mà không dùng lời nói. Phần Khám Biện trong [i]Lâm Tế lục[/i] (Đại 47, 504 thượng) ghi: »師 問 杏 山:如 何 是 露 地 白 牛?山 云:吽 吽。師 云:啞 那。– [i]Sư hỏi Hạnh Sơn: ›Thế nào là con trâu trắng sờ sờ?‹ Sơn đáp: ›Hồng! Hồng!‹ Sư nói: ›Á‹[/i]«. ② Biểu thị tiếng cười, tiếng quạ kêu, còn gọi: Á á. Tắc 14, [i]Bích Nham lục[/i] (Đại 48, l54 hạ) ghi: »閻 浮 樹 下 笑 呵 呵、昨 夜 驪 龍 拗 角 折 (非 止 驪 龍 拗 折、有 誰 見 來? 還 有 證 明 麼? 啞!)。 – [i]Dưới cội Diêm Phù cười ha hả, đêm trước rồng đen bị gãy sừng. (Chẳng phải cấm rồng đen gãy sừng, có ai thấy chăng? Có chứng minh được chăng? Á!)[/i]«.
; 4414禪林用語。<一>係用於學人雖欲表現一己之所得,然窮盡言語而無法表達時;或為表示佛法真理是難以言語表達時之用語。臨濟錄勘辨(大四七‧五○四上):「師問杏山:『如何是露地白牛?』山云:『吽吽。』師云:『啞那!』」 <二>表示笑聲、鳥叫聲。又作啞啞。碧巖錄第十四則(大四八‧一五四下):「閻浮樹下笑呵呵,昨夜驪龍拗角折。(非止驪龍拗折,有誰見來?還有證明麼?啞!)」
; 1) Câm—Eda (skt)—Dumb—Deaf and dumb. 2) Câm và điếc: Edamuka (skt)—Deaf and dumb, unable to express oneself. 3) Thứ yếu: Inferior. 4) Hạng nhì: Second. 5) Phụ: Secondary.
; (啞) Tiếng dùng trong Thiền lâm I. Á. Tiếng dùng đối với kẻ học giả, khi muốn diễn tả một điều gì đó mà mình tâm đắc, nhưng dùng hết lời mà vẫn không diễn tả được, hoặc là biểu thị chân lí Phật pháp khó có thể dùng ngôn ngữ mà diễn đạt được. Lâm tế lục khám biện (Đại 47, 504 thượng), nói: Sư hỏi Hạnh sơn: Thế nào là trâu trắng ở chỗ đất trống? Sơn trả lời: Hồng hồng. Sư nói: Á na!. II. Á.Biểu thị tiếng cười, tiếng chim kêu. Còn nói là á á. Bích nham lục, tắc 14 (Đại 48, 154 hạ), nói: Dưới cây Diêm phù cười ha ha, đêm qua rồng đen bẻ gãy sừng. (Chẳng ngăn rồng đen bẻ gãy, có ai thấy không? Lại có ai chứng minh không? Á!)
á (hoạ)
Chỉ cho tiếng kéo thuyền hoặc tiếng la lên khi tìm được món đồ rơi mất. Trong nhà Thiền dùng để chỉ tiếng »Ồ« khi hốt nhiên đại ngộ. Điều Trường Sa Cảnh Sầm trong [i]Thiền tông Cổ Tụng Liên Châu Thông tập[/i] q. 16 (Vạn Tục 115, 96 hạ) ghi: »你 作 麼 生 用? 師 拍 胸 與 一 踏。山 曰:㘞。 – ›[i]Ông dùng như thế nào?‹ Sư thộp ngực đạp cho một đạp. Sơn nói: ›Ồ!‹[/i]«. [i]Thiền Quan Sách Tiến[/i] (Đại 48, 1099 hạ) ghi: »首 座 入 堂 燒 香、打 香 匣 作 聲、忽 然 㘞 地 一 聲、識 得 自 己。– [i]Vị Thủ toạ lên thiền đường thắp nhang, khua hộp nhang phát ra tiếng, thình lình ông ›ồ‹ lên một tiếng, biết ra được chính mình[/i]«.
á dương
A dumb sheep.
á dương ngoại đạo
4414印度外道之一種。此外道認為於修行法門中,以如啞羊之不語,為最殊勝。四分律行事鈔卷下三載有(大四○‧一三三中)「僧祇受人禮拜,不得如啞羊不語」一語。行事鈔資持記卷下三(大四○‧三九七中):「如啞羊者,彼有啞羊外道受不語法,世有持不語者,謂為上行,此外道法,宜速捨之。」
; Một loại ngoại đạo mà giáo đồ của họ tin rằng câm như dê chẳng nói một lời là phép tu thắng hành sẽ đưa họ về thượng giới—A kind of heretic sect, of which followers believe that to be as dumb as a sheep they can go to heaven.
; (啞羊外道) Một loại ngoại đạo ở Ấn-độ. Ngoại đạo này cho rằng, trong các pháp môn tu hành, pháp môn không nói, như con dê câm, là ưu việt hơn cả. Tứ Phần Luật hành sự sao quyển hạ, phần 3 (Đại 40, 133 trung), nói: Tăng kì nhận sự lễ lạy của người, không được lặng thinh như con dê câm. Hành sự sao tư trì kí quyển hạ phần 3 (Đại 40, 397 trung), nói: Có kẻ ngoại đạo á dương (dê câm) tu pháp môn không nói, đời có kẻ cho tu pháp môn ấy là hạnh cao nhất, nên bỏ ngay pháp môn ấy của ngoại đạo.
á dương tăng
4414梵語 eḍamūka-saṃgha。又作瘂羊僧。指愚癡之僧。四種僧之一。啞羊,即譬喻至愚之人。據大智度論卷三載,雖不破戒,鈍根無慧,無勇猛精進之力,不別好醜,不知輕重,不知有罪無罪,若有僧事,二人共諍,不能斷決,默然無言。譬如白羊,乃至被人殺,不能作聲,故稱為啞羊僧。又根本薩婆多部律攝卷七,謂瘂羊僧即於三藏不能解者。(參閱「四種僧」1817)
; Một gian đạo sĩ ngu đần như con dê câm, không biết tốt xấu, cũng không biết sám hối tội lỗi—A dumb sheep monk who is stupid and does not know good from bad, nor enough to repent of sin.
; (啞羊僧) Tăng dê câm. Phạm: Eđamùkasaôgha. Chỉ tăng ngu si. Là một trong bốn loại tăng. Á dương (dê câm), thí dụ người chí ngu. Cứ theo luận Đại Trí Độ quyển 3 chép, thì Á dương tăng tuy không phá giới, nhưng ngây dại không có trí, không có sức hăng hái tiến tới, không phân biệt được xấu tốt, không biết khinh trọng, không biết có tội hay không tội, nếu có việc tăng, hai người cãi nhau, không có khả năng quyết đoán, lặng thinh không nói. Ví như con dê trắng, dù có bị giết cũng không thể kêu thành tiếng, vì thế gọi là Á dương tăng. Lại Căn Bản Tát Bà Đa Bộ Luật Nhiếp quyển 7, thì bảo á dương tăng là người không có khả năng hiểu ba tạng. (xt. Tứ Chủng Tăng).
á hê xiết đát la quốc
Ahicchatra (skt)—Còn gọi là A Đam Xa Đa La, một kinh đô của vương quốc cổ nằm trong vùng trung Ấn—A citadel of an ancient kingdom in Central India.
á khả tỉ
3046(Jacobi, Hermann Georg; 1850~1937)爲德國之印度學學者、語言學者。曾任明斯特(Münster, 1876)、基爾(Kiel, 1885)、波昂(Bonn, 1889)、加爾各答(Calcutta, 1913~1914)等各大學教授。研究範圍廣至印歐語、印度哲學、佛教、耆那教、二大敘事詩(摩訶婆羅多、羅摩耶那)、古典梵文學、天文學、修辭學、韻律學等,對耆那教聖典之翻譯,貢獻尤鉅。 亞可比之論著頗多,重要者如下:De astrologiae Indicae, 1872; Bhadrabāhu's Kalpasūtra, 1879;Das Rāmāyaṇa, 1893; Das Mahābhārata, 1903; Jaina Sūtras(SBE), 1884~1895; The Metaphysics and Ethics of the Jainas, 1908;Jainismus, 1915; Kompositum und Nebensatz, Studien über die indogermanischen Sprachentwicklung, 1897;Die Entwicklung der Gottesidee bei den Indern ,1923; Upamitibhava-prapañca-katha; Samarāicca-kahā; Samarāditya-Samkṣepa, 1926;Mīmāṃsā und Vaiśeṣika, 1929 等。
á lịch sơn đại
3047(Alexander The Great; 356 B.C.~323 B.C.)爲西元前四世紀時希臘北部馬其頓之國王。弒父自立。於西元前三三四至三三一年間連續征服小亞細亞、敘利亞、埃及、波斯。西元前三二六年(周顯王四十三年)渡印度河向東攻印,塔克西拉王(Taxila)出城請降。亞氏復大敗普魯國(Purus),乃率軍更向東進發,直抵東部之比阿斯(Beas),軍隊不肯復前,王乃西歸。西元前三二三年歸返巴比倫城,未久即逝。 亞氏原欲融合東西文明與民族,建立希臘化時代,然因早逝,欲將旁遮普併入帝國版圖之計劃乃告中斷。死後帝國由部下分割,於印度所建立之政權旋即消滅,印度古代書籍中無一字提及亞氏征印之事。
; (亞歷山大) (ALEXANDER THE GREAT; 356tr. T.L - 323 tr. T.L) Là quốc vương của Macedonia thuộc miền bắc Hi Lạp vào thế kỉ thứ tư trước Tây lịch. Giết cha chiếm ngôi. Vào khoảng năm 334 đến 331 trước Tây lịch, ông liên tiếp chinh phục Tiểu Á Tế Á, Syria, Ai Cập và Ba Tư. Năm 326 trước Tây lịch (năm thứ 43 đời Chu Hiển Vương), ông vượt sông Ấn Độ để đánh nước Ấn, vua nước Tháp Khắc Tây Lạp (Taxila) ra xin hàng. Họ Á lại đánh bại nước Phổ Lỗ (Purus), rồi thúc quân tiến tới phía đông, thẳng đến đông bộ Tỉ A Tư (Beas), tới đây, quân binh không chịu tiến thêm nữa, nhà vua bèn quay về Tây. Năm 323 trước Tây lịch, về đến thành Ba Tỉ Luân (Babylon) chưa được bao lâu thì chết. Họ Á vốn muốn dung hợp văn minh và dân tộc Đông Tây, tạo dựng một thời đại Hi Lạp hóa, nhưng vì mất sớm, nên cái kế hoạch định sáp nhập tỉnh Bàng Già Phổ (Punjab) vào bản đồ Đế quốc nửa chừng bị bỏ dở. Sau khi Á Lịch Sơn chết, đế quốc bị các bộ hạ chia cắt, chính quyền đã được thiết lập ở Ấn Độ liền tiêu diệt, trong các thư tịch của Ấn Độ cổ đại, không thấy có một chữ nào nói đến việc họ chinh phục Ấn Độ.
á phi
Afro-Asian.
á pháp
4415乃指不言語之修行法。又作瘂法。為外道之修行方法。佛門弟子若修此法,則同於外道,為小乘律法所禁止。四分律羯磨疏濟緣記卷二十一(卍續六四‧四九二下):「十誦云,若受瘂法偷蘭,以同外道故,(中略)僧祇中不得受不語法,若欲方便少事,不語得至半月,於布薩時應共語、問訊、問事、答事、咒願等也。過布薩已,續復如初。若憍慢瞋恚而不語者,越毘尼。若為年少欲折伏者,聽十五日不共語論,至布薩時還共語。」然大乘則不禁之。〔十誦律卷二十三、四分律卷三十七、五分律卷十九〕
; Pháp câm điếc, không thể tuyên lưu được—The doctrine of a deaf and dumb person, which he cannot proclaim.
; (啞法) Chỉ phương pháp tu hành cấm khẩu, là phương pháp tu hành của ngoại đạo. Nếu đệ tử của Phật mà tu hành pháp ấy thì cũng đồng như ngoại đạo, bị luật pháp Tiểu thừa cấm chỉ. Tứ Phần Luật Yết Ma Sớ Tế Duyên Kí quyển 21 (Vạn tục 64, 492 hạ), nói: Thập tụng chép: nếu thụ Á pháp thâu lan thì đồng như ngoại đạo, (...) trong Tăng Kì không được thụ pháp cấm khẩu, nếu cần có chút việc phương tiện, thì chỉ được cấm khẩu đến nửa tháng, sau đó, đến giờ bố tát, phải nói năng, thăm hỏi, hỏi việc, đáp việc, chú nguyện v.v... Xong bố tát rồi, tiếp tục nói năng. Nếu kiêu mạn giận tức mà không nói, là người phạm luật. Nếu để chiết phục sự kiêu mạn của người trẻ tuổi, thì cho phép được mười lăm ngày không cùng nói năng với người đó, nhưng đến ngày bố tát thì lại được nói. Song, Đại thừa thì không cấm. [X. luật Thập Tụng Q.23; luật Tứ phần Q.37; luật Ngũ phần Q.19].
á phất liệt hi đô
3047(Aufrecht, Theodor; 1822~1907)德國之語言學家、梵語學者。生於西利西亞(Silesia,今屬於波蘭)。一八五二年,至英國愛丁堡(Edinburgh)大學,任梵語及語言學教授。對於寫本目錄之製作及印度學之發展頗有貢獻。 其著作有:De accentu compositorum Sanskriticorum, 1847; Die umbrische Sprachdenkmäler, 2 vols., 1849~1851; Catalogicodicum Manuscriptorum Bibliothecae Bodleianae Pars Octava,Codices Sanscriticos, Oxonii, 1859~1864 等。
á thánh
Bậc Thánh hàng thứ hai—Saint of second degree.
á tuế
3047即冬至。乃謂次於新年之意。初於魏晉之際,由該日起,朝廷即開始舉行各類盛大之儀式,以慶賀即將來臨之新歲。其後,禪林中在該日亦舉行盛大法會;係於秉拂(住持說法)之時,總監寺務之都寺乃營齋以供養大眾,稱爲冬齋。〔禪苑清規卷三監院、叢林校定清規總要卷下四節土地堂念誦〕
; (亞歲) Tức đông chí. Hàm ý là sắp đến năm mới. Lúc đầu, khoảng đời Ngụy Tấn, từ ngày ấy trở đi, triều đình bắt đầu cử hành các nghi thức lớn để mừng năm mới sắp đến. Về sau, trong Thiền lâm, vào ngày ấy cũng cử hành các pháp hội lớn; chuẩn bị cho thời bỉnh phất (thời thuyết pháp của vị trụ trì), tổng kiểm sát các việc trong chùa và sửa soạn trai nghi cúng dường đại chúng, gọi là Đông trai. [X. Thiền Uyển Thanh Qui quyển 3 giám viện; Tùng Lâm Hiệu Định Thanh Qui Tổng Yếu quyển hạ tứ tiết thổ địa đường niệm tụng].
á tử đắc mộng
4414禪林用語。原謂啞者不能將夢境告訴他人;於禪林中,轉喻學人自己體悟之境地,無法以言語與他人談者。據無門關載,無門著語曰(大四八‧二九三上):「參箇無字,晝夜提撕,莫作虛無會,莫作有無會。如吞了箇熱鐵丸相似,吐又吐不出。蕩盡從前惡知惡覺,久久純熟,自然內外打成一片。如啞子得夢,只許自知。」蓋此即表示以心傳心,言詮不及,意路不到,決不關他唇吻之意。與啞子喫黃蓮、啞子喫苦瓜、冷暖自知等語殆為同義。啞子,又作啞漢。
; Còn gọi: Á tử khiết hoàng liên, Á tử khiết khổ qua, lãnh noãn tự tri. Vốn có nghĩa là người câm chẳng thể đemcảnh chiêm bao của mình kể cho người khác nghe. Thiền tông dùng thuật ngữ này để chỉ cho cảnh giới thể ngộ của người học, cảnh giới này không thể dùng lời nói để nói với kẻ khác. Trong [i]Vô Môn Quan[/i], Thiền sư Vô Môn bình rằng (Đại 48, 293 thượng): »參 箇 無 字、晝 夜 提 撕、莫 作 虛 無 會、 莫 作 有 無 會。如 吞 了 箇 熱 鐵 丸 相 似。吐 又 吐 不 出、蕩 盡 從 前 惡 知 惡 覺、久 久 純 熟。 自 然 內 外、打 成 一 片。如 啞 子 得 夢 只 許 自 知。– [i]Hãy tham chữ Vô, ngày đêm đề khởi, chớ có hiểu như hư vô, chớ có hiểu như hữu vô, giống như người nuốt phải một hoàn sắt nóng muốn mửa ra cũng chẳng được. Quét sạch các ác tri ác giác từ trước, lâu ngày thuần thục, tự nhiên trong ngoài kết thành một khối, như người câm nằm mộng, chỉ tự biết mà thôi[/i]«. Bởi vì đây là biểu thị lấy tâm truyền tâm, ý thức và lời nói chẳng đạt đến được.
; (啞子得夢) Người câm được mộng. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên là người câm không thể kể lại những điều mình thấy trong mộng cho người khác nghe được; trong Thiền lâm, từ này được chuyển dụng để thí dụ người học đạo không thể dùng lời nói để diễn tả cái cảnh giới mà chính mình đã thể ngộ cho người khác biết. Cứ theo Vô môn quan chép, thì Vô môn nói rằng (Đại 48, 293 thượng): Hãy tham cứu chữ Vô đi, ngày đêm không dời, đừng hiểu là hư vô, đừng hiểu là hữu vô. Cũng giống như nuốt viên sắt nóng, khạc cũng không khạc ra được. Tẩy cho sạch hết những cái hiểu biết sai lệch trước kia, lâu lâu thuần phục, tự nhiên trong ngoài đả thành nhất phiến (tự nhiên chủ thể và đối tượng hợp làm một). Như người câm được mộng, chỉ tự mình biết. Đoạn văn trên đây biểu thị đem tâm truyền tâm, lời nói chẳng kịp, ý nghĩ chẳng tới, quyết không phải việc có liên quan đến môi mép của kẻ khác. Đồng nghĩa với các câu nói như: người câm ăn hoàng liên, người câm ăn mướp đắng, lạnh nóng tự biết v.v... Á tử, còn nói là Á hán (gã câm).
ác
5962悉曇字???(āḥ)或傠。又作惡。乃密教阿字五轉之第五。大日經疏卷十四(大三九‧七二二下):「又此阿有五種,阿、阿(長)、暗、噁、噁(長)。」噁即第五字,係???(ā,阿字長音)附上菩提點而成???。大日經疏卷十四,說明集合諸字門而成身之事中謂(大三九‧七二四下):「其第五噁字遍一切處,隨意所作皆得也。此在身外,如佛身光,隨意而用,不在身內布字之位也。」 以阿、阿(長)、闇、惡四字配於發心、修行、菩提、涅槃之四轉法門,而噁字則具足此四轉之方便力,故稱五轉具足之噁字。又五轉配五佛有二說:(一)若依善無畏之東因發心義,此噁字相當於中央大日。(二)若依不空之中因發心說,即爲北方不空成就佛三昧。〔大日經疏卷十三、大日經義釋演密鈔卷五、大日經疏抄卷七〕(參閱「阿字五轉」3613)
; 4944<一>梵語 pāpa,巴利語同。為三性之一。相對於「善」、「無記」,與「不善」(梵 akuśala,巴 akusala)同義。即能招感苦果或可厭毀之不善法,及惡思之所作。其性質包括違理背法、違損自他、與貪瞋等煩惱相應、能障害聖道等。俱舍論卷十六(大二九‧八四中):「由此能感非愛果故,是聰慧者所訶厭故,此行即惡,故名惡行。」即表此意。 善(巴 puñña),即所有善界之善行。反之,「惡」則為破壞人倫秩序之一切品格、心意與行為。據經集(巴 Suttanipāta)四○七偈所載,世尊之出家,即為遠離由身所造之惡業,捨棄由口所造之惡行,而過清淨之生活,故惡業、惡行實與人類生活有密切關係。除身、口所造之惡行外,後世更增加意識所造之惡業,而有「身三、口四、意三」等十種惡業,金光明最勝王經夢見金鼓懺悔品即謂(大一六‧四一二中):「身三語四種,意業復有三;繫縛諸有情,無始恆相續;由斯三種行,造作十惡業。」 十惡業即指殺生、偷盜、邪淫、妄語、兩舌、惡口、綺語、貪欲、瞋恚、邪見,常與害母、害父、害阿羅漢、破僧、惡心出佛身血等五逆罪並提。無量壽經之成書年代早於金光明經,故僅說殺、盜、邪淫、妄語、飲酒等五惡,此即五戒之由來。蓋佛教關於惡業之說法,由來已久,稱此等破壞人倫秩序之行為為惡業,係原始佛教乃至大乘佛教之一貫思想。〔菩薩瓔珞本業經卷下、大毘婆沙論卷一一二、俱舍論卷十四、卷十六、法界次第初門卷上、大乘義章卷七〕(參閱「不善」994、「善」4873) <二>悉曇字???(aḥ)。又作痾、噁、阿。或稱涅槃點。為悉曇十二摩多之一,五十字門之一。在阿字五轉中,為第四轉,即於無轉之阿字旁加涅槃點者。大日經疏卷十四(大三九‧七二四上):「若阿字傍加二點,即是菩提心并除一切障得涅槃也。」依善無畏(637~735)所說東因發心之義,阿字五轉配於五佛中,此字相當於北方之釋迦如來。此字為除蓋障菩薩之種子,大日經疏卷十釋之,謂此字有降伏、除遣之義。另據方廣大莊嚴經卷四載,此字有滅沒(梵 astaṃ-gamana)、沒滅盡、遠離等義。〔北本大般涅槃經卷八、大日經卷五布字品、文殊師利問經卷上字母品、瑜伽金剛頂經釋字母品、理趣釋卷上、大日經疏卷二十、悉曇藏卷五、卷六〕(參閱「阿字五轉」3613)
; Pharusa (P).
; Akuśala (S), Unwholesome, Parusā (S), Fierce Pharusa (P), Akuśala (P)Bất thiệnKusala: Thiện.
; Agha (S). Bad, evil, wicked, hateful; to hate, dislike.
; Agha (skt). 1) Hành vi trái đạo lý (sẽ chuốc lấy khổ báo trong hiện tại và tương lai): Bad—Wrong—Cruel—Mischievous act—Evil—Wicked deeds which are against the right. 2) Làm điều ác: To do mischief.
; (惡) Ác. Phạm, Pāli: Pàpa. Là một trong ba tính. Đối lại với thiện, vô kí, và đồng nghĩa với bất thiện (Phạm:Akuzala, Pāli: Akusala). Tức các pháp bất thiện và các việc làm với ý nghĩ xấu, có khả năng đưa đến quả khổ. Tính chất của nó bao quát sự trái lí, trái phép, tổn hại mình và người, tương ứng với các phiền não tham, sân, làm chướng ngại Thánh đạo. Luận Câu Xá quyển 16 (Đại 29, 84 trung), nói: Vì cái đó có thể dẫn đến quả phi ái (không ưa thích), bị người thông minh ghét bỏ, làm điều đó tức là ác, cho nên gọi là ác hành.Thiện (Pāli: Puĩĩha), tức việc làm thiện đưa đến cảnh giới thiện, trái lại, ác thì phá hoại tất cả phẩm cách nhân luân trật tự, tâm ý và hành vi. Cứ theo Kinh tập (Pāli: Suttanipàta) kệ 407 nói, đức Thế Tôn xuất gia là để tránh xa những ác nghiệp do thân tạo tác, vứt bỏ những ác hành do khẩu tạo tác mà sống cuộc đời thanh tịnh, cho nên, ác nghiệp, ác hành thật có quan hệ mật thiết với đời sống nhân loại. Ngoài các ác hành do thân, khẩu tạo tác ra, đời sau lại thêm các ác nghiệp do ý thức tạo tác, mà thành mười loại ác nghiệp thân ba, miệng bốn, ý ba. Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương phẩm Mộng Kiến Kim Cổ Sám Hối (Đại 16, 412 trung), nói: Thân ba miệng bốn thứ, ý nghiệp cũng có ba, trói buộc các hữu tình, từ xưa luôn tiếp nối, do ba loại hành ấy, tạo thành mười ác nghiệp. Mười ác nghiệp là giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời ác, nói thêu dệt, tham muốn, giận tức, tà kiến, thường được đề cập song song với năm tội nghịch là: hại mẹ, hại cha, hại A la hán, phá tăng, ác tâm làm cho thân Phật chảy máu. Kinh Vô Lượng Thọ có sớm hơn kinh Kim Quang Minh, cho nên chỉ nói có năm điều ác là giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối và uống rượu, đây tức là nguồn gốc của năm giới. Phật giáo cho các hành vi phá hoại trật tự nhân luân là ác nghiệp và nói như thế đã lâu lắm rồi, cho nên, đó là tư tưởng nhất quán từ Phật giáo Nguyên thủy cho đến Phật giáo Đại thừa. [X. kinh Bồ Tát Anh Lạc Bản Nghiệp Q.hạ; luận Đại Tì Bà Sa Q.112; luận Câu Xá Q.14, Q.16; Pháp Giới Thứ Đệ Sơ Môn Q.thượng; Đại Thừa Nghĩa Chương Q.7]. (xt. Thiện, Bất Thiện). II. Ác. Chữ (a#) Tất Đàm, hoặc gọi là chấm Niết Bàn. Một trong 12 nguyên âm của mẫu tự Tất Đàm, một trong 50 chữ cái. Là chữ A chuyển biến lần thứ tư trong năm lần chuyển biến, tức thêm hai cái . vào bên cạnh chữ A không chuyển (chữ A gốc). Đại Nhật Kinh Sớ quyển 14 (Đại 39, 724 thượng), nói: Nếu thêm hai cái chấm vào bên cạnh chữ A thì tức là tâm bồ đề đã trừ sạch các chướng mà được Niết Bàn. Theo nghĩa Đông nhân phát tâm của ngài Thiện Vô Úy (637-735), trong năm lần chuyển biến của chữ A phối với năm đức Phật, thì chữ A này tương đương với đức Thích Ca Như Lai ở phương Bắc. Chữ này là chủng tử của Bồ Tát Trừ cái chướng. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 10 giải thích chữ này theo hai nghĩa trừ bỏ, hàng phục. Ngoài ra, theo kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 4, thì chữ này có các nghĩa: diệt mất (Phạm: Astaô-gamana), diệt mất hết, xa lìa v.v... [X. kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) Q.8; kinh Đại Nhật Q.5 phẩm Bố Tự; kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn Q.thượng phẩm Tự Mẫu; Du Già Kim Cương Đính Kinh phẩm Thích Tự Mẫu; Lí Thú Thích Q.thượng; Đại Nhật Kinh Sớ Q.20; Tất Đàm Tạng Q.5, Q.6]. (xt. A Tự Ngũ Chuyển).
ác báo
Recompense for ill, punishment. To return evil.
; Punishment—Quả báo xấu (Kẻ làm việc ác phải nhận lấy ác báo)—Bad consequence—Recompense for ill—Gieo gió gặt bão—As a man sows, so shall he reap.
Ác bình đẳng
惡 平 等; J: akubyōdō;|Nghĩa là bình đẳng sai lầm, bất thiện; ác bình đẳng được dùng để chỉ sự hiểu sai về bình đẳng quan, cho rằng tất cả là một, là như nhau. Theo Thiền tông thì bình đẳng quan, sự chứng ngộ được sự bình đẳng của vạn vật là một cấp bậc tu chứng – nhưng nó cũng chỉ là một trong nhiều cấp bậc. Hành giả phải vượt qua nó để đạt được kinh nghiệm giác ngộ thâm sâu hơn. Ai dừng bước tại đây vì quá ngỡ ngàng trước sự bình đẳng của vạn vật, mà quên đi cái dị biệt của chúng thì đó chính là ác bình đẳng.
ác bệ
Assaji (S)Mã Thắng, Mã Sư.
ác côn, ác đảng, ác đo
Brigands, bandits, malefactors, evil-doers, ruffians, hoodlums, hooligans.
ác cơ
4950惡,為損害之義;機,指根機。即作非理損害之行為的根機。日本淨土真宗開祖親鸞在愚禿鈔卷上舉出七種惡機:(一)十惡,即殺生、偷盜、邪淫、妄語、綺語、惡口、兩舌、貪欲、瞋恚、愚癡。(二)四重,即僧眾犯殺、盜、淫、妄四重禁戒者。(三)破見,即破壞正道之理。(四)破戒,即破禁戒。(五)五逆,即殺父、殺母、殺阿羅漢、破和合僧、出佛身血。(六)謗法,即誹謗正法。(七)闡提,即無信而斷一切善根。此等惡機之人,於一念間聞信阿彌陀佛之本願而稱名,亦能得阿彌陀佛之救濟。密宗之教義亦述及惡機救濟之功能,據陀羅尼集經載,若有人犯四重罪及五逆罪,能持此法,讀誦陀羅尼一遍,即能消滅一切根本重罪。另據攝真實經卷上金剛界大道場品載,廣造惡業,作墮於地獄之因者,一切餘法皆不能救度之,唯有金剛界大曼荼羅無上法門能給予救護。
; (惡機) Ác, là nghĩa tổn hại; Cơ, chỉ căn cơ. Tức là những căn cơ của các hành vi trái lí gây tổn hại. Trong Ngu Thốc Sao quyển thượng, Tị tổ của Tịnh độ chân tông Nhật Bản là ngài Thân Loan, đã nêu ra bảy loại ác cơ: 1. Mười điều ác, tức giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối, nói thêu dệt, nói lời ác, nói hai lưỡi, tham muốn, giận tức, ngu si. 2. Bốn tội nặng, tức tăng chúng phạm bốn giới cấm nặng: giết hại, trộm cướp, dâm dục, nói dối. 3. Phá kiến, tức phá hoại lí chính đạo. 4. Phá giới, tức phá hủy giới cấm. 5. Năm tội nghịch, tức giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, phá hòa hợp tăng, làm cho thân Phật chảy máu. 6. Báng pháp, tức chê bai chính pháp. 7. Xiển đề, tức không có lòng tin và dứt hết thiện căn. Người ác cơ trên đây, trong khoảng một niệm, nếu được nghe và tin vào bản nguyện của Phật A Di Đà mà niệm danh hiệu của Ngài, thì cũng được Ngài cứu vớt. Giáo nghĩa của Mật tông cũng nói đến công năng cứu giúp kẻ ác cơ; cứ theo kinh Đà La Ni Tập chép, nếu có người phạm bốn tội nặng, năm tội nghịch, có thể trì được pháp này, đọc tụng một biến Đà La Ni, thì liền tiêu diệt hết các tội nặng căn bản. Lại cứ theo kinh Nhiếp Chân Thực quyển thượng phẩm Kim cương giới đại đạo tràng chép, người tạo nhiều ác nghiệp, gây nhân đọa địa ngục, tất cả các pháp khác đều không thể cứu được, duy chỉ có Kim Cương Giới Đại Mạn Đồ La Vô Thượng Pháp Môn mới có thể cứu hộ được.
ác cảm
Apathy Aversion.
; Ill-feeling—Aversion—Antipathy—Dislike.
ác danh
Bad (evil) repute or fame.
ác duyên
External conditions or circumstances which stir or tempt one to do evil.
; Điều kiện, hoàn cảnh, hay sự việc bên ngoài dụ dỗ hay khiến con người làm điều ác—Evil conditions—External conditions or circumstances which stir or tempt one to do evil.
ác dục
Bad intention.
ác giác
tư tưởng xấu ác. Xem ba loại tư tưởng xấu ác.
; Những suy nghĩ hay quán tưởng ngược lại với Phật pháp—Contemplation or thought contrary to Buddhist principles.
; (惡覺) Tư tưởng xấu ác. Có tám loại khác nhau. Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 5 phần cuối, nói: Lòng tà suy tưởng gọi là giác, trái với chính lí nên gọi là ác; ác và giác khác nhau, chia làm tám loại. Chỉ Quán quyển 5 phần bốn, nói: Tám ác giác, không thể vào được.
ác giả ác báo
Gieo gió gặt bão—As man sows, so shall he reap.
ác giới
1) Giới luật không thanh tịnh: Impure precepts. 2) Cảnh giới ác: Evil realms.
ác hiểm
Malicious—Devil-like.
ác hành
4946即不良之行為。又為煩惱之異名。佛教對於一切不善之身、語、意業等,依次稱為身、語、意惡行。於一切惡行之中,以破僧罪為最重。〔俱舍論卷十六、十地論義記卷四本〕(參閱「惡」4944)
; (惡行) Tức hành vi bất lương. Cũng là tên gọi khác của phiền não. Phật giáo đối với tất cả nghiệp bất thiện của thân, ngữ, ý, theo thứ tự gọi là thân ác hành, ngữ ác hành, ý ác hành. Trong tất cả ác hành, tội phá tăng là nặng nhất. [X. luận Câu Xá Q.16; Thập Địa Luận Nghĩa Kí Q.4 phần đầu]. (xt. Ác).
ác hạnh
Incorrect conduct.
ác hề sế đát la quốc
4951惡醯掣呾邏,梵名 Ahi-cchattra,意譯為蛇蓋、蛇
; (惡醯掣呾邏國) Ác-hê-xế-đát-la, Phạm: Ahi-cchattra. Dịch ý là Xà cái, Xà triệt. Là tên một nước xưa thuộc trung Ấn Độ. Còn gọi là A-hỉ-xế-đa-la-quốc, A-lam-xa-đa-la-quốc. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 4 chép, thì nước Ác-hê-xế-đát-la rộng hơn ba nghìn dặm, đô thành rộng một trăm bảy mươi tám dặm, địa thế hiểm trở, trồng nhiều lúa mạch và có nhiều rừng suối. Trong nước, dân chúng thuần phác, mến đạo chăm học, có hơn mười ngôi chùa, tăng chúng hơn nghìn người, học tập giáo pháp của Chính Lượng Bộ Tiểu thừa, có hơn ba trăm người theo đạo khác, thờ trời Đại Tự Tại, là ngoại đạo Đồ khôi (lấy tro bôi lên mình). Cứ theo sử thi cổ đại của Ấn Độ là Đại Tự Sự Thi (Phạm: Mahàbhàrata, dịch âm là Ma-ha-bà-la-đa) chép, thì tên của nước này là Ban-xà-la (Pāli: Paĩcàla), nền cũ ở gần sông La-ma-hằng-ca (Ràmagagà), một nhánh của sông Hằng, nằm về phía tây Ba-lôi-lị (Bayeli) khoảng hai mươi chín cây số, hiện còn ba mươi hai ngôi tháp. [X. kinh Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương Q.trung; luận Đại Trí Độ Q.3; Phiên phạm ngữ Q.8].
ác họa
Calamity, disater, catastrophe; scourge, plague, pest, curse, bane.
ác hữu
Evil or bad fiends Ác khẩu. Evil mouth, evil speech; a slanderous evil-speaking person. Ác kiến. Evil or heterodox views.
; Bạn bè xấu ác—Bad or wicked friends.
ác khí
4949即鬱勃不顯於外,於心內固結不解之氣。大無量壽經卷下謂,各懷殺毒,惡氣窈冥,即表此意。此外,禪林中,禪師為達到使他人覺醒之目的,以惡劣之態度所說之言語,稱為惡氣息;其「氣息」之意,係指言語。〔大慧普覺禪師書卷下〕
; (惡氣) Cái khí tức bực bứt rứt không lộ ra ngoài, cố kết trong lòng. Kinh Đại Vô Lượng Thọ quyển hạ nói: mang lòng độc hại ác khí sâu kín, là hàm trên. Ngoài ra, trong Thiền lâm, để đạt mục đích khiến người khác giác ngộ, dùng những lời nói với thái độ ác liệt, gọi là ác khí tức; khí tức là chỉ lời nói. [X. Đại Tuệ Phổ Giác Thiền Sư Thư Q.hạ].
ác khẩu
4945為十惡之一。新譯粗惡語。即口出粗惡語毀訾他人。據大乘義章卷七載,言辭粗鄙,故視為惡;其惡從口而生,故稱之為惡口。法界次第初門卷上(大四六‧六六九下):「惡言加彼,令他受惱,名為惡口。」另據法華經卷六常不輕菩薩品載,若惡口罵詈誹謗,其人將獲大罪報。〔無量壽經卷下、俱舍論卷十六〕
; Pharusāvācā (P), Parusāvācā (S) Harsh wordsThô lỗ, Cục cằn.
; 1) Lời nói độc ác hay miệng độc ác (gây phiền não cho người): Slanderous, or evil mouth—Evil-speech. 2) Người nói lời độc ác: Evil-speaking person.
; (惡口) Một trong mười điều ác. Các nhà dịch mới dịch là Thô ác ngữ. Tức thốt ra những lời cục cằn thô lỗ, mắng nhiếc người khác. Cứ theo Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 7 chép, thì lời nói thô bỉ được coi là xấu ác, lời xấu ác từ miệng thốt ra, nên gọi là ác khẩu. Pháp Giới Thứ Đệ Sơ Môn quyển thượng (Đại 46, 669 hạ), nói: Dùng lời nói ác nói với người, khiến người buồn bực, gọi là ác khẩu. Ngoài ra, kinh Pháp Hoa quyển 6 phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát chép: nếu dùng ác khẩu chửi mắng chê bai, thì người ấy sẽ bị tội báo lớn. [X. kinh Vô Lượng Thọ Q.hạ; luận Câu Xá Q.16].
Ác khẩu Xa-nặc
xem Xa-nặc.
ác kiến
4947<一>梵語 mithyā-dṛṣṭi。又作不正見。略稱見。為法相宗所立百法之一,屬六煩惱之一。指邪惡之見解,亦即違背佛教真理之見解。據成唯識論卷六載,惡見以染慧為性,能障善見,惡見者多受諸苦。於俱舍論所說六隨眠中之見隨眠(梵 dṛṣṭy-anuśaya)、五濁中之見濁,均與惡見相同。依行相之差別,惡見分為薩迦耶見、邊執見、邪見、見取見、戒禁取見等五見,又稱五惡見;於九結中,前三見為見結(梵 dṛṣṭisaṃyojana),則後二見為取結(梵 parāmarśa-saṃyojana)。〔俱舍論卷十九、顯揚聖教論卷一、大乘阿毘達磨雜集論卷一〕(參閱「五見」1099) <二>在淨土宗,特指自力疑心。善導觀經疏散善義中舉出貪瞋二河之譬喻,謂別解、別行、惡見之人,以虛妄之見解惑亂願往生西方者之信心。日僧親鸞之愚禿鈔卷下謂,惡見人即指憍慢、懈怠、邪見、疑心之人。(參閱「發遣招喚」5164)
; Evil (heterodox, wrong or perverse) views—Ác kiến là kiến giải ác hay sự thấy hiểu xấu ác với những quan niệm sai lầm và cố chấp (sự suy lường điên đảo về tứ diệu đế làm ô nhiễm trí tuệ)—Wrong views mean seeing or understanding in a wrong or wicked and grasping manner. There are five kinds of wrong views 1) Thân kiến: Wrong views of the body. 2) Biên kiến: One-sided views. 3) Tà kiến: Wrong views which are inconsistent with the dharma. 4) Kiến thủ: Wrong views caused by attachment to one's own errouneous understanding. 5) Giới cấm thủ: Wrong views or wrong understandings of the precepts.
; (惡見) I.Ác kiến. Phạm: mithyà-dfwỉi. Còn gọi là Bất chính kiến. Nói tắt là Kiến. Là một trong trăm pháp do tông Pháp tướng lập ra, thuộc một trong sáu phiền não. Chỉ cái thấy biết quanh co xấu ác, cũng tức là cái thấy biết trái với chân lí Phật giáo. Cứ theo luận Thành Duy Thức quyển 6 chép, ác kiến lấy sự hiểu biết nhơ nhuốm làm tính, có khả năng ngăn trở cái thấy biết tốt lành, kẻ có ác kiến chịu nhiều khổ não. Kiến tùy miên (Phạm: Dfwty-anuzaya) trong sáu Tùy miên được nói trong luận Câu Xá, Kiến trược trong năm trược, đều tương đồng với ác kiến. Dựa theo sự sai biệt về hành tướng, Ác kiến được chia làm năm kiến là: Tát ca gia kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến, cũng gọi là năm ác kiến; trong chín Kết, ba kiến trước là Kiến kết (Phạm:Dfzỉisaôyojana), hai kiến sau là Thủ kết (Phạm:Paràmarzasaôyojana). [X. luận Câu Xá Q.19; luận Hiển Dương Thánh Giáo Q.1; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1]. (xt. Ngũ Kiến). II. Ác kiến. Trong tông Tịnh độ, ác kiến, đặc biệt chỉ cho lòng ngờ vực về năng lực của chính mình. Trong Quán Kinh Sớ Tán Thiện Nghĩa, ngài Thiện đạo nêu ra thí dụ hai dòng sông Tham và Sân, bảo rằng, người ác kiến hiểu khác, làm khác, đem sự hiểu biết bậy bạ của mình, làm rối loạn lòng tin của những người nguyện sinh về Tịnh độ phương Tây. Trong Ngu Thốc Sao quyển hạ, ngài Thân Loan của Nhật Bản nói, người ác kiến là chỉ cho người kiêu ngạo, lười biếng, tà kiến, ngờ vực. (xt. Phát Khiển Chiêu Hoán).
ác kiến xứ
Địa ngục nơi những kẻ tội lỗi chứng kiến những tội lỗi đã làm trong đời, là một trong mười sáu địa ngục đặc biệt—The place in hades (hells) where the sinner beholds the evil done in life, one of the sixteen special hells.
Ác kiến 惡見
[ja] アッケン akken ||| (dṛṣṭi) 'wrong view.' One of the six primary defilements in the doctrine of the Yogācāra school 瑜伽行派. This primary defilement is a stored knowledge that arises from a misconception of the real characteristic of existence, that is, that it possesses an inherent self-nature. Also a reference to the "five evil views" 五惡見. - => (s: dṛṣṭi) 'quan niệm sai lầm'. Một trong sáu phiền não căn bản thuộc giáo lý Du-già hành tông. Phiền não căn bản này là tri thức phân biệt tích tập khiến khởi phát nhận thức sai lầm về thực tính của hiện hữu, đó là, thấy vạn vật có tự tính. Còn có thể xem mục từ Ngũ ác kiến 五惡見.
ác kế
Devilish plot.
ác kỳ ni
Agni (skt)—Ta Cát Lợi Đa Da Ni—Hỏa Thần—The god of fire.
ác linh
4952指邪惡之幽靈。即心懷怨恨,於世間作祟之幽靈。又作死靈、怨靈、怪物。心懷怨恨之靈,其顯現之形相多恐怖,擾亂人心,甚或致人於死地。若藉神佛之威力,則可驅散惡靈,故加持祈禱、出家修行、詠誦經文等風氣於焉盛行。此一思想源於魏晉時期。
; (惡靈) Chỉ sự u linh tà ác. Tức mang lòng oán hận làm một thứ u linh ở thế gian. Còn gọi là Tử linh, Oán linh, Quái vật. Sự u linh mang lòng oán hận, hiện ra hình tướng phần nhiều là khủng bố, nhiễu loạn lòng người, thậm chí khiến người ta phải chết. Nếu nhờ vào uy lực của Phật Thánh thì có thể xua tan được ác linh, cho nên cái phong khí gia trì cầu đảo, xuất gia tu hành, đọc tụng kinh văn, do đó mà thịnh hành. Tư tưởng này bắt nguồn từ thời kỳ Ngụy Tấn.
ác liệt
Fierce—Violent.
ác luận
Evil discussion—See Thế Luận.
ác luật nghi
4949惡之律儀。為「善律儀」之對稱。又作不律儀、惡戒。即為自活或得利益而立誓行屠殺等業者所得之無表色。據俱舍論卷十四載,惡律儀為智者所訶厭,故名惡行,能障清淨之戒律,故名惡戒,不禁身語之惡,故名不律儀。北本大般涅槃經卷二十七說惡律儀有十六種,即:(一)為利飼養羔羊,肥已轉賣。(二)為利買羊屠殺。(三)為利飼養豬豚,肥已轉賣。(四)為利買豬屠殺。(五)為利飼養牛犢,肥已轉賣。(六)為利買牛屠殺。(七)為利養雞令肥,並予轉賣。(八)為利買雞屠殺。(九)釣魚。(十)獵師。(十一)劫奪。(十二)魁膾(魁,為師之意;膾,為切肉之意。即指殺人者)。(十三)網捕飛鳥。(十四)兩舌。(十五)獄卒。(十六)咒龍(以咒術繫縛蟒蛇等,供人觀賞戲樂,求物以自活)。又大方便佛報恩經卷六舉出屠兒、魁膾、養豬、養雞、捕魚、獵師、網鳥、捕蟒、咒龍、獄吏、作賊、王家常差捕賊等十二惡律儀。 有關惡律儀之得與捨,依俱舍論卷十四、卷十五之意,若住律儀,由勝煩惱而作殺縛等諸不善業,由此便發不善無表;若住不律儀,由淳淨信而作禮佛等諸勝善業,由此亦發諸善無表。又由作、誓二者,能得惡律儀,「作」即生於不律儀之家,於作殺生等事時即發得惡戒;「誓」即非生於不律儀之家,但為生活之故,立誓殺生以資養活,由此發得惡戒。捨戒則有三緣,即由死亡(所依之身已捨,能依之惡戒隨之亦捨)、由得戒(善惡二戒不能俱起,得別解脫戒或靜慮律儀時,增盛之勢力強大,故能捨惡戒)、由二形生(即男子生為女形,女子生為男形)。另據大方便佛報恩經卷六載,死者欲愛盡時、受律儀戒時、受三歸依時,於此三時捨惡律儀戒。〔瑜伽師地論卷九、順正理論卷三十六、四分律刪繁補闕行事鈔卷中一、俱舍論光記卷十四〕
; Bad, or evil rules and customs.
; Theo Kinh Niết Bàn, ác luật nghi là những luật nghi và tập tục bất thiện—According to the Nirvana Sutra, these are bad, or evil rules and customs.
; (惡律儀) Luật nghi xấu ác. Đối lại với Thiện Luật Nghi. Còn gọi là Bất Luật Nghi, Ác giới. Tức là Vô biểu sắc của những người vì cuộc sống hoặc ham nhiều lời lãi mà tự phát thệ làm nghề đồ tể, tạo nghiệp giết hại. Cứ theo luận Câu Xá quyển 14 chép, ác luật nghi bị kẻ trí chán ghét, cho nên gọi là ác hành; có khả năng trở ngại giới luật thanh tịnh, cho nên gọi là ác giới, không cấm các cái ác xấu của thân, ngữ, cho nên gọi là bất luật nghi. Kinh Đại Ban Niết Bàn (bản Bắc) quyển 27 nói: Có mười sáu loại ác luật nghi. Đó là: 1. Vì cầu lợi mà nuôi dê mẹ dê con, nuôi cho béo rồi đem bán. 2. Vì cầu lợi mà mua dê, giết lấy thịt bán.3. Vì cầu lợi mà nuôi lợn (heo), nuôi béo rồi bán. 4. Vì cầu lợi mà mua lợn giết lấy thịt bán.5. Vì cầu lợi mà nuôi bò con, nuôi béo rồi bán. 6. Vì cầu lợi mà mua bò, giết lấy thịt bán.7. Vì cầu lợi mà nuôi gà con, nuôi béo rồi bán. 8. Vì cầu lợi mà mua gà, giết lấy thịt bán.9. Câu cá, 10. Săn bắn, 11. Cướp giật, 12. Giết người, 13. Giăng lưới bắt chim, 14. Nói hai lưỡi, 15. Làm cai tù, 16. Chú long..... (dùng chú thuật quấn rắn vào mình, làm trò vui cho người ta xem, để kiếm sống). Lại kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân quyển 6, có nêu lên mười hai ác luật nghi là: Đồ tể, sát nhân, nuôi lợn (heo), nuôi gà, bắt cá, săn bắn, lưới chim, bắt rắn, chú long, cai tù, làm giặc. Về việc được và bỏ ác luật nghi, theo ý luận Câu Xá quyển 14, quyển 15, thì nếu an trú nơi luật nghi, vì thắng phiền não mà làm các nghiệp bất thiện giết hại, thì do đó liền phát bất thiện vô biểu; nếu an trú nơi bất luật nghi, do thuần tịnh tín mà làm các thắng thiện nghiệp như lễ Phật, thì do đó cũng phát các thiện vô biểu. Lại do làm và thề cũng có thể được ác luật nghi; làm tức sinh trong nhà bất luật nghi, khi làm các việc sát sinh, liền phát được ác giới; thề, tức không sinh trong nhà bất luật nghi nhưng vì cuộc sống mà thề sát sinh để nuôi thân, do đó phát được ác giới. Bỏ giới thì có ba duyên, tức do đã chết (thân sở y đã chết thì ác giới năng y cũng theo đó mà bỏ), do được giới (hai giới thiện ác không thể cùng khởi song song, khi được biệt giải thoát giới hoặc tĩnh lự luật nghi, thì sức mạnh tăng lên, vì thế có thể bỏ ác giới), do sinh hai hình (tức con trai sinh làm hình gái, con gái sinh làm hình trai). Ngoài ra, kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân quyển 6 chép, khi chết đã hết ái dục, khi thụ luật nghi giới, khi thụ ba qui y, trong ba trường hợp đó bỏ ác luật nghi giới. [X. luận Du Già Sư Địa Q.9; luận Thuận Chính Lí Q.36; Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao quyển trung phần một; Câu Xá Luận Quang Kí Q.14].
ác lại dã can tâm
Tâm địa độc ác như tâm địa của loài cầy cáo (Theo Kinh Tát Già Ni Kiền: “Nếu không trì giới thì ngay thân của loài cầy cáo ghẻ lở cũng không có được, huống là thân công đức)—A scabby pariah, a phrase describing the evil of the mind.
; (惡癩野幹心) Ác lại, chỉ chứng bệnh ghê tởm; dã can, tức cáo đồng. Cả hai thứ này đều có mùi hôi hám khó chịu, thí dụ cái tâm hiểm ác. Ma Ha Chỉ Quán quyển 2 phần dưới (Đại 46, 17 trung), chép: Đại Luận nói: Thà khởi tâm ác lại dã can, chứ không sinh ý Thanh Văn, Bích Chi Phật. Ngoài ra, kinh Tát Già Ni Kiện quyển 9 có câu Thân cáo đồng ghẻ lở cũng không thể có được (chứ đừng nói chi đến thân người). Nói về người không giữ giới.
ác lại dã cán tâm
4952惡癩,指惡疾;野干,即野狐。此二者臭穢不善,比喻心之險惡。摩訶止觀卷二下(大四六‧一七中):「大論云:『寧起惡癩野干心,不生聲聞、辟支佛意。』」此外,薩遮尼犍經卷九有「疥癩野干身」之語,謂不持戒者,即使疥癩野干之身亦不可得。
ác lộ
4952巴利語 asubha。指身上所出不潔之津液。如膿、血、尿、屎等。惡,為憎厭之義;露,即津液。據心地觀經載,自見己身,三十六物惡露不淨。又無量壽經卷下謂,生、老、病、死皆苦,且惡露不淨,故無可樂者。
; Asubha (p). 1) Chất lỏng bất tịnh hay các loại nước không sạch sẽ toát ra từ thân người như mủ, máu, nước tiểu, v.v.—All kinds of impure water (foul discharges) discharged from human body such as pus, blood and urine, etc. 2) Tính độc ác được biểu lộ ra: Evil revealed.
; (惡露) Pāli: Asubha. Chỉ thứ nước lỏng (tân dịch) nhơ nhớp từ trong thân thể tiết ra. Như mủ, máu, nước phẩn, nước tiểu v.v... Ác, là nghĩa chán ghét; lộ, tức tân dịch. Cứ theo kinh Tâm Địa Quán chép, tự thấy thân mình có ba mươi sáu vật ác lộ bất tịnh. Lại kinh Vô Lượng Thọ quyển hạ bảo: sống, già, bệnh, chết đều khổ, lại thêm ác lộ bất tịnh, vì thế chẳng có gì đáng ưa cả.
ác lộ.
TFoul discharges from the body; also evil revealed.
ác ma
4952梵語 māra。音譯作魔羅。指能破壞求道之心志,障害善事,並破壞自他身命之惡神、鬼神。亦即擾人修行之惡人、惡事、惡神之通稱。南北傳經典,尤以阿含經典為然,對惡魔侵擾佛陀及弟子之身心,有詳盡而生動之描述。如雜阿含經卷三十九,佛陀以偈頌說明「魔」之境界(大二‧二九○上):「色、受、想、行、識,非我及我所;若知真實義,於彼無所著。心無所著法,超出色結縛,了達一切處,不住魔境界。」南傳相應部經典之惡魔相應(巴 Mārasaṃyutta)中,亦有類似記載,根據其中所述,可考察惡魔之性格。某次,弟子羅陀問佛陀:「何謂惡魔?」佛陀言:「色(有形者)為魔,受(感覺)為魔,想(表象)為魔,行(意志之構想力)為魔,識(判斷作用)為魔。」而凡有所想、所見、所聞等,皆為「執著」之根源,故皆可視為魔。 又佛陀成道未久,於菩提樹下靜坐思惟,其時惡魔波旬即前來嬈亂,對佛陀道(大二‧二八六下):「瞿曇若自知,安隱涅槃道,獨善無為樂,何為強化人?」此一偈頌,於相應部之惡魔相應為:「汝既了悟不死安穩之道,汝一人實踐即可,何必更教他人、度他人?」 惡魔相應又載,某日,佛陀往村中乞食未得,空鉢而歸,惡魔見而語之:「如再度往乞,大師必能得食。」佛陀詠詩答之:「雖未得食,吾亦樂之,如光音天以喜為食而住。」或謂此乃佛陀對食欲之兩重心境表現。此一偈頌,雜阿含經卷三十九載為(大二‧二八八上):「正使無所有,安樂而自活;如彼光音天,常以欣悅食。正使無所有,安樂而自活;常以欣悅食,不依於有身。」 又如惡魔相應所載,某次惡魔云:「有子者從其子而喜,有牛者從其牛而喜;此乃 因人有所依恃始得歡喜,若無所依恃,則無歡喜。」佛陀聞之則謂:「有子者因其子而憂,有牛者因其牛而憂;此乃因人有所依恃故憂,若無所依恃則無憂。」上述對親情與財富「有所依恃則喜」、「有所依恃則憂」兩種截然相悖之觀點,若干學者解釋為可能是佛陀一己內心所產生之兩重心境。 除阿含經典外,其他如普曜經卷六降魔品、佛本行集經卷二十五、大品般若經卷十三魔事品、大佛頂首楞嚴經卷六、方廣大莊嚴經卷七往尼連河品、卷九降魔品、大毘婆沙論卷四十四、卷一九七、大智度論卷五十六、卷五十八等經論中皆廣載惡魔(或魔波旬)之名相、語意、嬈害佛陀或諸修行者、破壞善法等之事跡。(參閱「波旬」3437、「魔」6885)
; Xem Ma ba tuần.
; Evil maras, demon enemies of Buddhism.
; Tên gọi chung các ác thần gây trở ngại cho việc tu đạo Phật—Evil spirit—Evil maras—Demon enemies of Buddhism.
; (惡魔) Phạm: Màra. Dịch âm là Ma-la. Chỉ loại ác thần, ác quỉ hay phá hoại tâm chí cầu đạo, ngăn trở việc thiện và phá hoại thân mệnh của mình và người. Tức cũng gọi chung những người ác, việc ác, thần ác quấy phá người tu hành. Các kinh điển Nam, Bắc truyền, nhất là kinh A Hàm, miêu tả rất tường tận và sinh động các việc ác ma quấy nhiễu thân tâm của đức Phật và các đệ tử. Như kinh Tạp A Hàm quyển 39, đức Phật dùng kệ tụng thuyết minh cảnh giới ma (Đại 2, 290 thượng): Sắc, thụ, tưởng, hành, thức, phi ngã và ngã sở; nếu biết nghĩa chân thực, không đắm những thứ đó. Tâm không đắm trước pháp, vượt thoát sắc trói buộc, biết rõ tất cả chốn, không trú cảnh giới ma. Ác ma tương ứng (Pāli: Màrasaôyutta) trong kinh Tương Ưng Bộ Nam truyền, cũng có ghi chép tương tự, và căn cứ theo các điều được trình bày trong đó, cũng có thể khảo sát tính cách của ác ma. Có lần, ngài La Đà hỏi đức Phật: Thế nào là ác ma?. Đức Phật trả lời: Sắc (có hình) là ma, thụ (cảm giác) là ma, tưởng (biểu tượng) là ma, hành (sức cấu tưởng của ý chí) là ma, thức (tác dụng phán đoán) là ma. Mà phàm những cái tưởng tượng, thấy, nghe v.v... đều là nguồn gốc của sự chấp trước, cho nên đều có thể được coi là ma. Đức Phật thành đạo chưa được bao lâu, đang ngồi yên lặng tư duy dưới gốc cây bồ đề, lúc ấy ác ma Ba tuần liền đến trước mặt quấy nhiễu, nó nói với đức Phật (Đại 2, 286 hạ): Cù Đàm nếu tự biết, đạo Niết Bàn an ẩn, vui một mình là tốt, tại sao cưỡng hóa người?. Bài kệ tụng này, trong Ác ma tương ưng của Tương Ưng Bộ là: Người đã liễu ngộ đạo bất tử yên ổn, một mình người thực hành là được rồi, tại sao còn giáo hóa cho người khác, độ cho người khác?. Ác ma tương ứng còn chép, một ngày nọ, đức Phật vào làng khất thực không được, mang bát trở về, Ác ma thấy thế bèn nói: Lần sau nếu đi xin, Đại sư chắc chắn sẽ có ăn. Đức Phật ngâm thơ, đáp: Tuy không có ăn, nhưng ta vẫn vui, như trời Quang Âm, nhờ vui mà sống. Có người bảo đây là đức Phật đối với thực dục, biểu hiện hai mặt tâm cảnh. Bài kệ trên đây, kinh Tạp A Hàm quyển 3 (Đại 2, 288 thượng) chép là: Dù cho chẳng được gì, ta yên vui mà sống, như trời Quang Âm kia, thường ăn bằng thú vui. Dù cho chẳng được gì, yên vui mà tự sống; thường ăn bằng niềm vui, không tùy thuộc cái thân. Ác Ma Tương Ưng lại chép, có lần ác ma nói: Người có con nhờ con mà mừng, người có bò nhờ bò mà mừng, nhân người ta có cái nhờ cậy mới được vui mừng, nếu không có cái nhờ cậy, thì làm sao được vui mừng?. Đức Phật nghe vậy liền nói: Có con vì con mà lo, có bò vì bò mà lo; vì người ta có cái nhờ cậy nên lo, nếu không có cái nhờ cậy thì không lo. Hai quan điểm đối với thân tình và của cải có cái nhờ cậy thì mừng, có cái nhờ cậy thì lo hoàn toàn trái ngược nhau kể ở trên, bao nhiêu học giả giải thích là trong tâm đức Phật đã nảy sinh hai lớp tâm cảnh. Ngoài kinh điển A Hàm ra, trong các kinh luận khác như kinh Phổ Diệu quyển 6 phẩm Hàng Ma, kinh Phật Bản Hạnh Tập quyển 25, kinh Đại Phẩm Bát Nhã quyển 13 phẩm Ma Sự, kinh Đại Phật Đính Thủ Lăng Nghiêm quyển 6, kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 7 phẩm Vãng Ni Liên Hà, quyển 9 phẩm Hàng Ma; luận Đại Tì Bà Sa quyển 44, quyển 197, luận Đại Trí Độ quyển 56, quyển 58 v.v... đều có chép nhiều về sự tích danh tướng và lời nói của ác ma (hoặc ma Ba Tuần) nhiễu hại đức Phật hoặc những người tu hành, và phá hoại các thiện pháp. (xt. Ba Tuần, Ma).
ác ma thần
Evil demons and evil spirits (yaksas—Dạ xoa).
ác mộng
Nightmare.
ác nghiệp
4950「善業」之對稱。謂身、口、意所造乖理之行為。即指出於身、口、意三者之壞事、壞話、壞心等,能招感現在與未來之苦果。通常指造五逆、十惡等業。四十華嚴經卷四十(大一○‧八四七上):「我昔所造諸惡業,皆由無始貪、恚、癡。」〔六波羅蜜經卷五、俱舍論光記卷十三〕(參閱「善業」4894)
; Akuśala-karma (S).Bad actions
; Evil conduct in thought, word or deed, which leads to evil recompense; evil karma.
; (I) Nghĩa của ác nghiệp—The meanings of Evil karma, or negative karma: -Hành động của thân khẩu ý làm tổn hại cả mình lẫn người, sẽ đưa đến quả báo xấu: Harmful actions, or conduct in thought, word, or deed (by the body, speech, and mind) to self and others which leads to evil recompense—Negative path—Bad deeds—Black path. (II) Ác nghiệp gồm có những nghiệp sau đây—Negative Karma includes: 1) Tham: Greed. 2) Sân: Anger. 3) Si: Stupidity or Ignorance. 4) Mạn: Arrogance or Pride. 5) Nghi: Doubt. 6) Tà Kiến: Improper (Wrong) Views. 7) Sát: Killing. 8) Đạo: Stealing. 9) Dâm: Sexual Misconduct. 10) Vọng: Unwholesome thoughts. (III) Lời Phật dạy về Ác Nghiệp trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on Evil karma in the Dharmapada Sutra: - Như sét do sắt sinh ra rồi trở lại ăn sắt, cũng như ác nghiệp do người ta gây ra rồi trở lại dắt người ta đi vào cõi ác—As rust sprung from iron eats itself away when arisen, just like ill deeds lead the doer to a miserable state (Dharmapada 240).
; (惡業) Đối lại với Thiện nghiệp. Tức là những hành vi trái lí do thân, khẩu, ý tạo nên. Chỉ những việc làm xấu, lời nói xấu và ý nghĩ xấu của thân, miệng, ý, có khả năng dẫn đến quả khổ trong hiện tại và vị lai. Thông thường chỉ sự tạo nghiệp ngũ nghịch, thập ác. Kinh Hoa Nghiêm (40 quyển) quyển 40 (Đại 10, 847 thượng), nói: Xưa kia tôi gây bao nghiệp ác, đều bởi vô thủy tham sân si. [X. kinh Lục Ba La Mật Q.5; Câu Xá Luận Quang Kí Q.13]. (xt. Thiện Nghiệp).
ác nghiệp tham, sân, si do thân, khẩu, ý gây
Evil karmas of greed, hatred and ignorance, all created by body, mouth and speech
Ác nghiệp 惡業
- [ja] アクゴウ akugō ||| Evil karma. Evil deeds, as opposed to good deeds . Evil conduct of word, thought and deed, which leads to evil retribution. There are ten of these--see 十惡. - => Việc xấu, hành vi xấu ác, ngược với việc thiện. Hành vi ác gây ra bởi lời nói, ý nghĩ, và hành động, đưa đến kết quả xấu. Có tất cả 10 loại ác nghiệp. Xem Thập ác十惡.
ác ngữ
Evil speech. Những lời Phật dạy về “Ác Ngữ” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Evil Speech” in the Dharmapada Sutra: 1) Chớ nên nói lời thô ác. Khi ngươi dùng lời thô ác nói với người khác. Người khác cũng dùng lời thô ác nói với ngươi, thương thay những lời nóng giận thô ác chỉ làm cho các ngươi đau đớn khó chịu như đao gậy mà thôi—Do not speak harshly to anyone. Those who are spoken to will respond in the same manner. Angry speech nourishes trouble. You will receive blows in exchange for blows (Dharmapada 133). 2) Nếu ngươi mặc nhiên như cái đồng la bể trước những người đem lời thô ác cãi vã đến cho mình, tức là ngươi đã tự tại đi trên đường Niết Bàn. Người kia chẳng làm sao tìm sự tranh cãi với ngươi được nữa—If like a cracked gong, you silence yourself, you already have attained Nirvana. No vindictiveness (quarrels) will be found in you (Dharmapada 134).
ác nhân
4944即不善之人。指身、口、意行惡之人,尤指否認佛教正理而不信受者而言。法華經卷一方便品謂,未來世之惡人,雖聞佛說一乘之法,但迷惑而不信受,破法墮於惡道。善導於觀念法門一書中舉出五種惡性之人,即:(一)謗真行偽,(二)謗正行邪,(三)謗是行非,(四)謗實行虛,(五)謗善行。又梵網經卷下、菩薩戒義疏卷下等,對惡人嚴加指斥,謂不受菩薩戒者,皆是惡人,名為畜生,如無心之木石。日本淨土教對於此等惡人有救濟之說,如淨土真宗特稱惡人為「惡人正機」,主張惡人為正所被之根機,以為惡人即是阿彌陀佛所攝化之對象。〔無量壽經卷下、梵網經菩薩戒本疏卷六〕
; A cause of evil, or a bad fate; an evil cause.
; 1) Kẻ làm ác: Malefactor—Evil doer—Evil person—Wrong doer. 2) Nhân ác hay hành vi gây ra tội ác có thể dẫn tới quả ác báo: A cause of evil, or of a bad fate—An evil cause which leads to recompense for ill.
; (惡人) Tức là người bất thiện. Chỉ người làm ác qua thân, khẩu, ý, đặc biệt chỉ người phủ nhận, không tin chính lí Phật giáo. Kinh Pháp Hoa quyển 1 phẩm Phương Tiện nói, kẻ ác trong đời vị lai, tuy nghe Phật nói pháp Nhất thừa, nhưng mê hoặc mà không chịu tin, phá pháp rơi vào ác đạo. Trong sách Quán Niệm Pháp Môn, ngài Thiện Đạo nêu lên năm loại người có tính ác, đó là: 1. Chê thật làm giả, 2. Chê chính làm tà, 3. Chê phải làm trái, 4. Chê thực làm dối, 5. Chê thiện làm ác. Kinh Phạm Võng quyển hạ, Bồ Tát Giới Nghĩa Sớ quyển hạ, đối với người ác, chỉ trích rất nghiêm khắc, bảo những kẻ không thụ giới Bồ Tát đều là người ác, gọi là súc sinh, vô tâm như gỗ đá. Tịnh Độ Giáo Nhật Bản, đối với hạng người ác này, có thuyết cứu tế, như Tịnh Độ Chân Tông đặc biệt gọi kẻ ác làÁc nhân chính cơ, chủ trương ác nhân là căn cơ chính được cứu, cho ác nhân là đối tượng hóa độ của Phật A Di Đà. [X. kinh Vô Lượng Thọ Q.hạ; Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Bản Sớ Q.6].
ác nhân chính cơ
4945為日本淨土真宗開祖親鸞所提倡之思想;係顯現阿彌陀佛無限慈悲之用語。親鸞曾於歎異鈔中謂,阿彌陀佛之本意為度人往生,無論善類、惡類皆當救度;尤以惡人,更當救度之,使其往生,此稱惡人正機。蓋淨土真宗對違犯十惡五逆罪者之往生,提出慈悲、智慧二門之說法,謂於智慧門中,彌陀鑒照是非善惡,接引善機而慎誡惡行、惡性;然於慈悲門中,則以惡人為得蒙救度之主要對機。此乃親鸞所倡念佛之真髓。
; (惡人正機) Là tư tưởng do ngài Thân Loan, tị tổ của Tịnh Độ Chân Tông Nhật Bản, đề xướng, dụng ngữ biểu hiện lòng từ bi vô hạn của Phật A Di Đà. Trong Thán Dị Sao, Thân Loan từng nói, bản ý của Phật A Di Đà là độ người vãng sinh, bất luận là thiện hay ác, đều nên cứu độ; đặc biệt là người ác, lại càng nên cứu, khiến họ vãng sinh, đó gọi là ác nhân chính cơ. Bởi vì, đối với việc vãng sinh của những kẻ phạm tội Ngũ nghịch, Thập ác, Tịnh Độ Chân Tông có đề xuất thuyết Từ bi, Trí tuệ hai môn, bảo rằng, trong môn Trí tuệ, Phật Di Đà soi xét phải tái thiện ác, tiếp dẫn thiện cơ mà răn dạy ác hành, ác tính; nhưng trong môn Từ bi thì lấy người ác mong được cứu độ làm đối cơ chủ yếu. Đây là cái cốt tủy của việc niệm Phật mà ngài Thân Loan đã đề xướng.
ác nhân ác quả
4946惡因、惡果之併稱。指可招致惡果之根源及惡行所生之苦果。為「善因善果」之對稱。據菩薩瓔珞本業經卷下佛母品載,善惡所受之果報截然不同,一切善感受佛果,無明則受有為生滅之果,故善果從善因而生,惡果從惡因而生。惡因惡果與善因善果二者,其因與果之關係為同類因、等流果。佛典中解說善因善果、惡因惡果者甚多,如大莊嚴論經卷十五揭示八十九種事緣,分別善惡報應經、法苑珠林卷六十九、卷七十之受報篇亦廣說善惡之業報。善行成因而生善果,惡行成因而生惡果,深信此種因果道理,為入於佛法之必要條件。(參閱「等流果」5172)
; Evil cause-Evil consequence (fruit)—Evil fruit from evil deeds.
; (惡因惡果) Gọi chung ác nhân, ác quả. Chỉ cái căn nguyên có thể đưa đến quả ác và quả khổ do hành vi ác sản sinh. Đối lại với Thiện nhân thiện quả. Cứ theo kinh Bồ Tát Anh Lạc Bản Nghiệp phẩm Phật Mẫu chép, thì quả báo thiện ác rất là bất đồng, tất cả điều thiện, cảm thụ quả Phật, còn vô minh thì chịu quả hữu vi sinh diệt, do đó, quả thiện từ nhân thiện mà sinh, quả ác do nhân ác mà có. Mối quan hệ nhân quả giữa hai cái ác nhân ác quả và thiện nhân thiện quả, là quan hệ đồng loại nhân, đẳng lưu quả. Kinh sách Phật giải thích về thiện nhân thiện quả và ác nhân ác quả thì rất nhiều, như Đại Trang Nghiêm Luận Kinh quyển 15, nêu lên tám mươi chín loại sự duyên, kinh Phân Biệt Thiện Ác Báo ứng, THIÊN THụ BÁO trong Pháp Uyển Châu Lâm quyển 69, quyển 70, cũng nói rất rộng về nghiệp báo thiện ác. Việc làm thiện thành nhân mà sinh ra quả thiện, việc làm ác thành nhân mà sinh ra quả ác, tin sâu ở đạo lí nhân quả ấy là điều kiện tất yếu để đi vào Phật pháp. (xt. Đẳng Lưu Quả).
ác niệm
Ill thought; bad intention.
; Evil thought.
ác niệm tư duy chướng
4948為修定三障之一。指修行者於修定時,因昏沈闇睡,惡念忽起,遂破禁戒,思作十惡、五逆等不善之事,由此一念而障礙諸禪定,使之不能開發。〔天台四教儀集解標指鈔卷下、大藏法數卷九〕(參閱「三障」667)
; (惡念思惟障) Là một trong ba chướng tu định. Chỉ người tu hành khi tu Thiền định, vì đắm chìm mê tối nên niệm ác vụt khởi, bèn phá giới cấm, nghĩ đến làm các việc bất thiện Thập ác, Ngũ nghịch v.v... Vì một niệm như thế, làm trở ngại các Thiền định, khiến cho tâm hành giả không thể mở tỏ được [X. Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Giải Tiêu Chỉ Sao Q.hạ; Đại Tạng Pháp số Q.9]. (xt. Tam Chướng).
ác pháp
Non-buddhist dharmas.
ác pháp hữu lậu
Những ác nghiệp đã lập thành trong một xác thân phải được đền bù tương xứng lại trong một thân khác—Evil deeds done in a mortal body is rewarded accordingly in the character of another body.
ác phụ
Wicked woman.
ác quả
Evil fruit from evil deeds.
; Quả ác hay quả xấu do nhân ác gây ra—Evil fruit from evil deeds.
ác quỉ thần
Evil demons and devil spirits.
ác quỷ
Evil demons.
ác quỷ lục tặc
4950謂六賊之惡鬼。六賊,指色、聲、香、味、觸、法等六境;此六境能迷惑人,障蔽人智慧之眼,猶如賊,更以惡鬼比喻之。〔淨覺注般若波羅蜜多心經〕
; (惡鬼六賊) Tức là sáu giặc ác quỉ. Sáu giặc, chỉ sáu cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; sáu cảnh này hay làm cho người ta bị mê hoặc, ngăn che mắt trí tuệ của người ta, cũng như giặc, lại thí dụ như quỉ. [X. Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Của Tịnh Giác].
ác quỷ thần
Ác quỷ và ác thần (làm hại người) như Dạ Xoa, La Sát, vân vân—Evil demons and evil spirits (harmful to people), yaksas, raksasas, etc.
ác sát la
4948梵語 akṣara。又作噁剎囉、阿察囉、羅剎羅、惡察那、阿乞史羅。譯作字。又為音節、韻、語之意。即指文宇,由其不變之義,取為不改轉之義。成唯識論述記卷二末(大四三‧六九上):「惡察那是字,無改轉義。」俱舍論光記卷五(大四一‧一○八下):「梵云惡剎羅,唐言字,是不流轉義,謂不隨方流轉改易。」據玄應音義卷二載,字為文字之總名,梵語為惡剎羅,譯作無當流轉、無盡;字借紙墨之書寫可得不滅,此不滅用以譬喻常住,凡有四十七字,為一切之字本。又據大日經疏卷十七載,「字」之梵語有惡剎羅、哩比鞞二音,前者為根本字,即是本字,如阿字之最初二音,後者則為增加字。〔大日經疏卷十四、大日經疏義釋卷十一、慧琳音義卷二十五、梵語雜名〕
; Aksara (skt)—See Ác Sát Na.
; (惡刹羅) Phạm: Akwara. Còn gọi là Á-sát-ra, A-sát-ra, La-sát-la, Ác-sát-na, A-khất-sử-la. Dịch là chữ. Cũng hàm ý âm tiết, vần, lời. Tức chỉ văn tự, do nghĩa bất biến của nó mà lấy làm nghĩa không chuyển đổi. Thành Duy Thức Luận Thuật Kí quyển 2 phần cuối (Đại 43, 69 thượng), nói: Ác-sát-na là chữ, nghĩa không chuyển đổi. Câu Xá Luận Quang Kí quyển 5 (Đại 41, 108 hạ), nói: Phạm Ác-sát-la, Hán dịch là chữ, là nghĩa không lưu chuyển, tức không lưu chuyển đổi dời theo phương hướng. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 2 chép, thì chữ là văn tự nói chung, tiếng Phạm là Ác-sát-la, dịch là vô lưu chuyển, vô tận; chữ nhờ mực được viết trên giấy có thể là bất diệt, sự bất diệt ấy được dùng để ví dụ với sự thường trụ, gồm có bốn mươi bảy chữ, là gốc của tất cả chữ. Lại cứ theo Đại Nhật kinh sớ quyển 17 chép, thì chữ trong tiếng Phạn có hai âm là Ác-sát-la và Li-tỉ-bề, âm trước là chữ căn bản, tức chữ gốc, như hai âm đầu tiên của chữ A, âm sau thì là chữ tăng gia. [X. Đại Nhật Kinh Sớ Q.14; Đại Nhật Kinh Sớ Nghĩa Thích Q.11; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.25; Phạm ngữ tạp danh].
ác sát na
Akasara (skt)—Ác Sát La. 1) Không biến đổi—Vĩnh cửu—Unchangeable—Permanent—Imperishable--Unalterable. 2) Chữ gốc (không thay đổi): A root-word, or word-root—Unchanging word.
ác sư
An evil teacher who teaches harmful doctrines.
; Thầy truyền dạy những tà giáo làm hại người—An evil teacher who teaches heretic and harmful doctrine.
ác thú
4950請參閱 世論 梵語 durgati,巴利語 duggati。又作惡道。為「善趣」之對稱。趣,為往到之義。即由惡業所感,而應趣往之處所。據俱舍論卷八載,五趣之體為無覆無記,又五趣攝於有情數;即謂由善惡業所招感之異熟無記之果體,名之為趣,故說一切有部主張「趣」不通於善、染及器世界。 一般以地獄、餓鬼、畜生三趣稱為三惡趣,又稱三途、三惡道,為純粹惡業趣往之處;其中,依瞋恚趣往地獄,依貪欲趣往餓鬼,依愚癡趣往畜生。相對於三惡趣,阿修羅、人、天等三趣稱為三善趣,為行善業者所趣往之處。三惡趣若加阿修羅,即為四惡趣。三惡趣加人、天即為五惡趣,又稱五惡道、五趣;其中阿修羅包括在餓鬼、畜生、天上三處,或為地獄所攝。五惡趣再加阿修羅即稱六道,又稱六趣。人類亦可謂於六道中輪迴生滅。此六道若以現實人生取譬,瞋恚即為地獄,貪欲即為餓鬼,愚癡即為畜生,鬥爭即為阿修羅,喜悅則分別為人間、天上。古印度人一生最大之願望,乃不欲再度受生至人間,故視人道與天道均為惡趣。但此惡趣義攝入佛教之後,惡趣專指地獄、餓鬼、畜生三道,天、人為二善道。此外,阿彌陀佛四十八願中,第一願為無三惡趣願,第二願為不更惡趣願,此二願皆為大悲拔苦之願。〔無量壽經卷下、阿毘達磨法蘊足論卷九、大毘婆沙論卷一七二、俱舍論光記卷八、俱舍論寶疏卷八、玄應音義卷四、慧琳音義卷四十八、選擇本願念佛集卷上〕
; Aparagati (S). The evil directions, or incarnations.
; Evil directions or incarnations. 1) Trong đạo Phật, ác thú bao gồm địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh—In Buddhism, the evil directions or incarnations include hells, hungry ghosts and animals. 2) Thú dữ: Vicious animal or wild beasts. 3) Thỉnh thoảng A Tu La cũng được xem như là ác thú: Sometimes, asuras are considered as evil incarnations or directions.
; (惡趣) Phạm: Durgati, Pāli: Duggati. Cũng gọi là Ác đạo. Đối lại với Thiện thú. Thú, có nghĩa đi tới. Tức do ác nghiệp dắt dẫn mà đi tới chỗ phải đến. Cứ theo luận Câu Xá quyển 8 chép, thì thể của năm thú là vô phú vô kí, lại năm thú nhiếp vào số hữu tình; nghĩa là do nghiệp thiện ác chiêu cảm quả thể dị thục vô kí, gọi là thú, vì thế, Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ chủ trương Thú chẳng thông với thiện, nhiễm và khí thế giới.Thông thường gọi địa ngục, ngạ quỉ và súc sinh là ba ác thú, cũng gọi là ba đường, ba ngả ác, là những nơi thuần túy vì ác nghiệp mà phải đi tới; trong đó, y theo tức giận đi đến địa ngục, y theo tham muốn đi đến ngạ quỉ, y theo ngu si đi đến súc sinh. Đối lại với ba ác thú, ba cõi A-tu-la, người, Trời gọi là ba thiện thú, là những nơi mà những người làm nghiệp thiện đi đến. Ba ác thú, nếu thêm A-tu-la thì là bốn ác thú. Ba ác thú, nếu thêm người, trời thì là năm ác thú, cũng gọi là năm ác đạo, năm thú; trong đó, A-tu-la bao quát ba nơi là ngã quỉ, súc sinh và trời, hoặc nhiếp cả địa ngục. Năm ác thú lại thêm A-tu-la thì gọi là sáu đạo, cũng gọi là sáu ngả. Loài người cũng có thể sinh diệt vòng quanh trong sáu ngả. Sáu ngả này, nếu đem thí dụ cuộc sống hiện thực của con người, thì nóng giận tức là địa ngục, tham muốn tức là ngạ quỉ, ngu si tức là súc sinh, đấu tranh tức là A-tu-la, còn vui sướng thì có thể phân biệt là người và trời. Cái nguyện vọng lớn nhất trong một đời của người Ấn Độ xưa, là không muốn phải sinh lại vào cõi người, vì thế, coi nhân đạo và thiên đạo đều là ác thú. Nhưng, nghĩa ác thú này, sau khi du nhập Phật giáo, thì ác thú chuyên chỉ cho ba đạo địa ngục, ngạ quỉ và súc sinh, còn trời, người là hai thiện đạo. Ngoài ra, trong bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Đà, nguyện thứ nhất là nguyện không có ba ác thú, nguyện thứ hai là nguyện không trở lại ác thú lần nữa, hai nguyện này đều là nguyện đại bi, nhổ hết gốc khổ. [X. kinh Vô Lượng Thọ Q.hạ; luận A Tì Đạt Ma Pháp Uẩn Túc Q.9; luận Đại Tì Bà Sa Q.172; luận Câu Xá Quang Kí Q.8; luận Câu Xá Bảo Sớ Q.8; Huyền ứng Âm Nghĩa Q.4; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.48; Tuyển Trạch Bản Nguyện Niệm Phật Tập Q.thượng].
Ác thú 惡趣
- [ja] アクシュ akushu ||| Evil destiny; evil rebirth (durgati, apāya). The existence a living being experiences as a result of evil activity in the present lifetime, which is characterized by delusion and suffering. Refers to the three evil destinies 三惡道 of
ác thần
Evil deities.
ác thế
4946即濁惡之世。此時煩惱、邪見熾盛,且人壽短促,苦多而樂少。據法華經卷一方便品載,惡世中有劫濁、見濁、煩惱濁、眾生濁、命濁等五濁,其時眾生垢重,成就諸不善根,故諸佛以方便力應機示教,於一佛乘分別說三乘之法。阿彌陀經(大一二‧三四八上):「釋迦牟尼佛能為甚難希有之事,能於娑婆國土,五濁惡世,劫濁、見濁、煩惱濁、眾生濁、命濁中,得阿耨多羅三藐三菩提。」蓋正法時代,眾生煩惱薄少,人人自行十善,且其壽命長達數萬歲;反之,末法時代,惡世界、惡眾生、惡見、惡煩惱、惡邪、無信熾盛之時,特稱之為惡世或惡時。〔安樂集卷上、觀經疏散善義〕
; (惡世) Tức đời vẩn đục, xấu ác. Thời nay, phiền não và tà kiến bốc cháy, tuổi thọ của người ta ngắn ngủi, khổ nhiều mà vui ít. Cứ theo kinh Pháp Hoa quyển 1 phẩm Phương Tiện chép, thì trong đời xấu ác, có năm thứ vẩn đục là kiếp trọc, kiến trọc, phiền não trọc, chúng sinh trọc và mệnh trọc. Thời kì này, chúng sinh nhơ nhớp tội nặng, thành tựu các nghiệp bất thiện, cho nên chư Phật dùng sức phương tiện, tùy cơ giáo hóa, đem pháp một Phật thừa chia ra nói ba Thừa. Kinh A Di Đà (Đại 12, 348 thượng), nói: Phật Thích Ca Mâu Ni đã làm một việc rất khó, hiếm có, đó là ở cõi Sa bà, trong đời năm trọc ác là kiếp trọc, kiến trọc, phiền não trọc, chúng sinh trọc và mệnh trọc, mà được đạo Vô thượng chính đẳng chính giác. Bởi vì, trong thời Chính pháp, chúng sinh ít phiền não, ai ai cũng tự làm mười điều thiện và thọ mệnh lâu dài; trái lại, trong thời mạt pháp, là thời mà thế giới xấu xa, con người xấu xa, quan niệm xấu xa, tâm lí xấu xa, hành vi xấu xa, lòng bất tín bừng cháy, đặc biệt gọi là ác thế, hay là ác thời. [X. An Lạc Tập Q.thượng; Quán Kinh Sớ Tán Thiện Nghĩa].
ác thế giới
An evil world.
; An evil world.
ác thủ không
4948梵語 dur-gṛhītā śūnyatā。又作僻取空。取惡空之義。為「善取空」之對稱。即否定因果道理,不知緣生無性之理而謬解空義,執著於斷空之見。據成唯識論卷七載,否定真俗二諦,是為惡取空,諸佛說為不可治者。又據大智度論卷一載,佛法中有方廣道人,說一切法不生不滅,空無所有;以其說不契實義,不知即空無性之理,即是惡取空。〔菩薩地持經卷二、瑜伽師地論卷三十六、瑜伽論記卷九、華嚴經探玄記卷十、華嚴五教章卷四〕
; Người theo Không Kiến ngoại đạo, chối bỏ luật Nhân quả (thà khởi lên ngã kiến như núi Tu Di, chứ đừng khởi lên ác thủ không, hay phủ nhận lý nhân quả, cho rằng cái nầy cái kia đều là không)—One who has evil ideas of the doctrine of voidness, to deny the doctrine of cause and effect (Luật nhân quả).
; (惡取空) Phạm: Dur-gfhìta zùnyatà. Còn gọi là Tịch thủ không (chấp chặt cái không một cách hẹp hòi). Có nghĩa là giữ chặt cái ác không (cái không sai lầm, không thông suốt). Đối lại với Thiện thủ không. Tức là phủ nhận đạo lí nhân quả, chẳng biết lí duyên sinh vô tính mà hiểu lầm nghĩa không, cố chấp cái ý kiến đoạn không. Cứ theo luận Thành Duy Thức quyển 7 chép, thì phủ định hai đế chân, tục là ác thủ không, chư Phật bảo là những kẻ ấy không thể cứu được. Lại cứ theo luận Đại Trí Độ quyển 1 chép, thì trong Phật pháp có Phương Quảng Đạo Nhân, chủ trương hết thảy pháp chẳng sinh chẳng diệt, không có một pháp nào; chủ trương ấy không phù hợp thực nghĩa, chẳng biết cái lí vô tính tức không, đó là ác thủ không. [X. kinh Bồ Tát Địa Trì Q.2; luận Du Già Sư Địa Q.36; Du Già Luận Kí Q.9; Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí Q.10; Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương Q.4].
ác thủ đoạn
Chỉ thủ đoạn hiểm ác, dữ dội của thiền sư cao minh khi tiếp dẫn người học. Khai thị thiền nhân Bỉnh trong MANL ghi: »直 是 撥 草 瞻 風。覓 箇 咬 豬 狗 惡 手 段 與 他 做 冤 家,眉 毛 厮 結 禁 得 惡 拳 趯 吃 得 沒 滋 味,大 爐 鞲 中,天 鍛 萬 煉,徹 底 淨 盡 跳 得 出。– [i]Quả tình trèo non lội suối đi tìm bậc thiền sư cao minh, sẽ cùng ông ta gây oán thù hoặc là thâm sâu giao kết, chịu đựng được những trận đòn rất ác, chịu nổi cái vô vị trong lò rèn lớn, trui qua luyện lại ngàn muôn lần, hết sức sạch sẽ thì mới nhảy ra được.[/i]«
ác tri thức
4948梵語 pāpa-mitra。為「善知識」之對稱。又作惡友、惡師、惡師友。即說惡法與邪法,使人陷於魔道之惡德者。法華經卷二譬喻品載,對捨離惡知識而親近善友之人,方可為其說法。又據北本大般涅槃經卷二十記載,菩薩摩訶薩於惡象等,其心並無怖懼,於惡知識則生畏懼之心。長阿含卷十一善生經舉出六惡友,即方便生欺(說種種欺詐)、好喜屏處(喜好隱祕之處所)、誘他家人(誘拐他家之人)、圖謀他物(謀取他人之財產)、財利自向(圖利自己)、好發他過(好指摘他人缺點)等;又舉出親惡友之四事,即飲酒時友、博戲時友、淫逸時友、歌舞時友。此外,日僧親鸞在愚禿鈔卷下,解釋善導觀經疏散善義中所舉二河譬喻中所說之惡友,謂惡友指雜毒虛假之人,即指妨害往生淨土門旨趣之異學、異見、別解、別行等之人。〔維摩詰經卷上、尸迦羅越六方禮經〕
; A bad intimate, or friend, or teacher.
; Ác Sư Hữu—Thầy tà bạn ác—A bad intimate or friend, or teacher. Những lời Phật dạy về “Ác Tri Thức” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Evil friends” in the Dharmapada Sutra 1) Không được kết bạn với kẻ hơn mình, không được kết bạn với kẻ ngang mình, thà quyết chí ở một mình tốt hơn kết bạn với người ngu muội—If a traveler does not meet a companion who is better or at least equal, let him firmly pursue his solitary career, rather than being in fellowship with the foolish (Dharmapada 61). 2) Những người hay khuyên răn dạy dỗ, cản ngăn tội lỗi kẻ khác, được người lành kính yêu bao nhiêu thì bị người dữ ghét bỏ bấy nhiêu—Those who advise, teach or dissuade one from evil-doing, will be beloved and admired by the good, but they will be hated by the bad (Dharmapada 77). 3) Chớ nên làm bạn với người ác, chớ nên làm bạn với người kém hèn, hãy nên làm bạn với người lành, với người chí khí cao thượng—Do not associate or make friends with evil friends; do not associate with mean men. Associate with good friends; associate with noble men (Dharmapada 78). 4) Đi chung với người ngu, chẳng lúc nào không lo buồn. Ở chung với kẻ ngu khác nào ở chung với quân địch. Ở chung với người trí khác nào hội ngộ với người thân—He who companies with fools grieves for a long time. To be with the foolish is ever painful as with an enemy. To associate with the wise is ever happy like meeting with kinsfolk (Dharmapada 207). ** For more information, please see Thiện Hữu Tri Thức.
; (惡知識) Phạm: Pàpa-mitra (bạn xấu). Đối lại với Thiện tri thức. Còn gọi là Ác hữu, Ác sư, Ác sư hữu. Tức là kẻ ác đức nói các pháp ác, pháp tà khiến người ta bị hãm vào đường ma. Kinh Pháp Hoa quyển 2 phẩm Thí Dụ chép, đối với những người đã xa lìa ác tri thức mà gần gũi bạn tốt thì mới có thể nói pháp cho nghe. Lại cứ theo kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) quyển 20 chép, thì Bồ Tát Ma Ha Tát đối với voi dữ tâm không sợ hãi, mà với ác tri thức thì tâm sinh sợ hãi. Trường A Hàm quyển 11 kinh Thiện Sinh, nêu lên sáu loại bạn ác, đó là: nói những lời dối trá, thích những chỗ vắng vẻ kín đáo, dụ dỗ người nhà người khác, bàn mưu tính kế lấy của người khác, mưu đồ lợi riêng, thích vạch lỗi lầm của người khác. Còn nêu lên bốn việc gần bạn xấu, tức bạn lúc uống rượu, bạn lúc đánh bạc, bạn lúc dâm dật, bạn lúc múa hát. Ngoài ra, ngài Thân Loan của Nhật Bản, trong Ngu Thốc Sao quyển hạ, giải thích về bạn xấu được nói trong Nhị Hà Thí Dụ trong Tán Thiện Nghĩa của Quán Kinh Sớ của ngài Thiện Đạo, bảo rằng, bạn xấu là những người giả dối độc hại, tức chỉ những người có cái học khác, cái thấy khác, cái hiểu khác và việc làm khác, khiến phương hại đến tông chỉ của môn Vãng Sinh Tịnh Độ. [X. kinh Duy Ma Cật Q.thượng; kinh Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ].
ác tà kiến
Tà kiến dẫn đến phạm tội ác—Wrong views which lead to commit wrong deeds.
ác tác
4947<一>梵語 kaukṛtya。心所(心之附屬作用)之一。與「悔」同義。為說一切有部所立七十五法之一,屬不定地法,又為法相宗四不定之一。惡,即厭惡;作,即所作。即厭惡所作,於作惡事後追悔之心。俱舍論卷四對惡作一名提出三種解釋,其一謂緣惡所作之事而追悔,稱為惡作,即於能緣之追悔上立所緣境之名;其二謂追悔係以惡作為所依而生,故在能依之追悔上立所依之名;其三謂追悔為惡作之果,故在果之追悔上立因之名。此三解中,惡作之「惡」皆讀入聲,其義皆為追悔所作之惡。但惡作之性並非必為不善,不論善或不善,凡屬不合情理之所作,皆稱為惡作。又大毘婆沙論卷三十七舉出四句惡作,即:(一)追悔已作之惡業,(二)追悔已作之善業,(三)追悔已作善業之未滿,(四)追悔已作惡業之未滿。此四句係由已作之業而說。俱舍論卷四則對於追悔未作之事,亦稱為惡作,如追悔「我何故不作如是事」亦為惡作。 說一切有部認為追悔善之不作業為善之惡作,追悔不善之不作業為不善之惡作,主張惡作僅限於善與不善,而不通於無記。但據俱舍論卷四載,外方諸師中有說惡作通於無記者。成唯識論述記卷七本亦以惡作通於善、不善、無記三性。又唯識家稱惡作為「悔」,其解釋亦與俱舍等不同。成唯識論卷七說明「悔」即嫌惡所作之業,以追悔為性,障奢摩他為業,且「惡作」是於果上假立因之名,「悔」則係就當體而立其名者。另據成唯識論述記卷七之意,惡作之「惡」讀去聲,為嫌惡之意。〔阿毘達磨順正理論卷十一、瑜伽師地論卷十一、顯揚聖教論卷一、大乘阿毘達磨雜集論卷七、俱舍論光記卷四、俱舍論寶疏卷四、百法問答鈔卷一〕 <二>即戒律中之突吉羅(梵 duṣkṛta)。指身體之微細惡行,有時亦包括口舌之微細惡行。〔善見律毘婆沙卷九〕(參閱「突吉羅」3924)
; Kaukṛtya (S)Nhớ lại việc đã làm khiến tâm hối hận.
; Evil doings; also to hate that which one has done, to repent.
; 1) Ác tác pháp hay những việc làm xấu ác: Evil doings. 2) Sự hối hận sau khi làm điều ác (tâm sám hối): To repent or to hate that which one has done.
; (惡作) I.Ác tác. Phạm: Kaukftya. Là một trong các tâm sở (tác dụng phụ thuộc tâm). Đồng nghĩa với hối. Là một trong bảy mươi lăm pháp do Thuyết nhất thiết hữu bộ lập ra, thuộc Bất định địa pháp, cũng là một trong bốn Bất định của tông Pháp tướng. Ác, tức chán ghét; tác, tức việc được làm. Nghĩa là chán ghét cái việc đã được thực hiện, tâm hối tiếc sau khi việc ác đã được làm. Luận Câu Xá quyển 4, đối với từ ác tác, có nêu ra ba cách giải thích. Một là, việc duyên với ác được thực hiện mà hối tiếc, gọi là Ác tác, tức đứng về mặt hối tiếc năng duyên mà đặt tên cảnh sở duyên. Hai là, sự hối tiếc lấy ác tác làm chỗ nương tựa mà sinh, cho nên đứng về mặt hối tiếc năng y mà đặt tên sở y. Ba là, sự hối tiếc là quả của sự làm ác, cho nên đứng về mặt quả hối tiếc mà đặt tên nhân. Trong ba cách giải thích trên đây, chữ ác của ác tác, đều được đọc là Ố, nghĩa của nó đều là hối tiếc việc đã làm. Nhưng, tính của ác tác không phải chỉ là bất thiện, mà bất luận thiện hay bất thiện, phàm việc đã được thực hiện một cách không hợp tình hợp lí, thì đều gọi là ác tác. Lại luận Đại Tì Bà Sa quyển 37, có nêu lên bốn câu ác tác: 1. Hối tiếc ác nghiệp đã làm, 2. Hối tiếc thiện nghiệp đã làm, 3. Hối tiếc thiện nghiệp đã làm chưa đủ, 4. Hối tiếc ác nghiệp đã làm chưa đủ. Bốn câu trên là nói về nghiệp đã làm. Luận Câu Xá quyển 4 thì đối với việc chưa làm mà hối tiếc cũng gọi là ác tác, chẳng hạn như hối tiếc Tại sao mình lại không làm việc ấy cũng là ác tác. Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ cho rằng, hối tiếc đã không làm nghiệp thiện là thiện ác tác, hối tiếc đã không làm nghiệp bất thiện là bất thiện ác tác, chủ trương ác tác chỉ hạn ở thiện và bất thiện, chứ không thông vô kí. Nhưng, cứ theo luận Câu Xá quyển 4 chép, thì trong các nhà thuộc các bộ khác, cũng có người nói ác tác thông cả vô kí. Thành Duy Thức Luận Thuật Kí quyển 7 phần đầu, cũng cho ác tác thông cả ba tính thiện, bất thiện và vô kí. Lại các nhà Duy thức gọi ác tác là hối và giải thích nó cũng khác với luận Câu Xá. Luận Thành Duy Thức quyển 7, thuyết minh hối tức là hiềm ghét cái nghiệp được làm, lấy hối tiếc làm tính, chướng ngại xa ma tha làm nghiệp, vả lại, ác tác là đứng trên phương diện quả mà giả lập tên nhân, còn hối thì ngay từ đương thể của nó mà đặt tên nó. Ngoài ra, cứ theo ý của Thành Duy Thức Luận Thuật Kí quyển 7, thì ác của ác tác đọc là ố, là ý hiềm ghét. [X. luận A Tì Đạt Ma Thuận Chính Lí Q.11; luận Du Già Sư Địa Q.11; luận Hiển Dương Thánh Giáo Q.1; luận Đại Thừa A Tì Đạt Ma Tạp Tập Q.7; Câu Xá Luận Quang Kí Q.4; Bách Pháp Vấn Đáp Sao Q.1]. Ác tác. Tức là Đột cát la (Phạm: Duwkfta) trong giới luật. Chỉ việc làm ác nhỏ nhiệm của thân thể, có khi cũng bao quát cả việc làm ác nhỏ nhiệm của miệng lưỡi. [X. Thiện Kiến Luật Tì Bà Sa Q.9] (xt. Đột Cát La).
Ác tác 惡作
- [ja] アクサ、オサ akusa, osa ||| The feeling of remorse or repentance that arises in one's mind subsequent to the realization of having committed an evil act. (duṣkṛta) (2) In Consciousness-only, this is a technical term for a specific mental function, one of the indeterminate ground dharmas (不定地法), the awareness that one has committed a misdeed and a concomitant feeling of repentance (kaukṛtya) - => 1. Tâm trạng ăn năn hay hối lỗi sinh khởi trong tâm mình sau khi nhận ra mình đã phạm phải việc xấu (s: duṣkṛta) . - 2. Theo giáo lý Duy thức, đây là một thuật ngữ chuyên môn về một tâm sở pháp đặc biệt, là một trong các Bất định địa pháp, là ý thức của người khi phạm lỗi lầm liền có tâm trạng ăn năn (s: kaukṛtya).
ác tánh
Bad-natured.
Ác tánh Xa-nặc
xem Xa-nặc.
ác tâm
Vyàpàda (S). Ill will, malevolence.
; Ill-will—Malevolence.
ác tính
Malice—Brutality—Cruelty.
ác tưởng
Evil thoughts.
ác tập (thói quen xấu)
Bad habit.
ác tật
Incurable disease.
ác vô quá
4950又作惡無礙。即執著作惡而無過失之一種邪見。如惡取空者,觀空而否定因果之道理,不怖畏罪咎,更起蓋纏。又對日本淨土真宗倡言惡人正機之說而言,此即用以指斥僅憑阿彌陀佛之本願而往生,但不自行制止造惡之說。〔選擇傳弘決疑鈔卷四、淨土宗要集卷四〕(參閱「惡人正機」4945)
; Ngoại đạo tà kiến cho rằng không có gì sai trái khi làm điều ác, hay không có quả báo gì cho cuộc sống ác độc—External heretics believe that it is not wrong to do evil; that there are no consequences attached to an evil life.
; (惡無過) Còn gọi là Ác vô ngại. Tức một loại tà kiến chấp trước cho rằng làm ác không phải tội. Chẳng hạn như người ác thủ không, quán tất cả đều là không mà phủ định đạo lí nhân quả, không sợ tội lỗi. Lại đối với thuyết Ác Nhân Chính Cơ do Tịnh Độ Chân Tông của Nhật Bản đề xướng mà nói, thì từ ngữ Ác vô quá dùng để chê bai thuyết cho rằng người ta chỉ cần nhờ vào bản nguyện của Phật Di Đà mà được vãng sinh, chứ tự mình không cần phải ngăn ngừa việc tạo ác. [X. Tuyển Trạch Truyền Hoằng Quyết Nghi Sao Q.4; Tịnh Độ Tông Yếu Tập Q.4]. (xt. Ác Nhân Chính Cơ).
ác xoa
Aksa (skt)—Một loại cây mà hạt dùng làm tràng chuỗi—Name of a tree (Eleocarpus ganitrus) a seed of which rosaries are made. ** For more information, please see Kim Cang Tử.
ác xoa tụ
4945惡叉,梵語 akṣa,又作嗚嚕捺囉叉(梵 rudrākṣa)。意譯為綖貫珠、金剛子。樹名,亦為果實名。學名 Eleocarpus ganitrus。其果實皆三粒同一蒂,且落地後多聚集於一處,故稱惡叉聚,用以譬喻惑、業、苦三者間之互相關連。此外,經論中多引之譬喻多數或眾多之意。瑜伽師地論卷九十六(大三○‧八四六下):「譬如世間大惡叉聚,於此聚中有多品類。」成唯識論卷二(大三一‧八上):「一切有情無始時來有種種界,如惡叉聚,法爾而有。」惡叉聚之果實呈紫色,印度人多取以染物或榨油,其果核可作念珠之用。〔大佛頂首楞嚴經卷一、瑜伽師地論卷五十一、卷五十六、瑜伽論記卷十三、成唯識論述記卷二末、成唯識論演祕卷二末、玄應音義卷二十二、慧琳音義卷三十五、翻譯名義集卷三〕
; Kim Cang Tử—Gọi là “ác xoa tụ” vì khi hạt rơi xuống đất chúng thường tụ lại một chỗ thành bộ ba, tiêu biểu cho ba tánh chất một lượt—So called the Eleocarpus ganitrus tree because its seeds are said to be formed the triplets (the seeds fall in clusters, and illustrate numbers, or numerous), and illustrate the simultaneous character of: a) Hoặc: Illusion. b) Hành: Action, and c) Khổ: Suffering. ** For more information, please see Kim Cang Tử.
; (惡叉聚) Ác xoa, Phạm: Awka, cũng gọi là Ô-rô-nại-la-xoa (Phạm: Rudràkwa). Dịch ý là Diên Quán Châu, Kim Cương Tử. Tên cây, cũng là tên quả cây. Tên khoa học: Eleocarpus Ganitrus. Cứ một chùm ba quả và sau khi rụng xuống đất thì phần nhiều chụm lại một chỗ, cho nên gọi là Ác xoa tụ, dùng để thí dụ hoặc, nghiệp, khổ liên quan chặt chẽ với nhau. Ngoài ra, trong các kinh luận thường dẫn ra để thí dụ số nhiều. Luận Du Già Sư Địa quyển 96 (Đại 30, 846 hạ), nói: Ví như chùm ác xoa ở thế gian, trong Tụ này có nhiều phẩm loại. Luận Thành Duy Thức quyển 2 (Đại 31, 8 thượng), nói: Hết thảy hữu tình, từ vô thủy đến nay, có rất nhiều loài, như quả ác xoa, tự nhiên như thế. Quả ác xoa màu đỏ tươi, người Ấn Độ phần nhiều lấy làm thuốc nhuộm hoặc để ép dầu, hột nó có thể dùng làm tràng hạt. [X. kinh Đại Phật Đính Thủ Lăng Nghiêm Q.1; luận Du Già Sư Địa Q.51, Q.56; Du Già Luận Kí Q.13; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q.2 phần cuối; Thành Duy Thức Luận Diễn Bí Q.2 phần cuối; Huyền ứng Âm Nghĩa Q.22; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.35; Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q.3].
ác xúc
4951請參閱 御製揀魔辨異錄 謂食物為他人之手所觸而惡穢者。戒律以他人手觸之食物為不淨物,故禁食之。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷下、四分律行事鈔資持記卷下二之二〕
; Thức ăn bị bàn tay người khác sờ vào thành ra nhơ bẩn (giới luật cho rằng những thức ăn đó không tinh khiết nên cấm không được ăn)—Evil touch; contaminated as is food by being handled or touched.
; (惡觸) Có nghĩa là thức ăn uống do tay người khác đã sờ mó vào nên không được sạch sẽ. Giới luật cho thức ăn đã bị người khác sờ mó vào là vật bất tịnh, cho nên cấm, không được ăn. [X. Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao Q.hạ; Tứ Phần Luật Hành Sự Sao Tư Trì Kí Q.hạ phần 2 tiết 2].
ác xứ
Dur-gati (S)ác đạo.
ác yết lỗ
Aguru (skt)—Trầm Thủy Hương—Lignum aloes.
ác ý
Malevolence.
; Hatred—Ill-will—Ill intent—Malicious—Ill-affected
ác đạo
4950為「善道」之對稱。與「惡趣」同義。道,為通之義。即指生前造作惡業,而於死後趣往之苦惡處所。係對所趣之依身及器世界之總稱,主要指地獄。在六道之中,一般以地獄、餓鬼、畜生三者稱為三惡道,阿修羅、人間、天上則稱為三善道。此外,四惡道指地獄、餓鬼、畜生及阿修羅;五惡道則指地獄、餓鬼、畜生、人間、天上。〔無量壽經卷下、觀無量壽經、阿彌陀經、大乘義章卷八末〕(參閱「惡趣」4950)
; Xem ác xứ.
; Evil ways; also the three evil paths or destinies - animals, pretas and purgatory.
; Ác thú—The states of woe—Realms of woe—Evil realms—Evil ways. 1) Tam đồ ác đạo gồm địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh—Evil ways (three evil paths, or destinies of hells, hungry ghosts and animals). 2) Ba đường của trạng thái tâm, thí dụ như khi chúng ta có tâm tưởng muốn giết hại ai, thì ngay trong giây phút đó, chúng ta đã sanh vào địa ngục vậy—Three paths can be taken as states of mind, i.e., when someone has a vicious thought of killing someone, he is effectively reborn, for that moment, in the hells. 3) Chúng sanh trong ác đạo—Sentient beings in evil realms: a. Chẳng gặp được Phật pháp: Do not encounter the Buddhadharma. b. Chẳng bao giờ tu tập thiện nghiệp: Never cultivate goodness. c. Luôn làm hại người khác: Always harm others. 4) Thỉnh thoảng A-Tu-La cũng được xem như ác đạo vì dù có phước đức cõi trời nhưng lại thiếu công đức và có quá nhiều sân hận: Sometimes the Asura realm is also considered an evil realm because though they have heavenly merits, they lack virtues and have much hatred.
; (惡道) Đối lại với Thiện đạo. Cùng nghĩa với Ác thú. Đạo, có nghĩa là thông suốt. Tức người lúc sống gây các nghiệp ác, sau khi chết phải đi suốt tới những nơi khổ sở. Gọi chung những nơi của y thân và khí thế giới, chủ yếu là chỉ địa ngục. Trong sáu đạo (ngả, đường), thông thường gọi địa ngục, quỉ đói và súc sinh là ba ác đạo, a tu la, cõi người và cõi trời là ba thiện đạo. Ngoài ra, bốn ác đạo là chỉ cho địa ngục, quỉ đói, súc sinh và A tu la. Năm ác đạo thì chỉ cho địa ngục, quỉ đói, súc sinh, cõi người, cõi trời. [X. kinh Vô Lượng Thọ Q.hạ; kinh Quán Vô Lượng Thọ; kinh A Di Đà; Đại Thừa Nghĩa Chương Q.8 phần cuối]. (xt. Ác Thú).
ác đạo chướng
4950為五障之一。指生於惡道中,為修行佛道之障礙。惡道,指畜生、餓鬼、地獄等三惡道,生於其中,難聞佛法,故為聞法修道之障。〔大智度論卷三十八〕(參閱「五障」1194)
; (惡道障) Là một trong năm chướng. Chỉ sự sinh vào ngả ác là ngăn trở việc tu hành đạo Phật. Ác đạo, chỉ ba đường ác súc sinh, ngạ quỉ, địa ngục, sinh vào những nơi ấy thì khó mà được nghe Phật pháp, vì thế là sự trở ngại cho việc nghe pháp tu đạo. [X. luận Đại Trí Độ Q.38]. (xt. Ngũ Chướng).
Ác đạo 惡道
[ja] アクドウ akudō ||| Same as 惡趣. - => Đồng nghĩa với Ác thú惡趣. -
ác đảng
Một băng hay nhóm người chuyên bóc lột kẻ khác để làm lợi dưỡng cho chính mình—A band or group of people which exploits others for their own gains or benefits.
ác độc
Devil-like—Malicious—Devilish—Malice.
ác đức
Inhuman, cruel, infamous.
Ác 惡
- [ja] アク aku, o ||| (1) [e, o, ak, aku] Evil, bad, wrong, vice, wickedness (pāpa). Immoral, malicious, injurious, detrimental. (2) [wu, o] To dislike, hate, detest. (3) Where? How? In what? Interjection. - => 1. Xấu, tội lỗi, sai trái, nhược điểm,
ách
Yoke—To yoke someone: Buộc ai vào ách.
ách phược
Bonds Kiết sử.
Ái
愛; S: tṛṣṇā; P: taṇhā; nghĩa là »ham muốn«, »sự thèm khát«;|Khái niệm quan trọng của đạo Phật. Ái chỉ mọi ham muốn xuất phát từ sự tiếp xúc của giác quan với đối tượng của giác quan đó. Cần hiểu rằng, con người gồm có năm giác quan thông thường và ý (khả năng suy nghĩ, ý nghĩ, xem Lục căn) là sáu. Vì vậy Ái bao gồm hai lĩnh vực: vật chất và tinh thần. Sự tham muốn đó biểu lộ bằng tâm vướng bận và đó chính là Khổ (s: duḥkha), là nguyên do tại sao loài hữu tình cứ mãi trôi nổi trong Vòng sinh tử. Muốn thoát khỏi Ái, người ta cần phòng hộ các giác quan (Nhiếp căn), không để cho thèm khát và ham muốn nổi lên, nhờ đó có thể chấm dứt cái khổ.|Có nhiều cách phân loại Ái: 1. Dục ái (欲 愛; s: kāmatṛṣṇā), Hữu ái (有 愛; s: bhavatṛṣṇā) và Phi hữu ái (非 有 愛; hoặc Ðoạn ái, ái muốn tiêu diệt, s: vibhavatṛṣṇā). Ba loại ái này là nội dung của chân lí thứ hai (tập đế) trong Tứ diệu đế; 2. Dựa trên giác quan, người ta phân biệt ái thuộc sắc, thanh âm, mùi thơm, vị ngon ngọt, tiếp xúc và tư tưởng; 3. Dựa trên Ba thế giới có thứ Ái thuộc dục giới, Ái thuộc sắc giới (色 愛; sắc ái; s: rūpatṛṣṇā) và vô sắc giới (無 色 愛; vô sắc ái; s: arūpa-tṛṣṇā).|Trong Mười hai nhân duyên (s: pratītya-sa-mutpāda), Ái do Thụ (受; s: vedanā) sinh ra, và bản thân Ái lại sinh ra Thủ (取; s: upādāna).|Trong giai đoạn Phật giáo nguyên thuỷ, người ta tin rằng Ái là nguyên nhân duy nhất của khổ và vì vậy xem nó là nguyên nhân của sinh tử, Luân hồi. Về sau, người ta thấy rằng thoát khỏi Ái chưa đủ mà cần phải dứt bỏ sự chấp Ngã (Vô ngã) mới được giải thoát. Ngã là gốc của Ái vì nếu xem Ngã là một thể tồn tại độc lập thì mọi thứ liên quan đến Ngã đều dễ sinh ra Ái. Người ta tiến đến giải thoát bằng tri kiến »cái này không phải là ta, cái này không phải của ta« và như thế, Ái tự hoại diệt.
ái
5456<一>梵語 tṛṣṇā, toṣayati, priya,巴利語 piya 之意譯。又作愛支。十二因緣之一。意爲貪戀執著於一切事物。基督教向來被視爲愛的宗教,佛教中則以「慈悲」爲中心,而不直言「愛」字。佛陀曾喻示有關愛者,增支部經典即謂:「愛可生愛,亦可生憎;憎能生愛,亦能生憎。」故佛教言愛言憎,恰若手心、手背,爲一體之兩面。愛之愈深,則憎怨之可能愈大。 於南傳之法句經二一二偈中有言:「從愛生憂患,從愛生怖畏;離愛無憂患,何處有怖畏?」繼於同偈之中,又從「愛」轉變,而依次列出親愛(巴 pema)、欲樂(巴 rati)、愛欲(巴 kāma)、渴愛(巴 taṇhā)等四種。所謂愛,乃指對與自己有親族血緣關係之情愛而言;所謂親愛,乃對他人之友情;所謂欲樂,則是對某一特定人物之愛情;所謂愛欲,專指建立於性關係之情愛;所謂渴愛,指因過份執著以致於癡病之愛情。此五階段皆屬人類之愛,其本質皆以自愛爲前提,由自愛出發而至性愛,更甚者,以自愛爲主而形成變態情愛乃至於渴愛,此中層次逐漸加深,而未曾更變其型態。渴愛乃人類之愛的本體,由此種愛乃產生苦惱,更由此苦惱而生悲(梵 karuṇā,巴同),悲之原意即爲痛苦。人類不僅能感受自己之痛苦,亦能感受他人之苦惱,若對所有苦惱之人,皆以親切、友情待之,則可稱爲慈(梵 maitreya),而慈乃由「友」(梵 mitra)演變而來者,其意即含深刻之友情,故慈悲實爲愛之代名詞。慈悲之極致爲「無緣大慈」,意指吾人於毫無條件、毫無意識下,而能予任何人幸福,此亦稱大愛,爲佛教待人態度之最高表現。〔雜阿毘曇心論卷八、瑜伽師地論卷九十三、成唯識論述記卷八〕 <二>梵語 anunaya-saṃyojana。愛結之略稱。九結之一。又作隨順結。即指於境染著之貪煩惱。大毘婆沙論卷五十(大二七‧二五八上):「云何愛結?謂三界貪。然三界貪於九結中總立愛結,七隨眠中立二隨眠,謂欲界貪,名欲貪隨眠;色、無色界貪,名有貪隨眠。於餘經中,立爲三愛,謂欲愛、色愛、無色愛。」是以三界之貪,總稱爲愛結。又集異門足論卷四謂,欲愛、色愛、無色愛等三愛,於諸欲中,諸貪等貪,執藏防護,耽著愛染,稱爲欲愛;於諸色中,諸貪等貪,執藏防護,耽著愛染,稱爲色愛;於無色中,諸貪等貪,執藏防護,耽著愛染,稱無色愛。又謂欲愛、有愛、無有愛之三愛,於諸欲中諸貪等貪,執藏防護,耽著愛染,稱爲欲愛(梵 kāma-tṛṣṇā);色、無色界諸貪等貪,執藏防護,耽著愛染,稱爲有愛(梵 bhava-tṛṣṇā);欣無有者於無有中諸貪等貪,執藏防護,耽著愛染,稱爲無有愛(梵 vibhava-tṛṣṇā)。此外,勝鬘經一乘章說五住地惑中,亦舉出欲愛住地、色愛住地、有愛住地等三名。北本大般涅槃經卷十三謂四諦中之集諦爲愛,而有二種、三種、四種、五種等之別,凡此種種,皆以貪名爲愛。〔大毘婆沙論卷四十八、卷四十九、卷五十六、卷一七三、成實論卷九貪相品、入阿毘達磨論卷上、俱舍論卷二十一〕 <三>梵語 preman 或 priya。即以不染污心愛樂法或愛師長之謂。大毘婆沙論卷二十九謂,愛有二種,染污謂貪,不染污謂信。俱舍論卷四(大二九‧二一上):「愛謂愛樂,體即是信,然愛有二,一有染污,二無染污。有染謂貪,如愛妻子等;無染謂信,如愛師長等。」此明不染污之愛,其體是信。〔北本大般涅槃經卷十六、順正理論卷十一、成唯識論卷六〕 <四>悉曇字???(ai)。又作翳、嘢、藹。悉曇十二韻之一,五十字門之一。據方廣大莊嚴經卷四載(大三‧五六○上):「唱愛字時,出勝威儀聲。」上引之勝威儀聲,其梵語 airyāpatha-śreyān-śabda 即含有此音「ai」。另據瑜伽金剛頂經釋字母品,謂此愛字有自在、自相、聖道勝等義。〔北本大般涅槃經卷八、大日經卷五布字品、悉曇藏卷五〕
; Kàma, Ràga (S). Love, affection, desire. Trsna (S) Thirst, avidity, desire. One of the 12 nidànas.
; Kama or Trishna (skt). (A) Nghĩa của Ái—The meanings of “Attachment” 1) Luyến ái: Craving—Love—Affection. 2) Tham dục: Desire. 3) Khát ái: Thirst of love. 4) Tham: Coveting. 5) Nhiễm trước: Defiling attachment. 6) Tình yêu nhiễm trược gia đình vợ con: The defiling love toward family, wife, and children. 7) Tình yêu không nhiễm trược dành cho thầy tổ và các bậc trưởng lão: The undefiling love toward one's teachers and elders. 8) Một trong thập nhị nhân duyên: One of the twelve nidanas. (B) Phân loại Ái—Categories of “Attachment”: 1) Nhị Chủng Ái: Two kinds of love—See Nhị Ái. 2) Ái Biệt Ly Khổ: Suffering from being separated from the loved ones—See Bát Khổ (5). *** See Trishna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (愛) I. Ái . Phạm:Tfwịà,towayati, priya, là dịch ý của chữ piya trongPāli. Còn gọi là Ái chi. Là một trong mười hai nhân duyên. Ý là tham luyến chấp trước tất cả sự vật. Trước nay, Cơ Đốc giáo được xem là tôn giáo bác ái, trong Phật giáo thì lấy từ bi làm trung tâm mà không trực tiếp nói đến chữ ái. Trong kinh điển Tăng Chi Bộ, đức Phật thường dạy về chữ ái, bảo: Yêu có thể sinh yêu, mà cũng có thể sinh ghét; ghét có thể sinh yêu, cũng có thể sinh ghét. Cho nên, Phật giáo nói yêu, nói ghét, cũng giống như lòng bàn tay và mu bàn tay, là hai mặt của một thể, thương yêu càng sâu thì oán ghét có thể càng lớn. Trong bài kệ 212 của kinh Pháp Cú Nam truyền, có nói: Từ yêu sinh lo buồn, từ yêu sinh sợ hãi; lìa yêu không lo buồn, làm gì có sợ hãi?. Kế đó, cũng trong bài kệ ấy, lại từ yêu chuyển biến mà lần lượt đưa ra bốn thứ: thân ái (Pāli: Pema), dục lạc (Pāli: Rati), ái dục (Pāli: Kàma) và khát ái (Pāli: Taịhà). Cái gọi là ái là nói đến tình yêu có quan hệ thân tộc huyết thống đối với mình; còn cái gọi là thân ái là nói về tình bạn đối với người khác; dục lạc là tình yêu đối với một nhân vật đặc biệt nào đó; ái dục chuyên chỉ tình yêu được kiến lập trong quan hệ về tính; còn khát ái là chỉ tình yêu vì quá say đắm đến nỗi thành si tình. Năm giai đoạn trên đây đều thuộc tình yêu của loài người, bản chất của nó đều lấy tự ái làm tiền đề, do tự ái xuất phát đưa đến tính ái, lại sâu đậm nữa thì lấy tự ái làm chủ mà hình thành tình ái biến thái cho đến khát ái, trong đó, tầng thứ dần dần sâu thêm mà không thay đổi hình thái nữa. Khát ái là bản thể ái tình của con người, do thứ tình ái ấy mà sinh ra khổ não, lại do khổ não mà sinh bi (Phạm,Pāli: Karuịà). Nguyên ý của chữ bi là đau đớn. Con người không những chỉ cảm thụ sự đau đớn của chính mình mà cũng có thể cảm thụ sự khổ não của người khác, nếu với những người khổ não, đều lấy tình bạn thân thiết mà đãi ngộ, thì có thể gọi là từ (Phạm: Maitreya), mà từ là do bạn (Phạm: Mitra) diễn biến mà có, ý bao hàm tình bạn sâu xa, cho nên từ bi là danh từ thay cho ái. Từ bi đến rứt mực, tột bực thì thànhvô duyên đại từ, hàm ý là tình yêu vô điều kiện, không đòi hỏi một cái gì, miễn khiến người khác có hạnh phúc là được, đây có thể gọi là đại ái, là biểu hiện cao nhất của thái độ đãi người trong Phật giáo. [X. luận Tạp A Tì Đàm Tâm Q.8; luận Du Già Sư Địa Q.93; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q.8]. II. Ái. Phạm: Anunaya-saôyojana. Tên gọi tắt Ái kết. Là một trong chín kết. Còn gọi là Tùy thuận kết. Tức chỉ phiền não tham, đắm say cảnh. Luận Đại Tì Bà Sa quyển 50 (Đại 27, 258 thượng), nói: Thế nào là ái kết? Nghĩa là Tam giới tham. Nhưng, Tam giới tham, trong chín kết, lập chung làm ái kết, trong bảy Tùy miên, lập hai tùy miên, tức Dục giới tham, gọi là Dục tham tùy miên; Sắc, Vô sắc tham, gọi là Hữu tham tùy miên. Trong các kinh khác, lập làm Tam ái, tức Dục ái, Sắc ái, Vô sắc ái. Đây là gọi chung cái tham trong ba cõi là Ái kết. Lại luận Tập Dị Môn Túc quyển 4, bảo Dục ái, Sắc ái, Vô sắc ái, trong các dục, ham mê đắm đuối, chấp chứa phòng hộ, gọi là Dục ái; trong các sắc, ham mê đắm đuối, chấp chứa phòng hộ, gọi là Sắc ái; trong vô sắc, ham mê đắm đuối, chấp chứa phòng hộ, gọi là Vô sắc ái. Cũng nói Dục ái, Hữu ái, Vô hữu ái, trong cõi Dục ham mê đắm đuối, chấp chứa phòng hộ, gọi là dục ái (Phạm: Kàma - tfwịà); trong cõi Sắc, Vô sắc, ham mê đắm đuối, chấp chứa phòng hộ, gọi là hữu ái (Phạm: Bbhava - tfwịà); người thích Vô hữu, ở trong vô hữu tham mê đắm đuối, chấp chứa phòng hộ, gọi là Vô hữu ái. (Phạm:Vibhava - tfwịà). Ngoài ra, kinh Thắng Man Chương Nhất Thừa, nói về năm trụ địa hoặc, cũng nêu lên ba danh xưng là Dục ái trụ địa, Sắc ái trụ địa và Hữu ái trụ địa. Kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) quyển 13, bảo Tập đế trong bốn đế là ái và có hai loại, ba loại, bốn loại, năm loại khác nhau, nhưng đều lấy tham gọi là ái. [X. luận Đại Tì Bà Sa Q.48, Q.49, Q.56, Q.173; luận Thành Thực Q.9 phẩm Tham Tướng; luận Nhập A Tì Đạt Ma Q.thượng; luận Câu Xá Q.21]. III. Ái. Phạm: Preman hoặc priya. Tức có nghĩa là không đem tâm nhiễm ô mà tin ưa Pháp hoặc kính yêu sư trưởng. Luận Đại Tì Bà Sa quyển 29, bảo ái có hai thứ, nhiễm ô là tham, không nhiễm ô là tín. Luận Câu Xá quyển 4 (Đại 29, 21 thượng), nói: Ái là ưa thích, thể tức là tín; nhưng ái có hai thứ, một là có nhiễm ô, hai là không nhiễm ô. Có nhiễm là tham, như yêu vợ con, không nhiễm là tin, như yêu sư trưởng. Đây nói rõ ái không nhiễm ô, thể của nó là tín. [X. kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) Q.16; luận Thuận Chính Lí Q.11; luận Thành Duy Thức Q.6].IV.Ái. Chữ (ai) Tất đàm. Cũng gọi là Ế. Một trong mười hai nguyên âm của mẫu tự Tất đàm, một trong năm mươi chữ cái. Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 4 (Đại 3, 560 thượng), nói: Khi xướng chữ ái, phát ra tiếng uy nghi thù thắng. Tiếng uy nghi thù thắng dẫn trên đây, Phạm: Airyàpatha-zreyàn-sabda, tức trong đó có âm ai. Ngoài ra, kinh Du Già Kim Cương Đính phẩm Thích Tự Mẫu, bảo rằng, chữ ái đây có các nghĩa thù thắng, như tự tại, tự tướng, Thánh đạo v.v... [X. kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) Q.8; kinh Đại Nhật Q.5 phẩm Bố Tự; Tất Đàm Tạng Q.5].
ái biệt li khổ
5458梵語 priya-viprayoga-duḥkha,巴利語 piya-vippayoga-dukkha。謂別離愛境,或與所愛者別離時所感受之苦。爲八苦之一。又稱恩愛別苦、哀相別離苦。據中阿含卷七分別聖諦經與大毘婆沙論卷七十八所載,則可愛之內六處及六界等與身別離時所生之苦,稱作愛別離苦。此外,五王經以爲從兄弟、妻子等之離別所生之苦,稱爲愛別離苦。大乘義章卷三本兼取上記二說,而謂(大四四‧五一三上):「何者是其愛別離苦?所別有二,一內二外。內者自身,外者所謂親戚眷屬及餘資生。」〔增一阿含經卷十七、四諦經、正法念處經卷五十七〕(參閱「四苦」1736)
; (愛別離苦) Phạm: Priya-viprayoga-du#kha, Pāli: Piya-vippayoga-dukkha. Tức là nỗi khổ cảm thấy khi mình phải rời bỏ cái cảnh mà mình ưa thích, hoặc phải xa lìa người mà mình thương yêu. Là một trong tám cái khổ. Còn gọi là Ân ái biệt khổ, Ái tương biệt li khổ. Cứ theo Trung a-hàm quyển 7 kinh Phân Biệt Thánh Đế, và luận Đại Tì Bà Sa quyển 78 chép, thì sáu căn, sáu đại yêu quí, khi lìa bỏ thân thể thì sinh khổ, gọi là ái biệt li khổ. Ngoài ra, kinh Ngũ Vương cho là phải xa lìa anh em, vợ con mà sinh khổ, thì gọi là ái biệt li khổ. Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 3 phần đầu thì ghi nhận cả hai thuyết kể trên mà nói (Đại 44, 513 thượng): Ái biệt li khổ là thế nào? Có hai thứ: một là trong, hai là ngoài. Trong là chính thân mình, ngoài là họ hàng thân thích và các vật cần cho sự sống. [X. kinh Tăng Nhất A Hàm Q.17; kinh Tứ Đế; kinh Chính Pháp Niệm Xứ Q.57]. (xt. Tứ Khổ).
ái biệt ly khổ
Priyasamparayoyga (S), Seperation from the beloved Người thân yêu bị xa cách. Một trong bát khổ.
; The suffering of being separated from those whom one loves.
; The suffering of being separated from those whom one loves.
; Khổ vì phải xa lìa những người thân thương—Suffering of (due to) separation from our loved ones—The suffering of being separated from those whom one loves. ** For more information, please see Bát Khổ(5).
Ái biệt ly khổ 愛別離苦
[ja] アイベツリク aibetsuriku ||| The suffering experienced when we are separated from the persons and things which we love. This is one of the "four and eight kinds of suffering" (四苦八苦) taught by Śākyamuni in his first exposition of the Four Noble Truths 四諦. (priya viprayoga duḥkha) 〔瑜伽論T 1579.30.289b〕 - => Sự đau khổ khi bị cách biệt người hay điều mình thích. Là một trong Tứ khổ và Bát khổ 四苦八苦được Đức Phật Thích-ca Mâu-ni giảng trong thời pháp đầu tiên là Tứ diệu đế (s: priya viprayoga duḥkha).
Ái biệt ly 愛別離
[ja] アイベツリ aibetsuri ||| To be separated from the things that one loves. (priya-viyoga) - => Phải xa rời điều mình ưa thích (s: priya-viyoga).
Ái bất ái 愛不愛
[ja] アイフアイ ai fuai ||| That which is liked and that which is disliked; the agreeable and the disagreeable. 〔瑜伽論 T 1579.30.305b5〕 - => Thích và không thích, thương và ghét.
ái ch.
Trsna (S) Thirst, avidity, desire. One of the 12 nidànas.
ái chấp
The grip of love and desire.
; Sự chấp trước vào luyến ái và dục vọng khó mà bỏ được—The grip of love and desire.
ái chủng
The seed of desire, with its harvest of pain.
; Hạt giống dục vọng sẽ gặt lấy khổ đau—The seed of desire, with its harvest of pain.
ái cát chi quỷ
6779又作藹吉鬼。為起屍鬼,即受咒力控制而殺人之鬼。使用咒力,令起屍鬼殺人之法則稱為毘陀羅,故此類起屍鬼又稱毘陀羅鬼。〔十誦律卷二、玄應音義卷二十一、慧琳音義卷五十四〕(參閱「毘陀羅鬼」3851)
; (藹吉支鬼) Cũng gọi là Ái cát quỉ. Là khởi thi quỉ, tức loài quỉ chịu sự khống chế của thần chú mà giết người. Cái pháp thuật sử dụng thần chú để sai khởi thi quỉ giết người thì gọi là Tì đà la, vì thế, loại khởi thi quỉ này còn được gọi là quỉ Tì-đà-la. [X. luật Thập Tụng Q.2; Huyền ứng Âm Nghĩa Q.21; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.54]. (xt. Tì Đà La Quỉ).
ái căn
The root of desire, which produces the passions.
; The root of desire, which produces the passions.
; Dục vọng là gốc sanh ra các phiền não—The root of desire, which produces the passions.
ái duyên
Love or desire as a contributory cause, or attachment.
; Ái dục như là nguyên nhân phụ vào cho sự luyến ái—Love or desire as a contributory cause of attachment.
ái dục
5461梵語 kāma,巴利語同。即貪愛之法。與愛著、愛染、愛執同義。古代印度人認爲人生之三大目的爲法(梵 dharma)、利(梵 artha)、愛等,即指真理之了解、財物之蓄積、性愛之享受。關於愛欲,有所謂之愛欲經(梵 Kāma-sūtra),此經被公認爲世界聞名之性愛指南,上流人士亦經由此指南而獲得性生活之指導。 原始佛教教團乃爲以僧侶(比丘)爲主之教團,而性慾則屬人類僅次於食慾之一種本能,故於僧侶教團中,制定嚴格之戒律,以超脫愛欲爲修行者之重要修行德目。進入大乘佛教時期,由於在家信眾參與教團,禁止愛欲成爲不可能,僅能對在家信眾加以善巧方便之限制。 所謂煩惱即菩提,乃是藉愛欲或其他能動搖人類心志之本能,在其不斷干擾中,去修證而進入了生脫死之悟境。
; Taṇhā (P),Tṛṣṇā (S), Desire, Craving Khát ái.Thô kệch hay vi tế, luôn ngủ ngầm trong mỗi người, và là nguyên nhân chủ yếu những bất hạnh lớn trong đời. ái dục làm ta bám víu vào đời sống với mọi hình thức và do đó dẫn dắt ta mãi mãi phiêu bạt trong vòng luân hồi.
; Love and desire; love of family. Craving, thirst, lust. Dục ái, craving for sensuality; hữu ái, craving for existence; hủy ái, craving for non-existence.
; (I) Nghĩa của Ái Dũc—The meanings of Love and Desire: Luyến ái và dục vọng, hoặc tình thương yêu gia đình—Love and desire; love of family. (II) Những lời Phật dạy về “Ái Dục” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Love and Desire” in the Dharmapada Sutra: 1) Xuất gia bứt hết ái dục là khó, tại gia theo đường sinh hoạt là khó, không phải bạn mà chung ở là khổ, qua lại trong vòng luân hồi là khổ. Vậy các ngươi hãy giác ngộ để đừng qua lại trong vòng thống khổ ấy—It is difficult to renounce the world. It is difficult to be a householder. It is painful to associate with those who are not friends. It is painful to be wandering in the samsara forever. Reaching the enlightenment and let wander no more! Let's suffer no more! (Dharmapada 302). 2) Nếu ở thế gian nầy mà bị ái dục buộc ràng, thì những điều sầu khổ càng tăng mãi như loài cỏ tỳ-la gặp mưa—Whoever binds to craving, his sorrows flourish like well-watered birana grass (Dharmapada 335). 3) Nếu ở thế gian nầy, mà hàng phục được những ái dục khó hàng phục, thì sầu khổ tự nhiên rụng tàn như nước ngọt lá sen—Whoever in this world overcomes this unruly craving, his sorrows fall away just like water-drops from a lotus leaf (Dharmapada 336). 4) Đây là sự lành mà Ta bảo với các ngươi: “Các người hãy dồn sức vào để nhổ sạch gốc ái dục, như người muốn trừ sạch giống cỏ tỳ-la phải nhổ hết gốc nó. Các ngươi chớ lại để bị ma làm hại như loài cỏ lau gặp cơn hồng thủy!”—This is my advice to you: “Root out craving; root it out, just like birana grass is rooted out. Let not Mara crush you again and again as a flood crushes a reed! (Dharmapada 337) 5) Đốn cây mà chưa đào hết gốc rễ thì tược vẫn ra hoài, đoạn trừ ái dục mà chưa sạch căn gốc thì khổ não vẫn nẩy sinh trở lại mãi—Latent craving is not conquered, suffering recovers and grows again and again, just like a tree hewn down grows up again as long as its roots is unrooted (Dharmapada 338). 6) Những người có đủ 36 dòng ái dục, họ mạnh mẽ dong ruổi theo dục cảnh chẳng chút ngại ngùng, bởi vậy người đã có tâm tà kiến, hằng bị những tư tưởng ái dục làm trôi dạt hoài—If in any man, the thirty-six streams of craving are still flowing, such deluded person is still looking for pleasure and passion, and torrential thoughts of lust sweep him away (Dharmapada 339). 7) Lòng ái dục tuôn chảy khắp nơi như giống cỏ man-la mọc tràn lan mặt đất. Ngươi hãy xen giống cỏ đó để dùng tuệ kiếm đoạn hết căn gốc ái dục đi—Streams of pleasure and passion flow in all directions, just like the creeper sprouts and stands. Seeing the creeper that has sprung up in your mind, cut it off with wisdom (Dharmapada 340). 8) Người đời thường vui thích theo ái dục, ưa dong ruổi lục trần, tuy họ có hướng cầu an lạc mà vẫn bị quanh quẩn trong chốn trầm luân—Common people are subject to attachment and thirst; they are always happy with pleasure; they run after passion. They look for happiness, but such men caught in the cycle of birth and decay again and again (Dharmapada 341). 9) Những người trì trục theo ái dục khác nào thỏ bị sa lưới. Càng buộc ràng với phiền não, càng chịu khổ lâu dài—Men who are crazed with craving, are terrified like hunted hares. The more they hold fast by fetters, bonds, and afflictions, the longer they suffer (Dharmapada 342). 10) Những người trì trục theo ái dục, khác nào thỏ bị sa lưới. Hàng Tỳ kheo vì cầu vô dục nên phải trước tự gắng lìa dục—Men who are crazed with craving, are terrified just like hunted hares. Therefore, a monk who wishes his own passionlessness, should first banish craving (Dharmapada 343). 11) Người đã lìa dục xuất gia, lại tìm vui ở chốn sơn lâm, khác nào trở lại nhà; ngươi hãy xem hạng người đó, kẻ đã được mở ra rồi lại tự trói vào!—He who is free from desire for the household, finds pleasure (of asceticism or monastic life) in the forest, yet run back to that very home. Look at that man! He runs right back into that very bondage again! (Dharmapada 344) 12) Đối với người trí, sự trói buộc bằng dây gai, bằng cây, bằng sắt chưa phải kiên cố, chỉ có lòng luyến ái vợ con tài sản mới thật sự là sự trói buộc chắc bền—To a wise man, the bondage that is made of hemp, wood or iron, is not a strong bond, the longing for wives, children, jewels, and ornaments is a greater and far stronger attachment (Dharmapada 345). 13) Những kẻ dắt người vào sa đọa, là như sự trói buộc chắc bền, nó hình như khoan dung hòa hưởn mà thật khó lòng thoát ra. Hãy đoạn trừ đừng dính mắc, xa lìa ái dục mà xuất gia—The wise people say that that bond is very strong. Such fetters seem supple, but hard to break. Break them! Cut off desire and renounce the world! (Dharmapada 346) 14) Những người say đắm theo ái dục, tự lao mình trong lưới buộc như nhện giăng tơ. Ai dứt được sự ràng buộc không còn dính mắc nữa, thì sẽ xa mọi thống khổ để ngao du tự tại—A man infatuated with lust falls back into the stream as a spider into the web spun by itself. He who cuts off this bond, retire from the world, with no clinging, will leave all sorrow behind (Dharmapada 347). 15) Bước tới chỗ cứu cánh thì không còn sợ hãi; xa lìa ái dục thì không còn nhiễm ô: nhổ lấy mũi tên sanh hữu thì chỉ còn một thân nầy là cuối cùng, không bị tiếp tục sanh nữa—He who has reached the goal, without fear, without craving and without desire, has cut off the thorns of life. This is his final mortal body (Dharmapada 351). 16) Xa lìa ái dục không nhiễm trước, thông đạt từ vô ngại, thấu suốt nghĩa vô ngại, và thứ lớp của tự cú, đó thật là bậc đại trí đại trượng phu, chỉ còn một thân nầy là cuối cùng, không bị tiếp tục sinh nữa—He who is without craving, without attachment; who understands subtleties of words and meanings; they are truly a great wise who bear the final mortal body (Dharmapada 352). 17) Dũng cảm đoạn trừ dòng ái dục, các ngươi mới là Bà-la-môn! Nếu thấu rõ các uẩn diệt tận, các ngươi liền thấy được vô tác (Niết bàn)—Strive hard to cut off the stream of desires. Oh! Brahman! Knowing that all conditioned things will perish. Oh! Brahman! You are a knower of the Unmade Nirvana! (Dharmapada 383).s
; (愛欲) Phạm, Pāli: Kàma. Tức sự tham ái. Đồng nghĩa với ái trước, ái nhiễm, ái chấp. Người Ấn độ cổ đại cho là đời người có ba mục đích lớn, đó là pháp (Phạm: Dharma),lợi (Phạm: Artha), vàái, tức chỉ sự hiểu biết chân lí, tích trữ của cải và hưởng thụ tình ái. Về vấn đề ái dục thì có Ái dục kinh (Phạm: Kàma-sùtra), kinh này được xem là sách chỉ nam về tính ái có tiếng trên thế giới, nhân sĩ thượng lưu cũng nhờ sách chỉ nam này mà có được sự chỉ dẫn về sinh hoạt tính ái. Giáo đoàn Phật giáo nguyên thủy lấy tăng lữ (tỉ khưu) làm chủ yếu, mà tính dục là một loại bản năng của con người chỉ đứng sau thực dục, vì vậy, trong giáo đoàn phải chế định những giới luật nghiêm khắc, lấy việc siêu thoát ái dục làm đức mục tu hành trọng yếu của tăng lữ. Đến thời kì Phật giáo Đại thừa hưng khởi, vì có tín chúng tại gia tham dự giáo đoàn, thành ra việc cấm chỉ ái dục là việc không làm được, mà đối với tín chúng tại gia chỉ có thể phương tiện hạn chế thôi. Cái gọi là phiền não tức bồ đề, là nhờ ái dục hoặc các bản năng khác hay khiến cho tâm trí con người lay động, trong hoàn cảnh thường xuyên bị quấy nhiễu như thế, mà vẫn tiến tu để chứng ngộ cảnh giới liễu sinh thoát tử.
ái dục hải
Biển dục—The ocean of desire.
Ái dục 愛欲
[ja] アイヨク aiyoku ||| "Attachment and desire." The strong attachment and craving that people experience in life, such as for spouse and chīdren, etc. kāma, icchā. The entrapment of the five sense organs by external objects. (3) Delusion, deluded activity. tṛṣṇā (4) To be addicted to sex. maithuna (5) Defilement, affliction. kleśa - => 1. Sự tham muốn và đắm chấp mạnh nhất trong đời sống mà con người trải qua, như vợ chồng, con cái v.v... (s: kāma, icchā). - 2. Sự đánh bẫy của năm giác quan do cảnh trần. - 3. Đam mê hư vọng (s: tṛṣṇā). - 4. Đam mê tình dục, phạm sắc giới. (s: maithuna). - 5. Phiền não, nhiễm ô (s: kleśa). -
ái giả
5461思惑之異名。思惑以愛爲主,而愛自迷情而起,其體虛假,故稱愛假。
; The falseness or unreality of desire.
; Sự hư giả hay không thực của dục vọng—The falseness or unreality of desire.
; (愛假) Là tên gọi khác của Tư hoặc. Tư hoặc lấy Ái làm chủ, mà ái thì từ mê tình sinh khởi, thể của nó hư giả, vì thế gọi là Ái giả.
ái giới
The realm of desire, or love.
; Dục giới—Những người đang trú ngụ trong dục giới—The realm of desire or love—Those who dwell in the realm of desire.
ái hoặc
5461謂愛欲之惑。惑,謂昧於真理。此惑不斷,則不能見真理。金光明經文句卷三(大三九‧六○上):「八人見地,猶有愛惑。」
; The illusion ođ love, or desire.
; Mê hoặc hay ảo ảnh của ái dục—The illusion of love or desire.
; (愛惑) Là hoặc ái dục. Hoặc, có nghĩa là mê mờ đối với chân lí. Nếu không trừ dứt ái hoặc này thì không thể thấy được chân lí. Kim Quang Minh Kinh Văn Cú quyển 3 (Đại 39, 60 thượng), nói: Bát nhân kiến địa.. ........ , còn có ái hoặc.
ái hà
5459請參閱 婆羅門子命終愛念不離經 [1]猶言情天慾海。愛欲溺人,故以河喻之。此外,貪愛之心,執著於物而不離,如水浸染於物,故亦以河水譬之。八十華嚴經卷二十六有「隨生死流,入大愛河」之語。楞嚴經亦有「愛河乾枯,令汝解脫」之說。
; Tình ái nhận chìm và làm chết đuối con người nên ví với dòng sông (lòng tham bám víu hay giữ chặt không rời)—The river of desire in which men are drowned.
; (愛河) Sông yêu. Còn nói là Tình thiên dục hải (tình trời dục biển). Ái dục làm người chìm đắm nên dùng sông để thí dụ. Ngoài ra, tâm tham ái, nắm chặt vật mà không rời, cũng như nước thấm vào vật, nên cũng dùng nước sông để ví dụ ái dục. Kinh Hoa Nghiêm (80 quyển) quyển 26 có câu: Theo dòng sống chết, vào sông yêu lớn. Kinh Lăng Nghiêm cũng nói: Sông yêu cạn khô, khiến người giải thoát.
ái hà.
The river of desire in which men are drowned.
ái hành
Emotional behaviour, or the emotions of desire, as contrasted with kiến hành, rational behaviour.
; Ái hành có nghĩa là tình ái dục vọng, đối lại với “kiến hành” có nghĩa là suy lý—Emotional behavior, or the emotions of desire, as contrasted with rational behaviour.
ái hành kiến hành
5457愛行,梵語 tṛṣṇā-carita;見行,梵語 dṛṣṭi-carita。<一>人類行爲中,依其性格可大別爲二類:(一)隨順他人之教誨而行動者,稱爲愛行。(二)不樂聽從他人之意見,而專恃己見以行動者,稱爲見行。據俱舍論卷十七載,愛行者惡之阿世耶(梵 āśaya,意樂),極爲躁動故,不斷善根;見行者惡之阿世耶,極堅深故,能斷善根。又大毘婆沙論卷一○九謂,見行者由空入正性離生,愛行者由無願入正性離生。〔北本大般涅槃經卷十五、大智度論卷二十一、俱舍論光記卷十六〕 <二>以見行與愛行爲煩惱之二種。「行」爲有爲法之總稱。其中,見行爲五見(其中包含身見等)、六十二見或九十五見之泛稱。廣義而言,見惑與見行亦可通用,貪欲(修惑)與愛行二義亦相通。一般言之,前者屬於理智上之煩惱,後者屬於情意上之煩惱。〔俱舍論卷六、俱舍釋論卷五、俱舍論光記卷六〕
; (愛行見行) Ái hành, Phạm: Tfwịà-carita; Kiến hành, Phạm: Dfwỉi-carita. I. Ái hành kiến hành. Hành vi của người ta, căn cứ theo tính cách, có thể chia làm hai loại: 1. Y theo lời chỉ dạy của người khác mà hành động, gọi là ái hành. 2. Không thích nghe theo ý kiến người khác, mà chỉ theo ý riêng mình để hành động, gọi là Kiến hành. Cứ theo luận Câu Xá quyển 17, thì người ái hành ý muốn xấu (Phạm: Àzaya, dịch âm a thế gia) rất là nông nổi, không dứt mất thiện căn; người Kiến hành thì ý thích xấu xa cực sâu bền, cho nên có khả năng dứt mất thiện căn. Lại luận Đại Tì Bà Sa quyển 109 thì bảo, người Kiến hành từ không mà vào chính tính li sinh, người ái hành từ vô nguyện mà vào chính tính li sinh. [X. kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) Q.15; luận Đại Trí Độ Q.21; luận Câu Xá Quang Kí Q.16]. II. Ái hành kiến hành. Kiến hành và ái hành là hai loại phiền não. Hành là gọi chung các pháp hữu vi. Trong đó, kiến hành là năm kiến (bao hàm thân kiến...), nói rộng là sáu mươi hai kiến hay chín mươi lăm kiến. Nói theo nghĩa rộng thì kiến hoặc và kiến hành cũng có thể thông dụng, hai nghĩa tham dục (tu hoặc) và ái hành cũng tương thông. Nói cách thông thường thì kiến hành là phiền não thuộc phương diện lí trí, ái hành là phiền não thuộc phương diện tình ý. [X. luận Câu-xá Q.6; Câu Xá Thích Luận Q.5; Câu Xá Quang Kí Q.6].
ái hải
The ocean of desire.
; Biển dục—The ocean of desire—Biển ái—Ocean of love.
ái hận
Luyến ái và thù hận—Love and hate—Desire and dislike.
ái hệ
Sự trói buộc của ân ái hay dục vọng—The bond of love or desire.
ái hệ.
The bond of love or desire.
ái hỏa
Love as fire that burns.
; 1) Lửa của luyến ái: Fire of love. 2) Luyến ái là lửa đốt chúng sanh: Love is fire that burns (living beings).
ái hữu
Friendly society.
ái khuể
Luyến ái và ghen ghét—Love and hate, desire and hate.
Ái khuể 愛恚
[ja] アイイ aii ||| The two afflictions of attachment and aversion, or craving and anger. 〔二障義 HPC 1.791b13〕 - => Hai món phiền não chấp trước và sân hận, hoặc tham và giận.
ái khát
The thirst of desire; khát ái, thirstily to desire.
; Khát ái hay khao khát dục vọng, hay ham muốn sự sống—The thirst of desire, or thirstily to desire—The will to live.
ái kim cương
5459梵名 Rāgavajra。爲密教金剛界曼荼羅理趣會十七尊之一。又稱愛縛金剛、愛樂金剛、悲愍金剛。位於金剛界曼荼羅理趣會之金剛薩埵後方之月輪蓮花中。其形像爲身呈青色,手持摩竭幢。據理趣經祕決鈔卷三載,悲愍金剛菩薩以悲愍之故,以愛念繩普縛眾生,至菩提終不放捨;猶如摩竭大魚吞啗所遇之物,一經入口已,更無倖免者,所以持此摩竭魚幢,現其愛縛捨離俱幻平等之智身。〔金剛頂勝初瑜伽經中略出大樂金剛薩埵念誦儀〕
; (愛金剛) Phạm: Ràgavajra. Là một trong mười bảy vị Tôn thuộc Kim cương giới mạn đồ la Lí thú hội trong Mật giáo. Còn gọi là Ái Phọc Kim Cương, Ái Lạc Kim Cương, Bi Mẫn Kim Cương. Được đặt trong Nguyệt Luân Liên Hoa ở phía sau Kim Cương Tát Đỏa, trên Kim Cương Giới Mạn Đồ La Lí Thú Hội. Hình tượng mầu xanh, tay cầm cờ ma kiệt. Cứ theo Lí thú kinh bí quyết sao quyển 3 chép, thì Bồ Tát Bi Mẫn Kim Cương, vì lòng thương xót, nên dùng giây ái niệm buộc hết chúng sinh, cuối cùng, đến bồ đề cũng không buông bỏ. Cũng như loài cá ma kiệt lớn, bất cứ vật gì, khi đã vào miệng nó rồi thì không tài nào thoát ra được, bởi vậy, Bồ Tát cầm cờ ma kiệt là biểu hiện cái thân trí bình đẳng, buộc chặt hoặc buông bỏ đều là huyễn cả. [X. Kim Cương Đính Thắng Sơ Du Già Kinh Trung Lược Xuất Đại Lạc Kim Cương Tát Đỏa Niệm Tụng Nghi].
Ái kiến
愛見 - [ja] アイケン aiken ||| Attachment (or desire) and views. The former is an emotive affliction, while the later is a perceptual affliction. The Mahāprajñāpāramitā-śāstra explains these two categories in depth. Also called 愛著二法 and 愛見二行. - => Ái và Kiến. Ái là phiền não thuộc về tình cảm, Kiến là phiền não thuộc về tri giác. Đại Trí độ luận giải thích hai mục này rất sâu. Còn gọi là Ái trước nhị pháp 愛著二法và Ái kiến nhị hành愛見二行.
ái kiến
5459又作見著二法、愛見二行。愛與見之並稱。即對事、對理所起之煩惱。分別言之,愛係屬情意上之煩惱,由於執著事事物物,故易障道。見則指執著於錯誤之理論導致謬見,並妨礙悟道,爲理知上之煩惱。〔北本大般涅槃經卷十五、維摩經疏菴羅記卷三十〕
; Attachment or love growing from thinking of others.
; 1) Chấp trước từ con người mà nẩy lên thứ tình yêu hay dục vọng nẩy nở khi nghĩ đến ngưới khác. Ái kiến cũng có nghĩa là tâm chấp luyến vào hình thức, trói buộc chúng ta vào dục vọng và ham muốn trần tục—Attachment or Love growing from thinking of others. Love also means the mind of affection attached to forms, which binds us with the ties of worldly passions and desires. 2) Ái và Kiến—Love or Attachment and Views: a) Ái nghĩa là luyến chấp vào sự: Love means attachment to things. b) Kiến nghĩa là luyến chấp vào tà kiến: Views mean attachment to false views.
; (愛見) Còn gọi là Kiến trước nhị pháp, Ái kiến nhị hành. Nói chung ái và kiến. Tức là các phiền não đối sự, đối lí mà sinh khởi. Nói một cách phân tích, thì ái là phiền não thuộc phương diện tình cảm, do cố chấp sự sự vật vật, nên dễ ngăn trở đạo. Còn kiến là chỉ sự cố chấp cái lí luận sai lệch mà dẫn đến cái thấy biết lầm lẫn, đồng thời, làm chướng ngại sự ngộ đạo, là phiền não thuộc phương diện lí trí. [X. kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) Q.15; Duy Ma Kinh Sớ Am La Kí Q.30].
ái kiến đại bi
5459指不離於愛見之大悲。即未證實相之理,承認有能愛、所愛二相而起大悲之謂。於注維摩詰經卷五,曾舉諸家之釋,鳩摩羅什謂(大三八‧三七八上):「未能深入實相,見有眾生,心生愛著,因此生悲,名爲愛見大悲。愛見大悲虛妄不淨,能令人起疲厭想,故應捨離。」僧肇謂(大三八‧三七八上):「若自調者,應先觀己病及眾生病,因緣所成,虛假無實,宜以此心而起悲也。若此觀未純,見眾生愛之而起悲者,名愛見悲也。此悲雖善,而雜以愛見有心之境,未免于累,故應捨之。」道生則謂(大三八‧三七八中):「作上二觀,起大悲之時,若於觀中有愛念心,又見眾生而欲拔濟之者,爲愛見大悲也。」〔維摩經義記卷三本、維摩經義疏卷四(吉藏)〕
; (愛見大悲) Chỉ tâm đại bi chưa lìa ái kiến. Tức chưa chứng được lí thực tướng, còn nhận có hai tướng năng ái, sở ái mà khởi tâm đại bi. Trong Chú Duy Ma Cật Kinh quyển 5, có nêu lên sự giải thích của các nhà, ngài Cưu Ma La Thập Bảo (Đại 38, 378 thượng): Chưa thâm nhập được thực tướng, thấy có chúng sinh, tâm sinh ái trước, do đó sinh thương, gọi là ái kiến đại bi. Ái kiến đại bi hư vọng bất tịnh, hay khiến người ta sinh tưởng chán nản, vì thế nên xa lìa. Sư Tăng Triệu cũng nói (Đại 38, 378 thượng): Nếu người biết tự điều trị, thì trước quán bệnh của mình và bệnh của chúng sinh, cái nhân duyên thành bệnh là giả dối không thực, nên dùng tâm ấy mà sinh bi; nếu người quán chưa thuần, thấy chúng sinh vì yêu mà khởi bi, thì là ái kiến bi. Cái bi ấy tuy tốt, nhưng là cảnh ái kiến có tâm lẫn lộn, chưa hẳn khỏi lụy, vì thế nên bỏ. Sư Đạo Sinh thì bảo (Đại 38, 378 trung): Khi quán như trên mà khởi đại bi, nếu trong quán có tâm niệm yêu thương, lại thấy chúng sinh mà muốn cứu giúp, thì là ái kiến đại bi. [X. Duy Ma Kinh Nghĩa Kí Q.3 phần đầu; Duy Ma Kinh Nghĩa Sớ (Cát tạng) Q.4].
ái kính phụ mẫu dụ
5462以孝子之愛敬父母比喻菩薩之慈悲。大無量壽經序分(大一二‧二六六中):「以不請之法施諸黎庶,如純孝之子愛敬父母。」蓋菩薩之慈悲不捨一切眾生,恰如孝子之愛敬慈親。又菩薩之慈悲不待請而愛護眾生,亦如孝子之不待命而愛敬父母竭盡孝養一般。
; (愛敬父母喻) Đem lòng yêu kính của người con hiếu đối với cha mẹ để thí dụ tâm từ bi của Bồ tát. Kinh Đại Vô Lượng Thọ Phần Tựa (Đại 12, 266 trung), nói: Hãy đem pháp không cầu xin mà bố thí cho mọi người, cũng như người con hiếu thảo yêu kính cha mẹ. Bởi vì, lòng từ bi của Bồ Tát không bỏ hết thảy chúng sinh, giống như người con hiếu yêu kính cha mẹ. Lại lòng từ bi của Bồ Tát không đợi được cầu xin mới thương yêu và hộ trì chúng sinh, cũng như người con hiếu, không đợi được sai bảo mới yêu kính cha mẹ và hết lòng hiếu dưỡng.
ái kết
5462九結之一。略稱結。又作隨順結。結,結縛之義。貪愛縛人,故稱結。即諸眾生爲貪愛之故,廣行殺、盜、婬、妄等不善,由此而招未來生死之苦,流轉三界,不能出離,故稱愛結。大集經卷三(大一三‧一七上):「煩惱因緣受業果,諸見因緣增愛結。」
; Sự kết buộc của ái dục hay phiền não tham ái—The tie of love or desire.
; (愛結) Là một trong chín kết. Nói tắt là kết. Cũng gọi là tùy thuận kết. Kết, là nghĩa trói buộc. Vì tham ái trói buộc con người nên gọi là kết. Vì chúng sinh tham ái mà tạo các nghiệp bất thiện: giết hại, trộm cướp, dâm dục, nói dối v.v..., do đó dẫn đến cái khổ sống chết trong đời sau, trôi lăn trong ba cõi, không thoát ra được, cho nên gọi là ái kết. Kinh Đại Tập quyển 3 (Đại 13, 17 thượng), nói: Nhân duyên phiền não chịu nghiệp quả, nhân duyên các kiến thêm ái kết.
ái kết.
The tie of love or desire.
ái kỷ
Egoist—Selfish—Egoism—Selfishness.
ái la sát
Ái La Sát Nữ—Raksasi—Female demon of desire.
ái la sát nữ
Raksasi (skt)—See Ái La Sát.
ái luyến
Love attachment.
ái luyến lục trần
Kāmataṇhā (P), Desire for pleasure of senses Trong tam ái: ái luyến lục trần (kamatanha), ái luyến đời sống (bhavatanha), ái luyến sự vô sanh (vibhavatanha).
ái luyến sự vô sanh
Vibhatanha (S), Desire for non-existing Trong tam ái: ái luyến lục trần (kamatanha), ái luyến đời sống (bhavatanha), ái luyến sự vô sanh (vibhavatanha).
ái luyến tự ngã
Attakamanipa (P).
ái luyến đời sống
Bhāvataṇhā (P), Desire for existing Trong tam ái: ái luyến lục trần (kamatanha), ái luyến đời sống (bhavatanha), ái luyến sự vô sanh (vibhavatanha).
ái luân
The wheel of desire which turns men into the six paths of transmigration.
; Bánh xe dục vọng làm chúng sanh xoay chuyển trong sáu đường sanh tử—The wheel of desire which turns men into the six paths of transmigration.
ái luận
Talk of love or desire.
; Ham thích lý luận hay bàn luận về dục vọng. Do mê tâm ái trước mà đưa tới những cuộc tranh luận loạn động hay ngôn luận bất chính—Talk of love or desire, which gives rise to improper conversation.
ái luận kiến luận
5462對一切事物偏重感情執著之言論,稱爲愛論;反之,固執於知識理論則稱爲見論。以上兩者皆係違反真理,而障礙修道之言論,故一般皆視之爲戲論。於此,吉藏法師嘗謂,知識份子與出家眾易於產生見論,但普通智能者與在家眾則易起愛論。〔北本大般涅槃經卷十五、維摩經疏菴羅記卷三十〕
; (愛論見論) Đối với tất cả sự vật, chỉ thiên trọng mặt tình cảm mà bàn luận một cách cứng nhắc, thì gọi là Ái Luận; ngược lại, cứ khư khư bám chặt phương diện lí luận tri thức, thì gọi là Kiến Luận. Cả hai mặt trên đây đều trái với chân lí, là ngôn luận làm chướng ngại việc tu đạo, vì thế, thông thường, đều bị coi là hí luận (bàn hão). Về vấn đề này, sư Cát Tạng đã từng nói: Các phần tử trí thức và chúng xuất gia dễ sinh kiến luận, còn những người trí thức phổ thông và chúng tại gia thì lại dễ khởi ái luận. [X. kinh Đại Niết Bàn (bản Bắc) Q.15; Duy Ma Kinh Sớ Am La Kí Q.30].
ái lưu
5461謂貪愛之煩惱。貪愛能惑溺人心,譬如暴流,故稱愛流。愛即貪愛,能漂流諸煩惱有情之善品,流轉於生死中。此煩惱爲諸煩惱之根本,故愛亦爲煩惱之總稱。心地觀經卷一(大三‧二九五上):「善逝恆爲妙法船,能截愛流超彼岸。」〔勝鬘經一乘章〕
; The flood of desire which overwhelms.
; Tham ái làm mê hoặc lòng người nên ví như dòng lũ dục vọng—The flood of desire which overwhelms.
; (愛流) Tức là phiền não tham ái. Tham ái hay khiến lòng người mờ tối chìm đắm, ví như dòng nước chảy xiết, nên gọi là ái lưu. Ái tức tham ái, có khả năng khiến các hữu tình phiền não trôi giạt trong bể khổ sống chết. Phiền não này là gốc của mọi phiền não, cho nên ái cũng là tên gọi chung của phiền não. Kinh Tâm Địa Quán quyển 1 (Đại 3, 295 thượng), nói: Thiện thệ thường là thuyền diệu pháp, hay dứt dòng ái sang bờ kia. [X. kinh Thắng Man Chương Nhất Thừa].
ái lạc
5462謂信愛欲樂。即信樂世間、出世間善法之意,屬無染污之愛。俱舍論卷四謂,愛乃愛樂,其體即是信。成唯識論卷六謂,信以愛樂爲相。淨土論謂愛樂佛法味者,即愛樂淨土之法味。
; Sự hoan lạc của tình yêu chân chánh, như tình yêu thiện mỹ hay tình yêu của vị Bồ Tát đối với chúng sanh—The joy of right love, i.e. the love of the good or that of a bodhisattva.
; (愛樂) Có nghĩa là tin yêu ưa muốn. Tức hàm ý tin ưa các pháp lành thế gian và xuất thế gian, thuộc tin yêu không nhiễm ô. Luận Câu Xá quyển 4 bảo, yêu là ưa thích, thể của nó tức là tin. Luận Thành Duy Thức quyển 6 bảo, tin lấy ưa thích làm tướng. Luận Tịnh Độ thì nói, người tin ưa pháp vị của Phật, tức là tin ưa pháp vị Tịnh Độ.
ái lạc kim cương nữ
5462梵名 Rāga-vajriṇī。爲金剛界曼荼羅理趣會十七尊之一。又稱愛金剛女。乃愛金剛之妻。位於金剛薩埵左邊月輪中。其形像爲身呈金色,手持箜篌。據理趣釋要略祕決集卷三載,此菩薩以大悲滿足之天眼,徹見無餘眾生界皆具足自性清淨之如來藏性,與諸佛菩薩境界無有分別,是故起勇猛之大貪大愛悲心而安樂利益一切眾生。〔金剛頂勝初瑜伽經中略出大樂金剛薩埵念誦儀、金剛頂勝初瑜伽普賢菩薩念誦法〕
; (愛樂金剛女) Phạm: Ràga-vajriịì. Là một trong mười bảy vị Tôn trong Kim Cương Giới Mạn Đồ La Lí Thú Hội. Cũng gọi là Ái kim cương nữ. Là vợ của Ái kim cương. Được đặt trong Nguyệt luân, bên trái Kim cương tát đỏa. Hình tượng màu vàng, tay cầm cây đàn. Cứ theo Lí Thú Thích Yếu Lược Bí Quyết Tập quyển 3 chép, thì Bồ Tát này dùng thiên nhãn tràn đầy đại bi, thấy suốt hết chúng sinh giới đều có đủ tự tính thanh tịnh của Như Lai tạng tính, không khác gì với cảnh giới của chư Phật Bồ Tát, bởi thế, khởi lòng thương đại tham đại ái mạnh mẽ để an úy và làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh. [X. Kim Cương Đính Thắng Sơ Du Già Kinh Trung Lược Xuất Đại Lạc Kim Cương Tát Đỏa Niệm Tụng Nghi; Kim Cương Đính Thắng Sơ Du Già Phổ Hiền Bồ Tát Niệm Tụng Pháp].
ái lạc phật
Xem Lư Chí Phật.
ái mộ
Attachment.
ái nghiệp
The karma which follows desire.
; Nghiệp đi liền sau dục vọng—The karma which follows desire.
ái ngại
Worried—Uneasy.
ái ngập đôi đầu kiến trượng lục kim thân
6414禪林用語。壒,即塵埃;圾,即聚集塵埃之處所;堆頭,形容高高堆起;丈六金身,指佛身。意謂在塵埃堆中見及佛,表示佛與眾生之絕對平等性,滅絕佛與眾生、清淨與染污等二元之相對觀。碧巖錄第三十九則(大四八‧一七七中):「僧問雲門:『如何是清淨法身?』(壒圾堆頭見丈六金身,斑斑駁駁是什麽)門云:『花藥欄』」
; (壒圾堆頭見丈六金身) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ái, là bụi bặm; ngập, là nơi bụi bặm tích tụ; đôi đầu, hình dung một đống (bụi) nổi cao; trượng lục kim thân, nghĩa là mình vàng cao một trượng sáu thước (chỉ cho thân đức Phật). Ý nói: ở trong đống bụi bặm thấy được Phật, là biểu thị tính bình đẳng tuyệt đối của Phật và chúng sinh, xóa hết cái nhìn có tính nhị nguyên đối đãi: Phật và chúng sinh, trong sạch và nhơ nhớp. Bích Nham Lục Tắc 39 (Đại 48, 177 trang) nói: Có vị tăng hỏi Vân Môn: Thế nào là pháp thân thanh tịnh? (Ái ngập đôi đầu kiến trượng lục kim thân, ban ban bác bác thị thập mạ? = Trong đống bụi bặm thấy mình vàng trượng sáu loang lổ lốm đốm là cái gì?). Vân Môn nói: Lan can bằng cây hoa thược dược.
ái ngục
The prison of desire.
; Ngục tù dục vọng—The prison of desire.
ái ngữ
Loving speech; the words of love of a bodhisattva.
; Loving speech—Lời nói yêu thương của một vị Bồ Tát, một trong tứ nhiếp pháp—The words of love of a bodhisattva, one of the four elements of popularity, or ways of leading human beings to emancipation. **For more information, please see Tứ Nhiếp Pháp.
Ái ngữ nhiếp
xem Bốn pháp thâu nhiếp.
Ái ngữ 愛語
[ja] アイゴ aigo ||| Kind words; loving words (Skt. priya-ākhyāna; Tib. sñan par smra ba). One of four methods that bodhisattvas employ to approach and save people 四攝法. - => Lời nói từ hoà, lời nói yêu thương (s: priya-ākhyāna; Tib. sñan par smra ba). Là một trong bốn phương pháp mà hàng Bồ-tát áp dụng để thân cận và cứu độ chúng sinh (Một trong Tứ nhiếp pháp四攝法).
ái nhiễm
5459由於對各種事物之貪愛而引起執著染污之心,稱爲愛染。與「愛欲」同義。爲煩惱之異名。所謂「染」,是對世間諸種事物執著之心之總稱。大智度論卷一(大二五‧六三下):「自法愛染故,毀訾他人法。」
; The taint of desire.
; Luyến ái nhiễm trược hay tình cảm tham ái phàm tục như tình yêu vợ chồng, con cái, thầy bạn, vân vân—Defiling attachment—Defiling ordinary love (like that toward wife and children, teachers and elders)—The taint of desire.
; (愛染) Do tham đắm đối với mọi sự vật rồi sinh tâm ô nhiễm chấp trước, gọi là ái nhiễm. Đồng nghĩa với dục ái. Là tên gọi khác của phiền não. Cái gọi là nhiễm (nhơ nhuốm) là gọi chung cái tâm bám chặt mọi sự vật trong thế gian. Luận Đại Trí Độ quyển 1 (Đại 25, 63 hạ), nói: Vì pháp mình là ái nhiễm, hủy hại pháp người khác.
ái nhiễm minh vương
5460梵名 Rāgarāja。音譯爲羅誐羅闍。略稱愛染王。密教諸尊中,住於大愛欲與大貪染三昧之明王。此尊爲金剛薩埵,或金剛愛、金剛王等菩薩所變現。彼等菩薩爲憐愍眾生,故酬償往昔之悲願而入加持門。其本尊(本身、本地)爲大日如來或金剛薩埵。外現憤怒暴惡狀,內證則以愛敬而令眾生得解脫。有三目六臂,手持多種兵器。此外,此尊之形像,多爲一身兩面,一面爲男,一面爲女,係表勇猛兼柔和之意;即內祕自覺本不生之月殿,外現愛染明王之日輪;不外是顯一佛分身之具體與和光利物之方便。通常爲求消災、祈福,乃修愛染明王法。〔瑜祇經卷上愛染王品、金剛王菩薩祕密念誦儀軌〕(參閱「愛染明王法」5460)
; Rāgarāja (S).
; Thần tình yêu, một trong những Minh Vương, có vẻ mặt giận dữ với ba đầu sáu tay—God of Love—One of the Ragas, who has angry appearance, three faces and six arms. ** For more information, please see Đại Nhiễm Pháp.
; (愛染明王) Phạm: Ràgaràja. Dịch âm là La nga la xà. Nói tắt là Ái Nhiễm Vương. Trong các vị tôn của Mật giáo, minh vương này ở trong Tam muội đại ái dục, đại tham nhiễm. Vị tôn này là do các bồ tát Kim cương tát đỏa, hoặc Kim cương ái, Kim cương vương biến hiện. Các Bồ tát ấy, vì thương xót chúng sinh, đáp lại bi nguyện của các kiếp trước mà vào môn gia trì. Bản tôn (bản thân, bản địa) của các Ngài là Đại Nhật Như Lai hoặc là Kim cương tát đỏa. Bề ngoài hiện dáng phẫn nộ bạo ác, nhưng phần nội chứng thì lấy sự yêu kính khiến chúng sinh được giải thoát. Ngài có ba mắt, sáu cánh tay, tay cầm nhiều loại binh khí. Ngoài ra, hình tượng của vị tôn này, phần nhiều là một thân hai mặt, một mặt là nam, mặt kia là nữ, là biểu thị cái ý vừa mạnh bạo vừa nhu hòa; tức bên trong giấu kín cung trăng của tự giác bản bất sinh, bề ngoài thì hiện rõ vòng mặt trời của Ái Nhiễm Minh Vương, không ngoài sự biểu hiện cụ thể một Phật nhiều thân và cái phương tiện hòa ánh sáng vào bụi trần để lợi vật. Thông thường, cầu tiêu tai, cầu phúc thì tu pháp Ái Nhiễm Minh Vương. [X. kinh Du Kì Q.thượng phẩm Ái Nhiễm Vương; Kim Cương Bồ Tát Bí Mật Niệm Tụng Nghi Quĩ]. (xt. Ái Nhiễm Minh Vương Pháp).
ái nhiễm minh vương pháp
5460以愛染明王爲本尊之密教修法。略稱愛染王法或愛染法。此一修法,有「三十七尊立」與「十七尊立」二種,後者係依金剛王菩薩念誦儀軌而修,前者則依瑜祇經而修。此法以敬愛爲本,故爲求息災、祈福時之修法。修此法時,於赤色壇上安置赤色本尊,行者之衣服、爐、壇等亦宜以赤色爲主,一本敬愛,與之相應。並結根本染印,唱「唵(oṃ)摩賀囉誐(mahārāga,大愛染)嚩日路瑟抳灑(vajroṣṇīṣa,金剛頂)嚩日羅薩埵嚩(vajrasattva,金剛有情)弱(jaḥ,鉤召)吽(hūṃ,引入)鍐(ban,縛住)穀(hoḥ,歡喜)」之大咒,結外五鈷印,復唱一字心之「吽(hhūṃ)擿(ṭa)枳(ki)吽(hūṃ)弱(jjaḥ)」(意即:因業不可得、憍慢不可得、作業不可得、了義不可得、遷變不可得);然於五種相應印明中,可隨其法更易之。〔瑜祇經卷上愛染王品、薄草子口決卷十五愛染王法(賴瑜)、要尊道場觀卷上、別行卷四、諸尊要抄卷五〕
; (愛染明王法) Là phép tu trong Mật giáo lấy Ái Nhiễm Minh Vương làm tôn vị chính. Nói tắt là Ái Nhiễm Vương Pháp hoặc Ái Nhiễm Pháp. Phép tu này có hai loại: Lập ba mươi bảy vị tôn và Lập mười bảy vị tôn, loại sau là y vào Kim Cương Vương Bồ Tát Niệm Tụng Nghi Quĩ mà tu, còn loại trứơc thì y vào kinh Du Kì mà tu. Pháp này lấy kính yêu làm gốc, vì thế là phép tu khi cầu phúc, cầu tiêu tai. Khi tu pháp này, bày tôn vị chính màu đỏ trên đàn màu đỏ, y phục của hành giả, lư hương, đàn, tất cả đều nên dùng màu đỏ làm chính, tương ứng với lòng kính ái. Đồng thời, kết căn bản nhiễm ấn và đọc chú. Án (om) ma ha la nga (mahàràga, đại ái nhiễm) phạ nhật lộ sắt ni sái (vajrowịìwa, kim cương đính) phạ nhật la tát đỏa phạ (vajrasattva, kim cương hữu tình), nhược (ja#, cái móc) hồng (hùô, dẫn vào) tông (ban, buộc, trói) cốc (ho#, vui mừng), kết ngoại ngũ cổ ấn, lại đọc nhất tự tâm hồng (hhùô) trích (ỉa) chỉ (ki) hồng (hùô) nhược (jja#) (Ý là nghiệp nhân không thể được, kiêu mạn không thể được, tác nghiệp không thể được, liễu nghĩa không thể được, thiên biến không thể được). Nhưng, trong năm loại tương ứng ấn minh, có thể tùy theo pháp mà thay đổi. [X. kinh Du Kì Q.thượng phẩm Ái Nhiễm Vương; Bạc Thảo Tử Khẩu Quyết Q.15 Ái Nhiễm Vương Pháp (Lại du); Yếu Tôn Đạo Tràng Q.thượng; Biệt Hành Q.4; Chư Tôn Yếu Sao Q.5].
ái nhiễm mạn đồ la
5460即以愛染明王爲本尊之曼荼羅。又稱愛染王曼荼羅。其種類不一,有十七尊所成者,有三十七尊所成者。十七尊所成之曼荼羅,即於本尊之前、右、後、左安置意生(慾)、計里枳囉(觸)、愛樂(愛)、意氣(慢)等四金剛,西北角等四隅安置意生等四金剛女,東南西北等四門安置色(鉤)、聲(索)、香(鏁)、味(鈴)等四菩薩,外院之西北角等四隅安置時春(香)、時雨(華)、時秋(燈)、時冬(塗)等四菩薩,總共十七尊。諸尊要抄卷五即載有此圖。此外,瑜祇經卷上愛染王品,謂有直接以大日如來眷屬之三十七尊爲愛染明王眷屬之曼荼羅者。〔金剛王菩薩祕密念誦儀軌、別行卷四、溪嵐拾葉集卷二十一〕
; (愛染曼荼羅) Tức Mạn Đồ La lấy Ái Nhiễm Minh Vương làm tôn vị chính. Cũng gọi là Ái Nhiễm Vương Mạn Đồ La. Chủng loại không giống nhau: có loại mười bảy vị tôn tạo thành, có loại ba mươi bảy vị tôn cấu thành. Mạn Đồ La mười bảy vị tôn tạo thành thì ở phía trước, phía phải, phía sau, phía trái của tôn vị chính, bày bốn Kim cương là: Ý sinh ( góc tây bắc viện ngoài, bày bốn Bồ tát Thời xuân (hương), Thời vũ (hoa), Thời thu (đèn) và Thời đông (hương bột), tổng cộng mười bảy vị tôn. Chư tôn yếu sao quyển 5 có chép bức vẽ này. Ngoài ra, kinh Du Kì quyển thượng phẩm Ái Nhiễm Vương, cho biết có Mạn Đồ La trực tiếp lấy ba mươi bảy vị tôn quyến thuộc của Đại Nhật Như Lai làm quyến thuộc của Ái Nhiễm Minh Vương. [X. Kim Cương Vương Bồ Tát Bí Mật Niệm Tụng Nghi Quĩ; Biệt Hành Q.4; Khê Lam Thập Diệp Tập Q.21].
ái nhiễm vương
Taki (S)Tra chỉ vương.
; See Ái Nhiễm Minh Vương.
Ái nhiễm 愛染
[ja]アイゼン aizen ||| To be caught by desire/attachment (āmiṣa, saṃrakta; Tib. kun tu chags pa, zang zing dang bcas pa). - => Bị lôi cuốn vào sự tham muốn, chấp giữ. -
ái nhuận
The fertilizing of desire; i.e. when dying the illusion of attachment fertilizes the seed of future karma, producing the fruit of further suffering.
; Phân bón dục vọng. Khi chết những ảo ảnh của luyến ái sẽ tưới tẩm nghiệp vị lai và làm trổ thêm quả khổ—The fertilizing of desire—When dying the illusion of attachment fertilizes the seed of future karma, producing the fruit of further suffering.
ái nhuễ.
Love and hate, desire and hate.
ái nhãn
The eye of love, that of Buddha.
; Con mắt yêu thương của Phật—The eye of love (of Buddha).
ái nhạo
(愛樂) Hàm ý là tin ưa các pháp lành thế gian và xuất thế gian. Thuộc về sự ưa thích không nhiễm ô. Luận Câu Xá quyển 4 nói, ái là ưa thích (ái nhạo), thể của nó là tin. Luận Tịnh Độ cũng nói: người ưa thích mùi vị Phật pháp tức là ưa thích pháp vị Tịnh Độ.
ái nữ
Daughter.
ái phi
Favorite queen.
Ái phi ái 愛非愛
[ja] アイヒアイ ai hiai ||| Likes and dislikes; the agreeable and the disagreeable (s: iṣṭa-aniṣṭa). 〔瑜伽論 T 1579.30.324a22〕 - => Thương và ghét, dễ chịu và gay gắt.
ái phàm tục
Ordinary love.
ái pháp
Love for Buddha-truth; the method of love.
; Tình yêu chân lý là tình yêu chân chánh—Love for Buddha-truth; the method of love.
ái pháp lạc pháp hỉ pháp chi tâm
5459即愛法之心、樂法之心、喜法之心。爲讚歎淨土菩薩功德之語,出自大無量壽經卷下。淨影大無量壽經義疏謂,始求法時心喜,稱爲喜法;中間聞法時,味如甘露,心生愛樂,稱樂法;終而得法時,心生愛著,稱愛法。璟興之無量壽經述文贊中,就聞思修三慧而言,謂聞慧愛樂,故稱愛法;思慧味著,故稱樂法;修慧潤神,故稱喜法。
; (愛法樂法喜法之心) Tức là tâm yêu pháp, tâm ưa pháp, tâm vui pháp. Là lời tán thán công đức các Bồ Tát Tịnh Độ, có xuất xứ từ kinh Đại Vô Lượng Thọ quyển hạ. Trong Đại Vô Lượng Thọ kinh nghĩa sớ, ngài Tịnh Ảnh nói, khi bắt đầu cầu pháp thì tâm mừng, gọi là hỉ pháp, lúc đang nghe pháp cảm thấy mùi vị như cam lộ, tâm sinh ưa thích, gọi là lạc pháp, cuối cùng khi được pháp, tâm sinh yêu đắm, gọi là ái pháp. Trong Vô Lượng Thọ Kinh Thuật Văn Tán, ngài Cảnh Hưng đứng về phương diện ba tuệ văn, tư, tu mà bảo rằng, ưa thích văn tuệ, gọi là ái pháp; đắm mùi tư tuệ, gọi là lạc pháp; nhuần thấm tu tuệ, gọi là hỉ pháp.
ái quyến
5463愛,指貪愛、恩愛、愛慾等;羂,指羂網、繫縛。又作愛繫。謂愚癡之人,罹於貪愛之羂網,猶如受繫縛而不得自在。正法念處經卷七(大一七‧四一上):「己爲愛羂誑,作惡不善業。」此外,愛慾爲煩惱之根本,由之能生起其他煩惱,故稱爲愛根;愛惜執著於恩愛之情而難以捨離者,稱爲愛執。又恩愛能妨害修道,有如毒藥,故稱愛毒。
; (愛罥) Ái, chỉ tham ái, ân ái, ái dục. Quyên, chỉ tấm lưới, sự trói buộc. Còn gọi là Ái hệ. Nghĩa là kẻ ngu si mắc vào lưới tham ái cũng như bị trói buộc, không được tự tại. Kinh Chính Pháp Niệm Xứ quyển 7 (Đại 17, 41 thượng), nói: Đã bị lưới ái lừa gạt, làm tất cả nghiệp bất thiện. Ngoài ra, ái dục là phiền não căn bản, do đó mà phát sinh các phiền não khác, vì thế gọi là ái căn; mến tiếc bám chặt tình ân ái mà khó lìa bỏ được, gọi là ái chấp. Lại ân ái hay làm hại việc tu đạo, nó như thuốc độc, cho nên gọi là ái độc.
ái quả
The fruit of desire and attachment, i.e. suffering.
; Hậu quả hay kết quả của dục vọng và luyến ái—Fruit of desire and attachment (suffering).
ái quỉ
The demon of desire.
ái quốc
Patriotic.
ái quỷ
Quỷ dục vọng—The demon of desire.
ái tha
Altruistic.
ái tha chủ nghĩa
Altruism.
ái thiếp
Concubine.
ái thân thiên
Vị Trời Ái Thân ở cõi Dục giới có hình thức tuyệt diệu—The heaven of lovely form in the desire realm which is above the devalokas (thiện hiện).
ái thích
The thorn of love; the suffering of attachment which pierces like a thorn.
; Nổi khổ đau của luyến ái đau thấu như gai đâm—The thorn of love; the suffering of attachment which pierces like a thorn.
ái thần
5461梵名 Kāma。司愛之神。由梨俱吠陀中之迦摩(梵 kāma,愛欲)一詞演化成之神名。據蒂提利耶梵書記載,爲達摩(梵 Dharma)與舍羅陀(梵 Śradhā)之子。又「訶利世系」則記爲吉祥天女之子;亦有梵天之子之說。其形像,手持花矢及砂糖黍弓,背負箙,騎鸚鵡,類似西洋神話所描寫之丘比特。於梨俱吠陀時代,以「宇宙創造之原動力」爲人所歌頌,故出現創造讚歌,其次則轉變爲對性愛、生殖力之哲學原理之思索。至敘事詩出現後,通俗化之愛神成爲印度古典文學最受大眾矚目歌頌之對象,並因而豐富了具有神祕性且注重官能描繪之印度文藝。有關愛神之異稱及其附會之傳說很多。
; Kāmadeva (S)Thần tình yêu.
; (愛神) Phạm: Kàma. Thần coi việc tình ái. Do từ Cama (kàma, ái dục) trong Lê Câu Phệ Đà mà diễn hóa thành tên thần. Cứ theo Đế Đề Lị Gia Phạm Thư chép, thì Ái thần là con của Đạt Ma (Phạm: Dharma) và Xá La Đà (Phạm:Zradhà). Còn Ha Lị Thế Hệ thì ghi là con của Cát Tường Thiên Nữ; cũng có thuyết cho là con của Phạm Thiên. Hình tượng thần này, tay cầm tên làm bằng hoa và cung làm bằng cây lúa, lưng đeo ống đựng cung tên, cưỡi chim anh vũ, được miêu tả giống như Khâu Tỉ đặc trong thần thoại Tây phương. Vào thời đại Lê Câu Phệ Đà, nguyên động lực sáng tạo vũ trụ được người ta ca tụng, do đó đã xuất hiện những bài ca tán, sau đó thì chuyển thành sự suy tư về nguyên lí triết học tính ái và sức sinh sản. Đến sau thời Tự Sự Thi xuất hiện, Ái thần được thông tục hóa mà trở thành đối tượng trong văn học cổ điển Ấn Độ được đại chúng tôn sùng và ca tụng hết mức, đồng thời, văn nghệ Ấn Độ nhân đó mà phong phú, có tính cách thần bí và chú trọng việc miêu tả các quan năng. Có rất nhiều truyền thuyết về tên gọi khác và các truyện phụ về ái thần.
ái thần nữ.
Kàma (S). Goddess of sensuous desire.
Ái thủ 愛取
[ja] アイシュ aishu ||| Grasping; love and attachment.〔瑜伽論T 1579.30.612b07. "當知有支即此所攝復次十二支中二業所攝 謂行及有三煩惱攝 謂無明愛取。當知所餘皆事所攝。"〕 - => Đắm chấp. Yêu thích và chấp giữ. “Đương tri hữu chi tức thử sở nhiếp, phục thứ thập nhị chi trung nhị nghiệp sở nhiếp vị hành cập hữu tam phiền não nhiếp vị vô minh ái thủ. Đương tri sở dư giai sự sở nhiếp”. "當知有支即此所攝復次十二支中二業所攝 謂行及有三煩惱攝 謂無明愛取。當知所餘皆事所攝". (Du-già sư địa luận 瑜伽論).
ái thủy
Dục vọng bón phân cho quả dữ—The passion of desire which fertilizes evil fruit.
ái thủy.
The semen; also the passion of desire which fertilizes evil fruit.
ái tiếc
Luyến tiếc không rời bỏ—Love and care for; to be unwilling to give up; sparing.
ái trí học viện
Aichi-gakku-en (J).
ái trước
Nổi bật, vẻ vang (thanh danh). Tiết Sở Thạch Hoà thượng hành trạng trong PKNL q. 20 ghi: »是 時 梵 琦)文 采 炳 蔚、 聲 光 藹 著、兩 浙 名 山 宿 德 爭 欲 招 致 座 下。– [i]Khi ấy (Phạm Kì) phong thái sáng rực, tiếng tăm vẻ vang, những bậc thiền đức của các danh sơn ở vùng Lưỡng Chiết tranh nhau muốn thu nhận sư về dưới toà mình.[/i]«
; 5462梵語 rāga,巴利語同。愛,恩愛、親愛;著,執著、染著。執著於恩愛之境而難以分離之情。屬於三毒中貪欲之煩惱。大寶積經卷九十七即有(大一一‧五四六上)「如蠅見於吐,而生愛著心」之語。〔六十華嚴經卷二十五〕
; The strong attachment of love; the bondage of desire.
; Attachment of love. (I) Nghĩa của “Ái Trước”—The meaning of “Ái Trước”—Sự chấp trước hay trói buộc mạnh mẽ vào ái dục. Từ sự ái trước nầy lại nẩy sanh ra “từ bi” là nền tảng của tình thương trong Phật giáo—The strong attachment of love; the bondage of desire. From this bond of love also arises pity, which is fundamental to Buddhism. (II) Lời Phật dạy về “Ái Trước” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Attachment of love” in the Dharmapada Sutra: 1) Như nước lũ cuống phăng những xóm làng say ngủ giữa đêm trường, tử thần sẽ lôi phăng đi những người mê muội sinh tâm ái trước những bông hoa mình vừa góp nhặt được—Death carries off a man who gathers flowers of sensual pleasures, whose mind is distracted, as a great flood sweeps away a sleeping village (Dharmapada 47). 2) Cứ sanh tâm ái trước và tham luyến mãi không chán những bông hoa mà mình vừa góp nhặt được, đó chính là cơ hội tốt cho tử thần lôi đi—The destroyer brings under his way the man who gathers flowers of sensual pleasures, whose mind distracted, and who is insatiate in his desires (Dharmapada 48).
; (愛著) Phạm, Pāli: Ràga. Ái, tức ân ái, thân ái; trước, tức dính chặt, dính nhuốm. Tình dính mắc cảnh ân ái mà khó chia lìa được. Trong ba độc, nó là phiền não tham dục. Trong kinh Đại Bảo Tích quyển 917, có câu (Đại 11, 546 thượng): Như con ruồi, thấy đồ nôn ọe ra thì sinh tâm ái trước. [X. kinh Hoa Nghiêm (60 quyển) Q.25].
ái trước mê
Mê mờ luyến ái vào sự đổi thay và hoại diệt gọi là “ái trước mê” (tất cả mọi thứ đều do ngũ uẩn hòa hợp mà thành, không hiểu như vậy mà lại cho rằng mọi thứ là vĩnh hằng không thay đổi là ái trước mê)—The delusion of love for and attachment to the transient and perishing.
ái trước sinh tử
Bị trói buộc vào sanh tử là ái trước sinh tử, tận diệt sự ái trước nầy là cần thiết cho cuộc tu giải thoát—Bondage to rebirth and mortality by love of life, and to be rid of this love is essential to deliverance.
ái tâm
A loving heart; a mind full of desire; a mind dominated by desire.
; Tâm đầy dục vọng, hay tâm bị dục vọng thống trị—A mind full of desire; a mind dominated by desire; a loving heart.
Ái tâm 愛心
[ja] アイシン aishin ||| The mind of desire and attachment. - => Tâm tham muốn và chấp trước. -
ái tình
Love—Passion.
ái tích
Love and care for; to be unwilling to give up; sparing.
Ái tích 愛惜
[ja] アイシャク、アイセキ aishaku, aiseki ||| (1) Sorrow of parting; to be reluctant to separate. (2) Jealousy, envy. - => 1. Tiếc vì phải xa lìa; bất đắc dĩ phải tách rời. - 2. Tính đố kỵ, lòng ghen tức.
ái tắng
Love and hate, desire and dislike.
ái võng
The noose, or net of desire.
ái ân
To love.
ái đình
6933(1893~1947)江蘇泰縣人,俗姓吳。幼失雙親,依兄嫂而居。因感世事無常,遂依宏開寺文心、智光二師出家。受具足戒後,即入泰州儒釋道初級小學。民國三年(1914),入上海華嚴大學。十七年,於鎮江創辦「竹林佛學院」,專弘華嚴、毘尼,禪教雙修,人才輩出。二十一年,應張蓮覺居士之請,擘畫「東蓮覺苑」,並於苑內設圖書館,流通佛經,發行「人海燈」雜誌。其後於九龍、澳門創辦義學,開港澳佛教教育之風氣。曾東遊日本,搜集華嚴注疏多種。民國三十六年示寂,世壽五十五。有華嚴教義章集解一冊、棲雲文集等著作行世。
ái độc
The poison of desire, or love, which harms devotion to Buddha.
; Độc dục hay ái độc làm tổn hại cho việc tu hành Phật pháp—The poison of desire or love which harms devotion to Buddhist practices.
Ái 愛
[ja] アイ ai ||| (1) To desire, yearn for, crave (Skt. kānti, Pali chanda). Craving, desire (貪欲, 渇愛) (Skt. tṛṣṇā; Pali taṇhā; Tib. shen pa). (2) Attachment, grasping 執着 (anurodha, anunaya). (3) Activity that is based on blind craving or deluded attachment--therefore, affliction 煩惱. (4) The eighth of the twelve limbs of conditioned arising 十二因縁. (5) Attachment to one's own possessions. (6) Conditioned 有爲. (7) Compassion. (8) To love (someone) in the standard usage of the term. - =>1. Yêu thích, thao khát, thèm muốn (Skt. kānti, Pali chanda). Tham dục, khát ái (貪欲, 渇愛; S: tṛṣṇā; P:taṇhā; Tib: shen pa). - 2. Đắm trước, chấp trước (執着 s: anurodha, anunaya). - 3. Hành động xuất phát từ tham lam mù quáng hay chấp trước si mê–do vậy phát sinh phiền não. - 4. Yếu tố thứ 8 trong Thập nhị nhân duyên. - 5. Đắm trước vào vật riêng của mình. - 6. Hữu vi (有爲e: conditioned ). - 7. Tình thương. - 8. Yêu (ai), theo cách dùng cụ thể của thuật ngữ.
ám
6526悉曇字???(aṃ)。又作菴、暗、唵、脲。悉曇十二韻之一,五十字門之一。為「阿字五轉」中之第三轉,即於???(a,阿)字之上方加菩提空點(‧)。於五轉配五佛中,相當於西方無量壽如來之三摩地,此乃依「東因發心」之義。方廣大莊嚴經卷四(大三‧五六○上):「唱唵字時,出一切物皆無我、我所聲。」即梵本中 amogha-utpatti 一語。瑜伽金剛頂經釋字母品中以此字即邊際之義。〔北本涅槃經卷八、文殊師利問經卷上字母品、大日經疏卷十三、卷十四、卷二十〕(參閱「東因發心」3295)
; Andhakara (S), Darkness U tối, một trong 12 loại hiển sắc mắt thường có thể thấy được.
; 1) Ám muội: Dark—Obscure—Gloom—Dim—Dull—Hidden—Secret. 2) Bị quỷ ám: To possess—To obsess—To be haunted—To be obsessed by the devil. 3) U ám—To darken—To blacken—Overcast.
; (闇) Chữ (aô) Tất đàm. Một trong 12 nguyên âm của mẫu tự Tất đàm, một trong 50 chữ cái. Là chữ A chuyển biến lần thứ ba trong năm lần chuyển biến, tức là thêm cái chấm (.) bồ đề ở phía trên chữ (a). Trong năm lần chuyển biến phối với năm vị Phật, thì chữ Ám tương đương với Tam ma địa của Vô Lượng Thọ Như Lai ở phương tây, đây là theo nghĩa Đông nhân phát tâm. Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 4 (Đại 3, 560 thượng) nói: Khi xướng chữ Ám thì phát ra tiếng tất cả vật đều không có cái ta và của ta. Tức là từ ngữ amogha-utpatti trong bản tiếng Phạm. Phẩm Thích Tự Mẫu trong kinh Du Già Kim Cương đính quyển thượng cho chữ này là nghĩa biên tế (ngằn mé). [X. kinh Niết Bàn (bản Bắc) Q.8; kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn Q.thượng phẩm Tự Mẫu; Đại Nhật Kinh Sớ Q.13, Q.14, Q.20]. (xt. Đông Nhân Phát Tâm).
ám chướng
6528即指無明之障礙。大集經卷十一(大一三‧六八下):「一切法中,悉有闇障,壞闇障故,即是菩提。」〔八十華嚴經卷十五〕
; Chướng ngại của sự ngu độn (chỉ tụng mà không biết nghĩa, hay chỉ tọa thiền mà không biết tọa thiền để làm gì)—The hindrance of ignorance.
; (闇障) Sự tối tăm, mờ mịt ngăn che các pháp. Kinh Đại Tập quyển 11 (Đại 13, 68 hạ), nói: Trong tất cả các pháp đều có ám chướng; diệt trừ ám chướng là bồ đề. [X. kinh Hoa Nghiêm (80 quyển) Q.15].
ám chỉ
To implicit—To hint—To refer to—To imply.
ám chứng
Chỉ chuyên vào công phu tọa thiền, mà không thông hiểu nghĩa lý của kinh điển—An ignorant preceptor, only meditation without undestanding the meanings of sutras.
ám chứng thiền sư
Còn gọi: Manh thiền giả, Ám thiền Tì kheo. Là lời chế giễu thiền giả của các tông phái ngoài Thiền tông như Giáo môn chẳng hạn, nhất là chỉ các vị thiền sinh ưa chấp trước thiền định, không nghiên cứu giáo pháp, hiểu biết lờ mờ, lại kiêu mạn tự cho mình là đúng.
; 5473又作盲禪者、暗禪比丘。係教家等禪宗以外之宗派者嘲諷禪家之語,尤指只執著於修禪定而不研究教法,闇於智解而又憍慢自是之禪徒。禪家每以「文字法師」謔稱天台、法相、華嚴等教家之流,謂彼等拘泥於經論之文字言句,只見枝葉末節而不知解脫入悟;教家等則以「暗證禪師」或「暗證盲悟」等語反諷之。〔摩訶止觀卷五上〕
; Một vị thiền sư chỉ chuyên ngồi thiền theo kiểu đui tu mù luyện, chứ không thông hiểu nghĩa lý của đạo (cách dạy cũng khác hay lập dị với thiền tông)—A charlatan who teaches intuitional meditation differently from the methods of that school; an ignorant preceptor.
; (暗證禪師) Cũng gọi Manh thiền giả (Thiền sư mù mờ), Ám thiền tỉ khưu. Lời nhạo báng, giễu cợt Thiền gia của các tông phái Phật giáo không phải là Thiền tông, nhất là chỉ những người một mực chấp trước Thiền định, không chịu nghiên cứu giáo pháp; trí hiểu biết thì mù mờ, nhưng lại tự kiêu tự đại, ra vẻ ta đây là Thiền sư! Thiền gia thì thường châm biếm những nhà nghiên cứu giáo lí như Thiên Thai, Pháp Tướng, Hoa Nghiêm v.v... là Văn tự Pháp sư, ý nói họ chỉ câu nề lời nói văn chữ trong kinh luận, chỉ thấy một cách hời hợt nông cạn, chứ không biết đi sâu vào ngộ nhập giải thoát. Để đáp lại, các nhà nghiên cứu Giáo môn gọi mỉa những vị ám thiền là Ám chứng thiền sư hoặc Ám chứng manh ngộ (chứng ngộ một cách mù mờ). [X. Ma Ha Chỉ Quán Q.5 thượng].
ám dạ thiên
Xem Hắc Dạ thần.
ám hiệu
Secret signal.
ám hại
To harm secretly.
ám hắc đậu tập
4957凡九卷。清代心圓居士撰,火蓮居士於乾隆五十九年(1794)刊行。收於卍續藏第一四五冊。輯錄指月錄及諸家燈史所載宋代應菴曇華以下,至清代之茆溪行森,共收禪林緇素一四○人之本籍、略傳,於諸師機緣法語之後,一一附拈提評唱,以引導學人直入佛法之正道。
; (揞黑豆集) Sách, 9 quyển. Cư sĩ Tâm Viên soạn vào đời Thanh, cư sĩ Hỏa Liên ấn hành vào năm Càn Long 59 (1794) đời Thanh, thu vào Vạn tục tạng tập 145. Nội dung ghi chép quê quán và lược truyện của 140 vị tăng và cư sĩ trong Thiền Lâm từ ngài Ứng Am Đàm Hoa đời Tống trở xuống ghi trong Chỉ Nguyệt Lục và Chư Gia Đăng Sử, cho đến ngài Lữu Khê Hành Sâm .. đời Thanh. Sau phần cơ duyên pháp ngữ của các vị sư, đều có thêm Niêm Đề Bình Xướng (đưa ra các công án và giải thích ý nghĩa) để dẫn dắt người học vào thẳng con đường Phật pháp chân chính.
ám khứ minh lai
6526又作明來闇去。多用作表顯斷惑證理之譬喻。小乘謂先斷惑,而後證擇滅,恰如驅賊鎖門,故斷惑證理是前後二剎那,即闇去明來之次序。大乘則以生起真智,即斷惑種,猶如明生則闇滅,故非闇去明來,而為明來闇去,此乃大小二乘相異之處。成唯識論卷九(大三一‧五二中):「二真見道現在前時,彼二障種必不成就;猶明與闇定不俱坐,如秤兩頭低昂時等。」〔華嚴經探玄記卷十〕
; (暗去明來) Bóng tối đi, ánh sáng lại. Cũng gọi Minh Lai Ám Khứ. Thí dụ này thường được dùng để hiển bày sự dứt hoặc chứng lí. Tiểu thừa chủ trương trước phải dứt hoặc rồi sau mới chứng Trạch diệt, giống như đuổi cướp rồi mới khoá cửa. Bởi thế dứt hoặc chứng lí là hai sát na trước sau, là thứ tự bóng tối đi, ánh sáng lại. Nhưng Đại thừa thì chủ trương ngay khi chân trí phát sinh là hạt giống phiền não bị dứt trừ, hệt như ánh sáng sinh thì bóng tối diệt liền. Cho nên không phải bóng tối đi ánh sáng lại, mà là ánh sáng lại, bóng tối đi: đó là chỗ khác nhau giữa Đại thừa và Tiểu thừa. Luận Thành Duy Thức quyển 9 (Đại 31, 52 trung), nói: Khi hai Kiến đạo chân thực hiện ở trước, thì hai chướng kia ắt không thành tựu; như ánh sáng và bóng tối nhất định không có mặt cùng một lúc, cũng như hai đầu cân bên này cao thì bên kia thấp. [X. Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí Q.10].
ám lâm
6527梵名 Andha-vana,巴利名同。為古代中印度舍衛國祇園精舍附近之園林。又作安陀林、安和林、得眼林、開眼林、晝安園。據大唐西域記卷六載,林中有如來經行之迹,及諸聖習定之所,並述及此林稱為得眼林之緣由,謂佛世時,有五百盜匪為勝軍王捕獲,王命抉去彼等雙眼棄於深林。其時佛陀止於逝多精舍,聽聞群盜之哀鳴,生起慈心,令清風和暢,揚起雪山之藥,布滿彼等之眼,未久皆得復明。彼等至佛陀前,歡喜頂禮投杖而去,諸杖遂根植而成林。〔雜阿含經卷四十五、中阿含卷二「七日經」、十誦律卷六、大毘婆沙論卷八十二、高僧法顯傳〕
; Tamasavana (skt)—Khu rừng vô minh—A forest of ignorance.
; (闇林) Phạm, Pāli: Andha-vana. Khu rừng gần tinh xá Kì Viên ở nước Xá Vệ, trung Ấn Độ đời xưa. Cũng gọi An đà lâm, An hòa lâm, Đắc nhãn lâm, Khai nhãn lâm, Trú an viên. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 6 chép, thì trong rừng này có dấu chân của Đức Như Lai đi dạo, chỗ các bậc Thánh Tăng tu Thiền định và giải thích lí do tại sao khu rừng này được gọi là Đắc Nhãn Lâm (rừng được mắt). Chuyện kể: khi Đức Phật còn tại thế, có năm trăm tên cướp bị vua Thắng quân bắt, vua ra lệnh móc hai mắt rồi bỏ chúng vào rừng sâu. Bấy giờ, Đức Phật đang ở tịnh xá Thệ Đa, nghe tiếng kêu thương của bọn cướp, Ngài khởi từ tâm làm cho cơn gió mát dịu thoảng qua, đưa thuốc từ núi Tuyết đến phủ đầy mắt họ, chưa bao lâu bọn cướp đều được sáng mắt trở lại. Họ đến trước Phật vui mừng đính lễ, ném gậy rồi đi, những cây gậy ấy sau mọc thành rừng. [X. kinh Tạp A Hàm Q.45; Trung A Hàm Q.2 kinh Thất Nhật; luật Thập Tụng Q.6; luận Đại Tì Bà Sa Q.82; Cao Tăng Pháp Hiển truyện].
ám lệnh
Secret order.
ám ma la thức
Tiếng Hán dịch là vô cấu, tức là cái thức thanh tịnh vô cấu, cũng gọi là thức thứ chín.
ám muội
Fishy—Suspicious—Shady—Dark—Doubtful—Underhand—Distrustful.
ám mật lí đế quân đồ lợi minh vương
6528闇密里帝軍荼利,梵名 Amṛta kuṇḍalī。即軍荼利明王。為密教五大明王之一。又稱甘露軍荼利明王。意譯作甘露瓶明王。或稱吉里明王、大咲明王、甘露尊、軍荼利菩薩、軍荼利夜叉。所以有夜叉之稱,乃夜叉有暴惡之義,明王總為暴惡之忿怒相,故稱夜叉。 此尊於金剛界曼荼羅中,係寶生佛之教令輪身,現忿怒身,位於降三世會之西南隅。其形像為一面三目八臂,手持武器,背負火焰,以蛇身盤纏取代瓔珞。於胎藏界曼荼羅蘇悉地院中為金剛軍荼利,密號甘露金剛,係佛部之使者,形像為黃色,於胸前結印,坐於赤蓮花上。於觀音院中,為蓮華軍荼利,密號降伏金剛,係蓮花部之使者,形像為青色,左手持未開敷之蓮花,著天衣。在金剛手院中者亦為金剛軍荼利,密號甘露軍荼利,係金剛部之使者,形像為黃色,兩手作三股印,交腕抱於胸前。 古來即以 kuṇḍalī(軍荼利)之義為自寶瓶沃流甘露智水,洗滌煩惱,而將與我癡、我慢相應之第七識轉成平等性智,故於諸儀軌中多稱此尊為甘露軍荼利;又以軍荼利表示增益、敬愛。然 kuṇḍalī 實為捲曲之義,上記之寶瓶等說,乃後人附會而成者。又據考證,軍荼利源於鑠乞底(梵 śakti,性力)崇拜。〔陀羅尼集經卷八、蘇悉地羯囉經卷上、甘露軍荼利菩薩供養念誦成就儀軌〕
; (暗密裏帝軍荼利明王) Ám Mật Lí Đế Quân Đồ Lợi, Phạm: Amfta kuịđalì. Tức là Minh Vương Quân Đồ Lợi. Một trong năm vị Minh Vương lớn của Mật giáo. Cũng gọi Cam Lộ Quân Đồ Lợi Minh Vương. Dịch ý: Minh Vương Bình Cam Lộ. Hoặc gọi Cát lí minh vương, Đại tiếu minh vương, Cam lộ tôn, Quân đồ lợi bồ tát, Quân đồ lợi dạ xoa. Dạ xoa có nghĩa là bạo ác, mà tất cả tướng phẫn nộ của vị Minh vương này đều hiện vẻ bạo ác, vì thế gọi Ngài là Dạ Xoa. Trong Mạn Đồ La Kim Cương Giới, vị tôn này là Giáo lệnh luân thân của Phật Bảo sinh, hiện thân phẫn nộ, ngồi ở góc tây nam của hội Hàng tam thế. Hình tượng của vị tôn này là một mặt ba mắt tám tay, tay cầm vũ khí, sau lưng những ngọn lửa bốc lên ngùn ngụt, dùng rắn quấn quanh mình thay cho chuỗi anh lạc. Trong viện Tô Tất Địa của Mạn Đồ La Thai Tạng Giới, vị tôn này là Kim Cương Quân Đồ Lợi, mật hiệu: Cam Lộ Kim Cương, là sứ giả của Phật bộ, hình tượng mầu vàng, bắt ấn để ở trước ngực, ngồi trên hoa sen đỏ. Trong viện Quan âm, Ngài là Liên Hoa Quân Đồ Lợi, mật hiệu: Hàng phục kim cương, là sứ giả của Liên Hoa Bộ, hình tượng mầu xanh, tay trái cầm hoa sen cúp, mặc áo trời. Trong viện Kim cương thủ, Ngài cũng là Kim Cương Quân Đồ Lợi, mật hiệu: Cam Lộ Quân Đồ Lợi, là sứ giả của Kim Cương Bộ. Hình tượng mầu vàng, hai tay bắt ấn ba chẽ, hai cỗ tay sắp lại để ở trước ngực. Xưa nay thường cho nghĩa kuịđalì (quân đồ lợi) là nước trí cam lộ từ bình quí báu rót ra, rửa sạch phiền não và chuyển thức thứ bảy tương ứng với ngã si, ngã mạn thành trí tính bình đẳng; cho nên trong các nghi quĩ phần nhiều gọi vị tôn này là Cam Lộ Quân Đồ Lợi. Lại cho quân đồ lợi là biểu thị tăng ích, kinh ái. Nhưng, thực ra kuịđalì có nghĩa là quấn quanh, còn các nghĩa như bình quí báu nói ở trên chỉ là do người đời sau thêm thắt mà thôi. Lại nữa, cứ theo khảo chứng, quân đồ lợi bắt nguồn từ sự sùng bái Thước Khất Để (Phạm: zakti, tính lực). [X. kinh Đà La Ni Tập Q.8; kinh Tô Tất Địa Yết La Q.thượng; Cam Lộ Quân Đồ Lợi Bồ Tát Cúng Dường Niệm Tụng Thành Tựu Nghi Quĩ].
ám mật lý đế quân đồ lợi
Amrtakundali (skt)—Bình đựng nước Cam Lồ—The vase of ambrosia.
ám nghĩa
Ambiguity.
ám nghệ tập
6529凡十八卷。著作及印行年代不詳。集錄日本文安、寶德、文明等年代,論議天台教義之作。分為六篇,計佛部、五時部、教相部、菩薩部、二乘部、雜部等,每部各為三卷。
; (暗囈集) Tác phẩm, 18 quyển, được soạn và ấn hành năm nào không rõ. Sách này thu chép những niên đại Văn an, Bảo đức, Văn minh v.v... của Nhật Bản và bàn luận về giáo nghĩa tông Thiên Thai. Nội dung chia làm sáu thiên: Kế Phật bộ, Ngũ thời bộ, Giáo tướng bộ, Bồ tát bộ, Nhị thừa bộ và Tạp bộ. Mỗi bộ 3 quyển.
ám sát
Assassinate.
ám thiền
5472謂昧於教理之禪。又作暗證禪、盲禪。嘲諷禪僧唯耽於觀道,不知教相文理之語。
; (暗禪) Nghĩa là thiền mờ tối đối với giáo lí. Cũng gọi Ám chứng thiền, Manh thiền (thiền mù). Lời chế giễu những Thiền tăng chỉ chấp trước thiền định, không biết gì về giáo tướng, văn nghĩa.
ám thất
Căn phòng tối dùng để thực tập thiền—A dark room, a place for meditation.
ám thất hốt minh
6527謂於闇室中點燈,剎時光明普照冥闇盡去;比喻煩惱業障,經智慧燈照,勢不能住。如來祕密藏經卷下(大一七‧八四五上):「佛言:『(中略)迦葉!若闇室中然火燈明,是闇頗能作如是說:我百千歲住,今不應去?』迦葉白言:『不也,世尊!當然燈時,是闇已去。』佛言:『如是,迦葉!百千萬劫,所造業障,信如來語,解知緣法。(中略)當知羸劣諸煩惱等,智慧燈照,勢不能住。』」〔大集經卷一、摩訶止觀卷一下〕
; (闇室忽明) Nghĩa là lúc trong nhà đang tối, thắp đèn lên thì lập tức ánh sáng tỏa khắp nhà và bóng tối tan biến hết. Ví dụ phiền não nghiệp chướng, khi đèn trí tuệ soi rọi thì không thể tồn tại. Kinh Như Lai Bí Mật Tạng quyển hạ (Đại 17, 845 thượng), chép: Phật nói (...) Này Ca Diếp! Nếu trong nhà tối khi thắp đèn sáng, thì bóng tối ấy há có thể nói rằng: tôi ở đây đã trăm nghìn năm rồi, nay nhất định tôi không đi đâu, có được không? Ca Diếp bạch Phật: Không ạ, bạch Thế Tôn! Khi thắp đèn lên thì bóng tối ấy đã đi rồi. Phật bảo: Đúng thế, này Ca Diếp! Dù tạo nghiệp chướng trong trăm nghìn muôn kiếp, nhưng nếu tin lời Như Lai, hiểu rõ được duyên pháp (...) Nên biết các phiền não yếu ớt, khi đèn trí tuệ soi rọi, thì không thể tồn tại.[X. kinh Đại Tập Q.1; Ma Ha Chỉ Quán Q.1 phần dưới].
ám thất niệm phật
6527謂入於闇室大聲念佛。行者特別選擇闇室,出大音聲念佛,完全與外界斷絕視聽,遠離妄想,以成就念佛三昧。釋淨土群疑論卷七(大四七‧七六中):「稽其聖典,亦無至教,但修行之人,將斯闇室,絕諸視聽,心捨諸緣,初學之儔,約斯注想,易得三昧,不爾難成。」(參閱「念佛」3208)
; Niệm Phật lớn tiếng trong phòng thiền hay phòng tối—To repeat the name of a Buddha loudly or audibly in a dark room.
; (暗室念佛) Nghĩa là vào nhà tối lớn tiếng niệm Phật. Hành giả đặc biệt chọn căn phòng tối, niệm Phật thật lớn tiếng, hoàn toàn cắt đứt với những cái thấy nghe ở bên ngoài, xa lìa vọng tưởng để thành tựu tam muội niệm Phật. Luận Thích Tịnh Độ Quần Nghi quyển 7 (Đại 47, 76 trung), nói: Xét trong thánh điển thì phương pháp ám thất niệm Phật tuy không phải là giáo lí niệm Phật tột bậc, nhưng nếu người ta tu hành ở trong căn nhà tối, dứt bặt mọi sự thấy nghe, thì tâm dễ buông bỏ các duyên; phương pháp này giúp những người mới tu tập dễ tập chú tưởng để thành tựu tam muội. (xt. Niệm Phật).
ám trợ
To aid secretly.
ám tâm
6526為大日經所說六十心之一。即對於無疑慮法生起疑慮之心,而與六十心中之癡心、疑心相類似。癡心與闇心雖同屬於癡煩惱,然前者乃遇法悉皆信受,後者則生疑慮。又疑心與闇心雖同為疑惑之心,然前者乃以小智疑法,其體為疑慮;後者則以蒙昧之心疑法,其體為暗迷。〔大日經住心品、大日經疏卷十一〕
; Tâm trí ám muội, ngu si, và luôn nghi hoặc—A dark, ignorant, or doubting mind.
; (闇心) Tâm mờ tối. Một trong 60 tâm nói trong kinh Đại Nhật. Nghĩa là đối với pháp chân thực mà sinh tâm ngờ vực, giống như Si tâm (tâm ngu si), Nghi tâm (tâm ngờ vực) trong 60 tâm. Si tâm và ám tâm tuy cùng thuộc về phiền não si, nhưng si tâm thì gặp pháp thảy đều tin nhận, còn ám tâm thì sinh nghi ngờ. Lại, si tâm và ám tâm tuy đều là tâm ngờ vực, nhưng nghi tâm thì vì tiểu trí mà ngờ pháp, bản chất của nó là nghi ngờ; còn ám tâm thì vì tâm mê muội mà ngờ pháp, bản chất của nó là tối tăm. [X. kinh Đại Nhật Phẩm Trụ Tâm; Đại Nhật Kinh Sớ Q.11].
ám tả
Dictation.
Ám tế
暗 蔽; C: ànbì; J: anbei; |Tối tăm, mù quáng, mờ mịt.
ám tế
Bị vô minh che mờ trở nên ám độn—Dark, ignorant.
Ám tế 暗蔽
[ja] アンベイ anbei ||| Darkness, blindness, obscuration. 〔佛説如來不思議祕密大乘經 312.11.748b23〕 - =>Tối tăm, mù quáng, mờ mịt. -
ám đà già tần đà thôn
6527梵名 Andhakavinda,巴利名同。又作阿那伽賓陀村。據南傳律藏大品所記述,世尊曾暫住波羅奈國,後又移住闇陀伽頻陀村,復向王舍城遊行。由此推知此地在波羅奈(巴 Bāraṇāsī)與王舍城(巴 Rājagaha)之間。同書又載,大迦葉(巴 Mahākassapa)曾由此地赴王舍城布薩,渡河時,幾為急流捲去,僧衣盡溼,以此緣由佛陀乃制定「不失衣戒」。 世尊常到此地為比丘說法。據南傳增支部經典五之一一四記述,世尊命阿難教誡新入比丘持戒以及守護五根等五法。據南傳天宮事經(巴 Vimāna-vatthu)之注謂,世尊在此地曾患風病,命阿難托鉢求粥。又此地之優婆塞曾建香殿(巴 gandhakuṭī)以供養世尊。〔四分律卷三十五、十誦律卷二十六、五分律卷二十二〕
; (暗陀伽頻陀村) Phạm, Pāli: Andhakavinda- Cũng gọi A Na Già Tần Đà Thôn. Cứ theo Nam Truyền Luật Tạng Đại Phẩm chép, thì có lần Đức Thế Tôn tạm trú ở nước Ba La Nại, sau Ngài dời về ở thôn Ám Đà Già Tần Đà, rồi từ đấy Ngài lại đi đến thành Vương Xá. Căn cứ vào đó có thể đoán biết là thôn này nằm giữa nước Ba La Nại (Pāli: Baraịàsì) và thành Vương Xá (Pāli: Ràjagaha). Sách đã dẫn còn chép: Ngài Ca Diếp (Pāli: Mahàkassapa) có lần từ thôn này đi đến thành Vương Xá bố tát, lúc Ngài qua sông, nước chảy xiết, suýt nữa bị nước cuốn đi, ba tấm áo ướt hết, vì sự kiện này nên Đức Phật chế định giới không được để mất áo. Đức Thế Tôn thường đến thôn Ám Đà Già Tần Đà nói pháp cho các vị Tỉ Khưu nghe. Cứ theo Nam Truyền Tăng Chi Bộ kinh 5, 114 chép, thì Đức Thế Tôn sai ngài A Nan răn dạy các vị Tỉ Khưu mới vào phải giữ giới và dạy năm pháp giữ gìn năm căn. Cứ theo lời chú thích trong kinh Thiên Cung Sự (Pāli: Vimàna-vatthu) của Phật giáo Nam truyền, thì có lần Đức Thế Tôn bị cảm ở đây, sai ngài A Nan cầm bát đi xin cháo. Lại có vị Ưu Bà Tắc ở thôn này xây cất điện Hương (Pāli: gandhakuỉì) để cúng dường Đức Phật. [X. luật Tứ Phần Q.35; luật Thập Tụng Q.26; luật Ngũ Phần Q.22].
ám đầu
Trong bóng tối, chỗ tối tăm. Tiết Trấn Châu Phổ Hoá Hoà thượng trong NĐHN q. 4 ghi: »於 北 地 行 化、或 城 巿、或 塚 間、振 一 鐸 曰:明 頭 來、明 頭 打。暗 頭 來、暗 頭 打。四 方 八 面 來、旋 風 打、虛 空 來、連 架 打。– [i]Sư hành hoá ở đất Bắc, hoặc là chốn thành thị, hoặc là nơi gò mả, lắc một cái linh nói: Chỗ sáng đến thì đánh bên chỗ sáng, chỗ tối đến thì đánh bên chỗ tối, tám mặt đến thì xoay vần mà đánh, hư không đến thì đánh cả hư không[/i]«.
ám độn
6528謂根性愚昧遲鈍。據法華經譬喻品載,誹謗法華經者將獲諸罪,其中,若生為人則諸根闇鈍,盲聾背傴;有所言說,無人信受。
; Ám muội và ngu độn—Ignorant and dull.
; (暗鈍) Nghĩa là căn tính ngu tối chậm lụt. Cứ theo kinh Pháp Hoa phẩm thí dụ nói, người chê bai kinh Pháp Hoa sẽ bị các tội báo, trong đó, nếu được sinh làm người, thì các căn ám độn (ngu tối chậm lụt), mù điếc, lưng gù, hễ nói điều gì không ai tin nhận.
ám độn chướng
6528十重障之一。又作遲鈍障、闇相於聞思修等諸法忘障。十重障,係菩薩於歡喜地、離垢地等十地中修十勝行而一一斷除之十種重障。闇鈍障即與所知障俱生,而令聞、思、修之法忘失之障難。其中,若係著於五欲,障蔽定修慧者,稱為欲貪愚;障蔽總持及聞思慧者,稱為圓滿聞持陀羅尼愚。入於第三地時,便能斷除此障,而證得勝流真如。(參閱「十重障」462)
; Ignorant and dull ideas.
; (暗鈍障) Một trong mười chướng nặng. Cũng gọi Trì độn chướng, Ám tướng ư văn tư tu đẳng chư pháp văn chướng. Một trong 10 chướng nặng. Hàng Bồ tát trong 10 địa: Hoan hỉ địa, Ly cấu địa v.v... tu 10 hạnh thù thắng, mỗi hạnh dứt trừ một chướng nặng, 10 hạnh đoạn hết 10 chướng. Ám độn chướng là nạn chướng phát sinh cùng lúc với Sở tri chướng, khiến cho quên mất các pháp Văn, Tư, Tu. Trong đó, nếu dính mắc năm dục, thì nó che lấp định tu tuệ gọi là Dục tham ngu; nó che lấp tổng trì và văn, tư tuệ, thì gọi là Viên mãn văn trì đà la ni ngu. Khi vào Phát quang địa thì dứt trừ chướng này và chứng được Thắng Lưu Chân Như. (xt. Thập Trọng Chướng).
ám ảnh
To haunt—To obsess
Án
案; C: àn; J: an;|1. Cái án, cái bàn, cái giá; 2. Hướng dẫn; 3. Một vụ kiện, sự kêu nài, một trạng huống; 4. Suy nghĩ, suy tưởng, quyết định.
án
1) Bàn của phán quan: A judge's desk. 2) Cuộc xử án của tòa: A case at law. 3) Dằn xuống—To Place—To lay the hand on. 4) Lời chú mở đầu Đà La Ni Kim Cương Giới: A mystical formulae opening a dharani in Vajradhatu.
án chỉ
To make a finger-mark or sign.
Án già ra đế da ta bà ha
(唵伽囉帝耶娑婆訶): làPhá Địa Ngục Chơn Ngôn (破地獄眞言), được tìm thấy trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (毗尼日用切要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1115) do Độc Thể (讀體, 1601-1679), cao tăng của Phái Thiên Hoa (千華派) thuộc Luật Tông ở Bảo Hoa Sơn (寶華山) soạn. Câu thần chú này nằm trong bài kệ Văn Chung (聞鐘, Nghe Chuông), có âm dịch hơi khác: “Án, già ra đế da sa ha (唵、伽囉帝耶莎訶).” Bên cạnh đó, chú ngữ này còn được tụng trong thời khóa Công Phu Chiều hằng ngày.
án hô lô hô lô
(唵呼盧呼盧) Gọi đủ: Án-hô-lô-hô-lô-chiến-đà-lợi-ma-đăng-kì-sa-bà-ha. Bài chú ngắn trong chân ngôn của đức Dược Sư Như Lai. Trong đó, án (oô) nghĩa là đính lễ; Hô-lô-hô-lô (huru huru) nghĩa là nhanh chóng; chiến đà lợi (caịđari) nghĩa là tướng bạo ác; ma đăng kì (mataígì) nghĩa là voi chúa; Sa-bà-ha (svàhà) nghĩa là thành tựu. Là chân ngôn được tụng khi lễ Dược Sư Như Lai để cầu phúc tiêu tai. [X. Dược Sư Như Lai Quán Hạnh Nghi Quĩ Pháp; Chư Tôn Chân Ngôn Cú Nghĩa Sao Q.thượng].
án khiếm diện
Judgment by default.
án lệ
Jurisprudence.
án ma ni bát di hồng
Aum Mani Padme Hum (S)
; See Om Mani Padme Hum in Pali/Sanskrit Vietnamese Section.
án ma ni bát dị hồng
Oṃ Maṇi Padme Hūm (S)Ngọc quí trong hoa sen.
án mạng
Murder—Homocide.
án ngữ
To obstruct someone's path—To put obstacles in someone's way.
án phí
Court costs—Court expenses.
án qua nhị đế
4127三論宗吉藏評判二諦說之用語。案瓜於水中,手舉則瓜現出其體,以之比喻世諦;手案瓜則沒其體,以之比喻「假體即空」之真諦。俗諦顯而易見,真諦則不易顯,非常人所能了知者,故以案瓜比喻之。〔二諦義卷下〕(參閱「二諦」244)
; (案瓜二諦) Từ dùng của ngài Cát Tạng, tông Tam Luận, để bình giải thuyết Nhị Đế. Như nhận trái dưa vào trong nước, nhấc tay ra thì dưa nổi lên, dùng để thí dụ Thế đế, ấn xuống thì quả dưa chìm, thí dụ Chân đế Thể giả tức không. Tục đế hiển lộ dễ thấy, Chân đế thì không hiển bày, chẳng phải người thường có thể biết được, vì thế dùng án qua (ấn dưa) làm thí dụ. [X. Nhị Đế Nghĩa Q.hạ]. (xt. Nhị Đế).
án quyết
Judgment.
án sát
Provincial judge.
Án Sát Sứ
(按察使): tên gọi một chức quan được đặt ra dưới thời nhà Đường, vị quan lại chuyên quan sát công việc hành chính, phong tục, tập quán, v.v., ở địa phương. Đến thời nhà Minh và Thanh, nó là Trưởng Quan Tư Pháp của một tỉnh.
Án sơn
案 山; C: ànshān; J: anzan; |Ngọn núi chắn ngang trước hang động hay toà nhà. Khi rặng núi có nhiều đỉnh liên tiếp nhau, thì những ngọn núi gần được gọi là Nội án sơn (内 案 山), những ngọn núi xa được gọi là Ngoại án sơn (外 案 山).
Án sơn 案山
[ja] アンザン anzan ||| Opposing Mountain. The mountain that stands across from a grave or a building. When the mountain consists of numerous consecutive ridges, the closer layers of mountains are called `Inner Opposing Mountains' (内案山) and the remote ridges are called `Outer Opposing Mountains' (外案山). - =>Ngọn núi chắn ngang trước hang động hay toà nhà. Khi rặng núi có nhiều đỉnh liên tiếp nhau, thì những ngọn núi gần được gọi là Nội án sơn (内案山), - Những ngọn núi xa được gọi là Ngoại án sơn (外案山). -
án treo
Suspended sentence.
án tạm
Provisional judgment.
án tử hình
Death sentence—Capital penalty.
án văn
Sentence.
án vị sàng trướng
3815謂僧堂眾寮中,於各人之床位吊蚊帳而安眠。位,又作被位,乃僧堂眾寮內各人之座席。床帳,僧堂中僧侶所用之蚊帳。禪苑清規卷三維那(卍續一一一‧四四六下):「堂司並供頭行者,備辨寮舍門戶窗牖,按位床帳,動用什物。」
; (按位床帳) Nghĩa là, trong phòng liêu của chúng tăng, giường của mỗi người đều có giăng màn (mùng) để ngủ. Vị, còn gọi là Bị vị, tức là trong phòng liêu của mỗi người đều có chiếu ngồi. Sàng trướng, tức là màn muỗi được chúng tăng dùng trong nhà Tăng. Thiền Uyển Thanh Qui quyển 3 Duy Na (Vạn tục 111, 446 hạ), nói: Người quản lí nhà Tăng, phải trông nom cửa ngõ, cửa sổ, sắp đặt phòng xá, chuẩn bị chiếu, giường, màn và các đồ lặt vặt thường dùng.
án vị tiếp
3815「勝進接」之對稱。按,止之義,即止於舊位,而爲後教所接入。天台教義中,通、別二教之人被接於後教時,尚未入於後教之真位,而猶止於前教之位,如別教之十回向位、圓教之十信位;亦即僅知中道之理,然尚未斷無明而不能進入證位(真位)。〔法華玄義釋籤卷四、天台四教儀集註卷下〕(參閱「被接」4319)
; (按位接) Đối lại với Thắng tiến tiếp. Án, có nghĩa là dừng lại, tức dừng lại ở giai vị cũ để được Hậu giáo tiếp vào. Trong giáo nghĩa Thiên Thai, khi những người thuộc hai giáo Thông, Biệt còn chờ được tiếp vào Hậu giáo, thì vẫn chưa vào được giai vị chân thực của Hậu giáo, mà còn dừng lại ở giai vị Tiền giáo, như giai vị Thập hồi hướng của Biệt giáo, giai vị Thập tín của Viên giáo. Vì giai vị này mới chỉ biết được lí Trung đạo, nhưng chưa diệt hết vô minh để có thể tiến vào giai vị chứng chân. [X. Pháp Hoa Huyền Nghĩa Thích Tiêm Q.4; Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Chú Q.hạ]. (xt. Bị Tiếp).
án đạt la
Andhra (skt)—Một vương quốc nằm về phía nam Ấn Độ, giữa hai con sông Krishna và Godavari, kinh đô của nó là Vengi; nước nằm về phía đông nam của Án Đạt La được biết đến với cái tên Đại Án Đạt La—A kingdom in Southern India, between the Krishna and Godavari rivers, whose capital was Vengi; the country south-east of this was known as Maha-Andhra.
án đạt la phái
4127巴利名 Andhakā。部派佛教之名稱。此派根據地為南印度案達羅(梵 Andhra,巴 Andha,又作案陀羅)地方。據佛音(梵 Buddhaghoṣa)之論事註(巴 Kathā-vatthuppakaraṇa-aṭṭhakathā),案達羅派共有東山住部(巴 Pubbaseliyā)、西山住部(巴 Aparaseliya)、王山住部(巴 Rājagiriyā)及義成部(巴 Siddhatthikā)等四部,均為後世出現之部派。此一「案達羅」之名稱非為佛音以前所用者,然有關部派諸書中,對於屬案達羅的四部派,島史(巴 Dīpavaṃsa V)舉出在佛滅二百年中十七部派分裂後產生六部派中之王山住部、義成部、東山住部及西山住部等四者(南傳大統史 Mahāvaṃsa V 亦同說),清辨(梵 Bhavya)之異部宗精釋(藏 Sde-pa tha-dad-par byed-pa daṅ rnam-par-bśad-pa)之第二說,亦在八部的大眾部中揭出東山住部(藏 śar-gyi ri-bo-pa)、西山住部(藏 Nub-gyi ri-bo-pa)、王山住部(藏 Rgyal-po ri-bo-pa)及義成部(藏 Don-grub-pa)等四部。據世友之異部宗輪論所載,佛陀入滅後第二百年滿時,大眾部有大天者,住制多山,與大眾部僧諍論餘所誘等五事,致生乖諍,分裂出制多山部、西山住部及北山住部(相當於島史等之東山住部)等三部。對此論事二之一至五,佛音之註謂餘所誘為東山住部及西山住部之主張,「無知、猶豫、他令入」等三事為東山住部之主張,「道因聲故起」為東山住部等所主張,大致吻合。世友未說王山住部及義成部,而係出於島史等記載,由此推測,此二部在西山住部及東山住部以後分裂,更在島史揭出後期分派的大眾部六部之一─後王山住部(巴 Apara-rājagirikā,大統史作金剛部 Vājiriyā)係由王山住部分裂出者。〔結集分派史考、小乘佛教思想論、印度佛教固有名詞辭典、N. Dutt: Aspects of Mahāyāna Buddhism; J. Thomas: The History of Buddhist Thought; G.D. Malalasekera: Dictionary of Pāli Proper Names〕
; Andhaka (S)Một bộ phái Tiểu thừa. Phái này có 4 bộ Đông sơn trụ bộ, Tây sơn trụ bộ, Vương on trụ bộ, Nghĩa thành bộ.
; (案達羅派) Pāli: Andhakà. Danh xưng của Bộ phái Phật giáo. Căn cứ địa của phái này là khu vực Án-đạt-la (Phạm: Andhra, Pāli: Andha) thuộc nam Ấn Độ. Còn gọi là Án-đà-la. Theo ngài Phật Âm (Phạm: Budhaghowa) trong Luận sự chú (Pāli: Kathà-vatthuppakaraịa - aỉỉhakathà) thì phái Án-đạt-la gồm có bốn bộ là Đông Sơn Trụ Bộ (Pāli: Pubbaseliyà), Tây Sơn Trụ Bộ (Pāli: Aparaseliya), Vương Sơn Trụ Bộ (Pāli: Ràjagiriyà) và Nghĩa Thành Bộ (Pāli: Siddhathikà), đều là những bộ phái uất hiện ở đời sau. Thời ngài Phật Âm trở về trước, danh từ Án-đạt-la không được sử dụng, tuy nhiên, trong các sách có liên quan đến bộ phái, đối với bốn bộ phái thuộc Án-đạt-la, thì Đảo-sử (Pāli: Dìpavaôsa V) nói, trong hai trăm năm kể từ khi đức Phật nhập diệt, sau khi giáo đoàn nguyên thủy đã chia thành mười bảy bộ phái rồi, thì từ trong sáu bộ sản sinh bốn bộ nữa là: Vương Sơn Trụ Bộ, Nghĩa Thành Bộ, Đông Sơn Trụ Bộ và Tây Sơn Trụ Bộ (Nam truyền Đại thống sử Mahàvaôsa V cũng nói thế). Ngài Thanh Biện (Phạm: Bhavya), trong thuyết thứ hai của Dị bộ tông tinh thích (tiếng Tây Tạng: Sde-pa tha-dad-par byed-pa dan rnam-par-bzad-pa), cũng từ trong tám bộ của Đại chúng bộ nêu lên bốn bộ là Đông Sơn Trụ Bộ (Tạng:Zar-gyi ri-bo-pa), Tây Sơn Trụ Bộ (Tạng:Nub-gyi ri-bo-pa), Vương Sơn Trụ Bộ (Tạng: Rgyal-po ri-bopa), và Nghĩa Thành Bộ (Tạng: Don-grubpa). Cứ theo luận Dị Bộ Tông Luân của Thế Hữu chép, thì sau Phật nhập diệt đúng hai trăm năm, trong Đại chúng bộ có Đại thiên ở núi Chế đa, tranh luận với chư tăng Đại chúng bộ về năm việc (Ngũ sự), dẫn đến xích mích mà chia thành Chế Đa Sơn Bộ, Tây Sơn Trụ Bộ và Bắc Sơn Trụ Bộ (tương đương với Đông Sơn Trụ Bộ trong Đảo Sử). Về vấn đề này, trong Chú Thích Luận Sự 2-1 đến 5, Phật Âm bảo Dư-sở-dụ là chủ trương của Đông Sơn Trụ Bộ và Tây Sơn Trụ Bộ, vô tri, do dự, tha linh nhập là chủ trương của Đông Sơn Trụ Bộ, Đạo nhân thanh cố khởi là chủ trương chung của Đông Sơn Trụ Bộ, đại khái vẫn hợp. Thế Hữu chưa nói đến Vương Sơn Trụ Bộ và Nghĩa Thành Bộ, mà hai bộ này chỉ thấy ghi trong Đảo Sử, cứ đó mà suy thì biết hai bộ này về sau mới từ Tây Sơn Trụ Bộ và Đông Sơn Trụ Bộ phân hóa ra, Đảo Sử còn nói đến một bộ nữa là Hậu Vương Sơn Trụ Bộ (Pāli: Apara - ràjagirikà, Đại thống sử gọi là Kim Cương Bộ Vàjiriyà) từ Vương Sơn Trụ Bộ thuộc sáu bộ Đại chúng phân hóa ra ở thời kì phân phái sau. [X. Kết Tập Phân Phái Sử Khảo, Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận; Ấn Độ Phật giáo cố hữu danh từ từ điển; N. Dutt: Aspects of Mahàyàna Buddhism; J. Thomas: The History of Buddhist Thought; G.DMalalasekera: Dictionary ofPāli proper Names].
án đạt la vương triều
4127案達羅,梵名 Andhra。又作案陀羅王朝。於阿育王逝後統領南印度之王朝。自西元前二三二年至西元二二五年,歷三十代,凡四百五十年。據傳其乃雅利安族與土著之混血種族。於統一獨立前即有三十都市、無數村落、十萬步兵、二千騎兵、一萬象隊,武力強大。第一世王為尸摩迦(梵 Simuka),其氏名娑多婆訶(梵 Sātavāhana),亦即王室之稱。西元一世紀末曾受釋迦族中之兩部族之侵略,至一○六年英主喬達彌普特羅悉達卡爾尼王(梵 Gautamīputra Śātakarṇi)即位,始振興其國勢。其後,國勢復逐漸衰頹,至西元二二五年終告滅亡。又西元二○○年,案達羅王朝曾特意保護著名之佛教遺蹟阿摩羅婆提大塔(梵 Amarāvatī)之建設,與阿旃多(梵 Ajantā)窟院之初期開掘,又於耶耆那舍利王(梵 G. Yajñaśri)時將黑蜂山之洞窟贈予大乘佛教名宿龍樹(梵 Nāgārjuna),且予以保護。故此王朝之德業對於大乘佛教之興隆實有極大貢獻。據大唐西域記卷十所載,案達羅之都城為瓶耆羅,風俗猛烈,全國伽藍二十餘所,僧徒三千餘人。其西南不遠處有一窣堵波,乃無憂王所建,其地為佛陀說法的遺蹟之一。城西南二十餘里處有一孤山,山嶺上之石塔即昔時陳那造因明論之處。西域記復云,案達羅之東南為馱那羯磔迦國,後者又稱大案達羅國。〔南海寄歸內法傳卷四、解說西域記、東南印度諸國の研究〕
; (案達羅王朝) Án-đạt-la, Phạm: Andhra. Còn gọi là Án-đà-la vương triều. Là Vương triều thống lãnh miền nam Ấn Độ sau khi vua A Dục băng hà. Từ năm 232 sau Tây lịch, trải ba mươi đời, gồm bốn trăm năm mươi năm. Theo truyền thuyết, Vương triều này là chủng tộc Nhã-lợi-an (Aryan) lai dân địa phương. Trước ngày độc lập thống nhất, có ba mươi đô thị, vô số làng mạc, mười vạn bộ binh, hai nghìn kị binh, một vạn thớt voi, vũ lực rất mạnh. Vì vua đời thứ nhất là Thi-ma-ca (Phạm: Simuka), họ là Sa-đa-bà-ha (Phạm: Sàtavàhana), cũng tức là tên gọi dòng Vương thất. Cuối thế kỉ thứ nhất Tây lịch, Án-đạt-la bị hai bộ tộc thuộc dòng Thích Ca xâm lược, đến năm 106, vua Kiều-đạt-di-phổ-đặc-la-tất-đạt-tạp-nhĩ-ni (Phạm: Gautamìputra zàtakarịi) lên ngôi mới chấn hưng thế nước. Về sau, vận nước lại dần dần suy đồi, cho đến năm 225 Tây lịch thì diệt vong. Năm 200 Tây lịch, Vương triều Án-đạt-la bảo hộ việc xây dựng di tích Phật giáo nổi tiếng là tháp A-ma-la-bà-đề (Phạm: Amaràvatì) và đục mở các chùa viện hang động ở A-chiên-đà (Phạm: Ajantà) thời kì đầu, lại vào thời vua Da-kì-na-xá-lợi (Phạm: G. Yajĩazri), đem dâng cúng hang núi Hắc phong cho nhà Đại thừa Phật giáo lừng danh là ngài Long Thụ (Phạm:Nàgàfjuna). Bởi thế, Vương triều này, đối với Đại thừa Phật giáo, đã có những cống hiến cực lớn. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 10 chép, thì đô thành nước Án-đạt-la là Bình-kì-la, phong tục mạnh mẽ dữ tợn, toàn quốc có hơn hai mươi ngôi chùa, Tăng đồ hơn ba nghìn người. Về phía Nam không xa, có một ngôi Tốt-đổ-ba (tháp) do vua Vô-ưu (A Dục) xây, đánh dấu một trong những nơi đức Phật đã đến nói pháp. Chỗ cách đô thành về mạn tây nam hơn hai mươi dặm, có một quả núi trơ trọi, trên chóp núi có tháp đá là nơi thuở xưa ngài Trần Na làm luận Nhân minh. Tây-vực-kí còn nói, về phía đông Nam Án-đạt-la-là nước Đà-na-yết-trách-ca, mà cũng được gọi là nước Đại-án-đạt-la. [X. Nam Hải Kí Qui Nội Pháp Truyện Q.4; Giải Thuyết Tây Vực Kí; Đông Nam Ấn Độ chư quốc đích nghiên cứu.]
án đầu
4128即几案。在禪宗寺院之眾寮內,為眾僧閱讀佛典祖論時,所使用之几案。禪僧於放參(參禪後之休息)時,大眾回到眾寮中,各就案頭位,相向而坐,隨意喫湯。又在寮中之案頭上,不得安置佛菩薩之像,以免無禮。〔永平元禪師清規卷上、卷下〕
; (案頭) Tức là cái bàn nhỏ. Trong phòng liêu của chúng tăng tại các chùa viện thuộc Thiền tông, có đặt bàn để tăng chúng ngồi đọc kinh luận. Thiền tăng, khi phóng tham (nghỉ ngơi sau khi tham thiền), đại chúng trở về phòng liêu, ngồi vào bàn đối diện nhau để uống trà. Trên mặt bàn, không được bày tượng Phật hoặc Bồ Tát để tránh sự vô lễ. [X. Vĩnh Bình Nguyên Thiền Sư Thanh Qui Q.thượng, Q.hạ].
Án 案
[ja] アン an ||| (1) A desk, table, stand. (2) To guide. (3) A case, a complaint, as situation. (3) To think, contemplate, decide. - => 1. Cái án, cái bàn, cái giá. - 2. Hướng dẫn. - 3. Một vụ kiện, sự kêu nài, một trạng huống. - 4. Suy nghĩ, suy tưởng, quyết định. -
án, úm.
Aum (S)
áng
1) Cái thố—A bowl. 2) Nhiều: Abundant.
áng chừng
Approximately—About.
áng mây
A cluster of cloud.
áng nga la ca
Angaraka (skt)—Hỏa tinh—The planet Mars.
áng văn chương
Literary work.
ánh
Ray—Beam—Light.
ánh hoàng đới
Zodiacal light.
ánh lửa
Fire light.
ánh mặt trời
Sunlight.
ánh nắng
Sunlight.
ánh phân cực
Polarized light.
ánh rạng đông
The first glimmer of dawn.
ánh sao
Starlight.
ánh sáng ban ngày
Daylight.
ánh sáng chói lòa
Bright or brilliant light.
ánh sáng chập chờn
Unsteady light.
ánh sáng khuếch tán
Indirect light.
ánh sáng khúc xạ
Refracted rays.
ánh sáng lờ mờ
Dim light.
ánh đuốc
Torch light.
ánh đèn
Lamplight.
ánh đơn sắc
Monochromatic light.
ánh đạo vàng
The Golden Light of the Dharma.
áo
5437悉曇字???(au)。又作燠、懊、炮。悉曇十二韻之一,五十字門之一。方廣大莊嚴經卷四(大三‧五六○上):「唱懊字時,出皆化生聲。」文殊師利問經卷上字母品(大一四‧四九八上):「說燠字,出化生等聲。」蓋 aupapāduka 以 au 爲頭,乃以化生之義,託釋奧字之義。大般涅槃經卷八(大一二‧四一三中):「炮者,謂大乘義,於十四音是究竟義。大乘經典亦復如是,於諸經論最爲究竟,是故名炮。」準此,奧字乃母韻中最終之字,爲究竟之義,故以之比喻大乘經典之最究竟。〔大方等大集經卷十、瑜伽金剛頂經釋字母品、悉曇字記〕
; 1) Góc tây nam của vũ trụ nơi các vua Táo nghỉ ngơi: South-west corner of the universe where were the lares retired. 2) Nước Áo: Austria. 3) Áo Não: Harassed—Distressed—Uneasy—Vexed. 4) Áo nghĩa: Nghĩa lý huyền áo—Mysterious meanings.
; (奧) Chữ Tất đàm (au). Là một trong mười hai nguyên âm của tự mẫu Tất đàm, một trong năm mươi chữ cái. Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 4 (Đại 3, 560 thượng), nói: Khi xướng chữ áo, đều ra tiếng hóa sinh. Kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn phẩm Tự Mẫu (Đại 14, 498 thượng), nói: Xướng chữ áo, ra các tiếng hóa sinh. Vì chữ aupapàduka bắt đầu bằng chữ au, bèn dùng nghĩa hóa sinh để giải thích nghĩa chữ áo. Kinh Đại Bát Niết Bàn quyển 8 (Đại 12, 413 trung), nói: Áo, có nghĩa là Đại thừa, là nghĩa cứu kính trong mười bốn âm. Kinh điển Đại thừa cũng lại như thế, trong các kinh luận là rốt ráo nhất, bởi thế gọi là áo. Theo đó, chữ áo là chữ sau cùng trong mẫu tự, là nghĩa rốt ráo, cho nên dùng nó để thí dụ kinh điển Đại thừa là rốt ráo nhất. [X. kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập Q.10; kinh Du Già Kim Cương Đính phẩm Tự Mẫu; Tất Đàm Tự Kí]
áo an đà hội
Antarvan (S)Cà sa ngũ điều.
áo bà ba
Blouse.
áo bá nạp
xem nạp y.
; y bá nạpLà y có 25 điều. Dùng 25 khổ vải dài chắp lại nhau, mỗi khổ gồm 4 miếng dài + 1 miếng ngắn, nối thành 125 miếng. Chỉ dùng cho các Đại Trưởng Lão, Đại Tăng Chánh hay Đại Lão Hoà thượng.
áo choàng
Overcoat.
áo cà sa
Civara (S), Robe of a monk áo cá sa từ 5 đến 25 điều.
; Buddhist monk's dress (robe).
áo công đức
Kathina (S). Robes annually supplied to monks.
áo cổ cao
High-necked dress.
áo cửu điều
Xem nạp y.
áo dài
Dress.
áo khâm-bà-la
loại áo ngoại đạo thường mặc, dệt bằng lông thú xen lẫn với sợi tơ. (Theo Tuệ Lâm âm nghĩa, quyển 25.)
áo mưa
Raincoat.
áo nghĩa thư
5438梵名 Upaniṣad。音譯作優波尼沙土。爲古印度之哲學書。係以梵文書寫,爲師徒對坐密傳教義之書籍,故稱奧義書。爲記述印度哲學之原本思想。蓋印度之宗教始於對吠陀之讚頌,其後以說明用法與儀式爲目的之梵書興起,其中有一章名之爲阿蘭若迦(梵 Āraṇyaka),奧義書即爲說明此章而編述。阿蘭若迦之說幽微,取森林遁世者所讀誦之義而名之爲森林書,特重形式與神學方面,而奧義書則與之相反,屬於純正哲學。其以闡釋吠陀終極意義爲旨,繼續吠陀末期之哲學思想,發揮新見地,此部分又稱吠檀多(梵 Vedānta)。原意或爲吠陀之最後部分,後轉解爲吠陀之究竟意義,其後之發展特受重視,成爲後代各派哲學之根源。今之傳本多達二百餘種,主要者有十數種,總稱古代奧義書,完成於紀元前八百年至紀元前六百年。此後十數世紀,仍有陸續增添之作,稱爲新奧義書。以文體爲別,可分古散文、散文、新散文三種。自古被視爲天啟文學(梵 Śruti),爲印度正統婆羅門思想之淵源,亦爲後世哲學、宗教思想之典據、根幹。書中各篇並非由同一作者,將統一之思想,以一定之形式敘述,而係歷經悠長年月編集完成者,故摻雜各種新舊思想,且缺乏中心主體與統一性。其實際編纂者無疑爲歷代之婆羅門。此外,亦可說奧義書之出,乃象徵吠陀祭祀萬能主義之反動思想,亦爲促成佛教興起之契機。 總結奧義書全書之思想,係以大宇宙本體之「梵」,與個人本質之「我」爲一體,乃宇宙萬有之根本原理,此即「梵我一如」思想,亦爲觀念論之一元哲學。順此根本原理,萬事萬物之發生必有其一定之順序。人類生命即因「業」之故,而於輪迴之道中往返,將人類之行爲,以善惡果報之道德要求爲基礎,而展開輪迴轉生之思想。如經禪定與苦行來認識梵我一如之真理,即可解脫生死輪迴之束縛,而到達常住不滅之梵界(梵 Brahma-loka),此即人生最高目的。此一觀念論思想係說明一切現象界皆爲虛妄,唯獨梵爲唯一之實在,並以梵、我代表心與物之兩面,而生成宇宙萬物。古代印度哲學中,由此一思想,漸而產生有神論諸派系。經過後期奧義書,其哲學思想發展更形複雜,因此印度哲學諸派之產生愈加分歧繁雜。本書譯本極多,最古者爲波斯譯本,其後有拉丁譯、德譯、英譯、中譯、日譯本等。〔P. Deussen:Allgemeine Geschichte der Philosophie; H. Oldenberg:Die Lehre der Upanishaden und die Anfänge des Buddhismus〕
; (奧義書) Phạm: Upanisad. Dịch âm là Ưu-ba-ni-sa-độ. Là sách triết học của cổ Ấn Độ. Sách ghi giáo nghĩa bí truyền giữa thầy và trò, cho nên gọi là Áo Nghĩa Thư. Sách viết bằng chữ Phạm, ghi chép và tường thuật những tư tưởng nguyên gốc của triết học Ấn Độ. Tôn giáo Ấn Độ bắt đầu bằng những bài ca tán tụng của Phệ-đà, về sau sách bằng chữ Phạm được viết ra, mục đích là thuyết minh phép dùng các bài ca tán và các nghi thức khác, trong đó, có một chương gọi là A-lan-nhã-ca (Phạm:Àraịyaka), để thuyết minh chương này mà Áo Nghĩa Thư được biên tập. Thuyết A-lan-nhã-ca sâu kín nhỏ nhiệm, lấy nghĩa do những người trốn đời ở trong rừng rậm đọc tụng mà gọi là Sâm Lâm Thư (sách rừng rậm), đặc biệt trọng phương diện hình thức và thần học, mà Áo nghĩa thư thì trái lại, thuộc thuần chính triết học. Áo Nghĩa Thư lấy việc giải thích rõ ý nghĩa chung cực của Phệ-đà làm mục đích, kế tục tư tưởng triết học ở thời kì cuối Phệ-đà và phát huy ý kiến mới, về phương diện này, nó còn được gọi là Phệ-đàn-đa (Phạm: Vedànta). Nguyên ý có thể là bộ phận cuối cùng của Phệ-đà, sự phát triển sau này đặc biệt được coi trọng, trở thành là nguồn gốc của các phái triết học đời sau. Các bản truyền đến nay có tới hơn hai trăm loại, nhưng chủ yếu có mươi loại, gọi chung là Cổ đại Áo Nghĩa Thư (Áo Nghĩa Thư đời xưa), được hoàn thành khoảng từ tám trăm năm đến sáu trăm năm trước Tây lịch. Từ đó đến mấy thế kỉ sau, các tác phẩm vẫn tiếp tục tăng thêm, gọi là Tân Áo Nghĩa Thư. Xem thể văn, có thể chia làm ba loại: tản văn xưa, tản văn và tản văn mới. Từ xưa được coi là văn học Thiên Khải (Phạm: Zruti), là uyên nguyên của tư tưởng chính thống Bà-la-môn Ấn Độ, cũng là sách căn cứ cốt cán của tư tưởng triết học, tôn giáo đời sau. Các thiên trong sách không phải do cùng một tác giả trình bày một tư tưởng thống nhất, hoặc một hình thức nhất định, mà trải qua bao tháng năm lâu dài mới hoàn thành việc biên tập, bởi thế, những tư tưởng mới cũ lẫn lộn, vả lại, thiếu hẳn tính thống nhất và chủ thể trung tâm. Những người thực sự biên soạn sách này, chắc chắn là những người Bà-la-môn qua nhiều thế hệ. Ngoài ra, cũng có thể nói, sự xuất hiện của Áo Nghĩa Thư tượng trưng cho sự phản động lại chủ nghĩa tế tự vạn năng của Phệ-đà, đồng thời cũng tạo thành thời cơ thích hợp cho Phật giáo hưng khởi. Tư tưởng cốt tủy trong toàn bộ sách Áo Nghĩa Thư cho rằng, bản thể của đại vũ trụ Phạm và bản thể cá nhân Ngã là nhất thể, là nguyên lí căn bản của vũ trụ vạn hữu, đây tức là tư tưởng Phạm Ngã đồng nhất, cũng là triết học Nhất nguyên của quan niệm luận. Thuận theo nguyên lí căn bản này, sự phát sinh của muôn sự muôn vật tất phải có một trật tự nhất định. Sự sống của con người là do nghiệp mà đi lại trong đường luân hồi, đem hành vi của con người, lấy yêu cầu đạo đức quả báo thiện ác làm nền tảng, mà triển khai tư tưởng luân hồi tái sinh. Nếu bằng Thiền định và khổ hạnh mà nhận thức được chân lí Phạm Ngã đồng nhất, thì có thể giải thoát sự trói buộc của sinh tử luân hồi mà đạt đến thế giới Phạm (Phạm: Brahma-loka) đó là mục đích cao nhất của con người. Tư tưởng quan niệm luận này nhằm giải thích tất cả hiện tượng giới đều hư dối, duy chỉ có Phạm là thực tại độc nhất, đồng thời, lấy Phạm, Ngã đại biểu hai phương diện Tâm, Vật mà sinh thành muôn vật trong vũ trụ. Từ trong tư tưởng này của triết học Ấn Độ cổ đại, dần dần đã sản sinh ra các hệ phái Hữu Thần Luận. Qua thời kì sau của Áo Nghĩa Thư, tư tưởng triết học ấy lại còn triển khai phức tạp hơn nữa, do đó, các phái triết học Ấn độ càng sản sinh thêm nhiều chi phái nữa. Sách này có rất nhiều bản dịch, xưa nhất là bản dịch tiếng Ba Tư, về sau, lần lượt có các bản dịch Lạp-đinh (Latin), Đức, Anh, Trung, Nhật v.v... [X. Deussen: Allgemeine Gestchichte der Philosophie; H. Oldenberg: Die Lehre der Upanishaden und die Anf@nge des Buddhismus].
áo ngũ thân
dành cho người mới xuất gia giống áo của cư sĩ tại gia.
áo ngũ điều
Y ngũ điềuĐược may bởi 5 mảnh vải thành 5 hàng dài, mỗi hàng một miếng dài một miếng ngắn. Y này mặc chỗ nào cũng được.
áo nhuộm màu
chỉ áo cà-sa của các vị tỳ-kheo được nhuộm màu nâu hoặc màu vàng để xóa đi các màu khác trước khi mặc, cũng gọi là hoại sắc y (áo đã làm cho mất màu). Mục đích của việc nhuộm màu là làm cho tấm áo trở thành xấu xí, mất đi vẻ đẹp mà người thế tục ưa thích ngắm nhìn. Ngày nay người ta thường chọn các loại vải có màu nâu hay vàng thật đẹp để may áo, như vậy là không còn giữ được đúng theo mục đích ban đầu của sự hoại sắc.
áo nhã tân đô cấu tu
5437(Sri Aurobindo Ghose, 1872~1950)又譯作奧羅賓多高士。印度哲學家、詩人、印度教改革家。生於孟加拉婆羅門家庭。七歲赴英求學,一八九三年畢業於劍橋大學後返國。二十世紀初,參與印度之民族運動,任「敬禮祖國」等報刊編輯,爲國大黨激進派領袖之一。一九一○年創奧若賓都書院,後創立整體不二論(梵 Pūrṇa advaita)之哲學體系,認爲宇宙是由現象世界(現實世界)與超越世界(本體界)組成,前者包括物質、生命、心等之存在;後者則爲超越心的精神之存在。超越世界由現象世界演化而來,由物質進化至生命,進而進化至心、超心。一生致力調和科學與宗教、唯心與唯物主義、東西方之思想等,力圖將印度之政治運動建立於宗教基礎上,以印度教之理想作爲民族解放運動之理想。著作百餘種,較重要者有:神聖生活(The Life Divine)、瑜伽之綜合、印度文化之基礎、最後之詩篇等。
; (奧若賓都遘須) Sri Aurobindo Ghose (1872 - 1950) Còn dịch là Áo-la-tân-đa-cao-sĩ. Nhà triết học Ấn Độ, nhà thơ, nhà cải cách Ấn Độ giáo. Ông sinh trong gia đình Bà-la-môn ở Mạnh Gia Lạp (Bengal). Bảy tuổi sang Anh du học, năm 1893 tốt nghiệp tại Đại học Kiến Kiều (Cambridge) rồi trở về nước. Đầu thế kỉ XX, ông tham gia cuộc vận động dân tộc Ấn Độ, giữ việc biên tập báo Kính Lễ Tổ Quốc, là một lãnh tụ trong phái cấp tiến thuộc đảng Quốc Đại. Năm 1910, ông mở thư viện Áo-nhã-tân-đô, sau lập phái hệ triết học Chỉnh thể bất nhị luận (Pùrịa advaita), cho rằng vũ trụ là do hiện tượng giới (thế giới hiện thực) và siêu việt giới (thế giới bản thể) tổ chức thành, hiện tượng giới bao gồm sự tồn tại của vật chất, sinh mệnh và tâm; còn siêu việt giới là sự tồn tại của tinh thần siêu việt tâm. Thế giới siêu việt là do thế giới hiện tượng diễn hóa ra, từ vật chất tiến hóa đến sinh mệnh, lại tiến nữa mà tiến hóa đến tâm, đến siêu tâm. Cả cuộc đời ông dồn hết sức lực vào việc điều hòa giữa khoa học và tôn giáo, giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm, giữa văn hóa tư tưởng Đông và Tây v.v..., cố sức đem cuộc vận động chính trị ở Ấn Độ xây dựng trên nền tảng tôn giáo, lấy lí tưởng Ấn Độ giáo làm lí tưởng cho cuộc vận động giải phóng dân tộc. Trước tác hơn trăm loại, trọng yếu thì có: Thần thánh sinh hoạt (The Life Divine), Du già chi tông hợp, Ấn độ văn hóa chi cơ sở, Tối hậu chi thi thiên v.v...
áo nhĩ cao đặc
5439(Colonel Henry Stell Olcott, 1832~1907)生於美國新澤西州橘城,就讀紐約哥倫比亞大學時即已篤信佛教,一八七五年成立靈智學會,勸人改奉佛教。自陸軍上校退役後,復入哥大攻讀法律,旋與俄籍妻子波拉瓦斯基(H.P. Blavatsky)赴印度參學,創立印度靈智學會分會,倡導研究各宗教,比較而擇其殊勝者終身信奉之。一八八○年,二人相偕赴錫蘭,有鑑於錫蘭佛教之衰敗及受基督教之迫害,遂在可倫坡設立佛教靈智學會(Buddhist Theosophical Society),以促進世界上各宗教之和平友好,保衛宗教不受壓迫,且聯合當地四眾領袖募化成立佛教學校四百餘所。如阿難陀學院(Ananda College)、法王學院(Dharmaraja College)、摩哂陀學院(Mahinda College)等皆是當時所創立。又以近代教育法授予佛法與科學,並吸引不少西方學者至錫蘭,計劃發展錫蘭國家教育及佛教教育。此外又募印英文「佛教徒」(The Buddhist)雜誌等。現代世界佛教教旗亦爲奧氏所設計。氏之弘揚佛法,係採取比較各宗教教義之方式,認爲佛教之精奧、平等、究竟等特點與科學並不相悖,並且有科學所不及之處。
; (奧爾高特) Henry Stell Olcott (1832 - 1907) Ông sinh tại Tân Trạch Tây Châu Quất Thành (Orange, New Jersey), nước Mĩ, khi còn theo học tại Đại học Kha-luân-tỉ-á (Colombia) đã tin theo Phật giáo. Năm 1875, ông thành lập học hội Linh Trí, khuyên người cải tín theo Phật giáo. Sau khi xuất ngũ, ông lại vào Đại học học luật, rồi cùng với vợ là Ba-lạp-ngõa-tư-cơ (H.P. Blavatsky), quốc tịch Nga, sang Ấn độ tham học, sáng lập Chi hội của học hội Linh Trí tại Ấn Độ, đề xướng việc nghiên cứu các tôn giáo, so sánh và lựa chọn những điều hay nhất để tin theo. Năm 1880, cả hai vợ chồng đến Tích Lan, thấy sự suy đồi của Phật giáo Tích Lan và bị Cơ Đốc giáo bách hại, ông mới thành lập Phật giáo Linh Trí học hội (Buddhist Theosophical Society) để xúc tiến tinh thần hòa bình hữu nghị giữa các tôn giáo trên thế giới, bênh vực những tôn giáo bị áp bách, rồi liên hợp các vị lãnh đạo bốn chúng tại địa phương, khuyến hóa thành lập được hơn bốn trăm trường học Phật giáo. Như Học viện A-nan-đà (Ananda College), Học viện Pháp Vương (Dharmaraja College), Học viện Ma-hi-đà (Mahinda College) v.v... đều được thành lập vào thời gian này, đồng thời, dùng phương pháp giáo dục cận đại để dạy Phật pháp và khoa học, lôi cuốn nhiều học giả Tây phương đến Tích lan, đặt kế hoạch phát triển nền giáo dục quốc gia và giáo dục Phật giáo Tích Lan. Ngoài ra, ông còn khuyến hóa ấn hành tạp chí Phật Giáo Đồ (The Buddhist) bằng tiếng Anh. Lá cờ Phật giáo thế giới hiện nay cũng chính do ông thiết kế. Ông so sánh Phật pháp với giáo nghĩa của các tôn giáo khác, và nhận rằng Phật giáo có những đặc điểm không trái với khoa học, đồng thời, cũng có nhiều chỗ mà khoa học chưa bì kịp.
áo nhựt bình
Có nút thẳng từ cổ đến chân có hình chữ nhựt ngay ngực. áo này chỉ có nhữbng vị xuất gia thọ 10 giới trở lên mới được mặc.
áo não
See Áo (2), Não, and Phiền Não in Vietnamese-English Section.
Áo não 懊惱
[ja] オウノウ ōnō ||| Distress, anguish, mental agony. 〔法華經 T 262.9.53c18〕 - =>Nỗi đau đớn, nỗi thống khổ, tinh thần phiền muộn. -
áo quan
Coffin.
áo sa di
Khi thọ giới Sa di (10 giới), Tăng Ni phải ở chùa được 5 năm. Lúc làm lễ trong mặc áo lam, ngoài đắp y màu vàng gồm hai mảnh vải nối lại với nhau.
áo thất điều
Y thất điềuĐược may bởi 7 mảnh vải hàng dài, mỗi hàng hai miếng dài một miếng ngắn. Chỉ được đắp nơi chốn sạch sẽ. Xem Uất đà la tăng.
áo thụng
Ceremonial robe with large sleeves.
áo tràng
Màu nâu hay màu lam. Dành cho Tăng và Ni khi đã thọ giới tỳ kheo rồi.
; Áo thường màu lam dành cho Phật tử tại gia—Dharma robe, usually in gray color and for laypeople's use.
áo tì ca
5440梵語 aupayika 之音譯。含有認許、允諾、宜、好、是等義。即於持戒作法或提出動議(白事)時,請求師父認可所用之語。根本說一切有部百一羯磨卷一(大二四‧四五六上):「先教求出家者,令禮敬已,在本師前蹲踞合掌,教作是語:『阿遮利耶存念:我某甲始從今日,乃至命存,歸依佛陀兩足中尊,歸依達摩離欲中尊,歸依僧伽諸尊中尊。』如是三說,師云:『奧箄迦。』答云:『娑度。』」故知奧箄迦與娑度(梵 sādhu,善哉之義)乃爲以「善」、「宜」互相應對之用語,爲制教中持戒作法之必用語,若不作此語,則犯越法罪。〔有部毘奈耶卷三十一、慧琳音義卷六十一〕
; (奧箄迦) Phạm: Aupayika. Có các nghĩa: cho phép, bằng lòng, nên, phải, tốt. Tức là tiếng dùng để xin thầy cho phép khi tác pháp thụ giới hoặc trình bày một việc gì (bạch sự). Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Bách Nhất Yết Ma quyển 1 (Đại 24, 456 thượng), nói: Trước tiên dạy người cầu xuất gia lễ kính xong rồi, quì chắp tay trước mặt thầy, nói như sau: ‘A-già-lợi-da thương chứng cho, con tên là..., bắt đầu từ hôm nay cho đến trọn đời, xin qui y đức Phật lưỡng túc tôn, xin qui y Pháp li dục tôn, xin qui y Tăng chúng trung tôn’. Nói như thế ba lần, thầy bảo: ‘Áo-tì-ca’. Trò nói: ‘Sa-độ’. Như vậy, tiếng Áo-tì-ca và Sa-độ (Phạm: Sàdhu, lành thay!), là những tiếng được, vâng bắt buộc phải dùng trong tác pháp trì giới, nếu không sẽ mắc tội vượt pháp. [X. Hữu Bộ Tì-nại-da Q.31; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.61].
áo tăng già lê
Xem nạp y.
áo tỳ kheo
Tên một trong ba áo của Tỳ khưu. áo này có nhiều thứ: 9 điều, 11 điều, 13 điều, 21 điều, 23 điều, 25 điều. Tăng Ni thọ giới Tỳ kheo xong, được đắp 3 y Tỳ kheo là: Y ngũ điều, Y thất điều và Y cữu điều.
áo uất đa la tăng
Xem áo Thất điều. Xem Uất đà la tăng.
áo viện
5437日本佛教建築用語。日本之神社、佛寺等處,除本殿、本堂外,尚有奧院爲開山祖師之靈堂,多建於巖窟等幽邃之處。
; (奧院) Tiếng dùng trong kiến trúc Phật giáo Nhật Bản. Tại Nhật Bản, các nơi đền Thần, chùa Phật, ngoài những điện chính, nhà chính ra, còn có nhà thờ vị Tổ khai sơn (người sáng lập chùa, đền) gọi là Áo viện, phần nhiều được dựng ở những nơi sâu kín và hang núi.
Áo Vũ
(奥羽, Ōu): tức Lục Áo (陸奥, Michinoku) và Xuất Vũ (出羽, Dewa), tên gọi chung của 6 Huyện lớn là Fukushima (福島), Miyagi (宮城), Iwate (岩手), Aomori (青森), Akita (秋田) và Yamagata (山形).
áo đăng bách cách
5438(Oldenberg, Hermann; 1854~1920)乃德國之印度學、佛教學者。出生於漢堡(Hamburg),曾就讀於哥丁根(G隶ttingen)及柏林(Berlin)兩所大學。一八八九年,進基爾(Kiel)大學。一九○八年以來任哥丁根大學教授,講授梵語、巴利語、佛教學,爲當時研究梨俱吠陀(梵 Rigveda)之先驅,與巴利聖典研究專家大衛斯(Rhys Davids)合稱雙璧。一八七九年,校訂律藏刊行問世。一八八三,復將龐大的律藏文獻全部校訂出版。其後又校訂出版長老偈、長老尼偈(巴 Thera, and Therī-gāthā)及佛教史上之重要資料錫蘭島史(巴 Dīpavaṃsa),並附上英譯。此外,所撰之 Die Lehre der Upanishaden und die Anfänge des Buddhismus(1915)爲自奧義書中論證佛教思想源流之思想史名著。奧氏另一著作爲 Buddha, Sein Leben, Seine Lehre, Seine Gemeinde(1881)則研究佛陀之生涯、教理、教團,而確定佛陀在歷史上之存在事實。〔歐米の佛教、Journal of the Pāli Text Society, 1920〕
; (奧登柏格) Oldenberg,hermann (1854 - 1920) nhà học giả ấn độ học và phật giáo học người đức. sinh tại hán bảo (hamburg), từng theo học tại hai đại học kha đinh căn (gottingen) và bách lâm (berlin). năm 1889, ông vào đại học cơ nhĩ (kiel). năm 908 trở đi, giữ chức giáo thụ tại đại học kha đinh căn, dạy tiếng phạm, tiếng pāli và phật học, là nhà tiên phong đương thời nghiên cứu lê câu phệ đà (phạm: rigveda), cùng với đại vệ tư (rhys davids), nhà chuyên nghiên cứu thánh điển pāli, gọi chung là song bích. (hai viên ngọc bích). năm 1879, ông hiệu đính và ấn hành tạng luật. năm 1883, ông lại hiệu đính toàn bộ văn hiến của tạng luật và xuất bản. về sau, lại hiệu đính và ấn hành trưởng lão kệ, trưởng lão ni kệ (pāli: thera, anhtheri-gàthà) và tư liệu trọng yếu về lịch sử phật giáo tích lan là đảo sử (pāli: dìpavaôsa), có phụ thêm bản dịch tiếng anh. ngoài ra, ông còn soạn die lehre der upanishaden und die anfange des buddhismus (1915), là tác phẩm nổi tiếng về tư tưởng sử, luận chứng nguồn gốc tư tưởng phật giáo từ trong áo nghĩa thư. ngoài ra, họ áo còn viết tác phẩm buddha, sein leben, seine lehre, seine gemeinde (1881), trong đó, ông trình bày về sự sinh hoạt, về giáo lý và giáo đoàn của đức phật, rồi xác nhận phật là nhân vật lịch sử, thực sự tồn tại. [x. âu mễ đích phật giáo; journal of the pālitext society, 1920].
áo đăng bảo
5438(Ol'denburg, Sergei Fyodorovich; 1863~1934)俄國佛教學者。夙年研究梵語佛典,一八八四年,以校刊賢劫譬喻(梵 Bhadrakalpāvadāna,佛教的說話因緣集)而知名。自一八九七年以降,從事出版佛教文庫(Bībliotheca Buddhica),一九○三年,親自複製出版三百圖像集(即章嘉呼圖克圖所編之喇嘛教圖像集),作爲此文庫之第五編。自一九○七年,奉帝國學士院之命,勘查我國新疆庫車及甘肅敦煌千佛洞等處,於一九一四年,刊行其報告書 Russkaja Turkestanskaja Ekspedicija 1909~1910(一九○九~一九一○年的蘇俄土耳其斯坦探險)。其門下之霍爾斯坦(Staël Holstein)、史徹巴斯基(Stcherbatsky)等人,亦皆著稱於世。〔歐米の佛教、Zeitschrift der deutschen Morgenländischen Gesellschaft, 1934〕
; (奧登保) Ol’denburg Sergei Fyodorovich (1863 - 1934) Là nhà học giả Phật giáo người Nga. Ông nghiên cứu kinh điển tiếng Phạm của Phật giáo rất sớm, năm 1884, ông đã kiểm tra rồi ấn hành Hiền Kiếp Thí Dụ (Phạm: Bhadrakalpàvadàna, Nhân Duyên Đàm Tập của Phật giáo) và nhờ đó mà người ta biết tiếng ông. Từ năm 1897 trở đi, ông lo việc xuất bản bộ văn khố Phật giáo (Bibliotheca Buddhica), năm 1903, tự tay chế tác rồi xuất bản tập Tam Bách Đồ Tượng (tức tập đồ tượng Lạt ma giáo do Chương Gia Hô Đồ Khắc Đồ biên tập) làm thành sách thứ 5 của văn khố này. Từ năm 1907, ông theo lệnh của viện Học sĩ Đế quốc, đến khảo sát các nơi Khố Xa thuộc tỉnh Tân Cương và động Thiên Phật ở Đôn Hoàng thuộc tỉnh Cam Túc của Trung Quốc, năm 1914, ấn hành sách báo cáo của ông, nhan đề Russkaja Turkestanskaja Ekspedicija 1909 - 1910 (Thám hiểm vùng đất Liên Xô và Thổ Nhĩ Kì năm 1909 - 1910). Các học trò của ông là Hoắc Nhĩ Tư Thản (StaèlHolstein), Sử Triệt Ba Tư Thản (Stcherbatsky) cũng đều nổi tiếng ở đời [X. Âu Mễ Đích Phật Giáo; Zeitschrift der deutschen Morgenl@ndischenGesellschaft, 1934).
Áo 奥
[ja] オウ ō, oku ||| (1) The southwest corner of the house, where the family shrine is. The most rear, or inside part of the house; bedroom. (2) Deepest, hidden, most internal part. Core, kernel. - =>1. Góc Tây Nam của căn nhà, nơi đặt bàn thờ. Nơi kín đáo nhất, phần bên trong của căn nhà, phòng ngủ. - 2. Phần sâu kín nhất, phần bên trong nhất. Phần nòng cốt, phần chủ yếu. -
áp
Áp chế—To press—To squeeze—To crush—To repress.
áp bức
To oppress.
áp chế
To ppress—To bring someone to heel.
áp du luân tội
6415謂製油者以輪壓榨麻粒造油,將殺害麻中諸蟲,其罪不可勝數。依十輪經卷四所說,如有人以壓油為業,而一一麻粒皆有蟲生,以輪壓之,油便流出,諸蟲當失性命,此壓麻油人,於日夜中將殺害生命無數;此壓麻油人若復以十具輪相續恆壓於一日夜,一一輪中所壓麻油數滿千斛,如是相續,至滿千年,此人所殺生命實難以計數,所獲罪業亦不知凡幾。經中更將此罪比擬淫女坊、酒家、屠兒、旃陀羅等,以校量其罪之輕重。
; (壓油輪罪) Tội dùng bánh xe ép dầu. Người buôn bán dầu dùng bánh xe ép hạt vừng (mè) để lấy dầu, giết hại các vi sinh vật ở vừng, tội rất nặng. Theo kinh Thập Luân quyển 4, người làm nghề ép dầu, hàng ngày ép dầu, giết vô số vi sinh vật ở trong những hạt vừng, nếu cứ tiếp tục năm này qua năm khác, thì tội cũng không thể tính được, hệt như những hạt vừng không thể đếm được. Trong kinh so sánh tội của người làm nghề ép dầu với tội của những người bán dâm, bán rượu, đồ tể v.v... để cho biết nặng nhẹ.
áp dầu
Ép dầu—To crush seed for oil.
áp dầu luân tội
Tội của người làm nghề ép dầu, thí dụ như tội sát hại những côn trùng trong lúc hành nghề—The sin of the oil-presser, i.e. killing of insects among seeds crushed.
áp dụng
1) (n): Application. 2) (v): To apply—To use—To put into practice—To carry out.
áp dụng phật pháp vào cuộc sống hằng ngày
To apply Buddhist teachings to daily life.
áp lương vi tiện
6414禪林用語。又作厭良為賤。謂將良民強迫降格為賤民,或掠買平民子女為奴婢;於禪林,轉謂強將人當作賤惡之人,亦即比喻不令人本具之真性生起作用,而令其行凡夫之雜蕪修行。無門關第六則(大四八‧二九三下):「黃面瞿曇傍若無人,壓良為賤;懸羊頭,賣狗肉,將謂多少奇特。」〔洞山錄〕
; (壓良爲賤) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cũng gọi Yếm-lương-vi-tiện. Nghĩa là cưỡng bức người dân lương thiện trở thành dân ti tiện, hoặc mua hay cướp con cái của dân bình thường làm tôi tớ. Thiền lâm dùng từ ngữ này chuyển ý để chỉ việc cưỡng ép người tốt lành trở thành người xấu xa, cũng ví như ông thầy đã chẳng làm cho chân tính vốn có của người học phát sinh tác dụng, mà lại khiến cho họ tu hành hạnh tạp nhạp của phàm phu. Vô Môn Quan Tắc 6 (Đại 48, 193 hạ), nói: Cù-đàm mặt vàng, coi bên cạnh như không có ai, cưỡng ép người lương thiện thành người xấu xa (áp lương vi tiện); treo đầu dê, bán thịt chó, hãy nói xem còn có bao nhiêu việc lạ khác nữa. [X. Động Sơn Lục].
áp lực
Pressure—Tension.
áp lực cao
High pressure.
áp lực thấp
Low pressure.
áp sa du
6414謂用力壓榨沙土而沙中終不出油,比喻事物之不可得。北本涅槃經卷二十五(大一二‧五一五中):「心亦如是,本無貪相,雖造眾緣,貪無由生。(中略)譬如壓沙,油不可得,心亦如是,雖復壓之,貪不可得。」
; (壓沙油) Ép cát lấy dầu. Nghĩa là dùng sức ép cát, nhưng cát không thể ra dầu, ví cho việc không bao giờ có. Kinh Niết-bàn (Bản Bắc) quyển 25 (Đại 12, 515 trung), nói: Tâm cũng như thế, vốn không có tướng tham, tuy tạo các duyên, nhưng tham không do đâu phát sinh (...) Ví như ép cát không thể được dầu. Tâm cũng như thế, dù có ép tâm, cũng không thể được tham.
áp sa dầu
Vắt cát thành dầu, ví với chuyện không tưởng—To press oil out of sand, impossible.
áp toà văn
3264敦煌變文之一。係唐宋時代,以通俗方式對民間弘法時,在宣講佛經前所唱之七言韻文。「押座」二字有鎮壓四座之意,故押座文有導引正題、收攝心神之功用。如維摩經押座文之末段(大八五‧一二九七中):「不似聽經求解脫,學佛修行能不能;能者虔恭合掌著,經題名目唱將來。」「唱將來」三字爲各押座文末句所共有。大正藏第八十五冊所收之押座文類,包括維摩經押座文、溫室經講唱押座文等。
; (押座文) Vào thời đại Đường, Tống, phương thức thông tục được dùng khi nói pháp cho mọi người, trước khi tuyên giảng kinh Phật, thì đọc vài câu văn vần bảy chữ, gọi là Áp tọa văn. Hai chữ áp tọa có ý là trấn áp bốn tòa, cho nên văn áp tọa có cái công dụng đưa vào đề chính và thu nhiếp tâm thần. Như đoạn cuối của văn áp tọa kinh Duy-ma (Đại 85, 1297 trung), nói: Chẳng như nghe kinh cầu giải thoát, học Phật tu hành được hay chăng? Người được cung kính và chắp tay, danh mục kinh đề sẽ xướng ra. Câu cuối trong áp tọa văn nào cũng có ba chữ xướng tương lai (sẽ xướng ra). Loại áp tọa văn được thu vào Đại Chính Tạng tập 85, Bao Quát Duy-ma Kinh Áp Tọa Văn, Ôn Thất Kinh Giảng Xướng Áp Tọa Tăn v.v...
áp táng
3264禪林中,居於送葬行列之終,以鎮壓騷擾者,稱爲押喪。一般由都寺(維那)任之。勅修百丈清規卷三遷化條(大四八‧一一二八下):「主喪領眾,兩兩分出,左右俵散雪柳,齊步並行,毋得挨肩交語,各懷悲感。都寺押喪,喪司、維那、知客、聖僧侍者俵行喪䞋。」
; (押喪) Trong Thiền lâm, người đi ở cuối hàng người dự lễ tống táng, để giữ cho đám tang khỏi lộn xộn, mất trật tự, gọi là Áp tang. Thông thường là Đô tự (Duy-na, người trông nom tổng quát các việc trong chùa) đảm nhiệm việc này. Sắc Tu Bách Trượng Thanh Qui quyển 3 Thiên Hóa Điều (Đại 48, 1128 hạ), nói: Vị trưởng ban lễ tang điều khiển mọi người, đi theo hàng tư, chia nhau tung bông tuyết liễu hai bên, đi song song và bước thật đều, không được kề vai nói chuyện, đều tỏ lòng thương cảm. Áp tang, tang tư (người lo việc tang), duy-na, tri khách (người coi việc tiếp khách) và thị giả của Thánh tăng thì phân phối vật bố thí cho chư tăng sau khi đám tang hoàn tất.
áp tạp
5463禪林用語。本指糞、糞穢、雜穢,引申爲無用而不值一顧之穢物。如禪宗之語錄、公案係爲導引開悟、打破執著所設之方便機法,故若不知融通無礙,反執著於語錄、公案之文字語句,則猶如執取糞穢雜物一般,此即禪林每以「搕
áp đảo
To overwhelm.
át
giarghya (S). Nước thơm fragrant liquid.
; Làm cho bế tắc—To obstruct—To stop.
át bộ đa
Adbhuta (skt). 1) Tên của một cái tháp nổi tiếng ở Udyana, tây bắc Ấn Độ: Name of a famous stupa in Udyana, north-west India. 2) Kinh Vị Tằng Hữu: Adbhuta-dharma (skt)—Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên, một trong 12 bộ Kinh Đại Thừa—The Wonderful-Dharma, one of the twelve divisions of Mahayana canon.
át bộ đà
Arbuda (skt)—See Át Phù Đà.
át bộ đàm
6198梵語 arbuda。巴利語 abbuda。又作遏部曇、阿部曇、阿浮陀、頞浮陀、安浮陀。意譯作皰、腫物。其義有:<一>指胎內五位之一。乃託胎後第二個七日之胎兒狀,即於凝酪中生皰結之位,故稱皰或水泡。〔雜阿含經卷四十九、增一阿含經卷三十、北本大般涅槃經卷三十八、有部毘奈耶雜事卷十一、俱舍論卷九、玄應音義卷二十三、翻譯名義集卷十七、慧琳音義卷十四、卷二十六〕 <二>指八寒地獄之一。以此地獄之眾生,身形猶如泡沫,故有此稱。若人墮入頞部曇地獄,其身形捲縮猶如瘡皰,毒風吹來,令其皮毛裂落,筋肉斷絕,骨破髓出;受此苦畢,骨復完堅,再受罪如初,不得少暫休息。若有眾生輕賤或謗毀諸佛及持戒之佛弟子;或作惡龍瞋毒忿恚,放大雹雨冰凍害人;或劫盜寒凍者之薪火等重罪,於臨命終則墮此地獄受苦。〔大樓炭經卷二、起世因本經卷四、俱舍論卷十一、大智度論卷十六、翻梵語卷八、翻譯名義集卷七、往生要集卷上〕(參閱「八寒地獄」297)
; Abuda (S)A phù đà1- Tên địa ngục lạnh. 2- Giai đoạn đầu của bào thai lúc còn ở dạng sữa.
; (頞部曇) Phạm: Arbuda, Pāli: Abbuda. Cũng gọi A-bộ-đàm, A-phù-đà, Át-phù-đà. Hán dịch: pháo, thũng vật. I. Át-bộ-dàm. Là một trong năm giai đoạn ở trong bào thai. Sau khi đầu thai, đến tuần lễ thứ hai, dáng thai nhi đông lại như cái nốt phỏng trên da cho nên gọi là pháo hoặc là thủy bào (bọt nước). [X. Kinh Tạp A-hàm Q.49; Kinh Tăng Nhất A-hàm Q.30; Kinh Đại Bát Niết-bàn (Bản Bắc) Q.38; Hữu Bộ Tì-nại-da Tạp Sư Q.11; Luận Câu Xá Q.9; Huyền Ứng âm nghĩa Q.22; Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q.17; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.14, Q.26]. II. Át-bộ-đàm. Là một trong tám địa ngục lạnh. Vì chúng sinh rơi vào địa ngục này thân hình phỏng phồng lên giống như bọt nước, nên mới có tên là Át-bộ-đàm. Nếu người bị đọa vào địa ngục lạnh này thì thân hình co giúm lại, những mụt phổng lên, gió độc thổi đến làm cho da nứt lông rụng, gân thịt rã rời, xương vỡ tủy chảy ra. Chịu nỗi khổ ấy xong, xương lại lành trở lại và lại chịu khổ như trước, không một chút ngừng nghỉ. Những chúng sinh gây các tội như sau: Khinh rẻ chư Phật hoặc những đệ tử Phật không giữ giới; hoặc làm rồng dữ nổi giận căm phẫn, làm mưa đá to lạnh buốt hại người, hoặc trộm cướp củi lửa của người đang bị lạnh cóng v.v..sau khi chết sẽ rơi vào địa ngục này để chịu khổ báo. [X. Kinh Đại Lâu Thán Q.2; Kinh Khởi Thế Nhân Bản Q.4; Luận Câu Xá Q.11; Luận Đại Trí Độ Q.16; Phiên Phạm Ngữ Q.8; Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q.7; Vãng Sinh Yếu Tập Q.thượng]. (xt. Bát Hàn Địa Ngục).
át già
6334梵語 argha,巴利語 aggha 之音譯。又作阿伽、遏伽、遏迦、遏囉伽。意譯作功德、功德水、水。亦稱閼伽水、閼伽香水、香花水。指專供於佛前之功德水、香水,或指盛裝功德水之容器。大日經疏卷十一所載閼伽水,即香花之水。大日經供養次第法疏載,獻閼伽香水,證平等性智三界法王位。 梵語 argha,自語根 arh(有價值)轉變而來,意謂有價值之物,後其意轉為供奉神祇或貴人之物,復轉為供養水之意。又據慧琳音義卷十載,閼伽即香水器。希麟音義卷五載,閼伽係盛香水的杯器之總稱。佛祖統紀卷四十三之注謂,凡供養器皆稱為阿伽,或更指沐浴之器。上記以閼伽為供養器具者,皆轉訛之結果。此外,攝真實經卷下將 argha 譯作圓滿,或無濁,或引申作菩提道者。 自古印度以降,宴會來客必先備水洗滌,此習俗特別為佛教之密宗所引用,作為六種供養之一。大日經具緣品載,閼伽、塗香、華蔓、燒香、飯食、燈明等為六種供養。金剛頂經一字頂輪王瑜伽一切時處念誦成佛儀軌以六種供養配於六道,閼伽即配於傍生趣。或以閼伽配於六波羅蜜中之布施波羅蜜。 於密教之修法,行二度閼伽供養:(一)前供養,即於修「入我我入」觀或正念誦之前,在火舍(香爐之一種)右側供養閼伽。(二)後供養,即於本尊加持或散念誦之後,在火舍左側供養閼伽。前者即供養從本地請來的本尊之水,相當於遠程來客洗足之水;後者則相當於宴畢後之漱口水。 與閼伽有關之器物有多種,如:(一)閼伽桶:係汲取閼伽之桶形容器,其製作材料與形狀、大小等皆無定制,一般以木材或金屬製成,直徑自十五公分至三十公分左右。於傳法灌頂時,金剛界與胎藏界各別用一桶。 (二)閼伽井:指專供閼伽用之井。閼伽桶即自閼伽井中汲取閼伽。閼伽須常保持清淨,不能作雜用水使用,故大寺院多掘專用之閼伽井。 (三)閼伽器:由碗、皿二部組成,為六器之一,或謂六器之古稱。原指盛裝供養佛的閼伽器,後轉為供養器之總稱。於密教修法時,此物置於修法壇四方之中央,在火舍之左右各列三個。原本為四器一組,後演變成為六器一組。 (四)閼伽棚:指放置閼伽桶、閼伽器之棚架,另外亦置花等。閼伽棚一般設在閼伽井旁,屋頂呈單斜狀。 (五)閼伽杯:又作閼伽坏。指盛裝供佛水之杯形容器。有金屬製、土製。閼伽桶之水不得直接注入閼伽器供養,須先行置於閼伽杯再移入器中。修法時為便於交換閼伽,得先注水入閼伽杯,置於座位附近。〔大日經卷三世間成就品、卷七真言事業品、蘇悉地羯囉經卷下奉請品、成就妙法蓮華經王瑜伽觀智儀軌、大日經疏卷八、佛祖統紀卷四十三、翻譯名義集卷七、顯密威儀便覽續編卷下〕(參閱「閼伽器」6336)
; Arghya (skt)—A Già. 1) Thứ nước thơm hay nước mà người ta bỏ hoa thơm vào để cúng dường Đức Phật: Scented water or flowers in water as an offering. 2) Từ Át Già có nghĩa chính yếu là vật có giá trị: The word arghya meaning primarily something valuable, or presentable.
; (閼伽) Phạm: Argha, Pāli: Aggha. Cũng gọi A-già, Át-ca, Át-la-già. Dịch ý: công đức, nước công đức, nước. Còn gọi nước át già, nước thơm át già, nước hoa thơm. Chỉ cho nước công đức, nước thơm đặt cúng trước đức Phật, hoặc cái bình đựng nước công đức. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 10 nói rằng nước át già tức là nước hoa thơm. Đại Nhật Kinh Cúng Cường Thứ Đệ Pháp Sớ chép: dâng cúng nước thơm át già sẽ chứng được bình đẳng tính trí, ở vào ngôi vua Pháp của ba cõi.Tiếng phạm argha là từ gốc tiếng arh (có giá trị) mà ra, ý nói là vật có giá trị, về sau chuyển sang ý là vật dâng cúng thần linh hoặc người cao quí, rồi lại mở rộng ra với ý là nước cúng dường. Lại theo Tuệ Lâm Nghĩa quyển 10 thì át già là đồ đựng nước thơm. Hi Lân Âm Nghĩa quyển 5 thì bảo át già là gọi chung những cái chén đựng nước thơm. Chú thích trong Phật Tổ Thống Kỉ quyển 43 thì cho rằng phàm là đồ cúng dường đều gọi là át già, hoặc còn chỉ đồ đựng nước tắm. Những nghĩa ghi trên đây cho Át già là đồ cúng dường đều là kết quả của sự chuyển dịch sai lầm. Ngoài ra, Kinh Nhiếp Chân Thực quyển hạ dịch chữ argha là tròn đầy, không nhơ đục, hoặc xa hơn nữa là đạo bồ đề. Từ xưa, ở Ấn Độ, khi có yến tiệc, trước hết phải chuẩn bị nước cho khách rửa ráy. Tập tục này đặc biệt được Mật giáo dùng làm một trong sáu thứ cúng dường. Kinh Đại Nhật Phẩm Cụ Duyên nói, át già, hương hoa, tràng hoa, hương đốt, thức ăn, đèn sáng, là sáu thứ cúng dường. Kim cương đính kinh nhất tự đính luân vương du già nhất thiết thời xứ niệm tụng thành Phật nghi quĩ đem phối sáu thứ cúng dường với sáu đường: át già được phối với đường súc sinh, hoặc đem át già phối với bố thí ba-la-mật trong sáu ba-la-mật. Theo phép tu của Mật giáo, át già cúng dường phải được thực hiện hai lần: 1. Tiền cúng dường: trước khi tu quán Nhập ngã ngã nhập (Người vào Ta Ta vào Người) hoặc trước chính niệm tụng, cúng dường át già ở bên phải hỏa xá (nhà lửa: một thứ lò hương). 2. Hậu cúng dường: sau khi gia trì ở nơi bản tôn hoặc tán niệm tụng, cúng dường át già ở bên trái hỏa xá. Lần cúng dường trước là lần cúng dường nước cho bản tôn từ bản địa mới đến, cũng như đem nước cho khách rửa chân mới từ phương xa đến. Lần cúng dường sau cũng giống như đưa nước cho khách súc miệng sau bữa yến tiệc đã xong. Về đồ vật át già có nhiều chủng loại, như: 1. Thùng át già: đồ chứa hình cái thùng từ đó múc lấy át già, về chất liệu và hình dáng cũng như kích thước của thùng đều không nhất định, thường thì nó được làm bằng gỗ hoặc kim khí, đường kính khoảng từ 15 đến 30 phân Tây. Khi truyền phép Quán đính, Kim cương giới và Thai tạng giới mỗi giới dùng một thùng riêng. 2. Giếng át già: giếng chuyên chứa át già dùng để cúng dường. Thùng át già đựng át già múc từ giếng át già lên. Át già lúc nào cũng phải được giữ cho trong sạch, không được dùng nước tạp khác, cho nên các chùa viện lớn phần nhiều đào giếng át già riêng. 3. Đồ đựng át già: chiếc bát nhỏ, một trong sáu thứ đồ đựng. Vốn chỉ cái bát đựng át già cúng dường Phật, sau được mở rộng mà gọi chung các đồ đựng cúng dường. Trong Mật giáo, khi tu pháp, chiếc bát này được đặt ở giữa đàn, ở hai bên hỏa xá mỗi bên để ba cái. Nguyên gốc là một bộ bốn cái, nhưng sau biến thành một bộ sáu cái. 4. Gác át già: là giá để thùng và các đồ đựng át già khác, cũng dùng để để hoa. Gác át già thường được làm ở bên cạnh giếng át già, nóc gác hơi dốc để dễ thoát nước khi trời mưa. 5. Chén át già: đồ đựng nước cúng dường Phật hình cái chén. Có thứ bằng kim khí, có thứ bằng gốm. Nước lấy từ thùng át già để cúng dường không được rót ngay vào đồ đựng át già, mà phải rót vào chén át già trước, sau đó mới lại ruôn sang đồ át già. Để tiện cho việc thay đổi át già trong khi tu pháp, được rót nước vào chén át già trước và để ở gần chỗ hành giả ngồi. [X. Kinh Đại Nhật Q.3 Phẩm Thế Gian Thành Tựu, Q.7 Phẩm Chân Ngôn Sự Nghiệp; Kinh Tô Tất Địa Yết La Q. hạ Phẩm Phụng Thỉnh; Thành Tựu Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Vương Du Già Quán Trí Nghi Quĩ; Đại Nhật Kinh Sớ Q.8; Phật Tổ Thống Kỉ Q.43; Phiên Dịch Danh Nghĩa tập Q.7; Hiển Mật Uy Nghi Tiện Lãm Tục Biên Q.hạ]. (xt. Át Già Khí).
át già bôi
Chén bằng vàng hay kim loại, đựng nước thơm để cúng dường Đức Phật—A golden or metal vessel to hold scented water—See Át Già.
át già hoa
6336指置於閼伽中之花。一般使用應時之鮮花或樒葉。後引申為供佛之花。成就妙法蓮華經王瑜伽觀智儀軌(大一九‧五九六上):「於壇四門兩邊各置二閼伽器,滿盛香水,中著绷金,泛諸時華,極令香潔。」
; Hoa thơm thả nổi trong nước đựng trong chén Át Già Bôi—The flowers which float on the surface of the golden vessel.
; (閼伽花) Chỉ cho hoa cúng Phật đựng trong át già, thường dùng hoa tươi hoặc lá thơm tùy theo mùa. Thành Tựu Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Vương Du Già Quán Trí Nghi Quĩ (Đại 19, 596 thượng), nói: Tại hai bên ở bốn cửa đàn đều đặt hai đồ đựng át già chứa đầy nước thơm, bên trong thả hoa uất kim và các thứ hoa khác nổi lên, rất thơm ngát và tinh khiết.
át già khí
6336原指盛裝閼伽之器具,由此轉指供佛之一般器具。又作遏迦器。佛祖統紀卷四十三(大四九‧三九八中):「阿伽(閼伽),此云器;凡供養之器,皆稱曰阿伽。」於密宗,為六器之一,即六種供養之一的閼伽容器。乃由閼伽碗與閼伽皿組成之供養器。碗呈摺鉢形,皿為碗之臺,於碗中盛閼伽,並置鮮花、香草,令此水極淨妙香潔。據蘇悉地羯囉經卷下奉請品載,閼伽器隨不同之修法而材質有異,應當以金、銀、銅石、木、荷葉等製作。今密宗多使用銅或黃銅製成者。〔蕤呬耶經卷中摩訶曼荼羅品、十一面觀自在菩薩心密言念誦儀軌經、成就妙法蓮華經王瑜伽觀智儀軌〕
; (閼伽器) Vốn chỉ cái đồ đựng át già, sau chuyển sang chỉ chung các đồ dùng cúng Phật. Cũng gọi Át-ca-khí. Phật Tổ Thống Kỉ quyển 43 (Đại 49, 398 trung), nói: A già (át già), đây dịch là khí (đồ dùng); phàm đồ dùng cúng dường đều gọi là a già. Đối với Mật giáo, át già là một trong sáu thứ đồ dùng, tức đồ đựng át già là một trong sáu thứ cúng dường. Đồ cúng dường này do chén át già và đài át già hợp thành. Chén át già giống hình cái bát, còn đài át già là cái đế để đặt chén lên trên. Trong chén chứa đầy át già, hoa tươi và cỏ thơm, khiến cho nước trong chén rất thơm tho tinh khiết. Cứ theo kinh Tô tất địa yết la quyển hạ phẩm Phụng thỉnh chép, đồ át già tùy theo phép tu mà có chất liệu khác nhau: hoặc làm bằng vàng, bạc, đồng, đá, gỗ v.v..hay làm bằng lá sen. Ngày nay, Mật tông phần nhiều dùng đồng hoặc vàng để chế tạo. [X. Kinh Nhuy-hi-da Q.trung phẩm Ma-ha-mạn-đồ-la; Kinh Thập Nhất Diện Quán Tự Tại Bồ-tát Tâm Mật Ngôn Niệm Tụng Nghi Quĩ; Thành Tựu Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Vương Du Già Quán Trí Nghi Quĩ].
át già quán đỉnh
6336密教作法儀式之一。即以閼伽香水灌於佛道修行者之頂,證明其修功。與「甘露灌頂」、「香水灌頂」同義。〔金剛頂義訣卷上〕
; (閼伽灌頂) Một trong những nghi thức tác pháp của Mật giáo. Tức là lấy nước thơm át già rưới lên đỉnh đầu của người tu hành đạo Phật để chứng minh công đức của người ấy. Đồng nghĩa với các nhóm từ Cam lộ quán đính, Hương thủy quán đính. [X. Kim Cương Đính Nghĩa Quyết Q.thượng].
át già thuỷ gia trì
6334為密宗修法之一。即於三摩耶戒當日之後夜寅刻(早晨三時至五時),汲取閼伽井之井華水為閼伽水之作法。又稱閼伽汲作法。傳法灌頂所用之閼伽必依此作法。又上記之井華水,略稱華水,指後夜時刻之井水,此時之水中未生小蟲,極為清淨,故於此時汲水。
; (閼伽水加持) Nước át già dùng để gia trì. Một trong những phép tu của Mật giáo. Tức là phép múc nước hoa trong giếng át già vào lúc giờ Dần (ba giờ đến năm giờ sáng) của ngày Tam ma da giới để làm nước át già. Cũng gọi là Át già cấp tác pháp (phép múc nước át già). Sở dĩ múc lấy nước lúc giờ Dần là vì vào giờ này nước trong giếng chưa sinh vi trùng, nước rất trong sạch. Khi truyền pháp Quán đính phải dùng nước át già lấy vào giờ này.
át na
Anna (skt)—Tên của một ngọn núi ở Ấn Độ—Name of a mountain in India.
át nễ la thần
6199頞儞羅,梵名 Anila。為藥師十二神將之一,般若守護十六善神之一。又作安儞羅神、阿儞嚕神。意譯執風神、傳送神。據藥師琉璃光王七佛本願功德經念誦儀軌供養法(大一九‧四七中):「藥叉大將頞儞羅,其身紅色,執寶叉,主領七億藥叉眾,誓願守護如來教。關於其形像,淨琉璃淨土摽謂,其身帶火炎,駕蛇,執持戰荼鉞,左手結拳狀,伸食指。又修藥師儀軌布壇法謂,其身紅色,手持三股叉。〔 灌頂經卷十二、藥師琉璃光如來本願功德經、佛像圖彙卷四〕(參閱「藥師十二神將」6692)
; Anila (S)Truyền thống thần, Chấp phong thầnMột trong 12 thần tướng của Dược sư Phật.
; (頞你羅神) Át-nễ-la, Phạm:Anila. Một trong 12 vị thần tướng Dược Sư, một trong mười sáu vị thiện thần thủ hộ Bát-nhã. Cũng gọi An-nễ-la thần, A-nễ-rô thần. Hán dịch: Chấp phong thần (thần cầm gió), Truyền tống thần (thần truyền đưa). Cứ theo Dược Sư Lưu Li Quang Vương Thất Phật Bản Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quĩ Cúng Dường Pháp (Đại 19, 47 trung), nói: Đại tướng Dược-xoa Át-nễ-la, thân ngài mầu đỏ, tay cầm xoa báu, cầm đầu bảy ức chúng Dược-xoa, thề nguyền giữ gìn giáo pháp của Như Lai. Về hình tượng của vị thần này, sách Tịnh Lưu Li Tịnh Độ Phiêu nói: thân ngài phát ra lửa đỏ, cỡi trên mình rắn, tay phải cầm búa Chiến đồ, tay trái nắm lại, ngón trỏ duổi thẳng. Còn Tu Dược Sư Nghi Quĩ Bố Đàn Pháp thì nói: Thân ngài màu đỏ, tay cầm cây xoa ba chĩa. [X. Kinh Quán Đính Q.12; Kinh Dược Sư Lưu Li Quang Như Lai Bản Nguyện Công Đức; Phật Tượng Đồ Vậng Q.4]. (xt. Dược Sư Thập Nhị Thần Tướng).
át phù đà
Arbuda (skt)—Ác Bộ Đà—Địa ngục lạnh thứ nhứt trong bát hàn địa ngục, nơi những khối u nổi trên da vì quá lạnh—The first of the eight cold hells, where cold raises tumours on the skin. ** For more information, please see Bát Hàn Địa Ngục.
át sa trà
Asadha (skt)—Tháng đầu tiên của mùa hè, từ 16th tháng tư đến 15th tháng năm—The first month of summer, from 16th of 4th Chinese moon to 15th of 5th .
át sắc tra
Astan (skt)—Tám phần của 24 giờ trong ngày—The eight divisions of the 24 hour day.
át thấp bà sưu xa
See Át Thấp Phược Sưu Xa.
át thấp phược (bà) sưu xa
Asvayuja (skt)—Át Thấp Bà Sưu Xa—Tháng đầu tiên của mùa Thu (tháng chín—tháng mười)—The first month of autumn (September-October).
át thấp phược yết na
Asvakarna (skt)—Một trong bảy vòng núi quanh núi Tu Di—The fifth of the seven circles round Meru.
át thấp phược yết noa sơn
Xem Mã nhĩ sơn.
át thấp phọc yết nã sơn
6199頞濕縛羯拏,梵名 Aśvakarṇa,巴利名 Assakaṇṇa。為九山之一,七金山之一。又作阿沙干那山、阿波尼山。意譯作馬耳山,因此山之峰形如馬耳,故有此稱。在起世經卷十稱馬片頭山;長阿含經卷十八則作馬食山;亦有意譯為馬半頭山者。繞蘇達梨舍那山,高二千五百由旬。〔玄應音義卷二十四〕(參閱「七金山」100、「九山八海」127)
; (頞濕縛羯拿山) Át thấp phược yết noa, Phạm: Azvakarịa, Pāli:Assakaịịa. Một trong chín núi, một trong bảy núi vàng. Cũng gọi A-sa-can-na sơn, A-ba-ni sơn. Hán dịch: Mã Nhĩ sơn (núi tai ngựa), vì ngọn núi này giống như tai ngựa nên đặt tên như thế. Kinh Khởi Thế quyển 10 gọi là Mã Phiến Đầu Sơn; Kinh Trường A-hàm quyển 18 thì gọi là Mã Thực sơn. Cũng có chỗ dịch là Át Già Khí Thần Át Nễ La Mã Bán Đầu sơn (núi nửa đầu ngựa). Núi này bao quanh núi Tô-đạt-lê-xá-na, cao 2.500 do tuần. [X. Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.24]. (xt. Thất Kim Sơn, Cửu Sơn Bát Hải).
át triết tra
Atata (skt)—Một trong tám địa ngục lạnh—One of the eight cold hells, hell of chattering teeth. ** For more information, please see Bát Hàn Địa Ngục.
át tức đa
Asta (skt). 1) Ngọn đồi phía Tây nơi mặt trời lặn: The western hill behind which the sun sets. 2) Mặt trời lặn: Sunset. 3) Tử: Death. 4) Nhà: Home.
áy náy
Anxious—Uneasy—Unquiet—Restless—Disquiet—Troubled.
âm
Yin (C), Negative.
; Shade, dark, the shades, the negative as opposed to positive principle, female, the moon, back, secret. In Buddhism it is the phenomenal, as obscuring the true nature of things; also the aggregation of phenomenal things resulting in births and deaths
; Vara (S). Sound, voice.
; 1) Âm đối lại với dương: Skandha (skt)—Negative, in contrast with positive. 2) Âm thanh: Sound—Voice. 3) Nguyên tắc ám muội: Dark principle. 4) Nguyệt: Trăng—Lunary. 5) Nữ: Female. 6) Tiêu cực đối lại với tích cực: The negative as opposed to the positive principle. 7) Tối: Dark—Shade. 8) Theo Phật Giáo thì “âm” có nghĩa là—According to Buddhism, it means: a) Những gì che mất chân tính của vạn hữu: It is the phenomenal, as obsuring the true nature of things. b) Uẩn của vạn hữu (ngũ uẩn) do từ hậu quả của sanh lão bệnh: It is also the aggregation, or the five Skandhas, of phenomenal things resulting in births and deaths.
âm ba
Sound-wave.
âm chất lục
4827全一卷。明代袁了凡(十六世紀)撰。又稱了凡四訓。為敘述我國民間道德之代表作品。本書為袁了凡某次參訪雲谷禪師,因此了悟「立命說」,知善惡行為與因果報應真理,而編著本書,認為陰隲為支配人類之天,依人行為之善惡,可定其福禍。其內容首論「謙虛利中」之理,次述「積善餘慶」之列,並列舉善行之十大德目。卷末載「知過能改,善莫大焉」,並提出改過三法。本書思想頗受形成於南北朝時代之增壽益算說之影響,且為一儒、道、佛三教混融一體之思想。佛教因果報應之觀念更散見於全書各處,而成為一般民眾善惡行為之道德準則。
; (陰隲錄) Có một quyển. Viên liễu phàm (thế kỉ XVI) đời Minh soạn. Còn gọi là Liễu phàm Tứ huấn. Là tác phẩm đại biểu nói về đạo đức dân gian ở Trung quốc. Có lần, Viên liễu phàm đến hỏi đạo nơi Thiền sư Vân cốc, nhờ đó, liễu ngộ thuyết lập mệnh, biết rõ chân lí của hành vi thiện ác và nhân quả báo ứng mà soạn ra sách này, cho rằng âm chất là sự chi phối của trời đối với loài người, nhưng dựa vào hành vi thiện ác của con người có thể quyết định được họa phúc. Nội dung, trước hết, bàn về lí khiêm hư lợi trung, kế đó, trình bày những trường hợp tích thiện dư khánh, đồng thời, liệt kê mười sáu đức mục lớn của việc làm điều thiện. Ở cuối quyển chép biết lỗi hay sửa đổi, là điều thiện lớn, và nêu lên ba cách sửa đổi lỗi lầm. Tư tưởng trong sách này chịu ảnh hưởng nhiều của thuyết tăng thọ ích ton hình thành vào thời đại Nam Bắc triều, và là tư tưởng Nho, Đạo, Phật ba giáo nhất thể dung hợp. Quan niệm Phật giáo về nhân quả báo ứng thấy rải rắc khắp cuốn sách, đã thành chuẩn tắc của hành vi đạo đức trong dân chúng.
âm cung
Thế giới hiện tại được ví với trạng thái của ngũ uẩn—Hells—Hades—The present world as the state of the five skandhas.
âm công
Ragyapa (S).
âm cảnh
See Âm Cung.
Âm dung
(音容): có hai nghĩa. (1) Âm thanh và hình bóng. Như trong bài thơ Thù Tùng Đệ Huệ Vận (酬從弟惠連) của Tạ Linh Vận (謝靈運, 385-433) nhà Tống có câu: “Nham hác ngụ nhĩ mục, hoan ái cách âm dung (巖壑寓耳目、歡愛隔音容, hõm núi gởi tai mắt, yêu thương cách bóng hình).” Hay trong bài Trường Hận Ca (長恨歌) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường cũng có câu: “Hàm tình ngưng đệ tạ quân vương, nhất biệt âm dung lưỡng diểu mang (含情凝睇謝君王、一別音容兩渺茫, ngậm tình liếc trộm tạ quân vương, cách biệt bóng hình muôn dặm trường).” (2) Trong thư tín, từ này được dùng để thay thế cho đối phương. Như trong tập 3 của tác phẩm Tây Sương Ký (西廂記) do Vương Thật Phủ (王實甫, 1260-1336) nhà Nguyên sáng tác, có đoạn: “Tự âm dung khứ hậu, bất giác hứa thời, ngưỡng kính chi tâm, vị thường thiểu đãi (自音容去後、不覺許時、仰敬之心、未嘗少怠, từ khi người ra đi về sau, chẳng biết lúc nào, tâm thường kính ngưỡng, chưa từng chút chểnh mảng).” Trong bài thỉnh cúng linh cũng có đoạn: “Kim ô tợ tiễn, ngọc thố như thoan, tưởng cốt nhục dĩ phân ly, đỗ âm dung nhi hà tại (金烏似箭、玉兔如梭、想骨肉已分離、睹音容而何在, quạ vàng [mặt trời] tên bắn, thỏ ngọc [mặt trăng] thoi đưa, nhớ cốt nhục đã chia ly, tìm bóng hình đâu còn nữa).”
âm dung
Voice and countenance.
âm dương
Yin and Yang Negative and positive.
; 1) Chết và sống: Death and life. 2) Địa phủ và dương gian: Hell and earth. 3) Cực Âm và Cực Dương: Tiêu cực và tích cực—Negative and positive. 4) Yin-Yang: Lưỡng cực theo vũ trụ quan của Trung Quốc—Đất và trời—Nữ và Nam—In Chinese cosmology, the principle of polarity, namely earth and heaven, female and male.
âm dương đạo
4827日本方術。以我國陰陽五行學說為基礎,而有關天文、曆數、卜筮、堪輿(方角、地相)等之學問與方術,目的為避禍求福,係十世紀初,由韓國僧侶傳入日本。司役職之處所稱為陰陽寮,司術者稱為陰陽師,其大成者稱為陰陽家。尚有陰陽博士、曆博士、天文博士、漏刻博士等專家。陰陽道係觀測日月、十干、十二支之運行配當,以推察相生相剋之道理,而明辨一切事物之吉凶禍福,故於歲月、日時、方位、一身、一事等諸事上皆設有繁雜之禁忌,乃至於人間各種行動皆有所定制。其行事亦有若干被佛教所採用。
; (陰陽道) Phương thuật Nhật bản. Cái học vấn và phương thuật lấy thuyết âm dương ngũ hành của Trung quốc làm nền tảng mà nghiên cứu thiên văn, lịch số, bói toán, địa lí v.v... mục đích là tránh họa cầu phúc, do các tăng lữ Triều tiên truyền vào Nhật bản ở đầu thế kỉ thứ X. Nơi làm việc, gọi là Âm dương liêu, người làm phương thuật, gọi là Âm dương sư, người thông suốt hết các thuật, gọi là Âm dương gia. Còn có các chuyên gia, như âm dương bác sĩ, lịch số bác sĩ, thiên văn bác sĩ, lậu khắc (thời khắc tính theo đồng hồ nước) bác sĩ v.v... Đạo âm dương là tính xem sự vận hành tương đương của mặt trời, mặt trăng, mười can, mười hai chi, để suy xét lẽ tương sinh tương khắc, mà biện rõ lành dữ họa phúc của tất cả sự vật, vì thế, trên mọi mặt, năm tháng, ngày giờ, phương hướng, một mình, một việc đều đặt ra nhiều sự kiêng cữ rất là phức tạp, cho đến các loại hành động trong nhân gian, đều có định chế cả. Về mặt hành sự của đạo âm dương, Phật giáo cũng thu dụng một vài điểm nào đó.
âm gian
See Âm cung.
âm giáo
Vocal teaching. Buddha's preaching.
; Giáo pháp dùng âm thanh để giảng thuyết—Vocal teaching, Buddha's preaching.
âm giới
Bao gồm ngũ uẩn và 18 giới—The five skandhas and the eighteen dhatu.
âm huyễn
Ngũ uẩn giống như huyễn giả trôi đi—The five skandhas like a passing illusion.
âm hưởng
Sonority—Echo.
âm hưởng nhẫn
3991梵語 ghoṣānugama-dharma-kṣānti。三法忍之一。又作隨順音響忍、隨順音聲忍。其義有三:(一)謂隨順佛菩薩說法之音聲,而能知諸法道理,安住於法。(二)謂往生極樂世界之人聞七寶樹林之音聲,而悟解無而似有、非有而有之理。慧遠之無量壽經義疏卷下(大三七‧一○六上):「尋聲悟解,知聲如響,名音響忍。」(三)謂聽聞真實之法,而不驚、不怖、不畏,並信解受持,愛樂順入,修習安住。〔六十華嚴卷二十八、無量壽經卷上、月燈三昧經卷二、無量壽經連義述文贊卷中、無量壽經會疏卷五、無量壽經記卷上〕(參閱「三法忍」571)
; Ghoṣanugama-dharma-kṣānti (S), Ghoshanugama-dharma-kṣānti (S).
; Sound and echo perseverence, the patience which realizes that all is as unreal as sound and echo.
; Ghoshanugakshanti (skt)—Kshanti in sounds—Nhẫn vào những âm thanh tiếng vọng vì nhận thức rằng chúng không thực—Sound and echo perseverance, the patience which realizes that all is as unreal as sound and echo.
; (音響忍) Phạm: Ghowànugama - dharma - kwànti. Là một trong ba phép nhẫn. Còn gọi là Tùy thuận âm hưởng nhẫn, Tùy thuận âm thanh nhẫn. Có ba nghĩa: 1. Nghĩa là thuận theo tiếng nói pháp của Phật Bồ tát mà biết được đạo lí các pháp, an trú nơi pháp. 2. Nghĩa là những người vãng sinh sang thế giới Cực lạc, nghe âm thanh của rừng cây bảy báu mà tỏ ngộ cái lí không mà như có, chẳng phải có mà có. Ngài Tuệ viễn, trong Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ (Đại 37, 106 thượng), nói: Tìm tiếng hiểu tỏ, biết tiếng như vang, gọi là Âm hưởng nhẫn. 3. Nghĩa là nghe pháp chân thực mà không kinh, không sợ, không hãi, tin hiểu thụ trì, ưa thích thuận vào, tu tập an trú. [X. kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) Q.28;kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Nguyệt đăng tam muội Q.2; Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.trung; Vô lượng thọ kinh hội sớ Q.5; Vô lượng thọ kinh kí Q.thượng]. (xt. Tam Pháp Nhẫn).
âm hồn
Manes.
âm lịch
Lunar calendar.
âm ma
See Ngũ Uẩn.
âm mưu
Plot—Conspiracy—Scheme.
âm mộc
Một loại dụng cụ bằng gỗ để gõ khi tụng kinh, mỗi cuối câu lại đánh nhịp hay gõ phách cho ăn nhịp—Sounding block, or board for keeping time or rhythm.
âm nghĩa
3991解釋文字形態、發音、語義之典籍。我國很早即有一般史書、經書之音義典籍,例如佛典中有劉宋慧叡之十四音訓敘、北齊道慧之一切經音,然此二書皆已佚失。至唐代,有玄應之一切經音義二十五卷、慧苑之新譯華嚴經音義兩卷、慧琳之一切經音義百卷、希麟之續一切經音義十卷等。上列諸書之語彙排列皆依原本之順次而定。及至北宋,處觀之紹興重雕大藏音三卷則以漢字部首排列,爲一種字典體裁之音義著作。日本撰述之音義類書,概以萬葉假名與和訓(日語讀法之次序)編排而成者,例如大般若經音義(今僅存中卷);漢文注釋較詳細者有仲算之法華經釋文三卷,與信瑞之淨土三部經音義集四卷。尚有使用音訓(日語讀法之次序)與片假名之形式者,例如心空之法華經音義二卷等。〔出三藏記集卷十五道安傳、開元釋教錄卷八、宋高僧傳卷二十五、中國佛教史籍概論(陳垣)卷三、卷四〕
; 1) Giải thích âm và nghĩa của các từ trong kinh điển: Sound and meaning, i.e. pronunciation and significance. 2) Quyển từ điển giải thích về cách phát âm của các từ trong kinh điển: A pronouncing dictionary.
; (音義) Là sách giải thích về hình thái, cách phát âm và ý nghĩa của văn tự. Tại Trung quốc, từ rất sớm, đã có sách âm nghĩa phổ thông về sách sử, sách kinh, chẳng hạn, trong kinh Phật, có Thập tứ âm huấn tự của ngài Tuệ duệ đời LưuTống, Nhất thiết kinh âm của ngài Đạo tuệ đời BắcTề, nhưng hai sách này đều đã mất. Đến đời Đường, có Nhất thiết kinh âm nghĩa hai mươi lăm quyển của ngài Huyền ứng, Hoa nghiêm kinh (bản dịch mới) âm nghĩa hai quyển của ngài Tuệ uyển, Nhất thiết kinh âm nghĩa trăm quyển của ngài Tuệ lâm, Tục nhất thiết kinh âm nghĩa mười quyển của ngài Hi lân v.v... Cách sắp xếp ngữ vựng trong các bộ sách nêu trên đều y theo thuận tự của nguyên bản. Cho đến đời BắcTống, trong Thiệu hưng trùng điêu đại tạng âm ba quyển của ngài Xử quan thì sắp xếp theo bộ thủ chữ Hán, là một loại sách âm nghĩa theo thể tài Tự điển. Loại sách âm nghĩa do người Nhật bản soạn thuật, thì đại khái lấy Vạn diệp giả danh và Hòa huấn (thứ tự cách đọc tiếng Nhật) để biên tập và sắp đặt mà thành, chẳng hạn như Đại Bát-nhã kinh âm nghĩa (nay chỉ còn quyển trung); chú thích Hán văn tường tế hơn thì có Pháp hoa kinh thích văn3 quyển của Trọng toán, và Tịnh độ tam bộ kinh âm nghĩa tập 4 quyển của Tín thụy. Còn có hình thức sử dụng Âm huấn (thứ tự cách đọc tiếng Nhật) và Phiến giả danh, chẳng hạn như Pháp hoa kinh âm nghĩa 2 quyển của Tâm không. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.15 Đạo an truyện; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Tống cao tăng truyện Q.25; Trung quốc Phật giáo sử tịch (Trần Viên) Q.3, Q.4].
âm nhạc
Âm nhạc được dùng kèm với nghi lễ—Music, a musical accompaniment to a service.
âm nhập giới
Còn gọi là Ngũ Uẩn, hay 12 cửa vào của thức, hay 18 giới—The five skandhas, the twelve entrances, or bases through which consciousness enters (Ayatana), or eighteen dhatu or elements.
Âm Phủ
(陰府): tên gọi khác của Minh Phủ (冥府, xin tham khảo thêm phần Minh Phủ), Âm Ty (陰司), Địa Ngục (地獄). Như trong Tân Tề Hài (新齊諧), phần Trang Minh Phủ (莊明府) của Viên Mai (袁枚, 1716-1797) nhà Thanh có câu: “Yến tất, Trang tri vi Âm Phủ, nhân vấn chung thân chi sự khả dự tri phủ (宴畢、莊 知爲陰府、因問終身之事可預知否, xong yến tiệc, họ Trang mới biết là Âm Phủ, bèn hỏi chuyện qua đời có thể biết trước được chăng).”
âm phủ
Hell—Underworld.
âm thanh
Vara (S), Sound Xem Thanh.
; Sabda (S). Sound, note, preaching. Hòa nhã âm, harmonious and elegant sounds. Vi diệu âm, most exquisite voices.
; Sound, note, preaching.
âm thanh bất tư nghì
Inconceivable sounds.
âm thanh của đức như lai
Buddha's Voice—Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Như Lai Xuất Hiện, phẩm nầy chỉ cách cho chư đại Bồ Tát làm thế nào để biết âm thanh của Đức Như Lai—According to The Flower Adornement Scripture, Chapter Manifestation of Buddha (37), show the ways for great enlightening beings to know the voice of the Buddha. 1) Âm thanh của Đức Như Lai đến khắp tất cả, vì nó khỏa lấp mọi âm thanh khác: The Buddha's voice is omnipresent, because it pervades all sounds. 2) Âm thanh của Đức Như Lai, tùy tâm sở thích của thính giả đều làm cho họ hoan hỷ, vì thuyết pháp minh liễu: The Buddha's voice pleases all according to their mentalities, because its explanation of truth is clear and comprehensive. 3) Âm thanh của Đức Như Lai, tùy tín giải của thính giả đều làm cho họ hoan hỷ, vì tâm được thanh lương: The Buddha's voice gladdens all according to their resolve, because their minds gain clarity and coolness. 4) Âm thanh của Đức Như Lai giáo hóa chẳng lỗi thời, vì người đáng được nghe thời đều được nghe: The Buddha's voice teaches without error in timing, because all who need and are able to hear it do. 5) Âm thanh của Đức Như Lai không sanh diệt, vì như vang ứng tiếng: The Buddha's voice has no birth or death, because it is like the echo of a call. 6) Âm thanh của Đức Như Lai không chủ, vì do tu tập tất cả công hạnh phát khởi: The Buddha's voice has no owner, because it is produced by cultivation of all appropriate practices. 7) Âm thanh của Đức Như Lai rất sâu, vì khó lường được: The Buddha's voice is extremely profound, because it cannot be measured. 8) Âm thanh của Đức Như Lai không tà vạy, vì do pháp giới phát sanh: The Buddha's voice has no falsehood or deviousness, because it is born of the realm of truth. 9) Âm thanh của Đức Như Lai không đoạn tuyệt, vì vào khắp pháp giới: The Buddha's voice has no end, because it permeates the cosmos. 10) Âm thanh của Đức Như Lai không biến đổi, vì đã đến nơi rốt ráo: The Buddha's voice has no change, because it reaches the ultimate. ** For more information, please see Tứ Chủng Phật Âm.
âm thanh du dương
Pleasant and harmonious sound.
âm thanh hay
Tuneful sound.
âm thanh phật sự
3991人於耳根者,稱爲音聲。佛濟度眾生之事業,或以光明,或以佛身,或以香飯、衣服、臥具等,總稱爲佛事。在娑婆世界中,不依他種方法,而獨以音聲爲說法,稱爲音聲佛事。〔維摩經香積佛品、金光明玄義卷二〕
; Phật dùng âm thanh thuyết pháp để cứu độ chúng sanh (có khi Phật lại dùng ánh sáng kỳ diệu để cứu độ)—Buddha's work in saving by his preaching.
; (音聲佛事) Cái lọt vào nhĩ căn (lỗ tai), gọi là âm thanh. Sự nghiệp tế độ chúng sinh của đức Phật, hoặc dùng ánh sáng, hoặc dùng thân Phật, hoặc dùng lương thực, đồ mặc, đồ nằm, ngồi v.v... gọi chung là Phật sự. Ở trong thế giới Sa bà, không y vào các phương pháp khác, mà chỉ dùng âm thanh nói pháp, gọi là Âm thanh Phật sự. [X. kinh Duy ma phẩm Hương tích Phật; Kim quang minh huyền nghĩa Q.2].
âm thần
Female spirit.
âm ti
See Âm phủ.
âm tiền
Paper money for use in services to the dead.
; Tiền giấy, hay giấy vàng mã, dùng để cúng cho người chết—Paper money for use in services to the dead.
âm trì nhập kinh
4826凡二卷。東漢安世高譯。收於大正藏第十五冊。本經旨在闡明五陰(色、受、想、行、識)及十二入(眼、耳、鼻、舌、身、心,及色、聲、香、味、更、法等,內外各六)之法相,並細說三十七品經法(四意止、四意斷、四神足、五根、五力、七覺意、賢者八種道行)。更進而闡論由道諦通達解脫之方法。 三國時代,我國佛教思想界分為兩大系統。一為安世高之小乘禪學系統,另一為支婁迦讖之大乘般若學系統。安世高系統之重要經典即為陰持入經、安般守意經。故陰持入經即基於小乘佛教之立場,釋論法數及解脫之道。另「陰持入經註」為研究我國三世紀時佛教思想及佛典譯語之重要資料。據考證此註應作於西晉以前,其作者應屬安世高、安玄、唐僧會、嚴佛調及南陽韓林、穎川皮業、會稽陳慧之系統。
; (陰持入經) Gồm hai quyển. An thế cao đời Đông Hán dịch,thu vào Đại chính tạng tập 15. Mục đích kinh này là nói rõ các pháp tướng năm ấm (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) và mười hai nhập (nhãn nhĩ tị thiệt thân tâm, sắc thanh hương vịxúc pháp... trong sáu ngoài sáu), đồng thời, nói tỉ mỉ các pháp trong kinh Tam thập thất phẩm (bốn ý chỉ, bốn ý đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác ý, tám thứ đạo hạnh của Hiền giả). Lại tiến bước nữa mà nói rõ cái phương pháp do Đạo đế mà thông suốt giải thoát. Vào thời đại Tam quốc, tư tưởng giới Phật giáo Trung quốc chia làm hai hệ thống lớn. Một là hệ thống Thiền học Tiểu thừa của An thế cao, hai là hệ thống Bát-nhã học Đại thừa của Chi lâu ca sấm. Những kinh điển trọng yếu của hệ thống An thế cao tức là kinh Ấm trì nhập, kinh An ban thủ ý. Cho nên, kinh Ấm trì nhập đứng trên lập trường Phật giáo Tiểu thừa mà giải thích, luận bàn các pháp số và đạo giải thoát. Ngoài ra, Ấm trì nhập kinh chú là một tư liệu trọng yếu của sự nghiên cứu về tư tưởng Phật giáo và ngôn ngữ dịch kinh Phật ở Trung quốc vào thế kỉ thứ III. Cứ khảo chứng bản chú này, thì chắc nó đã được viết từ trước đời Tây Tấn, và tác giả phải là người thuộc hệ thống An thế cao, An huyền, Khang tăng hội, Nghiêm phật điều và Hàn lâm Nam dương, Bì nghiệp Dĩnh châu, Trần tuệ Cối kê.
âm tàng
A retractable penis - one of the thirty two marks of Buddha.
; Nam căn ẩn sâu bên trong, đây là một trong 32 tướng hảo của Phật—A retractable penis, one of the thirty-two marks of a Buddha.
âm tín
News
âm u
Overcast—Dull—Cloudy.
âm vọng
Ảo tưởng của ngũ uẩn, hay sự không thật của ngũ uẩn—The skandha-illusion, or the unreality of the skandhas.
âm vọng nhất niệm
Ảo tưởng của ngũ uẩn cũng tương tự như một niệm đi qua—The illusion of the skandhas like a passing thought
ân
4106一切事物皆依因緣方能相互生存,此即恩之所在。佛教所說之恩,可分積極的與消極的兩面。積極的恩,即心存恩念,此為修行佛道之根本要素。例如大乘本生心地觀經所舉父母之恩、國王之恩、眾生之恩、三寶之恩等四恩,為吾人所必須常思常念者;其中,尤言孝養父母之功德與供養佛相等。此外,如來以大願力救度眾生之恩德亦須思之、感之。消極的恩,例如親子、夫婦之恩愛,常妨礙佛道之修行,故必須斬斷。據法苑珠林卷二十二載,僧侶於出家得度時,有一偈云(大五三‧四四八中):「流轉三界中,恩愛不能脫;棄恩入無為,真實報恩者。」 我國與日本皆重視恩之思想,而印度佛教則不甚強調,如於「人施設論」(巴 Puggala-paññatti)一書中言及世間值得重視與讚美之人有二類,一為施恩者,另一為知恩而又感恩者。「知恩者」,其巴利文原語為 kataññū,直譯之,則為能感知他人恩惠之人。漢字中恩字,即「因」與「心」所構成,其意與原語之意可謂不謀而合,故亦可謂無論何事,舉凡促成今日狀態之一切原因,皆須常存心內,深刻思念。〔增一阿含經卷十一〕(參閱「四恩」1747)
; Grace, favour.
; Ân huệ: Grace—Gratitude—Favour.
; (恩) Hết thảy sự vật đều nhờ mối quan hệ hỗ tương (nhân duyên) mà sống còn, ơn tức là từ đó. Ơn trong Phật giáo có thể chia làm hai phương diện tích cực và tiêu cực. Ơn về mặt tích cực, tức là trong lòng luôn nghĩ đến ơn, đây là yếu tố căn bản của sự tu hành Phật đạo. Chẳng hạn như kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán có nêu lên bốn ơn, là ơn cha mẹ, ơn quốc vương, ơn chúng sinh, ơn Tam bảo, đó là những ơn mà người ta phải luôn luôn nhớ nghĩ tới; trong đó, đặc biệt nói công đức hiếu dưỡng cha mẹ ngang hàng với cúng dường Phật. Ngoài ra, cái ân đức của Như lai đã đem sức đại nguyện cứu độ chúng sinh cũng cần phải ghi nhớ, cảm tạ. Còn ơn về mặt tiêu cực, chẳng hạn thương yêu con cái, ân ái giữa vợ chồng, thường làm trở ngại việc tu hành Phật đạo, nên cần phải cắt đứt. Pháp uyển châu lâm quyển 22 chép, tăng lữ khi xuất gia được độ, có bài kệ (Đại 53, 448 trung) rằng: Trôi lăn trong ba cõi, ân ái không ra được; bỏ ân vào vô vi, là chân thực báo ân. Trung quốc và Nhật bản đều coi trọng tư tưởng ơn, nhưng Phật giáo Ấn độ thì lại không nhấn mạnh lắm, hư luận Nhân thi thiết (Pāli: Puggala-paĩĩatti) bảo, trong thế gian có hai hạng người được coi trọng và khen ngợi, đó là người ban ơn và người biết ơn, cảm ơn. Người biết ơn (tri ân giả) là dịch thẳng từ nguyên ngữ Pāli Katĩĩù,là người hay cảm biết ơn huệ của người khác. Chữ ân trong chữ Hán, được cấu thành bởi chữ (nhân) và chữ (tâm), ý chữ ân và ý nguyên ngữ, có thể nói, không hẹn mà gặp, cho nên, có thể bảo rằng bất cứ việc gì, nguyên nhân nào, phàm đã cấu thành cái trạng thái ngày nay, đều phải ghi nhớ luôn ở trong lòng và suy nghĩ cho sâu. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.11]. (xt. Tứ Ân).
ân cha mẹ thầy tổ
The debt to our parents and teachers.
ân chúng sanh
The debt we owe all sentient beings.
ân cần
Zealous—Careful—To be thoughtful—To greet someone with open hands.
ân huệ
Mitra (S)Mật đặc La, Mật đa laÂn huệ đối với muôn loài.
; Grace—Favor—Kindness.
ân hà
Dòng tình cảm ân huệ cứ mãi xô đẩy chúng sanh trong dòng sanh tử—The river of grace which keeps or binds men in the flow of transmigration.
ân hải
4107四恩之廣海。四恩即父母恩、國王恩、眾生恩,三寶恩。〔性靈集卷七〕(參閱「四恩」1747)
; Biển ái ân cứ tiếp tục nhận chìm chúng sanh trong biển đời sanh tử—The sea of grace which sinks men in the ocean of transmigration.
; (恩海) Bể rộng bốn ơn. Bốn ơn là ơn cha mẹ, ơn quốc vương, ơn chúng sinh, ơn Tam bảo. [X. Tính linh tập Q.7]. (xt. Tứ Ân).
ân hận
Repentance—Penitence—Remorse.
ân lân
Lòng từ bi lân mẫn—Loving-kindness and pity.
ân mẫu
Mẹ đở đầu—Foster-mother.
ân nghĩa
Kindness and affection.
ân nhi
Con đở đầu—Foster-child.
ân nhân
Benefactor .
ân oán
Gratitude and resentment.
ân phụ
Cha đở đầu—Foster-father.
ân sủng
Kindness—Grace.
ân tam bảo
The debt to the Triple Gems (Jewels).
ân thiện hữu tri thức
The debt to our spiritual friends.
ân thưởng
Reward—Recompense.
ân triều
Yin Dynasty (C)Nhà Ân.
ân tình
Grace and feeling.
ân viên đức
4107三種圓德之一。謂如來利他之行功德圓滿。即如來具有使眾生永脫三惡趣,或出善趣之生死,而安置眾生於善趣中或三乘中之功德。〔俱舍論卷二十七〕
; (恩圓德) Là một trong ba thứ viên đức. Có nghĩa công đức làm lợi người của Như lai tròn đầy. Tức là, Như lai có đủ công đức khiến chúng sinh vĩnh viễn thoát khỏi ba ngả ác, hoặc ra khỏi sống chết trong nẻo thiện mà đặt chúng sinh trong ngả thiện hoặc trong ba Thừa. [X. luận Câu xá Q.27].
ân xá
Amnesty.
ân ái
4107父子、兄弟、夫妻之間互相執著之情愛,稱為恩愛。世人沉溺於情愛之中,因而為恩愛所縛,不得解脫,故可視世界為恩愛之監獄。佛教主張世人應捨棄恩愛而趨入佛道,能入佛道方為真正之報恩。故法苑珠林卷二十二(大五三‧四四八中):「流轉三界中,恩愛不能脫;棄恩入無為,真實報恩者。」〔諸經要集卷四〕(參閱「恩」4106)
; Grace and love, human affection, which is one of the causes of rebirth
; Ân huệ và tình thương yêu (tình cảm thương yêu chìm đắm giữa mình và người thân)—Grace and love.
; (恩愛) Tình yêu gắn bó giữa cha con, anh em, vợ chồng gọi là ân ái. Người đời chìm đắm trong yêu đương, do đó bị ái ân trói buộc, không gỡ ra được; bởi thế, có thể nói, thế gian là cái ngục ái ân giam hãm con người. Phật giáo chủ trương người đời nên bỏ ân ái mà vào Phật đạo, vào Phật đạo mới có thể báo ân chân chính. Vì thế, Pháp uyển châu lâm quyển 22 (Đại 53, 448 trung), nói: Trôi lăn trong ba cõi, ân ái không thoát được; bỏ ân vào vô vi, là báo ân chân thực. [X. Chư kinh yếu tập Q.4]. (xt. Ân).
ân ái hà
4108父子、夫妻間之恩愛繫縛之深,猶如河海,難渡難測。〔大智度論卷一〕
; The river of grace.
; (恩愛河) Giữa cha con, vợ chồng, sợi dây ân ái trói buộc rất chắc, rất sâu, cũng như sông biển, khó vượt qua, khó lường tới. [X. Luận Đại trí độ Q.1].
ân ái hải
The sea of grace.
ân ái ngục
4108娑婆世界猶如監獄,人人為恩愛所束縛,不能解脫自在。〔長阿含經卷一〕(參閱「恩愛」4107)
; The prison of affection, which holds men in bondage.
; Ngục tù ân ái trói buộc chúng sanh vào luân hồi sanh tử—The prison of affection which holds men in bondage of transmigration.
; (恩愛獄) Thế giới Sa-bà cũng như ngục tù, ai ai cũng bị ái ân gông cùm, không được tự tại giải thoát. [X. kinh Trường a hàm Q.1]. (xt.Ân Ái).
ân ái nô
4107凡人貪著愛染,猶如恩愛之奴婢,亦因之而輪迴三界,流轉生死。〔長阿含經卷十、普賢觀經〕
; (恩愛奴) Phàm kẻ đắm say ân ái, bị ân ái sai khiến như đứa nô lệ, cũng vì thế mà phải vòng quanh trong ba cõi, sống chết trôi giạt. [X. kinh Trường ahàm Q.10; kinh Phổ hiền quán].
Ân ái 恩愛
[ja] オンアイ on'ai ||| (1) Affection (for one's parents, spouse, chīd, etc.). (2) That which is desirable, pleasant. (3) Affection, attachment, covetous affection, deluded attachment. The eighth of the twelve factors of conditioned arising. - =>1. Tình cảm (đối với cha mẹ, vợ chồng, con cái v.v...) - 2. Điều khát khao, thèm muốn. - 3. Cảm xúc, quyến luyến, thèm muốn tình cảm, tình cảm mê đắm. Là chi thứ 8 trong Thập nhị nhân duyên. -
ân điền
4106三種福田之一,亦為八種福田之一。對於父母、師長、和尚、阿闍梨等,於己有恩德之人,能知恩、感恩、報恩,則可生福德,一如田地之能滋生長養穀物,故稱恩田。〔優婆塞戒經卷三、俱舍論卷十八〕(參閱「福田」5852)
; The field of grace, i.e. parents, teachers, elders, monks, in return for the benefits they have conferred; one of the tam phúc điền.
; Một trong ba loại phước điền, mầm phúc đức nẩy lên từ ân đức phụng dưỡng cha mẹ, sư trưởng, hay thầy tổ—One of the three sources of felicity, the field of grace, i.e. parents, teacher, elder monks, in return for the benefits they have conferred—See Tam Phước (A) (1) and (B) (1).
; (恩田) Là một trong ba thứ ruộng phúc, cũng là một trong tám thứ ruộng phúc. Đối với những người có ân đức với mình, như cha mẹ, sư trưởng, hòa thượng, A xà lê, hay biết ơn, cảm ơn, báo ơn, thì có thể sinh ra phúc đức, cũng như ruộng nương có khả năng bồi bổ nuôi lớn các loại mễ cốc, cho nên gọi là ân điền.
ân độ
4107即出家得度之意。恩,原指感知他人所施予自己之好處、善意等;於中文中,由「因」與「心」合成其字,概謂恆常於心上銘感形成今日狀態之一切原因。此一界說甚符合佛教之報恩思想,如大乘本生心地觀經等所揭示,佛道修行者應常感念父母、國王、眾生、三寶等之四恩。故以出家一事言之,若了知今日出家得度之因緣,必來自其所形成之一切事緣,其中尤以佛之大願力為然,則亦必能深感此一得度之恩。以是之故,恩度又為出家得度之別稱。〔東林善法堂記(張無盡)〕(參閱「恩」4106)
; Người cứu độ chúng sanh, từ để chỉ một vị Tăng—One who graciously save, a term for a monk.
; (恩度) Tức hàm ý là xuất gia được độ. Ân, nguyên là chi sự cảm biết chỗ tốt và thiện ý mà người khác dành cho mình. Trong Hán văn, chữ.. (ân) là do chữ ...(nhân) và chữ .(tâm) hợp thành, đại khái bảo trong tâm phải luôn luôn ghi nhớ tất cả nguyên nhân đã hình thành cái trạng thái hôm nay. Sự định nghĩa này rất phù hợp với tư tưởng báo ân trong Phật giáo, như kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán đã chỉ bày, người tu hành Phật đạo phải thường xuyên nghĩ nhớ bốn ơn, là ơn cha mẹ, ơn quốc vương, ơn chúng sinh và ơn Tam bảo. Cho nên, lấy một việc xuất gia mà nói, nếu biết rõ nhân duyên ngày nay xuất gia được độ, tất phải từ tất cả sự duyên hình thành, mà trong đó, đặc biệt có sức đại nguyện của Phật, thì cũng phải thầm cảm cái ơn được độ ấy, do đó, ân độ cũng là cách nói khác của xuất gia đắc độ vậy. [X. Đông lâm thiện pháp đường kí (Trương vô tận)]. (xt. Ân).
ân đức
4108為佛所具足的三種德相之一。如來乘大願力而救度眾生,故對眾生有大恩德。〔大日經卷六、大乘本生心地觀經卷八〕(參閱「三德」668)
; The merit of universal grace and salvation.
; (恩德) Là một trong ba thứ đức tướng của Phật. Như lai vận dụng Đại thừa nguyện lực mà cứu độ chúng sinh, vì thế có ân đức lớn đối với chúng sinh. [X. kinh Đại nhật Q.6; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.8]. (xt. Tam Đức).
Ân 恩
[ja] オン on ||| Love, affection, compassion. - => Tình thương, tình cảm, lòng trắc ẩn. -
; [ja] オン on ||| Love, affection, compassion. - => Tình thương, tình cảm, lòng trắc ẩn. -
âu
 châu—European.
âu ba da ba la mật
Upaya-paramita (skt)—Một trong mười Ba La Mật, phương tiện cứu độ, hay dùng phương tiện thiện xảo để cứu độ người qua đến bến bờ bên kia—One of the ten paramitas, saving by the method of expedient teaching—See Thập Ba La Mật.
âu bá mễ lặc
6099(Evgenii Evgeniewich Obermiller, 1901~1935)蘇俄佛教學者。一九○一年,出生於列寧格勒(Leningrad)。記憶力強,並富音樂才華,於進入公立學校時,即通達英、法、德三國語言,立志做音樂家。一九一八年,於就讀大學時期罹患絕症,遂改變方針,在列寧格勒大學從史徹巴斯基(Th. Stcherbatsky)學習印度學與梵文文典,幾能諳誦全部經典。同時研究詩學理論,更習得西藏語、蒙古語,從事佛教文庫(Biblio theca Buddhica)之編纂。至一九二七年,始在文庫上發表正理一滴及其注疏之梵藏索引(Sanskrit and Tibetan Index Verborum to Nyāyabindu, Nyāyabindu ṭīkā),此後陸續出版之著作頗多。著作除上記之外,並有 Abhisamayālaṃkāra, Sanskrit Text and Tibetan translation, jointly edited with Prof. Th. Stcherbatsky, Bibl. Bud., 1929(現觀莊嚴論梵本及西藏譯校訂出版); Bu-ston's History of Buddhism, 2 vols. Heidelberg, 1931~1932(布頓佛教史英譯)等,不勝枚舉。歿於一九三五年。〔Th. Stcherbatsky:Obituary Notice, Dr. E.E. Obermiller, Indian Historical Quarterly, vol. XⅡ, 1936;Z.D.M.G, 1935〕
; (歐伯米勒) EVGEMI EVGENIEWICH OBERMILLER (1901 - 1935) - Nhà học giả Phật giáo nước Nga. Ra đời tại Liệt ninh cách lặc (Leningrad) năm 1901. Trí nhớ rất mạnh, có tài âm nhạc, khi vào học trường công, đã thông thạo ba thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, lập chí trở thành nhà âm nhạc. Năm 1918, đến thời kì vào Đại học thì gặp nạn, bèn đổi phương châm, theo Sử triệtbatưcơ (Th. Stcherbasky) học tập Ấn độ học và tiếng Phạm tại Đại học Liệt ninh cách lặc, không bao lâu đã đọc được toàn bộ kinh điển. Đồng thời, nghiên cứu thi ca, học luận lí, lại học thêm tiếng Tây tạng, tiếng Mông cổ, theo việc biên soạn văn khố Phật giáo (Biblio theca Buddhica). Đến năm 1927 mới công bố Chính lí nhất trích với chú thích và sách dẫn (index) Phạm - Tạng (Sanskrit and Tibetan Index Verborum to Nyàyabindu, Nyàyabindu tìkà), rồi từ đó trở đi, tiếp tục xuất bản rất nhiều tác phẩm. Ngoài tác phẩm kể trên, còn có: Abhisamayàlaôkàra, Sanskrit Text and Tibetan translation, jointly edited with Prof. Th. Stcherbatsky, Bibl. Bud., 1929 (luận Hiện quán trang nghiêm, nguyên bản tiếng Phạm và bản dịch Tây tạng hiệu đính xuất bản); Bu-ston’s History of Buddhism, 2 vols., Heidelberg, 1931 - 1932 (Lịch sử Phật giáo của Bố đốn, bản dịch tiếng Anh) v.v... Ông mất năm 1935. [X. Th. Stcherbatsky: Obituary Notice, Dr. E. E. Obermiller, Indian Historical Quarterly, Vol.XII, 1936; Z. D. M. G., 1935].
âu bát la
Utpala (skt)—Còn gọi là Ô Bát La, Ôn Bát La, hay Ưu Bát La. 1) Bông sen xanh: The blue lotus. 2) Long Vương và hồ sen xanh của Long Vương: A lord of Nagas and his blue lotus lake.
âu dương tiệm
6101(1871~1943)江西宜黃人。字竟無,一字漸吾。早歲刻苦治學,博覽諸子百家,中日甲午戰起時,感於雜學無濟於國事,乃專治義理之學,欲以之挽救時弊。三十四歲,赴南京師事楊仁山,得聞華嚴法界之旨,歸信佛教,入祇洹精舍,潛心經論,致力佛學。年三十六,母親病逝,遂將肉食、色欲一併斷絕。自云學佛與他人異,每於悲憤而後有學。曾留學日本,返國後任兩廣優級師範教員。其後再赴南京從楊仁山遊,楊氏臨歿,以金陵刻經處相囑。民國元年(1912),與李證剛等倡設佛教會,主張政教分離、沙汰庸僧,可惜事與願違,未能成功。 氏於佛學,初讀大乘起信、華嚴、楞嚴。年逾四十,轉攻法相唯識、瑜伽師地等,更由大智度論而般若、涅槃;久之,則專尚法相唯識,揚棄華嚴,以為大乘起信論、楞嚴經均為偽書。同時會通儒佛,所刊行中庸傳、孔學雜誌、四書讀等,皆能發前人之所未發,學術界尊為「佛學大師」。 民國十一年,在南京創立「支那內學院」,講「唯識抉擇談」,呂澂、湯用彤、王恩洋、黃懺華、熊十力等人皆嘗遊學於其門;名學者梁啟超、梁漱溟、章太炎等人亦與之相過從。印度詩哲泰戈爾來華訪問時,特往面晤,暢談一夕,驚佩不已。十四年開辦法相大學,設特科,然以時局停辦。復編纂藏要三輯,方便學佛。抗戰期間,遷內學院於四川江津,仍講學、刻經不輟。民國三十二年二月,氏以肺炎病逝於蜀院,享年七十三歲。門人總輯其遺文三十餘卷,成「竟無內外學」一書行世。政府播遷臺灣後,該書未見流通。臺灣新文豐出版公司覓得其書之大部分,出版歐陽大師遺集四冊(二十五開)三千餘頁,其名著「唯識抉擇談」、「對空有諸宗典籍之敘論」、「瑜伽師地論敘」,及「支那內學院院訓釋」等,皆包含於其中。 氏重視在家佛教,貶斥出家佛教,民國七年發表之支那內學院簡章總綱第一條云:「本內院以闡揚佛教,養成弘法利世之才,非養成出家自利之士為宗旨。」同出於楊仁山之門之太虛大師乃撰「關於支那內學院文件之摘疑」以駁斥之,由是乃開啟太虛大師與內院法義之諍,太虛大師並陸續撰佛法總抉擇談、竟無居士學說質疑、論法相必宗唯識、再論法相必宗唯識等文往復質辯之。
; (歐陽漸) (1871-1943) Người huyện Nghi hoàng tỉnh Giang tây. Tự là Kính vô, Tiệm ngô. Lúc nhỏ chịu khó học, xem khắp bách gia chư tử. Khi chiến tranh Trung Nhật bùng nổ vào năm Giáp ngọ, nhận thấy cái học tạp nhạp chẳng giúp ích gì cho đất nước, bèn chuyên trị học nghĩa lí, hòng dùng nó để vãn cứu thời tệ. Năm ba mươi tư tuổi đến Nam kinh hầu Dương nhân sơn, được nghe về ý chỉ của pháp giới Hoa nghiêm bèn tin theo Phật giáo, vào tinh xá Kì hoàn, để hết tâm vào kinh luận, dốc sức học Phật. Năm ba mươi sáu tuổi, thân mẫu nhuốm bệnh chết. Tự nói người học Phật khác với các người khác, mỗi lần bị phẫn lại càng phải học. Từng lưu học Nhật bản, sau khi về nước, nhận chức giáo viên của trường Sư phạm tại Lưỡng quảng. Sau lại đến Nam kinh ẨN SỞ TÁC PHÁP theo Dương nhân sơn, khi họ Dương mất, đem cơ sở khắc kinh tại Kim lăng giao phó cho ông. Dân quốc năm đầu (1912), cùng với Lí chứng cương đề xướng lập hội Phật giáo, chủ trương tôn giáo tách rời chính trị, sa thải các tăng lữ tầm thường, rất tiếc là việc làm và ước nguyện trái nhau, chưa thành công được. Ông đối với Phật học, đầu tiên đọc Đại thừa khởi tín, Hoa nghiêm, Lăng nghiêm. Đến bốn mươi tuổi, chuyển sang khảo cứu Pháp tướng duy thức, Du già sư địa, rồi lại từ luận Đại trí độ đến Bát-nhã, Niếtbàn; lâu sau chỉ còn chuyên Pháp tướng Duy thức, bỏ Hoa nghiêm, cho luận Đại thừa khởi tín, kinh Lăng nghiêm đều là kinh sách giả. Đồng thời, hội thông Nho Phật, san hành Trung dung truyện, Khổng học tạp chí, Tứ thư độc v.v... đều phát hiện được cái mà những người trước chưa phát hiện được, giới Phật học tôn là Phật học đại sư. Năm Dân quốc 11, sáng lập tại Nam kinh China nội học viện, giảng Duy thức quyết trạch đàm, những người như Lữ trừng, Thang dụng đồng, Vương ân dương, Hoàng sám hoa, Hùng thập lực v.v... đều đã đến học Âu dương tiệm; các học giả trứ danh như Lương khải siêu, Lương thấu minh, Chương thái viêm, cũng đã từng đến gặp. Nhà thơ và nhà triết học Ấn độ Thái qua nhĩ (Tagore) khi sang thăm Trung quốc, đặc biệt đã đến diện kiến, đàm luận một đêm, kinh ngạc mãi không thôi. Khoảng năm Dân quốc 14, thiết lập Đại học Pháp tướng chuyên khoa, nhưng vì thời cuộc phải bỏ dở. Lại biên soạn Tạng yếu ba tập, Phương tiện học Phật. Trong thời gian kháng chiến, rời Nội học viện đến Giang tân tỉnh Tứ xuyên, vẫn dạy học, khắc kinh không nghỉ. Tháng 2 năm Dân quốc 32, ông mất tại Thục viện vì bệnh viêm phổi, hưởng thọ bảy mươi ba tuổi. Môn nhân thu góp những văn phẩm của ông gồm hơn ba mươi quyển, đóng chung thành một tập gọi là Kính vô nội ngoại học lưu hành ở đời. Sau khi chính phủ Dân quốcdời ra Đài loan, tập ấy chưa thấy lưu thông. Công ty xuất bản Tân văn phong ở Đài loan đã tìm được một bộ phận lớn của sách ấy, xuất bản Âu dương đại sư di tập bốn tập, hơn ba nghìn hạng mục, nổi tiếng thì có: Duy thức quyết trạch đàm, Đối không hữu chư tông điển tịch chi tự luận, Du già sư địa luận tự và China nội học viện viên huấn thích, đều bao hàm trong bốn tập đó. Âu dương tiệm coi trọng Phật giáo tại gia, chê bai Phật giáo xuất gia; Dân quốc năm thứ 7, công bố China nội viện giản chương tổng cương đệ nhất điều, nói: Tông chỉ của Nội viện là xiển dương Phật giáo, đào tạo nhân tài hoằng pháp làm lợi cho đời, chứ không đào tạo những kẻ sĩ xuất gia tự lợi. Thái hư đại sư, người cùng xuất thân từ cửa Dương nhân sơn, bèn soạn Quan ư Chi na nội học viện văn kiện chi trích nghi để bác bỏ, do đó đã mở màn cuộc tranh luận về pháp nghĩa giữa Thái hư và Nội viện; đồng thời, đại sư Thái hư tiếp tục soạn Phật pháp tổng quyết trạch đàm, Kính cư sĩ học thuyết chất nghi (Chất vấn những điểm quái lạ trong học thuyết của cư sĩ Kính), Luận pháp tướng tất tông Duy thức, Tái luận Pháp tướng tất tông Duy thức v.v... để biện luận và chất vấn.
Âu Dương Tu
(歐陽脩[修], 1007, 1072): chính trị gia, nhà văn học dưới thời Bắc Tống, xuất thân Lô Lăng (廬陵, Tỉnh Giang Tây), tự là Vĩnh Thúc (永叔), hiệu Túy Ông (酔翁), sau đổi thành Lục Nhất Cư Sĩ (六一居士), bút hiệu là Văn Trung (文忠). Dưới thời vua Nhân Tông, ông làm Tham Tri Chính Sự (參知政事), sau đó phản đối Vương An Thạch (王安石) nên từ chức. Ông có biệt tài về thơ văn, được xếp hạng một trong 8 nhân vật nổi tiếng thời Đường Tống. Trước tác của ông có rất nhiều như Tân Đường Thư (新唐書), Tân Ngũ Đại Sử (新五代史), Lục Nhất Thi Thoại (六一詩話), v.v.
âu dương tu
6101(1007~1072)北宋文學家、史學家。吉州廬陵(江西吉安)人。字永叔,號醉翁、六一居士。諡號「文忠」。為唐宋八大家之一。天聖八年(1030),進士及第,歷任地方刺史。四十八歲時受召為翰林學士。嘉祐五年(1060),任樞密副使。次年,任參知政事。熙寧四年(1071)罷官,次年逝世,享年六十六。著有本論三篇,極力排斥佛、老思想;且其編纂新唐書及新五代史時,盡刪除有關佛教紀事二百餘則。然至晚年,一反而成為佛教信徒。
; (歐陽修) (1007 - 1072) Nhà văn học, nhà sử học đời Bắc Tống. Người huyện Lư lăng Cát châu (huyện Cát an tỉnh Giang tây). Tự là Vĩnh thúc, hiệu Túy ông, Lục nhất cư sĩ. Thụy hiệu là Văn trung. Là một trong Bát đại gia đời Đường - Tống. Năm Thiên thánh thứ 8, đậu Tiến sĩ, nhậm chức Thứ sử nhiều nơi. Lúc bốn mươi tám tuổi, nhà vua triệu hồi làm Hàn lâm học sĩ. Năm Gia hựu thứ 5 (1060), giữ chức Khu mật phó sứ. Năm sau, nhậm Tham tri chính sự. Năm Hi ninh thứ 4 (1071) bị bãi chức, năm sau thì mất, thọ sáu mươi sáu tuổi. Ông có viết Bản luận, cực lực bài bác tư tưởng Phật và Lão; hơn nữa, khi biên soạn Tân Đường thư và Tân Ngũ đại sử, ông cắt bỏ hết những sự kiện có liên quan đến Phật giáo gồm hơn hai trăm điều. Tuy nhiên, đến cuối đời, lại quay về làm tín đồ Phật giáo.
âu dương vô uý
6101江西人。名鷙。法號無畏。早歲遊學東北,畢業於瀋陽馮庸大學。先後二次入藏求法,於別蚌寺受戒為比丘。民國四十一年(1952)取得「拉然巴格喜補」學位後來臺。曾任國史館纂修,並任教於政治大學邊政系、邊政研究所、師大國文研究所等,主授西藏語文、歷史文化,及佛學研究等課程。為國內知名之西藏學者。臺灣之研習藏文者,多出其門下。
; (歐陽無畏) Người Giang tây, tên là Chí, pháp hiệu Vô úy. Tuổi còn thơ đã sớm du học miền đông bắc, tốt nghiệp tại Đại học Phùng dung ở Thẩm dương. Trước sau hai lần sang Tây tạng cầu pháp, thụ giới tỉ khưu ở chùa Biệt bạng. Dân quốc năm 41 (1952), sau khi nhận học vị Lạp nhiên ba cách hỉ bổ, trở về Đài loan. Từng nhận chức Quốc sử quán soạn tu, đồng thời, dạy tại Đại học Chính trị, hệ Biên chính, Biên chính nghiên cứu sở, Đại quốc văn nghiên cứu sở v.v... chủ yếu dạy các chương trình Tây tạng ngữ văn, Lịch sử văn hóa và Phật học nghiên cứu. Là nhà học giả về Tây tạng trứ danh trong nước. Những người học tập nghiên cứu văn Tây tạng tại Đài loan, đa số là học trò của sư.
âu ha sa quốc
5829漚呵沙,梵名 Okas。乃荼毘羅耶佛之國土。意譯爲明開闢國。阿闍世王經卷上之夾注(大一五‧三九三上):「漚呵沙者,天竺語,漢言名曰明開闢。」
; (漚呵沙國) Âukhasa, Phạm: Okas. Tức là đất nước của đức Phật Đồtìlada. Dịch ý là nước Minh khai tịch .(nước ánh sáng mở rộng). Chú thích bên cạnh trong kinh Axàthế vương quyển thượng (Đại 15, 393 thượng), nói: Âukhasa là tiếng Thiên trúc, tiếng Hán gọi là Minh khai tịch.
âu hoà câu xá la
5829梵語 upāya-kauśalya,巴利語 upāya-kusala。十波羅蜜之一。又作傴和〖⿰扌/勾〗舍羅、漚惒俱舍羅、漚和拘舍羅、漚波拘舍羅、憂婆憍舍羅、烏波野。意譯方便善巧、方便勝智、善巧方便、善權方便、妙。即菩薩爲攝化眾生,而善巧方便涉種種事,示現種種相。法華義疏卷三(大三四‧四八二中):「外國稱傴和拘舍羅;傴和稱爲方便,拘舍羅名爲勝智;謂方便勝智也。」〔道行般若經卷三、放光般若經卷十六、華嚴經疏演義鈔卷十四、可洪音義卷一之一〕(參閱「方便」1435)
; (漚和俱舍羅) Phạm:Upàya-kauzalya, Pāli: Upàyakusala. Một trong mười balamật. Còn gọi là Ủhòacâuxála, Âubacâuxála, Ưubàkiềuxála, Ôbadã. Dịch ý là phương tiện khéo léo, phương tiện thắng trí, thiện xảo phương tiện, thiện quyền phương tiện, diệu (khéo). Tức Bồ tát vì hóa độ chúng sinh mà dùng các phương tiện khéo léo thị hiện các tướng để hoàn thành sự nghiệp. Pháp hoa nghĩa sớ quyển 3 (Đại 34, 482 trung), nói: Tiếng nước ngoài gọi là Âu hòa câu xá la; Âu hòa là phương tiện, câu xá la là thắng trí, nghĩa là phương tiện thắng trí. [X. kinh Đạo hành bát nhã Q.3; kinh Phóng quang Bát-nhã Q.16; Hoa nghiêm kinh sớ diễn nghĩa sao Q.14; Khả hồng âm nghĩa Q.1 đoạn 1].
âu hòa câu xá la
Upayakausalya (skt)—Phương tiện thiện xảo hay phương tiện thắng trí, thích hợp với điều kiện, cơ hội và sự hội nhập giáo pháp của người nghe pháp—Expediency and skill, adaptable, suited to conditions, opportunist, the adaptation of teaching to the capacity of the hearer.
âu lo vạn sự
Worrying about hundreds of thousands of things.
âu mĩ phật giáo
6099歐美佛教最初以研究佛教文獻為始,法國以大乘佛教研究、考古學研究入手;德國、英國以巴利語佛教文獻翻譯研究、考古學研究等為主流。較具代表性之著作有:拉森(C. Lassen)與布爾諾夫(E. Burnouf)合著之巴利語論(Essai de Pāli, 1826),荷吉森(B.H. Hodgson)著尼泊爾與西藏之語言、文學、宗教介紹(Notices of the Language, Literature and Religion of Nepal and Tibet, 1826 ),布爾諾夫之印度佛教史序說(Introduction a I'histoire de Bouddhisme Indièn, 1845)等,梵文法華經之法文翻譯(Lotus de la Bonne Loi)亦於西元一八五二年由布爾諾夫出版,由此遂奠定佛教研究之基礎。其後,以麥克斯穆勒(Max Müller)編輯之「東方聖書」(Sacred Books of the East)為始,有多數巴利語經典、大乘佛教經典陸續譯出,乃使佛教之學術價值與哲學意義備受重視。其中,影響歐洲較巨者,首推阿諾德(Edwin Arnold)之讚佛詩「亞洲之光」(Light of Asia),及奧爾高特(Olcott)領導之靈智學會(The Buddhist Theosophical Society)之活動。英國於西元一九○六年成立英國佛教協會(The Buddhist Society of England),兩年後更名為大英佛教協會(The Buddhist Society of Great Britain and England),並由大衛斯(Rhys Davids)出任會長,刊行「佛教評論」(Buddhist Review),致力於佛教之弘揚。此會之推展工作於西元一九二五年由洪飛瑞斯(Christmas Humphreys)繼承,並刊行「英國佛教」(Buddhist in England)。西元一九四三年倫敦佛教教會(Buddhist Society, London)發行「中道」雜誌(The Middle Way),直至今日,仍繼續出版。法國則在美國倫絲貝利女士(Miss Constant Lounsbery)之協助下,由太虛大師創立巴黎佛教友誼會(創於一九二九年),並於一九三九年刊行「佛教思想季刊」(La Pensée Bouddhique)。此外,其他國家亦有不少刊物發行。 第二次世界大戰後,由於日本鈴木大拙博士之著述及演講,引起歐美人士對禪學之濃厚興趣。美國由於受到歐洲學者之影響,佛教經典之語言學研究相當盛行。又美國思想界之廣泛涉獵東方思想亦值得重視,東西哲學家會議於西元一九三九年在夏威夷召開。同時,以日本移民之佛教信仰(主要為淨土真宗)為中心之活動亦逐漸展開。至於我國佛教徒之在美弘法者,有應金玉堂於紐約創辦美東佛教總會,沈家楨居士創辦世界宗教研究院及大覺寺,以及度輪(宣化)法師於舊金山創辦金山寺、法界大學,佛光山星雲大師於洛杉磯創辦西來寺、國際佛教促進會,聖嚴法師於紐約創立禪中心等。大抵而言,華語系之大乘佛教,頗有逐漸在美國生根之趨勢。〔歐米の佛教(渡邊海旭)〕(參閱「美國佛教」3928)
; (歐美佛教) Phật giáo Âu Mĩ bước đầu mới chỉ nghiên cứu về văn hiến Phật giáo, nước Pháp nghiên cứu Đại thừa và Khảo cổ học; nước Đức, nước Anh ghiên cứu và phiên dịch văn hiến Phật giáo bằng tiếng Pāli và nghiên cứu khảo cổ học là chính yếu. Những trứ tác tương đối có tính đại biểu là:Pāli ngữ luận (Essai dePāli, 1826) do Lạp lâm (C. Lassen) và Bá nhĩ nặc phu (E. Burnouf) cùng viết, giới thiệu ngôn ngữ, văn học, tôn giáo Ni bá nhĩ (Népal)và Tây tạng (Notices of the Language, Literature and Religion of Nepal and Tibet, 1826) của Hà cátlâm (B. H. Hodgson), Ấn độ Phật giáo sử tự thuyết (Introduction à l’histoire de Bouddhisme Indien, 1845) của Bá nhĩ nặc phu, bản dịch Pháp văn của kinh Pháp hoa bằng tiếng Phạm (Lotus de la Bonne Loi) cũng do Bá nhĩ nặc phu xuất bản năm 1852 v.v..., tất cả các trước tác trên đã đặt nền tảng cho việc nghiên cứu Phật giáo sau này. Đến khi Đông phương Thánh thư (Sacred Books of the East) do Mạch khắc tưmụclặc (Max müller) biên tập ra đời, thì các kinh bằng tiếngPālivà kinh điển Phật giáo Đại thừa lần lượt được phiên dịch, khiến cho giá trị và ý nghĩa triết học của học thuật Phật giáo được coi trọng. Trong đó, có ảnh hưởng tương đối lớn đối với Âu châu là: Thi phẩm tán Phật Áchâu chi quang (Light of Asia, ánh sáng Á châu) của A nặcđức (Edwin Arnold) và các hoạt động của hội Linh trí học hội (The Buddhist Theosophical Society) do Áo nhĩ cao đặc (Olcott) lãnh đạo. Đến năm 1906, nước Anh thành lập Anh quốc Phật giáo hiệp hội (The Buddhist Society of England), hai năm sau lại đổi là Đại Anh Phật giáo hiệp hội (The Buddhist Society of Great Britain and England) do Đại vệtư (Rhys Davids) làm hội trưởng, đồng thời, ấn hành Phật giáo bình luận (Buddhist Review), hết sức mở rộng Phật giáo. Năm 1925, Hồng phi thụy tư (Christmas Humpheys) kế thừa công việc của hội, và ấn hành Anh quốc Phật giáo (Buddhist in England). Năm 1943, hội Phật giáo Luân đôn (Buddhist Society, London) phát hành tạp chí Trung đạo (The Middle Way) và vẫn tiếp tục xuất bản đến ngày nay. Nước Pháp, với sự giúp sức của nữ sĩ Luân-ti-bối-lợi (Constant Lounsbery), người Mĩ, và của đại sư Thái hư, đã thành lập hội Phật giáo hữu nghị Ba lê vào năm 1929, đến năm 1939 thì ấn hành Tư tưởng Phật giáo (La pensée Bouddhique), ba tháng ra một kì. Ngoài ra, các nước khác cũng phát hành nhiều loại sách về Phật giáo. Sau thế chiến 2, các trứ tác và sự diễn giảng củaThiền sư Linh mộc đại chuyết (Suzuki), người Nhật bản, đã đưa đến cho các nhân sĩ Âu - Mĩ cái hứng thú sâu đậm đối với Thiền học. Nước Mĩ, do chịu ảnh hưởng của các học giả Âu châu, cũng bắt đầu nghiên cứu ngôn ngữ học trong kinh ÂU MĨ PHẬT GIÁO điển Phật giáo. Lại khi tiếp xúc với tư tưởng Đông phương thì tư tưởng giới nước Mĩ cũng rất coi trọng và năm 1939, một hội nghị của các nhà triết học Đông - Tây đã được tổ chức tại Hạ uy di, đồng thời, các hoạt động lấy tín ngưỡng Phật giáo (chủ yếu là Tịnh độ chân tông) của những di dân Nhật bản làm trung tâm cũng được mở rộng. Còn Phật giáo đồ Trung quốc hoằng pháp tại nước Mĩ thì có Ứng kim ngọc đường sáng lập Mĩ đông Phật giáo tổng hội ở Nữu ước (New York), cư sĩ Trầm gia trinh sáng lập Viện nghiên cứu tôn giáo thế giới và chùa Đại giác, pháp sư Độ luân (Tuyên hóa) sáng lập chùa Kim sơn ở Cựu kim sơn (San Francisco) và Đại học Pháp giới, đại sư Tinh vân núi Phật quang sáng lập chùa Tây lai ở Lạc sam cơ (Los Angeles) và hội Xúc tiến Phật giáo Quốc tế, pháp sư Thánh nghiêm sáng lập Trung tâm Thiền ở Nữu ước v.v... Nói một cách đại khái, Phật giáo Đại thừa hệ tiếng Hán đang có xu thế nảy nở và phát triển tại nước Mĩ. [X. Âu mễ chi Phật giáo (Độ biên hải húc)]. (xt. Mĩ Quốc Phật Giáo).
âu mỹ
Europe and America.
âu niết
6100西藏佛教格魯派寺院中康村(扎倉下之一級組織)之財務管理人。任期三年。
âu phục
European clothes.
âu sầu
Sorrowful—Grieved—Sad.
âu yếm
To cuddle.
âu đa la tăng
Uttarasanga (skt)—Loại áo cà sa mặc phủ qua vai trái—A toga worn over the left shoulder.
âu đan đa phú lê tự
6099梵名 Udaṇḍapura,或 Uddaṇḍapura, Udantapura, Daṇḍapura。據西藏傳作 O-tan-ta-pū-ri。寺址在印度比哈爾(Bīhār)附近。西元八世紀中葉,為波羅王朝開國之君哥波羅王(梵 Gopāla)所建,與附近之那爛陀寺、超戒寺(梵 Vikramaśīla)共為金剛乘(梵 Vajra-yāna)之中心。據西藏傳,otanta 意謂「高聳」(ḥsur-byed),即一教徒使用依咒法所得之黃金,在一丘陵上建立之高聳寺院。 本寺創建未久,那爛陀寺之學僧寂護入藏土弘法,即仿照本寺而建造桑鳶寺(藏 Bsam-yes)。瑪喜波羅王(梵 Mahīpāla, 978~1030 頃)曾於本寺置五百比丘,其時約當西藏佛教之改革者阿提沙於本寺授戒之時。其後於喇瑪波羅王(梵 Rāmapāla, 1084~1130 頃)之治世中,相傳住有比丘眾多達千人。至十二世紀末,回教徒穆罕默德卡爾琦(Muhammad Khaljī)破壞本寺,屠殺寺僧,掠奪藏書,本寺因之廢絕。〔Schiefner: Tāranātha's Geschichte des Buddhismus in Indien; H.H. Dodwell:The Cambridge Shorter History of India〕
; (歐丹多富梨寺) Phạm: Udaịđapura, hoặc Uddaịđapura, Udantapura, Daịđapura. Cứ theo Tây tạng truyền là Otántapùri. Nền chùa ở gần tiểu bang Tỉ cáp nhĩ (Bìhàr) tại Ấn độ. Do vua Cabala (Phạm: Gopìla), vua mở nước của triều đại Bala, xây dựng vào giữa thế kỉ thứ VIII Tây lịch, cùng với chùa Nalanđà, chùa Siêu giới (Phạm:Vikramasìla)kế cận, đều là trung tâm của Kim cương thừa (Phạm: Vajrayàna). Cứ theo Tây tạng truyền , thì otanta hàm ý là cao vót (#sur-byed), tức có một giáo đồ dùng phép Y chú mà được vàng, rồi dùng số vàng ấy xây một ngôi chùa cao vót trên một cái gò . Sau khi ngôi chùa này được xây dựng chưa bao lâu, thì ngài Tịch hộ ở chùa Na lanđà vào đất Tây tạng hoằng pháp, bèn phỏng theo chùa ấy mà kiến tạo chùa Tang diên (Tạng: Bsam-yes) ở Tây tạng. Vua Ma-hỉ-ba-la (Phạm: Mahìpàla , khoảng 978 - 1030) đã từng thỉnh năm trăm tỉ khưu đến ở chùa này. Về sau, trong thời vua Lạtmabala (Phạm: Ràmapàla, khoảng 1084 - 1130) trị vì , tương truyền trong chùa có đến hơn một nghìn tỉ khưu cư ngụ. Đến cuối thế kỉ XII, người Hồi giáo là Mục hãn mặc đức tạp nhĩ kì (Muhammad Khaljì) phá hủy ngôi chùa, giết chết tăng chúng trong chùa, cướp đốt kinh sách, nhân đó ngôi chùa bị phế tuyệt. [X. Schiefner:Tàranàtha’s Geschichte des Buddhismus in Indien; H. H. Dodwell: The Cambrige Shorter History of India].
èo uộc
Frequently ill—Often in bad health.
ém nhẹm
To cover up.
éo le
Troublesome.
ép
To squeeze—To press—To extract.
ép buộc
To compel—To oblige—To constrain—To force.
ép duyên
To compel a girl to marry someone against her will.
ép liễu nài hoa
To commit a rape on a woman.
ép lòng
To force (constrain) oneself.
ép nài
To insist someone to do something which is against his or her will.
ép uổng
See Ép buộc.
ép xác
Austerity
ép xác khốc liệt
Severe austerity
ê
Dấm chua—Pickle.
ê bát la để dã
See Hetupratyaya (skt) in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ê bạt đà
See Ê Ma Bộ Đa.
ê chề
Shameful—Worn out by shame.
ê la
Hidda (skt)—Khu vực cách Jellalabad khoảng 5 dậm về phía nam—A district about 5 miles south of Jellalabad.
ê ma bộ đa
Đấng trị vì xứ Tuyết Hi Mã, thuộc dòng dõi Dư Thiên Vương—A ruler of the Himalayas, in the retinue of Vaisravana.
ê ma bộ đa bộ
Haimavatah (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Ê Ma Bộ Đa Bộ là một trong năm chi phái của Đại Chúng Bộ—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Haimavatah is a school of the snow mountains, a schismatic philosophical school, one of the five subdivisions of the Mahasanghikah. ** For more information, please see Mahasamghikah in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ê mình
Aching all over the body.
ê mặt
To be shameful.
ê đâu bà đà bộ
Hetuvadapurva Sthavirah (skt)—Phái Nguyên Thủy Thượng Tọa Bộ, một trong những chi phái của Đại Chúng Bộ—The first school of the Sthaviras treating of causality, or hetuvada. It was a subdivision of the sarvastivadah. ** For more information, please see Sarvastivada (Đại Chúng Bộ), and Sthavira (Thượng Tọa Bộ) in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ê đô
Hetu (skt)—Nhân—A cause. Logical reason.
ê đô phí đà
Hetuvidya (skt)—See Nhân Minh, and Nhân Minh Luận in Vietnamese-English Section.
ê ẩm
Painful.
Ê-lan-nhã
xem A-lỵ-la-bạt-đề.
êm thấm
Peaceful—Amicable.
êm ái
Tranquil—Peaceful—Calm.
êm đềm
Xem An.
; Serene—Calm—Peaceful.
ích
4191<一>利益、增進、好處之意。(參閱「利益」2809) <二>悉曇字凕(i)。又作縊、伊、壹。悉曇十二韻之一,五十字門之一。瑜伽金剛頂經釋字母品(大一八‧三三八中):「伊字門,一切法根不可得故。」(參閱「伊」2152)
; (益) I. Ích. Tức lợi ích, tăng tiến. (xt. Lợi Ích). II. Ích. Cũng gọi Ải, Y, Ế. Tức là chữ (i) của mẫu tự Tất đàm, một trong 12 nguyên âm và một trong 50 chữ cái Tất đàm. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 338 trung), nói: Chữ Y là tất cả pháp vốn bất khả đắc . (xt. Y).
ích hi vi
4192西藏名 Ye-Ces-hod。意譯智光。原名柯熱(藏 Kho-re)。西元十至十一世紀頃,西藏後弘期佛教上路弘法(指由阿里傳入衛藏地區者)之奠基者。原係西藏阿里王,後退位出家。曾遣仁欽桑波赴迦濕彌羅(今喀什米爾)學法,仿桑耶寺修建托林寺。後率兵征葛邏祿(為其時西藏西北方信仰伊斯蘭教之小國)時,被擒遇害。遺囑其孫絳曲微(藏 Byaṅ-chub-ḥod,意為菩提光)繼續迎請阿提沙尊者入藏弘法。
; (益希微) Tạng: Ye-Ces-hod. Dịch ý: Trí quang. Vua Tây tạng, vốn tên là Kha nhiệt (Tạng: Kho-re) sống vào khoảng thế kỉ X, XI, sau thoái vị xuất gia và là người đặt nền móng cho công cuộc hoằng pháp (từ A lí truyền vào khu vực Vệ tạng) ở thời kì sau của Phật giáo Tây tạng. Nhà vua từng cho ngài Nhân khâm tang ba đến nước Ca thấp di la (nay là Kashmir) học Phật pháp. Vua Kha nhiệt xây dựng chùa Thác lâm phỏng theo kiểu chùa Tang da. Về sau, trong khi giao chiến với quân đội của nước Cát la lộc (một nước nhỏ ở phía Tây bắc Tây tạng bấy giờ theo Hồi giáo) thì bị bắt rồi bị giết. Vua di chúc lại cho cháu là Giáng khúc vi (Tạng: Byaí-chub-#od, Hán dịch: Bồ đề quang) kế tục đón rước Tôn giả A đề sa đến Tây tạng hoằng pháp
ích hiệu
6313感念死者之德,所追贈之稱號。上自帝王、公卿,下至有德行之人,皆有贈予諡號之情形。通常贈予高僧之諡號有大師號、菩薩號、國師號、禪師號、和尚號、法師號、上人號等。(參閱「師號」4097)
ích kỷ
Selfishness—Self-cherishing—Selfish motive.
ích lợi
Useful—Serviceable.
ích quốc lợi dân
Useful to the country and the people
Ích Tín
(益信, Yakushin, 827-906): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời đại Bình An, vị tổ của Phái Quảng Trạch (廣澤派), húy là Ích Tín (益信), thông xưng là Viên Thành Tự Tăng Chánh (圓城寺僧正), thụy hiệu Bản Giác Đại Sư (本覺大師), xuất thân vùng Bị Hậu (僃後, Bingo, thuộc Hiroshima [廣島]). Ông xuất gia ở Đại An Tự (大安寺, Daian-ji), học Mật Giáo với Tông Duệ (宗叡, Shūei), rồi đến năm 887 thì thọ pháp Quán Đảnh của Nguyên Nhân (源仁, Gennin) ở Nam Trì Viện (南持院, Nanji-in) và được Tông Duệ phú chúc ấn khả cho. Năm sau, ông được chọn làm Quyền Luật Sư và Tự Trưởng của Đông Tự. Vào năm 899, ông làm giới sư xuất gia cho Vũ Đa Thiên Hoàng (宇多天皇, Uda Tennō), và đến năm 901 thì truyền thọ pháp Quán Đảnh cho nhà vua. Ông đã chấp nhận cho Đằng Nguyên Thục Tử (藤原淑子, Fujiwara Toshiko) quy y và lấy sơn trang Đông Sơn của vị này làm thành ngôi Viên Thành Tự (圓城寺, Enjō-ji). Ông có để lại một số trước tác như Kim Cang Giới Thứ Đệ (金剛界次第), Thai Tạng Trì Niệm Thứ Đệ (胎藏持念次第), Tam Ma Da Giới Văn (三摩耶戒文), Khoan Bình Pháp Hoàng Ngự Quán Đảnh Ký (寬平法皇御灌頂記), v.v.
Ích 益
[ja] エキ eki ||| (1) To increase, profit, benefit. (2) Advantage, profit, benefit, growth. One of the hexagrams in the Yijing. [Buddhism] (1) to benefit others (anugraha); for the sake of, one behalf of. (2) Be beneficial, useful, valuable. (3) To augment. => 1. Tăng thêm, lợi ích, giúp ích. 2. Lợi ích, bổ ích, tăng tiến. Đồ hình ngôi sao sáu cạnh trong Kinh Dịch [Phật học] 1. Lợi lạc cho người khác (s: anugraha). Vì lợi ích cho, thay mặt cho. 2. Có lợi ích, hữu ích, có giá trị. 3. Làm tăng lên.
ít khi
Seldom—Rarely.
ít nhất
At least.
ít nói
Telling little.
Ðinh Tiên Hoàng
丁先皇|Nhà vua Việt Nam thế kỉ thứ 10 đã ủng hộ đạo Phật. Ông là người phong chức tăng thống cho Ngô Chân Lưu, thuộc Thiền phái Vô Ngôn Thông, phong hiệu là Khuông Việt Thái sư. Ðinh Tiên Hoàng nhìn nhận đạo Phật là tư tưởng chủ đạo trị nước.
Ðiều hỉ quốc
調喜國; S: abhirati;|Ðông phương Tịnh độ của Phật Bất Ðộng (s: akṣobhya).
Ðoạn giáo
斷教; T: chod [gcod]; S: uccheda; cũng được gọi là Hi giải giáo (希解教);|Tên của một phương pháp tu tập rất độc đáo, là nhánh thứ hai của một tông trong Phật giáo Tây Tạng do Pha-đam-pa (t: pha-dampa sangye, ?-1117) sáng lập song song với nhánh »giảm« (t: shijed, nghĩa là giảm bớt). Giáo lí này xuất phát từ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā) ra nhưng được bổ sung thêm bằng những nghi lễ cúng hiến, gọi thần, hồn (e: shamanism) của những dân tộc thiểu số.|Nội dung chính của việc tu luyện trong Ðoạn giáo – như tên này đã nói – là cắt đứt đoạn lậu hoặc, Ngã kiến. Ðể thực hành điều này, hành giả phải đưa thân cúng hiến cho ma quỷ ở nghĩa địa và nơi đốt xác. Nữ đệ tử quan trọng nhất của Pha-đam-pa là Ma-chig Lab-dron-me (1055-1145), người đã truyền phép tu luyện này sang những tông khác ở Tây Tạng.|Pha-đam-pa được xem là người từ Nam Ấn Ðộ đến truyền Mật pháp bởi vì nước da của ông có nét xanh. Ông là người cùng thời với Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa) và đến Tây Tạng 5 lần để giáo hoá. Lí thuyết căn bản của Ðoạn giáo dựa theo những kinh và luận nói về Bát-nhã ba-la-mật-đa. Theo thuyết này thì tất cả những vật hiện hữu đều tự tâm mà phát sinh, không thật; những sự lo sợ, tưởng tượng,… chỉ là kết quả của tư duy bất chính. Ðể chấm dứt trạng thái này, Ðoạn giáo đưa ra một phương pháp thiền rất độc đáo. Phương pháp này bao gồm hai phần: 1. Hành giả chấp nhận là ma quỷ có thật và chủ ý mời gọi chúng đến và 2. Nhận thức rằng, chúng chỉ là những gì tự tâm phát sinh, không có tự tính (Không). Ðể đạt được kết quả cao nhất, hành giả phải ra những nơi vắng vẻ hoang dã như những nơi đốt xác vì những nơi này dễ gây ra những cảm giác sợ hãi và ma quỷ cũng hay »lộng hành.« Nơi đây, Du-già sư ngồi thiền với một cái trống và kèn được làm bằng xương ống khuyển.|Ðiểm bí hiểm của phương pháp này nằm trong sự thực hành trực tiếp, như Pha-đam-ba một lần nói với cô đệ tử: »Con hãy đi tới chỗ thiêu xác, hãy lên núi tu luyện. Hãy quên những bài học lí thuyết và trở thành một Du-già-ni (s: yoginī) lang thang học hỏi!« Phép tu luyện theo Ðoạn giáo vẫn được lưu truyền rộng rãi ở Tây Tạng trong tông Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa) và Ninh-mã (t: nyingmapa) cho đến ngày nay.
Ðu-khan-đi
S: dukhaṅdi hoặc dokhaṅdi, debanta, dhosanti, dvakanti, khaṅdipa; »Người nhặt vải rách«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không biết đệ tử của ai và sống trong thời nào. |Ông là người ăn xin, chuyên lượm giẻ rách để may áo. Ngày nọ có vị Du-già sư thương hại ông, dạy cho phép thiền định, nhưng không sao ông tập trung được, vì đầu óc lúc nào cũng nghĩ đến chuyện may vá. Vị Du-già sư dạy ông quán Không vô biên xứ, nói rằng trong Thật tại không có may lẫn vá. Nhờ thế mà ông tập trung quán tưởng và sau 12 năm, ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Hợp nhất được sinh diệt,|với Thật tại cuối cùng,|Trong Thiền Ðại thủ ấn,|đạt được giới thanh tịnh|rốt ráo Ba thân Phật.
Ðô-bi-pa
S: dhobīpa hoặc dhombhipa, dhombipa; »Thợ giặt minh triết«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ.|Ðô-bi-pa là con một người thợ giặt. Ngày nọ hai cha con đang giặt áo thì có một Du-già sư (s: yogin) đi qua. Vì không có gì cúng dường, gia đình thợ giặt xin giặt áo cho ông ta. Vị này từ chối và nói có phép bí truyền, giặt một lần là trắng mãi mãi. Người con xin truyền phép đó và được vị Du-già sư cho nhập dòng Cha-kra sam-va-ra-tan-tra. Vị Du-già sư khai thị ông bằng những lời:|Ngọn lửa thủ ấn là,|nước rửa sạch cho Thân,|Âm thanh chân ngôn là,|nước rửa sạch cho Khẩu,|Giao phối của nhị nguyên,|rửa ô nhiễm cho ý.|Sau mười hai năm tu tập, người thợ giặt đạt thánh quả. Sau đó áo quần vào tay ông đều tự nhiên sạch sẽ. Ông sống thêm một trăm năm nữa để giáo hoá. Kệ ngộ đạo của ông như sau:|Ta chuyên nghề tẩy rửa,|trắng sao được rửa than.|Giáo pháp của Ðạo sư:|người thợ giặt quý nhất,|vì nó chỉ Tự tính,|trống rỗng không ô nhiễm.
Ðô-ka-ri-pa
S: dhokaripa; »Khất sĩ với bình bát«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống thời đại nào.|Ông là kẻ ăn xin ở Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra), không có gì hơn ngoài bình bát, trong đó ông để mọi thứ xin được. Lần nọ ông không xin được gì, bình bát trống rỗng. Thấy một vị Du-già sư đi qua, ông hối tiếc là không có gì để cúng dường. Thế nhưng vị này cho ông nhập môn Hô Kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra), Quán đỉnh cho ông và dạy:|Hãy nghe, Ðô-ca-ri,|hãy đặt mọi dạng hình,|trong bình bát Không gian,|và xem chúng là một.|Ðô-ka-ri-pa thiền quán như vậy, chỉ ba năm sau ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahā-mudrāsiddhi). Sau đó ông vẫn tiếp tục mang bình bát đi rong. Nếu có ai hỏi, ông trả lời:|Bình bát của tính Không,|ta đặt vào trong đó,|mọi bố thí khất thực,|đó chính là Ðại lạc.|Ðô-ca-ri ham muốn,|Ðại lạc của tính Không,|hiểu chưa, hỡi các người?|Chứng đạo ca của ông như sau:|Trong không vô biên xứ,|(Tự tính của bình bát),|ta đặt mọi tri kiến,|(tự tính của mọi sự).|Không, Tri kiến là Một,|Du-già sư hạnh phúc,|đã đạt bờ chứng thật.|Đồ sức hương man|塗飾香鬘; C: túshìxiāngmán; J: zushoku kō-man; |Tự trang điểm mình bằng châu báu và hương thơm, giới tăng sĩ Phật giáo, là một điều không được làm, là 1 trong 10 giới cấm.
Ðôm-bi-pa
S: ḍombipa hoặc ḍombi; nghĩa là »Chúa của dòng du ca,« cũng có biệt danh là »Người cưỡi cọp«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ. Ông sống trong thế kỉ 9, được xem là đệ tử của Vi-ru-pa (s: virūpa). Vi-ru-pa hướng dẫn ông vào những huyền bí của Hô Kim cương tan-tra (s: hevajratantra) và những vị Hộ Thần.|Là nhà vua nước Ma-kiệt-đà (s: magadha), ông lấy một cô gái thuộc dòng du ca (ḍombi), một dòng hạ tiện. Bị chê cười, ông bỏ ngôi báu, cùng nàng vào rừng, tu tập Tan-tra. Về sau khi nước Ma-kiệt-đà bị đói kém, triều đình mời ông trị vì. Ông trở về, cỡi cọp, thi triển thần thông và dạy Phật pháp. Người ta cho rằng ông là tác giả của tám tập sách và nhiều bài ca. Nghi quỹ (s: sādhana) của ông là sự chuyển hoá năng lực nhục tính thành sự Giác ngộ thanh tịnh. Bài kệ chứng đạo của ông có những dòng như sau:|Viên đá bậc hiền nhân,|biến chì thành vàng ròng.|Trong lòng Viên ngọc quý,|đam mê thành tỉnh giác.
Ðôn Hoàng
敦煌; C: dūnhuáng;|Thành phố thuộc tỉnh Cam Túc, Tây Bắc Trung Quốc, có rất nhiều hang động nổi tiếng, được xem là vùng hang động chứa nhiều di tích Phật giáo lớn nhất thế giới. Những động cổ nhất được xây dựng từ thế kỉ thứ 5. Ngày nay, người ta tìm thấy 492 động, nằm trên 5 vùng cao thấp khác nhau, dài khoảng 1km. Hang động chứa toàn tranh tạc trên tường, với một diện tích tranh khoảng 45000m², và khoảng 2400 tượng. Ðặc biệt trong động số 16, người ta đã khám phá hàng ngàn kinh, luận, được cuốn tròn. Ðó là những tư liệu vô giá của công trình nghiên cứu đạo Phật trong vùng Trung Á và Trung Quốc ngày nay.|Các tranh tường thường minh hoạ các kinh, các vị Phật hay cuộc đời thường. Các bức tranh trước thế kỉ thứ 6 trình bày cuộc đời của Phật Thích-ca. Kể từ đời Ðường, người ta trình bày các thế giới Cực lạc. Các tranh tượng khác phần lớn diễn tả Di-lặc, minh hoạ các kinh Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm, Diệu pháp liên hoa, Duy-ma-cật sở thuyết. Các vị Phật, Bồ Tát được tạc tượng nhiều nhất là Quán Thế Âm, Ðịa Tạng, La-hán cũng như một số thiên nhân khác.|Năm 1900, một nông dân vô tình khám phá ra động Mạc Kao, động này dẫn đến động số 16. Trong động số 16 người ta tìm thấy 40.000 văn bản (kinh sách, tài liệu, tranh tượng, kể cả các đề tài thuộc về đạo Lão, đạo Khổng) cũng như nhiều pháp khí mà tăng ni ngày xưa đã cất dấu khi bị ngoại xâm. Người nông dân nọ không biết giá trị các thứ đó, đã bán đi một phần lớn. Năm 1907, đoàn khảo cổ đầu tiên của phương Tây do Sir Aurel Stein dẫn đầu đã mua đi 150 bức hoạ trên lụa, 500 tranh vẽ và 6500 cuộn bản kinh. Năm 1908, một nhà Ấn Ðộ học là Paul Pelliot đem từ Ðôn Hoàng 6000 cuộn kinh về nước. Sau đó là người Anh và người Nhật. Ngày nay phần lớn các di sản văn hoá đó đều nằm trong các viện bảo tàng phương Tây.|Các hang động có chính diện hình vuông hay chữ nhật. Các hang xây thời Ðông Tấn (thế kỉ 4-5) thường đơn giản, chỉ có các tượng Phật. Các hang thời đại sau thường có nhiều phòng. Phần lớn các tượng được đặt trên đế hay dựa vào vách đá. Các hang đưới thời nhà Tống được xây dựng công phu nhất, gồm các trình bày tiền thân đức Phật hay các cảnh của Tịnh độ.|Các hình ảnh tranh tượng khắc hoạ trong thời Ðông Tấn còn mang nhiều ảnh hưởng của Ấn Ðộ với mũi cao, áo mỏng. Sau đó các hình tượng của huyền thoại Trung Quốc cũng được đưa vào tranh. Ðến thời nhà Tuỳ (581-618), bên cạnh tượng Phật và Bồ Tát, lần đầu tiên tượng của A-nan-đà được trình bày và cũng trong thời gian này, ảnh hưởng của nghệ thuật Trung Quốc bắt đầu chiếm ưu thế.|Trong đời Ðường, các hình tượng sống động và gần gũi hơn, nhất là trang phục của các tượng được trình bày rất kĩ. Trong thời kì này, nhiều tượng Phật vĩ đại ra đời, tượng lớn nhất cao hơn 33 m. Các tranh trên tường minh hoạ các cảnh trong kinh, các Bồ Tát thường là các vị đang được truyền bá rộng rãi thời bấy giờ.
Ðịa luận tông
地論宗; C: dìlùn-zōng; J: jiron shū;|Một trong nhứng tông phái sớm nhất của Phật giáo Trung Hoa, căn cứ vào luận giải về Thập địa kinh luận (十地經論, s: daśabhūmika-śāstra) của Thế Thân, và cũng căn cứ vào luận giải chương 1 trong kinh Hoa Nghiêm. Lặc-na-ma-đề (勒那摩提, s: ratnamati) và Bồ-đề Lưu-chi (菩提流支, s: bodhiruci) mang Thập địa kinh luận bản chép tay dịch sang tiếng Hán vào thời Bắc Nguỵ. Địa luận tông chủ yếu căn cứ vào triết học Du-già hành phái, đặc biệt là giáo lí về A-lại-da thức. Nhánh phía Bắc của tông nầy với đại biểu là Đạo Sủng (道寵), đệ tử của Bồ-đề Lưu-chi đưa ra luận điểm tạng thức không thực có, và Phật tính đạt được trước hết khi thành Phật, thế nên nó không phải là bẩm sinh. Nhánh phía Nam, đại biểu là Huệ Quang, đệ tử của Lặc-na-ma-đề, cho rằng A-lại-da thức là thật có và đồng nhất với Phật tính. Tông Hoa Nghiêm được xem là phát triển từ nhánh phía Nam, còn Pháp tướng tông tiếp thu tinh thần nhánh phía Bắc.
Ðịa ngục
地獄; S, P: naraka;
Ðịnh
定; S, P: samādhi; J: zammai, dịch theo âm là Tam-ma-địa; |Trạng thái chú tâm lên một đối tượng duy nhất bằng sự lắng lọc từ từ của tâm. Ðịnh là một dạng tâm thức, trong đó không còn tính nhị nguyên, trong đó chủ thể biến thành một với khách thể, lúc đó chỉ còn một »kinh nghiệm tâm thức« là có thật. Khả năng đạt định là một trong những điều kiện tiên quyết để tu tập Thiền (s: dhyāna).|Người ta phân biệt ba dạng định xuất thế, dẫn đến chứng ngộ tính Không, Vô ngã và đạt Niết-bàn. Các dạng khác của định, dù sâu lắng thế nào đi nữa vẫn được xem là thế tục.
Ðịnh Hương
定香; ?-1051|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ 6. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Ða Bảo và truyền lại cho những vị như Viên Chiếu, Bảo Tính, Minh Tâm và Cứu Chỉ.|Sư họ Lữ, quê ở Chu Minh, xuất gia theo học với Thiền sư Ða Bảo và là vị đệ tử xuất sắc nhất trong chúng. Một hôm, Sư hỏi Ða Bảo: »Làm sao thấy được chân tâm?« Bảo đáp: »Là ngươi tự nhọc.« Sư hoát nhiên tỉnh ngộ, thưa: »Tất cả đều như vậy, đâu phải riêng con?« Bảo hỏi lại: »Ngươi hội chưa?« Sư thưa: »Ðệ tử hội rồi đồng chưa hội.« Bảo khuyên: »Cần phải gìn giữ cái ấy.« Sư bịt tai xoay lưng đứng, Ða Bảo dạy: »Ngươi về sau lại giống một kẻ điếc để tiếp người.«|Sau 24 năm tu học với Ða Bảo, Sư được thỉnh về trụ trì chùa Cảm Ứng ở Tiêu Sơn, phủ Thiên Ðức. Nhiều người đến đây tham học và Sư cũng rất có công trong việc hoằng hoá.|Ngày mồng 3 tháng 3 năm Canh Dần, niên hiệu Sùng Hưng Thái Bảo thứ ba đời Lí Thái Tông, Sư gọi chúng lại từ biệt và viết kệ phó chúc: |本來無處所。處所是真宗|真宗如是幻。幻有即空空|Bản lai vô xứ sở|Xứ sở thị chân tông|Chân tông như thị huyễn|Huyễn hữu tức không không.|*Xưa nay không xứ sở|Xứ sở là chân tông|Chân tông như thế huyễn|Huyễn có là không không.|Truyền kệ xong, Sư im lặng viên tịch.
Ðịnh Không
定空; 730-808|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng Thiền Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 8. Không biết Sư nối pháp của vị nào. Môn đệ đắc pháp của Sư là Thiền sư Thông Thiện.|Sư họ Nguyễn, quê ở làng Cổ Pháp (cũ là Diên Uẩn). Sư xuất thân từ một gia đình danh giá và vì những hành động hợp pháp tắc nên những người trong làng đều quý trọng, gọi là Trưởng lão. Lúc tuổi đã lớn, nhân nghe một buổi thuyết pháp mà Sư phát tâm xuất gia tu học.|Nhân vì một điềm linh ứng báo trước nên Sư đổi tên làng thành Cổ Pháp. Sau đó, Sư còn đến trụ trì chùa Thiền Chúng ở làng Dịch Bảng, phủ Thiên Ðức (nay là làng Ðình Bảng, phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh).|Sắp viên tịch, Sư gọi Thông Thiện đến phó chúc: »Ta muốn mở rộng làng xã nhưng ở khoảng giữa e gặp hoạ nạn, ắt có người khác đến phá hoại đất đai của chúng ta. Sau khi ta tịch, ngươi khéo gìn giữ pháp của ta. Khi nào gặp người họ Ðinh sẽ truyền thì nguyện của ta sẽ được toại vậy.« Nói xong, Sư viên tịch, thọ 79 tuổi. Thông Thiện xây tháp ở phía Tây chùa Lục Tổ để thờ Sư.|Người họ Ðinh kế thừa Thông Thiện sau này chính là Trưởng lão La Quý An.
Ðịnh lực
定力; S: samādhibala; J: jōriki; |Một trong Năm lực. Lực này xuất phát từ Nhất tâm và được phát triển qua các phép Thiền định. Ðịnh lực giúp hành giả tuỳ cơ ứng biến, làm đâu đúng đó mà không cần phải suy nghĩ đắn đo.|Thiền sư Bạch Vân An Cốc (j: hakuun yasutani) dạy rằng: »Ðịnh lực vượt qua các kết quả của sự tập trung đơn giản. Ðịnh lực là một năng lực diệu kì, một lần đã được đánh thức, giúp chúng ta hành động, phản ứng đúng lúc, thích hợp với những điều kiện, trường hợp không tiên đoán trước. Ai phát triển được định lực thì không còn là nô lệ của sự ham muốn vọng tưởng và cũng không còn là nạn nhân của thế giới xung quanh… Mặc dù nhiều năng lực huyền diệu có thể xuất phát từ định lực nhưng chúng không thể giúp chúng ta tận diệt tất cả những ảo ảnh bao quanh. Giác ngộ phải là bước tiếp đến.«|Vì định lực có thể tạo phép thần thông »vô bổ« và thu hút nhiều người nên Thiền sư Thạch Ðầu Hi Thiên nhấn mạnh: »Việc tu tập để thành Tổ, thành Phật đứng hàng đầu trong tông này chứ không phải chỉ tụng kinh niệm Phật và sử dụng định lực.«
Ðịnh Thượng Toạ
定上座; C: dìng shàngzuò; J: jō jōza, tk. 9;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Lâm Tế Nghĩa Huyền. Sư nổi danh với cách dạy thần tốc, mãnh liệt như vũ bão. Thiền sư Viên Ngộ có nhắc lại cách dạy của Sư trong Bích nham lục, Công án 32.|Sư người miền Bắc, đến học với Lâm Tế và đắc pháp nơi đây. Một hôm, Sư đi trên đường gặp ba vị Thiền sư Nham Ðầu Toàn Hoát, Tuyết Phong Nghĩa Tồn và Khâm Sơn Văn Thuý. Ba vị này hỏi Sư về cách dạy môn đệ của Lâm Tế. Sư thuật lại câu chuyện sau:|»Lâm Tế dạy chúng: ›Trên khối thịt đỏ có một chân nhân không ngôi vị thường từ diện môn các ông ra vào, người chưa chứng cứ hãy xem!‹ Có vị tăng ra hỏi: ›Thế nào là chân nhân không ngôi vị?‹ Lâm Tế liền nắm đứng bảo: ›Nói! Nói!‹ Vị tăng suy nghĩ. Lâm Tế liền xô ra, nói: ›Chân nhân không ngôi vị là cái gì? Cục cứt khô!‹ Liền trở về phương trượng.«|Nham Ðầu nghe sợ le lưỡi. Khâm Sơn nói: »Sao chẳng nói phi chân nhân không ngôi vị?« Sư nắm đứng bảo: »Chân nhân không ngôi vị cùng phi chân nhân không ngôi vị cách nhau nhiều ít, nói mau! Nói mau!« Khâm Sơn không biết đáp sao, mặt mày tái mét. Nham Ðầu, Tuyết Phong đến lễ bái xin lỗi: »Vị tăng này mới học không biết phải quấy, xin Thượng toạ từ bi tha thứ.« Sư bảo: »Nếu chẳng phải hai thầy già này xin, sẽ giết con quỷ đái dưới sàng này.«
Ðịnh tâm
定心; J: jōshin;|Tâm đã đạt được Ðịnh (s: samādhi).
Ðọa xứ
墮處; S, P: apāya;|Bốn đường tái sinh đau khổ trong Vòng sinh tử. Ðó là Ðịa ngục (s: nakara), Ngạ quỷ (s: preṭa), súc sinh và A-tu-la (s: asura). A-tu-la đôi khi được kể vào loài hạnh phúc hơn loài người, có khi lại không được một số tông phái Tiểu thừa nhắc tới.
Ðốn ngộ
頓悟; J: tongo;|Nghĩa là ngộ bất thình lình, ngay bây giờ, ngược với Tiệm ngộ. Phép tu Ðốn ngộ được Nam tông thiền chủ trương đề xướng (Huệ Năng).
Ðốn ngộ nhập đạo yếu môn luận
頓悟入道要門論; J: tongo nyūdō yōmon-ron;|Một tác phẩm quan trọng của Thiền tông, được Thiền sư Ðại Châu Huệ Hải biên soạn.
Ðỗ Thuận
杜順; C: dùshùn; j: dojun; 557-640|Ðế Tâm Ðỗ Thuận
Ðộc giác Phật
獨覺佛; S: pratyekabuddha; P: paccekabuddha; dịch theo âm là Bích-chi-ca Phật-đà hoặc Bích-chi Phật, cũng được gọi là Duyên Giác Phật; |Một vị Phật đạt giác ngộ nhờ tri kiến Mười hai nhân duyên, là người đạt được Phật quả do tự mình chứng ngộ. Người ta cho rằng vị Ðộc giác Phật không đạt được các năng lực như Nhất thiết trí (s: sarvajñatā) hay Mười lực (s: daśabala) của một vị Tam-miệu Tam-phật-đà (Chính đẳng giác; s: samyak-saṃ-buddha). Ðộc giác Phật được xem như bậc Thánh ở quả vị khoảng giữa A-la-hán và Phật. Có khi Ðộc giác Phật là danh hiệu chỉ người đạt giác ngộ trong thời không có vị Phật nào xuất hiện trên trái đất và giác ngộ nhờ đã đạt tri kiến mười hai nhân duyên trong các đời sống trước. Ðộc giác thừa là một trong Ba thừa (cỗ xe) để đạt Niết-bàn.
Ðộc giác thừa
獨覺乘; S: pratyekabuddha-yāna; còn gọi là Duyên giác thừa;|Tên chung của các phương pháp tu tập đắc quả Ðộc giác Phật.
Ðộc tham
獨參; J: dokusan, có thể hiểu là »một mình đến tham vấn vị thầy«;|Cuộc gặp riêng của người tham thiền với vị thầy trong thất của thầy. Ðộc tham là một trong những yếu tố tối trọng trong việc tu thiền; nó tạo điều kiện để thiền sinh có thể trình bày những vấn đề liên hệ đến việc tu tập, để có thể trình bày sở đắc và trắc nghiệm mức độ thông đạt đạo của mình.|Nhiều Công án với nội dung là một cuộc vấn đáp phản ánh phương pháp độc tham thời xưa. Truyền thống độc tham bắt nguồn từ buổi »truyền tâm bí mật nằm ngoài giáo pháp« cho Ma-ha Ca-diếp (s: mahākāśyapa) của Phật Thích-ca trên đỉnh Linh Thứu (Niêm hoa vi tiếu), được lưu truyền trong »Phật tâm tông« – một tên khác của Thiền tông – cho đến ngày nay. Trước đây thì độc tham được ứng dụng trong tất cả những hệ phái của Thiền tông nhưng trong thời nay, phương pháp này hầu như không còn tồn tại trong tông Tào Ðộng (s: sōtō-shū) tại Nhật mà chỉ được thực hành trong tông Lâm Tế (s: rinzai-shū).|Vì nhiều lí do mà buổi độc tham phải được giữ bí mật: 1. Buổi này đòi hỏi một tâm trạng cởi mở và thành thật tuyệt đối của thiền sinh trước mặt một vị Lão sư (j: rōshi) – một điều kiện khó thực hiện được trước mặt nhiều người khác; 2. Trong buổi này, thiền sinh trình bày mức độ ngộ nhập công án đang được tham quán. Nếu thiền sinh khác nghe được câu »giải đáp« này thì nó có thể là một chướng ngại cho họ trên đường tìm câu trả lời của chính mình; 3. Một buổi dạy riêng của vị thầy lúc nào cũng được thực hiện theo quy tắc »tuỳ cơ ứng biến« và vì thế lúc nào cũng thích hợp cho chính thiền sinh đang độc tham. Vị thầy có thể phản ứng khác biệt đối với những câu trả lời giống nhau của các thiền sinh – một yếu tố có thể làm các thiền sinh sơ cơ tán loạn.|Trong một hệ thống truyền thừa chính phái thì chỉ có người nào đã được Ấn khả, đã được chính thức công nhận là Pháp tự (j: hassu) mới được chủ trì buổi độc tham.
Ðộc Tử bộ
犢子部; S: vātsīputrīya; còn được gọi là Trụ tử bộ (s: pudgalavāda);|Bộ phái Phật giáo, tách ra từ Trưởng lão bộ (s: sthavira) trong năm 240 trước Công nguyên. Ðó là bộ phái dám đi xa nhất so với các nguyên lí kinh điển thịnh hành trong Thượng toạ bộ.|Người sáng lập của phái này là Ðộc Tử (s: vātsīputra), vốn theo đạo Bà-la-môn, cho rằng đàng sau mỗi con người có một cá nhân, một Bổ-đặc-già-la (補特伽羅; s: pudgala; p: puggala), không giống cũng không khác với Ngũ uẩn. Con người đó là kẻ đi tái sinh, là kẻ chịu tất cả các nghiệp báo, thậm chí là kẻ tiếp tục hiện diện trong Niết-bàn. Trong thời đại bấy giờ Ðộc Tử bộ là một trong những bộ phái lớn, nhưng quan điểm của bộ phái này bị các tông phái chống đối vì họ cho rằng »Bổ-đặc-già-la« của Ðộc tử chẳng qua chỉ là biến dạng của một tự Ngã (s: ātman), là quan niệm mà đã bị đức Phật phủ nhận.
Ðộng Sơn Lương Giới
洞山良价; C: dòngshān liángjiè; J: tōzan ryō-kai; 807-869;|Thiền sư Trung Quốc, Pháp tự của Thiền sư Vân Nham Ðàm Thạnh. Cùng với môn đệ là Tào Sơn Bản Tịch, Sư sáng khai tông Tào Ðộng, một dòng Thiền được lưu truyền đến ngày nay. Sư quyền khai ngũ vị để giáo hoá học đồ, đời sau gọi là Ðộng Sơn ngũ vị.|Sư họ Du quê ở Cối Kê. Thuở nhỏ theo thầy tụng Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh đến câu: »Vô nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân, ý«, Sư lấy tay rờ mặt hỏi thầy: »Con có mắt, tai, mũi, lưỡi sao kinh nói không?« Thầy thấy lạ và giới thiệu Sư đến núi Ngũ Duệ yết kiến Thiền sư Linh Mặc (trước học đắc nơi Mã Tổ, đại ngộ nơi Thạch Ðầu). Năm 21 tuổi, Sư đến Tung Sơn thụ giới cụ túc. Sao đó Sư du phương, yết kiến Nam Tuyền Phổ Nguyện. Gặp ngày kị trai Mã Tổ, Nam Tuyền hỏi chúng: »Cúng trai Mã Tổ, vậy Mã Tổ có đến hay chăng?« Tất cả chúng không đáp được, Sư bước ra thưa: »Ðợi có bạn liền đến.« Nam Tuyền khen: »Chú nhỏ này tuy là hậu sinh rất dễ giũa gọt.« Sư thưa: »Hoà thượng chớ ếm kẻ lành thành đứa giặc.« |Sư đến Quy Sơn Linh Hựu. Quy Sơn lại chỉ đến Vân Nham. Ðến đây Sư hỏi: »Vô tình thuyết pháp, người nào được nghe?« Vân Nham bảo: »Vô tình thuyết pháp, vô tình được nghe.« Sư hỏi: »Hoà thượng nghe chăng?« Vân Nham bảo: »Ta nếu nghe, ngươi đâu thể được nghe ta thuyết pháp.« Sư thưa: »Con vì sao chẳng nghe?« Vân Nham dựng phất tử, hỏi: »Lại nghe chăng?« Sư thưa: »Chẳng nghe.« Vân Nham bảo: »Ta thuyết pháp mà ngươi còn chẳng nghe, huống là vô tình thuyết pháp.« Sư hỏi: »Vô tình thuyết pháp gồm những kinh điển gì?« Vân Nham bảo: »Ðâu không thấy kinh A-di-đà nói: nước, chim, cây rừng thảy đều niệm Phật, niệm pháp?« Ngay câu này Sư có tỉnh, thuật bài kệ:|也大奇!也大奇!|無情說法不思議|若將耳聽終難會|眼處聞時方得知|Dã đại kì, Dã đại kì|Vô tình thuyết pháp bất tư nghì|Nhược tương nhĩ thính chung nan hội|Nhãn xứ văn thì phương đắc tri.|Cũng rất kì! Cũng rất kì!|Vô tình thuyết pháp chẳng nghĩ nghì|Nếu lấy tai nghe trọn khó hội|Phải đem mắt thấy mới liễu tri.|Sắp rời Vân Nham, Sư hỏi: »Sau khi Hoà thượng trăm tuổi, chợt có người hỏi ›tả được hình dáng của thầy chăng?‹ con phải đáp làm sao?« Vân Nham lặng thinh hồi lâu, bảo: »Chỉ cái ấy.« Sư trầm ngâm giây lâu, Vân Nham bảo: »Xà-lê Lương Giới thừa đương việc lớn phải xét kĩ.« Sư vẫn còn hồ nghi. Sau, Sư nhân qua suối nhìn thấy bóng, đại ngộ ý chỉ, liền làm bài kệ:|切忌從他覓。迢迢與我疏|我今獨自往。處處得逢渠|渠今正是我。我今不是渠|應修甚麼會。方得契如如|Thiết kị tòng tha mịch|Thiều thiều dữ ngã sơ|Ngã kim độc tự vãng|Xứ xứ đắc phùng cừ|Cừ kim chính thị ngã|Ngã kim bất thị cừ|Ưng tu thậm ma hội|Phương đắc khế như như.|*Rất kị tìm nơi khác|Xa xôi bỏ lãng ta|Ta nay riêng tự đến|Chỗ chỗ đều gặp va|Va nay chính là ta|Ta nay chẳng phải Va|Phải nên như thế hội|Mới mong hợp như như.|Sư thượng đường dạy chúng: »Lại có người không đền đáp bốn ân ba cõi chăng?« Chúng đều không đáp, Sư lại bảo: »Nếu chẳng thể nhận ý này, làm sao vượt khỏi hoạn trước sau. Hẳn phải tâm tâm chẳng chạm vật, bước bước không chỗ nơi, thường không gián đoạn mới được tương ưng. Cần phải nỗ lực, chớ nhàn rỗi qua ngày!«|Một vị tăng hỏi Sư: »Khi lạnh nóng đến làm sao né tránh?« Sư đáp: »Sao chẳng nhằm chỗ không lạnh nóng đi?« Tăng hỏi: »Thế nào là chỗ không lạnh nóng?« Sư đáp: »Khi lạnh lạnh chết Xà-lê, khi nóng nóng chết Xà-lê.«|Sắp tịch, Sư sai cạo tóc tắm gội xong, đắp y bảo chúng đánh chuông, giã từ chúng ngồi yên mà tịch. Ðại chúng khóc lóc mãi không dứt. Sư chợt mở mắt bảo: »Người xuất gia tâm chẳng dính mắc nơi vật, là tu hành chân chính. Sống nhọc thích chết, thương xót có lợi ích gì?« Sư bảo chủ sự sắm trai ngu si để cúng dường. Chúng vẫn luyến mến quá, kéo dài đến ngày thứ bảy. Thụ trai cùng chúng xong, Sư bảo: »Tăng-già không việc, sắp đến giờ ra đi, chớ làm ồn náo.« Nói xong Sư vào trượng thất ngồi yên mà tịch. Bấy giờ là tháng ba năm thứ mười, niên hiệu Hàm Thông đời Ðường. Sư thọ 63 tuổi, 42 tuổi hạ. Vua sắc phong là Ngộ Bản Thiền sư.
Ðộng Sơn ngũ vị
洞山五位; J: tōzan (ryōkai) go-i; còn được gọi là Ngũ vị quân thần;|Năm địa vị của giác ngộ, được Thiền sư Ðộng Sơn Lương Giới và môn đệ là Tào Sơn Bản Tịch phân tích nêu rõ.|Biểu thị Chính (正) ở đây có nghĩa là Thể, tính Không (空), Lí (理). Thiên (偏) chỉ cho Dụng (用), Sắc (色), Sự (事). Ngũ vị được nêu rõ như sau:|1. Chính trung Thiên (正中偏): có nghĩa là cái Dụng nằm trong Lí. Trong cấp nhận thức này, thế giới Hữu vi nắm phần trên nhưng được nhận diện là xuất phát từ Chân như, tính Không. Người tu mới nhận được dụng đủ nơi thể. Bài kệ tụng của Sư:|正中偏|三更初夜月明前|莫怪相逢不相識|隱隱猶懷舊日嫌|Chính trung thiên|Tam canh sơ dạ nguyệt minh tiền|Mạc quái tương phùng bất tương thức|Ẩn ẩn du hoài cựu nhật hiềm.|*Chính trung thiên|Ðêm tối canh ba trăng rọi hiên|Lạ chi cùng gặp chẳng cùng biết|Ẩn ẩn vẫn còn ôm hận phiền|2. Thiên trung Chính (偏中正): có nghĩa là Lí nằm trong Dụng. Trong vị này, sự bất phân nổi bật, thế giới hiện hữu ít được để ý đến. Người tu hành nhận được Lí đủ nơi Sự, nhận được Thể sẵn trong Dụng, liễu đạt được lí các pháp đều không, chỉ một Chân như bình đẳng. Bài tụng:|偏中正|失曉老婆逢古鏡|分明覿面別無真|休更迷頭猶認影.|Thiên trung chính|Thất hiểu lão bà phùng cổ cảnh|Phân minh địch diện biệt vô chân|Hưu cánh mê đầu do nhận ảnh.|*Thiên trung chính|Mất sáng lão bà tìm cổ kính|Rõ ràng đối diện đâu riêng chân|Thôi chớ quên đầu theo nhận bóng.|3. Chính trung lai (正中來): nghĩa là từ trung tâm giữa Thiên và Chính đến. Các pháp hữu vi như Lí tuỳ duyên, như tính duyên khởi. Nơi đây cảm giác về thân, tâm đều được bỏ qua một bên, cả hai đều biến mất. Người tu nơi đây như Lí tu Sự, như tính khởi hành, tương đương với Bồ Tát từ sơ địa đến thất địa (Thập địa) tu hành còn dụng công. Bài tụng:|正中來|無中有路隔塵埃|但能不觸當今諱|也勝前朝斷舌才|Chính trung lai|Vô trung hữu lộ cách trần ai|Ðản năng bất xúc đương kim huý|Dã thắng tiền triều đoạn thiệt tài.|*Chính trung lai|Ðường cái trong không cách trần ai|Chỉ hay chẳng chạm ngày nay kị|Ðã thắng tiền triều cắt lưỡi tài.|4. Thiên trung chí (偏中至): bước vào giữa Thiên và Chính. Nơi đây người tu cảm nhận được sự độc nhất vô nhị của mỗi Pháp. Ngay cả tính Không cũng đã biến mất trong pháp này. Sử dụng toàn hợp nơi thể người tu trọn ngày tu mà lìa niệm tu, trọn đêm dụng mà chẳng thấy dụng công. Tương đương với hàng Bồ Tát từ bát địa đến thập địa. Tụng:|偏中至|兩刃交鋒不須避|好手猶如火裡蓮|宛然自有沖天志|Thiên trung chí|Lưỡng nhẫn giao phong bất tu tị|Hảo thủ du như hoả lí liên|Uyển nhiên tự hữu xung thiên chí.|*Thiên trung chí|Hai kiếm đua nhau cần gì tránh|Tay khéo vẫn như lò lửa sen|Nguyên vẹn nơi mình xung thiên chí.|5. Kiêm trung đáo (兼中到): Ðã đến đích, đến trung tâm của hai thái cực Thiên và Chính. Thể Dụng đồng đến, Sự và Lí cùng hành. Tức là vị quân thần hiệp (vua tôi hiệp). Ðây là Phật quả tối thượng. Bài tụng:|兼中到|不落有無誰敢和|人人盡欲出常流|折合還歸炭裡坐.|Kiêm trung đáo|Bất lạc hữu vô thuỳ cảm hoà|Nhân nhân tận dục xuất thường lưu|Chiết hiệp hoàn quy khôi lí toạ.|*Chẳng rơi Không, có ai dám hoà|Người người trọn muốn vượt dòng thường|Tan hiệp trở về ngồi trong tro|Tào Sơn Bản Tịch Thiền sư giải: »Chính vị tức xưa nay Không giới, xưa nay không vật. Thiên vị là sắc giới có muôn hình tượng. Chính trung thiên: bỏ Lí theo Sự. Thiên trung chính: bỏ Sự về Lí. Kiêm trung đáo: thần ứng hợp các duyên, không rơi vào các cõi, chẳng phải nhiễm, tịnh, chính, thiên. Cho nên nói ›Ðại đạo hư huyền, chân tông vô trước.‹ Các bậc tiên đức suy một vị này tối diệu tối huyền, phải biện minh cho thấu triệt. Quân là Chính vị, Thân là Thiên vị, Thần hướng Quân là Thiên trung Chính, Quân thị Thần là Chính trung Thiên, Quân Thần đạo hiệp là Kiêm trung đáo.«|Tương truyền rằng, Ðộng Sơn được thầy là Vân Nham Ðàm Thạnh chân truyền thuyết Ngũ vị và truyền lại cho Tào Sơn, người đã phát triển và hoàn chỉnh công thức này. Ngũ vị được xem là công thức biện chứng tuyệt hảo nhất của Thiền tông Trung Quốc. Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc (j: hakuin ekaku) bảo rằng »Ngũ vị là nguyên lí chính của Phật giáo và con đường tu tập tối trọng của Thiền tông.«|Thuyết Ngũ vị của Thiền sư Ðộng Sơn tương ưng với Tứ pháp giới của Hoa nghiêm tông, được Pháp sư Thanh Lương Trừng Quán (737-838) đề xướng. 1. và 2. của Ngũ vị tương ưng với Sự pháp giới, 3. tương ưng với Lí pháp giới, 4. tương ưng với Lí sự vô ngại pháp giới và 5. tương ưng với Sự sự vô ngại pháp giới.|Ngũ vị của tông Tào Ðộng sau cũng được tông Lâm Tế hấp thụ. Thiền sư Phần Dương Thiện Chiêu có lẽ là người đầu tiên sử dụng thuyết này và những bài kệ thuyết giảng của sư được ghi lại trong tập thứ 2 của Phần Dương lục (3 tập), được Thiền sư Thạch Sương Sở Viên biên tập. Phần Dương lục cũng là tập Công án quan trọng đầu tiên của Thiền tông Trung Quốc.
Ðộng Sơn Thủ Sơ
洞山守初; C: dòngshān shǒushū; J: tōzan shu-sho; 910-990;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Vân Môn Văn Yển. Trước khi gặp Vân Môn, Sư đã hành cước hơn 2000 km từ quê ở Tây Bắc Trung Quốc đến Quảng Ðông. Ðây là sự chứng minh lòng tham thiền học đạo tuyệt đối của Sư và các vị mộ đạo đời đó nói chung.|Nguyên do đại ngộ của Sư được truyền lại trong Vô môn quan, Công án 15:|Vân Môn hỏi Sư: »Mới từ đâu đến?« Sư thưa: »Tra Ðộ.« Vân Môn lại hỏi: »Hạ An cư ở đâu?« Sư đáp: »Chùa Báo Từ ở Hồ Nam.« Vân Môn hỏi tiếp: »Rời chùa hôm nào?« Sư đáp: »Hai mươi lăm tháng tám.« Vân Môn bảo: »Tha cho ông ba hèo.« Sáng hôm sau, Sư đến hỏi Vân Môn: »Hôm qua đội ơn thầy tha ba hèo, không biết lỗi của con ở đâu?« Vân Môn nói: »Ðồ vô dụng, thế mà dám khoe là đã qua những pháp hội ở Giang Tây, Hồ Nam! (chỉ Mã Tổ, Thạch Ðầu).« Nhân câu này của Vân Môn, Sư đại ngộ, bèn thưa: »Con ngày khác đến chỗ không có hơi người, dựng một chiếc am, chẳng chứa một hạt gạo, chẳng trồng một cọng rau, thường tiếp đãi thiện tri thức mười phương qua lại, trọn vì họ nhổ đinh tháo chốt, lột chiếc mũ thịt mỡ, cởi chiếc áo hôi thối, khiến mọi người sạch sẽ thung dung, làm một người vô sự.« Vân Môn bảo: »Thân bằng cây liễu mà mở được cái miệng to thế.« Sư liền lễ bái rồi đi.|Sư dạy chúng: »Lời không dính việc, nói chẳng hợp cơ, nương lời thì mất, kẹt câu là mê. Nơi đây, trong bốn câu nói thấy được rõ ràng. Làm một nạp tăng (chỉ Thiền sư) khoáng đạt, nhân một cây đòn tay, một miếng ngói, một bữa cháo, bữa cơm cũng có thể vì người làm thiện tri thức. Nơi đây, nếu chẳng rõ sẽ trở thành kẻ bướng bỉnh.«|Ðời nhà Tống niên hiệu Thuần Hoá năm đầu tháng bảy, Sư ngồi yên thị tịch.
Ðức Huệ
德慧; S: guṇamati;|Một Ðại luận sư của Duy thức học (s: yo-gācāra, vijñānavāda), thầy của An Huệ (s: sthiramati).
Ðức Sơn Tuyên Giám
德山宣鑒; C: déshān xuānjiàn; J: tokusan sen-kan; 782-865;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những Thiền sư lỗi lạc nhất đời Ðường. Sư có 9 môn đệ được Ấn khả, trong đó hai vị Nham Ðầu Toàn Hoát và Tuyết Phong Nghĩa Tồn đứng hàng đầu. Sư nối pháp Long Ðàm Sùng Tín, thuộc dòng Thanh Nguyên Hành Tư và Thạch Ðầu Hi Thiên. Nhân duyên ngộ đạo của Sư là một trong những câu chuyện thường được nhắc lại nhất trong giới Thiền. Sư nổi danh về việc sử dụng cây gậy để giáo hoá (đập) thiền sinh, từ đó mà sinh ra danh từ Bổng hát, chỉ cây gậy (bổng) ngang dọc của Sư và tiếng hét (Hát) vọng vang của Lâm Tế. |Những lời dạy của Sư rất lạ lùng, khó hiểu, chỉ có bậc thượng căn mới có thể hội đôi phần. Những câu nói của Sư, nghe phớt qua người thường có thể gọi là »mắng Phật mạ Tổ« nhưng nếu thấu hiểu thì cao siêu vô cùng. Sư không muốn đi quanh co, rườm rà mà nhiệt tình hướng dẫn môn đệ mau chóng ngộ được chân lí Bất nhị, nơi mọi ngôn từ trở thành vô dụng. Cũng từ tâm hồn cao siêu nhiệt tình của Sư mà xuất phát từ dòng Thiền này một Tuyết Phong Nghĩa Tồn, một Vân Môn Văn Yển, một Pháp Nhãn Văn Ích và vô số những ngôi sao sáng trong Thiền tông sau này.|Sư họ Chu, quê ở Kiến Nam, Giản Châu, xuất gia lúc 20 tuổi. Sư thông Luật tạng và các kinh, luận. Vì thường giảng Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa kinh nên thời nhân gọi Sư là Chu Kim Cương. Nghe Nam phương Thiền tông thịnh hành Sư bất bình nói: »Kẻ xuất gia muôn kiếp học uy nghi của Phật, vạn kiếp học tế hạnh của Phật. Những kẻ ma ở phương Nam dám nói ›Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật.‹ Ta phải ruồng tận hang ổ của chúng, diệt hết đống ma quái để đền ân Phật.« Sư bèn khăn gói lên đường, mang theo bộ Thanh Long sớ sao tới Lễ Châu. Trên đường, Sư gặp một người đàn bà bán bánh rán, bảo bà lấy ít bánh ăn điểm tâm. Bà chỉ gánh của Sư hỏi: »Gói này là gì.« Sư trả lời: »Thanh Long sớ sao.« Bà nói: »Tôi có một câu hỏi, nếu thầy đáp được, tôi xin cúng dường bánh điểm tâm. Bằng đáp không được, mời thầy đi nơi khác.« Sư ưng chịu, bà liền hỏi: »Trong kinh Kim cương có nói ›Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc.‹ Vậy thầy muốn điểm tâm nào?« Sư lặng thinh, không đáp được. Người đàn bà liền chỉ Sư đến tham vấn Thiền sư Long Ðàm Sùng Tín.|Vừa tới cửa Long Ðàm, Sư liền nói: »Nghe danh Long Ðàm đã lâu, nay đến đây, đầm (潭; Ðàm) cũng chẳng thấy, rồng (龍; Long) cũng chẳng hiện.« Long Ðàm bước ra, nói: »Ngươi đã tới Long Ðàm rồi.« Sư không đáp được, liền dừng lại đây. Một đêm, Sư đứng hầu. Long Ðàm bảo: »Ðêm khuya sao chẳng xuống?« Sư kính chào bước ra, lại trở vào thưa: »Bên ngoài tối đen.« Long Ðàm thắp đèn đưa Sư. Sư toan tiếp lấy, Long Ðàm liền thổi tắt. Sư bỗng nhiên đại ngộ, tất cả kiến chấp đều tan vỡ, quì xuống lễ bái. Long Ðàm hỏi: »Ngươi thấy gì?« Sư thưa: »Từ nay về sau chẳng còn nghi lời nói chư Hoà thượng trong thiên hạ.« Hôm sau Long Ðàm thượng đường bảo chúng: »Trong chúng đây có một gã răng như kiếm bén, miệng tợ chậu máu, đánh một gậy chẳng ngó lại, khi khác y lên ngọn núi cao vút dựng lập đạo của ta.« Sư đem bộ sớ sao ra chất đống nổi lửa đốt và nói: »Tột cùng các biện luận siêu huyền như một sợi lông ném trong hư không; hết sạch các trọng yếu trong đời như một giọt nước rơi vào hồ lớn.« Sư lễ từ Long Ðàm du phương.|Ðến Quy Sơn Linh Hựu, Sư vào pháp đường từ phía Tây đi qua phía Ðông, lại từ Ðông sang Tây, hỏi: »Có chăng? Có chăng?« Quy Sơn ngồi lặng im không ngó tới. Sư nói: »Không, không.« liền đi thẳng ra cửa tự nói: »Tuy nhiên như thế cũng chẳng đặng thô xuất.« Sư bèn đầy đủ uy nghi đi trở vào. Vừa bước qua cửa, Sư đưa toạ cụ lên gọi: »Hoà thượng!« Quy Sơn toan nắm Phất tử, Sư liền hét, phủi áo ra đi. Quy Sơn sau nói: »Gã ấy về sau lên tận ngọn núi cao, cất am cỏ ở, để rồi quở Phật mắng Tổ.«|Sư dạy chúng: »Nơi mình vô sự thì chớ vọng cầu, vọng cầu mà được thì chẳng phải được. Các ông chỉ vô sự nơi tâm, vô tâm nơi sự thì hư mà linh, không mà diệu. Nếu có nói gốc ngọn chừng đầu mảy lông đều là tự dối. Còn có mảy may nghĩ nhớ là nghiệp nhân tam đồ. Bất chợt sinh tình (vọng khởi) là muôn kiếp bị khóa kín. Danh thánh hiệu phàm trọn là tiếng rỗng, tướng đặc biệt hình xấu xa đều là sắc huyễn. Các ông muốn cầu đó mà không bị luỵ sao? Và các ông chán đó, lại thành bệnh lớn. Cả hai đều vô ích…|Nhân giả! nói tu hành như thế, các ông đâu chẳng nghe nói Lão Hồ (ông già Ấn Ðộ, chỉ Phật) trải ba A-tăng-kì kiếp tu hành mà nay còn đâu? Sau 80 năm chết mất, cùng các ông có khác gì?…|Các ông chớ cuồng! Khuyên các ông không gì hơn thôi hết đi, vô sự đi. Tâm vừa khởi một niệm tức là quyến thuộc nhà ma, là kẻ tục phá giới.«|Sư có bệnh, tăng hỏi: »Lại có cái chẳng bệnh chăng?« Sư đáp: »Có.« Tăng hỏi: »Thế nào là cái chẳng bệnh?« Sư bảo: »Ôi da! Ôi da!« Sư lại bảo chúng: »Chụp không tìm tiếng luống nhọc tâm thần các ngươi. Mộng tỉnh, tỉnh rồi trọn không có việc gì.« Nói xong Sư ngồi yên lặng viên tịch, nhằm đời Ðường, niên hiệu Hàm Thông năm thứ sáu, ngày mùng ba tháng chạp năm Ất Dậu. Vua sắc phong Kiến Tính Ðại sư.
óc châm biếm
Dry humour.
óc cạnh tranh
Competitive spirit
óc thiên vị
Favoritism.
óc đảng phái
Party (sect) spirit.
Ô
汚; C: wū; J: o;|1. Nhuốm bẩn, làm dơ, làm ô uế, làm hư hỏng; 2. Bị nhuốm bẩn, bị dơ, bị hư hỏng; 3. Sự dơ bẩn, điều ô trọc, sự ô nhiễm; 4. Sự nhục nhã, sự hổ thẹn, ô danh; 5. Kém cỏi, hạ tiện, tầm thường.
ô
2471<一>悉曇字???(ū)。又作烏、汙、憂、優、鄔、甌。悉曇十二韻之一,五十字門之一。瑜伽金剛頂經釋字母品釋污字為「一切法損減不可得」之義;方廣大莊嚴經卷四釋之為「一切眾生智慧狹劣」之義。蓋污字之損減、狹劣之義,係由梵語 ūna(意譯損減、狹劣)之轉釋而來。自古以來為簡別「譬喻之塢字」???(ū),而稱此污字為「損減之污字」。又守護國界主陀羅尼經卷九,釋污字為報身之義。日本空海於吽字義中釋污字為不可得之義(大七七‧四○五中)損減:「雖云無明住地無邊際,我慢須彌無頭頂,而一心虛空,本來常住,不損不減是則污字實義也。(中略)今以佛眼觀之,佛與眾生同住解脫之床,無此無彼,無二平等,不增不減,周圓周圓,既無勝劣增益之法,何有上下損減之人,果名污字實義。」〔文殊師利問經卷上字母品、北本大般涅槃經卷八、悉曇字記〕(參閱「塢」5437) <二>悉曇字???(o)。又作烏、嗚、奧、汙。悉曇十二韻之一,五十字門之一。瑜伽金剛頂經釋字母品釋之為「一切法瀑流不可得」。蓋污字釋為瀑流之義,係由梵語 ogha(意譯瀑流)轉釋而來。又北本大般涅槃經卷八釋之為煩惱之義;文殊師利問經卷上字母品釋之為取之義。〔佛本行集經卷十一、大方等大集經卷十、文殊問經字母品第十四〕
; 1) Cái ụ hay bờ đất: A bank, a wall, dock, entrenchment. 2) Con quạ: The crow. 3) Đen: Black. 4) Bất Tịnh: Impure—Filthy. 5) Có nghĩa là nước đọng, dơ dái, nhưng ở đây nó được giải thích là dòng thác vô thường—Stagnant water, impure but it is explained as a torrent, impermanent. 6) Tiếng hót của loài chim: A note of a bird.
; (污) I. Ô: Cũng gọi Ưu, Ổ, Âu. Chỉ cho chữ (ù) trong 12 nguyên âm của chữ Tất đàm, 1 trong 50 chữ cái Tất đàm.Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính giải nghĩa chữ Ô là: Tất cả pháp tổn giảm bất khả đắc. Kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 giải nghĩa chữ Ô là: Trí tuệ của tất cả chúng sinh đều hẹp hòi yếu kém. Bởi vì nghĩa tổn giảm và hẹp hòi yếu kém của chữ Ô là từ chữ Phạmùna(dịch ý là tổn giảm, hẹp hòi yếu kém)mà ra. Vì để phân biệt với chữ Ô ví dụ (ù), cho nên từ xưa đến nay mới gọi chữ Ô này là chữ Ô tổn giảm. Kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni quyển 9 thì giải chữ Ô là nghĩa Báo thân. Còn trong Hồng tự nghĩa thì ngài Không hải của Nhật bản giải nghĩa tổn giảm bất khả đắc của chữ Ô như sau (Đại 77, 405 trung): Tuy nói vô minh trụ địa không có ngằn mé, ngã mạn như núi Tu di không có chóp, nhưng nhất tâm rỗng không, xưa nay vốn thường trụ, không tổn, không giảm, đó là nghĩa đích thực của chữ Ô. (...) Nếu nhìn bằng mắt Phật, thì Phật và chúng sinh cùng ngồi trên tòa giải thoát, không đây không kia, bình đẳng không hai, chẳng thêm chẳng bớt, tròn đầy trùm khắp, đã không có pháp hơn kém thêm bớt, thì làm sao có người trên dưới tổn giảm, đó mới là nghĩa đích thực của chữ Ô vậy. [X. phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng; kinh Đại bát niết bàn Q.8 (bản Bắc); Tất đàm tự kí]. (xt. Ổ).II. Ô. Cũng gọi Áo. Chỉ cho chữ (o), 1 trong 12 nguyên âm Tất đàm, 1 trong 50 chữ cái Tất đàm. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính giải nghĩa chữ Ô là: Dòng thác tất cả pháp bất khả đắc. Bởi vì nghĩa dòng thác của chữ ô là từ tiếng Phạmogha (dịch ý là dòng thác)mà ra. Kinh Đại bát niết bàn quyển 8 (bản Bắc) thì giải nghĩa chữ ô là phiền não. Còn phẩm Thích tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn quyển thượng thì giải nghĩa chữ ô là lấy. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.11; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.10, phẩm Thích tự mẫu 14 trong kinh Văn thù vấn].
ô ba
4176意即有(梵 bhava)。三有之一,二十五有之一。即一切生死之果報、一切之有漏法。例如十二緣起中之「有支」,可招致未來果報之善惡業。翻譯名義集卷六(大五四‧一一六四中):「鳥波,或云薩遮,此云有。婆沙云:『有是何義?謂一切有漏法是。佛言:若業能令後生續生,是名為有。』」
; See Upadana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (烏波) ... Phạm: Bhava. Hán dịch: Hữu. Chỉ cho tất cả quả báo sinh tử, tất cả pháp hữu lậu, có khả năng mang lại nghiệp báo thiện, ác trong vị lai. Là 1 trong 3 Hữu, 1 trong 25 Hữu. Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 6 (Đại 54, 1164 trung) ghi: Ô ba hoặc Tát già, Hán dịch là Hữu. Luận Bà sa nói: Hữu là gì? Là tất cả pháp Hữu lậu. Phật dạy: Nếu nghiệp làm cho đời sau tiếp tục thì đó gọi là Hữu.
ô ba cúc đa
Upagupta (skt)—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (4).
ô ba giá lô
Upacàru (S). Name of a cakravartiràja. Also Tiểu Bễ,
ô ba nan đà
Upananda (skt). 1) Một đệ tử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: A disciple of Sakyamuni. 2) Một trong tám vị Long Vương trong Thai Tạng Giới: One of the eight Naga-kings in the Garbhadhatu.
ô ba nan đà long vương
4177八大龍王之一。難陀龍王之弟。於密教中,位於胎藏界曼荼羅外金剛部院之西門及南門。身呈肉色,頭有七蛇,右手執劍,左手開展。
; (烏波難陀龍王) Em của Long vương Nan đà, 1 trong 8 vị Đại long vương. Trong Mật giáo, vị Long vương này được bài trí ở cửa tây và cửa nam của viện Ngoại kim cương trong Mạn đồ la Thai tạng giới. Hình tượng vị tôn này mình màu da người, trên đầu có 7 con rắn, tay phải cầm gươm, tay trái mở ra.
ô ba sách ca
Upàsaka (S) Lay-man. Also cận sự nam, ưu bà tắc.
; Upasaka (skt)—Ưu Bà Tắc—Ưu Ba Sa Ca—Cư sĩ nam tại gia trì giới—Lay male disciples who remain at home and observe the moral commandments. ** For more information, please see Upasaka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Ưu Bà Tắt in Vietnamese-English Section.
ô ba tam bát na
Upasampanna (S). Obtained, received. Also cận viên.
ô ba ti ca
Upâsika (S) Lay-woman. Also cận sự nữ, ưu bà di.
ô ba tư ca
See Upasika in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Ưu Bà Di in Vietnamese-English Section.
ô ba đà da
Upadhyaya (S). Most venerable.
ô ba đề
Upadhi (S). Substratum of rebirth, of being. Ô ba đề Niết bàn, Upadhi-nirvàna; also Hữu khổ Niết bàn.
; Upadhi (skt)—Có giới hạn—Limited or peculiar—Conditioned.
ô ba đề niết bàn
4177意指有苦涅槃。據慧苑音義卷下載,三乘所得無餘涅槃未離變易生死,故「行苦」相隨;有餘涅槃及諸外道小乘所計執之涅槃未離三苦,故皆屬有苦涅槃。慧苑音義卷下(大五四‧四四九中):「烏波,此翻為有;提,云苦也。」
; Hữu khổ niết bàn hay niết bàn khổ đau của ngoại đạo (loại niết bàn chưa thoát khỏi tam khổ)—The upadhi-nirvana is the suffering or wretched condition of heretics.
; (烏波提涅槃) ... Chỉ cho Hữu khổ Niết bàn. Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển hạ, thì Niết bàn vô dư mà Tam thừa chứng được chưa lìa sinh tử biến dịch, vì thế nên vẫn còn Hành khổ. Ngoài ra, Niết bàn hữu dư và Niết bàn mà các ngoại đạo và Tiểu thừa chấp trước, vì chưa hết 3 khổ, cho nên đều thuộc Niết bàn hữu khổ.
ô ba đệ thước
Upadesa (skt)—See Ưu Ba Đề Xá.
ô bà kế thiết ni
Upakesini (skt)—Một trong những sứ giả của Ngài Văn Thù Sư Lợi—One of the messengers of Manjusri.
ô bà tam bát na
Xem Cụ túc giới.
ô bà đà da
Upadhyaya (skt)—See Ưu Bà Đà Da.
ô bô sa tha
Upavasatha (S). Fasting day. Also Trai nhật.
; Upavasatha (skt)—Uposatha (p)—Trai Nhật—Nguyên thủy là ngày chuẩn bị của ngày tế lửa Hộ Ma của Bà La Môn trong Phật giáo có sáu ngày trai nhật—A fast day, originally in preparation for the brahminical soma sacrifice in Buddhism, there are six fast days in the month. ** For more information, please see Lục Trai Nhật.
ô bột
4177又作嗢勃。即木果。其狀似木瓜而稍大,芳香可口。〔慧琳音義卷五十三〕
; (烏勃) ... Cũng gọi Ốt bột. Tên 1 loại trái cây, hình dáng giống như quả dưa dại, nhưng hơi lớn hơn 1 chút, mùi thơm và ăn được. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.53].
ô ca lạp
(ô ca lạp ) Phạm: Utkara. Pàli: Ukkala, Ukkalàta. Tên 1 vùng đất ở Ấn độ thủa xưa. Cứ theo Luật tạng đại phẩm thì đây là nơi buôn bán của 2 thương gia Đề vị (Pàli: Tapussa) và Bà lê ca (Pàli:Bhalliya). Trên đường trở về sau 1 chuyến buôn, khi đến Phật đà già da (Phạm:Buddhagayà), 2 người đã dâng đường phèn cúng dường đức Thế tôn Thích ca và xin qui y trở thành đệ tử tại gia đầu tiên của đức Phật. Theo sự suy định của các học giả cận đại, thì Ô ca lạp có lẽ là vùng đất Orissa hiện nay.
ô chẩm nam
Udana (skt)—Vô Vấn Tự Thuyết, đối lại với Vấn Đáp Thuyết—Breathing upwards a solemn utterance, or song of joy, unsolicited or voluntary statements, i.e. by the Buddha, in contrast with replies to questions. ** For more information, please see Thập Nhị Đại Thừa Kinh.
ô câu bà nga đồng tử
4178烏俱婆誐,梵名 Ukubhaga。又作憂丘婆丘童子。為密教不動明王之使者八大童子之第五。此尊係由不動真言之歸命句中所衍生者,通常表不動之金剛波羅蜜(菩提心行);其烏俱婆誐一詞,乃含超越住世之義。此尊之形像,頂戴五股冠,現暴惡之相,身呈金色,右手執金剛杵,左手結拳印,立於岩上。〔聖無動尊八大童子祕要法品〕(參閱「八大金剛童子」272)
; (烏俱婆哦童子) Ô câu bà nga, Phạm: Ukubhaga. Cũng gọi Ưu khâu bà khâu đồng tử. Vị đồng tử thứ 5 trong 8 đại đồng tử sứ giả của Minh vương Bất động trong Mật giáo. Vị tôn này được sinh ra từ trong câu qui mệnh Bất động chân ngôn, thông thường biểu thị Kim cương ba la mật (Bồ đề tâm hành) bất động. Từ ngữ Ô câu bà nga bao hàm ý nghĩa siêu việt trụ thế. Về hình tượng, vị tôn này mình màu vàng ròng, đứng trên tảng đá, đầu đội mũ 5 chĩa, hiện tướng dữ tợn, tay phải cầm chày kim cương, tay trái kết quyền ấn.[X. Thánh vô động tôn bát đại đồng tử bí yếu pháp phẩm].
ô cữu khuất bổng
4176禪宗公案名。烏臼,為唐代之禪僧,乃馬祖道一之法嗣。屈棒,毫無理由的棒打之意。此公案以烏臼和一僧之問答,來表示受化學人自在無礙之機境。碧巖錄第七十五則(大四八‧二○二中):「僧從定州和尚會裏來到烏臼,烏臼問:『定州法道何似這裏?』僧云:『不別。』臼云:『若不別,更轉彼中去!』便打。僧云:『棒頭有眼,不得草草打人!』臼云:『今日打著一箇也。』又打三下,僧便出去。臼云:『屈棒元來有人喫在!』僧轉身云:『爭奈杓柄在和尚手裏。』臼云:『汝若要,山僧回與汝。』僧近前奪臼手中棒,打臼三下。臼云:『屈棒!屈棒!』僧云:『有人喫在!』臼云:『草草打著箇漢。』僧便禮拜。臼云:『和尚卻恁麼去也。』僧大笑而出。臼云:『消得恁麼!消得恁麼!』」
; (烏臼屈棒) Tên công án trong Thiền tông. Ô cữu là vị Thiền tăng sống vào đời Đường, là đệ tử nối pháp của ngài Mã tổ Đạo nhất. Khuất bổng nghĩa là đánh 1 cách vô lí. Công án này dùng cơ duyên vấn đáp giữa ngài Ô cữu với 1 vị tăng để biểu thị cái cơ cảnh tiếp hóa người học 1 cách tự tại vô ngại.Tắc 75 trong Bích nham lục (Đại 48, 202 trung) chép: Có vị tăng từ nơi Hòa thượng Định châu đến chỗ ngài Ô cữu, ngài Ô cữu hỏi:- Đạo pháp ở Định châu có giống đạo pháp ở đây không? Vị tăng đáp: - Không khác! Ngài Ô cữu bảo: - Nếu không khác thì trở về chỗ Định châu đi! Ngài Ô cứu nói xong liền đánh vị tăng 1 gậy.Vị tăng nói: - Đầu gậy có mắt, không được đánh người bừa bãi như thế! Ngài Ô cữu nói: - Hôm nay đánh được một người. Ngài Ô cữu nói rồi liền đánh thêm 3 gậy nữa.Vị tăng bèn đi ra. Ngài Ô cữu nói: - Khuất bổng vậy mà cũng có người ăn! Vị tăng quay lại, nói: - Ngán nỗi cán gậy lại nằm trong tay Hòa thượng! Ngài Ô cữu nói: - Nếu ông muốn, sơn tăng sẽ đưa cho. Vị tăng liền tiến đến gần phía trước, giựt lấy cây gậy trong tay ngài Ô cữu và đánh cho ngài 3 gậy. Ngài Ô cữu nói: - Khuất bổng! Khuất bổng! Vị tăng nói: - Có người ăn đòn! Ngài Ô cữu nói: - Gã này đánh bậy bạ thật! Vị tăng liền lễ bái. Ngài Ô cữu nói: - Hòa thượng ta phải làm sao bây giờ?! Vị tăng cười to đi ra. Ngài Ô cữu nói: Cứ vậy được đấy! Cứ vậy được đấy!
Ô Cựu
烏臼; C: wūjiù; J: ukyū; ~ tk 8.-9;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Mã Tổ Ðạo Nhất. Bích nham lục có nhắc đến Sư trong Công án 75. Sư là một trong những Thiền sư đầu tiên dùng gậy (Bổng hát) để giáo hoá.
ô cựu
Wu Jiu (C), UkyŪ (J), Wu-chiu (C), Wu Jiu (C), Ukyu (J)(Thế kỷ 13-14) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Mã Tổ Đạo Nhất.
ô di quốc
4175梵名 Agni。位於新疆之古國名。又作
; (烏夷國) Phạm:Agni. Cũng gọi Ô kì quốc. Tên một nước xưa ở vùng Tân cương của Trung quốc, phía đông giáp Cao xương, phía tây giáp Cưu tư, trung tâm là Karashar (Khách lạt sa nhĩ). Vào những năm cuối đời Đông Tấn, các ngài Trí nghiêm, Bảo vân... đi Ấn độ cầu pháp, từng gặp ngài Pháp hiển ở nước này.[X. Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo sử (Thang dụng đồng)].
ô gia
2472據四分律刪繁補闕行事鈔卷中之二載,比丘若有所求,以種種物贈予在家人,使得物者歡喜,產生報恩之心,不得物者聞之而不歡喜,如此行為除有損平等之施心外,更能破壞在家人之淨信心,故稱為污家。
; Làm ô uế người thế tục bằng cách (vị Tỳ Kheo) đem của cải tặng cho người thế tục làm cho người nhận nảy lên ý nghĩ biết ơn hoặc không vừa ý với những quà tặng hoặc làm cho người nhận mang ơn, còn người không nhận không vui (làm tổn hại đến pháp bố thí bình đẳng trong nhà Phật)—To defile a household by deeming it ungrateful or being dissatisfied with its gifts.
; (污家) ... Làm hoen ố lòng tin trong sạch của người tại gia. Cứ theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển trung, phần 2, tỉ khưu nếu mong cầu điều gì mà đem các vật phẩm tặng cho người tại gia, khiến cho người được tặng vật vui mừng sẽ sinh tâm báo đáp lại, còn những người không được tặng, nghe biết việc ấy thì không vui; hành vi như thế chẳng những làm thương tổn tâm bố thí bình đẳng mà còn phá hoại tín tâm thanh tịnh của người tại gia, cho nên gọi là Ô gia.
ô già la quốc bát
4176為四分律卷九所舉六種鉢之一,產於烏伽羅國,為鉢中之上品。〔盂蘭盆經疏卷下〕
; (烏伽羅國鉢) Loại bình bát được sản xuất ở nước Ô già la, là bát được xếp vào hàng thượng phẩm trong 6 loại bát nói trong luật Tứ phần quyển 9. [X. Vu lan bồn kinh sớ Q.hạ].
ô giới
2472為「淨戒」之對稱。即凡夫受戒後,常因煩惱之現行,而污染戒體,使不得清淨。反之,佛斷盡無明煩惱,故具足一切淨戒。法華玄義卷三下(大三三‧七一七下):「唯佛一人具淨戒,餘人皆名污戒者。」
; (污戒) Đối lại: Tịnh giới. Giới nhơ nhuốm. Kẻ phàm phu sau khi thụ giới thường bị phiền não nổi lên làm cho giới thể bị ô nhiễm, mất tính chất thanh tịnh. Trái lại, đức Phật đã dứt hết phiền não vô minh, cho nên đầy đủ tất cả tịnh giới.Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3, phần cuối (Đại 33, 717 hạ) nói: Chỉ có đức Phật đầy đủ tịnh giới, còn các người khác là người ô giới.
ô hô
Tiếng kêu tán thán—Allas!
ô hồi cưu la
4177據可洪音義卷十五之說,烏迴鳩羅乃梵語平等無二之意,後引申為僧眾中決斷爭論者之職位。十誦律卷二十(大二三‧一四五下):「若是烏迴鳩羅不能如法、如比尼、如佛教斷是事者,應更立烏迴鳩羅。」
; (烏回鳩羅) ... Một chức vụ làm trọng tài trong Thiền lâm.Cứ theo Khả hồng âm nghĩa quyển 15 thì Ô hồi cưu la là tiếng Phạm, có nghĩa là bình đẳng không hai, về sau được dùng để chỉ cho chức vụ của người có trách nhiệm giải quyết các cuộc tranh cãi giữa chúng tăng trong Thiền lâm. Luật Thập tụng quyển 20 (Đại 23, 145 hạ) nói: Nếu vị Ô hồi cưu la này không có khả năng làm nhiệm vụ đúng như pháp, như tì ni(luật), như lời Phật dạy để quyết đoán việc ấy, thì nên đặt vị Ô hồi cưu la khác.
ô hợp
Disordered—Unruly.
ô khu sa ma
Xem Uế tích Minh vương.
ô khu sa ma minh vương
See Bất Tịnh Phẫn Nộ.
ô khu sắt ma
Xem Uế tích Minh vương.
ô kê tuyết thượng hành
4182禪林用語。以烏雞喻指理體、平等;以白雪喻指事體(現象)、差別。烏雞行於白雪上,黑白分明,絲毫不雜;比喻事與理之間、平等與差別之間之任運妙用。
; (烏鶏雪上行) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Gà đen đi trên tuyết. Gà đen ví dụ lí thể bình đẳng; tuyết trắng ví dụ hiện tượng sai biệt. Trong Thiền tông, từ ngữ này được dùng để ví dụ cho sự diệu dụng tự tại giữa sự và lí, giữa bình đẳng và sai biệt, rõ ràng như gà đen đi trên tuyết trắng, không thể lẫn lộn.
ô kì đế
4178咒名,此咒可除禪定之垢,卻障道之罪,諸魔邪鬼悉能滅之。〔七佛所說神咒經卷一〕
; (烏耆帝) Tên của thần chú. Thần chú này có năng lực tiêu trừ sự cấu uế của thiền định, diệt trừ các tội chướng đạo và các tà ma quỉ quái. [X. kinh Thất Phật sở thuyết thần chú Q.1].
ô la già
4182梵語 uraga。意陽@腹行。即龍蛇之類。〔華嚴經探玄記卷二十〕
; (烏羅伽) Phạm: Uraga. Hán dịch: Phúc hành(đi bằng bụng). Chỉ cho các loài rồng, rắn, tức các loài bò sát. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.20].
ô lam ba na
Ullambana (S) Xem Vu lan bồn.
ô long
4181唐代沙門惠祥所撰弘贊法華傳卷八所載之人物。李烏龍者,并州(四川萬源)人,其家以書寫為業。子名遺龍。烏龍性躭嗜酒肉,不信佛教,一生中不書佛經。嘗語遺龍(大五一‧八四上):「若汝吾子,不可信佛經。」旋吐血而卒。後并州司馬特重法華教說,如法欲寫其經,然無人能書。或謂司馬云:「烏龍之子遺龍繼業能書。」司馬以方便調伏,遺龍遂立法華六十四字題目,然次夜夢百千天人繞大威德天,遺龍問:「誰人?」天答:「我是汝父烏龍,先生愚氣,不信佛經,墮大地獄。(中略)昨日地獄上忽有光明,於中現一化佛,說偈曰:『假令遍法界,斷善諸眾生;一聞法華經,決定成菩提。』如是六十四佛次第而現,說偈亦爾。爾時地獄火滅,變為清涼池。我及眾生捨身生第四天。(中略)汝所造題目六十四字,一一之字,現化佛身,說偈救苦。」
ô long sơn
4181位於嚴州城(今浙江建德)之北三公里。唐德宗貞元十年(794),淨土五祖中之少康法師(?~805)曾入此山建淨土道場,聞名於世。少康曾築壇三級,集眾日夜念佛行道。齋日時,信徒雲集,所化達三千人。貞元二十一年十月示寂於此山。據傳當時百鳥悲鳴,山容亦為之變白。〔宋高僧傳卷二十五、佛祖統紀卷二十七〕
ô luật luật
4177禪林用語。又作烏律率、烏律卒、烏律漆、黑律漆。其意作黑漆漆。常見於禪林語錄。西巖錄(卍續一二二‧一七七上):「主丈子,機不密,通身烏律律。」
; (烏律律) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cũng gọi Ô luật suất, Ô luật tốt, Ô luật tất, Hắc luật tất. Đen kìn kịt. Từ ngữ này thường được thấy trong các bộ ngữ lục của Thiền tông. Tây nham lục (Vạn tục 122, 177 thượng) nói: Cây gậy cơ chẳng kín, toàn thân đen kìn kịt(ô luật luật).
ô lạc
Ulak or Ulag (skt)—Ngựa—Horse.
ô lạc ca
Uraga (skt)—Ô La Già—Đi bằng bụng như loài rắn—Going on the belly, a serpent.
ô lạc ca chiên đàn
4178梵語 uragasāra-candana。又作憂陀伽娑羅旃檀、地毘烏羅伽娑羅旃檀。譯作蛇心檀。為旃檀香木之一種。慧苑音義卷下載,烏洛迦本為西域蛇名,其蛇常犯毒熱,盤據此香樹,以身繞之,毒熱便息,因以為名。又謂此蛇最毒,蟄人必死,唯此旃檀能治,故以為名。〔華嚴經探玄記卷二十〕
; Uraga (sara)-candana (skt)—Xà Chiên Đàn, tên của một loại gỗ thơm—Serpent-sandal, a kind of sandal wood, used as a febrifuge.
; (烏洛迦旃檀) Phạm: Uragasàra-candana. Cũng gọi Ưu đà già sa la chiên đàn, Địa tì ô la già sa la chiên đàn. Hán dịch: Xà tâm đàn(chiên đàn tâm rắn). Tên 1 loại gỗ thơm chiên đàn. Cứ theo Tuệ uyển âm nghĩa quyển hạ thì Ô lạc ca vốn là tên của 1 loài rắn bên Tây vực; rắn này thường bị bệnh độc nhiệt và mỗi lần như thế thì nó lại quấn quanh cây chiên đàn, hơi độc liền tan hết, vì thế mà dùng rắn để đặt tên cây. Vả lại, loại rắn này rất độc, nó cắn ai thì người ấy chắc chắn sẽ chết, chỉ có loại chiên đàn này là cứu chữa được, cho nên lấy rắn đặt tên cây. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.20].
ô lạt thi
Urasi or Urasa (skt)—Ca Thấp Di La, một vương quốc cổ, bây giờ là vùng tây nam Serinagur—An ancient kingdom in Kashmir, the region south-west of Serinagur.
ô lạt thi quốc
4177烏剌尸,梵名 Uraśa。又作烏剌叉國。北印度之古國名。位於迦濕彌羅國之西,即今哈乍拉(Hazara)之地。據大唐西城記卷三載,其地山阜連接,田疇狹隘,氣候溫和,適宜稼穡,花果甚少。無大君長,隸屬迦濕彌羅國。俗無禮義,人性剛猛,多行詭詐,不信佛法。都城之西南有窣堵波,高二百餘尺,旁有大乘之伽藍,僧徒甚少,然皆學大乘。其都城即今之哈梨普(Haripur)。〔大慈恩寺三藏法師傳卷二〕
ô lật đà
Hrd or Hrdaya (skt)—Tâm—The heart, mind, soul.
ô lỗ nại la xoa
5397梵語 rudrākṣa。又作烏嚧咤羅迦叉。意譯作天目珠,或金剛子。學名 Elaeocarpus ganitrus。以其核似大自在天之眼珠,故有天目珠之稱。據慧琳音義卷三十五載,嗚嚕捺囉叉爲西方樹木之子核,大小如櫻桃顆,或如小彈珠,有紫色者,稱金剛子,可作數珠,密教金剛部念誦之行者即持用此珠。又一名 Pañcamukha,五面之義,因其核如以線劃五面之故。
ô ma
Unmada (S). A demon or god of craziness or intoxication.
; Unmada (skt)—Ưu Ma Đà. 1) Lòng tham: Covetness—Desire. 2) Tên của một loài quỷ điên cuồng: A demon of craziness. 3) Thần say: God of intoxication.
ô ma lặc già
Black faced devil
ô ma phi
4180烏摩,梵名 Umā。原為古印度婆羅門教神妃派所特崇。又稱杜爾嘉(梵 Durgā)、雪山神女(梵 Pārvatī)。印度神話中,烏摩妃具有大神威力,嘗受諸天之請,擊退阿修羅天,而顯現十臂、亂髮、乘獅子、截首、殺阿修羅王等諸形像。後於密教中,不具昔時之神威力,僅被列為外金剛院之一尊。為摩醯首羅天(大自在天)之妃,毘那夜叉之母,位於胎藏界曼荼羅外金剛部院之西方,大自在天之左側。右手屈拳,左手執三股戟,乘黑羊,與大自在天同出。於大教王經卷九、卷十所載,金剛薩埵降伏大自在天時,現忿怒之相,左足踐踏大自在天,右足則覆於烏摩妃上。〔大日經卷四密印品、金剛頂瑜伽降三世極深密門〕
; Uma (skt)—Bà hậu phi của trời Ma Hê Thủ La—Wife of Mahesvala. ** For more information, please see Ma Hê Thủ La Thiên Vương.
; (烏摩妃) ... Ô ma, Phạm: Umà. Cũng gọi Đỗ nhĩ gia (Phạm: Durgà), Tuyết sơn thần nữ (Phạm:Pàsvatì). Vốn là tên 1 vị thần nữ được phái Thần phi trong Bà la môn giáo ở Ấn độ cổ đại sùng bái. Cứ theo truyền thuyết trong thần thoại Ấn độ thì Ô ma phi có sức uy thần lớn, từng nhận lời mời của chư Thiên, hiện các thân hình 10 tay, tóc rối, cỡi sư tử, đánh đuổi A tu la, chặt đầu, giết vua A tu la. Về sau, Ô ma phi được du nhập Mật giáo, nhưng không có sức uy thần mạnh mẽ như trong thần thoại Ấn độ, mà chỉ là 1 vị tôn của viện Ngoại kim cương bộ. Ô ma phi là vợ của trời Ma hê thủ la(trời Đại tự tại), mẹ của Tì na dạ ca, ngồi ở bên trái trời Đại tự tại, phía tây trong viện Ngoại kim cương bộ thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới. Hình tượng vị tôn này tay phải nắm và co lại, tay trái cầm cây kích 3 chĩa, ngồi trên lưng con dê đen, sánh đôi với trời Đại tự tại. Cứ theo kinh Đại giáo vương quyển 9 và 10 ghi chép, khi Kim cương tát đỏa hàng phục trời Đại tự tại, thì hiệntướng giận dữ, chân trái đạp lên mình trời Đại tự tại, còn chân phải thì dẵm lên mình Ô ma phi. [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật Q.4, Kim cương đính du già hàng tam thế cực thâm mật môn].
ô ma quỷ
4180烏摩,梵名 Unmada。又作憂摩陀鬼。或謂醉鬼,或謂食精鬼。〔涅槃經疏卷七、慧琳音義卷二十六〕
; Unmada (S)Tên một loài quỷ say.
; (烏魔鬼) ... Ô ma, Phạm: Unmada. Cũng gọi Ưu ma đà quỉ. Hán dịch: Túy quỉ, Thực tinh quỉ. Tên 1 loài quỉ say(túy), thường hút tinh khí của người ta. [X. Niết bàn kinh sớ Q.7, Tuệ lâm âm nghĩa Q.26].
ô ma tử phạt thệ
Umasvati (S)Một trong những vị Luận sư của Kỳ Na giáo.
ô mai
4178半熟之梅為黃色,燻製之則成黑色,禪林每用為藥。另於禪林語錄,每以烏梅喻指尚存本形,然已異於本形之物。如淨和尚語錄卷下(大四八‧一三○下):「一箇烏梅似本形,蜘蛛結網打蜻蜓;蜻蜓落了兩片翼,堪笑烏梅咬鐵釘。」
; (烏梅) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Quả ô mai khi sắp chín thì màu vàng, lúc hấp cho chín thì trở thành màu đen và thường được dùng làm thuốc chữa bệnh. Trong các ngữ lục của Thiền tông, ô mai thường được dùng để ví dụ 1 vật đã thay hình đổi dạng, không còn giống như hình dạng lúc ban đầu nữa. Như tịnh Hòa thượng ngữ lục quyển hạ (Đại 48, 130 hạ) chép: Nhất cá ô mai tự bản hình Tri thù kết võng đả tinh đình Tinh đình lạc liễu lưỡng phiến dực Kham tiếu ô mai giảo thiết đinh. Nghĩa là con nhền nhện giăng lưới bắt chuồn chuồn, chuồn chuồn dính lưới nhện bị gãy mất 2 cánh, không còn giống với hình dạng ban đầu nữa; cũng như quả ô mai, lúc sắp chín thì vàng ửng, nhưng khi chín hẳn rồi thì đen sì như thanh sắt.
ô na
4176又作嗚哪、嗚伊、嗚㖿、嗚噎、嗚呼。表感歎之語詞。叢林中之對話多用之。聯燈會要卷二十三韶山寰普章(卍續一三六‧四○七下):「遵問:『韶山路向甚麼處去?』師以手指云:『烏那!青黯黯處去!』」
; (烏那) ... Cũng gọi Ô y, Ô da, Ô ế, Ô hô. Từ ngữ biểu thị sự cảm thán. Trong các tùng lâm, từ này thường được sử dụng trong các cuộc đối thoại. Chương Thiều sơn Hoàn phổ trong Liên đăng hội yếu quyển 23 (Vạn tục 136, 407 hạ) ghi: Tuân hỏi: Thưa, đường đến Thiều sơn đi lối nào ạ? Sư đưa tay chỉ và nói: Ôi (ô na)! Đi đến chỗ mờ mờ xanh xanh kia kìa!.
ô na ca
4178梵語 udaka。又作鬱持迦、憂陀伽。意為水。〔北本涅槃經卷十三、慧琳音義卷二十六、玄應音義卷二〕
; (烏娜迦) ... Phạm: Udaka. Cũng gọi Uất trì ca, Ưu đà già. Hán dịch: Thủy. Nghĩa là nước. [X. kinh Niết bàn Q.13 (bản Bắc); Tuệ lâm âm nghĩa Q.26; Huyền ứng âm nghĩa Q.2].
ô ngư
Đánh vào mộc ngư (con cá bằng cây) để thông báo giờ cơm trong tự viện—To sound the wooden fish to announce a meal time.
Ô nhiễm
污染; S: āśrava, āsrava; P: āsava;|Nguyên nghĩa là Lậu, nghĩa là rỉ chảy, tiết lậu ra ngoài, cũng có thể hiểu là Phiền não; có ba thứ ô nhiễm làm gốc của mọi khổ đau và nguyên nhân của Luân hồi: 1. Ô nhiễm qua dục Ái (欲漏; Dục lậu; s: kāmāśrava; p: kāmāsava); 2. Ô nhiễm qua sự tồn tại (有漏; Hữu lậu; s: bhavāśrava; p: bhavāsava); 3. Ô nhiễm của Vô minh (無明漏; Vô minh lậu; s: avidyāśrava; p: avijjāsava).|Giải thoát ba ô nhiễm này (漏盡; lậu tận) đồng nghĩa với việc đắc quả A-la-hán (s: arhat).|Quan điểm về ô nhiễm này là quan điểm cuối cùng trong mọi suy luận từ trước đến nay về nguyên nhân của sự dính mắc trong vòng sinh tử. Quan điểm này bao gồm ba dạng của Ái (s: tṛṣṇā; p: taṇhā) và vô minh, là nguồn gốc của Khổ như trong Mười hai nhân duyên chỉ rõ.
ô nhiễm
2472謂人受五欲六塵之影響,而使自性不得清淨。又污染亦含有煩惱之意。無量壽經卷下,以蓮花比喻清淨無污染。蓋蓮花出污泥而不染,故自古以來多以之比喻不為世俗環境所污染之人。此外,現今社會上亦廣泛使用「污染」一語,如「空氣污染」、「水污染」、「環境污染」等,然此「污染」多指污穢不潔之意。
; Xem Lậu.
; Klesa (S). Impurity, passion, depravity. Also phiền não, bất tịnh.
; To pollute—To taint.
; (污染) ... Chỉ cho phiền não nhơ nhớp. Theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ thì hoa sen được dùng để ví dụ sự thanh tịnh không ô nhiễm. Vì hoa sen mọc trong bùn nhơ mà không nhuốm mùi bùn, cho nên từ xưa nó được dùng để ví dụ cho người không bị hoàn cảnh xã hội làm ô nhiễm. Ngoài ra, hiện nay từ ô nhiễm được sử dụng khá phổ biến, như không khí ô nhiễm, nước ô nhiễm, môi trường ô nhiễm... nhưng từ ô nhiễm trong kinh điển Phật phần nhiều chỉ cho sự nhớp nhúa, bẩn thỉu...
ô nhiễm môi trường
Environmental pollution.
ô nhục
Disgraceful—Dishonoured—Shameful.
ô phi thố tẩu
4178禪林用語。以飛烏與走兔比喻日月;乃指日月之運行。從容錄第八十三則(大四八‧二八○下):「成平也,天蓋地擎(把定乾坤);運轉也,烏飛兔走(斡旋造化)。」
; (烏飛兔走) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Quạ bay thỏ chạy, chỉ cho sự vận hành của mặt trời và mặt trăng. Tắc 83 trong Thung dung lục (Đại 48, 280 hạ) nói: Khi yên bình thì trời che đất chở(nắm vững trời đất); khi vận chuyển thì quạ bay thỏ chạy(xoay chuyển tạo hóa).
ô phàm già
Uvanga (S)1 trong 6 thể loại kinh điển của Kỳ Na giáo.
ô quy hướng hoả
4182禪林用語。烏龜屬水中動物,本性懼炙熱,故若爬行向火,應屬無心之舉;禪林中遂以之比喻禪者不存思量念計之無心舉動,或任運自在之動作,而非凡夫情識之所取者。從容錄第三則(大四八‧二二九上):「劫前未兆之機,烏龜向火;教外別傳一句,碓嘴生花。」
; (烏龜向火) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ô qui là con rùa màu đen, loại động vật ở dưới nước, tính vốn sợ lửa, bởi vậy, nếu nó bò vào lửa thì đó là việc vô tâm. Thiền tông đem việc này ví dụ cho cử chỉ hoặc động tác vô tâm vô niệm của Thiền giả mà tình thức của phàm phu không thể hiểu được. Tắc 3 Thung dung lục (Đại 48, 229 thượng) nói: Lúc trước kiếp, máy chưa khởi động, rùa đen bò vào lửa, một câu truyền riêng ngoài giáo, miệng cối sinh hoa.
ô quy thượng thụ
4182禪林用語。烏龜本住於水中,無有上樹之可能,故禪林每以此語喻指超越分別作用之境地,或指禪者自在無礙之機用。〔建中靖國續燈錄卷七香山蘊良章〕
; (烏龜上樹) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Rùa đen lên cây. Rùa đen vốn ở dưới nước, không có khả năng lên cây, cho nên Thiền tông thường dùng từ ngữ này để chỉ cho cảnh giới siêu việt các tác dụng phân biệt, hoặc chỉ cho cơ dụng vô ngại tự tại của Thiền sư. [X. chương Hương sơn Uẩn lương trong Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục Q.7].
ô quy tử
4182禪林用語。本指置於須彌壇(法座)下之烏龜雕刻,後轉指法席下愚昧無知之參禪學人。從容錄第四十四則(大四八‧二五五中):「陽云:『須彌座下烏龜子,莫待重教點額痕。』」
; (烏龜子) ... Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn chỉ cho con rùa đen chạm trổ bằng gỗ hoặc đá được đặt ở dưới đàn Tu di(tòa pháp), sau chuyển dụng để chỉ cho người tham thiền ngu muội trong pháp hội. Tắc 44, Thung dung lục (Đại 48, 255 trung) nói: Ô qui tử dưới tòa Tu di, đừng đợi dạy thêm chấm sẹo trên trán.
ô sa tư
4176梵名 Uṣas。又作烏舍斯。意譯為太白星。乃吠陀之女神所化。即印度婆羅門教、印度教之黎明女神名。係天父特尤斯之女、太陽神蘇利耶之母或妻子。以光為衣,乘光耀燦爛之車,每晨於東方出現,象徵驅逐惡魔與黑暗,喚醒一切生物。部分讚歌中稱此神縮短人之生命,反映出厭世思想之萌芽。〔玄應音義卷二十二〕
; Xem Ô sá.
; Usas (skt). 1) Bình Minh The dawn. 2) Sao Thái bạch: The Venus (planet).
; (烏沙斯) ... Phạm:Uwas. Cũng gọi Ô xá tư. Hán dịch: Thái bạch tinh(sao Thái bạch). Tên vị thần nữ Rạng đông trong Bà la môn giáo và Ấn độ giáo, là con gái của trời Đặc vưu tư, là mẹ hoặc vợ của thần Thái dương Tô lợi da. Vị thần này dùng ánh sáng làm áo và đi xe cũng bằng ánh sáng rực rỡ, mỗi buổi sáng hiện ra ở phương đông, tượng trưng việc xua đuổi ác ma và bóng tối, đánh thức hết thảy sinh vật. Phần Tán ca trong Phệ đà gọi vị thần này là thần rút ngắn mệnh sống của loài người, phản ánh mầm mống tư tưởng chán đời. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.22].
ô sá
Usas (S)Thái Bạch tinh, Ô Sa TưNữ thần buổi sáng cũng là vị nữ thần đẹp nhất.
ô sá lạp
4175梵名 Utkara,巴利名 Ukkala, Ukkalāta。又作鬱迦羅。據律藏大品所載,此即提謂(巴 Tapussa)、婆梨迦(巴 Bhalliya)二位商人經商之地,彼二人嘗於商旅歸途中,在佛陀伽耶(梵 Buddhagayā)之地,布施石蜜,供養釋尊,為釋尊最早之在家弟子。烏卡拉,依推定可能即指今奧立沙(Orissa)地方。
ô sát quốc
4182(Usa)位於新疆葱嶺東方之古國名。玄奘三藏由印度東歸時,曾經由此地。據大唐西域記卷十二所載,此國出葱嶺之險,周圍千餘里,國之大都城周十餘里,南臨徙多河(梵 Śīta),土地肥沃,盛產白黑青等寶玉。民性剛烈,容貌醜弊,然亦崇信佛法。伽藍十餘所,僧徒數千,習小乘說一切有部。大城之西二百餘里,大山之嶺有一窣堵婆。今新疆烏什之地,與玄奘所稱之烏鎩有異。關於烏鎩之名有數說,或謂 Osh, Och, ūsch,或謂 Ocha 等名。根據英國學者耶魯(H. Yule)之說,該國乃位於今陽基希斯利(Yangi-hissar)之南, 而其都城則位於濟菲耳革姆巴(Chihil Gumbá。〔大慈恩寺三藏法師傳卷五、解說西域記、S. Beal: Buddhist Records of The Western World, vol. Ⅱ〕
; (烏鎩國) Nước Usa, 1 nước xưa ở mạn đông dãy Thông lãnh thuộc tỉnh Tân cương của Trung quốc. Khi từ Ấn độ trở về Trung quốc, ngài Huyền trang từng đi qua nước này.Cứ theo Đạiđường tây vực kí quyển 12, nước này chu vi hơn nghìn dặm, đô thành chu vi hơn 10 dặm, phía nam nhìn về sôngZìta, đất đai màu mỡ, sản xuất nhiều thứ ngọc báu trắng, đen, xanh... Người dân xứ này tính tình cứng rắn, dung mạo xấu xí, nhưng cũng sùng tín Phật pháp. Cả nước có hơn 10 ngôi già lam với vài nghìn chư tăng, học tập Thuyết nhất thiết hữu bộ của Tiểu thừa. Cách đô thành về phía tây hơn 200 dặm có 1 tòa tháp trên ngọn Đại sơn. Về tên gọi Ô sát có nhiều thuyết: Có thuyết cho là Osh,Och,Ùsch, cũng có thuyết cho làOcha... Theo thuyết của ông H.Yule, học giả người Anh, thì nước này nằm về phía nam Yangi-hissar ngày nay, còn đô thành nước này thì ở Chihil Gumbá. [X. Đại từ ân Tam tạng pháp sư truyện Q.5; Giải thuyết tây vực kí; Buddhist Records of The Western World, vol. II, by S.Beal].
ô sô quân trà
Xem Uế tích kim cang.
ô sô sa ma
Ucchusma (S). Name of a vidyàràja. Also Bất tịnh khiết vương, Uế tích vương.
ô sô sáp ma
Xem Uế tích Minh vương.
ô sô sát ma minh vương
Xem Uế tích kim cương Bồ tát.
ô sô sắt ma
Ucchusma (skt)—Ô Khu Sa Ma—Ô Khu Sắt Ma—Ô Sô Sa Ma—Ô Sô Sáp Ma—Ô Tố Sa Ma—Tên của Minh Vương Hỏa Đầu Bất Tịnh Khiết (Uế Tích Hỏa Đắc). Người có khả năng chuyển từ bất tịnh sang thanh tịnh vì thế người ta hay tế vị Minh Vương nầy trong nhà xí (Kinh Lăng Nghiêm: “Ô Sô sắt Ma đến trước Đức Như Lai chắp tay dâng lễ đặt dưới đôi chân Đức Phật, rồi bạch với Phật rằng 'Tôi thường nhớ tới kiếp xa xưa, thuở trước tính hay tham muốn, có vị Phật ra đời tên là Không Vương Như Lai giảng thuyết cho nhiều kẻ dâm nhân biến lòng dâm tụ thành khối lửa lớn, dạy tôi quán khắp các khí nóng lạnh của trăm thứ xương cốt, khiến thần quang ngưng tụ, biến lòng dâm thành lửa trí tuệ. Từ đó chư Phật đều cho triệu tới, gọi là Hỏa Đầu, vì tôi có hỏa quang tam muội lực. Khi thành vị A La hán, tôi phát nguyện rằng khi chư Phật thành đạo tôi sẽ là lực sĩ, đích thân hàng phục ma quân)—One of the Ming-Wang he presides over the cesspool and is described both as “unclean” and as “fire-head” he is credited with purifying the unclean.
ô sắt
Usnisa (skt)—See Ô Sắc Nhị Sa.
ô sắt nhị sa
Usnisa (skt)—Ôn Sắt Ni Sa—Uất Sắt Ni Sa—Uất Ni Sa—Ổ Sắt Nhị Sa. 1) Phật đỉnh nhục kế hay bướu thịt nổi trên đầu Đức Phật: A turban, diadem, distinguishing mark interpreted as the fleshly tuft or crown of the Buddha's head. 2) Trên đỉnh đầu Đức Phật nhô lên thành hình búi tóc, một trong 32 hảo tướng của Đức Phật: A turban or coif, one of the thirty-two laksanani of a Buddha.
ô sắt nị sa tối thắng tôn
4179為密教中,一切如來烏瑟膩沙最勝總持法門之本尊。烏瑟膩沙,佛頂之意。人若供養此尊及誦其陀羅尼,可長壽安樂,得無量力。一切如來烏瑟膩沙最勝總持經一卷(法天譯)詳說此種功德。又據該經載,此尊身有千光,坐蓮花月輪上;面如滿月,三面三目八臂,右面呈善相,金色;左面忿怒相,利牙,青蓮花色;正面圓滿,白色。右第一手當心,執羯磨杵;第二手執蓮花,花上有無量壽佛;第三手執劍,第四手結施願印。左第一手作金剛拳,執索,拇指豎起;第二手執弓;第三手結無畏印;第四手執寶瓶。頂戴寶塔,頸上有「唵」字,心上有「阿」字,額上有「吽」字,臍上有「怚恽」字,足上有「訖哩」字。
; (烏瑟膩沙最勝尊) Bản tôn của pháp môn Nhất thiết Như lai Ô sắt nị sa tối thắng tổng trì trong Mật giáo. Ô sắt nị sa có nghĩa là Phật đính(đỉnh đầu của đức Phật). Nếu ai cúng dường và trì tụng Đà la ni của vị tôn này sẽ được sống lâu, an vui và sức mạnh vô lượng. Cứ theo kinh Nhất thiết Như lai ô sắt nị sa tối thắng tổng trì (1 quyển, do ngài Pháp thiên dịch) thì thân của vị tôn này tỏa ra nghìn tia sáng, ngồi trên hoa sen trong nguyệt luân, mặt như trăng rằm, có 3 mặt, 3 mắt, 8 tay; mặt bên phải màu vàng, hiện vẻ hiền lành; mặt bên trái màu xanh, nhe răng nanh nhọn hoắt, vẻ dữ tợn; mặt chính giữa màu trắng, tròn đầy. Bên phải, tay thứ 1 cầm chày yết ma để ngay chỗ trái tim; tay thứ 2 cầm hoa sen, trên hoa có Phật Vô lượng thọ; tay thứ 3 cầm kiếm; tay thứ 4 bắt ấn Thí nguyện. Bên trái, tay thứ 1 kết ấn Kim cương quyền, ngón tay cái dựng thẳng; tay thứ 2 cầm cung; tay thứ 3 bắt ấn Vô úy và tay thứ 4 cầm bình báu. Đầu đội tháp báu, trên cổ có chữ Án, chỗ trái tim có chữ A, trên trán có chữ Hồng, trên rốn có chữ Đát lãm và trên chân có chữ Ngật lí.
ô thi quốc
(烏尸國) Ô thích thi, Phạm: Uraza. Cũng gọi Ô thích xoa quốc. Tên 1 nước xưa ở miền Bắc Ấn độ, nằm về phía tây nước Ca thấp di la, tức là vùng Hazara hiện nay. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 3, nước này núi non trùng điệp, ruộng đồng ít ỏi, khí hậu ôn hòa, thích hợp cho việc trồng lúa, nhưng hoa quả thì rất ít. Nước này không có vua mà lệ thuộc nước Ca thấp di la. Thô tục không có lễ nghĩa, tính người cương ngạnh, phần nhiều dối trá, không tin Phật pháp. Ở phía tây nam đô thành nước này có ngôi tháp cao hơn 200 thước(Tàu), bên cạnh tháp có ngôi chùa, chư tăng rất ít, nhưng đều học Đại thừa. Đô thành nước này chính là Haripur hiện nay. [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.2].
ô thử tăng
4179諷刺末法時代之墮落僧侶。又作鳥鼠僧。烏鼠,即蝙蝠。蝙蝠雖能飛行,然棲於洞穴而非棲於樹上,故異於鳥類;其外形雖酷似鼠類,然又非屬鼠類;故以之比喻末法時代之僧侶,謂彼等僧行墮落,非僧非俗,猶如蝙蝠之似鳥非鳥,似鼠非鼠。禪家龜鑑(卍續一一二‧四六○下):「末法比丘有多般名字,或烏鼠僧,或啞羊僧,或禿居士,或地獄滓,或被袈裟賊。」
; (烏鼠僧) ... Cũng gọi Điểu thử tăng. Từ ngữ châm biếm hạng tăng lữ đọa lạc ở thời mạt pháp. Ô thử hay điểu thử (nửa chim nửa chuột)tức là con dơi. Con dơi tuy bay đi được, nhưng lại ở trong hang lỗ, chứ không đậu trên cây, cho nên khác với loài chim; hình dạng của dơi tuy rất giống chuột, nhưng lại không thuộc loài chuột. Bởi vậy, dơi được dùng để ví dụ hạng tăng lữ thời mạt pháp, thường làm những việc đọa lạc, chẳng phải tăng chẳng phải tục, cũng như dơi tuy giống chim mà chẳng phải chim, giống chuột nhưng không phải chuột. Thiền gia qui giám (Vạn tục 112, 460 hạ) nói: Tỉ khưu thời mạt pháp có nhiều tên gọi, hoặc gọi Ô thử tăng, hoặc Á dương tăng(tăng dê câm),hoặc Thốc cư sĩ(cư sĩ trọc đầu) hoặc địa ngục trỉ(cặn bã địa ngục), hoặc bị ca sa tặc(giặc mặc cà sa)....
ô trương tam hắc lí tứ
4178禪林用語。以「張三與李四一般黑」之意,轉為貶人之泛稱。
; (烏張三黑李四) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trương 3 và lí 4 đều đen. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để chê bai người.
ô trược
Defilement—Greed, ill-will, and ignorance cause defilement—Impure—Corrupt—Filthy (a)
ô trượng na
Udyana (skt)—Ô Trưởng—Ô Đồ—Ô Tôn—Ô Nhĩ Dã Nang. 1) Công Viên: A park or a garden. 2) Công viên của vua A Dục: The park of Asoka. 3) Một vương quốc cổ nằm về phía tây bắc Ấn Độ (nơi dân chúng rất mộ Phật pháp)—An ancient kingdom in the north-west of India, the country along the Subhavastu.
ô trượng na quốc
4175鳥仗那,梵名 Udyāna。又作烏孫國、烏長國、烏場國、烏纏國、烏萇國。位於北印度健馱羅國北方之古國名,相當於今興都庫什山脈(Hindu kush)以南之丘陵地帶。東隔信度河(印度河)與烏剌尸國及迦濕彌羅國相對。據大唐西域記卷三所載,其地周圍五千餘里,山谷相屬,人民崇信大乘佛法,有伽藍一千四百餘所,僧徒萬餘人。此國為釋迦佛教化之地,故有關之本生遺蹟頗多;如阿波邏龍泉(梵 Apalāla),為佛陀降化惡龍處;醯羅山(梵 Hila),乃佛陀過去世修菩薩行時,為聞半偈而捨身處。其他如佛陀為聞正法,以骨為筆,以皮為紙,書寫經典處;為尸毘迦王時,割肉餵鷹處;為孔雀王時,為解臣屬之渴,以口啄汉,以求泉水處;為慈力王時,刺身血以飼五夜叉處等。此外,首府瞢揭釐城(梵 Muṅgali)之西北千餘里,即達麗羅川(Darel)附近,阿育王之布教使末田地迦羅漢,曾刻彌勒菩薩像安置在此。〔高僧法顯傳、開元釋教錄卷六〕(參閱「鬱地延那」6980)
; (烏仗那國) Ô trượng na, Phạm: Udyàna. Cũng gọi Ô tôn quốc, Ô trường quốc, Ô triền quốc, Ô trành quốc. Tên 1 nước xưa ở phía bắc nước Kiện đà la thuộc miền Bắc Ấn độ, tương đương với giải đất đồi cao ở mạn nam dãy núi Hindu kush hiện nay, phía đông cách sông Ấn độ (Indus) và nước Ô thích thi, đối diện với nước Ca thấp di la. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 3, nước này chu vi hơn 5.000 dặm, các thung lũng liên tiếp, dân chúng sùng tín Phật pháp Đại thừa, có hơn 1.400 ngôi chùa và hơn 10.000 vị tăng. Xứ này là nơi đức Phật Thích ca giáo hóa, cho nên có rất nhiều di tích liên quan đến sự tích tiền thân của đức Phật, như: Suối A ba la long (Phạm: Apalàla) là nơi Phật hàng phục rồng dữ, núi Hê la (Phạm: Hila) là nơi đức Phật bỏ mình để được nghe nửa bài kệ khi tu hạnh Bồ tát ở quá khứ... Tại đây còn có các di tích khác như: Chỗ đức Phật chẻ xương làm bút, lột da làm giấy để viết chép kinh điển hầu được nghe chính pháp; nơi cắt thịt mình để cho chim ưng ăn khi là vua Thi tì ca; nơi dùng mỏ mổ vào vách núi tìm nước suối để cho bầy chim công giải khát khi là chim công chúa; nơi chích máu thân mình để bố thí cho 5 quỉ Dạ xoa, khi là vua Từ lực... Ngoài ra, cách thủ phủ thành Muígali hơn 1.000 dặm về phía tây bắc, tức vùng phụ cận sông Darel có tôn trí pho tượng bồ tát Di lặc do ngài Mạt điền địa khắc tạo. Ngài Mạt điền địa là vị A la hán được vua A dục phái đến nước này để truyền bá Phật pháp. [X. Cao tăng Pháp hiển truyện; Khai nguyên thích giáo lục Q.6]. (xt. Uất Địa Diên Na).
ô tâm
4174為大日經所說六十種妄心之一,即常存猜疑懼怖之心相。蓋以烏鳥疑念深重,驚怖心強,故喻之。其對治之法,須修安定無畏之心。大日經卷一住心品(大一八‧三上):「云何烏心?謂一切處驚怖思念。」〔大日經疏卷二〕
; (烏心) Tâm con quạ. Tức là tâm luôn ngờ vực sợ hãi, 1 trong 60 thứ vọng tâm nói trong kinh Đại nhật. Loài quạ rất hay nghi ngờ và sợ hãi, cho nên ví dụ tâm lo sợ, ngờ vực là Ô tâm. Phương pháp đối trị Ô tâm là phải tu tập cho tâm an định, không còn lo sợ. Phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 3 thượng) nói: Ô tâm là gì? Nghĩa là tất cả ý niệm sợ sệt nghi kị. [X. Đại nhật kinh sớ Q.2].
ô tích
Cây thiếc trượng khi lắc dùng để cảnh báo những hương linh—A rattling staff shaken to warn the spirits.
ô tô ba trí lâu
4182為大勢至菩薩所說陀羅尼之名。意譯作救諸病苦。此咒可拯濟群生出於三界,令諸行人得從萬行。〔七佛八菩薩所說大陀羅尼神咒經卷一〕
; (烏蘇波置樓) Tên 1 thần chú do bồ tát Đại thế chí tuyên thuyết, có nghĩa là cứu các bệnh khổ. Thần chú này có năng lực cứu giúp quần sinh ra khỏi 3 cõi. Người thụ trì thần chú này sẽ đạt được muôn hạnh. [X. kinh Thất Phật bát bồ tát sở thuyết đại đà la ni thần chú].
ô tô kì trú nị đa
4183為七佛八菩薩大陀羅尼神咒經卷一所載之陀羅尼名。意譯為金光照耀。乃過去七佛之第七釋迦牟尼佛所說者。此陀羅尼能消除三界眾生之幽冥隱滯,拔其危難。〔陀羅尼雜集卷一〕
; (烏蘇耆晝膩多) Tên 1 thần chú chép trong kinh Thất Phật bát bồ tát sở thuyết đại đà la ni thần chú quyển 1, có nghĩa là ánh sáng chói lọi. Thần chú này do đức Phật Thích ca trong 7 đức Phật quá khứ nói ra, có năng lực tiêu trừ mọi ách nạn và cứu chúng sinh thoát khỏi 3 cõi khổ đau tăm tối. [X. Đà la ni tạp tập Q.1].
ô tố đồ thiệu
4178位於綏遠歸綏市西北十公里之大青山南麓。由五座廟宇組成,其中慶緣寺創建於明萬曆十一年(1583),廣壽寺建於清康熙二十九年(1690),長壽寺建於康熙三十六年,法禧寺及眾漢寺同建於雍正三年(1725)。五座廟宇相鄰,各有紅牆環繞。其中以法禧寺保存較完整,結構玲瓏,工藝精巧而別具一格。寺後為東西橫亙之趙長城遺蹟。登臨長城遠眺,視野廣闊無際。「烏素圖」為蒙古語「多水」之意。廟宇附近林木繁茂,春夏時節風景優美。
ô vưu tự
4174位於四川樂山縣凌雲山南方之烏尤山上。烏尤山突出江濱,形如犀牛,故又稱烏牛山。山上古木森森,翠竹幽篁,飛巒疊翠,風景絕佳。烏尤寺原名正覺寺,創建於唐代,北宋改今名。今寺內天王殿、彌勒殿、如來殿、大雄殿等,係明、清之建築。鳥尤之別名「離壘」,寺之山門上題有「壘抵」二字。寺中大殿供有千手觀音像,雕刻精緻,名聞遐邇。此外,另有許多著名塑像,五百羅漢之外,以風波禪師與濟公禪師像最著名。兩座塑像與真人大小相近,姿態生動,口角眉目之間尤其傳神。寺中有爾雅臺,相傳係漢犍為郡郭舍人注釋「爾雅」之處。
ô xu sa ma biến thành nam tử pháp
4180以烏樞沙摩明王為本尊,而祈求生出男子之法。烏樞沙摩明王係密教之忿怒尊,以除病、智慧、調伏為其本誓。此一修法,日本之台密多用於婦女臨盆待產之時。
; (烏樞沙摩變成男子法) Pháp thờ Minh vương Ô xu sa ma làm bản tôn để cầu sinh con trai. Trong Mật giáo, Minh vương Ô xu sa ma là vị tôn hiện tướng dữ tợn, lấy trí tuệ, điều phục và tiêu trừ các chứng bệnh làm bản thệ. Tông Thai mật Nhật bản thường dùng pháp tu này để cầu nguyện cho người sản phụ lúc sắp sinh con.
ô xu sa ma minh vương
4180烏樞沙摩,梵名 Ucchuṣma。又作烏芻沙摩明王、烏芻瑟摩明王。意譯為不潔淨、除穢焚燒、穢惡。為密教與禪宗寺院中所安置的忿怒尊之一。又稱穢跡金剛、受觸金剛、火頭金剛、不淨金剛、廁神。即北方羯磨部之教令輪身。與金剛夜叉(亦為不空成就如來之教令輪身)有同體異體之論,同體之說,則以烏樞沙摩明王為五大明王之一。其本地另有釋迦、普賢、不動、金剛手等異說。此尊具有轉不淨為清淨之德,故佛教界置於廁中祭祀。此尊以深淨大悲,不避穢觸,以大威光,猶如猛火,燒除眾生煩惱妄見分別垢淨生滅之心,故亦稱除穢金剛。其形呈忿怒相,由諸毛孔流出火焰,四臂具足,右手執劍,下手持羂索,左手持棒,下手持三股叉,一一器杖皆起火焰;若據陀羅尼集經卷九所載,則非忿怒之形,四臂之器杖亦有別。此外,餘經所載,更有異形。〔烏樞瑟摩明王經卷上、蘇悉地羯羅經卷中、楞嚴經卷五〕
; (烏樞沙摩明王) Ô xu sa ma, Phạm: Ucchuwma. Cũng gọi Ô sô sa ma minh vương, Ô sô sắt ma minh vương, Uế tích kim cương, Thụ xúc kim cương, Hỏa đầu kim cương, Bất tịnh kim cương, Xí thần. Hán dịch: Bất khiết tịnh, Trừ uế phần thiêu, Uế ác. Vị Minh vương hiện tướng phẫn nộ, dữ tợn được thờ phụng trong các chùa thuộc Mật giáo và Thiền tông, là Giáo lệnh luân thân của Yết ma bộ phương bắc. Giữa vị tôn này và Kim cương Dạ xoa (cũng là Giáo lệnh luân thân của đức Như lai Bất không thành tựu)có các thuyết về cùng thể và khác thể. Thuyết cùng thể thì cho rằng Minh vương Ô xu sa ma là 1 trong 5 vị Đại minh vương. Bản địa của vị tôn này có nhiều thuyết khác nhau: Hoặc cho là đức Thích ca, hoặc bồ tát Phổ hiền, hoặc bồ tát Kim cương thủ, hoặc Minh vương Bất động v.v... Vì có năng lục chuyển sự dơ bẩn thành trong sạch nên vị tôn này được đặt ở nhà xí. Do đức đại bi thanh tịnh sâu xa, nên vị tôn này không tránh nơi nhớp nhúa, dơ dáy, dùng đại uy quang giống như lửa mạnh đốt tiêu hết tâm phiền não vọng kiến, phân biệt sinh diệt, dơ sạch của chúng sinh, bởi vậy còn được gọi là Trừ uế kim cương. Vị tôn này hiện tướng dữ tợn, từ các lỗ chân lông phóng ra lửa mạnh, có 4 tay: 2 tay bên phải, tay trên cầm gậy, tay dưới cầm vòng dây lụa; 2 tay bên trái, tay trên cầm gậy, tay dưới cầm xoa 3 chĩa, các khí cụ này đều bốc lửa. Cứ theo kinh Đà la ni tập quyển 9 thì vị tôn này không hiện tướng dữ tợn và các khí cụ cầm trong 4 tay cũng có khác. Ngoài ra, theo các kinh thì cũng có nhiều hình tướng khác nhau. [X. kinh Ô xu sắt ma minh vương Q.thượng; kinh Tô tất địa yết la Q.trung; kinh Lăng nghiêm Q.5].
ô xà diễn na
1) Ujjayini, Ujjain, or Oujein (skt)—Một trong bảy thành phố thiêng liêng của vùng Ấn Hà. Thành phố mới Ujjain bây giờ cách thành phố cổ khoảng một dậm về hướng nam—Name of one of the seven sacred cities of the Hindus. The modern Ujjain is about a mile south of the ancient city. 2) Udayana (skt)—Tên của một vị vua xứ Kausambi—Name of a king of Kausambi.
ô y tự
4176位於金陵(江蘇江寧)之佛寺。鳩摩羅什之門人慧叡(355~439)嘗入廬山隨侍慧遠,後至京師,留止於本寺,講說眾經,大揚宗風,後於劉宋元嘉十六年(439)示寂。又與慧叡同時之慧義(372~444)亦住本寺弘法,並於元嘉二十一年示寂於此,另有南齊曇遷(384~482)亦嘗住本寺。〔梁高僧傳卷七慧叡傳、慧義傳、卷十三曇遷傳〕
ô yên thành mã
4179禪林用語。謂烏、焉等字,於傳寫之間而訛成「馬」字;引申一事物於眾人之間,輾轉相傳,終失本義。我國古諺亦有「書經三寫,烏焉成馬」之語。禪林中亦每用此語諷刺語言文字於次第相傳間之訛誤性。
; (烏焉成馬) ... Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là chữ Ô (..) và chữ Yên (..) viết lầm thành chữ Mã (..); chỉ cho 1 câu chuyện được truyền từ người này sang người khác, hoặc từ chỗ nọ đến chỗ kia, rốt cuộc mất đi cái nghĩa lúc ban đầu. Ngạn ngữ xưa của Trung quốc có câu Thư kinh tam tả, ô yên thành mã, nghĩa là 1 chữ mà viết đi viết lại đến 3 lần thì thế nào cũng sai. Chẳng hạn như chữ Ô, lần thứ 1 viết đúng là Ô, nhưng lần thứ 2 đã biến thành chữ Yên và cuối cùng thì thành chữ Mã. Trong Thiền lâm, ngạn ngữ này cũng thường được dùng để châm biếm sự lầm lẫn về ngôn ngữ văn tự khi truyền dạy cho nhau.
ô đà di
4177梵名 Udāyin。又作優陀夷、鄔陀夷。<一>佛弟子之名。未出家前,受淨飯王之擢,為悉達太子之學友,奉侍太子,以辯才欲阻止太子捨家棄欲之念。於佛陀成道後,烏陀夷即出家為佛弟子,善於化導民眾。增一阿含經卷三(大二‧五五七上):「善能勸導福度人民,所謂優陀夷比丘是。」〔長阿含卷十二自歡喜經〕 <二>亦為佛弟子。本名烏陀夷,然因膚色極黑,遂有迦留陀夷(梵 Kālodāyin,意即黑烏陀夷)之綽號。據增一阿含經卷四十七、四分律卷十四等之記載,迦留陀夷行惡多端,曾於黑夜至一懷妊之婦女家中乞食,其時驀然閃電,婦人乍見電光中之烏陀夷,驚疑為黑鬼,駭怖墮胎。以此因緣,佛陀乃制定過午之後不准乞食之禁戒。〔四分律卷二、卷三、卷五、卷六、立世阿毘曇論卷一〕
; (烏陀夷) Phạm:Udàyin. Cũng gọi Ưu đà di, Ổ đà di. I. Ô Đà Di. Tên 1 vị đệ tử Phật. Trước khi xuất gia, Ô đà di được vua Tịnh phạn chọn làm bạn học và theo hầu Thái tử Tất đạt đa, từng dùng lời lẽ khéo léo khuyên Thái tử bỏ ý định xuất gia. Sau khi đức Phật thành đạo, Ô đà di liền xuất gia làm đệ tử Phật, rất có tài năng giáo hóa dân chúng. KinhTăng nhất a hàm quyển 3 (Đại 2, 557 thượng) nói: Người có tài năng khuyên bảo dắt dẫn dân chúng chính là tỉ khưu Ưu đà di. II. Ô Đà Di. Cũng là tên 1 vị đệ tử Phật. Vị này vốn tên là Ô đà di, nhưng vì nước da đen kịt nên có biệt hiệu là Ca lưu dà di (Phạm: Kalodàyin,nghĩa là Ô đà di đen). Ca lưu đà di thường làm nhiều điều ngang ngược. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm và luật Tứ phần quyển 14 chép, có lần vào lúc trời tối, Ô đà di đến nhà 1 người đàn bà đang mang thai để xin ăn, lúc đó bỗng có sấm chớp lóe lên, người đàn bà thấy Ô đà di trong ánh chớp, ngỡ là quỉ đen, sợ quá đến nỗi xảy thai. Vì nhân duyên này mà đức Phật chế giới cấm tỉ khưu khất thực sau giờ ngọ. [X. kinh Tự hoan hỉ trong Trường a hàm Q.12; luật Tứ phần Q.2, 3, 5, 6; luận Lập thế a tì đàm Q.1].
ô đà diển na
Udayana (skt)—Vua của xứ Kausambi, người đồng thời với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni—A king of Vatsa, or Kausambi, contemporary of sakyamuni, of whom he is said to have had the first statue made.
ô đàm bà la hoa
4181烏曇婆羅,梵語 udumbara,巴利語同。又作優曇跋羅花、鄔曇鉢羅花、鬱曇應花。意譯為瑞應花、靈瑞花。學名 Ficus glomerata。生於南方暖熱之地,為闊葉高三公尺餘之隱花植物。葉似梨,其果大者如小兒拳,小者如拇指,生熟食皆無美味,其果十數顆相聚,生於樹幹。此樹為過去七佛之第五拘那含牟尼佛之道樹。因其為隱花植物,人眼難見其花,故生種種臆說,牽強附會,以為此樹開花則有特別之瑞應,故有「瑞應華」之稱。又諸經論中,每以烏曇婆羅華比喻值佛出世之難得。〔長阿含經卷一、三卷本大般涅槃經卷中、玄應音義卷二十一〕
; (烏曇婆羅華) Ô đàm bà la, Phạm, Pàli:Udumbara. Cũng gọi Ưu đàm bạt la hoa, Ổ đàm bát la hoa, Uất đàm bát hoa. Hán dịch: Thụy ứng hoa, Linh thụy hoa. Tên khoa học: Ficus glomerata. Tên một loại hoa, mọc ở những miền đất có khí hậu ấm áp tại phương nam, là loài thực vật ẩn hoa, lá rộng, thân cao hơn 3 mét. Lá giống như lá cây lê, quả to thì bằng nắm tay đứa trẻ, quả nhỏ thì cở ngón tay cái, ăn sống hay chín đều không có vị ngon; quả kết thành chùm mười mấy trái, mọc ở thân cây. Cây này là đạo thụ của đức Phật Câu na hàm mâu ni trong 7 đức Phật quá khứ. Vì nó là loại cây ẩn hoa mà mắt người khó thấy, nên cứ ức đoán là khi nó nở hoa thì có điềm lành đặc biệt, bởi vậy có tên là Thụy ứng hoa(hoa báo điềm lành). Trong các kinh luận, loại hoa này thường được dùng để ví dụ việc gặp được Phật ra đời là rất khó. [X. kinh Trường a hàm Q.1; kinh Đại bát niết bàn Q.trung (bản 3 quyển); Huyền ứng âm nghĩa Q.21].
ô đạc ca hán trà
Utabhanda or Udakhanda (skt)—Một thành phố cổ nằm trên bờ bắc sông Ấn Hà, được coi như là thành phố Ohind. Trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Eitel cho rằng đây là thành Attok—An ancient city of Gandhara, on the northern bank of the Indus, identified with Ohind. Eitel, in The Dictionary of Chinese-English Buddhist terms, gives it as the modern Attok.
ô đạc ca hán đồ thành
4183烏鐸迦漢荼,梵名 Uḍakhāṇḍa, Udaka-khāṇḍa, Utakhanda。為北印度古國健馱羅國之都城。位於信度河(印度河)北岸。玄奘自印度歸,渡信度河時,在此散失多數經典。其地位於今旁遮普(Panjab)之北、洛瓦平第(Rawalpindi)之西北,亦即信度河之河津要地。〔大唐西域記卷二犍馱羅國條、大慈恩寺三藏法師傳卷五、解說西域記〕
; (烏鐸迦漢荼城) Ô đạc ca hán đồ, Phạm: Uđakhàịđa, Udaka-khàịđa, Utakhanda. Đô thành của nước Kiện đà la thời xưa ở miền Bắc Ấn độ. Thành này nằm về bắc ngạn sông Indus(sông Ấn độ), hiện nay là vùng đất phía bắc tỉnh Punjab, phía tây bắc Rawalpindi, cũng tức là 1 bến cảng trọng yếu của sông Indus. Tương truyền, trên đường từ Ấn độ trở về Trung quốc, lúc vượt qua sông Indus, ngài Huyền trang đã đánh rơi mất 1 số kinh sách. [X. Đại đường tây vực kí Q.2; điều Kiện đà la quốc; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.5; Giải thuyết tây vực kí].
ô đạo sa môn
Vị Sa Môn không biết tàm quí làm ô nhiễm đạo—A shameless monk who defiles his religion.
ô đầu thang
4181以烏頭煮沸之湯。本草綱目卷十七:「十一月播種,春月生苗。其莖類野艾而澤,其葉類地麻而厚。其花紫,瓣黃蕤,長苞而圓。(中略)其初種之小者為烏頭,附烏頭而傍生者為附子。」於密教中,修蘘虞梨童女法時,於閼伽供養中所使用者。
; (烏頭湯) Nước sôi được nấu từ cây Ô đầu. Theo Bản thảo cương mục quyển 17, cây Ô đầu được gieo hạt vào tháng 11, đến tháng giêng thì nảy mầm. Cọng nó giống như ngải dại nhưng bóng láng; lá nó giống lá của cây gai đất, nhưng dày hơn. Hoa màu tía, cánh hoa màu vàng, bao hoa dài và tròn. Trong Mật giáo, khi tu pháp Nhương ngu lê đồng nữ thì Ô đầu thang được dùng làm nước át già(nước hoa thơm) để cúng dường.
ô đầu tử
4181<一>於禪林中,指機鋒銳利之禪者。 <二>無準師範禪師之自稱。無準參謁蒙庵,問答之間,大顯機境, 蒙庵遂以「烏頭子之稱評之,其時,無準尚未蒙剃,一頭烏髮,時人遂由上記因緣而稱以「烏頭子」,其後無準亦以之自稱。(參閱「經山佛鑑」4103)
; (烏頭子) ... I. Ô Đầu Tử. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Gã đầu đen. Từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho Thiền giả có cơ phong bén nhạy, lanh lợi trong Thiền lâm. II. Ô Đầu Tử. Gã đầu đen. Từ tự xưng của Thiền sư Vô chuẩn Sư phạm. Khi Thiền sư Vô chuẩn vẫn còn là cư sĩ, chưa cạo tóc, 1 hôm, đến tham yết ngài Mông am, trong lúc vấn đáp, Vô chuẩn hiển bày cơ phong rất sắc sảo, ngài Mông am bèn dùng Hoa Ưu Đàm Bà La từ Ô đầu tử để ngợi khen. Do nhân duyên ấy mà từ đó, trong Thiền lâm gọi ngài Vô chuẩn là Ô đầu tử. Về sau chính ngài cũng tự xưng như vậy. (xt. Kính Sơn Phật Giám).
ô địa đa
According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is the king of an unknown country in Northern India who patronized Hsuan-Tsang on his journey to the Western Lands—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Ô Địa Đa là tên của một vị vua của một nước không rõ tên, phía bắc của Ấn Độ, người đã tiếp đãi Huyền Trang trong chuyến Tây Du của ông.
ô đồ
Uda, Udradesa, Odra, or Odivisa (skt)—Theo Ngài Huyền Trang trong Tây Phương Du Ký, U Đồ là tên của một vương quốc cổ, nằm về phía đông Ấn Độ, có hải cảng bận rộn Triết Lợi Đát La, có lẽ bây giờ là tỉnh Orissa—According to Hsuan-Tsang in his Records of the Western Lands, Uda was an ancient country of eastern India with a busy port called Charitrapura, probably the province of Orissa.
ô đồ mạt la thụ
4179為形狀似梔子之樹木。密教中,修祈雨之法時,以此木為護摩木。〔大陀羅尼末法中一字心咒經〕
; (烏圖末羅樹) Tên 1 loại cây, hình dáng giống như cây Sơn chỉ(cây dành dành). Trong Mật giáo, khi tu pháp cầu mưa thì dùng gỗ cây Ô đồ mạt la đốt để cúng tế lửa. [X. kinh Đại đà la ni mạt pháp trung nhất tự tâm chú].
ô đồ quốc
4179烏荼,梵名 Oḍra。東印度之古國名,其地相當於今之奧立沙(Orīssa),每被誤為烏萇國。據大唐西域記卷十所載,其地氣候溫暑,風俗獷烈,人貌魁梧,頗為好學,篤信佛法,有伽藍百餘所,僧徒萬餘人,皆習大乘教法。其國東南境臨海濱,有折利呾羅城,周二十餘里,為入海商人、遠方旅客往來之要道。其城堅峻,多諸奇寶。國之西南境有康度山(梵 Khandagiri),與北方之優陀耶山(梵 Udayagiri)夾國道而相對。山中多石窟,同屬耆那教遺蹟,開鑿年代為西元前二世紀頃。玄奘西遊時,其國佛教盛行,唐德宗貞元十一年(795),烏荼國王親筆書寫梵本四十華嚴經上貢唐室。〔大慈恩寺三藏法師傳卷四、解說西域記、東南印度諸國の研究〕
; (烏荼國) Ô đồ, Phạm:Ođra. Tên 1 nước xưa ở Đông Ấn độ, vùng đất tương đương với Orìssahiện nay, thường bị lầm là nước Ô trành (Phạm:Udyàna). Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10, khí hậu xứ này nắng ấm, phong tục mạnh dạn, dáng người cao lớn xinh đẹp, rất ham học và kính tin Phật pháp; có hơn trăm ngôi chùa và hơn vạn vị tăng, tu học cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa. Vùng đông nam nước này gần bờ biển, có thành Chiết lợi đát la, là con đường quan trọng của các nhà buôn và lữ khách từ phưong xa qua lại bằng đường biển. Thành này chu vi hơn 20 dặm, chắc chắn, cao to, có nhiều vật quí hiếm. Vùng biên giới Tây nam có núi Khang đạc (Phạm: Khandagiri), đối diện với núi Ưu đà da (Phạm:Udayagiri) ở phía bắc. Trong núi có nhiều hang động, đều là di tích của Kì na giáo, được tạo lập vào khoảng thế kỉ II trước Tây lịch. Lúc ngài Huyền trang đến Ấn độ (đầu thế kỉ VII), Phật giáo nước này đang thịnh. Năm Trinh nguyên 11 (795) đời vua Đức tông nhà Đường, vua nước Ô đồ tự tay chép kinh Hoa nghiêm bản tiếng Phạm (40 quyển) để dâng cho vua Đường. [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.4; Giải thuyết tây vực kí; Đông nam Ấn độ chư quốc đích nghiên cứu].
Ô 汚
[ja] オ o ||| (1) To stain, to dirty, to defile, pollute. (2) Be stained, defiled, polluted. (3) Dirt, filth, pollution. (4) Disgrace, shame, dishonor. (5) Mean, base, lowly. => 1. Nhuốm bẩn, làm dơ, làm ô uế, làm hư hỏng. 2. Bị nhuốm bẩn, bị dơ, bị hư hỏng. 3. Sự dơ bẩn, điều ô trọc, sự ô nhiễm. 4. Sự nhục nhã, sự hổ thẹn, ô danh. 5. Kém cỏi, hạ tiện, tầm thường.
ô-bát-la
xem ưu-bát-la.
Ô-trượng-na
烏仗那; T: orgyen; S: oḍḍiyana, uḍḍiyana; dịch theo âm Hán Việt;|Một vùng đất huyền thoại được Phật giáo Tây Tạng cho là nơi sinh của Liên Hoa Sinh (padmasambhava) và quê hương của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī). Vùng đó ngày nay thuộc về Pakistan. Các trường phái Phật giáo cổ thì cho rằng Ô-trượng-na nằm phía bắc Ấn Ðộ. Cả hai truyền thuyết đều nhất rằng Ô-trượng-na là nơi sản sinh ra một số giáo pháp Tan-tra (Mật tông Ấn Ðộ). Một trong 84 vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) là In-đra-bu-ti (s: indrabhūti) được xem là vua xứ Ô-trượng-na.
Ô-trượng-na quốc 烏仗那國
[ja] オジョウナコク Ujōna koku ||| Udyāna; an ancient state in North India, from whence came such Buddhist transmitters as Fotucheng 佛圖澄. The capital was the present day Mangir. => (s: Udyāna); một quốc gia nằm ở phía Bắc Ấn Độ thời cổ đại, nơi xuất thân của những nhà dịch kinh như Phật Đồ Trừng (c: Fotucheng 佛圖澄).Thủ đô là Mangir ngày nay,
Ô-đà-di 烏陀夷
[ja] オダイ Udai ||| Udāyin. A disciple of Śākyamuni, who was originally one of his schoolmates when he was a boy. He was the son of a teacher of Kapilavastu, and was known for his eloquence. Also written 優陀夷. => (s: Udāyin). Đệ tử của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni , vốn là một trong các bạn học của Đức Phật thời thơ ấu. Là con của một thầy giáo ở Ca-tì-la-vệ (s: Kapilavastu), nổi tiếng có tài luận biện. Còn gọi là Ưu-đà-di優陀夷.
ô-đàm-bạt-la
xem ưu-đàm.
ôm
Om (S), Aum, Um án.
ôm đồm
To grasp at too much.
ôn
1) Ấm áp—Warm—Mild—Gentle—To warm. 2) Tằng hắng: To clear the throat.
ôn bát la
Utpala (skt). 1) Bông sen xanh: The blue lotus. 2) Tên của địa ngục thứ sáu trong Bát Hàn Địa Ngục: Name of the sixth in the eight cold hells.
ôn dịch
Epidemic.
ôn hòa
Peacefully.
ôn khuất trúc ca
Utkutukasana (skt)—Còn gọi là Ôn Câu, nghĩa là ngồi chồm hổm hay ngồi xổm—To squad on the heels—To sit on one's haunches.
ôn sắc ni sa
Usnisa (skt)—Một trong 32 hảo tướng, khối thịt u tròn trên đỉnh đầu của Đức Phật—One of the thirty-two good marks, the protuberance on the Buddha's head—See Tam Thập Nhị Hảo Tướng Của Phật (32).
ôn thi la
Usira (skt)—Rễ thơm của một loài cây có họ xương rồng—Fragrant root of Andropogon muricatus.
ôn thất
5512爲溫浴而設之浴室。印度人重視身體之清淨,且因暑熱,不絕洗沐之事,隨處鑿池,以俟行人洗浴。大抵健康者行水浴,老幼及病者行溫浴。據有部毘奈耶雜事卷三載,營造溫室之法,內寬外窄,中高一丈許,下闊七、八尺,一畔設出入之口,其口附扉。中央掘地置爐,燒炭或柴。入浴必於食前,身上必著裙。此外,道宣於所著教誡律儀中,詳舉入溫室之法十六條。〔溫室洗浴眾僧經、十誦律卷三十九、南海寄歸內法傳卷三〕
; Phòng tắm của chư Tăng trong tự viện—Bath-house or bathroom in a monastery.
; (溫室) ... Nhà tắm được thiết lập để tắm bằng nước nóng cho ấm. Người Ấn độ xem trọng sự sạch sẽ của thân thể, vả lại, vì trời nóng bức nên tắm gội luôn, do đó, khắp nơi đều có đào ao để cho người đi đường tắm gội. Đại khái, người khỏe mạnh thì tắm nước lạnh, người già, trẻ nhỏ và người đau yếu thì tắm nước nóng. Cứ theo Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 3, phép làm ôn thất là: Trong rộng ngoài hẹp, chính giữa cao khoảng 1 trượng, phía dưới rộng 7,8 thước, 1 bên để cửa ra vào và có cánh cửa che chắn. Chính giữa đào đất đặt 1 cái lò, đốt than hoặc củi. Phải tắm trước bữa ăn và phải mặc quần. Ngoài ra, trong Giáo giới luật nghi do ngài Đạo tuyên soạn, có nêu 16 điều về phép tắc vào Ôn thất. [X. kinh Ôn thất tẩy dục chúng tăng; luật Thập tụng Q.39; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3].
ôn thất tiển dục chúng tăng kinh
5513全一卷。略稱溫室經。後漢安世高譯。收於大正藏第十六冊。醫王耆域請佛及眾僧於所設溫室洗浴,佛乃爲說澡浴之法,當用七物,除去七病,而得七福報。歷代三寶紀卷四、開元釋教錄卷一等以此經爲安世高譯,出三藏記集卷二、法經錄卷一則謂係西晉竺法護所譯。注疏有義記一卷(淨影慧遠)、疏一卷(慧淨)。
; (溫室洗浴衆僧經) ... Gọi tắt: Ôn thất kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, đượcs thu vào Đại chính tạng tập 16. Nội dung kinh này thuật lại việc thầy thuốc Kì vực thỉnh Phật và chư tăng vào tắm gội trong ôn thất do ông thiết lập, nhân dịp này, đức Phật mới dạy cách tắm gội là nên dùng 7 vật để tắm gội thì sẽ trừ được 7 thứ bệnh và được 7 thứ phúc báo.Lịch đại tam bảo kỉ quyển 4 và Khai nguyên thích giáo lục quyển 1 cho rằng kinh này do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, nhưng Xuất tam tạng kí tập quyển 2 và Pháp kinh lục quyển 1 thì bảo do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. Sách chú sớ kinh này có: Ôn thất kinh nghĩa kí, 1 quyển (Tịnh ảnh Tuệ viễn), Ôn thất kinh sớ, 1 quyển (Tuệ tịnh).
ôn thần
Spirit of the epidemic.
ôn tuyền tự
5513請參閱 溫室洗浴眾僧經 位於四川重慶北溫泉公園。建於南朝宋景平元年(423),曾蒙皇帝賜以「崇勝禪院」之額,後改爲鐵瓦殿。鐵瓦殿爲明代建築,殿中存有宋、明、清諸代之石刻。大殿有清朝大學士張鵑鵬所題「天外思波」之橫題,殿下左右兩方並各有溫泉湧出。
ôn túc
5513西域古國名,相當於現今之烏什(Uch-Turfan)。位於新疆天山之南麓,喀什噶爾(Kashgar)之東北,阿克蘇(Aksu)之西。漢武帝(140 B.C.~ 88 B.C.在位)時,曾遣使至此國。王莽時,姑墨王丞殺此國王,併吞此國。三國時代,隸屬龜玆國,當時龜玆國最強大,崇信佛法。國內有寺,稱溫宿王伽藍,係溫宿王所建,宗教上與龜玆之關係甚深。鳩摩羅什說服此國之道士,名聲四播,龜玆王親自來此國,迎羅什歸國,廣說諸經。〔梁高僧傳卷二、魏志卷三十、魏書列傳第九十、西域聞見錄卷二〕
; Tên một xứ ở vùng Tân Cương (Tây Vực), bên bờ sông Aksu—Name of a district in Sin-Chiang, on the river Aksu.
; (溫宿) ... . Tên 1 nước xưa ở Tây vực, tương đương với vùng Uch-Turfan hiện nay. Nước này nằm về phía nam chân núi Thiên sơn thuộc Tân cương, phía đông bắc Kashgar và phía tây Aksu. Vua Vũ đế nhà Hán(trị vì từ năm 140 đến năm 88 trước Tây lịch) từng sai sứ đến nước này. Thời Vương mãng, Cô mặc Vương chửng giết vua nước này rồi thôn tính cả nước. Vào thời đại Tam quốc, nước này lệ thuộc nước Cưu tư. Trong nước có ngôi chùa gọi là Ôn túc vương già lam, do vua Ôn túc sáng lập; về mặt tông giáo, nước này có quan hệ rất sâu đậm với nước Cưu tư. Ngài Cưu ma la thập hàng phục đạo sĩ của nước này nên ngài được nổi tiếng khắp nơi, vua Cưu tư đích thân đến Ôn túc rước ngài Cưu ma la thập về Cưu tư để giảng kinh. [X. Lương cao tăng truyện Q.2; Ngụy chí Q.30; Ngụy thư liệt truyện thứ 90; Tây vực văn kiến lục Q.2].
ôn tăng già
Utsanga (skt)—Một trăm triệu tỷ—100,000 trillions (one trillion is equivalent to 1,000 billions).
ôn đát la
Uttara (skt)—Còn gọi là Uất Đát La. 1) Nổi bậc, thượng: Superior—Predominant—Above all. 2) Một vị Tăng bắc Thiên Trúc, tên Uất Đát La, người có nhiều thần thông được Đề Bà Đạt Đa hay đề cập tới: Name of a monk in northern India who had a lot of supernatural powers which always mentioned by Devedatta.
ôn đát la cự lỗ
See Uttarakuru in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Tứ Châu in Vietnamese-English Section.
ôn đát la tể na
Uttarasena (skt)—Vua của nước Udyana, người đã nhận một phần xá lợi của Đức Phật để xây tháp thờ—A king of Udyana who obtained part of Sakyamuni's relics.
ôn đát la át sa đồ
Uttarasadha (skt)—Tháng Ôn Đát La Át Sa Đồ là tháng tương đương với khoảng từ 15 tháng 4 đến 15 tháng 5 âm lịch, tháng nầy cũng là tháng mà Hoàng Hậu Ma Da thụ thai Thái tử Tất Đạt Đa—The naksatra presiding over the second half of the the 4th month, the month in which Sakyamuni was conceived.
ôn đường ma nhai
5514位於河南陝縣西南溫塘村南斷層山崖壁上。佛像全部數十尊,均爲唐代之作品。較大之佛龕有四個。第一龕高八十八公分,內雕一菩薩立像,面部已毀,但仍可看出面形稍長而豐滿,耳垂近肩,上身袒露,胸前有項鍊,下身著裙,龕外有宋人之題名。第二龕呈火焰狀,高二點三公尺,內有觀音立像一尊,上身袒露,胸前掛瓔珞,下身著裙,足登蓮臺,姿態優美,有唐大曆九年(774)之銘刻。第三龕刻一菩薩立像。第四龕高一點七六公尺,呈火焰狀,內雕一佛二菩薩,三像皆足登蓮臺,蓮梗相連,造像修長,菩薩身著長瓔珞。另有若干小佛龕。近年來又發現數個未完成之佛龕,龕間有唐代之銘記。
ôn đặc nhĩ ni tư
5513(Winternitz, Moriz; 1863~1937)奧地利之印度學學者。曾於牛津大學研究,致力於印度學之資料、文獻之整理。一九○二年歸國,任德意志大學講師。一九一一年晉昇教授,主講語言學、人類學、印度學。一九二二年接受印度詩人泰戈爾所創之國際大學之邀請,任客座教授,活躍一時。其代表作爲 A Catalogue of Sanskrit Manuscripts in the Bodleian Library, 1905;Geschichte der Indischen Literatur, 3 Bde., 1908~1922; Der Buddhismus, 1911.
; (溫特爾尼茲) ... Winternitz, Moriz (1863-1937) Nhà Ấn độ học người Áo (Austria). Ông từng nghiên cứu, chỉnh lí văn hiến và các tư liệu về Ấn độ học tại Đại học Oxford. Năm 1902, ông về nước làm Giảng sư Đại học Deutschland. Năm 1911, ông được thăng chức Giáo sư, chuyên giảng về Ngôn ngữ học, Nhân loại học và Ấn độ học. Năm 1922, ông nhận lời mời của trường Đại học Quốc tế (VishwaBhàràtiUniversity) do thi hào Rabindranath Tagore của Ấn độ sáng lập, làm Giáo sư thỉnh giảng, hoạt động tích cực một thời. Ông qua đời vào năm 1937, hưởng thọ 74 tuổi. Ông để lại các tác phẩm: Catalogue of Sanskrit Manuscripts in the Bodleian Library, 1905, Geschichte der Indischen Literatur, 3 Bde., 1908-1922, Der Buddhismus, 1911.
ôn địa tu
5512(Windisch, Ernst; 1844~1918)德國印度學與語言學學者。爲來比錫大學教授(1871~1918),曾前往海德堡大學與斯特拉斯堡(Strasbourg)大學講學,所著之梵文學史(Geschichte der Sanskritphilologie und indischen Altertumskunde, 2 vols.),飲譽學界。又曾與戴爾卜魯克(Delbruck)共同研究而有下列著作陸續問世:梵語與希臘語之接續法、願望法之研究(1871)、愛爾蘭(Ireland)語最早之文典(1879)、塞爾特(Celt)語之研究(1880)、古代印度劇之起源與希臘劇之影響、Iti-vuttaka(1890)、佛陀誕生年代考。
ông già đông
4283(1915~1978)臺灣彰化人。法號達道。早年信佛,曾於臺中經營電器事業,頗熱心於地方公益、育孤濟貧等善舉,故「翁大善人」之名不脛而走。民國四十九年(1960)膺選全國十大好人好事代表,並二度膺選全國敬軍模範。一生以信佛、布施、弘法、護法為職志。嘗從事電臺講經,並深入僻壤巡迴布教。曾任中國佛教會常務理事、中國佛教會臺灣省臺中市支會理事長、大覺院董事長兼住持等職。
ông mẹk
Tên một ngôi chùa thuộc Phật Giáo Nguyên Thủy, nằm trong thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, Nam Việt Nam. Đây là một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng của người Khờ Me được xây dựng từ năm 1349, và được trùng tu nhiều lần—Name of an ancient temple of Theravada Buddhism, located in Tra Vinh Town, Trà Vinh province. This is one of the most famous ancient Khmer temple, which was built in 1349 and has been rebuilt many times.
ông tắc
4283意為領經師。乃西藏佛教寺院之僧職名稱。為僧眾集體誦經時之起首者,有磋欽翁則、札倉翁則之別。磋欽翁則即寺院大法會中誦經之先導,札倉翁則為一札倉(指學院)之大眾會合誦經時之先導。
ù tai
To have ringing noises in the ears
ù ù cạc cạc
To understand nothing.
ùa
Trush—To dash.
ùa đến
To crowd to a place.
ùn ùn
To crowd (in or out).
ú ớ
To speak incoherently.
úa
Wilted—Withered.
úc già chi la thôn
3981郁伽支羅,梵名 Ulkacelā,巴利名 Ukkacelā, Ukkavelā。意譯爲神祇村。位於跋耆國(巴 Vajjī)恆河附近之村莊名。據相應部經典四七‧十四所記述,舍利弗與目犍連去世未久,釋尊坐於此郁伽支羅村之露地,向諸比丘說:「比丘等!舍利弗、目犍連入滅以來,此集會令人感覺空虛(中略)例如有堅固之大樹,必先壞其大枝。如此,有堅固之大比丘眾時,舍利弗與目犍連亦先入滅。比丘等!豈能有常住?生者、成者、所造者、具有壞滅性者,欲令其不壞滅,乃不合道理。」另據中部經典三四牧牛者小經(巴 Cūḷagopālaka-sutta)所載,釋尊曾在此地說牧牛經。依中阿含卷十八郁伽支羅經,謂此地一比丘嘗問釋尊法要,並循指示修行,終得阿羅漢果。
úc già la thôn
3982郁伽羅,梵名 Ulkaṣṭha,巴利名 Ukkaṭṭha。音譯作憂迦支村、有迦帝村。乃鄰近喜馬拉雅山山地之村莊名。爲留詩於長老偈經(巴 Thera-gāthā)二一九─二二一偈之比丘鴦伽闍(巴 Aṅganika Bhāradvāja)之誕生地。據增支部經典四‧六三所載,昔釋尊從此地欲至憍薩羅國(梵 Kośala)斯婆醯(巴 Setavyā),其遺於途中之足跡,被後來有功於分配釋尊遺骨之婆羅門豆磨(巴 Doṇa)發現有千輻輪相,而以爲釋尊乃天人或乾闥婆。據中部經典之根本法門經(巴 Mūlapariyāya-suttanta)所說,釋尊曾在此地須婆伽林(梵 Subhaga-vana,巴同)中之娑羅王樹下爲比丘等講說根本教法。
úc già trưởng giả
3982郁伽,梵名 Ugra,巴利名 Ugga。又作郁迦長者、優迦長者、郁瞿婁長者。全稱郁迦羅越長者。意譯爲最首長者、功德長者、威德長者、雄者長者。爲佛世時,毘舍離城附近之象村(巴 Hatthi-gāma)人。據中阿含卷九未曾有法品郁伽長者經所載,長者曾於鞞舍離大林中,集女妓娛樂,飲酒大醉,尋遙見世尊在林樹間,端正姝好。長者見佛已,即時醉醒,往詣佛所,聞世尊說四諦法而斷疑惑,並盡形壽以梵行爲首,誓願受持五戒。佛滅後,自以一切財物惠施,願如轉輪聖王,乃至希求生於第四禪天。又大寶積經卷八十二郁伽長者會載,佛在給孤窮精舍時,彼嘗問在家、出家菩薩之行法,佛乃爲其廣說三歸五戒與出家之四聖種行。〔雜阿含經卷九、大智度論卷三十三、玄應音義卷八、慧琳音義卷十四〕
úc kim
6983梵語 kuṅkuma。學名 Crocus sativus, Linn。又作茶矩麼、茶矩磨(茶為菳之誤寫)。屬球根植物,可製成染料,花可作香,稱為鬱金香。產於北印度喀什米爾、小亞細亞、地中海東岸等地。據大唐西域記卷二載,可知昔時之印度人常以旃檀、鬱金等諸香塗身。阿育王傳卷四、有部毘奈耶雜事卷四十載,末田地那尊者教化惡龍,為支濟居民活命,遂自香山拔取鬱金香之根移植至當地。又金光明最勝王經卷七以之為三十二味藥之一。〔蘇悉地羯囉經卷上、蕤呬耶經卷中、慧琳音義卷三十九、卷七十〕
úc mật sâm trầm
6983鬱密,形容樹木密生繁茂;森沈,形容樹林茂盛而深奧。為獅子(喻大乘)所住,而狐鬼(喻小乘)不能靠近之境域;引申指佛法之幽邃深奧。永嘉證道歌(大四八‧三九六中):「旃檀林,無雜樹,鬱密森沈師子住,境靜林間獨自遊,走獸飛禽皆遠去。」
úc tằng già
6984梵語 ucchaṅga。意譯數千萬兆。佛本行集經卷十二(大三‧七○九下):「百毘婆娑,名鬱曾伽(隋數千萬兆)。」
úc đa la
6980梵名 Uttara,巴利名同。意譯勝、上。又作優多羅、優多梨。<一>為釋尊過去世為仙人時之名。據賢愚經卷下載,釋尊過去世為鬱多羅仙人時,因求正道之願心深切,故自剝身皮為紙,折骨為筆,以血和墨,聽受書寫婆羅門所誦之偈。〔菩薩本行經卷下〕 <二>為阿難之弟子。據分別功德論卷二載,阿難之弟子優多羅,從阿難承受增一阿含,後優多羅又授予弟子善覺而般涅槃。 <三>據善見律毘婆沙卷二載,阿育王之時,鬱多羅與須那迦(巴 Sonaka)二人被派遣至金地國(巴 Suvaṇṇa-bhūmi,今之緬甸)傳教。時金地國有一夜叉尼,每逢該國有王子出生,夜叉尼即從海中現至王宮奪取而食之。鬱多羅等至彼地之日,正巧王子亦出生,王等乍見二人誤以為夜叉尼之伴侶,而欲害之。須那迦即言己等為斷殺生、護持十善之沙門。不久,夜叉尼來襲,須那迦化現雙倍之夜叉驅逐之,並誦咒防護國土,使諸夜叉尼不得入侵。隨後又為人民說梵網經,授三歸五戒,六萬人得道果,後王凡生兒皆取名為「須鬱多羅」。 <四>為佛所懸記之比丘名。據大悲經卷二持正法品載,佛曾懸記波離弗城之鳩鳩吒(梵 Kukkuṭa)僧伽藍,有鬱多羅比丘,具神通變化,修梵行,廣布正法。
úc đa la tăng
6982梵語 uttarāsaṅga,巴利語 uttarāsaṅga。三衣之一,六物之一。又作郁多羅僧、優多羅僧、漚多羅、嗢多羅僧、嗢怛囉僧伽。意譯上衣、上著衣。即七條衣,為常服中最上者。於齋、講、禮、誦等諸羯磨事時,必著此衣,故又稱為入眾衣;又因僅覆左肩,故又稱為覆左肩衣。其價值在其他二衣之間,故又稱中價衣。其製法,先割截為二長一短二十一隔之布塊,然後以「卻刺」之法縫成;若財少難辦,則聽許用「揲葉」之縫製法。關於此衣之長短寬窄,有長五肘、廣三肘之規定,然因各人身量長短不同,故此說亦不甚一定。〔玄應音義卷十四、慧琳音義卷十五〕(參閱「三衣」551、「袈裟」4784)
úc đan việt
6983梵名 Uttara-kuru,巴利名同。又作北俱盧洲、郁多羅究琉、鬱怛羅越、嗢怛羅矩嚧、殟怛羅句嚧。為須彌四洲之一。起世經卷一(大一‧三一一中):「須彌山王,北面有洲,名鬱單越。其地縱廣,十千由旬,四方正等,彼洲人面,還似地形。」(參閱「北俱盧洲」1585)
úm
4415悉曇字???(oṃ)。為冠於咒文最初之祈禱語,含有神聖之意。原於吠陀為應諾之義,又用為咒文及祈禱文首先發音之聖音(梵 praṇava)。至奧義書附加祕密之義,成為觀想之對象,進而作為梵、世界,依此觀想之實修為達到第一義(梵)之法。唵之字義,祕藏記末列有歸命、供養、三身、驚覺、攝伏等五種,通常僅用前三種。本字由???(a,阿)、???(u,烏)、???(ma,莽)三字合成。阿,為菩提心、諸法門、無二、諸法果、性、自在等之義,亦為法身之義;烏,為報身之義;莽,為化身之義。合三字共為唵字,攝義無邊,故為一切陀羅尼首。密教不僅採用神咒之形式,亦攝取各種解釋法。咒文中冠唵字者甚多,如大日真言「唵阿卑羅哞欠娑婆訶」、西藏喇嘛教六字明咒「唵嘛呢叭
; See Án (4).
; (唵) Cũng đọc là án, chữ (oṃ) Tất-đàm, là lời cầu nguyện đứng đầu các câu văn thần chú, hàm ý là thần thánh. Trong kinh Veda, chữ Án vốn nghĩa là bằng lòng, ưng ý, lại được dùng trong thánh âm (Phạm: Praịava) phát ra đầu tiên trong các câu chú và văn cầu nguyện. Đến Áo nghĩa thư phụ thêm nghĩa bí mật mà thành là đối tượng quán tưởng, lại tiến thêm bước nữa, Án trở thành Phạm, thế giới, nương theo sự tu hành quán tưởng chân thực này thì đạt được pháp Đệ nhất nghĩa đế (Phạm). Bí tạng kí phần cuối liệt kê năm nghĩa của chữ Án là: Đính lễ, cúng dường, ba thân, thức tỉnh và nhiếp phục; nhưng thường thì chỉ dùng ba nghĩa trước. Chữ Án này do ba chữ (a) (u) (ma) hợp thành. A có các nghĩa: Tâm bồ đề, các pháp môn, không hai, các pháp quả, tính, tự tại, cũng có nghĩa là pháp tâm. U nghĩa là báo thân; Ma nghĩa là hóa thân. Hợp ba chữ này lại thành chữ Án, bao hàm vô lượng nghĩa, vì thế nó đứng đầu, như Đại Nhật Chân Ngôn: Án-ti-la-hồng-khiếm-sa-bà-ha, Lục tự minh chú của Lạt ma giáo Tây tạng: Án-ma-ni-bát-di-hồng v.v.. đều dùng hình thức này. Nếu tu hành quán tưởng chữ Án này, thì ba thân hiển hiện gia trì ủng hộ hành giả, nhờ công đức ấy mà hành giả đạt thành vô thượng chính đẳng giác. Vì chữ Án do ba chữ (a, u, ma) hợp thành, nên trong tư tưởng Ấn độ đời xưa, chữ Án biểu thị ba tính nam, nữ, trung, hoặc biểu thị ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai; lại phối với ba Phệ đà (Veda), hoặc phối với ba trạng thái tỉnh, mộng, ngủ say; hoặc phối với ba loại: lửa, gió, mặt trời; hoặc phối với thức ăn, nước uống, mặt trăng; hoặc phối với trời, hư không, đất. Về sau, trong Ấn Độ giáo, chữ Án lại được so sánh với ba vị thần: Tì-thấp-nô (Phạm: Viwịu), Thấp-bà (Phạm: Ziva), Phạm (Phạm: Bràhman), cũng tức là ba vị thần cùng một bản thề (Phạm:Trimuti) trông coi việc hộ trì, phá hoại và sáng tạo. [X. kinh Thủ Hộ Quốc Giới Q.9; Bí Tạng Kí Sao Q.9].
úm a hồng
4416<一>即指???(oṃ,唵)、???(a,阿)、???(hūṃ,吽)三種子,為密教用以安置於佛像三處之三種子。安像三昧儀軌經說明有關雕塑、供養諸佛菩薩像,所應注意事項中,謂觀想如來如真實身,諸相圓滿,以唵字安頂上,以阿字安口上,以吽字安心上。 <二>密乘修行法中,利用平常呼吸之入、住、出,於一口氣往復之間念出此三字。此三字係極為神聖之字音,若隨呼吸不斷念誦,及至不念自念,念不念了無差別,無有間斷,即為「金剛念誦」,依此金剛念誦,能與本尊合一,契入理體法性。又此三字代表本尊,本尊常在吾人呼吸間,吾人即住於本尊法身而入於第一義諦之真理。
; (唵阿吽) I. Án, A, Hồng. Tức là ba chữ (án: Oô), (a) (hồng: Hùô) là ba chủng tử trong Mật giáo được dùng để đặt ở ba chỗ trên tượng Phật. Kinh An tượng tam muội nghi quĩ thuyết minh về chạm khắc, nặn đắp hoặc cúng dường tượng chư Phật Bồ Tát, nên lưu ý một điều: trong khi làm việc, phải quán tưởng thân chân thực của Như Lai, các tướng đầy đủ, đặt chữ Án trên đỉnh đầu, đặt chữ A ở miệng và đặt chữ Hồng trước ngực. II. Án, A, Hồng. Trong phép tu của Mật giáo, hành giả dùng hơi thở bình thường, lúc hít vào, dừng lại, thở ra thì niệm ba chữ Án, A, Hồng. Ba chữ này là âm chữ rất linh nghiệm, nếu niệm tụng liên tục theo hơi thở, cho đến khi không niệm cũng tự niệm, niệm hay chẳng niệm rõ ràng không sai khác, không gián đoạn, tức là Kim cương niệm tụng. Nương theo Kim cương tụng niệm này, hành giả có thể hợp nhất với bản tôn (vị tôn chính), khế nhập lí thể pháp tính.Lại nữa, ba chữ Án, A, Hồng thay cho bản tôn, bản tôn lúc nào cũng ở trong hơi thở của ta, ta ở trong pháp thân của bản tôn mà vào chân lí Đệ nhất nghĩa đế.
úm hô lô hô lô
4416全稱「唵呼盧呼盧戰馱利摩橙祇莎婆訶」。係藥師如來之真言中,較短之咒文。其中,唵(oṃ),意為歸命;呼盧呼盧(huruhuru),意為速疾;戰馱利(caṇḍari),意為暴惡相;摩橙祇(mataṅgī),意為象王;莎婆訶(svāhā),意為成就。乃祈福消災,拜藥師如來時口誦之真言。〔藥師如來觀行儀軌法、諸尊真言句義鈔卷上〕
úm hắc đậu
4416禪林用語。係罵人僅就經卷之文字表面意義加以理解,而疏忽內涵之真意。黑豆,即文字。唵,又作揞、掩、淹,指以手進食,或含於口中。景德傳燈錄卷十二(大五一‧二九○下):「師因半夏上黃蘗山,見和尚看經。師曰:『我將謂是箇人,元來是唵黑豆老和尚。』」
; (唵黑豆) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thiền lâm dùng từ ngữ này để ngụ ý trách người chỉ dựa vào văn chữ của kinh để lí giải ý nghĩa trên bề mặt, mà bỏ qua ý nghĩa đích thực chứa đựng bên trong. Hắc-đậu (đậu đen), chỉ cho văn chữ. Án, cũng gọi ảm, yểm, yêm, nghĩa là dùng tay bốc đậu đen ăn, hoặc ngậm trong miệng. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 12 (Đại 51, 290 hạ), nói: Nhân lúc giữa hạ, sư lên núi Hoàng Bá, thấy Hòa Thượng đang xem kinh. Sư bảo: Tôi sẽ nói người này vốn chỉ là lão Hòa Thượng án hắc đậu.
úm ma ni bát ni hồng
4416梵語 oṃ maṇi padme hūṃ。又作唵嚤呢叭
; (唵嘛呢叭
úm tự quán
4416即密教用於觀想???(oṃ,唵)字字義之觀法。守護國界經卷九載,「唵」字即指一切法門、毘盧遮那佛之真身、一切陀羅尼母等,從此字能生一切如來。又說三世諸佛皆依此觀得菩提,釋迦修行六年苦行亦不得成佛,受空中化佛之指示,於鼻端觀淨月輪,月輪中修唵字觀,始於後夜分(近日出時)成佛。
; (唵字觀) Phép quán của Mật giáo dùng để quán tưởng nghĩa chữ (oô, án). Theo kinh Thủ Hộ Quốc Giới quyển 9 thì chữ Án là chỉ cho tất cả pháp môn, là chân thân của Đức Phật Tì Lô Giá Na, mẹ của hết thảy đà la ni v.v.., tất cả Như Lai đều từ chữ Án này sinh ra. Ba đời chư Phật đều nhờ nơi phép quán này mà được Bồ đề. Đức Thích Ca tu khổ hạnh ròng rã sáu năm cũng không thành Phật, đến khi được Hóa Phật ở giữa hư không chỉ dạy, quán tưởng vầng trăng trong sáng trên đầu mũi, tu quán chữ Án trong vầng trăng, nhờ thế, lúc sao Mai mọc mới thành Phật.
úm tự ấn
4415此印係密教用以表示說法驚覺眾生之標幟。又稱淨行者吉祥印、淨行吉祥印、吉祥印。印相乃左手手掌上仰而側斜,屈食指而伸餘指。據大日經疏卷二十、演奧鈔卷十四所說,或因淨行者結此印欲語時,須先唱唵字聲,故稱印名為唵字印。又大日經疏卷五所載之四面四臂梵天之左第二手即作此印。〔攝大儀軌卷中〕
; (唵字印) Ấn này là phù hiệu của Mật giáo dùng để biểu thị sự nói pháp thức tỉnh chúng sinh. Cũng gọi Tịnh hạnh giả cát tường ấn, Tịnh hạnh cát tường ấn, Cát tường ấn. Hình tướng ấn là: ngửa bàn tay trái lên và để hơi nghiêng, co ngón trỏ, các ngón còn lại đều duỗi thẳng ra. Cứ theo Đại Nhật Kinh Sớ quyển 20 và Diễn Áo Sao quyển 14, thì khi hành giả tịnh hạnh kết ấn này rồi, nếu muốn nói, thì trước tiên phải xướng ra tiếng chữ Án, vì thế gọi ấn này là Án tự ấn. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 5 có chép: tay thứ hai bên trái của thần Phạm thiên bốn mặt bốn tay, kết ấn này. [X. Nhiếp Đại Nghi Quĩ Q.trung].
úng
1) Hư: Spoiled—Rotten. 2) Lu hay khạp: Kumbha (skt)—A pitcher—A jar—A pot.
úng hình
Kumbhandaka (skt)—Có hình thể giống như cái khạp—Jar-shaped.
úp
To overturn.
úp úp mở mở
Ambiguous—Unclear.
Úy 畏
[ja] イ i ||| (1) To be afraid; to be in awe of; to dread (Skt. bhaya, bhīta; Pali bhaya). To be apprehensive. To dislike, to hate. (2) Fearful, scary. => Sợ; kính sợ; khiếp sợ (s: bhaya, bhīta; p: bhaya). Sợ hãi. Không thích, ghét. Ghê sợ, rùng rợn.
ý
5445梵語 manas。音譯作末那。意謂「思量」。即周遍思惟之心理作用。如將之作爲認識機能之依據,則稱意根,爲六根之一。於十二處中,稱爲意處;於十八界中,稱爲意界。依六識家之見,心、意、識三者同體異名。依八識家而言,心即指阿賴耶識,意指末那識,而識則指前五識(眼、耳、鼻、舌、身等識)兼及意識。〔大毘婆沙論卷七十二、俱舍論卷一、卷四、攝大乘論本卷一〕(參閱「意識」5449)
; citta-uppada (S), Citta (S), Thought Tập khởiý tưởng hiện tại (tham, sân, si,...). Mati (S)Từ tríý muốn, ý định. Mana (S), Manas, Mano, Manaḥ (S)Mạt na.
; Mano (p)—Mana (skt)—Mạt Na—The mind or thoughts—Trung tâm tư tưởng, cùng một mức độ với giác quan, nhưng dưới trí tuệ (trong Duy Thức Luận, Đức Phật đã nói về sự khác biệt của Tâm, Ý, và Thức. Tư tưởng tập khởi là Tâm, tư tưởng suy tính là Ý, tư tưởng liễu biệt hay hiểu rõ vạn hữu là Thức)—The mind as the center of thought, which is placed on the same level as the senses, below prajna: 1) Ý: Manas or the intellectual function of consciousness. 2) Những định nghĩa khác của Ý—Other definitions for manas: • Ý: Will. • Tâm: Mind. • Tâm Lực: All mental powers. • Thức: Consciousness. • Sự thông minh: Intellect—Intelligence. • Sự hiểu biết: Understanding. • Sự nhận biết: Perception. • Lương tâm: Conscience. 3) Ý là thức thứ sáu trong sáu thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý): Manas, the sixth of the sadayatanas or six means of perception (sight, hearing, smell, taste, touch, and mind). 4) Cố ý: Intent—Opinion. 5) Nước Ý: Italy.
ý an lạc hành
5446四安樂行之第三。謂菩薩於意遠離嫉諂、輕罵、惱亂、諍競等四過,安樂行法華之法,於一切眾生起大悲之想,於諸如來起慈父之想,於諸菩薩起大師之想,而對一切眾生平等說法。(參閱「四安樂行」1687)
; See Ý An Lạc Hạnh.
ý an lạc hạnh
The calmly joyful life of the mind - one of the four in the Lotus sùtra.
; Theo Kinh Pháp Hoa, đây là một trong tứ an lạc hạnh. Ý xa lìa lỗi lầm để đượa an lạc vui vẻ—According to The Lotus Sutra, the calmly joyful life of the mind, one of the four means of attaining to happy contentment. ** For more information, please see Tứ An Lạc Hạnh (3).
ý chí
5446廣義而言,爲自然衝動之欲望;狹義而言,則爲意識間多種動機、目標、方法之一種選擇,而欲獲實現者。佛教中相當於意志之字爲思(梵 cetanā),凡意志之活動,稱爲思業;已發爲行動者,稱爲思已業(身業、語業)。行(梵 saṃskāra,活動之意)之一詞,亦含意志之意味。德國哲學家叔本華(Schopenhauer, 1788~1860)謂,一切生命現象之根源爲其原意志,而意志本身常爲盲目之衝動。佛教學者即借用此盲目意志以喻「行」。然此種形上學根源之意志論,與佛教原本之立場相反。佛陀否定世界爲神之意志(神意說)或宿命說,亦否定「無因無緣」之說,而主張個人應本其自由意志爲主之努力論。
; Free will (intent).
ý chí bất phân
The will is undevided.
ý chí mạnh mẽ
To be form and stable in his determination.
ý chí sắt đá
An iron-will
ý căn
5446<一>梵語 mana-indriya。六根之一,二十二根之一。「根」爲能生之義。六根中之前五根所對之境爲四大(地、水、火、風)所形成之色法;意根所對之境則爲心法,對法境即產生意識。(參閱「六根」1284) <二>又作意地。即指第六識。(參閱「意識」5449)
; Mana-īndriya (S), Manindriyā (S), Mana-īndriya (S).
; Manindriyà (S). Mind faculty, mind sense, the sixth of the senses.
; Manayatanam (p)—Indriya or Mana-indriya (skt)—Mana-yatana (p). • Tri giác: The perception of thinking. • Năng lực tư duy: Faculty of thinking. • Căn của tâm: The organ of mind. • Ý căn, một trong Lục Căn, có sự nhận thức của tư duy hay tâm suy nghĩ (cảnh sở đối của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là do sắc pháp tứ đại đất, nước, lửa, gió hình thành; trong khi cảnh sở đối với ý căn là tâm pháp nghĩa là đối với pháp cảnh thì nẩy sinh ra ý thức)—Thought, the mind-sense, the sixth of the senses, the perception of thinking or faculty of thinking or the thinking mind. ** For more information, please see Lục Căn and Lục Nhập in Vietnamese-English Section.
ý căn toạ đoạn
5446謂斷滅煩惱之根本思量分別。蓋有意識乃生分別,有分別之心即生種種煩惱;若煩惱斷滅,則必意識斷滅之故。
Ý cảnh giới 意境界
[ja] イキョウカイ ikyōkai ||| The realm of the function of the sixth (mano) consciousness (mano-gati). 〔瑜伽論T 1579.30.822c17〕 => Lĩnh vực tác dụng của thức thứ 6 (mano; mano-gati). .
ý cận hành
5446指苦、樂、憂、喜、捨等五受中之喜、憂、捨三受。此三受僅第六意識上有之,能爲意識親近之緣,使意識行之,故稱意近行。其所緣各各有六境,合爲十八意近行。〔大毘婆沙論卷一三九、俱舍論卷十〕
ý diệu hạnh
Manaḥ-sucarita (S)Một trong Tam diệu hạnh.
ý giải
Intellectual explanation; liberation of the mind, or thought.
; 1) Sực giải thích của ý thức: Intellectual explanation. 2) Sự giải thoát của tâm tưởng: Liberation of the mind or thought.
ý giới
Manodhàtu (S). The realm of mind.
; Manodhatu (skt)—The realm of mind.
Ý giới 意界
[ja] カイ ikai ||| 'Realm of consciousness.' One of the eighteen realms 十八界in Consciousness-only theory. The compositional elements of consciousness. Includes the manas-consciousness and the ālayavijñāna 阿頼耶識. => 'Lĩnh vực của ý thức'. Là một trong Thập bát giới theo giáo lý Duy thức. Là thành phần cấu tạo thành ý thức. Bao gồm mạt-na thức và A-lại-da thức.
ý huân tập
5449「分別事識薰習」之對稱。大乘起信論所說四薰習之一的淨法薰習中,分爲妄心薰習與真如薰習二者,其中,妄心薰習又分意薰習與分別事識薰習二者。意薰習,乃一切菩薩於五意中發心修行,捨除事識之計量分別,了達唯心而速疾趣向涅槃之謂。(參閱「分別事識薰習」1316、「四薰習」1848)
ý hướng
Inclination—Tendency.
ý học
5448指禪宗之學。修習禪要,必側重於身口意中之意業,故有佛心宗之名。禪源諸詮集都序卷上之一(大四八‧四○○中):「經是佛語,禪是佛意,諸佛心口,必不相違。」
; Mental learning, learning by meditation rather than from books.
; Cái học bằng tâm của Thiền Tông. Thiền học chú trọng vào ý nghiệp bằng thiền tập hơn là sách vở, còn có tên là Phật Tâm Tông—Zen—Mental learning, learning by meditation rather than from books, the special cult of the Ch'an or Intuitional school, which is also called the School of the Buddha-mind.
ý hội
To comprehend—To understand.
ý hứa
5447因明用語。指內心已決定某種主張,但尚未表露出來之狀態。即雖不以言語表示,而於意中密藏某一種主張;亦即意中所置許之想法。與「言陳」(言語所陳)相對稱。而意中所置許之想法未必與口中所發表之言詞相合。蓋因明立論之法則,所立之宗(命題),非立者(立論者)與敵者(問難者)共許(共同認可)不可;然於狡黠手段之論法,立者若將意中之觀點公然發表,則缺乏因(理由)之後二相,必招致種種過失,故常使用曖昧之言詞,以爲方便矯立。此時敵者若識破立者於其立宗所懷意中觀點之作法,即立一能與之相違之論式,用立者先前所用之因、喻(譬喻),令其自然成爲不能成立之因、喻。「四相違因」乃是破此之法規,即於宗之前陳(主詞,即有法),與後陳(述詞,即法),各有意許上之相違與言陳上之相違之別,故成爲四相違。〔因明入正理論疏卷中本、卷下本、因明入正理論直解、因明抄〕
ý khí kim cương nữ
5447梵名 Māna-vajriṇī。爲密教金剛界曼荼羅理趣會十七尊之一。又作意氣女、慢金剛女。位於金剛薩埵之左前隅,即金剛界曼荼羅理趣會之內院東北隅。此尊意識之氣力熾盛,故稱意氣金剛女。其悲心甚深廣大,故住大精進三昧,利益安樂懈怠不信之眾生,令速離苦、得清淨。身呈金色,作舞蹈之勢。真言爲:摩訶室唎(mahāśrī,大吉祥)嚩日哩(vajrī,金剛女)呬(hi)。〔理趣釋要略祕決集卷三、金剛界七集卷下〕
ý kiến
Thoughts, ideas, concepts, views.
; Ideas, concepts, views, thoughts, opinion.
ý kiến sai lầm
Erroneous idea.
ý lạc
5448梵語 āśaya。意譯爲阿世耶、阿奢也。此字含有休息處、住處、意思、意向等意味,故意譯意樂、意欲、志願。凡心裡所欲之作爲,皆稱爲意樂。顯揚聖教論卷三舉出貪、瞋、癡等三種阿世耶,俱舍論卷十四則分爲善阿世耶、不善阿世耶兩類。〔大日經疏卷十、玄應音義卷二十三〕
; Manobhirama (S)Phật Thích Ca có thọ ký cho ngài Mục kiền Liên về sau Mục kiền Liên sẽ thành Phật có Phật hiệu này. Cõi thế của đức Phật này tên là cõi ý lạc, kỳ kiếp của ngài gọi là Hỷ mãn.
; Joy of the mind, the mind satisfied and joyful. Manobhiràma, the realm foretold for Maudgalyàyana as a Buddha.
; Manobhirama or Asaya (skt)—A Thế Da—A Xa Dã. 1) Ý được thỏa mãn vui vẻ: Joy of mind, the mind satisfied and joyful. 2) Ý Lạc Giới: Nơi mà Ngài Mục Kiền Liên sẽ thành Phật—The realm foretold for Maudgalyayana as a Buddha.
Ý lạc 意樂
[ja] ガク igyō ||| (1) Will, willingness, intention, desire, wish, mental inclination, hope (āśaya). (2) Enjoyable. (3) That which gives internal satisfaction; the "joy of the mind." => 1. Ý muốn, sự vui lòng, ý định, lòng mong muốn, sự ước mong, ý hướng, hy vọng (s: āśaya). 2. Thích thú. 3. Điều làm cho hài lòng; tâm ý thoải mái.
ý lộ bất đáo
5447謂意識不能到達之處,即指不得以思慮分別而臆度之真理境界。碧巖錄第六十三則(大四八‧一九四下):「意路不到,正好提撕;言詮不及,宜急著眼。」
ý lực
Mental power or intention; the purpose to attain bodhi or enlightenment.
; 1) Năng lực của ý: Mental power or intention. 2) Mục đích đạt đến giác ngộ Bồ Đề: The purpose to attain bodhi or enlightenment.
ý muốn
Cetana (p)—Cikirshaka (skt)—Ý định hay ý muốn làm điều gì—Wish—Intent—Will—Intention—Volition—Desire to make or do or perform anything.
ý mã
The mind as a horse, ever running from one thing to another.
; Tâm ý của con người dong ruổi như con ngựa, chạy từ chỗ nầy qua chỗ khác, không ngừng nghỉ (đuổi theo ngoại cảnh không dừng lại ở một chỗ)—The mind as a horse, ever running from one thing to another—The mind like a horse and the heart like a monkey—Restless and intractable.
ý mã tâm viên
The mind like a horse and the heart like a monkey - restless and intractable.
; Ý như con ngựa dong ruổi, tâm như con khỉ chuyền cây—Horse-will, monkey-mind—The restless will and the mischievous intellect—See Ý Mã.
ý mật
Mano-guhya (S)Một trong Tam mật.
ý nghiệp
xem ba nghiệp.
; 5447梵語 manas-karman。三業之一。意即依心王之業;業爲造作之義,廣義而言,包含一切或善或惡或無記等之行爲動作。俱舍論卷十三(大二九‧五五上):「思謂意業。」蓋思爲造作之義,令心王造作善、惡、無記等,故意業即與「思」同義。又據成唯識論卷四舉出,思可分爲審慮思、決定思、動發勝思三種。其中,與審慮、決定二者相應而造作者,稱爲意業。 此外,據大乘理趣六波羅蜜多經卷七所舉,意業具有如下二種心:(一)精進心,即發菩提心修習善業,而遠離一切懈怠之心。(二)退轉心,即於諸善法不能進修,或暫時發心修行,而常生退屈之心。(參閱「三業」638、「思」3807)
; Manakarma (S),Manokamma (P).
; The function of mind or thought, one of the Tam nghiệp thought, word, deed.
; Mana-kamma (p)—Mana-karman (skt)—Mental action—Nghiệp tạo tác bởi ý (nghiệp khởi ra từ nơi ý căn hay hành động của tâm), một trong tam nghiệp thân khẩu ý. So với khẩu nghiệp thì ý nghiệp không mãnh liệt và thù nghịch bằng, vì ý nghĩ chỉ mới phát ra ở trong nội tâm mà thôi chứ chưa lộ bày, tức là chưa thực hiện hành động, cho nên khó lập thành nghiệp hơn là khẩu nghiệp—The function of mind or thought—One of the three kinds of karma (thought, word, and deed). Compared to the karma of the mouth, karma of the mind is difficult to establish, thought has just risen within the mind but has not take appearance, or become action; therefore, transgressions have not formed. ** For more information, please see Tam Nghiệp.
ý nghĩ
Thought.
ý nghĩa
Significance—Meaning—Sense.
ý nghĩa đúng nhứt
The truest sense.
ý ngoại
Unexpected.
ý nguyện
Wish.
ý ngôn
Mental words, words within the intellectual consciousness; thought and words.
; 1) Tư tưởng và lời nói: Thought and words. 2) Lời nói trong ý thức: Mental words, words within the intellectual consciousness.
ý nhẫn
The patience of the mind.
ý nhị
Meaning.
ý nhị biên thủ tướng
Ý vận hành theo hai cách, ý thức nhận lấy trong những gì được tỏ ra, hoặc thiện hoặc bất thiện—Manas moves in two ways; the Vijnana taking in what is presented is either good or not-good.
ý niệm
Manaketa (skt)—Sự nhận thức hay hiểu điều gì—Idea—Concept—Notion—Mental perception.
ý niệm tán loạn
Unfocussed mind.
ý niệm vãng sanh
Ý niệm vãng sanh bằng tưởng nhớ hay bằng cách tụng niệm hồng danh Đức Phật A Di Đà—Intention to enter the Pure Land by thought, remembrance or invocation of Amitabha.
ý niệm vãng sinh
By thought and remembrance or invocation of Amitàbha to enter into his Pure Land.
ý phạt nghiệp
Mano-daṇḍa (S)Một trong Tam phạt nghiệp.
ý phẫn thiên
5449又作意憤恚天、憤恚天、意相憤怨天。通常與戲忘天並稱。謂此天意憤增上,至死方消。瑜伽師地論卷五(大三○‧三○○下):「或復有天,名曰意憤,彼諸天眾,有時展轉角眼相視:由相視故,意憤轉增,意憤增故,從彼處沒。」此天與戲忘天之所在,諸說不同,大毘婆沙論卷一九九有兩說,一說住妙高之層級,一說爲三十三天。妙高之層級爲四天王天,三十三天爲忉利天。又阿毘達磨雜集論卷三說相當於都率天,而瑜伽師地論卷五則汎稱欲界天,不定所在。因論說之不同,歷代註疏之依用亦各異,如俱舍論光記依婆沙論之說,俱舍論寶疏則取雜集論之說。〔瑜伽師地論卷三、成唯識論了義燈卷四末、俱舍論光記卷五〕
; Một loại Trời ý phẫn bốc lên gây nên tội nghiệp, khi chết bị đọa xuống làm người (thường trụ tại mé núi Tu Di)—A deva who sinned and was sent down to be born among men.
ý sanh kim cang bồ tát
Xem Dục Kim cang Bồ tát.
ý sinh
See Ý Sinh Thân.
ý sinh hóa
See Ý Sinh Thân.
ý sinh kim cương nữ
5445密教金剛界曼荼羅理趣會十七尊之一。又作慾金剛女、金剛見。位於金剛薩埵之右前隅。據金剛界七集卷下載,其形像爲金色,以左右拳安於腰上,稍低,呈嬉戲之相。現圖曼荼羅之形像異於此。〔理趣釋卷上、理趣經祕註卷一〕
ý sinh thân
5445梵語 mano-maya-kāya。又作意成身、意成色身、摩㝹化身、摩奴末耶身。非父母所生之身體,乃初地以上之菩薩爲濟度眾生,依「意」所化生之身。此外,中有之身、劫初之人、色界、無色界、變化身、界外之變易身等,均屬意生身。〔雜阿含經卷三十四、中阿含卷四十三根本分別品意行經、成唯識論卷八、佛性論卷二〕
; Manomaya (S), Mano-mayakāya (S), Mentally created Thân do ý sinh ra. Thân của các vị Bồ tát do ý thụ sinh.
; Manomaya (S). A body mentally produced, or produced at will.
; Manomayakaya (skt)—The will-body—Ý Thành Thân—Ý Sinh Hóa—Thân của các vị Bồ Tát từ bậc sơ địa trở lên, là thân vì ý muốn cứu độ chúng sanh mà đắc như ý thụ sinh (ý sinh thân là sự sinh thân bằng ý tưởng ví như ý chuyển động nhanh chóng không có gì trở ngại)—A body mentally produced or produced at will. Bodhisattvas from the first stage upwards are able to take any form at will to save sentient beings.
Ý sinh thân 意生身
[ja] ショウシン ishōshin ||| Also 意成身. (1) A body that is arisen from mind only. Arisen from mind-only. I.e., the body of a buddha is not arisen from the five skandhas--it is created out of consciousness only (See the 寶性論, T 31, p. 83b.) (2) A body arisen from strictly mental factors; this can also be done by a bodhisattva in the bhūmi levels. (3) A body as born out of a certain kind of intent or mindfulness: thus the bodhisattva body, śrāvaka body, etc. 〔二障義HPC 1.797b〕 => 1. Còn gọi là Ý thành thân意成身. 1. Thân sinh khởi do tâm. Sinh khởi chỉ do tâm; như là thân Phật không sinh khởi do ngũ uẩn—mà chỉ hình thành do tâm (xem Bảo tính luận) 2. Thân sinh khởi hoàn toàn do những yếu tố tâm thức; điều nầy hàng Bồ-tát Thập địa có thể thực hiện được. 3. Thân có thể tạo thành do một ý nguyện nào đó từ chính niệm: như thân Bồ-tát, thân Thanh văn v.v...
Ý sinh 意生
[ja] ショウ ishō ||| (1) To arise intention; to arise mental function. (2) Arisen from mind or volition only, rather than from physical causes. (3) 'Mind-only.' (4) Human beings. => 1. Sinh khởi ý định; phát khởi tâm sở. 2. Chỉ sinh khởi do tâm ý hay ý chí hơn là do từ các nguyên nhân vật lý. 3. 'Duy tâm, duy thức'. 4. Loài người.
ý tam
The three evils which belong to intellect: tham lobha, desire; sân dvesa, dislike; si moha, delusion.
; Ba ác thuộc về tâm (tham dục, sân khuể, ngu si)—The three evils belong to intellect (lobha—desire, dvesa—dislike, moha—delusion). ** For more information, please see Thân Tam Khẩu Tứ Ý Tam.
ý thanh
Mano-jṇāghosa (S)Tên một vị sư.
ý thành
Ý Sinh hay do năng lực của ý mà thân được thành lập—Mentally evolved, or evolved at will—See Ý Sinh Thân.
ý thành thiên
5446指色界、無色界之諸天。謂捨離欲界之飲食,而僅以意識存在之天人;亦即非緣父母精血等而生,乃由意之所欲而化生之天。(參閱「意生身」5445)
; Devas independent from the nourishment of the realms of form and formlessness, who live onlyin the realm of mind.
; Chư Thiên xa lìa khỏi việc ăn uống ở cõi sắc và vô sắc giới, mà chỉ tồn tại bằng ý thức (loại Trời không sinh ra bằng tinh cha huyết mẹ, mà chỉ nhờ sở dục của ý)—Devas independent of nourishment of the realm of form and formlessness, who live only in the realm of mind. **For more information, please see Ý Sinh Thân.
ý thành thân
See Ý Sinh Thân.
Ý thành thân 意成身
[ja] イジョウシン ijōshin ||| See 意生身. => Xem Ý sinh thân意生身.
ý thú
5448意志之趨向。即內心所欲表示之意向。佛陀說法有平等、別時、別義和補特伽羅等四種意趣,稱爲四意趣或四意。 (一)平等意趣,又作平等意。此爲蠲除分別見,立於平等之立場所說。例如,釋迦牟尼佛雖非昔日之毘婆尸佛,但站在平等之立場,其所證悟之真理,與諸佛平等不二,故亦可謂「我是毘婆尸佛」。 (二)別時意趣,又作別時意。即爲除去懈怠之障礙而宣說之教法。例如眾生修行之利益將見於別時,然爲免眾生懈怠,故以即時可得之方便說法鼓勵之,例如稱念阿彌陀佛即可往生極樂世界,此即最佳之說明。然此亦有二說,一爲一行別時意,一爲唯願別時意。前者謂不具足萬行則無法成佛,卻說唯念佛一行即可成佛,故又稱成佛別時意。後者謂不具足願行則不得往生,卻說僅憑發願即得往生,故又稱唯願無行別時意、往生別時意。以上兩種情況皆爲方便之說,若論具足萬行而成佛者,或願行具足而往生者,其實均得期於遙遠之未來。 (三)別義意趣,又作別義意。此指爲除去聽者輕慢教法之障,而以另一意義來說明之意趣。例如由於在過去世曾經承事諸佛,故今日得以了解大乘佛法。此「了解」其實便是「證悟」之意。 (四)補特伽羅意趣,又作眾生意樂意趣、眾生樂欲意。補特伽羅(梵 pudgala)係指人,意謂眾生。此乃隨順眾生之性格、志向而宣說各種教法,藉以打破其低層次之滿足感。例如對貪吝者則讚歎布施行爲;對執著於布施者,則斥責布施之行爲。〔攝大乘論卷中(梁譯)、攝大乘論卷上(魏譯)、攝大乘論釋論卷五、攝大乘論本卷中、觀經玄義分傳通記卷五〕
; The direction of the mind, or will.
ý thế hành
5447三種神用之一。謂欲至極遠,則有緣舉心時,身即能如意而至之勢。三種神用即指運身、勝解、意勢三者,爲六通中第一神境通之行用。運身,謂乘空而行,猶如飛鳥。勝解,謂向極遠作近之思惟而能疾速至彼。〔大毘婆沙論卷一四一〕
ý thủ
The direction of mind or will.
ý thủy
The mind or will to become calm as still water, on entering samàdhi.
; Lúc vào định thì tâm ý trở nên bình lặng như mặt nước yên tịnh—The mind or will to become calm as still water, on entering samadhi.
Ý thức
意識; S: manovijñāna; P: manoviññāṇa;|Thức dựa trên cơ bản tin tức truyền đến từ năm giác quan còn lại. Ðối tượng của ý thức là tất cả những vật chất hiện hữu và ý nghĩ. Ý thức bao gồm những hoạt động của tâm như tưởng tượng, phê bình, so sánh… (Pháp tướng tông, Duy thức tông).
ý thức
5449<一>梵語 mano-vijñāna。六識(或八識、九識)中之第六識。在西洋哲學中視之爲「能把握客觀對象之心機能」。廣義言之,即吾人所有諸種經驗,從原始之感覺至高度之思考均包括在內。凡能統攝多種經驗內容之作用,皆稱爲意識。至於意識與物質之關係,乃哲學上之核心問題,觀念論(唯心論)否定物質之獨立性,視意識(思考、精神)爲一切之根源;反之,唯物論視意識爲物質(存在、自然)之產物。佛教則將精神分爲三:(一)心(梵 citta,集起),即精神之主體。(二)意(梵 manas,思量)。(三)識(梵 vijñāna,了別),即精神之作用。意識所附帶微細之精神作用(心所),雖有各種類別,但與心、意、識能完全把握對象之綜合性精神作用(心王)仍有其區別。狹義而言,意識即指六識或八識中之第六識。意識與物質界、現象界之關係,在大乘佛教,以唯識宗爲典型代表,特別強調物質界爲意識所現,此即佛教所謂之唯心論,而非存在論立場所謂之唯心論,乃係自實踐論立場來強調心之整體性,不主張心和意識爲唯一之存在。故知佛教所謂之心,並無實體可得(無自性),此爲佛教教義之根本原理。 蓋依唯識宗之說,眼、耳、鼻、舌、身等前五識各緣色、聲、香、味、觸等五種對境,然此五識僅由單純的感覺作用來攀緣外境,而不具有認識、分別對境之作用;第六意識始具有認識、分別現象界所有事物之作用,故又稱分別事識;乃前五識共同所依據者,故又稱意地。五識即須與此第六識共同俱起,方能了別對境。又以五識僅能各緣自境,故又稱各別境識;意識則能遍緣一切境,舉凡對內對外之境,不論有形無形,皆可廣緣,或過去、現在、未來三世,皆可亙及,具有比知、推測之作用,故又稱一切境識、廣緣識。 唯識宗又將意識分爲五俱意識與不俱意識兩種。(一)五俱意識,與前五識並生,明了所緣之境,故又稱明了意識。復可分爲:(1)五同緣意識,係與前五識俱起,且緣同一對境之意識。(2)不同緣意識,雖與前五識俱起,然緣其他之異境。(二)不俱意識,不與前五識俱起,而係單獨發生作用之意識。亦分二種:(1)五後意識,雖不與前五識俱起並生,然亦不相離而續起。(2)獨頭意識,有定中、獨散、夢中等三種之別。1.定中意識,又稱定中獨頭意識。係與色界、無色界等一切定心俱起之意識,乃禪定中發生之意識活動。2.獨散意識,又稱散位獨頭意識。係指脫離前五識而單獨現起,追憶過去、預卜未來,或加以種種想像、思慮等計度分別之意識。3.夢中意識,又稱夢中獨頭意識。乃於睡夢中朦朧現起之意識作用。又上記之外,亦有將意識概分爲明了意識、定中意識、獨散意識、夢中意識等四種,並稱爲四種意識。 要言之,第六意識乃八識中最猛利、最敏捷者,具有自由自在之能力,三界九地,一切迷悟昇沈之業,無一不由此意識所作。 又第七識爲末那識,末那之梵語爲 manas,意譯爲「意」,思量之義,若採取意譯,則易與第六意識混同。然此二識於梵語原文中皆有「意識」之意,此因第六識乃以末那識爲所依,故知第六識之所以稱爲「意」者,即由「依意之識」而來;第七之末那識,其原文 manas,則表示「意即是識」,其識之本身即名爲「意」。此乃兩者名義接近、所依與作用迥別,而一用音譯、一用意譯之緣故。〔大毘婆沙論卷七十一、俱舍論卷二、卷三、成唯識論卷七、大乘起信論、俱舍論光記卷二、卷三、百法問答鈔卷一〕(參閱「四種意識」1816) <二>眼、耳、鼻、舌、身、意等六識之全部,亦統稱爲意識。
; yid kyi namshe (T), Mental consciousness.
; Manovijnàna (S). The faulty of mind, one of the six vijnànas.
; Mano-vinnana (p)—Manovijnana (skt)—Consciousness—Knowing or thought faculty—Một trong sáu thức, ý thức không tùy thuộc vào bất cứ căn nào, nhưng lệ thuộc vào sự liên tục của tâm. Ý thức chẳng những nhận biết cả sáu đối tượng gồm sắc, thanh, hương, vị, xúc và các hiện tượng trong quá khứ, hiện tại và ngay cả vị lai. Ý thức sẽ cùng ta lữ hành từ kiếp nầy qua kiếp khác, trong khi năm thức trước chỉ là những tâm tạm thời. Ý thức còn là một trong năm uẩn—Awareness—Consciousness—The faculty of mind—Mental consciousness—Discrimination and comprehension consciousness—Consciousness of mind or thought—One of the six vijnanas, a mind which does not depend on any of the five sense faculties, but on the immediately preceding continuum of mind. Mental consciousness apprehends not only objects (form, sound, taste, smell, touch) in the present time, but it also apprehends objects in the past and imagines objects even in the future—Mental consciousness will go with us from one life to another, while the first five consciousnesses are our temporary minds. Consciousness is also one of the five skandhas—See Bát Thức, and Ngũ Uẩn.
ý thức thô thiển
Gross mental consciousness—All mental consciousness or conceptual thought which functions during the daytime is a gross mental consciousness.
ý thức vi tế
Subtle mental consciousness—Subtle mental consciousness develops during sleep (dream minds) and also during death process.
ý thức vô cùng vi tế
Very subtle mental consciousness.
ý thức đạo đức
Moral consciousness.
Ý thức 意識
[ja] シキ ishiki ||| (Skt. mano-vijñāna; Tib. yid kyi rnam śes). (1) Thought consciousness, discriminatory consciousness. (2) The 'sixth consciousness' 第六識 among the eight consciousnesses 八識 taught in Yogācāra Buddhism, where it is understood to arise based on the organ of thought, the manas consciousness 末那識. It is able to gather and discriminate the sense data derived from the five sense consciousnesses, thus discriminating all the aspects of the environment. It also works with past and future objects, recalling the past and planning for the future. 〔成唯識論T 1585.31.〕Since it arises depending on the manas, it shares many of the afflictions of the manas. (3) In the Awakening of Faith, attachment which arises based on consciousness. Even though the mano consciousness is not different from the continuing consciousness 相續識, the continuing consciousness is subtle, while the mano consciousness is coarse, and so the mano consciousness can be interpreted as the more manifest function of the continuing consciousness. 〔起信論T 1666.32.577c〕 => (Skt. mano-vijñāna; Tib. yid kyi rnam śes). 1. Thức suy lường, thức phân biệt. 2. Thức thứ sáu trong hệ thống tám thức trong giáo lý của Du-già hành tông Phật giáo, nơi được xem là căn cứ phát sinh cơ quan suy nghĩ, là mạt-na thức. Nó có khả năng gom giữ và phân biệt các dữ liệu có ý nghĩa từ năm giác quan, như phân biệt mọi khía cạnh của môi trường chung quanh. Nó còn kết hợp với dữ kiện quá khứ và tương lai, hối tưởng quả khứ và dự tính cho vị lai. Do nó sinh khởi tuỳ thuộc vào mạt-na thức, nên nó có dự phần vào các phiền não của mạt-na thức. 3. Theo luận Đại thừa khởi tín, đó là những kế chấp sinh khởi dựa vào ý thức. Dù mạt-na thức không khác Tương tục thức, nhưng Tương tục thức thì vi tế, còn mạt-na thức thì thô trọng, như thế nên mạt-na thức có thể hiểu như là chức năng biểu hiện của Tương tục thức.
ý tưởng
Saa (S), Perception ý phận biệt (nhận trắng, đen, dài, ngắn...).
ý tứ
Idea—Thought.
ý viên
The mind as intractable as a monkey.
; Tâm khó uốn nắn như tâm con khỉ—The mind as intractable as a monkey. ** For more information, please see Ý Mã.
ý vị
Significant.
ý xa
The mind vehicle, the vehicle of intellectual consciousness, the imagination.
; Cỗ xe tâm thức hay một sự tưởng tượng—The mind vehicle, the vehicle of intellectual consciousness, the imagination.
ý xứ
Manayatana (S).
; The mind-sense, the mind, the sixth of the six senses.
; Ý xứ hay tâm, một trong lục xứ hay thập nhị xứ—The mind-sense, the mind, the sixth of the six senses or the twelve entrance. ** For more information, please see Lục Nhập, and Thập Nhị Nhập in Vietnamese-English Section.
Ý xứ 意處
[ja] ショ isho ||| (mana-āyatana) One of the 'twelve loci 十二處.' The faculty of consciousness among the six consciousnesses. In the Abhidharmakośa-bhāsya it is called qixinjie 七心界. The locus of the mind. In Consciousness-only theory, the eight 'mind king' 心王 (xinwang) elements are counted in this category. => (s: mana-āyatana) Một trong Thập nhị xứ. Cơ quan của thức trong 6 thức. Theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, nó được gọi là Thất tâm giới. Là căn cứ của ý thức. Theo giáo lý Duy thức, là 8 tâm vương bao gồm trong phạm trù nầy.
Ý âm 意陰
[ja] イオン ion ||| Intention-cluster. That which is formed into a composite based on the mind, or intention. A synonym for 意生身.〔寶性論 T 1611.31.830b〕 => Nơi nhóm chứa những ý định. Những điều tạo nên một hợp thể của tâm ý hay ý định. Đồng nghĩa với Ý sinh thân 意生身.
ý đoạn
Samyak-prahana (skt)—Idea severance.
ý đại lợi
Italy.
ý địa
5446又作意識、意根。凡個體之內心能生起一切思想者,稱爲意地。可略分下列二說:(一)指第六識(意識),可全面支配個體之存在,亦爲吾人產生認識作用、成就萬事之根源。(二)指意識之省察階段。〔俱舍論卷十、瑜伽論記卷一〕
; The stage of intellectual conscioueness, being the sixth vijnàna, the source of all concepts.
; Ý là thức thứ sáu, là nơi chi phối toàn thân, là nơi phát sanh ra vạn hữu—The stage of intellectual consciousness, being the sixth vijnana, the source of all concepts.
ý định
Sancetana (p)—Ý định—Ý muốn—Ý nghĩ—Intetion—Purpose—Thought--Volition.
ý định làm việc gì
Intention or desire to make or do or perform something.
ý đồ chính trị
Political whims.
Ý 意
[ja] イ i ||| (1) (Skt. manas, citta Tib. yid). Consideration, mind, thought, idea. The action of the pondering mind. (2) As one of the twelve loci (十二處), the mind locus. (3) The mano (sixth) consciousness 意識. (4) In Sarvāstivādin 説一切有部 theory, the mental faculty (of the six faculties), functioning to cognize. The mind organ--synonymous with 心 and 識. (5) In "eight consciousness" theory (such as in the Yogācāra school), it is a term for the seventh (manas 末那) consciousness. In this case, the mano consciousness is usually expressed as 識. 〔顯揚論, T 1602.31.480c16-28〕(6) Aim, intention (abhiprāya). (7) Inclination (āśaya). (8) (The Buddha's) teaching. (9) Deluded thought mistakenly produced in the mind. => 1. (s: manas, citta; t: yid). Sự suy nghĩ, tâm ý, tư tưởng, ý tưởng. Hành động của tâm suy xét. 2. Là một trong Thập nhị xứ, nơi phát sinh tác dụng của tâm. Thức thứ sáu (ý thức). Theo Nhất thiết hữu bộ (s: Sarvāstivādin 説一切有部) là Ý căn (của sáu căn), có tác dụng nhận thức. Ý căn--Đồng nghĩa với Tâm心 và Thức 識. Trong học thuyết 'tám thức'(như của Duy thức tông), đó là thuật ngữ chỉ cho thức thứ bảy (mạt-na; s: manas 末那). Trong trường hợp nầy, mạt-na thức thường được gọi là Thức. Mục đích, dự định (s: abhiprāya). Khuynh hướng (s: āśaya). Giáo pháp của Đức Phật. Vọng tưởng mê lầm phát sinh từ tâm ý.
ý, mạt na
Manas, mana, mano (S). The sixth of the sadàyatanas or six means of perception, i.e. sight, hearing, smell, taste, touch and mind. Intellectual function of consciousness.
ý٠thành
Mentally evolved, or evolved at will.
ăn chay
To be on a vegetarian diet—To abstain from meat—Phật tử không nên giết hại chúng sanh để ăn thịt. Sát sanh là giới cấm đầu tiên trong ngũ giới. Sát sanh để lấy thịt chúng sanh làm thực phẩm là tội nặng nhất trong Phật giáo. Đức Phật đã không cho rằng việc đề ra cách ăn chay cho các đệ tử tu sĩ của mình là điều thích đáng, điều mà Ngài đã làm là khuyên họ tránh ăn thịt thú vật, vì cho dù là loại thịt gì đi nữa thì ăn thịt vẫn là tiếp tay cho sát sanh, và thú vật chỉ bị sát hại để làm thực phẩm cho người ta mà thôi. Chính vì thế mà trước khi nhập diệt, Ngài khuyên tứ chúng nên ăn chay. Tuy nhiên, có lẽ Đức Phật không đòi hỏi các đệ tử tại gia của Ngài phải trường chay. Người Phật tử nên ăn chay có phương pháp và từ từ. Không nên bỏ ăn mặn ngay tức thời để chuyển qua ăn chay, vì làm như vậy có thể gây sự xáo trộn và bệnh hoạn cho cơ thể vì không thể ăn những món chay có đủ chất dinh dưỡng; phải từ từ giảm số lượng cá thịt , rồi sau đó có thể bắt đầu mỗi tháng hai ngày, rồi bốn ngày, sáu ngày, mười ngày, và từ từ nhiều hơn. Phật tử nên ăn chay để nuôi dưỡng lòng từ bi và tinh thần bình đẳng, mà còn tránh được nhiều bệnh tật. Ngoài ra, thức ăn chay cũng có nhiều sinh tố bổ dưỡng, thanh khiết và dễ tiêu hóa. Chúng ta không nên phán xét ai thanh tịnh hay bất tịnh qua chay mặn, thanh tịnh hay bất tịnh là do tư tưởng và hành động thiện ác của người ấy. Tuy nhiên, dù sao thì những người ăn trường chay được thì thật là đáng tán thán. Còn những người ăn mặn cũng phải cẩn trọng, vì dù biện luận thế nào đi nữa, thì bạn vẫn là những người ăn thịt chúng sanh. Bạn có thể nói “tôi không nghe,” hay “tôi không thấy” con vật bị giết, nhưng bạn có chắc rằng những con vật ấy không bị giết vì mục đích để lấy thịt làm thực phẩm cho bạn hay không? Cẩn trọng!!!—Buddhists should not kill living beings to eat. Killing or slaughtering is the first of the five precepts. Killing animals for food is among the worst transgression in Buddhism. The Buddha did not feel justified in prescribing a vegetarian diet for his disciples among the monks. What he did was to advise them to avoid eating meat because for whatever reason, eating meat means to support 'killing,' and animals had to be slaughtered only to feed them. Thus, before His parinirvana, the Buddha advised his disciples (monks and nuns) to practice vegetarianism. However, the Buddha did not insist his lay disciples to adhere to a vegetarian diet. Buddhists should practice vegetarianism methodically and gradually. We should not give up right away the habit of eating meat and fish to have vegetarian diet. Instead, we should gradually reduce the amount of meat and fish, then, start eating vegetables two days a month, then four days, ten days, and more, etc. Eating a vegetarian diet is not only a form of cultivating compassion and equality, but it is also free us from many diseases. Furthermore, such a diet can provide us with a lot of vitamins, and easy to digest. We should not judge the purity and impurity of a man simply by observing what he eats. Through his own evil thoughts and actions, man makes himself impure. Those who eat vegetables and abstain from animal flesh are praiseworthy. Those who still eat meat should be cautious, for no matter what you say, you are still eating sentient beings' flesh. You can say “I don't hear,” or “I don't see” the animal was killed for my food, but are you sure that the purpose of killing is not the purpose of obtaining food for you? Be careful!!!
ăn chơi
To lead a life of pleasures without working to earn a living.
ăn chắc
To be sure—To be firm.
ăn cơm có canh, tu hành có bạn
As a proverb says: “Rice should be eaten with soup, cultivation should be conducted with friends.”
ăn cơm tiệm
To eat at a restaurant—To dine out.
ăn cưới
To participate in a wedding banquet.
ăn cướp
To loot—To rob.
ăn cắp
To steal—To rob.
ăn gian
To cheat—To defraud.
ăn hiếp
To bully—To henpeck—To domineer.
ăn hoa hồng
To receive a commission.
ăn hại
To live on someone's expenses.
ăn hối lộ
To take a bribe.
ăn khao
To have a banquet to celebrate some special event.
ăn không ngon
Eating is not as tasteful (pleasurable) as before.
ăn kiêng cử
To be on diet.
ăn lương
To receive one's salary.
ăn lường
Ăn quịt—To eat without paying.
ăn lạt
To be on a vegetarian diet—To abstain from meat.
ăn lận
To cheat—To defraud.
ăn mau
To eat quickly.
ăn mày
Beggar.
ăn mặc
To dress—To attire.
ăn mặn
See Ăn thịt.
ăn mừng
To celebrate.
ăn ngay ở thật
To be sincere.
ăn ngon
Good to eat—To have a good appetite.
ăn ngon miệng
To eat with a good appetite.
ăn như heo
To eat like a pig—To eat greedily.
ăn nhậu
To eat and drink liquor.
ăn năn
Vippatisàra (P). Remorse, repentance.
; To repent—To remorse—To repent oneself of something.
ăn qua loa
To have a snack.
ăn quá nhiều
To overeat—To eat too much.
ăn rau
To eat on vegetables.
ăn sung mặc sướng
To be in easy circumstance.
ăn sâu vào
To deep-root.
ăn sống
To eat uncooked.
ăn theo thuở, ở theo thì
When at Rome, do as the Romans do.
ăn thua
To win or lose.
ăn thịt
To eat a meat diet--To eat flesh.
ăn thử
To sample food.
ăn tiêu
To spend money.
ăn tiệc
To attend a banquet.
ăn trộm
Thief—Burglar.
ăn tân gia
To have an open house.
ăn uống
Eating and drinking.
ăn vụng
To eat stealthily.
ăn xổi ở thì
To live from day to day with no thought of tomorrow.
ăn ý
To understand one another.
Ăng-kor Wat
Di tích quan trọng tại Campuchia, được xem là tuyệt đỉnh của nghệ thuật và kiến trúc Khmer.|Ðược xây dựng dưới thời vua Surja-warman II (1113-1150), Ăng-kor Wat mới đầu để thờ thần Viśnu của Ấn Ðộ giáo. Về sau, khi vương triều Khmer theo Phật giáo, Ăng-kor Wat trở thành linh đền thờ Phật. Sau khi bị người Thái Lan huỷ diệt và các nhà vua Khmer bỏ về Phnom Penh trong thế kỉ 15, Ăng-kor Wat rơi vào quên lãng, bị rừng già vây phủ và được khám phá lại trong thế kỉ thứ 19.
đa
2325悉曇字???(ta)。又作哆、怛、他。悉曇體文「五類聲」中齒聲之第一,或為五十字門之一,四十二字門之一。大品般若經卷五、方廣大莊嚴經卷四、大日經卷二、大智度論卷四十八等以多字為如是(梵 tathā)、真如(梵 tathatā)之首字,而闡釋「多」為一切法如如不動。另據大日經疏卷七解釋多字為如如不可得之義(大三九‧六五三下):「多字門,一切諸法如如不可得故者。梵云哆他多,是如如義。語勢中兼有得聲,證得如如即是解脫義。如謂諸法實相,種種不如實見戲論皆滅,常如本性不可破壞。若見多字門,即知一切諸法皆是如如相。」故知古來稱此多字為「如如之多字」。此外,守護國界主陀羅尼經卷三,將多字解釋為「一切法真實義」。〔大般若經卷四九○、華嚴經普賢行願品卷三十一、悉曇藏卷五、卷六〕(參閱「悉曇」4564)
; Bahu, bhùri (S). Many, all.
; Bahu (skt)—Many.
; (多) Chữ Tất đàm (ta). Cũng gọi Đá, Đát, Tha. Một trong 50 hoặc 42 chữ cái Tất đàm, loại thứ nhất trong năm loại thanh (xỉ thanh). Kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5, kinh Đại phương quảng trang nghiêm quyển 4, kinh Đại nhật quyển 2, luận Đại trí độ quyển 48 v.v... lấy Ta làm chữ đầu của chữ Tathà (Như thị), Tathatà (Chân như) mà giải thích chữ Ta là nghĩa tất cả pháp như như bất động. Đại nhật kinh sớ quyển 7 thì giải thích chữ Ta là nghĩa như như bất khả đắc (Đại 39, 653 hạ): Chữ Ta là tất cả pháp như như bất khả đắc. Tiếng Phạm Tathatà nghĩa là như như. Trong ngữ thế có tiếng đắc (được), chứng đắc như như tức là nghĩa giải thoát. Như nghĩa là thực tướng các pháp, trong thực tướng, những thứ hí luận không thấy đúng như thực thì đều diệt hết, bản tính thường như không thể phá hoại. Nếu thấy chữ Ta (đa) liền biết tất cả pháp đều là tướng như như. Bởi thế xưa nay gọi chữ Đa này là chữ Đa như như. Ngoài ra, kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni quyển 3 giải thích chữ Đa là nghĩa Tất cả pháp chân thực. [X. kinh Đại bát nhã Q.490; Hoa nghiêm kinh Phổ hiền hành nguyện phẩm Q.31; Tất đàm tạng Q.5, Q.6]. (xt. Tất Đàm).
Đa Bảo
多寶; tk. 10-11|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ năm. Sư nối pháp Khuông Việt Thái sư. Môn đệ kế thừa xuất sắc của Sư là Ðịnh Hương Trưởng lão.|Không rõ Sư quê ở đâu, họ gì. Khi Khuông Việt khai đường giáo hoá tại chùa Khai Quốc, Sư đến tham học và được Khuông Việt khen và riêng cho vào thất chỉ dạy.|Sau khi đắc pháp, Sư chỉ ôm bình bát diêu du đây đó. Khi gặp Lí Thái Tổ lúc còn nhỏ, Sư sớm biết rằng ông sau này sẽ lên làm vua. Ðúng như lời tiên đoán của Sư, Thái Tổ lên ngôi và thường hay thỉnh Sư vào cung thưa hỏi yếu chỉ của Thiền tông. Vua cũng ra lệnh trùng tu chùa Kiến Sơ ở làng Phù Ðổng, nơi Sư trụ trì.|Không biết Sư tịch năm nào, nơi nào.
đa bảo
1) Đa Bảo Như Lai: Prabhutaratna Buddha (skt)—Một vị cổ Phật (ở thế giới Đông Phương Bảo Tịnh) đã nhập Niết bàn, đã xuất hiện nghe Phật Thích Ca thuyết kinh Pháp Hoa (phẩm 11), do sự hiện diện của Phật Đa Bảo, chúng ta thấy Niết bàn không phải là sự hủy diệt. Phật Đa Bảo là một hình ảnh quan trọng trong Kinh Pháp Hoa: một tòa bảo tháp cổ nổi lên từ dưới đất (tòng địa dõng xuất), một vị cổ Phật từ đó bước ra. Biểu tượng nầy tượng trưng cho chân lý trường tồn, dù đôi khi chân lý ấy bị lu mờ hay chôn vùi; cũng có lúc nó sẽ được phát hiện sáng ngời—Abundant-treasures (Many Jewels) Buddha—The Ancient Buddha, who entered Nirvana a long long time ago, who appeared in his stupa to hear the Buddha preach the Lotus Sutra (chapter 11), by his presence revealing that nirvana is not annihilation. Prabhutaratna Buddha, an important image in the Lotus Sutra: an ancient monument emerges from the ground, opens up, and reveals an extinct Buddha, named Prabhutaratna, who although extinct is still alive and teaching. This symbolizes the idea that truth is eternal, even though it may sometimes be concealed or forgotten, sometimes revealed or rediscovered. 2) Đa Bảo Thiền Sư—Zen Master Đa Bảo: Một vị sư Việt Nam nổi tiếng vào thế kỷ thứ mười một, pháp tử đời thứ 11 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Không ai biết quê ngài ở đâu. Khi ngài gặp Thiền sư Khuông Việt và trở thành một trong những đệ tử xuất sắc của Thiền Sư Khuông Việt. Sau khi đắc pháp, ngài trở thành du Tăng khất sĩ. Sau đó vua Lý Thái Tổ cho trùng tu chùa Kiến Sơ và thỉnh ngài về trụ, nhưng ít lâu sau đó ngài lại đi du phương hoằng hóa và không ai biết ngài đi đâu và thị tịch hồi nào—A famous Vietnamese monk in the eleventh century, dharma heir of the fifth lineage of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. His origin was unknown. He met Zen Master Khuông Việt at Khai Quốc Temple and became one of his most outstanding disciples. After he became the Dharma heir of Khuông Việt, he became a wandering monk for several years. Later, King Lý Thái Tổ ordered his mandarin to rebuild Kiến Sơ Temple and invited him to stay there, but a short time later he became a wandering monk again. His whereabout and when he died were unknown.
đa bảo như lai
Xem Đa bảo Phật.
đa bảo phật
2336多寶,梵名 Prabhūtaratna,音譯袍休羅蘭。又作寶勝佛、大寶佛、多寶如來。據法華經卷四見寶塔品之說,多寶佛係法華經之讚歎者,為東方寶淨世界之教主。亦為五如來之一。此佛入滅後,以本願力成全身舍利,每當諸佛宣說法華經時,必從地踊出,現於諸佛之前,以為法華經之真實義作證明。又多寶佛所踊出之七寶塔,係由無數寶珠嚴飾之,此乃表示一切諸佛國土同一寶性之意。另多寶佛與釋迦牟尼佛並坐於七寶塔中,則顯示諸佛皆為成就度化眾生之大事,而示現於世間。我國自古以來,法華信仰頗為盛行,隨著法華經之說興盛,故亦流行造立多寶塔,於大同雲岡石窟中,即有不少多寶塔之遺蹟。 關於其形像,據法華曼荼羅威儀形色法經之偈載,頭有烏瑟紺髮冠,眉間放索毫光,普照一切,身呈黃金色,結定慧智拳印,身披袈裟衣,跏趺安坐於大蓮華上。諸經每以多寶佛為金剛界之大日如來,而以釋迦佛為胎藏界之大日如來。〔大智度論卷七、法華文句卷八下、法華義疏卷九、慧琳音義卷二十八〕
; PrabhŪtaratna (S), TrabhŪtaratna (S)Một vị cổ Phật.Đa bảo Như Lai, Bảo Thắng Phật, Đại Bảo PhậtTên một vị Phật hay Như Lai.
; Prabhùtaratna-Buddha (S). Đa bảo: abundant treasures, many jewels.
; (多寶佛) Đa bảo, Phạm: Prabhùtaratna. Dịch âm: Bào hưu la lan. Cũng gọi Bảo thắng Phật, Đại bảo Phật, Đa bảo Như lai. Cứ theo phẩm Bảo tháp trong kinh Pháp hoa quyển 4 nói, thì đức Phật Đa bảo là người khen ngợi kinh Pháp hoa, là vị Giáo chủ của thế giới Bảo tịnh phương Đông. Cũng là một trong năm đức Như lai. Sau khi đức Phật Đa bảo nhập diệt, do sức bản nguyện nên toàn thân thành xá lợi, mỗi khi có đức Phật nào tuyên thuyết kinh Pháp hoa thì Phật Đa bảo từ dưới đất hiện lên, đứng trước đức Phật ấy để chứng minh nghĩa chân thực của kinh Pháp hoa. Còn tháp bảy báu của Phật Đa bảo từ dưới đất nhô lên được trang sức bằng vô số bảo vật là biểu thị ý nghĩa tất cả cõi nước của chư Phật đều cùng một tính quí báu. Phật Đa bảo và Phật Thích ca mâu ni cùng ngồi trong tháp là hiển bày nghĩa chư Phật đều vì đại sự thành tựu việc giáo hóa chúng sinh mà thị hiện ở thế gian. Tại Trung quốc, từ xưa đến nay, tín ngưỡng kinh Pháp hoa rất thịnh hành, do đó, nhiều tháp Đa bảo cũng đã được tạo lập, như trong hang đá Vân cương ở Đại đồng còn lại không ít di tích của tháp này. Về hình tượng của Phật Đa bảo, cứ theo bài kệ trong kinh Pháp hoa mạn đồ la uy nghi hình sắc pháp chép, trên đầu có nhục kế như búi tóc mầu xanh đậm hình chiếc mũ, giữa khoảng chân mày phóng ra ánh sáng chiếu khắp tất cả, thân mầu vàng ròng, kết Trí quyền ấn định tuệ, mình mặc ca sa, ngồi kết già trên hoa sen lớn. Các kinh thường lấy Phật Đa bảo làm Đại nhật Như lai của Kim cương giới và lấy Phật Thích ca làm Đại nhật Như lai của Thai tạng giới. [X. luận Đại trí độ Q.7; Pháp hoa văn cú Q.8 phần dưới; Pháp hoa nghĩa sớ Q.9; Tuệ lâm âm nghĩa Q.28].
đa bảo tháp
2337又稱多寶佛塔。乃安置多寶如來之塔。此塔之建立,係根據法華經卷四見寶塔品之說而來。我國自古因法華信仰盛行,故造立多寶塔之風氣亦頗興盛,如大同雲岡石窟、龍門石窟等皆有多寶塔之遺蹟;一般多於寶塔中安置釋迦、多寶二佛並坐之相,此乃依法華經中多寶佛分半座予釋迦佛之記載而來。又六朝時代之多寶塔,大多建造成三層塔之形式。此外,據佛祖統紀卷四十唐開元二十年條、大唐西京千福寺多寶佛塔感應碑等所舉,可知唐代諸多寺院,即有多寶塔之建造。 在日本,長谷寺所藏銅版千佛多寶佛塔圖,其塔為古代三層寶塔式之建築。至後世則稱雙層式之寶塔為多寶塔;其下層有三間,上層軸部有圓壔形,上下連接部為饅頭形(龜腹),此為其特色。日本高野山之根本大塔(瑜祇塔),即與此種形式相同。此外,日本多寶塔之遺蹟,尚有鎌倉時代之石山寺、金剛三昧院(高野山)、慈眼院(大阪)、淨土寺(廣島)、長保寺(和歌山)等,皆屬日本國寶。其中,以石山寺之多寶塔,為日本現存最古之遺蹟。又依密教之解釋,用於墓石之多寶塔或與寶塔相同,其亦有多層者。
; (多寶塔) Cũng gọi Đa bảo Phật pháp. Tháp thờ đức Đa bảo Như lai. Tháp này được kiến tạo căn cứ theo lời dạy trong phẩm Kiến bảo tháp của kinh Pháp hoa quyển 4. Ở Trung quốc từ xưa do tín ngưỡng Pháp hoa thịnh hành, nên sự xây dựng tháp Đa bảo cũng rất phổ biến, như trong các hang đá Vân cương, Long môn ở Đại đồng hiện còn có di tích của tháp này. Trong tháp phổ thông thờ tượng đức Phật Thích ca và Phật Đa bảo ngồi chung, là căn cứ vào việc đức Phật Đa bảo chia nửa tòa ngồi cho Phật Thích ca được ghi chép trong kinh Pháp hoa. Tháp Đa bảo ở thời Lục triều phần nhiều được kiến tạo theo kiểu tháp ba tầng. Ngoài ra, cứ theo điều Đường khai nguyên nhị thập niên trong Phật tổ thống kỉ quyển 4 và bia cảm ứng về tháp Phật Đa bảo ở chùa Thiên phúc tại Tây kinh đời Đường ghi chép, có thể biết được là đa số các chùa viện ở đời Đường đều có tạo lập tháp Đa bảo. Tại Nhật bản, chùa Trường cốc còn tàng trữ bức tranh Thiên Phật Đa bảo Phật tháp khắc trên bản đồng, tháp này được kiến trúc theo kiểu bảo tháp ba tầng thời cổ đại. Đến đời sau thì gọi bảo tháp kiểu hai tầng là tháp Đa bảo; tầng dưới có ba gian, tầng trên có cây cột hình tròn, bộ phận nối liền tầng dưới với tầng trên có hình khum (vòm): đó là đặc sắc của kiểu tháp này. Đại tháp căn bản (tháp Du kì) ở núi Cao dã tại Nhật bản thuộc loại tháp này. Ngoài ra, di tích tháp Đa bảo còn lại ở các chùa viện thuộc thời đại Liêm thương như: chùa Thạch sơn, viện Kim cương tam muội (núi Cao dã), viện Từ nhãn (Đại phản), chùa Tịnh độ (Quảng đảo), chùa Trường bảo (núi Hòa ca) v.v... đều thuộc về quốc bảo của Nhật bản. Trong đó, tháp bảo của chùa Thạch sơn là di tích xưa nhất hiện còn. Lại theo sự giải thích của phật giáo, tháp Đa bảo ở các mộ đá, cũng giống như tháp báu, cũng có nhiều tầng.
đa bảo tháp bi
2337為記載唐代西京千福寺僧楚金造多寶佛塔感應緣起之碑。碑文內容謂:楚金靜夜持誦法華經見寶塔品時,忽見寶塔宛在目前,乃誓以六年建塔,於唐天寶元年(742)開始營建,六年後,恭寫法華經千部以鎮之,至天寶十一年塔始成。此碑由岑勛撰文,徐浩篆額,顏真卿書。顏書嚴整圓健,字體稍小,清時館閣書體多臨摹此碑,乃取其整飭之致。據岑勛之西京千福寺多寶佛塔感應碑載:「粵若妙法蓮華諸佛之祕濩也,多寶佛塔證經之踊現也。」又據清代孫星衍之寰宇訪碑錄:「千福寺多寶塔感應碑,岑勛撰,顏真卿正書,天寶十一載四月。」
; (多寶塔碑) Bia ghi lại nguyên do kiến tạo tháp Đa bảo của ngài Sở kim ở chùa Thiên phúc tại Tây kinh đời Đường. Nội dung văn bia nói: Một đêm tĩnh mịch, ngài Sở kim trì tụng kinh Pháp hoa đến phẩm Kiến bảo tháp, ngài bỗng thấy Bảo tháp hiện ra rõ ràng ở trước mắt, liền nguyện xây dựng tháp và khởi công vào niên hiệu Thiên bảo năm đầu (742) đời Đường. Sáu năm sau, ngài Sở kim lại phát tâm chép 1.000 bộ kinh Pháp hoa để trấn tháp, đến năm Thiên bảo 11 (752) tháp mới được hoàn thành. Bia này do Sầm huân soạn văn, Từ hạo khắc chữ triện trên ngạch (trán) bia, Nhan chân khanh viết chữ. Thể chữ của họ Nhan hơi nhỏ, nhưng già dặn và cân đối. Chữ viết trên các lầu gác của đời Thanh phần nhiều phỏng theo thể chữ của bia này. Tây kinh Thiên phúc tự Đa bảo Phật tháp cảm ứng bi do Sầm huân soạn, nói: Nếu Diệu pháp liên hoa là nguồn suối bí mật của chư Phật, thì tháp Phật Đa bảo vọt hiện lên là để chứng kinh.
đa cảm
Sensitive—Emotional.
đa dục
Sensual.
đa già la
See Mộc Hương.
đa già la hương
2327多伽羅,梵語 tagara。又作多揭羅香、多伽留香、多伽婁香、多劫羅香。意譯作根、不沒、木香。多伽羅香係採自多伽羅樹所製成之香。然亦有將多伽羅香視為與零陵香(即由生於零陵山谷之薰草所製成之香)相同者。一般常將多伽羅香與伽羅香混同為一物。據金光明最勝王經卷六「四天王護國品」載,修法時應將此香與安息、旃檀、龍腦等諸香各取等分,和合一處,手執香爐而燒香供養。同經卷七並將此香列為三十二味香藥之第十五。〔北本大般涅槃經卷十一、四分律卷四十二、慧琳音義卷三、翻譯名義集卷八〕
; (多伽羅香) Đa già la, Phạm: Tagara. Cũng gọi Đa yết la hương, Đa già lưu hương, Đa già lâu hương, Đa kiếp la hương. Hán dịch: Căn, bất một, mộc hương. Loại hương được chế từ cây Đa già la. Nhưng cũng có thuyết cho hương đa già la cũng giống như hương linh lăng (hương được chế từ loại cỏ thơm mọc trong khe núi Linh lăng). Thông thường người ta hay coi hương đa già la và hương già la là một thứ. Kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 6 phẩm Tứ thiên vương hộ quốc nói, khi tu pháp phải dùng hương này cùng với các thứ hương khác như an tức, chiên đàn, long não v.v... lấy mỗi thứ một phần bằng nhau trộn làm một, bỏ vào lò hương đốt lên cúng dường. Cũng kinh đã dẫn quyển 7 xếp loại hương này vào hàng thứ 15 trong 32 vị hương dược. [X. kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) Q.11; luật Tứ phần Q.42; Tuệ lâm âm nghĩa Q.3; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.8].
đa hôn
Polygamy—Polygamous (a).
Đa khuy
(多虧): nghĩa đen là nhiều khiếm khuyết, thiếu sót; nhưng cụm từ đa khuy thường được dùng với nghĩa là nhờ vào, may mắn thay. Như trong Dự Nhượng Thôn Thán (豫讓吞炭) của Dương Tử (楊梓, ?-1327) nhà Nguyên có đoạn: “Kim nhật thác thiên địa tỉ hựu, đa khuy Hàn Ngụy nhị quân hiệp mưu, tương Trí thị nhất cổ nhi diệt, phương sấn ngã bình sinh chi nguyện dã (今日托天地庇佑、多虧韓魏二君協謀、將智氏一鼓而滅、方趁我平生之願也, Hôm nay phó thác cho trời đất che chở, may thay hai đấng Hàn, Ngụy cùng lập mưu, đánh dòng họ Trí một trận tiêu diệt, mới thỏa nguyện ước bình sinh của ta).”
đa khẩu a sư
2325禪林用語。謂多言之人。碧巖錄第五十則(大四八‧一八五中):「頌云:『鉢裏飯,桶裏水,多口阿師難下嘴。』」
; (多口阿師) Người nói nhiều, lắm lời. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Bích nham lục tắc 50 (Đại 48, 185 trung), nói: Tụng rằng: Cơm trong bát, nước trong thùng, kẻ nói nhiều (đa khẩu a sư) khó để miệng tới.
đa kiệt giác bạt
2328(1874~?)西康康定人。為黃教喇嘛,剃度於安卻寺。曾入西藏哲蚌寺,修顯密之學十二年。在顯教方面,窮究五部法義;於密法則入曼荼羅,受四河流灌頂,後得格西學位。又於爵巴寺,專修密法三年。其後,宏化藏密於蒙古、五臺、漢口、成都等地。民國十四年(1925),至北京參禮班禪喇嘛,並助大勇修學藏密。民國二十年,朝禮峨嵋山。又由上海、香港經南洋至印度,朝禮蓮華生大士昔日之修法處。後因聞十三世達賴示寂,乃乘馬入藏,駐錫哲蚌寺。譯有密教諸尊儀軌數十種,為漢譯藏密儀軌之始。晚年事蹟不詳。
đa la
2333<一>為梵語 tāla 之音譯。指多羅樹。又作岸樹、高竦樹。盛產於印度、緬甸、錫蘭、馬德拉斯等海岸之砂地,樹高約二十二公尺,為棕櫚科之熱帶喬木。其葉長廣,平滑堅實,自古即用於書寫經文,稱為貝多羅葉;果熟則赤,狀如石榴,可食。又此樹幹若中斷,則不再生芽,故於諸經中多以之譬喻比丘犯波羅夷之重罪。〔法華經卷五分別功德品、集異門足論卷四、大唐西域記卷十一、玄應音義卷二、卷二十四、慧苑音義卷上〕(參閱「貝多羅葉」3009) <二>梵名 Tārā。意譯作眼、眼瞳、妙目精、極度。指多羅菩薩。此菩薩因從觀世音菩薩眼中之光明而出,故得此名。(參閱「多羅菩薩」2334) <三>為梵語 patra(音譯作鉢多羅)之略稱。與「鉢」同義。指鉢盂。多以銀、白銅等鑄造之,呈扁平狀。於釋尊聖誕日(浴佛節)時,即將佛像安置於多羅之中央,以香湯灌浴之。
; Xem Cây bối.
; Tàla (S). Fan-palm tree.
; 1) Tara (skt)—In the sense of starry, or scintillation. 2) Tala (skt)—Cây Ta La cao khoảng 70 đến 80 bộ Anh, với trái như những hạt gạo vàng, có thể ăn được. Lá được dùng để viết, phần cánh xòe dùng làm quạt—The fan-palm tree. The tree is described as 70 or 80 feet high, with fruit like yellow rice-seeds (resembling the pomegranate) which is edible. Its leaves being used for writing, their palm-shaped parts being made into fans.
; (多羅) I. Đa la. Phạm: Tàla.Cây đa la. Cũng gọi Ngạn thụ, Cao tủng thụ. Loại cây này sinh sản nhiều ở vùng đất cát gần bờ biển tại các nước Ấn độ, Miến điện, Tích lan v.v... cây cao khoảng 22 mét thuộc họ cây cọ. Lá dài rộng, bằng phẳng trơn láng, cứng chắc, từ xưa đã được dùng để viết chép kinh sách, gọi là Bối đa la diệp; quả chín thì đỏ, giống như quả thạch lựu, ăn được. Cây đa la nếu bị chặt ngang thân thì không nảy chồi lại được nữa, bởi thế, trong các kinh phần nhiều nó được dùng để ví dụ cho các tỉ khưu đã phạm trọng tội Ba la li, không thể cứu được. [X. kinh Pháp hoa Q.5 phẩm Phân biệt công đức; luận Tập dị môn túc Q.4; Đại đường tây vực kí Q.11; Huyền ứng âm nghĩa Q.2, Q.24; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng]. (xt. Bối Đa La Diệp). II. Đa la. Phạm:Tàrà. Hán dịch: Nhãn (mắt), Nhãn đồng (con ngươi mắt), Diệu mục tinh (mắt rất sáng), Cực độ. Là tên vị Bồ tát được sinh ra từ ánh sáng trong mắt của bồ tát Quan thế âm. (xt. Đa La Bồ Tát). III. Đa la. Phạm: Patra (âm Hán: bát đa la), gọi tắt là Đa la. Cùng nghĩa Bát. Chỉ cho cái chậu bằng bạc hoặc bằng đồng trắng dùng đựng nước thơm để tắm tượng Phật vào ngày Đản sinh.
đa la bồ tát
2334多羅,梵名 Tārā,西藏名 Sgrol-ma(救度母之意)。又作多利菩薩、多唎菩薩、多〖⿰口 隸〗菩薩。意譯作眼、妙目精、極度、救度、瞳子。又稱聖多羅菩薩、多羅尊、多利尊。為觀世音菩薩所化現之身,故亦稱多羅尊觀音、多羅觀世音。位於密教現圖胎藏界曼荼羅觀音院內列(向右方第一列)觀自在菩薩之西方。即觀音部之佛母。 據大方廣曼殊室利經觀自在菩薩授記品載,觀自在菩薩入普光明多羅三昧,以三昧力,由眼中放大光明,多羅菩薩即由光明中而生。此多羅菩薩光照一切眾生,猶如慈母般之憐愍、救度眾生出離生死苦海。其密號為悲生(由大悲觀世音菩薩而生之義)金剛、行願金剛;三摩耶形為青蓮華(已開卻合);種子為???(ta)或???(taṃ),乃如如不可得之義。另據大日經卷四密印品載,此菩薩之印相係以定慧(左右)二手作內縛拳,二食指豎合如針鋒,二拇指舒加其上;真言為「南麼三曼多勃馱喃 哆翘多蟏抳 羯嚕拏嗢婆吠 莎訶」。關於其形像,據大日經卷一具緣品載,此尊形像為中年女人狀,青白色相雜,二手合掌,持青蓮華,身著白衣。然現圖胎藏界曼荼羅所繪與此稍異,為全身青白色,著羯磨衣,頂戴髮冠,上有化佛;二手合掌,未持蓮華,於蓮華座上半跏趺坐,位列觀自在菩薩之右方,其左有一使者。 多羅菩薩在印度甚受崇拜,梵文有讚揚多羅菩薩一百八名讚(梵 Ārya-tārā-nāmāṣṭottaraśataka-stotra)、救度佛母二十一禮讚(梵 Ekaviṃśati-stotra)、聖多羅持冠讚(梵 Ārya-tārā-sragdharā-stotra)等。此外,我國西藏與蒙古等地,多羅菩薩之信仰亦盛,蓋視藏王棄宗弄讚(藏 Sroṅ-bstan-sgam-po)之二妃文成公主及波利庫姬公主(梵 Bhṛkuṭi),皆為多羅菩薩之化身,而以文成公主為白多羅菩薩(藏 Sgrol-ma-dkar-po),波利庫姬為綠多羅菩薩(藏 Sgrol-ma-ljaṅ-khu)。又於日本,此菩薩被稱為多羅尊觀音,為三十三觀音之一,亦廣受崇拜。 此菩薩有二十一種化身,即:(一)救度速勇母(藏 Sgrol-ma-myur-madpaḥ-mo),(二)百秋朗月母(藏 Ston-kaḥi zla-ba Kun-tu gsal-brgya),(三)紫磨金色母(藏 Ser-sde-chu),(四)如來頂髻母(藏 De-bshin-gśegs-paḥi gtsug-tor),(五)怛羅吽字母(藏 Tāra hūṃ yi-ge),(六)釋梵火天母(藏 Brgya-byin me-lhatshaṅs-pa),(七)特囉胝發母(藏 Trad-cis-bya-daṅ phaṭ),(八)都哩大緊母(藏 Tu-res ḥjigs-pa chen-mo),(九)三寶嚴印母(藏 Dkon-mchog-gsum mtshon-phyag-rgya),(十)威德歡悅母(藏 Rab-tu dgaḥ-ba brdsid-ba),(十一)守護眾地母(藏 Sa-gaḥi skyoṅ-pa),(十二)頂冠月相母(藏 Zla-baḥi bum-bus-dpral-rgyan),(十三)如盡劫火母(藏 Bskal-baḥi-tha-maḥi me-ltar),(十四)手按大地母(藏 Sa-ba),(十五)安隱柔善母(藏 Bde-ma dge-ma shi-ma),(十六)普遍極喜母(藏 Kun-nas bskor-rab-dgaḥ-ba),(十七)都哩巴帝母(藏 Tu-risha-pa),(十八)薩囉天海母(藏 Lha-yi-mtsho),(十九)諸天集會母(藏 Lha-yi-tshogs rnams-rgyal-mo),(廿)日月廣圓母(藏 夊i-ma-zla ba rgyas-ma),(廿一)具三真實母(藏 De-ñid gsum-rnam bkod-pa)。〔不空羂索神變真言經卷四、卷九、卷十九、卷二十三、大方廣曼殊室利經曼荼羅品、大日經卷四普通真言藏品、聖多羅菩薩一百八名陀羅尼經、大日經疏卷五、卷十、大唐西域記卷八、卷九〕
; Tārā (S), Dlkar (T) =White Tārā (Bạch tản Cái Bồ tát) Dlma (T) = Green Tārā (Lục độ mẫu Bồ tát)Đa lợi Bồ tát, Đa rị Bồ tát, Đa lệ Bồ tát, Thánh Đa la Bồ tát, Đa la tôn, Đa lợi tôn Quán thế âm, Đa la Quán thế âm,, Thánh Cứu độ Phật mẫu, Đà la Bồ tát.
; Vị Bồ Tát được sanh ra từ mắt của Bồ tát Quán Thế Âm—Tara bodhisattva (said to have ben produced from the eye of Kuan Shi Yin).
; (多羅菩薩) Đa la, Phạm: Tàrà, Tạng: Sgrol-ma (hàm ý mẹ cứu vớt). Cũng gọi Đa lợi bồ tát, Đa rị bồ tát, Đa lệ bồ tát. Dịch ý: mắt, mắt rất sáng, cực độ, cứu vớt, tròng mắt (con ngươi). Còn gọi là Thánh đa la bồ tát, Đa la tôn, Đa lợi tôn. Là hóa thân của bồ tát Quan âm, cho nên cũng gọi Đa la tôn Quan âm, Đa la Quan thế âm. Ngài ngồi ở mé tây bồ tát Quán tự tại (hàng thứ nhất quay về bên phải) trong viện Quan âm trên Hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la Mật giáo. Tức là Phật mẫu của Quan âm bộ. Cứ theo kinh Đại phương quảng mạn thù thất lợi phẩm Quán tự tại bồ tát thụ kí chép, thì bồ tát Quán tự tại vào tam muội Phổ quang minh đa la, dùng sức tam muội, từ nơi mắt phóng ra một luồng ánh sáng rất lớn, tức thì bồ tát Đa la từ trong luồng ánh sáng ấy sinh ra. Bồ tát Đa la soi sáng tất cả chúng sinh, cũng như mẹ hiền ban cho tình thương, cứu vớt chúng sinh ra khỏi biển khổ sống chết. Mật hiệu của Ngài là Bi sinh kim cương (hàm ý từ bồ tát Đại bi Quan thế âm sinh ra), Hạnh nguyện kim cương; hình tam muội da là hoa sen xanh. Chủng tử là (ta) hoặc (tạm), nghĩa là như như bất khả đắc. Cứ theo kinh Đại nhật quyển 4 phẩm Mật ấn nói, thì ấn tướng của vị Bồ tát này là Nội phược quyền, nghĩa là tay trái (Định) và tay phải (Tuệ) đan vào nhau ở bên trong, hai ngón trỏ duỗi thẳng chập đầu ngón lại như cây kim, hai ngón cái dang ra ấn lên trên hai ngón trỏ. Chân ngôn là: Nam ma tam mạn đa bột đà nam đá lệ đa lũ ni yết rô noa ôn bà phệ sa ha. Lại theo kinh Đại nhật quyển 1 phẩm Cụ duyên nói, hình tượng vị tôn này là hình người đàn bà trung niên, mầu trắng phớt xanh, chắp hai tay kẹp lấy cành hoa sen xanh, mình mặc áo trắng. Nhưng hình ngài vẽ trên Hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la lại hơi khác, tức là toàn thân mầu xanh lợt, mặc áo yết ma, đầu đội mũ tết bằng tóc, trên có hóa Phật, hai tay chắp lại, không cầm hoa sen, ngồi bán già trên tòa sen, ngồi ở bên phải bồ tát Quán tự tại, bên trái vị tôn này có một sứ giả. Ở Ấn độ thời xưa, bồ tát Đa la đã rất được tôn sùng, điều đó được thấy qua các bài tán bằng tiếng Phạm như: Àrya-tàrànàmàstoỉỉarazataka-stotra (khen ngợi 108 danh hiệu của bồ át Đa la), Ekaviôzati-stotra (hai mươi mốt lễ tán thán Cứu độ Phật mẫu) và Àrya-tàràsragdharà-stotra (Tán thán Thánh Đa la cầm mũ) v.v... Ngoài ra, ở Trung quốc, Tây tạng và Mông cổ, tín ngưỡng bồ tát Đa la cũng rất thịnh hành. Tại Nhật bản thì Ngài được gọi là Đa la tôn Quan âm, là một trong 33 hóa thân của bồ tát Quan âm, cũng được sùng bái rất rộng. Vị Bồ tát này có 21 hóa thân: 1. Cứu độ tốc dũng mẫu (Bà mẹ cứu vớt rất mau chóng, mạnh mẽ). 2. Bách thu lãng nguyệt mẫu (Bà mẹ như vừng trăng sáng của trăm mùa thu). 3. Tử ma kim sắc mẫu (Bà mẹ mầu vàng ròng tươi). 4. Như lai đính kế mẫu (Bà mẹ có búi tóc trên đỉnh đầu giống như nhục kế của đức Như lai). 5. Đát la hồng tự mẫu (Bà mẹ chữ Đát la hồng). 6. Thích Phạm Hỏa thiên mẫu (Bà mẹ Đế thích, Phạm thiên, Hỏa thiên). 7. Đặc la chi phát mẫu. 8. Đô lí đại khẩu mẫu. 9. Tam bảo nghiêm ấn mẫu. 10. Uy đức hoan duyệt mẫu(Bà mẹ có uy đức khiến chúng sanh vui vẻ, đẹp lòng). 11. Thủ hộ chúng địa mẫu(Bà mẹ giữ gìn, hộ vệ các nơi). 12. Đính quan nguyệt tướng mẫu(Bà mẹ đội mũ hình mặt trăng). 13. Như tận kiếp hỏa mẫu (Bà mẹ ban sự yên vui như thoát được kiếp lửa). 14. Thủ ấn đại địa mẫu (Bà mẹ tay ấn quả đất). 15. An ẩn nhu thiện mẫu(Bà mẹ dịu hiền an ổn). 16. Phổ biến cực hỉ mẫu(Bà mẹ ban phát sự vui mừng cho khắp cả chúng sinh). 17. Đô lí ba đề mẫu. 18. Tát la thiên hải mẫu. 19. Chư thiên tập hội mẫu (Bà mẹ tập họp các trời). 20. Nhật nguyệt quảng viên mẫu (Bà mẹ tròn đầy, rộng lớn như mặt trời mặt trăng). 21. Cụ tam chân thực mẫu (Bà mẹ có đầy đủ ba chân thực). [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.4, Q.9, Q.19, Q.23; kinh Đại phương quảng mạn thù thất lợi phẩm Mạn đồ la; kinh Đại nhật Q.4 phẩm Phổ thông chân ngôn tạng; kinh Thánh đa la bồ tát nhất bách bát danh đà la ni; Đại nhật kinh sớ Q.5, Q.10; Đại đường tây vực kí Q.8, Q.9].
đa la bồ tát mạn đồ la
2334為大方廣曼殊室利經觀自在多羅菩薩曼荼羅品中所說之曼荼羅。謂若有善女子,欲成就一切種智,乃擇勝地,造四肘、八肘、十六肘等之壇,以四方為三院。此曼荼羅之中央為釋迦牟尼佛說法之相,其右為觀自在菩薩,左為金剛藏菩薩,後有彌勒、大勢至等八大菩薩。於釋迦如來師子座之下有一蓮池,池中有寶蓮花,多羅菩薩即趺坐於蓮花之中,左手持青蓮花,右手上仰,置於臍上,作坐禪之姿。上記諸尊之周圍及曼荼羅壇四方四門之外,另繪有無數菩薩、明王、諸天、藥叉、龍王等。
; (多羅菩薩曼荼羅) Là mạn đồ la được nói trong phẩm Quán tự tại đa la bồ tát mạn đồ la của kinh Đại phương quảng mạn thù thất lợi. Nếu có người thiện nữ muốn thành tựu nhất thiết chủng trí thì chọn nơi đất tốt, lập đàn tràng mỗi bề bằng bốn trửu (khuỷu tay), tám rửu, 16 trửu v.v... bốn phía đàn đặt ba viện. Chính giữa mạn đồ la tôn trí Phật Thích ca mâu ni trong tướng thuyết pháp, bên phải Ngài là bồ tát Quán tự tại, bên trái là bồ tát Kim cương tạng, phía sau có tám vị Đại bồ tát như: Di lặc, Đại thế chí v.v... Dưới tòa sư tử của đức Thích ca Như lai có một ao sen, trong ao có hoa sen báu, bồ tát Đa la ngồi kết già trong hoa sen, tay trái cầm hoa sen xanh, tay phải ngửa lên đặt ở ngang rốn trong tư thế ngồi thiền. Ngoài các vị tôn ở chung quanh đức Thích ca và ở bốn cửa bốn phương của đàn mạn đồ la nói trên, còn vẽ vô số Bồ tát, Minh vương, Chư thiên, Dược xoa, Long vương v.v...
đa la chưởng
Tala leaves—See Đa La (2).
đa la diệp
Tala leaves—See Đa La (2).
đa la diệp kí
2336凡三卷。日本真言宗心覺撰。收於大正藏第八十四冊。又作多羅葉鈔。本書將各種梵語字典,如唐代義淨之梵語千字文、禮言之梵語雜名、全真之唐梵文字、作者不詳之翻梵語、日本信行之梵語集等,依日本假名之順序加以類別,並轉載其字彙語義。上卷收錄伊、呂、波、仁、知、利、留、遠、和等九音,中卷收錄迦、多、禮、所、津、禰、那、郎、武、宇、井、於、久、也、萬等十五音,下卷收錄計、不、己、江、天、阿、左、幾、由、女、躬、志、比、毛、世、寸等十六音。 此外,本書又依觀佛三昧經、文殊問經、宿曜經、不空羂索軌、大智度論、玄應一切經音義、大日經疏、梵網經古迹記、大唐西域記、阿彌陀經梵本等經書,加以補足本書之內容。本書為日本現存梵語字典中最古之著作。
; (多羅葉記) Gồm 3 quyển, do ngài Tâm giác thuộc tông Chân ngôn của Phật giáo Nhật bản soạn, thu vào Đại chính tạng tập 94. Cũng gọi Đa la diệp sao. Ngài Tâm giác đã căn cứ vào các sách tự điển tiếng Phạm như: Phạm ngữ thiên tự văn của Nghĩa tịnh, Phạm ngữ tạp danh của Lễ ngôn, Đường phạm văn tự của Toàn chân, Phiên phạm ngữ (không rõ tác giả), Phạm ngữ tập của Tín hành người Nhật) v.v... và dựa theo thứ tự các chữ cái của Nhật bản để sắp xếp chia loại và giải thích ngữ nghĩa tự vựng của tiếng Phạm trong các sách kể ở trên. 1. Quyển thượng gồm 9 âm: Y, lữ, ba, nhân, tri, lợi, lưu, viễn, hòa. 2. Quyển trung gồm 15 âm: Ca, đa, lễ, sở, tân, nễ, na, lang, võ, vũ, tỉnh, ư, cửu, dã, vạn. 3. Quyển hạ gồm 16 âm: Kế, bất, kỉ, giang, thiên, a, tả, cơ, do, nữ, cung, chí, tỉ, mao, thế, thốn. Ngoài ra, tác giả còn dựa vào các kinh sách: Quán Phật tam muội, kinh Văn thù vấn, kinh Tú diệu, Bất không quyên sách quĩ, luận Đại trí độ, Huyền ứng nhất thiết kinh âm nghĩa, Đại nhật kinh sớ, Phạm võng kinh cổ tích kí, Đại đường tây vực kí, A di đà kinh Phạm bản v.v... để bổ túc cho nội dung của sách này. Đa la diệp kí là bộ tự điển tiếng Phạm xưa nhất hiện còn ở Nhật bản.
đa la na tha
2333梵名 Tāranātha,西藏名 Kun-dgḥ sñiṅ-po(衮噶寧波)。西藏佛教爵南派僧。生於明萬曆三年(1575,一說萬曆元年)。萬曆三十六年,師依據印度僧人口述之資料,著成「多羅那他佛教史」,內容敘述阿闍世王以下諸王朝,及佛教傳入錫蘭、西藏之經過,頗見重於世。後因受格魯派之排擠,晚年被達賴喇嘛四世派遣至外蒙古傳法,被蒙古可汗尊為「哲布尊丹巴」。示寂於庫倫,年壽不詳。其轉生者稱為庫倫活佛。
; (多羅那他) Phạm: Tāranātha, Tạng: Kun-dgḥ sñiṅ-po (Cổn cát minh ba). Vị tăng Tây tạng thuộc phái Phật giáo Tước nam. Sư sinh vào năm Vạn lịch thứ 3 (1575, có thuyết nói Vạn lịch năm đầu) đời Minh. Sư là tác giả của bộ Đa la na tha Phật giáo sử. Sau, đức Đạt lại lạt ma đời thứ 4 phái sư đến Ngoại Mông cổ truyền pháp, sư được vua Mông cổ tôn làm Triết bố tôn đan ba. Sư tịch ở Khố luân, không rõ tuổi thọ. Thân chuyển sinh của sư là Khố luân hoạt Phật (Phật sống ở Khố luân).
đa la na tha phật giáo sử
2334西藏名 Dam-paḥi chos-rin-po-che ḥphags-paḥi yul-du ji-ltar dar-baḥi tshulgsal-bar bston-pa, Dgos-ḥdodkun-ḥbyuṅ。又稱印度佛教史。多羅那他(梵 Tāranātha)著。多羅那他生於藏州,其藏名為衮噶寧波(藏 Kun-dgaḥ sñiṅ-po),屬於薩迦派(藏 Sa-skya-pa)支派之一的爵南派(藏 Jo-naṅ-pa),於一六○八年完成本書,後至蒙古,被蒙古汗王封以「哲布尊丹巴」(藏 Rje-btsun dam-pa)之稱號。於清朝皇帝保護下創建諸寺。 本書共舉出二○一人名,並列述阿闍世王以下諸王朝,及佛教傳入錫蘭、西藏之經過。其特色在後半部,敘述後期大乘時代至密教時代之情形。本書早為學界所知,一八六八年謝非奈爾(A. Schiefner)將之譯成德文刊行(Tāranātha's Geschichte des Buddhismus in Indien),成為印度佛教史之重要資料而廣被珍視。除德文版外,另有俄文與日文譯本。
; (多羅那他佛教史) Tạng: Dam-paḥi chos-rin-po-che ḥphags-paḥi yul-du ji-ltar dar-baḥi tshulgsal-bar bston-pa, Dgos-ḥdodkun-ḥbyuṅ Cũng gọi Ấn độ Phật giáo sử. Do Đa la na tha (Phạm: Tàranàtha) soạn. Đa la na tha sinh ở Tạng châu, tên Tây tạng của sư là: Kun-dgaḥ sñiṅ-po (Cổn cát ninh ba), thuộc phái Tước nam (Tạng: Jo-naí-pa) của Phật giáo Tây tạng. Sư soạn xong bộ sách này vào năm 1608 Tây lịch. Nội dung trình bày về 201 nhân vật, các Vương triều từ vua A xà thế trở uống và quá trình Phật giáo truyền đến Tích lan, Tây tạng. Đặc sắc nhất là nửa sau của bộ sách chép về tình hình Phật giáo Đại thừa từ hậu kì đến thời đại Mật giáo. Bộ sử này đã sớm được giới học giả biết đến, vì đây là tư liệu trọng yếu về lịch sử Phật giáo Ấn độ rất trân quí. Năm 1868, ông A. Schiefner đã dịch ra tiếng Đức dưới nhan đề Tàranàtha’s Geschichte des Buddhismus in Indien và ấn hành. Ngoài bản tiếng Đức còn có các bản dịch tiếng Nga và tiếng Nhật.
đa la quán thế âm
Xem Đa la Bồ tát.
đa la thụ
Tara tree—See Đa La (2).
đa la tôn
Xem Đa la Bồ tát.
đa lai la ma
Dalai Lama Dalai Lama dalai bla-ma (T)Đạt lại Lạt maPhật tử Kim cương thừa xem Ngài là hóa thân của Quán thế âm Bồ tát. Hầu hết các phật tử khác, kễ cả Thượng tọa bộ, đều xem Ngài như một bậc thầy đức cao đạo trọng, người làm việc không biết mệt mỏi vì hòa bình và thiện ý.
đa lai lạt ma
dalai bla-ma (T).
đa liệt phái
2325為雲南德宏地區傣族小乘佛教宗派之一。信徒嚴格持守佛教五戒而不殺生,除報曉之公雞外,不蓄養家禽。此外,亦不信奉佛教以外之神祇,但可祀拜外村寺院之佛與僧侶。本村僧侶若後繼無人時,則可請外村僧侶繼承,或亦可改信擺莊、允、左抵等教派。多列派教階分戛比、召掌、召門、朋吉四等,其中召掌於關門節結束後可請假回家,暫時脫下袈裟過世俗生活。多列派寺院尚有尼師(牙誥),等級卑微,處於依附之地位。
; (多列派) Một trong những tông phái Phật giáo Tiểu thừa của dân tộc Thái ở vùng Đức hoành thuộc tỉnh Vân nam. Tín đồ phái này giữ năm giới rất nghiêm khắc, nên không chăn nuôi gia súc, chỉ nuôi con gà gáy sáng để biết thời giờ. Cũng không thờ lễ bất cứ vị thần nào mà chỉ lễ Phật và chư tăng ở các chùa viện Phật giáo. Nếu khi tăng chúng trong thôn mình không có người thừa kế, thì có thể thỉnh chư tăng từ thôn khác đến thừa kế, hoặc cũng có thể thay đổi tín ngưỡng mà đi theo các giáo phái như: Bãi trang, Doãn, Tả để v.v... Phái Đa liệt có bốn bậc: Kiết tỉ, Triệu chưởng, Triệu môn và Bằng cát. Trong đó, Triệu chưởng, sau khi mùa Quan môn (giống như Hạ an cư, ND) kết thúc, có thể xin trở về nhà, tạm thời cởi áo ca sa để bước qua đời sống thế tục. Ở các chùa viện phái Đa liệt cũng có sư ni (Nha cáo), nhưng chỉ ở địa vị phụ thuộc mà thôi.
đa luân nặc nhĩ
2327請參閱四品法門經 蒙古名 Dolon nor。位於察哈爾東南部灤河南岸之縣治名及都市名。為七湖之意。因本縣南方有一湖,係由七小湖所成,故稱七湖,又稱七星潭,故其地名亦依之而稱多倫諾爾,又稱多倫、多倫泊。因有喇嘛寺,故俗稱喇嘛廟。元代時於其地建上都開平。明初設置開平衛,此衛治於宣德五年(1430)遷於西南之獨石。清初為察哈爾牧場,至聖祖建立彙宗寺、世宗建立善因寺後始漸繁榮,雍正十年(1732)置多羅諾爾廳,屬於直隸省。民國二年(1913)改稱多倫縣,屬察哈爾省,縣內人口漢蒙各半,蒙古人多為喇嘛僧。此地居漢蒙間來往貿易之重要地位,蒙古東部之穀物、牲畜、毛皮等皆集散於此;每年三月及七月喇嘛廟會時,有遠來之西藏喇嘛、雲貴藥商、香港、上海之馬商等雲集於此。此市並有以製佛像為業者,所作之佛像普及各地。市之北端有彙宗寺,俗稱東廟、黃寺;西北端有善因寺,俗稱西廟、青寺。〔大清一統志卷四○九〕
đa lệ bồ tát
Xem Đa la Bồ tát.
đa lệ tam hạt
2333多隸(梵 Trāi-lokya-vidya-rāja),即「多隸路迦也吠闍也羅惹」之略稱,譯作降三世明王、勝三世明王,乃密教五大明王之一;三喝,即三唱「吽」字。多隸三喝,謂降三世明王結大印,三唱吽字,以摧破煩惱。〔祕藏寶鑰卷上〕
; (多隸三喝) Đa lệ là gọi tắt từ Đa lệ lộ ca dã phệ xà dã la nhạ (Phạm: Trài-lokya-vidya-ràja), dịch là Hàng tam thế minh vương, Thắng tam thế minh vương, một trong năm Đại minh vương của Mật giáo. Tam hát tức ba lần xướng chữ Hồng. Đa lệ tam hát nghĩa là Hàng tam thế minh vương kết đại ấn và ba lần xướng chữ Hồng để phá trừ phiền não. [X. Bí tạng bảo thược Q.thượng].
đa lợi bồ tát
Xem Đa la Bồ tát.
đa lợi tôn quán thế âm
Xem Đa la Bồ tát.
đa ma la bạt
Tamālapa (S)Một thứ cây chiên đàn hương rất thơm dùng để cất tháp, làm tượng Phật, hoặc đốt lấy hương mà cúng Phật.
đa ma la bạt chiên đàn hương
Tamalapattra and Chandana fragrance.
; Tamalapattra-candana-gandha (skt). 1) Chiên Đàn Hương Phật: A Buddha-incarnation of the 11th son of Mahabhijna, residing north west of our universe. 2) Tên của vị Phật mà Đức Thích Ca đã thọ ký cho ngài Mục Kiền Liên: The name of the Buddha-incarnation of Mahamaudgalyayana.
đa ma la bạt chiên đàn hương như lai
Tamālapattra-chandana-gandha (S)Phật Thích Ca có thọ ký cho ngài Mục kiền Liên về sau Mục kiền Liên sẽ thành Phật có Phật hiệu này. Cõi thế của đức Phật này tên là cõi ý lạc, kỳ kiếp của ngài gọi là Hỷ mãn.
đa ma la bạt chiên đàn hương phật
Tamalabhadrā (S)Chiên đàn hương PhậtTên một vị Phật hay Như Lai.
đa ma la bạt hương bích chi phật
Xem Đa ma la hương Bích chi Phật.
đa ma la bạt hương thụ
2332多摩羅跋,梵語 tamālapatra,或 tamālapattra, tamāla, tamālaka, tama, Patra,巴利語 tamāla。又作多摩羅跋樹、多摩羅樹。為樟科之一種。學名 Cinnamomum nitidum。即我國所稱之藿香(霍香)。灌木,花呈淡黃色,樹皮含有肉桂般之香味,樹葉亦可製香,可用為發汗、健胃等藥,產於我國、南印度、錫蘭等。我國除稱其為藿香外,尚以藿葉香、根香、赤銅葉等稱之。此外,翻譯名義集卷八眾香篇,將其譯作「性無垢賢」。〔大般若經卷三一八、法華經卷四、卷六、慧琳音義卷三〕
; (多摩羅跋香樹) Cây hương Đa ma la bạt. Đa ma la bạt, Phạm: Tamàlapatra hoặc Tamàlapattra, Tamàla, Tamàlaka, Tama, Patra; Pàli: Tamàla. Cũng gọi Đa ma la bạt thụ, đa ma la thụ. Loại cây thuộc họ Chương. Tên khoa học: Cinnamomum nitidum. Trung quốc gọi là Hoắc hương, hoặc gọi Hoắc diệp hương, Căn hương, Xích đồng diệp v.v... sinh sản ở Trung quốc, Nam Ấn độ, Tích lan v.v... Cây mọc thành bụi, hoa mầu vàng nhạt, vỏ cây có hương vị nhục quế, lá dùng làm hương, cũng có thể chế thuốc phát hãn (làm toát mồ hôi), kiện vị (bổ dạ dày). Ngoài ra, trong Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 8 thiên Chúng hương, Đa ma la bạt được dịch là tính vô cấu hiền. [X. kinh Đại bát nhã Q. 318; kinh Pháp hoa Q.4, Q.6; Tuệ lâm âm nghĩa Q.3].
đa ma la diệp duy
ên Phật Xem Đa ma la hương Bích chi Phật.
đa ma la hương bích chi phật
2332梵名 Tamālapatra-pratyeka-buddha。音譯作多摩羅跛怛囉鉢囉底曳計母馱。又作多摩羅跋香辟支佛、多摩羅葉緣佛。意譯作藿葉香、性無垢賢。謂藿葉所製成之香為諸香中最勝。此尊安於密教現圖胎藏界曼荼羅釋迦院中尊北方外列第三位,與顯教之多摩羅跋栴檀香佛同體。其形像為如來形,略瘦,全身白黃色,著偏袒袈裟,左手握袈裟衣角於胸前,右手屈臂舒掌及屈無名指、小指,趺坐於赤蓮華座。種子為???(va),三昧耶形為錫杖,密號為
; Tamālapattra-pratyeka-buddha (S)Đa ma la diệp Duyên Phật, Đa ma la bạt hương Bích chi PhậtTên một vị Phật hay Như Lai.
; (多摩羅香辟支佛) Phạm: Tamàlapatra-pratyekabuddha. Dịch âm: Đa ma la bạt đát la bát la để duệ kế mẫu đà. Cũng gọi Đa ma la bạt hương bích chi Phật, Đa ma la diệp duyên Phật. Dịch ý là Hoắc diệp hương, Tính vô cấu hiền. Vị tôn này ngồi ở ngôi thứ 3 hàng ngoài, phía bắc vị Trung tôn trong viện Thích ca trên Hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la Mật giáo, đồng thể với đức Phật Đa ma la bạt chiên đàn hương của Hiển giáo. Hình tượng của Ngài hơi gầy, toàn thân mầu vàng nhạt, đắp ca sa hở vai, tay trái nắm góc ca sa để trước ngực, cánh tay phải co lại, bàn tay duỗi thẳng, co ngón vô danh (áp út) và ngón út, ngồi kết già trên tòa sen đỏ. Chủng tử là (va), hình tam muội da là gậy tích, mật hiệu là Phân uân kim cương. [X. kinh Đại nhật Q.5 Bí mật mạn đồ la].
đa ma thâu
Mathurā (S)Ma thâu laMột địa danh nơi tìm thấy 133 kinh bản Phật giáo khắc bằng tiếng Phạn và tiếng.
đa mang
To be occupied with many things at the same time.
đa mã tư
2329(Thomas, Frederick William; 1867~1950)英國印度學學者。長年任職於印度之省圖書館(1898~1927),為倫敦大學講師(1908~1935)、牛津大學梵語教授(1927~1938)。亦為英國亞細亞協會會員。有許多研究論文發表於 Journal of the Royal Asiatic Society 雜誌,尤以阿育王之詔敕碑文研究、迦膩色迦王之年代論等著述,更見其造詣之深。另於史坦因所發掘之西藏古文書之研究調查,對佛學之貢獻至鉅。主要著作有 Mutual Influence of Muhammadans and Hindus in India, 1892;Indianism and its expansion, 1942.
đa nghi
Distrustful—Suspicious
đa nguyên
Pluralism.
đa nguyện thực tại luận phái
Xem Thắng Luận phái.
đa ngôn
Loquacious.
đa nhĩ cát bạt mẫu cung
2329位於西藏雅木魯克湖中山巔上之寺名。為女呼圖克圖多爾吉拔姆之居處。
đa niệm diệt tội
2327謂稱念佛名,可消滅罪障;若於一念間即可滅罪者,稱為一念滅罪;若於二念以上稱名而滅罪者,則稱為多念滅罪。如觀無量壽經所舉下品下生者之十念滅罪,即是多念滅罪。又淨土宗認為眾生稱名念佛之功德可消滅罪障,雖隨根機之不同而有一念滅罪者,然仍以多念滅罪者為多。(參閱「一念滅罪」51)
; (多念滅罪) Xưng niệm danh hiệu Phật có thể tiêu diệt tội chướng. Nếu trong khoảng một niệm mà diệt được tội thì gọi là Nhất niệm diệt tội; nếu xưng danh từ hai niệm trở lên mà diệt được tội thì gọi là Đa niệm diệt tội. Như kinh Quán vô lượng thọ nói Hạ phẩm hạ sinh xưng danh 10 niệm diệt được tội, tức là Đa niệm diệt tội. Còn tông Tịnh độ thì cho rằng công đức xưng danh niệm Phật của chúng sinh có thể tiêu diệt tội chướng, tuy tùy theo căn cơ khác nhau mà có người nhất niệm diệt tội, có người đa niệm diệt tội, nhưng số người đa niệm diệt tội vẫn nhiều hơn. (xt. Nhất Niệm Diệt Tội).
đa phát
1) Kesini (skt)—Có tóc hay những búi tóc dài—Having long hair—Having many locks of hair. 2) Tên của một loài La Sát Nữ: Name of a kind of Raksasi (female demon).
đa phát la sát nữ
Keśinī (S)Bị Phát La sát nữ.
Đa phát 多髮
[ja] タホツ Tahotsu ||| Keśīnī. One of the ten rākṣasīs who protect the dharma in the Lotus Sutra. See 十羅刹女. 〔法華經 T 262.9.59a24〕 => s: Keśīnī. Một trong 10 La-sát nữ hộ trì chính pháp trong kinh Pháp Hoa. Xem Thập La-sát nữ 十羅刹女.
đa phúc
To have many blessings.
đa phúc tự
2329位於山西太原市西北二十四公里崛
đa rị bồ tát
Xem Đa la Bồ tát.
đa sinh
Anekajāti (S).
; Kiếp sống trải qua nhiều kiếp của vòng luân hồi sanh tử—Many births—Many reincarnations.
đa sầu
Very sad.
đa sỉ lộ ca minh vương
Trailokyavijaya (skt)—Tam Thế Giáng Minh Vương, một trong những Minh Vương trong tam giới—The Ming-Wang Defeater of evil in the three spheres, one of the Ming-Wang.
đa số
Majority—Generality.
đa sự
Meddling.
đa tha
1) Tatha (skt)—Như thế ấy—In such a manner—Like—So. 2) Nirvana (skt)—Diệt—Extinction.
đa tham
Many desires.
đa thiệt long vương
Takṣaka (S)Đức xoa già Long vươngMột trong Bát đại Long vương, gồm: Hoan Hỷ Long vương, Hiền Hỷ Long vương, Long vương hải, Bảo Hữu Long vương, Đa Thiệt Long vương, Vô nhiệt não Long vương, Đại ý Long vương, Thanh Liên Long vương.
đa thê
Polygamy.
đa thần giáo
2327指崇拜、信仰眾多神祇之宗教。此類多神教,始於原始社會後期,當時的人類經由生活上之學習,而對大自然產生恐懼或歡喜之心理,並將大自然之日月星辰、風雨雷電、山石樹木、河海湖沼等皆予以神格化,而加以崇拜。此外,尚有神靈崇拜、精靈崇拜、祖先崇拜、英雄崇拜等,皆為多神教者所信仰之對象。然眾多神祇中,通常有一神祇為最高之主神,其他神祇之間亦有一定之等級關係,諸神之神通、威力亦各不相同,由此遂導致「一神教」之產生。 我國自古即為多神教之信仰,認為大小諸神皆具有特定之職司,如由家中之灶神開始,往上為管轄一地區之土地神、城隍爺等,再上為各天界之諸神,乃至宇宙中至高無上之主宰,如此層層守護,祈求國家風調雨順、國泰民安。此外,一般之民間信仰,亦有將眾多神祇人格化之傾向,如於諸神之誕辰或慶典時,殺雞宰羊、歌舞作戲以祭祀之,是皆以「諸神亦需享受歌舞酒肉」之假想而有如是之風習代代相傳,惟近年來,此種祭祀方式,於政府大力宣導下,已大有改進。然其人格化之信仰基礎猶焉存在。又或以世人之稱謂來稱呼諸神,如稱土地「公」、財神「爺」、觀音「娘娘」等,此亦為將神祇人格化之例證。 古代之印度,亦為多神教之信仰,當時一般人認為每一自然現象皆有神性,而創造出多種神祇。如天空有特尤斯天神(梵 Dyaus),蒼空神則為婆樓那(梵 Varuṇa)。至於太陽(日神),一般稱為修利雅(梵 Sūrya),然自其對人類之親切而言,稱「友」(梵 Mitra);自其對萬物之鼓舞而言,稱「鼓舞者」(梵 Savitṛ);自其令萬物繁榮而言,稱「繁榮者」(梵 Pūṣan);另由於其光照作用,故予以神格化之名稱「毘濕奴」(梵 Viṣṇu),並視其為女神「無限」(梵 Aditi)之子日天(梵 Āditya)等。其他另有雷神因陀羅(梵 Indra)、暴風神魯達羅(梵 Rudra)、風神風天(梵 Vāyu)、雨神帕魯嘉尼雅(梵 Parjanya)、水神阿普(梵 Ap)、地神地天(梵 Pṛthivī)、河神辯才天(梵 Sarasvatī)等無數諸神。 上述之每一神,皆為古印度人虔誠信仰之對象,而此種多神教之傾向,亦反映於佛教之信仰中,尤以其後之大乘佛教時代為然,如「佛的應化身」之說,出現無數之佛;又如「賢劫(梵 bhadra-kalpa)的千佛」之說等,皆為此例。所謂賢劫,指現在之住劫之意;未來之住劫,稱為星宿劫;過去之住劫,稱為莊嚴劫。現在之住劫二十增減中,最初之八增減中佛未出生,至第九之減劫時,始有千佛之第一佛拘留孫佛(梵 Krakucchanda)出現,其次有拘那含牟尼佛(梵 Kanakamuni)、迦葉佛(梵 Kāśyapa)、釋迦牟尼佛等出生,第十增減之減劫中則有彌勒佛(梵 Maitreya)出生。此外又有師子佛等九九四佛,及最後第二十增減之增劫中樓至佛之出生。又除三千佛名經等經典外,於佛典中亦列記無數之佛名。凡此,皆可視為印度人多神教之傾向所給與佛教之影響。又大乘佛教基於一切生物皆有佛性之觀點,亦被部分學者視為多神信仰之表現。
; Polytheism.
; (多神教) Tôn giáo tin thờ nhiều thần linh. Đa thần giáo bắt đầu vào hậu kì của xã hội nguyên thủy. Nhân loại ở thời kì này đối với các hiện tượng thiên nhiên có lúc sợ hãi, có lúc vui thích, coi mặt trời, mặt trăng, các vì tinh tú, gió mưa sấm sét, cây đá núi rừng. sông biển hồ ao... tất cả đều có thần cách và sinh lòng tín kính. Ngoài ra, thần linh ma quỉ, tổ tiên, anh hùng v.v... đều là đối tượng tin thờ của người theo Đa thần giáo. Trung quốc từ xưa đã tin Đa thần giáo, cho rằng các thần lớn nhỏ đều có các chức năng nhất định; bắt đầu từ Táo quân trong nhà, đến ông Thổ thần trông coi một xóm, ông Thành hoàng quản trị một làng, rồi lên nữa là thần các cõi trời, cho đến đấng chúa tể tối cao trong vũ trụ v.v... tất cả đều được người Trung quốc tôn thờ tin tưởng và cầu mong các thần phù hộ đất nước, khiến cho mưa thuận gió hòa, nhân dân yên vui. Ngoài ra, tín ngưỡng nhân gian phổ thông cũng có khuynh hướng nhân cách hóa các vị thần, như vào các ngày kị (giỗ) thần hoặc hội hè, người ta giết gà giết dê để cúng tế, đàn nhạc múa hát, giả tưởng các thần cũng cần thụ hưởng múa hát, rượu thịt, phong tục này đời đời tiếp nối, cho mãi tới gần đây mới có phần sút giảm. Tuy nhiên, cái nền tảng của tín gưỡng nhân cách hóa vẫn còn đó. Chẳng hạn, cách xưng hô đối với các thần, người ta thường gọi ông Thổ địa, bố Thần tài, mẹ Quan âm v.v... cũng là bằng chứng của sự nhân cách hóa các vị thần. Ấn độ xưa cũng tin Đa thần giáo. Người thời ấy thông thường cho mỗi một hiện tượng tự nhiên đều có tính thần, từ đó sáng tạo ra nhiều thần. Như Thiên không có thiên thần Đặc vưu tư (Phạm: Dyans), Thương không (khoảng trời xanh) thì có thần Bà lâu na (Phạm: Varuịa). Còn Thái dương (thần mặt trời) thì gọi là Tu lợi nhã (Phạm:Sùrya) v.v... còn nhiều nữa. Mỗi một vị thần nói trên đều là đối tượng được người Ấn độ tin thờ một cách kiền thành. Mà khuynh hướng Đa thần giáo này cũng được phản ánh trong tín ngưỡng Phật giáo, nhất là vào thời Phật giáo Đại thừa sau này, khuynh hướng ấy rất rõ ràng. Như thuyết Ứng thân Phật, xuất hiện vô số Phật. Lại như thuyết Nghìn Phật trong kiếp Hiền (Phạm: bhadra-kalpa) v.v... cũng là loại khuynh hướng này. Đây có thể xem như khuynh hướng Đa thần giáo của người Ấn độ đã ảnh hưởng đến giáo nghĩa của Phật giáo. Rồi đến quan điểm nòng cốt của Đại thừa Phật giáo chủ trương tất cả mọi sinh vật đều có tính Phật cũng bị một số học giả cho là biểu hiện của tín ngưỡng Đa thần.
đa thể
Many bodies or forms.
đa trì bà hoà
2329又作多跢嘙啝。多跢,謂幼兒學習步行之形態;婆和,謂幼兒習語之聲。即以幼兒之習行、習語比喻極為初步之問題而實不成問題者。法華玄義釋籤卷二(大三三‧八二二下):「多跢是學行之相,嘙啝是習語之聲,示為三藏始行初教,而三藏實行者謂之為實,故云不識。」〔法華玄義卷一上〕
đa trì bà hòa
(多跢婆和) Đa đá là cái dáng trẻ con tập đi. Bà hòa là tiếng trẻ con tập nói. Tức là dùng sự tập đi, tập nói của trẻ con để ví dụ cho vấn đề sơ bộ, không có gì quan trọng. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 2 (Đại 33, 822 hạ), nói: Đa đá là dáng tập đi, bà hòa là tiếng tập nói, ví dụ cho tam tạng mới chỉ là sơ giáo, nhưng người thực hành tam tạng lại cho đó là thật, cho nên nói chẳng biết. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.1 phần trên].
đa tài quỉ
Wealthy ghosts.
đa tài quỷ
Wealthy ghosts.
đa tình
Sentimental—Amorous.
đa túc
Many-footed (legged)—Centipedes.
đa tạ
Very grateful (thankful).
đa tử tháp
2325梵名 Bahuputraka-caitya,巴利名 Bahuputtaka-cetiya, Bahuputta-cetiya。又作千子塔、多子支提、放弓仗塔。位於中印度毘舍離城西之塔。關於此塔之由來,有下列諸說: (一)據長阿含卷十一阿㝹夷經所載,此塔為中印度毘舍離城四塔之一,位於該城之西。法顯「佛國記」載,過去世時,有一國王,王有一小夫人,生一肉胎,大夫人以為不祥,收入木函,投於恆河。至河下游,有一國王遊觀,乃拾水上之木函,開視之,中有千子,形貌甚端正,遂迎養之。及長,甚為饒勇,每戰必勝。一日,圍攻父王之城,小夫人於城東高樓見之,知是所生千子,遂以手搆兩乳,各出五百道乳汁,注入千子之口,千子始知所攻為父王之國,乃捨弓仗。上記文中,千子之父即梵豫王,下游之國王為烏耆延王,千子即賢劫千佛,而多子塔即賢劫千佛之塔。世尊行化於此塔附近三個月後即入滅。 (二)據辟支佛因緣論卷下載,昔有辟支佛,生於王舍城大長者家,生育兒女各三十人,及長,均為之婚娶,因見彼等多憂喜苦樂,遂觀之,並證悟,得辟支佛道,後更捨身證入涅槃,其眷屬乃為之造塔廟,時人稱之為多子塔。 (三)據聯燈會要卷一載,世尊曾於多子塔前,分座、傳法予迦葉尊者。此為禪宗之說法。〔大莊嚴論經卷六、三卷本大般涅槃經卷上、六祖大師法寶壇經序、大唐西域記卷七、祖庭事苑卷八、五燈會元卷一〕
; (多子塔) Phạm: Bahuputraka-caitya, Pàli: Bahuputtaka-cetiya, Bahuputtacetiya. Cũng gọi Thiên tử tháp (Tháp nghìn con), Đa tử chi đề, Phóng cung trượng tháp (tháp buông cung tên gậy gộc). Là ngôi tháp ở phía tây thành Tì xá li, Trung Ấn độ. Về nguồn gốc của tòa tháp này có các thuyết sau đây: - Theo kinh A nâu di trong Trường a hàm quyển 11, thì tháp này là một trong bốn ngôi tháp ở mạn tây thành Tì xá li, Trung Ấn độ. - Phật quốc kí của ngài Pháp hiển kể rằng: Thời quá khứ có một ông vua có hai phu nhân, bà bé sinh ra một bọc thịt, bà lớn cho đó là điềm chẳng lành, mới bỏ vào thùng gỗ rồi liệng xuống sông Hằng. Chiếc thùng trôi theo dòng nước xuống vùng hạ du thì một ông vua khác đi chơi, trông thấy, sai người vớt lên mở ra xem, thấy 1.000 đứa trẻ ở trong thùng, hình dáng tốt đẹp, bèn đưa về nuôi. Lớn lên, một nghìn người con rất dũng cảm, thường dự các cuộc chiến tranh và đánh đâu thắng đó. Một hôm họ bao vây thành của vua cha, người mẹ (bà phu nhân nhỏ của vua) đứng trên lầu cao ở phía đông thành trông thấy, biết đó là 1.000 đứa con của mình, cất cao tiếng gọi, lúc đó, những người con mới biết là mình đang đánh chiếm nước của vua cha, bèn buông cung tên, gậy gộc. Trong đoạn văn ghi trên đây, cha của 1.000 người con tức là vua Phạm dự, quốc vương ở vùng hạ du sông Hằng là vua Ô kì diên, 1000 người con tức là 1000 đức Phật trong kiếp Hiền, còn tháp Đa tử (tháp nhiều con) tức là tháp của 1000 Phật kiếp Hiền. Đức Thế tôn từng đến giáo hóa ở vùng phụ cận tháp này trong ba tháng trước khi Ngài nhập diệt. -Luận Bích chi phật nhân duyên quyển hạ chép, thủa xưa có vị Bích chi phật sinh làm Đại trưởng giả ở thành Vương xá, Trưởng giả có 30 người con gái, đều có chồng; vì thấy các con sung sướng thì ít mà lo âu thì quá nhiều, hằng ngày Trưởng giả quán xét về điều đó và chứng ngộ được đạo Bích chi phật. Sau, xả thân, vào Niết bàn, các con Ngài xây tháp thờ, người đời gọi là tháp Đa tử. - Liên đăng hội yếu quyển 1 ghi: Có lần đức Thế Tôn chia chỗ ngồi và truyền pháp cho tôn giả Ca diếp ở trước tháp Đa tử. [X. Đại trang nghiêm kinh luận Q.6; kinh Đại bát niết bàn (bản 3 quyển) Q.thượng; Lục tổ đại sư Pháp bảo đàn kinh tự; Đại đường tây vực kí Q.7; Tổ đình sự uyển Q.8; Ngũ đăng hội nguyên Q.1].
đa tự phá nhất
2326為「一字破多」之對稱。密教所立十六玄門之一。即以悉曇諸字之字義,破釋對一字之字相迷執。例如吾人認為諸法有本、有生而執著於???(a,阿)字一字之字相時,即應觀想諸法係遠離造作、遠離因緣等,而以???(ka,迦)、???(ha,訶)等諸字之字義破釋之,從而覺悟諸法本不生之義。〔大日經疏卷七、吽字義十六玄門義〕(參閱「一字破多」40、「十六玄門」386、「悉曇」4564)
; (多字破一) Nhiều chữ phá một chữ. Đối lại với Nhất tự phá đa (một chữ phá nhiều chữ). Một trong 16 huyền môn do Mật giáo lập ra. Tức là dùng tự nghĩa của các chữ Tất đàm để giải thích phá bỏ sự mê chấp tự tướng của một chữ. Chẳng hạn như khi người ta cho rằng các pháp có gốc, có sinh rồi chấp trước tự tướng của một chữ (a) thìphải quán tưởng các pháp xa lìa tạo tác, xa lìa nhân duyên v.v... rồi dùng tự nghĩa của các chữ (ka), (ha) v.v... để phá thích, từ đó giác ngộ nghĩa các pháp vốn chẳng sinh. [X. Đại nhật kinh sớ Q.7; Hồng tự nghĩa thập lục huyền môn nghĩa]. (xt. Nhất Tự Phá Đa, Thập Lục Huyền Môn, Tất Đàm).
đa tự thành nhất
2326為「一字成多」之對稱。密教所立十六玄門之一,十六玄門,即密教用以解釋梵字真言等之十六字門。多字成一,即結合多字之字義而成一字。據大日經疏卷七載,以???(ka,迦)字離作業、???(kha,佉)字等虛空無相、???(ga,伽)字諸法無行等諸字之字義,成立???(a,阿)字本不生之一字。〔吽字義十六玄門義〕(參閱「一字成多」39)
; (多字成一) Nhiều chữ thành một. Đối lại với Nhất tự thành đa (Một chữ thành nhiều). Một trong 16 huyền môn do Mật giáo lập ra. Mười sáu huyền môn tức là 16 chữ cái Mật giáo sử dụng để giải thích các chân ngôn chữ Phạm. Đa tự thành nhất tức là kết hợp nghĩa của nhiều chữ mà thành một chữ. Đại nhật kinh sớ quyển 7 lấy nghĩa của chữ (ka) lìa tạo tác, chữ (kha) như hư không không tướng, chữ (ga) các pháp vô hành v.v... để thành lập một chữ (a) vốn chẳng sinh. [X. Hồng tự nghĩa thập lục huyền môn nghĩa]. (xt. Nhất Tự Thành Đa).
đa tự thích nhất
2327為「一字釋多」之對稱。密教所立十六玄門之一。即以多字之義理解釋一字之字義。如大日經疏卷七載,以???(ka,迦)字作業不可得、???(kha,佉)字等空不可得、???(ha,訶)字因不可得等諸字之義,解釋???(a,阿)字本不生之義。(參閱「一字釋多」40、「十六玄門」386)
; (多字釋一) Nhiều chữ giải thích một chữ. Đối lại với Nhất tự thích đa (Một chữ giải thích nhiều chữ). Một trong 16 huyền môn do Mật giáo lập ra. Tức là dùng nghĩa lí của nhiều chữ để giải thích nghĩa của một chữ. Như Đại nhật kinh sớ quyển 7 dùng nghĩa của chữ (ka) là tác nghiệp bất khả đắc, chữ (kha) như hư không bất khả đắc, chữ (ha) là nhân bất khả đắc để giải thích nghĩa của chữ (a) là vốn chẳng sinh. (xt. Nhất Tự Thích Đa, Thập Lục Huyền Môn).
đa văn
nghe nhiều, chỉ việc được nghe thuyết giảng nhiều kinh điển. Như trong hàng đệ tử Phật có ngài A-nan được Phật khen ngợi là Đa văn đệ nhất.
; 2330梵語 bahu-śruta。即多聞經法教說而受持之意。佛十大弟子中,以阿難尊者為多聞第一。又「五五百年」中之第三五百年為多聞堅固之時代。另於異部宗輪論述記,以「廣誦眾經,善持佛語諸經」者為佛弟子四眾中之「多聞眾」。然據圓覺經載,末世之眾生希望成道,但不求悟解,唯廣求多聞以增長我見,如此多聞反成其害。 據月燈三昧經卷六載,多聞有十種利益,即:(一)知煩惱資助,修菩薩行者因多聞而知自身及眾生所有一切煩惱之惑,皆能資助業因,而受當來果報,故求出離,不為所惑。(二)知清淨助,修菩薩行者因多聞而悉知一切清淨梵行,皆能資助菩提之道,故精勤修習,以證無上佛果。(三)遠離疑惑,修菩薩行者因多聞而於世間、出世間一切諸法及外道邪魔等論,悉皆明了通達,無所疑惑。(四)作正直見,修菩薩行者因多聞而於一切邪正之法無不明了,若有眾生邪見邪論者,則為其宣說正直知見,以端正其非心。(五)遠離非道,修菩薩行者因多聞而於善惡果報、諸法同緣等理,無不明了通達,故殺盜等一切非法之道,皆能遠離而不為。(六)安住正路,修菩薩行者因多聞而於一切邪正諸法無不明了,故不為非道所惑,於如來正法,常得安住而不退。(七)開甘露門,修菩薩行者因多聞而能深入如來之藏,了知無上法味,復以此普潤眾生,令其善根增長,是為開甘露門。(八)近佛菩提,修菩薩行者因多聞而常勤修習,則知戒、定、慧之行能趣入聖果,故心常在道,精勤無怠,因而近於佛果菩提。(九)為作光明,修菩薩行者因多聞而知眾生皆為無明所覆,常受長夜之苦,故以智慧之燈作諸光明,令眾生出離幽闇。(十)不畏惡道,修菩薩行者因多聞而曉知萬法乃體本空寂、無苦無樂,故發廣大之心,隨類化度一切眾生,縱遇險難惡道亦無所畏懼。〔雜阿含經卷一、中阿含卷三十六瞿默目犍連經、卷四十五心經、大方等大集經卷五十五、大智度論卷三〕
; Bahussutaka (P), Bahulika (P), Bahu-sruta (S)Bahulika, Bahussutaka (P)1- Học nhiều biết rộng. 2- Đa văn bộ: Bộ phái tiều thừa, thành lập 200 năm sau khi Phật nhập diệt. Đa văn bộTên một tông phái.
; Bahu-sruta (S). Learned: one who has heard much.
; Bahu-sruta (skt)—Nghe và đọc nhiều kinh điển—To hear and repeat many sutras—Wide erudition—Learned, one who has heard much.
; (多聞) Nghe nhiều. Phạm: Bahu-zruta. Hàm ý là nghe nhiều kinh pháp và giáo thuyết mà thụ trì. Trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật, tôn giả A nan là bậc nhất về nghe nhiều. Còn trong năm cái 500 năm thì 500 năm thứ ba là thời đại nghe nhiều bền chắc (đa văn kiên cố). Theo Dị bộ tông luân luận thuật kí, thì những người đọc tụng nhiều kinh, khéo giữ được những lời Phật nói trong các kinh, là chúng đa văn trong bốn chúng đệ tử của Phật. Nhưng kinh Viên giác thì nói, chúng sinh đời mạt phát hi vọng thành đạo, nhưng không cầu ngộ giải mà chỉ cầu nghe nhiều để tăng thêm ngã kiến, nghe nhiều như thế lại thành có hại. Cứ theo kinh Nguyệt đăng tam muội quyển 6 nói, thì nghe nhiều có mười điều lợi ích: 1. Biết phiền não làm cho nghiệp nhân thêm lớn. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà biết tất cả phiền não của chính mình và của chúng sinh đều tăng trưởng nghiệp nhân khiến phải chịu quả báo ở đời vị lai, cho nên cầu xuất li, chứ không để bị phiền não làm mê lầm. 2. Biết rõ sự trong sạch có năng lực phụ trợ đạo Bồ đề. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà biết tất cả hạnh thanh tịnh đều có thể giúp cho đạo Bồ đề, cho nên siêng năng tu tập cầu chứng quả Phật vô thượng. 3. Xa lìa ngờ vực. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà đối với tất cả các pháp thế gian, xuất thế gian và các luận thuyết của tà ma ngoại đạo đều thông suốt rõ ràng, không còn nghi hoặc. 4. Thấy biết ngay thẳng. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà biết rõ tất cả pháp tà chính. Nếu có chúng sinh tà kiến tà luận thì nói về sự thấy biết ngay thẳng để sửa chỗ sai lầm của họ. 5. Xa lìa đường sai trái. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà hiểu rõ đạo lí thiện ác báo ứng, các pháp đồng duyên cho nên không làm những việc phi pháp như giết hại, trộm cướp v.v... 6. Không xa lìa đường chính. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà thông hiểu tất cả các pháp tà chính, nên chẳng bị những việc trái đạo lí làm mê hoặc, đối với chính pháp của Như lai thường được an trụ, không trở lui. 7. Mở cửa cam lộ. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà có thể đi sâu vào kho tàng chính pháp của Như lai, biết rõ pháp vị vô thượng, lại đem pháp vị ấy nhuần thấm chúng sinh, làm cho gốc lành của họ thêm lớn. 8. Gần Phật bồ đề. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà thường siêng năng tu tập, biết các hạnh: giới, định, tuệ có thể đưa đến Thánh quả, cho nên tâm thường an trụ, chăm chỉ tu đạo, nhờ đó mà gần quả Phật bồ đề. 9. Làm ánh sáng soi đường cho chúng sinh. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà biết chúng sinh đều bị vô minh che lấp, thường chịu khổ vì bóng tối; cho nên dùng đèn trí tuệ soi sáng khiến họ ra khỏi đêm dài tối tăm. 10. Không sợ đường ác. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà hiểu biết thể của muôn pháp vốn vắng lặng, chẳng khổ, chẳng vui, cho nên phát tâm rộng lớn, tùy loại hóa độ hết thảy chúng sinh, dù có phải vào đường ác đầy dẫy hiểm nguy cũng không sợ hãi. [X. kinh Tạp a hàm Q.1; Trung a hàm Q.36 kinh Cù mặc Mục kiền liên, Q.45 Tâm kinh; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.55; luận Đại trí độ Q.3].
đa văn bộ
2332梵名 Bāhuśrutīya 或 Bāhulika,巴利名 Bahussutaka 或 Bāhulika。音譯作波收婁多柯、婆吼輸底柯。又作得多聞部。為小乘二十部之一。據異部宗輪論載,此部係於佛陀入滅後二百年頃,由大眾部中分出之一派。關於其部主及部名,據異部宗輪論述記等載,佛在世時,有一阿羅漢名「祀皮衣」,昔為仙人時,披樹皮為衣以祀天,故有此名。後出家,於佛所說法皆能誦持,佛涅槃時,其於雪山坐禪而不得知,至佛滅度後二百年頃,方出雪山,至央崛多羅國尋覓同修之人,見大眾部唯弘三藏之淺義而不知深法,故將佛所說之深、淺二義並弘,而別成一部,稱為多聞部。此部之宗義,將佛之言教分為世間、出世間二種,據異部宗輪論載,佛之五音是出世教,即:(一)無常,(二)苦,(三)空,(四)無我,(五)涅槃寂靜;此五者能引導眾生入出離之道,故為出世教。而佛之其餘言教,則為世間教。 此外,據三論玄義載,多聞部所弘之深義中,有大乘之義,成實論即由此部所出,故亦參涉大乘之義。〔部執異論、十八部論、出三藏記集卷三、大乘法苑義林章卷一本、法華經玄贊要集卷五〕(參閱「小乘二十部」928)
; Bahuśrutīya (S), Bahusuttaka (P), Bahulika (P), Bahusrutiyah (S)Một trong 9 bộ phái trong Đại chúng bộ.
; Bahusrutiya (skt)—Theo Giáo Sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, Đa Văn Bộ được nói đến trong các bia ký ở Amaravati, Nagarjunakonda và là một nhánh về sau của Đại Chúng Bộ. Bộ phái nầy được đề xướng bởi một luận sư rất uyên bác về triết lý Phật Giáo tên là Bahusrutiya. Về giáo lý cơ bản, Đa Văn Bộ cho rằng các lời dạy của Đức Phật về vô thường, khổ, không, vô ngã và Niết Bàn đều có ý nghĩa xuất thế vì sẽ dẫn đến giải thoát. Còn các lời dạy khác thì có giá trị thế tục. Ở điểm nầy, Đa Văn Bộ có thể được xem như là những người đi trước của phái Đại Thừa. Theo họ thì Tăng Già không phải chịu sự chi phối của các luật lệ thế tục. Họ cũng chấp nhận năm điều đề xướng của ngài Đại Thiên xem như quan điểm của mình. Trong một số vấn đề, chủ thuyết của họ có nhiều điểm tuơng đồng với phái Đông Tây Sơn Trụ Bộ, còn trong một số vấn đề khác thì họ lại ngả theo Nhất Thiết Hữu Bộ. Theo Paramartha, Đa Văn Bộ đã cố gắng hòa hợp hai hệ phái Thanh Văn và Đại Thừa. Bộ luận chính của hệ phái nầy là Thành Thật Luận. Đa Văn Bộ thường được xem là một cầu nối giữa trường phái chính thống và Đại Thừa, vì họ tìm cách phối hợp giáo lý của cả hai phái nầy. Harivarman tin vào sự vô ngã nơi con người và sự vô ngã nơi vạn pháp. Giống như những tín đồ của phái chính thống, ông tin vào tính chất đa nguyên của vũ trụ gồm tám mươi bốn yếu tố; và cũng giống như những người thuộc phái Đại Thừa, ông cho rằng có hai loại chân lý, chân lý quy ước và chân lý tuyệt đối. Đi xa hơn, ông còn cho rằng xét trên quan điểm tục đế (chân lý quy ước) thì có ngã thể (atma) hay sự phân xếp vũ trụ thành 84 pháp, nhưng trên quan điểm chân đế thì chẳng còn thứ nào cả, mà là sự rỗng không hoàn toàn (sarva-sunya). Ông tin vào thuyết Phật thân (Buddha-kaya) và Pháp thân (Dharma0kaya) mà ông giải thích là gồm có giới (sila), định (samadhi), tuệ (prajna), giải thoát (vimukti) và tri kiến giải thoát (vimukti-jnana-darsana). Mặc dù không thừa nhận bản chất siêu nhiên tuyệt đối của Phật, nhưng ông vẫn tin vào các quyền năng đặc biệt của Đức Phật, như thập Phật lực, và bốn điều tin chắc (vaisaradya) mà cả Thượng Tọa Bộ cũng chấp nhận. Ông cho rằng chỉ có hiện tại mới là có thực, còn quá khứ và tương lai thì không hiện hữu—The Bahusrutiya school is mentioned in the inscriptions at Amaravati and Nagarjunakonda and is a lter branch of the Mahasanghikas. Its owes its origin to a learned teacher in Buddhist lore. As for the fundamental doctrines of the Bahusrutiyas they maintained that the teachings of the Buddha concerning transitoriness (anityata), suffering (dhukha), the absence of all attributes (sunya), the non-existence of the soul (anatman), and the emancipation (nirvana) were transcendental (lokottara), since they ld to emancipation. His other teachings were mundane (laukika). On this point the Bahusrutiyas may be regarded as the precursors of the later Mahayana teachers. According to them, there was no mode which led to salvation (nirvanika). Further, the Sangha was not subject to worldly laws. They also accepted the five propositions of Mahadeva as their views. In some doctrinal matters they had a great deal in common with the Saila schools, while in others they were closely allied to the Sarvastivadins. According to Paramartha, this sub-sect made an attempt to reconcile the two principal systems of Buddhism, the Sravakayana and the Mahayana. Harivarman's Satyasiddhisastra is the principal treatise of tis school. The Bahusrutiyas are often described as a bridge between the orthodox and the Mahayana school, as they tried to combine the teachings of both. Harivarman believed in the absence of the soul in individuals (atma-nairatmya) and the soullessness of all things (dharma-nairatmya). Like the followers of the orthodox schools, he believed in the plurality of the universe which, according to him, contained eighty-four elements. Like the Mahayanists, he maintained that there were two kinds of truth, conventional (samvrti) and absolute (paramartha). He further maintained that, from the point of conventional truth, atma or the classification of the universe into eighty-four elements existed, but, from the point of view of the absolute truth neither existed. From the point of view of absolute truth there is a total void (sarva-sunya). He believed in the theory of Buddha-kaya as well as of Dharma-kaya, which he explained as consisting of good conduct (sila), concentration (samadhi), insight (prajna), deliverance (vimukti) and knowledge of and insight into deliverance (vimukti-jnana-darsana). Although he did not recognize the absolute transcendental nature of the Buddha, he still believed in the special powers of the Buddha, such as the ten powers (dasa balani), and the four kinds of confidence (vaisaradya) which are admitted even by the Sthaviravadins. He believed that only the present was real, while the past and the future had no existence.
; (多聞部) Phạm: Bàhuzrutìya hoặc Bàhulika, Pàli: Bàhussutaka hoặcBàhulika. Dịch âm: Ba thu lũ đa kha, Bà hống thâu để kha. Cũng gọi Đắc đa văn bộ. Một trong 20 bộ Tiểu thừa. Cứ theo luận Dị bộ tông luân, thì bộ này là từ trong Đại chúng bộ mà chia ra vào khoảng 200 năm sau đức Phật nhập diệt. Về người sáng lập và danh xưng của bộ thì Dị bộ tông luân luận thuật kí cho biết: Thời đức Phật tại thế, có một vị A la hán tên là Tự bì y (cúng tế áo vỏ cây), xưa kia khi còn là vị tiên, lột vỏ cây làm áo để cúng tế trời, nên gọi Tự bì y. Về sau, Ngài xuất gia, đối với giáo pháp do đức Phật nói đều có thể trì tụng. Khi Phật vào Niết bàn, Tự bì y đang ngồi thiền trong núi Tuyết nên không được biết. Đến khoảng 200 năm sau Phật nhập diệt, Ngài mới ra khỏi núi Tuyết, đi đến nước Ương quật đa la để tìm kiếm người đồng tu, Ngài thấy Đại chúng bộ chỉ hoằng truyền nghĩa nông cạn của Tam tạng chứ không biết pháp sâu xa, nên Ngài thành lập một bộ phái riêng gọi là Đa văn bộ để nghiên cứu nghĩa thâm thúy của Tam tạng. Tông nghĩa của bộ này chia ngôn giáo của Phật làm hai loại: Thế gian và Xuất thế gian. Cứ theo luận Dị bộ tông luân nói, thì ngũ âm của Phật là giáo pháp xuất thế, gồm: Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã, Niết bàn tịch tĩnh. Năm pháp này có khả năng đưa chúng sinh vào con đường xuất li, nên gọi là giáo pháp xuất thế. Ngoài ra, theo Tam luận huyền nghĩa, trong nghĩa sâu xa mà Đa văn bộ hoằng hóa, có hàm nghĩa Đại thừa, và luận Thành thực chính đã từ bộ này mà ra, cho nên cũng mang một phần nghĩa Đại thừa. [X. luận Bộ chấp dị; luận Thập bát bộ; Xuất tam tạng kí tập Q.3; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu; Pháp hoa kinh huyền tán yếu tập Q.5]. (xt. Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ).
đa văn chủ
Xem Phổ môn thiên.
đa văn kiên cố
2331為五五百年之第三。多聞,謂廣知頓漸、偏圓、空有等法而受持之。多聞堅固,則謂佛陀入滅後之第三個五百年間,此時期之人唯多聞讀誦而堅固不變。(參閱「五五百年」1065)
; Firm erudition.
; (多聞堅固) Nghe nhiều bền chắc. Năm trăm năm thứ ba trong năm cái 500 năm. Đa văn nghĩa là biết rộng các pháp như: Đố-Tiệm, Thiên-Viên, Không-Hữu v.v... mà thụ trì. Đa văn kiên cố nghĩa là khoảng 500 năm thứ ba sau đức Phật nhập diệt, ở thời kì này người theo Phật giáo chỉ thích học rộng, nghe nhiều để phát triển về mặt lí thuyết, chứ ít người trực ngộ thực tế. (xt. Ngũ Ngũ Bách Niên).
đa văn phân biệt bộ
Xem Thuyết giả bộ.
đa văn thiên
2330多聞,梵名 Vaiśravaṇa,巴利名 Vessavaṇa,音譯為吠室羅摩拏、毘舍羅門、鞞沙門、毘沙門。又作普聞天、種種聞天。為四天王之一,十二天之一。乃閻浮提北方之守護神。住於須彌山第四層之北面。率領夜叉、羅剎等二神眾兼守其餘三州。由於時常守護道場,聽聞佛法,故稱多聞。此多聞天王為印度及西域地方所信奉,然有時亦被視為戰勝之神而受到尊崇。一般之形像呈神王形,腳踏二鬼,左手持寶塔,右手捧寶棒。除為十二天像之一外,亦被單獨尊崇。又因能賜予福德,故亦為七福神之一。 據大唐西域記卷十二所舉,可知于闐國對此天之信仰極盛。又據宋高僧傳卷一所載,我國於唐玄宗天寶年間亦有此種信仰。另於敦煌千佛洞中,有絹本著色之毘沙門圖出土。在日本,鞍馬寺中藏有左手托額之祕佛,又有兜跋毘沙門,此即為密教傳入後,被視為單獨一尊神而受到尊崇之例。另收藏於教王護國寺之多聞天像(唐代作),相傳本為守護王城而置於羅城門之樓上;其形像為西域式,頭戴多角形冠,身披堅韌皮革甲冑。又日本嵯峨棲霞寺(清涼寺內)藏有另一遺作。此外,多聞天王之形像,尚有雙身四臂、十臂等多種。 另據金剛頂瑜伽護摩儀軌、十二天供儀軌等所舉,多聞天之種子為???(vai),三摩耶形為寶棒,真言為「南莫 三曼多沒馱南 吠室囉嚩拏野 娑嚩賀」。又毘沙門天王經載,若修多聞天王法,可得十種利益。〔長阿含經卷二十四天王品、金光明經卷二功德天品、陀羅尼集經卷十、卷十一、大日經疏卷五、法華義疏卷十二、大宋僧史略卷下〕(參閱「十二天」331、「四王天」1673)
; Xem Phổ môn thiênXem Dư Thiên vương.
; (多聞天) Trời Đa văn. Đa văn, Phạm: Vaizravaịa, Pàli: Vessaveịa. Dịch âm: Phệ thất la ma noa, Tì xá la môn, Tì sa môn. Cũng gọi Phổ văn thiên, Chủng chủng văn thiên. Một trong Tứ thiên vương, một trong Thập nhị thiên. Vị thần này giữ gìn phương bắc của châu Diêm phù đề, ở phía bắc của tầng thứ 4 núi Tu di, thống lĩnh hai chúng thần Dạ xoa, La sát và thủ hộ cả ba châu kia. Vì lúc nào vị thần này cũng giữ gìn đạo tràng, lắng nghe Phật pháp nên gọi là Đa văn. Vị Thiên vương này rất được người Ấn độ và vùng Tây vực tin thờ và cũng được tôn là thần Chiến thắng. Hình tượng phổ thông là hình Thần vương, tay trái bưng tháp báu, tay phải cầm gậy báu, chân đạp hai con quỉ. Vì thần này hay ban phúc đức nên cũng được xem là một trong bảy vị Phúc thần. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 11 ghi chép thì biết ở nước Vu điền tín ngưỡng đối với vị Thiên vương này rất thịnh. Còn Tống cao tăng truyện quyển 1 thì ghi, ở Trung quốc, vào khoảng năm Thiên bảo đời vua Huyền tôn nhà Đường cũng có loại tín ngưỡng này. Trong động Thiên Phật ở Đôn hoàng có đào được bức tranh mầu hình Tì sa môn vẽ trên lụa. Ở Nhật bản, trong chùa An mã có cất giữ tượng Bí Phật, tay trái chống vào trán, cũng có Đâu bạt tì sa môn, đây là do Mật giáo truyền vào sau này và được tôn thờ như một vị thần đơn độc. Ngoài ra, ở chùa Giáo vương hộ quốc có tàng trữ tượng Đa văn thiên (tạo vào đời Đường), tương truyền vốn là thần canh giữ thành vua và được đặt trên lầu cửa La thành. Hình tượng theo kiểu Tây vực, đầu đội mũ hình nhiều góc, mình mặc áo giáp bằng da rất bền chắc. Ở chùa Thê hà tại Tha nga cũng còn cất giữ một di tác Đa văn thiên khác. Ngoài ra, Đa văn thiên vương còn có các hình tượng như: 2 mình 4 tay, 10 tay v.v... Lại theo Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ và Thập nhị thiên nghi quĩ, thì chủng tử của Đa văn thiên là: (vai), hình tam muội da là gậy báu, chân ngôn là: Nam mạc tam mạn đa một đà nam phệ thất la phạ noa dã sa phạ hạ. Còn kinh Tì sa môn thiên vương thì nói, nếu tu pháp Đa văn thiên vương thì có thể được 10 điều lợi ích. [X. kinh Trường a hàm Q.24 phẩm Thiên vương; kinh Kim quang minh Q.2 phẩm Công đức thiên; kinh Đà la ni tập Q.10, Q.11; Đại nhật kinh sớ Q.5; Pháp hoa nghĩa sớ Q.12; Đại tống tăng sử lược Q.hạ]. (xt. Thập Nhị Thiên, Tứ Thiên Vương).
Đa Văn Thiên Vương
xem Bốn Thiên Vương hộ thế.
đa văn thiên vương
Dhanada (S), Well-learnt 1- Nghe nhiều biết rộng 2- Đa văn thiên vương. Một trong 4 cõi dục giới của Tứ thiên vương thiên: Trì quốc thiên vương (đông), Tăng trưởng thiên vương (nam), Quảng mục thiên vương (bắc), Đa văn thiên vương( bắc) Xem Tỳ Lâu Bác Xoa Tỳ Sa Môn.
Đa văn thiên 多聞天
[ja] タモンテン Tamonten ||| Vaiśravaṇa. One of the four heavenly kings 四天王, who protects the northern region, ruling over the yakṣas 夜叉 and rākṣasas. Also written 毘沙門. => s: Vaiśravaṇa Một trong Tứ thiền thiên, trấn giữ phía Đông, cai quản các loài Dạ-xoa (夜叉 s:yakṣas) và La-sát (rākṣasas). Còn viết Tỳ-sa-môn 毘沙門.
Đa văn tạng
danh xưng dùng ngợi khen ngài A-nan là bậc nghe nhiều biết rộng, dịch sát nghĩa là “kho chứa (những điều) nghe nhiều”; nhưng ở đây không chỉ chung tất cả những điều được nghe, mà chỉ đến những kinh điển ngài A-nan đã nghe Phật thuyết giảng, vì thế chúng tôi dịch là Kho chứa Kinh điển để rõ ý hơn.
đa văn đại đệ tử
Đa Văn đệ nhứt—The chief among the Buddha's hearer: Ananda.
đa văn đệ nhất
2332指阿難尊者。阿難於佛陀十大弟子中,為聽聞佛陀說法最多並知解無礙者,故稱多聞第一。增一阿含經卷三(大二‧五五八上):「知時明物,所至無疑,所憶不忘,多聞廣遠,堪任奉上,所謂阿難比丘是。」楞嚴經卷一(大一九‧一○六下):「阿難見佛,頂禮悲泣,恨無始來一向多聞,未全道力。」(參閱「阿難」3694)
; The chief among the Buddha's hearers, Ananda.
; (多聞第一) Nghe nhiều bậc nhất. Chỉ cho tôn giả A nan. Trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật, ngài A nan là người nghe Phật nói pháp nhiều nhất và hiểu biết thông suốt, cho nên được gọi là Đa văn đệ nhất. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 3 (Đại 2, 558 thượng), nói: Người biết thời rõ vật, thông suốt không nghi, ghi nhớ chẳng qua nghe nhiều hiểu rộng, đủ khả năng lãnh trách nhiệm phụng sự đức Phật: đó là tỉ khưu A nan. Kinh Lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 106 hạ), nói: A nan thấy Phật, đính lễ buồn khóc, giận mình từ vô thủy đến nay chỉ một mực nghe nhiều, tuy xuất gia đã lâu mà đạo lực không có. (xt. A Nan).
Đa văn 多聞
[ja] タモン tamon ||| To learn much through listening extensively. Widely learned; broad knowledge. => Biết nhiều thông qua nghe nhiều. Học rộng, kiến thức uyên bác.
đa âm
Polysyllabic—Polyphonic.
đa đa
2326梵語 tāta。為印度古語,父之意。至於「母」之梵語為 ambā,巴利語為 ammā(音譯作阿摩)。
; (多多) Phạm: Tàta. Cổ ngữ của Ấn độ, hàm ý là cha. Còn mẹ thì tiếng Phạm làambà, tiếng Pàli là ammà (dịch âm: A ma).
đa đoan
Complicated affairs.
đa đà a già đà
Xem Như Lai.
; Tathagata (skt)—See Như Lai in Vietnamese-English Section and Tathagata in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đa đà a già độ
Tathagata (skt)—See Đa Đà A Già Đa.
đa đạt ma phái
Thuddhamma (P)Một tông phái Phật giáo Miến điện.
đa ốc lại tuấn
2327(1902~ )日本佛教學者。福井縣人。畢業於大谷大學,致力於佛教學、佛教文學之研究。為大谷大學之名譽教授。著有和讚史概說、源氏物語の思想、佛教學辭典等。
Đa-hu-pi-la
S: dhahulipa hoặc dhaguli, dhahuri, dharuri; »Người thắt dây phồng tay«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ða-hu-li-pa người xứ Ðô-ka-ra (s: dhokara), làm nghề bện dây. Ngày nọ ông bện dây quá nhiều, tay ông phồng lên, đau nhức vô kể. Tình cờ một Du-già sư (s: yogin) đi qua, dừng lại hỏi han ông. Vị này nói ông nếu chỉ như thế mà đã than khóc thì sẽ khổ não thế nào nếu phải tái sinh trong ác đạo. Nghe xong, ông lấy làm sợ hãi, xin tu tập đạo pháp. Vị Du-già sư cho ông nhập môn, ban phúc lành rồi dạy ông quán tưởng như sau:|Trước mặt sợi dây thừng,|cùng hình ảnh chiếc dây,|cả hai – ngươi thử nghĩ,|nằm trong Không vô biên.|Sau đó gắng tinh cần,|quán tưởng không giao động,|về một thể uyên nguyên,|không hề có Tự ngã.|Người bện dây nghe lời, quán tưởng liên tục 12 năm. Ông bỗng ngộ rằng cái gọi là »dây« không có tự ngã gì cả, nó chỉ là một hiện tượng cảm thụ tương đối; và thật thể của cảm thụ này bao trùm như không gian rộng lớn thanh tịnh. Ông chứng rằng hiện tượng và khái niệm về hiện tượng chỉ là một, nó nằm trong Pháp giới (s: dharmadhātu) và ông đạt quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmu-drāsiddhi). Ông sống thêm 700 năm nữa để giáo hoá. Bài thánh ca của ông như sau:|Không gian phi nhị nguyên,|chứa đựng đầy tri kiến,|»hai trở về thành một«|cố tìm thì không ra.|Hãy để tâm vô vi,|trong dạng định tĩnh đó,|Lạc thanh tịnh sẽ lên.||H 23: Ða-la. Trong hình này, Ða-la được trình bày với hai hoa sen, nở búp và xoè. Có sách giảng nghĩa là sen nở búp chỉ ban đêm và xoè là ban ngày và như vậy, Ða-la sẵn lòng cứu độ chúng sinh không kể ngày hay đêm.
Đa-la
多羅; S: tārā; cũng được dịch nghĩa là Ðộ mẫu (度母), Duyên độ mẫu (緣度母);|Theo Phật giáo Tây Tạng, Ða-la là một hiện thân của Bồ Tát Quán Thế Âm, sinh ra từ »nước mắt« của Ngài để hỗ trợ chính pháp.|Ða-la là hiện thân dạng nữ nhân của lòng Từ bi và là một vị thần rất được Tây Tạng tôn thờ. A-đề-sa là người đầu tiên thờ nữ thần Ða-la trong thế kỉ thứ 11 và kể từ đó nữ thần này trở thành một Hộ Thần (t: yidam) của nhiều người Tây Tạng. Có đến 21 dạng Ða-la, khác nhau về màu sắc, hình dáng, trang sức, hiện ra trong dạng hiền từ hoặc dữ tợn. Màu sắc thông thường hay thấy của Ða-la là màu lục và trắng. Hai phu nhân của vua Tùng-tán Cương-bố (t: songtsen gampo) trong thế kỉ thứ 7 được xem là hiện thân của hai vị này.
đa-la
tên cây phiên âm từ Phạn ngữ là tla, tên khoa học là borassus flabelliformis, mọc phổ biến ở Ấn Độ, Myanma, Śrỵ Lanka và một số vùng nhiệt đới thuộc châu Phi. Cây cao to, mọc thẳng, hoa trắng lớn, trái chín màu đỏ, ăn được. Lá cây có phiến lớn, rộng, xưa dùng để viết chữ lên và lưu giữ được, gọi là lá bối-đa-la, hay lá bối, đặc biệt là giai đoạn đầu tiên của việc ghi chép kinh điển chủ yếu dùng loại lá bối này, nên gọi là bối diệp kinh. Chiều cao cây trung bình khoảng bảy, tám mươi thước cổ (mỗi thước cổ khoảng 0,33 mét), nhưng trong Huệ uyển âm nghĩa nói rằng người xưa ước lệ chiều cao cây này là 10 trượng (tức 100 thước cổ) để làm đơn vị đo chiều cao. Nếu vậy thì ngang tầm một cây đa-la tức là khoảng hơn 30 mét. Đa-la là loại cây khi bị chặt đứt ngọn thì không thể mọc lên được nữa, cũng như cây dừa, cây cau... Vì thế, trong giới luật đức Phật thường dùng hình ảnh cây này để ví dụ những trường hợp phạm tội không thể cải hối.
Đa-la thọ 多羅樹
[ja] タラス taraju ||| A transliteration of the Sanskrit tāla. Also written in Chinese gaosongshou 高竦樹. A tree resembling the palm, which reaches a height of approximately 25 meters. Its flowers are white and its fruit is red, resembling a pomegranate. Its leaves are big enough to use as fans, and were also used for writing on. => Phiên âm từ chữ tāla trong tiếng Sanskrit. Tiếng Hoa còn viết là Cao tủng thọ (高竦樹c: gaosongshou ). Một loại cây tương tự như cây cọ, vươn đến tầm cao 25 mét. Hoa màu trắng, trái màu đỏ, tương tự như quả lựu. Lá rất lớn, có thể dùng làm quạt, cũng được dùng để viết trên đó.
Đa-la 多羅
[ja] タラ tara ||| (1) An abbreviation for the translation of pātra (鉢多羅), a flat silver bowl placed in front of the Buddha image at ceremonies for incense, etc. (2) A transliteration of tāla, a kind of tree. See 多羅樹 (tuoluoshou). (3) A transliteration of tārā, the pupil of the eye. (4) An abbreviation of the transliteration of xiuduoluo 修多羅, Sanskrit sūtra. (5) In the Esoteric sect, a transliteration for tārani, a woman bodhisattva. => 1. Viết tắt của từ dịch âm Bát-đa-la (鉢多羅s: pātra ), một cái bát bằng bạc hơi phẳng, đặt trước mặt tượng Phật để cắm hương trong những buổi lễ. 2. Phiên âm của chữ tāla, là một loại cây. Xem Đa-la thọ (多羅樹 c: tuoluoshou). 3. Phiên âm của chữ tārā, con ngươi của mắt. 4. Viết tắt của từ phiên âm Tu-đa-la (修多羅s: sūtra; c: xiuduoluo). 5. Trong Mật giáo, là tiếng phiên âm của tārani, một vị nữ Bồ-tát.
Đa-ma-la-bạt 多摩羅跋
[ja] タマラハツ tamarahatsu ||| A kind of fragrant plant called tamāla-pattra, which is used for making incense. Translated into Chinese as 藿葉香and 芬香. 〔法華經 T 262.9.21c24〕 => Một loại thực vật có mùi thơm gọi là cây tamāla-pattra, dùng để làm hương. Dịch sang tiếng Hán là Hoắc diệp hương (藿葉香), Phần hương (芬香).
Đa-ri-ka-pa
S: dārikapa; »Vương giả, nô lệ của kĩ nữ«; |Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, đệ tử của Lu-i-pa (s: lūipa), sống trong thế kỉ thứ 9. Chuyện này thường được kể chung với chuyện Ðen-gi-pa (s: deṅgipa).|Ða-ri-ka-pa vốn là nhà vua In-đra-pa-la (s: in-drapāla) của thành Hoa Thị (s: pāṭaliputra). Lần nọ, nhà vua đi săn về thì gặp Ðạo sư Lu-i-pa, ông tỏ lòng quý trọng, muốn mời vị này về hoàng cung, nhưng Lu-i-pa từ chối. Sau đó ông quyết tâm học đạo, nhường ngôi cho con và cùng Ðen-gi-pa (s: deṅgipa) tìm Lu-i-pa. Lu-i-pa cho ông nhập dòng Ca-kra-sam-vara tantra, nhưng vì cả hai không có gì để cúng dường, họ tình nguyện dâng thân mình. Lu-i-pa đem cả hai đến xứ Bi-ra-pu-ri (s: bhirapu-rī) thành Jan-ti-pur (s: jaṅtipur) và bán ông cho nàng Ða-ri-ma (s: darima), kĩ nữ chúa của một ngôi đền tại đó. Lu-i-pa nhận tiền, cùng Ðen-gi-pa đi mất.|Ông phục vụ cho Ða-ri-ma suốt 12 năm nhưng luôn luôn tu học theo lời dạy của Ðạo sư. Ngày nọ có một khách làng chơi – cũng là một nhà vua – đến chơi đền. Trong đêm, khách ra ngoài bài tiết thì thấy trong một bụi cây có hào quang toả ra. Khách ngạc nhiên thấy tên nô lệ của Ða-ri-ma ngồi trên ngai, được 15 tiên nữ hầu hạ. Khách liền gọi Ða-ri-ma, mọi người lúc đó mới biết tên nô lệ là một thánh nhân. Ða-ri-ma tạ lỗi, xin ông nhận lời làm Du-già sư trong đền, nhưng ông từ chối; ngược lại ông nhận Ða-ri-ma và khách làm đệ tử. Ông ngồi trên không trung hát:|Tài sản của vua chúa,|kể cả lọng, voi, ngai,|nhạt mờ bên cạnh ta.|Lọng giải thoát che đầu,|ta cưỡi xe đại thừa,|ngồi trên ngai ba cõi:|niềm vui Ða-ri-ka.|Bài kệ chứng đạo của ông có những dòng sau:|Cõi Cực lạc trong ta,|vì mê vọng che khuất.|Hãy vun bồi thiện nghiệp,|và huệ giác huyền bí,|để trực nhận cõi này.|Dù cho sống trăm năm,|dù cho cố vun bồi,|thiện nghiệp và huệ giác,|mà không có Ðạo sư,|cũng không đạt Cực lạc.
đa-ri-ni
Dharini (S)Mật chú được mở rộng để định tâm. Nghĩa và âm không được liên hệ gì đến những điều có nghĩa khác.
đai
1) To bear. 2) A belt.
đai bi tâm đ
à la ni Karuṇika-hṛdaya-dhāraṇī (S)Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm Đà la ni, Đại bi chúCâu chú của ngài Quán thế âm truyền dạy, có Phật Thích ca chứng minh.
đam bô la
4288梵語 tāmbūla 之音譯。又作擔步羅、贍步羅。學名 Piper betle。屬胡椒科之一種爬藤類常綠植物。原產於印度、錫蘭、緬甸等熱帶地區。葉有香氣,略具麻醉性,和以少量檳榔子、生石灰,咀嚼之,可健胃消化,復能避免饑餓之苦。比丘於飯後多放耽餔羅葉入口中咀嚼,作為消化劑之用。慧琳音義卷六十六(大五四‧七四五中):「耽餔羅(中略),西國藥果名也,俗土女人多含此藥。」〔集異門足論卷四〕
; (耽餔羅) Phạm: tàmbùla. Cũng gọi Đảm bộ la, Thiệm bộ la. Tên khoa học: Piper batler. Loại thực vật thường xanh thuộc họ hồ tiêu, tức là cây trầu, sinh sản ở vùng nhiệt đới như các nước: Ấn độ, Tích lan, Miến điện, v.v... Lại có mùi thơm,cặp với chút hạt cau và vôi để nhai, giúp việc tiêu hóa, mà cũng có thể làm cho người nhai hơi say. Các vị tỉ khưu cũng thường nhai trầu. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 66 (Đại 54, 745 trung), nói: Đam bô la (...) là tên quả thuốc bên Ấn độ. Đàn bà địa phương phần nhiều ngậm thuốc này. [X. luận Tập dị môn túc Q.4].
đam bổ la
See Đảm Bộ La.
đam ma lật để quốc
4288耽摩栗底,梵名 Tāmralipti。東印度古國名,位於恆河河口。其地為海陸交會處,商業繁盛。據大唐西域記卷十載,該國有伽藍十餘所,僧眾千餘人,天祠五十餘所,濱臨海隅,奇珍異寶甚多。玄奘嘗從此地欲度師子國,後聽從一沙門之勸,乃南折向烏荼國。義淨曾於此地止住一年,習學聲論及梵語。阿育王曾依王女僧伽蜜多之請,贈菩提樹之分枝與師子國,船即從此處出,可知其為印度東渡之要港。其地約於今荷格里河(Hughly)右岸之坦魯克(Tamluk)。現猶存一小港,舊時之市街陷沒水面下約六公尺,近來發掘遺物不少。〔高僧法顯傳、大史(巴 Mahāvaṃsa, x)i; N.L. Dey: The Geographical Dictionary of Ancient and Mediaeval India〕
; (耽摩栗底國) Đam ma lật để, Phạm: Tàmralipti. Tên một nước xưa thuộc miền Đông Ấn độ ở ngay cửa sông Hằng, nơi mà đường lưu thông trên biển và trên bộ gặp nhau, là một hải cảng quan trọng, cho nên thương nghiệp rất phát đạt. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10 ghi, thì ở nước này có hơn 10 ngôi già lam với hơn nghìn vị tăng và hơn 50 ngôi đền thờ trời. Ngài Huyền trang đã từng đến đây và muốn vượt biển sang nước Sư tử (Tích lan), sau nghe lời khuyên của một vị sa môn, ngài đổi hướng đi xuống miền Nam đến nước Ô đồ. Ngài Nghĩa tịnh cũng đã từng ở đây một năm để học Thanh luận và tiếng Phạm. Hiện nay, nơi này là vùng đất Tamluk trên hữu ngạn sông Hughly, chỉ còn một hải cảng nhỏ, còn thành phố thủa xưa thì đã chìm sâu 6m dưới mặt nước. Gần đây, người ta đã đào được nhiều di vật. [X. Cao tăng Pháp hiển truyện; Đại sử (Pàli: Mahàvaôsa, X) i; N.L. Dey: The Geographical Dictionary of Ancient and Mediaeval India].
đam mê
1) (n) Passion—Indulgence. 2) (v) To indulge—To have a great desire for—To have a passion for.
Đam Nguyên Ứng Chân
耽源應真; C: dānyuán yìngzhēn; J: tangen ō-shin; 8/9. tk.;|Thiền sư Trung Quốc. Sư là môn đệ của Quốc sư Nam Dương Huệ Trung và được Quốc sư truyền cho cách sử dụng 97 viên tướng, có thể hiểu là một hệ thống truyền pháp bí mật siêu việt chỉ dành cho những người hạng thượng căn. Sư truyền lại hệ thống này cho Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, Tổ thứ hai của tông Quy Ngưỡng và từ đây hệ thống 97 viên tướng trở nên một thành phần giảng dạy của các Thiền sư trong tông này.
đam nguyên ứng chân
Tangen Oshi (J), Danyuan yingzhen (C), Tangen Ōshin (J)Tên một vị sư.
Đam Nguyên 耽源
[ja] トンゲン Tangen ||| Danyuan; see Yingzhen 應眞. Tangen (j); Danyuan (c); => Xem Ứng Chân (c: Yingzhen 應眞).
đam thị y
4288染污(即不善與有覆無記)之喜受、憂受、捨受,稱為耽嗜依。反之,善之三受,稱為出離依。前者是耽嗜於六境,為煩惱之所依止者;後者則為出離迷界之所依者。耽嗜依若由六塵之差別而言,稱為六耽嗜;六耽嗜各有三受之別,總有十八句,稱為十八意近行;若以之與出離依之十八項合併之,則稱三十六師句;每一師句復有三世之別,其數總有一百零八,稱為百八受。〔大毘婆沙論卷一九○、俱舍論卷十、瑜伽師地論卷三〕
; (耽嗜依) Chỗ nương của sự ham thích. Tức là cảm nhận mừng, cảm nhận lo, cảm nhận không mừng không lo. Ba cảm nhận này là nhiễm ô, là chỗ nương của các phiền não. Trái lại, ba cảm nhận thiện, gọi là Xuất li y, là chỗ nương để ra khỏi cõi mê đắm. [X. luận Đại tì bà sa Q.190; luận Câu xá Q.10; luận Du già sư địa Q.3].
Đam trước 耽著
[ja] トンジャク tanjaku ||| Addiction; desire and attachment. => Mê đắm, ham muốn và dính mắc.
đan
4910禪林用語。即記錄文書之紙片或書札。有名單、單位、鄰單、眠單、草單、差單、單帳、日單、旬單、月單等種類。(一)名單。略稱單。如在紙上書寫各自之名字,而貼置於僧堂內各人之座位、床位。叢林兩序須知西序知客須知條載,新到之僧侶懇求進堂者,應先引之拜見方丈,發給單票之後,始可送入,即為其例。一般多用紅色紙片書寫之。 (二)單位。略稱單。又作掛搭單。指僧堂內各人之座位,或各單前長六尺、寬三尺之空間;亦即各人坐臥、飲食之座席。床前所置寬八寸之板,稱作單板。一般稱僧堂內各人之席位為「三條椽下七尺單前」,即因床位之橫面(寬度)有三尺,其上有三條木椽,床位之長度(深度)有六尺,再加上床前一尺之單板,合為七尺。此外,在自己左右兩鄰之單位,稱為鄰單。又辭別寺院而他去,稱為起單,或稱抽單。一般言之,安居終了後,若受師家指導而無效果,則應起單;或對成績不良者,由師家命其起單。僧眾請假暫時外出,而超過十五日以上者,亦須起單,故起單又稱暫暇(暫假)。開創僧堂,即稱開單。若犯戒被擯棄出寺,稱為遷單。 (三)眠單。即睡覺時所用之寢具。棉被又稱被單。 (四)凡記錄各種名稱之簿錄或帳簿,稱作單。如修法要之際,為告知大眾讀誦之經典名稱,以黃紙書記者,稱作經單。列寫名字而成目錄者,稱作簿單。揭示分配職務之名單,稱作差單,又作差帳、差定,即依據輪差僧簿而次第差定其職務之名單。安居所用之戒臘簿(僧籍簿),稱作草單,即受戒以後,依年次之多少,以顯示僧席之戒臘牌草稿。金錢之出納簿,稱作單帳。每日記錄出納之紙片,稱作日單;每十日記錄出納一次之紙片,稱作旬單;每一月之出納記錄,則稱為月單。此外,每月發予住眾之零用款項,稱為單銀、單嚫。〔敕修百丈清規卷上住持章請喪司職事條、卷上住持章唱衣條、卷下大眾章遊方參請條、卷下大眾章日用軌範條、卷下節臘章夏前出草單條、卷下兩序章副寺條、禪苑清規卷一、卷二、祖庭事苑卷八雜志、僧堂清規卷三結制草單法〕(參閱「單帳」4914、「請假」6162)
; 1) Màu đỏ—Red—Cinnabar colour. 2) Phương thuốc: A remedy—Drug—Elixir.
; (單) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tờ giấy ghi chép văn thư, đơn từ hoặc các việc trong tùng lâm, gồm có các loại: 1. Danh đơn, gọi tắt là Đơn. Miếng giấy ghi tên mỗi người, dán ở chỗ ngồi, hoặc dán ở giường nằm của mình trong nhà Tăng. Thông thường dùng giấy mầu hồng để ghi. 2. Bạ đơn, cuốn sổ ghi tên của tăng chúng trong tùng lâm. 3. Thảo đơn, cuốn sổ ghi tuổi hạ (sổ tăng tịch) của chư tăng trong thời kì an cư. 4. Sai đơn, cũng gọi Sai trướng, Sai định. Tờ giấy ghi các chức vụ theo thứ tự đã được luân phiên phân bổ. 5. Kinh đơn, tờ giấy vàng ghi tên các bộ kinh mà đại chúng phải đọc tụng hàng ngày. 6. Đơn trướng, sổ chi thu tiền bạc. 7. Nhật đơn, giấy ghi chép các khoản chi thu mỗi ngày. 8. Tuần đơn, giấy ghi chép các khoản chi thu 10 ngày một lần. 9. Nguyệt đơn, giấy ghi các khoản thu chi hàng tháng. 10. Đơn ngân, cũng gọi Đơn sấn. Tờ giấy ghi các khoản chi linh tinh phát cho chúng tăng thường trụ hàng tháng. 11. Đơn vị, gọi tắt là Đơn. Cũng gọi Quải đáp đơn. Chỗ ngồi hoặc nằm của mỗi người trong nhà Tăng. Chỗ ngồi hoặc nằm này dài 6 thước (Tàu), rộng 3 thước. Hai đơn ở hai bên cạnh mình gọi là Lân đơn. Khi từ biệt chùa viện mà đi gọi là Khởi đơn, hoặc gọi là Trừu đơn (rút đơn). Những đồ dùng khi ngủ nghỉ, gọi là Miên đơn; cái mền để đắp, gọi là Bị đơn. Khai sáng tăng đường gọi là Khai đơn. Nếu người phạm giới bị đuổi ra khỏi chùa, gọi là Thiên đơn. [X. mục Thỉnh tang tư chức sự, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; mục Du phương tham thỉnh, mực Nhật tụng quĩ phạm, chương Đại chúng, mục Hạ tiền xuất thảo đơn, chương Tiết lạp và mục Phó tự, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; Thiền uyển thanh qui Q.1, Q.2; mục Tạp chí trong Tổ đường sự uyển Q.8; Kết chế thảo đơn pháp trong Tăng đường thanh qui Q.3]. (xt. Đơn Trướng, Thỉnh Giả).
đan ba tang kết
1038請參閱 大乘中觀釋論 (?~1117)西藏名 Dam-pa saṅs-rgyas。乃弘傳西藏覺域派(藏 Good-yul-pa)與希解派(藏 Shi-byed-pa)之南印度遊方僧。少年時代即習文法學等諸學問,後依窟泄摩提婆(梵 Kṣemadeva)出家,習學戒律,並嚴守波羅提木叉。出家後五度赴藏,於前後藏南部傳法。其教法以般若為主,密法主傳大印法門。北宋紹聖四年(1097)在後藏定日附近建寺。相傳晚年曾往五臺山朝拜。示寂後,內地僧人將其圖像刊印流傳。其所傳教法,形成希解派、覺域派,前者以修行般若經義、斷除生死一切苦惱為宗義,後者宣說慈悲菩提心與性空見。所傳之希解派遍佈西藏,並遠播至我國內地,亦稱為丹巴派(藏 Dam-pa-ba),彼被尊為該派之創始者。〔Deb-thersṅon-po(The Blue Annals); G. Tucci:Tibetan Painted Scrolls; L. A. Waddell:The Buddhism of Tibet; H. Hoffmann: Die Religionen Tibets(The Religions of Tibet)〕
; (丹巴桑結) (? - 1117) Tạng: Dam-pa saís-rgysa. Vị tăng du phương người Nam Ấn độ truyền bá giáo pháp của phái Giác vực (Tạng: Good-yul-pa) và phái Hi giải (Tạng: Shibyed-pa) thuộc Phật giáo Tây tạng. Thủa nhỏ sư học Văn pháp, sau xuất gia theo ngài Quật tiết ma đề bà (Phạm: Kwemadeva) học tập giới luật và giữ giới rất nghiêm. Sư đã đến Tây tạng năm lần, truyền pháp ở miền Nam Tiền tạng và Hậu tạng. Giáo pháp của sư chủ yếu là Bát nhã, còn về Mật pháp thì sư truyền pháp môn Đại ấn. Năm Thiệu thánh thứ 4 (1097), sư xây chùa ở gần Định nhật tại Hậu tạng. Tương truyền lúc về già sư từng đến chiêm bái núi Ngũ đài. Sau khi sư tịch, chư tăng trong nước vẽ hình sư để lưu truyền. Giáo pháp do sư truyền được hình thành làm hai phái: 1. Phái Hi giải, tu hành theo nghĩa kinh Bát nhã, cốt yếu dứt trừ tất cả phiền não sinh tử. 2. Phái Giác vực, tuyên giảng tâm bồ đề từ bi và kiến giải tính không. Riêng phái Hi giải sau được truyền bá khắp nước Tây tạng, rồi lan cả đến Trung quốc, cũng gọi là phái Đan ba (Tạng:Dampa-ba) và ngài Đan ba tang kết được tôn làm Tổ khai sáng của phái này. [X. Deh-ther síon-po (The Blue Annals); G. Tucci: Tibetan Painted Scrolls; L. A. Waddell: The Buddhism of Tibet; H. Hoffmann: Die Religionen Tibets (The Religions of Tibet)].
đan bạch
4912三種羯磨之一,四種羯磨之一。又作白一、單白法、白羯磨。即作授戒、懺悔等作法之宣告儀式中,對於最輕微之事、所常行之事,或是嚴制,僅須一度告白於眾,其事便得成立者。有說戒、行鉢、剃髮等三十九種。〔根本說一切有部毘奈耶卷二、四分律行事鈔卷上一、四分律行事鈔資持記卷上一、四分律刪補隨機羯磨疏卷一〕(參閱「羯磨」6137)
; (單白) Cũng gọi Bạch nhất, Đơn bạch pháp, Bạch yết ma. Một trong ba loại yết ma, một trong bốn loại yết ma. Bạch trước mọi người một lần. Theo tác pháp yết ma, đối với những việc nhỏ nhặt, tầm thường hàng ngày, thì khi bàn bạc (yết ma) chỉ cần bạch cho chúng tăng biết một lần là việc ấy đã thành. Gồm có 39 việc thuộc Đơn bạch như: Thuyết giới, hành bát, cạo tóc v.v... [X. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự Q.2; Tứ phần luật hành sự sao Q.thượng phần 1; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng phần 1; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ Q.1]. (xt. Yết Ma).
đan bện vào nhau
To be woven.
đan châu nhĩ
1039西藏名 Bstan-ḥgyur。為西藏大藏經二藏之一。西藏大藏經分為教說翻譯、論著翻譯等兩部,音譯甘珠爾、丹珠爾。「甘」意謂教,「丹」意謂論,「珠爾」則謂翻譯。甘珠爾又稱正藏,丹珠爾則稱副藏、雜藏、續部等,此係布頓(藏 Bu-ston)對西藏大藏經所作獨特之分類法,其後成為定式。其內容包含諸論師之教語、註釋書、密教儀軌、記傳、語言、文字等甘珠爾所未曾網羅者。此外,亦收錄甚多西藏撰述之諸書。 蓋布頓主張丹珠爾分為三門,即:(一)論釋初法輪者為小乘論,(二)論釋中法輪者為中觀般若諸論,(三)論釋後法輪者為瑜伽諸典。以上三門中又各列為「觀」、「行」兩目。此係依照佛陀說法次序三輪所作之判教組織。復由論典所論內容之不同,分別為說世俗諦論典、說勝義諦論典、說解脫道論典三類。其中說世俗諦論典又分為(1)一般性之世道論典,(2)專門性之利他論典(包括因明、聲明、醫明、工巧明四項),(3)利益自身之論典(即內明)。西藏大藏經版本達十數種之多,而以德格藏、新奈塘藏、北京藏等最具代表性,此三種版本皆分為兩部(甘珠爾、丹珠爾),其中德格藏之丹珠爾包括讚頌部、祕密部、般若部、中觀部、經疏部、唯識部、俱舍部、律部、佛傳部、書翰部、因明部、聲明部、醫明部、工巧明部、西藏撰述部、補遺經論部及總目錄,總計二一三函,三四○○餘部。新奈塘藏之丹珠爾包括讚頌部、祕密部、經釋部、聲明等及目錄,凡收二二四函。北京藏之丹珠爾部分則有讚頌部、祕經疏部(分時輪部等二十四項)、經疏部(分般若部等十二項),另附加補遺經、西藏撰述、願文等,總收二二四函,五一○○餘部。
; (丹珠爾) Tạng: Bstan-ḥgyur. Một trong hai bộ Đại tạng kinh Tây tạng. Đại tạng kinh Tây tạng được chia làm hai bộ: Cam châu nhĩ và Đan châu nhĩ. Cam nghĩa là giáo, Đan nghĩa là luận, còn Châu nhĩ thì nghĩa là phiên dịch. Như vậy, Cam châu nhĩ là Giáo thuyết phiên dịch, còn Đan châu nhĩ là Luận trứ phiên dịch. Cam châu nhĩ cũng gọi là Chính tạng, còn Đan châu nhĩ thì gọi là Phó tạng, Tạp tạng, Tục bộ v.v... đây là cách phân loại đặc biệt của ngài Bố đốn (Tạng: Bu-ston), sau trở thành phương thức nhất định. Nội dung của Đan châu nhĩ bao gồm những lời dạy, sách chú thích, nghi quĩ Mật giáo, truyện kí, ngôn ngữ, văn tự v.v... của các Luận sư. Ngoài ra, còn thu chép những sách soạn thuật của Tây tạng. Ngài Bố đốn chia Đan châu nhĩ làm 3 môn: 1. Luận thích sơ pháp luân là luận Tiểu thừa. 2. Luận thích trung pháp luân là các luận Trung quán bát nhã. 3. Luận thích hậu pháp luân là các kinh Du già. Trong ba môn trên, mỗi môn lại chia làm hai mục: Quán và Hành. Đây là tổ chức phán giáo căn cứ theo thứ tự Tam luân thuyết pháp của đức Phật. Ngoài ra, do nội dung không giống nhau, các luận điển lại được chia làm 3 loại: Thuyết thế tục đế luận điển, Thuyết thắng nghĩa đế luận điển và Thuyết giải thoát đạo luận điển. Trong đó, Thuyết thế tục đế luận điển lại được chia ra 3 bộ môn: 1. Luận điển có tính cách phổ thông về đạo xử thế. 2. Luận điển có tính cách chuyên môn về lợi tha (gồm 4 loại: Nhân minh, Thanh minh, Y phương minh, Công xảo minh). 3. Luận điển có tính cách tự lợi (tức là Nội minh). Các bản in của Đại tạng kinh Tây tạng thì rất nhiều, nhưng tiêu biểu nhất thì có: Đức cách tạng, Tân nại đường tạng, Bắc kinh tạng v.v... Ba loại bản in này đều chia làm hai bộ Cam châu nhĩ và Đan châu nhĩ. Trong đó: - Đan châu nhĩ của tạng Cách đức bao gồm Tán tụng bộ, Bí mật bộ, Bát nhã bộ, Trung quán bộ, Kinh sớ bộ, Duy thức bộ, Câu xá bộ, Luật bộ, Phật truyện bộ, Thư hàn bộ, Nhân minh bộ, Thanh minh bộ, Công xảo minh bộ, Tây tạng soạn thuật bộ, Bổ di kinh luận bộ và Tổng mục lục, tất cả có 213 hòm, hơn 3.400 bộ. - Đan châu nhĩ của tạng Tân nại đường bao gồm Tán tụng bộ, Bí mật bộ, Kinh thích bộ, Thanh minh bộ v.v... và mục lục, được thu vào 224 hòm. - Bộ phận Đan châu nhĩ của tạng Bắc kinh thì có Tán tụng bộ, Bí kinh sớ bộ (chia ra 24 hạng mục gồm Thời luân bộ v.v..), Kinh sớ bộ (chia làm 12 hạng mục gồm Bát nhã bộ v.v..), còn phụ thêm Bổ di kinh, Tây tạng soạn thuật, Nguyện văn v.v... tất cả là 224 hòm, hơn 5.100 bộ.
đan hà
Thiền sư nổi tiếng Trung quốc (739-824), là môn đồ kế vị của Thạch Đầu Hy Thiên. Ông nổi tiếng vì thái độ và bản tánh tự nhiên của mình. Người ta kể rằng trong một lần về thăm Mã tổ, trong khi ngồi chờ Mã Tổ ra tiếp, ông bèn nhảy thót lên vai tượng Văn Thù. Chư Tăng trong tự viện của Mã Tổ tỏ ra giận dữ, nhưng khi Mã Tổ ra đón thì Ngài cười tiếp Đan Hà mà rằng: “Con của ta, con thật là tự nhiên.” Một lần khác khi ông ghé lại một thiền viện, vì trời lạnh nên ông lấy pho tượng Phật trên chánh điện xuống đốt để sưởi ấm. Sư trụ trì trách ông bất kính với một pho tượng thiêng liêng, thì ông trả lời rằng ông đốt để lấy xá lợi, vị sư tưởng ông ngờ nghệch, bèn cười mà hỏi vặn lại ông làm sao tìm được xá lợi trong pho tượng gỗ trả lại cho sư, Đan hà bèn cười to mà rằng: “thế sư lại trách ta đốt gỗ?”—Tan Hsia—A famous Chinese Zen master (739-824), a student and dharma succesor of Shih-t'ou His-ch'ien. He was famous for his natural personality. It is said that one time he returned to see Ma-tsu and while waiting for Ma-tsu to come out to welcome him, he sat himself astride the neck of a statue of Manjusri and caused ourageous opposition from all the monks in Ma-tsu's monastery; however, when Ma-tsu came out, greeted him with a smile and the words: “My son, you are very natural.” Another time when he wandered around the country, once he spent the night in a Zen temple. It was so cold outside, so he took a wooden buddha statue off the shrine to make a fire to warm himself. The abbot (temple priest) told him that as a monk, he should pay respect to the sacred statue. Tan Hsia said, “If you say so, I will get the Buddha's relics out of the ashes and give them back to you." The abbot laughed thinking that this is a dull monk. He told Tan Hsia, “How can you expect to find Buddha's relics in wood?” Tan-Hsia burst out laughing and replied,”Why are you bearing me then for burning the wood?”
đan hà ngật phạn dã vị
1040禪宗公案名。又作丹霞問甚處來、丹霞問僧。此則公案,丹霞天然禪師藉一僧喫飯之事,指引佛法大事。碧巖錄第七十六則(大四八‧二○三中):「丹霞問僧:『甚處來?』僧云:『山下來。』霞問:『喫飯了也未?』僧云:『喫飯了。』霞問:『將飯來與汝喫底人,還具眼麼?』僧無語。」此處丹霞問「甚處來」,意味父母未生前之處;問「將飯來與汝喫底人,還具眼麼」,則表示能施、所施、施物三輪體空之意。〔景德傳燈錄卷十四、聯燈會要卷十九、五燈會元卷五、禪宗頌古聯珠通集卷十四〕
; (丹霞吃飯也未) Đan hà ăn cơm chưa? Tên công án trong Thiền lâm. Cũng gọi Đan hà vấn thậm xứ lai (Đan hà hỏi từ đâu đến?), Đan hà vấn tăng (Đan hà hỏi vị tăng). Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa thiền sư Đan hà Thiên nhiên và một vị tăng. Bích nham lục tắc 76 (Đại 48, 203 trung) chép: Đan hà hỏi vị tăng: - Từ đâu đến? Vị tăng trả lời: - Dưới núi đến. Sư hỏi: - Ăn cơm chưa? Tăng đáp: - Ăn rồi! Sư hỏi tiếp: - Người đem cơm tới cho ông ăn còn đủ mắt không? Vị tăng không trả lời được. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.14; Liên đăng hội yếu Q.19; Ngũ đăng hội nguyên Q.5; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.14].
Đan Hà Thiên Nhiên
丹霞天然; C: dānxiá tiānrán; J: tanka tennen; 739-824;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Thạch Ðầu Hi Thiên và Mã Tổ Ðạo Nhất và cũng là thầy của Thiền sư Thuý Vi Vô Học. Sư là nhân vật chính trong Công án 76 của Bích nham lục.|Như Thiền sư Viên Ngộ Phật Quả thuật lại trong Bích nham lục, Sư trước học Nho đi vào Trường An ứng thi làm quan. Trên đường đi Sư gặp một thiền khách, ông ta hỏi: »Nhân giả đi đâu?« Sư đáp: »Ði thi làm quan.« Ông khách lại nói: »Thi làm quan đâu có bằng thi làm Phật.« Sư hỏi: »Thi làm Phật phải đến chỗ nào?« Ông khách đáp: »Hiện nay ở Giang Tây có Mã Ðại sư ra đời, là trường thi làm Phật, nhân giả nên đến đó.« Sư bỏ thi, tìm đến Giang Tây ra mắt Mã Tổ. Mã Tổ lại khuyên Sư đến Thạch Ðầu Hi Thiên.|Ðến Thạch Ðầu, Sư luân phiên làm bếp ba năm (Ðiển toạ). Một hôm Thạch Ðầu bảo chúng: »Ngày mai cắt cỏ ở dưới điện Phật.« Sáng hôm sau, đại chúng mỗi người cầm liềm cầm cuốc đến trước chùa làm cỏ. Chỉ riêng Sư lấy thau múc nước gội đầu, đến quì gối trước Hoà thượng. Thạch Ðầu thấy thế cười liền cạo tóc cho Sư. Cạo xong Thạch Ðầu lại vì Sư nói Giới (s: śīla), Sư bịt tai ra đi.|Trở lại Giang Tây yết kiến Mã Ðại sư, chưa lễ ra mắt, Sư đi thẳng vào tăng đường trèo lên cổ tượng Văn-thù ngồi. Ðại chúng kinh ngạc chạy báo cho Mã Tổ hay. Tổ đích thân vào tăng đường trông thấy bèn nói: »Con ta, Thiên Nhiên!« Sư bèn bước xuống lễ bái, thưa: »Cảm tạ thầy ban cho pháp hiệu.« Mã Tổ hỏi: »Từ đâu đến?« Sư thưa: »Từ Thạch Ðầu đến.« Tổ hỏi: »Ðường Thạch Ðầu trơn, ngươi có té chăng?« Sư đáp: »Nếu có trợt té thì chẳng đến đây.«|Sau khi từ biệt Mã Tổ, Sư vẫn tiếp tục du phương. Ðến chùa Huê Lâm, gặp lúc trời lạnh, Sư bèn lấy tượng Phật gỗ đốt để sưởi, viện chủ trông thấy quở: »Sao đốt tượng Phật của tôi?« Sư lấy gậy bới tro nói: »Tôi đốt tìm Xá-lị.« Viên chủ bảo: »Phật gỗ làm gì có Xá-lị?« Sư nói: »Ðã không có Xá-lị thì thỉnh thêm hai vị nữa đốt.« Viện chủ nghe câu này tất cả kiến chấp đều tan vỡ.|Niên hiệu Trường Khánh năm thứ tư (824) ngày hai mươi ba tháng sáu Sư gọi đệ tử bảo: »Lấy nước nóng tắm, ta sắp đi đây.« Tắm xong, Sư đội mũ mang giày cầm trượng, duỗi một chân chưa đến đất liền tịch. Vua sắc phong là Trí Thông Thiền sư.
đan hà thiêu phật
1040禪宗公案名。丹霞天然燒木佛之公案,旨在闡明真正信佛者方為續佛慧命,若視偶像為佛,反損佛之慧命。五燈會元卷五(卍續一三八‧八四上):「後於慧林寺,遇天大寒,取木佛燒火向。院主訶曰:『何得燒我木佛?』師以杖子撥灰曰:『吾燒取舍利。』主曰:『木佛何有舍利?』師曰:『既無舍利,更取兩尊燒。』主自後眉鬚墮落。」
; (丹霞燒佛) Đan hà đốt tượng Phật. Tên công án trong Thiền lâm. Ngũ đăng hội nguyên quyển 5 (Vạn tục 138, 48 thượng) chép: Một hôm sư đến chùa Tuệ lâm, gặp thời tiết giá lạnh, sư lấy tượng Phật bằng gỗ đốt để sưởi ấm. Viện chủ trách rằng: - Sao lại đốt tượng Phật của tôi? Sư đưa gậy bới đám tro nói: - Tôi đốt để lấy xá lợi! Viện chủ nói: - Tượng Phật bằng gỗ làm gì có xá lợi? Sư nói: - Nếu không có xá lợi thì đốt pho tượng khác!. Viện chủ từ đó về sau rụng cả râu mày. Điểm cốt yếu trong công án này nhằm cảnh giác người tu hành chân chính, nếu cứ cố chấp tượng gỗ là Phật mà không quán xét tâm tính, chiếu phá vô minh, khơi mở trí tuệ vô lậu, thì khó có cơ đạt được giác ngộ giải thoát.
Đan Hà Tử Thuần
丹霞子淳; C: dānxiá zǐchún; J: tanka shijun; ?-1119;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Tào Ðộng đời thứ chín. Sư nối pháp Thiền sư Phù Dung Ðạo Khải. Môn đệ của Sư có hai vị xuất sắc nhất là Chân Yết Thanh Liễu và Hoằng Trí Chính Giác.|Sư họ Cổ, quê ở Kiếm Châu, khoảng 20 tuổi xuất gia. Nơi Phù Dung, Sư được triệt ngộ. Sau Sư đến trụ núi Ðan Hà tại Ðặng Châu.|Sư dạy chúng: »Dừng dừng đúng ngọ còn thiếu nửa, lặng lặng canh ba vẫn chửa tròn, sáu cửa chẳng từng biết hơi ấm, lại qua thường ở trước trăng trong.«|Có vị tăng hỏi: »Ngưu Ðầu (Thiền sư Pháp Dung) khi chưa thấy Tứ tổ thế nào?« Sư đáp: »Cúc vàng vừa nở ong đua hút.« Tăng hỏi: »Sau khi thấy thế nào?« Sư đáp: »Mầm khô hoa rụng rõ không nương.«|Ðến khoảng niên hiệu Tuyên Hoà (1119-1121) vào mùa xuân, Sư viên tịch, tháp được xây ở phía Nam Hồng Sơn.
đan hà tử thuần thiền sư ngữ lục
1039凡二卷。全稱隨州大洪山淳禪師語錄。又作妙續大師語錄。宋代曹洞宗僧丹霞子淳(1064~1117)撰,慶預校勘。收於卍續藏第一二四冊。原卷已散逸,現存本為子淳之遠裔良機,收錄子淳十三代法孫大容梵清所謄寫之「師住大洪語錄一卷」,為卷上,包括上堂法語、真贊等。又增輯若干上堂法語、舉古,以及以青原、藥山、道吾、雲巖、洞山、曹山、玄沙、投子、道楷等禪林宗師之機緣語句所作之頌古,而成卷下。
; (丹霞子淳禪師語錄) Cũng gọi: Tùy châu đại hồng sơn Thuần thiền sư ngữ lục, Diệu tục đại sư ngữ lục. Gồm 2 quyển, do thiền sư Đan hà Tử thuần (1064 - 1117) thuộc tông Tào động soạn vào đời Tống, ngài Khánh dự kiểm xét lại, thu trong Vạn tục tạng tập 124. Nguyên bản của bộ ngữ lục này đã bị thất lạc, bản hiện còn do ngài Lương cơ (con cháu xa của ngài Tử thuần) biên chép lại. Quyển thượng gồm: Thướng đường pháp ngữ, Chân tán v.v... được lấy ra từ bộ Sư trụ đại hồng ngữ lục 1 quyuển do ngài Đại dung Phạm thanh (pháp tôn đời thứ 13 của ngài Tử thuần) chép tay. Quyển hạ thu tập thêm: Một số Thướng đường pháp ngữ, Cử cổ và các bài tụng cổ nói về cơ duyên ngữ cú của các bậc tông sư trong Thiền lâm như: Thanh nguyên, Dược sơn, Đạo ngô, Vân nham, Động sơn, Tào sơn, Huyền sa, Đầu tử, Đạo khải v.v...
đan liêu
4915又作獨寮。於禪宗寺院,單獨使用一寮而無同居者,稱為單寮;亦指居住於單寮之人。敕修百丈清規卷下兩序章之都監寺條(大四八‧一一三二上):「所在單寮,勤舊不滿五六人;(中略)都寺非三次,不得居單寮。」准許住於單寮,乃對退職之頭首、知事、他山退隱之長老而住於西堂者、首座等,表示優遇之意。〔敕修百丈清規卷上住持章住持日用條、禪林象器箋稱呼門〕
; (單寮) Cũng gọi Độc liêu. Trong các chùa viện Thiền tông, phòng liêu chỉ dành cho một người ở, gọi là Đơn liêu, và người ở một mình như thế cũng gọi là Đơn liêu. Đơn liêu chỉ được dành riêng cho các chức sự đã nghỉ việc như: Đầu thủ, Tri sự hoặc các vị Trưởng lão từ nơi khác đến. [X. mục Trụ trì nhật dụng, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q. thượng; môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên].
đan phức
4914單,指教外別傳,不立文字,單傳心印之禪宗;複,指禪宗以外各宗所施設之一切法門。大方廣圓覺修多羅了義經序(大三九‧五二四中):「三觀澄明,真假俱入,諸輪綺互,單複圓脩,四相潛神。」
; (單複) Đơn, chỉ cho Thiền tông; Phức, chỉ cho các tông phái khác. Bài Tựa trong kinh Đại phương quảng viên giác tu đa la liễu nghĩa (Đại 39, 524 trung), nói: Ba quán trong suốt. Chân giả đều vào. Các luân xen lẫn. Đơn phức viên tu. Bốn tướng tiềm thần.
đan sá nhi mã mục lục
1038全一卷。全名為丹卡兒瑪宮殿譯經論目錄(藏 Pho-braṅ stod-thaṅ ldan-dkar-gyibkaḥ daṅ bstan-bcos ḥgyur-ro-cog-gi dkar chag)。乃在西藏丹卡兒瑪(藏 Ldan-dkar)宮殿,由普子結(藏 Dpal-brtsegs)、魯興保(藏 Kluḥi dbaṅ-po)所共同編輯之目錄。係西藏現存最古之佛經目錄。編纂年代迄今未有定說,然大約可推定為八世紀半、九世紀時所產生者。此錄現收於丹珠爾集中。〔西藏大藏經經部目錄部序說、西藏佛學原論(呂澂)〕
; (丹卡兒瑪目錄) Tạng: Phobraí stod-thaí ldan-dkargyi bka# daí bstan-bcos #gyur-ro-coggi dkar chag. Tên đầy đủ: Đan ca nhi mã cung điện dịch kinh luận mục lục. Có 1 quyển, do Phổ tử kết (Tạng: Dpalbrtsegs) và Lỗ hưng bảo (Tạng: Klu#i dbaípo) cùng biên tập. Đây là bản mục lục kinh Phật xưa nhất hiện còn tại Tây tạng và được thu vào Đan châu nhĩ tập. Về niên đại biên soạn mục lục này, cho đến nay vẫn chưa có thuyết nào chính xác, nhưng đại khái được suy đoán là vào khoảng giữa thế kỉ VIII và thế kỉ IX. [X. Tây tạng đại tạng kinh kinh bộ mục lục bộ tự thuyết; Tây tạng Phật học nguyên luận (Lữ trừng)].
đan tam phức tam cụ túc nhất
4911即將經典所立之經題概分為三種單項、三種複項、一種三項皆具足者,共為七種,以區別各經確立經題之旨趣。故又稱七種立題。此係天台大師智顗所說。智顗認為歸納一切佛經之經題,不外乎人、法、譬三大項,其中,又由單(僅有一項)、複(具有兩項)、具足(三項皆具足)之不同而可細別為七種,即:(一)單人立題,例如佛說阿彌陀經;其中之「佛」(即釋迦佛)與「阿彌陀佛」均為人,而以釋迦佛為能說之人,阿彌陀佛為所說之人。(二)單法立題,例如涅槃經;此經旨在闡說「涅槃」之法,是為以法立名之經題。(三)單譬立題,例如梵網經;「梵網」指梵天之寶網,其網目上有千重綵絡,重重交徹,無量無盡而不相障閡,而梵網經中之內容即在講說十重四十八輕之大乘戒法,其一一教法無量無盡,猶如梵天之網,故取以為譬。(四)人法立題,例如文殊問般若經;其中之「文殊」為人,「般若」為法。(五)法譬立題,例如妙法蓮華經;其中之「妙法」為法,「蓮華」為譬喻。(六)人譬立題,例如如來師子吼經;其中之「如來」為人,「師子吼」為譬喻。(七)具足立題,例如大方廣佛華嚴經;其中之「大方廣」為法,「佛」為人,「華嚴」為譬喻。 上記七種之中,前三項單人、單法、單譬,並稱為單三,意指三種僅具有單一項目者;其次之三項人法、法譬、人譬,並稱為複三,意指三種具有兩項者;最後一項稱為具足一,意指一種三項皆具足者。總括全部七種,則稱為單三複三具足一。 此類以特殊義例來判別經題旨趣之作法,除智顗外,三論宗集大成者吉藏、東晉淨土教高僧慧遠、華嚴宗三祖澄觀等諸師亦各有見解,例如吉藏於法華遊意中,共舉出但人、但法、但處、但時、但事、但喻、法喻雙舉、人法俱題、三義立名等九種。此外,其餘諸師所列舉之項目與解釋亦各異其趣而別有特色。〔觀無量壽佛經疏(智顗)、無量壽經義疏卷上(慧遠)、維摩義記卷一本、華嚴經隨疏演義鈔卷十六、天台四教儀集註卷上、大明三藏法數卷二十八〕
; (單三複三具足一) Cũng gọi Thất chủng lập đề. Bảy cách đặt tên kinh do ngài Trí khải thuộc tông Thiên thai dựa vào ba hạng mục lớn: Nhân, Pháp, Thí (thí dụ) mà đặt ra để phân biệt ý chỉ của tên kinh. Bảy cách ấy là: 1. Đơn nhân lập đề: Chỉ dùng người để đặt tên kinh, như kinh Phật thuyết A di đà, thì trong đó Phật (tức Phật Thích ca) và A di đà (tức Phật A di đà) đều là người. Phật Thích ca là người năng thuyết, còn Phật A di đà là sở thuyết. 2. Đơn pháp lập đề: Chỉ dùng pháp để đặt tên kinh, như kinh Niết bàn. Trong đó Niết bàn là pháp được dùng làm tên kinh. 3. Đơn thí lập đề: Chỉ dùng thí dụ để đặt tên kinh, như kinh Phạm võng. Phạm võng là tấm lưới báu của Phạm thiên, có hàng trăm nghìn mắt lưới lấp lánh, lớp lớp giao triệt, trùng trùng vô tận mà không ngăn ngại lẫn nhau, hệt như giáo pháp Đại thừa trong kinh Phạm võng, mỗi mỗi giáo pháp cũng trùng trùng vô tận, cho nên được dùng làm thí dụ. 4. Nhân pháp lập đề: Dùng cả người và pháp để đặt tên kinh, như kinh Văn thù vấn bát nhã. Trong đó, Văn thù là người, Bát nhã là pháp. 5. Pháp thí lập đề: Dùng pháp và thí dụ để đặt tên kinh, như kinh Diệu pháp liên hoa. Trong đó. Diệu pháp là pháp, liên hoa là thí dụ. 6. Nhân thí lập đề: Dùng người và thí dụ để đặt tên kinh, như kinh Như lai sư tử hống. Trong đó, Như lai là người, sư tử hống là thí dụ. 7. Cụ túc lập đề: Dùng đủ cả người, pháp và thí dụ để đặt tên kinh. Như kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm, trong đó, Đại phương quảng là pháp, Phật là người, Hoa nghiêm là thí dụ. Trong 7 cách đặt tên kinh nói trên, ba cách đầu Đơn nhân, Đơn pháp, Đơn thí, gọi chung là Đơn tam; ba cách kế tiếp Nhân pháp, Pháp thí, Nhân thí, gọi chung là Phức tam; một cách sau cùng đầy đủ cả Nhân pháp thì gọi là Cụ túc nhất. Ngoài ra, các ngài Cát tạng, Tuệ viễn, Trừng quán v.v... cũng đều có ý kiến về cách đặt tên kinh. Chẳng hạn như trong Pháp hoa du ý của mình, ngài Cát tạng đã nêu ra chín cách: Đãn nhân, Đãn pháp, Đãn xứ, Đãn thời, Đãn sự, Đãn dụ, Pháp dụ song cử, Nhân pháp câu đề và Tam nghĩa lập danh. [X. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ (Trí khải); Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn); Duy ma nghĩa kí Q.1 phần đầu; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.16; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Đại minh tam tạng pháp số Q.28].
đan thiềm
4915為古代建築之形式,佛教之塔寺亦採用之。建築物有上下兩重出簷者,稱為重簷、雙簷。僅有一重者,即稱為單簷。
đan thù
Tanjur (T)Một trong 2 bộ Đại tạng kinh điển của Tây tạng: Cam thù và Đan thù.
đan truyện
4914單獨相傳、純一相傳之意。與「單提」同義。指禪宗傳教,不依語言文字,採取一人對一人,觸機而發,傳其心印之法,此稱為「單傳心印」。禪宗在菩提達磨以前,兼行三藏之教乘,至達磨東來,始單傳心印,以破執顯宗,即所謂(大四七‧四九五中):「教外別傳,不立文字,直指人心,見性成佛。」故禪宗之宗旨在於不論教相判釋,亦不拘執於經典文字或燒香、禮拜、念佛、修懺等事,只管參禪打坐,求得身心脫落而見性,如一器之水注入另一器中,師資相承,傳佛之心印。此外,與「單傳」一語有關者,如「佛祖單傳」、「單傳佛法」。又「單傳」亦常與「直指人心,見性成佛」之「直指」聯用,而有「單傳直指」或「直指單傳」等語。〔碧巖錄第一則評唱、祖庭事苑卷五、佛果克勤禪師心要卷上、宗門無盡燈論卷上、正法眼藏辨道話章、心不可得章(道元)〕
; (單傳) Đồng nghĩa với Đơn đề. Thầy truyền pháp riêng cho đệ tử. Thiền tông truyền pháp không dựa vào lời nói văn chữ, chỉ một thầy một trò, tùy cơ ứng mà truyền tâm ấn cho nhau, như rót nước từ chiếc bình này sang chiếc bình khác, gọi là Đơn truyền tâm ấn. Ngoài ra, liên quan đến đơn truyền còn có các từ ngữ như: Phật tổ đơn truyền, Đơn truyền Phật pháp, Trực chỉ đơn truyền v.v... [X. Bình xướng trong tắc 1 Bích nham lục; Tổ đình sự uyển Q.5; Phật quả khắc cần thiền sư tâm yếu Q.thượng; luận Tông môn vô tận đăng Q.thượng; Chính pháp nhãn tạng biện đạo thoại chương; Tâm bất đắc chương (Đạo nguyên)].
đan trướng
4913指禪林中,亡僧遺物估唱終了時,決算收支之單據,用以告知大眾。估唱,即將死者衣鉢等物拍賣,以充喪葬等費用。其樣式載於敕修百丈清規卷上住持章單式條。列示如下。
; (單帳) Trong Thiền lâm, khi một vị tăng viên tịch, làm lễ an táng xong, những di vật của người quá cố, như áo, bát và các đồ dùng khác, được đem bán đấu giá để chi dùng vào việc tang lễ. Sau khi tính toán, chi phí hết bao nhiêu thì kết toán trong một tấm phiếu để công bố cho đại chúng biết. Tấm phiếu ấy gọi là Đơn trướng. Mẫu đơn được chép ở điều Đơn thức, chương Trụ trì, trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng như dưới đây: Hòa thượng Đường đầu thị tịch, xin công bố các khoản thu chi như sau: - Định giá các di vật áo, bát v.v... (bao nhiêu). - Bán được (bao nhiêu). - Mua các vật dụng cần thiết (bao nhiêu). - Tổng thu. - Tổng chi. - Còn lại (bao nhiêu). - Những chi phí làm trai thất và cúng dường chư tăng tụng kinh, cũng ghi như trên. Ngày... tháng... năm... Hành giả Tang tư (người phụ trách việc lễ tang). Trình đủ. Người phụ trách cầm tấm phiếu này đến cho các vị ở Lưỡng tự (Đông tự và Tây tự) cùng vị Điển tang để xin kí tên.
đan tâm
Fidelity.
đan vị
4912<一>為數量之數詞。即用以測量長度、質量、時間等之定量。佛教經典中有關數量之單位,據方廣大莊嚴經卷四之記載,釋尊出家前曾與算師論說數量中之數目,謂一百拘胝(梵 koṭi,又作俱致)為一阿由多(梵 ayuta),一百阿由多為一尼由多(梵 nayuta),一百尼由多為一更割羅(梵 kaṃkara),一百更割羅為一頻婆羅(梵 bimbara),一百頻婆羅為一阿芻婆(梵 akṣobhya)等,共舉三十三種。長度單位則以七極微塵(梵 paramāṇa)為一阿耨塵(梵 aṇu),乃至七麥(梵 yava)為一指節(梵 anguliparvan),十二指節為一搩手(梵 vitasti),二搩手為一肘(梵 hasta),四肘為一弓(梵 dhanu),一千弓為一拘盧舍(梵 krośa),四拘盧舍為一由旬(梵 yojana)。其中拘胝、尼由多(又作那由他)等名詞散見於諸經,頻婆羅、阿芻婆(又作阿閦婆)則見於法華經卷七。搩手(拇指與中指張開之長度)為佛像之寸法。拘盧舍、由旬(約十三點五公里)則用以說明地理。數量之數詞中另有十進法,共有六十數。於俱舍論卷十二舉出一、十、百、千、萬、洛叉(梵 lakṣa)、度洛叉(梵 atilakṣa)、俱胝(又作拘胝)、末陀(梵 madhya)、阿庾多、大阿庾多(梵 mahāyuta)、那庾多(梵 nayuta)等,依序排列至第五十二阿僧祇(梵 asaṃkhya),第五十三以下則已失佚。阿僧祇亦散見於諸經。此外,關於「極大數」之數詞,新華嚴經卷四十五舉出阿僧祇、無量、無邊、無等、不可數、不可稱、不可思、不可量、不可說、不可說不可說之十大數。至於「極小數」之數詞,於大般若經卷四舉有百分之一、千分之一,乃至鄔波尼殺曇分(梵 upaniṣadam)等。有關重量之單位,四分律疏飾宗義記卷四謂,二十貝齒(梵 raktikā)為一迦枳儞(梵 kakini),四迦枳儞為一磨灑(梵 māṣa),二十磨灑為一迦利沙鉢那(梵 kārṣāpaṇa,約十一點三公克至十八公克)。有關時間之單位,於大毘婆沙論卷一三六舉出,百二十剎那(梵 kṣaṇa)為一怛剎那(梵 tatkṣaṇa),六十怛剎那為一臘縛(梵 lava),三十臘縛為一牟呼栗多(梵 muhūrta),三十牟呼栗多為一晝夜。〔佛本行集經卷十二、仁王般若經卷上觀空品、寶星經卷四、摩訶僧祇律卷九、善見律毘婆沙卷八、雜阿毘曇心論卷二、大毘婆沙論卷一七七、大智度論卷四、卷八十三、瑜伽師地論卷七十九、俱舍論卷十二、卷二十二、順正理論卷三十二、翻譯名義集卷八〕 <二>指禪林僧堂中,僧人坐禪之座位。在座床上貼有各人之名單,故稱單位。〔敕修百丈清規卷下大眾章遊方參請條、永平清規卷上辨道法〕
; (單位) I. Đơn Vị. Danh từ chỉ số lượng, tính về chiều dài, chất lượng, thời gian v.v... Cứ theo kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 chép, thì đức Phật cho rằng, 100 câu chi (Phạm: Koỉi, cũng gọi Câu trí) bằng một A do đa (Phạm: Ayuta), 100 a do đa bằng một Ni do đa (Phạm: Nayuta), 100 ni do đa bằng một cánh cát la (Phạm: Kaôkara), 100 cánh cát la bằng một Tần bà la (Phạm:Bimbara), 100 tần bà la bằng một A sô bà (Phạm: Akwobhya) v.v... gồm 33 loại. Về đơn vị chiều dài thì lấy bảy cực vi trần (Phạm:Paramàịa) làm một A nậu trần (Phạm: Aịu), cho đến bảy hạt lúa mạch (Phạm: Yava) là một đốt ngón tay (Phạm: Anguliparvan), 12 đốt ngón tay bằng một gang tay (Phạm: Vitasti), hai gang tay bằng một khuỷu tay (Phạm: Hasta), bốn khuỷu tay bằng một cung (Phạm: Dhanu), một nghìn cung bằng một Câu lô xá (Phạm: Kroza), bốn Câu lô xá bằng một Do tuần (Phạm: Yojana). Về danh từ chỉ số lượng thì có Thập tiến pháp (Decimal), gồm 16 số: 1, 10, 100, 1.000, 10.000, Lạc xoa (Phạm: Lakwa), Độ lạc xoa (Phạm: Atilakwa), Câu chi, Mạt đà (Phạm: Madhya), A dữu đa, Đại a dữu đa (Phạm: Mahàyuta), Na dữu đa (Phạm: Nayuta) v.v... theo thứ tự cho đến A tăng kì (Phạm: Asaôkhya), từ A tăng kì trở đi đã thất lạc. Ngoài ra, về danh từ chỉ số cực lớn thì có: A tăng kì, Vô lượng, Vô biên, Vô đẳng, Bất khả sổ, Bất khả xưng, Bất khả tư, Bất khả lượng, Bất khả thuyết, Bất khả thuyết bất khả thuyết v.v... Về danh từ chỉ số cực nhỏ thì có: Một phần trăm, một phần nghìn, cho đến một phần Ô ba ni sát đàm (Phạm: Upaniwadam) v.v... Về đơn vị trọng lượng thì có: 20 bối xỉ (Phạm: Raktikà) là một Ca chỉ nễ (Phạm: Kakinì), bốn ca chỉ nễ là một Ma sái (Phạm: Mawa), 20 ma sái là một Ca lợi sa bát na (Phạm: Kàrwàpaịa, khoảng 11 đến 18 gam). Về đơn vị thời gian thì có: 120 sát na (Phạm: Kwaịa) là một Đát sát na (Phạm: Tatkwaịa), 60 đát sa na là một Lạp phạ (Phạm: Lava), 30 lạp phạ là một Mâu hô lật đa (Phạm: Muhùrta), 30 mâu hô lật đa là một ngày đêm. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.12; phẩm Quán không trong kinh Nhân vương bát nhã Q.thượng; kinh Bảo tinh Q.4; luật Ma ha tăng kì Q.9; Thiện kiến luật tì bà sa Q.8; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Đại tì bà sa Q.177; luận Đại trí độ Q.4, Q.83; luận Du già sư địa Q.79; luận Câu xá Q.12, Q.22; luận Thuận chính lí Q.32; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.8]. II. Đơn Vị. Vị trí ngồi thiền của mỗi vị tăng trong nhà Tăng. Ở trên giường có dán tên (danh đơn) của mỗi người nên gọi Đơn vị. [X. mục Du phương tham thỉnh ở chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; Biện đạo pháp trong Vĩnh bình thanh qui Q.thượng].
đan đao trực nhập
4910禪林用語。提單刀而直入敵陣之意。指禪林師家指導學人,不用智謀策略,捨除一切緩衝之言語,而直接論及問題之核心,以開其心眼。人天眼目卷二(大四八‧三一一下):「大用天旋,赤手殺人,單刀直入,人境俱奪,照用並行。」即為其例。意謂不用任何方法而截斷妄想之根源,不用譬喻因緣而說破事理。〔禪宗頌古聯珠通集卷二十一、虛堂智愚禪師語錄卷六〕
đan điền
1039請參閱 丹卡兒瑪目錄 指肚臍下,即臍下約一寸之處。於坐禪之際,將體氣集中於此,令心不散亂,並可收治病之效。或謂約在肚臍下二寸半。此外,肚臍下稱為下丹田;對此,兩眉間稱為上丹田。〔修習止觀坐禪法要、摩訶止觀卷八〕
; Hara (J)Trung tâm ý thức, trọng lực, năng lượng và hoạt động của con người, dưới rốn, thuộc vùng bụng dưới.
; Khu vực dưới rún—The pubic region, about 2 ½ below the navel.
; (丹田) Chỉ chỗ ở phía dưới rốn khoảng một tấc. Cũng gọi Hạ đan điền. Khi ngồi Thiền, tập trung hơi thở ở đây khiến tâm không tán loạn và có hiệu lực chữa bệnh. Cũng có chỗ nói ở phía dưới rốn hai tấc rưỡi. Còn ở giữa khoảng hai lông mày thì gọi là Thượng đan điền. [X. Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu; Ma ha chỉ quán Q.8].
đan đoạ
4915梵語 śuddha-prāyaścittika。為「捨墮」之對稱。乃單對他人懺悔即可得清淨之墮罪。又稱單提。係波逸提之一種。單墮之戒數,諸律所出稍異,且比丘、比丘尼所持之戒數與戒條之順序亦不同。據四分律所說,比丘有九十單提法,故一般亦常稱單墮為「九十單提」 另據智首之四分律疏卷九載,十誦律所列舉之比丘單墮法亦為九十條,然無四分律中之「不受諫」條,而別有「不恭教說法教誡人」一條。五分律所列舉之比丘單墮法有九十一條,亦即缺四分律之「不受諫」條,又將四分律之「用蟲水」、「飲蟲水」二條合為一條,然別有「入尼寺為無病尼教說法」、「輕三師」、「迴僧物與別人」等三條。摩訶僧祇律所載比丘單墮有九十二條,解脫戒經、有部毘奈耶雜事等則與四分律同為九十條,然戒條項目略異。 比丘尼所持單墮之戒條,亦於諸律本所載各有增減,如四分律舉出一七八條,其中,前六十九條大致與比丘所持者相同,後一○九條則為比丘尼特殊之戒法;五分律列舉二○七條;五分比丘尼戒本舉出二一○條;十誦比丘尼波羅提木叉戒本亦與四分律相同,共有一七八條,然其中有七十一條與比丘所持者相同;敦煌出土之十誦比丘尼波羅提木叉戒本亦為一七八條,其中有七十條與比丘所持者相同;摩訶僧祇律僅列舉一四一條;有部苾芻尼毘奈耶與西藏律皆揭舉一八○條比丘尼單墮法,巴利律則有一六六條。 要之,違犯單墮法乃屬較輕之罪,若有所犯,於「布薩」之時,如法發露懺悔,可得滅罪。〔四分律卷十一、十誦律卷九至卷十八、摩訶僧祇律卷十二至卷二十一、善見律毘婆沙卷十五、卷十六、四分律開宗記卷五末〕(參閱「波逸提」3440)
đan đạo khai
4914東晉僧。敦煌人,俗姓孟。少懷隱遁之志,誦經四十餘萬言。山居行道,不食穀物,僅食柏實、松脂、細石子等物,不畏寒暑,晝夜不臥。一日能行七百里。後趙石虎建武十二年(346),入鄴(河南),居臨漳照德寺。其時嚮往仙道者,多往請益,師都不答。石虎死後,國亂,於晉穆帝昇平三年(359),率徒南渡入建康(南京),後至南海羅浮山,獨處茅茨。壽百餘歲,然其生卒年不詳。〔梁高僧傳卷九〕
; (單道開) Vị tăng Trung quốc, sống vào đời Đông Tấn, người Đôn hoàng, họ Mạnh. Thủa nhỏ Sư đã có chí ẩn dật. Lớn lên, sau khi xuất gia, Sư vào ở trong núi hành đạo, không ăn ngũ cốc, chỉ ăn hột bách, nhựa thông và các thứ rêu mọc trên đá. Chẳng sợ nóng lạnh, ngày đêm không nằm, một ngày Sư có thể đi được 700 dặm. Năm Kiến vũ 12 (346) đời Thạch hổ nhà Hậu Triệu, Sư vào đất Nghiệp (Hà nam) ở chùa Chiếu đức tại Lâm chương. Bấy giờ những người tu tiên nghe danh tiếng của Sư đều đến hỏi đạo, nhưng Sư không đáp. Sau khi Thạch hổ chết, trong nước loạn lạc, năm Thăng bình thứ 3 (359) đời Tấn Mục đế, Sư dẫn đồ chúng về Nam, vào Kiến khang (Nam kinh), sau đến núi La phù ở Nam hải, cất am tranh ở một mình. Sư thọ hơn 100 tuổi, nhưng không rõ năm sinh năm mất.
đan đọa giới
Navati Prāyascittiya (P)90 trong số 250 giới của Tỳ kheo.
Đan, đơn 單
[ja] タン tan ||| (1) One, single, simple, singular; simply, merely, only solely. (2) An assigned seating position. (3) Name card; a name card which indicates where the practitioner's assigned seat is in the monks hall. Also a card which names a sutra or indicates the approach to a monastery. => Có các nghĩa sau: 1. Một, đơn lẻ, đơn giản, số ít, giản dị, đơn thuần, đơn độc. 2. Một chỗ ngồi được quy định sẵn. 3. Danh thiếp; tấm thẻ ghi pháp danh cho biết vị trí toạ thiền của từng vị trong thiền đường. Cũng là tấm thẻ ghi tên kinh hay chỉ hướng đền chùa.
đang khi
While.
đang lúc
While.
đang thịnh
Prevailing.
đang thời
At that time—At that moment.
đang tồn tại
Existent.
đang đêm
By the night.
đanh thép
Forceful—Energetic.
đao
1) Lưỡi dao: Knife. 2) Đau đớn: Grieved—Distressed.
đao luân địa ngục
320以刀山、刀輪懲治罪人之地獄。為樂見他人苦惱,殺害眾生者所生之處。此獄四面皆山,山間積刀如塼,虛空中有八百萬億大刀輪,如雨滴下。罪人臨命終時,患逆氣病,心中充滿煩悶如堅石,遂有得利刀削之而快之念,獄卒應其念來利刀,割重病,罪人得大歡喜,絕命而生刀山間,四山一時而合,切其身。又有獄卒驅罪人登刀山,未至山頂,傷及足乃至胸,因畏獄卒,匍匐登山,獄卒以刀樹相撲,尚未死之際,有鐵狗、鐵蟲來啄。又罪人腳著鐵輪,自空而落,如是一日一夜,有六十億生死,經八千萬歲,五百世生於畜牲,復受五百世卑賤人身,遇善知識始知發心。〔觀佛三昧海經卷五〕
; (刀輪地獄) Địa ngục dùng núi dao, bánh xe dao (đao luân) để trừng trị tội nhân. Những người lúc còn sống thích gây đau khổ cho người khác và giết hại chúng sinh, sau khi chết phải rơi vào địa ngục này. Địa ngục này bốn mặt đều là núi, giữa khoảng núi chứa đầy dao, trên hư không có 800 vạn ức vòng dao lớn rơi xuống như mưa. Tội nhân lúc hấp hối, trong lòng lo sợ, đầy dẫy phiền muộn, nên khởi niệm muốn được người ta đâm cho chết ngay, ngục tốt biết được ý nghĩ ấy liền đem dao sắc đến chém, tội nhân rất vui mừng. Sau khi chết, sinh vào giữa núi dao, 4 núi ở 4 mặt cùng lúc sáp lại, ép nát thân tội nhân, lại có ngục tốt đuổi tội nhân lên đỉnh núi dao, chưa lên đến đỉnh núi thì chân và ngực đã bị thương, nhưng vì sợ ngục tốt nên tội nhân phải bò lết lên núi, ngục tốt dùng cây dao đánh chém, trong lúc chưa chết thì có chó sắt, trùng sắt đến cắn rỉa. Rồi chân tội nhân phải mang vòng sắt từ trên hư không rơi xuống, cứ như thế trong một ngày một đêm có tới 60 ức lần chết đi sống lại, trải qua 8.000 vạn năm chịu khổ như vậy ở địa ngục này, rồi mới chuyển sinh 500 đời làm thú vật, lại 500 đời nữa chịu mang thân người nghèo cùng hèn hạ, cho đến khi gặp được thiện tri thức khuyên bảo mới biết phát tâm tu hành. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.5].
Đao Lợi
(s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利): tức Đao Lợi Thiên (忉利天, Trời Đao Lợi), âm dịch là Đa La Dạ Đăng Lăng Xá (多羅夜登陵舍), còn gọi là Tam Thập Tam Thiên (三十三天, Trời Ba Mươi Ba). Theo vũ trụ quan Phật Giáo, cõi trời này nằm ở tầng thứ 2 của 6 cõi trời Dục Giới, là thiên giới do Trời Đế Thích (帝釋天) cư ngụ, ở trên đỉnh núi Tu Di (s: Sumeru, 須彌山). Bốn phương trên đỉnh Tu Di có 8 thành trời, cọng thêm ở giữa có Thiện Kiến Thành (善見城, hay Hỷ Kiến Thành [喜見城]) của Trời Đế Thích), tổng cọng là 33 trú xứ, nên có tên gọi như vậy. Theo Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh (正法念處經) quyển 25, 33 cõi trời có các tên gọi khác nhau, gồm: Trú Thiện Pháp Đường Thiên (住善法堂天), Trú Phong Thiên (住峯天), Trú Sơn Đảnh Thiên (住山頂天), Thiện Kiến Thành Thiên (善見城天), Bát Tư Địa Thiên (鉢私地天), Trú Câu Tra Thiên (住倶吒天), Tạp Điện Thiên (雜殿天), Trú Hoan Hỷ Viên Thiên (住歡喜園天), Quang Minh Thiên (光明天), Ba Lợi Da Đa Thọ Viên Thiên (波利耶多樹園天), Hiểm Ngạn Thiên (險岸天), Trú Tạp Hiểm Ngạn Thiên (住雜險岸天), Trú Ma Ni Tạng Thiên (住摩尼藏天), Toàn Hành Địa Thiên (旋行地天), Kim Điện Thiên (金殿天), Man Ảnh Xứ Thiên (鬘影處天), Trú Nhu Nhuyễn Địa Thiên (住柔軟天), Tạp Trang Nghiêm Thiên (雜莊嚴天), Như Ý Địa Thiên (如意地天), Vi Tế Hành Thiên (微細行天), Ca Âm Hỷ Lạc Thiên (歌音喜樂天), Uy Đức Luân Thiên (威德輪天), Nguyệt Hành Thiên (月行天), Diêm Ma Bà La Thiên (閻魔婆羅天), Tốc Hành Thiên (速行天), Ảnh Chiếu Thiên (影照天), Trí Tuệ Hành Thiên (智慧行天), Chúng Phân Thiên (眾分天), Trú Luân Thiên (住輪天), Thượng Hành Thiên (上行天), Uy Đức Nhan Thiên (威德顔天), Uy Đức Diệm Luân Thiên (威德燄輪天), và Thanh Tịnh Thiên (清淨天). Chúng hữu tình trên cõi trời Đao Lợi có thân dài một do tuần, thọ mạng 1.000 tuổi (100 năm trên cõi thế bằng 1 ngày 1 đêm trên cõi trời này), ăn các thức ăn trong sạch. Khi mới sanh ra, con người ở đây giống như hình dạng đứa bé 6 tuổi của cõi người, sắc diện tròn đầy, áo quần tự có. Hơn nữa, cõi trời này có đầy đủ các loại châu báu, những lầu đài, trang viên, hồ tắm tráng lệ, v.v. Từ xưa, tín ngưỡng cho rằng Đao Lợi Thiên là trú xứ của Trời Đế Thích, đã thịnh hành tại Ấn Độ. Tương truyền sau khi qua đời, Hoàng Hậu Ma Da thác sanh lên cõi trời này; cho nên, sau khi thành đạo, đức Phật đã lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẫu thân trong vòng 3 tháng. Sự việc này được ghi lại rất rõ trong Phật Thăng Đao Lợi Thiên Vị Mẫu Thuyết Pháp Kinh (佛昇忉利天爲母說法經, Taishō No. 815), hay trong Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh (地藏菩薩本願經, Taishō No. 412), Đao Lợi Thiên Cung Thần Thông Phẩm (忉利天宮神通品). Bên cạnh đó, trong Phật Quốc Ký (佛國記) của Pháp Hiển (法顯, 340?-?) nhà Tấn có câu: “Phật thướng Đao Lợi Thiên tam nguyệt, vị mẫu thuyết pháp (佛上忉利天三月、爲母說法, đức Phật lên cung Trời Đao Lợi ba tháng, vì mẹ thuyết pháp).” Hay như trong Trường Sanh Điện (長生殿), phần Bổ Hận (補恨) của Hồng Thăng (洪昇, 1645-1704) nhà Thanh lại có đoạn: “Ngã đương thượng tấu Thiên Đình, sử nhĩ lưỡng nhân thế cư Đao Lợi Thiên trung, vĩnh viễn thành song, dĩ bổ tùng tiền ly biệt chi hận (我當上奏天庭、使你兩人世居忉利天中、永遠成雙、以補從前離別之恨, ta sẽ tâu lên Thiên Đình, giúp hai ngươi đang sống trong cõi Trời Đao Lợi, vĩnh viễn được thành đôi lứa, để bù vào nỗi hận cách biệt trước kia).” Ngoài ra, trong bài Tần Châu Thiên Thủy Quận Mạch Tích Nhai Phật Kham Minh (秦州天水郡麥積崖佛龕銘) của Dữu Tín (庾信, 513-581) thời Bắc Chu lại có câu: “Ảnh hiện Tu Di, hương văn Đao Lợi (影現須彌、香聞忉利, ảnh hiện Tu Di, hương nghe Đao Lợi).”
đao lợi
Xem Đao lợi thiên.
đao lợi chi phó chúc
1929謂地藏菩薩於忉利天受釋迦如來之付囑,以救濟六趣之眾生,悉使解脫,永離諸苦。〔地藏菩薩本願經卷上〕(參閱「地藏菩薩」2318)
; (忉利之付囑) Sự giao phó ở cung trời Đao lợi. Bồ tát Địa tạng nhận sự giao phó của đức Thích ca Như lai ở cung trời Đao lợi để cứu giúp chúng sinh trong sáu đường, làm cho được giải thoát, vĩnh viễn xa lìa các nỗi khổ. [X. kinh Địa tạng bồ tát bản nguyện Q.thượng]. (xt. Địa Tạng Bồ Tát).
đao lợi thiên
1930梵名 Trāyastriṃśa,巴利名 Tāvatiṃsa。音譯多羅夜登陵舍、怛唎耶怛唎奢。又作三十三天。於佛教之宇宙觀中,此天位於欲界六天之第二天,係帝釋天所居之天界,位於須彌山頂;山頂四方各八天城,加上中央帝釋天所止住之善見城(喜見城),共有三十三處,故稱三十三天。 據正法念處經卷二十五載此三十三天為:住善法堂天、住峰天、住山頂天、善見城天、鉢私地天、住俱吒天、雜殿天、住歡喜園天、光明天、波利耶多樹園天、險岸天、住衋I岸天、住摩尼藏天、旋行地天、金殿天、鬘影處天、住柔軟地天、雜莊嚴天、如意地天、微細行天、歌音喜樂天、威德輪天、月行天、閻摩娑羅天、速行天、影照天、智慧行天、眾分天、住輪天、上行天、威德顏天、威德燄輪天、清淨天等。 此天之有情身長一由旬,衣重六銖,壽一千歲(以世間百年為一日一夜),食淨摶食,有男娶女嫁之事,乃藉身身相近而以氣成就陰陽,初生時,如人類六歲模樣,色圓滿,自有衣服。又此天具足種種妙寶,有殊勝之樓閣、臺觀、園林、浴池、階道等,詳載於長阿含經卷二十忉利天品。據俱舍論卷十一載,此天位於須彌山頂,四角各有一峰,高五百由旬,有藥叉神名金剛手者,止住其中守護諸天。此外,尚記述此天境界之莊嚴情形,然與阿含經所述略異。 忉利天為帝釋之住處,此信仰自古即盛行於印度。傳說佛陀之母摩耶夫人命終後生於此天,佛陀曾上昇忉利為母說法三個月。〔雜阿含經卷十九、卷二十三、卷四十五、中阿含卷一晝度樹經、卷五十五持齋經、長阿含卷三遊行經、增一阿含經卷二十八、卷三十三、卷三十七、佛昇忉利天為母說法經、正法念處經卷二十六至卷三十五、有部毘奈耶雜事卷三十六、大智度論卷九、卷五十六、玄應音義卷二〕
; Tāvatiṁsadevaloka (P), Trāiyas-trimśas (S), Trāiyastrimśa-deva (S)Đao lợi chư thiên, Đạo lỵ thiên, Tam thập tam thiênChư thiên ở cõi trời Đao lợi, cõi trời thứ nhì trong 6 cõi trời dục giới, ở chót núi Tu di, mỗi phía trong bốn phía đều có 8 cảnh trời thêm vào cảnh Hỷ kiến thành ở trung ương, tổng cộng là 33 cảnh trời. Một trong 6 cảnh trời cõi dục giới: - Tứ thiên vương thiên - Đạo lý thiên - Dạ ma thiên - Đâu suất thiên - Hoá lạc thiên - Tha hoá tự tại thiên.Tam Thập Tam ThiênTên một cõi giớiXem Đao lợi thiên
; Trayastrimsàs (S). The heavens of the thirty three devas.
; Trayastrimsas (skt)—Tavatimsa (p)—Đát Lợi Da Đát Lợi Xa Thiên—Đa La Dạ Đăng Lăng Xá Thiên—Cõi trời dục giới thứ hai, trên cõi Diêm Phù Đề. Theo thần thoại Ấn Độ Giáo, thì cõi trời nầy nằm bên trên núi Tu Di, có 32 Thiên thành, mỗi bên có tám thành; thành trung tâm gọi là Hỷ Kiến Thành nơi trú ngụ của vua trời Đế Thích ngàn đầu ngàn mắt bốn tay, cung điện của ông gọi là Bì Xa, nơi cư ngụ của bà vợ Saci và 119.000 tỳ thiếp. Hằng tháng Tứ Thiên vương phải báo cáo với ông những thiện ác cõi thế gian—The second of the desire-heavens, the heaven of Indra. It is the Svarga of Hindu mythology, situated on Meru with thirty-two deva-cities, eight on each side; a central city is Sudarsana, or Amaravati, where Indra, with 1,000 heads and eyes and four arms, lives in his palace called Vaijayanta, and revels in numberless sensual pleasures together with his wife Saci and with 119,000 concubines. There he receives the monthly reports of the four Maharajas as to the good and evil in the world. The whole myth may have an astronomical or meteorological background.
; (忉利天) Phạm:Tràyastriôza,Pàli:Tàvatiôsa. Dịch âm: Đa la dạ đăng lăng xá, Đát lị da đát lị xa. Cũng gọi Tam thập tam thiên. Là tầng trời thứ 2 trong 6 tầng trời ở cõi Dục. Theo Vũ trụ quan Phật giáo, tầng trời này nằm trên chóp núi Tu di, 4 phía chóp núi, mỗi phía đều có 8 Thiên thành (thành quách nhà trời), ở chính giữa có thêm thành Thiện kiến (thành Hỉ kiến) là nơi ở của trời Đế thích, cộng lại là33 chỗ, nên gọi Tam thập tam thiên. Cứ theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 25, thì Tam thập tam thiên này gồm có: Trụ thiện pháp đường thiên, Trụ phong thiên, Trụ sơn đính thiên, Thiện kiến thành thiên, Bát tư địa thiên, Trụ câu tra thiên, Tạp điện thiên, Trụ hoan hỉ viên thiên, Quang minh thiên, Ba lợi da đa thụ viên thiên, Hiểm ngạn thiên, Trụ tạp hiển ngạn thiên, Trụ ma ni tạng thiên, Toàn hành địa thiên, Kim điện thiên, Man ảnh xứ thiên, Trụ nhu nhuyến địa thiên, Tạp trang nghiêm thiên, Như ý địa thiên, Vi tế hạnh thiên, Ca âm hỉ lạc thiên, Uy đức luân thiên, Nguyệt hành thiên, Diêm ma sa la thiên, Tốc hành thiên, Ảnh chiếu thiên, Trí tuệ hành thiên, Chúng phân thiên, Trụ luân thiên, Thượng thành thiên, Uy đức nhan thiên, Uy đức diệm luân thiên và Thanh tịnh thiên. Cứ theo phẩm Đao lợi thiên trong kinh Trường a hàm quyển 20 nói, thì các hữu tình ở tầng trời này thân cao một do tuần, áo nặng 6 lạng, sống lâu 1.000 năm (1 ngày 1 đêm bằng 100 năm ở thế gian), thức ăn là loại đoàn thực thanh tịnh, cũng có việc trai gái cưới gả, nhưng chỉ dựa vào nhau để lấy khí mà thành tựu âm dương; trẻ sơ sinh ở cõi trời này to bằng đứa bé 6 tuổi ở thế gian, thân hình tròn trịa đầy đặn, tự có quần áo. Ngoài ra, cõi trời này có đầy đủ các thứ của báu, lầu gác, điện đài, vườn rừng, ao hồ, đường sá v.v... tất cả đều đẹp đẽ, thù thắng. Cứ theo luận Câu xá quyển 11 nói, thì cõi trời này ở trên chóp núi Tu di, bốn phía, mỗi phía đều có một ngọn núi cao 500 do tuần, trong đó có một vị thần Dược xoa tên là Kim cương thủ ở để hộ vệ chư thiên. Trong luận còn ghi thuật nhiều về cảnh giới trang nghiêm của cõi trời này, nhưng hơi khác với những điều được miêu tả trong kinh A hàm. Đao lợi thiên là chỗ ở của trời Đế thích, tín ngưỡng về cõi trời này đã được thịnh hành ở Ấn độ từ xưa. Theo truyền thuyết, Thánh mẫu Ma da sau khi mệnh chung đã sinh lên cõi trời này và có lần đức Phật đã lên đây nói pháp cho mẹ nghe trong 3 tháng. [X. kinh Tạp a hàm Q.19, Q.23, Q.45; kinh Trú độ thụ trong Trung a hàm Q.1, kinh Trì trai trong Q.55; kinh Du hành trong Trường a hàm Q.3; kinh Tăng nhất a hàm Q.28, Q.33, Q.37; kinh Phật thăng Đao lợi thiên vị mẫu thuyết pháp; kinh Chính pháp niệm xứ Q.26 đến Q.35; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.36; luận Đại trí độ Q.9, Q.56; Huyền ứng âm nghĩa Q.2].
Đao lợi thiên 忉利天
[ja] トウリテン tōriten ||| (Trāyastrimśa); also translated as 三十三天 The 'Heaven of the Thirty-three (gods). One of the six heavens in the realm of desire 六欲天, it is located at the top of Mt. Sumeru. At each of its corners there is a peak, where eight gods dwell, and in the palace lives the Lord of the Heavens (Indra, Śakra). => (s: Trāyastrimśa); còn dịch là Tam thập tam thiên [ 三十三天e: The 'Heaven of the Thirty-three (gods)]. Là một trong 6 cõi trời (Lục dục thiên) của Dục giới, nằm trên đỉnh núi Tu-di. Tại mỗi phương trời là một chỏm núi, có tám vị Trời ở đó, trung ương là cung điện của vua trời Đế thích (s:Indra, Śakra).
đao phong
The wind that cuts all living to pieces, at the approach of a world kalpa's end, also described as the disintegrating force at death.
; The wind that cuts all living beings to pieces—Disintegrating force at death.
đao sơn
The hill of swords.
; The hill of swords in one of the hells.
đao đại tuệ
Prajākhadga (S), Paākhagga (P)Kiệt già, Kiếm trí huệ.
Đao đồ
xem Ba đường ác.
đao đồ
320又作刀塗。三途之一,為餓鬼道之異名。途有二義,一為殘害、塗毒之意,一為道途、歸趨之意。據大明三藏法數卷十二載,以餓鬼道之眾生常受刀杖驅逼、屠殺、殘害,故稱為刀途。〔翻譯名義集卷二、玄應音義卷四〕
; The gati or path of rebirth as an animal so called because animals are subjects of the butcher's knife.
; The hells of swords—The gati or path of rebirth as an animal—So called because animals are subjects of the butcher's knife.
; (刀途) Đường dao. Một trong ba đường, là tên khác của đường quỉ đói. Cứ theo Đại minh tam tạng pháp số quyển 12 nói, thì chúng sinh ở đường quỉ đói thường bị xua đuổi bằng dao, gậy, bị giết chóc, tàn hại, vì thế gọi là Đao đồ. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.4].
Đao-lợi
xem cõi trời Ba mươi ba.
đau khổ
Dukkha (P), Duḥkha (S), Suffering
; Suffering—pain
đau khổ không chịu đựng được
Unbearable sufferings.
đau lòng
Heart-rending—Heart broken
đau thương
Painful—Sorrowful.
đau xót
To sorrow.
đau đớn
Pangs—Pain.
đau đớn của cái chết
The pangs of death
Đào Uyên Minh
(陶淵明, 365-427): thi nhân nhà Đông Tấn của thời đại Lục Triều, tên là Tiềm (潛) hay Uyên Minh (淵明), tự Nguyên Lượng (元亮), nhụ là Tĩnh Tiết (靖節), xuất thân vùng Giang Tây (江西). Ông sanh ra trong một gia đình quý tộc hạ cấp, lại gặp nhiều trắc trở trên con đường thăng quan tiến chức, nên cuối cùng ông làm bài phú Quy Khứ Lai Từ (歸去來辭) theo lịnh của Huyện Bành Trạch và lui về ẩn cư, vui thú điền viên tại cố hương mình. Thi văn ông rất bình dị, ca ngợi tâm tư của kẻ ẩn dật và cuộc sống điền viên. Ông lập ra một trường phái riêng mà cho đến thời nhà Đường thì có nhiều thi hào đã theo như Vương Duy (王維), Mạnh Hạo Nhiên (猛浩然), v.v. Tán văn của ông có Ngũ Liễu Tiên Sanh Truyện (五柳先生傳), Đào Hoa Nguyên Ký (桃花源記), v.v.
Đại Hàm
(大含, Daigan, 1773-1850): vị học tăng của Phái Đại Cốc (大谷派) thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ, húy Đại Hàm (大含), hiệu Hồng Tuyết (鴻雪), Nhiễm Hương Nhân (染香人), thụy hiệu là Vân Hoa Viện (雲華院); xuất thân vùng Phong Hậu (豐後, Bungo, thuộc Ōita-ken [大分縣] ngày nay). Ông sanh ra tại Mãn Đức Tự (滿德寺) vùng Phong Hậu, đến năm 1791 thì làm con nối dòng của Phụng Lãnh (鳳嶺) ở Chánh Hạnh Tự (正行寺) vùng Phong Tiền (豐前, Buzen), và kế thừa chức trú trì chùa nầy. Cũng trong năm nầy, ông tham gia khóa học ở Cao Thương Học Liêu (高倉學寮) của Đông Bổn Nguyện Tự (東本願寺, Higashihongan-ji), đến năm 1834 thì làm Giảng Sư tại đây. Ông rất giỏi về thư họa, thi ca và đã từng giao hữu với nhóm Lại Sơn Dương (頼山陽), Điền Năng Thôn Trúc Điền (田能村竹田), v.v. Trước tác của ông có Quy Mạng Tự Huấn Giảng Biện (歸命字訓講辨), Tịnh Độ Luận Chú Giảng Nghĩa (淨土論註講義) 12 quyển, Chánh Tín Niệm Phật Kệ Lục (正信念佛偈錄) 5 quyển, An Lạc Tập Văn Thư (安樂集聞書), v.v.
Đại Huệ Tông Cảo
(大慧宗杲, Daie Sōkō, 1089-1163): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Đàm Hối (曇晦), hiệu Diệu Hỷ (妙喜), Vân Môn (雲門), xuất thân vùng Ninh Quốc (寧國), Tuyên Châu (宣州, thuộc Tỉnh An Huy ngày nay), họ là Hề (奚). Năm lên 13 tuổi, ông theo trường làng học Nho Giáo, đến năm 16 tuổi thì xuất gia với Huệ Tề (慧齊) ở Đông Sơn Huệ Vân Tự (東山慧雲寺). Năm sau ông thọ cụ túc giới, và một mình chuyên tham cứu Thiền. Vào mùa thu năm đầu (1107) niên hiệu Đại Quán (大觀), ông lên Lô Sơn (廬山), sau đó đến tham yết Động Sơn Vi (洞山微) và học tông chỉ của vị nầy. Kế đến ông theo làm đệ tử của Trạm Đường Văn Chuẩn (湛堂文準) ở Bảo Phong (寶峰). Vào năm 1115, khi Văn Chuẩn qua đời, có người khuyên ông nên đến tham bái Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤). Nhưng ông lại đến tham vấn Giác Phạm Huệ Hồng (覺範慧洪) trước, và bái yết Trương Thương Anh (張商英) ở nơi đó. Cho đến năm 1124, khi Khắc Cần chuyển đến trú tại Thiên Ninh Tự (天寧寺) vùng Đông Kinh (東京), thì ông theo nhập chúng tham học với Khắc Cần. Sau quá trình tu tập khắc khổ, cuối cùng ông được đại ngộ và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Thể theo lời tấu xin của vị Thừa Tướng Lữ Thuấn Đồ (呂舜徒), ông được ban hiệu Phật Nhật Đại Sư (佛日大師). Sau khi Viên Ngộ trở về nước Thục, ông chuyển đến Vân Môn Am (雲門庵) ở Hải Hôn (海昏, thuộc Tỉnh Giang Tây ngày nay) để lánh nạn binh đao. Đến năm 1134, ông lại dời đến Dương Tự Am (洋嶼庵) vùng Phúc Kiến (福建), và chính nơi đây ông đã công kích Thiền mang tính mặc chiếu, mà cử xướng Thiền công án. Ba năm sau, ông được thỉnh đến trú tại Kính Sơn Năng Nhân Thiền Viện (徑山能仁禪院), diễn xướng tông phong một cách rực rỡ và được xem như là vị tổ thời Trung Hưng của Lâm Tế Tông. Sau ông bị lưu đày đến Hoành Châu (衡州) vì bị tình nghi thuộc đảng phái phản loạn, lưu lại đó khoảng 10 năm và trong khoảng thời gian nầy ông viết bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏) gồm 6 quyển. Về sau, ông được tha tội, đến trú tại Dục Vương (育王), cùng kết giao với Hoằng Trí Chánh Giác (宏智正覺) ở Thiên Đồng Sơn (天童山). Sau ông trở về lại Kính Sơn, được Hoàng Đế Hiếu Tông (孝宗) quy y theo, và ban cho hiệu là Đại Huệ Thiền Sư (大慧禪師). Vào năm thứ nhất (1163) niên hiệu Long Hưng (隆興), ông thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi đời và 58 hạ lạp. Trước tác của ông có Đại Huệ Ngữ Lục (大慧語錄), Đại Huệ Võ Khố (大慧武庫), v.v.
Đại Mai Pháp Thường
(大梅法常, Daibai Hōjō, 752-839): người Tương Dương (襄陽, thuộc Tỉnh Hồ Bắc), họ là Trịnh (鄭). Ông tu học ở Ngọc Tuyền Tự (玉泉寺) vùng Kinh Châu (荆州, thuộc Tỉnh Hồ Bắc) từ thưở nhỏ, rồi đăng đàn thọ cụ túc giới ở Long Hưng Tự (龍興寺). Ông rất tinh thông kinh luận, nhưng lại có chí tu Thiền, cuối cùng ông theo làm môn hạ của Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) và được đốn ngộ. Vào năm thứ 12 (796) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), ông đến trú ở Đại Mai Sơn (大梅山), chỗ ẩn cư xưa kia của Mai Tử Chơn (梅子眞), thuộc phía nam Dư Diêu (余姚), Tứ Minh (四明, thuộc Tỉnh Triết Giang). Sau khi sống nơi ấy được 40 năm, ông bị vị tăng môn đệ của Diêm Quan Tề An (鹽官齊安) phát hiện ra nơi nhàn cư của mình. Vào năm đầu (836) niên hiệu Khai Thành (開成) nơi đây trở thành Hộ Thánh Tự (護聖寺), với số lượng đồ chúng lên đến sáu bảy trăm người. Vào ngày 19 tháng 9 năm thứ 4 (839) đồng niên hiệu trên, ông thị tịch, hưởng thọ 88 tuổi đời và 69 hạ lạp. Đệ tử từ pháp của ông có Hàng Châu Thiên Long (杭州天龍), Tân La Ca Trí (新羅迦智), Tân La Trung Sảng (新羅忠彦), v.v. Ông có lưu lại cuốn Minh Châu Đại Mai Sơn Thường Thiền Sư Ngữ Lục (明州大梅山常禪師語錄) 1 quyển.
Đại Ngu Lương Khoan
(大愚良寬, Daigu Ryōkan, 1758-1831): ca nhân, thư gia, vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Giang Hộ, húy Lương Khoan (良寬), tự Văn Hiếu (文孝), đạo hiệu Đại Ngu (大愚), xuất thân vùng Xuất Vân Khi (出雲崎, Izumozaki), Việt Hậu (越後, Echigo) trưởng nam của Sơn Bổn Tả Môn Thái Hùng (山本左門泰雄). Năm 1774, ông giao nhà lại cho người em là Do Chi (由之), theo xuất gia thọ giới với Phá Liễu (破了) ở Quang Chiếu Tự (光照寺, Kōshō-ji) vùng Ni Lại (尼瀬), Việt Hậu. Đến năm 1779, ông kế thừa dòng pháp của Quốc Tiên (國仙) ở Viên Thông Tự (圓通寺, Entsū-ji) vùng Bị Trung (僃中, Bicchū). Vào năm 1796, ông trở về cố hương, dừng chân trú tại Ngũ Hợp Am (五合庵) trên Quốc Thượng Sơn (國上山). Ông sống một đời thanh bần, thường hay đùa giỡn với con nít, và vui thú với rượu. Ông rất tinh thông thi ca, tương truyền đến cuối đời ông được thỉnh đến ở tại biệt trang của dòng họ Mộc Thôn (木村, Kimura) ở Đảo Khi (島崎, Shimazaki). Trước tác của ông có Lương Khoan Đạo Nhân Di Cảo (良寬道人遺稿) 1 quyển, Lương Khoan Vịnh Ca (良寬詠歌) 1 quyển, Thảo Đường Tập (草堂集) 2 quyển, Lương Khoan Toàn Tập (良寬全集) 2 quyển, v.v.
Đạo Lâm
(道林, Dōrin, 741-824): vị Thiền tăng của Ngưu Đầu Tông (牛頭宗) Trung Quốc, người Huyện Phú Dương (富陽), Hàng Châu (杭州, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay), họ là Phan (潘). Năm lên 21 tuổi, ông thọ cụ túc giới ở Quả Nguyện Tự (果願寺) thuộc Kinh Châu (荆州, thuộc Tỉnh Hồ Bắc ngày nay). Sau đó, ông lên kinh đô Trường An học Hoa Nghiêm Kinh, Đại Thừa Khởi Tín Luận, rồi quay về với Thiền, đến tham yết Kính Sơn Pháp Khâm (徑山法欽) và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Về sau, ông thường sống trên cành cây tùng lớn của Tần Vọng Tự (秦望寺), nên được gọi là Thiền Sư Điểu Khòa (鳥窠禪師); bên cạnh đó lại có tổ chim bồ cạc, nên ông còn được gọi là Thiền Sư Thước Sào (鵲巢禪師). Trong khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (元和, 806-820) nhà Đường, Bạch Cư Dị (白居易) có đến đây và tham vấn Phật pháp với ông. Ông thị tịch vào ngày mồng 10 tháng 2 năm thứ 4 (824) niên hiệu Trường Khánh (長慶), thọ 84 tuổi đời và 63 hạ lạp. Ông được ban thụy hiệu là Viên Tu Thiền Sư (圓修禪師).
đe dọa
To frighten—To menace—To threaten—To intimidate—Phật giáo không đe dọa con người bằng những sợ hãi giả tưởng và mặc cảm tội lỗi—Buddhism does not frighten people with imaginary fears and guilt-feelings.
đem theo
To carry about—To bring with.
đen bạc
Ungrateful.
đen tối
Dark—Tư tưởng đen tối: Dark thoughts.
Đen-gi-pa
S: ḍeṅgipa, ḍiṅgi, ḍiṅga, ṭeṅki, ṭaṅki, dheṅki, dha-ki; »Bà-la-môn làm nô lệ cho kĩ nữ«;|Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, môn đệ của Lu-i-pa (s: lūipa), sống giữa thế kỉ thứ 9. Ông là đại thần của nhà vua Nhân-đà Ba-la (s: in-drapāla), với pháp danh Ða-ri-ka-pa (s: dārikapa) tại thành Hoa Thị (s: pāṭaliputra). Ông cùng nhà vua bỏ vương triều đến xin làm đệ tử của Lu-i-pa. Lu-i-pa đồng ý với điều kiện cả hai đều phải trở thành nô lệ. Lu-i-pa bán vua Nhân-đà Ba-la (s: in-drapāla) cho một kĩ viện tại Orissa, về sau vị này trở thành Ma-ha Tất-đạt Ða-ri-ka-pa. Còn Ðen-gi-pa thì được bán cho một nàng kĩ nữ làm chủ tiệm rượu. Ông làm những công việc hạ tiện nhất của một người nô lệ, hàng ngày phải giã gạo, vì vậy mang tên là Ðen-gi-pa (người giã gạo). Ông tự thuật đời mình như sau:|Ta là Ðen-gi-pa, |Du-già sư Vệ-đà,|đã chứng đạt đại định,|trong lúc đang giã gạo.|Giã gạo với cái chày, |phép Du-già của ta.|Ta hốt gạo vương vãi,|giã với lời khai thị,|của thầy dạy cho ta.|Chẳng quan tâm người khác,|giã gạo sao cho trắng;|Giã tội bằng đức hạnh,|rồi bằng trí kim cương,|gạo là mặt trời, trăng.|Cối giã là tính Không,|»Cho«, »Nhận« đã thành một.|Tư tưởng, ví như sữa, |được thần chú HŪṂ giã,|Ðại lạc trở thành bơ.|Vị nó là Bất nhị.|Bà-la-môn kiêu mạn,|bây giờ đã nhẫn nhục,|nó phải được bán đi,|để giảm lòng kiêu hãnh.|Ðen-gi-pa được bán,|cho một nàng kĩ nữ!|Sau 12 năm tu tập, ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi). Bà chủ tiệm rượu tình cờ thấy người ông đầy hào quang sáng loà vội sụp lạy xin tha lỗi. Cũng như Nhân-đà Ba-la, ông được Lu-i-pa dạy cho phép từ bỏ lòng kiêu mạn của giai cấp thượng lưu bằng cách sống đời nô lệ. Bài ca ngộ đạo của ông như sau:|Niềm vui giải thoát ví,|như con ngựa, thớt voi,|như biển cả rộng khắp.|Chứng đạo như con khỉ,|như một đứa trẻ thơ,|như chữ viết trên nước;|Nhất thể ví dòng sông,|như mặt trời, liều thuốc;|Ðạt mục đích ví như,|sợi tóc được gút lại,|như con mắt duy nhất,|như cái bánh xe tròn.|Những biểu tượng các hình ảnh chứng đạo của Ðen-gi-pa cần hiểu như sau: Sự giải thoát ví như con ngựa là sự tự do hoang tàng, ví như thớt voi là sức mạnh và sự bất động, ví như biển cả là sự bao trùm toàn thể. Sự chứng thật ví như con khỉ là con vật thấy gì lấy ngay, như đứa trẻ là người bất phân biệt, như chữ viết trên nước là điều hiện lên rồi mất ngay. Cái nhất thể như dòng sông là biểu tượng sự liên tục biến đổi, như mặt trời là nguồn sáng tự nó, như liều thuốc chữa bệnh thế gian. Ðạt mục đích như sợi tóc gút lại, đó là biểu tượng của hành trì liên tục, con mắt duy nhất là cách nhìn phi nhị nguyên, như bánh xe tám nhánh là sống theo Bát chính đạo, sống thật tại vượt thời gian.
đeo việc thế tục
Weighed down by mundane preoccations.
đi biển có đôi, tu hành có bạn
As a proverb says: “Sea travellers should always be in couple, practicing dharma should always be conducted with friends.”
đi bách bộ
To go for a walk.
đi chân đất
To go barefooted.
đi chùa
To go to the temple.
đi chập chững
To go with short and unsteady steps—To toddle.
đi hàng hai
To play a double game.
đi hành cước
Anupubbena-carikam-caramano (p)—See Hành Cước.
đi kinh hành
Đi thiền hành—To stroll around—To circle on foot—To circumambulate.
đi lui
To walk backwards.
đi lén
To go in secret.
đi lên
To go up.
đi lạc
To lose one's way—To go astray.
đi lủi thủi
To go alone.
đi mau
To go fast (quickly).
đi nhiễu bảy vòng
Một nghi thức cổ truyền Ấn Độ trên 2.500 năm trước, để biểu lộ lòng kính trọng và ngưỡng mộ với Phật—Circle seven times—A traditional ritual, practiced in India over 2,500 years ago, to show respect and admiration for the Buddha.
đi nhiễu quanh
Padakkhina (p)—Lối chào cung kính bằng cách đi vòng quanh theo chiều kim đồng hồ (từ bên phải một người hay đối tượng)—A mode of reverential salutation by walking clockwise (round a person or object, keeping the right side turned to him).
đi theo
To accompany—To go with.
đi thiền hành
Đi kinh hành—To walk slowly and enjoybly without thinking about anything.
đi thong thả
To walk leisurely.
đi thăm ai
To visit someone.
đi thẳng
To go straight—To go right on.
đi thụt lùi
To go backwards.
đi trước
To forego.
đi tìm chân lý
To find the truth.
đi tới đi lui
To go to and fro—To walk up and down.
đi tứ tán
To dispart—To go in different directions.
đi từ nhà nầy sang nhà kia
To go from door to door.
đi vào
To enter—To go in.
đi vào cuộc sống trường cửu
The entrance to eternal life.
đi vòng
To go around.
đi xuống
To go down.
đi đường tắt
To go the shortest way.
đi đến quả vị phật
To lead to the ultimate goal of Buddhahood.
Đi-li-pa
S: dhilipa hoặc delipa, teli, telopa. tailopa, bha-lipa, tailopada; »Thương gia biết thưởng thức«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông là người buôn dầu và trở nên vô cùng giàu có, sống một cuộc đời vương giả. Ngày nọ, Pháp sư Bà-ha-na (s: bhahana) đến thăm ông, chỉ cho ông thấy cuộc đời Vô thường và ông bắt đầu quan tâm đến đạo pháp. Lần khác vị này nhìn ông ép mè lấy dầu, nhân thế chỉ dạy:|Xem thân là hạt mè,|ép thành trí tư duy,|đổ vào bình Tự tính.|Làm một sợi bấc đèn,|từ giao phối Sắc-Không,|thắp lên bằng tri kiến,|và tỉnh giác thanh tịnh.|Ðèn chiếu phá vô minh,|an trú trong Ðại lạc,|Ðó là vui giải thoát.|Sau chín năm thiền định ông đạt thánh quả. Chứng đạo ca của ông như sau:|Tự tính của riêng ta,|chính là Phật – không khác.|Tự tính mọi thật tại,|chính là Phật – không khác.|Nhờ phép truyền năng lực,|của phép Sa-ha-ja,|của tiên thiên tuyệt đối,|ta đạt cõi vô sinh.
đinh nguyên công
86清代畫家。嘉興人。字原躬。幼習儒業。明末曾任州縣,而篤志禪道,遍參耆宿。謁麥浪懷禪師得法,為青原三十七世,其妻歿後,遂棄官歸隱。明亡後,年已垂暮,出家為僧,法名淨伊,號願菴,住於杭州六通院,虔修淨土,康熙中示寂。氏博學多能,工詩書,能篆刻,尤精繪畫,所作關壯繆(關羽)像,長丈餘,人稱妙品。〔國耆獻類徵卷四六四、清畫家詩史甲下〕
đinh phúc bảo
87(1874~1952)江蘇無錫人。字仲祐。號疇隱居士。幼通經史,長而中西兼貫,長於算術、醫學、詞章、考據,通日文。曾任京師大學堂及譯學館教習。三十六歲時赴日考察醫學,後於上海行醫並創辦醫學書局。年逾四十始向佛,悉棄向日所學。著述分為醫學、文學、進德、佛學等四種叢書。其中佛學叢書之特色,在於啟發世人對三世因果、六道輪迴之信心,進而發心學佛。先後出版一切經音義提要、佛經精華錄箋注、六祖壇經箋注、心經箋注、六道輪迴錄、佛學指南、佛學起信論等。民國元年(1912),致力「佛學大辭典」之編纂,參取日本織田得能等之佛學辭典,歷經十載,至民國十年六月始出版。此辭典之編纂,對佛教之貢獻頗鉅。後又編印翻譯名義集新編、一切經音義匯編二書,與該辭典相輔而行。
; (丁福保) (1874 - 1952) Người Vô tích, tỉnh Giang tô, tự Trọng hựu, hiệu Trù ẩn cư sĩ. Ông thông minh từ thủa nhỏ, thông suốt kinh sử, hiểu biết cả văn hóa Trung quốc và Tây phương, giỏi toán số, y học, từ chương, khảo cứ, thạo tiếng Nhật. Ông từng làm giáo sư Đại học và Dịch học quán tại kinh đô. Năm 36 tuổi, ông sang Nhật bản khảo sát về y học, sau ông làm nghề thuốc và sáng lập Y học thư cục ở Thượng hải. Năm hơn 40 tuổi ông mới hướng về Phật pháp, bỏ hết sở học ngày trước. Những soạn thuật của ông được chia làm 4 loại tùng thư: Y học, Văn học, Tiến đức, Phật học. Trong đó, đặc sắc của Phật học tùng thư là nhằm khơi mở lòng tin của mọi người về nhân quả ba đời và luân hồi sáu ngả mà phát tâm học Phật. Ông đã lần lượt xuất bản: - Nhất thiết kinh âm nghĩa đề yếu. - Phật kinh tinh hoa lục tiên chú. - Lục tổ đàn kinh tiên chú. - Tâm kinh tiên chú. - Lục đạo luân hồi lục. - Phật học chỉ nam. - Phật học khởi tín luận. - Phiên dịch danh nghĩa tập tân biên. - Nhất thiết kinh âm nghĩa hối biên. - Phật học Đại từ điển. Ông bắt đầu biên soạn bộ Phật học Đại từ điển này vào năm 1912 và hoàn thành năm 1922, đây là một cống hiến lớn lao của ông đối với Phật giáo.
đinh vân bằng
87明代佛畫家。安徽休寧人。字南羽。號聖華居士。信佛甚誠,唯亦喜近道術,頗事燒鍊。善繪佛道尊像,得吳道子法,為明代名家。萬曆間名撼宇內,人爭藏其作,視若珍寶。〔明人小傳卷四、明畫錄卷一〕
; (丁雲鵬) Nhà danh họa sống vào đời Minh, người Hưu ninh, tỉnh An huy, tự là Nam vũ, hiệu Thánh hoa cư sĩ. Ông tin Phật pháp rất thành kính, nhưng cũng hâm mộ Đạo thuật và thích luyện thuốc tiên. Ông vẽ tượng Phật và Lão tử, được chân truyền về họa pháp của Ngô đạo tử. Những tác phẩm của ông được người ta tranh nhau cất giữ coi như bảo vật. [X. Minh nhân tiểu truyện Q.4; Minh họa lục Q.1].
điên
Overturn, upset, upside down.
; 1) Lật úp ngược lại—Overturn—Upset—Upside down. 2) Trán hay đỉnh đầu: The forehead or top.
điên ca
6730即指一顛迦(梵 icchantika),亦即一闡提。為無性有情之一。此類有情樂欲於生死而不欣求出離。據北本涅槃經卷二十六、卷三十二等載,一闡提,即撥無因果,執著善惡業與善惡報無關者;其說或指順世外道等之徒。或有將阿闡底迦(梵 acchantika,不樂欲)、阿顛底迦(梵 ātyantika,畢竟)二語訛作一闡提之同類語者。〔翻譯名義集卷二外道篇〕(參閱「一闡提」85)
; (顛迦) Chỉ cho Nhất điên ca (Phạm: icchantika) tức là Nhất xiển đề. Một trong các loại hữu tình vô tính. Loại hữu tình này ưa thích sống chết, không mong cầu ra khỏi. Cứ theo kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 26, 32 nói, thì Nhất xiển đề phủ nhận lí nhân quả, không tin có quả báo thiện ác; đây có lẽ chỉ cho tín đồ của ngoại đạo Thuận thế. Nhất điên ca (Phạm: icchantika) có thể đã do lầm lẫn từ 2 chữ đồng loại là A xiển để ca (Phạm: acchantika, không ưa thích) và A điên để ca (Phạm: àtyantika, rốt ráo) mà ra. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2 Ngoại đạo thiên]. (xt. Nhất Xiển Đề).
điên cuồng
Mad—Crazy.
điên dại
See Điên khùng.
điên khùng
To be foolish.
điên thích kỉ
5507凡四卷。清代圓鼎和空編。內容係集錄有關雲南僧俗之傳記,計有法源編、應化編、隋釋編、唐釋編、後晉釋編、後周釋編、宋釋編、元釋編、明釋編、清釋編、雜科編、補遺編等十二編,總計二五三人傳,爲雲南僧傳中最詳備者。收載於雲南叢書子部卷二十九。〔明季滇黔佛教考〕
; (滇釋紀) Gồm 4 quyển, do ngài Viên đỉnh Hòa không biên soạn vào đời Thanh, được đưa vào Vân nam tùng thư tử bộ quyển 29. Nội dung thu chép những truyện kí của 253 vị tăng, tục ở tỉnh Vân nam, gồm 12 phần là: Pháp nguyên biên, Ứng hóa biên, Tùy thích biên, Đường thích biên, Hậu Tấn thích biên, Hậu Chu thích biên, Tống thích biên, Nguyên thích biên, Minh thích biên, Thanh thích biên, Tạp khoa biên và Bổ di biên. Đây là bộ sách đầy đủ và rõ ràng nhất trong Vân nam tăng truyện. [X. Minh quí điền kiềm Phật giáo khảo].
điên tiết
Furious.
điên đảo
6730梵語 viparīta,或 viparyāsa。略作倒。謂違背常道、正理,如以無常為常,以苦為樂等反於本真事理之妄見。對於顛倒妄見之分類,諸經論所說有異。(一)二顛倒,即:(1)眾生顛倒,眾生不知真理,為煩惱所迷惑。(2)世界顛倒,眾生迷失真性,住妄境界起諸倒見。所說出自首楞嚴經卷七、大明三藏法數卷八等。 (二)三顛倒,又作三倒,即:(1)想顛倒,對於對象錯誤之想法。(2)見顛倒,錯誤之見解。(3)心顛倒,具有上述二種顛倒之心之自體即虛妄。所說出自陰持入經卷上、大集法門經卷下、大品般若經卷十一、七處三觀經等。 (三)四顛倒,又作四倒,即:(1)有為之四顛倒,凡夫不知此世(迷界)之真實相,而以無常為常,以苦為樂,以不淨為淨,以無我為我。(2)無為之四顛倒,聲聞、緣覺雖對有為之四顛倒具有正見,然卻誤以為悟境是滅盡之世界,故不知悟界(涅槃)乃常、樂、我、淨者。以上八種妄見合稱八顛倒,或八倒。所說出自南本涅槃經卷二、卷七、大毘婆沙論卷一○四、大智度論卷三十一、大乘義章卷五末等。 (四)七顛倒,指想倒、見倒、心倒、於無常常倒、於苦樂倒、於不淨淨倒、於無我我倒等七者。乃上記三顛倒與四顛倒之合稱。所說出自瑜伽師地論卷八、瑜伽師地論略纂卷三等。 此外,圓測於仁王經疏卷下列舉常、樂、我、淨等四顛倒,及貪、瞋、癡、過去因、未來果、現在因果等六顛倒,合為十顛倒。並主張以「四念處觀」滅除四顛倒,以三善根觀滅除貪等三毒,而以三世觀滅除過、現、未三世之執著。又大集法門經卷上謂,有為之四顛倒,復個別具有想、心、見等三顛倒,總為十二顛倒。〔六十華嚴經卷十、法華經卷六、無量壽經卷下、俱舍論卷十九、往生論註卷上、慧琳音義卷十五〕
; Viparyaya (S), Error; upside down, inverted; contrary to reality.
; Viparyaya (skt). (A) Nghĩa của Điên Đảo—The meanings of Inversions: 1) Sai lầm: Error. 2) Sự đảo lộn ngược sự lý, như cho vô thường là thường—Upside down, perversion, inverted; contrary to reality; to believe things as they seem to be, e.g. the impermanent to be permanent; the apparent ego to be real. (B) Phân loại Điên Đảo—Categories of Inversions: 1) Tam Điên Đảo: Three inversions—See Tam Điên Đảo. 2) Tứ Điên Đảo: Four inversions—See Tứ Điên Đảo. 3) Thất Điên Đảo: Seven inversions or upside down views—See Thất Điên Đảo. 4) Bát Điên Đảo: Eight upside down views—See Bát Điên Đảo.
; (顛倒) Phạm: viparìta, viparyàsa. Gọi tắt: Đảo. Chỉ cho cái thấy điên đảo, trái với đạo lí vốn chân thực, như vô thường cho là thường, khổ cho là vui v.v... Về cách chia loại vọng kiến điên đảo, các kinh luận nói không giống nhau. 1. Cứ theo kinh Thủ lăng nghiêm quyển 7 và Đại minh tam tạng pháp số quyển 8, thì điên đảo có 2 loại: a) Chúng sinh điên đảo: Chúng sinh không biết rõ chân lí, bị phiền não làm mê mờ. b) Thế giới điên đảo: Chúng sinh mê muội bỏ mất chân tính, ở trong cảnh giới hư dối khởi lên cái thấy điên đảo. 2. Cứ theo kinh Ấm trì nhập quyển thượng, kinh Đại tập pháp môn quyển hạ, kinh Đại phẩm bát nhã quyển 11 và kinh Thất xứ tam quán nói, thì điên đảo có ba loại: a) Tưởng điên đảo: Nhận thức sai lầm đối với mọi hiện tượng. b) Kiến điên đảo: Thấy biết sai lầm. c) Tâm điên đảo: Tâm hư vọng đưa đến nhận thức sai lầm và kiến giải sai lầm. 3. Cứ theo Niết bàn (bản Nam) quyển 2, 7, luận Đại tì bà sa quyển 104, luận Đại trí độ quyển 31 và Đại thừa nghĩa chương quyển 5 phần cuối, thì điên đảo có bốn loại thuộc hữu vi và bốn loại thuộc vô vi. a) Bốn điên đảo hữu vi: Phàm phu không rõ chân tướng của thế gian (thế giới mê vọng) nên cho vô thường là thường, cho khổ là vui, cho bất tịnh là tịnh, cho vô ngã là ngã. b) Bốn điên đảo vô vi: Bậc Thanh văn, Duyên giác, đối với 4 điên đảo hữu vi tuy đã có chính kiến, nhưng lại lầm cho cảnh giác ngộ là thế giới diệt hết, nên không biết Niết bàn là thường, lạc, ngã, tịnh. Tám thứ vọng kiến trên đây gọi chung là 8 điên đảo, hoặc 8 đảo. 4. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 8 và Du già sư địa luận lược toản quyển 3, thì điên đảo có 7 loại: Tư tưởng điên đảo, Thấy biết điên đảo, Tâm trí điên đảo, Vô thường cho là thường, Khổ cho là vui, Bất tịnh cho là tịnh, Vô ngã cho là ngã... Bảy điên đảo này tức là 3 điên đảo và 4 điên đảo nói trên gộp chung lại. Ngoài ra, trong Nhân vương kinh sớ quyển hạ, ngài Viên trắc nêu ra 4 điên đảo là thường, lạc, ngã, tịnh và 6 điên đảo là tham, sân, si, nhân quá khứ, quả vị lai, nhân quả hiện tại, hợp thành 10 điên đảo. Đồng thời, ngài chủ trương dùng pháp quán 4 niệm xứ diệt trừ 4 điên đảo, dùng pháp quán 3 thiện căn diệt trừ 3 độc tham, sân, si và pháp quán tam thế diệt trừ sự chấp trước 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai. Lại nữa, theo kinh Đại tập pháp môn quyển thượng, thì bốn điên đảo hữu vi, mỗi loại lại có ba điên đảo: Tưởng, Tâm, Kiến, tổng cộng là 12 điên đảo. [X. kinh Hoa nghiêm (60 quyển) Q.10; kinh Pháp hoa Q.6; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Câu xá Q.19; Vãng sinh luận chú Q.thượng; Tuệ lâm âm nghĩa Q.15].
điên đảo tưởng
Phàm phu ở nơi Thế lưu bố tưởng sanh ra trước tưởng, gọi là điên đảo tưởng. Bậc Thánh chỉ có Thế lưu bố tưởng chẳng có trước tưởng, nên không gọi là điên đảo tưởng. Có điên đảo tưởng là có phiền não, không có điên đảo thì không có phiền não.
điên đảo vọng tưởng
Upside down and delusive ideas.
; Upside down and illusive ideas.
điêu khắc
Sculpture
điêu khắc trên đá
Sculpture in stone.
điêu linh
See Điêu đứng.
Điêu lương họa đống
(彫樑畫棟): khắc vẽ trên nóc nhà, xà nhà cũng như các trụ cột khác để thể hiện sự hoa lệ của căn nhà. Đây cũng là hình thức từ ban sơ tổ tiên con người thực hiện khi làm nhà. Như trong bài Ngọc Lâu Xuân (玉樓春) của Tống Trưng Dư (宋徵輿, 1618-1667) nhà Minh có câu: “Điêu lương họa đống nguyên vô số, bất vấn chủ nhân tùy ý trú (彫梁畫棟原無數、不問主人隨意住, khắc vẽ khắp nhà nguyên vô số, chẳng hỏi chủ nhân tùy ý ở).”
điêu ngoa
Lying—False.
điêu nhiên
4451(?~1016)日本三論宗僧。京都人,俗姓藤原。幼年出家,學三論、密教等。夙有登五臺拜文殊靈蹟、渡中天竺禮佛靈蹟之志,以母在,未果。永觀元年(983)來宋,翌年,入京獻銅器十餘品及日本職員令、年代記、唐越王孝經新義各一卷,太宗賜以紫衣並「法濟大師」之號。其後,北遊五臺山,巡禮文殊菩薩靈蹟,復回汴京。永延年間(987~988),師參詣西華門外聖禪院,並命人模刻院中之印度優填王所刻之栴檀釋迦像。請得大藏經五千卷,並攜釋迦像、十六羅漢像等返國。釋迦像即今日本清涼寺之本尊。其間,師復遣弟子嘉因來宋謝恩,獻表及佛經,硯筥、扇篋、鐵刀、金屏等。長和五年示寂,世壽不詳。有入宋日記四卷,今不傳。〔佛祖統紀卷四十三、宋史列傳第二五○、扶桑略記卷二十七、參天台五臺山記卷一、卷四、卷五〕
điêu tàn
Ruined—Desolate.
điêu đứng
Miserable—Unfortunate.
Địch diện chi cơ
(覿面之機): địch diện có nghĩa là xáp mặt nhau, mặt đối mặt; cơ nghĩa là căn cơ, cơ hội, dịp. Trong phần Thùy Thị thuộc tắc thứ 16 của Bích Nham Lục (碧巖錄), hay trong Đại Ứng Lục (大應錄), Đại Đăng Lục (大燈錄) có thấy xuất hiện cụm từ đương cơ địch diện (當機覿面). Tỷ như trong Đại Đăng Lục có đoạn rằng: “Tăng vân: 'Ký đắc'. Lâm Tế thị chúng vân: 'Xích nhục đoàn thượng hữu nhất vô vị chân nhân ... Thử ý như hà ?' Sư vân: 'Địch diện đương cơ cánh vô hồi hỗ' (僧云、記得、臨濟示眾云、赤肉團上有一無位眞人...、此意云何、師云、覿面當機更無回互, Tăng thưa: 'Đã đạt được.' Lâm Tế dạy chúng rằng: 'Trên đống thịt đỏ au có vô vị chân nhân …, ý này là gì ?' Sư đáp: 'Gặp lúc xáp mặt không nên quay đầu')”. Rồi trong bài di kệ của Triệt Ông Nghĩa Hanh (徹翁義亨, Tettō Gikō), vị tổ đời thứ 2 của Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji), cũng thấy cụm từ địch diện đương cơ (覿面當機). Như vậy ta có thể biết được rằng đối với dòng Đại Đức Tự cụm từ nầy đóng vai trò quan trọng như thế nào.
điếng hồn
To frighten someone out of his wits.
điếng người
To be frightened to death.
điết
Con đỉa—A leech.
điếu
Câu cá—To angle—To fish.
điếu ngữ
Nắm bắt lời nói, hay sự hiểu biết của đệ tử—Angling words or questions—To fish out what a student knows.
điềm báo trước
Forerunner.
điềm gở
Bad omen.
điềm lành
Good omen.
điềm lạ
Strange omen.
điềm nhiên
Indifferent.
điềm tĩnh
To keep calm or cool.
điềm tốt
Good omen.
điềm xấu
Bad omen.
điềm đạm
Calm—Quiet—Sedate.
điền
1) Điền vào chỗ trống: To fill in (up)—To complete the blank. 2) Land—Field. 3) Phước Điền: Nơi gieo trồng phước đức—A place or state , for the cultivation of meritorious or other deeds. ** For more information, please see Phước Điền.
điền lăng
Tháp—A raised mound, or a stupa.
điền trung trí học
2074(1861~1939)日本宗教改革運動者。東京人。十歲時,於一之江妙覺寺出家,法號智學,後為復興在家佛教而脫宗歸俗。先後創有蓮華會、國柱會,鼓吹在家佛教運動,並發行妙宗、日蓮主義、毒鼓、天業民報等刊物,鼓吹日蓮主義,影響當時學者甚大,尤以高山樗牛為顯著。著有宗門之維新、日蓮聖人之教義、帝國憲法講義等。其主張係以日蓮教學作為戒壇論之中心,與明治之國家主義融和,同時與歷史學者重野安繹論爭日蓮龍口法難之事,並攻擊基督教與佛教其他各宗等;其活動代表日蓮宗近代化之一面,盛況一時。昭和十四年入寂,享年七十九。
; (田中智學) (1861 - 1939) Nhà vận động cải cách tôn giáo tại Nhật bản, người Đông kinh (Tokyo). Năm 10 tuổi, ông xuất gia ở chùa Diệu giác tại Nhất chi giang, pháp hiệu là Trí học. Sau, vì muốn phục hưng Phật giáo tại gia nên ông hoàn tục. Ông lần lượt sáng lập Hội Liên hoa, Hội Quốc trụ và phát hành các tập san: Diệu tông, Nhật liên chủ nghĩa, Độc cổ, Thiên nghiệp dân báo v.v..., cổ xúy chủ nghĩa Nhật liên và đẩy mạnh phong trào tu Phật tại gia. Cuộc vận động này đã có ảnh hưởng rất lớn đối với giới học giả đương thời, rõ rệt nhất là trường hợp Cao sơn Xư ngưu (). Ông chủ trương lấy giáo nghĩa Nhật liên làm trung tâm giới đàn luận, dung hòa với chủ nghĩa quốc gia thời Minh trị, đồng thời tranh luận với nhà sử học Trọng dã An dịch về pháp nạn của Nhật liên ở Long khẩu; công kích Cơ đốc giáo và các tông phái khác của Phật giáo. Hoạt động của ông đại biểu cho mặt hiện đại hóa tông Nhật liên, hưng thịnh một thời. Ông qua đời vào năm Chiêu hòa 14 (1939), hưởng thọ 79 tuổi. Tác phẩm của ông gồm có: Tây môn chi duy tân, Nhật liên thánh nhân chi giáo nghĩa, Đế quốc hiến pháp giảng nghĩa.
điền tướng y
Áo Cà Sa chấp lại bởi nhiều mảnh trông giống như hình những bờ ruộng—A patch-robe, its patches resembling the rectangular divisions of fields.
điền tố am
2075宋末元初人,屬臨濟宗。又作田素庵。江都(江蘇)人,世為望族,自幼慧絕,補弟子員,屢試不第,遂萌出離之志。後參謁何密菴太守,得其心印。恆握竹篦,勘驗僧徒,為四方所仰重,禪林間尊稱為田大士而不直呼其名。居城之田家巷,以宅為菴,四方參扣之士,日擁座下一日,茶話時,忽擲盞合掌,別眾而逝。生卒年均不詳。〔五燈全書卷五十八〕
điền vương
Udayana (skt)—See Ưu Điền.
điền y
2074袈裟之別稱。又作水田衣、田相衣。即將布割截成塊狀,而後加以縫綴,因形狀猶如田畦,故稱田衣。釋氏要覽卷上田相起緣條(大五四‧二六九上):「僧祇律云:佛住王舍城,帝釋石窟前經行,見稻田畦畔分明,語阿難言:『過去諸佛衣相如是,從今依此作衣相。』」佛祖統紀卷三十七(大四九,三五○上):「帝服田衣,北面敬禮,受具足戒。」(參閱「袈裟」4784)
; (田衣) Tên khác của áo ca sa. Cũng gọi Thủy điền y, Điền tướng. Áo ca sa gồm những mảnh vải nhỏ được khâu liền lại với nhau, hình tướng vuông vức giống như thửa ruộng nên gọi là Điền y (áo ruộng). Mục Điền tướng khởi duyên trong Thích thị yếu lãm quyển thượng nói (Đại 54, 269 thượng): Luật Tăng kì chép, lúc đức Phật ở gần thành Vương xá, đi dạo trước hang Đế thích, thấy ruộng lúa có những đường bờ phân minh, Ngài bảo tôn giả A nan rằng, tướng áo của chư Phật quá khứ cũng như thế, từ nay theo đó mà may. (xt. Ca Sa).
Điều
條; C: tiáo; J: jō;|1. Nhánh nhỏ, cành cây non; 2. Sợi, chuỗi, gân, tĩnh mạch; 3. Thớ, dệt; 4. Đường kẻ, vật dài và mỏng; 5. Lí do, đề tài, luận lí, tình huống.
điều
To harmonize, blend; regulate, control; to change about.
; 1) Âm điệu của bài hát: A song-tune. 2) Điều hòa: To harmonize—To regulate—To control—To change about. 3) Điều lệ: A law—An order.
điều bà đạt đa
Devadatta (skt)—See Đề Bà Đạt Đa.
điều chi
Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, thì đây là vùng mà xưa kia người Tajiks đã định cư, gần hồ Sirikol—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is the region where the Tajiks anciently settled, near the Sirikol lake.
điều chắc chắn
This is a certainty.
điều chỉnh
To adjust.
điều hành
To handle—To manage.
điều kiện
Condition.
điều kiện bên ngoài
Tất cả những trở ngại và bất toàn không do những điều kiện bên ngoài, mà là do tâm tạo. Nếu chúng ta không có sự tỉnh lặng nội tâm, không có thứ gì bên ngoài có thể mang lại hạnh phúc cho chúng ta—External conditions—Problems and dissatisfaction do not develop because of external conditions, but from our own mind. If we don't have internal peace, nothing from outside can bring us happiness.
điều kiện chủ nghĩa
Conditionalism.
điều kiện cách
Conditional mood.
điều kiện tiên quyết
Precondition.
điều kiện trần thế
Worldly condition
điều kỳ diệu
Wonderful things.
Điều lí
條理; C: tiáolǐ; J: jōri; |Lí lẽ, lí luận. Dòng mạch của cuộc tranh luận; đề tài. Dòng, tuyến.
Điều lý 條理
[ja] ジョウリ jōri ||| Reason, logic. The thread of an argument; a theme. Linear. => Lý lẽ, lý luận. Dòng mạch của cuộc tranh luận; đề tài. Dòng, tuyến.
điều lệ
Regulation—Rule.
điều ngũ sự
6163為天台宗入十乘觀法之前加行之二十五方便五科中之第四。指調節飲食、睡眠(此二種屬定外之外調)、身、息、心(此三種乃入定時之內調)等五事。又稱調五法。即:(一)調節飲食,謂食若過飽,則氣急身滿,坐念不安;食若過少,則身羸心懸,意慮不固;食穢濁之物,則心識惛迷;食不宜於身之物,則引發宿疾,故飲食當慎,不饑、不飽,調和適當。(二)調節睡眠,眠若不全,則心神虛恍;眠若過多,則廢修行,空喪功夫,沈沒善根,故戒眠當慎,不節不恣。(三)調身,謂身之姿勢要正,無論半跏趺坐、全跏趺坐,必順坐法之規定調身,使之不寬、不急。(四)調息,謂調和氣息,遠離風、喘、氣三種不調之相,綿綿而若存若亡,使之不澀不滑。(五)調心,指調伏亂念,若心沈,念應止鼻端;若心浮,則安心向下,使其不沈不浮。調和此五事,一如世間陶師之製造眾器,首先調和陶土,使其不強不軟,再取造器物。有志於十乘觀法之修行者亦然,首先調和五事,使生三昧,繼而達其生慧之目的。〔摩訶止觀卷四上、卷四下、止觀輔行傳弘決卷四之一、釋禪波羅蜜次第法門卷二、法界次第初門卷上之上〕
; (調五事) Cũng gọi là Điều ngũ pháp. Điều hòa, tiết chế năm việc: Ăn uống, ngủ nghỉ (điều hòa bên ngoài khi xuất định), thân, hơi thở, tâm (điều hòa bên trong khi nhập định). Đây là khoa thứ 4 trong năm khoa của 25 phương tiện thuộc tiền gia hạnh trong Thập thừa quán pháp do tông Thiên thai lập. 1. Điều tiết ẩm thực: Nếu ăn no quá thì hơi thở gấp và mình mệt, tĩnh tọa không yên; nếu ăn ít quá thì thân gầy ốm tâm thần lơ lửng, ý nghĩ bình bồng; ăn những thứ không được sạch sẽ thì tâm thức hôn mê; ăn những vật không thích hợp với thể chất thì sinh bệnh tật. Cho nên ăn uống phải thận trọng, không đói, không no, điều hòa thích đáng. 2. Điều tiết thụy miên: Nếu thiếu ngủ thì tâm thần bơ phờ, mà ngủ nhiều quá thì bỏ bê việc tu hành, uổng phí công phu, thiện căn tiêu mất. Vì thế ngủ nghỉ phải cẩn thận, không nên tiết chế quá, cũng không nên phóng túng quá. 3. Điều thân: Dù ngồi bán già hay kết già, tư thế của thân phải ngay thẳng, đúng với qui định điều thân, không buông thả cũng không bó buộc thái quá. 4. Điều tức: Điều hòa hơi thở, thở ra thở vào nhịp nhàng, không nhanh không chậm; không thở mạnh, thở gằn hoặc thở nhẹ quá như còn như mất. 5. Điều tâm: Điều phục tâm tán loạn, nếu tâm rơi vào trạng thái nặng nề thì quán niệm dừng lại ở đầu mũi; nếu tâm ở trạng thái lông bông thì đặt tâm hướng xuống dưới khiến tâm ở trạng thái quân bình. Điều hòa 5 việc trên đây giống như người thợ gốm nặn đồ dùng, trước phải nhào đất, đất phải đúng điều độ, không khô quá cũng không nhễu quá mới nặn được đồ. Người tu hành Thập thừa quán pháp cũng vậy, trước phải điều hòa năm việc trên khiến phát sinh tam muội, kế đó mới đạt mục đích phát sinh trí tuệ.
điều ngưu tụ lạc
6164梵名 Kalmāṣadamya,巴利名 Kammāsadhamma, Kammassadhamma, Kammāsadamma。即指釋尊曾經教化之拘樓國(梵 Kuru)城邑。音譯為劍摩瑟曇、劍摩沙、劫摩沙住處。又作悉作法、調伏
; (調牛聚落) Phạm: Kalmàwadamya, Pàli: Kammàsadhamma, Kammassadhamma, Kammàsadamma. Dịch âm: Kiếm ma sắt đàm, Kiếm ma sa, Kiếp ma sa trụ xứ. Cũng gọi Tất tác pháp, Điều phục kiển sắc vương thành, Điều phục giao ngưu tụ lạc, Tạp sắc mục ngưu tụ lạc, Điều ngưu tụ lạc pháp trị xứ, Pháp hành thành, Trừ diệp, Diệp nghiệm tác. Tên thành ấp ở nước Câu lâu (Phạm: Kuru) nằm về phía tây bắc nước Mạt thố la (Phạm: Mathurà). Cứ theo kinh Đại duyên (Pàli: Mahànidàna-suttanta) trong Trường bộ kinh 15, thì đức Phật đã từng đến đây giáo hóa. [X. kinh Bất động lợi ích trong Trung bộ kinh; kinh Tạp a hàm Q.9, Q.10, Q.15; kinh Niệm xứ trong Trung a hàm; kinh Tu nhàn đề; kinh Đại nhân; kinh Nhân bản dục sinh; kinh Lục độ tập Q.4; kinh Hiền ngu Q.11; kinh Bồ tát bản hạnh Q.hạ; Hữu bộ dược sự Q.7].
điều ngự
To tame and control as a master does a wild elephant or horse, or as the Buddha brings the passions of men under control.
; Thuần hóa như chủ thuần hóa voi ngựa, hay Đức Phật thuần hóa những dục vọng của chúng sanh—To tame and control as a master does a wild elephant or horse, or as the Buddha brings the passions of men under control.
điều ngự sư
See Điều Ngự Trượng Phu.
Điều Ngự Trượng Phu
(s: puruṣa damyasārathi, p: purisadammasārathi, 調御丈夫): âm dịch là Phú Lâu Sa Đàm Miệu Ta La Đề (富樓沙曇藐娑羅提), một trong 10 danh hiệu của Phật, nghĩa là một bậc thầy khéo điều phục và chế ngự, hóa đạo hết thảy các trượng phu. Đây là đại bi và đại trí của Phật, có khi dùng lời nhu hòa, có khi dùng lời bi thiết hay tạp ngữ, v.v., lấy đủ các loại phương tiện để điều ngự người tu hành, giúp cho họ nhập Niết Bàn. Mười danh hiệu này phát xuất từ trong Phật Thuyết Thập Hiệu Kinh (佛說十號經, Taishō No. 782), phần giải thích về Điều Ngự Trượng Phu như sau: “Vân hà Điều Ngự Trượng Phu ? Phật ngôn: 'Phật thị Đại Trượng Phu, nhi năng điều ngự thiện ác nhị loại; ác giả khởi bất thiện Tam Nghiệp, nhi tác chư ác đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Bàng Sanh nhi đắc ác báo; thiện giả ư thân khẩu ý nhi tu chúng thiện, đắc nhân thiên phước quả; thử chi thiện ác giai do tâm tác, Phật dĩ đệ nhất nghĩa thiện Niết Bàn chi pháp, hiển thị diều ngự linh ly cấu nhiễm hoạch đắc tối thượng tịch diệt Niết Bàn, thị cố đắc danh Điều Ngự Trượng Phu' (云何調御丈夫、佛言、佛是大丈夫、而能調御 善惡二類、惡者起不善三業、而作諸惡墮地 獄餓鬼傍生而得惡報、善者於身口意而修 眾善、得人天福果、此之善惡皆由心作、佛 以第一義善涅槃之法、顯示調御令離垢染 獲得最上寂滅涅槃、是故得名調御丈夫, Thế nào là Điều Ngự Trượng Phu ? Phật dạy: 'Phật là Đại Trượng Phu, có thể điều ngự hai loại thiện và ác; người ác khởi Ba Nghiệp không lành, mà tạo các điều ác, đọa vào Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Bàng Sanh và bị quả báo ác; người thiện tu các điều lành đối với thân, miệng, ý, được quả phước của trời người; thiện và ác này đều do tâm tạo ra; Phật lấy pháp lành Niết Bàn nghĩa thứ nhất để hiển bày, điều ngự, khiến cho xa lìa cấu nhiễm, đạt được Niết Bàn vắng lặng tối thượng; cho nên có tên gọi là Điều Ngự Trượng Phu).” Câu “Điều Ngự Trượng Phu, nãi huấn Tứ Sanh chi tử (調御丈夫、乃訓四生之子)” có nghĩa là đấng Đại Trượng Phu điều ngự, dạy dỗ đàn con của Bốn Loài.
điều ngự trượng phu
6166梵語 puruṣadamyasārathi,巴利語 purisadamma-sārathi。音譯富樓沙曇藐娑羅提。佛十號之一。意指可化導一切丈夫之調御師。大智度論卷二(大二五‧七二中):「富樓沙,秦言丈夫;曇藐,言可化;婆(疑作娑)羅提,言調御師,是名可化丈夫調御師。佛以大慈、大悲、大智故,有時軟美語,有時苦切語,有時雜語,以此調御令不失道。(中略)佛成人以三種道,常隨道不失,如火自相不捨乃至滅。佛令人得善法,亦如是至死不捨。以是故,佛名可化丈夫調御師。問曰:『女人,佛亦化令得道,何以獨言丈夫?』答曰:『男尊女卑故,女從男故,男為事業主故。』(中略)若說丈夫,一切都攝。譬如王來,不應獨來,必有侍從。如是說丈夫,二根、無根及女盡攝,以是故,說丈夫。」(參閱「十號」480)
; Purusa-damya-sàrathi (S). Taming hero.
; Purusa-damya-sarathi (skt)—Điều Ngự Sư—Một danh hiệu của Phật vì Ngài có thể giúp chúng sanh điều ngự những ham muốn dục vọng—A title of the Buddha given to him as a master who tame and control the passions of men.
; (調禦丈夫) Phạm: puruwa damysàrathi, Pàli: purisadamma-sàrathi. Dịch âm: Phú lâu sa đàm miệu sa la đề. Bậc Điều ngự có thể hóa đạo tất cả trượng phu. Là một trong 10 tôn hiệu của đức Phật. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 2 (Đại 25, 72 trung), nói: Phú lâu sa là trượng phu; Đàm miệu là có thể hóa độ; Sa la đề là Điều ngự sư, nên gọi là bậc Điều ngự sư có thể hóa đạo trượng phu. Vì đức Phật dùng đại từ, đại bi, đại trí nên có lúc Ngài dùng lời dịu dàng, có khi dùng lời quở trách, có khi dùng cả hai để điều phục chúng sinh khiến họ chẳng mất đạo tâm. (...) Đức Phật giáo hóa chúng sinh thường theo đạo chẳng bỏ, khiến chúng sinh được thiện pháp đến chết không mất. (xt. Thập Hiệu).
Điều Nhiên
(奝然, Chōnen, 938-1016): vị tăng sống vào khoảng giữa thời Bình An, vị Tổ đời thứ 15 của Đông Đại Tự, húy là Điều Nhiên (奝然), hiệu Pháp Tế Đại Sư (法濟大師), xuất thân vùng Kyoto, con của Đằng Nguyên Chơn Liên (藤原眞連). Ông theo Quán Lý (觀理) ở Đông Nam Viện của Đông Đại Tự học về Tam Luận, rồi theo Nguyên Cảo (元杲) ở Thạch Sơn Tự (石山寺) học Chơn Ngôn Mật Giáo. Năm 983, ông sang nhà Tống cầu pháp, được vua Thái Tông (太宗, tại vị 976-997) hậu đãi, rồi đi tham bái Ngũ Đài Sơn và một số nơi khác; đến năm 986 thì trở về nước, mang theo hơn 5.000 quyển ấn bản mới của Đại Tạng Kinh cùng với tượng Phật Thích Ca đứng bằng gỗ Chiên Đàn. Năm sau, ông dâng biểu xin triều đình cho kiến lập ngôi già lam ở Ái Đãng Sơn (愛宕山) để an trí tượng Phật đã thỉnh về, nhưng trong thời gian ông còn sống thì không thể thực hiện được chí nguyện này. Đến năm 989, ông làm Biệt Đương của Đông Đại Tự và tại nhiệm được 3 năm. Sau này, Thanh Lương Tự (清涼寺) được đệ tử ông là Thạnh Toán (盛算) kiến lập. Trước tác của ông để lại có Nhập Tống Nhật Ký (入宋日記) 4 quyển.
điều phục
6165(一)指內在之調和、控御身口意三業,制伏諸惡行。旨在令眾生離過順法,究竟出離。無量壽經卷下(大一二‧二七四中):「如法調伏諸眾生力。」(二)指對外之教化,令三世怨敵、惡魔外道等捨惡降伏。謂柔者以法調之,剛者以勢伏之。維摩經佛國品(大一四‧五三七上):「紹隆三寶能使不絕,降伏魔怨制諸外道。」 在密教中,有不動、降三世、軍荼利、大威德、金剛夜叉等五大明王,作忿怒之相,以之為本尊,令怨敵、惡魔信服之修法,稱為調伏法(梵 abhicāraka),係五種或四種修法之一。〔新華嚴經卷五、維摩經疏(淨影)、華嚴經探玄記卷四〕
; To discipline, bring under control.
; To discipline—To bring under control.
; (調伏) 1. Điều hòa ở trong: Chế phục 3 nghiệp thân miệng ý, không làm các việc xấu ác, xa lìa tội lỗi, thuận theo chính pháp, rốt ráo ra khỏi 3 cõi. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 274 trung), nói: Sức điều phục các chúng sinh đúng như pháp. 2. Giáo hóa bên ngoài: Khiến những kẻ oán địch, ngoại đạo, ác ma đều hàng phụcmà xa lìa tội ác. Nghĩa là dùng pháp để điều phục những ngườinhu thuận, dùng thế lực hàng phục những kẻ cứng cỏi, ương ngạnh. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma (Đại 14, 537 thượng), nói: Nối tiếp Tam bảo và làm cho hưng thịnh, không để dứt mất, hàng phục oán ma chế ngự ngoại đạo. Trong Mật giáo có 5 vị Đại minh vương là: Bất động, Hàng tam thế, Quân đồ lợi, Đại uy đức và Kim cương dạ xoa, hiện tướng giận dữ để hàng phục oán địch, ác ma. Pháp tu lấy 5 vị này làm Bản tôn, gọi là Điều phục pháp (Phạm: Abhicàraka), là một trong 5 hoặc 4 loại pháp tu. [X. kinh Hoa nghiêm Q.5 (bản dịch mới); Duy ma kinh sớ (Tịnh ảnh); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.4].
điều phục ma quân
To control or subjugate evil spirits.
điều phục thân khẩu ý
To bring into submission the body, mouth, and will.
điều phục vọng tâm
1) Theo dòng thiền Phật giáo, để điều phục vọng tâm, chúng ta phải không bỏ gì vào trong đó (vô tâm)—According to the Buddhist Zen, to tame the deluded mind we must not have any thing in it (take the mind of non-existence or the empty mind). 2) Theo Kinh Duy Ma Cật, lúc cư sĩ Duy Ma Cật lâm bệnh; vâng mệnh Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đến thăm cư sĩ—According to the Vimalakirti Sutra, when Upasaka Vimalakirti was sick; obeying the Buddha's command, Manjusri Bodhisattva called on Vimalakirti to enquire after his health • Văn Thù hỏi: “Cư sĩ! Bồ Tát có bệnh phải điều phục tâm mình như thế nào?”—Manjusri asked: “How does a sick Bodhisattva control his mind?” • Duy Ma Cật đáp—Vimalakirti replied: a) “Bồ Tát có bệnh phải nghĩ thế nầy: 'Ta nay bệnh đây đều từ các món phiền não, điên đảo, vọng tưởng đời trước sanh ra, là pháp không thật có, lấy ai chịu bệnh đó. Vì sao? Vì tứ đại hòa hợp giả gọi là thân, mà tứ đại không chủ, thân cũng không ngã. Lại nữa, bệnh nầy khởi ra đều do chấp ngã, vì thế ở nơi ngã không nên sanh lòng chấp đắm.'—“A sick Bodhisattva should think thus: 'My illness comes from inverted thoughts and troubles (klesa) during my previous lives but it has no real nature of its own. Therefore, who is suffering from it? Why is it so? Because when the four elements unite to form a body, the former are ownerless and the latter is egoless. Moreover, my illness comes from my clinging to an ego; hence I should wipe out this clinging.' b) Bây giờ đã biết gốc bệnh, trừ ngay ngã tưởng và chúng sanh tưởng, phải khởi pháp tưởng. Nên nghĩ rằng: 'Thân nầy chỉ do các pháp hiệp thành, khởi chỉ là pháp khởi, diệt chỉ là pháp diệt. Lại các pháp ấy đều không biết nhau, khi khởi không nói nó khởi, khi diệt không nói nó diệt?' Bồ Tát có bệnh muốn diệt trừ pháp tưởng phải nghĩ rằng: 'Pháp tưởng nầy cũng là điên đảo, điên đảo tức là bệnh lớn, ta nên xa lìa nó.' Thế nào là xa lìa? Lìa ngã và ngã sở. Thế nào là lìa ngã và ngã sở? Là lìa hai pháp. Thế nào là lìa hai pháp? Là không nghĩ các pháp trong , ngoài, mà thực hành theo bình đẳng. Sao gọi là bình đẳng? Là ngã bình đẳng, Niết Bàn bình đẳng. Vì sao? Ngã và Niết Bàn hai pháp nầy đều không. Do đâu mà không? Vì do văn tự nên không. Như thế, hai pháp không có tánh quyết định. Nếu đặng nghĩa bình đẳng đó, thì không có bệnh chi khác, chỉ còn có bệnh KHÔNG, mà bệnh KHÔNG cũng không nữa.'—Now that he knows the source of his illness, he should forsake the concept of an ego and a living being. He should think of things (dharma) thus: 'A body is created by the union of all sorts of dharmas (elements) which alone rise and all, without knowing one another and without announcing their rise and fall.' In order to wipe out the concept of things (dharmas) a sick Bodhisattva should think thus: 'This notion of dharma is also an inversion which is my great calamity. So I should keep from it.' What is to be kept from? From both subject and object. What does this keeping from subject and object mean? It means keeping from dualities. What does this keeping from dualities mean? It means not thinking of inner and outer dharmas (i.e. contraries) by the practice of impartiality. What is impartiality? It means equality (of all contraries e.g.) ego and nirvana. Why is it so? Because both ego and nirvana are void. Why are both void? Because they exist only by names which have no independent nature of their own. “When you achieve this equality you are free from all illnesses but there remains the conception of voidness which also is an illusion and should be wiped out as well.' c) Vị Bồ Tát có bệnh dùng tâm không thọ mà thọ các món thọ, nếu chưa đầy đủ Phật pháp cũng không diệt thọ mà thủ chứng. Dù thân có khổ, nên nghĩ đến chúng sanh trong ác thú mà khởi tâm đại bi. Ta đã điều phục được tâm ta, cũng nên điều phục cho tất cả chúng sanh. Chỉ trứ bệnh chấp mà không trừ pháp, dạy cho dứt trừ gốc bệnh. Sao gọi là gốc bệnh? Nghĩa là có phan duyên, do có phan duyên mà thành gốc bệnh. Phan duyên nơi đâu? Ở trong ba cõi. Làm thế nào đoạn phan duyên? Dùng vô sở đắc; nếu vô sở đắc thì không có phan duyên. Sao gọi là vô sở đắc? Nghĩa là ly hai món chấp. Sao gọi là hai món chấp? Nghĩa là chấp trong và chấp ngoài; ly cả hai đó là vô sở đắc—A sick Bodhisattva should free himself from the conception of sensation (vedana) when experiencing any one of its three states (which are painful, pleasurable and neither painful nor pleasurable feeling). Before his full development into Buddhahood (that is before delivering all living beings in his own mind) he should not wipe out vedana for his own benefit with a view to attaining nirvana for himself only. Knowing that the body is subject to suffering he should think of living beings in the lower realms of existence and give rise to compassion (for them). Since he has succeeded in controlling his false views,, he should guide all living beings to bring theirs under control as well. He should uproot theirs (inherent) illnesses without (trying to) wipe out non-existence dharmas (externals for sense data). For he should teach them how to cut off the origin of illness. What is the origin of illness? It is their clinging which causes their illness What are the objects of their clinging? They are the three realms (of desire, form and beyond form). By what means should they cut off their clinging? By means (of the doctrine that) nothing whatsoever can be found, and (that) if nothing can be found there will be no clinging. What is meant by 'nothing can be found? It means (that) apart from dual views (There is nothing else that can be had). What are dual views? They are inner and outer views beyond which there is nothing. d) Ngài Văn Thù Sư Lợi! Đó là Bồ Tát có bệnh, điều phục tâm mình để đoạn các khổ như già, bệnh, chết là Bồ Đề của Bồ Tát. Nếu không như thế thì chỗ tu hành của mình không được trí tuệ thiện lợi. Ví như người chiến thắng kẻ oán tặc mới là dõng, còn vị nào trừ cả già, bệnh, chết như thế mới gọi là Bồ Tát—Manjusri, this is how a sick Bodhissattva should control his mind. Top wipe out suffering from old age, illness and death is the Bodhisattva's bodhi (enlightened practice). If he fails to do so his practice lacks wisdom and is unprofitable. For instance, a Bodhisattva is (called) courageous if he overcomes hatred; if in addition he wipes out (the concept of) old age, illness and death he is a true Bodhisattva. e) Bồ Tát có bệnh nên nghĩ thêm thế nầy: 'Như bệnh của ta đây, không phải là thật, không phải có; bệnh của chúng sanh cũng không phải thật, không phải có.' Khi quán sát như thế, đối với chúng sanh nếu có khởi lòng đại bi ái kiến thì phải bỏ ngay. Vì sao? Bồ Tát phải dứt trừ khách trần phiền não mà khởi đại bi, chớ đại bi ái kiến đối với sanh tử có tâm nhàm chán, nếu lìa được ái kiến thì không có tâm nhàm chán, sanh ra nơi nào không bị ái kiến che đậy, không còn bị sự ràng buộc, lại nói pháp cởi mở sự ràng buộc cho chúng sanh nữa. Như Phật nói: 'Nếu mình bị trói mà lại đi mở trói cho người khác, không thể được; nếu mình không bị trói mới mở trói cho người khác được.'—A sick Bodhisattva should again reflcect: Since my illness is neither real nor existing, the illnesses of all living beings are also unreal and non-existent. But while so thinking if he develops a great compassion derived from his love for living beings and from his attachment to this false view, he should (immediately) keep from these feelings. Why is it so? Because a Bodhisattva should wipe out all external causes of troubles (klesa) while develping great compassion. For (this) love and (these) wrong views result from hate of birth and death. If he can keep from this love and these wrong views he will be free from hatred, and wherever he may be reborn he will not be hindered by love and wrong views. His next life will be free from obstructions and he will be able to expound the Dharma to all living beings and free them from bondage. As the Buddha has said, there is no such thing as untying others when one is still held in bondage for it is possible to untie others only after one is free from bonds. f) Ngài Văn Thù Sư Lợi! Bồ Tát có bệnh nên điều phục tâm mình như thế, mà không trụ trong đó, cũng không trụ nơi tâm không điều phục. Vì sao? Nếu trụ nơi tâm không điều phục là pháp của phàm phu, nếu trụ nơi tâm điều phục là pháp của Thanh Văn, cho nên Bồ Tát không trụ nơi tâm điều phục hay không điều phục, lìa hai pháp ấy là hạnh Bồ Tát. Ở trong sanh tử mà không bị nhiễm ô, ở nơi Niết Bàn mà không diệt độ hẳn là hạnh Bồ Tát. Không phải hạnh phàm phu, không phải hạnh Hiền Thánh là hạnh Bồ Tát. Không phải hạnh nhơ, không phải hạnh sạch là hạnh Bồ Tát. Tuy vượt khỏi hạnh ma mà hiện các việc hàng phục ma là hạnh Bồ Tát. Cầu nhứt thiết trí, không cầu sái thời là hạnh Bồ Tát. Dù quán sát các pháp không sanh mà không vào chánh vị (chơn như) là hạnh Bồ Tát. Quán mười hai duyên khởi mà vào các tà kiến là hạnh Bồ Tát. Nhiếp độ tất cả chúng sanh mà không mê đắm chấp trước là hạnh Bồ Tát. Ưa xa lìa mà không nương theo sự dứt đoạn thân tâm là hạnh Bồ Tát. Tuy ở trong ba cõi mà không hoại pháp tánh là hạnh Bồ Tát. Tuy quán 'Không' mà gieo trồng các cội công đức là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành vô tướng mà cứu độ chúng sanh là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành vô tác mà quyền hiện thọ thân là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành vô khởi mà khởi tất cả các hạnh là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành sáu pháp Ba la mật mà biết khắp các tâm, tâm sở của chúng sanh là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành sáu phép thần thông mà không dứt hết lậu hoặc phiền não là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành tứ vô lượng tâm mà không tham đắm sanh về cõi Phạm thế (Phạm Thiên) là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành thiền định, giải thoát tam muội, mà không theo thiền định thọ sanh là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành tứ niệm xứ mà không hoàn toàn lìa hẳn thân, thọ, tâm, pháp là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành tứ chánh cần mà không rời thân tâm tinh tấn là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành tứ như ý túc mà đặng thần thông tự tại là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành ngũ căn mà phân biệt rành rẽ các căn lợi độn của chúng sanh là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành ngũ lực mà ưa cầu thập lực của Phật là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành bảy pháp giác chi mà phân biệt rõ trí tuệ của Phật là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành bát chánh đạo mà ưa tu vô lượng Phật đạo là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành các pháp chỉ quán trợ đạo mà trọn không thiên hẳn nơi tịch diệt (Niết Bàn) là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành các pháp bất sanh bất diệt, mà dùng tướng hảo trang nghiêm thân mình là hạnh Bồ Tát. Dù hiện oai nghi theo Thanh Văn, Duyên Giác mà không rời Phật pháp là hạnh Bồ Tát. Dù tùy theo tướng hoàn toàn thanh tịnh của các pháp mà tùy theo chỗ sở ứng hiện thân là hạnh Bồ Tát. Dù quán sát cõi nước của chư Phật trọn vắng lặng như hư không mà hiện ra rất nhiều cõi Phật thanh tịnh là hạnh Bồ Tát. Dù chứng đặng quả Phật, chuyển Pháp Luân, nhập Niết Bàn mà không bỏ đạo Bồ Tát là hạnh Bồ Tát vậy—Manjusri, a sick Bodhisattva should thus control his mind while dwelling in neither the (state of) controlled mind nor its opposite, that of uncontrolled mind. For if he dwells in (the state of) uncontrolled mind, this is stupidity and if he dwells in (that of) controlled mind, this is the sravaka stage. Hence a Bodhisattva should not dwell in either and so keep from both; this is the practice of the Bodhisattva stage. When staying in the realm of birth and death he keeps from its impurity, and when dwelling in nirvana he keeps from (its condition of) extinction of reincarnation and escape from suffering; this is the practice of the Bodhisattva stage. That which is neither worldly nor saintly is Bodhisattva development (into Buddhahood). That which is neither impure nor pure is Bodhisattva practice. Although he is beyond the demonic state he appears (in the world) to overcome demons; this is Bodhisattva conduct. In his quest of all knowledge (sarvajna) he does not seek it at an inappropriate moment; this is Bodhisattva conduct. Although he looks into the uncreated he does not achieve Buddhahood; this is Bodhisattva conduct. Although he looks into nidana (or the twelve links in the chain of existence) he enters all states of perverse views (to save living beings); this is Bodhisattva conduct. Although he helps all living beings he does not give rise to clinging; this is Bodhisattva conduct. Although he keeps from the phenomenal he does not lean on the voidness of body and mind; this is Bodhisattva conduct. Although he passes through the three worlds (of desire, form and beyond form) he does not injure the Dharmata; this is the Bodhisattva conduct. Although he realizes the voidness (of thing) he sows the seeds of all merits; this is Bodhisattva conduct. Although he dwells in formlessness he continues delivering living beings; this is Bodhisattva conduct. Although he refrains from (creative) activities he appears in his physical body; this is Bodhisattva conduct. Although he keeps (all thoughts) from rising he performs all good deeds; this is Bodhisattva conduct. Although he practices the six perfections (paramitas) he knows all the mental states of living beings; this is Bodhisattva conduct. Although he poesses the six supernatural powers he refrains from putting an end to all worldy streams; this is Bodhisattva conduct. Although he practices the four infinite states of mind, he does not wish to be reborn in the Brahma heavens, this Bodhisattva conduct. Although he practices meditation, serenity (dhyana), liberation and samadhi, he does not avail himself of these to be reborn in dhyana heavens; this is Bodhisattva conduct. Although he practice the four states of mindfulness he does not keep for ever from the karma of body and mind; this is Bodhisattva conduct. Although he practices the four right efforts he persists in physical and mental zeal and devotion; this is Bodhisattva conduct. Although he practices the four Hinayana steps to supernatural powers he will continue doing so until he achieves all Mahayana supernatural powers; this is Bodhisattva conduct. Although he practices the five spiritual faculties of the sravaka stage he discerns the sharp and dull potentialities of living beings; this is Bodhisattva conduct. Although he practices the five powers of the sravaka stage he strives to achieve the ten powers of the Buddha; this is Bodhisattva conduct. Although he practices the seven Hinayana degrees of enlightenment he discerns the Buddha's all-wisdom (sarvajna); this is Bodhisattva conduct. Although he practices the eightfold noble truth (of Hinayana) he delights in treading the Buddha's boundless path; this is Bodhisattva conduct. Although he practices samathavipasyana which contributes to the realization of bodhi (enlightenment) he keeps from slipping into nirvana; this is Bodhisattva conduct. Although he practices the doctrine of not creating and not annihilating things (dharma) he still embellishes his body with the excellent physical marks of the Buddha; this is Bodhisattva conduct. Although he appears as a sravaka or a pratyeka-buddha, he does not stray from the Buddha Dharma; this is Bodhisattva conduct. Although he has realized ultimate purity he appears in bodily form to do his work of salvation; this is Bodhisattva conduct. Although he sees into all Buddha lands which are permanently still like space, he causes them to appear in their purity and cleanness; this is Bodhisattva conduct. Although he has reached the Buddha stage which enables him to turn the wheel of the Law (to preach the Dharma) and to enter the state of nirvana, he does not forsake the Bodhisattva path; this is bodhisattva conduct.”
điều phục yết ma
6165二種羯磨(永擯羯磨、調伏羯磨)之一。指比丘犯法而未曾懺悔,則凡飲食、坐起、言語、一切僧事皆不得與眾共之,以調停攝伏犯者,使其知過悔改,求僧懺,不復犯罪。〔毘尼母論卷二〕(參閱「二種羯磨」238)
; (調伏羯磨) Pháp yết ma buộc vị tỉ khưu phạm pháp phải ở riêng, là một trong 2 loại yết ma (Vĩnh bấn yết ma, Điều phục yết ma). Khi một vị tỉ khưu phạm pháp mà chưa sám hối, thì tất cả các việc ăn uống, đi đứng, nói năng v.v... không được cùng chung với đại chúng; làm như vậy là để nhiếp hóa điều phục kẻ phạm pháp khiến cho họ biết lỗi mà sửa đổi, cầu xin sám hối trước chúng tăng và nguyện không tái phạm nữa. [X. luận Tì ni mẫu Q.2]. (xt. Nhị Chủng Yết Ma).
điều tiết
To harmonize and moderate.
điều tra
Investigation.
điều trị
Therapies.
điều trực định
Theo sự giải thích của tông Thiên Thai, Điều Trực Định có nghĩa là làm cho hòa hợp hay hài hòa tâm bằng cách sữa chữa điều chỉnh những thứ bất thường và lắng tâm không cho nó vọng động lãng xao—According to the T'ien-T'ai sect, “Điều Trực Định” means to harmonize the discord of the mind, to straighten its irregularities, and quiet its distractions.
điều tụng
Âm điệu trong bài tụng—Hymns and chants of gatha.
điều y
Áo đắp từng mảnh của chư Tăng Ni—The monk's patch-robe.
điều ý
6166調伏意念使不起惡。如以布施治慳貪,以持戒治破戒,以忍辱治瞋恚,以精進治懈怠,以禪定治散亂,以智慧治愚癡。隋代慧遠之無量壽經疏卷上(大三七‧一○二上):「修施治慳,名為調意。」又曹魏康僧鎧譯之無量壽經卷上(大一二‧二六七中):「布施調意,戒忍精進,如是三昧,智慧為上。」
; Kiểm soát tâm ý và hàng phục ma quân—To control the will, and to subdue its evil.
; (調意) Điều phục ý niệm không cho nghĩ ác. Như dùng bố thí đối trị tham lam bỏn xẻn, dùng giữ giới đối trị phá giới, dùng nhịn nhục đối trị tức giận, dùng tinh tiến đối trị biếng nhác, dùng thiền định đối trị tán loạn, dùng trí tuệ đối trị ngu si. Vô lượng thọ kinh sớ quyển thượng của ngài Tuệ viễn đời Tùy (Đại 37, 102 thượng), nói: Tu hạnh bố thí để đối trị tính bỏn xẻn, gọi là Điều ý.
điều ý hàng ma
To control the will and to subdue the evils.
Điều điều
條條; C: tiáo tiáo; J: jōjō; |Từng chút, từng miếng, từng phần, mỗi điều khoản.
Điều điều 條條
[ja] ジョウジョウ jōjō ||| Each piece, each part, each section, every clause. => Từng chút, từng miếng, từng phần, mỗi điều khoản.
điều độ
To arrange, calculate, manipulate.
; Moderate. • Đặc biệt nói về điều độ về vật chất—Moderate—Temperate—To arrange—To calculate—To manage, especially relating to provision for material needs. • Theo Kinh Pháp Cú, câu 325, Đức Phật dạy—According to the Dharmapada Sutra, verse 325, the Buddha taught: “Như heo kia ưa ngủ, lại tham ăn, kẻ phàm ngu vì tham ăn ưa ngủ, nên phải bị tiếp tục sanh mãi trong vòng luân hồi—The stupid one, who is torpid, gluttonous, sleepy and rolls about lying like a hog nourished on pig-wash, that fool finds rebirth again and again.”
Điều 條
[ja] ジョウ jō ||| (1) Twig, small branch. (2) Fiber, string, tendon, vein. (3) Grain, texture. (4) Linear; something long and thin. (5) Reason, theme, logic, circumstances. => 1. Nhánh nhỏ, cành cây non. 2. Sợi, chuỗi, gân, tĩnh mạch. 3. Thớ, dệt. 4. Đường kẻ, vật dài và mỏng. 5. Lý do, đề tài, luận lý, tình huống.
Điều-đạt
xem Đề-bà-đạt-đa.
điểm
1) Một chấm, một điểm—A dot—Nod—Punctuate. 2) Tiếng đồng hồ điểm: The stroke of a clock. 3) Kiểm điểm: To check off.
điểm hoá
6544指示教化、教導之意。碧巖錄第六十則(大四八‧一九二中):「雲門以拄杖示眾云:『(點化在臨時,殺人刀,活人劍,換卻爾眼睛了也!)拄杖子化為龍。』」
; (點化) Dạy bảo, dẫn dắt, chỉ bày. Bích nham lục tắc 60 (Đại 48, 192 trung) chép, Vân môn dạy chúng tăng rằng: Điểm hóa đúng lúc, dao giết người, gươm cứu người, đổi lấy con mắt của các ông rồi! Cây gậy hóa thành rồng.
điểm huyệt
To hit a mortal point.
điểm hóa
Cải hóa—Touch into activity, or conversion.
điểm kiểm
6545交點檢閱。又作檢點。謂禪林中茶頭行者巡查寺門中之火盜,或化主等交點檢閱關牒書信乃至茶湯粥飯等。又意謂心境之檢討。碧巖錄第七十六則(大四八‧二○四中):「但去靜坐,向他句中點檢看。」〔敕修百丈清規卷上住持章、卷下兩序章、節臘章、禪苑清規卷五化主條、卷九童行條〕
; (點檢) Cũng gọi Kiểm điểm. Xem xét mọi việc. Trong Thiền lâm, vị hành giả Trà đầu tuần tra kẻ trộm cắp của chùa, hoặc vị hóa chủ xem xét giấy tờ, thư tín, cho đến trà nước, cơm cháo v.v... Còn có nghĩa kiểm xét tâm cảnh. Bích nham lục tắc 76 (Đại 48, 204 trung), nói: Hãy ngồi yên lặng, hướng vào câu ấy mà kiểm điểm xem. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng Trụ trì chương, Q.hạ Lưỡng tự chương, Tiết lạp chương; Thiền uyển thanh qui Q.5 Hóa chủ điều, Q.9 Đồng hành điều].
điểm mặt
To shake (point) one's finger at someone's face.
điểm nóng tối hậu
Last warm spot—See Lục Điểm Tái Sanh.
điểm sơ khởi
Initial point.
điểm thang
6545又作奠湯。點茶之外,有點湯。為佛、祖或大眾點湯,稱為點湯。湯有米湯、七香湯等多種。〔敕修百丈清規卷上住持章〕(參閱「點茶」6544)
; (點湯) Cũng gọi Điện thang. Nghĩa là dâng nước nóng cúng Phật, cúng Tổ hoặc cúng đại chúng. Thang có nhiều loại như: mễ thang, thất hương thang v.v... [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng Trụ trì chương]. (xt. Điểm Trà).
điểm thạch
Khi Đạo Sinh (355-434) giảng Kinh Niết Bàn, đến chỗ Xiển Đề thành Phật, đá nghe còn phải gật đầu (Sư Đạo Sinh người thời Đông Tấn khoảng 355-434, có lần giảng về thuyết xiển đề thành Phật, bị mọi người công kích khai trừ, sư phải ẩn cư về Lư Sơn. Theo truyền thuyết thì sau khi về Lư Sơn, sư bày những hòn đá quanh thảo am ra làm đệ tử rồi tiếp tục giảng về xiển đề thành Phật. Đá nghe đều gật đầu. Về sau, kinh Đại Bát Niết Bàn do Đàm Vô Sấm dịch truyền đến phương nam, nội dung về xiển đề thành Phật giống như điều ngài Đạo Sinh đã giảng, mọi người lúc đó mới nhận ra sư là người giỏi. Lúc đó mới có câu “Sinh côn thuyết pháp, ngoan thạch điểm đầu,” nghĩa là khi ông Sinh thuyết pháp thì đá cứng cũng phải gật đầu)—The stones nodded in approval, when T'ao-Shêng read the Nirvana Sutra.
điểm trà
6544又作奠茶。與點湯(奠湯)合稱點茶湯,即指沖泡茶、湯供養。禪寺用以供養佛、祖師或大眾。又自供養佛祖茶湯之義,引申指送葬之際供於靈前之茶湯,稱作奠茶湯、奠茶奠湯。住持等以茶、湯供應大眾致意之儀式,稱為茶禮或湯禮;兩者並行之場合稱為茶湯禮。新任職事或弟子新入僧堂、行四大節等集會時,此禮絕不可廢。或專為某人所設之茶禮、湯禮,稱為特為茶或特為湯。懸掛告示點茶行事之牌,稱為點茶牌。邀請參加茶禮之帖,稱為茶狀。舉行茶禮時所鳴之鼓,稱作茶鼓;法堂二鼓中,東北角者為法鼓,西北角者為茶鼓。〔敕修百丈清規卷上住持章、卷下兩序章、禪林象器箋飲啖門〕
; (點茶) Cũng gọi Điện trà. Cùng với điểm thang (điện thang) hợp chung lại gọi là Điểm trà thang. Nghĩa là pha trà, rót nước nóng cúng dường. Trong các Thiền viện, trà và nước nóng thường được dâng cúng Phật, Tổ hoặc cúng dường chúng tăng. Khi vị Trụ trì đãi chúng tăng uống trà, nước nóng, thì gọi là Trà lễ hoặc Thang lễ. Trong trường hợp cúng một lúc đãi cả trà và thang thì gọi là Trà thang lễ. Tấm bảng treo lên để thông báo việc vị Trụ trì đãi trà gọi là Trà bài; tấm thiệp mời tham dự tiệc trà gọi là Trà trạng; quả trống đánh lúc cử hành nghi lễ uống trà gọi là Trà cổ. Trong hai quả trống ở Pháp đường, quả ở góc đông bắc là Pháp cổ, quả ở góc tây bắc là Trà cổ. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng Trụ trì chương, Q.hạ Lưỡng tự chương; Thiền lâm tượng khí tiên ẩm đạm môn].
điểm trần
6545指微塵;比喻數量之多,猶如微塵之不可數。與「恆河沙」一語同義,皆比喻其數之大,無法計算。(參閱「恆河沙」3813)
; (點塵) Bụi nhỏ. Đồng nghĩa với Hằng hà sa. Ví dụ cho số lượng rất nhiều, không thể tính đếm được. (xt. Hằng Hà Sa).
điểm tâm
6544禪宗指齋食(晝食)前之小食。關於點心之義,據禪林象器箋飲啖門載,點心,點於空心也。即以食點空腹之義。我國唐代即有點心一語,一般指間食。又唐代之德山宣鑑禪師於尚未大悟前,曾遇一婆子,婆子藉所販賣之點心(油糍)為緣,引金剛經之文而勘驗之(卍續一四八‧一四○上):「金剛經道:『過去心不可得,現在心不可得,未來心不可得。』未審上坐點那箇心?」此即藉眼前點心之因緣,而成為傳誦千古之著名公案「德山三世心不可得」。〔禪苑蒙求卷下、敕修百丈清規卷上祝釐章、住持章、碧巖錄第四則、能改齋漫錄〕
; Buổi ăn sáng nhẹ—A snack, or light repast in the morning, not a proper meal.
; (點心) Tâm muối. Tiếng Tây tạng: Lantshva# i sems. Là một trong 60 tâm. Tức chỉ cho cái tâm tráo trở tìm tòi nhớ nghĩ suy tính so đo, dần dần tăng trưởng đến vô cùng. Ví dụ tâm người một khi đã khởi động suy nghĩ thì mỗi lúc càng tăng thêm suy nghĩ, hệt như tính chất mặn của muối, hễ vào chỗ có muối thì vị mặn càng tăng thêm. Kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 3 thượng), nói: Thế nào là diêm tâm? Nghĩa là suy nghĩ lại càng tăng thêm sự suy nghĩ. Trong Mật tông, lấy sự chuyên tâm an trụ nơi lí chữ A chẳng sinh để đối trị diêm tâm.
điểm tịnh
6544<一>依佛制,比丘得使用三衣、坐具等,而在受用新袈裟時,須以少分故衣貼於新衣,或墨點於新衣上,稱為點淨。淨即離過非而為清淨之義;依此點法而受用,稱為點淨。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷中三〕 <二>謂確實點名。禪苑清規卷六(卍續一一一‧四五四下):「法事聲螺鈸,知客點淨,引施主行香竟,當筵跪爐。」
; (點淨) I. Điểm Tịnh. Theo luật Phật chế, tỉ khưu được phép dùng ba tấm áo và đồ lót để ngồi v.v..., nhưng khi sử dụng áo mới phải làm phép điểm tịnh, nghĩa là lấy một miếng vải cũ vá lên áo mới hoặc chấm một chấm đen lên áo mới. Như thế mới không phạm luật và đượcthanh tịnh. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung phần 3]. II. Điểm Tịnh. Kiểm điểm số người tham dự pháp hội. Thiền uyển thanh qui quyển 6 (Vạn tục 111, 454 hạ), nói: Khi có pháp sự, đánh trống, thổi loa, Tri khách điểm tịnh rồi, dẫn thí chủ niệm hương xong, quì trước lư hương.
điểm tức bất đáo
6544禪林用語。為「到即不點」之相對語。僧眾集會時,缺席者其名之上即被記以一點,稱點即不到;到席者之名上則不作記號,稱到即不點。引申為:於宗門要旨有所領會者,則少有言說;反之,少有領會者,則噪聒多言。此外,或謂到即不點,意指對已有悟境之學人,毋須多作指點。〔從容錄第二十八則、景德傳燈錄卷十二興化存獎章〕
; (點即不到) Đánh dấu khi không đến. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Đối lại với Đáo tức bất điểm (đến thì không phải đánh dấu). Trong Thiền lâm, khi chúng tăng nhóm họp, vị nào vắng mặt thì ghi một dấu chấm bên cạnh tên của vị ấy. Ngoài ra, Điểm tức bất đáo còn được dùng để chỉ cho người hiểu được chút ít yếu chỉ của tông môn thì hay nói nhiều; còn người lãnh hội sâu sắc thì lại ít nói gọi là Đáo tức bất điểm. [X. Thung dung lục tắc 28; Cảnh đúc truyền đăng lục Q.12 Hưng hóa Tồn tưởng chương].
điểm tựa
Strong point.
điểm xuất phát
Point of departure.
điểm đăng
Đốt đèn—To light a lamp.
điển
Kinh điển—Canon—Rule.
điển cố
Historical references.
điển khách
3080指禪林中典掌迎待賓客之職稱。乃西序六頭首之一。又作知客、典賓。據勅修百丈清規卷四兩序章知客條載,典客之主要職務爲接待賓客,凡官員、檀越、尊宿,及諸方名德之士來訪或路過者,皆須以香茶迎待,並隨即派遣行者通報方丈,然後引見。如爲普通來客,則僅就知客寮接待即可。來訪者若欲拜訪方丈、庫司、諸寮等,即令行者引往。來客若須止宿者,則備妥床帳、什物、燈油、柴炭等。此外,對新到掛搭之學人須特加關照;若維那告假不在寺中,則代其行事。典客亦須於僧堂前檢視客僧之粥飯等,使之無缺。若有亡僧,須會同侍者點算其遺物、帳務等。若遇暫到僧(因事暫留於寺中,未久即將離去之僧)忽爾去逝,典客須主其喪。昔時,雪竇在大陽座下,禪月(貫休)在石霜慶諸座下之時,皆任此職。〔禪苑清規卷四〕(參閱「知客」3461)
; Vị Tăng phụ trách việc tiếp khách trong tự viện—The monk who takes charge of visitors in a monastery.
; (典客) Cũng gọi Tri khách (.......), Điển tân (). Chức vụ của vị tăng phụ trách việc tiếp khách trong Thiền lâm, một trong 6 chức Đầu thủ của Tây tự (). Cứ theo Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 Lưỡng tự chương Tri khách điều ghi, thì phàm các viên quan, đàn việt, bậc tôn túc và bậc danh đức từ các nơi đến thăm viếng hoặc là người lỡ đường ghé vào, vị Điển khách đều phải pha trà nước tiếp đãi, rồi phái người đi thông báo cho vị Trụ trì biết, sau mới dẫn đến yết kiến. Nếu là khách thường thì chỉ tiếp đãi ở liêu Tri khách. Nếu khách muốn thăm hỏi vị Trụ trì, Thủ kho, các liêu v.v... thì sai người đưa đi, còn nếu khách muốn nghỉ lại qua đêm thì phải chuẩn bị đầy đủ giường màn, đồ lặt vặt, dầu đèn, than củi v.v... Ngoài ra, đối với những người mới đến cầu học, phải đặc biệt quan tâm, nếu vị Duy na đi vắng thì Điển khách phải làm việc thay. Nghĩa là Điển khách phải trông nom việc cơm cháo cho họ, không được để thiếu sót. [X. Thiền uyển thanh qui Q.4]. (xt. Tri Khách).
điển lãm
3082指撮取經典之要義而說明之。典,指經典;攬,指撮要。無量壽經卷下(大一二‧二七五中):「開入泥洹,教授典攬。(中略)典攬智慧,眾道之要。」又淨影寺慧遠亦於無量壽經疏中謂,善解經典而攬知眾義,稱爲典攬。
; Phần tóm lược những điểm chính yếu trong kinh—Summary of the essentials of a sutra, or canonical book.
; (典攬) Điển là kinh điển; Lãm là chọn lấy những điểm chủ yếu. Nghĩa là tóm tắt những nghĩa cốt yếu trong kinh điển để giảng nói cho rõ. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 275 trung), nói: Mở bày đường vào Niết bàn, dạy cho điển lãm. (...) Trí tuệ điển lãm là cốt tủy của việc tu đạo. Trong Vô lượng thọ kinh sớ, ngài Tuệ viễn (chùa Tịnh ảnh) cũng nói: Thông hiểu kinh điển mà tóm tắt được nghĩa cốt yếu, gọi là điển lãm.
điển toà
3080禪林中負責大眾齋粥之職稱。東序六知事之一。據勅修百丈清規卷四兩序章典座條載,典座職掌大眾之齋粥,一切供養務須淨潔,物料調配適當,且節用愛惜之。此職務雖係料理飲食之雜役,然自古該職即極受重視,通常推舉志行高潔之僧任之,該項工作猶如一種辦道修持,若以無道心者任之,則僅徒勞辛苦而畢竟無益。 典座之稱係取「典床座」一語而來,據摩訶僧祇律卷六載,佛住舍衛城時,由比丘陀驃摩羅子掌理九事,即:典次付床座、差請會、分房舍、分衣物、分花香、分果蓏、知暖水人、分雜餅,及典知隨意舉堪事人。典次即次第付與、差擇。其中,付與床座時,該長老自右手小指出示燈明,依品次付與床座。另據大宋僧史略卷中、祖庭事苑卷八、翻譯名義集卷四等載,稱典座爲知事,乃取其典知九事等雜役之意。 此外,典座之居室,稱典座寮或典座房。隸屬於典座之下而受其使令之僧職,有飯頭、粥頭、米頭、柴頭、園頭等。據五燈會元所載,昔時雪峰禪師在洞山座下任飯頭,慶諸禪師在溈山座下任米頭,道匡禪師在招慶座下任桶頭,灌溪禪師在末山座下任園頭,紹遠禪師在石門座下任田頭,智通禪師在溈山座下任直歲,曉聰禪師在雲居座下任燈頭,稽山禪師在投子座下任柴頭,義懷禪師在翠峰座下任水頭,佛心禪師在海印座下任淨頭等。〔景德傳燈錄卷九、禪苑清規卷四、禪林象器箋職位門〕(參閱「知事」3461)
; (典座) Chức vụ của vị tăng phụ trách việc ăn uống của đại chúng trong tùng lâm, là một trong 6 vị Tri sự thuộc Đông tự. Cứ theo điều Điển tọa của chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4, chức Điển tọa trông coi cơm cháo cho đại chúng, tất cả thức ăn uống đều phải sạch sẽ, thích hợp và sử dụng một cách tiết kiệm. Chức vụ này tuy lo việc ăn uống lặt vặt, nhưng từ xưa đã rất được coi trọng và thường thỉnh cử vị tăng đức hạnh cao khiết đảm nhiệm. Bởi vì công việc này cũng là một phương pháp tu trì, nếu giao cho một người không có tâm đạo phụ trách thì chỉ luống công vô ích. Ngoài ra, căn nhà của vị Điển tọa ở gọi là Điển tọa liêu () hoặc Điển tọa phòng. Dưới quyền Điển tọa có các chức vụ: Phạn đầu (phụ trách cơm), Chúc đầu (phụ trách cháo), Mễ đầu (phụ trách gạo), Sài đầu (phụ trách củi), Viên đầu (phụ trách việc vườn tược) v.v... [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.9; Thiền uyển thanh qui Q.4; Thiền lâm tượng khí tiên chức vị môn]. (xt. Tri Sự).
điển toà giáo huấn
3081全一卷。日本曹洞宗宗祖道元禪師著。收於大正藏第八十二冊永平清規卷首。道元曾遇來自阿育王山而職司典座之老僧,彼教誡以「典座亦爲佛道修行之一」,自此,道元遂對典座採取嚴正態度,雖一米一飯亦不許浪費。本書即收錄其對典座所示之教訓編輯而成者,謂典座之職乃一種辦道,舉示辦道之功德心行及古德之風貌,並闡明三德圓滿、六味完備之用心。
; (典座教訓) Có 1 quyển, do thiền sư Đạo nguyên, Tổ của tông Tào động Nhật bản, soạn, thu vào Đại chính tạng tập 82 Vĩnh bình thanh qui quyển đầu. Khi ngài Đạo nguyên đang tu học tại Trung quốc (đời Tống), một hôm, ngài gặp một vị lão tăng giữ chức Điển tọa từ núi A dục vương đến. Vị lão tăng nói: Điển tọa cũng là một việc tu hành Phật đạo. Từ đó, đối với chức vụ Điển tọa, ngài Đạo nguyên có một thái độ nghiêm chính, dù một hạt gạo, một hột cơm cũng không để lãng phí. Nội dung sách này thu chép những điều giáo huấn chức vụ Điển tọa, nghĩa là việc trông coi cơm cháo cho chư tăng cũng là một phương tiện tu đạo và được rất nhiều công đức. Bởi vậy, vị Điển tọa cần phảidụng tâm để cho ba đức viên mãn và sáu vị hoàn bị.
điển toà trùng sinh
3081禪宗公案名。爲唐代溈仰宗初祖溈山靈祐與石霜慶諸二禪師之機緣語句。石霜在溈山座下任典座時,一日溈山至其處,誡令大眾布施之物不得輕忽拋撒,石霜答言未敢輕忽;溈山隨即拾取一粒偶然遺落之米,而言千百粒米皆由此一粒米而生,石霜卻反問以「此粒從何而生」,溈山遂大笑。至晚,溈山向大眾宣說「米裡有蟲」;蓋溈山所謂米中之蟲係指石霜,溈山激賞石霜領悟力之透脫與機鋒之疾捷,故以此一暗語讚揚之。〔景德傳燈錄卷十五、禪苑蒙求卷中〕
; (典座蟲生) Điển tọa sinh sâu. Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Qui sơn Linh hựu, Sơ tổ của tông Qui ngưỡng và sư Thạch sương Khánh chư ở đời Đường. Thời gian ở đạo tràng của thiền sư Qui sơn, sư Thạch sương giữ chức Mễ đầu. Một hôm, ngài Qui sơn đến chỗ sư đang sàng gạo và nói: - Vật của thí chủ không được để rơi rớt! Thạch sương trả lời: - Không dám làm rơi rớt. Ngài Qui sơn liền nhặt một hạt gạo từ mặt đất lên, nói: - Ông bảo không dám để gạo rơi, vậy chứ cái gì đây? Thạch sương im lặng. Ngài Qui sơn nói: - Đừng xem thường hạt gạo này, vì trăm nghìn hạt gạo đều do hạt gạo này mà ra! Thạch sương bèn hỏi lại: - Vậy hạt gạo này từ đâu sinh ra? Ngài Qui sơn cười lớn và trở về phương trượng. Buổi chiều, ngài lên Pháp đường nói với đại chúng: - Trong gạo có sâu, đại chúng nên thận trọng! Tiếng sâu trong câu nói của ngài Qui sơn là ám chỉ Thạch sương. Vì cơ phong của sư Thạch sương rất sắc bén, lanh lẹ, chứng tỏ sức lãnh ngộ của sư đã hoàn toàn thấu triệt, nên ngài Qui sơn dùng lời khen ngợi sư một cách kín đáo. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.15; Thiền uyển mông cầu Q.trung].
Điển toạ
典座; J: tenzo;|Người lo việc ẩm thực trong một Thiền viện. Công việc này là một trong những công việc đòi hỏi trách nhiệm nhiều nhất và vì vậy chỉ được truyền trao cho những vị tăng có tuổi, đã có nhiều kinh nghiệm.|Nhiều vị Thiền sư danh tiếng đã đảm nhận chức vụ này như Quy Sơn Linh Hựu, Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Ðan Hà Thiên Nhiên v.v… Cách làm việc của một Ðiển toạ khác với một đầu bếp bình thường ở chỗ tư tưởng. Ðiển toạ xem công việc của mình là cúng dường Tam bảo và cơ hội để luyện tâm. Nếu Ðiển toạ lo nấu thức ăn ngon, tiết kiệm, không phí của, thận trọng trong từng hành động, thì công việc này chính là Thiền trong mọi hành động hằng ngày.|Chính vị Thiền sư danh tiếng của Nhật là Ðạo Nguyên Hi Huyền cũng đã rõ được tầm quan trọng của một vị Ðiển toạ trong một Thiền viện và chính Sư cũng đã được một vị dạy thế nào là »Thiền« trong Thiền tông. Khi vừa đặt chân sang đất Trung Quốc du học thì Sư đã có dịp yết kiến một cao tăng – dưới dạng một vị Ðiển toạ tại núi A-dục vương. Sư đang ngồi trên thuyền thì vị Ðiển toạ đến mua nấm và dọ hỏi cách nấu nấm này ra sao. Ông từ chối lời mời ở lại đêm của Sư vì lí do phải trở về lo nấu ăn cho tăng chúng và và nói thêm rằng, chính việc làm đầy trách nhiệm này là thiền trong hoạt động. Sư ngạc nhiên hỏi vì sao ông không chú tâm đến toạ thiền và quán Công án trong lúc tuổi đã cao. Vị Ðiển toạ chỉ mỉm cười và nói: »Ông bạn từ phương xa của tôi! Ông không biết biện đạo (j: bendō) mà cũng chẳng thông hiểu văn tự! (j; monji).« Lời nói này đã khắc sâu vào lòng Sư và sau này Sư cũng có viết một tác phẩm quan trọng với tên Ðiển toạ giáo huấn (典座教訓; j: ten-zokyōkun) để khuyên răn đệ tử đảm nhận chức vụ này trong thiền viện.
điển táng
3081叢林中掌理葬儀之職稱。執掌該類事宜之僧人,分爲主喪、喪司二職。主喪又稱喪主,爲治喪事宜之總負責者,指揮一切有關事務;喪司之位在主喪之下,須熟悉喪儀法規,以引領葬儀依法行事。〔勅修百丈清規卷三住持章遷化條〕
; (典喪) Chức vụ của vị tăng trông coi về tang lễ trong tùng lâm. Chức này được chia làm hai: Chủ tang và Tang tư. Chủ tang cũng gọi là Tang chủ, là người phụ trách tổng quát mọi việc liên quan đến tang lễ, còn Tang tư ở dưới vị Chủ tang, phải thông hiểu những nghi thức và qui tắc của tang lễ để hướng dẫn việc chôn cất cho đúng phép. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3 Trụ trì chương Thiên hóa điều].
Điển Tòa
(典座, Tenso): chức vị người có trách nhiệm trông coi về chỗ ngồi của chúng tăng. Nguyên trước kia vị này trông coi về giường ngũ cũng như y phục của tăng chúng. Như trong Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽) 1, có đoạn rằng: “Điển Tòa, Tăng Kỳ Luật vân, điển thứ phó sàng tòa, thử chưởng tăng cửu sự chi nhất dã (典座、僧祇律云、典次付床座、此掌僧九事之一也, Tăng Kỳ Luật dạy rằng Điển Tòa là người chuyên trách lo về giường nằm chỗ ngồi; vị này chấp chưởng một trong chín việc của chúng tăng).” Nó còn là chức vụ trong yếu trong Lục Tri Sự (六知事, sáu vị Tri Sự). Trong Thiền Tông, đây là chức vị trông coi về việc ăn uống cho đại chúng. Chương Điển Tòa của Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規) 3 có đoạn rằng: “Điển Tòa chức, chủ đại chúng trai chúc (典座職、主大眾齋粥, chức Điển Tòa chủ yếu lo cơm cháo chay cho đại chúng).”
điển tọa
Vị Tăng phụ trách về việc sắp xếp chỗ ngồi, chỗ đứng, giường chiếu, và ăn uống trong tự viện—The verger who indicates the order of sitting, standing, bedding, mat, and food, etc. in a monastery.
điểu
4843佛教經典中常提及鳥類。或謂鳥即佛陀之化身,有宣示佛法之功用,故被視作神聖之物。佛教特有之鳥於印度神話中有迦樓羅(梵 garuḍa,食龍,守護佛法,其羽金色,故亦稱金翅鳥)、迦陵頻伽(梵 kalaviṅka,相傳棲於極樂之境)、俱翅羅(梵 kokila)、共命鳥(梵 jīvajīva)、拘崙闍(梵 krauñca)、迦蘭陀(梵 kalandaka)、迦頻闍羅(梵 kapiñjala)、迦旃鄰陀(梵 kācilindika)、孔雀(梵 mayūra)、沙羅鄰提(梵 sārasakāraṇḍa)、遮吒迦(梵 cātaka)、鸚鵡(梵 śuka)等。於孔雀明王、佛母大孔雀明王經中,可見及孔雀之名。另於經典中,亦載有孔雀咒法、孔雀修法等。鸚鵡則為佛陀之化身。 其他有關動物之故事與譬喻則散見於雜寶藏經、三寶感應錄卷上、金藏經、正法念經、僧伽羅剎經、鸚鵡諫王經、百喻經、本生經等。例如鵞王(梵 haṃsarāja)之手足與縵網相(佛三十二相之一,即手足指間之膜)相似,故用於譬喻佛陀;又如鵞王眼,比喻為能識別諸法是非之眼;空鳥,以其聲辨識真空妙理,譬如講說空之道理者;鳥迹,譬如無實體者;兩翅,比喻禪定、智慧等。此外以鳥為題材之圖繪亦成為傑出之藝術品,於佛教美術中占有極重要之地位。
; Chim—A bird.
; (鳥) Phạm: Sat, su, maĩju. Dịch âm: Tát, Tô, Mạn nhũ. Dịch ý: Không thể nghĩ bàn, không thể so sánh, tuyệt đối. Kinh điển thù thắng gọi là Diệu điển (đặc biệt chỉ cho kinh Pháp hoa); pháp không thể nghĩ bàn, không thể so sánh gọi là Diệu pháp (mĩ danh của kinh Pháp hoa), đạo lí sâu xa mầu nhiệm gọi là Diệu lí; cảnh giới bất khả tư nghì gọi là Diệu cảnh; quả nhờ diệu nhân diệu hạnh mà chứng được gọi là Diệu quả (quả Phật). [X. Đại nhật kinh sớ Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa Q.1; Pháp hoa du ý; Pháp hoa huyền tán Q.1; Phạm ngữ tạp danh; Bí tạng kí Q.cuối]. (xt. Thập Diệu).
điểu cư
4844乃日本神社、佛寺所建立之牌樓。又作雞栖、神門、衡門、不葺御門、華表、祇園。即立二根(或數根)圓柱,上架二橫木之牌坊。鳥居本始於日本諸神社,後佛寺亦仿而築之。關於鳥居之由來,有數種說法。或謂我國丁令威學仙,後化為鶴,止於城門之華表柱上,故以華表名為鳥居;或謂我國華表與日本鳥居之起源不相同,而謂前之說法為誤。〔參語集卷二、空華談叢卷二〕
; (鳥居) Một trong 19 Chấp kim cương của Mật giáo. Vị Kim cương này thường mở bày diệu vị đề hồ cho chúng sinh; bởi vì Ngài trông coi về diệu đức tối tôn tối thắng của Mạn đồ la bí mật nên gọi là Diệu chấp kim cương. Vị Kim cương này có đầy đủ đức lợi mình và lợi người. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].
điểu khoà đạo lâm
4844(741~824)唐代牛頭宗僧。杭州富陽人,俗姓潘(一說翁),幼名香光。據景德傳燈錄卷四道林傳載,師九歲出家,二十一歲至荊州(湖北)果願寺受具足戒。後於長安西明寺隨從復禮法師,研習華嚴經、大乘起信論。復禮示以真妄頌,俾修禪那。代宗詔道欽禪師入京,道林參謁之,契悟心要。及南歸,見秦望山有長松盤曲如蓋,遂棲止其上,故時人稱為鳥窠禪師;其側有鵲構巢,故亦稱鵲巢和尚。白居易出任杭州刺史,與師相交,嘗問(卍續一三八‧二四下):「如何是佛法大意?」師答:「諸惡莫作,眾善奉行。」居易言:「三歲孩兒也解恁蛱道。」師謂:「三歲孩兒雖道得,八十老人行不得。」居易歎服,乃築造竹閣,令居之,屢就問道。此竹閣即後來之廣化寺。長慶四年二月十日示寂,世壽八十四,法臘六十三,諡號「圓修禪師」。又宋高僧傳卷十一所載略異。〔五燈會元卷二、聯燈會要卷二、佛祖歷代通載卷十六、禪宗正脈卷二、佛祖綱目卷三十一〕
; (鳥窠道林) (741 - 824) Vị Thiền tăng thuộc tông Ngưu đầu ở đời Đường. Người Phú dương, Hàng châu, họ Phan (có thuyết nói là họ Ông), thủa nhỏ tên là Hương quang. Cứ theo truyện Đạo lâm trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 4 nói, thì năm lên 9 tuổi, sư xuất gia, 21 tuổi, sư đến thụ giới Cụ túc ở chùa Quả nguyện thuộc Kinh châu (Hồ bắc). Sau sư theo pháp sư Phục lễ ở chùa Tây minh tại Trường an học kinh Hoa nghiêm và luận Đại thừa khởi tín. Ngài Phục lễ dạy cho sư bài tụng Chân vọng và bảo tu Thiền định. Bấy giờ, vua Đại tông thỉnh thiền sư Đạo khâm vào kinh đô, sư Đạo lâm đến tham yết và khế ngộ tâm yếu. Trên đường về nam, sư thấy trên núi Tần vọng có cây tùng cao to, tàn lá quấn quanh tròn như cái lọng, sư bèn lên ở trên đó, bởi thế người đời gọi là thiền sư Điểu khòa (Thiền sư tổ chim), bên cạnh lại có tổ chim khách nên cũng gọi là hòa thượng Thước sào. Khi Bạch cư dị làm Thứ sử Hàng châu, có lần đã đến thăm sư và hỏi (Vạn tục 138, 24 hạ): Thế nào là đại ý Phật pháp? Sư đáp: - Chớ tạo các điều ác, vâng làm những việc lành. Cư dị nói: - Con nít 3 tuổi cũng nói được như vậy! Sư bảo: - Con nít 3 tuổi tuy nói được, nhưng ông già 80 làm không được. Bạch cư dị thán phục, liền cất gác bằng tre cho sư ở và từ đó thường đến hỏi đạo. Gác ấy về sau trở thành chùa Quảng hóa. Năm Trường khánh thứ 4 (824) sư tịch, hưởng thọ 84 tuổi, 63 tuổi hạ, thụy hiệu Viên tu Thiền sư. Về hành trạng của sư, trong Tống cao tăng truyện quyển 11 ghi chép có hơi khác. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.1; Liên đăng hội yếu Q.2; Phật tổ lịch đại thông tải Q.16; Thiền tông chính mạch Q.2; Phật tổ cương mục Q.21].
điểu thú toà
4845指佛、菩薩以禽獸為臺座。一般在鳥獸座背上更設置蓮華座。騎獅子者有文殊菩薩、法界虛空藏、羅剎天;騎象者有普賢菩薩、金剛虛空藏、帝釋天;騎馬者有寶光虛空藏、馬鳴;騎牛者有威德明王、閻摩天、伊舍那天;騎羊者為火天;騎孔雀者有孔雀明王、蓮花虛空藏;騎金翅鳥(迦樓羅)者為業用虛空藏;水天則騎龜;毘沙門天則騎鬼。此外,天之邪鬼,為四天王所踏,降三世明王則踏大自在天與烏摩妃。(參閱「座」4100)
; (鳥獸座) Chỉ cho tòa ngồi của chư Phật, Bồ tát có tạo hình cầm thú. Thông thường trên tòa chim thú còn đặt tòa sen. Có nhiều loại hình: - Tòa sư tử là của bồ tát Văn thù, Pháp giới hư không tạng và La sát thiên. - Tòa voi của bồ tát Phổ hiền, Kim cương hư không tạng và Đế thích thiên. - Tòa ngựa của bồ tát Bảo quang hư không tạng và Mã minh. - Tòa trâu của Uy đức minh vương, Diêm ma thiên và y xá na thiên. - Tòa dê của Hỏa thiên. - Tòa chim công của Khổng tước minh vương và Liên hoa hư không tạng. - Tòa chim kim sí (Ca lâu la) của Nghiệp dụng hư không tạng. - Tòa con rùa của Thủy thiên. - Tòa quỉ của Tì sa môn thiên. Ngoài ra, trời Tứ thiên vương đạp trên lưng tà quỉ, Minh vương Hàng tam thế thì đạp trên lưng trời Đại tự tại và vợ là Ô ma. xt. Tòa).
điểu thử tăng
4845<一>比喻破戒之比丘。又作烏鼠僧。鳥鼠為蝙蝠之別名。蝙蝠雖能飛行,然似鳥而非鳥,故以之比喻為末法時代之墮落僧侶。佛藏經卷上(大一五‧七八八下);「譬如蝙蝠,欲捕鳥時則入穴為鼠,欲捕鼠時則飛空為鳥,而實無有鳥鼠之用,其身臭穢,但樂闇冥。舍利弗!破戒比丘亦復如是,既不入於布薩自恣,亦復不入王者使役,不名白衣,不名出家。」 <二>以鼠唧唧之聲與鳥空空之聲,比喻無意味之言談。據天台四教儀載(大四六‧七七九上):「我等愚輩,纔聞即空便廢修行,不知即之所由,鼠唧鳥空,廣在經論,尋之思之。」
; 1) Điểu Thử Tăng là vị Tăng phá giới, được ví với một loài có thân hình nửa chim nửa chuột: A “bat monk,” i.e. one who breaks the commandments, with elusiveness of a creature that is partly bird and partly mouse. 2) Người nói chuyện không có nghĩa lý giống như tiếng rít của loài chim hay chuột: One who chatters without meaning like the twittering of birds or the squeaking of rats.
; (鳥鼠僧) I. Điểu thử tăng: Tăng chim chuột. Ví dụ tỉ khưu phá giới. Cũng gọi là thử tăng: Tăng chuột. Chim chuột là tên khác của loài dơi. Dơi tuy bay như chim mà không phải là loài chim, cho nên dùng để ví dụ cho tăng lữ trụy lạc ở thời mạt pháp. Kinh Phật tạng quyển thượng (Đại 45, 788 hạ), nói: Ví như con dơi, lúc muốn bắt chim thì chui vào hang làm chuột, khi muốn bắt chuột thì bay lên không trung làm chim, nhưng thực thì chim chẳng ra chim chuột chẳng ra chuột, thân thì hôi hám, chỉ thích chỗ tối tăm. Này Xá lợi phất! Các tỉ khưu phá giới cũng như thế, đã chẳng được dự vào hàng tăng để bố tát, tự tứ, cũng chẳng phải đi phu dịch cho nhà vua, không gọi là tại gia, cũng chẳng phải là xuất gia. II. Điểu thử tăng: Dùng tiếng khịt khịt (tức...) của chuột và tiếng chiếp chiếp (không) của chim để ví dụ lời nói vô ý nghĩa. Thiên thai tứ giáo nghi (Đại 46, 779 thượng), nói: Bọn ta ngu si, vừa nghe tức không..... liền bỏ tu hành, chứ không biết rằng nghĩa của thử tức điểu không.. ......... (tiếng kêu của chuột, của chim), đã được nói nhiều trong các kinh luận, mà chẳng chịu tìm hiểu.
điểu tích
4844又作鳥跡。指空中之鳥跡。即以空中飛鳥,不見蹤跡,比喻諸法之有名而無實體。北本涅槃經卷二(大一二‧三七七中):「譬如鳥跡,空中現者,無有是處。」維摩詰所問經卷中觀眾生品載,菩薩觀眾生如空中鳥跡,如石女兒,如夢所見已寤。
; Dấu tích mà chim đã để lại trong không trung, đây là điều không tưởng—The tracks left in the air by a flying bird, unreal.
; (鳥迹) Dấu chân của chim trong hư không. Chim bay giữa hư không chẳng để lại dấu vết gì, từ ngữ này được dùng để ví dụ các pháp chỉ có tên suông chứ không có thực thể. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 2 (Đại 12, 377 trung), nói: Ví như dấu chân chim hiện trong hư không, thực chẳng có việc ấy. Phẩm Quán chúng sinh trong kinh Duy ma cật sở vấn quyển trung nói: Bồ tát quán chúng sinh như dấu chân chim trong hư không, như con của thạch nữ (đàn bà bằng đá), như việc trong chiêm bao.
điểu tứ sinh
4843據起世因本經卷五載,大海之北有一名為居吒奢摩離之大樹,此樹之四面各有莊嚴之宮殿,金翅鳥王(即守護佛法之鳥,食龍)與龍即依此樹之四面而住,二者皆為卵、胎、濕、化四生。即:(一)卵生之金翅鳥王居於樹東,僅能取食卵生之龍。(二)胎生之金翅鳥王居於樹南,能取食卵、胎二生之龍。(三)濕生之金翅鳥王居於樹西,能取食卵、胎、濕三生之龍。(四)化生之金翅鳥王居於樹北,能取食卵、胎、濕、化四生之龍。
; (鳥四生) Loài chim thuộc 4 cách sinh. Cứ theo kinh Khởi thế nhân bản quyển 5, ở mạn bắc biển lớn có một đại thụ (cây to) tên là Cư tra xa ma li, ở bốn phía cây này đều có cung điện đẹp đẽ lộng lẫy và ở đó có vua chim Kim sí (chim bảo vệ Phật pháp, ăn thịt rồng) và rồng cư trú. Cả chim và rồng đều là loài vật thuộc 4 cách sinh: sinh từ trứng, sinh từ bào thai, sinh nơi ẩm ướt và tự nhiên hóa sinh. 1. Vua chim Kim sí sinh từ trứng ở phía đông đại thụ, chỉ có thể bắt rồng sinh từ trứng để ăn thịt. 2. Vua chim Kim sí sinh từ bào thai ở phía nam đại thụ, có thể bắt rồng sinh từ trứng và từ bào thai để ăn. 3. Vua chim Kim sí ở phía tây đại thụ, có thể bắt rồng sinh từ trứng, từ bào thai và từ nơi ẩm ướt để ăn. 4. Vua chim Kim sí tự nhiên hóa sinh ở phía bắc đại thụ, có thể bắt rồng sinh từ trứng, từ bào thai, từ nơi ẩm ướt và tự nhiên hóa sinh để ăn.
Điểu Vũ Thiên Hoàng
(鳥羽天皇, Toba Tennō, tại vị 1107-1123): vị Thiên Hoàng sống vào cuối thời Bình An, Hoàng Tử thứ nhất của Quật Hà Thiên Hoàng (堀河天皇, Horikawa Tennō, tại vị 1086-1107), tên là Tông Nhân (宗仁, Munehito). Ông nhường ngôi lại cho Sùng Đức Thiên Hoàng (崇德天皇, Sutoku Tennō, tại vị 1123-1141), đến năm 1129 (niên hiệu Đại Trị [大治] thứ 4), ông kế thừa sự nghiệp của Bạch Hà Pháp Hoàng (白河法皇), làm Viện Chính trong suốt 28 năm trường với 3 đời vua. Chính ông đã từng bài xích Sùng Đức Thượng Hoàng (崇德上皇).
điểu đạo
4844禪林用語。原意小徑;禪林中,引申為禪道至難,猶鳥道之險峻;又比喻至道寥廓,如鳥飛空中絕其縱跡,不墮有無迷悟之一切見。即取無蹤跡、斷消息,往來空寂處之意。洞山錄(大四七‧五二四下):「師云:『洞山有何言句示徒?』僧云:『尋常教學人三路學。』夾山云:『何者三路?』僧云:『玄路、鳥道、展手。』」祖庭事苑卷四(卍續一一三‧五○下):「鳥道猶虛空也。」
; 1) Đường đi của chim, ý nói những việc khó khăn, bí ẩn: The path of the birds, evasive, mysterious, difficult, as is the mystic life. 2) Một hòn đảo thần thoại chỉ có thể bay đến đó mà thôi: A fabulous island only reached by flight.
; (鳥道) Đường chim. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Thiền lâm, từ này được dùng để ví dụ chí đạo (ở đây chỉ cho đạo Thiền) mông mênh thăm thẳm, đến đi tự tại, không rơi vào tất cả cái thấy thiên chấp có - không, mê - ngộ, giống như con chim bay giữa bầu trời bao la, dứt bặt mọi dấu vết. Động sơn lục (Đại 47, 524 hạ) chép: Giáp sơn hỏi: - Động sơn có ngôn cú gì để dạy người học không? Tăng thưa: - Bình thường dùng Tam lộ học dạy người. Giáp sơn hỏi: - Tam lộ học là những gì? Tăng đáp: - Huyền lộ, điểu đạo và triển thủ. Tổ đình sự uyển quyển 4 (Vạn tục 113, 50 hạ), nói: Điểu đạo cũng như hư không vậy.
điện
Caitya (S). A temple, hall, palace.
; 1) Dâng lễ: To offer. 2) Đền chùa: A temple—A hall—A place. 3) Điển chớp: Lightning. 4) Tượng trưng cho vô thường: Symbolizes the impermanence and transient.
điện chủ
5504知殿之異名。又作殿司。西序六頭首之一。即司掌佛殿之花燭及灑掃等事之職稱。〔敕修百丈清規卷上兩序章西序頭首條〕(參閱「知殿」3463)
; Điện Ti—Tên gọi khác của chức Tri Điện trong chùa—Another name for the warden of a temple.
; (殿主) Cũng gọi Điện tư (......). Tên khác của Tri điện. Một trong 6 vị Đầu thủ của Tây tự (). Chức vụ trông nom việc bao sái, quét tước và đèn hương hoa trái trên điện Phật. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng Lưỡng tự chương Tây tự đầu thủ điều]. (xt. Tri Điện).
điện chủ, điện từ
The warden of a temple.
điện hỏa thạch quang
See Điện Quang Thạch Hỏa.
điện phật
Buddhist shrine.
điện quang thạch hoả
5698又稱石火電光。喻事情之急速。碧巖錄第二十六則頌(大四八‧一六七上):「電光石火存機變,堪笑人來捋虎鬚。」
; (電光石火) Tia lửa xẹt ra từ viên đá. Ví dụ sự chớp nhoáng. Bích nham lục tắc 26 (Đại 48, 167 thượng), nói: Tia lửa xẹt ra còn cơ biến. Khá cười kẻ đến vuốt râu hùm.
điện quang thạch hỏa
Còn gọi là Điện Hỏa Thạch Quang, ví sự việc nhanh như làn điển chớp—Lightning and flint-fire, transient.
điện quang triều lộ
5698比喻人身無常之用語。心地觀經卷一(大三‧二九六上):「猶如夢幻與泡影,亦如朝露及電光。」蓋「諸法無常」、「人身無常」乃佛教基本教義之一,佛典論及無常時,除直接詮釋無常之義,亦常舉示電光、朝露、夢幻、泡影等剎那間即有生滅變化者,以喻顯無常之性質。
; (電光朝露) Ánh chớp, sương mai. Ví dụ thân người vô thường nay còn mai mất. Kinh Tâm địa quán quyển 1 (Đại 3, 296 thượng), nói: Giống hệt chiêm bao và bọt nước, cũng như sương mai cùng ánh chớp. Bởi vì thân người vô thường, các pháp vô thường là một trong những giáo nghĩa cơ bản của Phật giáo, nên trong các kinh, luận khi bàn về sự vô thường thì ngoài việc giảng giải rõ nghĩa vô thường một cách trực tiếp ra, còn dùng những hiện tượng như: ánh chớp, sương mai, chiêm bao, ảo thuật, bọt nước v.v... là những cái sinh diệt biến hóa trong khoảng sát na (tích tắc) để nêu rõ tính chất của sự vô thường.
điện thí
5504科舉時代,天子親自在宮殿試士,故稱殿試,爲我國任用官吏的試驗方式(進士之試業)之一。依承此法,僧人學業,由朝廷檢試者,亦稱殿試。據佛祖統紀卷四十三載,北宋開寶二年(969)之長春節,天子詔天下沙門殿試經律論之義十條,全中者賜予紫衣。
; (殿試) Dự thi trong cung điện. Đây là phương thức thi cử (thi Tiến sĩ) để tuyển dụng quan lại tại Trung quốc trong thời khoa cử, do nhà vua đích thân khảo thí các sĩ tử ở cung điện. Thời ấy, phương thức này cũng được áp dụng để tuyển chọn tăng quan. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 43, thì vào năm Khai bảo thứ 2 (969) đời Bắc Tống, Thiên tử ban chiếu cho các vị sa môn trong nước đều phải qua kì điện thí về 10 điều nghĩa của kinh, luật, luận, người nào làm trúng hết sẽ được vua ban cho áo đỏ.
điện thờ phật tỳ lô giá na
Vairocana's Hall.
điện ti
See Điện Chủ.
điện trà
Dâng cúng trà lên Đức Phật, Tổ, hay chư hương linh—To make an offering of tea to a Buddha, founder of a sect, and/or spirits.
điện đường
5504爲佛寺中各重要屋宇之總稱。殿,係安奉佛菩薩像以供禮拜祈禱之處;堂,係供僧眾說法行道之處。殿堂之名稱即依據所安奉本尊及其用途而定。安置佛、菩薩像者,有大雄寶殿(大殿)、毘盧殿、藥師殿、彌勒殿、觀音殿、韋馱殿、金剛殿、伽藍殿等;安置遺骨及法寶者,有舍利殿、藏經樓(閣)、轉輪藏殿等;安置祖師像者,有開山堂、祖師堂、影堂、羅漢堂等;供講經集會及修道之用者,有法堂、禪堂、板堂、學戒堂、懺堂、念佛堂、雲水堂等;其他供日常生活、接待之用者,有齋堂(食堂)、客堂、寢堂(方丈)、茶堂(方丈應接室)、延壽堂(病僧療養室)等。 我國寺院主要殿堂,如佛殿、法堂、毘盧殿、天王殿、方丈等,一般建於寺院之南北中心線上,其餘齋堂、禪堂、伽藍殿、祖師堂、觀音殿等,則作爲配屋而建於正殿前後兩側。 至於佛殿中佛像之安置,歷代迭有變異,古代之資料已難查考。唐代留存之格式,據五臺山佛光寺佛殿所設,主像凡五尊,每尊各有脅侍五、六尊。中尊爲釋迦,左次主像爲彌勒佛,右次主像爲阿彌陀佛,極左主像爲普賢,極右主像爲觀音。至宋代則有一佛四弟子(釋迦、文殊、普賢、迦葉、阿難)之形式。自宋代以後,較大佛殿常供三尊,即所謂三佛同殿。此或以彌勒爲中尊,釋迦、彌陀位於左右;或以釋迦爲中尊,彌陀、彌勒於左右;又有以藥師代替彌陀坐於左位而成三尊。後彌勒遂另居於彌勒閣或彌勒殿。宋、遼時代,佛殿亦有供五佛乃至七佛。元代巨剎,多有前後二佛殿,前佛殿塑三世佛,即燃燈佛、釋迦佛、彌勒佛;後佛殿塑五智如來。明代佛殿猶多塑三世佛。明代以後,伽藍規制已有定式,故設像大抵一致。一般叢林佛像設三尊,中爲釋迦,左爲藥師,右爲彌陀;或釋迦左爲迦葉,右爲阿難;藥師、彌陀二佛已少見脅侍。較小佛殿,僅奉釋迦與二尊者,而置藥師、彌陀於別殿。此外,尚有些著名佛寺大殿,亦有唯供一佛或一佛二脅侍,或專供一菩薩者。又佛殿兩側,後世多塑十八羅漢之像。佛壇背後,通常設觀音像,手持楊枝、淨水瓶,立於普陀洛伽山海之間,其四周則塑華嚴經中善財五十三參之人物,或法華經卷七普門品中救八難之景象。 寺院中佛殿以外,各殿堂之設置約略如下:(一)天王殿,正面本尊爲彌勒,左右分塑四大天王;彌勒背後設有手執寶杵之韋馱菩薩,以守護佛寺。(二)金剛殿,明代佛寺於山門內有金剛殿,塑二密迹金剛力士像,稱爲二王。後即塑於山門內,不另設殿。此二力士面貌雄偉,作忿怒相,手執金剛杵分立左右,守護佛剎。(三)法堂(講堂),爲演說佛法皈戒集會之處,一般位於佛殿後面。法堂內應有佛像;於堂中設立高臺,稱爲法座;法座後設罘罳法被(今多設板屏),或掛獅子圖以象徵佛之說法;左鐘右鼓,於上堂說法時鳴之。(四)禪堂(僧堂、雲堂),禪僧晝夜於此行道。堂內設長連床(廣單),施椸架以掛道具。中設一圓龕,正中央奉聖僧像。於唐代,食堂即僧堂,後世於禪堂外另設食堂。於是食堂於東,禪堂於西,遂爲叢林定式。(五)毘盧閣(萬佛樓、藏經閣),分上下二層設像,上供法、報、化三佛並設萬佛之像,左右庋置大藏經等,後設觀音大士;下奉毘盧遮那如來,旁列十八應真羅漢、二十威德諸天。(六)轉輪藏殿(轉藏殿)。於收藏經藏之堂中心,設一大型旋轉書架,內置經藏,旋轉即可檢出所需經卷。此係梁代傅翕(善慧大士)所創,爲不識字者或因他緣逼迫而無暇閱讀者,特設方便,具信心者僅推之一匝,即可獲得與看讀經典同等之功德。故轉輪藏殿皆奉大士寶像於藏殿前,又列八大神將運轉其輪,稱天龍八部。(七)伽藍殿(土地堂),位於佛殿或法堂之東。供奉守護伽藍土地之神像,今一般多供最初施造祇園精舍之給孤獨長者、祇陀太子及其父波斯匿王三像。(八)祖師堂,位於佛殿或法堂之西。多奉達摩或該寺開山祖師,今一般佛寺祖堂,以達摩、慧能爲禪道之祖,馬祖創叢林,百丈立清規,故多立達摩塑像於中,慧能或馬祖位左,百丈位右,三像並坐。(九)浴室,安置跋陀婆羅(善守)之像。(十)香積廚(廚房),古代皆安置菩薩(傳爲洪山大聖)像,自元代以後,則多奉大乘緊那羅王菩薩像,祈其監護。〔釋門正統卷三塔廟誌、潭州白鹿山靈應禪寺大佛殿記、信州天寧寺記、金陵梵剎誌卷三、卷十六、少林寺誌、全唐文卷六七六〕
; (殿堂) Tên gọi chung các tòa nhà quan trọng trong chùa viện Phật giáo. Điện là nơi thờ tượng chư Phật, Bồ tát; Đường là nơi chúng tăng thuyết pháp hành đạo. Điện đường tùy theo sự phụng thờ Bản tôn và cách sử dụng nó mà đặt tên. Nơi phụng thờ tượng chư Phật, Bồ tát thì gọi là Đại hùng bảo điện (Đại điện), Tì lô điện, Dược sư điện, Di lặc điện, Quan âm điện, Vi đà điện, Kim cương điện, Già lam điện... Nơi tàng trữ pháp bảo thì có Tàng kinh lâu (Tàng kinh các), Chuyển luân tạng điện; nơi đặt di cốt thì có Xá lợi điện. Nơi thờ tượng các Tổ sư thì gọi là Khai sơn đường, Tổ sư đường, Ảnh đường, La hán đường v.v... Nơi dùng để giảng kinh, hội họp và tu đạo thì gọi là Pháp đường, Thiền đường, Bản đường, Học giới đường, Sám đường, Niệm Phật đường, Vân thủy đường v.v... Còn những nơi dùng cho việc sinh hoạt hàng ngày và tiếp đãi tân khách thì có Trai đường (Thực đường), Khách đường, Tẩm đường (Phương trượng), Trà đường (nhà tiếp khách của vị Trụ trì), Diên thọ đường (nhà dưỡng bệnh của chư tăng đau ốm) v.v... Những điện đường quan trọng trong các chùa viện Trung quốc, như: Phật điện, Pháp đường, Tì lô điện, Thiên vương điện, Phương trượng v.v... thông thường được kiến thiết theo đường chính giữa bắc nam của chùa; ngoài ra, như Trai đường, Thiền đường, Già lam điện, Tổ sư đường, Quan âm điện v.v... thì được xây cất ở hai bên và phía sau chính điện. Về cách bài trí tượng Phật trong điện Phật thì như điện Phật của chùa Phật quang trên núi Ngũ đài bên Trung quốc, thờ tượng đức Phật Thích ca ở chính giữa, bên trái là Phật Di lặc, bên phải là Phật Di đà, bên trái ngoài cùng là bồ tát Phổ hiền, bên phải ngoài cùng là bồ tát Quan âm. Đây là cách bài trí ở đời Đường. Đến đời Tống thì có hình thứcMột Phật bốn đệ tử(Phật Thích ca và các ngài Văn thù, Phổ hiền, Ca diếp, A nan). Từ đời Tống về sau thì thường thờ có ba vị: Phật Thích ca ở chính giữa, Phật Di đà, Di lặc ở hai bên, hoặc Phật Di lặc ở chính giữa, Phật Thích ca, Di đà ở hai bên. Cũng có khi Phật Dược sư thay thế Phật Di đà ngồi ở bên trái. Về sau, Phật Di lặc được thờ riêng ra ở Di lặc các hoặc Di lặc điện. Ở các đời Tống, Liêu, cũng có nơi thờ năm vị đếnbảy vị Phật trong điện Phật. Các ngôi chùa lớn ở đời Nguyên, phần nhiều xây cấthai điện Phật ở đằng trước và đằng sau chùa; điện đằng trước thờ Phật Tam thế, tức là Phật Nhiên đăng, Phật Thích ca và Phật Di lặc; còn điện đằng sau thì thờ Ngũ trí Như lai. Đời Minh phần nhiều điện Phật cũng thờ Phật Tam thế. Đời Minh về sau, các chùa đã có qui tắc nhất định, cho nên việc bài trí tượng Phật đại khái đã được thống nhất. Thông thường các chùa thờ tượng Tam tôn: Chính giữa là Phật Thích ca, bên trái là Phật Dược sư, bên phải là Phật Di đà; hoặc chính giữa Phật Thích ca, bên trái tôn giả Ca diếp, bên phải tôn giả A nan. Phật Dược sư, Phật Di đà ít thấy có các vị đứng hầu hai bên. Điện Phật bé nhỏ thì chỉ thờ Phật Thích ca và hai vị tôn giả, còn Phật Dược sư và Phật Di đà thì được thờ ở điện riêng. Ngoài ra, đời sau, ở hai bên điện Phật phần nhiều có đắp tượng 18 vị La hán. Phía sau Phật đàn, thường thiết trí tượng Quan âm, tay cầm cành dương và bình nước, đứng trên núi Phổ đà lạc già ở giữa biển, chung quanh thì đắp tượng của 53 vị thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đến tham học; hoặc miêu tả cảnh tượng tám tai nạn được cứu thoát trong phẩm Phổ môn của kinh Pháp hoa quyển 7. Các chùa viện lớn, ngoài điện Phật ra, còn xây cất các điện đường sau: 1. Điện Thiên vương: Chính giữa điện thờ tượng Bản tôn là Di lặc, hai bên thờ Tứ đại thiên vương; sau lưng tượng Di lặc thờ tượng bồ tát Vi đà tay cầm Bảo chử để phòng vệ chùa viện. 2. Điện Kim cương: Các chùa viện ở đời Minh, tại phía trong cửa Tam quan (Sơn môn) có xây điện Kim cương để thờ tượng hai lực sĩ Mật tích Kim cương gọi là Nhị vương. Về sau, tượng hai vị này được thờ ngay ở bên trong cửa Tam quan, chứ không thiết trí điện riêng nữa. Vẻ mặt của hai lực sĩ này hùng dũng, hiện tướng dữ tợn, tay cầm chày kim cương, đứng hai bên cửa Tam quan để bảo vệ già lam. 3. Pháp đường (nhà giảng): Nơi thuyết giảng Phật pháp, thường được xây cất ở phía sau điện Phật. Trong Pháp đường có thờ tượng Phật và thiết trí một đài cao gọi là Pháp tòa; sau Pháp tòa treo một bức bình phong bằng vải (ngày nay phần nhiều làm bình phong bằng gỗ), hoặc vẽ bức tranh sư tử để tượng trưng cho sự thuyết pháp của Phật; bên trái Pháp đường có chuông, bên phải có trống, khi pháp sư lên tòa thuyết pháp thì đánh chuông trống. 4. Thiền đường (nhà Tăng, nhà Vân thủy): Nơi chư tăng tu luyện. Trong Thiền đường kê một dãy giường liền nhau (quảng đơn) và những cái giá để treo đạo cụ. Chính giữa đặt một cỗ khám thờ tượng Thánh tăng. Vào thời nhà Đường, Thực đường và Thiền đường được dùng chung, nhưng về sau được thiết trí riêng ra và qui định Thực đường ở phía đông, Thiền đường ở phía tây. 5. Tì lô các (Vạn Phật lâu, Tàng kinh các, lầu Vạn Phật, gác để kinh): Chia làm 2 tầng, tầng trên thờ Tam thân Phật (Pháp thân, Báo thân, Hóa thân) và tượng Vạn Phật; hai bên tả hữu để Đại tạng kinh, phía sau thờ tượng Đại sĩ Quan âm; tầng dưới tôn trí đức Tì lô giá na Như lai, hai bên thờ 18 vị la hán và 20 vị trời uy đức. 6. Chuyển luân tạng điện (Chuyển tạng điện): Ở giữa điện để một chiếc kệ sách thật lớn, trên kệ để kinh, khi cần dùng quyển kinh nào thì xoay vòng sẽ tìm ra một cách dễ dàng. Đây là do đại sĩ Thiện tuệ (Phó hấp) ở đời Lương sáng tạo ra để cho những người thâm tín Phật pháp mà không biết chữ hoặc vì quá bận rộn vì cuộc sống nên không có thì giờ để đọc tụng. Nếu dốc một lòng tin tưởng thì những người ấy chỉ xoay một vòng cũng có thể được công đức ngang với những người đọc tụng kinh điển. Bởi thế, trong Chuyển luân tạng điện nào cũng có thờ tượng của đại sĩ Thiện tuệ ở trước điện. Ngoài ra còn thiết trí tượng tám vị Đại thần tướng xoay chuyển bánh xe của kệ kinh ấy gọi là Thiên long bát bộ. 7. Già lam điện (Thổ địa đường, nhà thờ thần Đất): Điện này được xây dựng ở phía đông điện Phật hoặc Pháp đường, thờ tượng thần Thổ địa bảo hộ già lam. Ngày nay phần nhiều thờ ba tượng: Trưởng giả Cấp cô độc - người đầu tiên xây dựng tịnh xá Kì viên - thái tử Kì đà và vua Ba tư nặc. 8. Tổ sư đường: Kiến trúc này nằm ở phía tây điện Phật hoặc Pháp đường, thờ đại sư Đạt ma hoặc vị Tổ khai sơn. Ngày nay, Tổ sư đường của các chùa thông thường thờ các ngài Đạt ma và Tuệ năng làm tổ Thiền tông, ngài Mã tổ sáng lập tùng lâm, ngài Bách trượng đặt ra thanh qui, cho nên đặt tượng ngài Đạt ma ở giữa, ngài Tuệ năng hoặc Mã tổ ở bên trái, ngài Bách trượng ở bên phải, ba tượng ngồi ngang nhau. 9. Dục thất: Đặt tượng Bạt đà bà la (Thiện thủ). 10. Hương tích trù (Trù phòng, nhà bếp): Thời xưa đều thờ tượng một vị Bồ tát (truyền là tượng ngài Hồng sơn), nhưng từ đời Nguyên về sau thì phần nhiều thờ tượng bồ tát Khẩn na la vương để cầu sự che chở của ngài. [X. Thích môn chính thống Q.3 Tháp miếu chí; Đàm châu bạch lộc sơn Linh ứng thiền tự Đại Phật điện kí; Tín châu Thiên ninh tự kí; Kim lăng phạm sát chí Q.3, Q.16; Thiếu lâm tự chí; Toàn đường văn Q.676].
điện ảnh
Sự vô thường của vạn hữu cũng giống như ánh điện chớp—Impermanence of all things like lightning and shadow.
Điện 殿
[ja] テン ten ||| A palace (Pali: pāsāda). => Cung điện (p: pāsāda).
Điệp
(牒): nguyên lai xưa kia, Điệp là tên gọi của một loại văn thư của quan phủ, hay nói đúng hơn là bức văn chuyển giao của cấp trên, là cái Trát hay tờ trình. Người xưa thường viết trên thẻ tre hay miếng gỗ; từ niên hiệu Nguyên Phong (元豐, 1078-1085) nhà Bắc Tống trở đi, các văn từ tố tụng được gọi là Trạng; chỉ có các công văn chuyển giao của quan phủ mới gọi là Điệp. Trong Công Văn Đàn Tràng, Điệp là một loại văn thư không kém phần quan trọng dâng lên chư Thần linh, hay là văn thư chuyển giao giữa Thần với Thần. Trong nghi lễ Phật Giáo Việt Nam, có khá nhiều loại Điệp được dùng đến như Điệp Cúng Cầu Siêu, Điệp Cúng Cô Hồn, Điệp Cấp Phóng Sanh, Điệp Cấp Tụng Thủy Sám, Điệp Thăng Kiều Giải Oan Bạt Độ, Điệp Thượng Phan, Điệp Cúng Tam Thế Tiền Khiên, Điệp Vu Lan, Điệp Cúng Trai Tuần, Điệp Cúng Bà Cô, Điệp Cúng Vớt Chết Nước, v.v.
điệp
Bản văn thư—Records—Tablets.
Điệp mộng
(蝶夢): giấc mơ biến thành con bướm, còn gọi là hồ điệp mộng (蝴蝶夢), hồ điệp chi mộng (蝴蝶之夢). Sự tích này được thuật lại trong Tề Vật Luận (齊物論) của Trang Tử (莊子). Một hôm nọ, Trang Chu nằm mộng thấy mình biến thành con bướm, bản thân ông rất vui mừng, hân hoan tự đắc, quên đi chẳng biết mình là Trang Chu. Đến khi tỉnh dậy, mới biết mình là Trang Chu; chẳng biết giấc mộng của Trang Chu chính la con bướm, giấc mộng của con bướm lại là Trang Chu. Câu chuyện này nói lên tâm cảnh Vạn Vật Nhất Thể (萬物一體, vạn vật cùng một thể), không có sự phân biệt giữa chủ thể và khách thể. Trong U Mộng Ảnh (幽夢影) của Trương Triều (張潮, 1650-?) nhà Thanh có một câu nổi tiếng là: “Trang Chu mộng vi hồ điệp, Trang Chu chi hạnh dã; hồ điệp mộng vi Trang Chu, hồ điệp chi bất hạnh dã (莊周夢爲蝴蝶、莊周之幸也、蝴蝶夢爲莊周、蝴蝶之不幸也, Trang Chu mơ làm con bướm, Trang Chu thật may mắn vậy; con bướm mơ làm Trang Chu, con bướm quả bất hạnh vậy).” Câu chuyện này còn nêu rõ triết lý nhân sinh vô thường, như mộng huyễn, thời gian trôi qua như chớp mắt, giàu sang, phú quý chẳng thể cầu mong được. Trong bài Cổ Phong Ngũ Thập Cửu Thủ (古風五十九首) của thi sĩ Lý Bạch (李白, 701-762) có đoạn: “Trang Chu mộng hồ điệp, hồ điệp vi Trang Chu, nhất thể cánh biến dị, vạn sự lương du du, nãi tri bồng lai thủy, phục tác thanh thiển lưu (莊周夢蝴蝶、蝴蝶爲莊周、一體更變易、萬事良悠悠、乃知蓬萊水、復作清淺流, Trang Chu mơ bươm bướm, bươm bướm là Trang Chu, một thể lại thành khác, vạn sự tốt dài lâu, mới biết bèo trôi dạt, lại làm dòng nước trôi).” Hơn nữa, trong bài Mãn Giang Hồng (滿江紅) của Cát Đàm (葛郯, ?-?) nhà Tống, được thâu lục trong Toàn Tống Từ (全宋詞), có câu: “Bất quản phù sanh như điệp mộng (不管浮生如蝶夢, chẳng kể phù sinh như mộng bướm).” Câu “điệp mộng mang mang, Tây Trúc hà bằng chi siêu độ (蝶夢茫茫、西竺何憑之超度)” có nghĩa giấc mơ bướm mờ mịt, mênh mang, không biết nương vào đâu để được siêu độ về cõi Tây Trúc, quốc độ của chư Phật.
điệp sáp
6903為古代建築樣式之一,佛教建築亦採用之。謂於磚或石砌之建築物中,每一層磚或石皆比下一層超出一定之長度,用以超出屋簷、平座等。常見於磚塔、石塔、磚墓室等建築物。
; (叠澀) Một trong những kiểu kiến trúc ở thời xưa. Trong lối kiến trúc này, các lớp gạch hoặc đá xây chồng lên nhau, đến một độ cao nào đó, người ta làm những cái gờ, chỉ bằng cách đặt một hàng gạch hoặc đá nhô ra khỏi hàng gạch ở dưới mấy phân hoặc mấy tấc tùy theo kỹ thuật; đặt một hàng hoặc hai, ba hàng như thế, rồi lên trên lại thu vào dần cũng như những hàng gạch trước. Phật giáo cũng thu dụng lối kiến trúc này và đặc biệt khi xây các tòa tháp.
điệp thích
5520牒文作釋之略稱。將長篇文章分成段落,稱爲牒文;若依其所分,逐段加以解釋,稱爲牒釋。此係解釋經論所用方法之一。
; (牒釋) Gọi đủ: Điệp văn tác thích. Đem chia những thiên, chương dài trong tác phẩm thành từng đoạn ngắn, gọi là Điệp văn; rồi theo từng đoạn ấy mà giải thích, gọi là Điệp thích. Đây là một trong những phương pháp được sử dụng để giải thích các kinh, luận.
đoan
1) Bắt đầu: Beginning—Coming forth—Elementary principles—A point either beginning or end. 2) Đoan chính: Proper—Straight. 3) See Đoan Trang.
đoan chính
Proper—Properly—Ordered—Rectitude—Integrity.
Đoan chính 端正
[ja] タンショウ tanshō ||| (1) Correct, upright posture, especially while practicing meditation. (2) An elegant appearance; charming, graceful. 〔法華經 T 262.9.21b05〕 => 1. Đứng đắn, tư thế ngay thẳng, đặc biệt khi ngồi thiền. 2. Dáng dấp tao nhã, duyên dáng, thanh nhã.
đoan mĩ tam bồ đề
5877西藏名 Thon-mi-sambhoṭa。又譯作吞米桑布札。係七世紀頃,藏王棄宗弄讚(藏 Sroṅ-btsan-sgam-po,即松讚剛布)之宰相,據傳生於衛州(藏 Dbus)。於西元六三二年奉王命,率十六人前往印度學習佛學及音韻學,先後從婆羅門梨僅(藏 Li-byin)習文字,從天明獅子(藏 Lha rig-paḥi seṅ-ge)習文法,爲創造藏文作準備。學成返藏後,即於拉薩之摩鹿宮殿(藏 Sku-mkhar ma-ru)中,仿笈多王朝時代革新後之梵文,調和藏語而作成藏文字母;或謂係仿郎卡文(Lañca)、迦溼彌羅之瓦都文(Wartu, Vartu,悉曇書體之一)而成,有四個母音字及三十個子音字。其後又著八部文法書,現存者爲文法論根本三十頌(藏 Luṅ-du ston-paḥi rtsaba sum-cu-pa shes-bya-ba,東北目錄第四三四八號)及文法論性入法(藏 Luṅ-du ston-pa rtag-kyi ḥjug-pa shes-bya-ba,東北目錄第四三四九號)。此外,且將大乘寶篋莊嚴經、百拜懺悔經、寶雲經等譯成藏文,爲西藏譯經之嚆矢。 據推測在端美以前,西藏已有文字,惟後人將此歸於端美之作;或端美採既有文字經欽定而制定之。又關於八部文法書之說,亦或傳說而已,端美所著實僅上記之二部。〔西藏文化の新研究(青木文教)、チベット語古典文法學(稻葉正就)、Deb-ther sṅon-po(The Blue Annals); Dpag-bsam ljon-bzaṅ; E. Obermiller: History of Buddhism by Bu ston〕
; (端美三菩提) Tạng: Thon-mi sambhoṭa. Cũng gọi: Thôn mễ tang bố trát. Ông sinh ở Vệ châu (Tạng: Dbus), sống ở khoảng thế kỉ VII, là Tể tướng dưới triều vua Khí tông lộng tán (Tạng: Sroíbtsan-sgam-po, tức Tùng tán cương bố) của Tây tạng. Năm 632, vâng mệnh vua, ông cùng với 16 người khác sang Ấn độ học Phật học và Âm vận học để chuẩn bị cho việc sáng tạo văn tự Tây tạng. Với mục đích ấy, trước hết, ông theo Bà la môn Lê cận (Tạng: Li-byin) học văn tự, rồi sau đó theo Thiên minh sư tử (Tạng: Lharig-pah!i seṅ-ge) học văn pháp. Học xong, ông trở về Tây tạng, phỏng theo chữ Phạm đã được đổi mới ở thời Vương triều Cấp đa (có thuyết nói phỏng theo văn tự Laĩca, văn tự Wartu, Vartu là một trong những thể chữ Tất đàm của nước Ca thấp di la) kết hợp với tiếng Tây tạng mà tạo thành văn tự gồm 4 mẫu âm và 30 tử âm chữ Tây tạng. Về sau, ông có viết 8 bộ sách về văn pháp,nhưng hiện chỉ còn: Văn pháp luận căn bản tam thập tụng (Tạng: Luṅ-du ston-pahi rtsaba sum-cu-pa shes-bya-ba, Đông bắc mục lục số 4348), Văn pháp luận tính nhập pháp (Tạng: Luṅ-du ston-pa rtags-kyi h!jug-pa shes-bya-ba, Đông bắc mục lục số 4349). Ngoài ra, ông còn là người đầu tiên dịch kinh tiếng Phạm ra tiếng Tây tạng. Những bộ kinh do ông dịch gồm có: kinh Đại thừa bảo khiếp trang nghiêm, kinh Bách bái sám hối, kinh Bảo vân... Theo suy đoán thì trước thời Đoan mĩ, Tây tạng đã có chữ viết rồi, còn công sáng tạo ra văn tự chỉ là do người đời sau qui cho Đoan mĩ mà thôi. Còn 8 bộ sách về văn pháp thì cũng chỉ là truyền thuyết, chứ thực sự thì Đoan mĩ cũng chỉ soạn có 2 bộ đã ghi ở trên. [X. Tây tạng văn hóa chi tân nghiên cứu (Thanh mộc Văn giáo); Deb-ther síonpo (The Blue Annals); Dpag-bsam ljonbzaí; E. Obermiller: History of Buddhism by Bu-ston].
đoan mĩ văn pháp
5877即文法論根本三十頌(藏 Luṅ-du ston-paḥi rtsaba sum-cu-pa shes-bya-ba)與文法論性入法(藏 Luṅ-du ston-pa rtag-kyi ḥjug-pa shes-bya-ba)兩書。西藏王棄宗弄讚(藏 Sroṅ-btsan sgam-po)於西元六三二年派端美三菩提(藏 Thon-mi-sambhoṭa)至印度學習文字。端美三菩提自印歸來後著有八部文法書,今僅存二部,即現今行世之端美文法。然此二書內容結構嚴密完整,且二書之注釋者希度(藏 Si-tu)亦未言及有其他相關之著作,故八部書之說或爲後人之臆測。又此二書深受印度文典派卡坦度拉派(Kātantra)之影響,書中多以該派所主張之文法規則爲典範。 三十頌一書係以七音節韻文所寫成之文法論,爲藏文三十字母之文法說明;性入法一書則說明動詞之用法。世人奉此二書爲西藏文法之圭臬。〔チベット語古典文法學(稻葉正就)〕(參閱「端美三菩提」5877)
; (端美文法) Là hai bộ sách Văn pháp luận căn bản tam thập tụng (Tạng: Luṅ-du ston-paḥi rtsaba sum-cu-pa shes-bya-ba) và Văn pháp luận tính nhập pháp (Tạng: Luṅ-du ston-pa rtag-kyi ḥjug-pa shes-bya-ba) của ông Đoan mĩ tam bồ đề. Vào năm 632, vua Tây tạng là Khí tông lọng tán (Tạng: Sroí-btsan sgam-po) phái Đoan mĩ tam bồ đề (Tạng: Thon-misambhoỉa) đến Ấn độ học văn tự. Sau khi về nước, Đoan mĩ tam bồ đề soạn 8 bộ sách Văn pháp, nay chỉ còn 2 bộ, tức là Đoan mĩ văn pháp hiện đang lưu hành. Nhưng nội dung 2 bộ sách này cũng như người chú thích là Hi độ (Tạng: Si-tu) không thấy nói gì đến mối quan hệ giữa 2 bộ này với các bộ khác, cho nên thuyết 8 bộ có lẽ đã do người đời sau ức đoán mà thôi. Tam thập tụngđược viết bằng văn vần thể 7 chữ, trình bày rõ về 30 tự mẫu của văn pháp Tây tạng, cònTính nhập pháp là sách nói về cách dùng động từ. Hai bộ sách này chịu ảnh hưởng rất sâu của phái Ca thản độ lạp (Kàtantra) thuộc phái Văn điển Ấn độ, cho nên trong sách phần nhiều thu dụng qui tắc về văn pháp của phái này làm khuôn mẫu. Người đời coi 2 bộ sách này là những viên ngọc của văn pháp Tây tạng. (xt. Đoan Mĩ Tam Bồ Đề).
đoan nghiêm
5878謂端正莊嚴。如勝鬘經所說(大一二‧二一九上):「又如須彌山王,端嚴殊特勝於眾山。」佛即以上記之語比喻正法之殊勝。蓋攝受正法能得大精進力,生起隨喜心;攝受少許正法即能令魔憂苦,而其餘之一切善法皆無可比擬;又大乘者即便攝受少許正法,亦優於一切二乘之善根,故以無比端嚴之須彌山爲譬喻。〔法華經妙莊嚴王本事品〕
; In strict propriety.
; (端嚴) Đoan chính trang nghiêm. Kinh Thắng man (Đại 12, 219 thượng), nói: Như núi chúa Tu di đoan nghiêm thù thắng hơn các núi. Đức Phật dùng ý ấy để ví dụ sự thù thắng của chính pháp. Bởi vì tiếp thụ chính pháp có thể được sức đại tinh tiến; tiếp thụ chính pháp có thể khiến cho ma lo khổ, tất cả pháp lành khác không thể sánh kịp. Cho nên núi Tu di trang nghiêm thù thắng được dùng để ví dụ chính pháp. [X. phẩm Diệu trang nghiêm vương bản sự trong kinh Pháp hoa].
đoan toạ
5877坐禪之相狀,即正威儀而坐。係坐禪之正確坐相,不得前後左右傾側,以耳對肩,鼻對臍,然後調息,一心專注不亂。宗鏡錄卷三十五(大四八‧六一九中):「去文取理,端坐凝情,以心眼自看,是名專住一境修定勝因也。」普賢觀經亦謂(大九‧三九三中):「一切業障海,皆從妄想生,若欲懺悔者,端坐念實相。」該經又謂,佛陀滅度後,諸佛弟子若於塚間、林樹下、阿練若等靜處受持讀誦方等經,端坐思惟大乘深義,由於念力強勝,得見佛身、多寶佛塔及十方分身無量諸佛。〔最上乘論、宗鏡錄卷七十五〕
; (端坐) Tướng ngồi thiền, tức là ngồi rất ngay thẳng: Thân không ngả trước sau, không nghiêng phải trái, tai thẳng với vai, chót mũi thẳng với rốn, sau đó điều hòa hơi thở, một lòng chuyên chú không loạn động. Tông kính lục quyển 35 (Đại 48, 212 hạ), nói: Lấy lí bỏ văn, ngồi thẳng lắng lòng, tâm tự quán xét, đó là nhân thù thắng chuyên chú ở một cảnh mà tu tập thiền định. Kinh Phổ hiền quán cũng nói (Đại 9, 393 trung): Tất cả biển nghiệp chướng, đều từ vọng tưởng sinh; nếu người muốn sám hối, ngồi ngay quán thực tướng. Kinh này nói thêm: Sau khi Phật diệt độ, nếu các đệ tử Phật ở những nơi vắng vẻ, yên tĩnh như nghĩa địa, rừng cây, a luyện nhã v.v..., thụ trì đọc tụng kinh Phương đẳng, ngồi ngay thẳng suy tư về nghĩa sâu xa của Đại thừa, nhờ sức tư niệm mạnh mẽ mà được thấy thân Phật, tháp Phật Đa bảo và phân thân của vô lượng chư Phật trong 10 phương. [X. luận Tối thượng thừa, Tông kính lục Q.75].
đoan trang
Dignity—Decent (a).
đoan tâm chính ý
5877謂端正嚴肅己心與意念,即制止貪瞋癡三毒而不作眾惡。與「端心正行」同義。據無量壽經卷下載,佛陀謂彌勒菩薩等能於此世端心正意,不作諸惡,達於至德,爲十方世界無可倫比者,係由於諸佛國土、天人之類,自然行善而易於教化之故。又端心正意不僅爲一般修善止惡之發端,於禪林中,亦爲坐禪之基礎。緇門警訓卷一(大四八‧一○四七上):「端心正意,潔己虛心,疊足跏趺,收視反聽,惺惺不昧,沈掉永離。」
; Tâm đoan chính ý, không làm việc ác—With a proper mind and regulated will, doing no evil.
; (端心正意) Cùng nghĩa với Đoan tâm chính hạnh. Tâm ý ngay thẳng nghiêm trang, tức là ngăn dứt 3 độc tham sân si, và không làm các điều xấu ác. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ chép, thì đức Phật nói với ngài Di lặc và các Bồ tát rằng, sở dĩ những người ở cõi này (Tịnh độ) có thể đoan tâm chính ý, không làm các điều ác, đạt đến đạo đức cùng tột mà chúng sinh trong thế giới ở 10 phương không thể sánh bằng, là vì các loài người trời ở trong cõi nước của chư Phật cứ tự nhiên làm việc thiện và rất dễ giáo hóa vậy. Vả lại, đoan tâm chính ý không những chỉ là đầu mối của việc tu thiện, diệt ác nói chung, mà còn là nền tảng của việc tọa thiền. Truy môn cảnh huấn quyển 1 (Đại 48, 1047 thượng), nói: Đoan tâm chính ý, tịnh tâm rỗng lặng, xếp chân kết già, không duyên theo cảnh, nghe lại tính nghe, tỉnh sáng không mờ, lìa hẳn hôn trầm, trạo cử.
Đoan tĩnh
(端靜): đoan chánh trầm tĩnh. Như trong Nam Sử (南史), Hậu Phi Truyện Hạ (后妃傳下), phần Trần Hậu Chúa Thẩm Hoàng Hậu (陳後主沈皇后), có đoạn: “Hậu tánh đoan tĩnh, hữu thức lượng, quả thị dục, thông mẫn cường ký (后性端靜、有識量、寡嗜欲、聰敏強記, Hoàng Hậu tánh tình trầm tĩnh, biết độ lượng, ít ham muốn, thông minh nhớ kỹ).” Hay trong bản Khất Trạc Dụng Trình Tuân Ngạn Trạng (乞擢用程遵彥狀) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Nhi đoan tĩnh chi sĩ, tuy hữu quá nhân chi hành, ưng vụ chi tài (而端靜之士,雖有過人之行,應務之才, mà kẻ đoan chánh trầm tĩnh, tuy có làm điều sai trái, cũng nên trọng dụng tài của người ấy).”
đoan tọa
Ngồi thẳng và đúng cách (tọa thiền)—To sit straight and proper.
đoan đích
5877禪林用語。謂事理之本末始終,確切分明而顯然可見。義同於正是、真是、確實等語。碧巖錄第一則之評唱(大四八‧一四○下):「且道達磨是觀音,志公是觀音,阿那箇是端的底觀音?」又端的一詞若作副詞,則有全然之意,如碧巖錄第八十八則(大四八‧二一二下):「端的瞎!是則接物利生,未必不見在。」〔圜悟佛果禪師語錄卷三、大智禪師偈頌、大通禪師語錄卷三〕
; (端的) Nghĩa là sự, lí phải chính xác, chân thực, rõ ràng khiến mọi người dễ thấy. Phần bình xướng tắc 1 trong Bích nham lục (Đại 48, 140 hạ), chép: Vả nói Đạt ma là Quan âm, Chí công là Quan âm, vậy chính xác (đoan đích) ai là Quan âm?. Khi đoan đích được dùng làm phó từ thì có nghĩa là hoàn toàn. Bích nham lục tắc 18 (Đại 48, 212 hạ), nói: Dù cho người học hoàn toàn (đoan đích) mù, nhưng khi người thầy tiếp vật lợi sinh thì chưa hẳn họ đã không thấy có phần trong đó. [X. Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục Q.3; Đại trí thiền sư kệ tụng; Đại thông thiền sư ngữ lục Q.3].
đong
To measure.
đoàn
1) Băng (nhạc): Band. 2) Một khối: A mass—A lump. 3) Một nhóm: A group—A company. 4) Quả cầu: A ball. 5) Tròn: Round.
đoàn bái
Mọi người cùng quỳ lạy với nhau—To kneel, or worship altogether as a company.
đoàn phiến thái cổ
5761圓扇形之大鼓。法華經方便品謂,若令人樂,則擊鼓出聲,即使音小,亦能使人成佛道。日本日蓮宗徒唱頌題目(指法華經之經題)時,即是邊打團扇太鼓,邊念「南無妙法蓮華經」。其鼓以皮張之爲圓形,其下附一柄,狀似團扇,故稱團扇太鼓。
; (團扇太鼓) Chiếc trống lớn hình cái quạt tròn. Phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa nói, nếu sai người trỗi nhạc và đánh trống để cúng dường, thì dù chỉ một tiếng nhỏ cũng có thể khiến người thành Phật đạo. Tín đồ tông Nhật liên của Nhật bản đánh trống Đoàn phiến mỗi khi xướng tụng Na mô Diệu pháp Liên Hoa kinh. Trống này bưng bằng da, hình tròn, có cán cầm, giống như cái quạt, nên gọi là Đoàn phiến thái cổ.
đoàn thực
4963梵語 kavaḍiṃ-kārāhāra 或 kavalī-kārāhāra, 巴利語 kabaliṅkārāhāra。四食之一。又作團食、段食、搏食、見取食。即以手握食為丸而食之。此為印度人之食法,亦指一切欲界之食物。蓋欲界之食物以香、味、觸三塵為體,因分分段段而食,以長養支持生命,故稱段食,即取分段而食之意。〔俱舍論卷十、成唯識論卷四、大乘法苑義林章卷五〕(參閱「四食」1741)
; See Suyển Thực.
; (揣食) Ăn thức ăn được nắm thành những viên tròn, nhỏ. Một trong 4 cách ăn, một trong 2 cách ăn. Đoàn thực được chia làm 2 loại: 1. Thô thực: Như cơm, bánh, miến, mì v.v... 2. Tế thực: Như bơ, dầu, hương vị và các đồ uống v.v... Đoàn thực cũng chỉ chung cho tất cả thức ăn của cõi Dục. [X. luận Câu xá Q.10; luận Thành thực Q.2]. (xt. Tứ Thực).
đoàn tu khổ hạnh
A band of ascetics.
đoàn tụ
To reunion—To bring together.
đoái hoài
To think of—To remember.
đoái thương
To have mercy (pity) on.
đoái tưởng
To think of someone.
đoán sai
To guess wrong.
đoán trước
To foretell—To foresee.
đoán án
To judge.
đoán đúng
To guess right.
đoạn
Xem diệt.
; Uccheda (S). To cut off, end, get rid of, cause to cease.
; 1) Cắt đứt: Uccheda (skt)—To cut off—To get rid of—To cause to cease. 2) Một đoạn, một phần: A section. 3) Một đoạn văn: A paragraph. 4) Một miếng: A piece.
đoạn biến tri
6565又作斷徧知。謂周遍了知四諦之境,由此而斷除見、修二惑。即於果(斷)附以因之名,稱為斷遍知。斷遍知以擇滅為體,共有九種,稱為九遍知;其中,繫屬於三界(欲界、色界、無色界)之見諦所斷之煩惱等,其斷有六種,三界之修道所斷之煩惱等,其斷有三種。六遍知為:(一)欲見苦集斷結盡遍知,指欲界繫(繫屬於欲界之法)之苦集二諦下之見惑等之斷。(二)欲見滅斷結盡遍知,指欲界繫之滅諦下之見惑等之斷。(三)欲見道斷結盡遍知,指欲界繫之道諦下之見惑等之斷。(四)上二界見苦集斷結盡遍知,指色界、無色界之苦集二諦下之見惑等之斷。(五)上二界見滅斷結盡遍知,指色界、無色界之滅諦下之見惑等之斷。(六)上二界見道斷結盡遍知,指色界,無色界之道諦下之見惑等之斷。三遍知為:(一)五順下分結盡遍知,指欲界繫之修道所斷之煩惱等之斷。(二)色愛結盡遍知,指色界繫(繫屬於色界之法)之修道所斷之煩惱等之斷。(三)一切結盡遍知,指無色界繫(繫屬於無色界之法)之修道所斷之煩惱等之斷。〔俱舍論卷二十一、品類足論卷六〕(參閱「九遍知」152、「遍知」5616)
; (斷遍知) Do biết rõ suốt lí của 4 đế mà đoạn trừ được kiến hoặc và tu hoặc. Tức là ở quả (đoạn) thêm tên của nhân (biến tri) nên gọi là Đoạn biến tri. Đoạn biến tri lấy trạch diệt làm thể, gồm có 9 thứ gọi là Cửu biến tri; trong đó có 6 thứ thuộc về các phiền não Kiến đế sở đoạn trong 3 cõi và 3 thứ thuộc về các phiền não Tu đạo sở đoạn. Sáu biến tri là: 1. Biến tri đoạn trừ kiến hoặc của Khổ đế và Tập đế ở cõi Dục. 2. Biến tri đoạn trừ kiến hoặc của Diệt đế ở cõi Dục. 3. Biến tri đoạn trừ kiến hoặc của Đạo đế ở cõi Dục. 4. Biến tri đoạn trừ kiến hoặc của Khổ đế và Tập đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc. 5. Biến tri đoạn trừ kiến hoặc của Diệt đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc. 6. Biến tri đoạn trừ kiến hoặc của Đạo đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc. Ba biến tri là: 1. Biến tri đoạn trừ phiền não của Tu đạo ở cõi Dục. 2. Biến tri đoạn trừ phiền não của Tu đạo ở cõi Sắc. 3. Biến tri đoạn trừ phiền não của Tu đạo ở cõi Vô sắc. [X. luận Câu xá Q.21; luận Phẩm loại túc Q.6]. (xt. Cửu Biến Tri, Biến Tri).
đoạn diêm
6567又作鹽斷。亦即禁斷食鹽。密宗行者修驅除諸毒之祕法而持神咒時,依經軌記載,以不食鹽分為成就此修法的要點之一。據穰麌梨童女經記載,穰麌梨乃觀自在菩薩化身之一,以此尊為本尊之修法可驅除藥毒、咒毒、蟲毒、魅毒等各種毒害,然行者修此法時,須先禁斷五辛、鹽、油等。其禁斷食鹽,乃欲減低食欲,令身中垢膩減少,而保持體內之清淨。〔五分律卷二十六、寂照堂谷響集卷九〕
; (斷鹽) Cũng gọi Diêm đoạn. Cấm ăn muối. Trong thời gian hành giả Mật giáo tu bí pháp, trì tụng thần chú để trừ khử các chất độc, thì không được ăn muối: Đây là một trong những điều kiện quan yếu để thành tựu pháp tu này. Cứ theo kinh Nhương ngu lê đồng nữ, thì Nhương ngu lê là một trong những hóa thân của bồ tát Quán tự tại, pháp tu lấy Ngài làm Bản tôn thì có thể trừ khử các thứ độc hại, như thuốc độc, chú độc, trùng độc, quỉ độc v.v... Khi tu pháp này, hành giả tuyệt đối không được ăn ngũ tân (hành, hẹ, tỏi, củ kiệu, hưng cừ), muối, dầu v.v..., để nhẹ bớt thực dục, làm cho các chất cáu bẩn trong mình giảm thiểu, giữ gìn thân thể trong sạch. [X. luật Ngũ phần Q.26; Tịch chiếu đường cốc hưởng tập Q.9].
đoạn diệt
The heterodox teaching which denies the law of cause and effect, i.e. of karma; annihilation, cutting off.
; • Đoạn diệt: Ucchindati (p)—Ucchinatti (skt)—To annihilate—To extirpate—To destroy utterly. • Sự đoạn diệt: Uccheda (p & skt)—Annihilation—Annihilationism—Destruction—Extirpation. 1) Khi chúng ta đoạn diệt hết lòng tham và dục vọng, thì sự khổ đau sẽ chấm dứt—Eliminate—Eradicate—Remove—Extinct—When we remove all craving and desire from our mind, suffering will come to an end. 2) Giáo thuyết ngoại đạo chối bỏ luật nhơn quả của nghiệp: The heterodox teaching which denies the law of cause and effect, i.e. karma.
đoạn diệt kiến
Uccheda-drsti (skt)—Đây là quan điểm của nhóm theo duy vật quyết định chủ nghĩa—View of extinction—The standpoint of materialistic determinism.
đoạn diệt luận
6564又作斷見。即主張眾生死後完全斷滅。為印度外道所執六十二見中,依後際(未來)而起之分別見。計有七種斷滅,故又稱七種斷滅論、七斷滅論。即謂此四大、六入父母所生之身為無常,死後終歸於斷滅。復謂生於欲界天、色界天、無色界空無邊處、識無邊處、無所有處、非想非非想處等六處,則報盡之時皆歸於斷滅。此說相當於外道十六宗中七事斷滅宗之主張。〔長阿含卷十四梵動經、大毘婆沙論卷一九九〕(參閱「六十二見」1241、「斷見」6560)
; (斷滅論) Cũng gọi Đoạn kiến, Thất chủng đoạn diệt luận, Thất đoạn diệt luận. Chủ trương cho rằng chúng sinh sau khi chết hoàn toàn đoạn diệt. Là một trong 6 kiến chấp của ngoại đạo Ấn độ. Luận thuyết này dựa vào vị lai mà sinh khởi 7 thứ kiến chấp, cho rằng thân 4 đại (đất, nước, lửa, gió), 6 nhập (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) do cha mẹ sinh ra là vô thường, sau khi chết trở về đoạn diệt, hoặc sinh vào 6 nơi là: trời cõi Dục, trời cõi Sắc và 4 cõi Vô sắc (Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ), nhưng sau khi hết báo cũng đều đoạn diệt. Thuyết này tương đương với chủ trương của tông Thất sự đoạn diệt trong 16 tông ngoại đạo Ấn độ. [X. kinh Phạm động trong Trường a hàm Q.14; luận Đại tì bà sa Q.199]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến, Đoạn Kiến).
đoạn diệt thuyết
Ucchedavada (p & skt)—Đoạn diệt thuyết đối lại với Thường hằng thuyết—Negativism or Nihilism opposed to eternalism—See Lục Sư Ngoại Đạo.
Đoạn diệt 斷滅
[ja] ダンメツ danmetsu ||| (uccheda, upaśānti, prahāna). Get rid of, remove, do away with; be deprived of; lose. Quench, put out, eradicate, exterminate. Cessation, nirvāna. (s: uccheda, upaśānti, prahāna). => Trừ diệt sạch, tẩy trừ, trừ khử, lấy đi sạch; không còn nữa. Dập tắt, làm tách rời ra, trừ tiệt, huỷ diệt. Sự ngừng nghỉ, niết-bàn .
đoạn dâm
Cutting off lust—See Tứ Giới (D) (1).
đoạn hoà
6560有仲裁、和事佬之意。即雙方爭執不下時,由第三者居中調解,使雙方和解。〔碧巖錄種電鈔四十二〕
; (斷和) Quyết đoán giải hòa. Khi xảy ra việc tranh chấp giữa đôi bên, nhân vật thứ 3 đứng ra làm trọng tài dàn xếp, quyết đoán, khiến cho họ giải hòa với nhau, gọi là Đoán hòa. [X. Bích nham lục chủng điện sao 42].
đoạn hoặc
6562梵語 kleśaḥ prahīyate。惑,為煩惱之別稱。即依有漏道、無漏道之力斷除煩惱,便惑障不生起。又作斷結(結使,為煩惱之異名)、斷障、離染。由無間道能斷除煩惱,由解脫道能證得涅槃(菩提)之真理,兩者合稱為斷惑證理,略稱為斷證。 部派佛教係以斷盡煩惱,悟得阿羅漢果為目的,故於「見道」斷除思想上之錯誤、知識上之迷惑(即迷理惑,或稱見惑);於「修道」斷除人性根本屬於情意之惡德(即迷事惑,或稱修惑)。因見惑能在短期內速斷,修惑則須長期修行始能次第斷除,故斷見惑稱為頓斷,斷修惑稱為漸斷。 斷煩惱有兩種,一為聖者生起無漏智,徹底斷除煩惱之種子,使不再生起,此稱無漏斷或畢竟斷;一為凡夫修有漏之六行觀,相對觀上地與下地,而斷下地之煩惱,或壓抑煩惱之現行,此稱有漏斷或損伏斷。又依俱舍論卷二十一載,所有存在之事物(十八界),由斷惑可分為三斷,其以見道斷者,稱為見所斷,又作見道所斷、見斷;以修道斷者,稱為修所斷,又作修道所斷、修斷;如無漏法亦可不斷者,稱為非所斷,又作非斷、不斷。 如何斷煩惱,有四種情形,此謂斷惑四因。其中,前三者係斷見惑之因,後者係斷修惑之因。見惑有苦、集、滅、道等四諦所斷之別,其四諦亦各有二類,苦、集二諦下有自界緣惑、他界緣惑二者,滅、道二諦下有有漏緣惑、無漏緣惑二者。表解如左。 (一)遍知斷,即斷除見惑中之苦、集二諦下之自界緣惑與滅、道二諦下之無漏緣惑;自界緣惑係僅以自己所住之境界為對象而起之惑,無漏緣惑則為以無漏法之滅、道二諦為對象所起之惑。此二惑均為迷於四諦理之惑,故若遍知各所緣(所迷之對象)之理,則惑即可斷除。例如苦諦下之惑,由遍知苦諦之理而斷;集諦下之惑,由遍知集諦之理而斷。(二)能緣斷,即斷除苦、集二諦下之他界緣惑。例如在欲界者,以色界等為對象而起惑,為他界緣惑。他界緣之惑為自界緣惑之所緣,故斷能緣之自界緣惑,則所緣之他界緣惑自亦斷除。(三)所緣斷,即斷除滅、道二諦下之有漏緣惑。有漏緣惑以無漏緣之惑為所緣,故斷所緣之無漏緣惑,能緣之有漏緣惑亦自然斷除。(四)對治斷,即指修惑唯以對治道斷除之。在九地各九品之中,上上品之惑以下下品之道能對治,下下品之惑以上上品之道能對治。 斷惑依其性質,復分為二斷:(一)自性斷,即如煩惱本身,其性質染污者,若自體不再起,則能自然斷除。(二)緣縛斷,又作所緣斷、離縛斷。如有漏善或色法等,由於成為其煩惱之對象,而為煩惱所束縛,故並非斷其自體,而係斷除能緣能縛之煩惱,始得解脫。 大乘唯識宗主張,依邪師、邪教、邪思惟而起之分別起煩惱,為見所斷;與生俱來之煩惱,即俱生起之煩惱,為修所斷。斷除見所斷煩惱之種子,為初地入見道時;斷除修所斷煩惱之種子,則為金剛喻定時。 總言之,俱舍宗承認有漏智能斷惑,但經部、唯識宗則主張有漏智僅能制伏煩惱現行,而不能斷其種子。因此,俱舍宗主張有漏、無漏之無間道皆能斷惑,稱為斷道;相對於此,唯識宗主張加行智與有漏道是伏道,並非斷道,但根本智、後得智與無漏道是伏道亦是斷道(斷道為對治道,即斷煩惱之道)。成唯識論卷八並提出自性斷、離縛斷、不生斷等三斷說,依次能斷除染污、有漏善與無覆無記、諸惡趣與無想定。成唯識論了義燈卷五則舉出四斷說,即自性斷、相應斷(指其自體雖非染污,但因與煩惱相應而成為染污之有漏八識等,一旦斷除相應之煩惱時,即可從煩惱之繫縛中解脫)、緣縛斷與不生斷。 此外,三論、華嚴、天台等宗主張,所有存在之真相為覺悟之本體,雖言斷煩惱,但畢竟仍是無斷。密教則認為顯教之斷惑,乃視一切煩惱為過患(禍害),藉修道而以始覺之智斷除之,此為過患斷;密教之斷惑則視煩惱與本覺之德無二,故悟其本無(本來即無)即為斷煩惱,稱為功德斷。〔大毘婆沙論卷五十一、卷五十三、俱舍論卷十六、卷二十五、順正理論卷六、成唯識論卷十、瑜伽師地論卷五十四、卷五十九、大乘阿毘達磨雜集論卷九、大乘義章卷九〕(參閱「四諦」1840、「斷道」6565)
; Dứt bỏ mê lầm vọng hoặc (bằng chân trí)—To bring illusion to an end.
; (斷惑) Phạm: kleśaḥ prahīyate. Hoặc là tên khác của phiền não. Đoạn hoặc nghĩa là nhờ vào công năng của đạo hữu lậu và đạo vô lậu để đoạn trừ phiền não. Còn gọi là Đoạn kết (tức Kết sử cũng là tên khác của phiền não), Đoạn chướng, Li nhiễm. Do đạo Vô gián mà đoạn trừ phiền não, nhờ đạo giải thoát mà chứng được chân lí Niết bàn (Bồ đề), hợp chung lại gọi là Đoạn hoặc chứng lí, gọi tắt là Đoạn chứng. Phật giáo bộ phái lấy việc dứt hết phiền não, chứng được quả A la hán làm mục đích, cho nên đến giai vị Kiến đạo thì dứt trừ được những sai lầm về tư tưởng và tri thức (mê lí hoặc, tức là kiến hoặc); và đến giai vị Tu đạo thì đoạn trừ phiền não căn bản (mê sự hoặc, tức là Tu hoặc). Vì kiến hoặc có thể được đoạn trừ trong thời gian ngắn nên gọi là Đốn đoạn, còn Tu hoặc thì phải tu hành trong thời gian lâu dài mới có thể lần lượt đoạn trừ nên gọi là Tiệm đoạn. Đoạn phiền não có hai loại: 1. Vô lậu đoạn (Tất cánh đoạn): Bậc Thánh nhờ trí vô lậu dứt trừ tận gốc tất cả hạt giống phiền não, không cho tái sinh. 2. Hữu lậu đoạn (Tổn phục đoạn): Phàm phu tu 6 pháp quán hữu lậu, quán thượng địa (cõi Sắc) và hạ địa (cõi Dục) để đoạn trừ hay áp phục phiền não ở hạ địa không cho hiện hành. Theo luận Câu xá quyển 21 thì Đoạn hoặc có thể chia ra 3 loại: 1. Kiến sở đoạn (Kiến đạo sở đoạn, Kiến đoạn): Giai vị kiến đạo đoạn trừ phiền não. 2. Tu sở đoạn (Tu đạo sở đoạn, Tu đoạn): Giai vị Tu đạo đoạn trừ phiền não. 3. Phi sở đoạn (Phi đoạn, Bất đoạn): Các pháp vô lậu thì không còn phiền não để đoạn. Phiền não được đoạn trừ như thế nào? Do 4 nhân: 1. Biến tri đoạn: Đoạn trừ Tự giới duyên hoặc của 2 đế Khổ, Tập và Vô lậu duyên hoặc của 2 đế Diệt, Đạo trong Kiến hoặc. Tự giới duyên hoặc là những phiền não chỉ lấy cảnh giới của chính mình nương ở làm đối tượng mà sinh khởi; còn Vô lậu duyên hoặc thì là những phiền não lấy pháp vô lậu của 2 đế Diệt, Đạo làm đối tượng mà sinh khởi. Hai loại hoặc này đều là hoặc mê mất lí của 4 đế, cho nên nếu biết rõ khắp(biến tri)lí của các sở duyên (đối tượng bị mê mất) thì hoặcliền bị đoạn trừ. Chẳng hạn như hoặccủa Khổ đế nhờ biết rõ lí của Khổ đế mà đoạn trừ;hoặccủa Tập đế nhờ biết rõ lí của Tập đế mà đoạn trừ. 2. Năng duyên đoạn: Đoạn trừ Tha giới duyên hoặc của 2 đế Khổ, Tập. Chẳng hạn như người ở cõi Dục lấy cõi Sắc v.v... làm đối tượng mà khởi hoặc, gọi là Tha giới duyên hoặc. Tha giới duyên hoặc là sở duyên của Tự giới duyên hoặc, bởi thế, nếu dứt được Tự giới duyên hoặc thì Tha giới duyên hoặc cũng bị đoạn trừ. 3. Sở duyên đoạn: Đoạn trừ Hữu lậu duyên hoặc của 2 đế Diệt, Đạo. Vì Hữu lậu duyên hoặc lấy Vô lậu duyên hoặc làm sở duyên, cho nên khi đoạn trừ được Vô lậu duyên hoặc thì Hữu lậu duyên hoặc tự nhiên cũng bị đoạn trừ. 4. Đối trị đoạn: Ở giai đoạn Tu đạo, phiền não hoặc lậu chỉ có thể được đoạn trừ bằng đạo Đối trị. Trong 9 địa mỗi địa đều có 9 phẩm hoặc,hoặccủa phẩm thượng thượng được đối trị bằng đạo của phẩm hạ hạ và hoặc của phẩm hạ hạ được đối trị bằng đạo của phẩm thượng thượng. Căn cứ vào tính chất, Đoạn hoặc lại được chia làm 2 thứ: 1. Tự tính đoạn: Tính chất của phiền não vốn nhơ nhớp, nếu tự thể không sinh khởi thì tự nhiên đoạn trừ. 2. Duyên phược đoạn (Sở duyên đoạn, Li phược đoạn): Như hữu lậu thiện hoặc sắc pháp trở thành đối tượng của phiền não nên bị phiền não trói buộc, cho nên không phải đoạn trừ tự thể của phiền não mà phải đoạn trừ phiền não năng duyên mới được giải thoát. Tông Duy thức cho rằng các phiền não Phân biệt khởi đến ngôi Kiến đạo mới đứt trừ; còn những phiền não Câu sinh khởi thì đến gia vị Tu đạo mới đoạn trừ được. Tóm lại, tông Câu xá thừa nhận trí hữu lậu có khả năng đoạn hoặc, nhưng Kinh bộ và tông Duy thức thì chủ trương trí hữu lậu chỉ có thể đè nén sự hiện hành của phiền não chứ không thể diệt trừ chủng tử (hạt giống) của chúng. Do đó, tông Câu xá chủ trương đạo Vô gián của hữu lậu, vô lậu đều có thể đoạn trừ phiền não, gọi là Đoạn đạo. Trái lại, tông Duy thức cho rằng trí gia hạnh và đạo Hữu lậu là Phục đạo (đạo chế phục, tức đè ép sự hiện hành của phiền não), chứ không phải là Đoạn đạo (đạo dứt trừ phiền não). Còn trí Căn bản và đạo Vô lậu thì vừa là Phục đạo, vừa là Đoạn đạo. Luận Thành duy thức quyển 8 nêu ra thuyết Tam đoạn: Tự tính đoạn, Li phược đoạn và Bất sinh đoạn, y theo thứ lớp có thể đoạn trừ nhiễm ô, hữu lậu thiện và vô phú vô kí, các đường ác và Vô tưởng định. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 5 nêu ra thuyết Tứ đoạn: Tự tính đoạn, Tương ứng đoạn, Duyên phược đoạn và Bất sinh đoạn. Ngoài ra, các tông Tam luận, Hoa nghiêm, Thiên thai v.v... chủ trương chân tướng của mọi sự tồn tại là bản thể của giác ngộ, tuy nói là đoạn phiền não nhưng rốt ráo là vô đoạn. Mật giáo thì cho rằng đoạn hoặc của Hiển giáo là Quá hoạn đoạn, nghĩa là Hiển giáo cho tất cả phiền não là tai họa, là tội lỗi, phải nhờ vào trí thủy giác tu hành mới đoạn trừ được. Còn đoạn hoặc của Mật giáo là Công đức đoạn, nghĩa là Mật giáo coi phiền não và bản giác vốn không hai, cho nên, nếu ngộ được phiền não vốn không thì tức là đoạn trừ phiền não. [X. luận Đại tì bà sa Q.51, Q.53; luận Câu xá Q.16, Q.25; luận Thuận chính lí Q.6; luận Thành duy thức Q.10; luận Du già sư địa Q.54, Q.59; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.9; Đại thừa nghĩa chương Q.9]. (xt. Tứ Đế, Đoạn Đạo).
đoạn hoặc phổ
Universal cutting off of delusions.
Đoạn hoặc 斷惑
[ja] ダンワク danwaku ||| 'Destruction of delusion. ' => Phá trừ mê hoặc.
đoạn hòa
Quyết định bàn cãi và đi đến hòa hợp (Tăng chúng)—To decide a dispute and cause harmony.
đoạn khổ pháp
6560指斷苦惱之法。即永斷輪迴之苦而得最後解脫之教法。〔法華經卷一方便品〕
; (斷苦法) Giáo pháp giúp chúng sinh dứt hẳn nỗi khổ sinh tử luân hồi mà đạt đến Niết bàn giải thoát tối hậu. [X. phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa Q.1].
đoạn kiến
quan điểm sai lầm cho rằng thân tâm này với các pháp thế gian là đoạn diệt, không thường tồn, chẳng hạn như cho rằng đời sống hoàn toàn chấm dứt sau khi chết, không có kiếp sau...
; 6560梵語 uccheda-dṛṣṭi,巴利語 uccheda-diṭṭhi。又稱斷滅論。二見之一。為「常見」之對稱。即偏執世間及我終歸斷滅之邪見。蓋諸法之因果各別亦復相續,非常亦非斷,執斷見者則唯執於一邊,謂無因果相續之理,世間及我僅限於生之一期,死後即歸於斷滅。主張此等斷見者,如富蘭那迦葉即謂無善、無惡,亦無善惡之報,被稱為斷見外道,屬外道十六宗之一。倡虛無主義者,亦屬斷見之一例。 所謂斷常二見,係概括而言外道之種種偏見。據大毘婆沙論卷二○○所載,諸惡見趣雖有多種,皆不出有見、無有見二見之中;有見即指常見,無有見即指斷見。以此二見皆為邊見,故釋尊主張離常、離斷,而取中道。又據大智度論卷二十六載,斷見有二種,一謂無後世受罪福苦樂之果報,一謂一切法皆空,即墮於空見者。對於此等邊見,經論中多主張以空觀對治之,如成實論卷十邊見品謂正修習空,則無我見,以滅我見,遂斷二邊。〔雜阿含經卷三十四、北本大般涅槃經卷二十七、大毘婆沙論卷四十九、卷七十七、瑜伽師地論卷七、卷五十八、佛性論卷一破外道品、成唯識論卷六〕(參閱「六十二見」1241、「斷滅論」6565)
; Ucchedadarsana (S). The view that death ends life, in contrast with thường kiến that body and soul are eternal, both views being heterodox; also world-extinction and the end of causation; annihilation view.
; Ucchedaditthi (p)—Ucchedadarsana (skt)—Annihilation-illusion or Annihilation-view—Phủ nhận sự hiện hữu của hiện tượng và bám vào chủ nghĩa hoàn toàn hủy diệt, nghĩa là khi chết là chấm dứt tất cả, đối lại với chủ trương cho rằng thân tâm là thường trụ bất diệt; cả hai đều là tà kiến—Nihilism—Holding to the view of total annihilation, or the view that death ends life, or world-extinction and the end of causation, in contrast with the view that body and soul are eternal, both views being heterodox—The philosophic doctrine that denies a substantial reality to the phenomenal universe—Holding to the view of total annihilation.
; (斷見) Phạm: uccheda-dṛṣṭi, Pàli: uccheda-diṭṭhi. Cũng gọi: Đoạn diệt luận, đối lại với Thường kiến. Một trong 2 kiến chấp. Tức là loại tà kiến chấp thế gian và ngã (cái ta) cuối cùng đều đoạn diệt hẳn. Nhân quả của các pháp mỗi mỗi khác nhau và nối tiếp, chẳng phải thường cũng không phải đoạn. Người đoạn kiến chỉ chấp một chiều, họ bảo không có nhân quả, con người chỉ sống trong một thời kì, sau khi chết là hết; không có thiện ác báo ứng, không có tội phúc: đây là chủ trương của ngoại đạo Đoạn kiến, một trong 16 tông ngoại đạo ở Ấn độ. Những người đề xướng chủ nghĩa hư vô cũng thuộc loại đoạn kiến. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 26, thì Đoạn kiến có hai loại: 1. Không có quả báo, tội phúc, khổ vui, đời sau. 2. Tất cả các pháp đều không. Luận Đại tì bà sa quyển 200 nói, ác kiến tuy có nhiều loại, nhưng không ngoài Hữu kiến (chấp có) và Vô kiến (chấp không). Hữu kiến chỉ cho Thường kiến, Vô kiến chỉ cho Đoạn kiến. Hai kiến chấp này đều thuộc về Biên kiến (chấp một bên, một chiều). Cho nên đức Thích tôn dạy phải lìa cả Thường và Đoạn mà giữ lấy Trung đạo. [X. kinh Tạp a hàm Q.34; kinh Đại bát niết bàn Q.27 (bản Bắc); luận Đại tì bà sa Q.49, Q.77; luận Du già sư địa Q.7, Q.58; phẩm Phá ngoại đạo trong luận Phật tính Q.1; luận Thành duy thức Q.6]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến, Đoạn Diệt Luận).
Đoạn kiến 斷見
[ja] ダンケン danken ||| (uccheda-drsti). (1) "Nihīism." the mistaken view that results from not discerning the principle of cause and effect that centers on the idea that the world or oneself can be destroyed; for example, the idea that once a being dies, there is not future rebirth, or that life is something limited to this world, and therefore the nihīistic view of denying the reception of the fruits of good and evil acts. (2) The destruction of mistaken views. => (s: uccheda-drsti). “Hư vô chủ nghĩa”Cái nhìn sai lầm do hậu quả không nhận ra được nguyên lý nhân quả nên xoay quanh ý tưởng rằng thế giới hay chính mình có thể hoại diệt; chẳng hạn nghĩ rằng một sinh thể chết đi thì không còn tái sinh trong đời sống tương lai, hoặc quan niệm đời sống là một điều gì đó bị hạn cuộc trong thế gian nầy, do vậy nên Đoạn kiến phủ nhận quả báo của việc thiện hay ác. Phá trừ các tà kiến.
Đoạn kiết 斷結
[ja] ダンケツ danketsu ||| To sever the binding of the afflictions. In this case, 結 is an abbreviation for 結縛. The elimination of the afflictions that are the purview of the Paths of Seeing 見道 and Cultivation 修道 in the three realms, based on the practices such as the sixteen minds 十六心. 〔瑜伽論 T 1579.30.355a19〕 => Cắt đứt sự ràng buộc của phiền não. Trong trường hợp nầy, chữ Kiết là viết tắt của Kiết phược結縛. Sự đoạn trừ phiền não là phạm vi hoạt động của Kiến đạo và Tu đạo trong Tam giới, làm nền tảng cho các công hạnh như Thập lục tâm.
Đoạn Kiều Diệu Luân
(斷橋妙倫, Donkyō Myōrin, 1201-1261): vị tăng của Phái Dương Kì và Phái Phá Am thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Đoạn Kiều (斷橋), hay còn gọi là Tùng Sơn Tử (松山子), người Hoàng Nham Tùng Sơn (黃巖松山), Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang), họ là Từ (徐). Năm lên 18 tuổi, ông xuất gia ở Quảng Huệ Viện (廣慧院) vùng Vĩnh Gia (永嘉, Tỉnh Triết Giang), rồi sau đó du phương hành cước. Đầu tiên ông đến tham vấn Cốc Nguyên Nguyên Đạo (谷源源道), có chỗ sở ngộ, sau đó gặp được Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) ở Tuyết Đậu Sơn (雪竇山) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Khi Sư Phạm chuyển đến Kính Sơn (徑山) và Dục Vương Sơn (育王山) thì ông đi theo hầu. Vào tháng 3 năm đầu (1242) niên hiệu Thuần Hựu (淳祐), ông đến trú trì Thoại Phong Kỳ Viên Tự (瑞峰祇園寺) ở Đài Châu, rồi sống qua một số chùa khác như Thoại Nham Tịnh Độ Thiền Tự (瑞巖淨土禪寺), Quốc Thanh Tự (國清寺) ở Thiên Thai Sơn (天台山, Tỉnh Triết Giang), Tịnh Từ Tự (淨慈寺) ở Phủ Lâm An (臨安府, Tỉnh Triết Giang). Vào ngày 25 tháng 4 năm thứ 2 (1261) niên hiệu Cảnh Định (景定), ông thị tịch, hưởng thọ 61 tuổi đời và 44 hạ lạp. Hai vị thị giả của ông là Văn Bảo (文寳) và Thiện Tĩnh (善靖) biên tập bộ Đoạn Kiều Hòa Thượng Ngữ Lục (斷橋和尚語錄) 2 quyển.
đoạn kết
Cắt đứt sự trói buộc của phiền não dục vọng—To cut off the bonds, i.e. of passion.
đoạn li diệt tam giới
6567即斷界、離界、滅界。此三界皆以無為解脫(擇滅無為)為體。即於九結(愛、恚、慢、無明、見、取、疑、嫉、慳)之中,離貪結而得擇滅,稱為離界;斷除貪以外之八結而得擇滅,稱為斷界;滅貪等所隨增之事而得擇滅,稱為滅界。此係依據世俗之理而有三界之異,若約實義而言,則其體並無差別。其中斷、離二界由斷煩惱而得,滅界係依滅惑所緣之境事而得。以上為小乘之說。此外,三界名義之解釋有數種說法,據大毘婆沙論卷二十九載,有謂一切行斷故名斷界,一切行離故名離界,一切行滅故名滅界;或謂愛結斷者稱為離界,無明結斷者稱為斷界,諸餘結斷者稱為滅界;亦有說若八結及此相應並生等斷稱為斷界,若愛結及此相應並生等斷稱為離界,若諸餘順結法及此相應並生等斷稱為滅界等。又大乘唯識宗則謂斷界乃斷見道所斷之諸行,離界乃離修道所斷之諸行,滅界乃滅所依所攝之諸行。〔雜阿含經卷十七、大毘婆沙論卷二十二、俱舍論卷二十五、顯宗論卷二十四、瑜伽師地論卷二十七〕(參閱「三界」584)
; (斷離滅三界) Tức là Đoạn giới, Ly giới và Diệt giới. Ba giới này đều lấy giải thoát vô vi (trạch diệt vô vi) làm thể. 1. Đoạn giới: Đoạn trừ 8 kết mà được trạch diệt. 2. Ly giới: Trong 9 kết (ái, khuể, mạn, vô minh, kiến, thủ, nghi, tật, khan), lìa tham kết mà được trạch diệt. 3. Diệt giới: Diệt các phiền não theo 9 kết mà được trạch diệt. Trên đây là y cứ vào lí thế tục mà có 3 giới khác nhau, chứ nói theo thực nghĩa thì thể của chúng đều không khác nhau. Trong đó, Đoạn giới và Ly giới là do đoạn trừ phiền não mà được, còn Diệt giới là nhờ vào việc diệt hoặc của cảnh sở duyên mà được. Trên đây là thuyết của Tiểu thừa. Ngoài ra, về danh nghĩa của Tam giới còn có nhiều thuyết, như luận Đại tì bà sa quyển 29 nói: - Đoạn giới: Đoạn tất cả hành. - Ly giới: Lìa tất cả hành. - Diệt giới: Diệt tất cả hành. Lại có thuyết cho là: - Đoạn giới: Đoạn vô minh kết - Ly giới: Đoạn ái kết. - Diệt giới: Đoạn các kết còn lại. Cũng có thuyết giải thích: - Đoạn giới: Đoạn 8 kết và các phiền não tương ứng với 8 kết cùng sinh. - Ly giới: Đoạn ái kết và các phiền não tương ứng với ái kết cùng sinh. - Diệt giới: Đoạn các kết khác và các phiền não tương ứng cùng sinh. Còn tông Duy thức Đại thừa nói: - Đoạn giới: Đoạn các hành mà Kiến đạo đoạn. - Ly giới: Lìa các hành mà Tu đạo đoạn. - Diệt giới: Diệt các hành thuộc sở y. [X. kinh Tạp a hàm Q.17; luận Đại tì bà sa Q.22; luận Câu xá Q.25; luận Hiển tông Q.24; luận Du già sư địa Q.27]. (xt. Tam Giới).
đoạn luật nghi
6560梵語 prahāṇa-saṃvara。謂與九無間道共生之靜慮律儀(定共戒)及無漏律儀(道共戒)。即指與有漏之未至定中之九無間道俱生之靜慮律儀,及與無漏之未至定中之九無間道俱生之無漏律儀。其中,與前八種無間道俱生之二戒,能斷除欲界生起之煩惱,與第九無間道俱生之二戒,能斷除欲界生起之煩惱及惡戒,故特稱為斷律儀。斷律儀係於靜慮、無漏二種律儀之分位上所立之名稱,並無別體;與別解脫律儀、靜慮律儀、無漏律儀等,合稱四律儀。〔大毘婆沙論卷一一九、俱舍論卷十四〕
; (斷律儀) Phạm: Prahàịa-saôvara. Chỉ cho Tĩnh lự luật nghi (Định cộng giới) và Vô lậu luật nghi (Đạo cộng giới) cùng sinh với 9 đạo Vô gián. Tức chỉ cho Tĩnh lự luật nghi cùng sinh với 9 đạo Vô gián trong định Vị chí hữu lậu và Vô lậu luật nghi cùng sinh với 9 đạo Vô gián trong định Vị chí vô lậu. Trong đó, Định cộng giới và Đạo cộng giới cùng sinh với 8 đạo Vô gián trước có năng lực đoạn trừ các phiền não sinh khởi ở cõi Dục; còn Định cộng giới và Đạo cộng giới cùng sinh với đạo Vô gián thứ 9 có năng lực đoạn trừ phiền não và ác giới ở cõi Dục, vì thế mà đặc biệt được gọi là Đoạn luật nghi. Đoạn luật nghi cùng với Biệt giải thoát luật nghi, Tĩnh lự luật nghi và Vô lậu luật nghi gọi chung là Tứ luật nghi. [X. luận Đại tì bà sa Q.119; luận Câu xá Q.14].
đoạn lậu
6565即斷絕煩惱。漏,為煩惱之意。
; (斷漏) Lậu là tên khác của phiền não. Đoạn lậu nghĩa là dứt tuyệt các phiền não.
đoạn mạt ma
6559指臨終之苦。又作斷末魔。末摩,梵語 marman之音譯,意譯死穴、支節、死節,為人身體中特殊之部位,此部位若遇傷害,則起劇痛而致死或發狂。故斷末摩即引申為臨終時所受之極大痛苦。 於三界之中,色界與無色界並無此種斷末摩之苦,僅欲界有之,然在欲界中亦非每一道(趣)均有此苦。大毘婆沙論卷一九○(大二七‧九五三上):「於欲界中,地獄無斷末摩,以恆斷故;傍生、餓鬼有斷末摩;人中三洲,非北拘盧洲;欲界諸天亦無斷末摩,彼非惱亂業果故。」〔俱舍論卷十、順正理論卷三十、卷三十五、俱舍論記卷二、玄應音義卷二十三〕
; Marmacchid (skt)—Nỗi đau đớn cùng cực lúc lâm chung vì tử huyệt bị tổn hại (nỗi đau nầy chỉ có trong dục giới chứ không có trong sắc giới và vô sắc giới)—To cut through wound, or reach vital parts; cause to die.
; (斷末摩) Chỉ cho nỗi khổ lúc hấp hối sắp chết. Mạt ma là dịch âm của tiếng Phạm marman, nghĩa là huyệt chết, đốt xương, là những chỗ hiểm trong thân thể con người, nếu bị thương tổn thì sẽ đau đớn dữ dội mà có thể đưa đến tử vong hoặc điên cuồng. Vì thế Đoạn mạt ma (dứt các đốt xương) được dùng để diễn tả nỗi đau đớn cùng cực lúc hấp hối sắp chết. Trong 3 cõi, chỉ có cõi Dục có khổ đoạn mạt ma, nhưng không phải ở cảnh giới nào cũng có khổ này. Như luận Đại tì bà sa quyển 190 (Đại 27, 953 thượng), nói: Ở cõi Dục, địa ngục không có đoạn mạt ma; súc sinh, ngã quỉ thì có đoạn mạt ma; con người trong 3 châu (trừ Bắc câu lư châu), các châu còn lại đều có đoạn mạt ma. Các vị trời ở cõi Dục cũng không có đoạn mạt ma, vì họ không tạo nghiệp não loạn. [X. luận Câu xá Q.10; luận Thuận chính lí Q.30; Q.35; Câu xá luận kí Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].
đoạn nghi sinh tín
6566請參閱 宛陵錄 [1]請參閱 黃檗斷際語錄 指斷除疑惑而信實相之妙理。天台宗謂如來以權實之二智為妙能,而以本門之法華經具有斷疑生信之勝用。法華玄義卷九下(大三三‧七九七中):「今經用佛菩提二智,斷七種方便最大無明,同入圓因,破執近迹之情,生本地深信,乃至等覺亦令斷疑生信,如是勝用豈同眾經耶?」
; (斷疑生信) Đoạn trừ nghi hoặc, tin nơi diệu lí thực tướng. Tông Thiên thai cho rằng Như lai dùng 2 trí Quyền (tạm thời), Thực (chân thực) làm năng lực mầu nhiệm và coi phần Bản môn của kinh Pháp hoa có công dụng thù thắng đoạn nghi sinh tín. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 9 (Đại 33, 797 trung), nói: Kinh này dùng 2 trí Quyền, Thực đoạn trừ 7 thứ phương tiện vô minhtối đại, cùng vào viên nhân, phá tình chấpTích gần (Ứng thân Phật), sinh lòng tin sâu vàoBản địa(Pháp thân Phật), cho đến khiến bậc Đẳng giác cũng đoạn nghi sinh tín, công dụng thù thắng như thế há cùng với các kinh khác ư?.
đoạn nghiệp
Upacchedaka-kamma (P). Destructive karma.
đoạn nhục
6559梵語 māṃsa-bhakṣaṇa-vinivṛtta。即禁斷肉食。依小乘律,比丘可食不見、不聞、不疑之三種淨肉;然於梵網經、涅槃經、楞伽經等大乘經典中,因其教理係以大悲心為主,食肉則違反大慈悲之精神,故嚴禁一切肉食。北本大般涅槃經卷四(大一二‧三八六上):「『善男子!從今日始,不聽聲聞弟子食肉,若受檀越信施之時,應觀是食如子肉想。』迦葉復白佛言:『世尊!云何如來不聽食肉?』『善男子!夫食肉者,斷大慈種。』迦葉又言:『如來!何故先聽比丘食三種淨肉?』『迦葉!是三種淨肉隨事漸制。』」〔梵網經卷下〕(參閱「素食」4278、「殺生」4655)
; Mamsa-bhak-sana-vinivrtta (skt)—Cấm ăn thịt. Tiểu Thừa không cấm dùng thịt (tam tịnh, ngũ tịnh, hay cửu tịnh nhục), còn trong luật Đại Thừa Bồ Tát đạo, lấy tâm đại bi làm gốc nên nghiêm cấm việc ăn thịt (trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Ngài Ca Diếp hỏi Đức Thế Tôn: “Vì sao mà Thế Tôn lại không cho ăn thịt?” Đức Thế Tôn bảo: “Ăn thịt là làm mất đi hạt giống từ bi.”)—To forbid flesh; meat was permitted by the Buddha under the Hinayana cult, but forbidden in Mahayana under the Bodhisattva cult.
; (斷肉) Phạm: Màôsa-bhakwaịa-vinivftta. Tuyệt đối cấm ăn thịt. Theo luật của Tiểu thừa, tỉ khưu được ăn 3 thứ thịt: không thấy, không nghe và không ngờ. Tức là không trông thấy con vật bị giết, không nghe tiếng con vật kêu khi bị giết và không ngờ rằng con vật ấy bị giết là vì mình. Nhưng trong các kinh điển Đại thừa như kinh Phạm võng, kinh Niết bàn, kinh Lăng già v.v... đều lấy tâm đại bi làm chính nên cấm chỉ tất cả việc ăn thịt trong bất kì trường hợp nào. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 4 (Đại 12, 386 thượng), nói: Thiện nam tử! Bắt đầu từ nay không cho phép đệ tử Thanh văn ăn thịt. Nếu nhận món thịt do tín đồ bố thí thì khi ăn nên quán tưởng như ăn thịt con mình. Ngài Ca diếp lại bạch Phật rằng: Bạch đức Thế tôn! Tại sao Như lai không cho phép ăn thịt? Thiện nam tử! Người ăn thịt là người dứt hạt giống đại từ. Ngài Ca diếp lại hỏi: Bạch đức Thế tôn! Tại sao trước kia cho phép các tỉ khưu ăn 3 loại tịnh nhục? Này Ca diếp! Ba thứ tịnh nhục ấy là tùy theo việc mà tạm chế định. [X. kinh Phạm võng Q.hạ]. (xt. Tố Thực, Sát Sinh).
Đoạn phược 斷縛
[ja] ダンバク danbaku ||| To sever defilements. 〔二障義HPC 1.807b〕 => Cắt đứt phiền não. Đồ chúng 徒衆 [ja] トシュウ toshū ||| (1) A multitude of disciples. A disciple. (2) The lay followers of a temple or monastery. (3) The common people. => 1. Nhóm đông đệ tử. Môn đệ. 2. Hàng đệ tử cư sĩ tại gia của một ngôi chúa hay tự viện. 3. Thường dân.
đoạn phục
6559謂制伏並斷除煩惱。斷,指滅除煩惱之種子;伏,指制伏煩惱之現行。又就「斷除煩惱」與「制伏煩惱」之先後次第而言,通常係先制伏煩惱而後斷除之。
; To cut off and overcome.
; Cắt đứt và chế ngự hay khuất phục (không cho phiền não và ma quân ẩn núp trong thân tâm)—To cut off and overcome (passion and illusion).
; (斷伏) Chế phục và đoạn trừ phiền não. Đoạn là đoạn trừ hạt giống của phiền não; Phục là chế phục sự hiện hành của phiền não. Nói theo thứ tự thì trước hết chế phục phiền não rồi sau đó mới đoạn trừ.
đoạn quả
Nirvana.
đoạn sát
Cutting off killing—See Tứ Giới (D) (2).
đoạn sự sa môn
6560僧官之一。又作斷事比丘。即教團中處治僧尼觸犯綱紀之僧職。斷事,意指裁決事件。據續高僧傳卷二十一載,北齊時敕令精通律範之洪遵為斷事沙門,專為判決五眾有違法犯罪及諍訟之事,以肅正教界僧尼。〔大宋僧史略卷中〕(參閱「僧官」5731、「僧綱」5747)
; (斷事沙門) Cũng gọi Đoán sự tỉ khưu. Một chức tăng có quyền hạn xử trị các tăng ni vi phạm kỉ luật trong giáo đoàn. Đoán sự nghĩa là phán quyết sự kiện. Cứ theo Tục cao tăng truyện quyển 21, thì thời Bắc Tề, có ngài Hồng tuân, một vị tăng tinh thông giới luật, được vua thỉnh cử làm Đoán sự sa môn chuyên phán quyết các việc vi phạm pháp luật hay những việc tranh cãi để giữ cho đoàn thể tăng ni được nghiêm chính. [X. Đại tống tăng sử lược Q.trung]. (xt. Tăng Quan, Tăng Cương).
đoạn tang
To go out of mourning.
đoạn thiện căn
xem nhất-xiển-đề.
; 6561梵語 kuśala-mūla-samuccheda。略作斷善。依上品(高程度)之邪見,否定因果,稱為斷善根(根為諸善所生之因)。據俱舍論卷十七載,起上品之邪見,否定因果之理時,僅斷欲界生得(與生俱有者)之善根,且九品(九階段)之善根係由九品邪見逆順相對,漸次而斷,並非一時之間頓斷。須彌四洲中,除北俱盧洲之外,其餘三洲之人皆有此斷善根。斷善根後,若能對因果道理之有無再提出疑問,或起正見而肯定因果,則善根仍然可得,此稱續善根,又稱續善。另據瑜伽師地論卷一所載,斷善根僅斷現行之善根,而非斷盡善根之種子。大乘佛教主張,一闡提為否定因果者,故亦稱斷善根。〔發智論卷二、俱舍論卷十、順正理論卷九、瑜伽論記卷一〕
; Cắt đứt và đoạn tận thiện căn—To cut off or destroy, roots of goodness.
; (斷善根) Phạm: Kuzala-mùla-samuccheda. Gọi tắt: Đoạn thiện. Dứt mất căn lành. Theo tà kiến thượng phẩm mà phủ định nhân quả gọi là Đoạn thiện căn. Cứ theo luận Câu xá quyển 17, khi khởi tà kiến thượng phẩm (ở trình độ cao) thì chỉ đoạn thiện căn ở cõi Dục, còn thiện căn của 9 phẩm (9 giai đoạn) là do 9 phẩm tà kiến nghịch thuận đối nhau, đoạn trừ dần dần theo thứ lớp chứ không phải đoạn trừ ngay trong một lúc. Trong 4 châu quanh núi Tu di, trừ châu Bắc câu lô, người trong 3 châu còn lại đều có đoạn thiện căn này. Sau khi đoạn thiện căn, nếu lại đặt ra nghi vấn có nhân quả hay không, hoặc phát khởi chính kiến tin chắc có nhân quả, thì có thể lại được thiện căn như cũ, gọi là Tục thiện căn hoặc là Tục thiện (thiện căn nối tiếp trở lại). Luận Du già sư địa quyển 1 thì nói, đoạn thiện căn nghĩa là chỉ đoạn sự hiện hành của thiện căn chứ không phải đoạn chủng tử (hạt giống) của thiện căn. Phật giáo Đại thừa cho rằng Nhất xiển đề là người phủ định nhân quả, vì thế cũng gọi là Đoạn thiện căn. [X. luận Phát trí Q.2; luận Câu xá Q.10; luận Thuận chính lí Q.9; Du già luận kí Q.1].
Đoạn thiện căn 斷善根
[ja] ダンゼンコン danzenkon ||| (mūlaccheda). The cutting off of one's good roots of meritorious practice. => (s: mūlaccheda). Cắt đứt căn lành hay công đức tu hành của mình.
đoạn thiện xiển đề
6561即指不信因果而起邪見、斷絕一切善根之顛倒眾生。闡提,為一闡提(梵 icchantika)之略稱,指耽湎、執著於世俗之欲樂,而不知欣求出離之道之有情眾生,常被視為永不能成佛之機類。然諸經論及各宗派對於闡提是否可成佛,眾說紛紜,迄今未有定說。據成唯識論掌中樞要卷上本載,斷善闡提乃三種闡提之一,此類眾生雖難期成佛,若值佛之威力,發菩提心,亦可達於涅槃解脫境界,故屬「有性闡提」。〔北本大般涅槃經卷二十六、卷三十二、大乘入楞伽經卷二、華嚴五教章卷二〕(參閱「一闡提」85)
; 1) Loại cực ác đã dứt bỏ hết mọi thiện căn, nên không bao giờ thành Phật được: The icchanti, or outcast, who cannot attain Buddhahood, i.e. a man of great wickedness. 2) Vị Bồ Tát đại bi không muốn thành Phật vì muốn lưu chuyển trong cõi Ta Bà để cứu độ chúng sanh: A bodhisattva who separates himself from Buddhahood to save all beings.
; (斷善闡提) Chỉ cho những chúng sinh điên đảo khởi tà kiến không tin nhân quả, dứt hết tất cả thiện căn. Xiển đề nói đủ là Nhất xiển đề (Phạm: Icchantika), chỉ cho hạng chúng sinh hữu tình đam mê đắm trước các thú vui thích ở đời mà không biết mong cầu đạo xuất li, thường bị coi như loại chúng sinh vĩnh viễn không thể thành Phật. Nhưng, đối với việc Xiển đề có thể thành Phật hay không, các kinh luận cũng như các tông phái có những chủ trương khác nhau, đến nay vẫn chưa có thuyết nào nhất định. Cứ theo Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu quyển thượng phần đầu, thì Đoạn thiện xiển đề là một trong 3 loại Xiển đề, loại chúng sinh này tuy khó mong thành Phật, nhưng nếu nhờ uy lực của Phật, phát tâm Bồ đề thì cũng có thể đạt đến cảnh giới Niết bàn giải thoát, cho nên thuộc về Xiển đề hữu tính. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.26, Q.32 (bản Bắc); kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2]. (xt. Nhất Xiển Đề).
đoạn thường
1) Chấm dứt và tiếp tục: End and continuance. 2) Đoạn kiến và thường kiến: Annihilation and Permanence. 3) Tử và bất tử: Death and immortality.
đoạn thường nhị kiến
See Đoạn Thường.
Đoạn thường nhị kiến. 斷常二見
[ja] ダンジョウニケン danjō niken ||| The two views of nihīism 斷見 and eternalism 常見; also expressed as non-existence 無見 and existence 有見. => Hai kiến chấp về Đoạn (đoạn kiến) và Thường (thường kiến); còn gọi là Vô kiến và Hữu kiến.
Đoạn thường 斷常
[ja] ダンジョウ danjō ||| Nihīism 斷見 and eternalism 常見 or non-existence and existence. See 斷常二見. 〔瑜伽論 T 1579.30.623c20〕 => Đoạn kiến và Thường kiến, hoặc Hữu kiến và Vô kiến . Xem Đoạn thường nhị kiến.
đoạn thất
Thất thứ bảy hay thất cuối cùng của bảy thất—The final seventh, i.e. forty-ninth day of obsequies for the dead.
đoạn thực
6561即為祈願或成就修行,而於特定期間內斷絕飲食。印度自古即行斷食法,本為瑜伽派或其他苦行外道行法之一。而後佛教亦採用之,尤其密宗之修祕法者,為表示誠心及保持身體清淨,皆實行斷食,以避免諸穢物。據蘇婆呼童子請問經卷中載,修行人若欲求悉地,必先具持八戒,或於二三日斷食;又斷食並非令其心淨,乃為使修法者成就其修行時,避免身內之屎尿、涕唾等各種臭穢物之流出而熏污。 斷食亦可療病,據薩婆多毘尼毘婆沙卷一載(大二三‧五○九中):「目連問耆婆曰:『弟子有病,當云何治?』耆婆答曰:『唯以斷食為本。』」近代歐美興起斷食之熱潮,雖涉及宗教之因素甚少,然斷食能治病及開發生命之潛能,則屬事實。又斷食期間之長短因人而異,其種類亦很多,有斷鹽分之鹽斷、斷食穀物之穀斷、唯食果實之木食等。〔陀羅尼集經卷十一、妙臂菩薩所問經卷二、釋氏要覽卷上、大唐西域記卷九摩揭陀國條、貞元新定釋教目錄卷十四〕
; 1) Ăn kiêng hay ăn chay: To fast. 2) Tự nhịn đói: To starve oneself voluntarily.
; (斷食) Quyết định dứt hẳn việc ăn uống trong một thời gian đặc biệt nào đó để cầu nguyện hoặc để thành tựu sự tu hành. Từ xưa, Ấn độ đã thực hành pháp đoạn thực, vốn là một trong những pháp của phái Du già hoặc các phái ngoại đạo khác. Nhưng về sau Phật giáo cũng thu dụng pháp này, nhất là những nhà tu bí pháp của Mật tông thực hành đoạn thực để biểu thị sự thành tâm và giữ gìn thân thể thanh tịnh. Cứ theo kinh Tô bà hô đồng tử thỉnh vấn quyển trung, người tu hành nếu muốn cầu được Tất địa thì trước hết phải giữ đủ 8 giới, hoặc đoạn thực trong 2, 3 ngày. Vả lại, đoạn thực không phải chỉ làm cho tâm thanh tịnh, mà còn khiến cho người tu pháp khi thành tựu việc tu hành, tránh được những thứ bẩn thỉu, hôi thối từ trong mình tiết ra, như phẩn giải, đờm dãi v.v... Đoạn thực cũng còn chữa được bệnh tật. Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 1 (Đại 23, 509 trung) chép: Ngài Mục liên hỏi y sư Kì bà rằng: Đệ tử bị bệnh, phải chữa cách nào? Kì bà đáp: Thưa, chỉ bằng cách đoạn thực. Gần đây bên Âu, Mĩ dấy lên phong trào Đoạn thực, tuy không liên quan gì đến vấn đề tông giáo, nhưng Đoạn thực có khả năng trị bệnh và khai phát tiềm năng của sinh mệnh. Ngoài ra, thời gian Đoạn thực dài hay ngắn là tùy theo người mà có khác nhau. Đoạn thực cũng có nhiều loại, như: Diêm đoạn là không ăn muối, Cốc đoạn là không ăn ngũ cốc, Mộc thực là chỉ ăn trái cây v.v... [X. kinh Đà la ni tập Q.11; kinh Diệu tí bồ tát sở vấn Q.2; Thích thị yếu lãm Q.thượng; mục Ma kiệt đà quốc trong Đại đường tây vực kí Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14].
đoạn trí
6564能斷除煩惱等結縛之智慧。即指佛智。阿毘曇心論卷二(大二八‧八一七下):「永盡無餘,謂之斷智」大乘義章卷十三(大四四‧七三六中):「煩惱盡處,名之為斷。斷是智果。」〔菩薩處胎經卷一〕
; (斷智) Trí tuệ có công năng đoạn trừ các phiền não. Chỉ cho trí Phật. Luận A tì đàm tâm quyển 2 (Đại 28, 817 hạ), nói: Hết sạch phiền não không sót, gọi là Đoạn trí. Đại thừa nghĩa chương quyển 13 (Đại 44, 736 trung), nói: Phiền não dứt hết, gọi là đoạn. Đoạn là quả của trí. [X. kinh Bồ tát xử thai Q.1].
đoạn trường
Painful.
Đoạn trường 斷腸
[ja] ダンチョウ danchō ||| "Cutting one's intestines." A metaphor for great suffering. => Cắt đứt ruột mình'. Ẩn dụ cho nỗi đau khổ lớn lao.
đoạn trừ chướng ngại
To overcome hindrances (illusion, karma and suffering).
đoạn tuyệt
Severance.
Đoạn tuyệt 斷絶
[ja] ダンゼツ danzetsu ||| To sever, cut off, separate from. Usually in the sense of cutting off affliction, or cutting off mistaken conceptualization. => Cắt đứt, cắt rời, tách rời. Thường dùng trong ý cắt đứt phiền não, tiêu trừ tà kiến.
đoạn tí
6566為我國禪宗二祖慧可斷臂以示求法決心之故事。據景德傳燈錄卷三、傳法正宗記卷五、卷六等載,慧可未得法前,初名神光,於正光元年(520)十二月九日訪嵩山少林寺菩提達磨,懇請師事求法,然達磨始終端坐面牆,未曾與之言談誨勵,神光為表示求道之至誠,遂終宵立於雪中,至天明,達磨仍未許以入室,神光乃自斷左臂,以示求道之決心,終蒙達磨接化。此一斷臂求法故事傳為禪林美譚,禪宗典籍多予記載。在日本,禪林每於十二月九日即懸掛慧可像於壇上,備辦供具,眾僧自八日起徹夜坐禪,至九日早朝開大靜止,並於早課獻粥誦經,稱為斷臂會。〔續高僧傳卷十六、祖堂集卷二、天聖廣燈錄卷七、五燈會元卷一、永平小清規卷下斷臂會〕(參閱「慧可」6023)
; (斷臂) Chặt đứt cánh tay. Đây là sự tích Nhị tổ Tuệ khả của Thiền tông Trung quốc tự chặt đứt cánh tay để chứng tỏ quyết tâm cầu pháp. Theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 và Truyền pháp chính tông quyển 5, 6, thì ngài Tuệ khả vốn tên là Thần quang, vào ngày mồng 9 tháng 12 niên hiệu Chính quang năm đầu (520), ngài đến chùa Thiếu lâm trên núi Tung sơn cầu pháp nơi Tổ Bồ đề đạt ma, nhưng trước sau Tổ vẫn ngồi yên xoay mặt vào vách. Ngài vẫn đứng suốt đêm trong tuyết rơi. Đến sáng hôm sau, ngài tự chặt cánh tay trái để biểu thị ý chí cầu đạo kiên quyết, cuối cùng được Tổ tiếp hóa. Sự tích chặt cánh tay cầu pháp này rất được truyền tụng trong Thiền lâm và các sách Thiền tông phần nhiều cũng có ghi chép. Ở Nhật bản, hàng năm vào ngày mồng 9 tháng 12 các Thiền lâm đều lập đàn, treo ảnh ngài Tuệ khả, bày biện đủ thứ vật cúng, bắt đầu từ mồng 8, chúng tăng ngồi Thiền suốt đêm, đến sáng sớm ngày mồng 9 thì xả Thiền và vào thời khóa sớm cúng cháo, tụng kinh, gọi là hội Đoạn tí. [X. Tục cao tăng truyện Q.16; Tổ đường tập Q.2; Thiên thánh quảng đăng lục Q.7; Ngũ đăng hội nguyên Q.1; Vĩnh bình tiểu thanh qui Q.hạ Đoạn tí hội]. (xt. Tuệ Khả).
đoạn tận ác nghiệp
To annihilate evil karma.
đoạn tửu nhục văn
6561全一卷。南朝梁武帝撰。收於大正藏第五十二冊廣弘明集卷二十六。律法中向無斷肉、懺悔食肉法等戒條,又漢代以降,僧徒得食三淨肉,且未絕對禁殺。武帝自覺為王者有弘揚佛法之責,乃依十善戒、南本大般涅槃經卷四之四相品等經文而作此文,謂食肉者將斷大慈種,呼籲僧尼禁斷酒肉之欲,並批判當時僧眾之行狀,列舉不如外道者有九項,不如在家眾者亦有九項。〔漢魏兩晉南北朝佛教史第十三章(湯用彤)〕
đoạn viên
6564為天台宗所說圓教八義之一。其義有二:(一)謂一斷一切斷,即斷除一惑則斷除一切之惑。(二)以「不斷之斷」謂之斷圓。蓋於天台宗所判立五時八教中,圓教乃「化法四教」之一,此教係佛陀為接化最上利根之人所說圓融相即之教旨,故多屬不可思議之殊勝諦理;為令世人了達此圓教教旨,天台宗智顗大師遂於四教義一書中以教、理、智、斷、行、位、因、果等八義來闡說之。四教義卷一(大四六‧七二二中):「斷圓者,不斷而斷無明惑也。」(參閱「八圓」298)
; (斷圓) Đoạn hoặc (phiền não) thuộc Viên giáo. Đoạn viên có 2 nghĩa: 1. Một đoạn tất cả đoạn: Đoạn được 1 hoặc tức đoạn tất cả hoặc. 2. Đoạn mà không đoạn. Bởi vì, trong Ngũ thời bát giáo (Năm thời tám giáo) do tông Thiên thai phán lập thì Viên giáo là một trong Hóa pháp tứ giáo (Bốn giáo hóa pháp), là giáo chỉ viên dung tương tức do đức Phật nói đểtiếp hóa hàng thượng căn, nên giáo lý này thuộc về đế lí thù thắng không thể nghĩ bàn. Trong Tứ giáo nghĩa đại sư Trí khải của tông Thiên thai có nêu ra 8 nghĩa: giáo, lí, trí, đoạn, hành, vị, nhân, quả... để nói rõ về ý nghĩa của nó. Tứ giáo nghĩa quyển 1 (Đại 46, 722 trung), nói: Đoạn viên đối với vô minh hoặc không đoạn mà đoạn. (xt. Bát Viên).
đoạn viên đức
6564為如來三種圓德中果圓德(果德圓滿之功德)之一。謂如來斷盡一切煩惱之功德圓滿。又分四種:(一)一切煩惱斷,指斷除染污無知之煩惱障而得擇滅。(二)一切定障斷,指斷除不染污無知之定障,而得非擇滅。(三)畢竟斷,指斷除前二障後而不退。(四)并習斷,指前二障之習氣並斷。〔俱舍論卷二十七〕(參閱「三德」668)
; (斷圓德) Công đức tròn đầy do đã dứt hết tất cả phiền não. Là Quả viên đức trong 3 thứ Viên đức(Nhân viên đức, Quả viên đức, Ân viên đức)của Như lai. Đoạn viên đức được chia ra 4 loại: 1. Nhất thiết phiền não đoạn: Dứt trừ phiền não chướng nhiễm ô vô tri mà được trạch diệt. 2. Nhất thiết định chướng đoạn: Dứt trừ định chướng của bất nhiễm ô vô tri mà được phi trạch diệt. 3. Tất cánh đoạn: Sau khi dứt trừ phiền não chướng nhiễm ô vô tri và định chướng bất nhiễm ô vô tri mà được bất thoái (không lùi). 4. Tinh tập đoạn: Chỉ cho tập khí của 2 chướng nói trên đều dứt trừ. [X. luận Câu xá Q.27]. (xt. Tam Đức).
đoạn vọng
Cutting off lying—See Tứ Giới (D) (4).
đoạn ác
To cut off evil, or wickedness.
; Cắt đứt mọi ác nghiệp—To cut off evil, or wickedness.
đoạn ác tu thiện
6562又作止惡修善。即斷除惡業,修習善法。勝軍明王四十八使者祕密成就儀軌(大二一‧三三下):「明王四弘願云:『見我身者,發菩提心;聞吾名者,斷惡修善;聞我說者,得大智慧;知我心者,即身成佛。』」
; (斷惡修善) Cũng gọi Chỉ ác tu thiện. Tức dứt trừ điều ác, tu tập pháp lành. Thắng quân minh vương tứ thập bát sứ giả bí mật thành tựu nghi quĩ (Đại 21, 33 hạ), nói: Minh vương phát 4 thệ nguyện rộng lớn là: 1. Nếu có người được thấy thân ta thì liền phát tâm bồ đề. 2. Nếu có người được nghe tên ta thì liền dứt ác tu thiện. 3. Nếu có người được nghe ta nói thì liền được đại trí tuệ. 4. Nếu có người biết được tâm ta thì liền tức thân thành Phật.
đoạn đoạn
6566為四正勤之一。謂已起之惡法,斷除之後復生,則愈加精進修行,不使其生起;斷而復斷,故稱斷斷。四正勤為三十七道品中之第二行品,即指制心以斷懈怠,方便精勤於斷惡生善之四種修行方法。〔雜阿含經卷三十一、大毘婆沙論卷一四一〕(參閱「四正勤」1679)
; (斷斷) Một trong 4 chính cần. Nghĩa là đoạn trừ các điều ác đã sinh, nếu chúng lại sinh thì phải nỗ lực tu hành để đoạn trừ tiếp. Vì đoạn rồi lại đoạn tiếp nên gọi là Đoạn đoạn. [X. kinh Tạp a hàm Q.31; luận Đại tì bà sa Q.141]. (xt. Tứ Chính Cần).
đoạn đạo
6565梵語 prahāṇa-mārga。指能伏斷、離滅惑障之道力。又稱滅道、對治道。此「斷」非唯斷滅惑障,乃含有伏、證之義。加行、無間、解脫、勝進等四道中之無間道,即稱為斷道。 依小乘俱舍論之說,斷道係指有漏及無漏之無間道,其中,見道唯是無漏,修道則通有漏、無漏二種。俱舍論卷十七(大二九‧九一上):「道能證斷,及能斷惑,得斷道名,即無間道。」蓋證斷,即證得擇滅,斷盡煩惱而顯理;斷惑,即斷除煩惱。以無間道既可斷除能縛之煩惱,復於所縛之法上證得擇滅,故稱為斷道。若於解脫道,則僅須「證」而無須「斷」。有漏道之斷,具有異熟果、等流果、離繫果、士用果、增上果等五果;無漏道之斷不招異熟果,故僅具其他四果。又依俱舍論光記,斷道之斷有二意,即「所證之斷」與「能除之斷」。 唯識宗則謂斷有三義,即:(一)不續之義,謂由無漏道斷其種子,不令相續,又由有漏、無漏道之力,伏其現行,不令相續。(二)除害之義,謂由無漏道斷除煩惱、所知二障之種子,並依有漏、無漏道之力,阻礙二障之現行,不令生起。(三)不生之義,謂體性能障法,不令生起。又斷道與伏道之區別,即斷道能永斷煩惱、所知二障之隨眠,有漏道及加行智絕非斷道;伏道能伏二障隨眠之勢力,令不引起二障現行,通有漏道、無漏道及加行、根本、後得三智,隨其所應,能漸伏或頓伏惑障。蓋唯識宗主張有漏道與加行智僅能伏道而不能斷道,無漏道與根本智、後得智則既能伏道又能斷道。〔俱舍論卷二十二、卷二十三、卷二十四、成唯識論卷十、俱舍論光記卷二十二、大乘法苑義林章卷二末〕(參閱「斷惑」6562)
; The stage in development when illusion is cut off.
; 1) Giai đoạn phát triển khi phiền não đoạn tận—The stage in development when illusion is cut off. 2) Cutting off stealing—See Tứ Giới (D) (3).
; (斷道) Phạm:Prahàịa-màrga. Cũng gọi Diệt đạo, Đối trị đạo. Chỉ cho đạo có thể đoạn diệt hoặc chướng. Đoạn ở đây không phải chỉ là đoạn diệt hoặc chướng, mà còn có hàm nghĩa chế phục, chứng đắc. Trong 4 đạo: Gia hạnh, Vô gián, Giải thoát và Thắng tiến, thì đạo Vô gián được gọi là Đoạn đạo. Theo luận Câu xá thì Đoạn đạo là chỉ cho đạo Vô gián hữu lậu và vô lậu, Kiến đạo chỉ là vô lậu, còn Tu đạo thì chung cả hữu lậu và vô lậu. Luận Câu xá quyển 17 (Đại 29, 91 thượng), nói: Đạo có năng lực chứng đoạn và đoạn hoặc, cho nên gọi là Đoạn đạo, tức là đạo Vô gián. Đoạn tức là chứng được trạch diệt, đoạn hết phiền não mà hiển bày rõ lí; còn Đoạn hoặc tức là đoạn trừ phiền não. Bởi vì đạo Vô gián vừa đoạn trừ được phiền não trói buộc, lại vừa chứng được pháp bị trói buộc là trạch diệt, cho nên gọi là Đoạn đạo. Nhưng với đạo Giải thoát thì chỉ cần chứng chứ không cần đoạn. Đoạn của đạo hữu lậu có 5 quả: Dị thục, Đẳng lưu, Li hệ, Sĩ dụng và Tăng thượng; Đoạn của đạo vô lậu không mang lại quả Dị thục nên chỉ có 4 quả. Lại theo luận Câu xá quang kí thì đoạn của Đoạn đạo có 2 nghĩa: đoạn của sở chứng và đoạn của năng trừ. Tông Duy thức thì nói đoạn có 3 nghĩa: 1. Không tiếp nối: Do đạo vô lậu đoạn trừ chủng tử không cho tiếp nối, lại do năng lực của đạo hữu lậu và vô lậu chế phục các hiện hành không cho tiếp nối. 2. Trừ hại: Do đạo vô lậu đoạn trừ chủng tử của phiền não chướng và sở tri chướng, đồng thời, nhờ công năng của đạo hữu lậu và vô lậu ngăn chặn sự hiện hành của 2 chướng, không cho sinh khởi. 3. Không sinh: Thể tính có năng lực làm chướng ngại các pháp, không cho sinh khởi. Ngoài ra, Đoạn đạo và Phục đạo khác nhau ở chỗ: Đoạn đạo có khả năng dứt hẳn tùy miên của 2 chướng phiền não và sở tri; Đoạn đạo không chung cho đạo hữu lậu và trí gia hạnh. Còn Phục đạo thì có khả năng chế phục tùy miên của 2 chướng làm cho thế lực của chúng không khởi hiện hành; Phục đạo chung cho cả đạo hữu lậu, đạo vô lậu và 3 trí gia hạnh, căn bản, hậu đắc, do đó tùy theo sự tu hành mà Phục đạo có thể dần dần hay tức khắc đoạn trừ được hoặc chướng. Tông Duy thức cho rằng đạo hữu lậu và trí gia hạnh chỉ có thể phục đạo chứ không thể đoạn đạo, còn đạo vô lậu và trí căn bản, trí hậu đắc thì vừa có thể phục đạo lại vừa có thể đoạn đạo. [X. luận Câu xá Q.22, Q.23, Q.24; luận Thành duy thức Q.10; Câu xá luận quang kí Q.22; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2 phần cuối]. (xt. Đoạn Hoặc).
đoạn đầu tội
6566請參閱 須真天子經即波羅夷罪。為戒律之根本極惡戒。指犯殺生、偷盜、邪淫、妄語等波羅夷罪之出家人,無分道果,必失其比丘、比丘尼資格,並自教團中被放逐,永棄於佛門之外;以此罪如同斷首之刑,故稱斷頭罪。〔四分律卷一〕(參閱「波羅夷」3442)
; The "lop off the head" sins, i.e. adultery, stealing, lying, sins which entail immediate exclusion from the order.
; Bốn tội dâm dục, trộm cắp, sát sanh, và vọng ngữ là những tội Ba La Di (parajika), tức là tội chém đầu. Tỳ Kheo phạm tội nầy là mất hết tư cách trong giáo đoàn, tựa như đã bị chém đầu, không thể sống lại được vậy—The “top off the head” sins, i.e. adultery, stealing, killing, lying, sins which entail immediate exclusion from the order.
; (斷頭罪) Tội bị chặt đầu. Tội cực ác căn bản trong luật, tức tội Ba la di. Chỉ cho người xuất gia phạm 4 tội Ba la di: giết hại; trộm cướp, dâm dục, nói dối. Người đã phạm tội này không thể chứng đạo quả, mất tư cách tỉ khưu, tỉ khưu ni và bị đuổi ra khỏi giáo đoàn. Vì phạm tội này giống như hình phạt chặt đầu nên gọi là Đoạn đầu tội. [X. luật Tứ phần Q.1]. (xt. Ba La Di).
đoạn đồ
6562謂禁絕屠殺畜類。史載我國斷屠之制,起於唐高祖。初斷屠殺以順節令,或於帝王生日下詔斷屠,以長福德。後佛法興隆,於齋月、齋日,帝王常下詔斷屠;斷屠日非唯不殺畜生,國亦不行刑。
; Trong các dịp lễ, cấm không được sát sanh thú vật—To prohibit butchering of animals, on special occasions.
; (斷屠) Tuyệt đối cấm giết súc vật. Ở Trung quốc, chế độ Đoạn đồ bắt đầu được đặt ra từ đời vua Cao tổ nhà Đường. Lúc đầu, Đoạn đồ được thực hành vào các dịp lễ tiết, hoặc ngày sinh của Hoàng đế, vua hạ lệnh cấm giết để tăng trưởng phúc đức. Về sau, Phật pháp hưng thịnh, vua thường hạ chiếu Đoạn đồ vào các ngày trai, tháng trai. Vào ngày Đoạn đồ chẳng những không giết hại súc vật mà trong nước cũng không thi hành án tử hình.
đoạn đức
Đoạn tận phiền não dục vọng và chứng nhập niết bàn vô thượng, một trong ba đức của Như Lai—The merit of cutting off all illusion and perfecting of supreme nirvana, one of the Buddha's three kinds of virtue—See Tam Đức (B) (2).
Đoạn 斷
[ja] ダン dan ||| (Skt. prahāna; Pali pahāna). (1) To eliminate (permanently); to cut off, to sever, to destroy, to end. When used in combination with the term 對冶, 斷 usually refers to the objective elimination of afflictions, whereas 對冶 refers to the subjective practices/practitioner. 〔二障義 HPC 1.804c〕(2) To end evil. To destroy delusions; to sever affliction. (3) To decide; definitely. (4) A reference to the term 斷見. (s: prahāna; p: pahāna) => 1. Loại trừ (vĩnh cữu); cắt đứt, cắt rời, tiêu trừ, chấm dứt. Khi dùng chung với thuật ngữ Đối trị 對冶, Đoạn thường được đề cập đến đối tượng phiền não được đoạn trừ ; trong khi đó, Đối trị đề cập đến người đoạn trừ phiền não . 2.Đình chỉ việc ác. Tiêu trừ sự si mê; cắt đứt phiền não. 3.Quyết định; dứt khoát.
đoạt
See Đoạt Lấy.
đoạt hồn quỷ
5782十王經所說三鬼之一。即人將死時,奪其魂之鬼。據地藏菩薩發心因緣十王經載,閻魔法王有閻魔卒,一名奪魂鬼,二名奪精鬼,三名縛魄鬼。
; Loại quỷ đi thu hồn người sắp chết (còn hai loại quỷ nữa là “đoạt tinh quỷ” và “phược phách quỷ”)—A demon that carries off the soul.
; (奪魂鬼) Một trong 3 loài quỉ nói trong kinh Thập vương. Loài quỉ này cướp lấy hồn của người sắp chết. Kinh Địa tạng bồ tát phát tâm nhân duyên thập vương nói, Diêm ma pháp vương có 3 loài quỉ dưới quyền là: Đoạt hồn quỉ, Đoạt tinh quỉ (quỉ ăn tinh khí) và Phược phách quỉ (quỉ bắt phách người).
đoạt lấy
Giựt lấy bằng vũ lực—To take by force—To snatch—To seize.
Đoạt nhất thiết chúng sinh tinh khí 奪一切衆生精氣
[ja] ダツイッサイシュウジョウショウキ Datsu issai shūjō shōki ||| Sarvasattvojahārī. One of the ten rākṣasīs who protect the dharma in the Lotus Sutra. See 十羅刹女. 〔法華經 T 262.9.59a25〕 => (s: Sarvasattvojahārī). Một trong 10 loại La-sát nữ (s: rākṣasīs) hộ pháp trong kinh Pháp Hoa. Xem Thập La-sát nữ.
đoạt tinh quỷ
5782十王經所說三鬼之一。即人將死時,奪其精氣之惡鬼。
; Loại quỷ đi thu tinh linh của người sắp chết—A demon that carries off the vital breath of the dying.
; (奪精鬼) Loài ác quỉ hút lấy tinh khí của người sắp chết. Là một trong 3 thứ quỉ nói trong kinh Thập vương.
đoạt y bà
5782爲傳說中在葬頭河邊奪取死者衣服之鬼婆。又作脫衣婆、奪衣鬼、葬頭河婆、懸衣嫗。據地藏菩薩發心因緣十王經載,死者赴冥土三途中,於葬頭河畔之衣領樹下,行將渡河時,奪衣婆必將罪人衣服卸下,交予樹上之懸衣翁,懸衣翁將衣掛於樹枝上,即可秤量罪之輕重。傳說奪衣婆身長十六丈,眼如車輪。世所流布之像,手執衣,坐於河邊,作醜惡之相。
; (奪衣婆) Cũng gọi Thoát y bà, Đoạt y quỉ, Táng đầu hà bà, Huyền y ẩu. Quỉ bà ở ven sông Táng đầu cướp lấy quần áo của người chết. Cứ theo kinh Địa tạng bồ tát phát tâm nhân duyên thập vương chép, thì người chết xuống cõi U minh (âm phủ), đi đến gốc cây Y lãnh (cây nhận áo) bên bờ sông Táng đầu, lúc sắp qua sông thì Đoạt y bà lột hết quần áo của tọi nhân đem giao cho Huyền y ông ở trên cây, Huyền y ông treo áo ấy lên cành cây để cân xem tội của người chết nặng hay nhẹ. Theo truyền thuyết, Đoạt y bà thân cao 16 trượng, mắt to bằng bánh xe. Tượng của Đoạt y bà tay cầm áo, ngồi bên bờ sông, hình tướng xấu ác.
Đoạt 奪
[ja] ダツ datsu ||| (1) To snatch, to grasp, to take away. To settle, to decide. To surpass. (2) To determine, to decide. (3) To deny, to negate. => 1. Nắm lấy, giữ lấy, lấy đi. Dàn xếp, quyết định. Vượt trội hơn. 2. Quyết định, định đoạt. 3. Từ chối, phủ nhận.
đoản trường
Short and long.
đua tranh
To compete.
đua tài
To compete with someone in talent.
đua đòi
To imitate.
đuốc
Torch.
đuốc huệ
Xem Huệ cự.
đuổi
To drive someone out—To dismiss—To discharge—To expel.
đà
5707悉曇字麨(dha)。悉曇五十字門之一,四十二字門之一。又作馱、陀、拕、達、曇、彈。瑜伽金剛頂經釋字母品(大一八‧三三八下):「馱字門,一切法界不可得故。」摩訶般若波羅蜜經卷六(大八‧二五六上):「馱字門,入諸法性不可得故。」蓋梵語 dharma-dhātu 爲法界之義,梵語 dharmatā 爲法性之義,皆以 dha 爲首,故有此說。依之,古來稱此字爲法界之馱字。又於方廣大莊嚴經卷四示書品、文殊師利問經卷上字母品舉出七聖財(梵 dhanamāryāṇāṃ saptavidhaṃ)之義,於舊華嚴經卷五十七則有圓滿法聚(梵 dharma-maṇḍala)之義。〔大日經卷二具緣品、放光般若經卷四陀鄰尼品、大日經疏卷七〕
; (馱) Chữ Tất đàm (dha). Một trong 50, một trong 42 chữ cái Tất đàm. Cũng gọi Đạt, Đàm, Đàn. Du già kim cương đính kinh phẩm Thích tự mẫu (Đại 18, 338 hạ), nói: Chữ Đà nghĩa là tất cả pháp giới bất khả đắc. Kinh Ma ha bát nhã ba la mật quyển 6 (Đại 8, 256 thượng), nói: Chữ Đà nghĩa là vào các pháp tính bất khả đắc. Bởi vì tiếng Phạmdharma-dhàtu nghĩa là pháp giới vàdharmatànghĩa là pháp tính đều lấy dha làm đầu, cho nên có sự giải thích này. Do đó, xưa nay mới gọi chữ Đà này là chữ Đà pháp giới. Ngoài ra, kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 phẩm Thị thư và kinh Văn thù sư lợi vấn quyển thượng phẩm Thích tự mẫu thì giải nghĩa là Thất thánh tài (Phạm: dhanam àryàịàm saptavidhao). Còn kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 57 thì giải nghĩa là viên mãn pháp tụ (Phạm: dharma-maịđala). [X. kinh Đại nhật Q.2 phẩm Cụ duyên; kinh Phóng quang bát nhã Q.4 phẩm Đà lân ni; Đại nhật kinh sớ Q.7].
; (佗) Chữ Tất đàm (rtha). Một trong 42 chữ cái Tất đàm. Cũng gọi Tha, Y đà, Lạt tha, Ra tha, Trá ha, Hạt la đa, Hạt ra đa. Luận Đại trí độ quyển 48 phẩm Quảng thừa, kinh Phóng quang bát nhã quyển 4 phẩm Đà lân ni, kinh Đại bát nhã quyển 415 phẩm Niệm trụ đẳng v.v... đều giải nghĩa là bất khả đắc (chẳng thể được) vì tiếng Phạmartha (dịch là ý nghĩa, nghĩa lí) hàm có chữ này. Kinh Quang tán bát nhã quyển 7 phẩm Quán giải là nắm giữ điều đạt được. Kinh Hoa nghiêm quyển 31 phẩm Phổ hiền hành nguyện thì giải là đèn trí tuệ không ta không người làm lợi ích chúng sinh. [X. kinh Đại bát nhã Q.490 phẩm Thiện hiện; kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm phẩm Nhập pháp giới Tứ thập nhị tự quán môn; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.89].
đà bà
Dabba Mullaputta (P), Draya Mallaputra (S)Tên một đệ tử của Phật Xem Thực thể.
đà diễn na
Xem Tư duy tu.
; Tĩnh Lự—See Dhyana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đà kỳ ni
Xem Đồ cát ni.
đà la
Tara (skt). 1) Ngôi sao—Star. 2) Chiếu sáng: Shining—Radiating. 3) Một vị Thần Nữ: A female deity.
đà la bồ tát
Xem Đa la Bồ tát.
đà la kinh bị
3608又作陀羅尼經被。於清代,當王或大臣薨,帝賜此被;被以白綾製成,上印藏文佛經,字作金色,稱爲陀羅經被。
; (陀羅經被) Áo đà la kinh. Cũng gọi Đà la ni kinh bị. Áo được may bằng lụa trắng mỏng, trên áo in kinh Phật bằng tiếng Tây tạng, chữ mầu vàng ròng, gọi là áo Đà la kinh. Ở đời Thanh, khi Vương hầu hoặc đại thần chết thì Hoàng đế ban cho áo này.
đà la la
Tên của một vị Tiên—Name of a rsi.
đà la na
Tên của một loại quỷ Dạ Xoa—Name of a yaksa.
đà la ni
3607梵語 dhāraṇī 之音譯。又作陀憐尼。意譯總持、能持、能遮。即能總攝憶持無量佛法而不忘失之念慧力。換言之,陀羅尼即爲一種記憶術。大智度論卷五、佛地經論卷五載,陀羅尼爲一種記憶術,即於一法之中,持一切法;於一文之中,持一切文;於一義之中,持一切義;故由記憶此一法一文一義,而能聯想一切之法,總持無量佛法而不散失。陀羅尼能持各種善法,能遮除各種惡法。蓋菩薩以利他爲主,爲教化他人,故必須得陀羅尼,得此則能不忘失無量之佛法,而在眾中無所畏,同時亦能自由自在的說教。有關菩薩所得之陀羅尼,諸經論所說頗多。及至後世,因陀羅尼之形式,類同誦咒,因此後人將其與咒混同,遂統稱咒爲陀羅尼。然一般仍以字句長短加以區分,長句者爲陀羅尼,短句者爲真言,一字二字者爲種子。 關於陀羅尼之種類,依大智度論卷五、卷二十八載,陀羅尼分爲四類:(一)聞持陀羅尼,得陀羅尼者耳聞之事不忘。(二)分別知陀羅尼,能區別一切邪正、好醜之能力。(三)入音聲陀羅尼,聞一切言語音聲,歡喜而不瞋。(四)字入門陀羅尼,聽聞阿羅波遮那等四十二字門,即可體達諸法實相;蓋以悉曇四十二字門總攝一切言語之故。上述之前三者稱爲「三陀羅尼」。 瑜伽師地論卷四十五舉出四陀羅尼:(一)法陀羅尼,能記憶經句不忘。(二)義陀羅尼,能理解經義不忘。(三)咒陀羅尼,依禪定力起咒術,能消除眾生之災厄。(四)忍陀羅尼,通達諸法離言之實相,了知其本性,忍法性而不失。有關修得此四陀羅尼之法,詳載於大乘義章卷十一。 天台宗據法華經普賢菩薩勸發品之說,立有:旋陀羅尼、百千萬億旋陀羅尼、法音方便陀羅尼等三陀羅尼,而以之配於空、假、中三觀。 咒,名爲陀羅尼,故對經、律、論之三藏而言,集聚咒之記錄,稱作陀羅尼藏、明咒藏、祕藏等。乃五藏之一。基於此之陀羅尼,有大隨求陀羅尼、佛頂尊勝陀羅尼等,以及應不同諸尊之特殊修法,依修法之目的而誦相應之陀羅尼。此外,密教中,於供養祖師或祈亡者冥福之法會,誦持尊勝陀羅尼,稱爲陀羅尼會、陀羅尼講會。〔賢愚經卷十阿難總持品、大寶積經卷四無上陀羅尼會、卷一一五無盡菩薩會、海龍王經卷二總持門品、總釋陀羅尼義讚、慧苑音義卷一〕
; Dhāraṇī (S), Darani (J)Tổng trì, Năng trì, Năng giàCó nhiều câu thì gọi là Chân ngôn (Dharani), nếu chỉ một câu gọi là Chú (Mantra). Man trà la (ý mật) cùng với thần chú (dharini) là ngữ mật và ấn là thân mật nếu được khéo học và thực hành thì hành giả sẽ là một với chư Phật., thân ngữ ý mình là thân ngữ ý của chư Phật. - Chân ngôn có 5 loại: Như Lai chân ngôn, Bồ tát chân ngôn, Kim Cang chân ngôn: chân ngôn bậc thánh. Nhị thừa chân ngôn, chư thiên chân ngôn: chân ngôn bậc thần. - Chân ngôn có 4 pháp: Tiêu tai, Hàng phục, Nhiếp triệu và Tăng ích. - Chân ngôn có 3 loại: Nhiều chữ gọi là Đà la ni (Dharani), một chữ gọi là chân ngôn, không chữ gọi là Thật tướng.
; Dharani, mantra, magical words.
; Dharani (skt)—Đà La Na—Đà Lân Ni. (A) Nghĩa của Đà La Ni—The meanings of Dharani: 1) Trì giữ, tổng trì hay bảo tồn huệ lực và trí lực, không để cho thiện pháp bị tán loạn, ngăn che không cho các ác pháp tăng trưởng: Maintain or preserve the power of wisdom or knowledge. Able to hold on of the good so that it cannot be lost, and likewise of the evil so that it cannot arise. 2) Những phương thức nguyện cầu bí mật, thường bằng Phạn ngữ, tìm thấy sớm nhất ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ ba sau Tây Lịch; chúng là một phần của Đà La Ni Tạng của Du Già hay Mật Giáo: Magical formulas, or mystic forms of prayer, or spells of Tantric order, often in Sanskrit, found in China as early as the third century A.D.; they form a portion of the Dharanipitaka; made popular chiefly through the Yogacarya or esoteric school. 3) Đà La Ni, đặc biệt Chú Đà La Ni được nhấn mạnh bởi trường phái Chân Ngôn: Dharani: Dharani, especially mantra or spell, is emphasized by the Shingon sect. (B) Phân loại Đà La Ni—Categories of Dharanis: Có bốn loại—There are four divisions of dharanis: 1) Pháp Đà La Ni: Văn Đà La Ni—Nghe giáo pháp của Phật liền giữ gìn không quên—Able to Hear and maintain the Buddha's teaching without any retrogression. 2) Nghĩa Đà La Ni: Nhớ nghĩa các Pháp mà không quên—Able to remember the meanings of all dharmas without forgetting. 3) Chú Đà La Ni: Nhớ tất cả những câu chú bí mật được chư Phật và chư Bồ Tát truyền lại hầu giúp các bậc tu hành trừ khử mọi ác pháp (đây là những câu nói bí mật phát ra từ sự tu thiền định của chư Phật và chư Bồ Tát)—Able to remember all mystic or tantric dharanis from the Buddhas and Bodhisattvas which help cultivators eliminate the evil. 4) Nhẫn Đà La Ni: Luôn nhẫn nhục đối với thực tướng của chư pháp, và luôn an trụ sao cho thân tâm không bị xao động—Able to be patient to all things, and not to let body and mind to be stirred.
; (陀羅尼) Phạm: Dhàranì. Cũng gọi Đà lân ni. Dịch là Tổng trì, Năng trì, Năng già. Tức là sức trí tuệ có thể tóm thu, gìn giữ vô lượng Phật pháp không để quên mất. Nói cách khác, Đà la ni là một thuật ghi nhớ. Luận Đại trí độ quyển 5 và Phật địa kinh luận quyển 5 cho rằng, Đà la ni là một phương pháp ghi nhớ, tức là trong một pháp nắm giữ tất cả pháp, trong một lời nắm giữ tất cả lời, trong một nghĩa nắm giữ tất cả nghĩa; do đó, từ sự ghi nhớ một pháp một lời một nghĩa ấy mà có thể liên tưởng đến hết thảy pháp, tóm thu nắm giữ vô lượng Phật pháp không để mất mát. Đà la ni còn có năng lực giữ gìn các pháp lành, ngăn ngừa các pháp ác. Vì Bồ tát lấy việc lợi tha làm gốc, cần giáo hóa người khác nên phải chứng được Đà la ni, chứng được Đà la ni mới không quên mất vô lượng Phật pháp, nhờ thế, khi ở giữa chỗ đông người mà không sợ hãi, vẫn có thể nói pháp một cách tự do tự tại. Về Đà la ni do Bồ tát chứng đắc, các kinh luận bàn đến rất nhiều. Đời sau, vì hình thức Đà la ni giống như chú tụng nên lẫn lộn chú với Đà la ni, rồi gọi chung chú là Đà la ni. Tuy nhiên, thông thường vẫn căn cứ theo câu chữ dài hay ngắn để phân biệt: Câu dài là Đà la ni, câu ngắn là chân ngôn (chú), một hoặc hai chữ là chủng tử. Theo luận Đại trí độ quyển 5, quyển 28, thì Đà la ni có bốn loại: 1. Văn trì đà la ni: Người được Đà la ni đã nghe các pháp thì không quên nữa. 2. Phân biệt tri đà la ni: Có năng lực phân biệt tất cả việc tà, chính, tốt, xấu. 3. Nhập âm thanh đà la ni: Nghe tất cả âm thanh ngôn ngữ đều vui vẻ, không tức giận. 4. Tự nhập môn đà la ni: Nghe 42 chữ cái như a, la, ba, giá, na v.v... có thể thấu suốt thực tướng các pháp, bởi vì 42 chữ cái Tất đàm tóm thu tất cả ngôn ngữ. Ba loại Đà la ni trước (1, 2, 3) gọi là Tam đà la ni. Luận Du già sư địa quyển 45 nêu ra bốn loại Đà la ni: 1. Pháp đà la ni: Có khả năng ghi nhớ các câu kinh không quên. 2. Nghĩa đà la ni: Có thể hiểu nghĩa kinh không quên. 3. Chú đà la ni: Nương vào sức thiền định mà phát khởi chú thuật để tiêu trừ tai ách cho chúng sinh. 4. Nhẫn đà la ni: Thông suốt thực tướng các pháp vốn lìa nói năng, an trụ nơi pháp tính không quên mất. Về phương pháp tu chứng bốn Đà la ni trên đây đã được nói rõ trong Đại thừa nghĩa chương quyển 11. Tông Thiên thai căn cứ theo nội dung của phẩm Phổ hiền bồ tát khuyến phát trong kinh Pháp hoa mà lập ba loại Đà la ni: Toàn đà la ni, Bách thiên vạn ức toàn đà la ni và Pháp âm phương tiện đà la ni, rồi đem phối với ba pháp quán Không, Giả, Trung. Chú cũng gọi là Đà la ni. Bộ phận ghi chép các chú trong ba tạng, gọi là Đà la ni tạng, một trong năm tạng. Ngoài ra, trong Mật giáo, pháp hội cúng dường Tổ sư hoặc cầu siêu cho các vong linh tụng trì đà la ni Tôn thắng, gọi là Đà la ni hội, Đà la ni giảng hội. [X. kinh Hiền ngu Q.10 phẩm A nan tổng trì; kinh Đại bảo tích Q.4 hội Vô thượng đà la ni, Q.115 hội Vô tận bồ tát; kinh Hải long vương Q.2 phẩm Tổng trì môn; Tổng thích đà la ni nghĩa tán; Tuệ uyển âm nghĩa Q.1].
đà la ni bát kinh
Dhāraṇīpada (S)Tên một bộ kinh.
đà la ni bồ tát
Dharani-Bodhisattva (skt)—Vị có đại lực hộ trì và cứu độ chúng sanh—One who has great power to protect and save.
đà la ni hình
3607指如來萬德輪圓具足之總持身。大日經疏卷十八(大三九‧七六七下):「陀羅尼形者,謂總束真言輪而以爲身,即成普門身也。」
; (陀羅尼形) Là thân tổng trì tròn đủ muôn đức của Như lai. Đại nhật kinh sớ quyển 18 (Đại 39, 767 hạ) nói: Đà la ni hình là tóm thu hết chân ngôn luân mà làm thân để thành tựu thân phổ môn.
đà la ni phiêu
Dravya (skt)—Thắng Luận thành lập thực pháp của cửu đại đất, nước, lửa, gió, không, thời, phương, thần (nghĩa), và ý—The nine “substances” in the Nyaya philosohy, earth, water, fire, air, , ether, time, space, soul, and mind.
đà la ni phật đảnh
Unisha Vijaja Dharani—See Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni in Vietnamese-English Section.
đà la ni tạp tập
3608請參閱 陀羅尼雜集 凡十卷。撰者不詳。又稱陀羅尼集、雜咒集。收於大正藏第二十一冊。本書集錄諸經中之陀羅尼,並載其受持功德。卷一收集神咒十五首,卷二集神咒十八首,卷三集神咒十一首及諸菩薩天王龍王發願偈,卷四集神咒二十一首,卷五集神咒二十七首,卷六集神咒二十二首、三衣應器錫杖坐具等之受持文及五戒神、三歸神、護僧伽藍神等神名,卷七集神咒六十六首,卷八集神咒十九首,卷九集神咒十首及觀佛三昧觀四威儀品中之文,卷十集神咒三十首。〔歷代三寶紀卷十三、開元釋教錄卷二十〕
; (陀羅尼雜集) Gồm 10 quyển. Không rõ soạn giả. Cũng gọi là Đà la ni tập, Tạp chú tập. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Sách này thu chép đà la ni trong các kinh và nói về công đức thụ trì các đà la ni ấy. Nội dung gồm thu: - Quyển 1: 15 bài thần chú. - Quyển 2: 18 bài thần chú. - Quyển 3: 11 bài thần chú và những bài kệ phát nguyện của các vị Bồ tát, Thiên vương, Long vương. - Quyển 4: 21 bài thần chú. - Quyển 5: 27 bài thần chú. - Quyển 6: 22 bài thần chú, văn nhận giữ ba áo, bình bát, tích trượng, tọa cụ và tên các vị thần như: Thần thủ hộ người giữ năm giới, thần ủng hộ người nhận ba qui y, thần giữ gìn tăng già lam v.v.. - Quyển 7: 66 bài thần chú. - Quyển 8: 19 bài thần chú. - Quyển 9: 10 bài thần chú và lời văn trong phẩm Quán tứ uy nghi của Tam muội quán Phật. - Quyển 10: 30 bài thần chú. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.13; Khai nguyên thích giáo lục Q.20].
đà la ni tập kinh
Du Già Sư Địa Luận—Của ngài Vô Trước, sơ tổ của tông Du Già—Attributed to Asanga, founder of the Buddhist Yoga school.
đà la phiếu
3608梵名 Dravya,巴利名 Dabba。又作陀婆、陀驃、蹹臈驃、達羅弊。全稱達羅弊夜摩羅弗多囉(梵 Dravya-malla-putra,沓婆摩羅子、闥婆摩羅子、陀羅婆摩羅),或陀驃摩羅子(巴 Dabba Mallaputta),即陀驃力士子、實力士。乃佛弟子之一。據五分律卷三所載,師年十四出家,十六歲證阿羅漢,得六神通,二十歲受具足戒,至王舍城詣佛,爲眾僧分臥具、飲食,時有慈(梵 Mettiya)、地(梵 Bhummajaka)二比丘因常得粗惡之食物而誹謗陀婆,陀婆不爲誹言所動,終得佛之信任。另據雜阿含經卷十六、增一阿含經卷三弟子品等所載,陀羅驃尊者能爲大眾修造供具,並能安造房舍,興建招提僧坊。有部毘奈耶卷十三則以師爲波波國大臣勝軍之子,因其天然淨潔,故名爲實力士。〔雜阿含經卷三十六、阿羅漢具德經、雜寶藏經卷上、四分律卷四、卷十二、十誦律卷四、卷十〕
; (陀羅驃) Phạm:Dravya, Pàli: Dabba. Cũng gọi Đà bà, Đà phiếu, Đạp lạp phiếu, Đạt la tệ. Gọi đủ là: Đạt la tệ dạ ma la phất đa ra (Phạm: Dravya-malla-putra), Đạp bà ma la tử, Thát bà ma la tử, Đà la bà ma la, hoặc Đà phiếu ma la tử (Pàli: Dabba Mallaputta), tức là Đà phiếu lực sĩ tử, Thực lực sĩ. Một trong những vị đệ tử của đức Phật. Cứ theo luật Ngũ phần quyển 3 chép, thì sư xuất gia năm 14 tuổi, 16 tuổi chứng A la hán, được sáu thần thông, năm 20 tuổi thụ giới Cụ túc, đến thành Vương xá kính lễ Phật. Đức Phật giao cho sư giữ nhiệm vụ phân phối đồ nằm, thức ăn uống cho chúng tăng. Bấy giờ có hai vị tỉ khưu tên Từ (Phạm: Mettiya) và Địa (Phạm: Bhummajaka) vì thường nhận được thức ăn kém nên phỉ báng sư, nhưng không vì thế mà sư chán nản. Theo kinh Tạp a hàm quyển 16 và kinh Tăng nhất a hàm quyển 3 phẩm Đệ tử, thì tôn giả Đà la phiếu hay sắm sửa các thứ cúng dường, làm phòng xá cho chúng tăng và kiến tạo nơi nghỉ cho chư tăng từ bốn phương (chiêu đề tăng). Còn Hữu bộ tì nại da quyển 13 thì cho biết sư là con trai của Đại thần Thắng quân ở nước Ba ba, vì thiên tính của sư thanh khiết nên gọi là Thực lực sĩ. [X. kinh Tạp a hàm Q.36; kinh A la hán cụ đức; kinh Tạp bảo tạng quyển thượng; luật Tứ phần Q.4, Q.12; luật Thập tạng Q.4, Q.10].
đà la phiền
Xem Thực thể.
đà lịch quốc
3607陀歷,梵名 Darada。又作陀羅陀、捺羅泥、捺羅那、達羅陀。北印度古國名。高僧法顯傳載此國有眾僧學小乘。並有彌勒大像,此像係昔時一羅漢以神力率巧匠三度上兜率天,觀彌勒菩薩之貌,返回後,即刻木造彌勒像,長八丈,足趺八尺,齋日常放光明。關於此國之領域,英國史坦因(A. Stein)謂即希臘史學家希羅多德所稱之達地凱(Dadicae),西北由契特拉(Chitral)、雅辛(Yasin)以迄印度河之吉耳吉特(Gilgit)及契拉斯(Chilas)、邦吉(Bunji),東南接迦濕彌羅北部。〔方廣大莊嚴經卷四示書品、佛本行集經卷十一習學技藝品、普曜經卷三現書品、歷代三寶紀卷二、大唐西域記卷三烏仗那國條、A. Stein: Rājataraṅgiṇī,vol. I; A. Cunningham: Ancient Geography of India〕
; (陀曆國) Đà lịch, Phạm:Darada. Cũng gọi Đà la đà, Nại la nê, Nại la na, Đạt la đà. Tên một nước xưa ở Bắc Ấn độ. Cao tăng Pháp hiển truyện nói, nước này chúng tăng học toàn Tiểu thừa và có pho tượng bồ tát Di lặc rất lớn. Tượng này thời xưa do một vị La hán dùng sức thần thông đưa người thợ giỏi lên cung trời Đâu suất ba lần xem hình tướng bồ tát Di lặc, sau khi trở về, người thợ khắc tượng Di lặc bằng gỗ, cao 8 trượng, mu bàn chân 8 thước, vào các ngày trai, tượng này thường chiếu ánh sáng. Về vị trí của nước này, A. Stein, nhà khảo cổ người Anh, bảo chính là vùng mà nhà sử học Hi la đa đức (người Hi lạp) gọi là Dadicae, phía tây bắc từ Chitral, Yasin cho đến Gilgit, Chilas, Bunji của sông Ấn độ (Indus), phía đông nam tiếp giáp với bắc bộ Kashmir. [X. kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4 phẩm Thị thư; kinh Phật bản hạnh tập Q.11 phẩm Học tập kĩ nghệ; kinh Phổ diệu Q.3 phẩm Hiện thư; Lịch đại tam bảo kỉ Q.2; Đại đường tây vực kí Q.3 Ô trượng na quốc điều; A. Stein: Ràjataraígiịì, vol.I; A. Cunningham: Ancient Geography of India].
đà ma nan đề
Dharmanandi (S)Tên một vị sư.
đà na
1) Tĩnh Lự: See Dhyana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 2) Phú Đơn Na: Putana (skt)—A female demon—See Bố Đan Na and Phú Đơn Na. 3) Bố Thí: Dana (skt)—Ba La Mật đầu tiên trong lục Ba La Mật—Bestow—Alms, the first of the six paramitas—See Đàn Na.
đà na bà
Danavat (skt)—Tên của một loại trời—Name of a god.
đà na bát để
Danapati (skt)—Đàn Na Thí Chủ—Người bố thí—Almsgiver.
đà na diễn na
Tĩnh Lự—See Dhyana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đà na già tha
Danagatha or Daksinagatha (skt)—Lời khẩn nguyện của người bố thí—The verse or utterance of the almsgiver.
đà na yết cạch ca quốc
5707馱那羯磔迦,梵名 Dhanakaṭaka。又作大安達邏國。乃南印度之古國名。大唐西域記卷十(大五一‧九三○下):「荒野多,邑居少。(中略)伽藍鱗次,荒蕪已甚,存者二十餘所,僧徒千餘人,並多習學大眾部法。天祠百餘所,異道寔多。」城東之山有一伽藍,名爲弗婆勢羅,即東山僧伽藍,爲小乘二十部之東山住部(巴 Pubbaselika);同一地方之西爲阿伐羅勢羅僧伽藍,即西山僧伽藍,乃西山住部(巴 Aparaselika)。城南有一山巖,爲清辨論師住阿素洛宮待見彌勒菩薩成佛之處。此國自古以來盛行密咒。〔西藏傳印度佛教歷史卷上、解說西域記〕
đà na yết kiệt (trách) ca
Dhanakataka or Amaravati (skt)—Một vương quốc cổ nằm về phía đông bắc của khu vực mà bây giờ người ta gọi là “Madras”—An ancient kingdom in the north-east of modern Madras presidency.
đà na yết trách ca quốc
(馱那羯磔迦國) Đà na yết trách ca, Phạm: Dhanakaỉaka. Cũng gọi Đại an đạt la quốc. Tên một nước xưa ở Nam Ấn độ. Đại đường tây vực kí quyển 10 (Đại 51, 930 hạ) nói: Nước này phần lớn đồng ruộng hoang vu, làng ấp thưa thớt. (...) Có nhiều chùa nhưng đa số đã hư nát hoang tàn, chỉ còn hơn 20 ngôi với khoảng nghìn vị tăng tu học theo giáo pháp của Đại chúng bộ. Hơn trăm đền thờ trời và rất nhiều đạo khác. Ở trong núi phía đông thành có một ngôi chùa tên là Phất bà thế la, tức chùa Đông sơn, là chùa chính của bộ phái Đông sơn trụ (Pàli: Pubbaselika), là một trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Về phía tây thành có chùa A phạt la thế la, tức chùa Tây sơn, là chùa chính của bộ phái Tây sơn trụ (Pàli: Aparaselika). Ở mạn nam thành có một hang núi, là cung A tố lạc, nơi mà luận sư Thanh biện ở để chờ được gặp bồ tát Di lặc thành Phật. Thời ngài Huyền trang đến đây, nước này rất thịnh hành Mật chú. [X. Tây tạng truyền Ấn độ Phật giáo lịch sử Q.thượng, Giải thuyết tây vực kí].
đà nam
Xem Tư duy tu.
; See Dhyana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đà nâu luận
Dhamur (S)Tên một bộ luận kinh Vệ đà.
đà phược nhã
Dhvaja (skt)—Cờ phướn—A flag.
đà sơn thạch quật
6200駝山位於山東雲門山之傍,其南面有大小石窟五座及摩崖一所,佛像共計六三八尊。第二、三窟完成於隋代,乃駝山石窟之主要特色所在,其他窟則較小,屬於隋唐時代。隋代所刻之二大洞窟為無比之傑作,其雕像極盡精緻,為隋代石佛中之代表作品。第一窟深約四公尺,廣約二點三公尺,於方座上,有本尊釋迦如來之坐像,高約一點二公尺,豐頰,衣紋雄勁。左右有兩羅漢,又左右兩壁有兩脅侍菩薩,高約一點四公尺,豐麗,衣紋優雅。又入口附近有兩菩薩、仁王,其他有四小龕。 第二窟為最優勝,廣約三公尺餘,高約四公尺餘,於正面中央圓座上,雕刻有本尊坐像,頭大手小,相好溫雅,衣紋簡單。左右兩壁有脅侍菩薩之立像,姿勢優美,衣紋俊挺,寶冠佩飾。又三面之壁上,雕有許多大小之佛菩薩、供養者、仁王等。 第三窟乃最大且最重要,入口廣約三點五公尺,中部廣約五點八公尺,深約七公尺餘,於正面方座上,有本尊釋迦如來之坐像,相好溫雅,面頰豐腴,衣紋簡素。左右有脅侍菩薩龕,菩薩戴寶冠,配玉佩,衣紋簡素。又於壁面雕刻千佛。 第四窟為廣、深、高皆約二公尺以上之佛龕,刻有中尊、兩菩薩、兩力士,壁面大小五龕,並雕刻甚多小佛,手法簡樸,然破損嚴重。摩崖分為二段,下段刻有五尊、一立佛、一小佛,上段刻有四小龕,手法古拙,且大半遭破壞。 第五窟方一點六公尺,正面有三尊像,其本尊相好優雅,另有四小佛,左右兩壁有大小佛龕。總之,駝山石窟為隋代造像之代表,亦為石窟藝術中之翹楚。
; (駝山石窟) Động đá núi Đà. Đà sơn ở bên cạnh núi Vân môn thuộc tỉnh Sơn đông, Trung quốc. Ở mặt nam của Đà sơn có năm hang động và một ma nhai, trong đó có 638 pho tượng. Các hang 1, 4, 5 tương đối nhỏ, thuộc thời đại Tùy, Đường, không có gì đặc sắc. Riêng hai hang 2, 3 lớn hơn, được khắc vào đời Tùy, là những hang động kiệt tác ở Đà sơn mà không một nơi nào sánh kịp. Những pho tượng ở đây được chạm trổ rất tinh vi, là những tác phẩm tiêu biểu cho tượng Phật bằng đá ở đời Tùy. Hang động thứ 1 sâu độ 4m, rộng khoảng 2.30m, có tượng đức Thích ca Như lai ngồi trên tòa hình vuông, tượng cao chừng 1.20 m, gương mặt tròn đầy, nếp áo cứng mạnh, có hai vị La hán đứng hầu hai bên. Trên vách động ở hai bên có khắc hai vị Bồ tát đứng hầu, tượng cao khoảng 1.40 m, nét mặt đẹp đẽ, nếp áo mềm mại. Gần cửa ra vào cũng có tượng của một vị Bồ tát, một vị Nhân vương. Ngoài ra còn có bốn khám thờ cỡ nhỏ. Hang động thứ 2 đẹp hơn cả, rộng chừng 3 m, cao hơn 4 m. Ở giữa hang động, chính diện, trên tòa tròn, khắc tượng Bản tôn ngồi, đầu to tay nhỏ, tướng đẹp, nhu hòa, nếp áo đơn giản, vách hai bên có chạm tượng Bồ tát đứng hầu, tư thế vững vàng, nếp áo mạnh mẽ, đội mũ báu. Còn trên vách ở ba mặt thì chạm trổ nhiều tượng Phật, Bồ tát lớn nhỏ, người cúng dường, Nhân vương v.v... Hang động thứ 3 lớn nhất và quan trọng nhất, cửa vào rộng khoảng 3.50 m, bộ phận bên trong rộng độ 5.80 m, sâu khoảng hơn 7 m, trên tòa hình vương, mặt chính, có tượng đức Bản tôn Thích ca ngồi, tướng đẹp, nhu hòa, gương mặt đầy đặn, nếp áo giản đơn. Tượng Bồ tát hầu hai bên được đặt trong khám thờ, đầu đội mũ báu, đeo ngọc, nếp áo mềm mại; còn trênmặt vách thì chạm trổ tượng nghìn đức Phật. Hang động thứ 4 là khám thờ Phật, bề rộng, bề sâu, chiều cao đều khoảng trên 2 m, có khắc tượng Trung tôn, hai vị Bồ tát, hai lực sĩ, trên mặt vách khắc năm khám thờ lớn nhỏ và rất nhiều tượng Phật nhỏ, thủ pháp chất phác, nhưng phần lớn đã bị hư hại. Ma nhai (sườn núi) chia làm hai phần: Phần dưới khắc năm pho tượng, một tượng Phật đứng, một tượng Phật nhỏ; phần trên thì khắc bốn khám nhỏ, thủ pháp cổ kính và quá nửa đã bị hư hoại. Hang động thứ 5 vuông vức, mỗi bề 1.60 m, mặt chính có tượng Tam tôn, pho ở giữa tướng rất đẹp, còn có bốn tượng Phật nhỏ và trên mặt vách ở hai bên có khắc khám Phật vừa lớn vừa nhỏ. Tóm lại, Đà sơn thạch quật là nghệ thuật tạo tượng tiêu biểu cho đời Tùy và cũng nổi bật nhất trong nghệ thuật về động đá.
đà thấp đa
3607梵名 Tvaṣṭṛ。爲印度婆羅門教之神名。係一手工藝人之神格化。其形像,手掄鐵(或鋼)斧。因其製造一切形像,賦予人及動物以外形,故被稱爲「一切形像」,且被尊爲人類之始祖,爲宇宙之主宰與保護者。其子爲名特利西羅斯(梵Tri-siras),三頭六目;其女名娑郎尤(梵 Saraṇyu),後生雙馬童。
; Tvastṛ (S)Vị thần Bà la môn giáo ở Ấn độ.
; (陀濕多) Phạm: Tvaṣṭṛ. Tên một vị thần của Bà la môn giáo ở Ấn độ, là người thợ thủ công được thần cách hóa. Hình tượng của vị thần này tay cầm búa sắt (hoặc búa gang). Vì thần này tạo ra tất cả hình tượng người và động vật, nên được gọi là Nhất thiết hình tượng. Hơn nữa, còn được tôn là Thủy tổ của loài người, là đấng chúa tể của vũ trụ, che chở muôn loài. Con trai của thần này tên Đặc lợi tây la tư (Phạm: Trisiras) có ba đầu sáu mắt, con gái là Sa lang vưu (Phạm: Saraịyu), sau sinh ra Song mã đồng.
đà tác ca
Dasaka (skt)—Kẻ nô lệ—A slave (người nữ nô lệ—A female slave or dasika).
đà đa kiệt đa
Như Lai—See Tathagata in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đà đô
Dhatu (skt)—See Giới in Vietnamese-English Section, and Dhatu in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đà đô pháp
5707馱都爲梵語 dhātu 之音譯,爲界、體、分之義。即以如意寶珠爲本尊,依之而觀其與行者本具之覺性同體無二,以祈現在、當來二世悉地成就之祕法。又稱如意寶珠法、舍利法。此爲日本東密最極深祕之法。修法時,以佛舍利等九種物作如意寶珠,以爲修法本尊之記。先於道場設壇,中心安置塔婆,其中安奉佛舍利之金壺。舍利表示理體胎藏界,塔婆表示智體金剛界,即詮顯理智和合、胎金不二之理。〔大日經疏卷六、卷七、御遺告(二十五箇條)東寺座主大阿闍梨耶可護持如意寶珠緣起卷二十四〕
; (馱都法) Đà đô. Phạm:dhàtu, nghĩa là giới, thể, phần. Tức là pháp bí mật dùng ngọc báu như ý làm bản tôn, dựa vào đó mà quán tưởng bản tôn và hành giả vốn đủ giác tính đồng thể chẳng hai để cầu thành tựu tất địa ở hiện tại và tương lai. Cũng gọi Như ý bảo châu pháp, Xá lợi pháp. Đây là pháp tu rất sâu xa kín nhiệm của Đông mật Nhật bản. Khi tu pháp này, dùng chín thứ vật như xá lợi Phật v.v... làm ngọc báu như ý tượng trưng bản tôn của pháp tu. Trước hết, lập đàn, giữa đàn đặt tháp, trong tháp để bình vàng có xá lợi của Phật. Xá lợi biểu thị lí thể của Thai tạng giới, tháp biểu thị trí thể của Kim cương giới, tức là hiển bày rõ cái lí: Lí, Trí hòa hợp, Thai, Kim chẳng hai. [X. Đại nhật kinh sớ Q.6, Q.7; Ngự di cáo (điều thứ 25) Đông tự tọa chủ Đại A xà lê da khả hoạch trì như ý bảo châu duyên khởi Q.24].
Đà-la-ni
陀羅呢; S: dhāraṇī; cũng được gọi theo nghĩa là Tổng trì (總持), có nghĩa là »thâu nhiếp tất cả«; |Câu kinh ngắn mang sức mạnh siêu nhiên. Ðà-la-ni có thể là đoạn kết một bộ kinh, cũng có thể đại điện một trạng thái tâm thức để khi hành giả niệm đến, có thể đạt đến tâm thức đó. Thông thường Ðà-la-ni dài hơn Man-tra.
Đà-la-phiêu
phiên âm từ Phạn ngữ là Dravya, dịch nghĩa là Chủ đế hay Sở y đế, là một trong lục đế của Thắng luận. Cũng dịch là Thực cú nghĩa, là thực pháp của 9 loại: đất, nước, gió, lửa, không, thời, phương, nghĩa và ý.
đài
1) Đài: A flat place—Platform—Terrace—Plateau. 2) Đài Hoa: Flower cup. 3) Đài Tưởng Niệm: Monument. 4) Đài Phát Thanh: Broadcasting station.
đài bá âm
Broadcasting station.
đài gia
Thiên Thai Gia—The school of the T'ien-T'ai mountain—See Thiên Thai Tông.
đài giáo
Thiên Thai Giáo—The school on the T'ien-T'ai mountain—See Thiên Thai Tông.
đài loan
Taiwan—Fermosa.
đài loan phật giáo
5902佛教之傳入臺灣,據史料所載,大約在明朝末年荷蘭統治時,隨漢族之移民,自福州傳入。然現代學者亦有主張,若以史實推論之,則自三國時代以降,隋煬帝、唐昭宗、北宋末期、南宋孝宗等,皆曾派兵或因戰亂而移民至臺灣、金門等地,故佛教信仰亦勢必隨之而傳播至臺灣。至鄭成功經營臺灣,佛教漸受重視。其子鄭經尤爲虔信,嘗建彌陀寺於東安坊,且延請僧侶主持之。 至清代,閩粵僧侶來臺者漸多,寺院亦漸次興起,較著名者有彌陀寺、竹溪寺、海會寺、法華寺、開元寺、超峰寺、凌雲寺、靈泉寺、龍湖岩等,迄今皆爲二、三百年之古剎。同時,大陸傳來之在家佛教齋教,如龍華派、先天派、金幢派等亦先後傳來,其中以龍華派傳來最早,時約乾隆(1736~1796)末年。當時之佛教活動已不得而知,惟緇衣大德中,以澄聲、照明、志願三人聲名最著。而在家居士之較著者多爲明末遺臣,以沈光文、李茂春、林英、張士螀、魯王女、鄭哲飛等人知名於世,開臺灣佛教在家學佛之先河。 日據時代,日本佛教亦挾其威勢相繼來臺,以臨濟宗、曹洞宗、天台宗、淨土宗、真宗本願寺派、真宗大谷派最盛;日本佛教徒視齋教爲同調,頗加獎掖。據林衡道所著「臺北市的寺廟」載,日據時代,僅就臺北而言,所建佛寺中,絕大多數皆屬齋教系統。而當時大陸傳來之出家佛教,則以與大陸隔離而呈現衰落現象,加上日本政府謹慎而緩慢的施行臺灣佛教日本化之計劃,遂使臺灣佛教漸受日本佛教同化,以比丘而娶妻茹葷者大有人在。民國五年(1916),善慧、德融等人在日本曹洞宗勢力之扶植下,創辦臺灣佛教中學與臺灣佛教青年會。民國十一年,善慧與本願組織南瀛佛教會(爲臺灣省佛教會之前身),並發行南瀛佛教月刊,刊行至臺灣光復爲止。此一刊物自創刊之後,皆採用中文,自民國十九年後,逐漸加入日文,又經若干時日,則已變成全部日文,此即日本欲將臺灣佛教日本化之一大例證。此外,覺力、本圓皆爲當時知名之僧。 民國三十四年,臺灣光復以後,善慧鑒於正是弘揚正法之機,乃組織臺灣佛教會,推舉本圓爲第一屆理事長。民國三十八年,大批僧侶隨政府遷臺,致使臺灣佛教起一大變化。首先,將臺灣佛教會改爲中國佛教會臺灣省分會,受中國佛教會之督導。自此,有關佛教之行政、文化慈善事業、佛教僧伽教育及社會教育、佛教之布教、寺院之興建,與國際佛教之聯繫等,均陸續開展。如妙果,首聘慈航來臺創辦臺灣佛學院。大醒繼之,於新竹青草湖靈隱寺設佛學講習會。其後有印順興辦佛學院。同時臺灣佛教、海潮音、中國佛教、佛教青年、今日佛教、菩提樹、法音、獅子吼、覺世、慈明、普門等雜誌亦相繼發行。至七十七年春止,登記發行之佛教雜誌,近百餘種。此外,翻印經典和譯介佛學名著之風漸盛,早期有東初發起影印日本大正藏之正續兩編。此外,四十四年自日本迎奉玄奘大師靈骨返臺,亦爲臺灣佛教界之一大盛事。其他如出國弘法、與泰國、緬甸等法典文物之交流、出席世界佛教徒友誼會、密教修持之提倡、念佛法門之倡導、僧尼戒律之弘傳、禪宗奧旨之闡揚,以至佛教圖書館、出版社、幼稚園、育幼院、養老院、診療所之設立、佛教新興道場之創建等,在在皆顯示臺灣佛教正在蓬勃發展中。 近十餘年來,星雲主持之佛光山尤爲臺灣新興佛教道場中之最著者,其分院遍佈全省各處及海外。他如臺灣中部有聖印之慈明寺及萬佛寺,弘法事業亦績效斐然。臺北松山寺、華嚴蓮社、善導寺等名剎,法務亦皆甚盛。佛學院方面,北部之中國內學院、華嚴專宗學院、能仁佛學院、蓮華學佛園、菩提佛學院、法藏佛學院、海明佛學院、福嚴佛學院、佛光山臺北女子佛學院、圓光佛學院,中部之中華佛教學院、佛光山福山佛學院、人乘學佛院,南部之香光尼眾佛學院、佛光山中國佛教研究院、東方佛教學院、開元禪學院、千佛山女子佛學院、淨覺佛學院等校,皆頗見成果。 在大專學佛運動方面,由於周宣德等慧炬雜誌社同仁之熱心倡導,亦已普及各大專院校。如大專院校之佛學社團,自四十九年四月臺灣大學創設「晨曦學社」以來,其他六十餘所院校亦紛紛設立佛學社團。另如暑期大專學生學佛之集會,有李炳南之佛學講座、懺雲之齋戒學會、佛光山之夏令營等,亦皆收效頗大。此外,高深之佛學研究單位,有中華佛學研究所、華梵佛學研究所、陽明山華岡之佛學研究所及佛教文化研究所、印度文化研究所、佛光山之佛學研究部等。華岡方面分別出版華岡佛學學報及佛教文化學報,佛光山則出版佛光學報,中華佛學研究所出版中華佛學學報,皆爲專門性之佛學研究刊物。大體而言,自一九七○年以來,臺灣佛教信徒之知識水準已有顯著之提高,弘法方式逐漸革新,佛教信仰亦日漸普及,頗有一番新興氣象。〔中國佛教史略(印順、妙欽)、中國佛教之近況(道安,海潮音第三十八卷第十一期、第十二期)、中國佛教之過去及現在(青松,海潮音第四十二卷第十一期、第十二期)、中國佛教史論集臺灣佛教篇(現代佛教學術叢刊(87))、中國佛教發展史第四篇第二章(中村元)〕
; (臺灣佛教) Cứ theo các sử liệu ghi chép thì vào khoảng những năm cuối đời Minh, Phật giáo đã do những di dân người Hán từ Phúc châu truyền vào Đài loan. Nhưng các học giả hiện đại cũng có người chủ trương, nếu theo sử thực mà suy, thì từ thời Tam quốc trở đi, Dạng đế nhà Tùy, Chiêu tông nhà Đường, cuối thời Bắc Tống, Hiếu tông nhà Nam Tống v.v... đều từng đã phái quân, hoặc do chiến loạn mà di dân đến Đài loan, Kim môn v.v... cho nên Phật giáo chắc hẳn cũng đã theo đó mà được truyền vào Đài loan. Đến khi Trịnh thành công mở mang đất Đài loan, Phật giáo đã dần dần được coi trọng. Nhất là đời con họ Trịnh là Trịnh kinh lại càng tin Phật giáo một cách thuần thành. Trịnh kinh đã xây cất chùa Di đà ở phường Đông an và thỉnh các sư trụ trì. Đến đời Thanh, các vị tăng từ Mân (Phúc kiến), Việt (Quảng đông) ra Đài loan càng lúc càng đông, các chùa viện cũng dần dần phát triển, trong đó có các chùa nổi tiếng như: Di đà, Trúc khê, Hải hội, Pháp hoa, Khai nguyên, Siêu phong, Lăng vân, Linh tuyền v.v... đều đã được kiến tạo từ hai, ba trăm năm nay. Đồng thời, các phái Phật giáo tại gia như: Long hoa, Tiên thiên, Kim chàng v.v... thuộc Trai giáo cũng lần lượt từ đất liền truyền đến, trong đó, phái Long hoa được truyền vào sớm nhất, tức khoảng cuối năm Càn long (1736-1796) đời Thanh. Những hoạt động của Phật giáo tại Đài loan vào thời ấy nay không được biết nhiều, duy trong giới xuất gia thì có ba vị Đại đức nổi tiếng hơn cả là các ngài: Trừng thanh, Chiếu minh và Chí nguyện. Giới cư sĩ phần nhiều là di thần cuối đời Minh, nổi tiếng thì có: Trầm quang văn, Lí mậu xuân, Lâm anh, Trương sĩ úc, Lỗ vương nữ, Trịnh triết phi v.v... là những người tại gia học Phật đầu tiên ở Đài loan. Trong thời kì Nhật bản chiếm cứ Đài loan, Phật giáo Nhật bản cũng được truyền đến Đài loan. Các tông: Lâm tế, Tào động, Thiên thai, Tịnh độ, phái chùa Bản nguyện và phái Đại cốc thuộc Chân tông v.v... đều rất thịnh. Tín đồ Phật giáo Nhật bản coi những người theo Trai giáo là bạn đồng tu nên rất khuyến khích và giúp đỡ. Theo cuốn Đài bắc thị đích tự miếu (Chùa miếu ở thành phố Đài bắc) của Lâm hành đạo thì trong thời kì Nhật chiếm cứ Đài loan, riêng ở Đài bắc phần lớn các chùa đều thuộc hệ thống Trai giáo tại gia. Còn Phật giáo xuất gia từ Trung quốc truyền đến lúc bấy giờ thì vì cách xa với đất liền nên gặp nhiều trở ngại. Thêm vào đó, thời ấy, chính phủ Nhật bản khôn khéo thi hành kế hoạch Nhật bản hóa Phật giáo Đài loan, đa số tỉ khưu lấy vợ, ăn mặn, nên Phật giáo xuất gia đã mau chóng rơi vào trạng huống suy vi. Năm Dân quốc thứ 5 (1916), các sư Thiện tuệ, Đức dung nhờ thế lực giúp đỡ của tông Tào động Nhật bản đã sáng lập trường Trung học Phật giáo Đài loan và hội Thanh niên Phật giáo Đài loan. Năm Dân quốc 11 (1922) các ngài Thiện tuệ và Bản nguyện tổ chức Hội Phật giáo Nam doanh (là tiền thân của Tỉnh hội Phật giáo Đài loan) và phát hành nguyệt san Phật giáo Nam doanh, đến khi Đài loan được giải phóng thì đình bản. Năm Dân quốc 34 (1945), sau khi Đài loan giành lại chủ quyền, ngài Thiện tuệ nhận thấy lúc này là cơ hội hoằng dương chính pháp, nên ngài thành lập Hội Phật giáo Đài loan, đề cử ngài Bản viên giữ chức Hội trưởng nhiệm kì đầu tiên. Năm Dân quốc 38 (1949), một số đông tăng sĩ từ Trung quốc ra Đài loan, khiến Phật giáo ở đây trải qua một cuộc thay đổi lớn lao. Trước hết, đổi Hội Phật giáo Đài loan làm Hội Phật giáo Trung quốc phân hội tỉnh Đài loan, dưới quyền lãnh đạo của Hội Phật giáo Trung quốc. Từ đó, nền hành chính của Phật giáo, sự nghiệp văn hóa, từ thiện, giáo dục tăng sĩ, giáo dục xã hội, truyền bá giáo nghĩa, xây dựng chùa viện, quan hệ với Phật giáo quốc tế... tất cả đều được mở rộng. Đầu tiên, ngài Từ hàng mở Phật học viện Đài loan; kế đến, ngài Đại tỉnh lập hội Giảng dạy và học tập Phật pháp ở chùa Linh ẩn tại hồ Thanh thảo thuộc Tân trúc. Sau đó, ngài Ấn thuận mở Phật học viện, đồng thời, các tạp chí như: Đài loan Phật giáo, Hải triều âm, Trung quốc Phật giáo, Phật giáo thanh niên, Kim nhật Phật giáo, Bồ đề thụ, Pháp âm, Sư tử hống, Giác thế, Từ minh, Phổ môn v.v... cũng lần lượt được phát hành. Tính đến mùa xuân năm Dân quốc 77 (1988), các tạp chí Phật giáo phát hành gần tới hơn 100 loại. Ngoài ra, việc phiên dịch, ấn loát kinh sách và giới thiệu các danh tác Phật học cũng dần dần được phát triển. Trước hết ngài Đông sơ bắt đầu in ảnh bộ Đại chính tạng của Nhật bản (gồm cả Chính tạng và Tục tạng). Năm Dân quốc 44 (1955) thì rước linh cốt của đại sư Huyền trang về Đài loan, đây cũng là một sự kiện lớn đối với giới Phật giáo Đài loan. Rồi các hoạt động hoằng pháp và giao lưu văn hóa với nước ngoài, tham dự các hội nghị Phật giáo thế giới, đề xướng sự tu trì Mật giáo, pháp môn niệm Phật, truyền bá giới luật tăng ni, xiển dương áo chỉ Thiền tông, cho đến thư viện Phật giáo, các nhà xuất bản, vườn trẻ, viện cô nhi, viện dưỡng lão, thiết lập phòng khám bệnh phát thuốc, mở mang các đạo tràng mới v.v... tất cả và đâu đâu cũng thấy Phật giáo Đài loan đang ở trong một giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Gần 10 năm trở lại đây, đặc biệt Phật quang sơn do ngài Tinh vân chủ trì là nổi bật nhất trong số các đạo tràng Phật giáo mới nổi lên tại Đài loan, phân viện Phật quang sơn được mở rải rác khắp nơi trên toàn tỉnh và cả ở nước ngoài. Rồi tại Trung bộ Đài loan thì sự hoằng pháp của ngài Thánh ấn ở hai chùa Từ minh và Vạn Phật cũng có thành tích rõ rệt. Việc hoằng pháp ở các nơi danh lam như chùa Tùng sơn, Hoa nghiêm liên xã, chùa Thiện đạo ở Đài bắc v.v... cũng đều rất thịnh. Về các Phật học viện, thì ở miền Bắc có Trung quốc nội học viện, Hoa nghiêm chuyên tông học viện, Năng nhân Phật học viện, Liên hoa Phật học viên (vườn), Bồ đề Phật học viện, Pháp tạng Phật học viện, Hải minh Phật học viện, Phúc nghiêm Phật học viện, Nữ tử Phật học viện, Phúc sơn Phật học viện, Nhân thừa Phật học viện. Ở Trung bộ có Trung hoa Phật học viện, Phúc sơn Phật học viện; ở Nam bộ có Trung quốc Phật giáo nghiên cứu viện, Đông phương Phật giáo học viện, Khai nguyên thiền học viện, Tịnh giáo Phật học viện v.v... Ngoài ra còn có các Xã đoàn Phật học trong các viện Đại học chuyên khoa và có mở các lớp hè để dạy Phật pháp cho sinh viên và các Trung tâm nghiên cứu Phật học cao hơn. Tóm lại, nói một cách đại thể, từ năm 1970 trở lại đây, trình độ tri thức của tín đồ Phật giáo Đài loan đã được nâng cao rõ rệt, phương thức hoằng truyền dần dần được đổi mới và tín ngưỡng Phật giáo cũng mỗi ngày một phổ cập, rất có cơ hưng thịnh trở lại. [X. Trung quốc Phật giáo sử lược (Ấn thuận, Diệu khâm); Trung quốc Phật giáo chi cận huống (Đạo an, Hải triều âm Q.38, kì 11, 12); Trung quốc Phật giáo chi quá khứ cập hiện tại (Thanh tùng, Hải triều âm Q.42 kì 11, 12); Trung quốc Phật giáo sử luận tập Đài loan Phật giáo thiên (Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 87); Trung quốc Phật giáo phát triển sử thiên 4 chương 2 (Trung thôn nguyên)].
đài quan sát
Observation station.
đài sen
Lotus throne.
đài thọ
To bear—To pay for.
đài tòa
(臺座) Chỗ đặt tượng Phật. Ấn độ xưa vốn không có tượng Phật, chỉ dùng một khối bản gỗ hình vuông để tượng trưng cho đức Phật. Về sau, trên đài tọa mới khắc hình bánh xe báu, và con nai, biểu thị sự quay bánh xe pháp của đức Phật ở vườn Lộc dã (vườn Nai). Sau khi Phật giáo được truyền vào Trung quốc, việc chế tạo đài tọa rất phát đạt, có rất nhiều kiểu, như tòa vuông thì hình thức chỉ là một khối gỗ đơn thuần, không trang sức; tòa nệm lông, dày hơn tòa vuông, trên có khắc vân nước; tòa có chạm trổ chung quanh; tòa lễ bàn cao hơn hai loại trên và ở giữa để trống, bề ngoài không theo một qui tắc nào. Tòa đài của Bất động minh vương là tòa Sắt sắt;tòa thạch bàn; tòalá sen là tòa ngồi của chưThiên, hình dáng hoặc để ngửa hoặc úp xuống; sàng tọa v.v... Trong các loại đài tòa kể trên, loại kiểu hoa sen là phổ biến nhất.
đài tông
Thiên Thai Tông—The sect of the T'ien-T'ai mountain—See Thiên Thai Tông.
Đài y 苔衣
[ja] タイイ taii ||| (1) Moss. (2) The clothes of a Buddhist monk. => 1. Rêu. 2. Y của tăng sĩ Phật giáo.
đài đồ
Thiên Thai Đồ hay đồ chúng của tông phái Thiên Thai—The disciples of the T'ien-Tai sect.
Đài 臺
[ja] ダイ tai ||| (1) A tower, stand, pedestal. (2) A shelf. (3) High land, mountain, plateau. (4) An office. (5) A person of lower status than myself. => 1. Tháp, bệ cao. 2. Mặt, thềm. 3. Nền đất cao, núi, cao nguyên. 4. Hình thức thờ phụng, lễ nghi. 5. Người cấp dưới của mình.
đàm
6174布施之意。我國雲南瀾滄江下游地區信仰佛教之傣族人,以各種形式向寺院奉獻財物,一般於固定之佛教節日與齋期進行奉獻。主要有賧帕,即信徒向寺院僧侶捐贈袈裟用布;賧好輪瓦,即每戶於秋收後向寺院捐贈稻穀;賧坦木,即向寺院捐贈佛經,以表示對佛信仰之虔誠。
; 6229梵語 dharma,巴利語 dhamma。為「曇摩」之略稱。譯作法。即指佛法。又唐代僧人之名,多冠以曇字,如曇鸞、曇曜等。甄正論上(大五二‧五六二上):「竊尋曇、梵二字,此土先無,玉篇、說文、字林、字統竟無此字。曇、梵二字本出佛經與?無見之流翻譯人造,用詮天竺之音,演述釋迦之旨。」
; 1) Đầm: A pool. 2) Sâu: Deep. 3) Đàm luận: To talk—To chat—To discuss. 4) Hý luận: To gossip—To boast. 5) Đám mây che phủ mặt trời: Clouds covering the sun—Spreading clouds.
; (曇) Hàm ý là bố thí. Đây là hình thức cúng dường tài vật cho các chùa viện của dân tộc Thái theo Phật giáo ở vùng hạ du sông Lạn thương thuộc tỉnh Vân nam Trung quốc. Thông thường vào những ngày lễ lớn và kì trai, tín đồ cúng dường ca sa cho chúng tăng ở các chùa viện gọi là Đạm phạ; sau mỗi vụ thu hoạch cúng dường thóc gạo gọi là Đạm hảo luân ngõa; cúng dường kinh điển để bày tỏ lòng thành kính đối với đức Phật gọi là Đạm thản mộc.
; (賧) Phạm: dharma,Pàli: dhamma. Gọi đủ: Đàm ma, dịch là pháp, tức là chỉ cho pháp của đức Phật. Ngoài ra, tên của các vị tăng Trung quốc phần nhiều đặt chữ Đàm ở trước, như: Đàm loan, Đàm diệu, Đàm ảnh v.v... Luận Chân chính quyển thượng (Đại 52, 562 thượng), nói: Riêng tìm hai chữ Đàm, Phạm thì trước kia Trung quốc không có, như: Ngọc thiên, Thuyết văn, Tự lâm, Tự thống v.v... đều không thấy có các chữ này. Có lẽ những người phiên dịch kinh Phật đã tạo ra, dùng để phiên âm tiếng Thiên trúc và diễn tả ý chỉ của Phật Thích ca chăng?.
đàm bà
6705指食狗肉之人。翻譯名義集卷二(大五四‧一○八三中):「譚婆(徒紺),此云食狗肉人。」又同書復列舉「羯恥那」之稱,意為煮狗肉者。〔玄應音義卷七〕
; Một từ ngữ dùng để chỉ người ăn thịt chó—A term defined as eater of dog's flesh.
; (譚婆) Người ăn thịt chó. Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 2 (Đại 54, 1083 trung), nói: Đàm bà dịch là người ăn thịt chó. Cũng sách đã dẫn ở trên còn nêu từ Yết sỉ na, hàm ý là người nấu thịt chó. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.7].
đàm bát kinh
Dharmapada (skt)—See Kinh Pháp Cú.
đàm chinh
6236高麗僧。日本推古天皇十八年(610)至日本。將儒教(以五經為主)、彩色(繪畫)、紙墨之製法及農具等傳於日本。為日本初期文化輸入者之一。
đàm chá sơn tụ vân tự chí
6106請參閱 開福道寧禪師語錄 請參閱 開福道寧禪師語錄 請參閱 溈山靈祐禪師語錄凡二卷。清代神穆德撰,義庵續撰。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。潭柘山位於北平西約四十六公里,為西山之脈。古有龍潭、柘林,因此得名。山中有古剎,俗稱潭柘寺,始創於晉時,初稱嘉福寺;唐朝時改名龍泉寺,明代兩度重拓復修;清康熙三十一年(1692)賜金重修,並賜額「敕建潭柘山岫雲禪寺」。為華嚴祖師之道場。乾隆四年(1739),神穆德撰潭柘山岫雲寺志一卷,分為主山基宇、梵剎原宗、中興重建、歷代法統、行幸頒賜、名勝古蹟等六門。光緒九年(1883),義庵復輯一卷,輯古體詩八首及各代律師傳記。後人將此二卷合刻於一帙。
đàm chá tự
6106係北平附近佛寺中之最古者。位於石景山之西,栗園莊之北,距北平約四十六公里。巘嶺重疊,九峰扆列,古有龍潭、柘林而得名。此寺代有高僧,以唐朝華嚴和尚最著。寺創於晉時,初稱嘉福寺。唐時成為規模較大之講經處,改稱龍泉寺。金稱大萬壽寺,清改名岫雲寺。名稱屢改,但潭柘之號傳久不衰。寺內天王殿有四大天王像,大雄寶殿清淨莊嚴,旁有帝王樹,後為三聖殿,再後為毘盧閣。此外另有圓通殿、舍利塔、地藏殿、方丈室、觀音殿、文殊殿、龍王殿、大悲殿等建築。寺內之金天德四年碑極為珍貴。每年三月一日,廟會極盛。據燕京歲時記潭柘寺所記,潭柘寺在渾河石景山西,栗園莊北,去京八十餘里,每至三月,自初一起開廟。又據北京指南名勝廟宇寺載,岫雲寺在馬鞍山西,即潭柘寺。
đàm diên
6229(516~588)隋代僧。桑泉(山西臨晉)人,俗姓王。初隱於太行百梯寺,撰著涅槃經疏,後至長安,大開講筵。北周武帝初年,授為國統。其後帝將廢佛,極諫不聽,遂遁歸太行山。至隋文帝時,師自剃髮鬚,謁帝請度僧眾,興隆佛教,帝聽之,度四千人,又為立延興寺。開皇六年(586),帝率百官,從師受八戒。敕為平等沙門。開皇八年八月示寂,世壽七十三。著有涅槃義疏十五卷,另有寶性、勝鬘、仁王等疏。〔續高僧傳卷八、山右石刻叢編卷十八曇延傳〕
; (曇延) (516-588) Vị tăng đời Tùy, người Tang tuyền (Lâm tấn, Sơn tây), họ Vương. Lúc đầu, sư ẩn tu ở chùa Bích thê tại Thái hàng, soạn Niết bàn kinh sớ, về sau sư đến Trường an mở đạo tràng thuyết giảng. Đầu năm Vũ đế nhà Bắc Chu, sư nhận chức Quốc thống. Khi Vũ đế sắp phá Phật, sư hết sức can ngăn nhưng vua không nghe, sư bèn trở về núi Thái hàng lánh nạn. Đến đời Văn đế nhà Tùy, sư yết kiến vua xin độ tăng để phục hưng Phật giáo, vua bằng lòng và sư độ cho 4.000 người xuất gia làm tăng, đồng thời, xây cất chùa Diên hưng. Năm Khai hoàng thứ 6 (586), vua và các quan trong triều theo sư xin thụ 8 giới Quan trai. Sau đó vua sắc ban cho sư danh hiệu Bình Đẳng Sa Môn. Năm Khai hoàng thứ 8 (588) sư tịch, thọ 73 tuổi. Sư có các tác phẩm: Niết bàn nghĩa sớ 15 quyển, Bảo tính sớ, Thắng man sớ, Nhân vương sớ v.v... [X. Tục cao tăng truyện Q.8; Sơn hữu thạch khắc tùng biên Q.18 Đàm diên truyện].
đàm diệu
6240北魏僧。籍貫、生卒年均不詳。年少出家,原在涼州修習禪業,為太子拓跋晃所禮重。北魏太武帝廢佛教,北地經像零落,佛事斷歇,沙門多還俗,師獨堅固道心,儼然持守其身。太子再三親加勸喻,仍密持法服器物,不暫離身,聞者歎重之。 文成帝即位後,再興佛教,特任師為昭玄都統,管理僧眾。師於受命之後,綏輯僧眾,整修寺宇,道譽日高,帝事之以師禮,遂應帝之請,於武周山山谷北面石壁開鑿窟龕五所,每窟鐫造佛像一尊,皆高六、七十尺,窟高二十餘丈,可容三千人,雕飾奇秀,又建立佛寺,稱為靈巖寺。此為大同雲崗石窟之開端。師又奏帝於州鎮設僧祇戶、僧祇粟及佛圖戶之制,以為興隆佛法之資。後住於大同石窟通樂寺,和平三年(462)召集諸德,譯出大吉義神咒經二卷、淨度三昧經一卷、付法藏因緣傳四卷。蓋魏地大法得以再振,毀壞之塔寺仍還修復,佛像經論又得再顯,師之功至鉅。〔續高僧傳卷一、歷代三寶紀卷九、廣弘明集卷二、開元釋教錄卷六、魏書釋老志第二十〕
; (曇曜) Vị tăng ở đời Bắc Ngụy. Năm sinh năm mất và quê quán đều không rõ. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, tu Thiền ở Lương châu, được thái tử Thác bạt hoảng kính trọng. Khi Thái vũ đế phế bỏ Phật giáo, chùa viện kinh tượng ở miền Bắc bị phá hủy, Phật sự đình đốn, sa môn phần nhiều hoàn tục. Mặc dầu Thái tử đã hai ba lần khuyến dụ sư hoàn tục, sư vẫn quyết giữ vững đạo tâm, không rời pháp phục. Sau khi Văn thành đế lên ngôi, phục hưng Phật giáo, vua đặc biệt cử sư giữ chức Chiêu huyền đô thống để lãnh đạo tăng ni. Sau khi nhận chức vụ, sư liền chỉnh đốn chúng tăng, sửa chữa chùa viện, đạo hạnh của sư ngày càng cao, vua thờ sư làm thầy. Theo lời thỉnh cầu của vua, sư cho đục mở năm hang đá ở mạn bắc hang núi Vũ chu, trong mỗi hang khắc một pho tượng Phật cao khoảng 60 thước (Tàu), hang cao hơn 20 trượng, có thể chứa 3 nghìn người, nét chạm trổ tinh vi đẹp đẽ. Sư còn dựng chùa Linh nham. Đây là công trình mở đầu cho quần thể hang động Vân cương ở Đại đồng. Sư lại tâu xin vua đặt ra chế độ Tăng kì hộ, Tăng kì túc và Phật đồ hộ để giúp cho việc hưng long Phật pháp. Về sau, sư ở trong chùa Thông lạc tại hang đá Đại đồng. Năm Hòa bình thứ 3 (462), sư triệu tập các bậc đại đức phiên dịch kinh Đại cát nghĩa thần chú 2 quyển, kinh Tịnh độ tam muội 1 quyển, Phó pháp tạng nhân duyên 4 quyển v.v... Phật pháp ở miền Bắc Trung quốc thời đó được chấn hưng trở lại, những chùa tháp bị phá hủy được trùng tu, tượng Phật, kinh luận được xuất hiện lại đều là nhờ công lao rất lớn của sư. [X. Tục cao tăng truyện Q.1; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Quảng hoằng minh tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Ngụy thư thích lão chí Q.20].
đàm dĩnh
6239(989~1060)宋代臨濟宗僧。杭州(浙江)錢塘人,俗姓丘。號達觀。人稱達觀曇穎。十三歲投龍興寺出家,神情秀逸,博覽群籍。初禮謁大陽警玄,學曹洞宗風;後參於谷隱蘊聰,嗣其法。住於潤州(江蘇)金山龍游寺,弘揚臨濟宗風。嘉祐五年示寂,世壽七十二,法臘五十三。〔建中靖國續燈錄卷四、禪林僧寶傳卷二十七、聯燈會要卷十三、五燈會元卷十二、佛祖歷代通載卷十八、釋氏稽古略卷四〕
đàm hi
Donki (J)Tên một vị sư.
Đàm Hoa
(曇花): từ gọi tắt của hoa Ưu Đàm Bạt La (s: udumbara, udumbara, p: udumbara, 優曇跋羅), hay Ô Đàm Bát La Hoa (烏曇盋羅花), Ô Đàm Bát La Hoa (鄔曇鉢羅花), Ưu Đàm Ba Hoa (優曇波花), Ưu Đàm Hoa (優曇花), Uất Đàm Hoa (鬱曇花); ý dịch là Linh Thoại Hoa (靈瑞花), Không Khởi Hoa (空起花), Khởi Không Hoa (起空花). Nó là loại thực vật có hoa ẩn tàng thuộc khoa Dâu, tên khoa học là Ficus glomerata, sanh sản ven chân núi Hỷ Mã Lạp Nhã Sơn (喜馬拉雅山, Himalaya), cao nguyên Đức Can (德干), Tư Lí Lan Tạp (斯里蘭卡), v.v. Thân cây cao hơn 3 tấc, lá có hai loại: phẳng trơn và thô nhám, đầu nhọn, thon dài, đều có chiều dài từ 10-18 phân. Nó có 2 loại hoa đực và cái, hoa xòe to như đấm tay, hoa búp như ngón tay cái, nở ra từ cành cây hơn 10 bông; tuy có thể ăn được nhưng mùi vị không ngon. Căn cứ vào Huệ Lâm Âm Nghĩa (慧琳音義) quyển 8 cho biết rằng: “Ưu Đàm Hoa, Phạn ngữ cổ dịch ngoa lược dã; Phạn ngữ chánh vân Ô Đàm Bạt La, thử vân Tường Thoại Linh Dị, thiên hoa dã; thế gian vô tỉ hoa; nhược Như Lai hạ sanh, Kim Luân Vương xuất hiện thế gian, dĩ đại phước đức lực cố, cảm đắc thử hoa xuất hiện (優曇花、梵語古譯訛略也、梵語正云烏曇跋羅、此云祥瑞靈異、天花也、世間無此花、若如來下生、金輪王出現世間、以大福德力故、感得此花出現, Hoa Ưu Đàm là từ dịch tắt sai lầm ngày xưa của tiếng Phạn, tiếng Phạn đúng là Ô Đàm Bạt La, Tàu gọi là Tường Thoại Linh Dị [loại hoa mang lại điềm lành linh dị], là hoa Trời, loại hoa trên đời không gì sánh bằng; nếu Như Lai hạ sanh, bậc Kim Luân Vương [Chuyển Luân Thánh Vương] sẽ xuất hiện trên thế gian; vì Ngài có oai lực phước đức to lớn, nên có thể cảm ứng loài hoa này xuất hiện).” Hơn nữa, do vì nó hiếm có và khó gặp, trong kinh điển Phật Giáo thường ví hoa Ưu Đàm với việc khó gặp được đức Phật xuất hiện giữa đời. Như Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經, Taishō 12, 266) quyển thượng có giải thích rằng: “Vô lượng ức kiếp nan trị nan kiến, do linh thoại hoa thời thời nãi xuất (無量億劫難值難見、猶靈瑞華時時乃出, vô lượng ức kiếp khó gặp, khó thấy, giống như hoa Linh Thoại thỉnh thoảng mới xuất hiện)”. Hay như Pháp Hoa Văn Cú (法華文句, Taishō No. 1718) cũng cho rằng: “Ưu Đàm Hoa giả, thử ngôn Linh Thoại, tam thiên niên nhất hiện, hiện tắc Kim Luân Vương xuất (優曇花者、此言靈瑞、三千年一現、現則金輪王出, Hoa Ưu Đàm, Tàu gọi là Linh Thoại, ba ngàn năm mới xuất hiện một lần, hiện tất Kim Luân Vương ra đời).” Tại Ấn Độ, từ thời đại Phệ Đà (s: Veda, 吠陀) cho đến ngày nay, lá của nó được dùng làm cây bảo vệ trừ tà ma, hay làm củi đốt trong lúc tế tự. Trong Phật Giáo, cây Bồ Đề thành đạo của 7 đức Phật thời quá khứ đều khác nhau, riêng cây Ưu Đàm Bạt La là cây Bồ Đề thành đạo của vị Phật thứ 5, Câu Na Hàm Mâu Ni (s: Kanakamuni, p: Konāgamana, 拘那含牟尼). Hoa Ưu Đàm là loại hoa ngàn năm mới nở một lần; cho nên nó có mùi thơm tuyệt diệu hơn tất cả loài hoa khác. Cũng vậy, giáo Pháp của Đức Phật luôn tỏa sáng và thơm ngát đến mọi người. Những ai lắng nghe và thực hành giáo pháp ấy thì sẽ có được an lạc, giải thoát nhờ hương thơm đó. Và từ đó vị ấy có thể đem hương thơm ấy ban phát, chia xẻ với mọi người chung quanh. Như trong Phẩm Phương Tiện (方便品) của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka,妙法蓮華經) có câu: “Phật cáo Xá Lợi Phất, như thị diệu pháp, chư Phật Như Lai, thời nãi thuyết chi, như Ưu Đàm Bát Hoa, thời nhất hiện nhĩ (佛告舍利佛、如是妙法、諸佛如來、時乃說之、如優曇缽花、時一現耳, Phật bảo Xá Lợi Phất rằng pháp mầu như vậy, chư Phật Như Lai, chỉ thuyết một lần; như Hoa Ưu Đàm, chỉ xuất hiện một lần thôi).” Hoặc như trong Đại Trí Độ Luận (大知度論) cũng khẳng định rõ rằng: “Phật thế nan trị, như Ưu Đàm Ba La thọ hoa, thời thời hữu nhất, kỳ nhân bất kiến (佛世難值、如優曇波羅樹華、時時一有、其人不見, trên đời khó gặp được Phật, như hoa cây Ưu Đàm Ba La, thỉnh thoảng mới có một lần, người thường không thấy được).” Vì vậy trong dân gian cũng như văn học xuất hiện thuật ngữ “Đàm Hoa Nhất Hiện (曇花一現, Hoa Ưu Đàm chỉ xuất hiện một lần).” Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (大般若波羅蜜多經, Taishō No. 220) cho chúng ta biết rõ thêm rằng: “Nhân thân vô thường, phú quý như mộng, chư căn bất khuyết, chánh tín thượng nan, huống trị Như Lai đắc văn diệu pháp, bất vi hy hữu như Ưu Đàm Hoa (人身無常、富貴如夢、諸根不缺、正信尚難、況值如來得聞妙法、不爲稀有如優曇花, thân người vô thường, giàu sang như mộng, các căn đầy đủ, chánh tín lại khó, huống chi gặp Như Lai được nghe pháp mầu, không phải hy hữu như Hoa Ưu Đàm sao ?).” Trong bài thơ Na Tra (那吒), Tô Triệt (蘇轍, 1039-1112) nhà Tống có nêu rõ giá trị tối thượng của loại hoa này: “Phật như Ưu Đàm nan trị ngộ, kiến giả văn đạo xuất sanh tử (佛如優曇難值遇、見者聞道出生死, Phật như Ưu Đàm khó gặp được, người thấy nghe đạo thoát sanh tử).” Hay như trong bài thơ Kỷ Hợi Tạp Thi (己亥雜詩) của Củng Tự Trân (龔自珍, 1792-1841) nhà Thanh cũng có câu rằng: “Nan bằng nhục nhãn thức thiên nhân, khủng thị Ưu Đàm thị hiện thân (難憑肉眼識天人、恐是優曇示現身, khó nương mắt thịt biết trời người, e chính Ưu Đàm thị hiện thân).” Trong dân gian Trung Quốc, vẫn có những truyền thuyết về giấc mộng thấy Hoa Ưu Đàm, như trường hợp Tề Võ Đế Tiêu Trách (齊武帝蕭賾, tại vị 482-493) bị bệnh, nằm mộng thấy Hoa Ưu Đàm và được lành bệnh; cho nên, trong chiêm tinh bói toán, người ta thường xem giấc mộng Hoa Ưu Đàm là có điềm lành. Như trong Uyên Giám Loại Hàm (淵鑑類函) do nhóm Trương Thanh (張英, ?-1708) nhà Thanh biên soạn có đoạn: “Tề Cảnh Lăng Vương Tử Lương, đốc tín Thích thị, Võ Đế bất dự, Tử Lương khải tấn Sa Môn ư điện tiền tụng kinh, Võ Đế cảm mộng, kiến Ưu Đàm Bát Hoa ư Tử Lương án (齊竟陵王子良、篤信釋氏、武帝不豫、子良啟進沙門於殿前誦經、武帝感夢、見優曇缽花於子良案, vua Cảnh Lăng Vương nhà Tề tên Tử Lương, thâm tín Phật pháp, Võ Đế chẳng vui lòng; Tử Lương cung thỉnh Sa Môn tụng kinh trước điện; Võ Đế cảm ứng mộng thấy Hoa Ưu Đàm nơi án của Tử Lương).”
đàm hoa
6234(1103~1163)宋代臨濟宗僧。蘄州(湖北蘄州縣)人,一說黃梅(湖北黃梅縣)人,俗姓江。字應庵。十七歲於東禪寺剃髮,十八歲受具足戒。初從水南青遂受學禪要,其後遍參善知識,禮謁圜悟克勤,嚴受策勵。復受克勤之命,入彰教寺,侍虎丘紹隆,得嗣其法。此後歷住諸剎,而於明州天童山大振法化。師住於歸宗寺時,大慧宗杲在梅陽,曾寄偈稱歎。與大慧宗杲並稱臨濟法系之二甘露門。孝宗隆興元年示寂,世壽六十一。嗣法弟子為密庵咸傑。〔聯燈會要卷十八、嘉泰普燈錄卷十九、佛祖歷代通載卷二十、釋氏稽古略卷四、續傳燈錄卷三十一、大明高僧傳卷六〕
; Hoa Ưu Đàm—Udumbara flower—See Ưu Đàm Ba La.
; (曇華) (1103 - 1163) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở đời Tống, người Kì châu (huyện Kì châu tỉnh Hồ bắc), có thuyết nói sư người Hoàng mai (huyện Hoàng mai tỉnh Hồ bắc), họ Giang, tự là Ứng am. Năm 17 tuổi, sư xuống tóc ở chùa Đông thiền, 18 tuổi thụ giới Cụ túc. Mới đầu, sư học pháp thiền nơi ngài Thủy nam Thành toại, sau sư đi tham học khắp các bậc thiện tri thức, lễ yết ngài Viên ngộ Khắc cần, chịu sự dạy bảo nghiêm khắc của ngài. Sau, sư vâng mệnh ngài Viên ngộ Khắc cần chùa Chương giáo hầu hạ thiền sư Hổ khâu Thiệu long và được nối pháp. Từ đó sư đi khắp nơi để hoằng dương tông phong. Khi sư ở chùa Qui tông thì thiền sư Đại tuệ Tông cảo ở Mai dương, từng gửi kệ khen ngợi sư. Sư cùng với ngài Đại tuệ Tông cảo được xem là hai cửa cam lộ của tông Lâm tế. Niên hiệu Long hưng năm đầu đời Hiếu tông sư tịch, thọ 61 tuổi. Đệ tử nối pháp là Mật am Hàm kiệt. [X. Liên đăng hội yếu Q.18; Gia thái phổ đăng lục Q.19; Phật tổ lịch đại thông tải Q.20; Thích thị kệ cổ lược Q.4; Tục truyền đăng lục Q.31; Đại minh cao tăng truyện Q.6].
đàm hoa nhất hiện
6230曇花,即優曇花、優曇鉢花。據法華文句卷四上所載,此花三千年開花一次,開時金輪王出世,乃佛之瑞應,故比喻事物之不常見或存在之短暫為曇花一現。法華經卷一(大九‧七上):「如是妙法,諸佛如來,時乃說之,如優曇鉢華,時一現耳。」(參閱「優曇跋羅華」6413)
; (曇花一現) Đàm hoa tức là hoa ưu đàm, hoa ưu đàm bát. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 4 phần trên nói, thì loài hoa này 3 nghìn năm mới nở một lần (nhất hiện), khi hoa nở là có vua Kim luân ra đời, chính là điềm lành báo hiệu đức Phật xuất hiện; cho nên hoa ưu đàm một lần nở là ví dụ sự vật rất hiếm thấy ở đời. Kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 7 thượng), nói: Pháp nhiệm mầu như thế, các đức Như lai đúng thời mới giảng nói, giống như hoa ưu đàm bát, đúng thời mới nở một lần. (xt. Ưu Đàm Bát La Hoa)
đàm hoằng
6229(?~455)南朝劉宋僧。黃龍人。幼年修習戒行,專精律部。永初年中(420~422)南遊廣東,止於臺寺,後住於交趾仙山寺,常誦無量壽經、觀無量壽經,誓願往生西方。孝建二年(455),入山自焚而寂。村人皆見師遍身金光,乘金鹿西行,感其神異,故集其骨灰,造塔供養。〔梁高僧傳卷十二〕
; (曇弘) (? - 455) Vị tăng ở đời Lưu Tống thuộc Nam triều, người Hoàng long. Sư xuất gia từ nhỏ, chuyên tinh giới luật. Trong năm Vĩnh sơ (420 - 422), sư đến Quảng đông, dừng chân ở Đài tự. Sau đó, sư đến ở chùa Tiên sơn đất Giao chỉ, thường tụng kinh Vô lượng thọ, kinh Quán vô lượng thọ, phát nguyện vãng sinh Tây phương. Năm Hiếu kiến thứ 2 (455) sư vào núi tự thiêu rồi tịch. Mọi người trong thôn đều thấy toàn thân sư sáng chói, ngồi trên lưng con nai bằng vàng đi về phương Tây. Thâm cảm sự lạ lùng ấy, mọi người thu nhặt tro xương của sư, dựng tháp cúng dường. [X. Lương cao tăng truyện Q.12].
đàm huy
6234(422~504)南朝梁代比丘尼。成都人,俗姓青陽,名白玉。十一歲從西域禪師畺良耶舍諮受禪法,便欲出家,其母不允,遂投於法昱尼門下,誓不染俗。後得刺史甄公之助,始得遂願。住於成都長樂寺,有德行,明經論,諸名師雖極力問難,不能屈之,由是名聞遠近,門徒達千餘人。天監三年示寂,世壽八十三。〔比丘尼傳卷四〕
; (曇暉) (422 - 504) Vị tỉ khưu ni ở đời Lương thuộc Nam triều, người Thành đô, họ Thanh dương, tên Bạch ngọc. Năm 11 tuổi, ni sư theo ngài Cương lương da xá - người Tây vực - học pháp Thiền. Sau, ni sư muốn xuất gia, nhưng bà mẹ không bằng lòng, ni sư cưỡng lại và theo làm đệ tử sư bà Pháp dục, thề không lập gia đình. Về sau, nhờ sự giúp đỡ của Thứ sử Chân công, ni sư mới được toại nguyện. Ni sư trụ trì chùa Trường lạc ở Thành đô, là người có đức hạnh, thông suốt kinh, luận, các bậc danh sư tuy ra sức vấn nạn, nhưng không thể khuất phục, nhờ đó mà tiếng tăm của ni sư vang khắp xa gần, đệ tử có tới hơn nghìn người. Năm Thiên giám thứ 3 (504) ni sư tịch, thọ 83 tuổi. [X. Tỉ Khưu Ni Truyện Q.4].
đàm huyền
6157湖南人。幼年出家,專志向學,辯才無礙。曾兩度留學日本,修習台密與東密,並得台密東密兩大流派之傳法灌頂學位。民國二十四年(1935)底返國,攜回所搜集之日本密教圖書二千五百餘冊,凡三百餘種,包括影印本、手抄本、善本等各種版本,與梵文、藏文、梵藏英漢合刊等各種譯本,及各類性質之典籍,曾假上海佛學書局展出,其後珍藏於武昌佛學院圖書館,對我國佛學研究之風氣具有極大之推動力。曾任教於武昌佛學院研究所、世界佛學院。
; (談玄) Vị tăng Trung quốc thời cận đại, người tỉnh Hồ nam. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, chuyên chí học tập, tài biện luận lưu loát. Sư sang Nhật bản 2 lần du học, tu tập Thai mật và Đông mật đều được học vị Quán đính truyền pháp. Năm Dân quốc 24 (1935), sư về nước, mang theo những kinh sách Mật giáo do sư sưu tập, khoảng 300 loại hơn 2.500 quyển, gồm các bản in chụp (ấn ảnh), chép tay bản dịch tiếng Phạm, tiếng Tây tạng, bản in chung cả 4 thứ tiếng Phạm, Tạng, Anh, Hán và nhiều loại sách khác. Những kinh sách kể trên đã được trưng bày ở Phật học thư cục tại Thượng hải, sau đó được cất giữ ở Thư viện của viện Phật học Vũ xương. Đây là những tư liệu quí giá đã giúp cho phong trào nghiên cứu Phật học Trung quốc phát triển mạnh mẽ. Sư Đàm huyền từng giảng dạy ở Sở nghiên cứu Phật học viện Vũ xương và viện Phật học thế giới.
đàm khoáng
6241唐代僧。建康人。出家後學成唯識論、俱舍論,並入長安西明寺研究金剛般若經、大乘起信論等。後至河西(今甘肅武威)弘揚法義,著金剛般若經旨贊二卷、大乘起信論廣釋及略述二卷,於敦煌作大乘百法明門論義記一卷、大乘入道次第開決一卷。唐大曆九年(774),作大乘百法明門論開宗義決。上述著作近代在敦煌發現,收於大正藏古逸部。其生卒年不詳。〔大乘起信論略述序、鳴沙餘韻解說〕
; (曇曠) Vị tăng đời Đường, người Kiến khang. Năm sinh năm mất không rõ. Sau khi xuất gia, sư học các bộ luận Thành duy thức, Câu xá, rồi vào chùa Tây minh ở Trường an nghiên cứu kinh Kim cương bát nhã, luận Đại thừa khởi tín v.v... Sau đó, sư đến Hà tây (nay là Vũ uy, tỉnh Cam túc) hoằng dương giáo pháp. Sư có các trứ tác: Kim cương bát nhã kinh chỉ tán 2 quyển, Đại thừa khởi tín luận quảng thích cập lược thuật 2 quyển, Đại thừa bách pháp minh môn luận nghĩa kí 1 quyển, Đại thừa nhập đạo thứ đệ khai quyết 1 quyển, Đại thừa bách pháp minh môn luận khai tông nghĩa quyết. Tất cả những tác phẩm kể trên, thời gần đây, đã được tìm thấy tại Đôn hoàng và được xếp vào bộ Cổ dật trong Đại chính tạng. [X. Đại thừa khởi tín luận lược thuật tự; Minh sa dư vận giải thuyết].
đàm không thuyết hữu
Bàn không nói có hay tranh cãi lẫn nhau về thuyết “Hữu” và “Không” trong Phật giáo—To discuss non-existence and talk of existence, i.e. to discuss the meaning of reality; in discussing non-existence to talk of the existing; it is a phrase expressing confusion of ideas or argument.
đàm kinh
6158指以淺近平易之方式來講說經典。係唐代以一般民眾為對象而盛行之唱導(法會或齋會時,宣說教理開導眾心)。此有一定作法,因不僅有談之部分,尚有依曲調而唱之部分,故稱此為唱經或講唱。敦煌寫本中有談維摩、阿彌陀等經者,一般總稱為變文,而此依一定之經典與一定之方式且談且唱者,在變文中須特別加以區別。此類典籍,我國學者特稱為講經文。而在以維摩經文殊問疾為題材之寫本(西陲祕籍叢殘所收)中,其本文中記有「此唱經文…」之文句,足證當時亦稱唱經文。又講經文之名僅見於五代長興四年(933)中興殿應聖節講經文(P.3808)中,又稱講唱文則可由溫室經講唱押座文(S.2440)得知。 唐代之談經承襲魏晉南北朝以來之傳統,一般雖已發展至專門之分化階段,然基本上仍以法師與都講為中心,例如日本圓仁之入唐求法巡禮行記卷三所舉赤山院新羅僧之儀式,即為明顯實例。於此,雖僅示儀式次第之項目,而在敦煌寫本之缴山遠公話(S.2073)有描寫宣演大般涅槃經如來壽量品一段,而可見具體之實例。後來談經轉變為純粹語言故事,其題材已不僅限於佛教,亦有採自歷史故事、時事者,此情形早已見於中唐時代。〔梁高僧傳卷十三、唐代俗講考(向達,唐代長安與西域文明)、唐代俗講軌範與其本之體裁(孫楷第,論中國短篇白話小說)、敦煌變文集、唐代佛教史の研究(道端良秀)〕(參閱「唱導」4418)
; (談經) Nghĩa đen là nói chuyện về kinh. Tức là phương thức diễn giảng kinh điển bằng ngôn từ giản dị, dễ hiểu nhắm vào lớp quần chúng bình dân phổ thông trong các lễ hội lớn, như ngày Phật đản, lễ Vu lan, hội trai tăng v.v... Phương thức này bắt nguồn từ thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều đến đời Đường thì thịnh hành, nhờ thế mà giáo lý Phật giáo được phổ cập sâu rộng trong các giai tầng xã hội đương thời tại Trung quốc.
đàm loan
6241(476~?)南北朝時代淨土教念佛門高僧。日本尊之為淨土五祖之初祖,又尊為真宗七祖之第三祖。雁門(山西代縣)人,一說并州汶水(山西太原)人,姓氏不詳。家近於五臺山,常聞神跡靈異之事,十餘歲即登山出家。苦節力學,精通諸經。嘗讀大集經,為之注解,書未成即染疾,遍求不治,其後,一日忽見天門洞開,其疾頓癒,乃發心求長生不死之法。聞人傳言仙方之學可長壽不老,乃往江南,於句容山訪陶弘景,從之受仙經十卷。歸途過洛陽,謁菩提流支,受得觀無量壽經,乃盡棄仙學而專修淨土。東魏孝靜帝尊之為「神鸞」,敕住并州大巖寺。後住汾州玄中寺,時往介山之陰聚眾講經,弘闡念佛法門。師兼通內外典籍,四眾欽服,稱其聚眾弘法之所為「鸞公巖」。師為後來唐代淨土教之集大成者奠下重要之基礎,此外師亦為當代著名之四論(中論、百論、十二門論、大智度論)學者,後世且尊之為四論宗之祖。著有往生論註二卷,其書乃世親淨土論之註釋書。師結合印度佛教二大思潮之祖龍樹與世親之思想,而將空宗思想注入淨土教教理之中,頗受後世重視。另著有讚阿彌陀佛偈、禮淨土十二偈、略論安樂淨土義等。 關於師之寂年,續高僧傳卷六謂東魏興和四年(542)示寂於平遙山寺;同書卷二十道綽傳與往生西方淨土瑞應刪傳中均有「齊時曇鸞法師」之語;迦才之淨土論卷下謂魏末高齊之初師猶健在;又高齊天保五年(554)二月之太子造像銘亦出師之名。可知師之示寂應在北齊天保五年以後。〔淨土往生傳卷上、新修往生傳卷上、龍舒淨土文卷五、樂邦文類卷三、佛祖統紀卷二十七〕
; Tan luan (C)Tên một vị sư.
; (曇鸞) (476-?) Vị cao tăng của Tịnh độ giáo ở thời Nam Bắc triều, người Nhạn môn (huyện Đại, tỉnh Sơn tây), có thuyết nói sư là người Vấn thủy Tinh châu (Thái nguyên, Sơn tây), không rõ họ gì. Nhật bản tôn sư là Sơ tổ trong 5 vị Tổ của tông Tịnh độ, Tổ thứ 3 trong 7 vị tổ của Chân tông. Nhà sư ở gần núi Ngũ đài, sư thường được nghe những chuyện thần tích kinh dị, nên lúc 10 tuổi sư lên núi xin xuất gia. Sư rất chăm học, thông suốt các kinh. Sư đọc và chú giải kinh Đại tập, công việc chưa xong sư bỗng lâm bệnh, chữa mãi không khỏi. Một hôm sư chợt thấy cửa trời mở rộng, tự nhiên hết bệnh, liền phát tâm đi tìm cầu pháp trường sinh bất tử. Nghe đồn học pháp tiên có thể sống lâu, sư bèn đến Giang nam thăm đạo sĩ Đào hoằng cảnh ở núi Cú dung được họ Đào trao cho một bộ kinh Tiên 10 quyển. Trên đường về, sư ghé qua Lạc dương ra mắt ngài Bồ đề lưu chi, được ngài trao cho bộ kinh Quán vô lượng thọ, sư liền bỏ hết kinh Tiên mà chuyên tu Tịnh độ. Vua Hiếu tĩnh nhà Đông Ngụy tôn sư là Thần Loan và ban sắc chỉ cho sư trụ trì chùa Đại nham ở Tinh châu. Về sau, sư trụ trì chùa Huyền trung tại Phần châu. Sư thường đến phía bắc núi Giới sơn giảng kinh, hoằng dương pháp môn niệm Phật. Sư tinh thông nội ngoại điển, tăng ni và Phật tử rất kính phục, họ gọi đạo tràng giảng kinh của sư là Loan Công Nham. Sư là người đặt nền tảng cho việc kiện toàn Tịnh độ giáo ở đời Đường sau này. Ngoài ra, sư còn là học giả nổi tiếng thời bấy giờ về Tứ luận (Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận, Đại trí độ luận). Đời sau tôn sư là Tổ của tông Tứ luận. Sư cũng là người kết hợp hai trào lưu tư tưởng lớn của Phật giáo Ấn độ nơi tổ Long thụ và ngài Thế thân, đem tư tưởng Không tông dung hợp vào giáo nghĩa Tịnh độ được đời sau rất coi trọng. Về năm sư tịch thì có mấy thuyết, nhưng có thể đoán định là sư tịch từ năm Thiên bảo thứ 5 (554) trở về sau. Sư có các trứ tác: Vãng sinh luận chú 2 quyển, Tán A di đà Phật kệ, Lễ tịnh độ thập nhị kệ, Lược luận Tịnh độ an lạc nghĩa.
đàm loan pháp sư phục khí pháp
6241為道教養生經典。服氣法係道教養生術之一。南北朝時代之淨土教高僧曇鸞,年少出家,研修四論(中論、百論、十二門論、大智度論)與佛性學說。曾因病求長生不老之神仙方術,從道士陶弘景訪得仙經十卷,復遇菩提流支,得觀無量壽經一部,此後盡棄仙學,專修淨土。傳其以此經歷而撰成胎息法、服氣法等道教養生術之書,然疑係偽作。
đàm luận
To discuss—To converse—To chat—To talk.
Đàm Lâm
(曇琳, Donrin, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Tùy, đệ tử của sơ tổ Thiền Tông Bồ Đề Đạt Ma (菩提達摩), còn gọi là Đàm Lâm (曇林), Pháp Lâm (法林), do vì ông bị giặc cướp chặt đứt 1 tay nên được gọi là “Lâm Cụt Tay”. Trong khoảng thời gian từ năm đầu (538) niên hiệu Nguyên Tượng (元象) nhà Bắc Ngụy cho đến năm đầu (543) niên hiệu Võ Định (武定), ông thường đảm nhiệm bút ký dịch kinh và soạn văn lời tựa cho Cù Đàm Bát Nhã Lưu Chi (瞿曇般若流支), Tỳ Mục Trí Tiên (毘目智仙), Bồ Đề Lưu Chi (菩提流支), Phật Đà Phiến Đa (佛陀扇多), v.v. Hơn nữa, trong bản Thắng Man Kinh Bảo Quật (勝鬘經寳窟), trước tác của Gia Tường Đại Sư Cát Tạng (嘉祥大師吉藏) có trích dẫn lời chú sớ của ông về Kinh Thắng Man (勝鬘經), qua đó chúng ta có thể biết được rằng ông là nhà nghiên cứu về bộ kinh này. Trong phần Huệ Khả Truyện của Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳) quyển 16 có thuật lại sự tích của ông.
đàm lâm
6230隋代僧。生卒年不詳。為禪宗初祖菩提達摩之弟子。又稱曇琳、法林。因其臂為盜賊所斷,故人稱「無臂林」。自北魏元象元年(538)至武定元年(543)期間,為瞿曇般若流支、毘目智仙、菩提流支、佛陀扇多等諸師之譯經擔任筆受,並撰序文。又嘉祥大師吉藏所著勝鬘經寶窟一書中引用師所撰勝鬘經之注疏,由此可知師為勝鬘經之研究者。曾編集菩提達摩之略辨大乘入道四行一文,並撰序文。續高僧傳卷十六慧可傳亦述及師之事蹟。
; 6158指僧徒聚於其間研學或議論之學林。又作栴檀林、檀林、譚林。法海經(大一‧八一八上):「此如來之座,賢聖之會,度世者之聚,清淨道德者之所集處;此座猶如栴檀之林。」大智度論卷三(大二五‧八三上):「如栴檀譬喻經中言,有栴檀林,伊蘭圍之;有伊蘭林,栴檀圍之。有栴檀,栴檀以為叢林;有伊蘭,伊蘭自相圍繞。佛、諸阿羅漢,亦復如是。佛住善法解脫中,諸阿羅漢亦住善法解脫中,住法相應,眷屬莊嚴。」續高僧傳卷十一志念傳(大五○‧五○八下):「頻弘二論,一十餘年,學觀霞開,談林霧結。」此外,栴檀原為一種香木,以印度佛陀弟子之住所一如栴檀之林,故後世亦泛稱寺院為栴檀林。〔大乘大集地藏十輪經序〕
; Tanlin (S), Donrin (J)Tên một vị sư.
; Phòng giảng trong tự viện—A monastic schoolroom.
; (談林) Rừng đàm luận. Cũng gọi Học lâm, Chiên đàn lâm, Đàn lâm. Chỉ cho nơi chúng tăng tụ họp để học tập, nghiên cứu, đàm luận. Kinh Pháp hải (Đại 1, 818 thượng), nói: Đây là tòa Như lai, hội Hiền thánh, nơi tụ họp của những người xuất gia, chỗ vân tập của các bậc giới đức thanh tịnh, hội tòa này giống như rừng chiên đàn. Ngoài ra, chiên đàn vốn là một loại cây có mùi thơm, chúng đệ tử của đức Phật giữ giới thanh tịnh, hương giới thơm ngát, cho nên chỗ các đệ tử Phật ở được ví như rừng chiên đàn. Cũng vì thế mà đời sau gọi chung các chùa viện là Chiên đàn lâm. [X. Đại thừa đại tập Địa tạng thập luân kinh tự].
đàm ma
6236<一>梵語 dharma。又作達磨。意譯法。即保持自性而不改變之意。成唯識論述記卷一本(大四三‧二三九下):「法謂軌持,軌謂軌範,可生物解;持謂住持,不捨自相。」 <二>佛經中之人名。據法苑珠林敬法篇聽法部載,往昔舍衛國須達長者家內有二隻鸚鵡,曾聽阿難說四諦法,歡喜持誦,死後轉生為人,一為曇摩,一為修曇摩。
; Xem pháp.
; Xem Pháp.
; See Dharma in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (曇摩) I. Đàm Ma. Phạm: dharma, cũng gọi Đạt ma. Dịch ý là pháp. Nghĩa là giữ gìn tự tính mà không biến đổi. Thành duy thức luận thuật kí quyển 1 phần đầu (Đại 43, 239 hạ), nói: Pháp nghĩa là quĩ trì; quĩ là khuôn phép, có thể khiến cho người ta hiểu biết; trì là nắm giữ, không bỏ tự tướng. II. Đàm Ma. Là tên người trong kinh Phật. Cứ theo bộ Thính pháp trong thiên Kính pháp của sách Pháp uyển châu lâm chép, thì thủa xưa trong nhà trưởng giả Tu đạt ở nước Xá vệ có 2 con chim anh vũ, chúng từng nghe A nan nói pháp Tứ đế, vui mừng trì tụng, sau khi chết chim được chuyển sinh làm người, một người tên là Đàm ma, một người tên Tu đàm ma.
đàm ma ba la
Dhammapali (P)Tên một vị sư.
đàm ma bi
6238梵名 Dharma-priya。又作曇摩卑。意譯法愛。罽賓國沙門。器宇明敏,常存弘教之志。前秦建元年間來華。建元十八年(382),誦出鳩摩羅跋提所獻之梵本大品般若經,佛護(一說竺佛念)譯之,成摩訶鉢羅若波羅蜜經抄五卷。復背誦八犍度阿毘曇及二足論。其後不知所終。〔出三藏記集卷二、卷八、卷十、歷代三寶紀卷八、慧琳音義卷八十、古今譯經圖紀卷三〕
; (曇摩蜱) Phạm: Dharma-priya. Dịch ý: Pháp ái. Vị sa môn nước Kế tân. Sư tính sáng láng, thường ấp ủ chí hoằng pháp. Sư đến Trung quốc vào đời Tiền Tần Năm Kiến nguyên 18 (382), sư tụng kinh Đại phẩm bát nhã bản tiếng Phạm, ngài Phật hộ (có thuyết nói là ngài Trúc phật niệm) dịch ra chữ Hán nhan đề: Ma ha bát la nhã ba la mật kinh sao 5 quyển. Sau đó, sư lại tụng Bát kiền độ a tì đàm và Nhị túc luận. Về sau, sự tích của sư thế nào, không rõ. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, Q.8, Q.10; Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Tuệ lâm âm nghĩa Q.80; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.3].
đàm ma ca
Xem pháp tạng.
; Dharmakara (skt)—Đàm Ma Ca Lưu—Một vị Tăng nổi tiếng tại Ấn Độ (Tàu dịch là Pháp Tạng) vào khoảng những năm 400 sau Tây Lịch (ngài nguyên là một vị quốc vương, sau khi nghe thuyết pháp trong lòng hoan hỷ, bèn bỏ cung điện xuất gia)—A noted monk in India around 400 A.D.
đàm ma ca la
6237梵名 Dharma-kāla。又作曇柯迦羅、曇摩柯羅、曇柯羅。意譯法時。中印度人。自幼聰敏,通解四吠陀,自謂天下文理悉在心腹之中。後閱阿毘曇心論,茫然不解,請一比丘敷講之,始悟因果之理妙達三世,自此摒棄世樂,出家精進,誦大小乘經典及諸部律藏。曹魏黃初三年(222)至許昌(一說嘉平二年至洛陽)。嘉平二年(250),於洛陽白馬寺譯出僧祇律戒本一卷,並請梵僧制定羯磨法,傳授戒律,為我國授戒度僧之始。其後不知所終。〔梁高僧傳卷一、四分律刪繁補闕行事鈔卷中一、四分律行事鈔資持記卷中一、佛祖統紀卷三十五、開元釋教錄卷一、釋氏稽古略卷一〕
; Xem Pháp thời.
; (曇摩迦羅) Phạm: Dharma-kàla. Cũng gọi Đàm kha ca la, Đàm ma kha la, Đàm kha. Dịch ý: Pháp thời, người Trung Ấn độ. Sư thông minh từ thủa nhỏ, hiểu suốt bốn Phệ đà, tự cho rằng chữ nghĩa của thiên hạ ở hết trong bụng mình! Nhưng sau đọc luận A tì đàm tâm thì mờ mịt chẳng hiểu gì, sư thỉnh một vị tỉ khưu giảng giải cho mới hiểu rõ lí mầu nhiệm của nhân quả trong ba đời. Từ đó sư gác bỏ những thú vui trần thế, xuất gia học đạo, xem các kinh Đại thừa, Tiểu thừa và các bộ luật. Năm Hoàng sơ thứ 3 (222) đời Tào Ngụy sư đến Hứa xương (có thuyết nói năm Gia bình thứ 2 sư đến Lạc dương). Năm Gia bình thứ 2 (250) sư ở chùa Bạch mã tại Lạc dương phiên dịch Tăng kì luật giới bản 1 quyển và thỉnh chư tăng giới hạnh tinh nghiêm làm pháp yết ma truyền trao giới luật. Đây là việc truyền giới độ tăng đầu tiên ở Trung quốc. Về sau không biết sư tịch ở đâu. [X. Lương cao tăng truyện Q.1; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung phần 1; Phật tổ thống kỉ Q.35; Khai nguyên thích giáo lục Q.1; Thích thị kê cổ lược Q.1].
đàm ma ca lưu
Xem pháp tạng.
đàm ma da xá
6237梵名 Dharma-yaśas。意譯法明、法稱。罽賓國人。少好學,長通經律。以夢中得博叉天王之教示,而起遊方之志,於東晉隆安年中至廣州,住白沙寺。以善誦毘婆沙律,故人稱「大毘婆沙」,時年已八十五。義熙年中至長安,姚興大加禮敬。與曇摩掘多於長安譯出舍利弗阿毘曇論二十二卷(現存三十卷)。其後再至江南,住於荊州辛寺,大弘禪法,四方求化者達三百餘人。劉宋元嘉年中,辭歸西域,不知所終。其弟子法度,亦通曉梵、漢語言。〔舍利弗阿毘曇論序、梁高僧傳卷一、歷代三寶紀卷八、開元釋教錄卷四〕
; Xem Pháp Xưng.
; Dharmayasas (skt)—Một vị Tỳ Kheo nổi tiếng của Ấn Độ (Tàu dịch là Pháp Minh) vào khoảng những năm 400 sau Tây Lịch—A noted monk in India around 400 A.D.
; (曇摩耶舍) Phạm: Yazas. Dịch ý: Pháp minh, Pháp xứng. Sư người nước Kế tân, thủa nhỏ ham học, thông suốt kinh luật. Trong giấc ngủ sư mơ thấy được Bác xoa thiên vương chỉ bảo, nên nảy chí du phương. Trong năm Long an (?) đời Đông Tấn sư đến chùa Bạch sa ở Quảng châu, vì tụng luật Tì bà sa rất hay nên người đời gọi sư là Đại tì bà sa. Lúc đó sư đã được 85 tuổi. Trong năm Nghĩa hi (?) sư đến Trường an, vua Diêu hưng rất cung kính sư. Ở đây, sư cùng với ngài Đàm ma quật đa dịch luận Xá lợi phất a tì đàm 22 quyển (bản hiện nay 30 quyển). Sau, sư trở lại Giang nam lần thứ 2 ở chùa Tân tại Kinh châu hoằng dương pháp Thiền, hơn 300 người từ các nơi đến cầu học. Trong năm Nguyên gia (?) sư trở về Tây vực. [X. Xá lợi phất a tì đàm luận tự; Lương cao tăng truyện Q.1; Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Khai nguyên thích giáo lục Q.4].
đàm ma già đà da xá
6236梵名 Dharmagatayaśas。意譯法生稱。南齊譯經僧。中印度人。善隸書。高帝建元三年(481),於廣州朝亭寺譯出無量義經一卷。其餘事蹟及生卒年等不詳。〔開元釋教錄卷五、歷代三寶紀卷十一〕
; (曇摩伽陀耶舍) Phạm: Dharmagatayazas. Dịch ý: Pháp sinh xứng. Sư người Trung Ấn độ, giỏi viết chữ Lệ. Vào năm Kiến nguyên thứ 3 (481) đời vua Cao đế nhà Nam Tề sư ở chùa Triều đình tại Quảng châu dịch kinh Vô lượng nghĩa 1 quyển. Những sự tích khác cũng như năm sinh năm mất của sư đều không rõ. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.5; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11].
đàm ma la
6238西域烏場國沙門。又作僧摩羅。聰慧利根,精通佛法。於北魏嘉平年間(249~253)到中國,未久,即通曉魏語、隸書。凡所見聞,無不通達了解,並嚴持戒行苦修,為一般道俗所欽仰。曾建法雲寺於洛陽城西。師又擅於祕法咒術,且神驗無比,能咒枯樹生枝葉,咒人變驢馬,見者無不驚怖。〔洛陽伽藍記卷四〕
; (曇摩羅) Vị sa môn nước Ô trường, Tây vực. Cũng gọi Tăng già la. Sư thông minh lanh lợi, hiểu suốt Phật pháp. Sư đến Trung quốc vào khoảng năm Gia bình (249 - 253) đời Bắc Ngụy; không bao lâu sư đã thông thạo tiếng Trung quốc và viết chữ Lệ. Sư nghiêm trì giới luật, tu hành khổ hạnh nên mọi người đều kính trọng khâm phục. Sư làm chùa Pháp vân ở phía tây thành Lạc dương. Sư còn chuyên cả mật pháp chú thuật, linh nghiệm không ai sánh kịp. Sư có thể chú nguyện cho cây khô mọc ra cành lá, chú nguyện khiến người biến thành lừa, ngựa, ai thấy cũng kinh sợ. [X. Lạc dương già lam kí Q.4].
đàm ma la sát
Xem Pháp Hộ.Xem Trúc Pháp Hộ.
đàm ma lưu chi
6236梵名 Dharma-ruci。意譯法樂、法希。<一>西域僧。通曉律藏,後秦弘始七年(405)至長安。此前,有罽賓沙門弗若多羅誦出十誦律之大半,師乃應姚興之請,誦出其餘,鳩摩羅什譯之,凡五十八卷。此乃我國廣律傳譯之嚆矢。其後遊化諸方,弘傳戒律,或謂於涼土示寂。〔梁高僧傳卷二、卷六慧遠傳、出三藏記集卷十二、歷代三寶紀卷三、卷九、開元釋教錄卷六〕 <二>南印度人。夙志弘道,北魏景明年間至洛陽。景明二年(501)於白馬寺譯出如來莊嚴智慧光明入一切佛境界經二卷。正始年間,譯出信力入印法門經五卷、金色王經一卷。其餘事蹟及生卒年等不詳。又據續高僧傳卷一菩提流支傳載,後周天和年中,有摩勒國沙門達摩流支,奉敕譯出婆羅門天文二十卷。以年代稍遲,恐非同一人。〔歷代三寶紀卷三、大唐內典錄卷四、開元釋教錄卷六〕
; (曇摩流支) Phạm: Dharma-ruci. Dịch ý: Pháp lạc, Pháp hi. I. Đàm Ma Lưu Chi. Vị tăng người Tây vực, thông hiểu tạng Luật, đến Trường an, Trung quốc vào năm Hoằng thủy thứ 7 (405) đời Hậu Tần. Trước đó, có sa môn Phất nhã đa la người nước Kế tân đã tụng luật Thập tụng được hơn phân nửa, ngài Đàm ma lưu chi, theo lời thỉnh của vua Diêu hưng, tụng tiếp hết phần còn lại và ngài Cưu ma la thập dịch ra chữ Hán gồm 58 quyển. Đây là lần đầu tiên Quảng luật được dịch tại Trung quốc(trước đó mới chỉ có Giới bản được phiên dịch–ND). Sau đó, ngài Đàm ma lưu chi đi du hóa các nơi hoằng truyền giới luật. Có chỗ nói sư tịch ở nước Lương. [X. Lương cao tăng truyện Q.2, Q.6 truyện Tuệ viễn; Xuất tam tạng kí tập Q.12; Lịch đại tam bảo kỉ Q.3, Q.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.6]. II. Đàm Ma Lưu Chi. Vị sa môn người Nam Ấn độ, sớm có chí hoằng đạo. Khoảng năm Cảnh minh đời Bắc Ngụy sư đến Lạc dương, Trung quốc. Năm Cảnh minh thứ 2 (501), sư dịch kinh Như lai trang nghiêm trí tuệ quang minh nhập nhất thiết Phật cảnh giới 2 quyển ở chùa Bạch mã. Khoảng năm Chính thủy (?), sư dịch kinh Tín lực nhập ấn pháp môn 5 quyển, kinh Kim sắc vương 1 quyển. Những sự tích khác cũng như năm sinh năm mất của sư không được rõ. Ngoài ra, truyện Bồ đề lưu chi trong Tục cao tăng truyện quyển 1 nói, trong năm Thiên hòa đời Hậu Chu có vị sa môn nước Ma lặc tên Đạt ma lưu chi vâng sắc chỉ của vua dịch Bà la môn thiên văn 20 quyển. Vì niên đại của vị sa môn này hơi muộn nên e không phải là ngài Đàm ma lưu chi. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.3; Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.6].
đàm ma mật đa
6237(356~442)梵名 Dharma-mitra。又作曇摩蜜多。意譯法秀。南朝劉宋時代譯經三藏。罽賓國人。七歲入道,博覽群經,特深解禪法。遊方弘化,經龜茲而至敦煌,後入涼州,於公府武威之舊寺營建堂舍,大弘禪業。宋元嘉元年(424)入蜀,後抵建業,止於祇洹寺,道譽隆盛,帝后俱從師請戒。於祇洹寺譯出五門禪經要用法、觀普賢菩薩行法經、觀虛空藏菩薩經各一卷,並以禪道教授學徒,人稱「大禪師」,又稱「連眉禪師」。其後赴鄮縣(浙江寧波),建寺化眾。元嘉十年還建業,止於鍾山定林下寺;十二年,另建上寺,以為安禪之所,並譯出禪祕要經三卷。元嘉十九年七月示寂,世壽八十七。據開元釋教錄卷五等所載,師所譯經典,除上舉之外,另有虛空藏菩薩神咒經等,凡十二部,十七卷。〔出三藏記集卷二、卷十四、梁高僧傳卷二、神僧傳卷三、歷代三寶紀卷十〕
; Dharmamutra (S)Tên một vị sưXem Pháp Tú.
; (曇摩密多) (356 - 442) Phạm:Dharma-mitra. Dịch ý: Pháp tú, người nước Kế tân, đến Trung quốc vào thời đại Lưu Tống thuộc Nam triều. Sư xuất gia năm 7 tuổi, học thông suốt các kinh, đặc biệt là hiểu sâu về pháp Thiền. Sư đi du phương hoằng hóa, qua nước Cưu tư đến Đôn hoàng, sau sư vào Lương châu xây dựng Thiền đường trên ngôi chùa cũ ở công phủ Vũ uy để tuyên dương đạo Thiền. Niên hiệu Nguyên gia năm đầu (424) đời Tống, sư vào đất Thục, rồi đến Kiến nghiệp ở chùa Kì hoàn để dịch kinh. Vua và hoàng hậu đều đến theo sư thỉnh giới, người đến học Thiền với sư rất đông, nên tiếng tăm sư lừng lẫy và được tôn xưng là Đại thiền sư, cũng gọi Liên mi thiền sư (thiền sư có cặp lông mày liền nhau). Sau đó, sư đến huyện Mậu (Ninh ba, Chiết giang) làm chùa giáo hóa đồ chúng. Năm Nguyên gia thứ 10 (433) sư trở về Kiến nghiệp ở chùa Định lâm hạ núi Chung sơn. Năm Nguyên gia 12 (435) sư kiến thiết chùa Định lâm thượng làm nơi tu Thiền và dịch kinh. Năm Nguyên gia 19 (442) tháng 7 sư tịch, thọ 87 tuổi. Các kinh do sư dịch gồm có: - Ngũ môn thiền kinh yếu dụng pháp 1 quyển. - Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp kinh 1 quyển. - Quán Hư không tạng bồ tát kinh 1 quyển. - Thiền bí yếu kinh 3 quyển. - Hư không tạng bồ tát thần chú kinh 1 quyển v.v... [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, Q.14; Lương cao tăng truyện Q.2; Thần hội truyện Q.3; Lịch đại tam bảo kỉ Q.10].
đàm ma nan đề
6238梵名 Dharma-nandi。又作曇無難提、難陀。意譯法喜。兜佉勒國人。幼年出家,聰慧明敏,遍閱三藏典籍,尤熟解增一阿含及中阿含,深為國人所推重。前秦建元二十年(384)至長安,與道安、竺佛念等共譯出中阿含五十九卷、增一阿含四十一卷,凡一百卷(一說九十二卷),為大部譯經之始。師道譽甚隆,頗受苻堅禮遇,及苻堅為姚萇縊殺,於後秦建初六年(391),為姚旻譯出阿育王息壞目因緣經一卷。又據歷代三寶紀卷八所載,師另譯出三法度論二卷、僧伽羅剎集經二卷等。但據梁高僧卷一所載,姚萇寇逼關內之際,師即辭歸西域,不知所終。阿含二經後由僧伽提婆校正,即今所傳之經。〔增一阿含經序、阿育王子法益壞目因緣經序、出三藏記集卷二、卷七、卷九、卷十、歷代三寶紀卷三、開元釋教錄卷三〕
; Xem pháp hỷ.
; Dharmananendin (S)Pháp HỷTên một vị Sa môn dịch kinh tại Trường an năm 384 - 391.
; Dharmanandi (skt)—Một vị Tăng nổi tiếng của Ấn Độ (Tàu dịch là Pháp Hỷ) vào khoảng những năm 400 sau Tây Lịch, đến Trường An, Trung Quốc, dịch bộ Kinh A Hàm—A noted Indian monk around 400 A.D., came to Chang-An, China, translated the Agama Sutra.
; (曇摩難提) Phạm: Dharma-nandi. Cũng gọi Đàm vô nan đề, Nan đà. Dịch ý: Pháp hỉ, người nước Đâu khư lặc. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, thông minh dĩnh ngộ, học suốt ba tạng kinh điển, hiểu sâu Tăng nhất a hàm và Trung a hàm. Năm Kiến nguyên 20 (384) đời Tiền Tần, sư đến Trường an, rồi cùng với các ngài Đạo an, Trúc Phật niệm phiên dịch Trung a hàm 59 quyển và Tăng nhất a hàm 41 quyển, sau do ngài Tăng già đề bà giáo chính, tức là bản dịch lưu hành hiện nay. Ngoài ra, sư còn dịch kinh A dục vương tức hoại mục nhân duyên 1 quyển, kinh Tăng già la sát tập 2 quyển, luận Tam pháp độ 2 quyển v.v... [X. Tăng nhất a hàm kinh tự; A dục vương tử pháp ích hoại mục nhân duyên kinh tự; Xuất tam tạng kí tập Q.2, Q.7, Q.9, Q.10; Lịch đại tam bảo kỉ Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.3].
đàm ma pa la
Xem hộ pháp.
đàm ma quật đa
6237印度僧。生卒年不詳。師與罽賓沙門曇摩耶舍於東晉安帝義熙年中(405~418)至長安。姚秦弘始九年(407)至十七年,於石羊寺譯出舍利弗阿毘曇論二十二卷(或三十卷、二十卷)。〔歷代三寶紀卷八、開元釋教錄卷四〕
; (曇摩掘多) Vị tăng người Ấn độ. Năm sinh năm mất không rõ. Trong năm Nghĩa hi (405 - 418) đời vua An đế nhà Đông Tấn, sư cùng với vị sa môn người Kế tân tên Đàm ma da xá đến Trường an. Trong khoảng năm Hoằng thủy thứ 9 đến 17 (407 - 415) đời Diêu Tần, sư dịch luận Xá lợi phất a tì đàm 22 quyển (có chỗ nói 30 quyển hay 20 quyển) ở chùa Thạch dương. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Khai nguyên thích giáo lục Q.4].
đàm ma thị
6236又作曇摩持。意譯法慧、法海。西域僧。善諷誦阿毘曇,復善持律。前秦建元年中抵長安,於建元十五年(379)誦出十誦比丘戒本。此戒本中,眾學法有一一○法,總計比丘大戒為二六○戒,與現存之戒本不同。同年,僧純、曇充等由龜茲國沙門佛圖舌彌傳來比丘尼戒本一卷、教授比丘尼二歲壇文一卷、夏坐雜十二事、雜事等,師亦譯出之。其餘事蹟及生卒年等不詳。〔鼻奈耶序、出三藏記集卷二、歷代三寶紀卷八、開元釋教錄卷三〕
; (曇摩侍) Cũng gọi Đàm ma trì. Dịch ý: Pháp tuệ, Pháp hải. Vị tăng người Tây vực, nghiêm trì giới luật và thường đọc tụng A tì đàm. Khoảng năm Kiến nguyên đời Tiền Tần, sư đến Trường an, năm Kiến nguyên 15 (379) sư tụng Thập tụng tỉ khưu giới bản. Giới bản này gồm 260 giới tỉ khưu, trong đó, có 110 giới pháp Chúng học, khác với giới bản hiện nay. Ngoài ra, sư còn dịch: Tỉ khưu ni giới bản 1 quyển, Giáo thụ tỉ khưu ni nhị tuế đàn văn 1 quyển, Hạ tọa tạp thập nhị sự, Tạp sự v.v... Còn các sự tích khác cũng như năm sinh năm mất của sư không rõ. [X. Tì nại da tự; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Khai nguyên thích giáo lục Q.3].
đàm ma ty
Xem Pháp Thiện.
đàm mô
Xem pháp.
; Xem Pháp.
đàm mật
6231(1120~1188)宋代臨濟宗僧。浙江天台人,俗姓盧。號混源。十二歲出家,師事資福道榮。十六歲受具足戒,習天台宗教法。歷參徑山大慧宗杲、雪巢法一、此庵景元諸師。後參謁泉南之晦庵彌光,並嗣其法。乾道七年(1171)駐錫於苕溪上方寺,其後歷住紫擇、鴻福、萬年等寺。淳熙十一年(1184),敕住淨慈寺。十五年示寂,世壽六十九,法臘五十四。著有混源密和尚語要一卷。〔嘉泰普燈錄卷二十一、五燈會元卷二十〕
đàm nghĩa
6158講說道理之意。又作談議、法問、文談。即談論佛法,說明經疏之義理。新華嚴經卷五十三離世間品(大一○‧二八一下):「佛子!菩薩摩訶薩有十種知三世,何等為十?所謂知諸安立,知諸語言,知諸談議,知諸軌則,知諸稱謂,知諸制令,知其假名,知其無盡,知其寂滅,知一切空,是為十。」在日本特用於講說、問答之意,至後世,「談義」逐漸演變為探解佛法之疑惑,平易地演述經釋之深義。與「說教」、「法談」同義。又中世以來地方寺院設有談義所,以便教學之研究。江戶時代則產生談義僧、門談義、辻談義、長談義等俗語。〔大智度論卷十一、大日經疏卷三、嬉遊笑覽卷六、類聚名物考卷一六六〕
; Bàn luận về nghĩa lý—To discuss the meaning.
; (談義) Hàm ý là giảng nói nghĩa lí của Phật pháp. Cũng gọi Đàm nghị, Pháp vấn, Văn đàm. Phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 53 (Đại 12, 281 hạ), nói: Này các Phật tử! Bồ tát ma ha tát có 10 thứ biết trong ba đời. Những gì là 10? Đó là: Biết những sự an lập, biết các ngôn ngữ, biết đàm nghĩa, biết phép tắc, biết cách xưng danh, biết những luật định, biết các tên giả, biết lí vô tận, biết sự tịch diệt, biết tất cả pháp không. Tại Nhật bản, Đàm nghĩa đặc biệt được dùng với nghĩa đàm thuyết, vấn đáp. Đến đời sau danh từ Đàm nghĩa dùng để giải thích rõ những chỗ còn nghi ngờ trong Phật pháp và trình bày nghĩa sâu xa một cách giản dị; trong trường hợp này, nó đồng nghĩa với các từ thuyết giáo, pháp đàm. Ngoài ra, từ thời Trung cổ trở đi, các chùa viện địa phương, có thiết lập Đàm nghĩa sở để tiện cho việc nghiên cứu về giáo học. Ở thời Giang hộ (Edo) có các tục ngữ như Đàm nghĩa tăng, Môn đàm nghĩa, Trường đàm nghĩa v.v... [X. luận Đại trí độ Q.11; Đại nhật kinh sớ Q.3; Hi du tiếu lãm Q.6; Loại tụ danh vật khảo Q.166].
đàm nghị
To discuss and consult, or deliberate.
đàm nguyên
Tan Yuan (C)Tên một vị sư.
đàm ngạc
6238(1285~1373)元末臨濟宗僧。浙江慈溪人,俗姓王。字夢堂,號酉庵。六歲喪父,奉母命習儒。及長志求出世間法,禮奉化廣法院良公為師。二十三歲,禮謁長蘆之雪庭傳公,剃髮受具足戒。後聞元叟行端自中天竺寺移住靈隱寺,前往參謁,大悟,嗣其法,司內記,任徑山之書記。至元五年(1339)駐錫於四明咸聖寺,後移住慈溪開壽寺。帝賜號「佛真文懿」。至正十七年(1357),師為瑞光院之開山。八十二歲,編集六學僧傳三十卷。洪武三年(1370),帝召見眾僧時,師為眾僧之首,住天界寺。洪武六年示寂,世壽八十九。〔六學僧傳序、南宋元明僧寶傳卷十、增續傳燈錄卷四、佛祖綱目卷四十一、五燈嚴統卷二十二、宋學士集卷三十三〕
; (曇噩) (1285 - 1373) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâmtế ở cuối đời Nguyên, người huyện Từ khê, tỉnhChiết giang, họ Vương, tự Mộng đường, hiệu Tây am. Năm lên 6 tuổi, cha mất, sư vâng lời mẹ học Nho, lớn lên, theo Lương công ở viện Quảng pháp tại Phụng hóa học Phật pháp. Năm 23 tuổi, sư lễ ngài Tuyết đình Truyền công ở Trường lô xin xuất gia thụ giới Cụ túc. Sau, sư nghe tin ngài Nguyên tẩu Hành đoan từ chùa Trung thiên trúc dời đến trụ trì chùa Linh ẩn, sư liền đến hỏi đạo, được đại ngộ và nối pháp ngài, làm Thị giả và giữ chức Thư kí ở Kính sơn. Năm Chí nguyên thứ 5 (1339) sư trụ trì chùa Hàm thánh ở Tứ minh, sau lại dời về ở chùa Khai thọ tại Từ khê, vua ban cho hiệu là Phật chân văn ý. Năm Chí chính 17 (1357) sư sáng lập viện Thụy quang. Năm Hồng vũ thứ 6 sư tịch, thọ 89 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Lục học tăng truyện 30 quyển. [X. Lục học tăng truyện tự; Nam Tống Nguyên Minh tăng bảo truyện Q.10; Tăng tục truyền đăng lục Q.4; Phật tổ cương mục Q.41; Ngũ đăng nghiêm thống Q.23; Tống học sĩ tập Q.33].
đàm nhất
6229(692~771)唐代僧。山陰人,俗姓張。景龍年間出家,精通內外之學。初從曇勝學行事鈔,後遊長安,師事相部宗太亮,著有發正義記十卷,闡說南山、相部二宗之別。後住會稽開元寺,前後講四分律三十五遍、行事鈔二十餘遍,度眾達十萬人,時稱人中師子。大曆六年示寂,世壽八十。弟子有朗然、神皓、辨秀、道昂等。〔宋高僧傳卷十四、唐文粹卷六十二〕
; (曇一) (692-771) Vị tăng sống vào đời Đường, người Sơn âm, họ Trương. Khoảng năm Cảnh long, sư xuất gia, dốc chí ở việc học, tinh thông cả nội ngoại điển. Mới đầu, sư theo ngài Đàm thắng học bộ Hành sự sao, sau sư đến Trường an thờ ngài Thái lượng của Tướng bộ tông làm thầy. Trong thời gian này, sư soạn sách Phát chính nghĩa kí 10 quyển để nói rõ sự sai khác giữa Nam sơn tông và Tướng bộ tông. Về sau, sư trụ trì chùa Khai nguyên ở Cối kê, lần lượt giảng luật Tứ phần 35 lần, Hành sự sao hơn 20 lần, độ hàng chục nghìn người, được tôn xưng là Nhân Trung Sư Tử. Năm Đại lịch thứ 6 sư tịch, thọ 80 tuổi. Đệ tử có các vị: Lãng nhiên, Thần hạo, Biện tú, Đao ngang v.v... Tác phẩm có: Phát chính nghĩa kí 10 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.14; Đường văn túy Q.62].
đàm phán
To negotiate.
đàm quả
Xem hộ pháp.
đàm sấm nhị giáo
6241指北涼曇無讖依據涅槃經所立之半字教及滿字教。曇無讖以此二教分判如來一代之聖教。即:(一)半字教,聲聞藏談理未遍,猶如字之一半,故稱半字教。(二)滿字教,菩薩藏談理滿足,猶如字之圓滿,故稱滿字教。〔華嚴經疏卷一〕
; (曇讖二教) Tức là Bán tự giáo và Mãn tự giáo, do ngài Đàm vô sấm ở thời Bắc Lương, đã y cứ vào kinh Niết bàn mà lập ra để phân chia giáo pháp của một đời đức Phật. 1. Bán tự giáo: Thanh văn tạng nghĩa lí chưa rốt ráo, như mới có một nửa chữ, nên gọi là Bán tự giáo. 2. Mãn tự giáo: Bồ tát tạng nghĩa lí đầy đủ, như trọn cả chữ, nên gọi là Mãn tự giáo. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1].
Đàm Thiên
(曇遷, Donsen, 542-607): vị tăng sống dưới thời nhà Tùy, người vùng Nhiêu Dương (饒陽), Bác Lăng (博陵, Hà Bắc [河北]), họ Vương (王). Lúc nhỏ ông theo cậu học các kinh thư, lại rất chú trọng Chu Dịch. Năm 21 tuổi, ông xuất gia với Đàm Tĩnh (曇靜) ở Cổ Hòa Tự (賈和寺) vùng Định Châu (定州), ban đầu học Thắng Man Kinh (勝鬘經); nhưng sau khi thọ Cụ Túc giới xong ông lui ẩn cư ở Tịnh Quốc Tự (淨國寺) thuộc Lâm Lự Sơn (林慮山), chuyên nghiên cứu và đọc Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經), Duy Ma Kinh (維摩經), Thập Địa Kinh (十地經), Lăng Già Kinh (楞伽經), Đại Thừa Khởi Tín Luận (大乘起信論), v.v. Khi ông nghiên cứu về Duy Thức Luận (唯識論), bị bệnh nóng trong người, mộng thấy ăn mặt trăng rồi được lành bệnh, cho nên mới đổi tên là Nguyệt Đức (月德). Vào lúc diệt Phật của vua Võ Đế nhà Bắc Chu, ông chạy về phương Nam, nhân đọc được bộ Nhiếp Đại Thừa Luận (攝大乘論) nơi nhà của vị Sắc Sứ Tương Quân (蔣君), ý niệm bỗng an nhiên thoát lạc. Vào đầu thời nhà Tùy, ông thuyết giảng Nhiếp Đại Thừa Luận, Lăng Già Kinh, Đại Thừa Khởi Tín Luận, v.v., tại Mộ Thánh Tự (慕聖寺) ở Bành Thành (彭城). Từ đó, giáo học Nhiếp Luận được truyền vào phương Bắc. Đến năm thứ 7 (587) niên hiệu Khai Hoàng (開皇), ông vâng chiếu vào kinh trú trì Đại Hưng Thiện Tự (大興善寺), nỗ lực tuyên dương Nhiếp Luận và số lượng người đến tu học ngày một đông lên đến cả ngàn. Vào năm đầu (601) niên hiệu Nhân Thọ (仁壽), vua ban chiếu chỉ tạo lập khắp toàn quốc 30 tháp xá lợi, riêng ông vâng mệnh xây dựng một ngôi tháp tại Phụng Tuyền Tự (鳳泉寺) ở Kì Châu (岐州). Đến năm thứ 3 (607) niên hiệu Đại Nghiệp (大業), ông thị tịch, hưởng thọ 66 tuổi. Trước tác của ông có Nhiếp Luận Sớ (攝論疏) 10 quyển, và sớ giải của Lăng Già Kinh, Khởi Tín Luận, Duy Thức Luận, Như Thật Luận (如實論), v.v.
đàm thiên
6239<一>(384~482)南朝宋、齊時代僧。祖先為月支人,俗姓支。寓居建康,篤好佛儒,善談老莊,工於書法,又善梵唄。初住於祇洹寺,後移住烏衣寺。與范曄相善,及范曄被誅,毅然挺身為之營葬。宋孝武帝聞而歎賞,囑臣下撰宋書時勿遺漏師之行蹟。著有十地經論之注疏。於齊建元四年示寂,世壽九十九。〔梁高僧傳卷十三〕 <二>(542~607)隋代僧。博陵饒陽(位於河北)人,俗姓王。幼從舅父學六經,尤重周易。二十一歲,投定州賈和寺曇靜出家。初學勝鬘經,受具足戒後,隱居林慮山淨國寺,研讀華嚴經、十地經、維摩經、楞伽經、大乘起信論等大乘經論。嘗研討唯識論,得心熱病,夢食明月而癒,遂改名月德。 北周武帝滅佛之際,師南奔建康,於桂州刺史蔣君宅獲讀攝大乘論,意念洞然。隋初,入彭城慕聖寺講攝大乘論、楞伽經、大乘起信論等。自此攝論之學傳入北方。開皇七年(587),奉詔入京住於大興善寺,敷揚攝論,受業者達千數。開皇十年,文帝從其議,凡有僧尼私度者,並聽出家,達數十萬人。仁壽元年(601),詔全國造舍利塔三十座,師受命至岐州鳳泉寺監造一塔。其後,復敕各州建寺、起造靈塔。凡此皆師之力。後奉詔為京師禪定寺主。於大業三年示寂,世壽六十六。著有攝論疏十卷,及楞伽經、起信論、唯識論、如實論等之疏,另有九識章、四明章、華嚴明難品玄解等,凡二十餘卷,然已全告佚失。弟子有淨業、道哲、靜琳、玄琬、道英、明馭、靜凝等。〔續高僧傳卷二、卷十二、卷十八、卷二十〕(參閱「攝論宗」6850)
; (曇遷) I. Đàm Thiên (384 - 482). Vị tăng ở đời Tống, Tề thuộc Nam triều, người Kiến khang, tổ tiên là người nước Nguyệt chi, họ Chi. Sư rất ham học Phật, Nho, hay bàn về Lão Trang, thạo thư pháp (nghệ thuật viết chữ Hán), lại giỏi về Phạm bái (tán tụng, đọc canh). Lúc đầu sư trụ trì chùa Kì hoàn, sau dời đến ở chùa Ô y. Năm Kiến nguyên thứ 4 sư tịch, thọ 99 tuổi. Sư có chú sớ bộ Thập địa kinh luận. II. Đàm Thiên (542 - 607). Vị tăng ở đời Tùy, người Nhiêu dương, Bác lăng (Hà bắc), họ Vương. Thủa nhỏ sư theo cậu học Lục kinh, đặc biệt ham Chu dịch. Năm 21 tuổi, sư y vào ngài Đàm tĩnh xuất gia ở chùa Giả hòa thuộc Định châu. Mới đầu sư học kinh Thắng man, sau khi thụ giới Cụ túc, ẩn cư ở chùa Tịnh quốc núi Lâm lự, nghiên cứu các kinh luận Đại thừa như kinh Hoa nghiêm, kinh Thập địa, kinh Duy ma, kinh Lăng già, luận Đại thừa khởi tín, luận Duy thức v.v... Sư mắc bệnh tâm nhiệt, nằm mộng thấy nuốt mặt trăng sáng mà hết bệnh, do đó mới đổi tên là Nguyệt đức. Khi Vũ đế nhà Bắc Chu diệt Phật, sư về Kiến khang lánh nạn ở nhà Thứ sử Tưởng quân tại Quế châu, sư được đọc luận Nhiếp đại thừa, cảm thấy tâm ý rỗng suốt. Đầu đời Tùy, sư đến chùa Mộ thánh ở Bành thành giảng luận Nhiếp đại thừa, luận Đại thừa khởi tín, kinh Lăng già v.v... Từ đây học phái Nhiếp luận được truyền đến phía Bắc. Năm Khai hoàng thứ 7 (587), vua ban chiếu chỉ triệu sư về trụ trì chùa Đại hưng thiện tại Kinh đô hoằng dương luận Nhiếp đại thừa, mấy nghìn người đến theo học. Năm Khai hoàng thứ 10 (590), theo lời đề nghị của sư, vua Văn đế cho tất cả tăng ni, vì nạn diệt Phật đã phải hoàn tục hoặc trốn tránh, nay được xuất gia trở lại, con số này đến mười vạn người. Niên hiệu Nhân thọ năm đầu (601), vua ban lệnh xây 30 tòa tháp Xá lợi trên khắp nước, sư vâng mệnh đến chùa Phượng tuyền ở Kì châu trông coi việc xây ngôi tháp tại đây. Sau đó vua lại ra lệnh mỗi châu đều phải xây chùa và kiến tạo linh tháp. Tất cả những việc này đều nhờ công lao của sư. Sau đó, sư được triệu về ở chùa Thiền định tại kinh đô. Năm Đại nghiệp thứ 3 (607) sư thị tịch, hưởng thọ 66 tuổi. Đệ tử của sư gồm có các vị: Tịnh nghiệp, Đạo triết, Tĩnh lâm, Huyền uyển, Đạo anh, Minh ngự, Tĩnh ngưng v.v... Sư để lại các tác phẩm: Nhiếp luận sớ 10 quyển và chú giải kinh Lăng già, luận Khởi tín, luận Duy thức, luận Như thực. Ngoài ra còn có Cửu thức chương, Tứ minh chương, Hoa nghiêm minh nan phẩm huyền giải v.v... tất cả gồm 20 quyển, nhưng đều đã thất lạc. [X. Tục cao tăng truyện Q.2, Q.12, Q.18, Q.20]. (xt. Nhiếp Luận Tông).
đàm thoại
Conversation.
đàm thuỵ
6235(1912~1977)陝西富平人,俗姓孟。名伯謙。一名田養民。出身書香世家,幼習儒學。早歲曾遊學於北京清華大學。抗日期間,在西北大學教授儒家思想,並在西安孔教會講授十三經。大陸淪陷後,遷居香港。民國四十三年(1954),應日本亞細亞大學之聘請,任該校講師,講授儒家哲學。同時入東洋大學研究。四十八年以「司馬遷的史記筆法」獲該校文學碩士學位,該文且得到日本政府之獎勵。五十年修完該校博士課程,並以「大乘起信論如來藏緣起之研究」論文,獲得博士學位。六十五年,因積勞成疾,翌年示寂,世壽六十六。師曾接受日本真言宗傳法院之灌頂,並在東京設立曇瑞精舍,講經弘法,接引華僑入佛。師為人剛正耿介,勤於講學著述,著述除上舉之外,另有大乘起信論樞要、比較哲學、唯識論等書。
; (曇瑞) Tư thế nằm sấp mà ngủ. Theo luật dạy, chúng tăng khi ngủ phải nằm nghiêng bên phải. Nhập chúng nhật dụng (Vạn tục 111, 474 thượng): Khi ngủ phải nằm nghiêng bên phải; không được nằm ngửa hoặc nằm sấp; nằm ngửa là tướng nằm của xác chết, nằm sấp là tướng nằm dâm dục thấy nhiều ác mộng.
đàm thuỷ
6230東晉末劉宋時代僧。生卒年不詳。關中(陝西)人。號白足和尚。出家後,常顯神通。晉孝武帝太元(376~396)末年,攜帶經、律數十部,至高句麗(遼東半島)弘揚教法,此為高句麗聞道之始。義熙(405~418)初年,還歸關中。東晉末年,值匈奴肆虐,屠戮沙門,以刀斬師,然未能傷。繼由長安移住於平城。後逢北魏太武帝廢佛法難,帝親斬之而不死,因懼師之神通,遂痛悔其廢佛之過。〔梁高僧傳卷十〕
; (曇始) Vị tăng ở thời đại Lưu Tống cuối đời Đông Tấn, người Quan trung (Thiểm tây) hiệu Bạch túc hòa thượng, năm sinh năm mất không rõ. Sau khi xuất gia. sư thường hiển hiện thần thông. Vào cuối năm Thái nguyên (376- 396), sư mang vài chục bộ Kinh và Luật đến nước Cao cú li (bán đảo Liêu đông) để hoằng dương giáo pháp. Đây là lần đầu tiên nước Cao cú li được biết đến đạo Phật. Đầu năm Nghĩa hi (405 - 418), sư trở về Quan trung. Cuối đời Đông Tấn, giặc Hung nô xâm nhập Trung quốc, giết hại sa môn, chúng dùng dao chém sư nhưng sư không bị tổn thương. Sau đó, sư dời Trường an đến ở Bình thành. Không bao lâu lại gặp Pháp nạn Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy phế Phật; nhà vua tự tay chém sư, nhưng sư không chết. Vì sợ thần thông của sư nên Thái vũ đế rất hối hận về tội diệt Phật của ông ta. [X. Lương cao tăng truyện Q.10].
đàm thạnh
6231(782~841)唐代僧。屬青原行思之法系。鍾陵建昌(江西永修)人,俗姓王。少於石門出家,初參百丈懷海,歷二十餘年,未悟玄旨。懷海示寂後,參謁澧州藥山惟儼,並嗣其法,後住於潭州(湖南長沙)雲巖山大揚宗風,故又稱雲巖曇晟。武宗會昌元年(一說文宗太和三年)示寂,世壽六十。諡號「無住(一說無相)大師」。其法嗣有洞山良价、神山僧密、杏山鑑洪、幽谿等。〔宋高僧傳卷十一、景德傳燈錄卷十四、聯燈會要卷十九、佛祖歷代通載卷十六、釋氏稽古略卷三、五燈嚴統卷五〕
; (曇晟) (782 - 841) Vị Thiền tăng ở đời Đường, người Kiến xương, Chung lăng (huyện Vĩnh tu, tỉnh Giang tây), họ Vương. Sư thuộc pháp hệ ngài Thanh nguyên Hành tư. Thủa nhỏ sư xuất gia ở Thạch môn, tham học ngài Bách trượng Hoài hải hơn 20 năm mà vẫn chưa khế ngộ. Sau khi ngài Hoài hải thị tịch, sư tham yết ngài Dược sơn Duy nghiễm ở Lễ châu và được nối pháp của ngài. Sau, sư đến ở núi Vân nham tại Đàm châu (Trường sa, Hồ nam) nêu cao tông phong, cho nên sư còn được gọi là Vân nham Đàm thạnh. Niên hiệu Hội xương năm đầu đời Đường Vũ tông (có thuyết nói vào năm Thái hòa đời Đường Văn tông) sự thị tịch, thọ 60 tuổi, thụy hiệu Vô Trụ Đại Sư (cũng có thuyết nói Vô tướng đại sư). Các đệ tử nối pháp của sư gồm có: Động sơn Lương giới, Thần sơn Tăng mật, Hạnh sơn Giám hồng, U khê v.v... [X. Tống cao tăng truyện Q.11; Cảnh đức truyền đăng lục Q.14; Liên đăng hội yếu Q.19; Phật tổ lịch đại thông tải Q.16; Thích thị kê cổ lược Q.3; Ngũ đăng nghiêm thống Q.5].
đàm thạnh vân nham thiền sư
Zen master Yun-Yan-T'an-Sheng—Thiền Sư Đàm Thạnh sanh năm 780 tại Kiến Xương. Đàm Thạnh là môn đồ và là người kế vị Pháp của Dược Sơn Duy Nghiễm, và là Thầy của đại Thiền Sư Động Sơn Lương Giới. Theo Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Đàm Thạnh xuất gia rất sớm. Ban đầu sư đến tham học với Bá Trượng Hoài Hải ngót hai mươi năm mà chưa ngộ huyền chỉ. Bá Trượng qui tịch, sư đến tham học và trở thành đệ tử Dược Sơn Duy Nghiễm. Chính nơi đây Pháp Nhãn của ông được khai mở. Ông được Dược Sơn xác nhận làm người kế vị Pháp—Zen master Yun-Yan-T'an-Sheng was born in 780 in Jian-Chang. Yun-Yan was a student and dharma successor of Yueh-Shan Wei-Yen, and the master of the great Ch'an master Tung-Shan Liang-Chieh. According to The Ching-Te-Ch'uan-Teng-Lu, Yun-Yan left home at an early age. Although he studied for about twenty years under Bai-Zhang-Huai-Hai he did not attain enlightenment. After Bai-Zhang passed away, he became a disciple of Yao-Shan-Wei-Yan. There his dharma eye opened and he was confirmed by Yueh-Shan as his dharma successor. • Vân Nham được nhắc tới trong các ví dụ thứ 70, 72 và 89 của Bích Nham Lục—We encounter Yun Yan in examples 70, 72 and 89 in Pi-Yan-Lu. • Dược Sơn hỏi sư: “Ở đâu đến?” Sư thưa: “Ở Bá Trượng đến.” Dược Sơn hỏi: “Bá Trượng có ngôn cú gì để chỉ dạy đồ chúng?” Sư thưa: “Thường ngày hay nói 'Ta có một câu đầy đủ trăm vị.'” Dược Sơn hỏi: “Mặn là mặn, lạt là lạt, không mặn không lạt là vị thường, thế nào một câu đầy đủ trăm vị?” Sư không đáp được—Yao-Shan asked him: “Where have you come from?” Yun-Yan said: “From bai-Zhang.” Yao-Shan asked: “What did Bai-Zhang say to his disciples?” Yun-Yan said: “He often said, 'I have a saying which is the hundred tastes are complete.'” Yao-Shan said: “Something salty tastes salty. Something bland tastes bland. What is neither salty nor bland is a normal taste. What is meant by the phrase, 'One hundred tastes are complete?'” Yun-Yan couldn't answer. • Hôm khác, Dược Sơn hỏi: “Bá Trượng nói pháp gì?” Sư thưa: “Có khi thầy thượng đường đại chúng ngồi yên, cầm gậy đồng thời đuổi tan hết, lại gọi: “Đại chúng!” Chúng xoay đầu lại, thầy bảo'Ấy là gì?'” Dược Sơn bảo: “Sao không sớm nói thế đó? Hôm nay nhơn ngươi thuật lại, ta được thấy Hải Huynh.” Ngay câu nói ấy, sư tỉnh ngộ, lễ bái—Then Yao-Shan said: “What else did Bai-Zhang say?” Yun-Yan said: “Once Bai-Zhang entered the hall to address the monks. Everyone stood. He then used his staff to drive everyone out. The he yelled at the monks, and when they looked back at him he said: 'What is it?'” Yao-Shan said: “Why didn't you tell me this before. Thanks to you today T've finally seen elder brother Hai.” Upon hearing these words Yun-Yan attained enlightenment. • Một hôm Dược Sơn hỏi: “Ngoài chỗ Bá Trượng ngươi còn đến đâu chăng?” Sư thưa: “Con từng đến Quảng Nam.” Dược Sơn hỏi: “Ta nghe nói ngoài cửa thành Đông ở Quảng Châu có một hòn đá bị Châu chủ dời đi chăng?” Sư nói: “Chẳng những Châu Chủ, dù hợp tất cả người toàn quốc dời cũng chẳng động.”—One day Yao-Shan asked Yun-Yan: “Besides living at Mount Bai-Zhang, where else have you been?” Yun-Yan answered: “I was in Kuang-Nan (Southern China).” Yao-Shan said: “I've heard that east of the city gate of Kuang-Chou there is a great rock that the local governor can't move, is that so?” Yun-Yan said: “Not only the governor! Everyone in the country together can't move it.” • Một hôm, Dược Sơn hỏi: “Ta nghe ngươi biết làm sư tử múa phải chăng?” Sư thưa: “Phải.” Dược Sơn hỏi: “Múa được mấy suất?” Sư thưa: “Múa được sáu suất.” Dược Sơn nói: “Ta cũng múa được.” Sư hỏi: “Hòa Thượng múa được mấy suất?” Dược Sơn đáp: “Ta múa được một suất.” Sư nói: “Một tức sáu, sáu tức một.”—One day, Yao-Shan asked: “I've heard that you can tame lions. Is that so?” Yun-Yan said: “Yes.” Yao-Shan said: “How many can you tame?” Yun-Yan said: “Six.” Yao-Shan said: “I can tame them too.” Yun-Yan asked: “How many does the master tame?” Yao-Shan said: “One.” Yun-Yan said: “One is six. Six is one.” • Sau sư đến Qui Sơn Linh Hựu, Qui Sơn hỏi: “Nghe trưởng lão ở Dược Sơn làm sư tử múa phải chăng?” Sư đáp: “Phải.” Qui Sơn hỏi: “Thường múa hay có khi nghỉ?” Sư đáp: “Cần múa thì múa, cần nghỉ thì nghỉ.” Qui Sơn hỏi: “Khi nghỉ sư tử ở chỗ nào?” Sư đáp: “Nghỉ! Nghỉ!”—Later, Yun-Yan was at Mount Kui. Kui-Shan asked him: “I've often heard that when you were at Yao-Shan you tamed lions. Is that so?” Yun-Yan said: “Yes.” Kui-Shan asked: “Were they always under control, or just sometimes?” Yun-Yan said: “When I wanted them under control they were under control. When I wanted to let them loose, they ran loose.” Kui-Shan said: “When they ran loose where they were?” Yun-Yan said: “They're loose! They're loose!” • Sư nấu trà, Đạo Ngô hỏi: “Nấu trà cho ai?” Sư đáp: “Có một người cần.” Đạo Ngô hỏi: “Sao không dạy y tự nấu?” Sư đáp: “Nay có tôi ở đây.”—Yun-Yan was making tea. T'ao-Wu asked him: “Who are you making tea for?” Yun-Yan said: “There's someone who wants it.” T'ao-Wu then asked: “Why don't you let him make it himself?” Yun-Yan said: “Fortunately, I'm here to do it.” • Theo Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, sau khi sư đến Hồ Nam, trụ trì núi Vân Nham (vách đá mây), huyện Du, Đàm Châu. Sư lấy tên núi nầy làm tên mình. Một hôm, sư bảo chúng: “Có đứa trẻ nhà kia, hỏi đến không có gì nói chẳng được.” Động Sơn Lương Giới hỏi: “Trong ấy có kinh sách nhiều ít?” Sư thưa: Một chữ cũng không.” Động Sơn nói: “Sao được biết nhiều thế ấy?” Sư thưa: “Ngày đêm chưa từng ngủ.” Động Sơn hỏi: “Làm một việc được chăng?” Sư thưa: “Nói được lại chẳng nói.”—Acording to The Ching-Te-Ch'uan-Teng-Lu, later he went to live on Mount Yun-Yen (Cloud-Crag) in Hu-Nan, from which his name derived. After becoming an abbot, Yun-Yan addressed the monks, saying: “There is the son of a certain household. There is no question that he can't answer.” T'ong-Shan came forward and asked: “How many classic books are there in his house?” Yun-Yan said: “Not a single word.” T'ong-Shan said: “Then how can he be so knowledgeable?” Yun-Yan said: “Day and night he has never slept.” T'ong-Shan said: “Can he be asked about a certain matter?” Yun-Yan said: “What he answers is not spoken.” • Sư hỏi vị Tăng: “Ở đâu đến?” Tăng thưa: “Thêm hương rồi đến.” Sư hỏi: “Thấy Phật chăng?” Vị Tăng nói: “Thấy.” Sư hỏi: “Thấy ở đâu?” Vị Tăng nói: “Thấy ở hạ giới.” Sư nói: “Phật xưa! Phật xưa!”—Zen master Yun-Yan asked a monk: “Where have you come from?” The monk said: “From T'ien-Xiang (heavenly figure).” Yun-Yan said: “Did you see a Buddha or not?” The monk said: “I saw one.” Yun-Yan asked: “Where did you see him?” The monk said: “I saw him in the lower realm.” Yun-Yan said: “An ancient Buddha! An ancient Buddha!” • Ngày hai mươi sáu tháng mười năm 841, sư nhuốm bệnh. Sau khi tắm gội xong, sư kêu chủ sự bảo: “Sắm sửa trai, ngày mai có Thượng Tọa đi.” Đến tối đêm hai mươi bảy, sư thị tịch. Sau khi thị tịch sư được vua ban hiệu “Đại Sư Không Trụ”—On the twenty-sixth day of the tenth month in 841, he became ill. After giving orders to have the bath readied he called the head of the monks and instructed him to prepare a banquet for the next day because a monk was leaving. On the evening of the twenty-senventh he died. After his death, he received the posthumous title “Great Teacher No Abode.”
đàm thụ
Cây Vô Ưu—Udambara tree—See Ưu Đàm Ba La.
đàm tiếu
To mock—To laugh at—To ridicule.
Đàm Toản
(曇纂) Vị tăng thời Lưu Tống, Nam triều. Năm sinh năm mất không rõ. Vào năm Hoằng thủy thứ 6 (404) đời Diêu Tần, sư cùng với sư Trí mãnh từ Trường an đi Ấn độ. Khi ở thành Hoa thị của nước Thiên trúc sư từng đến thăm một người Bà la môn tên La duyệt tôn và được ông này tặng cho bộ kinh Nê hoàn, sau đó sư còn thỉnh được luật Ma ha tăng kì bảntiếng Phạm. Khi trở về Lương châu, sư dịch kinh Nê hoàn 20 quyển. [X. Lương cao tăng truyện Q.3].
đàm toản
6241南朝劉宋時代僧。生卒年不詳。師與智猛於姚秦弘始六年(404)自長安西行,曾於天竺華氏城訪大智婆羅門羅閱宗,於其家中得泥洹經一部,另訪得摩訶僧祇律等梵本。後還涼州,譯出泥洹經二十卷。〔梁高僧傳卷三〕
đàm tuân
6235請參閱 法句經 [1]請參閱 法句經 [1](520~599)隋代僧。弘農華陰(河南靈寶)人,俗姓楊。後遷居於河東郡(山西)。二十二歲,遊白鹿山北霖落泉寺,從曇准出家。二十三歲受具足戒。勤學戒律,並習誦法華。復從僧稠修學止觀。駐錫龍山雲門寺,於石窟修禪觀,鳥獸皆承法蔭。隋文帝崇奉其德,遣使供給璽書、香具等。開皇十九年,於懷州柏尖山寺示寂,世壽八十。此係依據宋、元本續高僧傳卷十六之說(高麗本另有異說);但據法苑珠林卷一○○載,師於開皇初年示寂,世壽八十。
; 6239北齊僧。河北人,俗姓程。神采出眾,善能講說。初事法光為師,受具足戒前,遁歸入宦。元魏時任員外郎。二十三歲,決志離俗,再詣法光出家。此後精進不懈,賅通三藏教典,深得朝野欽仰。七十歲時,舉為國都,不久轉任國統。後於鄴都示寂,世壽八十五。
đàm tân văn tập
6840凡十九卷。宋代契嵩(1007~1072)著。收於大正藏第五十二冊。為明教大師契嵩之文集。鐔津(廣西藤縣)為契嵩之生地,故本書名為「鐔津文集」。契嵩屬於禪宗雲門宗,博通儒佛,對於當時儒家之排佛論力加反駁,而倡儒佛一致論。 卷一至卷三為輔教篇。卷四為皇極論與中庸解。卷五至卷七為論原四十篇,係以佛教之立場論儒家禮樂、四端、仁孝等。卷八為雜著六篇與書狀。卷九、卷十收錄仁宗皇帝之書狀。卷十一收錄六祖法寶記敘等序文二十三篇。卷十二題為志記銘碑。卷十三收錄碑記銘表辭等七篇與述題書贊傳評等十二篇。卷十四至卷十六題為非韓,反駁韓愈等人之排佛論。卷十七、卷十八為古律詩一二九首。卷十九收錄石門惠洪禮嵩禪師塔詩等諸師之詩文。契嵩儒佛一致之思想影響宋代以後之佛教甚巨。〔大明三藏聖教目錄〕
; (鐔津文集) Gồm 19 quyển, do ngài Khế tung (1007- 1072) soạn vào đời Tống, thu vào Đại chính tạng tập 52. Vì Đàm tân (huyện Đằng, tỉnh Quảng tây) là nơi sinh của ngài Khế tung nên sách này được đặt tên là Đàm tân văn tập. Ngài Khế tung thuộc phái Vân môn trong Thiền tông, thông suốt cả Phật pháp và Nho học. Ngài ra sức phản bác luận điệu bài Phật của các Nho gia đương thời và đề cao tư tưởng Nho, Phật nhất trí. Từ đời Tống trở về sau, chủ trương dung hòa này đã có ảnh hưởng rất lớn đối với Phật giáo. [X. Đại minh tamtạngthánh giáo mục lục].
đàm tông
6230唐代僧。居嵩山少林寺,精於武技,以平定隋末王世充之亂有功而著名。隋末,王世充盤據洛陽,經常騷擾少林寺,僧侶不安。秦王李世民出關伐罪,師乃糾合法眾,輔佐秦王與王世充作戰,每每親冒矢石之險,終殲滅凶頑。洛陽既平,王以功贈曇宗等十八人將軍號。具辭不受,王乃立碑寺中,紀其功績。此一事蹟,於清代田雯之「遊少林寺記」亦有記載,惟與上記略有出入。
đàm tĩnh
6235北魏僧。生卒年不詳。以北魏太武帝毀佛,北地經像俱毀,師遂於南朝劉宋孝武帝(453~464 在位)時,偽撰提謂波利經二卷,鼓勵造立佛像,以應當時需要。其經多雜俗陋語,且引用五方、五行之說,雖遭禁制,然唐、宋之際,仍有信持者。〔出三藏記集卷五、大唐內典錄卷十、開元釋教錄卷十八、貞元新定釋教目錄卷二十八〕
đàm tương
6231<一>晉代僧。生卒年不詳。北方人。與毘浮同時,俱享盛譽。鑽研經義不輟,常效法高邑(河北柏鄉縣)竺法雅之行儀,並藉老莊思想以證解佛教經典,屬當時所盛行格義佛教之說。(參閱「格義」4143) <二>(?~582)南朝末年僧。雍州藍田(陝西長安)人,俗姓梁。與僧實同住一處,敬僧實如師。從道原學禪法。以其宅心仁厚,故被譽為「福德人」。嘗住於大福田寺,時疫癘橫行,師為眾解厄,人皆敬仰。後逢北周武帝廢佛,遂潛隱山中修行。及隋代建國,開皇元年(581),師復出弘化。次年,於渭水以南之地示寂。
đàm tế
6239(411~475)南朝宋代僧。河東(山西永濟)人。十三歲,投東山寺僧導出家。少有氣度,機悟並舉,精研成實論與涅槃經。後自登講座,綱維正法,開示未聞,聽者悅服。大明二年(458),僧導應孝武帝之請,止住建業中興寺,師亦隨往開講,深受道俗欽仰。大明八年,以藥園之地建莊嚴寺,奉敕與曇斌共住。元徽三年示寂,世壽六十五。著有七宗論,詳述本無、即色等七說而加以論評;此書已散佚,但於梁代寶唱之續法論(中觀論疏記卷二所引)、吉藏之中觀論疏卷二末,皆載有其論義。又於內典塵露章等書中,認為師乃道生之門人,其下復有道朗,即以師為三論宗七代相承中之一師。然僧傳所載如前述,且師之門下並未言及有道朗其人;準此而論,內典塵露章之說,恐係後世之訛傳。〔梁高僧傳卷七曇斌傳、卷八僧宗傳〕
; (曇濟) (411 - 475) Vị tăng đời Tống thuộc Nam triều, người Hà đông (Vĩnh tế, Sơn tây). Năm 13 tuổi, sư theo ngài Tăng đạo xuất gia ỏ chùa Đông sơn. Sư chuyên nghiên cứu luận Thành thực và kinh Niết bàn. Sau sư tự lên tòa giảng tuyên dương chính pháp, mở bày những điều trước kia chưa ai được nghe, khiến cho thính giả rất hoan hỉ kính phục. Năm Đại minh thứ 2 (458), theo lời thỉnh cầu của vua Hiếu vũ, ngài Tăng đạo đến trụ trì chùa Trung hưng tại Kiến nghiệp, sư cũng đến đó giảng đạo, tăng tục rất kính ngưỡng. Năm Nguyên huy thứ 3 sư tịch, thọ 65 tuổi. Sư có tác phẩm: Thất tông luận. [X. Lương cao tăng truyện Q.7].
đàm tự đồng
6706(1865~1898)清末湖南瀏陽人。字復生,自號壯飛。戊戌六君子之一。初入王船山之學。與梁啟超、夏曾佑等諸名士相交,並從楊仁山學華嚴、唯識等。曾遊歷西北、東南各省。甲午戰爭後,提倡新學。光緒二十四年(1898),德宗變法,任軍機章京。後變法失敗,為慈禧太后所殺。著有仁學、寥天一閣文集等。尤其仁學一書,旨在融合儒釋道及西洋哲學。
đàm vân sơn
6706(?~1983)湘南茶陵人。法名忍辱。為我國旅居印度之學者。民國二十四年(1935),在南京與戴季陶、泰戈爾共同發起「中印學會」,溝通中印文化。後赴印度,出任印度國際大學中國學院院長多年。畢生致力於中印文化之交流。曾贈送中華大藏經予印度十個大學及研究所,並促成中印學者、學生之交換,對我國留學印度之僧眾尤多照拂。晚年與錫蘭(斯里蘭卡)、泰國、緬甸等十國佛教界人士創建世界佛學院、世界大講堂,並成立中華佛學研究所。氏於講學之餘,並從事著述及梵文佛典之翻譯。民國七十二年二月歿於印度伽耶中華佛寺。著有世界曆法與曆法革命、聖哲甘地、印度叢談等。
; (譚雲山) (? - 1983) Cư sĩ học giả Phật giáo Trung quốc, người Trà lăng tỉnh Hồ nam, pháp danh Nhẫn nhục, định cư tại Ấn độ. Năm Dân quốc 24 (1935), ông cùng với các thân sĩ Đới lí đào và Rabindranath Tagore thành lập Trung Ấn Học Hội ở thành phố Nam kinh, để tạo cơ sở cho việc giao lưu văn hóa giữa Trung quốc và Ấn độ. Sau đó Đàm vân sơn sang Ấn độ giữ chức Viện trưởng Trung quốc học viện của Đại học Quốc tế ở Shantiniketan tại Tiểu bang Tây Bengal trong nhiều năm. Ông từng tặng Đại tạng kinh Trung quốc cho 10 trường Đại học và Sở nghiên cứu ở Ấn độ, đồng thời, đẩy mạnh công cuộc trao đổi học giả, học sinh giữa Trung quốc và Ấn độ. Ông đặc biệt quan tâm đến chư tăng Trung quốc lưu học ở Ấn độ. Về cuối đời, ông cùng với các nhân sĩ Phật giáo các nước Tích lan, Miến điện, Thái lan v.v... sáng lập Phật học viện thế giới, Đại giảng đường thế giới và kiến tạo các sở nghiên cứu Phật học Trung quốc. Ngoài việc giảng dạy, ông còn trứ tác và phiên dịch kinh điển Phật bằng tiếng Phạm. Năm Dân quốc 72 (1983) tháng 2, ông qua đời ở Trung hoa Phật tự tại Già da, Ấn độ. Ông để lại các trứ tác: Thế giới lịch pháp dữ lịch pháp cách mệnh, Thánh triết cam địa, Ấn độ tùng đàm v.v...
đàm vô
See Dharma in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đàm vô ba li
Dhammapalinama (P)Tên một vị sư.
đàm vô kiệt
6232梵名 Dharmodgata。<一>菩薩之名。全稱達摩鬱伽陀。譯作法盛、法勇、法上、法起。為眾香城之主,常宣說般若波羅蜜多。常啼菩薩得諸佛、菩薩之助力而到彼國,聞此菩薩宣說般若。〔大智度論卷九十七、華嚴經探玄記卷十五〕 <二>唐代僧。幽州人,俗姓李。幼為沙彌,勤修苦行。聞法顯等躬踐佛國,慨然有西行之志,乃入流沙,經龜茲、疏勒諸國,進至罽賓,求得觀世音受記經之梵本。後西入月氏國天竺界一帶,唯齎石蜜為糧,隨舶泛海,達廣州而歸。其後不知所終。生卒年不詳。〔梁高僧傳卷三〕
; (曇無竭) I. Đàm Vô Kiệt. Phạm: Dharmodgata. Gọi đủ là Đạt ma uất già đà. Dịch ý: Pháp thịnh, Pháp dũng, Pháp thượng, Pháp khởi. Vị Bồ tát làm chủ thành Chúng hương, thường tuyên thuyết Bát nhã ba la mật đa. Bồ tát Thường đề nhờ sức thần thông của chư Phật đã đến thành Chúng hương nghe vị Bồ tát này giảng nói Bát nhã. [X. luận Đại trí độ Q.97; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.15]. II. Đàm Vô Kiệt. Vị tăng sống vào đời Đường, Trung quốc, người U châu, họ Lí. Sư xuất gia và thụ giới Sa di từ nhỏ, siêng tu khổ hạnh. Khi nghe đoàn các ngài Pháp hiển v.v... đến nước Phật, sư xúc động và nảy ý chí đi Ấn độ. Sư vượt sa mạc Lưu sa, lần lượt qua các nước Cưu tư (Kezil), Sớ lặc (Khasa),rồi đến nước Kế tân (Phạm:Kasmìra) tìm được bản tiếng Phạm của kinh Quán thế âm thụ kí. Sau đó, sư đến nước Nguyệt thị, chỉ mang theo một ít đường phèn làm lương thực, đáp thuyền buồm lênh đênh trên biển trở về đến Quảng châu. Từ đó, những sự tích khác về sư không được biết. [X. Lương cao tăng truyện Q.3].
đàm vô lan
6233梵名 Dharmarakṣa?。又稱竺曇無蘭。意譯法正。西域人。生卒年代及來華年代不詳。東晉孝武帝太元六年(381),於楊都謝鎮西寺撰大比丘二百六十戒三部合異二卷,至太元二十年間,於該寺潛心譯經。有關其部數,歷代三寶紀卷七中舉出義足經以下一一○部,一一二卷;開元釋教錄卷三加以簡正,列舉採蓮違王上佛授決號妙華經以下六十一部,六十三卷,其中,缺三十七部,三十九卷。所譯多為有關小乘及神咒之經典。〔出三藏記集卷十一、大唐內典錄卷三、古今譯經圖紀卷二、大周刊定眾經目錄卷一、卷五、卷七、卷八、卷九、貞元新定釋教目錄卷五〕
; Xem Trúc Pháp Hộ.
; Dharmaraksa (skt)—Một vị Tăng nổi tiếng ở Ấn Độ vào khoảng những năm 400 sau Tây Lịch (Tàu dịch là Pháp Chánh)—A noted monk in India around 400 A.D.
; (曇無蘭) Phạm: Dharmarakwa? Cũng gọi Trúc đàm vô lan, dịch ý: Pháp chính; người Tây vực, năm sinh năm mất không rõ, đến Trung quốc vào thời Đông Tấn. Năm Thái nguyên thứ 6 (381), sư soạn Đại tỉ khưu nhị bách lục thập giới tam bộ hợp dị 2 quyển ở chùa Tạ trấn tây tại Dương đô. Đến khoảng năm Thái nguyên 20 (395), sư chuyên tâm dịch kinh. Về số các bộ kinh do sư dịch thì Lịch đại tam bảo kỉ quyển 7 ghi từ kinh Nghĩa túc trở xuống gồm 110 bộ, 112 quyển, còn Khai nguyên thích giáo lục Q.3 thì chỉ ghi có 61 bộ, 63 quyển. Phần lớn các kinh sư dịch đều thuộc kinh điển Tiểu thừa và các thần chú. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.11; Đại đường nội điển lục Q.3; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.2; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.1, Q.5, Q.7, Q.8, Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.5].
đàm vô sấm
6233(385~433)梵名 Dharma-rakṣa。北涼譯經僧。又作曇無懺、曇牟讖、曇無羅讖、曇摩讖、曇謨懺、曇羅無讖。意譯法豐。中印度人,婆羅門種出身。初習小乘教法,兼習五明,講說精辯,應答善巧。後遇白頭禪師,得樹皮之大般涅槃經,自感慚愧,改而專學大乘。年二十,能誦大小乘經二百餘萬言。師又善咒術,為王所重,時人稱為「大咒師」。後攜大般涅槃經前分五品、菩薩戒經、菩薩戒本等入罽賓,又至龜茲,然此二地多學小乘,遂東經鄯善至敦煌。 北涼玄始元年(412),河西王沮渠蒙遜迎師入姑臧,待之甚厚,師於此學習漢語三年,遂著手翻譯涅槃經之前分,當時由慧嵩、道朗等擔任「筆受」之職。後因涅槃經之品數不足,師遂赴于闐,尋得涅槃經之餘品,還姑臧後陸續譯之,凡三十六卷(今存者凡四十卷)。其間並應慧嵩、道朗之請,先後譯出方等大集經二十九卷、金光明經四卷、悲華經十卷、菩薩地持經八卷、菩薩戒本一卷等,凡六十餘萬言。時北魏太武帝聞師長於方術,遣使迎請,蒙遜恐師之多術為魏所用,遂於師西歸欲更求涅槃經後分(後由唐代若那跋陀羅所譯出,共二卷)途中,派遣刺客害之。世壽四十九。其所譯之涅槃經,世稱北本涅槃經,南方則有慧嚴等依法顯所譯六卷泥洹經而再治之三十六卷大般涅槃經,稱南本涅槃經,由此遂導致涅槃學派之興起。 有關其所譯之經典,諸經錄所記各不相同,出三藏記集謂其譯經十一部,一一七卷;大唐內典錄則作二十四部,一五一卷。又據華嚴經疏卷一載,師依涅槃經而立半滿二教,以聲聞藏為半字教,菩薩藏為滿字教。〔北本大般涅槃經序、大般涅槃經玄義卷下、出三藏記集卷二、卷八、卷九、卷十四、梁高僧傳卷二、卷三、歷代三寶紀卷三、大唐內典錄卷三〕
; Xem Pháp Hộ.
; (曇無讖) (385 - 433) Vị tăng dịch kinh ở thời Bắc Lương. Cũng gọi Đàm vô sám, Đàm mâu sấm, Đàm vô la sấm, Đàm ma sấm, Đàm mô sấm, Đàm la vô sấm. Dịch ý là Pháp phong, người Trung Ấn độ, xuất thân từ dòng dõi Bà la môn. Mới đầu sư học giáo pháp Tiểu thừa kiêm cả Ngũ minh, giảng nói thao thao, ứng đáp lưu loát. Về sau, sư gặp thiền sư Bạch đầu, được học kinh Đại bát niết bàn, cảm thấy tự thẹn, liền đổi hướng chuyên học Đại thừa. Năm 20 tuổi, sư có thể tụng hơn 200 vạn lời kinh Đại thừa và Tiểu thừa. Sư còn giỏi về chú thuật, được nhà vua kính trọng và tôn xưng là Đại Chú Sư. Sau, sư đem năm phẩm trước của kinh Đại bát niết bàn, kinh Bồ tát giới và Bồ tát giới bản truyền vào nước Kế tân, rồi đến Cưu tư, nhưng hai nước này phần nhiều tu học theo Tiểu thừa, nên sư đi qua đất Thiện thiện để đến Đôn hoàng. Niên hiệu Huyền thủy năm đầu (412), Hà tây vương là Thư cừ Mông tốn rước sư vào Cô tang, tiếp đãi rất trọng hậu; sư ở đây học chữ Hán ba năm, rồi bắt đầu phiên dịch phần trước của kinh Niết bàn, bấy giờ các ngài Tuệ tung và Đạo lãng đảm nhận chứcBút thụ.Sau, vì kinh Niết bàn còn thiếu một số phẩm nên sư qua nước Vu điền tìm kiếm, khi tìm được đầy đủ, sư trở về Cô tang tiếp tục dịch trọn bộ gồm 36 quyển (tức là kinh Niết bàn bản 40 quyển hiện nay). Cũng trong thời gian này, nhận lời thỉnh cầu của các ngài Tuệ tung, Đạo lãng, sư lần lượt phiên dịch kinh Phương đẳng đại tập 39 quyển, kinh Kim quang minh 4 quyển, kinh Bi hoa 10 quyển, kinh Bồ tát địa trì 8 quyển, Bồ tát giới bản 1 quyển v.v... tất cả gồm hơn 60 vạn lời. Bấy giờ, vua Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy nghe sư giỏi về phương thuật liền sai sứ đến đón sư. Thư cừ Mông tốn sợ rằng sư có thể trao cho Bắc Ngụy nhiều pháp thuật hay, nên nhân dịp sư về Ấn độ tìm thỉnh thêm phần sau của kinh Niết bàn, Mông tốn sai thích khách giết hại sư giữa đường, lúc đó sư được 49 tuổi. Kinh Niết bàn do ngài Đàm vô sấm dịch gọi là kinh Niết bàn bản Bắc, còn ở miền Nam có sư Tuệ nghiêm và cư sĩ Tạ linh vận sửa lại kinh Nê hoàn 6 quyển do ngài Pháp hiển dịch thành kinh Đại bát niết bàn gồm 36 quyển, được gọi là kinh Niết bàn bản Nam. Do đó đã đưa đến việc học phái Niết bàn hưng khởi. Về các kinh điển do sư dịch, các bản Kinh lục ghi chép không giống nhau: Xuất tam tạng kí tập nói sư dịch được 11 bộ, 117 quyển; Đại đường nội điển lục thì ghi 24 bộ, 151 quyển. Ngoài ra, cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1, thì sư đã nương vào kinh Niết bàn mà lập Bán tự giáo và Mãn tự giáo, lấy tạng Thanh văn làm Bán tự giáo và tạng Bồ tát làm Mãn tự giáo. [X. Bắc bản Đại bát niết bàn kinh tự; Đại bát niết bàn kinh huyền nghĩa Q.hạ; Xuất tam tạng kí tập Q.2, Q.8, Q.9, Q.14; Lương cao tăng truyện Q.2, Q.3; Lịch đại tam bảo kỉ Q.3; Đại đường nội điển lục Q.3].
Đàm Vô Sấm 曇無讖
[ja] ドンムセン Donmusen ||| A transliteration of the name of Dharmakṣema (translated as 法豐), a monk originally from central India who would eventually become one of the most prolific translators of Indian texts into Chinese, among the most important of which were the Bodhisattvabhūmi-sūtra and the Nirvāna sutra 涅槃經 Phiên âm tên của Dharmakṣema (Hán dịch là Pháp Phong), là cao tăng xuất thân từ Trung Ấn, cuối cùng trở thành một trong những tăng sĩ Ấn Độ dịch kinh sang tiếng Hán nhiều nhất. Trong số các bản kinh quan trọng má sư đã dịch là Bồ-tát thập địa kinh và kinh Niết-bàn.
đàm vô thành
6231南朝劉宋時代僧。生卒年不詳。扶風(陝西咸陽)人,俗姓馬。十三歲出家,至長安從學於鳩摩羅什。受後秦姚興之殷厚供養。後以長安危難,師遂南行,住於淮南之中寺,講說涅槃經及大品般若經。嘗與顏延之、何尚之論實相之義。著有實相論、明漸論等。於元嘉年中(424~453)示寂,世壽六十四。〔梁高僧傳卷七〕
; (曇無成) Vị tăng đời Lưu Tống, Nam triều, người Phù phong (Hàm dương, Thiểm tây), họ Mã. Năm sinh năm mất không rõ. Năm 13 tuổi, sư xuất gia, đến Trường an theo học với ngài Cưu ma la thập, vua Diêu hưng nhà Hậu Tần rất cung kính cúng dường sư. Sau, vì Trường an loạn lạc nên sư lánh xuống miền Nam ở tại chùa Trung thuộc Hoài nam, giảng thuyết kinh Niết bàn và kinh Đại phẩm bát nhã. Sư từng bàn về nghĩa thực tướng với hai ông Nhan diên chi và Hà thượng chi. Khoảng năm Nguyên gia (424 - 453) sư thị tịch, hưởng thọ 60 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Thực tướng luận, Minh tiệm luận.
đàm vô tối
6232北魏僧。武安(河南)人,俗姓董。自少出家,博通經論、律典及儒學,頗為時人推重。初於邯鄲崇尊寺講戒律,後奉敕住於洛陽融覺寺,宣講涅槃、華嚴等經。菩提流支對師極為禮重,譽之為「東土菩薩」,將師所著大乘義章一書翻傳天竺,天竺沙門稱師為「東土聖人」。正光年間,孝明帝召師與道士姜斌對辯佛、道年次之先後,姜斌無詞以對,遂遭流放。師於佛法之中興,貢獻極大。後不知所終。生卒年不詳。〔續高僧傳卷二十三、洛陽伽藍記卷四〕
; (曇無最) Vị tăng sống vào thời Bắc Ngụy, người Vũ an (Hà nam) họ Đổng. Sư xuất gia từ thủa nhỏ học thông kinh, luật, luận và Nho học, rất được người đời kính trọng. Mới đầu, sư giảng về giới luật ở chùa Sùng tôn tại Hàm đan, sau vâng sắc chỉ của vua đến trụ trì chùa Dung giác ở Lạc dương, tuyên giảng các kinh Niết bàn, Hoa nghiêm. Ngài Bồ đề lưu chi rất tôn kính sư, khen ngợi là Đông độ Bồ tát và dịch bộ Đại thừa nghĩa chương của sư ra tiếng Phạm rồi truyền về Thiên trúc, các vị sa môn ở Thiên trúc gọi sư là Đông độ Thánh nhân. Khoảng năm Chính quang, vua Hiếu minh đế mời sư cùng với đạo sĩ Khương bân tranh luận về niên đại trước sau của Phật giáo và Lão giáo, Khương bân chịu thua nên bị lưu đày. Trong công cuộc trung hưng Phật giáo Trung quốc, sư đã có những cống hiến rất to lớn. Sau không biết sư tịch ở đâu. [X. Tục cao tăng truyện Q.23; Lạc dương già lam kí Q.4].
đàm vô đế
6233梵名 Dharmasatya。又作曇諦。意譯法實。安息國人。善解律學,曹魏高貴鄉公正元元年(254)至洛陽,於白馬寺譯出曇無德羯磨一卷。〔開元釋教錄卷一〕
; Dharmasatya (S)Pháp Thiệt, Pháp BảoTên một vị sư. Vị Sa môn Ấn độ dịch kinh tại Lạc dương năm 254 đời Tam quốc.
; (曇無諦) Phạm: Dharmasatya. Cũng gọi Đàm đế, dịch ý: Pháp thực, người nước An tức, giỏi về Luật học. Năm 254 đời Tào Ngụy, sư đến Trungquốc và ở chùa Bạch mã tại Lạc dương dịch Đàm vô đức yết ma 1 quyển. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.1].
đàm vô đức
6232梵名 Dharmaguptaka,巴利名 Dhammagutta, Dhammaguttaka, Dhammaguttika。為小乘二十部中法藏部之祖。又作曇摩毱多、曇摩德、曇摩屈多迦、達摩及多。意譯作法正、法鏡、法藏、法護、法密。係佛陀入滅後百年頃,付法藏第五世優婆毱多五弟子之一。據四分律行事鈔資持記卷一上(大四○‧一七六中):「曇無德,亦云曇摩毱多。此翻法正,亦云法護、法鏡、法密。」另據大方等大集經卷二十二(大一三‧一五九上):「我涅槃後有諸弟子,受持如來十二部經,書寫讀誦,顛倒解義,顛倒宣說,以倒解說,覆隱法藏,以覆法故,名曇摩毱多。」是以「曇摩毱多」為覆法之義。 優婆離於首次結集律藏時,由其分為八十次誦出根本律制,此即八十誦律,後經傳承發展,曇無德乃從八十誦律採集而建立一部,稱為曇無德部,又稱法藏部。所傳之廣律為四分律,為五部律之一,故所謂四分律宗,即指曇無德律宗,以曇無德為開祖,而由唐代道宣大成之。又四分律大弘於我國,故於我國佛教史上,單說律宗時多指四分律宗;復因道宣長居終南山弘傳律法,故又稱為南山律宗。此即曇無德部發展之結果。〔四分律飾宗義記卷二本、可洪音義卷三〕
; Dhammarakkhita (P), Dharma-gupta (S)Maha-Dhamma-rakkhita, Pháp Mật bộ, Đàm vô Đức bộ, Đạt Ma Cấp Đa1- Một đại sư có công trong cuộc hoằng dương Phật pháp đời vua A dục, thế kỷ thứ 3 trước công nguyên. 2- Đàm vô Đức bộ = Pháp mật bộ, một bộ phái đạo Phật. Xem Pháp Tạng bộ.
; Dharmagupta (skt)—Đàm Ma Cúc—Đàm Ma Đức—Đàm Ma Quật Đa Ca—Đạt Ma Cúc Đa—Đàm Vô Cúc Đa—Một trong những đệ tử nổi tiếng của Ưu Ba Cúc Đa, tổ thứ tư tại Ấn Độ. Đàm Ma Cúc Đa là vị tổ sáng lập ra trường phái Đàm Vô Đức Bộ, phát triển mạnh ở Tích Lan vào khoảng những năm 400 sau Tây Lịch (Đàm Vô Đức còn có nghĩa là Pháp Tạng hay Pháp Kính, tức là Bộ Tứ Phần Luật)—Dharmagupta, one of the famous disciples of the fourth Indian patriarch, Upagupta. Dharmagupta was the founder of Dharmagupta school, which flourished in Ceylon around 400 A.D.
; (曇無德) Phạm: Dharmaguptaka, Pàli: Dhammagutta, Dhammaguttaka, Dhammaguttika. Cũng gọi Đàm ma cúc đa, Đàm ma đức. Đàm ma khuất đa ca. Đạt ma cập đa. Dịch ý: Pháp chính, Pháp kính, Pháp tạng, Pháp hộ, Pháp mật. Tổ của Pháp tạng bộ (một trong 20 bộ phái Tiểu thừa), là đệ tử của ngài Ưu bà cúc đa. Trong lần kết tập tạng luật đầu tiên, những luật căn bản do đức Phật chế định đã được ngài Ưu ba li tụng đi tụng lại 80 lần gọi là Bát thập tụng luật. Về sau trải qua sự truyền thừa và phát triển, ngài Đàm vô đức mới thu tập từ Bát thập tụng luật mà thành lập một bộ gọi là Đàm vô đức bộ hay Pháp tạng bộ. Luật Tứ phần là một trong năm bộ luật, ngài Đàm vô đức là tổ khai sáng của Tứ phần luật tông, còn ngài Đạo tuyên ở đời Đường, Trung quốc, là người tập đại thành tông này. Cho nên, Tứ phần luật tông cũng gọi là Đàm vô đức luật tông. Ngoài ra, luật Tứ phần được truyền bá rộng rãi tại Trung quốc, cho nên, trong lịch sử Phật giáo Trung quốc, khi nói đến Luật tông thì phần nhiều là chỉ cho Tứ phần luật tông. Lại vì ngài Đạo tuyên ở núi Chung nam hoằng truyền Luật tông nên còn gọi là Nam sơn luật tông. Đó là kết quả sự phát triển của Đàm vô đức bộ. [X. Tứ phần luật sức tông nghĩa kí Q.2 phần đầu; Khả hồng âm nghĩa Q.3].
đàm vô đức bộ
Dharmaguptah (P)Xem Đàm vô ĐứcXem Đàm vô Đức
; Bộ luật tứ phần đặt ra bởi ngài Đàm Vô Đức—The four-division Vinaya of the Dharmagupta school—See Luật Tứ Phần.
đàm vô đức giới bản
6232梵名 Dharmaguptaka-bhikṣu-prātimokṣa-sūtra。全一卷。後秦佛陀耶舍譯。為小乘曇無德部所傳之比丘戒本。又作四分僧戒本、四分比丘戒本、四分戒本。收於大正藏第二十二冊。卷首載歸敬偈,其次為布薩說戒之儀例,再其次列舉五棄法乃至七滅諍法第二百五十戒條,卷末記載過去七佛之略戒及流通偈。 本書有多種異本及改訂本,據四分律含註戒本疏序、四分律含註戒本疏行宗記卷一上之一所載,本書之後,元魏慧光、北齊法願均各重出一本。另據四分比丘戒本疏卷上載,本書譯出之前,另有古戒本,佛陀耶舍即重校古戒本而成本書。 現存之戒本中,唐代懷素所集之四分律比丘戒本一卷,其戒條部分係由佛陀耶舍所譯廣律中抽出;道宣刪定之新刪定四分僧戒本一卷,係對校佛陀耶舍、慧光、法願三本,並附戒條之名稱。註釋書有定賓之四分比丘戒本疏二卷、道宣之含註戒本二卷、含註戒本疏八卷、元照之含註戒本疏科八卷、含註戒本疏行宗記二十一卷等。西元一八七一年,比爾(S. Beal)英譯本書,收於 Catena of Buddhist Scriptures fromthe Chinese 中刊行。〔出三藏記集卷二、歷代三寶紀卷八、開元釋教錄卷四〕
; (曇無德戒本) Phạm: Dharmaguptaka-bhikwupràtimokwa-sùtra. Có 1 quyển, do ngài Phật đà da xá dịch vào đời Hậu Tần, thu vào Đại chính tạng tập 22. Cũng gọi Tứ phần tăng giới bản, Tứ phần tỉ khưu giới bản, Tứ phần giới bản, là giới bản tỉ khưu rút ra từ Đàm vô đức bộ trong Tiểu thừa. Đầu quyển có bài kệ qui kính, kế đến là nghi thức bố tát thuyết giới, rồi đến 250 giới điều liệt kê Ngũ khí pháp cho đến Thất diệt tránh pháp, cuối quyển là kệ lược giới của bảy đức Phật ở thời quá khứ và kệ lưu thông. Sách này có nhiều bản khác nhau và những bản sửa đổi. Cứ theo Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ tự, Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ hành tông kí quyển 1 thượng phần 1 nói, thì sau giới bản này, các ngài Tuệ quang đời Nguyên Ngụy và Pháp hiển đời Bắc Tề mỗi vị đều soạn lại một bản. Còn theo Tứ phần tỉ khưu giới bản sớ quyển thượng ghi, thì giới bản này là do ngài Phật đà da xá sửa lại giới bản cũ mà thành. Trong các giới bản hiện còn, thì Tứ phần luật tỉ khưu giới bản 1 quyển của ngài Hoài tố đời Đường là những giới điều được rút ra từ trong bộ luật do ngài Phật đà da xá dịch. Tân san định tứ phần tăng giới bản 1 quyển do ngài Đạo tuyên san định là kiểm lại từ ba bản của các ngài Phật đà da xá, Tuệ quang và Pháp nguyện. Những sách chú sớ về giới bản này gồm có: -Tứ phần tỉ khưu giới bản sớ 2 quyển của ngài Định tân. - Hàm chú giới bản 2 quyển của ngài Đạo tuyên. - Hàm chú giới bản sớ 8 quyển cũng do ngài Đạo tuyên soạn. - Hàm chú giới bản sớ khoa 8 quyển của ngài Nguyên hiểu. - Hàm chú giới bản sớ hành tông kí 21 quyển cũng của ngài Nguyên hiểu. Năm 1871, học giả S. Beal đã dịch giới bản này sang tiếng Anh, được đưa vào Catena of Buddhist Scriptures from the Chinese và xuất bản. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Khai nguyên thích giáo lục Q.4].
đàm vô đức giới bổn
The four-division Vinaya of the Dahrmagupta school—See Luật Tứ Phần.
đàm vô đức luật
The four-division Vinaya of the Dharmagupta school—See Luật Tứ Phần.
đàm ân
Ân sâu hay trọng ân—Profound gace or favour.
đàm đế
6239(347~411)又稱支曇諦。俗姓康。先祖為康居國人,漢靈帝時來華,遇亂,移居吳興。十歲出家,所學無師,博聞強記,遍覽內外典籍。嘗入吳之虎丘山寺開講禮、易、春秋及法華、大品般若、維摩等經,又善文翰,集為六卷。後歸返吳興,入崑崙山潛修,凡二十餘載。東晉義熙七年五月示寂,世壽六十五。著有會通論、神本論等,今皆不傳。〔梁高僧傳卷七、歷代三寶紀卷十一、廣弘明集卷二十三、出三藏記集卷十二、續高僧傳卷一僧伽婆羅傳、弘贊法華傳卷二〕
; (曇諦) (347-411) Cũng gọi Chi đàm đế, họ Khang, tổ tiên của sư là người nước Khang cư, đến Trung quốc vào thời Linh đế nhà Hán, gặp loạn mới di cư đến Ngô hưng. Năm 10 tuổi, sư xuất gia, học rộng nhớ nhiều, xem khắp các sách nội ngoại. Sư từng vào chùa ở núi Hổ khâu tại nước Ngô giảng các kinh Pháp hoa, Đại phẩm bát nhã, Duy ma và các kinh Nho giáo như: Lễ, Dịch, Xuân thu v.v... Sau, sư trở lại Ngô hưng vào núi Côn lôn ẩn tu hơn 20 năm. Năm Nghĩa hi thứ 7 đời Đông Tấn sư tịch, thọ 65 tuổi. Sư có các tác phẩm: Hội thông luận, Thần bản luận, nay đều thất truyền. [X. Lương cao tăng truyện Q.7; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; Quảng hoằng minh tập Q.23; Xuất tam tạng kí tập Q.12; Tục cao tăng truyện Q.1 truyện Tăng già bà la; Hoằng tán pháp hoa truyện Q.2].
đàm độ
6230<一>南朝劉宋僧。生卒年不詳。瑯琊人,俗姓王。博通諸經,尤善涅槃、法華二經,復精通老莊及易學。住於京師新安寺。元徽年中(473~476),受敕為僧主。 <二>(?~489)北魏僧。江陵(湖北)人,俗姓蔡。幼年持戒精嚴,及長,遊學京都,勤學涅槃、法華、維摩、大品般若等諸經。後赴徐州,從僧淵學成實論,並領悟奧旨,獨步於當世。受北魏孝文帝之歸依,並受請於平城(山西大同)開席講說,學徒千餘人,其後至洛陽傳弘教化。於太和十三年示寂。著有成實論大義疏八卷。梁高僧傳卷八之慧球傳、魏書釋老志、南齊書卷十八祥瑞志等三處所記載之慧度,及唐高僧傳卷六道登傳之法度,與師或皆為同一人。〔梁高僧傳卷八〕
; (曇度) I. Đàm Độ. Vị tăng đời Lưu Tống thuộc Nam triều. Sư người Lang gia, họ Vương, năm sinh năm mất không rõ. Sư thông suốt các kinh, đặc biệt là kinh Niết bàn và Pháp hoa. Sư cũng tinh thông Lão Trang và Chu dịch. Sư ở chùa Tân an tại Kinh đô. Trong năm Nguyên huy (473 - 476) sư được vua ban cho chức Tăng chủ. II. Đàm Độ(? - 489). Vị tăng sống vào thời Bắc Ngụy. Sư người Giang lăng (Hồ bắc), họ Thái. Sư xuất gia từ thủa nhỏ và giữ giới rất tinh nghiêm. Lớn lên sư đến kinh đô cầu học. Sư nghiên tập các kinh Niết bàn, Pháp hoa, Duy ma, Đại phẩm bát nhã v.v... Sau, sư đến Từ châu theo ngài Tăng uyên học luận Thành thực và lãnh ngộ được ý chỉ sâu kín. Vua Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy qui y sư và xin sư mở đạo tràng thuyết giảng ở Bình thành (Đại đồng, Sơn tây), có hơn một nghìn người theo học. Về sau, sư đến Lạc dương hoằng pháp giáo hóa. Năm Thái hòa 13 (489) sư tịch. Sư có tác phẩm: Thành thực luận đại nghĩa sớ 8 quyển. [X. Lương cao tăng truyện Q.8].
đàm ảnh
6236晉代僧。為鳩摩羅什之弟子。曾助道安翻譯鼻奈耶。能講正法華經及光讚般若,聽者逾千,姚興大加禮遇。及羅什至長安,師往從之,助其譯經,並整理成實論諸品,立五聚之科目。羅什歿後,遂棲隱山林。於東晉義熙末年示寂,世壽七十。其生卒年不詳。著有法華義疏四卷,並註釋中論。〔梁高僧傳卷六〕
; (曇影) Vị tăng đời Tấn, đệ tử của ngài Cưu ma la thập. Sư từng giúp ngài Đạo an phiên dịch Tì nại da (Luật tạng). Sư thường giảng kinh Chính pháp hoa và Quang tán bát nhã, vua Diêu hưng rất tôn kính sư. Khi ngài Cưu ma la thập vào Trường an, sư đến giúp ngài trong việc dịch kinh, chỉnh lí các phẩm của luận Thành thực, lập khoa mục Ngũ tụ. Sau khi ngài La thập qua đời, sư vào rừng ở ẩn. Sư tịch vào cuối năm Nghĩa hi đời Đông Tấn, thọ 70 tuổi. Sư có soạn Pháp hoa nghĩa sớ 4 quyển, và chú thích Trung luận. [X. Lương cao tăng truyện Q.6].
đàm-ma-ba-la đại sư
Xem Hộ pháp.
Đàn
檀; C: tán; J: tan, dan; |1. Cây chiên đàn; 2. Phiên âm chữ dāna trong tiếng Phạn và Pāli, có nghĩa là »ban tặng« hay »dâng biếu«. Hán dịch nghĩa là bố thí (布施).
đàn
6212梵語 maṇḍala 之意譯。音譯作曼荼羅。「曼荼羅」一詞,係用於教理層面;而就曼荼羅之本體而言,於修法時築臺安置佛、菩薩像,及三昧耶形、供物、供具等,則用「壇」之譯語。修法時所用之壇,稱作修法壇。印度專用土壇,我國與日本則多用木壇。其種類極多,形狀與名稱亦因各種修法而有差異。通常限定一特定之地區,依據七日作壇法建壇,有築土而作之土壇,或木作之木壇,或簡單在其處灑水清淨而成之水壇等,主要為密教所使用。主壇稱為大壇,係用以供奉本尊者;焚燒護摩所用者,稱作護摩壇;灌頂所用者,稱作灌頂壇。又依壇之形狀而分,有方形之地輪壇、圓形之水輪壇、三角形之火輪壇、半月形之風輪壇等。又引申上記壇之作用、名稱等,遂將授戒之戒場稱為戒壇,安置佛像之所在稱為佛壇。〔大日經卷一具緣品、卷七持誦法則品、陀羅尼集經卷二、卷十二、密門雜抄〕(參閱「修法壇」4045、「曼荼羅」4400)
; Xem mạn-đà-la.
; Dàna (S). A giver, donation, charity, almsgiving, bestowing.
; 1) Đàn thờ: An altar—An open altar. 2) Đàn Na: Donation—Charity—Almsgiving—Bestowing—See Đàn Na. 3) Gỗ đàn hương: Sandalwood—A hard wood. 4) Mạn Đà La: Trong Mât Giáo, Đàn có nghĩa là Mạn Đà La, tất cả chư tôn được đặt vào trong đó để thờ—In the esoteric cult, altar also means a mandala, where all objects of worship grouped together.
; (壇) Phạm: Maịđala. Dịch ý: Đàn. Dịch âm: Mạn đồ la. Cái đài cao đắp bằng đất hoặc đóng gỗ để đặt tượng Phật, Bồ tát, hình tam muội da và bày biện các vật cúng khi tu pháp trong Mật giáo. Ấn độ chuyên dùng đàn đắp bằng đất, Trung quốc và Nhật bản thì phần nhiều đóng đàn gỗ. Có rất nhiều chủng loại, hình dáng và tên gọi cũng tùy thuộc các pháp tu mà sai khác. Thông thường chọn một khu đất đặc biệt nào đó, rồi y theo pháp bảy ngày làm đàn mà lập đàn, nếu đắp bằng đất thì gọi là Thổ đàn, còn đóng bằng gỗ thì gọi là Mộc đàn, hoặc đơn giản hơn chỉ rảy nước sái tịnh trên mặt đất ở chỗ nào đó gọi là Thủy đàn. Đàn chính gọi là Đại đàn, thờ đức Bản tôn, đàn dùng để tu pháp Hộ ma, gọi là đàn Hộ ma, để tu pháp Quán đính, gọi là đàn Quán đính. Ngoài ra, đàn cũng được chia theo hình dáng, như đàn Địa luân hình vuông, đàn Thủy luân hình tròn, đàn Hỏa luân hình ba góc, đàn Phong luân hình bán nguyệt. Còn trường giới để truyền giới gọi là Giới đàn, đàn thờ tượng Phật gọi là Phật đàn. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.1, phẩm Trì tụng pháp tắc Q.7; kinh Đà la ni tập Q.2, Q.12; Mật môn tạp sao]. (xt. Tu Pháp Đàn, Mạn Đồ La).
đàn ba la mật
Xem Bố thí ba la mật.
; Dana paramita (skt)—See Đàn Na, and Lục Độ Ba La Mật in Vietnamese-English Section.
Đàn Ba-la-mật
hay Đàn-na Ba-la-mật, phiên âm từ Phạn ngữ là dna-pramit, dịch nghĩa là Bố thí độ hay Thí độ, là một hạnh trong sáu hạnh ba-la-mật của hàng Bồ Tát.
Đàn ba-la-mật
檀波羅蜜; C: tán pōluó mì; J: dan haramitsu; S: dāna-pāramitā.|Bố thí ba-la-mật. Một trong Lục ba-la-mật (六波羅蜜) của Đại thừa.
Đàn ba-la-mật 檀波羅蜜
[ja] ダンハラミツ dan haramitsu ||| The "perfection of giving," (dāna-pāramitā) one of the six Mahāyāna perfections 六波羅蜜. (s: dāna-pāramitā) => Bố thí ba-la-mật. Một trong Lục ba-la-mật của Đại thừa.
đàn chỉ
6001請參閱 釋量論 [1]梵語 acchaṭā 之意譯。即拇指與食指之指頭強力摩擦,彈出聲音;或以拇指與中指壓覆食指,復以食指向外急彈。於印度,彈指有四義:(一)表示虔敬歡喜,據法華經卷六神力品載,諸佛之謦欬聲與彈指聲普傳至十方,大地皆起六種振動。(二)表示警告,據新譯華嚴經卷七十九載,善財童子至彌勒菩薩之樓閣前,彈指出聲,門即開啟令其入內。(三)表示許諾,據增一阿含經卷二十八載,有二龍王請世尊准許彼等爲優婆塞,世尊彈指允之。(四)時間單位,彈指所需之極短暫時間,稱爲一彈指或一彈指頃。關於一彈指時間之長短,諸說不一,如大智度論卷八十三謂,一彈指有六十念。俱舍論卷十二(大二九‧六二上):「如壯士一疾彈指頃六十五剎那,如是名爲一剎那量。」現今一般常用語「一彈指」即源自佛教經典。〔菩薩處胎經卷二、觀無量壽經、華嚴經探玄記卷十八、祖庭事苑卷三〕(參閱「一彈指」78、「剎那」3731)
; Acchaṭā (S), Accharā (P), Snap of fingers Khảy móng tay.
; To snap the finger - in assent, in joy, in warning; a measure of time equal to twenty winks.
; (彈指) Khảy móng tay. Dịch ý từ chữ Phạm: acchaỉà. Ở Ấn độ, đàn chỉ có bốn nghĩa: 1. Biểu thị sự thành kính vui mừng: Theo phẩm Thần lực trong kinh Pháp hoa quyển 6 nói, thì tiếng hắng dặng và khảy móng tay của chư Phật truyền khắp đến mười phương, cả cõi đất nổi lên sáu thứ chấn động. 2. Biểu thị sự thông báo: Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 79 (bản dịch mới) chép, thì đồng tử Thiện tài đến trước lầu gác của bồ tát Di lặc khảy móng tay, cửa liền mở ra, Đồng tử bước vào. 3. Biểu thị sự ưng thuận: Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 28, có hai vị vua Rồng đến xin đức Thế tôn cho phép họ làm ưu bà tắc, Thế tôn khảy móng tay ưng thuận. 4. Chỉ cho đơn vị thời gian: Khảy móng tay chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn gọi là Nhất đàn chỉ hoặc Nhất đàn chỉ khoảnh. Theo luận Đại trí độ quyển 83 nói, thì một đàn chỉ có 60 niệm. Còn luận Câu xá quyển 12 thì nói (Đại 29, 62 thượng): Như cái khảy móng tay nhanh của tráng sĩ có 65 sát na, như thế gọi là 1 lượng sát na. [X. kinh Bồ tát xử thai Q.2; kinh Quán vô lượng thọ; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.18; Tổ đình sự uyển Q.3]. (xt. Nhất Đàn Chỉ, Sát Na).
đàn chủ
Xem Thí chủ.
; Xem người cúng dường.
; Dànapati (S). Lord of charity, a patron.
; Danapati (skt)—Vị thí chủ—Lord of charity—A patron.
đàn di li trưởng giả
6444據賢愚經卷十二載,昔有五比丘共入山行道,時諸比丘共勸一比丘云:「汝當為福,供養我等。」該比丘許諾,乃往至各處勸諸施主布施食物。四人得以身安,遂專精行道,九十日中便得道果,即共謂彼比丘:「吾等以汝緣故,達所期,汝何願?」比丘云:「使我得天上人中富貴,然後發心獲道果。」於是此比丘死後九十一劫中,常生於天人中,極豪貴尊嚴。後復生於拘薩羅國長者家,為檀彌離長者,值釋迦出世,而出家證得道果。
; (檀彌離長者) Kinh Hiền ngu quyển 12 chép, thủa xưa có năm vị tỉ khưu tu đạo ở trong núi, bốn vị cùng khuyên một vị rằng: Sư nên làm phúc, cúng dường chúng tôi. Vị tỉ khưu ấy ưng thuận, rồi xuống núi, đi đến làng xóm khuyến hóa thí chủ cúng dường thức ăn, bốn vị kia được yên thân nên chuyên tâm hành đạo, trong 90 ngày liền chứng đạo quả. Bấy giờ bốn vị tỉ khưu nói: Chúng tôi nhờ nhân duyên của sư mà đạt được điều kì vọng vậy sư mong muốn điều gì? Vị tỉ khưu ấy nói: Tôi muốn sinh ở cõi trời, cõi người và được giầu sang rồi sau mới phát tâm đắc đạo. Từ đó, trong 91 kiếp, vị tỉ khưu ấy thường sinh trong cõi trời, cõi người, cực kì giầu sang, tôn quí. Sau lại vào nhà Trưởng giả ở nước Câu tát la, làm trưởng giả Đàn di li, gặp đức Thích ca ra đời, rồi xuất gia chứng được đạo quả.
đàn gia
Danka (J).
; See Đàn Chủ.
đàn hoằng kị
6442又作前至忌。指死後六七日(第六個七日)之忌辰。〔諸回向清規卷四追忌名數之次第〕
; (檀弘忌) Cũng gọi Tiền chí kị. Cúng tuần thất thứ 6 cho người chết. [X. Chư hồi hướng thanh qui Q.4 Truy kị danh số thứ đệ].
đàn hà thiên nhiên
Danxia Tiannin (C), Tanka Tennen (J)Tên một vị sư.
đàn hà tử thuần
Danxia zichun (C), Tanka Shijun (J)Tên một vị sư.
đàn hành sự
6213為密教修法會時,在道場內監督法事,負責指揮莊嚴道場、辦備供具,以利法會圓滿之職稱。耳人身著五條袈裟。一般皆由精通事相者擔任之。相當於顯教法會之會行事。此外,日常在佛堂辦備供具,負責灑掃工作,以供奉本尊之人,亦稱壇行事。〔顯密威儀便覽卷下、傳法灌頂系玉集卷十二〕
; (壇行事) Chức vụ trong Mật giáo có trách nhiệm trông coi đàn tràng khi tu pháp hội, như việc trưng bày các phẩm vật cúng dường, hương hoa đèn nến cho trang nghiêm, khiến pháp hội được viên mãn. Người giữ chức vụ này mặc ca sa năm điều. Thông thường chọn người giỏi về nghi lễ sự tướng để bổ nhiệm. Chức này tương đương với chức Hội hành sự của pháp hội Hiển giáo và chức Hương đăng trong các chùa viện ngày nay. [X. Hiển Mật uy nghi tiện lãm Q.hạ; Truyền pháp quán đính hệ ngọc tập Q.12].
đàn hương
Sandalwood.
đàn khê tự
6443位於湖北襄陽。東晉寧康元年(373)道安創建,有五層之塔,房舍四百,為當時襄陽諸寺院之首位。道安於中率徒六時行道,考校經籍。復得梁州刺史獻銅萬斤,用以鑄造丈六佛像,時人亦稱之為金德寺。齊東昏侯(499~500)時,梁武帝引義軍東下,西平王蕭偉留守,悉取道安所造之像毀以鑄錢。
đàn khế
6443檀,檀家,即信徒。檀契,指僧俗間之契合,尤指俗家對僧眾之交誼。
; (檀契) Đàn là đàn gia, tức là tín đồ. Đàn khế là cơ duyên khế hợp giữa chư tăng và tín đồ.
Đàn kinh
壇經; J: dangyō;|Tên gọi ngắn của Lục tổ đại sư Pháp bảo đàn kinh.
đàn kinh
6213六祖大師法寶壇經之略稱。為禪宗六祖慧能於韶州大梵寺壇上所說之法,由門人法海記錄而成。據夾註輔教編卷六壇經贊題註載,初時,眾人欲請宗門第六祖大鑑禪師於韶州大梵寺開演東山法門,後因尊敬大鑑之道,乃封土為壇,以資其說法,其後,弟子集大鑑之說,因而稱為壇經。為我國撰述之佛典中唯一稱「經」者。乃後人尊敬六祖所說之法,故稱之為「經」,非六祖之本意。本書為禪宗最主要之思想依據,書中所強調的「頓悟」、「見性」、「無相無念」等觀念,於我國佛教史與思想史上皆為扭轉乾坤之關鍵。 有關壇經之版本,於唐代慧忠國師之時,已有改換之偽本,後於遼國,遂焚棄本書。至元世宗至元年間,有德異、宗寶二人,探求古本,刪定正訛,刊行於世,即為今之壇經。當時二公之二本分別同時刊行,德異本係至元二十七年(1290)於吳中休休禪庵上梓,宗寶本則於翌年印行。以宗寶本為勝,後人遂取德異之序冠之,而成今本。宗寶之跋(大四八‧三六四下):「余初入道,有感於斯,續見三本不同,互有得失,其版亦已漫滅,因取其本校讎,訛者正之,略者詳之,復增入弟子請益機緣,庶幾學者得盡曹溪之旨。」〔釋門正統卷八、佛祖統紀卷十四高麗國義天傳〕(參閱「六祖壇經」1286)
; Dan-gyō (J), Fa-pao-t'an-ching (C)Pháp bảo đàn kinh.
; (壇經) Gọi đủ: Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh. Có 1 quyển, do đức Lục tổ Tuệ năng của Thiền tông thuyết giảng ở chùa Đại phạm tại Thiều châu và đệ tử của Ngài là sư Pháp hải ghi chép. Nội dung nhấn mạnh các quan niệm Đốn ngộ, Kiến tính, Vô tướng vô niệm v.v..., là căn cứ tư tưởng trọng yếu nhất của Thiền tông. [X. Thích môn chính thống Q.8; Phật tổ thống kỉ Q.14 Cao li quốc Nghĩa thiên truyện]. (xt. Lục Tổ Đàn Kinh).
Đàn Lâm
(檀林, danrin): nguyên lai, nó là từ gọi tắt của Chiên Đàn Lâm (旃檀林), nơi chúng tăng hòa hợp, tập trung tu hành; thường chỉ cho tự viện; cho nên nó cũng là tên gọi khác của tự viện Phật Giáo. Về sau, nó trở thành cơ sở học vấn của Phật Giáo, vì tính chất cũng như cơ năng của nó giống như Học Lâm (學林), Học Liêu (學寮). Tại Nhật Bản, Đàn Lâm Viện (檀林院) được xây dựng vào năm thứ 3 (853) niên hiệu Nhân Thọ (仁壽) được xem như là tiền thân đầu tiên của Đàn Lâm. Đến thời đại Đức Xuyên (德川, Tokugawa), các tông phái bắt đầu thiết kế những cơ sở học vấn Đàn Lâm và Quan Đông Thập Bát Đàn Lâm (關東十八檀林, 18 cơ sở học vấn Đàn Lâm ở vùng Quan Đông) là tiêu biểu, nổi tiếng nhất. Riêng Tào Động Tông, trong khuôn viên của Cát Tường Tự (吉祥寺, Kichijō-ji) ở Giang Hộ (江戸, Edo) có Chiên Đàn Lâm với rất nhiều tăng chúng đến tham học. Tương truyền đến năm thứ 3 (1774) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永), nơi đây có đến 641 người. Khoảng vào năm đầu (1624) niên hiệu Khoan Vĩnh, Quan Đông Thập Bát Đàn Lâm được thành lập, nhưng người hình thành hệ thống là Nguyên Dự Tồn Ứng (源譽存應, Genyō Zonō, 1544-1620), vị tổ đời thứ 12 của Tăng Thượng Tự (增上寺, Zōjō-ji). Đây là 18 ngôi tự viện có cơ cấu giáo dục cho tăng sĩ của Tịnh Độ Tông Nhật Bản, gồm: (1) Quang Minh Tự (光明寺, Kōmyō-ji) ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, thuộc Kanagawa-ken [神奈川縣]); (2) Thắng Nguyện Tự (勝願寺, Shōgan-ji) ở Hồng Sào (鴻巢, Konosu, thuộc Saitama-ken [埼玉縣]); (3) Thường Phước Tự (常福寺, Jōfuku-ji) ở Qua Liên (瓜連, Urizura, thuộc Ibaraki-ken [茨城縣]); (4) Tăng Thượng Tự (增上寺, Zōjō-ji) ở Đông Kinh (東京, Tokyo); (5) Hoằng Kinh Tự (弘經寺, Gukyō-ji) ở Phạn Chiểu (飯沼, Iinuma, thuộc Ibaraki-ken); (6) Đông Tiệm Tự (東漸寺, Tōzen-ji) ở Tùng Hộ (松戸, Maddo, thuộc Chiba-ken [千葉縣]); (7) Đại Nham Tự (大巖寺, Daigan-ji) ở Thiên Diệp (千葉, Chiba, thuộc Chiba-ken); (8) Liên Hinh Tự (蓮馨寺, Renkei-ji) ở Xuyên Việt (川越, Kawagoe, thuộc Saitama-ken); (9) Đại Thiện Tự (大善寺, Daizen-ji) ở Bát Vương Tử (八王子, Hachiōji, thuộc Tokyo); (10) Tịnh Quốc Tự (淨國寺, Jōkoku-ji) ở Nham Quy (岩槻, Iwatsuki, thuộc Saitama-ken); (11) Đại Niệm Tự (大念寺, Dainen-ji) ở Đạo Phu (稻敷, Inashiki, thuộc Ibaraki-ken); (12) Thiện Đạo Tự (善導寺, Zendō-ji) ở Quán Lâm (館林, Tatebayashi, thuộc Gunma-ken [群馬縣]); (13) Hoằng Kinh Tự (弘經寺, Gukyō-ji) ở Thường Tổng (常總, Jōsō, thuộc Ibaraki-ken); (14) Linh Sơn Tự (靈山寺, Reizan-ji) ở Mặc Điền (墨田, Sumida, thuộc Tokyo); (15) Phan Tùy Viện (幡隨院, Banzui-in) ở Tiểu Kim Tỉnh (小金井, Koganei, thuộc Tokyo); (16) Truyền Thông Viện (傳通院, Denzū-in) ở Văn Kinh (文京, Bunkyō, thuộc Tokyo); (17) Đại Quang Viện (大光院, Daikō-in) ở Thái Đa (太田, Ōta, thuộc Gunma-ken); (18) Linh Nham Tự (靈巖寺, Reigan-ji) ở Thâm Xuyên (深川, Fukagawa, thuộc Tokyo). Trong Khổng Tước Tôn Kinh Khoa Nghi (孔雀尊經科儀) có câu: “Chiên Đàn Lâm nội lục thù giá trọng ư Ta Bà, Cấp Cô Viên trung nhất chú thông tân ư Linh Thứu, cổ chế bàn toàn thanh thoại khí, ngọc lô liêu nhiễu bích tường vân, ngã kim nhiệt xử hiến Như Lai, duy nguyện từ bi ai nạp thọ (旃檀林內六銖價重於娑婆、給孤園中一炷通津於靈鷲、古晢盤旋清瑞氣、玉爐繚遶碧祥雲、我今熱處獻如來、唯願慈悲哀納受, trong Chiên Đàn Lâm sáu cây giá nặng bằng Ta Bà, nơi Vườn Cấp Cô một nén hương xông tận Linh Thứu, sao xưa xoay chuyển trong lành khí, lò ngọc tỏa vờn mây xanh thiêng, con nay đốt lên cúng Như Lai, cúi mong từ bi thương lãnh thọ).” Hay trong Chứng Đạo Ca (證道歌) của Vĩnh Gia Huyền Giác (永嘉玄覺, 675-713) cũng có câu: “Chiên Đàn Lâm vô tạp thọ, uất mật sum trầm sư tử trú, cảnh tĩnh lâm nhàn độc tự du, tẩu thú phi cầm giai viễn khứ (旃檀林無雜樹、鬱密森沉師子住、境靜林間獨自遊、走獸飛禽皆遠去, Chiên Đàn Lâm chẳng cây tạp, rừng rậm thâm u sư tử sống, cảnh vắng non nhàn mặc ngao du, thú chạy chim bay đều xa lánh).”
đàn lâm
Danrin (J).
; Rừng cây chiên đàn, tiếng chỉ tự viện—A forest of sandal-wood, a monastery.
đàn lâm bảo toà
6443即指極樂淨土之寶座。檀林,指栴檀林。意謂在栴檀林樹下,眾寶莊嚴之蓮華座。無量壽經(大一二‧二七一中):「其池岸上有栴檀樹,華葉垂布,香氣普熏。」觀無量壽經(大一二‧三四三中):「一一樹下亦有三蓮華,諸蓮華上各有一佛二菩薩像。」上引皆係關於極樂淨土檀林寶座之描述。〔法事讚卷下〕
; (檀林寶座) Chỉ cho tòa báu ở bên cõi Tịnh độ cực lạc. Tức là tòa hoa sen được trang nghiêm bằng các thứ quí báu ở dưới gốc cây trong rừng Chiên đàn. Kinh Vô lượng thọ (Đại 12, 271 trung), nói: Trên bờ ao Thất bảo có hàng cây chiên đàn, hoa lá xum xuê, mùi thơm tỏa khắp. Kinh Quán vô lượng thọ thì nói (Đại 12, 343 trung): Dưới mỗi cây có ba hoa sen, trên các hoa sen có một đức Phật và hai vị Bồ tát. Những câu kinh trên đều miêu tả tòa báu trong rừng chiên đàn ở cõi Tịnh độ. [X. Pháp sự tán Q. hạ].
đàn lâm tự
Danrin-ji (J)Tên một nữ tu viện ở Kyoto được xây dựng khoảng 834 - 847.
Đàn Na
(s, p: dāna, 檀那): còn gọi là Đà Na (柁那), Đán Na (旦那), Đà Nẵng (馱曩), Đàn (檀); ý dịch là thí (施, cho, ban phát), bố thí (布施), tức lấy tâm từ bi mà ban phát phước lợi cho tha nhân; cả Phạn Hán cùng gọi là Đàn Thí (檀施), Đàn Tín (檀信). Những tín đồ cúng dường y thực cho tăng chúng, hay xuất tiền tài để tiến hành pháp hội, tu hạnh bố thí được gọi là Thí Chủ (s: dānapati, 施主); âm dịch là Đàn Việt (檀越), Đà Na Bát Để (陀那鉢底), Đàn Na Ba Để (檀那波底), Đà Na Bà (陀那婆); cả Phạn Hán đều gọi chung là Đàn Việt Thí Chủ (檀越施主), Đàn Na Chủ (檀那主), Đàn Chủ (檀主). Trong Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập (翻譯名義集) quyển 1 có giải thích rằng: “Đàn Na hựu xưng Đàn Việt; Đàn tức thí; thử nhân hành thí, việt bần cùng hải, cố xưng Đàn Việt; tâm sanh xả pháp, năng phá xan tham, thị vi Đàn Na (檀那又稱檀越、檀卽施、此人行施,越貧窮海、故稱檀越、心生捨法、能破慳貪、是爲檀那, Đàn Na còn gọi là Đàn Việt; Đàn tức là bố thí; người này hành bố thí, vượt qua biển bần cùng; nên gọi là Đàn Việt; tâm sanh khởi pháp xả bỏ, có thể phá tan sự tham lam, keo kiệt, đó là Đàn Na).” Theo Thiện Sanh Kinh (善生經) của Trường A Hàm (長阿含經) quyển 11 có đoạn rằng: “Đàn Việt đương dĩ ngũ sự cung phụng Sa Môn, Bà La Môn. Vân hà vi ngũ ? Nhất giả thân hành từ, nhị giả khẩu hành từ, tam giả ý hành từ, tứ giả dĩ thời thí, ngũ giả môn bất chế chỉ. Thiện Sanh, nhược Đàn Việt dĩ thử ngũ sự cung phụng Sa Môn, Bà La Môn; Sa Môn, Bà La Môn đương phục dĩ lục sự nhi giáo thọ chi. Vân hà vi lục ? Nhất giả phòng hộ bất linh vi ác, nhị giả chỉ thọ thiện xứ, tam giả giáo hoài thiện tâm, tứ giả sử vị văn giả văn, ngũ giả dĩ văn năng sử thiện giải, lục giải khai thị thiên lộ (檀越當以五事供奉沙門、婆羅門、云何爲五、一者身行慈、二者口行慈、三者意行慈、四者以時施、五者門不制止、善生、若檀越以此五事供奉沙門、婆羅門、沙門、婆羅門當復以六事而敎授之、云何爲六、一者防護不令爲惡、二者指授善處、三者敎懷善心、四者使未聞者聞、五者已聞能使善解、六者開示天路, Thí chủ nên lấy năm việc để cung phụng Sa Môn, Bà La Môn. Thế nào là năm ? Một là thân hành từ bi, hai là miệng hành từ bi, ba là ý hành từ bi, bốn là cúng dường đúng thời, năm là cổng không đóng dừng. Này Thiện Sanh ! Nếu Thí chủ lấy năm việc trên để cung phụng Sa Môn, Bà La Môn; Sa Môn, Bà La Môn phải lấy sáu việc để giáo hóa lại cho họ. Thế nào là sáu ? Một là phòng ngừa, bảo hộ không khiến cho làm điều ác; hai là chỉ bày, truyền trao nơi tốt lành; ba là dạy họ luôn nhớ tâm lành; bốn là khiến cho người chưa nghe được nghe; năm là người được nghe có thể khiến cho khéo hiểu rõ; sáu là khai thị rõ đường lên trời).” Lại theo Tăng Nhất A Hàm Kinh (增壹阿含經, Taishō No. 125) quyển 24 cho biết rằng vị Thí Chủ Đàn Việt tùy thời mà bố thí, cúng dường thì sẽ có 5 công đức: (1) Tiếng tăm vang khắp bốn phương và mọi người đều hoan hỷ, vui mừng; (2) Nếu sanh làm thân chúng sanh, không mang tâm xấu hổ và cũng không có sự sợ hãi; (3) Được mọi người kính ngưỡng, người thấy cũng sanh tâm hoan hỷ; (4) Sau khi mạng hết, hoặc sanh lên cõi Trời, được chư Thiên cung kính; nếu sanh trong cõi người, cũng được người tôn quý; (5) Trí tuệ xuất chúng, thân hiện đời hết lậu hoặc, chẳng trãi qua đời sau. Món cháo do Thí Chủ cúng dường cho đại chúng được gọi là Đàn Na Chúc (檀那粥). Như trong Oánh Sơn Thanh Quy (瑩山清規) quyển Thượng, phần Nguyệt Trung Hành Sự (月中行事) của Oánh Sơn Thiệu Cẩn (瑩山紹瑾, Keizan Jōkin, 1268-1325), Tổ khai sơn Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji) ở vùng Năng Đăng (能登, Noto), có câu: “Đàn Na Chúc, thán kệ như tiền, kim thần tịnh chúc nhất đường, phụng vị bổn tự Đàn Na thập phương Thí Chủ phước thọ trang nghiêm, ngưỡng bằng tôn chúng niệm (檀那粥、歎偈如前、金晨淨粥一堂、奉爲本寺檀那十方施主福壽莊嚴、仰憑尊眾念, Cháo Đàn Na, kệ tán thán như trước, hôm nay cháo chay một nhà, kính vì cầu chúc Đàn Na chùa này, Thí Chủ mười phương được phước thọ trang nghiêm, ngưỡng mong đại chúng tưởng niệm).” Đặc biệt, tại Nhật Bản, ngôi chùa sở thuộc nhà Đàn Việt được gọi là Đàn Na Tự (檀那寺, Danna-dera) hay Đán Na Tự (旦那寺, Danna-dera); hay còn có nghĩa là ngôi chùa ban pháp cho bản thân mình, hoặc là ngôi chùa do mình cúng dường và duy trì. Từ này xuất hiện trong khoảng thời gian niên hiệu Khoan Vĩnh (寛永, 1624-1644), khi tiến hành đàn áp Thiên Chúa Giáo. Đàn Na Tự còn gọi với tên khác là Bồ Đề Tự (菩提寺), Hương Hoa Viện (香華院).
đàn na
6442梵語 dāna,巴利語同。又作旦那、柁那、拕那、馱曩。略作檀。意譯為布施、施。即給與、施捨之意。梵漢並稱,則為檀施、檀信。檀波羅蜜乃六波羅蜜之一。檀那波底(梵 dānapati),即施主、布施者。中國、日本又將檀那、檀越引申為施主之稱。翻譯名義集卷一載,檀那又稱檀越,檀即施;此人行施,越貧窮海,故稱檀越。心生捨法,能破慳貪,是為檀那。 日本稱信徒所屬之寺院為檀那寺;所屬之信{為檀家、檀徒。又檀徒中之頭首,稱為檀頭。(參閱「施主」3828)
; Xem Bố thí.
; Xem bố thí.
; To give, donate, bestow, charity, alms.
; Công đức bố thí cho người nghèo hay cho chư Tăng Ni—Cúng dường chư Tăng Ni những thứ cần thiết trong cuộc sống hằng ngày như ăn, mặc, ở, bịnh. Chư Tăng Ni phải nên luôn nhớ rằng nợ đàn na tín thí là nặng đến nổi chỉ một hạt gạo đã nặng bằng hòn núi Tu Di. Khi chư Tăng Ni đã từ bỏ cuộc sống thế tục, họ hoàn toàn tùy thuộc vào của bố thí của đàn na, những người làm việc cật lực để cúng dường quần áo, thực phẩm, thuốc men, mền mùng. Họ phải làm việc vất vả vô cùng để vừa lo cho gia đình vừa hộ trì Tam Bảo. Có khi họ làm không đủ ăn mà họ vẫn sẳn sàng hộ trì. Đôi khi Phật tử tại gia là những kẻ không nhà, thế mà họ vẫn dành dụm để cúng dường Tam Bảo. Chính vì những lý do đó, sự lạm dụng tiền của Tam Bảo hay của cúng dường, thì mỗi hạt gạo mỗi tất vải là nợ nần Tam Bảo. Nếu chư Tăng Ni không dụng công tu hành và giúp người khác cùng tu hành giải thoát, thì bất cứ thứ gì họ vay tạo trong đời nầy họ sẽ phải đền trả trong những kiếp lai sanh bằng cách sanh làm nô lệ, làm chó, làm heo, làm bò làm trâu, vân vân—Almsgiving—Donation—Charity—Offerings—The virtue of almsgiving to the poor and the needy—Offer gifts to Bhikhu or community of Bhikhus. Offerings to the monks and the nuns necessary things for a monastic living from lay Buddhists (clothes, food, medicine, blankets, etc)—Monks and nuns should always remember their debts to the giveers are so heavy that even a grain of rice weighs the wieght of a Sumeru Mountain. Once Monks and Nuns renounced their worldly life, they totally depend on the people who make charitable donations such as clothes, food, medicine and blankets. These givers work hard to make their living, to take care of themselves and to support the Order. Sometimes, no matter how hard they work, yet they don't'have enough to live on. Lay Buddhists are sometimes homeless, yet they still save money to support the Sangha. For those reasons, if the Sangha misuse the moneyor whatever offered, then every seed of rice, every milimeter of fabric shall have their debts. If the Monks and the Nuns don't do their best to cultivate themselves and help liberate others, whatever they receive in this life must be repaid in the next reincarnation to the fullest by becoming slaves, or being dogs, pigs, cows, water buffalos, etc.
; (檀那) Phạm, Pàli: Dàna. Cũng gọi Đán na, Đà na, Đà nãng. Gọi tắt: Đàn. Người Trung quốc dịch ý là Bố thí, Thí, nghĩa là cấp cho, thí bỏ. Khi gọi chung cả Phạm và Hán thì là Đàn thí, Đàn tín. Đàn ba la mật là một trong sáu ba la mật. Đàn na ba để (Phạm: dànapati) là Thí chủ (người bố thí). Trung quốc và Nhật bản cũng gọi người bố thí là Đàn na, Đàn việt. Bởi vì theo Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 1, Đàn na còn gọi là Đàn việt. Đàn là thí (cho), người làm việc bố thí sẽ vượt qua biển nghèo cùng nên gọi là Đàn việt. Sinh tâm xả bỏ có thể diệt trừ tính bỏn sẻn tham lam, đó là Đàn na. Tại Nhật bản, những chùa viện phụ thuộc vào tín đồ gọi là chùa Đàn na, tín đồ thuộc về chùa là Đàn gia, hay Đàn đồ. Người đứng đầu đàn đồ gọi là Đàn đầu. (xt. Thí Chủ).
đàn na ba la mật
Xem Bố thí Ba la mật.
đàn na bát để
Danapati (skt)—See Đàn Na.
đàn na tự
Chùa nơi đàn na tín thí cúng dường tạo phước—A monastery where people make their almsgiving to cultivate their merits.
đàn na đường
Danna's Hall—Donors' Hall.
đàn nhĩ
6442栴檀樹耳之略稱。耳亦作茸,生於栴檀樹之茸,稱為檀耳,為世所希有之珍品。據長阿含卷三遊行經載,有一工師子周那(梵 Cunda,又稱純陀),持檀耳供養佛陀,佛陀食後患背痛,後入涅槃。(參閱「旃檀耳」4119)
; (檀耳) Gọi đủ: Chiên đàn thụ nhĩ (tai của cây chiên đàn). Nhĩ cũng viết là Nhung (). Tức là nấm mọc ở cây chiên đàn, một thứ thực phẩm quí hiếm. Cứ theo kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 3 chép, thì có con một người thợ tên là Chu na (Phạm:Cunda, cũng gọi Thuần đà) đem nấm chiên đàn cúng dường đức Phật, ăn xong Ngài bị đau lưng, sau đó vào Niết bàn. (xt. Chiên Đàn Nhĩ).
đàn ni ca
6442梵名 Dhanikā。佛之弟子。又作檀膩迦、但尼迦、達膩迦、陀尼迦。檀尼迦原為陶師子,善於和泥作屋;因其欺騙守材者,盜取瓶沙王之材木,佛陀因此而制不與取他人財物之戒。
; Dhanika (S)Đạt nị caĐệ tử tại gia thời đức Phật, đã trộm gỗ của vua Bình sa vương để xây cất tịnh xá.
; (檀尼迦) Phạm: Dhanikà. Cũng gọi Đàn nị ca, Đãn ni ca, Đạt nị ca, Đà ni ca. Là đệ tử tại gia của đức Phật. Đàn ni ca vốn là con một người thợ gốm, chuyên nghề làm nhà; vì ông này lừa gạt người giữ xưởng gỗ của vua Bình sa để lấy gỗ nên đức Phật nhân đó mà chế giới: Tài vật người khác không cho, thì không được lấy.
đàn nã
6443梵語 daṇḍa,巴利語同。又作檀荼、檀陀、但荼、單馱、單拏、娜拏、難拏。或作檀拏幢、檀拏棓。意譯為杖、寶杖、策杖、棒棓,或人頭幢、人頭棒、骷髏杖。為焰摩天等之手持物,又為其三昧耶形,係上端為人頭形之策杖。 又以此檀拏為標誌之印相,稱為檀拏印。大日經卷四密印品(大一八‧二九中):「以定慧手相合,風輪、地輪入於掌中,餘皆上向,是焰摩但荼印。」即二手「虛心合掌」,二風(即二食指)二地(即二小指)入於掌中,其餘手指向上。〔大日經卷一具緣品、卷五祕密漫荼羅品、焰羅王供行法次第、大日經疏卷五、大日經義釋卷四〕
; (檀拏) Phạm, Pàli: Daịđa. Cũng gọi Đàn đồ, Đàn đà, Đãn đồ, Đơn đà, Đơn noa, Na noa, Nan noa, Đàn noa chàng, Đàn noa bổng.Dịch ý: trượng (gậy), bảo trượng (gậy báu), sách trượng (gậy đánh), bổng bổng (cây gậy), nhân đầu chàng (cây cờ có hình đầu người), nhân đầu bổng (gậy đầu người), khô lâu trượng (gậy đầu lâu). Vật cầm tay mà cũng là hình Tam muội da của trời Dạ ma, tức là cây gậy có hình đầu người ở đầu cây gậy. Ngoài ra, Đàn noa được dùng làm ấn tướng tiêu biểu thì gọi là Đàn noa ấn. Theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4 (Đại 18, 29 trung) thì ấn tướng là: Chắp tay để rỗng ở giữa, hai ngón trỏ (phong luân) và hai ngón út (địa luân) co vào lòng bàn tay, còn các ngón khác thìdựng thẳng lên. [X. kinh Đại nhật quyển 1 phẩm Cụ duyên, Q.5 phẩm Bí mật mạn đồ la; Diệm ma vương cúng dường pháp thứ đệ; Đại nhật kinh sớ Q.5; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.4].
đàn pháp
Xem Mạn-đà-la.
đàn pháp mạn đà la
Sand Maṇdala (S).
đàn quang
6442檀,梵語 dāna,布施之意。以其布施行之因,可得光明,能滅除慳貪罪,故稱檀光。又稱無慳光。舊譯華嚴經卷七(大九‧四三六下):「又放光明名無慳,彼光覺悟除貪惜,解知財寶非常有,悉能捨離無所著,(中略)常能歡喜樂布施,因是得成無慳光。」
; (檀光) Đàn, Phạm: Dàna, nghĩa là bố thí. Cũng gọi Vô khan quang (ánh sáng không bỏn sẻn). Hạnh bố thí có thể phát ra ánh sáng, diệt trừ tội tham lam bỏn sẻn. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 7 (Đại 9, 436 hạ), nói: ... Lại phóng ánh sáng giác ngộ diệt trừ tính tham tiếc, hiểu rõ của báu là vô thường, có thể xả bỏ tất thảy, không chấp trước, (...) thường vui vẻ bố thí, nhờ đó thành tựu Vô khan quang.
đàn sấn
6444又作達嚫(梵 dakṣiṇā)。檀越嚫金之略稱。指施主布施三寶之金錢。〔月坡錄卷一〕(參閱「達嚫」5677)
; (檀嚫) Cũng gọi Đạt sấn (Phạm: dakwiịà). Gọi đủ: Đàn việt sấn kim. Là tiền thí chủ cúng dường Tam bảo. [X. Nguyệt pha lục Q.1]. (xt. Đạt Sấn).
đàn thiên tích tiểu
6002天台宗於所立「五時」中用以表示第三「方等時」特質之用語。全稱彈偏析小歎大褒圓。此語出自高麗天台宗大學者諦觀所集錄之「天台四教儀」一書中。隋代天台大師智顗之法華經玄義一書則有「析小彈偏,歎大褒圓」之語。又「彈」,彈斥之意;「偏」,指化法四教中之前三教(藏、通、別),天台宗認爲此三教之教法猶爲應機之權教,而非圓融之究竟教法,故謂之偏;「析」,析挫之意;「小」,指小乘教(即藏教)或執於淺窄狹隘之思想教說;「歎」,稱歎之意;「大」,指大乘教或持正不偏、深廣圓融之思想教說;「褒」,褒美之意;「圓」,指圓教,即化法四教中之第四教。 蓋天台宗將佛陀一代之教說判爲五時八教,五時,係指將佛陀一生所說之教法,就後世結集而成之經典部帙而分爲五個說法時期,即華嚴時、鹿苑時、方等時、般若時、法華涅槃時;八教,即化儀四教與化法四教,前者指將佛陀化導眾生之儀則軌式分爲頓教、漸教、祕密教、不定教等四大類,後者則指將佛陀化益眾生之方法分爲藏教、通教、別教、圓教等四大類,天台宗既以五時八教爲其教判總說,認爲每一時教均各有特色及精神旨趣,且將五時教與八教間之關係賦予配當作法與進一步之闡論。於五時教中,天台宗認爲方等時之教法特點即在於「彈偏析小,歎大褒圓」,亦即彈斥藏、通、別等三教之偏淺、不究竟,而褒美圓教深廣圓融之妙義;或析挫小乘教(藏教)之偏執,而稱歎通、別、圓等之大乘教。此即所謂「方等之彈訶」。蓋針對所化之機(即二乘人)而言,此一作法(彈偏析小)旨在導其恥小慕大,趨向上乘。 又於諸本方等部之經中,天台宗認爲以維摩經最能凸顯此「彈偏析小,歎大褒圓」之特質,如荊溪湛然於所著法華玄義釋籤卷十九謂,維摩經之菩薩品即屬「彈偏」之具現,弟子品即爲「析小」之具現,觀眾生品即爲「歎大」之具現,又經中對文殊菩薩及維摩居士之稱歎即是「褒圓」之具現。〔四教儀集註卷上、四教儀集註半字談卷一〕
; (彈偏析小) Gọi đủ: Đàn thiên tích tiểu thán đại bao viên. Tiếng dùng để biểu thị tính chất đặc thù của thời Phương đẳng thứ 3 trong năm thời giáo do tông Thiên thai lập ra. Từ ngữ này có xuất xứ từ sách Thiên Thai Tứ Giáo Nghi do ngài Đế quán của tông Thiên thai Cao li biên tập. Còn trong tác phẩm Pháp hoa kinh huyền nghĩa của ngài Trí khải thuộc tông Thiên thai ở đời Tùy, Trung quốc, thì có từ ngữ Tích tiểu đàn thiên, thán đại bao viên. Đàn nghĩa là chỉ trích bài bác; Thiên chỉ cho ba giáo (Tạng, Thông, Biệt) trong bốn giáo hóa pháp. Tông Thiên thai cho giáo pháp của ba giáo này là quyền giáo ứng cơ (giáo tạm thời thích ứng với các căn cơ), chứ chưa phải là giáo pháp rốt ráo viên dung, nên gọi là Thiên (một nửa, lệch về một bên = thiên chấp). Tích là chia chẻ; Tiểu chỉ cho giáo pháp Tiểu thừa (Tạng giáo) hoặc chấp vào giáo thuyết tư tưởng hời hợt hẹp hòi; Thán là khen ngợi; Đại chỉ cho giáo pháp Đại thừa hoặc giáo thuyết tư tưởng giữ lí trung chính, không thiên lệch, sâu xa, rộng lớn, viên dung; Bao là ca ngợi; Viên chỉ cho Viên giáo, tức giáo thứ 4 trong bốn giáo hóa pháp. Những giáo pháp do đức Phật nói trong suốt cuộc đời Ngài đã được đời sau kết tập thành các bộ loại kinh điển, tông Thiên thai dựa vào đó mà chia làm năm thời là thời Hoa nghiêm, thời Lộc uyển (A hàm), thời Phương đẳng, thời Bát nhã, thời Pháp hoa Niết bàn và tám giáo là bốn giáo Hóa nghi và bốn giáo Hóa pháp. Trong năm thời giáo, tông Thiên thai cho rằng đặc điểm của giáo pháp thời Phương đẳng là ở chỗ đàn thiên tích tiểu, thán đại bao viên, tức là chê bai sự nông cạn, thiên lệch, chưa rốt ráo của Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo và khen ngợi diệu nghĩa sâu rộng viên dung của Viên giáo; hoặc chỉ trích bác bỏ sự thiên chấp của Tiểu thừa giáo (Tạng) và khen ngợi Đại thừa giáo (Thông, Biệt, Viên). Mục đích của phương tiện Đàn thiên tích tiểu là nhằm giáo hóa hàng căn cơ Nhị thừa bỏ Tiểu theo Đại, hướng tới Thượng thừa. Trong các bản kinh thuộc Phương đẳng bộ, tông Thiên thai cho kinh Duy ma có thể hiển bày rõ tính chất đặc biệt đàn thiên tích tiểu, thán đại bao viên này nhất. Như trong Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 19, ngài Kinh khê Trạm nhiên cho rằng, phẩm Bồ tát trong kinh Duy ma thể hiện đủ tính chất Đàn thiên, phẩm Đệ tử thể hiện đủ tính chất Tích tiểu, phẩm Quán chúng sinh thể hiện đủ tính chất Thán đại, còn sự khen ngợi bồ tát Văn thù và cư sĩ Duy ma trong kinh thì thể hiện đủ tính chất Bao viên. Về tám giáo, thì bốn giáo Hóa nghi là những nghi tắc, phương thức giáo hóa chúng sinh của đức Phật được chia làm bốn loại lớn là Đốn giáo, Tiệm giáo, Bí mật giáo và Bất định giáo. Còn bốn giáo Hóa pháp thì chia phương pháp hóa đạo chúng sinh của đức Phật làm 4 loại lớn là Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo và Viên giáo. Trên đây là tổng thuyết giáo phán của tông Thiên thai và trong năm thời thì mỗi thời đều có đặc sắc và tinh thần chỉ thú riêng. [X. Tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Tứ giáo nghi tập chú bán tự đàm Q.1].
đàn thí
6443檀,梵語 dāna 之略譯,意即布施、捨施。梵漢並舉,而稱檀施。同於「檀捨」。或特指檀家(信徒)之布施。
; Almsgiving, bestowing, charity.
; Dana (skt)—Almsgiving—Bestowing—Charity—See Đàn Na.
; (檀施) Đàn là nói tắt từ tiếng Phạm: Dàna, nghĩa là bố thí, thí bỏ. Ghép chung cả Phạm và Hán mà gọi là Đàn thí, cùng nghĩa với Đàn xả. Chỉ cho sự cúng dường của tín đồ (đàn gia).
đàn thí ca a lan nhã
Dandaka-aranyaka (skt)—Một trong ba loại ẩn sĩ Đàn Thí Ca, những vị sống trên những phiến đá gần bờ biển—Dandaka forest hermits, one of the three classes of hermits, interpreted as those who live on rocks by the seashore.
đàn thượng lễ
6213日本曹洞宗授戒會之法式。即由啟建日至登壇夜之間,每日藥石後,敲小鐘一會,大眾上殿,鳴鐘七下,三師上殿,由戒師燒香,普同三拜,再由直壇(總理戒會、戒場等一切事務之職稱)或室侍寮一人,舉唱壇上禮,大眾隨同手磬,一唱一禮。其次行佛祖禮。古規中無此唱禮,今曹洞宗多用此儀式。又舉唱禮拜之文為:「一者禮敬諸佛,二者稱讚如來,三者廣修供養,四者懺悔業障,五者隨喜功德,六者請轉法輪,七者請佛住世,八者常隨佛學,九者恆順眾生,十者普皆回向。華藏教主盧舍那佛、得戒大師釋迦牟尼佛、羯磨阿闍梨文殊菩薩、教授阿闍梨彌勒菩薩、高祖佛性傳東國師承陽大師、太祖弘德圓明國師常濟大師、三國傳燈歷代祖師諸大和尚、護戒護法諸天善神菩薩、當寺開山(某)大和尚、戒源師(某)大和尚、現戒師(某)大和尚、教授師(某)大和尚、引請師(某)大和尚、道場助緣同學法侶十方諸菩薩。」〔曹洞宗行持軌範卷二授戒會作法〕
; (壇上禮) Nghi thức lễ bái trong đàn thụ giới của tông Tào động, Nhật bản. Trong thời gian từ ngày mở đàn cho đến đêm đăng đàn, mỗi ngày sau thạch dược (bữa ăn chiều), đánh một hồi chuông nhỏ, đại chúng tề tựu trên điện Phật, đánh bảy tiếng chuông cung thỉnh Tam sư (Hòa thượng, Yết ma, Giáo thụ) lên điện, vị Giới sư đốt hương đều lạy ba lạy, rồi vị Trực đàn (người trông coi tất cả các việc trong giới đàn, giới trường), hoặc vị Thị lieu (người trông coi phòng liêu của chúng tăng)xướng lễ, đại chúng theo tiếng khánh, xướng một câu lạy một lạy. Văn xướng lễ như sau: 1. Lễ kính chư Phật; 2. Xưng tán Như lai; 3. Quảng tu cúng dường; 4. Sám hối nghiệp chướng; 5. Tùy hỉ công đức; 6. Thỉnh chuyển pháp luân; 7. Thỉnh Phật trụ thế; 8. Thường tùy Phật học; 9. Hằng thuận chúng sinh; 10. Phổ giai hồi hướng. Hoa tạng giáo chủ Lô xá na Phật. Đắc giới đại sư Thích ca mâu ni Phật. Yết ma a xà lê Văn thù bồ tát. Giáo thụ a xà lê Di lặc bồ tát. Cao tổ Phật tính truyền đông quốc sư thừa dương đại sư. Thái tổ hoằng đức viên minh quốc sư thường tế đại sư. Tam quốc truyền đăng lịch đại tổ sư chư đại hòa thượng. Hộ giới hộ pháp chư thiên thiện thần bồ tát. Đương tự khai sơn (tên là) đại hòa thượng. Giới nguyên sư (tên là...) đại hòa thượng. Hiện giới sư (tên là...) đại hòa thượng. Giáo thụ sư (tên là...) đại hòa thượng. Dẫn thỉnh sư (tên là...) đại hòa thượng. Đạo tràng trợ duyên đồng học pháp lữ thập phương chư bồ tát. [X. Tào động tông hành trì quĩ phạm Q.2 Thụ giới hội tác pháp].
đàn thấn
Xem Đạt thấn.
đàn tràng
(壇場) Có 2 nghĩa: 1. Nơi các vị giảng sư thuyết pháp. 2. Danh từ Mạn đồ la (Phạm: maịđala) của Mật giáo nghĩa là đàn, đạo tràng, cũng gọi Đàn tràng, là nơi hành giả Mật giáo tác pháp tu hành.
đàn trường
6213有二義:(一)指佛家說教法之場所。(二)密教之曼荼羅(梵 maṇḍala),義為壇、道場,亦稱壇場。為密教修行者作法修行之處所。
đàn tín
The faith of an almsgiver; almsgiving and faith.
; 1) Bố thí và tín tâm: Almsgiving and faith. 2) Lòng tín ngưỡng của thí chủ: The faith of an almsgiver.
đàn tượng
6444栴檀像之略稱。栴檀為一種香木,赤色者稱牛頭栴檀、赤栴檀;黑色者稱為紫檀;白色者稱為白檀。其木質緻密,適於雕刻,然巨材不易得,故作品多為精巧之小佛像。其質地與香味均屬上乘。我國多出產白檀。日本法隆寺所收藏之九面觀音即為我國唐代檀像傑作。
; (檀像) Gọi đủ: Chiên đàn tượng. Tượng tạc bằng gỗ chiên đàn. Chiên đàn là loại cây có hương thơm, loại mầu đỏ gọi là Ngưu đầu chiên đàn, Xích chiên đàn; loại mầu đen gọi là Tử đàn; loại mầu trắng gọi Bạch đàn. Chất cây rất mịn, thích hợp cho việc chạm trổ, nhưng không dễ gì có được những cây to lớn, cho nên các tác phẩm tinh xảo phần nhiều là những pho tượng Phật nhỏ bé. Pho tượng bồ tát Quan âm chín mặt hiện được cất giữ ở chùa Pháp long tại Nhật bản là pho tượng chiên đàn kiệt tác của đời Đường Trung quốc.
Đàn Việt
(s: dānapati, 檀越): còn gọi là thí chủ (施主); việt (越) ở đây nghĩa là nhờ công đức bố thí mà vượt qua biển khổ bần cùng. Trong Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện (南海寄歸內法傳, Taishō Vol. 54, No. 2125) quyển 1, phần Cửu Thọ Trai Quỹ Tắc (九受齋軌則), giải thích rằng: “Phạn vân Đà Na Bát Để, dịch vi thí chủ; Đà Na thị thí, Bát Để thị chủ; nhi vân Đàn Việt giả, bổn phi chánh dịch, lược khử Na tự, thủ thượng Đà âm chuyển danh vi Đàn, cánh gia Việt tự, ý đạo do hành Đàn xả, tự khả việt độ bần cùng (梵云陀那缽底、譯爲施主、陀那是施、缽底是主、而云檀越者、本非正譯、略去那字、取上陀音轉名爲檀、更加越字、意道由行檀捨、自可越渡貧窮, tiếng Phạn là Đà Na Bát Để, dịch là thí chủ; Đà Na là thí, Bát Để là chủ; nhưng nếu gọi Đàn Việt, vốn chẳng phải dịch đúng, bỏ đi chữ Na, lấy âm Đà ở trên chuyển thành Đàn, lại them chữ Việt vào, ý nghĩa rằng nhờ thực hành bố thí mà tự mình có thể vượt qua sự bần cùng).” Trong Sưu Thần Hậu Ký (搜神後記) quyển 2 của Đào Tiềm (陶潛, khoảng 365-427) nhà Tấn có đoạn rằng: “Tấn Đại Tư Mã Hoàn Ôn, tự Nguyên Tử, mạt niên hốt hữu nhất Tỳ Kheo Ni, thất kỳ danh, lai tự viễn phương, đầu Ôn vi Đàn Việt (晉大司馬桓溫、字元子、末年忽有一比邱尼、失其名、來自遠方、投溫爲檀越, Đại Tư Mã Hoàn Ôn nhà Tấn, tự là Nguyên Tử, cuối đời chợt có một Tỳ Kheo Ni, không rõ tên, từ phương xa đến, nhờ Hoàn Ôn làm thí chủ).” Hay trong Tề Thiền Lâm Tự Ni Tịnh Tú Hành Trạng (齊禪林寺尼凈秀行狀) của Thẩm Ước (沉約, 441-513) nhà Lương thời Nam Triều lại có đoạn: “Cập chí tựu giảng, nãi đắc thất thập Đàn Việt, thiết cúng quả, thực giai tinh (及至就講、乃得七十檀越、設供果、食皆精, đến khi thuyết giảng, có được bảy mươi thí chủ, dâng cúng trái cây, thức ăn đều tinh khiết).”
đàn việt
Dannotsu (J)Xem Thí chủ.
; Xem người cúng dường.
; Dànapati (S). An almsgiver, a patron.
; Danapati (skt). 1) Phật tử: Buddhist followers. 2) Người bố thí: Almsgivers—Patrons. 3) Người thoát nghiệp nghèo do tu hạnh bố thí: One who escapes the karma of poverty by giving. ** For more information, please see Đàn na.
Đàn việt 檀越
[ja] ダンオツ dan'otsu ||| A transliteration of the Sanskrit dānapati. (1) Chief donor, benefactor. (2) A believer, who supports the temple with her/his donation. => Phiên âm từ chữ dānapati trong tiếng Sanskrit. Người cúng dường (thí chủ), người làm việc thiện. Tín đồ, người thường cúng dường phẩm vật cho các chùa.
đàn áp
To oppress—To suppress—To quell—To put down—To squelch.
đàn đà
See Đàn Đặc.
đàn đặc
Dantaloka (skt)—Đàn Đa La Ca—Đàn Đa Lạc Ca—Đàn Đà—Đàn Đức—Một ngọn núi thuộc xứ Kiện Đà La, bây giờ gọi là Kashmiri-Ghar, Peshawar (now in Pakistan), bắc Ấn Độ, nơi mà Thái tử Tu Đại Noa sống, có người nói hồi Đức Phật chưa thành đạo, ngài đã tu khổ hạnh trên núi nầy—A mountain near Varucha, with a cavern, now called Kashmiri-Ghar, in Gandara, Peshawar, northern India, where Sudana lived, or as some says the place where Sakyamuni, when Siddhartha, underwent his ascetic sufferings.
đàn đặc sơn
6443請參閱 大方等陀羅尼經 [1]梵名 Daṇḍaka。位於北印度健馱邏國。約今印度沙薩達(Charsada)東北約六十四公里之帕羅罕立(Palodheri)地方。又作檀陀山、檀拏迦山、彈宅迦山,或大澤山。大唐西域記作彈多洛迦山(梵 Daṇḍa-loka,陰、治罰之義),洛陽伽藍記稱為善持山。此山即須大拏太子修苦行之山。據載,佛在前世為須大拏太子時,修菩薩行,將身邊一切物悉皆施捨,並將妻子施與婆羅門,乃達完全施捨行之境地。又巴利文本生所舉 Vaṅka-pabbata,亦是此山。或云釋尊曾入此山修行,則係誤傳。〔中阿含卷三十二優婆離問經、六度集經卷二須大拏經、大毘婆沙論卷二十七、唯識二十論〕(參閱「須大拏太子」5359)
; (檀特山) Phạm: Daịđaka. Cũng gọi Đàn đà sơn, Đàn noa ca sơn, Đàn trạch ca sơn, Đại trạch sơn, Đàn đa lạc ca sơn (Phạm: Daịđa-loka), Thiện đặc sơn. Núi ở nước Kiện đà la Bắc Ấn độ. Nay là địa phương Palodheri ở về phía đông bắc Charsada khoảng 64 km. Ở thời quá khứ xa xưa, núi này là nơi thái tử Tu đại noa, tiền thân của đức Phật Thích ca, tu hạnh Bồ tát, đem tất cả của cải và vợ con bố thí cho Bà la môn để thành tựu hoàn toàn hạnh thí xả. Ngoài ra, trong kinh Bản sinh bằng tiếng Pàli có nêu Vaíka-pabbata cũng chính là núi này. Có thuyết nói đức Thích tôn đã từng tu hành trong núi này, là truyền sai. [X. kinh Ưu bà li vấn trong Trung a hàm Q.32; kinh Tu đại noa trong Lục độ tập kinh Q.2; luận Đại tì bà sa Q.27; luận Duy thức nhị thập]. (xt. Tu Đại Noa Thái Tử).
Đàn Độ
(檀度): Đàn là từ viết tắt của Đàn Na (s, p: dāna, 檀那), nghĩa là bố thí; Độ là ý dịch của từ Ba La Mật (s, p: pāramitā, 波羅蜜), nghĩa là Đáo Bỉ Ngạn (到彼岸, đạt đến bờ bên kia của Niết Bàn). Cho nên, Đàn Độ là Bố Thí Ba La Mật, một trong 6 hạnh tu của vị Bồ Tát. Nếu thực hành trọn vẹn hạnh bố thí, các hạnh kia đều được thâu nhiếp. Như trong Đại Bát Niết Bàn Kinh Tập Giải (大般涅槃經集解, Taishō No. 1763) quyển 4 có câu: “Nhược Đàn Độ tất thành, thị tắc trưởng dưỡng tương lai Pháp Thân dã (若檀度必成、是則長養將來法身也, nếu Bố Thí thành tựu, ắt sẽ nuôi lớn Pháp Thân của tương lai vậy).” Hay trong Diệu Pháp Thánh Niệm Xứ Kinh (妙法聖念處經, Taishō No. 722) quyển 4 cũng có dạy rằng: “Nhược phục hữu nhân, tu tập Đàn Độ, ư đương lai thế, tài vật cụ túc, ly chư tổn hoại (若復有人、修習檀度、於當來世、財物具足、離諸損壞, nếu lại có người, tu tập bố thí, trong đời tương lai, lìa các tổn thất).”
đàn độ
Một trong lục độ Ba La Mật, bố thí để cứu độ—The paramita of charity or almsgiving, the first of the six paramitas.
Đàn 檀
[ja] タン、ダン tan, dan ||| (1) Sandalwood. (2) A transliteration of the Sanskrit/Pali dāna, which means "giving" or "donation." Translated into Chinese as bushi 布施. => 1. Cây chiên đàn hương. 2. Phiên âm chữ dāna trong tiếng Sanskrit và Pali, có nghĩa là 'ban tặng' hay 'dâng biếu'. Hán dịch là bố thí (c: bushi 布施).
Đàn-na
檀那; C: tánnà; J: danna;|Người hộ trì chùa viện Phật giáo; người quyên cúng, cư sĩ.
Đàn-na Ba-la-mật
xem Đàn Ba-la-mật.
Đàn-na 檀那
[ja] ダンナ danna ||| A supporter of a Buddhist temple; donor, lay member. => Người hộ trì chùa viện Phật giáo; người quyên cúng, cư sĩ.
Đàn-nã
檀拏; C: tánná; J: tanna;| Phiên âm từ chữ daṇḍa trong tiếng Phạn – là cây gậy do thần Yama nắm giữ với huy hiệu biểu trưng trên đầu gậy như là cái đầu người. Các Phiên âm khác là Đàn-đồ (檀荼), Đàn đà (檀陀), Đãn-đồ (但荼), Đan-đà (單馱), Đan-nã (單拏), Na-nã (娜拏), Nan-nã (難拏), Đàn-nã-tràng (檀拏幢), Đàn-nã bạng (檀拏棓). Dịch nghĩa: Trượng (杖), Bảo trượng (寶杖), Sách trượng (策杖), Bổng bạng (棒棓), Nhân đầu tràng (人頭幢), Nhân đầu bổng (人頭棒), Khô lâu trượng (骷髏杖).
Đàn-nã 檀拏
[ja] タンナ tanna ||| Transcription of the Sanskrit daṇḍa--a staff or pole held by the god Yama which has an emblem on its top, such as that of a human head. Transcribed variously as 檀荼, 檀陀, 但荼, 單馱, 單拏, 娜拏, 難拏, 檀拏幢, and 檀拏棓. Translated according to its meaning as 杖, 寶杖, 策杖, 棒棓, 人頭幢, 人頭棒, and 骷髏杖. => Phiên âm từ chữ daṇḍa trong tiếng Sanskrit -- là cây gậy do thần Yama nắm giữ với huy hiệu biểu trưng trên đầu gậy như là cái đầu người . Các Phiên âm khác là Đàn-đồ, Đàn đà, Đản-đồ, Đan-đà, Na-nã, Nan-nã, Đàn-nã-tràng, Đàn-nã bổng. Dịch theo nghĩa: Trượng, Bảo trượng, Sách trượng, Bổng bổng, Nhân đầu tràng, Nhân đầu bổng, Khô lâu trượng.
Đàn-việt
檀越; C: tán yuè; J: dan'otsu;|Phiên âm từ chữ dānapati trong tiếng Phạn. 1. Người cúng dường (thí chủ), người làm việc thiện; 2. Tín đồ, người thường cúng dường phẩm vật cho các chùa.
đàn-việt
phiên âm từ Phạn ngữ là dnapati, dịch nghĩa là tín chủ, thí chủ, chỉ người do tín tâm mà cúng dường tài vật cho chư tăng.
Đàn-đà
檀陀; C: tántuó; J: danda; |Phiên âm từ chữ dānapati trong tiếng Phạn. Đàn-nã (檀拏).
Đàn-đà 檀陀
[ja] ダンダ danda ||| Transcription of the Sanskrit/Pali daṇḍa. See 檀拏. => Phiên âm từ chữ dānapati trong tiếng Sanskrit. Xem Đàn-nã 檀拏.
Đàn-đồ
檀荼; C: tántú; J: danda; |Phiên âm từ chữ daṇḍa trong tiếng Phạn và Pali. Đàn-nã (檀拏).
Đàn-đồ 檀荼
[ja] ダンダ danda ||| Transcription of the Sanskrit/Pali daṇḍa. See 檀拏. =>Phiên âm từ chữ daṇḍa trong tiếng Sanskrit và Pali. Xem Đàn-nã 檀拏.
; [ja] ダンダ danda ||| Transcription of the Sanskrit/Pali daṇḍa. See 檀拏. => Phiên âm từ chữ daṇḍa trong tiếng Sanskrit và Pali. Xem Đàn-nã 檀拏.
đành phận
To resign oneself.
đành rằng
Although—Though.
đào
1) Đào thoát: To escape—To escape. 2) Đào tỵ: To flee—To escape. 3) Rữa cho sạch: To wash—To cleanse.
đào hoằng cảnh
T'ao Hung-ching (C), Tao Hongjing (C)(456-536) Thầy thuốc và là học giả Đạo gia, đệ tử của Cát Hồng.
Đào lý
(桃李): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho hoa đào và hoa mận, hay cây đào và cây mận thường được trồng ở nhà quyền quý, cao sang. Như trong Thi Kinh (詩經), chương Chiêu Nam (召南), Hà Bỉ Nông Hỉ (何彼襛矣), có câu: “Hà bỉ nông hỉ, hoa như đào lý (何彼襛矣、華如桃李, thật sum sê thay, hoa như đào mận).” (2) Tỷ dụ tuổi thanh xuân của con người. Như trong bài Hựu Khải Nghiêm Công (又啟嚴公) của Từ Vị (徐渭, 1521-1593) nhà Minh có đoạn: “Thệ tương thu tang du chi hiệu, dĩ vô di đào lí chi tu, nhất tuyết thử ngôn, thứ thù nhã chí (誓將收桑榆之效、以毋貽桃李之羞、一雪此言、庶酬雅志, thề sẽ thâu tàn lực cuối đời, để không thẹn tuổi thanh xuân, một lời rửa sạch, đáp đền nhã ý).” Trong Cung Oán Ngâm Khúc (宮怨吟曲) của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều (溫如侯阮嘉韶, 1741-1798) cũng có câu: “Sân đào lí mây lồng man mác, nền đỉnh chung nguyệt gác mơ màng.”
đào nạn
To ward off a danger.
đào sâu
To deepen.
đào thiền
4334謂學佛。西廂記中崔鶯鶯夜聽琴雜劇云:「我經文也不會談,逃禪也懶去參。」杜甫飲中八仙歌詩云:「蘇晉長齋繡佛前,醉中往往愛逃禪。」或謂逃禪一詞猶如逃墨、逃楊,係逃而出,非逃而入,然一般多以逃禪為學佛之意。
; Trốn ra khỏi thiền định (ý nói có người chỉ hành thiền theo một thời khóa nhất định nào đó mà thôi, tới cử tới giờ thì ngồi, còn thì cứ buông lung phóng dật)—To escape in or from meditation or thought.
; (逃禪) Nghĩa đen là bỏ thiền, nhưng ngược lại, ở đây, Đào thiền hàm ý là học Phật, tham thiền. Trong Tây sương kí, đêm nghe tiếng đàn cầm, Thôi oanh oanh cảm xúc lẫn lộn mà nói: Kinh văn tôi cũng không đọc, mà Đào thiền cũng biếng tham. Có thuyết cho rằng danh từ Đào thiền cũng như Đào Mặc(bỏ thuyết Kiêm ái của Mặc tử), Đào Dương(bỏ thuyết Vị kỉ của Dương chu), nghĩa là bỏ, không theo. Nhưng thông thường phần nhiều cho Đào thiền có nghĩa là học Phật, tham thiền, chứ không phải bỏ, không theo Thiền.
đào thoát
See Đào.
đào thải
Xem đầu đà.
; Xem Đầu đà.
; 1) Phế bỏ: To eliminate. 2) Đây là thời thứ tư trong năm thời giáo thuyết của Đức Phật, theo tông Thiên Thai thì đây là giai đoạn đào thải những tà kiến hay tình cảm chấp trước bên ngoài bằng lý “không.”—The fourth of the five periods of Buddha's teaching, according to T'ien-T'ai, i.e. the sweeping away of false ideas, produced by appearance, with the doctrine of the Void, or the reality behind the seeming.
đào tiềm
T'ao Ch'ien (C), T'ao Yuan-ming (C)Thi sĩ đạo giáo.
đào tạo
To create—To form.
đào uyên minh
4826(365~427)東晉江西潯陽人,字元亮,後改名為潛,世稱靖節先生。晉大司馬陶侃之曾孫。少懷高節,以博學能文聞名。三十歲,始任州祭酒之職;義熙元年(405)八月為彭澤令,在官八十餘日,督郵至,淵明乃自歎道:不能為五斗米折腰而拳拳事鄉里小人。遂解職離縣,賦歸去來辭。晉、宋易代之後,又自以晉世宰輔之後屈身異代為恥,遂隱於故里,與周續之、劉遺民共應避命,世稱潯陽三隱。由是忘榮辱,耽樂詩、酒、琴、書,遠離世緣,自號羲皇上人。與廬山慧遠交往,慧遠曾以其清逸而招請之,然潛以無酒皺眉而去。宋元嘉四年歿,世壽六十三。著有陶淵明文集九卷。〔佛祖統紀卷二十六、蓮社高賢傳〕
; T'ao Yuan-ming (C), T'ao Ch'ien(C)Thi sĩ đạo giáo.
; (陶淵明) (365 - 427) Ông sống vào đời Đông Tấn, người Tầm dương, tỉnh Giang tây, tự Nguyên lượng, sau đổi tên là Tiềm, đời gọi là Tĩnh tiết tiên sinh, cháu 4 đời của Đại tư mã Đào khản đời Tấn. Từ thủa nhỏ ông đã có tiết tháo hơn người, nổi tiếng về thi văn. Năm 30 tuổi ông mới ra làm quan, giữ chức Huyện lệnh Bạch trạch. Sau hơn 80 ngày tại chức, nhân dịp Đốc bưu đến huyện, ông phải đón tiếp, rồi ông tự than: Không thể vì năm đấu gạo mà khom lưng khúm núm trước kẻ tiểu nhân. Ông bèn làm bài phú Qui khứ lai từ và bỏ chức, về nhà. Từ đó, cùng với các ông Chu tục chi, Lưu di dân, ông ẩn cư nơi thôn dã, đời gọi là Tầm dương tam ẩn, lấy thơ, rượu, đàn, sách làm bạn, xa lánh duyên đời, tự gọi là Hi hoàng thượng nhân. Ông cũng từng qua lại với ngài Tuệ viễn ở Lô sơn. Năm Nguyên gia thứ 4 (42) ông qua đời, hưởng thọ 63 tuổi. Ông có tác phẩm: Đào uyên minh văn tập 9 quyển. [X. Phật tổ thống kỉ Q.36; Liên xã cao hiền truyện].
Đào viên
(桃園): có mấy nghĩa. Chỉ cho vườn cây đào. Như trong bài thơ Tầm Long Tỉnh Dương Lão (尋龍井楊老) của Lưu Trường Khanh (劉長卿, 709-780) nhà Đường có câu: “Thủ tài tùng thọ thương thương lão, thân ngọa đào viên tịch tịch xuân (手栽松樹蒼蒼老、身臥桃園寂寂春, tay trồng tùng gốc xanh xao lão, tựa gối vườn đào vắng vẻ xuân).” (2) Tên khu vườn dưới thời nhà Tấn (晉, 265-420) thời Xuân Thu. Như trong Sử Ký (史記), chương Tấn Thế Gia (晉世家), có đoạn: “Thuẫn toại bôn, vị xuất Tấn cảnh. Ất Sửu, Thuẫn côn đệ Tướng Quân Triệu Xuyên tập sát Linh Công ư Đào Viên nhi nghênh Triệu Thuẫn (盾遂奔、未出晉境、乙丑、盾昆弟將軍趙穿襲殺靈公於桃園而迎趙盾, Triệu Thuẫn bèn chạy trốn, chưa ra khỏi biên giới nhà Tấn. Vào năm Ất Sửu, người Tướng Quân anh em của Thuẫn là Triệu Xuyên, tập kích giết chết Linh Công nơi Đào Viên và đón Triệu Thuẫn trở về).” (3) Địa danh, tức Đào Lâm (桃林). Như trong bài Tây Chinh Phú (西征賦) của Phan Nhạc (潘岳, 247-300) nhà Tấn có câu: “Vấn Hưu Ngưu chi cố lâm, cảm chưng ư Đào Viên (問休牛之故林、感徵名於桃園, hỏi rừng xưa ở Hưu Ngưu, cảm đến chốn Đào Viên).” (4) Chỉ việc kết nghĩa ở vườn đào.
Đào Viên Kết Nghĩa
(桃園結義): còn gọi là Đào Viên Tam Kết Nghĩa (桃園三結義), Đào Viên Minh (桃園盟), là thuật ngữ xuất xứ từ Tam Quốc Diễn Nghĩa (三國演義), nói lên câu chuyện kết nghĩa huynh đệ của ba nhân vật Lưu Bị (劉僃, 161-223), Quan Vũ (關羽, ?-219) và Trương Phi (張飛, ?-221) trong vườn đào của Trương Phi. Như trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, hồi thứ 15 có câu: “Ngô tam nhân Đào Viên kết nghĩa, bất cầu đồng sanh, đản nguyện đồng tử (吾三人桃園結義、不求同生、但願同死, chúng ta ba người kết nghĩa vườn đào, chẳng mong sinh cùng, chỉ nguyện chết cùng).”
đào vong
To run away—To flee.
đày đọa
To ill-treat—To maltreat—To misuse.
đái
1) Dây băng: Bondage—Tape. 2) Dây nịch: Belt. 3) Mang hay đội trên đầu—To wear on the head—To bear.
đái nhã nam đạt sa nhiệt tư bà địa
6556(Dayānanda Sarasvatī, 1824~1883)原名穆拉商羯羅(梵 Mūla śaṃkara)。為印度教改革家。屬婆羅門種,家境富裕。年輕時作遊方僧流浪各地。一八四八年參加商羯羅系之沙熱斯婆地教團,從而取得「戴雅南達沙熱斯婆地」之法名。一八六○年從具有宗教改革思想之盲學者毘羅闍難陀(梵 Virajānanda)學梵文與古代經典。 一八七五年創立雅利安社,奉吠陀為最高權威,反對偶像崇拜及祭祀,批判基督教之上帝說。並於進行印度教改革之同時,從事社會改革。主張宗教應為社會利益服務,力倡普及民眾教育,發展民族語言,提高婦女權利,破除種姓隔離,改善賤民處境,而受到殖民當局與正統印度教之迫害,後遭毒殺。其著作有真理之光、吠陀注等。
đái quỳ
6555東晉畫家及雕塑家。譙國銍縣(安徽亳縣)人,字安道。秉性高潔,博學多才,常以琴書自娛。擅畫人物、山水、走獸、宗教畫,雕塑之造詣尤深。曾歷時三年,完成木雕丈六高之無量壽佛及脅侍菩薩像,安置於會稽山陰靈寶寺,後此像大放光明,道俗悉發菩提心。又為瓦官寺塑造五世佛,與顧愷之所繪維摩詰像壁畫、獅子國(錫蘭)贈送之玉佛,在當時並稱為三絕。此外繪有文殊菩薩之壁畫,及阿谷處女圖、孫綽高士像、胡人弄猿圖、孔子弟子圖、金人銘、五天羅漢圖等。其著作竹林七賢論二卷、戴逵集九卷,均已佚失,論積善積惡之「釋疑論」收載於廣弘明集卷二十,其他作品亦散見於藝文類聚、全晉文等。〔梁高僧傳卷四支遁傳、法苑珠林卷十三、辯正論卷三、世說新語卷三〕
đái tháp
Aryastupa-mahasri (skt)—Tháp tượng trên đỉnh đầu của một vài hình tượng, như tượng Phật Di Lặc—To have a pagoda represented on the head, as in certain images; a form of Maitreya.
đái tháp bồ tát
Maitreya, bearer of the pagoda.
đái tháp kiết tường
Tháp Kiết Tường trên đỉnh đầu của Bồ Tát Quán Âm—A little auspicious pagoda on the head of Kuan-Yin's image.
đái tháp tôn
See Đái Tháp.
đái tiến
6556(1388~1462)明代畫家。浙江錢塘人。字文進,一名文璡,號靜庵,別號玉泉山人。精通繪畫,幼師藥澄,及長,得諸家之妙,以摹擬馬遠、夏珪之畫居多。除擅長山水外,凡人物、神鬼、花果、翎毛、走獸,俱頗精緻,而神像之威儀,鬼怪之勇猛,衣紋設色,重輕純熟,更不下唐宋先賢。畫道、釋圖尤喜用鐵線描,亦用蘭葉描,其描法則蠶頭鼠尾,行筆則頓挫分明。蓋用蘭葉描而稍變其法者,自是絕技,遠出於南宋以後諸人之上。
Đái Truyền Hiền
(戴傳賢) (1890 - 1949) Ông gốc người huyện Ngô hưng tỉnh Chiết giang, nhưng sống ở huyện Quảng hán tỉnh Tứ xuyên, tự Quí đào, Tuyển đường, bút hiệu là Thiên cừu, pháp danh Bất không, Bất động, về già lấy hiệu Hiếu viên. Ông từng giữ chức Viện trưởng viện Khảo thí và từ thời Dân quốc (1911) trở đi, ông là một người hộ pháp quan trọng trong giới Phật giáo. Ông có ảnh hưởng rất lớn đối với chính trị, Phật giáo và xã hội. Sau cuộc Bắc phạt, ông từng ra sức ngăn chặn phong trào tịch thu tài sản của các chùa miếu để mở trường học. Sau biến cố 1918, ông làm lãnh tụ hội đồng Phật giáo Mông cổ, kiến lập các pháp hội Nhân vương hộ quốc, Dược sư Phật thất, Thời luận kim cương v.v... Ông lãnh đạo toàn thể thiện tín trong nước phát nguyện cứu quốc. Ông thâm tín Phật pháp, ông thường đề cao giáo nghĩa Lục độ của Phật giáo. Năm Dân quốc 21 (1932), tại Hà nam Phật học xã, ông giảng diễn đề tài Chấn hưng Phật giáo và Chấn hưng Trung quốc. Năm sau, trên đài phát thanh Trung ương, ông giảng đề tài Sự nghiệp cứu quốc và cải cách tôn giáo ở Trung quốc. Tóm lại, ông đã có công lớn trong việc chấn hưng Phật giáo đương thời ở Trung quốc. Ông để lại các tác phẩm: Bát nhã ba la mật đa môn luận tụng, Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh tụng, Nhân vương hộ quốc pháp hội phát nguyện văn, Dược sư Phật thất pháp hội phát nguyện văn, Báo ân thập bát tụng, Nhật tụng nhân vương hộ quốc ngũ đại bộ kim cương bồ tát đà la ni, Đới quí đào tiên sinh Phật học luận tập.
đái truyện hiền
6556(1890~1949)祖籍浙江吳興,生於四川廣漢。字季陶、選堂。筆名天仇。法名不空、不動。晚年號孝園。曾任考試院院長。為民國以來佛教界之大護法。綜觀其一生,於政治、佛教、社會之影響頗鉅。北伐以後,曾大力阻止廟產興學之風。九一八事變後,會同蒙藏佛教領袖,啟建仁王護國法會、藥師佛七法會、時輪金剛法會等,領導全國善信發願救國;先後撰寫般若波羅蜜多門論頌、仁王護國般若波羅蜜多經頌、仁王護國法會發願文、藥師佛七法會發願文、報恩十八頌等;並日誦仁王護國五大部金剛菩薩陀羅尼,以為常課。 氏深信佛法,矢志革命,每以 國父革命之宗旨與佛教六度教義並無二致,示之國人。民國二十一年(1932),於河南佛學社講演「振興中國與振興佛教」。次年,於中央廣播電臺講「中國之宗教改革與救國事業」,針對政府對佛教之政策、對蒙藏等邊疆地區之宗教措施,提出五大根本問題之主張,對當時中央決策之考慮,頗具啟迪之功。此類論說均收載於「戴季陶先生佛學論集」中。
đái trí
Xem Minh Trì.
đám bụi
A chester of dust
đám ma
Funeral—Đi dự đám ma: To go to someone's funeral—To attend someone's funeral.
đám mây
A mass of clouds.
đán
Bình minh—Dawn.
đán quá liêu
Phòng trong tự viện dành cho các vị du tăng ngủ nghỉ (các vị du tăng thường đi vào phòng nầy trước khi đến chào vị sư trụ trì)—A room in a monastery at which a wandering monk stays.
đán quá tăng
1934禪林用語。指夕來投宿一夜,翌晨即離去之僧。行腳僧夕來寺院掛單,僅宿一夜,旦朝即離去,取其夕來宿、過旦去之意,故稱旦過。此等行腳僧宿泊止住之寮舍,稱為旦過寮。又志願掛搭叢林之僧,於正式入堂前止宿於旦過寮,亦稱旦過僧。〔敕修百丈清規卷下大眾章遊方參請條、幻住清規延納條、禪苑清規卷一、卷四、卷八、永平清規卷上典座教訓、禪林象器箋殿堂門〕
; Vị tăng trọ qua đêm hay các vị du tăng—A wandering monk, who stays for a night.
; (旦過僧) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho vị tăng đi hành cước đến chùa viện vào buổi chiều, xin nghỉ tạm qua (quá) một đêm, sáng mai (đán) lại ra đi. Các phòng liêu dành cho những vị tăng này nghỉ qua đêm gọi là Đán quá liêu. Ngoài ra, những vị tăng đến xin ở tùng lâm để tu học, trước khi được chính thức thu nhận thì còn nghỉ tạm ở Đán quá liêu, cũng được gọi là Đán quá tăng. [X. điều Du phương tham thỉnh ở chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; Thiền uyển thanh qui Q.1, Q.4, Q.8; mục Điển tọa giáo huấn trong Vĩnh bình thanh qui Q.thượng; Thiền lâm tượng khí tiên Điện đường môn].
đán vọng
1934陰曆每月初一日稱為旦或朔,十五日稱為望。又作朔望。禪林有「旦望上堂」之制,上堂,上法堂說法;即於每月初一、十五兩日,行祝聖上堂。〔敕修百丈清規卷上住持章住持日用條〕
; Ngày đầu và ngày giữa tháng (mồng một và rằm)—The new moon and full moon—The first and the fifteen of the moon.
; (旦望) Ngày mồng một trong tháng âm lịch gọi là Đán (hay Sóc), ngày rằm gọi là Vọng. Cũng gọi Sóc vọng. Thiền lâm có qui chế Đán vọng thướng đường, tức là mỗi tháng vào ngày mồng một và ngày rằm lên chính điện cử hành nghi thức Chúc thánh hoặc lên nhà giảng thuyết pháp. [X. điều Trụ trì nhật dụng ở chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng].
đáng
To deserve.
đáng chê
Blameworthy—Blamable—Censurable.
đáng chết
Worthy of death.
đáng ghét
Undesirable—Damnable—Hateful.
đáng giá
Valuable—To be worth.
đáng hưởng thụ
Enjoyable.
đáng khen
Praise-worthy—Worthy of praise—Commendable.
đáng khinh
Despicable—Contemptible—Deserving to be despised.
đáng khiển trách
See Đáng chê.
đáng kiếp
See Đáng đời.
đáng kính
Worthy of respect.
đáng kể
Remarkable—Dấu hiệu đáng kể: Remarkable indication.
đáng lẽ
Instead of.
đáng ngờ
Doubtful.
đáng phạt
Worthy of punishment—Punishable.
đáng sợ
Dreadful.
đáng thương hại
Pitious—Pitiful—Pitiable.
đáng tin
Trust-worthy—Credible—To be believed.
đáng trách
Blameworthy.
đáng trọng
Worthy of respect—Respectfully.
đáng tội
To deserve punishment.
đáng đời
To deserve well.
đánh bóng
To polish.
đánh dấu
To mark.
đánh dẹp
To repress.
đánh giá
To estimate—To value—To appraise—To assess.
đánh liều
To risk—To take a chance—To adventure to do something.
đánh lừa
To cheat—To deceive.
đánh nhau
Conflict.
đánh tan sự ngờ vực
To divert (dispel) a doubt.
đánh tan sự ngờ vực trong nhà thiền
To dispel the doubts of Zen disciples.
đánh thức
To awake—To wake someone up.
đánh trống lãng
To evade a subject—To divert by speaking another subject.
đánh đuổi
To chase—To expel.
đánh đàng xa
To swing one's arms.
đáo
Đến—To reach—To arrive.
đáo bỉ kị
3084指人死後二七日(第二個七日)之忌辰。又作以訪忌、總分忌。其親眷於此日爲之行追善供養,以祈冥福,並消除業障。據大乘本生心地觀經卷三、灌頂經卷十一等載,爲亡者行追善供養,能滅除一切罪業,受生於人界或天界,常享諸福德。〔諸回向清規卷四追忌名數之次第〕(參閱「年忌」2420)
; (到彼忌) Cũng gọi Dĩ phóng kị, Tổng phân kị. Ngày cúng tuần thất thứ hai cho người chết. Vào ngày này, họ hàng thân thuộc của người chết làm các việc thiện như bố thí, cúng dường, phóng sinh để cầu phúc cho người chết được tiêu trừ nghiệp chướng và nhờ công đức ấy được vãng sinh Tịnh độ. Cứ theo kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 3 và kinh Quán đính quyển 11 nói, vì người chết làm các việc bố thí, cúng dường, có thể tiêu trừ tất cả tội nghiệp, được sinh ở cõi người hay cõi trời, hưởng các phúc báo. [X. điều Truy kị danh số chi thứ đệ trong sách Chư hồi hướng thanh qui Q.4]. (xt. Niên Kị).
Đáo bỉ ngạn
到彼岸; C: dàobǐàn; J: tōhigan;|Hán dịch nghĩa chữ Phạn pāramitā, nghĩa là đạt đến bờ bên kia. Dịch âm là Ba-la-mật (波羅蜜). Hoàn tất, hoàn hảo.
đáo bỉ ngạn
xem bờ bên kia.
; 3084梵語 pāramitā。音譯作波羅蜜多、波羅蜜、波囉弭多。又作度無極、度、事究竟。指由生死之此岸到解脫涅槃之彼岸。諸經論之闡釋各有不同。彌勒菩薩所問經論卷八,以此語通於已到、當到二義,而謂佛爲已到彼岸,菩薩爲當到彼岸。又梁譯攝大乘論釋卷九,分別到彼岸爲三種:(一)隨所修行得究竟無餘。(二)入真如爲究竟,如眾流以歸海爲終極。(三)得無等果。解深密經卷四則謂,到彼岸有無染著、無顧戀、無罪過、無分別、正迴向等五因緣。此外,諸部般若經說布施、持戒、忍辱、精進、禪定、智慧等六波羅蜜;華嚴經離世間品、金光明最勝王經最淨地陀羅尼品等,別加智、願、神力、法,或方便、願、力、智等而爲十種波羅蜜;另有常、樂、我、淨等四種波羅蜜之說。〔勝鬘經顛倒真實章、觀普賢菩薩行法經、賢劫經卷二至六、大智度論卷五十三、瑜伽師地論卷四十九〕(參閱「波羅蜜」3445)
; Xem Ba la mật.
; Paramita (S). To reach the other shore. i.e. nirvàna.
; Paramita (skt)—Ba La Mật Đa—Vượt qua biển sanh tử để đến bờ Niết Bàn (Para có nghĩa là bờ bên kia, mita có nghĩa là đến)—To reach the other shore (nirvana).
; (到彼岸) Phạm: Pàramità. Dịch âm: Ba la mật đa, Ba la mật, Ba ra nhĩ đa. Cũng gọi Độ vô cực, Độ, Sự cứu cánh. Từ bờ sinh tử bên này đến bờ giải thoát Niết bàn bên kia. Về từ ngữ này, các kinh luận có cách giải thích khác nhau. Di lặc bồ tát sở vấn kinh luận quyển 8 nói, từ ngữ này có hai nghĩa: Đã đến và sẽ đến, và chủ trương Phật là người đã đến, Bồ tát là người sẽ đến. Còn Nhiếp đại thừa luận thích quyển 9 (bản dịch đời Lương) thì cho rằng Đáo bỉ Đào Uyên Minh ngạn có ba nghĩa: 1. Tùy theo chỗ tu hành mà đạt đến quả rốt ráo tột cùng. 2. Vào chân như là cùng tột, như trăm sông đổ dồn về biển cả. 3. Được quả rốt ráo không gì hơn. Kinh Giải thâm mật quyển 4 thì nói, Đáo bỉ ngạn có năm nhân duyên: Không tham đắm, không luyến tiếc, không tội lỗi, không phân biệt, chính hồi hướng. Các bộ kinh Bát nhã thì nêu sáu Ba la mật: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định và trí tuệ. Phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm, phẩm Tối tịnh địa đà la ni trong kinh Kim quang minh tối thắng vương thì nêu 10 Ba la mật, tức là ngoài 6 pháp kể trên còn thêm: Trí, nguyện, thần lực, pháp, hay là phương tiện, nguyện, lực và trí. Ngoài ra, còn có thuyết 4 Ba la mật: Thường, lạc, ngã, tịnh. [X. chương Điên đảo chân thực trong kinh Thắng man; kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp; kinh Hiền kiếp Q.3 đến Q.6; luận Đại trí độ Q.52; luận Du già sư địa Q.49]. (xt. Ba La Mật).
Đáo bỉ ngạn 到彼岸
[ja] トウヒガン tōhigan ||| Chinese translation of the Sanskrit pāramitā: to reach the other shore (波羅蜜). To complete, to perfect. => Tiếng Hán dịch chữ pāramitā từ tiếng Sanskrit, nghĩa là: đến bờ bên kia( Ba-la-mật). Hoàn thành, thành tựu viên mãn.
Đáo ngạn
到岸; C: dàoàn; J: tōgan;|Đáo bỉ ngạn (到彼岸).
Đáo ngạn 到岸
[ja] トウガン tōgan ||| See daobian 到彼岸. => Xem Đáo bỉ ngạn.
Đáo đầu
到頭; C: dàotóu; J: tōtō;|1. Sau tất cả, tuỳ cơ, cuối cùng, sau cùng; 2. Tốt nhất, hay nhất.
đáo đầu
3084禪林用語。即到底。有徹底、結局、終極之意。引申爲:佛教中雖有諸種說法,然以畢竟究極之義爲正道、爲終極。此外,禪林中有「到頭無諱」一語,係闡明洞山五位中,圓融無礙之「兼中道」要旨之用語;謂已無言語之障礙,能一無顧忌的說法。〔虛堂和尚語錄卷一〕
; At the end, when the end is reached.
; Vào phút chót—At the end—When the end is reached.
; (到頭) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cũng gọi Đáo để. Hàm ý là triệt để, rốt cùng, kết cuộc, chung cuộc. Trong Phật giáo tuy có nhiều cách nói, nhưng lấy nghĩa tột cùng rốt ráo làm chính đạo, làm chung cuộc. Ngoài ra, trong Thiền lâm có câu Đáo đầu vô húy (chung cuộc không kiêng) là tiếng dùng diễn đạt cái yếu chỉ của Kiêm trung đáo viên dung vô ngại trong 5 vị của ngài Động sơn. Nghĩa là lời nói đã không còn bị chướng ngại thì có thể nói một cách không kiêng kị gì nữa. [X. Hư đường hòa thượng ngữ lục Q.1].
Đáo đầu 到頭
[ja] トウトウ tōtō ||| (1) After all, eventually, finally, at long last. (2) Best, greatest. Có hai nghĩa: => 1. Xét cho cùng, rốt ráo, cuối cùng, sau hết. 2. Tốt nhất, lớn nhất.
đáp
1) Đáp lời: To respond—To reply. 2) Đáp tạ: To return thanks.
đáp hương
5177又作還香。依禪林規制,凡來參者焚香於爐,則主方亦焚香答拜,稱為答香。禪林備用清規卷六方丈特為新首座茶(卍續一一二‧五一下):「請客侍者寫茶榜,詣首座寮炷香(首座還香),觸禮一拜(還拜)。」〔禪林象器箋叢軌門〕
; Cắm hương vào lò, như một vị sư cắm hương cho thí chủ (khách vì ta mà đến đốt hương, ta đáp tạ bằng cách đở lấy hương mà cắm vào lò)—To stick in incense sticks, as a monk does in acknowledgement of those of worshippers.
; (答香) Cũng gọi Hoàn hương. Đốt hương đáp lễ. Theo qui chế trong Thiền lâm, khi người mới đến tham vấn, đốt hương lễ bái vị Thủ tọa, xong rồi, vị Thủ tọa cũng đốt hương đáp lễ, gọi là Đáp hương. Điều Phương trượng đặc vị Tân thủ tọa trà trong Thiền lâm bị dụng thanh qui quyển 6 (Vạn tục 112, 51 hạ), chép: Thị giả viết trà bảng, đến liêu đốt hương thỉnh Thủ tọa (Thủ tọa hoàn hương), lạy một lạy (lạy trả).
đáp lý ma
See Dharma in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đáp lại
To respond—To answer.
đáp ma
Tamas (skt)—Đáp ma có nghĩa là ám, lo, giận, hay khổ đau—Darkness, gloom, grief, anger, suffering.
đáp mạt tô phạt na
Tamasavana (skt)—Ám Lâm Tự Viện, có lẽ ở khu Jalandhara, nơi đã xãy ra cuộc kết tập kinh điển lần thứ tư dưới triều vua Kaniska—A monastery “Dark Forest,” possibly that of Jalandhara where the “fourth synod” under Kaniska held its sessions—See Kết Tập Kinh Điển (4).
đáp y
(搭衣) Cũng gọi Đáp ca sa. Đắp ca sa, mặc ca sa, quấn ca sa. Có 2 cách: Để hở vai bên phải, quấn kín cả hai vai. Đức Phật và các bậc tôn túc mặc kín hai vai, còn các tỉ khưu thường thì để hở vai bên phải. Nhưng trong các trường hợp: truyền giới, thuyết pháp, đến chỗ đức Phật và các bậc tôn túc, khi đi khất thực thì tất cả các tỉ khưu đều phải đắp ca sa kín cả hai vai. Bài kệ được đọc khi đắp ca sa gọi là Đáp y kệ, Đáp ca sa kệ. Ngoài kệ ra còn phải đọc 3 biến chú. Bài kệ đọc khi đắp ca sa 5 điều (An đà hội) (Vạn tục 106, 65 hạ): Lành thay y giải thoát, áo ruộng phúc vô thượng. Nay con cúi đầu nhận, đời đời không lìa bỏ. Chú: Án tất đà da sa ha. Đắp ca sa 7 điều (Uất đa la tăng): Lành thay y giải thoát, áo ruộng phúc vô thượng. Nay con cúi đầu nhận, đời đời thường được mặc. Chú: Án độ ba độ ba sa ha. Đắp ca sa 9 điều (Tăng già lê): Lành thay y giải thoát, áo ruộng phúc vô thượng. Vâng giáo lệnh Như lai, độ tất cả chúng sinh. Chú: Án ma ha bà ba tra tất đế sa ha. [X. Tì ni nhật dụng thiết yếu; Sa di luật nghi yếu lược; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2].
đáp ứng
To quench.
đát
Bi đát—Distressed—Pity.
đát bát na
3224梵語 tarpaṇa,巴利語 tappaṇa。又作歎波那。意譯爲餅、
; Tapana (skt)—Burning—Scorched—Parched grain.
; (怛鉢那) Phạm: Tarpaịa,Pàli: Tappaịa. Cũng gọi Thán ba na. Nghĩa là bánh, miến, cháo, tức những thức ăn làm bằng bột gạo. Phẩm Đối trị trong kinh Đại phương tiện Phật báo ân quyển 2 và luật Ngũ phần quyển 5 đều có nói về Đát bát na. Món miến nói trong luật Ngũ phần quyển 7 và luận Câu xá quyển 9 tương đương vớiSattuvà Saktu nói trong Luật tạng tiếngPàli và Câu xá luận sớ (Phạm: Abhidharmakoza-vyàkhyà) do ngài Xứng hữu (Phạm: Yazomitra) soạn; còn miến nói trong Di sa tắc ngũ phần giới bản do ngài Phật đà thập dịch vào đời Lưu Tống thì tương đương với Mantha nói trong Tỉ khưu giới bản (Bhikkhupàtimokkha) tiếng Pàli.Như vậy, nguyên ngữ Phạm của miến phải làSaktuhoặc Pàli là Mantha, chứ không phải như các sách Phiên Phạm ngữ v.v... đã dịch Bát đát na là miến. Lại Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí quyển 8 phần đầu thì cho rằng Bát đát na tức là cháo sữa, như thế cũng không ổn. Còn Phạm Hòa đại từ điển của Địch nguyên Vân lai, người Nhật bản, thì giải thíchTarpaịa (Đát bát na) là vật cúng để Thần thánh hoặc Tổ linh được thỏa mãn hoặc giải thích là vật thực bổ dưỡng. [X. luật Ngũ phần Q.22; luật Thập tụng Q.2; Hữu bộ tì nại da Q.36; Đại đường tây vực kí Q.2; Tuệ lâm âm nghĩa Q.43; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.19; Tăng quảng bản thảo cương mục Q.25].
đát la dạ da
Traya (skt)—Three, with special reference to the Triratna.
đát lý phạt ly ca
Tricivaraka (skt)—Ba loại y phục của một vị Tăng—The three garments of a monk.
đát na
See Đàn Na.
đát phược
Tvam (skt)—Anh—Thou—You.
đát sát na
3224梵語 tat-kṣaṇa。印度古代之時間單位名稱。以一怛剎那爲一二○剎那。據俱舍論卷十二載,一二○剎那爲一怛剎那,六十怛剎那爲一臘縛,三十臘縛爲一牟呼栗多,三十牟乎栗多爲一晝夜。(參閱「剎那」3731、「須臾」5360)
; Trna (skt). 1) Một khoảng thời gian gồm 120 sát na, hay một khoảnh khắc, một cái nháy mắt—A length of time consisting of 120 ksana, or moments, or a “wink.” 2) Một khoảng thời gian của 20 niệm: The time for twenty thoughts.
; (怛刹那) Phạm: Tat-kwaịa. Đơn vị thời gian của Ấn độ đời xưa. Một Đátsát na có 120 sát na. Cứ theo luận Câu xá quyển 12, thì 120 sát na là 1 đát sát na, 60 đát sát na là 1 lạp phược, 30 lạp phược là 1 mâu hô lật đa, 30 mâu hô lật đa là một ngày đêm. (xt. Sát Na, Tu Du).
đát tha
Tadyatha (skt)—Đàn Nhĩ—Sở Vị—Whereas—As here follows.
đát tha nghiệt đa
See Đát Tha Yết Đa.
đát tha yết đa
Tathagata (skt)—Đát Tha Nghiệt Đa—Như Lai—Thus Come One.
đát tác ca
Taksaka (skt)—Tên của một loại long vương—Name of a dragon-king.
đát xoa thuỷ la quốc
3111請參閱 荷鵰阿那含經 請參閱 荷鵰阿那含經 呾叉始羅,梵名 Takṣaśilā,巴利名 Takkasilā。爲北印度之古國。又作特叉尸羅國、德差伊羅國、德叉尸羅國、呾叉尸羅國、竺剎尸羅國。意譯石室國、削石國、截頭國。據大唐西域記卷三所載,該國周長二千餘里,都域周長十餘里,曾隸屬迦畢試國、迦濕彌羅國,土地肥沃,花果繁茂,伽藍雖多,已甚荒蕪,僧徒寡少,屬大乘教派。 有關該國之名稱諸經記載有異,如阿育王經卷十骨相因緣,譯作鑿石;北本大般涅槃經卷十九,譯作細石;佛本行集經卷三十八,譯作削石。而高僧法顯傳,稱爲賢石城(梵 Bhadraśila)。紀元前四世紀末,希臘亞歷山大大王曾入侵此地,未幾,爲摩揭陀國王月護(梵 Candragupta)所統治,又曾爲犍馱羅之領地。另據阿育王傳卷三載,阿育王爲太子時,曾受父命來此地平亂,並任總督。即位後,派遣王子駒那羅(梵 Kunāla)住此,爲住民所傷,王怒而戮滅住民。 該國文化極高,設有極著名之大學,文法家波爾尼即曾在此大學受業。又有關其都城今日之位置,現代學界各有不同說法。英國考古學家康林罕(A. Cunningham)主張在旁遮普省(Panjab)之洛瓦平第(Rawalpindi)與阿都科(Attock)間,喀拉喀賽里(Kālakāserai)東北約一公里之沙德里(Shadheri)附近:英國之印度學者史密斯(V. Smith)認爲在沙德里西北約十公里處,另一學者馬丁(St. Martin)亦同意此說。然同爲當代知名學者之德氏(N.L. Dey)則綜合諸說,謂在洛瓦平第西北約四十餘公里處。 此外,大唐西域記卷三又載,於呾叉始羅國之北界,渡過信度河(Indus,印度河),向東南行二百里有薩埵王子投身餓虎之遺蹟,並立有石窣堵波,即「餓虎投身塔」。關於餓虎投身塔,康林罕認爲即今馬尼迦拉(Mānikyāla)所存之佛塔,然另有學者認爲此塔屬犍馱羅式,於年代上不能依準西域記所傳阿育王建塔之情況而定。 或以呾叉始羅僅係一城市而非國家,有三處年代不同之都市遺蹟,四周邊境散布許多佛教遺蹟,時代約在西元前五世紀至西元五世紀之一千年間。由於二十世紀之發掘而聞名。亞歷山大大王入侵此城後,以富裕之名傳至西方。孔雀王朝時代,阿育王爲太子時,佛教可能已傳入。西元前二世紀大夏之希臘入侵入,建立新都市,繼之有塞族(Sska)、帕西亞族(Parthia)入侵,於貴霜族侵入後才建第三個呾叉始羅市。 這些外族統治時代,佛教文化極興盛,市內外均營造佛教施設,與其西鄰犍馱羅同爲佛教美術興盛之地。西元二三○年頃,被伊朗之薩珊王朝(Sāsān)佔領,佛教文化一時中斷,然至四世紀末,別派之貴霜族收復此市,再興佛教文化歷數十年之久,此時我國法顯亦來訪此地。此市之佛教伽藍於五世紀被入侵之嚈噠(Hephthalītes,或 Haītal)破壞,終未能恢復,七世紀時玄奘旅行此地時,已成廢墟。〔雜阿含經卷二十三、賢愚經卷六、六度集經卷一、大莊嚴論經卷八、卷十五、V. Smith:Early History of India;N.L. Dey:The Geographical Dictionary of Ancient and Mediaeval India;J. Marshall:Taxila, 3 vols. 1951;A Guide to Taxila, 4ed., 1960〕
; (呾叉始羅國) Đát xoa thủy la, Phạm: Takwazilà,Pàli: Takkasilà. Cũng gọi Đặc xoa thi la quốc, Đức sai y la quốc, Đức xoa thi la quốc, Đát xoa thi la quốc, Trúc sát thi la quốc. Tên một nước xưa ở miền Bắc Ấn độ. Hán dịch: Thạch thất quốc, Tước thạch quốc, Tiệt đầu quốc. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 3, thì chu vi nước này là hơn 2.000 dặm, đô thành rộng hơn 10 dặm, từng là thuộc địa của nước Ca tất thí và nước Ca thấp di la. Nước này đất đai phì nhiêu, hoa quả xum xuê, già lam tuy nhiều nhưng phần lớn đã hư nát và rất ít tăng chúng, tu học giáo pháp Đại thừa. Về tên của nước này, các kinh phiên dịch có khác nhau: Như phần Cốt tướng nhân duyên trong kinh A dục vương quyển 10 dịch là Tạc thạch (đục đá); kinh Đại bát niết bàn quyển 19 (bản bắc) dịch là Tế thạch (đá mịn); còn Cao tăng Pháp hiển truyện thì gọi là Hiền thạch thành (Phạm: Bhadrazila). Vào cuối thế kỉ thứ IV trước Tây lịch, nước này đã bị Đại đế Á lịch sơn (Alexander the Great) của Hi lạp xâm chiếm. Nhưng không bao lâu bị vua nước Ma yết đà là Nguyệt hộ (Phạm:Candragupta) thống trị, về sau, lại trở thành thuộc địa của nước Kiện đà la. Cứ theo truyện A dục vương quyển 3 chép, thì khi còn là Thái tử, A dục vương đã vâng mệnh vua cha đến dẹp loạn ở nước này, rồi giữ chức Thống đốc tại đây. Nền văn hóa nước này rất cao, có trường Đại học nổi tiếng và chính tại nơi đây nhà Văn pháp trứ danh Ba nhĩ ni (Phạm: Pànini) đã theo học. Về vị trí đô thành của nước này ngày nay ở đâu, thì các học giả hiện đại đều có ý kiến khác nhau. - Nhà khảo cổ học người Anh là A. Cunningham cho rằng đô thành nước này nằm giữa 2 khu vực Rawalpindi và Attock thuộc tiểu bang Punjab, gần Sadheri, cách vùng Kàrakàseraikhoảng một cây số về phía đông bắc. - Nhà Ấn độ học người Anh là V. Smith thì cho đô thành nước này ở cách Shadheri về mạn tây bắc khoảng 10 cây số. Học giả St. Maritn cũng đồng ý với thuyết này. Còn ông N.L Dey, cũng là một học giả nổi tiếng thời đó, thì tổng hợp các ý kiến trên mà chủ trương đô thành nước này ở cách Rawalpindi chừng hơn 40 cây số về hướng tây bắc. Ngoài ra, Đại đường tây vực kí quyển 3 chép, từ biên giới phía bắc của nước Đát xoa thủy la, vượt qua sông Indus rồi đi về mạn đông nam 200 dặm thì có ngôi tháp xây bằng đá để đánh dấu chỗ xưa kia vương tử Tát đỏa xả thân cứu hổ (cọp) đói. Có thuyết cho rằng Đát xoa thủy la chỉ là một thành phố chứ không phải là môt quốc gia, hiện còn 3 di tích về thành phố này nhưng niên đại khác nhau. Vào thế kỉ XX, nhiều di tích Phật giáo đã được đào thấy ở rải rác bốn chung quanh thành phố trong khoảng thời gian 1.000 năm, từ thế kỉ V trước Tây lịch đến thế kỉ V sau Tây lịch. Sau khi bị Á lịch sơn đại đế (Alexander the Great) xâm chiếm, thành phố này được khắp phương tây biết đến về sự giầu có của nó. Ở thời đại Vương triều Khổng tước, khi vua A dục còn là Thái tử, có thể Phật giáo đã được truyền vào Đát xoa thủy la rồi. Vào thế kỉ thứ II trước Tây lịch, người Hi lạp từ Bactria xâm nhập, tiếp đến là các chủng tộc Saka, Pathia, Quí sương v.v... lần lượt xâm chiếm thành phố Đát xoa thủy la và trong thời gian ấy nó được xây dựng lại 2 lần, đồng thời, nền văn hóa Phật giáo rất hưng thịnh, chỗ nào cũng có cơ sở Phật giáo và sự phát triển của mĩ thuật Phật giáo ở đây cũng ngang với sự phát triển mĩ thuật Phật giáo ở nước láng giềng phía tây là Kiện đà la. Khoảng 230 Tây lịch, thành phố Đát xoa thủy la bị vua Iran thuộc Vương triều Tát san (Sàsàn) chiếm lĩnh, văn hóa Phật giáo có thời gian bị gián đoạn. Nhưng đến cuối thế kỉ thứ IV, có một chi phái của chủng tộc Quí sương lấy lại được thành phố và phục hưng văn hóa Phật giáo trải mấy mươi năm. Chính vào thời này ngài Pháp hiển của Trung quốc cũng đến thăm Đát xoa thủy la. Vào thế kỉ thứ V, giống mọi Áp đát (Hephthalites hoặc Haìtal) xâm chiếm thành phố này và phá hủy tất cả các ngôi chùa Phật giáo mà, về sau, không thể nào khôi phục lại được nữa. Đến thế kỉ thứ VII, khi ngài Huyền trang tới đây thì xứ này chỉ còn là đống đất hoang tàn. [X. kinh Tạp a hàm Q.23; kinh Hiền ngu Q.6; kinh Lục độ tập Q.1; Đại trang nghiêm kinh luận Q.8, Q.15; V.Smith: Early History of India; N.L. Dey: The Geographical Dictionary of Ancient and Mediaeval India; J. Marshall: Taxila, 3 vols., 1951; A Guide to Taxila, 4ed., 1960].
đát điệt tha
See Đát Tha.
đát đặc la giáo
Xem Mật giáo.
đát đặc la phật giáo
3224(Tantric Buddhism)即以印度東部之波羅王朝爲中心所發展出之密教,乃印度佛教史上之後期階段。怛特羅(梵 Tantra)原是印度教性力派(梵 Śākta)所依準之理論與禮拜文獻,據傳有六十四種至一百九十二種之多,然多已散佚,現存者其成立年代約在西元八百年左右。內容分爲四部:(一)教義之理論,(二)瑜伽,(三)神殿建築、神像製作法,(四)宗教儀式等,以第四部爲主。 崇奉性力派者,又分左道性力派(梵 Vāmācāra Śākta)與右道性力派(梵 Dakṣiṇācāra Śākta)兩種。左道性力派係以十一世紀左右所流行之怛特羅爲中心,重視輪座禮拜(梵 cakrapūjā,雜交),即供獻人身而行男女雜交,欲於合歡之恍惚中與神合一,得觀其解脫境,以此作爲修業上之有力階段與方法。姑不論其神祕主義宗教思想之要素,其行爲不免猥雜下流,令人輕視。右道性力派有鑑於此,乃爲去除前者之猥雜弊風,而於十三世紀興起。 佛教受左道性力派之影響,由即身成佛之思想,肯定現世之幸福快樂,非但不主張克制人類之煩惱愛欲,反予以肯定尊重,遂形成所謂「左道密教」之怛特羅佛教。盛行於東印之波羅王朝(梵 Pāla)時代。 七世紀前半,怛特羅佛教之學者沙羅訶(梵 Saraha),居於那爛陀寺(梵 Nālanda),教化王者及五千民眾。據傳,八世紀初,瞿波羅王(梵 Gopāla)之子阿南迦發拉(梵 Anaṅgavajra)著般若方便決定成就法(梵 Prajñopāya-viniścaya-siddhi);烏仗那國(梵 Uḍḍiyāna)之王侯因陀羅浦諦(梵 Indrabhūti)著有智慧成就法(梵 Jñāna-siddhi),其子即爲蓮華生(梵 Padmasambhava),曾與寂護(梵 Śāntirakṣita)同赴西藏弘法。又因陀羅浦諦之妹,名羅珂修明迦羅(梵 Lakṣmīkarā),著有不二成就法(梵 Advaya-siddhi)一書,門人頗多。 西元八世紀後半時,多毘赫魯喀(梵 ⑺ombī Heruka)撰俱生成就法(梵 Sahaja-siddhi)。自此,該派之根據地,便遷至達磨波羅王(梵 Dharmapāla)所建立之超戒寺(梵 Vikramaśīlā,毘鳩摩尸羅)。九世紀時,庫利修那賈霖(梵 Kṛṣṇacārin)有四十餘部之著作。 十世紀末至十一世紀初,超戒寺之上座阿提沙(梵 Atīśa)曾入西藏,改革當地之佛教,同寺尚有寶藏寂(梵 Ratnākaraśānti)、那洛巴(梵 Naropa)等人輩出。十一世紀時,將諸尊之成就法集成,編爲成就法鬘(梵 Sādhana-mālā),此時,並有南印度之時輪根本儀軌(梵 Kālacakra-mūla-tantra)傳來,怛特羅學者亦兼修之。所謂時輪,即主張被過去、現在、未來三世所限制之迷界,能依宇宙本源之本初佛(梵 Ādi-buddha)而得解脫。 在同時代之東印度,令有從怛特羅佛教分出者,稱守護道(梵 Nātha-mārga),該派爲准許結婚之教團。十二世紀初,阿布哈耶卡拉笈多(梵 Abhayākaragupta)撰入時輪(梵 Kālacakravatāra)等著作。 怛特羅佛教受波羅王朝之護持而興盛,惟至十一世紀中葉,新興之斯那王朝(梵 Sena),漸改信印度教,又遭到回教勢力之不斷入侵,怛特羅佛教遂趨於衰頹。至十二世紀末期,回教徒襲滅斯那王朝,該派之根據地超戒寺亦遭毀壞,學僧四散,殘留之僧徒被虐殺,該派即於印度本土絕迹。(參閱「左道性力派」1899)
; (怛特羅佛教) Tantric Buddhism. Nền Phật giáo ở giai đoạn hậu kì trong lịch sử Phật giáo Ấn độ, lấy Vương triều Ba la ở Đông bộ Ấn độ làm trung tâm phát triển. Đây là thời kì phát triển của Mật giáo. Đát đặc la (Phạm: Tantra) nguyên là văn hiến lí luận và lễ bái mà phái Tính lực (Phạm: Zàkta) của Ấn độ giáo dùng làm tiêu chuẩn. Tương truyền, văn hiến này có tới 64 cho đến 192 thứ, nhưng phần lớn đã bị thất lạc, phần hiện còn thì được thành lập vào khoảng thế kỉ thứ VIII Tây lịch. Nội dung chia làm 4 bộ: 1. Giáo nghĩa lí luận. 2. Du già. 3. Thần điện kiến trúc, Thần tượng chế tác pháp. 4. Tông giáo nghi thức. Trong đó bộ thứ 4 là chủ yếu. Phái Tính lực lại chia làm 2 loại: - Phái Tả đạo tính lực (Phạm: Vàmàcàra Zàkta): Lấy Đát đặc la lưu hành ở khoảng thế kỉ XI làm trung tâm, coi trọng Luân tòa lễ bái (Phạm:Carkrapùjà, tạp giao), nghĩa là cúng hiến thân người và thực hành nam nữ giao hợp để mong trong cơn hoan lạc ấy mà được hợp nhất với thần, đạt đến cảnh giới giải thoát, và coi đó là phương pháp cũng như giai đoạn tu hành hữu hiệu nhất! Đây là hành vi hỗn tạp, bỉ ổi, thấp hèn khiến mọi người coi khinh. - Phái Hữu đạo tính lực (Phạm: Dakwiịàcàra Zàkta): Cho đó là gương xấu xa, nên vào thế kỉ XIII, phái này nổi lên làm cuộc cách tân, trừ bỏ hết những hành vi đồi bại, đê tiện và nhớp nhúa của phái Tả đạo tính lực. Đát đặc la Phật giáo (Mật giáo) chịu ảnh hưởng của phái Tả đạo tính lực, dựa vào tư tưởng Tức thân thành Phật (thành Phật ngay thân này) mà khẳng định hạnh phúc khoái lạc ở hiện thế, nên chẳng những không chủ trương ức chế phiền não ái dục của loài người mà, trái lại, còn chấp nhận và quí trọng nó, do đó đã hình thành phái Tả đạo Mật giáo, thịnh hành vào thời Vương triều Ba la (Phạm:Pàla) ở miền Đông Ấn độ. Quá trình phát triển của Đát đặc la Phật giáo ở Ấn độ như sau: - Vào nửa trước của thế kỉ thứ VII, học giả Đát đặc la là ngài Sa la ha (Phạm: Saraha) ở chùa Na lan đà (Phạm: Nàlanda) giáo hóa hàng vương giả và 5.000 dân chúng. - Vào đầu thế kỉ thứ VIII, theo truyền thuyết, con vua Cù ba la (Phạm: Gopàla) là A nam ca phát lạp (Phạm: Anaígavajra) soạn Bát nhã phương tiện quyết định thành tựu pháp (Phạm: Panjĩopàya-vinizcayasiddhi); Vương hầu nước Ô trượng na (Phạm: Uđđhiyàna) là Nhân đà la phố đế (Phạm: Indrabhùti) soạn Trí tuệ thành tựu pháp (Phạm:Jĩàna-siddhi); em gái của Nhân đà la phố đế tên là La kha tu minh ca la (Phạm:Lakwmìkarà) thì soạn Bất nhị thành tựu pháp (Phạm: Advaya-siddhi), học trò rất đông. Còn con của Nhân đà la phố đế chính là Liên hoa sinh (Phạm: Padmasambhava) đã từng cùng với ngài Tịch hộ (Phạm: Zàntirakwita) đến Tây tạng hoằng pháp. - Vào nửa sau thế kỉ thứ VIII, Đa tì hách lỗ khách (Phạm: Đombì Heruka) soạn Câu sinh thành tựu pháp (Phạm: Sahajasiddhi). Từ đó, nơi trung tâm của Đát đặc la Phật giáo được dời đến chùa Siêu giới (Phạm: Vikramazìla, Tì cưu ma thi la) do vua Đạt ma ba la (Phạm: Dharmapàla) xây dựng. - Thế kỉ thứ IX, có Khố lợi tu na giả lâm (Phạm: Kfwịacàrin) biên soạn hơn 40 bộ sách. - Cuối thế kỉ X đến đầu thế kỉ XI, ở chùa Siêu giới xuất hiện nhiều vị cao tăng như: A đề sa (Phạm: Atìza), Bảo tạng tịch (Phạm: Ratnàkarazànti), Na lạc ba (Phạm: Naropa) v.v... Trong đó, thượng tọa A đề sa từng đến Tây tạng hoằng pháp và đã cải cách nền Phật giáo ở đó. - Thế kỉ thứ XI, các vị học giả xuất thân từ chùa Siêu giới đem gom tất cả các bộ Thành tựu pháp của các tác giả trước mà soạn thành bộ Thành tựu pháp man (Phạm: Sàdhana-màlà); bấy giờ còn có Thời luân căn bản nghi quĩ (Phạm: Kàlacakramùla-tantra) từ Nam Ấn độ truyền đến, cũng được các học giả Đát đặc la tu tập. Thời luân, tức là chủ trương cho rằng cõi mê bị 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai hạn chế, nên phải nương vào đức Phật bản sơ (Phạm:Àdibuddha) là nguồn gốc của vũ trụ để được giải thoát. - Đầu thế kỉ XII, có A bố cáp da ca lạp cấp đa (Phạm: Abhayàkaragupta) soạn các bộ Nhập thời luân (Phạm: Kàlacakravatàra) v.v... Cùng thời ấy, ở Đông Ấn độ còn có giáo phái Thủ hộ đạo (Phạm:Nàtha-màrga), một chi nhánh của Phật giáo Đát đặc la, chủ trương cho phép giáo đoàn kết hôn. Phật giáo Đát đặc la nhờ sự hộ trì của Vương triều Ba la mà được hưng thịnh. Nhưng đến giữa thế kỉ XI, thì Vương triều Tư na (Phạm: Sena) nổi lên thay thế Vương triều Ba la và dần dần cải tín sang Ấn độ giáo, lại thêm thế lực Hồi giáo không ngừng xâm nhập, nên Phật giáo Đát đặc la rơi vào tình trạng suy sụp. Đến cuối thế kỉ XII, tín đồ Hồi giáo đánh phá và tiêu diệt Vương triều Tư na, thì chùa Siêu giới - nơi trung tâm của Phật giáo Đát đặc la - cũng bị hủy hoại, học tăng chạy tứ tán, số còn lại bị hành hạ đến chết. Từ đó, Phật giáo Đát đặc la tuyệt tích ở Ấn độ. (xt. Tả Đạo Tính Lực Phái).
đát đồ
Danda (skt)—A staff.
đát-đát-la
tên khác chỉ con gà, vì nghe theo tiếng kêu mà đặt tên. Huyền ứng âm nghĩa, quyển 2 viết: “Đát-đát-la, thị kê thanh dã.” (Đát-đát-la là tiếng kêu của con gà.). Huệ Lâm âm nghĩa, quyển 26 viết: “Đát-đát-la, dụng thanh đắc danh.” (Đát-đát-la, theo tiếng kêu mà đặt tên.) Theo cả hai sách này thì biết đát-đát-la là tên gọi để chỉ con gà.
đáy lòng
Bottom of one's heart.
đáy thùng sơn đen
Dụ cho hầm sâu vô minh. “Nói thùng sơn lủng đáy” là dụ cho phá được vô minh, tức là khai ngộ.
đâu
兜; C: dōu; J: to, tō;|Có các nghĩa sau: 1. Cái mũ sắt, hình trang trí đầu chương mục; 2. Cái nón, cái mũ; 3. Bối rối, lúng túng; 4. Dùng để phiên âm »tu« ngoại ngữ.
; 1) Cái nón che chở: A helmet—A hood. 2) Cái túi: A pocket.
đâu bà
Tháp—A stupa.
đâu bạt tì sa môn
4389乃指權現於兜跋國護持佛法之毘沙門。兜跋國,不知係指何國,或推測為吐蕃(西藏)。兜跋毘沙門之形像為女形之堅牢地神,二手上仰,承托毘沙門之兩足,旁有邪鬼作畏縮狀;或四面十臂、乘獅子、身帶八刀之刀八毘沙門,八刀表毘沙門之八兄弟,此蓋由「兜跋」訛轉為「刀八」而來。兜跋毘沙門之形像與一般毘沙門不同之處,在其肢體之硬直。〔宋高僧傳卷一不空傳、佛像圖彙卷一〕(參閱「多聞天」2331)
; (兜跋毗沙門) Tì sa môn hiện sinh ở nước Đâu bạt để giữ gìn Phật pháp. Nước Đâu bạt không biết là chỉ cho nước nào, có thuyết suy đoán là Thổ phồn (Tây tạng). Hình tượng Tì sa môn Đâu bạt là Địa thần Kiên lao hình đàn bà, 2 tay ngửa lên đỡ lấy 2 chân của Tì sa môn, bên cạnh có tà quỉ với dáng vẻ sợ hãi. Hoặc là hình Tì sa môn Đao bát cỡi sư tử, có 4 mặt, 10 cánh tay, 8 tay cầm 8 con dao (8 dao biểu thị 8 anh em Tì sa môn).Đây là do Đâu bạt đọc lầm thành Đao bát. So với các Tì sa môn khác, Tì sa môn Đâu bạt tuy là hình tượng người nữ nhưng dáng vẻ lại cứng rắn mạnh mẽ. [X. Bất không truyện trong Tống cao tăng truyện Q.1; Phật tượng đồ vậng Q.1]. (xt. Đa Văn Thiên).
đâu cân
4384即日本修驗道之修行者「山伏」所著用之黑白布冠帽。又稱頭襟、頭巾。約分二種:(一)為仿自大日如來之五智寶冠,表示化他利物之被甲,又稱小頭襟。(二)為仿不動明王頂上八葉蓮華之八葉寶冠,又稱長頭襟、裹頭襟,可分為螺髮形、滿字形。此外另有稱折頭襟者,亦分二種:(一)捲頭襟,表示上求菩提之義。(二)下頭襟,表示下化眾生之義。〔修驗道修要祕決卷上、資道什物記卷上〕(參閱「頭襟」6364)
; (兜巾) Chiếc mũ bằng vải mầu đen trắng do các vị Sơn phục (Hành giả) thuộc phái Tu nghiệm đạo của Nhật bản đội. Cũng gọi Đầu khâm, Đầu cân. Có hai loại: 1. Phỏng theo mũ báu 5 trí của đức Đại nhật Như lai, tượng trưng mặc áo giáp hóa độ chúng sinh, cũng gọi Tiểu đầu khâm. 2. Phỏng theo chiếc mũ 8 cánh hoa sen của Bất động minh vương, cũng gọi Trường đầu khâm, Khỏa đầu khâm. Ngoài ra, còn có Chiết đầu khâm, cũng có 2 loại: 1. Quyển đầu khâm (khăn chít đầu): Biểu thị nghĩa trên cầu bồ đề. 2. Hạ đầu khâm (khăn quàng): Biểu thị nghĩa dưới độ chúng sinh. [X. Tu nghiệm đạo tu yếu bí quyết Q.thượng; Tư đạo thập vật kí Q.thượng]. (xt. Đầu Khâm).
đâu dạ
Trời Đâu Suất và trời Dạ Ma—The Tusita and the Yama heavens—See Đâu Suất, and Dạ Ma Thiên.
đâu la
4389梵語 tūla,巴利語同。又作堵羅、妒羅、蠹羅、兜羅綿、兜羅貯。意譯綿、細綿。乃總稱草木所生之花絮。種類頗多,四分律卷十九列舉白楊樹華、楊柳華、蒲臺三種;五分律卷九列舉柳華、白楊華、蒲梨華、睒婆華等四種;十誦律卷十八列舉柳華、白楊華、阿鳩羅華、波鳩羅華、鳩舍羅華、間闍華、波波闍華、雜摩華等八種。惟俱舍論光記卷十一、翻譯名義集卷七等,均以兜羅為樹名,謂兜羅綿為兜羅樹所生之綿,如柳絮。又佛八十種相好之一,即手足柔軟似兜羅綿。〔大般若經卷三一一眾喻品、薩婆多毘尼毘婆沙卷九、俱舍論卷十一、摩訶止觀卷五上、慧琳音義卷六十四〕
; Tula (skt). 1) Còn gọi là Đố La hay Đổ La, dịch là hoa dương liễu, bông, hay kén tầm, tơ liễu: Floss, e.g. willow-floss, wild silk. 2) Tên của loại cây Đâu La: Name of a tree which produces willow-floss.
; (兜羅) Phạm, Pàli: Tùla. Cũng gọi Đổ la, Đố la, Đâu la miên, Đâu la trữ. Nghĩa là sợi bông, sợi bông mịn. Gọi chung bông sợi được lấy từ hoa các loại cây. Có rất nhiều loại. Luật Tứ phần quyển 19 nêu ba loại hoa để lấy bông sợi là hoa cây bạch dương, hoa dương liễu và bồ đài. Luật Ngũ phần quyển 9 liệt kê bốn loại: Hoa liễu, hoa bạch dương, hoa bồ lê và hoa thiểm bà. Luật Thập tụng quyển 18 nêu ra 8 loại: Hoa liễu, hoa bạch dương, hoa a cưu la, hoa ba cưu la, hoa cưu xá la, hoa gian xà, hoa ba ba xà và hoa tạp ma. Nhưng Câu xá luận quang kí quyển 11 và Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 7 đều cho Đâu la là tên của một loại cây và Đâu la miên là loại tơ được lấy ra từ cây Đâu la, giống như tơ liễu. Ngoài ra, trong 80 thứ tướng đẹp của đức Phật thì tướng tay chân của Ngài được gọi là Đâu la miên, vì rất mềm mại mịn màng như tơ cây đâu la. [X. phẩm Chúng dụ trong kinh Đại bát nhã Q.311; Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.9; luận Câu xá Q.11; Ma ha chỉ quán Q.5 phần trên; Tuệ lâm âm nghĩa Q.64].
đâu lâu bà
4389梵語 turuṣka。又作斗樓婆、兜樓波、兜婁婆、都嚕婆、妒路婆、突婆、窣堵魯迦。意譯白茅香、茅香、香草。即指蘇合香。據大佛頂首楞嚴經卷七載,壇前別安一小火爐,以兜樓婆香煎取香水以沐浴。又據大日經疏卷七載,妒路婆草乃印度苜蓿香,與我國苜蓿香稍異,後者即畢力迦(梵 śephālikā)。此外,另有求求羅(梵 guggula),即安息香,亦異於兜樓婆。〔法華義疏卷十一(吉藏)〕
; Turuska (skt)—Loại nhang thơm Ấn Độ—Indian incense.
; (兜樓婆) Phạm: Turuwka. Cũng gọi Đẩu lâu bà, Đâu lâu ba, Đô rô bà, Đố lộ bà, Đột bà, Tốt đổ lỗ ca. Dịch ý: Bạch mao hương, Mao hương, Hương thảo. Tức là Tô hợp hương. Một loại cỏ (giống như cỏ tranh) có mùi thơm. Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 7 nói: Trước đàn đặt một cái lò nhỏ, nấu cỏ Đâu lâu bà để lấy nước tắm gội. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 7 nói, thì cỏ Đố lộ bà là hương mục túc (một loại rau ăn được) của Ấn độ, hơi khác với hương mục túc của Trung quốc. Ngoài ra, còn có Cầu cầu la (Phạm: Gugula), tức là hương An tức, cũng khác với Đâu lâu bà. [X. Pháp hoa nghĩa sớ Q.11].
đâu sa
Tusara (skt)—Sương mai—Frost.
đâu sa kinh
4385全一卷。後漢支婁迦讖譯。收於大正藏第十冊。其內容相當於華嚴經中如來名號品與光明覺品之部分。玄應音義卷八謂,兜沙經,意譯為行業經。〔出三藏記集卷二、大唐內典錄卷一〕
; (兜沙經) Có 1 quyển, do ngài Chi lâu ca sấm dịch vào đời Hậu Hán, thu vào Đại chính tạng tập 10. Nội dung kinh này tương đương với phẩm Như lai danh hiệu và phẩm Quang minh giác trong kinh Hoa nghiêm. Huyền ứng âm nghĩa quyển 8 thì nói, kinh Đâu la dịch ý là Hành nghiệp kinh. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Đại đường nội điển lục Q.1].
đâu suất
Tushita (S).
; Tusita (skt). 1) Diệu túc, hỷ túc: Còn gọi là Thượng túc hay tri túc—Contented, satisfied, gratified. Heaven of Satisfaction 2) Còn gọi là Đâu Suất Đà, Đâu Suất Đóa, hay Đâu Thuật, tức là cung trời Đâu Suất, cõi trời dục giới thứ tư, nơi cư ngụ của chư Bồ Tát trước khi đạt thành quả vị Phật. Cung trời nầy nằm giữa cõi trời Dạ Ma và Lạc Biến Hóa Thiên. Cõi trời Đâu Suất chia làm hai phần, nội viện và ngoại viện. Nội viện của cõi trời nầy có cõi Tịnh Độ của Đức Di Lặc, cũng giống như Đức Thích Ca và chư Phật, đều phải sanh về cõi trời nầy trước khi làm Phật. Thọ mệnh của chư Phật tại cung trời Đâu Suất là 4.000 năm trên cõi trời nầy (một ngày trên trời Đâu Suất tương đương với 400 năm địa giới), nghĩa là tương đương với 584 triệu năm—Name of the Tusita heaven, the fourth devaloka in the six passion-realms (dục giới), or desire realms, the Delightful Realm, the abode of Bodhisattvas in their last existence before attaining Buddhahood. This heaven is between the Yama and Nirmanarati heavens. This heaven consists of an inner and an outer court. Its inner department is the Pure Land of Maitreya who, like Sakyamuni and all Buddhas, is reborn there before descending to earth as the next Buddha; his life there is 4,000 Tusita years, or (each day there is equal to 400 earth-years) 584 million such years. 3) Di Lặc Bồ Tát là bậc Nhất Sanh Bổ Xứ, hiện ở cung trời Đâu Suất; Ngài sẽ thành Phật trong tương lai và kế vị Đức Thích Ca Mâu Ni Phật. Có người muốn tu Tịnh Độ cầu về cung trời Đâu Suất, đợi đến khi Bồ Tát giáng thế thành Phật, sẽ theo Ngài mà hạ sanh, rồi trong ba hội Long Hoa sẽ được chứng quả Thánh. Theo hai đại sư Trí Giả và Thiên Như trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, cầu về Đâu Suất cũng có thể gọi là nghe đạo, thấy Phật, gần giống như cầu về Tây Phương. Nhưng xét kỹ lại trong ấy có sự hơn kém rất xa. Xin kể ra hai việc để luận—Maitreya Bodhisaatva is a One-Life Bodhisattva who is now in the Tusita Heaven. He will become a Buddha in the future and succeed Sakyamuni Buddha. Someone thinks that they should cultivate the loftier aspects of the Ten Virtues and seek to be reborn in the Tusita Heaven, to see Maitreya Bodhisattva in person. When the time comes for Him to descend to earth and become a Buddha, they will follow Him and certainly achieve Sagehood in the course of His three teaching assemblies. According to Masters Chih-I and T'ien-Ju in The Pure Land Buddhism, seeking rebirth in the Tusita Heaven could be considered equivalent to hearing the Dharma and seeing the Buddha. It seems very similar to seeking rebirth in the Western Pure Land. However, upon close scrutiny, there are many great differences between the two. Let us cite two points for the sake of discussion: a) Dù chúng ta có tu thập thiện, chưa chắc đã được sanh về Đâu Suất. Kinh Di Lặc Thượng Sanh nói: “Hành giả phải tu các môn tam muội đi sâu vào chánh định, mới được sanh lên Nội Viện Thiên Cung Đâu Suất.” Xét qua phương diện ấy, ta thấy Di Lặc Bồ Tát không có phương tiện tiếp dẫn, đâu bằng sức bổn nguyện cùng sức quang minh của Đức A Di Đà, có năng lực nhiếp thủ và tế độ những chúng sanh niệm Phật. Lại khi Đức Phật Thích Ca nói về nghĩa phương tiện tiếp dẫn trong cửu phẩm giáo môn, Ngài đã ân cần khuyên chúng sanh nên về Cực Lạc. Phương tiện nầy rất giản dị, hành giả chỉ cần niệm Phật A Di Đà, cơ cảm hợp nhau, liền được vãng sanh. Như ở thế gian chiêu mộ người, nếu kẻ nào muốn gia nhập thì cơ hội hợp nhau, liền thành sự việc: Even though we may cultivate the Ten Virtues, it is not certain that we will achieve rebirth in the Tusita Heaven. As stated in the sutras: “The practitioner must cultivate the various samadhi and enter deeply into right concentration to obtain rebirth in the Inner Court of the Tusita Heaven.” From that we can deduce that Maitreya Bodhisattva lacks the expedient of 'welcoming and escorting.' This cannot be compared to the power of Amitabha Buddha's Original Vow and His power of light, which can gather in and rescue all sentient beings who concentrate on Him. Moreover, when Sakyamuni Buddha explained the meaning of the 'welcoming and escorting' expedient in his exposition of the nine grades of rebirth, he earnestly enjoined sentient beings to seek rebirth in the Western Pure Land. This expedient is very simple. The practitioner need only recite the name of Amitabha Buddha and, thanks to the congruence of sentiment and response, he will immediately achieve rebirth. This is analogous to an enlistment campaign: those who wish to join the army may do so immediately, as their desire parallels the goal of the state. b) Đâu Suất Thiên Cung dầu sao cũng ở trong Dục giới, nên kẻ thối vị rất nhiều. Nơi ấy chim, nước, rừng, cây gió, âm nhạc không phát ra tiếng pháp, có thể khiến chúng sanh phục diệt phiền não nhớ nghĩ Tam Bảo, phát lòng Bồ Đề. Trái lại còn có nữ nhân gây tăng thượng duyên cho tâm trước nhiễm ngũ dục của hành giả. Mà vẻ xinh đẹp của các thiên nữ ấy lại vi diệu tuyệt vời, làm cho chư Thiên đắm mê, ít có vị nào tránh khỏi. Sao bằng cõi Cực Lạc cây chim tuyên diệu pháp, gió nhạc diễn Bồ Đề, chúng sanh nghe rồi phiền não đều tiêu tan, đạo tâm tăng tiến? Cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà không có người nữ và kẻ phát tâm nhị thừa, chỉ thuần là những pháp lũ đại thừa thanh tịnh, phiền não ác nghiệp không thể phát khởi; như thế làm sao hành giả không mau chứng quả vị vô sanh? Chỉ so sánh qua vài điều mà sự hơn kém đã hiển nhiên, còn chi phải nghi ngờ do dự? Hơn nữa, một khi đã vãng sanh Tịnh Độ, quyết sẽ chứng quả vô sanh pháp nhẫn, không một kẻ nào thối đọa trở lại Tam Giới, bị nghiệp sanh tử buộc ràng—The Tusita Heaven is, after all, stil within the Realm of Desire to which our Saha World belongs. Therefore, those who retrogress are legion. In that Heaven, the birds, rivers, forests, trees, wind, ects. Do not preach the Dharma and thus cannot help sentient beings destroy afflictions, focus on the Triple Jewel nor develop the Bodhi Mind. Moreover, in that realm, there are goddesses who kindle the five desires in the Minds of celestial beings, to the point where few of them escape distraction and infatuation. How can this be compared to the Western Pure Land, where the trees and birds proclaim the wonderful Dharma and the wind sings of enlightenment, destroying the afflictions of sentient beings and reinforcing the Bodhi Mind of practitioners? Moreover, in the Pure Land of Amitabha Buddha, there are no seductive beings or beings concerned with self-enlightenment alone. There are only pure vessels of the Mahayana way. Therefore, afflictions and evil karma cannot arise. Under these circumstances, how can cultivators fail to achieve the stage of non-retrogression swiftly? We have only drawn a few points of comparison, yet the differences between the Pure Land and the Tusita Heaven are already obvious. How can there be any further doubt or hesitation? Moreover, to be reborn in the Pure Land is to be assured of attaining the Tolerance of Non-Birth, with no possible retrogression to the Triple World nor bondage to the karma of Birth and Death.
đâu suất quy kính tập
4388凡三卷。清代弘贊輯。收於卍續藏第一四九冊。本書乃彙集有關彌勒信仰、兜率往生之見聞,及選自經論中相關之傳記所成者。本書之編述,旨在收集有關彌勒兜率往生名賢之行誼德業,以作為後世學人之指南。卷上為應化垂跡,卷中記述上生內院之聖賢,卷下收集有關彌勒信仰之經咒願文。
; (兜率龜鏡集) Gồm 3 quyển, do ngài Hoằng tán biên tập vào đời Thanh, được xếp vào Vạn tục tạng tập 149. Nội dung sách này thu chép những điều đã thấy nghe về tín ngưỡng Di lặc, về vãng sinh Đâu suất và những truyện kí trong các kinh luận có liên quan đến tín ngưỡng này. Mục đích sách này là nói về hành nghi đức nghiệp của các bậc danh hiền, có liên quan đến việc sinh lên cõi trời Đâu suất của bồ tát Di lặc để làm kim chỉ nam cho người học đời sau. Gồm có 3 phần: - Quyển thượng: Ứng tích thùy hóa. - Quyển trung: Thánh hiền thướng sinh Nội viện. - Quyển hạ: Kinh chú nguyện văn có liên quan đến tín ngưỡng Di lặc.
đâu suất tam quan
4385即宋代兜率從悅禪師(1044~1091)用以接化學人之三語句。無門關第四十七則(大四八‧二九八下):「兜率悅和尚設三關問學者:『撥草參玄,只圖見性,即今上人性在甚處?』『識得自性,方脫生死,眼光落時,作麼生脫?』『脫得生死,便知去處,四大分離,向甚處去?』」其中,第一關係欲令學人撥無明之雜草,瞻仰宗門真風,徹見一己心性;第二關欲令學人識得本來具有之真性,以期透脫生死之轉變;第三關欲令學人透脫生死,以便了知畢竟之去處。又「撥草參玄」一語,續傳燈錄卷二十二及聯燈會要卷十五均作「撥草瞻風」。(參閱「撥草瞻風」6088)
; (兜率三關) Là 3 câu nói mà thiền sư Đâu suất Tòng duyệt (1044 - 1091) ở đời Tống dùng để tiếp hóa người học. Vô môn quan tắc 47 (Đại 48, 298 hạ), nói: Hòa thượng Đâu suất duyệt đặt ra 3 câu để hỏi người học: 1. Trừ hết phiền não, tham cứu huyền chỉ cốt để thấy tính. Vậy nay tính của ông ở chỗ nào? 2. Biết được tự tính mới thoát sinh tử, nhưng lúc đã chết rồi thì làm sao thoát? 3. Thoát được sinh tử là biết chỗ đi. Nhưng, lúc tứ đại tan rã, ông đi về đâu? Điểm then chốt trong 3 câu trên là phá trừ vô minh, thấy suốt chân tính mới thoát được sinh tử. Có thoát sinh tử mới biết được mình sẽ đi đâu.
đâu suất thiên
4385兜率,梵名 Tuṣita,巴利名 Tusita,西藏名 Dgaḥ-ldan。又作都率天、兜術天、兜率陀天、兜率多天、兜師陀天、睹史多天、兜駛多天。意譯知足天、妙足天、喜足天、喜樂天。與夜摩天合稱為兜夜。乃欲界六天之第四天,位於夜摩天與樂變化天之間,距夜摩天十六萬由旬,在虛空密雲之上,縱廣八萬由旬。關於此天之名,立世阿毘曇論卷六謂,歡樂飽滿,於其資具滿足,於八聖道不生知足,故稱為兜率陀天。佛地經論卷五則謂,後身菩薩於中教化,多修喜足,故稱為喜足天。此天有內外兩院,兜率內院乃即將成佛者(即補處菩薩)之居處,今則為彌勒菩薩之淨土;彌勒現亦為補處菩薩,於此宣說佛法,若住此天滿四千歲,即下生人間,成佛於龍華樹下。又昔時釋迦如來身為菩薩時,亦從此天下生人間而成佛。一般所傳內院有四十九院,或即依據彌勒上生經之說而來,其經文謂(大一四‧四一九上):「此摩尼光迴旋空中,化為四十九重微妙寶宮。」外院屬欲界天,為天眾之所居,享受欲樂。天人之壽命約四千歲,其一晝夜相當於人間之四百年,換算之,約人間五億七千六百萬年,但古之記數法為五十七億六千萬年。此外,此天眾生,情欲動時,兩相執手,即成陰陽,初生之兒如人間八歲小孩,七日成人,身長四由旬,衣長八由旬,寬四由旬,重一銖半。 又密教將此天子安在現圖胎藏界曼荼羅外金剛部院之西北方。其形像,身呈白肉色,右手屈臂,置於乳下,屈中間三指,伸小指,持未開之蓮花。左手作拳印,叉腰。左右有侍女,身亦呈白肉色,右手皆持未開之蓮花。種子為???(taṃ),三昧耶形為荷葉上之未開蓮花。〔普曜經卷一、慧苑音義卷上〕
; See Đâu Suất in Vietnamese-English Section.
; (兜率天) Đâu suất, Phạm: Tuṣita, Pàli: Tusita, Tạng: Dgaḥ-ldan. Cũng gọi Đô suất thiên, Đâu thuật thiên, Đâu suất đà thiên, Đâu suất đa thiên, Đâu sư đà thiên, Đổ sử đa thiên, Đâu sử đa thiên. Hán dịch: Tri túc thiên, Diệu túc thiên, Hỉ túc thiên, Hỉ lạc thiên. Hợp chung với Dạ ma thiên gọi là Đâu dạ. Cõi trời thứ 4 trong sáu tầng trời cõi Dục, rộng 8 vạn do tuần, nằm ở khoảng giữa trời Dạ ma và trời Lạc biến hóa, cách trời Dạ ma 16 vạn do tuần. Về tên gọi của cõi trời này, cứ theo luận Lập thế a tì đàm quyển 6, thì chư Thiên ở cõi trời này rất vui sướng, đầy đủ mọi nhu cầu, tinh tiến tu tập Bát chính đạo, nên gọi là Đâu suất đà thiên. Thập địa kinh luận quyển 5 thì nói, hậu thân của Bồ tát giáo hóa cõi trời này, phần đông tu Hỉ túc, cho nên gọi là Hỉ túc thiên (cõi trời đầy đủ sự vui sướng). Cõi trời này có hai viện: 1. Đâu suất nội viện: Nơi ở của Bồ tát sắp thành Phật (Bồ tát Bổ xứ), nay là Tịnh độ của bồ tát Di lặc. Ngài Di lặc hiện là Bồ tát Bổ xứ, đang thuyết pháp ở cõi trời này, khi đủ 4 nghìn năm sẽ sinh xuống cõi người và thành Phật dưới gốc cây Long hoa. Đức Phật Thích ca trước khi giáng sinh xuốngnhân gian, cũng là một vị Bồ tát ở cõi trời này. Truyền thuyết phổ thông cho rằng Nội viện có 49 viện. Truyền thuyết này có lẽ đã căn cứ vào đoạn văn trong kinh Di lặc thướng sinh (Đại 14, 419 thượng): ... Ánh sáng của ngọc Ma ni này xoay tròn trong hư không hóa làm 49 lớp cung điện vi diệu mà ra. 2. Đâu suất ngoại viện: Viện này thuộc cõi Dục, là chỗ ở của Thiên chúng, hưởng thụ nhiều dục lạc. Chư thiên ở cõi trời này sống lâu khoảng 4nghìn năm, một ngày một đêm ở đây bằng 400 năm ở nhân gian. Ngoài ra, chúng sinh ở cõi trời này, khi dục tình phát động thì chỉ cần nắm tay nhau là có thai, trẻ sơ sinh ở cõi trời này bằng đứa bé 8 tuổi ở nhân gian, 7 ngày thành người, thân cao bốn do tuần, nặng một lạng rưỡi. Ngoài ra, trong Mật giáo, vị Đâu suất thiên này được đặt ở phía tây bắc của viện Kim cương bộ ngoài trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới. Hình tượng vị này thân mầu trắng, tay phải co lại để ở dưới ngực, 3 ngón giữa co lại, ngón út duỗi thẳng, cầm hoa sen búp; tay trái nắm lại (bắt Quyền ấn) chống vào cạnh sườn. Hai bên có thị nữ, thân cũng mầu trắng, tay phải đều cầm hoa sen búp. Chủng tử là (taô), hình tam muội da là hoa sen búp trên lá sen. [X. kinh Phổ diệu Q.1; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].
đâu suất thiên tử
4385指墮地獄之眾生因蒙釋迦之光所照,而得生兜率天者。四勝身成佛之一。又稱地獄天子。據新華嚴經卷四十八如來隨好光明功德品所載,釋迦菩薩住於兜率天宮時,足下曾放光照十方世界,此時地獄眾生蒙此光所照,命終直脫地獄,生於兜率天,並聞天鼓所說之法音,於此天身中,獲至第十地。(參閱「四勝身」1766)
; Còn gọi là Địa Ngục Thiên Tử. Đức Phật Thích Ca khi còn là một vị Bồ Tát đã từ cung trời Đâu Suất phóng hào quang chiếu thẳng vào khắp mười phương, khiến chúng sanh trong cõi Địa Ngục khởi căn lành, nhờ đó mà thoát khỏi cảnh địa ngục—The Tusita prince, i.e. Sakyamuni, whose light while he was in Tusita shone into hell and saved all its occupants. Thus he is also called Prince of Hades.
; (兜率天子) Chỉ cho chúng sinh ở địa ngục nhờ hào quang của đức Thích ca chiếu rọi đến mà được sinh lên cõi trời Đâu suất. Một trong bốn Thắng thân thành Phật. Cũng gọi Địa ngục thiên tử. Theo phẩm Như lai tùy hảo quang minh công đức trong kinh Hoa nghiêm quyển 48 (bản dịch mới) chép, khi bồ tát Thích ca ở trên cung trời Đâu suất, từ dưới chân Ngài phóng ra hào quang chiếu đến mười phương thế giới, bấy giờ, chúng sinh ở nơi địa ngục, nhờ hào quang ấy, lâm chung và sinh lên cung trời Đâu suất. (xt. Tứ Thắng Thân).
Đâu Suất Tùng Duyệt
(兜率從悅, Tosotsu Jūetsu, 1044-1091): vị tăng của Phái Hoàng Long (黃龍) thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Kiền Châu (虔州, thuộc Tỉnh Giang Tô ngày nay), họ là Hùng (熊). Năm lên 15 tuổi, ông theo xuất gia với Đức Sùng Thượng Nhân (德崇上人) ở Phổ Viên Viện (普圓院), và năm 16 tuổi thọ cụ túc giới. Ban đầu ông theo lời chỉ dạy của Linh Cái Thủ Trí (靈蓋守智), rồi cuối cùng đến tham yết Chơn Tịnh Khắc Văn (眞淨克文), và mở đạo tràng giáo hóa ở Lộc Uyển Tự (鹿苑寺). Thỉnh thoảng ông có gặp Thanh Tố (清素), người đắc pháp với Thạch Sương Sở Viên (石霜楚圓), có chỗ sở đắc, được Thanh Tố ấn khả cho; nhưng sau ông lại kế thừa dòng pháp của Chơn Tịnh (眞淨), đến trú tại Đâu Suất Tự (兜率寺) ở Phủ Long Hưng (隆興府) và tuyên dương giáo pháp. Vị Thừa Tướng Trương Thương Anh (張商英, tức Vô Tận Cư Sĩ [無盡居士]) ban đầu đến tham vấn với Đông Lâm Thường Tổng (東林常總), nhưng sau theo thọ giáo với Tùng Duyệt và trở thành đệ tử đắc pháp. Đến ngày mồng 3 tháng 11 năm thứ 6 (1091) niên hiệu Nguyên Hựu (元祐), ông thị tịch, hưởng thọ 48 tuổi. Về sau, ông được ban cho thụy hiệu là Chơn Tịch Thiền Sư (眞寂禪師).
đâu suất tòng duyệt
4387(1044~1091)宋代臨濟宗黃龍派僧。虔州(江西贛縣)人,俗姓熊。法號從悅。十五歲出家,十六歲受具足戒,為寶峰克文禪師之法嗣。師學通內外,能文善詩,率眾勤謹,遠近讚仰。因住於隆興(江西南昌)兜率院,故世人尊稱兜率從悅。元祐六年示寂,享年四十八。宋徽宗宣和三年(1121),丞相張商英(無盡居士)奏請諡號「真寂禪師」。有兜率悅禪師語要一卷行世。〔佛祖歷代通載卷十九、五燈會元卷十七、建中靖國續燈錄卷二十三〕
; (兜率從悅) (1044 - 1091) Vị Thiền tăng thuộc phái Hoàng long tông Lâm tế ở đời Tống, người Kiền châu (huyện Cám tỉnh Giang tây), họ Hùng, pháp hiệu Tòng duyệt. Năm 15 tuổi sư xuất gia, 16 tuổi thụ giới Cụ túc, nối pháp thiền sư Bảo phong Khắc văn. Sư thông suốt nội, ngoại điển, giỏi thơ văn, dạy dỗ đồ chúng nghiêm túc, cẩn trọng, xa gần đều khen ngợi. Vì sư trụ ở viện Đâu suất tại Long hưng (huyện Nam xương tỉnh Giang tây) nên người đời tôn xưng sư là Đâu suất Tòng duyệt. Năm Nguyên hựu thứ 6 (1091) sư tịch, hưởng dương 48 tuổi. Năm Tuyên hòa thứ 3 (1121) đời vua Tống huy tông, Thừa tướng Trương thương anh (Vô tận cư sĩ) tâu vua ban thụy hiệu là Chân Tịch Thiền Sư. Tác phẩm: Đâu suất Duyệt thiền sư ngữ yếu 1 quyển. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.19; Ngũ đăng hội nguyên Q.1; Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục Q.23].
đâu suất tự
4386<一>位於河北房山縣西南之上方山錦繡峰下。又稱上方寺。 <二>位於四川三台縣南之南山。隋開皇年中(581~600)創建。
đâu suất vãng sinh
4387往生彌勒菩薩之淨土兜率天。又作兜率上生。兜率天有內、外兩院,彌勒菩薩常在內院說法,外院為天眾欲樂處,不易聞法。在印度古代,兜率往生之信仰頗為盛行,故高僧大德發願往生彌勒淨土,並蒙彌勒菩薩化度之記載極多。據巴利文大史(Mahāvaṃsa, xxxii)所載,西元前二世紀頃統治錫蘭之木杈伽摩尼王(Duṭṭhagāmanī),於臨命終時,自某長老聞說彌勒菩薩及其居處之事,未久,王即蒙彌勒自兜率天乘車來迎,生彼天中。另據出三藏記集卷十記載,婆須蜜、彌妒路刀利、僧伽羅剎皆昇於兜率天,其中婆須蜜繼彌勒之後作佛,號師子如來,彌妒路刀利號光炎如來,僧伽羅剎號柔仁佛。又據婆藪槃豆法師傳、大唐西域記卷五等所載,無著、世親、師子覺等亦獲往生或發願往生兜率淨土,其中無著且於彼天中,向彌勒諮稟大乘經之要義。此外,其他類似之記載不勝枚舉。 於我國,自東晉以來即盛行兜率往生之信仰。據梁高僧傳卷五、名僧傳抄道安傳、僧輔傳、曇戒傳、道汪傳、僧印傳、法盛傳等所載,道安及其弟子法遇等八人於生前立誓往生兜率,後果感得異僧與兜率天之伎樂現身來迎。其後,僧輔、曇戒、道汪、僧印、法盛等諸師,亦皆效法道安往生兜率之事,先後發願往生彼天。另據大慈恩寺三藏法師傳卷十、法苑珠林卷十六讚歎部,及宋高僧傳卷四窺基傳、卷十四道宣傳等載,玄奘及弟子窺基、四分律宗之祖道宣等高僧,皆以往生兜率為臨終大願,玄奘且作「讚彌勒四禮文」,窺基撰彌勒上生經疏等,以倡導兜率往生之信仰。此外,續高僧傳卷八、卷十二、法苑珠林卷十六等亦皆詳舉有關僧俗發願往生兜率之記載。於近代,如太虛大師、虛雲和尚、慈航菩薩等一代高僧,皆發願往生彌勒淨土之內院。日本方面,最早有關彌勒信仰之記載為欽明天皇十三年(551),自百濟請得一尊彌勒石像,並營建佛殿以供奉禮拜,其後兜率信仰漸盛,發願往生者極多,如高僧空海(774~835)即其中著名之例。 於法相瑜伽派中,彌勒被敬奉為開祖,故法相諸師願求兜率往生者甚多,且自無著於所著「攝大乘論」中判示凡夫之往生極樂是為「別時意」以來,此一信仰尤為熾盛。所謂別時意,即重新闡釋觀無量壽經有關「念誦佛名能即時往生西方」之說,而謂念誦佛名僅為往生西方之遠因,實係為使眾生捨離怠惰之方便說法而已。此項說法影響印度與我國之彌陀信仰,一時往生西方之信仰漸呈現衰廢。因而吉藏、道綽、迦才等,遂比較兜率、極樂之優劣及往生難易,其中吉藏之觀無量壽經義疏立四義比較觀經、彌勒經之異同。道綽之安樂集卷上更以四義比較兜率、西方二處之優劣,謂:(一)彌勒為眾生轉不退法輪,聞法深信者雖可獲益,然耽著享樂而不信者亦甚多。又雖往生兜率,然此界屬三界之內,故仍有退轉之虞;反之,往生西方者,不僅不退轉,以其無漏、出離三界,故亦不退失。(二)往生兜率者之壽命僅有四千歲,命終不免退墮;而往生西方者,其壽命與彌陀相等齊,非算數所能量知。(三)兜率之水鳥樹林僅係諸天之樂所生的緣;西方之水鳥樹林則能演說妙法,令往生者得證無生之境。⑷就音樂而言,彌陀淨土之音樂勝於世間帝王及六天萬億倍,可知此非兜率所及。另外,懷感之釋淨土群疑論卷四、智儼之華嚴經孔目章卷四、迦才之淨土論卷下等,皆舉多義以詳論彌陀、彌勒兩淨土之優劣難易。 至於往生兜率天之因行階位,據彌勒上生經與窺基所撰之經疏記載,往生內院之行因有上、中、下三品,細分之,每品又各有上、中、下三品,共計九品。上品往生之修因有勤修功德、威儀不缺、掃塔塗地、香花供養、三昧正受、讀誦經典等六事,上品上生者修五事或六事之法,中生者修三事或四事之法,下生者修一事或二事之法;中品往生有歡喜心、恭敬語、禮拜身等三種行業,中品上生者具足三種行,中生者修二種行,下生者修一種行;下品往生有懺悔、聞名稱、造形像、香供、花供、衣服供、繒蓋供、幢供、幡供、身恆禮拜、心口繫念等十一種修因,懺悔為下品三生所共行,上生者悉行其餘十行,中生者行造像、供養、禮拜,下生者行造像、供養。又往生兜率外院之因行有五戒、八戒、具足戒、精進、十善法等五種。〔彌勒下生經、心地觀經卷三、遊心安樂道、淨土十疑論、阿彌陀經疏鈔卷四、往生要集卷上末〕(參閱「兜率天」4385、「彌勒菩薩」6424)
; (兜率往生) Cũng gọi Đâu suất thướng sinh. Vãng sinh lên cõi trời Đâu suất là Tịnh độ của bồ tát Di lặc. Cõi trời Đâu suất có Nội viện là nơi bồ tát Di lặc thuyết pháp và Ngoại viện là chỗ chư thiên hưởng thụ dục lạc, khó được nghe pháp. Tại Ấn độ đời xưa, tín ngưỡng vãng sinh Đâu suất rất được thịnh hành, cho nên đã có khá nhiều tư liệu ghi chép việc các bậc cao tăng đại đức phát nguyện vãng sinh Di lặc Tịnh độ mong được bồ tát Di lặc giáo hóa. Cứ theo Đại sử (Mahàvaôsa, XXXII) vănPàli chép, thì vào khoảng thế kỉ thứ II trước Tây lịch, lúc lâm chung, vua Mộc xoa già ma ni (Duỉỉhagàmaịi) nước Tích lan, nghe một vị Trưởng lão nói về bồ tát Di lặc và chỗ ở của Ngài, liền sinh tín tâm, nên khi nhà vua băng liền được bồ tát Di lặc từ cung trời Đâu suất ngồi xe đến đón về cõi này. Lại cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 10 chép, thì các ngài Bà tu mật, Di đố lộ đao lợi và Tăng già la sát đều đã sinh lên cung trời Đâu suất, trong đó, ngài Bà tu mật sẽ là vị Phật ra đời tiếp sau đức Di lặc, hiệu là Sư tử Như lai, còn ngài Di đố lộ đao lợi cũng sẽ thành Phật hiệu là Quang viêm Như lai, ngài Tăng già la sát hiệu là Nhu nhân Phật. Lại nữa, cứ theo Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện và Đại đường tây vực kí quyển 5 chép, thì các ngài Vô trước, Thế thân, Sư tử giác v.v... cũng đã được vãng sinh hoặc phát nguyện vãng sinh Tịnh độ Đâu suất, trong đó, tại cung trời Đâu suất, ngài Vô trước đã thỉnh vấn bồ tát Di lặc về yếu nghĩa của các kinh Đại thừa. Ngoài ra, còn nhiều tư liệu tương tự khác, không thể kể hết được. Ở Trung quốc, tín ngưỡng vãng sinh Tịnh độ Đâu suất đã thịnh hành từ đời Đông Tấn trở về sau. Cứ theo Đạo an truyện, Tăng phụ truyện, Đàm giới truyện, Đạo uông truyện, Tăng ấn truyện, Pháp thịnh truyện trong Danh tăng truyện sao và Lương cao tăng truyện quyển 5 chép, thì ngài Đạo an và tám vị đệ tử của ngài là Pháp ngộ v.v... đều phát nguyện vãng sinh về cõi trời Đâu suất. Khi ngài Đạo an thị tịch, quả nhiên cảm được thần tăng trỗi nhạc cõi trời Đâu suất hiện thân đến đón. Lại cứ theo Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 10, Tán thán bộ trong Pháp uyển châu lâm quyển 16, truyện Khuy cơ và truyện Đạo tuyên trong Tống cao tăng truyện quyển 4, quyển 14 chép, thì ngài Huyền trang và đệ tử là Khuy cơ, ngài Đạo tuyên v.v... đều lập thệ nguyện về cõi trời Đâu suất. Ngài Huyền trang còn soạn Tán Di lặc tứ lễ văn, ngài Khuy cơ thì soạn Di lặc thướng sinh kinh sớ để khởi xướng tín ngưỡng vãng sinh Đâu suất. Thời gần đây, các bậc cao tăng như: Đại sư Thái hư, hòa thượng Hư vân, bồ tát Từ hàng v.v... đều phát nguyện vãng sinh về Nội viện Tịnh độ Di lặc. Tại Nhật bản, tư liệu ghi chép về tín ngưỡng Di lặc sớm nhất là vào thời Khâm minh Thiên hoàng năm 13 (551) khi Bách tế thỉnh được một pho tượng Di lặc bằng đá rồi lập điện Phật để tôn thờ, lễ bái. Từ đó, tín ngưỡng Đâu suất dần dần hưng thịnh, người phát nguyện vãng sinh rất nhiều, trong đó có cao tăng Không hải (774-835). Bồ tát Di lặc được tông Pháp tướng du già tôn thờ làm vị Khai tổ cho nên các luận sư Pháp tướng phần nhiều đều phát nguyện vãng sinh Đâu suất. Hơn nữa, từ khi ngài Vô trước sáng tác luận Nhiếp đại thừa, trong đó, ngài nói rằng người phàm phu vãng sinh Cực lạc là Biệt thời ý thì tín ngưỡng vãng sinh Đâu suất lại càng hưng thịnh. Kinh Quán vô lượng thọ có nói: Niệm danh hiệu Phật được vãng sinh Tây phương cực lạc ngay tức khắc, nhưng, thuyết Biệt thời ý thì cho rằng niệm danh hiệu Phật thực ra chỉ là cái nhân xa của sự vãng sinh Tây phương, còn nói được vãng sinh tức khắc thì đó chỉ là phương tiện thuyết pháp để khuyên chúng sinh xả bỏ sự biếng nhác mà thôi. Đây là nguyên nhân khiến cho tín ngưỡng vãng sinh Tây phương đã một thời suy vi tại Ấn độ và Trung quốc. Do đó, các ngài Cát tạng, Đạo xước, Ca tài v.v... mới nêu ra những luận điểm để so sánh sự hơn, kém giữa Đâu suất, Cực lạc và sự vãng sinh khó, dễ như thế nào. Trong đó, Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ của ngài Cát tạng lập bốn nghĩa để so sánh sự dị đồng giữa kinh Quán vô lượng thọ và kinh Di lặc. Còn An lạc tập quyển thượng của ngài Đạo xước thì nêu ra 4 nghĩa để so sánh sự hơn kém giữa Tây phương và Đâu suất như sau: 1. Bồ tát Di lặc thuyết pháp cho chúng sinh nghe, có những chúng sinh nghe pháp thâm tín, nhưng cũng có rất nhiều chúng sinh đam mê hưởng lạc không tin. Vả lại, dù được vãng sinh lên cõi trời Đâu suất, nhưng thế giới này còn thuộc trong 3 cõi, nên vẫn còn nguy cơ bị thoái chuyển. Trái lại, người vãng sinh Tây phương không còn trở lui nữa, vì Tây phương là vô lậu, không thuộc phạm vi ba cõi. 2. Thọ mệnh của những người vãng sinh Đâu suất chỉ có 4 nghìn tuổi, sau khi mệnh chung khó tránh khỏi bị đọa trở lại. Còn những người vãng sinh Tây phương thì tuổi thọ của họ là vô lượng. 3. Rừng cây chim nước ở Đâu suất chỉ là duyên tạo ra các thú vui cho chư thiên; còn rừng cây chim nước ở Tây phương thì có khả năng diễn nói diệu pháp khiến những người vãng sinh chứng được cảnh giới vô sinh. 4. Về âm nhạc thì âm nhạc ở Tịnh độ phương tây thù thắng gấp muôn ức lần âm nhạc ở thế gian và sáu cõi trời, do đó, cõi Đâu suất không thể sánh kịp. Ngoài ra, trong luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 4 của ngài Hoài cảm, Hoa nghiêm kinh khổng mục chương quyển 4 của ngài Trí nghiêm, luận Tịnh độ quyển hạ của ngài Ca tài v.v... cũng nêu ra nhiều nghĩa rõ ràng để so sánh sự hơn kém, khó dễ giữa Tịnh độ Di đà và Di lặc. Về nhân hạnh và thứ bậc vãng sinh về cõi trời Đâu suất, cứ theo kinh Di lặc thướng sinh và Kinh sớ do ngài Khuy cơ soạn, thì Nhân hạnh vãng sinh về Nội viện Đâu suất có 3 phẩm thượng, trung, hạ, mỗi phẩm lại được chia làm 3 phẩm thượng, trung, hạ nữa, thành tất cả là 9 phẩm. - Nhân tu vãng sinh Thượng phẩm gồm có 6 việc là: Siêng tu công đức, quét dọn chùa tháp, cúng dường hương hoa, tam muội chính thụ và đọc tụng kinh điển. Thượng phẩm thượng sinh tu 5 việc hoặc 6 việc, Thượng phẩm trung sinh tu 3 việc hoặc 4 việc, Thượng phẩm hạ sinh tu 1 việc hoặc 2 việc. - Nhân tu vãng sinh Trung phẩm gồm có ba hạnh nghiệp là: Tâm vui mừng, lời cung kính và thân lễ bái. Trung phẩm thượng sinh phải tu đầy đủ 3 hạnh nghiệp, Trung phẩm trung sinh tu 2 hạnh, Trung phẩm hạ sinh tu 1 hạnh. - Nhân tu vãng sinh Hạ phẩm có 11 thứ là: Sám hối, nghe danh hiệu, tạo hình tượng, cúng hương, cúng hoa, cúng y phục, cúng lọng tua, cúng cờ, cúng phan, thân thường lễ bái, tâm miệng chuyên niệm v.v... Sám hối là hạnh nghiệp chung của ba phẩm hạ sinh. Còn Hạ phẩm thượng sinh thì phải tu cả 10 hạnh kia. Hạ phẩm trung sinh tu: Tạo tượng, cúng dường, lễ bái. Hạ phẩm hạ sinh tu: Tạo tượng, cúng dường. Ngoài ra, vãng sinh về Ngoại viện Đâu suất phải tu năm nhân hạnh là: Giữ 5 giới, giữ 8 giới, giữ giới Cụ túc, tinh tiến và tu pháp Thập thiện. [X. kinh Di lặc hạ sinh; kinh Tâm địa quán Q.3; Du tâm an lạc đạo; luận Tịnh độ thập nghi; A di đà kinh sớ sao Q.4; Vãng sinh yếu tập Q.thượng phần cuối]. (xt. Đâu Suất Thiên, Di Lặc Bồ Tát).
Đâu Suất Đà
(s: Tuṣita, p: Tusita, t: Dgaḥ-ldan, 兜率陀): từ gọi tắt của Đâu Suất Đà Thiên (兜率陀天), còn gọi là Đô Suất Thiên (都率天), Đâu Thuật Thiên (兜術天), Đâu Suất Đa Thiên (兜率多天), Đâu Sư Đà Thiên (兜師陀天), Đổ Sử Đa Thiên (覩史多天), Đâu Sử Đa Thiên (兜駛多天); ý dịch là Tri Túc Thiên (知足天), Diệu Túc Thiên (妙足天), Hỷ Túc Thiên (喜足天), Hỷ Lạc Thiên (喜樂天); là cõi trời thứ 4 trong 6 cõi trời của Dục Giới, nằm giữa cõi Dạ Ma Thiên (夜摩天) và Nhạo Biến Hóa Thiên (樂變化天), giữa hư không mây dày đặc. Cõi trời này nằm cách cõi Diêm Phù Đề (s, p: Jampudīpa, 閻浮提) 320.000 do tuần (s, p: yojana, 由旬), cách cõi trời Dạ Ma Thiên 160.000 do tuần. Về tên cõi trời này, Lập Thế A Tỳ Đàm Luận (立世阿毘曇論) quyển 6 có giải thích rằng cõi này hoan lạc, no đủ, vật chất chẳng thiếu gì, nên có tên gọi như vậy. Phật Địa Kinh Luận (佛地經論) quyển 5 lại cho rằng hậu thân của Bồ Tát sẽ giáo hóa ở cõi này và tu nhiều về pháp Hỷ Túc, nên có tên là Hỷ Túc Thiên (喜足天). Cõi trời này có hai viện nội và ngoại. Đâu Suất Nội Viện (兜率內院) là chỗ ở của vị sắp thành Phật (tức Bồ Tát bổ xứ), nay là cõi Tịnh Độ của Bồ Tát Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒). Vị này hiện cũng là Bồ Tát bổ xứ, đang tuyên thuyết Phật pháp tại đây; nếu trú tại đây tròn 40 năm, vị ấy sẽ hạ sanh xuống cõi người, thành Phật dưới cây Long Hoa (龍華). Hơn nữa, xưa kia đức Thích Ca Như Lai khi còn là thân Bồ Tát, cũng từ cõi trời này hạ sanh xuống nhân gian và thành Phật. Tương truyền nội viện có 49 ngôi viện, có thể là y cứ vào Di Lặc Thượng Sanh Kinh (彌勒上生經, Taishō 14, 419) cho rằng: “Thử Ma Ni quang hồi toàn không trung, hóa vi tứ thập cửu trùng vi diệu bảo cung (此摩尼光廻旋空中、化爲四十九重微妙寶宮, ánh sáng viên ngọc Ma Ni này xoay quanh trong không trung, hóa thành bốn mươi chín lớp cung điện báu vi diệu)”. Ngoại viện thuộc về Dục Giới Thiên (欲界天), là nơi cư trú của thiên chúng, hưởng thọ dục lạc. Tuổi thọ của chúng sanh trên cõi trời này khoảng 4.000 năm, một ngày đêm trên đó tương đương với 400 năm dưới cõi người. Thọ mạng 4.000 tuổi ấy được tính tương đương với 6.700.000.000 (thực tế là 5.670.000.000) năm. Ngoài ra, khi chúng sanh của cõi này động tình dục thì cả hai đều chấp tay, tự nhiên thành âm dương; đứa bé sơ sanh của họ giống như hài nhi 8 tuổi dưới dương gian; đến 7 tuổi đứa bé thành nhân, thân dài 4 do tuần, áo dài 8 do tuần, rộng 4 do tuần, v.v. Mật Giáo an trí vị Thiên tử này tại phương Tây Bắc của Kim Cang Bộ Viện (金剛部院), ngoài Hiện Đồ Thai Tạng Giới Mạn Trà La (現圖胎藏界曼茶羅). Hình tượng của vị trời này có thân hình lộ sắc da màu trắng, tay phải gập lại, đặt nơi ngực, cầm cành hoa sen búp; tay trái bắt ấn, kê trên bắp đùi; hai bên có hai người nữ hầu, thân cũng để lộ da trắng, tay phải của họ đều cầm cành sen búp. Chủng tử của vị trời này là taṃ, hình Tam Muội Da là cành hoa sen búp trên lá. Tại Điện Di Lặc (彌勒殿) của Thái Vân Tự (白雲寺) ở Thái Châu (泰州), Tỉnh Giang Tô (江蘇省) có hai câu đối: “Thử Như Lai đại đỗ bao dung bả thế gian sự toàn hóa thành vô biên Phật pháp, thị Bồ Tát mãn tâm hoan hỷ tương Đâu Suất Cung tận cố tác Tỳ Lô đạo tràng (此如來大肚包容把世間事全化成無邊佛法、是菩薩滿心歡喜將兜率宮盡做作毗盧道塲, Như Lai này bụng lớn bao dung lấy chuyện thế gian thảy hóa thành vô biên Phật pháp, Bồ Tát ấy đầy tâm hoan hỷ đem Cung Đâu Suất trọn biến làm Tỳ Lô đạo tràng).”
đâu đâu
Everywhere.
đâu đó
Somewhere.
Đâu 兜
[ja] ト to, tō ||| (1) Helmet, headpiece. (2) A hat. (3) To be confused. (4) Transliteration for foreign tu sounds. => Có các nghĩa sau: 1. Cái mũ sắc, hình trang trí đầu chương mục. 2. Cái nón, cái mũ. 3. Bối rối, lúng túng. Đệ bát thức 第八識 [ja] ダイハッシキ daihasshiki ||| The eighth consciousness (ālaya-vijñāna), taught in the Yogācāra school of Buddhism. See 阿頼耶識. => Thức thứ 8 (ālaya-vijñāna), được trình bày trong tông Duy thức Phật giáo. Xem A-lại-da thức 阿頼耶識.
đâu-la
tên một loại hoa, Phạn ngữ là tla, cũng được đọc là đổ-la hay đố-la... là một loài hoa có màu trắng và rất mềm mại, mịn màng; dịch nghĩa là miên hoa hay tế miên hoa. Cách dùng đâu-la miên là không chuẩn xác vì kết hợp cả âm và nghĩa.
Đâu-suất
兜率; C: dōushuò; J: tosotsu; S: tuṣita.|Tịnh độ của Bồ Tát Di-lặc (s: maitreya). Đâu-suất thiên (兜率天).
Đâu-suất thiên
xem cõi trời Đâu-suất.
; 兜率; C: dōushuò tiān; J: tosotsuten; S: tuṣita; dịch nghĩa là Hỉ Túc (喜足; vui vẻ và no đủ);|Tầng trời thứ tư trong 6 tầng trời của cõi Dục (Lục dục thiên 六欲兲). Tuṣita nguyên nghĩa là »hài lòng, thoả mãn«. Cõi trời nầy là nơi dành cho »Đức Phật tương lai« sẽ ra đời giáo hoá, tu tập và chuẩn bị để thị hiện vào thế gian phàm trần. Phật Thích-ca Mâu-ni đã trú ở đây trước khi thị hiện đản sinh vào thế gian, và Phật Di-lặc đang trụ nơi đây chờ bổ xứ. Cuộc đời ở cõi Đâu-suất dài 4.000 năm, một ngày một đêm ở đó bằng 400 năm ở thế gian.|Nhiều Phật tử Trung Quốc và Việt Nam mong cầu được tái sinh vào cung Ðâu-suất để nghe Bồ Tát Di-lặc thuyết pháp. Người ta cho rằng muốn được tái sinh vào cõi này, Phật tử cần quy y với Bồ Tát Di-lặc và niệm danh hiệu của Ngài.
Đâu-suất Tòng Duyệt
兜率從悅; C: dōushuài cóngyuè; J: tosotsu jūetsu; 1044-1091; |Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế, người nối pháp Thiền sư Bảo Phong Khắc Văn.|Sư họ Hùng, quê ở Cám Châu. Buổi đầu làm Thủ chúng ở Ðạo Ngô. Một lần đến yết kiến Hoà thượng Trí ở Vân Cái. Trí đàm luận với Sư chẳng bao lâu thấy chỗ yếu bèn cười bảo: »Xem Thủ toạ khí chất phi phàm, tại sao thốt ra những lời như kẻ say?« Sư đỏ mặt xuất mồ hôi, cầu xin chỉ dạy. Hoà thượng Trí khuyên Sư đến Hoà thượng Văn ở Ðộng Sơn. Sư đến đây, được Ấn khả nhưng vẫn chưa hết hồ nghi. Nhân dịp gặp Thiền sư Thanh Tố (người đã từng hầu hạ Thạch Sương Sở Viên Thiền sư) Sư mới triệt ngộ.|Sau Sư thường dùng ba câu hỏi để nghiệm học giả: 1. Lặn lội đi tham vấn chỉ mong thấy tính, chính nay Thượng toạ thấy tính chỗ nào? 2. Biết được tự tính mới thoát sinh tử, khi chết rồi làm sao thoát? 3. Thoát được sinh tử liền biết chỗ đi, Tứ đại phân li nhằm chỗ nào đi?|Niên hiệu Nguyên Hựu thứ sáu vào mùa đông, Sư tắm gội xong, họp chúng nói kệ:|*Bốn mươi tám năm|Thánh phàm giết sạch|Chẳng phải anh hùng|Long An đường trơn|Nói xong Sư ngồi yên thị tịch, thọ 48 tuổi. Vua sắc phong Chân Tịnh Thiền sư.
Đâu-suất 兜率
[ja] トソツ tosotsu ||| c, the Pure Land (heaven) of Maitreya. See兜率天. (s: 兜率) => Cõi Tịnh độ của Đức Phật Di-lặc (s: Maitreya). Xem 兜率天 Đâu suất thiên. Đâu-suất thiên 兜率天 [ja] トソツテン tosotsuten ||| Tuṣita Heaven. The fourth of the six heavens of the desire realm. The original meaning of the word tuṣita is "to satisfy." This heaven is a place of preparation where future "buddhas-to-be" teach, practice and await their entry into the physical world. Śākyamuni abode there before his birth in the physical world and Maitreya 彌勒 is said to be waiting there now. A lifetime in Tuṣita Heaven is said to be 4,000 years, with each morning and evening of this time being equivalent to 400 years in earth-time. Tuṣita Heaven is one of the six heavens of the desire realm 六欲天. (s: Tuṣita Heaven) => Tầng trời thứ tư trong sáu tầng trời của cõi Dục (Lục dục thiên). Tuṣita nguyên nghĩa là "hài lòng, thỏa mãn". Cõi trời nầy là nơi dành cho "Đức Phật tương lai" sẽ ra đời giáo hóa, tu tập và chuẩn bị để thị hiện vào thế gian phàm trần. Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã trú ở đây trước khi thị hiện đản sinh vào thế gian, và Đức Phật Di-lặc đang trụ nơi đây chờ bổ xứ. Mạng sống ở cõi Đâu-suất dài 4.000 năm, một ngày một đêm ở đó bằng 400 năm ở thế gian.
Đâu-suất-đà
xem cõi trời Đâu-suất.
đã lâu
Long ago—A long time ago.
đã rồi
Accomplished.
đã vậy
If so.
đãi
1) Đợi: To wait—To wait for. 2) Đối đãi: To behave to. 3) Kịp đến: To reach—To catch up 4) Rữa: To wash. 5) Thiết đãi: To treat—To entertain.
đãi bôi
To invite for form's sake.
đãi dạ
5288通宵達旦之意。轉指前夜,今特指荼毘(火葬)之前夜,或指年忌、月忌等忌日之前夜。又作太夜、大夜、迨夜、宿夜、伴夜、通夜、贈別夜。逮與迨皆爲及之意,逮夜即至明日荼毘之夜。〔敕修百丈清規卷上住持章遷化移龕條、禪林象器箋節時門〕
; Còn gọi là Đại Dạ hay Túc Dạ, chỉ đêm trước của ngày giỗ hay bất cứ buổi lễ nào—The night previous to a fast day, or to any special occasion.
; (逮夜) Thâu đêm, suốt đêm. Ngày nay đặc biệt chỉ cho đêm hôm trước ngày cử hành đồ tì (thiêu), hoặc chỉ cho đêm hôm trước ngày giỗ (kị). Cũng gọi Thái dạ, Đại dạ, Túc dạ, Bạn dạ, Thông dạ, Tăng biệt dạ v.v... [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng Trụ trì chương Thiên hóa di khám điều; Thiền lâm tượng khí tiên Tiết thời môn].
Đãi mạn 怠慢
[ja] タイマン taiman ||| Disrespectful; to treat rudely. => Bất kính; đối xử thô lỗ.
đãi ngộ thiền
3801盛行於宋末之禪法。即以得證悟爲目的而修之禪法,亦即視坐禪爲開悟之方法,乃貶語詞。永平廣錄卷八:「諸宗坐禪,待悟爲則,譬如假船筏而度大海,將謂度海而可拋船矣!吾佛祖坐禪不然,是乃佛行也。」
; (待悟禪) Thiền trông đợi sự chứng ngộ. Đây là lời chê trách pháp Thiền thịnh hành ở cuối đời Tống, tức pháp Thiền lấy việc được chứng ngộ làm mục đích và coi sự ngồi thiền là phương pháp khai ngộ. Vĩnh bình quảng lục quyển 8 nói: Các tông ngồi thiền lấy sự đợi ngộ làm phép tắc, ví như nhờ thuyền bè mà vượt qua biển cả, cho rằng khi qua biển rồi có thể vứt bỏ thuyền đi! Nhưng phép ngồi thiền của Phật Tổ ta không phải thế, mà ngay khi ngồi thiền là làm Phật rồi.
đãi đằng
To treat.
đãi đối
3802謂彼此相待,二法相對。一切因緣生之事物皆然。止觀輔行傳弘決卷三(大四六‧二一八中):「互相因依,待對而立。」
; Sự liên hệ, hay bỉ thử đối đãi nhau, sự đối lập của hai pháp (tất cả mọi sự do nhân duyên sinh ra đều đãi đối nhau)—Relationship, in relation with, one thing associated with another.
; (待對) Hai pháp đối đãi nhau. Tất cả sự vật do nhân duyên sinh đều như thế. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 3 (Đại 46, 218 trung), nói: Nương vào nhân hỗ tương, đãi đối mà lập.
Đãi 待
[ja] タイ、ダイ tai, dai ||| (1) To wait, wait for. (2) Be necessary; depend upon, rely on. To have as a reason or premise (apekṣate). => 1. Đợi, trông chờ. 2. Thiết yếu; nhờ vào, dựa vào. Có được nhờ vào một lý do hay một tiền đề.
Đãi 怠
[ja] タイ tai ||| Idle, remiss. Disrespectful, insolent. => Nhàn rỗi, xao nhãng. Bất kính, xấc láo.
đãm mộc
Khadiraka (S)Khư đồ laMột trong 8 núi lớn bao quanh núi Tu di. Núi này cao 42.000 do tuần. Cách núi Tu di một biển lớn, trong có 4 châu: Phất bà đề ở hướng đông, Diêm phù đề ở hướng nam, Cù đà ni ở hướng tây, Uất đàn việt ở hướng bắc.
Đãn
但; C: dàn; J: tan;|Chỉ, đơn thuần, bất cứ khi nào. Nhưng mà, hãy còn, chỉ là, (s: kevala, mātra).
đãn
Khiếp sợ—Dread.
Đãn không
但空; C: dànkōng; J: tankū;|»Chỉ là Không.« Đối lại là Bất đãn không (不但空). Cách hiểu không trọn vẹn của Đại thừa Phật giáo trong lí giải về Tính không. Là kiến chấp, chỉ hiểu về »không«, mà không biết về lí »Bất không«. Bất đãn không
đãn không
2771「不但空」之對稱。知道一切事物有空理之一面,然不知其反面同時存有不空之意義,稱為但空、偏空。知道空理,同時亦知不空之理,此稱為不但空、不可得空。執著空,稱但空;知空亦不可得而不執空,稱不但空。三論宗吉藏以但空、不但空區別大乘、小乘之教義。天台宗則分配之於二教,以但空為藏教,以不但空為通教;又對觀空之空觀,分為但空觀與不但空觀。〔大智度論卷三十七、三論玄義、摩訶止觀(會本)卷三之三、天台四教儀〕(參閱「三觀」706)
; (但空) Chỉ là không. Cũng gọi Thiên không(lệch về một bên không). Đối lại: Bất đãn không. Chỉ hiểu hoặc cố chấp một mặt lí không chứ không biết lí bất không của muôn vật, gọi là Đãn không, Hiểu lí không, đồng thời, cũng biết rõ lí chẳng phải chỉ là không, gọi là Bất đãn không. Ngài Pháp tạng thuộc tông Tam luận dùng đãn không và bất đãn không để phân biệt giáo nghĩa Đại thừa, Tiểu thừa. Tông thiên thai thì cho đãn không là Tạng giáo, bất đãn không là Thông giáo. Còn pháp Không quán thì chia làm: Đãn không quán và Bất đãn không quán. [X. luận Đại trí độ Q.37; Tam luận huyền nghĩa; Ma ha chỉ quán (hội bản) Q.3 phần 3; Thiên thai tứ giáo nghi]. (xt. Tam Quán).
Đãn không 但空
[ja] タンクウ tankū ||| 'only empty.' The opposite of 不但空 'not-only-empty.' The way Mahāyāna sees the incomplete explanation of emptiness. An attachment to "emptiness only", wherein emptiness is understood, but the principle of "not empty" is not understood. => "Chỉ là Không". Đối lại là Bất đãn không. Cách hiểu không trọn vẹn của Đại thừa Phật giáo trong lý giải về Tính không. Là kiến chấp, chỉ hiểu về "không", mà không biết về lý "Bất không".
đãn trung
2771「不但中」之對稱。天台四教中別教說三諦隔歷,於空假之外別立中道一理,稱為但中。此但中之理,又作一理、別理、但理。對此,三觀圓融,即空、即假、即中,則為不但中。四教之中,但中顯別教中觀,不但中則詮圓教中道。〔法華經玄義卷二下、天台四教儀〕(參閱「三觀」706)
; (但中) Chỉ là Trung (ở chính giữa, không nghiêng lệch). Đối lại: Bất đãn trung (không chỉ là trung). Trong bốn giáo Thiên thai thì Biệt giáo nói Tam đế cách lịch, ngoài Không và Giả ra, lập riêng một lí Trung đạo, gọi là Đãn trung. Lí đãn trung này cũng gọi là Nhất lí, Biệt lí, Đãn lí. Đối lại, Tam quán viên dung: Tức không, Tức giả, Tức trung thì là Bất đãn trung. Trong bốn giáo, Đãn trung hiển bày Trung quán của Biệt giáo, còn Bất đãn trung thì hiển rõ Trung đạo của Viên giáo. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2 phần dưới; Thiên thai tứ giáo nghi]. (xt. Tam Quán).
đãn đa
Danta (skt)—Răng—Tooth—Teeth.
đãn đa gia sắc đa
Dantakastha (skt). 1) Cây nhai cho sạch răng: Tooth stick, said to be chewed as a dentifrice. 2) Tên của một loại cây mọc lên từ chỗ Đức Phật bỏ cây tăm xỉa răng của Ngài: The name of a tree grown from a tooth-pick of the Buddha.
Đãn 但
[ja] タン tan ||| Only, merely, whenever. Yet, still, but (kevala, mātra). Chỉ, đơn thuần, bất cứ khi nào. => Nhưng mà, Hãy còn, Chỉ là, (s: kevala, mātra).
Đãn-đồ
但荼; C: dàntú; J: danda. |Phiên âm từ chữ daṇḍa trong tiếng Phạn và Pa-li. Đàn-noa (檀拏).
Đãng nhiên 蕩然
[ja] トウネン tōnen ||| The condition of not being unitary; emptiness, dissipation. To go broke. Disappearance. => Trạng thái không nguyên khối; tình trạng rỗng không, sự không tập trung. Đến lúc khánh kiệt. Sự biến mất.
đãng trí
Inability to think coherently—Absent-minded—Forgetful.
Đãng 蕩
[ja] トウ tō ||| (1) To cleanse, to clarify. (2) To squander, waste, destroy. (3) Licentious, unsettled, vagrant, dissipated, greedy. (4) Easy and plain. Level, peaceful. (5) Vast, large, magnificent. => 1. Làm cho tinh khiết, làm cho sáng sủa, dễ hiểu. 2. Lãng phí, hoang phí, tiêu phí. 3. Phóng túng, không ổn định, lang thang, phung phí, thèm khát. 4. Dễ dãi và đơn giản. 5. Rộng lớn, mênh mông, cao lớn.
đè nặng
To press down.
đè đầu cởi cổ người cô thế
To oppress (crush down) the weak.
đê
1) Thấp—Low. 2) Hạ thấp: To lower—To let down.
đê hèn
Mean—Abject—Base—Vile.
đê la trạch ca
Tiladhaka or Tiladaka or Tilasakya (skt)—Đê La Thích Ca—Theo Eitel trong Trung-Anh Phật Học Từ Điển, thì đây là một tự viện khoảng ba do tuần về phía Tây của Nalanda, có lẽ bây giờ là làng Thelari gần Bồ Đề Đạo Tràng—According to Eitel in the Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is a monastery three yodjana west of Nalanda, perhaps the modern village of Thelari near Gaya.
đê mê nghi la
2783梵語 timiṅgila,巴利語 timingala。又作帝彌祇羅、提迷、抵彌。意譯為闍、吞魚。為吞食其他魚之大魚。大法炬陀羅尼經卷二十、北本大般涅槃經卷三十六、十誦律卷二十五等均載有此魚。〔華手經卷七毀壞品、玄應音義卷四、翻譯名義集卷六〕
; (低迷宜羅) Phạm:Timiígila,Pàli:Timingala. Cũng gọi Đế di kì la, Đề mê, Để di. Một loại cá lớn thường ăn thịt các cá khác. Kinh Đại pháp cự đà la ni quyển 20, kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 36 và luật Thập tụng quyển 25 đều có nói về loài cá này. [X. phẩm Hủy hoại trong kinh Hoa thủ Q.7; Huyền ứng âm nghĩa Q.4; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6].
đê tâm
2782即低首下心之意。乃低頭下視,內心沈著,默然忍受當前之一切事物。禪苑清規卷四化主(卍續一一一‧四五○下):「預先點檢門狀、關牒、書信,恐有差誤,及備茶湯人事之物,低心耐煩,善言化導。」
; (低心) Cúi đầu lặng lẽ, thản nhiên nhận chịu mọi sự kiện xảy ra trước mắt. Mục Hóa chủ trong Thiền uyển thanh qui quyển 4 (Vạn tục 111, 450 hạ), nói: Trước hết xem xét giấy tờ, thư tín, sợ có điều gì sai lầm, và chuẩn bị các việc trà nước, nhân sự, bình tĩnh (đê tâm) nhịn chịu, khéo dùng lời lẽ hướng dẫn người.
đê xứ đê bình
2783禪林用語。乃「高處高平」之相對語。出自唐代禪師溈山靈祐與仰山慧寂師徒二人相對問答之機緣語句,為表示諸法平等之用語。景德傳燈錄卷十一(大五一‧二八二中):「一日,隨溈山開田,師問曰:『遮頭得恁麼低,那頭得恁麼高?』祐曰:『水能平物,但以水平。』師曰:『水也無憑。和尚但高處高平,低處低平。』祐然之。」意謂一切之法平等,法無高下,而高、低二概念,皆應視為絕對者,即於究竟之立場而言,高為絕對者,低亦為絕對者,故高、低之二概念,亦應等同視之,而不應基於吾人所慣有之常識觀念,以高低、大小、美醜等之分別心來度量諸法。
; (低處低平) Chỗ thấp bằng thấp, tương đối với Cao xứ cao bình (chỗ cao bằng cao). Từ ngữ biểu thị các pháp bình đẳng, có xuất xứ từ cơ duyên vấn đáp giữa thiền sư Qui sơn Linh hựu và đệ tử là sư Ngưỡng sơn Tuệ tịch ở đời Đường. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11 (Đại 51, 282 trung), ghi: Một hôm, Tuệ tịch theo ngài Qui sơn đi cày ruộng, Tịch hỏi: - Đầu này thấp bao nhiêu, đầu kia cao bao nhiêu? Sơn nói: Hãy dùng nước thử xem, nước có thể làm chuẩn để cân bằng sự vật. Tịch nói: Nước cũng không định được, vì nước chỗ cao bằng cao, ở chỗ thấp bằng thấp. Sơn lặng yên. Ý nói tất cả pháp đều bình đẳng, không có cao, thấp; các khái niệm cao, thấp đều nên xem như tuyệt đối. Nghĩa là đứng trên lập trường rốt ráo mà nhận xét, thì cao là tuyệt đối, mà thấp cũng là tuyệt đối; bởi thế không nên dùng tâm phân biệt cao thấp, lớn nhỏ, đẹp xấu của thường tình để lường tính các pháp.
đêm trăng rằm
In the moonlit night.
đình
1) Điện: Hall. 2) Điều đình: To settle. 3) Đình hoản: To stop—To rest—To delay. 4) Trán: Forehead. 5) Triều đình: Court.
Đình chỉ
停止; C: tíngzhǐ; J: chōji;|Có các nghĩa sau: 1. Dừng lại, nghỉ lại, ở lại; 2. Cấm, hạn chế, giới hạn.
Đình chỉ 停止
[ja] チョウシ chōji ||| (1) To stop, stay, remain. (2) To prohibit, restrict, limit. => Có các nghĩa sau: 1. Dừng lại, nghỉ lại, ở lại. 2. Cấm, hạn chế, giới hạn.
đình hoãn
To postpone—To put off—To defer—To delay.
đình lịch
một loại hạt rất nhỏ màu vàng đen, dùng làm vị thuốc. Có người nói là hạt của cây rau đay.
đình nghi
4102於日本真言宗,行灌頂曼荼羅供時,由集會處前往堂前庭上所作行道之儀式。此儀式乃模仿龍猛菩薩開南天竺之鐵塔時,於塔前所行之儀式。其設備及作法,因派別、時宜不同而稍有異。通常,灌頂法會前,於會場之前設一幔門,眾僧聞報鐘而參集一處,依法臘深淺順序一列而行,至幔門之前,始分二列,職眾依職司各執鈸、鐃、法螺等法器,通過幔門後全體立停,此時「讚頭」領唱庭讚,法器齊奏,候大阿闍梨入會場後,始開啟法會。〔授菩薩戒儀、顯密威儀便覽卷下法事堂上庭儀條〕
; Nghi thức khi tiến vào chánh điện trong buổi lễ—The ceremony on entering the hall for service.
; (庭儀) Nghi thức hành đạo của tông Chân ngôn Nhật bản. Nghi thức này phỏng theo nghi thức được cử hành trước tháp khi bồ tát Long mãnh mở tháp sắt ở Nam Thiên trúc. Tức là khi cử hành Quán đính, chư tăng tập trung ở một chỗ trước khi đi tới đạo tràng để làm lễ. Do các phái khác nhau, thời gian bất đồng, nên cách bày biện và cách tác pháp có hơi khác. Thông thường, trước đạo tràng của pháp hội Quán đính treo một bức màn cửa, chư tăng nghe chuông báo thì tập họp ở một chỗ, theo thứ tự tuổi hạ cao thấp mà đi thành một hàng, khi đến trước bức màn cửa mới chia làm 2 hàng, rồi tùy theo chức vụ mỗi người cầm một pháp khí như não bạt, tiêu cảnh, tù và v.v..., đi qua phía sau bức màn thì tất cả đều đứng lại. Lúc này, vị Tán đầu (người hướng dẫn đọc canh) xướng lên bài Đình tán, pháp khí tấu lên, đợi sau khi vị Đại a xà lê vào đạo tràng, mới bắt đầu khai pháp hội.
đình tâm
Giữ tâm trong thiền định—To fix or settle the mind in meditation—See Ngũ Đình Tâm Quán.
đình tâm quán
See Ngũ Đình Tâm Quán.
đìu hiu
Gloomy.
đính chánh
To contradict a statement.
đói khát
To be hungry and thirsty.
đón rước
To welcome—To receive someone with a warm reception.
đóng
1) To close—To shut. 2) To build.
đóng cặn
To form a deposit.
đóng cửa
To close the door.
đóng trăng
To fetter.
đô
1) Đô thị—Metropolis, imperial city or domain. 2) Tất cả: All.
đô bộ đà la ni mục
5291全一卷。唐代不空譯。又稱陀羅尼門諸部要目、陀羅尼諸部要目、諸部要目。收於大正藏第十八冊。本經舉金剛頂經、大日經、蘇悉地經、蕤呬耶經、蘇婆呼童子經、怛唎三昧耶經等之要目而加以解說。其中,於金剛頂經部分,初出大本之偈數及會數,並初會之經名,次列初會中佛部等五部之部主、眷屬等之布列法、曼荼羅之種類、四種智印、四種眼等之要項,並加以解釋。於大日經部分,舉百六十心、十緣生句、勝義世俗之修行法、曼荼羅之造立法、護摩法之種類等。於蘇悉地經部分,舉出佛部等三部之真言及部主、明妃、忿怒、四種結界、五種供養、四種法修行之相應日等要目而釋之。於蕤呬耶經部分,特細說分布曼荼羅及絣地法。於蘇婆呼童子經部分,則就金剛杵之種類闡明其意義。於怛唎三昧耶經部分,舉大輪金剛真言之功能,與不動尊之本誓等加以解說。
; (都部陀羅尼目) Cũng gọi Đà la ni môn chư bộ yếu mục, Đà la ni chư bộ yếu mục, Chư bộ yếu mục. Có 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 18. Sách này nêu ra rồi giải thích yếu mục của các kinh: Kim cương đính, Đại nhật, Tô tất địa, Nhuy hi da, Tô bà hô đồng tử, Đát lị tam muội da v.v... Trong đó, về phần kinh Kim cương đính thì, trước hết, nêu lên số kệ và số hội của đại bản và tên kinh của hội thứ nhất, kế đến trình bày về các hạng mục trọng yếu như: Bộ chủ của 5 bộ, cách bài trí các quyến thuộc, các loại mạn đồ la, 4 loại Trí ấn, 4 loại mắt v.v... của 5 bộ, đồng thời, có thêm phần giải thích. Về kinh Đại nhật, sách này nêu ra 160 tâm, 10 duyên sinh, phương pháp tu hành thắng nghĩa thế tục, phép tạo lập mạn đồ la, các pháp hộ ma v.v... Về kinh Tô tất địa thì nêu và giải thích các yếu mục như: Bộ chủ và chân ngôn của 3 bộ, Minh phi, Phẫn nộ, 4 loại kết giới, 5 thứ cúng dường, những ngày tương ứng của 4 loại pháp tu hành v.v... Về kinh Nhuy hi da thì đặc biệt nói tỉ mỉ về sự phân bố các mạn đồ la. Về kinh Tô bà hô đồng tử thì giải thích rõ về ý nghĩa của các loại chày Kim cương. Về kinh Đát lị tam muội da thì nêu ra và giải thích công năng của chân ngôn Đại luân kim cương và bản thệ của Bất động tôn.
đô duy na
5291北魏時所置之僧官名稱。北魏文成帝於興安元年(452),設都維那於道人統之下。道人統乃中央僧官機構監福曹之首長。沙門僧義、僧暹、僧頻等皆曾任都維那之職。其後監福曹改稱昭玄寺。至東魏,則稱昭玄都維那爲國都,置於國統(昭玄統)之下。(參閱「僧官」5731)
; (都維那) Tên gọi một chức quan tăng ở thời Bắc Ngụy bên Trung quốc. Vào niên hiệu Hưng an năm đầu (452), Văn thành đế đặt ra chức Đô duy na dưới chức Đạo nhân thống. Đạo nhân thống là chức đứng đầu cơ quan Giám phúc tào thuộc cơ cấu Tăng quan Trung ương. Các vị sa môn như: Tăng nghĩa, Tăng tiên, Tăng tần đều đã từng giữ chức Đô duy na. Về sau, Giám phúc tào được đổi tên là Chiêu huyền tự. Đến đời Đông Ngụy thì gọi chức Chiêu huyền đô duy na là Quốc đô, đặt dưới chức Quốc thống (Chiêu huyền thống). (xt. Tăng Quan).
đô giám tự
Còn gọi là Đô Tổng, tên gọi khác của chức Đô Tổng—The director or second in command of a monastery.
đô giảng
5292又稱都講師。爲經論之講會中所設之職稱。魏晉南北朝時,佛教學者講經採取一問一答方式,都講發問,後由講師詳加講解闡發。佛祖統紀卷三十七載,梁武帝御重雲殿講經,以枳園寺法彪爲都講,彪先發問,帝方酬答。此種講經制度,古代印度即有。後世於「安居」期間設置「都錄」之職,即源於都講之制。〔梁高僧傳卷四支遁傳、釋氏要覽卷下、大宋僧史略卷上都講條、後漢書列傳第四十四楊震傳〕
; (都講) Cũng gọi Đô giảng sư. Tên gọi một chức tăng được đặt ra trong hội giảng kinh luận. Trong các thời Ngụy Tấn đến Nam Bắc triều, các học giả Phật giáo giảng kinh, ứng dụng phương thức Nhất vấn nhất đáp, nghĩa là vị Đô giảng nêu ra câu hỏi, sau đó vị giảng sư giảng giải rõ ràng. Phật tổ thống kỉ quyển 37 chép, vua Lương Vũ đế ngự ở điện Trung vân giảng kinh, cử ngài Pháp bưu ở chùa Chỉ viên làm Đô giảng, trước hết, ngài Pháp bưu nêu ra câu hỏi, sau đó vua mới trả lời. Ngày xưa ở Ấn độ cũng đã có chế độ giảng kinh theo phương thức này. Đời sau, trong thời kì An cư có đặt ra chức Đô lục, tức đã bắt nguồn từ chế độ Đô giảng. [X. truyện Chi độn trong Lương cao tăng truyện Q.4; Thích thị yếu lãm Q.hạ; mục Đô giảng trong Đại tống tăng sử lược Q.thượng; truyện Dương chấn trong Hậu Hán thư liệt truyện 44].
đô hóa la
Tukhara (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Đô Hóa La còn gọi là nước Nguyệt Chi, gọi theo từ địa lý học thì đây là xứ sở của băng tuyết, vùng mà bây giờ gọi là Badakchan, và các nhà địa lý Ả Rập vẫn còn gọi là Tokharestan. Theo nhân chủng thì đây vùng của dân tộc Tocharoi hay Indo-Scythians (người Trung Quốc gọi là Tocharoi Tartars), bị người Hung Nô đuổi chạy về phương nam, chiếm vùng Trans-oxania, tiêu diệt vương quốc Đại Hạ vào năm 126 trước Tây Lịch, và cuối cùng chiếm vùng Punjab, Cashmere, và phần lớn lãnh thổ Ấn Độ. Vị vua nổi tiếng của xứ nầy là Kanichka—According to Eitel in Chinese-English Buddhist Terms, Tukhara, the Yueh-Chih country, a topographical term designating a country of ice and frost (tukhara), and corresponding to the present Badakchan which Arab geographers still call Tokharestan. An ethnographical term used by the Greeks to designate the Tocharoi or Indo-Scythians, and likewise by Chinese writers applied to the Tochari Tartars who driven on by the Huns (180 B.C.) conquered Trans-Oxania, destroyed the Bactrian kingdom in 126 B.C., and finally conquered the Punjab, Cashmere, and the greater part of India. Their greatest king was Kanichka.
đô hội đàn mạn đồ la
5291 都會,諸尊都來集會;即諸尊都來集會之曼荼羅。又作都壇、大都法壇、都法壇、都會道場法壇、都會壇、普集會壇、普門曼荼羅。即大日經卷二具緣品所載,以普門大日尊爲主尊,大日流現眷屬諸尊集會之金、胎兩部大法之大曼荼羅。略出經卷四所說之曼荼羅亦指此。然陀羅尼集經卷十二諸佛大陀羅尼都會道場印品,則以佛頂尊爲主尊而說都會曼荼羅,且隨意所念,主尊得由其他佛菩薩替代;此經之意在於,凡一門尊而其眷屬集會之曼荼羅即名都法壇,並不限普門大日之曼荼羅。〔陀羅尼集經卷四,大日經義釋卷十二〕(參閱「曼荼羅」4400)
; (都會壇曼荼羅) Cũng gọi Đô đàn, Đại đô pháp đàn, Đô pháp đàn, Đô hội đạo tràng pháp đàn, Đô hội đàn, Phổ tập hội đàn, Phổ môn mạn đồ la. Là mạn đồ la tập họp chư tôn và quyến thuộc. Đây tức là Đại mạn đồ la của Kim cương giới, Thai tạng giới được nói trong phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 2 và trong kinh Lược xuất quyển 4. Mạn đồ này lấy đức Phổ môn Đại nhật tôn làm vị chủ tôn, là nơi đức Đại nhật và chư tôn quyến thuộc tập họp. Nhưng, phẩm Chư Phật đại đà la ni trong kinh Đà la ni tập quyển 12 thì lấy đức Phật đính tôn làm chủ tôn mà nói ra Đô hội mạn đồ la này; hơn nữa, tùy theo ý nguyện, vị chủ tôn có thể do chư Phật và Bồ tát khác thay thế. Ý kinh Đà la ni tập là ở chỗ dù là mạn đồ la của tôn vị thuộc một môn nào mà có quyến thuộc tôn vị ấy tập họp thì cũng gọi là Đô pháp đàn, chứ không phải chỉ có mạn đồ la của đức Đại nhật phổ môn mới gọi là Đô pháp đàn. [X. kinh Đà la ni tập Q.4; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.12]. (xt. Mạn Đồ La).
đô khang
5290爲藏語音譯,乃大殿之意,元明間亦譯爲都綱。爲西藏佛教寺院中各扎倉僧眾集會之經堂。
; (都康) Phiên âm từ tiếng Tây tạng, có nghĩa là Đại điện. Khoảng thời Nguyên, Minh của Trung quốc cũng gọi là Đô cương. Nhà để kinh trong các chùa viện của Phật giáo Tây tạng, là nơi chúng tăng tụ họp để học tập.
đô lô
5292全部之意。道行般若經卷十囑累品(大八‧四七八上):「我般泥洹後,都盧三千大千國界,其中人民,汝悉教入經法中,悉令成就得阿羅漢道。」〔道行般若經卷二、大慧普覺禪師語錄卷三十、葛藤語箋卷五〕
; (都盧) Hàm ý là toàn bộ. Phẩm Chúc lụy trong kinh Đạo hành bát nhã quyển 10 (Đại 8, 478 thượng), nói: Sau khi ta nhập Niết bàn, ông hãy giáo hóa chúng sinh trong toàn bộ ba nghìn đại thiên thế giới, đưa họ vào trong Phật pháp và giúp họ thành tựu đạo quả A la hán. [X. kinh Đạo hành bát nhã Q.2; Đại tuệ Phổ giác thiền sư ngữ lục Q.30; Cát đằng ngữ tiên Q.5].
đô mâu lô thiên
5290梵名 Tumburu,巴利名 Timbaru。又作兜牟盧天、凍母囉天、耽浮樓天、珍浮樓天。此尊居於密教現圖胎藏界曼荼羅文殊院之最北端五奉教者之中央。其形像,身呈赤黑色,赤髮怒目,以上齒咬唇,左手仰掌當腰,舒展食、中兩指,右手屈臂,持獨股棒,交腳而坐。密號金剛,種子爲???(tu)或???(ka),三昧耶形爲棒。真言爲「歸命阿尾沙摩野儜曳娑嚩賀」。據慧琳音義卷十二載,兜牟盧,爲四姊妹女天之兄,亦爲欲界中諸天眷屬。〔大寶積經卷三十二、玄法寺儀軌卷一、理趣釋卷下、諸說不同記卷五、胎藏界七集卷中〕
; (都牟盧天) Phạm: Tumburu, Pàli: Timbaru. Cũng gọi Đâu mâu lô thiên, Đống mẫu ra thiên, Đam phù lâu thiên, Trân phù lâu thiên. Vị tôn này ngồi ở giữa 5 vị Phụng giáo ở đầu cực bắc của viện Văn thù trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Hình tượng của Ngài mầu đỏ sậm, tóc đỏ, mắt trợn trừng, hàm răng trên cắn vào môi, bàn tay trái ngửa lên để ở ngang chỗ thắt lưng, ngón trỏ, ngón giữa duỗi thẳng, cánh tay phải co lại, cầm gậy một chĩa, ngồi tréo chân. Mật hiệu là Kim cương, chủng tử là (tu) hoặc (ka), hình Tam muội da là cây gậy. Chân ngôn là Qui mệnh A vĩ sa ma dã ninh duệ sa phạ hạ. Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 12 nói, thì Đâu mâu thiên là anh của 4 chị em Thiên nữ và cũng là họ hàng của chư thiên trong cõi Dục. [X. kinh Đại bảo tích Q.32; Huyền pháp tự nghi quĩ Q.1; Lí thú thích Q.hạ; Chư thuyết bất đồng kí Q.5; Thai tạng giới thất tập Q.trung].
đô suất thiên
Tusita (skt)—See Tushita in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Đâu Suất in Vietnamese-English Section.
đô sử đa
Còn gọi là Đâu Sắt Đa, Đâu Sử Đa, Đổ Sử Đa, tên gọi cũ của Đâu Suất Thiên—The Tusita Heaven.
đô thị
5289梵語 nagara,巴利語同。印度都市之成立,較遲於吠陀成立之時代。在最古之佛典經集(巴 Sutta-nipāta)第四一四偈、一○一三偈,與法句經(巴 Dhammapada)第四十偈、一五○偈、三一五偈中,皆可見及 nagara 一詞。釋尊入滅時期之大都市有六,即瞻波(巴 Campā)、王舍城(巴 Rājagaha) 、舍衛城(巴 Sāvatthī)、娑枳多(巴 Sāketa)、憍閃毘(巴 Kosambī)、波羅奈(巴 Bārāṇasī)等六大都市(巴 mahānagara)。當時佛教信徒住於都市者以王公貴族、商人占大部分,雖亦有農民信徒,然當時之佛教實以都市爲中心。至大乘佛教時代所形成之大乘佛教菩薩團,即以都市商人階級爲中心,其都市宗教之性格更加顯著。中國與日本之佛教弘布,初亦皆以都市爲中心地,後逐漸延伸至農村、漁村,及邊遠地方。
; (都市) Phạm, Pàli: Nagara. Tại Ấn độ, sự thành lập đô thị chậm hơn thời đại thành lập kinh Phệ đà. Trong các câu kệ 414, 1013 của Kinh tập (Pàli: Sutta-nipàta) là bộ kinh Phật xưa nhất, và trong các câu kệ 40, 150, 315 trong kinh Pháp cú (Pàli: Dhammapada) đều có danh từ Nagara. Vào thời đức Phật nhập diệt đã có 6 đô thị lớn (Pàli: Mahànagara), đó là: Chiêm ba (Pàli: Campà), thành Vương xá (Pàli: Ràjagaha), thành Xá vệ (Pàli: Sàvatthì), Sa chỉ đa (Pàli: Sàketa), Kiêu thiểm tì (Pàli: Kosambì) và Ba la nại (Pàli: Bàràịasì). Lúc bấy giờ tín đồ Phật giáo sinh sống trong các đô thị phần lớn là hàng vương công, quí tộc và thương gia, tuy cũng có tín đồ nông dân, nhưng thời ấy Phật giáo lấy đô thị làm trung tâm truyền bá. Đến khi giáo đoàn Bồ tát của Phật giáo Đại thừa được thành lập thì lại lấy giai cấp thương gia ở đô thị làm trung tâm, cho nên tính cách tôn giáo đô thị lại càng rõ rệt. Tại Trung quốc và Nhật bản, việc truyền bá Phật giáo lúc đầu cũng lấy các đô thị làm trung tâm, nhưng về sau này lần lần lan rộng đến các vùng nông thôn, ngư thôn, thậm chí đến cả nơi biên cương xa xôi.
đô thị vương
5289又稱都帝王、都弔王。爲冥界十王之第九。據預修十王生七經、地藏菩薩發心因緣十王經等所載,死者在冥途中,於一周年時會至此王之處,接受生前所造善惡業之審判。因死者群集於此,猶如城都之市,故稱此王爲都市王。此王之本地爲阿閦如來或大勢至菩薩。其於審判死者之罪業外,並爲彼宣說造立法華經及阿彌陀佛之功德。又此王掌管之冥界第九殿,係大海底正西沃燋石下之大熱惱大地獄(或謂阿鼻大地獄),此獄另有十六小地獄。〔考信錄卷四、佛像圖彙卷三〕(參閱「閻羅十殿」6339)
; Vị thứ tám trong 10 vị Diêm Vương, trông coi Đại Nhiệt Địa Ngục (ngục nầy rộng 500 do tuần, trong đó có 16 địa ngục nhỏ. Tội nhân mãn ngục nầy thì được giải vào điện thứ 9)—The ruler of the eighth hot hell.
; (都市王) Cũng gọi Đô đế vương, Đô điếu vương. Ông vua thứ 9 trong 10 ông vua ở cõi U minh. Cứ theo kinh Dự tu thập vương sinh thất và kinh Địa tạng bồ tát phát tâm nhân duyên thập vương nói, thì người chết xuống ở trong cõi U minh được một năm thì đến chỗ ông vua này để chịu sự phán xét về nghiệp thiện nghiệp ác mà người ấy đã tạo lúc còn sống. Vì những người chết tụ họp ở đây đông đảo giống như cái chợ trong đô thành, nên gọi ông vua này là Đô thị vương. Bản địa của vua này là A súc Như lai hoặc là bồ tát Đại thế chí. Ngoài việc phán xét tội nghiệp của người chết, ông vua này còn nói cho họ nghe về công đức trì tụng kinh Pháp hoa và công đức niệm danh hiệu Phật A di đà. Ngoài ra, điện thứ 9 ở cõi U minh do Đô thị vương cai quản là Đại địa ngục Nhiệt não (hoặc gọi là địa ngục A tị) nằm phía dưới tảng đá Ốc tiêu dưới biển lớn về phía tây. Địa ngục này có 16 địa ngục nhỏ bao quanh. [X. Khảo tín lục Q.4; Phật tượng đồ vựng Q.3]. (xt. Diêm La Thập Điện).
đô tra ca
Tutaka (skt)—Còn gọi là Đốt Tra Ca. 1) Sự vui mừng—Joyful sound, united voice; derivation uncertain. 2) Tên của một loài chim: Name of a bird.
đô trá ca âm
5290梵語 toṭaka-vṛtta。乃歌詠、讚歎時所發之一種韻律(梵 metre)。又作都咤迦種種妙聲、伽他妙聲。經典中常載聞法者,因喜悅而出此音,如大乘入楞伽經卷一羅婆那王勸請品(大一六‧五八七下):「爾時,羅婆那楞伽王以都咤迦音歌讚佛已,復以歌聲而說頌言。」但梵本所載 toṭaka,即爲韻律之名,vṛtta 亦指韻律,乃置於經文之前,相當於 cīttā-svăbhāvă-năyă-dhārmă-vĭdhīḥ nāirātmyāṃ d
; (都吒迦音) Phạm: Toỉaka-vftta. Cũng gọi Đô trá ca chủng chủng diệu thanh, Già tha diệu thanh. Một thứ âm thanh có vần, luật (Phạm: metre) phát ra khi ca vịnh, tán thán. Trong kinh điển thường nói người nghe pháp do trong lòng vui mừng mà phát ra âm thanh này. Phẩm La bà na vương khuyến thỉnh trong kinh Đại thừa nhập lăng già quyển 1 (Đại 16, 587 hạ), nói: Bấy giờ, vua La bà na lăng già dùng âm thanh Đô trá ca tán thán đức Phật, xong rồi, lại dùng tiếng ca vịnh mà nói tụng. Nhưng, theo bản tiếng Phạm của kinh Đại thừa nhập lăng già, thìToỉakalà tên của luật vần,Vfttacũng chỉ cho luật vần và được đặt ở trước văn kinh.
đô tổng
See Đô Giám Tự.
đô tự
5289都監寺之略稱。或稱都管、都總。禪寺東序六知事之一。乃督管全寺庶務之職稱。敕修百丈清規卷下兩序章東序知事都監寺條(大四八‧一一三二上):「古規惟設監院,後因寺廣眾多,添都寺以總庶務,早暮勤事香火,應接官員施主,會計簿書,出納錢穀,常令歲計有餘。」 昔時叢林極興盛時,多請西堂、首座、書記充任此職,而都寺亦充任首座、書記,否則必推舉法臘高而行事廉謹,素爲大眾歸服者任之。〔禪林備用清規卷七都監寺條、百丈清規證義記卷六、 禪林象器箋職位門〕(參閱「監寺」5847)
; (都寺) Gọi đủ: Đô giám tự. Cũng gọi: Đô quản, Đô tổng. Chức vụ của vị tăng trông coi các việc lặt vặt trong chùa. Là một trong 6 vị tri sự của Đông tự trong Thiền viện. Mục Lưỡng tự chương Đông tự tri sự Đô giám tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển hạ (Đại 48, 1132 thượng), nói: Thanh qui xưa chỉ đặt chức Giám viện, sau vì trong chùa đông chúng tăng nên thêm chức Đô tự để trông coi các việc lặt vặt, như thời khóa sớm chiều, nhang đèn, quét tước, tiếp đón quan viên thí chủ, tính toán sổ sách,chi thu tiền gạo, làm cho cuối năm có dư. Thời xưa, khi tùng lâm cực hưng thịnh, phần nhiều thỉnh các vị Tây đường, Thủ tọa, Thư kí kiêm nhiệm chức này, còn Đô tự cũng kiêm nhiệm Thủ tọa, Thư kí, nếu không thì phải suy cử vị nào có tuổi hạ cao, làm việc liêm khiết, vốn được đại chúng mến phục, đảm nhiệm chức này. [X. mục Đô giám tự trong Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.7; Bách trượng thanh qui chứng nghĩa kí Q.6; Thiền lâm tượng khí tiên Chức vị môn]. (xt. Giám Tự).
đô văn
5289又作都聞。禪林中,介於都寺、監寺間之職位。今已不存。〔禪林備用清規卷三、禪林象器箋職位門〕
; (都文) Tên gọi một chức tăng trong Thiền lâm, ở giữa chức Đô tự và Giám tự. Chức này nay không còn. [X. Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.3; Thiền lâm tượng khí tiên Chức vị môn].
đô y sâm
5291(Deussen, Paul; 1845~1919)爲德國之哲學家、印度哲學學者。曾擔任柏林大學講師(1881)、基爾大學教授(1889),因受叔本華哲學之感化而繼其學,並從事印度哲學研究與哲學史之整理工作。主要著作有 Elemente der Metaphysik, 1877;Das System des Vedānta, 1883; Der Kategorische Imperativ, 1891;Allgemeine Geschichte der Philosophie, 2 vols., 1894~1899;Sechzig Upanischads des Veda, 1897; Outline of Indian Philosophy, 1907;Die Geheimlehre des Veda, 1907~1909; Der Gesang des Heiligen, 1911.
đôi
Một đống—A heap—A pile.
đôi áp địa ngục
Tên gọi khác của Chúng Hợp Địa Ngục, trong địa ngục có núi Đại Thạch đè nát thân thể tội nhân—The hell of crushing, the third great hell in which sinners are crushed to death.
đôn
1) Đôn đốc: To urge. 2) Đôn hậu (hiền lành lương thiện)—Honest—Staunch.
đôn châu
4963(Dudjom, 1904~1987)西藏佛教紅教寧瑪派之法王。卓珠岩敦旺布之弟子。為藏密教傳、巖傳兩派之傳人。大陸淪陷後,避居印度之噶林邦,並弘揚藏密寧瑪巴法門於世界各地。著述甚多,所撰「西藏古代佛教史」一書有中譯本行世(明珠、劉銳之合譯)。其弟子劉銳之在港臺兩地所設之金剛乘學會盛弘其法。民國七十六年,於法國多爾多內(Dordogne)示寂。
đôn hoàng
Tên một thành phố trong thành Kansu, gần đó có Vạn Phật Động—The city in Kansu near which are the Cave-temples of thousand Buddhas—See Đôn Hoàng Thạch Thất.
đôn hoàng biến văn
4969自清光緒二十五年(1899),敦煌石室藏卷被發現後,經各國學者作有系統之整理、探討,漸形成「敦煌學」之研究風氣。於所有卷子中,有一類通俗文學作品之寫本,稱為變文,於「敦煌變文集」(王重民等編)所輯,共有七十八篇。所謂「變」,即是變更、改寫、改編之意,係將佛典中之故事或經史之內容加以改編,使其趣味化、生動化、通俗化,為流行於唐、五代頃之「俗講」所留下之話本。以類別而言,七十八篇中,大多為以佛教故事為主題之「講經變文」,其次為以史話、史傳為主題之「講史變文」,此外有一篇道教之變文。 佛教東傳中土,繼經典的大量傳譯之後,部分佛教徒開始致力於佛法之普及,於開講佛經時,儘量改編為通俗的故事體裁,甚至配以通俗音樂吟唱之,此種講經法會稱為「俗講」,盛行於唐朝、五代。專門從事此類宣講之僧人,被稱為俗講僧;俗講僧所留下之底本,稱為講經文,亦為變文之一種。通常講經文以某一經貫串全篇,而講經變文則以故事為主。此外,為配合講經變文,描繪經中所敘述故事之「變相圖」亦應運而生。 較著名之講經變文有:八相變、降魔變文、阿彌陀經變文、妙法蓮華經變文、目連緣起、太子成道經、八相押座文、地獄變、缴山遠公話等。講史變文則有:伍子胥變文、漢將王陵變、舜子變、晏子賦、捉季布傳文、張義潮變文等。講經變文之體裁通常有:押座文、講經文、變文、吟、記、話等類。由於講經變文之普遍,而促成講史變文之興起。此外,講經變文所採「說唱」之形式,於我國文學史上影響極大,我國白話小說之鼻祖宋元話本即萌芽於唐末五代之講經、講史變文。〔敦煌講經變文研究、敦煌變文社會風俗事物考(羅宗濤)、講史性之變文研究(謝海平)、敦煌變文述論(邱鎮京)、敦煌變文彙錄(周紹良)〕(參閱「俗講」3727、「變文」6913)
; (敦煌變文) Biến văn tìm được trong động đá ở Đôn hoàng bên Trung quốc. Từ năm Quang tự 25 (1899) đời Thanh, sau khi kho sách cấtgiấu trong động đá Đôn hoàng được phát hiện và được học giả các nước chỉnh lí, tìm hiểu một cách có hệ thống thì phong trào nghiên cứu Đôn hoàng học dần dần được hình thành. Trong số các sách này, có một loại bản viết tay thuộc tác phẩm văn học phổ thông, gọi là Biến văn, được nhóm các ông Vương trọng dân thu gom vào Đôn Hoàng Biến Văn Tập gồm 78 thiên. Biến là thay đổi, nghĩa là đem các tích truyện trong kinh điển Phật hoặc nội dung sử truyện mà biên soạn lại, nhằm thú vị hóa, sinh động hóa và thông tục hóa. Đây là các thoại bản còn lại dưới hình thức Tục giảng được lưu hành ở đời Đường và khoảng thời Ngũ đại. Nếu phân loại thì trong số 78 thiên, phần lớn là Biến văn giảng kinh lấy các truyện cổ Phật giáo làm chủ đề; sau đó là Biến văn giảng sử lấy sử thoại, sử truyện làm chủ đề. Ngoài ra, có một thiên Biến văn về Đạo giáo. Sau khi Phật giáo truyền sang Trung quốc, một số lớn kinh điển được phiên dịch; bấy giờ, một số tín đồ Phật giáo muốn phổ cập hóa Phật pháp, nên khi giảng kinh, cố gắng thay đổi, biên soạn các truyện cổ bằng thể tài phổ thông, thậm chí phối với âm nhạc, ngâm vịnh có tính cách thông tục cho dễ hiểu. Loại pháp hội giảng kinh này gọi là Tục giảng thịnh hành ở đời Đường và đời Ngũ đại. Vị tăng chuyên môn giảng kinh trong pháp hội này được gọi là Tục giảng tăng; những bản thảo của vị tăng này để lại gọi là Giảng kinh văn, cũng là một loại Biến văn. Thông thường, Giảng kinh văn là giảng trọn một bộ kinh, còn Giảng kinh biến văn thì chỉ lấy truyện cổ làm chính. Ngoài ra, các bức Biến tướng đồ (tranh Biến tướng) miêu tả nội dung truyện cổ trong các kinh bằng hội họa cũng đã xuất hiện để phối hợp với Giảng kinh biến văn. Các Biến văn giảng kinh nổi tiếng hơn cả thì có: Bát tướng biến, Hàng ma biến văn, A di đà kinh biến văn, Diệu pháp liên hoa kinh biến văn, Mục liên duyên khởi, Thái tử thành đạo kinh, Bát tướng áp tọa văn, Địa ngục biến, Lô sơn, Viễn công thoại v.v... Biến văn giảng sử thì có: Ngũ tử tư biến văn, Hán tướng Vương lăng biến, Thuấn tử biến, Án tử phú, Tróc quí bá truyện văn, Biến văn Trương nghĩa triều v.v... Thể tài Biến văn giảng kinh phổ thông thì có các loại: Áp tọa văn, Biến văn, Giảng kinh văn, Ngâm, Kí, Thoại v.v... Nhờ sự phổ cập của Biến văn giảng kinh mà gây nên cái hứng khởi của Biến văn giảng sử. Ngoài ra, hình thức Xướng thuyết được sử dụng trong Biến văn giảng kinh đã có ảnh hưởng rất lớn đối với lịch sử văn học Trung quốc. Các thoại bản đời Tống, Nguyên của các ông tổ khai sáng tiểu thuyết bạch thoại Trung quốc đã bắt nguồn từ các Biến văn giảng kinh, giảng sử. [X. Đôn hoàng giảng kinh biến văn nghiên cứu; Đôn hoàng biến văn xã hội phong tục sự vật khảo (La tông đào); Giảng sử tính chi biến văn nghiên cứu (Tạ hải bình); Đôn hoàng biến văn thuật luận (Khưu trấn kinh); Đôn hoàng biến văn vựng lục (Chu thiệu lương)]. (xt. Tục Giảng, Biến Văn).
đôn hoàng bồ tát
4964又作燉煌菩薩。<一>梵名 Dharmarakṣa。音譯曇摩羅剎、曇摩羅察。原為月支人,以世居敦煌,故姓支。八歲出家,師事外國沙門竺高座,遂改姓竺。世稱竺法護。又稱敦煌三藏、月支菩薩。天性純懿好學,博覽六經,涉獵百家。於西晉武帝時,隨師西遊,徧諸國語文三十六種,並攜帶大批梵經歸東土,沿途傳譯,孜孜不倦。據出三藏記集卷二載,師自武帝泰始年中至懷帝永嘉二年(308)約四十年間,先後譯出正法華經、賢劫經、文殊師利淨律經、如來興顯經等一百五十餘部,三百餘卷。武帝末年,隱居深山,未久,又於長安青門外立寺,後更往來於洛陽、倉垣等地,率眾梵修,講說諸經。示寂於建興年間,世壽七十八。〔梁高僧傳卷一、出三藏記集卷十三、開元釋教錄卷二〕(參閱「竺法護」3488) <二>即唐代華嚴宗初祖杜順。(參閱「杜順」2955)
; (敦煌菩薩) I. Đôn Hoàng Bồ Tát. Phạm: Dharmarakwa. Dịch âm: Đàm ma la sát. Cũng gọi Trúc pháp hộ, Đôn hoàng tam tạng, Nguyệt chi bồ tát. Ngài gốc người nước Nguyệt chi, nên mặc dầu tổ tiên nhiều đời sống ở Đôn hoàng nhưng vẫn lấy họ Chi. Ngài xuất gia năm lên tám, thờ vị sa môn người Ấn độ là Trúc cao tòa làm thầy, nên đổi lấy họ Trúc, người đời gọi là Trúc pháp hộ. Ngài tính tình thuần hậu hiếu học, thông suốt sáu kinh (Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân thu. Hiện nay kinh Nhạc không còn, chỉ có năm kinh, nên thường gọi là Ngũ kinh của Nho giáo), am tường bách gia (100 nhà, gọi chung các nhà chuyên môn thời Xuân thu Chiến quốc nước Tàu). Vào thời Vũ đế nhà Tây Tấn, ngài theo thầy sang Ấn độ, học tất cả 36 thứ ngôn ngữ các nước, đồng thời thỉnh một số lớn kinh tiếng Phạm mang về Trung quốc và ngài phiên dịch luôn trên đường về, siêng năng không mệt mỏi. Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 2, thì trong khoảng 40 năm từ 268-308, ngài lần lượt dịch các kinh như: Chính pháp hoa, Hiền kiếp, Văn thù sư lợi tịnh luật, Như lai hưng hiển, v.v... gồm hơn 150 bộ, hơn 300 quyển. Vào những năm cuối đời vua Vũ đế, ngài ở ẩn trong núi sâu, không bao lâu, ngài lại làm chùa ngoài cửa Thanh môn thành Trường an. Sau ngài qua lại các nơi như Lạc dương, Thương viên, giảng thuyết kinh điển và hướng dẫn chúng tăng tu học. Ngài thị tịch vào khoảng năm Kiến hưng, không rõ tuổi thọ. [X. Lương cao tăng truyện Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.2]. (xt. Trúc Pháp Hộ). II. Đôn Hoàng Bồ Tát. Ngài Đỗ thuận, Sơ tổ tông Hoa nghiêm, sống vào đời Đường, Trung quốc. (xt. Đỗ Thuận).
đôn hoàng học
4968敦煌學之內容包括敦煌石窟藏書、壁畫、雕塑藝術等,門類甚廣,其研究範疇就廣義而言,包括自然、地理、社會、經濟、歷史、宗教、文學、美術等之綜合研究;狹義而言,乃指對敦煌文獻如藏書卷子之整理、解釋、研究,亦即通稱之敦煌學。敦煌石室遺書發現於甘肅省敦煌縣東南二十公里之千佛洞(古稱莫高窟),其第十七窟之窟洞中有複室,大小約三公尺立方,其內貯滿文物。宋仁宗景祐(1034~1037)初年,寺僧因避西夏入侵,密藏文物於石室中,清光緒二十五年(1899)為道士王圓籙所發現。石室遺書之所以能聚集保藏歷久而不毀者,實因敦煌氣候嚴寒,雨量絕少之故。文物發現之消息傳出後,奧布傑夫(Vladimiy Afanásevich Obruchev)、史坦因(A. Stein)、伯希和(Paul Pelliot)等各國學者相繼前來,從王道士處秤斤計兩,購去大批卷子珍品。寶藏散失後,羅振玉等聞訊,建議政府將剩餘卷子運歸首都。 自敦煌寶物發現以來數十年間,東起日本,西迄英、法,諸國學人各就其治學範圍紛紛研究,「敦煌學」遂成為世界學術中之一環。教育部於民國三十三年(1944)正式成立「敦煌藝術研究所」,將壁畫、塑像與石窟加以編號,石窟總數為四三八,包括兩魏二十、隋八十八、唐一七七、宋一○二、元七、清二,尚有殘缺或無法考證者四十二。近人據史坦因、伯希和等所搜得彙集成書者,有敦煌石室遺書、鳴沙石室古佚書、敦煌寶藏等,皆前所未見之祕笈。載錄群籍而成目錄者,有由史坦因蒐集之「漢文寫本目錄」(1957)、「西藏文寫本目錄」(1962),由伯希和蒐集之「西藏文寫本目錄」(1950~1961)、「漢文寫本目錄」(1970),王重民所編之「敦煌遺書總目索引」(1962),由蘇俄蒐集之「漢文寫本目錄」(1963~1967),日本龍谷大學之「龍大所藏敦煌古寫經現存目錄」(1958),大谷大學之「大谷大學所藏敦煌古寫經」(1964~1972)等。 近年蘇俄公布所藏卷子目錄,臺北國立中央圖書館亦印行所藏全部卷子。據諸家之記述,包括碎片,粗略估計,共約四萬餘號。其中,漢文文獻約三萬七千號,今分藏於北平(北京圖書館,約一萬號)、倫敦(大英博物館,約一萬一千號)、巴黎(國家圖書館,約六千六百號,另有藏文二千七百號)、列寧格勒(東方研究所,約一萬一千號)、臺北(國立中央圖書館,一百五十一卷),此外日本之龍谷大學、大谷大學亦收藏若干,中國與日本少數收藏家亦有私人珍藏之情形。 此類寫本,內容分為佛教類與非佛教類(道教、摩尼教、景教、儒家經典、文學、語言、社會、經濟、法律、政治、公私文書、天文曆算、兵法、醫藥、術數、繪畫、音樂等);自形式而言,可大別為漢文文獻與非漢文文獻,而漢文文獻中以佛教文獻居多。非漢文文獻之寫本有梵文、藏文、回鶻(紇)、于闐、粟特、龜玆、康居、佉盧等文。若自裝釘之形式而言,敦煌文獻與其餘中亞出土之佛典寫本皆可略別為貝葉本、卷子本、折本、冊子本等四類(參見附圖),而敦煌所發現之抄本中,多為漢文之卷子本。此外亦有印刷本,如漢文佛典「金剛般若經」乃刊刻於唐咸通九年(868)之文物,為我國有明確刊記年代之最古印刷品。凡此種種文獻之發現,無不具珍貴之學術價值,乃治中古學術史及佛教史學之重要資料。(參閱「千佛洞」737)
; (敦煌學) Nội dung của Đôn hoàng học bao gồm những kinh sách, các bức tranh vách và nghệ thuật chạm trổ, đắp tượng v.v... được tàng trữ trong hang đá Đôn hoàng, rất nhiều bộ môn và chủng loại. Nói theo nghĩa rộng thì phạm trù nghiên cứu về Đôn hoàng học bao quát các lĩnh vực tự nhiên, địa lí, xã hội, kinh tế, lịch sử, tông giáo, văn học, mỹ thuật v.v... Còn nói theo nghĩa hẹp thì như việc chỉnh lí, giải thích, nghiên cứu các văn bản kinh sách được cất giữ ở Đôn hoàng tức cũng gọi chung là Đôn hoàng học. Những di vật văn hóa trong quần thể hang động Đôn hoàng được tìm thấy ở động Thiên Phật (Nghìn Phật) cách huyện Đôn hoàng, tỉnh Cam túc về phía đông nam 20km (xưa gọi là Hang động Mạc cao). Trong hang thứ 17 của động Thiên Phật có nhiều hầm nhỏ hình lập phương (cube) mỗi bề khoảng 3m, ở trong chứa đầy di vật văn hóa do các vị sư đã bí mật đưa vào đây cất giấu để tránh nạn phá hủy của người Tây hạ xâm lăng Trung quốc vào đầu năm Cảnh hựu (1034-1037) đời vua Nhân tông nhà Tống. Vào năm Quang tự 25 (1899) đời Thanh, đạo sĩ Vương viên lục đã phát hiện những hầm đá này. Sở dĩ những di vật được cất giấu trong những hầm đá qua một khoảng thời gian dài như thế (872 năm) mà không bị hư nát là nhờ khí hậu ở Đôn hoàng lạnh lẽo và lượng mưa rất ít. Sau khi tin tức tìm thấy các di vật văn hóa được tung ra, học giả các nước như: Vladimiy Afanásevich Obruchev, A. Stein, Paul Pelliot, v.v... nối gót nhau đến chỗ đạo sĩ Vương viên lục thương lượng để mua phần lớn các quyển sách quí giá. Sau khi hay tin kho báu bị mất mát, La chấn ngọc mới đề nghị với chính phủ Trung ương thu nhặt những sách còn lại đưa về thủ đô Bắc kinh. Khoảng vài mươi năm từ khi các bảo vật ở Đôn hoàng được phát hiện, học giả các nước Nhật bản, Anh, Pháp v.v... đua nhau nghiên cứu theo phạm vi chuyên môn của mình, Đôn hoàng học liền trở thành một bộ môn trong các ngành học thuật của thế giới. Vào năm Dân quốc 33 (1944), Bộ giáo dục Trung quốc chính thức thành lập Sở Nghiên Cứu Nghệ Thuật Đôn Hoàng, đánh số thứ tự các bức vách, các pho tượng đắp và các hang động, tổng số có 438 hang động, gồm 20 hang động đời Lưỡng Ngụy (Tây Ngụy, Đông Ngụy), 88 hang động đời Tùy, 177 hang động đời Đường, 102 hang động đời Tống, 7 hang động đời Nguyên, 2 hang động đời Thanh và 42 hang động đã hư hoại hoặc không thể khảo chứng. Những bộ sách như: Đôn hoàng thạch thất di thư, Minh sa thạch thất cổ dật thư, Đôn hoàng bảo tàng v.v... đều do những người thời gần đây căn cứ theo tư liệu của các ông A. Stein, P. Pelliot, v.v... sưu tầm được mà biên tập thành. Về các bộ mục lục ghi chép các sách thì có: Hán văn tả bản mục lục (1957), Tây tạng văn tả bản mục lục (1962) do ông A. Stein sưu tập, Tây tạng văn tả bản mục lục (1950 - 1961), Hán văn tả bản mục lục (1970), do ông P. Pelliot sưu tập, Đôn hoàng di thư tổng mục sách dẫn (1962) do ông Vương trọng dân biên soạn, Hán văn tả bản mục lục (1963 - 1967) do người Nga xô sưu tập, Long đại sở tàng Đôn hoàng cổ tả kinh hiện tồn mục lục (1958) của trường Đại học Long cốc Nhật bản, Đại cốc Đại học sở tàng Đôn hoàng cổ tả kinh (1964 - 1972) của trường Đại học Đại cốc Nhật bản. Những năm gần đây, Nga xô đã công bố mục lục những sách vở do họ cất giữ; thư viện Quốc lập trung ương ở Đài bắc cũng ấn hành toàn bộ sách vở được cất giữ ở đây. Theo sự khảo sát của các nhà nghiên cứu thì những kinh sách được tìm thấy ở động Đôn hoàng có khoảng hơn 40 vạn hạng mục. Trong đó, văn hiến Hán văn có khoảng hơn 37.000 hạng mục, hiện nay được chia ra cất giữ ở Bắc bình (thư viện Bắc kinh khoảng 10.000 hạng mục), Luân đôn (viện bảo tàng nước Anh khoảng 11.000 hạng mục), Ba lê (thư viện quốc gia, khoảng 6.600 hạng mục và 2.700 hạng văn Tây tạng), Leningrad (Sở nghiên cứu Đông phương, khoảng 11.000 hạng mục), Đài bắc (thư viện quốc lập trung ương, khoảng 151 quyển). Ngoài ra, trường Đại học Long cốc và trường Đại học Đại cốc tại Nhật bản cũng cất giữ một số và số ít nhà sưu tập đồ cổ Trung quốc và Nhật bản cũng cất giữ một số. Nội dung của loại bản chép tay này được chia làm 2: 1. Loại Phật giáo. 2. Loại phi Phật giáo: Đạo giáo, Ma ni giáo, Cảnh giáo, kinh điển Nho gia, văn học, ngôn ngữ, xã hội, kinh tế, pháp luật, chính trị, văn thư công và tư, lịch coi thiên văn, phép dùng binh, thuốc thang, thuật số, hội họa, âm nhạc, v.v... Về hình thức văn hiến đại khái có thể chia làm hai loại: 1. Văn hiến Hán văn: phần lớn là văn hiến Phật giáo. 2. Không phải văn hiến Hán văn: các bản viết tay có Phạm văn, Tạng văn, Hồi hột, Vu điền, Túc đặc, Cưu từ, Khang cư, Khử lộ. Về hình thức đóng sách thì văn hiến Đôn hoàng và các bản kinh Phật chép tay khác đào được ở vùng Trung Á đại lược đều có thể chia làm 4 loại: Bối diệp bản(bản lá bối), quyển tử bản (bản quấn), triết bản(gấp xếp) và sách tử bản (bản đóng) v.v... (xem các ảnh). Trong các bản sao phát hiện được ở Đôn hoàng phần lớn là quyển tử bản bằng Hán văn. Ngoài ra, cũng có bản in, như kinh Kim cương bát nhã bằng Hán văn là di vật văn hóa được khắc bản in vào năm Hàm thông thứ 9 (868) đời Đường và là ấn phẩm xưa nhất tại Trung quốc có ghi niên đại khắc bản rõ ràng. Tóm lại, các loại văn hiến được phát hiện nói trên đều có giá trị học thuật quí báu, là những tư liệu trọng yếu cho việc nghiên cứu về lịch sử học thuật và lịch sử Phật giáo thời Trung cổ. (xt. Thiên Phật Động).
đôn hoàng thạch quật
4964又作敦煌石室。敦煌,又作焞煌、燉煌,位於河西走廊之最西端,自漢代以來,此地為我國與西域諸國之交通要衝。上古時此地為西戎之地,春秋時稱瓜州,秦時為大月氏所居,漢初屬匈奴渾邪王之地,元鼎六年(111 B.C.)置敦煌郡。至東晉咸康(335~341)初年於此置沙州。隆安年間(397~401)西涼於此建都。後魏太武帝時置敦煌鎮,隋大業年間(605~616)改為敦煌郡。唐宋元明之世,數次易名為瓜州、西沙州、敦煌、沙州。清乾隆年間(1736~1795)改置敦煌縣,屬甘肅省,民國政府沿之。 此地自古為各種種族雜居之地,文化風俗複雜,佛教自古即傳播於此,此地所出之高僧、譯經僧歷來亦不計其數。如被當代人稱為「敦煌菩薩」之竺法護,最早在敦煌建寺弘法之竺法乘,前往西域求法之于道邃,及東晉之單道開、竺曇猷,蕭齊之法頴,超辯,北魏之道韶,隋代之慧遠等。此外,北涼曇無讖曾在此譯出菩薩戒本,及大般涅槃經(北本)之後六品;劉宋時,曇摩蜜多亦曾於此廣開田畝,營建精舍,大力弘法。 由於一出敦煌即為大漠,死生莫卜,商賈旅人往往祈佛庇佑,形成日後敦煌藝術發達之原因。相傳石窟最早為前秦建元二年(366)沙門樂僔所開鑿,其後歷代增鑿營建,漸成千餘洞窟之大石窟群,惜因年代久遠,流沙湮沒,或遭摧毀,僅殘餘數百窟。且自明代以後航海術逐漸發達,絲路遂告封閉,敦煌石窟因之亦鮮為世人所知。 清光緒五年(1879),匈牙利地質調查所所長洛克齊(L. de Lóczy)於敦煌縣東南二十公里處之鳴沙山東麓發現千佛洞壁畫,驚為虦寶,返歐後公諸於世,是為世人知千佛洞壁畫之始。 今學界所稱之敦煌佛教藝術,包括安西縣附近之榆林窟與小千佛洞、敦煌西南之西千佛洞,然一般所言之「敦煌千佛洞」則指位於鳴沙山東麓之石窟群。蓋千佛洞,又稱莫高窟(Dmag-mgo)、千佛巖、雷音寺。自樂僔開鑿之後,沙門法良、東陽王、唐代李廣等皆相次鐫鑿,或營造洞窟,或雕琢佛龕,或修葺樓閣,或描造壁畫;而鳴沙山之地質原為礫岩所成,本不易自然崩壞,然於宋仁宗之世,此地遭西夏侵入,爾後亦屢遭兵亂,尤以明代時回教徒之蹂躪,廢損至巨。 至近代探險發掘,清理查覈後,知迄今所餘洞窟有四百三十餘窟。洞窟沿著石壁,自南而北排列,緜亙約一點六公里,可分為中央、南、北三大部分。其中,中央及北部之窟數較少,且規模較小,亦較無後世裝飾之痕蹟,而荒廢情況亦較為嚴重。反之,南方之石窟群則重延約九百三十餘公尺,兩端各有一大石窟,窟前設佛殿,其內安置高達二十餘公尺之坐佛像。此兩大石窟與其他諸窟之間大多鑿有上下二列乃至四列之窟室,其數約有三百數十餘。今各窟前端大多崩壞,下列之窟室埋於沙中者不少。又上列之窟室大多造有木梯,其遺構至今尚存。大抵而言,下列之諸窟多為唐代或唐代以前所開鑿,窟壁之佛畫亦為同時期之作品。 各洞窟之形式,從早期附有修行小龕之型式漸轉變為中央塔式、中心柱式、中央佛壇式等。隋唐以後,因為適應大幅經變之構圖,中央後方為莊嚴肅穆之佛壇,四壁均繪滿金碧輝煌之壁畫,與現今佛寺內之殿堂型態已漸相近。 蓋敦煌地處玉門礫岩帶,其地質如前所言,原為砂土變質之第四紀礫岩層,雖不易自然崩壞,然亦不宜於雕刻,而我國古代之藝術巧匠融合周、漢之壁畫技術與傳統泥塑及夾紵塑法,形成風格特殊的「繪塑合一」之綜合藝術。各洞窟中以塑造之佛像為主,天花藻井及四壁則繪滿五彩繽紛之繪畫,繪畫作為塑像之背景,亦為塑像之延續,兩者相互輝映,不僅使敦煌藝術大放異彩,對日後寺院壁畫與塑造藝術亦有倡導之功。 自明代以後,石窟既遭回教徒嚴重毀損,佛龕亦常為流沙所掩,鳴沙寶窟逐漸塵封。據敦煌縣志第七雷音寺條記載,自清代中葉開始,石窟由道士管理整治,道士並常於窟洞之前營建道觀,由是敦煌香火稍得復燃。光緒二十五年,其時已距洛克齊發現鳴沙山壁畫二十年,有道士王圓籙(元祿),偶於第十七窟內清除積沙,見壁畫龜裂,遂毀周圍之壁,突見其內一大祕窟,內中古書盈滿。初發現後,王圓籙仍封閉之,而未加啟視。然西方之考古探險家早已風聞敦煌壁畫、佛像而陸續胀集於石窟探索攫取。 首先到達敦煌者為俄國之地質學者奧布傑夫(Vladimiy Afanásevich Obruchev, 1863~1956),其所竊走之古抄本與佛畫今存於列寧格勒之埃密達吉博物館。光緒三十三年,英籍匈牙利人史坦因(A. Stein)亦聞風而至。其時為史坦因第二度至中亞探險,史氏先於敦煌縣北方之疏勒河沿岸發掘出漢代之堡壘、關門、烽臺及若干小佛寺等廢墟,又發現無數漢代木簡、縑帛、紙本佛典、粟特語文書、佛教天部之泥像、木像等殘片,稍後即至千佛洞第一六三窟,檢視佛像壁畫,並賄通王道士,私啟石室,擇其精要,廉價換取二百餘包之古本經典與畫像,計有古寫經約三千卷,及其他文卷等三千之數,運回倫敦。 次年,法國學者伯希和(Paul Pelliot, 1878~1945)亦至,自行選取五千餘卷寫本,並勘查諸洞,對無法搬運之壁畫,則選其精品加以攝影、編號而攜返。於歸途中滯留北平,將所得之卷帙一部示之我國學人,至此我政府始知悉內情,速將王道士判以盜賣國寶之罪名,並收拾殘餘經卷,僅得八千餘卷而已,今藏於北京圖書館。其間,尚有美國華爾納、日本大谷探險隊橘瑞超等人,或黏揭、切割壁畫,或竊取經卷寫本,或盜運塑像,或收購流落民間者。迄今,敦煌石室藏書及壁畫多流入法、英、日、印、俄、美、德等國博物館中。 各地所藏之典籍、文獻,經學者之整理分類,計有經卷、碑版、卷軸、幡畫、刺繡、度牒、史籍、韻書、小說、曲譜等。經卷大多為佛經,亦有道教、摩尼教、景教等書。其文體有漢文、佉盧文、回鶻文、康居文、古和闐文、龜茲文、粟特文、西藏文等。其壁畫則可大別為:(一)經變(佛經故事),(二)本生故事(釋迦牟尼佛前生之故事),(三)尊像(佛、菩薩、阿羅漢、天人等),(四)供養人(施主及眾生相),(五)裝飾圖案(天花藻井、山水畫),(六)伎樂舞踊圖。其中蘊藏有豐富之佛教、文學、歷史等珍貴之文獻史料,在中國學術文化上佔有極重要之地位,不僅可補上自北魏下至北宋六百年間之文史缺遺部分,並可校正諸多經典謬誤之處。〔釋迦方志卷上遺跡篇、梁高僧傳卷三、卷四、卷八至卷十二、續高僧傳卷八、出三藏記集卷二、卷十三、漢書地理志第八、續漢志第二十三敦煌郡、通典第一七四、甘肅通志第二十三、西域水道記第三、大清一統志第二一三安西府條、東西交涉史之研究西域篇、佛典研究〕(參閱「千佛洞」737、「敦煌學」4969)
; (敦煌石窟) Cũng gọi Đôn hoàng thạch thất. Quần thể hang động ở huyện Đôn hoàng, tỉnh Cam túc, Trung quốc. Đôn hoàng là vùng đất ở đầu cực tây của tỉnh Hà tây. Từ đời Hán trở đi, vùng này là đường giao thông trọng yếu giữa Trung quốc và các nước Tây vực. Vào thời thượng cổ, đây là vùng đất của Tây nhung, thời Xuân thu gọi là Qua châu, vào thời Tần là đất của Đại nguyệt thị, đầu đời Hán nội thuộc Hung nô. Đến năm Hàm khang (335 - 341) đời Đông Tấn được gọi là Sa châu. Khoảng năm Long an (397 - 401), nhà Tây lương đóng đô ở đây. Thái vũ đế nhà Hậu Ngụy đặt trấn Đôn hoàng, khoảng năm Đại nghiệp (605- 616) được đổi là quận Đôn hoàng. Các đời Đường, Tống, Nguyên, Minh lần lượt đổi tên là: Qua châu, Tây sa châu, Đôn hoàng, Sa châu. Khoảng năm Càn long (1736 - 1795) được đổi là huyện Đôn hoàng thuộc tỉnh Cam túc. Vùng đất này từ xưa vốn do các bộ tộc ở xen lẫn, văn hóa, phong tục phức tạp. Phật giáo được truyền đến đây rất sớm, có khá nhiều các vị cao tăng đã sinh ra ở đây, như ngài Trúc pháp hộ được người đương thời gọi là Đôn hoàng Bồ tát, ngài Trúc pháp thừa là người đầu tiên dựng chùa, hoằng pháp ở Đôn hoàng, ngài Vu đạo thúy sang Ấn độ cầu pháp, các ngài Đơn đạo khai và Trúc đàm du đời Đông Tấn, các ngài Pháp dĩnh, Siêu biện đời Tiêu Tề, ngài Tuệ viễn đời Tùy v.v... Ngoài ra, ngài Đàm vô sấm đời Bắc Lương từng ở đây phiên dịch Bồ tát giới bản và sáu phẩm sau của kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc); ngài Đam ma mật đa đời Lưu Tống cũng từng ở đây khai phá đất đai, xây dựng tinh xá, tận lực hoằng pháp. Vì một khi ra khỏi Đôn hoàng liền đi vào sa mạc mịt mù, sống chết chưa biết ra sao, cho nên những người buôn bán qua lại vùng này luôn luôn nguyện cầu đức Phật che chở giúp đỡ, đó chính là nguyên nhân đưa đến sự phát đạt của nghệ thuật Đôn hoàng ngày sau. Tương truyền, hang đá đầu tiên ở Đôn hoàng là do sa môn Lạc tốn đục mở vào năm Kiến nguyên thứ 2 (366) đời Tiền Tần. Về sau qua nhiều đời có đục mở thêm và dần dần đã trở thành một quần thể gồm hơn 1.000 hang động, nhưng rất tiếc vì năm tháng quá lâu xa, nên bị cát trôi vùi lấp, hoặc bị hủy hoại, chỉ còn sót lại hơn vài trăm động. Vả lại, từ đời Minh về sau kĩ thuật hàng hải dần dần phát đạt, con đường tơ lụa trở nên thưa thớt, các động đá Đôn hoàng do đó cũng ít được người đời biết đến. Vào năm Quang tự thứ 5 (1879), ông L. de Lóczy, Giám đốc Sở Điều tra địa chất Hungary, tìm thấy những bức tranh vẽ trên vách trong động Thiên Phật, kinh ngạc trước kho bảo vật, khi trở về Âu châu, ông ta công bố tin ấy: đó là lần đầu tiên người Tây phương biết đến động Thiên Phật ở Đôn hoàng. Giới học giả hiện nay gọi Nghệ Thuật Phật Giáo Đôn Hoàng bao gồm hang Du lâm và động Tiểu thiên Phật ở vùng phụ cận huyện An tây và động Tây thiên Phật ở mạn tây nam Đôn hoàng. Nhưng thông thường gọi động Thiên Phật Đôn Hoàng là chỉ cho quần thể hang động nằm ở chân núi phía đông núi Minh sa, cách huyện Đôn hoàng về phía đông nam 20 km. Động Thiên Phật còn được gọi là Mạc cao quật (Dmag-mgo), Thiên Phật nham, Lôi âm tự. Từ sau khi sa môn Lạc tốn đục mở, các vị sa môn Pháp lương, Đông dương vương, Lí quảng v.v... ở đời Đường đều nối tiếp nhau khắc đục, hoặc mở hang động, hoặc chạm trổ khám Phật, hoặc sửa sang lầu gác, hoặc vẽ các bức tranh trên vách v.v... Địa chất núi Minh sa vốn là đá sỏi tạo thành, không dễ gì vỡ lở. Nhưng vào đời vua Nhân tông nhà Tống, vùng đất này bị quân Tây hạ xâm nhập, từ đó về sau thường bị loạn lạc, nhất là vào đời Minh, tín đồ Hồi giáo dày xéo, tàn phá, tổn hại rất lớn. Thời gần đây, sau khi thám hiểm khai quật, thanh lí kiểm tra thì biết đến nay còn có hơn 430 hang động khác. Những hang động nằm theo vách đá, bày xếp thành hàng từ nam đến bắc, chạy dài khoảng 1,6 km, có thể chia làm 3 phần: Trung ương, Nam, Bắc. Trong đó, số hang động ở Trung ương và phía Bắc tương đối ít và qui mô nhỏ hơn, cũng không có dấu vết cho thấy người đời sau có tô điểm sửa sang, mà tình trạng hoang phế cũng khá nghiêm trọng. Trái lại, nhóm hang động ở phía Nam thì chạy dài khoảng hơn 930 m, ở hai đầu có một hang đá lớn, trước hang thiết lập điện Phật, trong điện tôn trí tượng đức Phật ngồi cao tới 20 m. Ở khoảng giữa hai hang đá lớn này và các hang khác phần nhiều đục mở hai hàng cho đến bốn hàng hang động trên dưới, có tới hơn ba trăm mấy mươi hang. Hiện nay, phía trước mỗi hang phần nhiều đều đã đổ nát, nhiều hang động ở hàng dưới bị chôn vùi trong cát. Còn những hang động ở hàng trên phần nhiều có làm thang gỗ, những cấu trúc để lại đến nay vẫn còn. Nói cách đại khái, các hang động ở hàng dưới phần nhiều đã được đục mở vào đời Đường hoặc trước đời Đường, tượng Phật vẽ trên vách hang cũng là tác phẩm của thời kì ấy. Về hình thức hang động, thì từ hình thức có phụ thêm khám nhỏ để tu hành ở thời kì đầu, dần dần chuyển biến thành hình tháp trung ương, cột trụ trung tâm, Phật đàn trung ương v.v... Từ các đời Tùy, Đường về sau, vì để thích ứng với các bức vẽ về biến tướng kinh bằng khổ lớn, nên ở phía sau trung ương đặt bàn thờ Phật rất trang nghiêm kính cẩn, trên bốn vách đều vẽ kín các bức tranh với mầu sắc xanh vàng rất rực rỡ, đã dần dần gần với hình thái điện đường trong các chùa Phật hiện nay. Từ đời Minh trở đi, các hang động bị tín đồ Hồi giáo phá hủy nghiêm trọng, khám thờ Phật cũng thường bị cát trôi vùi lấp, hang báu Minh sa dần dần bị cát bụi lấp kín. Cứ theo mục Lôi âm tự trong Đôn hoàng huyện chí thứ 7 nói, thì bắt đầu từ giữa đời Thanh, các hang động do Đạo sĩ trông coi sửa sang và xây dựng Đạo quan ở trước các hang động, nhờ đó hương khói ở Đôn hoàng có phần nào được ấm cúng. Vào năm Quang 25 (1904), 20 năm sau ngày ông L. de Lóczy phát hiện những bức tranh trên vách của động Thiên Phật ở Đôn hoàng tại núi Minh sa, đạo sĩ Vương viên lục (Nguyên lộc), nhân dọn dẹp lớp cát tích tụ trong hang 17, tình cờ thấy bức tranh vách tróc ra, ông liền đập vách chung quanh thì thấy một hầm bí mật rất lớn trong đó chứa đầy sách cổ. Sau đó, Đạo sĩ đóng kín lại, không cho ai biết. Nhưng các nhà thám hiểm khảo cổ Tây phương đã sớm biết tin về các bức bích họa ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng do ông L. de Lóczy công bố trước đây, đã lục tục kéo nhau đến tìm kiếm cướp lấy. Người đầu tiên đến Đôn hoàng là nhà địa chất học người Nga tên Vladimiy Afanásevich Obruchev (1863 - 1956), đã lén lấy đi những bản sao sách cổ và các bức tranh Phật hiện được cất giữ ở viện bảo tàng Leningrad. Năm Quang tự 33 (1907), người Hungary quốc tịch Anh là A. Stein cũng đến Đôn hoàng. A. Stein vào hang 163 trong động Thiên Phật xem xét các tượng Phật và tranh vẽ trên vách, đồng thời mua chuộc đạo sĩ Vương viên lục, rồi lén vào hầm bí mật. Stein chọn lấy 3.000 quyển kinh điển Phật chép tay và khoảng 3.000 quyển sách vở khác cùng với tranh, tượng Phật, đóng gói thành hơn 200 bao, trả cho Vương viên lục một số tiền bằng giá rẻ mạt rồi vận chuyển về Luân đôn. Năm 1908, học giả người Pháp là Paul Pelliot (1878 - 1945) lại đến Đôn hoàng, tự ý lựa lấy hơn 5.000 quyển sách chép tay, rồi kiểm tra các động, những bức tranh vẽ trên vách rất đẹp nhưng không lấy đi được, Pelliot đành phải chụp ảnh, ghi số rồi đem về. Trên đường về nước, P. Pelliot dừng chân tại Bắc bình, lấy một số quyển sách đem khoe với các học giả Trung quốc, lúc đó chính phủ Trung ương mới biết rõ nội vụ, liền kết tội đạo sĩ Vương viên lục đã bán trộm những bảo vật của quốc gia, đồng thời, thu nhặt những kinh sách còn lại, nhưng chỉ còn hơn 8.000 quyển mà hiện nay được cất giữ tại thư viện Bắc kinh. Trong thời gian ấy, còn có các nhà thám hiểm người Mĩ, Nhật bản, v.v... đến Đôn hoàng, họ in mẫu hoặc nạy lấy các bức tranh vách, lấy trộm các quyển kinh chép tay, lén lút vận chuyển những pho tượng đắp bằng đất ra ngoài, hoặc thu mua những cổ vật tản mạn trong dân gian do các tư nhân sưu tầm cất giữ. Ngày nay, những di vật văn hóa quí báu của Phật giáo nói riêng, của Trung quốc nói chung, được cất dấu trong hang động Đôn hoàng đã bị lưu lạc đến các viện bảo tàng của các nước Anh, Pháp, Nhật, Ấn, Đức, Nga v.v... Tóm lại, những di vật văn hóa được phát hiện trong các hang động ở Đôn hoàng rất phong phú, bao quát nhiều lĩnh vực như đã trình bày ở trên, là những tư liệu hết sức quí báu, đối với văn hóa và học thuật Trung quốc đã chiếm một địa vị cực trọng yếu, không những có thể bổ túc cho phần thiếu sót trong văn học và lịch sử của khoảng 600 năm từ thời Bắc Ngụy đến đời Bắc Tống mà còn có thể giúp cho việc sửa chữa nhiều chỗ sai lầm trong các kinh điển. [X. thiên Di tích trong Thích ca phương chí; Lương cao tăng truyện Q.3, Q.4, Q.8 đến Q.12; Tục cao tăng truyện Q.8; Xuất tam tạng kí tập Q.2, Q.13; Hán thư địa lí chí 8; Đôn hoàng quận trong Tục Hán chí 23; Thông điển 174; Cam túc thông chí 23; Tây vực thủy đạo kí 3; mục An tây phủ trong Đại thanh nhất thống chí 213; thiên Tây vực trong Đông tây giao thiệp sử chi nghiên cứu; Phật điển nghiên cứu]. (xt. Thiên Phật Động, Đôn Hoàng Học).
đôn hoàng thạch thất
Còn gọi là Đôn Hoàng Thạch Quật, hay Hang Động Đôn Hoàng (nằm về phía đông nam huyện Đôn Hoàng thuộc tỉnh Cam Túc, có ngọn núi Minh Sa, dưới chân núi có chùa Tam Giới, quanh chùa có hàng ngàn hang động. Trước kia gọi là động Nghìn Phật vì xung quanh vách đá đều có chạm trổ hình tượng Phật). Vào nam 1900 có một vị Tăng quét dọn cát bụi trong chùa, từ chỗ tường vở tình cờ nhìn thấy một căn phòng trong đó chứa đầy kinh sách. Khi mở sách ra thấy những sách nầy được chép từ thế kỷ thứ năm đến thế kỷ thứ 10 (trong khoảng triều đại nhà Đường. Có lẽ vào thời Tây Hạ loạn lạc nên người ta đem cất sách vào đây). Một người Anh Sir Aurel Stein là người đầu tiên đã mang một số sách nầy ra ngoài—Cave-temples of the thousand Buddhas; where a monk in 1900 A.D. , sweeping away the collected sand, broke through a partition and found a room full of sutras, ranging in date from the beginning of the 5th to the end of the 10th century, together with block prints and paintings, first brought to light by Sir Aurel Stein.
đôn hoàng thạch thất di thư
4964清代羅振玉等輯刊。包括尚書顧命、沙州志、西州志、五天竺國記、溫泉銘、沙州文錄、別本心經、五臺山讚、老子化胡經、摩尼教經、景教三威蒙度讚、沙州石室文字記等十數種。皆為敦煌鳴沙山石室所發現之唐人手寫古籍,或為不同傳本,或是久佚之書。每書錄文排印,附有輯者或蔣斧之考證與校記。 此外,羅氏另輯有敦煌零拾、敦煌石室碎金(一卷)二書。前者輯錄敦煌石室所發現有關詩、詞、佛曲、小說七種,即韋莊秦婦吟、雲謠集三十首、季布歌、佛曲三種、俚曲三種、小曲三種、搜神記。後者內容包括毛詩豳風、鄭詩箋、春秋左氏傳昭公、漢書匡衡、張禹、孔光列傳、敦煌錄、老子義、南華真經、唐律義疏等殘卷。
; (敦煌石室遺書) Bộ sách do nhóm ông La chấn ngọc sưu tập và ấn hành vào đời Thanh, Trung quốc. Tập sách này gồm hơn 10 loại như: Thượng thư cố mệnh, Sa châu chí, Tây châu chí, Ngũ thiên trúc quốc kí, Ôn tuyền minh, Sa châu văn lục, Biệt bản tâm kinh, Ngũ đài sơn tán, Lão tử hóa hồ kinh, Ma ni giáo kinh, Cảnh giáo tam uy mông độ tán, Sa châu thạch thất văn tự kí, v.v... đều là những sách viết tay xưa của người đời Đường, hoặc là bản lưu truyền khác nhau, hoặc là sách bị thất lạc đã lâu được tìm thấy trong động đá núi Minh sa ở huyện Đôn hoàng. Mỗi quyển đều có phụ thêm phần khảo chứng và giáo đính của người sưu tạp... Ngoài ra, La chấn ngọc còn sưu tập các sách: Đôn hoàng linh thập và Đôn hoàng thạch thất toái kim (1 quyển). Đôn hoàng linh thập thu chép: Thi, Từ, Phật khúc và 7 loại tiểu thuyết (tức là Vi trang tần phụ ngâm, Vân dao tập 30 bài, Quí ba ca, 3 loại Phật khúc, 3 loại lí khúc, 3 loại Tiểu khúc, Sưu thần kí). Còn Đôn hoàng thạch thất toái kim thì gồm có: Mao thi bân phong, Trịnh thi tiên, Xuân thu tả thị truyện chiêu công, Hán thư khuông hành, Trương vũ, Khổng quang liệt truyện, Đôn hoàng lục, Lão tử nghĩa, Nam hoa chân kinh, Đường luật nghĩa sớ, v.v...
đôn đốc
To push—To urge—To hurry.
đông
Hima (S). Winter. Đông an cư: the winter retreat.
; Pùrva (S). East.
; 1) Mùa Đông: Hima or Hemanta (skt)—Winter. 2) Hướng Đông: Purva (skt)—East. 3) Đông đúc: Crowded—Numerous.
đông am
3305又稱東堂。指本寺之前任住持。反之,他山之前任住持、退院長老來住者,則稱西堂、西庵。以東爲主位,西爲賓位(客位)之故,禪林多將本寺退院之長老安單於東堂,故亦以東堂爲本寺退院長老之代稱;對此,他寺之舊主多安單於西堂,待之如賓客,故亦隨之稱爲西堂。在日本,東堂、西堂演變爲一種階級制,西堂位居東堂之下。〔勅修百丈清規卷上祝釐章、住持章、卷下兩序章、禪林象器箋稱呼門〕(參閱「西堂」2583)
; The eastern hall of a monastery.
; (東庵) Cũng gọi Đông đường. Đối lại với Tây đường, Tây am. Danh từ Đông am được dùng để gọi vị trụ trì tiền nhiệm của ngôi chùa này (bản tự); trái lại, vị trụ trì tiền nhiệm của chùa khác đến ở thì gọi là Tây đường, Tây am. Bởi vì Đông là địa vị chủ, Tây là địa vị khách, cho nên trong Thiền lâm, vị trụ trì tiền nhiệm hoặc vị Trưởng lão của các chùa khác đến thường được mời ở Tây đường và tiếp đãi như khách, do đó, các vị này cũng được gọi là Tây đường. Tại Nhật bản, Tây đường đã diễn biến thành chế độ giai cấp: địa vị Tây đường ở dưới Đông đường. [X. Chúc li chương, Trụ trì chương trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng, Lưỡng tự chương Q.hạ; môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Tây Đường).
đông an cư
1550指冬季結制之安居。又作冬會。僧侶於夏安居之外,每年自十月十五日至翌年正月十五日間,禁止外出而專事講學修養,稱為冬安居。印度原始佛教以來,即盛行雨季期間之夏安居,然於西北印度與中亞一帶,氣候較寒,冬季多雪,間有霖雨,外出困難,故仿夏安居之制而行冬安居。諸部派之小乘律對此並無記載;而經典中,最早有冬安居之記載者為大乘律梵網經卷下。我國禪林亦行冬安居,然多行於北方,南地則普遍行夏安居。日本本無冬安居之結制,自道元之後始引進冬安居之法。現在日本曹洞宗之冬安居分成冬前安居(十月十五日至一月十五日)、冬中安居(十一月十五日至二月十五日)、冬後安居(十二月十五日至三月十五日)。又相對於夏安居之稱「雨安居」,冬安居又稱「雪安居」。〔大唐西域記卷一、四分律刪繁補闕行事鈔卷上、禪林象器箋卷四節時門〕
; Cũng giống như Hạ An Cư, nhưng mùa Đông An Cư bắt đầu từ 16 tháng 10 đến 15 tháng giêng—The winter retreat, from 16th of the 10th month to 15 of the 1st month.
; (冬安居) Cũng gọi Đông hội. An cư vào mùa đông. Đông an cư là thời gian từ rằm tháng 10 đến rằm tháng Giêng năm sau, tăng chúng phải ở một chỗ, không được ra ngoài để chuyên tâm học tập tu dưỡng. Ở Ấn độ, từ thời Phật giáo Nguyên thủy đến nay, việc kết Hạ an cư trong mùa mưa rất phổ biến. Nhưng ở miền Tây bắc Ấn độ và vùng Trung á, khí hậu tương đối lạnh, mùa đông nhiều tuyết, có lúc mưa dầm, việc đi lại rất khó khăn, cho nên phỏng theo phép Hạ an cư mà tổ chức Đông an cư. Luật Tiểu thừa của các bộ phái không thấy ghi chép việc này, nhưng trong các kinh điển thì kinh Phạm võng (quyển hạ), vốn là luật của Đại thừa, là bộ kinh sớm nhất có nói về Đông an cư. Các tùng lâm và các chùa ở Trung quốc cũng có thực hành Đông an cư, nhưng phần nhiều chỉ ở miền Bắc, chứ ở miền Nam thì vẫn thịnh hạnh Hạ an cư. Ở Nhật bản vốn không có việc kết chế Đông an cư, nhưng bắt đầu từ ngài Đạo nguyên trở về sau mới thực hành pháp Đông an cư. Hiện nay, pháp Đông an cư của tông Tào động Nhật bản được chia làm ba loại: Đông tiền an cư (từ rằm tháng 10 đến rằm tháng giêng), Đông trung an cư (từ rằm tháng 11 đến rằm tháng 2), Đông hậu an cư (từ rằm tháng 12 đến rằm tháng 3). Ngoài ra, Hạ an cư cũng gọi là Vũ an cư và Đông an cư cũng gọi là Tuyết an cư. [X. Đại đường tây vực kí Q.1; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng; môn Thời tiết trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.4].
đông chinh hội truyện
3297請參閱 唐大和上東征傳 請參閱 東征繪傳 殘餘五卷。又作鑑真和尚東征傳繪緣起、東征繪卷。現藏於日本奈良之唐招提寺。係記載該寺開祖唐僧鑑真傳緣起之繪卷。鑑真應入唐僧榮叡、普照之請,決意渡日傳播戒律,後遇諸多困難,繼而失明,卻仍不改其志。東渡日本後,於東大寺內創建戒壇院。東征繪傳即描繪鑑真創建戒壇院初期之各種因緣。圖繪係永仁六年(1298),六郎兵衛入道蓮行所作,頗受宋代畫風之影響。且由製作年代、由來、作者等,可推知此繪卷爲鎌倉時代佛教繪卷之重要遺作。〔東域傳燈目錄卷下〕
; (東征繪傳) Cũng gọi Giám chân hòa thượng đông chinh truyện hội duyên khởi, Đông chinh hội quyển. Truyện bằng tranh, do Nhập đạo Liên hành sáng tác vào năm Vĩnh nhân thứ 6 (1298), còn sót lại 5 quyển, hiện được cất giữ ở chùa Đường chiêu đề tại Nại lương (Nara) Nhật bản. Nội dung bộ truyện tranh này miêu tả nhân duyên đầu tiên sáng lập viện Giới đàn của hòa thượng Giám chân ở chùa Đông đại tại Nhật bản. Nhận lời thỉnh cầu của hai vị tăng người Nhật là Vinh duệ và Phổ chiếu, ngài Giám chân đời Đường, Trung quốc, quyết chí vượt biển sang Nhật bản để truyền bá giới luật. Ngài gặp rất nhiều khó khăn, rồi tiếp đến bị mù, nhưng ngài vẫn không đổi chí. Sau khi đến Nhật bản, ngài sáng lập chùa Đường chiêu đề ở Nại lương, đồng thời, khai sáng viện Giới đàn tại chùa Đông đại. Đông chinh hội truyện là di phẩm quan trọng trong các truyện tranh của Phật giáo Nhật bản ở thời đại Liêm thương, chịu rất nhiều ảnh hưởng của họa phong đời Tống, Trung quốc. [X. Đông vực truyền đăng mục lục Q.hạ].
đông chí
Winter solstice.
Đông chấn
東震; C: dōng zhèn; J: tōshin; |Đông Á, Trung Hoa.
Đông chấn 東震
[ja] トウシン tōshin ||| East Asia; China. => Á Đông, Trung Hoa.
Đông Cung Phó
(東宮傅, Tōgūfu): theo quy chế của luật lịnh thì đây là vị quan ở Đông Cung chuyên dạy dỗ các Thái Tử còn nhỏ để sau này lên làm vua.
Đông Cốc Diệu Quang
(東谷妙光, Tōkoku Myōkō, ?-1253): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, còn gọi là Minh Quang (明光), hiệu Đông Cốc (東谷), pháp từ của Minh Cực Huệ Tộ (明極慧祚). Ông đã từng sống qua các chùa như Bản Giác Tự (本覺寺) ở Gia Hòa (嘉禾, Phủ Gia Hưng, Tỉnh Triết Giang), Linh Nham Tự (靈巖寺) ở Tô Châu (蘇州, Tỉnh Giang Tô) và Hoa Tạng Tự (華藏寺) ở Thường Châu (常州, Tỉnh Giang Tô). Ông xiển dương giáo pháp ở Vạn Thọ Tự (萬壽寺), Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang) và nhận sắc phong trú trì A Dục Vương Tự (阿育王寺) ở Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang) cũng như Linh Ẩn Tự (靈隱寺) ở Hàng Châu. Ông thị tịch vào ngày mồng 5 tháng 12 năm đầu niên hiệu Bảo Hựu (寶祐).
Đông Cực Thanh Hoa Đại Đế
(東極青華大帝): còn gọi là Thanh Huyền Cửu Dương Thượng Đế (青玄九陽上帝), là hóa thân của Đông Hoa Đế Quân (東華帝君), tức Mộc Công (木公) hay Đoàn Hoa Mộc Công, ngự tại Đông Cực (東極). Hậu thế thường cho là Đông Cực Thanh Hoa Đại Đế và Đông Hoa Đế Quân có cùng nguyên khí hóa hợp; nhưng thực thế thì Đông Hoa Đế Quân có liên quan đến Đông Vương Công (東王公). Vương Công tức là Mộc Công, hay Đông Hoàng Thái Ất (東皇太乙), cùng với Tây Vương Mẫu (西王母) quản lý hai khí, phân thành âm dương, định ra càn khôn; về sau hóa thành Đông Hoa Đại Đế (東華大帝) và Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn (太乙救苦天尊). Khí của Thanh Hoa Đại Đế hóa thành Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn, thệ nguyện cứu độ chúng sanh, nên được tôn xưng là “Vạn Vị Đế Chúa Đông Cực Thanh Hoa Đại Đế (萬彙帝主東極青華大帝)”, thuộc vào một trong Tứ Ngự của Đạo Giáo. Ngài Cứu Khổ Thiên Tôn cùng với Chu Lăng Thiên Tôn (朱陵天尊) và Độ Mạng Thiên Tôn (度命天尊) được gọi là Thái Ất Tam Cứu Khổ, là vị thần chủ tể tối cao cứu độ vạn loại. Sau khi biến hóa thành Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn, Đông Cực Thanh Hoa Đại Đế lại ứng hóa khắp mười phương, nên có hiệu là “Thập Phương Cứu Khổ Thiên Tôn (十方救苦天尊).” Chư vị Thiên Tôn trong 10 phương có hiệu là: Đông Phương Bảo Hoàng Thượng Thiên Tôn (東方寶皇上天尊), Nam Phương Huyền Chơn Vạn Phước Thiên Tôn (南方玄眞萬福天尊), Tây Phương Thái Diệu Chí Cực Thiên Tôn (西方太妙至極天尊), Bắc Phương Huyền Thượng Ngọc Thần Thiên Tôn (北方玄上玉宸天尊), Đông Nam Phương Hiếu Sanh Độ Thiên Tôn (東南方好生度天尊), Đông Bắc Phương Độ Tiên Thượng Thánh Thiên Tôn (東北方度仙上聖天尊), Tây Nam Phương Thái Linh Hư Hoàng Thiên Tôn (西南方太靈虛皇天尊), Tây Bắc Phương Vô Lượng Thái Hoa Thiên Tôn (西北方無量太華天尊), Thượng Phương Ngọc Hư Minh Hoàng Thiên Tôn (上方玉虛明皇天尊) và Hạ Phương Chơn Hoàng Động Thần Thiên Tôn (下方眞皇洞神天尊); được gọi chung là Linh Bảo Thập Phương Cứu Khổ Thiên Tôn (靈寶十方救苦天尊). Vị Thiên Tôn này còn quản lý luôn cả việc thần quỷ dưới Minh Phủ, hóa thành Thập Điện Minh Vương (十殿冥王) như: Đông Phương Thiên Tôn hóa thành Tần Quảng Vương (秦廣王) của điện thứ nhất, cư trú ở Huyền Minh Cung (玄冥宮); Nam Phương Thiên Tôn hóa thành Sở Giang Vương (楚江王) của điện thứ hai, cư tại Phổ Minh Cung (普明宮); Tây Phương Thiên Tôn hóa thành Tống Đế Vương (宋帝王) của điện thứ ba, cư tại Củ Tuyệt Cung (糾絕宮); Bắc Phương Thiên Tôn hóa thành Ngũ Quan Vương (五官王) của điện thứ tư, cư tại Thái Hòa Cung (太和宮); Đông Bắc Phương Thiên Tôn hóa thành Diêm La Vương (閻羅王) của điện thứ năm, cư tại Củ Luân Cung (糾倫宮); Đông Nam Phương Thiên Tôn hóa thành Biện Thành Vương (卞城王) của điện thứ sáu, cư tại Minh Thần Cung (明晨宮); Tây Nam Phương Thiên Tôn hóa thành Thái Sơn Vương (泰山王) của điện thứ bảy, cư tại Thần Hoa Cung (神華宮); Tây Bắc Phương Thiên Tôn hóa thành Bình Đẳng Vương (平等王) của điện thứ tám, cư tại Thất Phi Cung (七非宮); Thượng Phương Thiên Tôn hóa thành Đô Thị Vương (都市王) của điện thứ chín, cư tại Bích Chơn Cung (碧眞宮); và Hạ Phương Thiên Tôn hóa thành Chuyển Luân Vương (轉輪王) của điện thứ mười, cư tại Túc Anh Cung (肅英宮). Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn có đầy đủ thần lực tự tại, sức trí tuệ lớn vô lượng, thường giải ách nạn, phá tà, hàng ma, cũng như giải trừ hết thảy bệnh tật cho con người; cho nên cũng có tên là Thái Ất Y Vương (太乙醫王). Ngài có đủ sức thần thông nên có thể ngao du khắp nơi như lên trời, xuống cõi người, Địa Phủ, v.v. Vì vậy, trên Trời Ngài có tên là Thái Nhất Phước Thần (太一福神), trên đời gọi là Đại Từ Nhân Giả (大慈仁者), dưới lòng đất là Nhật Diệu Địa Quân (日耀地君), nơi chỗ ngoại đạo là Sư Tử Minh Vương (獅子明王), dưới Thủy Phủ là Động Uyên Đế Quân (洞淵帝君). Ngài thường hóa hiện các thân hình, theo âm thanh để cứu độ chúng sanh, nên cũng được gọi là Thái Ất Tầm Thanh Cứu Khổ Thiên Tôn (太乙尋聲救苦天尊). Trong Tống Sử (宋史), phần Phương Kỷ Truyện Hạ (方技傳下), Lâm Linh Tố (林靈素) có câu: “Thần Tiêu Ngọc Thanh Vương giả, Thượng Đế chi trưởng tử, kỳ đệ hiệu Thanh Hoa Đế Quân giả, chủ Đông phương (神霄玉清王者、上帝之長子、其弟號青華帝君者、主東方, Thần Tiêu Ngọc Thanh Vương là trưởng tử của Thượng Đế, em trai ông hiệu Thanh Hoa Đế Quân, chủ quản phương Đông).” Hay như trong bài thơ Bộ Hư (步虛) của Lục Du (陸游, 1125-1210) nhà Tống có câu: “Bán túy kỵ nhất hạc, khứ yết Thanh Hoa Quân (半醉騎一鶴、去謁青華君, nữa say cỡi con hạc, đến yết Thanh Hoa Quân).” Trong Thái Thượng Vô Cực Đại Đạo Tam Thập Lục Bộ Tôn Kinh (太上無極大道三十六部尊經) có câu kính lễ rằng: “Chí tâm quy mạng lễ, Thanh Hoa Trường Lạc Giới, Đông Cực Diệu Nghiêm Cung, Thất Bảo phương khiên lâm, Cửu Sắc Liên Hoa tòa, vạn chơn hoàn củng nội, bách ức thoại quang trung, Ngọc Thanh Linh Bảo Tôn, Ứng Hóa Huyền Nguyên Thỉ, hiệu Kiếp Thùy Từ Tế, Đại Thiên Cam Lồ Môn, Diệu Đạo Chơn Thân, Tử Kim Thoại Tướng, Tùy Cơ Phó Cảm, Thệ Nguyện Vô Biên, Đại Thánh Đại Từ, Đại Bi Đại Nguyện, Thập Phương Hóa Hiệu, Phổ Độ Chúng Sanh, Ức Ức Kiếp Trung, Độ Nhân Vô Lượng, Tầm Thanh Phó Cảm, Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn, Thanh Huyền Cửu Dương Thượng Đế (志心皈命禮、青華長樂界、東極妙嚴宮、七寶芳騫林、九色蓮花座、萬真環拱內、百億瑞光中、玉清靈寶尊、應化玄元始、號劫垂慈濟、大千甘露門、妙道眞身、紫金瑞相、隨機赴感、誓願無邊、大聖大慈、大悲大願、十方化號、普度眾生、億億劫中、度人無量、尋聲赴感、太乙救苦天尊、青玄九陽上帝, Một lòng quy mạng lễ, Thanh Hoa Trường Lạc Giới, Đông Cực Diệu Nghiêm Cung, rừng hương thơm Bảy Báu, tòa Hoa Sen Chín Sắc, vạn loài đều củng phục, trong trăm ức hào quang, Đấng Ngọc Thanh Linh Bảo, Ứng Hóa Huyền Nguyên Thỉ, hiệu Kiếp Thùy Từ Tế, Đại Thiên Cam Lồ Môn, Diệu Đạo Chơn Thân, Tử Kim Thoại Tướng, Tùy Cơ Phó Cảm, Thệ Nguyện Vô Biên, Đại Thánh Đại Từ, Đại Bi Đại Nguyện, Mười Phương Hóa Hiệu, Phổ Độ Chúng Sanh, Trong Muôn Ức Kiếp, Độ Người Vô Lượng, Tầm Thanh Phó Cảm, Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn, Thanh Huyền Cửu Dương Thượng Đế).” Ngày thánh đản của Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn là 11 tháng 11 Âm Lịch.
đông dương đại học
3299位於日本東京文京區。第一任校長爲文學博士井上圓了,因受西洋哲學思想之刺激,遂致力於東方思想之復興與佛教哲學之推廣,而於明治二十年(1887)開創臨濟宗麟祥院山內之私立哲學館,此即爲東洋大學之前身。明治三十九年,改稱爲私立東洋大學。第二次世界大戰時嚴重燒毀,戰後復建,於昭和二十四年(1949)四月改爲新制大學。附設有東洋學研究所,課程包括印度學、佛教學,中國哲學、中國文學、日本思想等。〔東洋大學略年表(昭和三十三年刊)、東洋大學要覽、東洋哲學(明治二十七年創刊)、觀想(大正十三年創刊)、東洋大學學報(昭和四年創刊)〕
; (東洋大學) Trường Đại học ở khu Văn kinh tại thủ đô Đông kinh, Nhật bản. Vị Hiệu trưởng đầu tiên là Tiến sĩ văn học Tỉnh thượng Viên Liễu; nhân sự khích thích của tư tưởng Tây phương mà ông ra sức phục hưng tư tưởng Đông phương và mở rộng triết học Phật giáo. Vào năm Minh trị 20 (1887), ông khai sáng viện Triết học Tự lập ở trong viện Lân tường thuộc tông Lâm tế. Năm Minh trị 39 (1906), viện này được đổi tên là Đại học Tư lập Đông dương. Vào thời đại chiến thế giới lần thứ 2, trường này bị hủy hoại nặng nề, sau chiến tranh mới được xây dựng lại. Vào năm Chiêu hòa 24 (1949), trường được đổi tên là Đại học Tân chế, thiết lập thêm sở nghiên cứu Đông dương học, chương trình nghiên cứu gồm có: Ấn độ học, Phật giáo học, Triết học Trung quốc, Văn học Trung quốc, Tư tưởng Nhật bản v.v... [X. Đông dương Đại học lược niên biểu; Đông dương Đại học yếu lãm; Đông dương triết học; Quán tưởng; Đông dương Đại học học báo].
Đông Dương Đức Huy
(東陽德輝[煇], Tōyō Tehi [Tokki], ?-?): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Nguyên, hiệu là Đông Dương (東陽). Vào năm thứ 2 (1329) niên hiệu Thiên Lịch (天曆) đời vua Minh Tông, ông làm Chưởng Lý Bách Trượng Tự (百丈寺), rồi đến năm đầu (1330) niên hiệu Chí Thuận (至順), ông tiến hành trùng tu ngôi Pháp Đường của chùa. Vào năm đầu (1335) niên hiệu Chí Nguyên (至元) đời vua Thuận Tông, ông vâng sắc chỉ biên tập bộ Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (勅修百丈清規) và 2 năm sau cho công bố trong khắp các tùng lâm thiên hạ. Ông được ban cho hiệu là Quảng Huệ Thiền Sư (廣慧禪師), không rõ năm sinh, năm mất và nguyên quán của ông. Trong phần mục lục của quyển 4 bộ Tăng Tập Tục Truyền Đăng Lục (增集續傳燈錄) có nêu ra tên 10 người pháp từ của Hối Cơ Nguyên Hy (晦機元熙), đời thứ 5 pháp phái của Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲), trong số đó có tên Đông Lâm Đông Dương Đức Huy Thiền Sư (東林東陽德輝禪師), nhưng chẳng thấy truyền ký nào về ông cả.
đông dạ
1551特指冬至之前夕。禪林中,於此夜必至土地堂、護法神堂等處念誦。幻住庵清規之月進條(卍續一一一‧四八八下):「其冬夜土地堂念誦,及冬朝講禮。」
; Đêm trước hôm Đông Chí—The night before the winter soltice.
; (冬夜) Đêm hôm trước ngày Đông chí. Trong Thiền lâm, vào đêm đó phải đến nhà thờ thần Thổ địa và nhà thờ thần Hộ pháp để tụng niệm. Mục Nguyệt tiến trong Huyễn trụ am thanh qui (Vạn tục 111, 488 hạ), nói: Đông dạ tụng niệm ở nhà thờ thần Thổ địa, và Đông triêu (sáng sớm ngày Đông chí) thì có lễ giảng kinh.
đông hoà thiền tự
3297位於臺灣臺北市。清光緒三十四年(1908)由心源、善慧、覺力等共同創建。宣統二年(1910)完成觀音禪堂、祖堂等堂宇。當時,日本統治臺灣,取寺名爲「曹洞宗大本山別院」。心源等人感於臺灣青年不能進中學讀書,乃於民國五年(1916),於觀音禪堂開設「私立臺灣佛教中學林」,二十四年改爲「私立臺北中學」。又於十二年完成本堂大殿之興建。臺灣光復後,由心源和尚任住持,改寺名爲東和禪寺,臺北中學亦改爲泰北中學。自五十九年至七十五年七月由賢頓法師任住持。
đông hán hoàn đế
3307東漢第十一代皇帝,爲東漢皇帝信奉佛教之始。本初元年至永康元年(146~167)在位。根據後漢書卷七、卷三十記載,延熹九年(166),桓帝於濯龍宮中設置華蓋,並祀浮屠(佛陀)及老子。此係因桓帝將佛、道二教之宗旨教義混同爲一,故有一併祭祀之不當作法。蓋道家崇尚清淨無爲,重視生命,反對殺生,並極力主張少欲去奢,由是而衍生後世企求長生不老的黃老之術。桓帝即誤將佛陀視爲具有禳災招福、不老長壽等靈力之信仰對象。此外,桓帝又對當時前來中土傳教之西域沙門甚爲禮敬,然因不解佛教之真義,故每視之爲巫祝或仙術之修道者。
; (東漢桓帝) Vị Hoàng đế đời thứ 11 của nhà Đông Hán và là vị Hoàng đế đầu tiên của nhà Đông Hán tin thờ Phật giáo. Ông trị vì từ niên hiệu Bản sơ năm đầu đến niên hiệu Vĩnh khang năm đầu (146 - 167). Cứ theo Hậu Hán thư quyển 7, quyển 30 chép, thì năm Diên hi thứ 9 (166), Hoàn đế sai đặt lọng hoa trong cung Trạc long để thờ Phật và Lão tử. Bởi vì nhà vua tin lầm rằng đức Phật cũng có sức linh thiêng, có thể trừ tai họa, ban phúc lành, cho người ta sốngmãi không chết giống như thuật trường sinh bất tử của Đạo gia, nên vua hợp chung tông chỉ giáo nghĩa của Phật giáo và Đạo giáo bằng cách thờ cả Phật và Lão tử trong cung. Ngoài ra, Hoàn đế cũng rất tôn kính các vị sa môn đương thời từ Tây vực đến Trung quốc truyền giáo, nhưng vì nhà vua không hiểu chân nghĩa của Phật giáo nên thường cho các vị sa môn ấy là những người tu đạo có bùa chú hoặc phép tiên!
đông hán minh đế
3306東漢第二代皇帝。姓劉,名莊。廟號顯宗。中元二年至永平十八年(57~75)在位。據晉代袁宏所著後漢紀記載,東漢明帝曾夜夢金人飛行於殿間,隔日問於群臣,臣答以「佛」。帝乃派遣郎中蔡愔西赴天竺求佛法,得沙門攝摩騰、竺法蘭以白馬負經而返,遂爲之立白馬寺於洛陽,故明帝感夢求法爲佛教輸入中國之始。帝於永平十八年駕崩,享年四十八。
; (東漢明帝) Vị Hoàng đế đời thứ 2 của nhà Đông Hán, họ Lưu, tên Trang, miếu hiệu Hiển tông, ở ngôi từ năm Trung nguyên thứ 2 đến năm Vĩnh bình 18 (57 - 75). Cứ theo Hậu Hán kỉ của Viên hoành đời Tấn chép, thì vua Minh đế nhà Đông Hán ban đêm chiêm bao thấy người vàng bay trong cung điện, sáng hôm sau, vua hỏi các quan, các quan đều nói đó là Phật. Vua bèn phái quan Lang trung tên là Thái âm đi Tây trúc cầu Phật pháp, giữa đường gặp hai vị sa môn là Nhiếp ma đằng và Trúc pháp lan dùng ngựa trắng đang mang kinh Phật đến Trung quốc, vua liền làm chùa Bạch mã cho hai vị ở để dịch kinh. Việc vua Minh đế cảm mộng cầu pháp là bắt đầu sự du nhập Phật giáo vào Trung quốc. Vua mất vào năm Vĩnh bình 18 (75), hưởng dương 48 tuổi.
đông hạc tự
3309位於韓國忠清南道公州郡。爲新羅統一時代聖德王二十三年(724),上願祖師建菴開創。後經懷義重修,改名「上願寺」。高麗太祖四年(921),道託國師復予擴建,而成爲太祖之願堂、國運之祈願所;太祖晚年始改稱東鶴寺。
Đông Hải
(東海): có mấy nghĩa. (1) Tên biển, tùy theo thời đại mà tên gọi khác nhau. Đại để, dưới thời Tiền Tần (từ năm 221 ttl. trở về trước), phần lớn chỉ Hoàng Hải (黃海) hiện tại. Từ thời Tần (秦, 221-207 ttl.), Hán (漢, 202 ttl-220) trở về sau, phần lớn chỉ cho Hoàng Hải, Đông Hải hiện tại. Từ thời nhà Minh (明, 1368-1644) trở về sau, chỉ tương đương với Đông Hải hiện tại. Hải vực của Đông Hải ngày nay, từ phía Bắc đi về bờ Bắc cửa khẩu Trường Giang (長江), phía Nam lấy Đảo Nam Áo (南澳島) của Tỉnh Quảng Đông (廣東省) đến Tỉnh Đài Loan (台灣省) làm ranh giới, phía Đông đến quần đảo Lưu Cầu (琉球) của Nhật Bản. (2) Chỉ chung cho biển lớn ở phương Đông. Như trong bài Thất Phát (七發) của Mai Thừa (枚乘, ?-140) nhà Hán có đoạn: “Bỉnh ý hồ Nam sơn, thông vọng hồ Đông hải, hồng động hề thương thiên, cực lự hồ nhai sĩ (秉意乎南山、通望乎東海、虹洞兮蒼天、極慮乎崖涘, vững ý ôi núi Nam, nhìn thoáng ôi biển Đông, cầu vồng chừ trời xanh, tận ý ôi bờ vực).” Hay trong tác phẩm Tây Thục Mộng (西蜀夢) của Quan Hán Khanh (關漢卿, khoảng 1220-1300) nhà Nguyên có câu: “Lai thời tiết ngọc thiềm xuất Đông hải, khứ thời tiết tàn nguyệt hạ Tây lâu (來時節玉蟾出東海、去時節殘月下西樓, thời tiết đến cóc ngọc hiện Đông biển, thời tiết đi trăng tàn xuống Tây lầu).” (3) Chỉ địa khu Tân Hải (濱海) của Trung Quốc. (4) Tên gọi chung của 4 Huyện lớn của Nhật là Aichi-ken (愛知縣, Huyện Ái Tri), Gifu-ken (岐阜縣, Huyện Kì Phụ), Mie-ken (三重縣, Huyện Tam Trọng) và Shizuoka-ken (靜岡縣, Huyện Tĩnh Cương).
đông hải nhã
3304請參閱 集神州三寶感通錄 請參閱 集神州三寶感通錄 請參閱 義天目錄 柳宗元撰。收於柳河東集卷二十銘雜題部、全唐文卷五八六、居士傳卷十九。內容敘述一海神東海若,登上孟豬岡,拾有二瓠,中混海水且滿糞壤蟯蚘,海神將之密封投海。後一瓠從海神之教,於荒島破瓠,去群穢而令海水復歸於大海;一瓠則不知己之臭穢,猶以海水自負,遂令海水不復歸大海。此寓言,後者寓意我即本來佛,撥無現實之五濁、三有、無明、十二類等,固執於無善無惡、無因無果、無修無證、無佛無眾生等性空之立場;前者寓意從聖人之教,修念佛三昧,捨去群惡,廣集萬行,居聖者之地,得同於佛之智見。
; (東海若) Sách, do Liễu tôn nguyên soạn vào đời Đường, được xếp vào Minh tạp đề bộ trong Liễu hà đông tập quyển 20, Toàn Đường văn quyển 586 và Cư sĩ truyện quyển 19. Nội dung kể truyện về một vị thần biển Đông (Đông hải nhược) lên gò Mạnh trư nhặt được hai quả bầu, trong chứa đầy nước biển hòa lẫn với phân và giòi bọ lúc nhúc, thần biển đem bịt kín lại rồi liệng hai quả bầu xuống biển. Sau, một quả nghe lời chỉ dạy của thần biển, giạt vào hoang đảo vỡ ra, gạn bỏ phân và giòi bọ bẩn thỉu đi, rồi để nước biển trở về biển cả. Còn quả bầu kia thì không biết mình hôi thối, cứ tiếp tục mang nước biển trong mình, nên nước biển không thể trở về được với biển cả. Trong truyện ngụ ngôn này, quả bầu sau ngụ ý ta tức là Phật bản lai, nhưng không thừa nhận cuộc đời hiện thực có đầy dẫy 5 trọc ác, không có ba cõi, không có vô minh, v.v...; đứng trên lập trường cố chấp tính không, cho là không thiện không ác, không nhân không quả, không tu không chứng, không Phật không chúng sinh, v.v... Còn quả bầu trước ngụ ý theo lời Thánh nhân chỉ bảo, biết tu niệm Phật tam muội; bỏ các điều ác, làm các việc thiện, ở vào địa vị bậc Thánh, được ngang với trí kiến của Phật.
đông lâm ngữ lục
3298凡四卷。日僧卍山道白(1635~1688)撰。全稱卍山禪師住東林寺語錄。收於大正藏第八十二冊。係由湛堂超然所編之東林前錄卷上、卷下,與三洲白龍所編之東林後錄卷上、卷下集錄而成。內容包括前錄之小參、茶話,普說、法語、直贊、銘、雜著、偈頌、西遊草、東歸草等,以及後錄之法語、小佛事、贊、記、序、跋、詩、西遊草等。
; (東林語錄) Gọi đủ: Vạn sơn thiền sư trụ Đông lâm tự ngữ lục. Gồm có 4 quyển, do ngài Vạn sơn Đạo bạch (1635 - 1688) soạn, thu vào Đại chính tạng tập 82. Sách này do thu chép Đông lâm tiền lục của ngài Trạm đường Siêu nhiên và Đông lâm hậu lục của ngài Tam châu Bạch long mà thành. Nội dung gồm: Tiểu tham, Trà thoại, Phổ thuyết, Pháp ngữ, Chân tán, Minh, Tạp trứ, Kệ tụng, Tây du thảo, Đông qui thảo trong Tiền lục; và Pháp ngữ, Tiểu Phật sự, Tán, Kí, Tự, Thi, Tây du thảo v.v... trong Hạu lục.
Đông Lâm Thường Thông
(東林常聰, Tōrin Jōsō, 1025-1091): vị tăng của Phái Hoàng Long (黃龍派) thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Diên Bình (延平, Nam Bình, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Thí (施). Sau khi xuất gia, ông đến tham học với Hoàng Long Huệ Nam (黃龍慧南) trong suốt 20 năm trường, được trao truyền cho huyền chỉ đại pháp, rồi đến trú tại Lặc Đàm Tự (泐潭寺), sau đó chuyển đến Đông Lâm Tự (東林寺) ở Giang Châu (江州, Cửu Giang, Tỉnh Giang Tây). Ngôi chùa này xưa kia vốn là Luật Viện, nhưng theo chiếu chỉ của vua Thần Tông vào năm thứ 3 (1080) niên hiệu Nguyên Phong (元豐), thì được đổi thành ngôi Thiền tự. Khi ấy vị Thái Thú Nam Xương (南昌, Tỉnh Giang Tây) là Vương Thiều (王韶) mới cung thỉnh Hối Đường Tổ Tâm (晦堂祖心) về đây trú trì, thế nhưng Hối Đường lại cử Thường Thông đến thay thế. Chính nơi đây ông đã tuyên xướng tông phong của mình, tiếp độ rất nhiều học đồ và suốt 60 năm trường nỗ lực nuôi dưỡng nhân tài. Sau đó, có chiếu chỉ mời ông đến trú trì Trí Hải Thiền Viện (智海禪院) ở Tướng Quốc Tự (相國寺), nhưng ông cố từ không nhận. Sau ông được ban cho Tử Y cùng với hiệu là Quảng Huệ Thiền Sư (廣慧禪師). Hơn nữa, vào năm thứ 3 niên hiệu Nguyên Hựu (元祐), thể theo lời trình tấu của Từ Vương (徐王), ông được ban cho hiệu khác là Chiếu Giác Thiền Sư (照覺禪師). Vào ngày 30 tháng 9 năm thứ 6 (1091) đồng niên hiệu trên, ông thị tịch, hưởng thọ 67 tuổi.
đông lâm thập bát đại hiền
Mười tám bậc Thượng Thủ trong số 123 bậc Hiền của Bạch Liên Xã—Eighteen highest virtues among 123 high virtues of the White Lotus Congregation. 1) Huệ Viễn Đại Sư: Great Master Hui-Yuan. 2) Huệ Vĩnh Đại Sư: Great Master Hui-Vinh. 3) Huệ Trì Pháp Sư: Dharma Master Hui-Tsi. 4) Đạo Sanh Pháp Sư: Dharma Master Tao-Sinh. 5) Phật Đà Da Xá Tôn giả: Great Venerable Buddhayasas. 6) Phật Đà Bạt Đà La Tôn giả: Great Venerable Buddhabhadra. 7) Huệ Duệ Pháp Sư: Dharma Master Hui-Due. 8) Đàm Thuận Pháp Sư: Dharma Master Tan-Shuan. 9) Đạo Kính Pháp Sư: Dharma Master Tao-Ching. 10) Đàm Hằng Pháp Sư: Dharma Master Tan-Hung. 11) Đạo Bính Pháp Sư: Dharma Master Tao-Bing. 12) Đàm Tiên Pháp Sư: Dharma Master Tan-Tsien. 13) Danh sĩ Lưu Di Dân: Famed Scholar Liu-Di-Ming. 14) Danh sĩ Lôi Thứ Tôn: Famed Scholar Lui-Tsi-Tsun. 15) Danh sĩ Vương Dã: Famed Scholar Wang-De. 16) Danh sĩ Vương Thuyên: Famed Scholar Wang Tsuyen. 17) Danh sĩ Tôn Bính: Famed Scholar Tsun Bing. 18) Danh sĩ Châu Tục Chi: Famed Scholar Tsu-Ji. ** For more information, please see Huệ Viễn.
đông lâm tự
3298位於江西九江縣南廬山西北麓。爲我國佛教淨土宗(蓮宗)發源地。東晉太元六年(381),慧遠於此建寺講學,並創蓮社(白蓮社),倡導彌陀淨土法門,國內外名僧雅士多來此結社念佛,後世遂推尊慧遠爲淨土宗始祖。唐時最盛,有殿、廂、塔、室三一○餘間。唐武宗會昌法難後,宣宗嘗勅修之。宋元豐年間,神宗勅令改稱「東林太平興國禪院」。元至大年間,普度於此撰「廬山蓮宗寶鑑」,宣揚蓮宗教義。揚州高僧鑑真東渡日本前,曾來此寺,後與寺僧智恩同渡日本講經,慧遠東林淨土宗之教義亦隨之傳入日本;日本東林教即以慧遠爲始祖。 寺前有虎溪,相傳慧遠志心修行,送客不過虎溪橋。詩人陶淵明、道士陸修靜常來此談儒說道,一次送陶、陸出門,邊走邊談,不覺已過橋,神虎吼叫不止,三人相視大笑,此即「虎溪三笑」典故之由來,至今傳誦不絕。寺東之羅漢松相傳爲慧遠所栽植。古松旁爲護法殿,內供奉金面金身之彌勒和韋馱像。正殿名爲神運寶殿,供奉釋迦、文殊、普賢、阿難、迦葉等塑像。殿兩側爲十八高賢、三笑二堂。殿之前後有聰明泉、石龍泉、白蓮池、出木池等古蹟,並有晉之石塑、唐之經幢、唐明清三代之文物碑刻。歷代文人遊此者甚眾,李白、白居易、柳公權、陸游、王陽明等均曾於此題詩立碑。
; (東林寺) Chùa ở chân núi phía tây bắc núi Lô sơn, phía nam huyện Cửu giang tỉnh Giang tây, Trung quốc, do ngài Tuệ viễn sáng lập vào năm Thái nguyên thứ 6 (381) đời Đông Tấn. Đây là nơi bắt nguồn tông Tịnh độ (Liên tông) của Phật giáo Trung quốc. Ngài Tuệ viễn thành lập Bạch liên xã, đề xướng pháp môn Di đà Tịnh độ, các vị danh tăng, thân sĩ phần nhiều đến đây kết xã niệm Phật, do đó, đời sau bèn suy tôn ngài Tuệ viễn là Sơ tổ tông Tịnh độ. Chùa này thịnh nhất vào đời Đường, tất cả có hơn 310 gian gồm điện, đường, liêu, thất v.v... Sau pháp nạn Hội xương, vua Tuyên tông ban lệnh trùng tu. Khoảng năm Nguyên phong đời Tống, vua Thần tông ban lệnh đổi tên là Đông lâm thái bình hưng quốc thiền viện. Khoảng năm Chí đại (1308 - 1311) đời Nguyên, ngài Phổ độ soạn Lô sơn liên tông bảo giám tại đây để xiển dương giáo nghĩa Liên tông. Vị cao tăng tại Dương châu là ngài Giám chân trước khi sang Nhật bản đã từng ở chùa này. Về sau, ngài cùng với vị tăng ở chùa này tên là Trí ân cùng sang Nhật bản giảng kinh, giáo nghĩa Đông lâm Tịnh độ tông của ngài Tuệ viễn cũng theo đó mà truyền vào Nhật bản. Giáo phái Đông lâm của Nhật bản cũng tôn ngài Tuệ viễn làm Sơ tổ. Trước chùa có cây cầu Hổ khê, tương truyền ngài Tuệ viễn vì dốc lòng tu hành nên tiễn khách không bao giờ quá cầu Hổ khê. Nhà thơ Đào uyên minh và đạo sĩ Lục tu tĩnh thường đến chùa đàm đạo với Tuệ viễn. Có lần ngài Tuệ viễn tiễn hai người ra cửa, vừa đi vừa mải nói chuyện, không biết đã qua cầu, thần hổ bèn kêu rống lên, ba người nhìn nhau cười lớn, đó tức là nguồn gốc của điển tích Hổ khê tam tiếu (ba người cười ở khe hổ) mà cho đến nay vẫn còn được truyền tụng. Tương truyền, cây tùng La hán ở phía đông chùa là do ngài Tuệ viễn trồng; bên cạnh cây tùng này là điện Hộ pháp, bên trong thờ tượng bồ tát Di lặc và tượng Vi đà toàn thân mầu vàng ròng. Ngôi chính điện gọi là Thần vận bảo điện, thờ các tượng Phật Thích ca, bồ tát Văn thù, Phổ hiền, tôn giả A nan, Ca diếp v.v... Hai bên điện là hai nhà thờ Thập bát cao hiền (18 vị hiền sĩ) và Hổ khê tam tiếu. Phía trước và phía sau điện có các di tích cổ như: Suối Thông minh, suối Thạch long, ao Bạch liên, ao Xuất mộc v.v... và tượng đá đời Tấn, trụ khắc kinh đời Đường, bia khắc các văn hiến của ba đời Đường, Minh, Thanh. Văn nhân thi sĩ trong các thời đại đến đây rất nhiều, như Lí bạch, Bạch cư dị, Liễu công quyền, Lục du, Vương dương minh v.v... đều có đề thơ, dựng bia ở đây.
Đông Lăng Vĩnh Dư
(東陵永璵, Tōrei Eiyo, 1285-1365): vị tăng của Phái Hoằng Trí (宏智派) thuộc Tào Động Tông Trung Quốc, hiệu là Đông Lăng (東陵), xuất thân Minh Châu (明州, Phủ Ninh Ba, Tỉnh Triết Giang), pháp từ của Vân Ngoại Vân Tụ (雲外雲岫) ở Thiên Đồng Sơn (天童山) vùng Minh Châu. Ông trú tại Thiên Ninh Tự (天寧寺) trong làng và đến năm thứ 2 (1351) niên hiệu Quán Ứng (觀應) thì sang Nhật Bản. Thể theo lời mời của Mộng Song Sơ Thạch (夢窻疎石), ông sống qua một số chùa như Thiên Long Tự (天龍寺, Tenryū-ji), Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji), Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji), Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji), v.v. Vào năm thứ 4 (1365) niên hiệu Trinh Trị (貞治), ông thị tịch và được ban cho thụy hiệu là Diệu Ứng Quang Quốc Huệ Hải Huệ Tế Thiền Sư (妙應光國慧海慧濟禪師). Môn phái của ông được gọi là Đông Lăng Phái (東陵派). Trước tác của ông có Dư Đông Lăng Nhật Bản Lục (璵東陵日本錄).
đông lăng vĩnh dư
3306(?~1365)元代臨濟宗僧。四明(浙江鄞縣)人。號東陵。夙昔遊方,參謁諸老,未久即登天童山,隨從雲外雲岫,領得洞上之宗要;其後,開法於天寧寺。順帝至正十一年(1351,即日本觀應二年)東渡日本,參謁夢窓䟽石。歷住天龍、南禪、建長、圓覺等諸寺,法化甚盛。日本貞治四年示寂,享年、法臘均不詳。弟子爲之建塔於南禪之西雲菴。又詔賜「妙應光國慧海慈濟禪師」之諡號。此外,東陵永璵之法系稱爲東陵派,爲日本禪宗二十四流之一。〔本朝高僧傳卷三十〕
Đông Minh Huệ Nhật
(東明慧日, Tōmei Enichi, 1272-1340): vị tăng của Phái Hoằng Trí (宏智派) thuộc Tào Động Tông Trung Quốc, xuất thân Huyện Hải Định (海定縣), Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang), họ Trầm (沉), hiệu là Đông Minh (東明), sinh vào năm thứ 8 niên hiệu Hàm Thuần (咸淳). Năm 9 tuổi, ông xuất gia ở Đại Đồng Tự (大同寺) vùng Phụng Hóa (奉化, Tỉnh Triết Giang). đến năm 13 tuổi thì xuống tóc và 17 tuổi thọ giới Cụ Túc. Tiếp theo, ông đến tham vấn Trực Ông Đức Cử (直翁德擧) ở Thiên Ninh Tự (天寧寺), Minh Châu và được khế ngộ. Sau đó, ông đi chiêm bái và tham học ở một số chùa như Thiên Đồng (天童), Linh Ẩn (靈隱), Vạn Thọ (萬壽), Tương Sơn (蔣山), Thừa Thiên (承天), v.v., và khai đường thuyết pháp ở Bạch Vân Sơn Bảo Khánh Tự (白雲山寳慶寺) vùng Minh Đường (明堂). Sống tại các nơi đó được 6 năm, vào năm thứ 2 (1309) niên hiệu Diên Khánh (延慶), thể theo lời thỉnh cầu của Tướng Quân Bắc Điều Trinh Thời (北條貞時), ông sang Nhật Bản, trú tại Thiền Hưng Tự (禪興寺) vùng Tương Mô (相模, Sagami). Sau đó, ông lại được mời đến trú trì Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji), nhưng chẳng bao lâu sau ông dựng một ngôi Bạch Vân Am (白雲庵) trong khuôn viên chùa này và lui về ẩn cư. Từ đó trở về sau, ông đã từng sống qua một số chùa khác như Vạn Thọ (萬壽), Thọ Phước (壽福), Đông Thắng (東勝), Kiến Trường (建長), v.v. Vào tháng 6 năm thứ 3 (1340) niên hiệu Lịch Ứng (曆應), ông lại trở về đó ẩn cư ở Bạch Vân Am và đến ngày mồng 4 tháng 10 thì thị tịch, hưởng thọ 69 tuổi đời và 53 hạ lạp. Trước tác của ông có Bạch Vân Đông Minh Hòa Thượng Ngữ Lục (白雲東明和尚語錄) 3 quyển.
đông minh huệ nhật
3297(1272~1340)元代曹洞宗僧。明州定海(浙江鎮海)人,俗姓沈。號東明。九歲入奉化大同寺爲童侍,十三歲剃髮,十七歲受具足戒。後參學於天寧山直翁德舉,有所契悟。未幾,遊歷天童山、靈隱、萬壽、蔣山等。後東歸,開教於明堂白雲寺,爲直翁之法嗣,住六年,德風被及四方。至大元年(1308),應日本之聘東渡,翌年抵達。大揚曹洞宗風,歷住禪興、圓覺、建長、萬壽、東勝、壽福等諸剎,引接眾人,三十年如一日。日本光明天皇曆應三年入寂,世壽六十九,法臘五十三。著有白雲東明和尚語錄三卷等。其法流稱東明流,爲日本禪宗二十四流之一。〔延寶傳燈錄卷四、日本洞上聯燈錄卷一〕
; (東明慧日) (1272 - 1340) Vị Thiền tăng thuộc tông Tào động ở đời Nguyên, người huyện Định hải, Minh châu (huyện Trấn hải tỉnh Chiết giang), họ Thẩm, hiệu Đông minh. Năm lên chín tuổi, sư vào chùa Đại đồng tại Phụng hóa làm tiểu (chú điệu), 13 tuổi cạo tóc, 17 tuổi thụ giới Cụ túc. Sau sư đến tham học ngài Trực ông Đức cử ở núi Thiên ninh có chỗ khế ngộ. Không bao lâu, sư du phương hành cước qua các nơi Thiên đồng, Linh ẩn, Vạn thọ, Tưởng sơn v.v... Sau đó sư trở về miền Đông, mở giáo ở chùa Bạch vân tại Minh đường, làm đệ tử nối pháp của ngài Trực ông, sư ở đó được sáu năm, phong cách, đức hạnh của sư được đồn khắp bốn phương. Niên hiệu Chí đại năm đầu (1308), sư nhận lời mời sang Nhật bản, năm sau đến nơi. Sư lần lượt ở các chùa Thiền hưng, Viên giác, Kiến trường, Vạn thọ, Đông thắng, Thọ phúc v.v... xiển dương Thiền pháp của tông Tào động, tiếp dắt mọi người suốt 30 năm. Dòng pháp của sư gọi là dòng Đông minh, một trong 24 dòng của Thiền tông Nhật bản. Năm Lịch ứng thứ 3 đời Thiên hoàng Quang minh của Nhật bản sư nhập tịch, thọ 69 tuổi, 53 tuổi hạ. Sư để lại tác phẩm: Bạch vân Đông minh hòa thượng ngữ lục 3 quyển. [X. Diên bảo truyền đăng lục Q.4; Nhật bản động thượng liên đăng lục Q.1].
đông mạn đà la
Mạn Đà La về phía đông của Thai Tạng Giói—The eastern mandala, that of Garbhadhatu.
đông mật
3305即指空海所傳,而以東寺爲根本道場之日本真言密教。又稱東寺流。相對於天台宗之「台密」。空海之後傳真雅、真然,源仁;源仁再傳益信、聖寶。益信之門下有寬平法皇(宇多天皇)、寬空、寬朝,稱爲廣澤流;聖寶之門下有仁海,稱爲小野流,兩者合稱爲東密二流、野澤二流。其後,廣澤流又產生仁和寺御流、西院流、保壽院流、華嚴院流、忍辱山流、傳法院流等六流;小野流則分出三寶院流、理性院流、金剛王院流、安祥寺流、勸修寺流、隨心院流等六流,合稱爲東密十二流、野澤十二流、根本十二流。此外,另有高野山之中院、持明院。至後世,小野流又有二十流,廣澤流則又產生四流,故稱東密三十六流。其後又衍生出許多分流支派,而有野澤七十餘流之說;然一般以三十六流爲主。(參閱「台密」1624、「真言宗」4204)
; The eastern esoteric or Shingon sect of Japan Chân ngôn tông in contrast with the Thiên Thai esoteric sect.
; Mật giáo tại Nhật Bản, đối lại với Mật giáo của tông Thiên Thai (Đông Mật cho rằng Đức Đại Nhật và Thích Ca là khác thể, còn Tây Mật cho rằng Đức Đại Nhật và Thích Ca là đồng thể)—The eastern esoteric or Shingon Sect of Japan, in contrast with the T'ien-T'ai esoteric sect.
; (東密) Cũng gọi Đông tự lưu. Đối lại với Thai mật. Chân ngôn Mật giáo của Nhật bản do ngài Không hải sáng lập lấy Đông tự làm đạo tràng căn bản. Sau ngài Không hải truyền cho Chân nhã, Chân nhiên, Nguyên nhân; ngài Nguyên nhân lại truyền cho Ích tín, Thánh bảo. Đệ tử ngài Ích tín có Khoan bình Pháp hoàng (Thiên hoàng Vũ đa), Khoan không, Khoan triều, gọi là Quảng trạch lưu (dòng Quảng trạch). Đệ tử ngài Thánh bảo có Nhân hải, gọi là Tiểu dã lưu (dòng Tiểu dã), hai dòng này hợp lại gọi chung là Đông mật nhị lưu (hai dòng của Đông mật), Dã trạch nhị lưu (hai dòng Tiểu dã và Quảng trạch). Về sau, dòng Quảng trạch lại chia ra 6 dòng nữa là: Nhân hòa tự ngự, Tây viện, Bảo thọ viện, Hoa nghiêm viện, Nhẫn nhục sơn và Truyền pháp viện. Dòng Tiểu dã cũng nảy sinh thêm sáu dòng: Tam bảo viện, Lí tính viện, Kim cương vương viện, An tường tự, Khuyến tu tự và Tùy tâm viện. Cả hai dòng Quảng trạch và Tiểu dã hợp lại gọi chung là Đông mật thập nhị lưu (12 dòng phái của Đông mật), Dã trạch thập nhị lưu (12 dòng phái của Tiểu dã và Quảng trạch), Căn bản thập nhị lưu (12 chi nhánh của hai dòng phái gốc Tiểu dã và Quảng trạch). Ngoài ra còn có Trung viện và Trì minh viện ở núi Cao dã. Đến đời sau, từ dòng Tiểu dã lại chia ra 20 dòng nữa; rồi từ dòng Quảng trạch cũng phát sinh thêm bốn dòng, vì thế gọi là Đông mật tam thập lục lưu (36 dòng phái của Đông mật). Về sau còn chia ra rất nhiều dòng phái chi nhánh nên mới có thuyết Dã trạch thất thập dư lưu (hơn 70 dòng phái của hai dòng phái gốc Tiểu dã và Quảng trạch), nhưng vẫn lấy 36 dòng làm chính. (xt. Thai Mật, Chân Ngôn Tông).
đông nam á phật giáo
3299佛教傳入東南亞地區,除阿育王時須那與鬱多羅往金地傳教之說外,據出土古物、遺址,最早的地區應在今日下緬甸之卑謬或泰國中部之佛統,此與西元二、三世紀印度古國案達羅(梵 Andhra)之傳布佛教關係頗大。古代東南亞佛教,小乘和大乘彼此興廢交替不定,而以南傳上座部勢力較大。西元七世紀末,下緬甸、泰國中部信仰上座部;占婆(位於今越南東南)以婆羅門教爲主,兼有正量部、有部;高棉同時流行婆羅門教、佛教;爪哇、蘇門答臘則在婆羅門教支配下。十二世紀,錫蘭大力改革佛教,統歸爲大寺(巴 Mahāvihāra)之上座部佛教,東南亞部分國家紛遣比丘留學該國。此後二百年,緬甸、泰國、高棉、寮國均弘揚以錫蘭爲傳承之上座部佛教。唯有越南自古受中國文化薰陶,受傳大乘佛教。至於馬來西亞、爪哇、蘇門答臘則始終婆羅門教、大乘、小乘佛教並行,迄十三世紀,阿拉伯回教文化傳入後,傳統宗教亦隨之覆滅。 就教團活動而言,東南亞佛教遠比中國佛教接近印度早期佛教之色彩,特別在教制與比丘生活方面,更延續了原始佛教教團之精神;就歷史而言,亦早過北傳任何一地之佛教;就教義而言,又自成一系統。 <一>錫蘭:西元前三世紀佛教傳入。阿育王並曾將世尊成道處之菩提樹幼苗一株移入。五百年後,自印度迎入佛牙,此二事始終激發錫蘭人虔誠之宗教情感,至今猶然。巴利文爲錫蘭之文學語言,巴利文三藏經典在此保存無缺。(參閱「錫蘭佛教」6327) <二>緬甸:佛教傳入緬甸,有信史可徵者,約在西元五世紀以後。十一世紀阿奴律陀王即位於蒲甘,締造佛教之黃金時代。彼時建有瑞喜宮寶塔,塔內藏有自錫蘭迎入之佛牙,自卑謬請入之佛前額、鎖骨,因此至今香火極盛。十八世紀緬王孟隕建立當時世界最大之敏貢佛塔,今仍供奉有清高宗所齎送之佛舍利一顆。十九世紀末至二十世紀中葉,緬甸受英人統治,佛教遭到漠視,唯仍有緬甸佛教青年會成立於一九○六年,號召獨立。今日緬甸佛教徒占全國人口百分之九十,回教、印度教各百分之三,基督教百分之二,其他百分之二。佛教徒只有比丘、沙彌、信士男、信士女,並無比丘尼、沙彌尼、正學女,全國佛寺共有二萬餘所。(參閱「緬甸佛教」6120) <三>泰國:佛教傳入泰國,最早可上溯自阿育王時代,彼時所傳爲上座部佛教,接受者係高棉先族而非現代泰族。西元八世紀,大乘佛教自印尼、高棉傳入,現存之猜耶(Chaiya)佛塔、六坤原形石塔(後曾加修成錫蘭式)及混合金屬所鑄之觀世音菩薩像等,均係當時之鉅構。十一世紀,泰國北部受緬甸蒲甘佛教之影響,信仰上座部,自素可泰城(Sukhothai)南部以下,則仍信仰大乘佛教。拉瑪四世(1851~1868 在位)時代勅造佛統大塔,至拉瑪六世始告竣工,高約一二○公尺,周圍約二四○公尺,爲今日泰國最大之佛塔。今泰國約有大小佛寺二萬一千所,巴利文佛學院四百餘所,泰文佛學院近六千所,學生十八萬人。百分之九十九的泰人爲佛教徒,僅泰南與馬來西亞接壤處有少數回教徒。每年有三次佛教紀念日,即六月之衛塞日、三月之摩迦日與七月之初安居日。此三日全國皆放假。我國於此亦有十五個華僑佛教社從事佛教事業與修持。(參閱「泰國佛教」4146) <四>高棉:舊稱扶南、真臘、柬甫寨,係以印度文化爲主體,位於中南半島南端之小國,其語文即自梵語、巴利語轉成。佛教之傳入,最遲在西元三世紀扶南時期,彼時所譯經典以梵文系佛典最多;六世紀以後,婆羅門教與佛教並行;十二世紀末,闍耶跋摩七世(Jayavarman Ⅶ)時代,佛教臻於顛峰狀態;十三、四世紀頃,南傳佛教傳入。 至一九七五年淪爲共黨統治爲止,五、六百年間,佛教信仰極爲興盛。於共黨統治之前,佛教僧團分大宗派、法宗派,前者約占百分之九十,後者則多係貴族出家。全國人口百分之八十五信仰佛教,大多數男子於一生之中至少出家一次;另有二大佛教社團:世界佛教友誼會柬埔寨中心、居土巴利學會。然至一九七五年後,即全面禁止宗教活動。(參閱「高棉」4360) <五>寮國:寮國史上載有佛教信仰始於法昂王之建立南掌國(十四世紀中葉)。十五世紀初,拍耶三成泰王曾建寺提倡佛學,並鑄巨大青銅佛像供奉於摩那蘭寺(Wat Manorom),今此寺已毀,佛像僅存頭、胸部。悉達提拉王於一五六六年造大舍利塔(Dhātu Luang),寮語稱爲寮塔,高三層,爲寮國歷代最偉大之建築物,十九世紀末曾遭盜匪損毀,至一九三○年方重修。一九五九年,寮國政府公布寮國僧伽法例,規定僧尼須服從僧王。今全境內有佛寺千餘所,僧人最多時達一萬二千名,古都琅勃拉邦附近之富士寺爲佛教中心,寺中供奉錫蘭於十五世紀所鑄重四七八公斤之金佛像;距古都以北二十公里處有北墟洞,有「萬佛洞」之美稱,每年佛誕節,寮王均親臨舉行浴佛盛典。首都永珍有華僑所創中寮佛教社一處。(參閱「寮國佛教」5975) <六>越南:佛教傳入越南,至遲在西元二世紀。此後至十世紀前半爲佛教移入期;自十世紀後半至十四世紀末爲發展期,其中十一至十三世紀初之二百年爲鼎盛時代。佛教在越南始終有賴於王室之保護與提倡,又雖受中國影響,然義學並未能生根,故越南佛教之特色僅限於盛行我國南方之禪宗支系,教義理論上並無宏大之發揮與表現。十五世紀以後,明朝文化移植,儒學、文學並盛,道教、喇嘛教兼行,佛教獨衰,此後,佛教混合了儒道思想。寺院建築貌似中國,正殿中央備有五六段壇臺,最前列通常供奉佛之誕生像,左右爲阿難、目犍連二尊者,其它另供奉有儒家諸聖及道教諸神等。除南部曾受上座部佛教影響外,大多數均爲北傳形式,經典亦多中國文字。一九六三年,南越吳廷琰政權企圖利用政治權力迫害佛教,導致廣德等七位僧尼自焚殉教。後又經楊文明、阮高棋、阮文紹等之統治。一九七五年,美軍撤退,越南亦隨之淪亡。(參閱「越南佛教」5278) <七>印尼:西元五世紀初,爪哇已有不少佛教徒,法顯訪問該島時(414),婆羅門教正盛而佛教方興。六世紀,佛教正式傳入蘇門答臘、巴鄰旁,後者且爲東南亞諸小島國研究佛法之重鎮,常住僧侶千人以上,可媲美印度那爛陀寺,當時南海諸國皆信奉上座部,唯此處稍有大乘。七世紀時,室利佛逝帝國興起,全國上下普遍信仰佛教。八世紀時,孟加拉佛教徒同時亦引入密宗,直至十二世紀,密宗始衰。十五世紀荷蘭人入侵後,佛教備受摧殘,僅靠華僑所建寺院維繫生機。二次大戰後,佛教復甦,一九七一年,信徒已在一千萬人以上,寺院三百餘所。(參閱「印尼佛教」2204) <八>馬來西亞:約西元二世紀時,佛教傳入馬來西亞,至十五世紀,始終與婆羅門教並盛。麻六甲王朝自十五世紀起,提倡回教信仰,佛教日衰。近一百年來,由於華僑佛教徒與南傳佛教徒之再度移入,佛教方有復興之趨勢。一九五九年,馬來西亞佛教會(後改稱馬來西亞佛教總會)成立於檳城,出版無盡燈月刊,努力弘闡佛法。此外並設菩提小學、中學、佛教義學以教育青年佛子。我國圓瑛、會泉、會機、法舫等諸師並曾先後於怡保佛教會弘法。佛教刊物除華報、星無盡燈外,尚有中國報、光檳報等,每月特刊「佛學」一次,藉以宣揚佛法。(參閱「馬來西亞佛教」4343) <九>新加坡:爲一九五九年獨立之華人國家,人口二百餘萬。太虛大師於民國十五年(1926)曾於此建立中華佛教會,目前最興盛之道場首推光明山普覺寺,每次法會參加者均在數千人;最大之叢林爲雙林寺,頗有中國大陸叢林之風。另創辦有女子佛學院,生活、思想教育均獨立於寺院之外,此點迥異於臺灣之佛學院。(參閱「新加坡佛教」5466) <十>菲律賓:菲律賓是遠東唯一之天主教國家,然自西元八世紀至十三世紀,佛教曾隨著印尼室利佛逝帝國之勢力傳入此地,從今菲人土語中尚保存若干梵語成份,即可資證。惜除少數之佛像出土外,佛教並未在菲律賓文化上產生任何影響。民國二十年,華僑組織旅菲中華佛學研究會,乃菲島最早之佛教團體,曾出版「海國伽音」,惜僅一期,並建大乘信願寺以弘揚正法。除信願寺外,馬尼拉市區有普陀寺、宿燕寺,皆爲中國寺院之分院。近代菲律賓佛教均隨華僑而來,故迄今亦大多流行於華僑之間。(參閱「菲律賓佛教」5259)
; (東南亞佛教) Phật giáo ở khu vực Đông nam á. Thời vua A dục của Ấn độ, hai ngài Tu na và Uất đa la đã được nhà vua phái đến nước Kim địa (Pàli: Suvaịịbhùmi) để truyền bá Phật giáo. Nay theo sự khảo sát các cổ vật và di chỉ đào được, thì khu vực Phật giáo được truyền vào sớm nhất là vùng Hạ Miến điện hoặc miền Trung Thái lan hiện nay, các nơi này rất có quan hệ với sự truyền bá Phật giáo ở nước Án đạt la (Phạm: Andhra) xưa thuộc Nam Ấn độ vào thế kỉ II, thế kỉ III Tây lịch. Phật giáo ở Đông nam á thời xưa, Tiểu thừa và Đại thừa thay nhau lúc suy lúc thịnh, nhưng Phật giáo Thượng tọa bộ Nam truyền có nhiều thế lực hơn. Vào cuối thế kỷ VII Tây lịch, vùng Hạ Miến điện và miền Trung Thái lan tin theo Thượng tọa bộ; Chiêm ba (nằm ở miền trung nam Việt nam hiện nay) lấy Bà la môn giáo làm chính, nhưng cũng có thiểu số dân chúng tin theo Chính lượng bộ và Hữu bộ của Phật giáo Tiểu thừa; Cao miên thì tín ngưỡng cùng một lúc cả Bà la môn giáo và Phật giáo; còn các đảo Java và Sumatra thì tin theo Bà la môn giáo. Vào thế kỉ XII, Tích lan ra sức cải cách Phật giáo và Phật giáo Thượng tọa bộ phái Đại tự (Pàli: Mahàvihàra) mạnh nhất; một vài quốc gia vùng Đông nam á gửi các tỉ khưu sang Tích lan lưu học. Từ đó về sau trong 200 năm, các nước Miến điện, Thái lan và Lào đều hoằng dương và truyền thừa Phật giáo Thượng tọa bộ của Tích lan. Duy có Việt nam từ xưa vốn chịu ảnh hưởng văn hóa Trung quốc nên đã hoằng truyền Phật giáo Đại thừa. Còn Mã lai á, Java và Sumatra vốn tin thờ Bà la môn giáo, Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Tiểu thừa, nhưng đến thế kỉ XIII, sau khi Hồi giáo Ả rập xâm lăng, thì tôn giáo truyền thống ở các xứ này bị tiêu diệt. Đứng về phương diện hoạt động của giáo đoàn mà nói, thì Phật giáo Đông nam á tiếp cận sắc thái Phật giáo thời kì đầu của Ấn độ sớm hơn Phật giáo Trung quốc, đặc biệt về mặt giáo chế và sinh hoạt của tỉ khưu vẫn giữ được tinh thần của giáo đoàn Phật giáo nguyên thủy. Về mặt lịch sử cũng sớm hơn Phật giáo Bắc truyền ở bất cứ vùng nào. Còn về mặt giáo nghĩa thì Phật giáo Đông nam á cũng tự thành một hệ thống riêng. 1. Tích Lan: Phật giáo truyền thừa vào Tích lan thế kỉ III trước Tây lịch. Vua A dục đã cho mang một nhánh cây Bồ đề nhỏ ở nơi đức Phật thành đạo đến trồng ở Tích lan. Năm trăm năm sau, Tích lan cung nghinh răng của đức Phật từ Ấn độ về. Hai sự kiện này cho đến nay vẫn còn kích phát lòng thành kính đối với tôn giáo của người Tích lan. TiếngPàli là ngôn ngữ văn học của Tích lan, ba tạng kinh điển bằng tiếngPàli đều được giữ gìn đầy đủ ở đây. (xt. Tích Lan Phật giáo). 2. Miến Điện: Theo các sử liệu đáng tin cậy thì Phật giáo được truyền vào Miến điện khoảng sau thế kỉ V Tây lịch. Vào thế kỉ XI, vua A nô luật đà (Pàli:Anurudha) lên ngôi ở Bồ cam (Pagan) tạo nên thời đại vàng son cho Phật giáo. Bấy giờ, nhà vua cho xây dựng bảo tháp Thụy hỉ cung để tôn thờ răng Phật rước từ Tích lan cùng với xương trán và xương quai xanh của Phật rước từ Ti mậu về, cho đến nay, Phật tử đến đây chiêm bái rất đông. Vào thế kỉ XVIII, vua Mạnh vẫn xây tháp Mẫn cống lớn nhất thế giới thời đó, đến nay vẫn còn thờ một viên xá lợi Phật do vua Cao tông nhà Thanh, Trung quốc đem tặng. Cuối thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX, Miến điện bị người Anh thống trị, Phật giáo không được xem trọng nữa, chỉ còn Hội thanh niên Phật giáo Miến điện được thành lập vào năm 1906 hô hào đòi độc lập. Ngày nay tín đồ Phật giáo Miến điện chiếm 90% dân số cả nước, Hồi giáo, Ấn độ giáo mỗi đạo chiếm 3%, Cơ đốc giáo 2%, các tôn giáo khác 2%. Tín đồ Phật giáo Miến điện chỉ có tỉ khưu, sa di và nam, nữ cư sĩ chứ không có tỉ khưu ni, sa di ni và chính học nữ (thức xoa ma na). Toàn quốc có tất cả hơn 20.000 ngôi chùa. (xt. Miến Điện Phật Giáo). 3. Thái Lan: Phật giáo truyền vào Thái lan sớm nhất có thể từ thời vua A dục của Ấn độ; Phật giáo được truyền vào thời ấy là Phật giáo Thượng tọa bộ, mà người tiếp nhận là giống người Cao miên xưa chứ không phải giống người Thái lan hiện nay. Đến thế kỉ VIII, Phật giáo Đại thừa mới từ Indonesia và Cao miên truyền vào; những di tích hiện còn như tháp Phật sai da (chaiya), tháp đá nguyên hình sáu đoạn(sau sửa thành kiểu Tích lan) và tượng bồ tát Quan thế âm đúc bằng kim loại hỗn hợp... đều là những cấu trúc lớn thời bấy giờ. Thế kỉ XI, miền bắc Thái lan chịu ảnh hưởng Phật giáo Bồ cam Miến điện tin theo Thượng tọa bộ, nhưng từ miền nam thành Tố khả thái (Sukhothai) trở xuống thì vẫn tin theo Phật giáo Đại thừa. Vua Lạp mã đời thứ 4 (ở ngôi 1851- 1868) ban lệnh xây dựng Đại tháp Phật thống, đến vua Lạp mã đời thứ 6 mới hoàn thành là tháp Phật lớn nhất tại Thái lan, cao hơn 120m, chu vi 240m. Hiện nay Thái lan có khoảng 21.000 ngôi chùa Phật lớn nhỏ, hơn 400 viện Phật học giảng dạy bằng tiếngPàli, gần 6.000 viện Phật học giảng dạy bằng tiếng Thái với 180.000 học sinh, 90% dân chúng Thái lan là tín đồ Phật giáo, chỉ có ở miềnNam Thái lan và vùng giáp giới với Mã lai á mới có một số ít tín đồ Hồi giáo. Mỗi năm có ba ngày lễ lớn của Phật giáo: Ngày Vệ tắc tháng 6, ngày Ma ca tháng 3 và ngày an cư đầu tháng 7. Trong ba ngày này, toàn quốc đều nghỉ việc. Trung quốc cũng có 15 hội Phật giáo Hoa kiều hoạt động Phật sự và tu trì tại Thái lan. 4. Cao Miên: Tên xưa là Phù nam, Chân lạp, Giản bộ trại, là một nước nhỏ nằm ở phía nam bán đảo Trung nam, lấy văn hóa Ấn độ làm chính, văn tự từ tiếng Phạm,Pàli cấu thành. Phật giáo truyền đến chậm nhất là vào thời kì Phù nam thế kỉ III Tây lịch, kinh điển Phật được dịch ra ở thời kì này phần nhiều là kinh tiếng Phạm. Từ thế kỉ VI về sau, Bà la môn giáo và Phật giáo lưu hành song song; cuối thế kỉ XII là thời đại vua Xà da bạt ma đời thứ 7 (JayavarmanVII), Phật giáo đạt đến đỉnh cao. Khoảng thế kỉ XIII, XIV, Phật giáo Nam phương được truyền vào; trong khoảng năm, sáu trăm năm, Phật giáo ở Cao miên rất hưng thịnh. Tăng đoàn Phật giáo chia ra hai phái: Đại tông phái chiếm 90% tăng sĩ và Pháp tông phái gồm phần lớn hàng quí tộc xuất gia. Ngoài ra còn có hai đoàn thể Phật giáo lớn: Thế giới Phật giáo hữu nghị hội Kampuchia Trung tâm và Cư sĩ Pàli Học Hội. Nhân dân cả nước có 85% tín ngưỡng Phật giáo; đại đa số đàn ông, trong một đời, ít nhất phải một lần xuất gia. Đến năm 1975, Cao miên bị cộng sản thống trị, tất cả sinh hoạt tôn giáo bị cấm chỉ. (xt. Cao Miên). 5. Lào: Theo lịch sử nước Lào, vào giữa thế kỉ XIV, vua Pháp ngang thành lập nước Nam chưởng thì Phật giáo đã bắt đầu được truyền vào. Đến đầu thế kỉ XV, vua Phách da tam thành thái làm chùa, đề xướng học Phật, đồng thời, đúc tượng Phật lớn bằng đồng thờ ở chùa Ma na lan (Wat Manorom); hiện nay chùa này đã bị hủy hoại; tượng Phật chỉ còn lại phần đầu và ngực. Năm 1566, vua Tất đạt đề lạp xây tháp Đại xá lợi (Dhàtu Luang), cao 3 tầng, là kiến trúc vĩ đại nhất trong các thời đại của nước Lào. Cuối thế kỉ XIX, tháp này bị bọn trộm cướp phá hoại, đến năm 1930 mới được trùng tu. Năm 1955, chính phủ Lào công bố pháp lệ Tăng già nước Lào, qui định tăng ni phải phục tùng Tăng vương. Hiện nay, trên cả nước có hơn 1.000 ngôi chùa, tăng chúng lúc nhiều nhất lên tới 12.000 vị. Chùa Phú sĩ gần cố đô Luangphrabang là trung tâm của Phật giáo, trong chùa thờ pho tượng Phật bằng vàng nặng 478 cân đúc vào thế kỉ XV ở Tích lan. Cách cố đô về mạn bắc 20 cây số có động Bắc khư được gọi là Động Vạn Phật, hằng năm vào ngày Phật đản, vua Lào đích thân đến cử hành lễ tắm Phật. Ở thủ đô Vientiane có Hội Phật Giáo Trung Lào do người Hoa kiều sáng lập. (xt. Lào Quốc Phật Giáo). 6. Việt Nam: Phật giáo truyền vào Việt nam chậm nhất là thế kỉ II Tây lịch. Từ đó đến tiền bán thế kỉ X là thời kỳ Phật giáo du nhập; từ hậu bán thế kỉ X đến cuối thế kỉ XIV là thời kì phát triển, trong đó, 200 năm đầu thế kỉ XI đến đầu thế kỉ XIII là thời đại cực thịnh. Phật giáo Việt nam qua các thời kì đều nhờ sự bảo hộ và đề xướng của các triều vua, lại tuy chịu ảnh hưởng Trung quốc nhưng về giáo nghĩa chưa có chỗ phát minh, cho nên đặc sắc của Phật giáo Việt nam chỉ hạn ở việc thịnh hành các hệ phái Thiền tông ở miền Nam Trung quốc, chứ về phương diện lí luận giáo nghĩa thì chưa có phát huy sáng tạo được bao nhiêu. Thế kỉ XV về sau, văn hóa triều Minh tràn vào, Nho học, Văn học đều thịnh, Đạo giáo, Lạt ma giáo song hành, riêng Phật giáo là suy vi, rồi từ đó trở đi, Phật giáo bị pha trộn với Nho giáo, Đạo giáo mà cấu thành tư tưởng Tam giáo đồng nguyên (ba giáo cùng nguồn, tức là Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo cùng giống nhau). Về lối kiến trúc thì chùa viện Việt nam cũng giống như chùa viện Trung quốc, ở giữa chính điện có đài cao năm, sáu cấp, ở ngay phía trước thông thường thờ tượng Phật đản sinh, hai bên là hai vị tôn giả A nan và Mục kiền liên. Ngoài ra, còn thờ các vị Thánh của Nho giáo và các vị Thần của Đạo giáo. Tại miền Nam Việt nam ngoài số ít chịu ảnh hưởng của Phật giáo Thượng tọa bộ từ Cao miên truyền sang, còn lại phần nhiều đều theo hình thức Phật giáo Bắc truyền. Kinh điển phần nhiều cũng bằng chữ Trung quốc. Năm 1963, Ngô đình diệm lợi dụng quyền lực chính trị đàn áp Phật giáo khiến hòa thượng Thích Quảng đức và hàng chục Tăng ni, Phật tử khác đã phải hi sinh bằng cách tự đốt thân mình để bảo vệ đạo pháp. Năm 1975, quân Mĩ rút lui; Phật giáo Việt nam lại bước vào giai đoạn khác. (xt. Việt Nam Phật Giáo). 7. Indonesia: Đầu thế kỉ thứ V, ở đảo Java đã có nhiều tín đồ Phật giáo. Khi ngài Pháp hiển đến đảo này vào năm 414, ngài thấy Bà la môn giáo đang thịnh và Phật giáo thì mới phát triển. Đến thế kỉ VI, Phật giáo chính thức truyền vào các đảo Tô môn đáp lạp (Sumatra). Ba lân bàng (Palembang). Về sau, Ba lân bàng trở thành nơi trung tâm nghiên cứu Phật giáo ở vùng quần đảo Đông nam á, chư tăng thường trú tại đây từ 1.000 vị trở lên, có thể sánh ngang với chùa Na lan đà bên Ấn độ. Thời bấy giờ các nước vùng Nam hải đều tin thờ Thượng tọa bộ, chỉ có Indonesia thì theo cả Đại thừa. Vào thế kỉ VII, đế quốc Thất lợi phật thệ (Sri-vishaya) nổi lên, nhân dân trong nước đều tín ngưỡng Phật giáo. Thế kỉ VIII, tín đồ Phật giáo Mạnh gia lạp (Bengal) cũng truyền Mật tông vào, cho mãi đến thế kỉ XII Mật tông mới bắt đầu suy. Vào thế kỉ XV, sau khi người Hà lan xâm nhập, Phật giáo trở nên suy tàn, tín đồ chỉ còn nhờ vào các ngôi chùa do người Hoa kiều xây dựng để duy trì sinh hoạt tín ngưỡng của mình. Sau đại chiến thứ 2, vào năm 1971, số tín đồ đã lên đến 10 triệu người, hơn 300 ngôi chùa viện. (xt. Ấn Ni Phật giáo). 8. Mã Lai Á: Phật giáo truyền vào Mã lai á khoảng thế kỉ thứ II Tây lịch, cho đến thế kỉ XV, Phật giáo vẫn được thịnh hành song song với Bà la môn giáo. Nhưng, cũng bắt đầu từ thế kỉ XV trở đi, Vương triều Ma lục giáp tin theo và đề cao Hồi giáo nên Phật giáo mỗi ngày một suy tàn. Mãi đến đầu thế kỉ XIX, do tín đồ Phật giáo người Hoa và tín đồ Phật giáo Nam truyền một lần nữa đưa Phật giáo vào Mã lai nên mới có xu thế phục hưng. Năm 1959, Hội Phật Giáo Mã Lai (sau đổi là Tổng Hội Phật Giáo Mã Lai) được thành lập tại Tân thành (Penang), xuất bản nguyệt san Vô Tận Đăng, nỗ lực hoằng dương Phật pháp. Ngoài ra, Hội còn mở các trường Tiểu học và Trung học Bồ đề, Phật giáo nghĩa học để giáo dục thanh niên Phật tử. Các sư Trung quốc như: Viên anh, Hội tuyền, Hội cơ, Pháp phảng v.v... đã lần lượt hoằng pháp ở Hội Phật giáo Di bảo. Về các ấn phẩm Phật giáo, thì ngoài Hoa báo, Vô tận đăng ra, còn có các tờ báo Trung quốc, Quang tân v.v... và mỗi tháng có một kì đặc san Phật Học nhờ đó Phật giáo được truyên dương. (xt. Mã Lai Tây Á Phật Giáo). 9. Tân Gia Ba: Quốc gia của người Hoa được độc lập vào năm 1959, dân số hơn hai triệu người. Năm Dân quốc 15 (1926), đại sư Thái hư đã từng thành lập Hội Phật Giáo Trung Hoa tại đây. Đạo tràng hưng thịnh nhất hiện nay, trước hết phải kể đến chùa Phổ giáo thuộc Quang minh sơn; tùng lâm lớn nhất là chùa Song lâm. Ngoài ra còn có các trường Tiểu học, Trung học và đặc biệt có viện Phật học dành cho nữ giới. (xt. Tân Gia Ba Phật Giáo). 10. Phi Luật Tân: Quốc gia Thiên chúa giáo duy nhất ở Viễn đông, nhưng từ thế kỉ VIII đến thế kỉ XIII Tây lịch, Phật giáo đã cùng với ảnh hưởng của đế quốc Thất lợi phật thệ (Sri-vishaya) ở Indonesia mà truyền vào Phi luật tân. Cho đến nay, trong thổ ngữ của người Phi vẫn còn giữ lại một ít thành phần tiếng Phạm đủ để chứng minh sự có mặt của Phật giáo ở xứ này từ thời xa xưa. Rất tiếc là ngoài một số ít tượng Phật được phát hiện, chưa thấy một ảnh hưởng nào của Phật giáo đối với văn hóa Phi luật tân. Năm Dân quốc 20 (1931), Hoa kiều thành lập Hội Nghiên Cứu Phật Học Phi Trung Hoa là đoàn thể Phật giáo sớm nhất tại đảo Phi luật tân. Hội xuất bản tờ Hải quốc già âm nhưng rất tiếc chỉ in được một kì; rồi xây cất chùa Đại thừa tín nguyện để làm cơ sở hoằng dương chính pháp. Ngoài ra, còn có các chùa Phổ đà, Túc yến ở thành phố Ma ni la đều là những phân viện của chùa viện Trung quốc. Thời gần đây, Phật giáo Phi luật tân đều do người Hoa kiều du nhập vào, cho đến nay, Phật giáo ở đây phần lớn cũng chỉ lưu hành trong giới Hoa kiều mà thôi. (xt. Phi Luật Tân Phật Giáo).
đông ngục
1) Đỉnh Thái Sơn thuộc tỉnh Đông Sơn, một trong năm đỉnh núi thiêng liêng ở Trung Quốc: The Eastern Peak T'ai-Shan in Shan-Tung, one of the five sacred peaks in China. 2) Vị Thần tại đỉnh Đông Ngục, bảo hộ khắp Trung Hoa: The god or spirit of this peak, whose protection is claimed all over China.
Đông Nham Huệ An
(東巖慧安, Tōgan Ean, 1225-1277): vị Thiền tăng thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, húy là Huệ An (慧安), hiệu là Đông Nham (東巖), thụy hiệu Hoằng Giác Thiền Sư (弘覺禪師); người vùng Bá Ma (播磨, Harima, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]). Ông lên núi Thư Tả Sơn (書冩山) học giáo học Thiên Thai rồi xuất gia thọ Cụ Túc Giới, và chuyên tâm nghiên cứu trong vòng mười năm trường. Sau đó ông nghiên cứu Trí Độ Luận ở Thạch Thanh Thủy Bát Phan Cung (石清水八幡宮). Ông thường ấp ủ chí nguyện sang nhà Tống cầu pháp, rồi đến năm đầu (1257) niên hiệu Chánh Gia (正嘉), ông đến Thái Tể Phủ (太宰府, Dazaifu), thì gặp được Ngộ Không Kính Niệm (悟空敬念) và được khế ngộ với vị này. Vào năm thứ 2 (1262) niên hiệu Hoằng Trường (弘長), ông đến tham yết Ngột Am Phổ Ninh (兀菴普寧) ở Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji), và cuối cùng Ngột Am phú pháp cho. Khi Ngột Am trở về nước, ông đã tiễn chân Thầy đến tận vùng Điểu Vũ (鳥羽, Toba), và được truyền trao cho pháp y cùng đảnh tướng của vị này. Về sau, ông cung thỉnh Ngộ Không đến trú tại Phước Điền Am (福田庵). Vào năm thứ 5 (1268) niên hiệu Văn Vĩnh (文永), ông khai sáng Chánh Truyền Tự (正傳寺, Shōden-ji) và tiếp thu đồ chúng giáo hóa nơi đây. Lại nữa, ông còn đến tham vấn Đại Hưu Chánh Niệm (大休正念) ở Thọ Phước Tự (壽福寺, Jufuku-ji), rồi thể theo lời thỉnh cầu của vị quan Bình Thái Hạnh (平泰盛), ông đến trú tại Thánh Hải Tự (聖海寺). Vào ngày mồng 3 tháng 11 năm thứ 3 niên hiệu Kiến Trị (建治) thì ông thị tịch, thọ 53 tuổi. Vào ngày 23 tháng 3 năm thứ 20 niên hiệu Ứng Vĩnh (應永), ông được ban sắc thụy hiệu là Hoằng Giác Thiền Sư. Hiện vẫn còn lưu lại bộ Đông Nham An Thiền Sư Hành Thật (東巖安禪師行實).
đông nhân phát tâm
3295密教以東方阿閦如來之位爲發菩提心之「因位」,依東、南、西、北、中之順序,配上五佛,表示修行之方向與階段。爲「中因發心」之對稱。此說係以「始覺修生」爲宗旨,乃善無畏三藏所傳。真言行者斷惑修證之過程,其菩提心之次第轉昇,可分爲五階位,配合悉曇???(a,阿)字在音韻上之五種轉化,稱爲阿字五轉,若以此五轉配上五方五佛時,再依準世間五行之配立,而以東方阿閦如來之位爲發菩提心之因位,並次第將南方寶生如來之位配上修行位,西方彌陀如來之位配上菩提位,北方釋迦如來之位配上涅槃位,中央大日如來之位配上方便究竟位。以修行方向而言,此係「從因向果」之取向,屬於「始覺上轉門」之義。〔大日經疏卷二十〕(參閱「中因發心」1017、「阿字五轉」3613)
; (東因發心) Đối lại với Trung nhân phát tâm. Mật giáo lấy vị trí của đức A súc Như lai ở phương Đông làm Nhân vị (giai vị tu nhân) phát tâm Bồ đề, rồi y theo thứ tự: Nam, Tây, Bắc, Trung ương phối hợp với 5 đức Phật để biểu thị phương hướng và giai vị tu hành. Tức là: A súc Như lai phương Đông là nhân vị phát tâm Bồ đề, Bảo sinh Như lai phương Nam là giai đoạn tu hành, A di đà Như lai phương Tây là giai đoạn Bồ đề, Thích caNhư lai phương Bắc là giai đoạn Niết bàn, Đại nhật Như lai Trung ương là giai đoạn phương tiện cứu cánh. Nói theo phương hướng tu hành thì quá trình trên đây là lấy nghĩa Từ nhân hướng tới quả thuộc về môn Thủy giác thượng chuyển (Thủy giác chuyển lên). [X. Đại nhật kinh sớ Q.20]. (xt. Trung Nhân Phát Tâm, A Tự Ngũ Chuyển).
đông nhạc
3308位於山東泰安縣北。五嶽之一。又作岱宗、岱山、太山、泰山,岱嶽、泰嶽、東岱、天孫。爲我國東部之大山,標高一五三二公尺。其山脈綿亙數縣,群峰羅列,二十餘山迴環不已,而以丈人峰最著。古代帝王常以來此封禪爲大典,有「封泰山,禪梁父」之稱。此外,夙有道士、僧眾等來此棲居,故廟祠、寺宇爲數不少。其中較著名者,如神通寺,竹林寺、丹嶺寺等。又前秦、隋時,先後曾有僧朗、曇延等名僧於此創建與復興神通寺。元魏時,僧照曾入住丹嶺寺,頗富奇蹤。 「東嶽」亦指泰山之神,即傳說中之太山府君。〔梁高僧傳卷五、宋高僧傳卷二十四、水經注卷八、古今圖書集成山川典第十三至第二十二、職方典第二○○〕
; (東岳) Cũng gọi: Đại tông, Đại sơn, Thái sơn, Đại nhạc, Thái nhạc, Đông đại, Thiên tôn. Núi ở phía bắc huyện Thái an, tỉnh Sơn đông, Trung quốc, một trong Ngũ nhạc. Núi cao khoảng 1.532 m, chạy dài suốt mấy huyện với những ngọn núi trùng điệp, uốn khúc quanh co, trong đó nổi tiếng nhất là ngọn Trượng nhân. Các vua thời xưa thường đến đây làm lễ tế trời đất, nên đã có các tên gọi như: Phong Thái sơn, Thiện Lương phụ v.v... Ngoài ra, từ xưa đã có nhiều Đạo sĩ, chư tăng đến đây tu luyện, cho nên đã có không ít đền miếu, chùa viện. Trong đó, các ngôi chùa danh tiếng hơn cả là chùa Thần thông, chùa Trúc lâm và chùa Đan lãnh. Trong đời Tiền Tần và đời Tùy lần lượt có các danh tăng như: Tăng lãng, Đàm diên từng sáng lập và phục hưng chùa Thần thông. Thời Nguyên Ngụy thì có ngài Tăng chiếu vào ở chùa Đơn lãnh và để lại nhiều dấu tích kì lạ. Lại nữa, Đông nhạc cũng là tên của vị thần ở núi Thái sơn, tức là Thái sơn phủ quân trong truyền thuyết. [X. Lương cao tăng truyện Q.5; Tống cao tăng truyện Q.24; Thủy kinh chú Q.8; Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển 13- 22; Chức phương Điển 200].
đông niên
1550叢林中,每年有四大節慶,即結夏、解夏、冬至、年朝(改歲),其中之冬至與年朝,合稱為冬年。又於冬至或年朝之際,住持與大眾互敘陳賀之禮,表達問候之儀,稱為冬年人事。〔禪苑清規卷二冬年人事條〕
; (冬年) Trong tùng lâm, hằng năm có bốn ngày lễ lớn, đó là: Kết hạ, Giải hạ, Đông chí và Niên triêu (Cải tuế). Trong đó, hai ngày lễ Đông chí và Niên triêu được hợp lại gọi chung là Đông niên. Vào các dịp lễ này, vị trụ trì và đại chúng làm lễ chúc mừng, thăm hỏi sức khỏe lẫn nhau, gọi là Đông niên nhân sự. [X. mục Đông niên nhân sự trong Thiền uyển thanh qui Q.2].
đông pha thiền hỉ tập
3297凡九卷。略作禪喜集。宋代蘇軾著,徐長孺編,神宗萬曆十八年(1590),陳繼儒、陸樹聲作序,並付唐文獻之跋而刊行之。內容包括卷一頌、卷二贊,卷三偈、卷四銘、卷五記、卷六書、跋、卷七序、傳、文疏、卷八禪喜紀事、卷九佛印問答、語錄等。
; (東坡禪喜集) Gọi tắt: Thiền hỉ tập. Gồm 9 quyển, do Tô đông pha soạn vào đời Tống, Từ trường nhụ biên tập, Trần kế nho và Lục thụ thanh viết bài tựa vào năm Vạn lịch 18 (1590) đời vua Thần tông, Đường văn hiến soạn lời bạt và ấn hành. Nội dung gồm: Quyển 1: Tụng; quyển 2: Tán; quyển 3: Kệ; quyển 4: Minh; quyển 5: Kí; quyển 6: Thư, Bạt; quyển 7: Tự, Truyện, Văn sớ; quyển 8: Thiền hỉ kỉ sự; quyển 9: Phật ấn vấn đáp, Ngữ lục v.v...
Đông Phúc tự
東福寺; C: dōngfúsì; J: tōfukuji; |Ngôi chùa chính, chi nhánh Đông Phúc tự thuộc dòng thiền Lâm Tế tại Kinh Đô. Còn được gọi là Enichi-zan. Việc kiến trúc được hoàn thành năm 1236 với Viên Nhĩ Biện Viên (圓爾辨圓, j: enni bennen) được công nhận là vị tăng khai sáng. Vào lúc đó, Đông Phúc tự có 53 ngôi chùa chi nhánh, nhưng rồi giảm xuống chỉ còn 25 ngôi sau thời Minh Trị phục hưng.
đông phúc tự
3307位於京都東山區,即藤原忠平所創之法性寺的舊址。爲日本臨濟宗東福寺派大本山。延應元年(1239),九條道家創建,圓爾(聖一國師)開山。山號慧日山,爲京都五山之一。歷代受王公、武家之護持,因而興盛一時。明治十四年(1881)大半被燒毀。今之三門爲禪宗三門最古之室町建築,係襲自唐式建築。禪堂(選佛堂)爲雙層「切妻造」之大建築,亦採用南北朝之唐式建築。除鎌倉建築之月華門外,另有浴室、東司等室町建築。 寺內藏有吳道子所繪之釋迦、文殊、普賢圖三幅及無準師範像一幅、參天台五臺山記八冊,並有雪舟所繪之東福寺伽藍圖。此外,尚有明兆所畫之大幅圖繪,如巨幅涅槃圖、四十五幅五百羅漢、聖一國師像、四十祖像四十幅等。另又藏有無準師範之墨蹟、宋刊本(太平御覽、義楚六帖)、古文書等。五山之一的萬壽寺爲塔頭之一,現尚存有相傳爲運慶所作之金剛力士像。於永明院、海藏院、願成寺、桂昌院、退耕庵、同聚院、靈雲院、靈源院等諸院之塔頭中,亦藏有各種頂相、書籍。寺域規模雖小,然有通天橋等建築物。此外,該寺亦爲一楓葉名區。
; (東福寺) Chùa ở khu Đông sơn tại Kinh đô (Kyoto) Nhật bản, là nền cũ của chùa Pháp tính do ngài Đằng nguyên Trung bình sáng lập, là Đại bản sơn của phái chùa Đông phúc thuộc tông Lâm tế Nhật bản. Ngài Cửu điều Đạo gia xây dựng vào niên hiệu Diên ứng năm đầu (1239), ngài Viên nhĩ (Quốc sư Thánh nhất) làm trụ trì khai sơn, hiệu núi là Tuệ nhật sơn, một trong Ngũ sơn ở Kinh đô. Qua các đời, chùa đều được hàng Vương công giữ gìn giúp đỡ, nhờ đó mà hưng thịnh một thời. Năm Minh trị 14 (1881) chùa bị thiêu hủy hơn phân nửa. Cổng Tam quan (Tam môn) hiện nay là kiểu cổng xưa nhất của Thiền tông được xây dựng vào thời Thất đinh, phỏng theo lối kiến trúc đời Đường Trung quốc. Thiền đường (Tuyển Phật đường) là tòa nhà hai tầng rất đồ sộ cũng phỏng theo kiến trúc đời Đường. Chỉ trừ cửa Nguyệt hoa được kiến trúc vào thời Liêm thương, còn nhà tắm, nhà vệ sinh v.v... đều được xây dựng vào thời Thất đinh. Trong chùa hiện còn cất giữ ba bức tranh đức Phật Thích ca, bồ tát Văn thù, bồ tát Phổ hiền và một bức tượng của thiền sư Vô chuẩn Sư phạm do Ngô đạo tử vẽ; tranh chùa Đông phúc do Tuyết chu vẽ; tranh cỡ lớn như tranh Niết bàn, 45 bức vẽ 500 vị La hán, bức tượng Quốc sư Thánh nhất, 40 bức tượng của 40 vị tổ do Minh triệu vẽ. Trong chùa cũng còn cất giữ các tác phẩm như Tham Thiên thai ngũ đài sơn kí 8 tập, Thái bình ngự lãm, Nghĩa sở lục thiếp (bản in đời Tống), Cổ văn thư và bút tích của ngài Vô chuẩn Sư phạm v.v... Ngoài ra, các viện trực thuộc chùa như: Viện Vĩnh minh, viện Hải tạng, chùa Nguyện thành, viện Quế xương, am Thoái canh, viện Đồng tụ, viện Linh vân, viện Linh nguyên v.v..., trong đỉnh tháp của các viện này cũng có cất giữ các loại đính tướng và thư tịch. Khuôn viên chùa tuy nhỏ nhưng có các kiến trúc đặc biệt như cầu Thông thiên v.v..., chùa còn có một khu cây phong rất nổi tiếng.
đông phương
The east—Eastern region.
đông phương huyền bí
Mysterious East.
đông phương nghiên cứu sở
3293即蘇維埃科學研究院亞洲民族研究所列寧格勒分所之通稱。一九一八年成立之初,原爲亞洲博物館;莫斯科中央研究所成立後,改組爲今制。對西域之研究有特殊貢獻,向有俄羅斯西域探險隊之稱譽,珍藏有探險家科玆洛夫(P.K. Kozlov, 1863~1935)自黑水城搜得之西夏文獻三千餘件,奧登保(S.F. Ol'denburg, 1863~1934)等人自敦煌搜得之文獻一萬三千餘件,及回紇、蒙古、西藏等地之古文獻。該所分爲研究部門、資料保管部門、圖書館等三部分,研究範圍包括:遠東(中國、日本、西夏、西藏、韓國、中國東北)、突厥、蒙古、阿拉伯、伊朗、高加索、庫爾德(Kurd)、印度等。
; (東方研究所) Tên gọi chung của Viện Nghiên cứu khoa học Xô viết, Sở Nghiên cứu dân tộc châu Á và Phân sở Leningrad ở Liên xô. Sở này bắt đầu được thành lập vào năm 1918, nguyên là viện bảo tàng Á châu, sau khi Viện Nghiên cứu trung ương ở Mạc tư khoa được thành lập liền được cải tổ thành qui chế Sở Nghiên cứu Đông phương. Sở này được chia làm ba bộ phận: Bộ môn nghiên cứu, Bộ môn bảo quản tư liệu, Thư viện. Phạm vi nghiên cứu bao gồm các nước ở miền Viễn đông (Trung quốc, Nhật bản, Tây hạ, Tây tạng, Hàn quốc, vùng đông bắc Trung quốc), Đột quyết, Mông cổ, A lạp bá (Arabia), Cao gia sách (Caus), Khố nhĩ đức (Kurd), Ấn độ v.v... Sở này vốn có đội thám hiểm Nga- Tây vực nổi tiếng, đã có nhiều cống hiến đặc biệt cho việc nghiên cứu về Tây vực. Những di vật văn hóa do Sở này cất giữ gồm hơn 3.000 loại văn hiến Tây hạ do nhà thám hiểm P. K. Kozlov (1863 - 1935) sưu tầm được ở thành Hắc thủy; hơn 13.000 loại văn hiến do ông S. F. Oldenburg (1863 - 1934) phát hiện được ở các động đá Đôn hoàng và các văn hiến cổ của các nước Hồi hột, Mông cổ, Tây tạng v.v...
đông phương phật giáo học viện
3293請參閱 雪峰慧空禪師語錄 請參閱 雪峰慧空禪師語錄 請參閱 寶覺禪師語錄 請參閱 雪峰慧空禪師語錄 前身爲壽山佛學院,星雲大師開創於民國五十四年(1965),招考高中畢業或同等學歷有志學佛之青年,施以佛教專門教育,培養住持佛法、弘法利生之人才。後因學生日增,遂於五十六年另於佛光山興建院舍,同時更名爲東方佛教學院。五十七年冬,院舍落成,院址自壽山寺遷出,成爲一座容納七眾的國際性獨立學院,不收學生任何費用,並免費供給食住。至目前(1988),已有十六屆畢業生,畢業學生多卓然有成,或爲住持一寺之方丈,或任教於海內外各佛教學院及普通院校。六十六年八月與美國東方大學締結爲姐妹學校。歷任院長有星雲大師,暨慈莊、慈惠等法師。
; (東方佛教學院) Học viện này do đại sư Tinh vân sáng lập vào năm Dân quốc 54 (1965) tại Đài loan, nhằm mục đích giáo dục chuyên môn về Phật học cho lớp tuổi trẻ có chí học Phật để bồi dưỡng nhân tài duy trì Phật pháp, hoằng hóa lợi sinh. Những người muốn theo học Viện này phải có bằng tốt nghiệp Cao trung hoặc học lực tương đương. Tiền thân của học viện này nguyên là Phật học viện Thọ sơn, nhưng sau vì số học sinh mỗi ngày một tăng, nên vào năm Dân quốc 56 (1967), học viện và phòng xá được xây cất thêm ở Phật quang sơn, đến mùa đông năm Dân quốc 57 (1968) thì hoàn thành, Phật học viện ở chùa Thọ sơn được dời về Phật quang sơn và đổi tên là Đông phương Phật giáo Học viện. Hiện nay, học viện mới này là một học viện độc lập có tính quốc tế; dung nạp cả bảy chúng (tỉ khưu, tỉ khưu ni, sa di, sa di ni, thức xoa ma na, ưu bà tắc, ưu bà di), chẳng những không thu nhận lệ phí của học sinh, mà còn cung cấp nơi ăn chốn ở miễn phí. Tính đến năm 1988, học viện đã đào tạo 16 khóa học, những học sinh tốt nghiệp phần nhiều trở thành trụ trì các chùa viện, hoặc giảng dạy ở các Phật học viện, các trường phổ thông trong và ngoài nước. Năm 1977, học viện này đã kết nghĩa với Đại Học Đông Phương Mĩ Quốc do đại sư Tinh vân làm Viện trưởng.
đông phương thánh thư
3295(The Sacred Books of the East)凡五十卷。編者爲英國宗教學、語言學學者穆勒(F. Max Müller, 1823~1900)。爲有關印度、中國、錫蘭等東方宗教之古典翻譯叢書。西元一八七九年刊行第一卷,陸續至一九一○年始完成全部之刊行。穆勒親任企劃、編纂、監修之工作,並在其他二十位東方學者協力之下,共同完成翻譯之事業。本書係穆勒盡其後半生之力所完成之大作,他主張對人類古代宗教之研究方法,當與從前不同,即應以學術性精神處理、研究之。以上所述,亦即本書刊行之基本精神。又本書對於十九世紀後半以來之東方研究,深具學術研究之價值。
; (東方聖書) Anh: The Sacred Books of the East. Tác phẩm, gồm 50 quyển, do ông F. Max Müller (1823 - 1900), nhà học giả về Tôn giáo học và Ngôn ngữ học người Anh biên soạn, phiên dịch với sự giúp sức của 20 nhà học giả phương Đông. Đây là bộ sách lớn phiên dịch các kinh điển tôn giáo của các nước phương Đông như Ấn độ, Trung quốc, Tích lan v.v... Quyển 1 được ấn hành vào năm 1879, liên tục đến năm 1910 mới in xong toàn bộ. F. Max Müller đã dốc hết sức của nửa cuộc đời mình còn lại vào việc hoàn thành tác phẩm vĩ đại này. Ông chủ trương phương pháp nghiên cứu các tôn giáo cổ đại của nhân loại phải khác với phương pháp nghiên cứu được sử dụng từ trước đến nay, tức là phải nghiên cứu với tinh thần khoa học, đó chính là tinh thần căn bản của bộ sách này. Từ hậu bán thế kỉ XIX đến nay, tác phẩm này rất có giá trị đối với việc nghiên cứu học thuật phương Đông.
đông phương tư tưởng
3293一般指以印度、中國、日本爲中心的東方世界所特有之思想與思惟型態。自西方觀之,歐洲以東之地所成立之思想,總稱爲東方思想。東方人由於受到季節風地帶之風土等影響,頗能與自然協調,而非採取對立或支配自然之態度,然亦因此較缺乏邏輯思考、理性思考之精神,而傾向非合理的、情緒的思惟。此亦意味積極的自我意志較貧乏,而易於服從權威性,並容忍多種思想之存在,且其妥協、折衷之無定性質亦特別強烈。印度、中國、日本雖各自具固有思想與互異之特色,然佛教予彼等以顯著而共通之思想特徵,而形成東方人世界觀、生命觀、思惟型態之基本根幹。 (一)印度:印度人特別重視事物之普遍共通性,且偏重抽象概念與繁雜事物之分類識別。於論理中,偏好否定之概念與媒介,尤其尊崇絕對者之肯定,及對未知性之把握。因此輕視特殊之個別性,而強調萬物之一體觀。亦常將現象之變化歸入永恆性,故缺乏時間觀念與歷史認識,僅以諦觀的、觀照的態度取代之。又將行爲主體之人類視爲超個人,故富於民族觀念,因而極端重視保守性之傳統。愛好神話與詩,無視於自然科學之法則,而偏好空想、冥想。另於內在方面,特別關注心理學之內觀。其人生觀則以超現世之宗教爲主,充滿對萬物生命之敬畏,然亦因之產生強烈的和平思想。 (二)中國:一般而言,中國人特別重視具體之知覺,故愛好文字、圖解、具象概念,然亦不否定非論理之性格。此由禪宗之發達,與隨之而來的藝術思想之特色,即可見及此一思想之表現。此外,富於時間的持續意識,故我國史學於早期即很發達;對同一思惟方法之持續性亦極強烈,故產生學問的傳承性格之特徵。相對而來者,則自由思想極其貧瘠。又愛好形式、典禮,故亦偏好美辭麗文、訓詁與處世之學。其生活既以人類爲中心,故在宗教方面亦呈現以現世爲中心之人文、人本色彩。因此可說形上學較不易發展,而專注於天文、曆法、占術等有關人類生活之研究。此外,特別尊重身分之秩序,及家族、國家之倫理。 (三)日本:日本人認爲現象世界與現世之觀點具有絕對之意義,故缺乏批判之精神,對於權威之追隨,尤其不具批判性,而傾向不假思考之模倣。極重視人際關係,對於封建式之身分關係尤爲重視,其特徵可見於該民族的國家至上主義、宗派的派閥之閉鎖性,以及對於具有特定權力者之絕對追從等。無所謂於民眾之貧困,與自身矛盾的現實之保守傾向,故其天皇制度迄今猶存之原因,不特是濃厚的封建式之追隨色彩所致。道德反省雖強烈,然持續性較薄弱,宗教感亦不深刻。思惟方式偏於非論理性,而傾向直觀之情緒化,故較乏思想、藝術、學問方面之創造精神,而側重於表象世界之建設。 西方之理性主義、近代思潮,及第二次世界大戰後之民族自覺、解放運動等,在在都令對峙中之東西思想產生顯著變革與思想內容之成長,故東西思想之對比與相互關係之研究,實爲今後之重要課題。
; (東方思想) Phổ thông chỉ cho tư tưởng đặc thù và hình thái tư duy của thế giới phương Đông mà trung tâm là Ấn độ, Trung quốc, Nhật bản. Người phương Đông bởi chịu ảnh hưởng của phong thổ như gió mùa, đất đai v.v... nên rất có khả năng thích ứng và điều hòa với thiên nhiên, chứ không giữ thái độ đối lập hoặc chi phối thiên nhiên, chính vì thế mà hơi thiếu tinh thần tư duy lô-gích, tư duy lí tính mà có khuynh hướng tư duy tình cảm, tư duy phi lí. Về ý nghĩa tích cực, người phương Đông thiếu ý chí tự ngã nên dễ đưa đến chỗ phục tùng những gì có tính cách quyền uy, đồng thời chấp nhận sự tồn tại của mọi loại hệ tư tưởng. Vả lại, tính chất bất định về thỏa hiệp, chiết trung của người phương Đông cũng đặc biệt mạnh mẽ. Ấn độ, Trung quốc, Nhật bản tuy mỗi nước có tư tưởng cố hữu và có đặc sắc khác nhau, nhưng Phật giáo đã mang lại cho các nước ấy cái đặc trưng tư tưởng chung rất rõ rệt mà tạo thành cái cơ sở cốt lõi cho thế giới quan, nhân sinh quan và hình thái tư duy của người phương Đông. 1. Ấn Độ: Người Ấn độ đặc biệt coi trọng tính chất cộng thông phổ biến của sự vật và nghiêng nặng về sự phân loại khác nhau giữa các khái niệm trừu tượng và sự vật phồn tạp. Trong lí luận, họ thích nghiêng về khái niệm và môi giới phủ định, nhất là khẳng định sự tôn sùng đối với cái tuyệt đối và nắm bắt đối với cái chưa biết. Do đó, họ xem nhẹ tính chất cá biệt đặc thù và nhấn mạnh quan niệm nhất thể đối với vạn vật. Họ cũng thường qui sự biến hóa của hiện tượng về tính vĩnh hằng, cho nên thiếu mất quan niệm thời gian và nhận thức lịch sử, chỉ thay vào đó bằng thái độ đế quán và quán chiếu; lại xem chủ thể hành vi của con người là siêu cá nhân nên giầu quan niệm dân tộc, vì thế mà họ coi trọng tính bảo thủ truyền thống một cách cực đoan. Họ ưa thích thần thoại và thi ca, không chú ý đến những qui luật của khoa học tự nhiên, mà chỉ thích nghiêng về không tưởng, minh tưởng. Còn về phương diện nội tại thì họ đặc biệt chú trọng về tâm lí học nội quán; nhân sinh quan của họ thì lấy tôn giáo vượt ra ngoài cuộc đời hiện tại làm chính, tôn trọng sự sống của muôn vật, do đó mà nảy sinh tư tưởng hòa bình rất mãnh liệt. 2. Trung Quốc: Nói chung, người Trung quốc coi trọng sự hiểu biết cụ thể, nên họ ưa thích văn tự, đồ giải và khái niệm thực tiễn, nhưng không phủ định tính cách phi luận lí. Đây là đặc sắc nổi bật trong tư tưởng Thiền tông. Ngoài ra, vì giầu ý thức về thời gian tiếp nối nên nền sử học của Trung quốc đã phát triển rất sớm. Cái ý thức đối với sự tiếp nối của cùng một phương pháp tư duy cũng rất mạnh mẽ, cho nên đã phát sinh cái đặc trưng của tính cách truyền thừa học vấn. Nói một cách tương đối thì tư tưởng tự do rất nghèo nàn. Hơn nữa, người Trung quốc rất chuộng hình thức, nghi lễ, nên họ cũng rất ưa trau chuốt lời văn cho đẹp, cho hay và thích cái học huấn hỗ, xử thế. Sinh hoạt của họ lấy con người làm trung tâm, nên về phương diện tôn giáo cũng hiện rõ sắc thái nhân văn, nhân bản lấy cuộc đời trước mắt làm trung tâm. Do đó, có thể nói, siêu hình học không dễ gì phát triển được mà họ chỉ chú trọng nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến cuộc sống của con người, như: Thiên văn, phương pháp làm lịch, phép bói toán v.v... Ngoài ra, người Trung quốc còn đặc biệt quí trọng tôn ti trật tự giữa mọi người và luân lí đối với thân tộc, quốc gia. 3. Nhật Bản: Người Nhật bản cho rằng thế giới hiện tượng và quan điểm về cuộc đời trước mắt đều có ý nghĩa tuyệt đối, cho nên họ không cần thắc mắc, đối với việc theo đuổi quyền uy đặc biệt không có tính phê phán mà có khuynh hướng không dựa vào tư duy. Họ rất coi trọng mối quan hệ giữa người với người và nhất là coi trọng mối quan hệ giữa thân phận và hình thức phong kiến. Đặc trưng ấy có thể thấy qua chủ nghĩa Quốc gia chí thượng của dân tộc Nhật bản, tính đóng kín của các tông phái, cho đến việc tuyệt đối phục tùng người có quyền lực đặc biệt. Khuynh hướng bảo thủ đã làm cho người Nhật không thấy được cái hiện thực nghèo khổ của quảng đại quần chúng và cái mâu thuẫn của bản thân: đó là lí do cắt nghĩa tại sao chế độ Thiên hoàng cho mãi đến nay vẫn còn tồn tại. Đạo đức phản tỉnh tuy mãnh liệt nhưng tính trì tục (giữ gìn liên tục) thì lại hơi bạc nhược, cảm tính tôn giáo cũng không sâu sắc. Phương thức tư duy thì nghiêng về tính phi luận lí và có khuynh hướng tình cảm hóa trực quan; vì thế, tương đối thiếu tinh thần sáng tạo về phương diện tư tưởng, nghệ thuật, học vấn mà nghiêng hẳn về mặt kiến thiết thế giới biểu tượng. Chủ nghĩa lí tính của phương Tây, các tư trào thời cận đại, sự thức tỉnh dân tộc sau đại chiến thế giới lần thứ 2, các cuộc vận động giải phóng v.v... đều khiến cho tư tưởng Đông Tây song song đổi mới rõ rệt và trưởng thành về nội dung tư tưởng. Cho nên, sự so sánh và nghiên cứu mối quan hệ hỗ tương giữa tư tưởng Đông và Tây là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết hiện nay.
Đông phương tối thắng đăng vương Như Lai kinh
東方最勝燈王如來經; C: dōngfāng zuì-shèng dēngwáng rúlái jīng; j: tōhō saishō tōō nyorai kyō; |1 quyển. Đông phương tối thắng đăng vương đà-la-ni kinh (東方最勝燈王陀羅尼經).
Đông phương tối thắng đăng vương đà-la-ni kinh
東方最勝燈王陀羅尼經; C: dōngfāng zuìshèng dēngwáng tuóluóní jīng; j: tōhō saishō tōō daranikyō; S: agrapradīpa-dhāraṇī-vidyārā-ja; T: rig sngags kyi rgyal po sgron ma mchog gi gzungs;|Có 6 bản dịch tiếng Hán hiện đang lưu hành:|1. An trạch đà-la-ni chú kinh (安宅陀羅尼呪經), 1 quyển, dịch giả vô danh; |2. Trì cú thần chú kinh (持句神呪經), 1 quyển; Chi Khiêm (支謙) dịch; |3. Đà-lân-ni-bát kinh (陀隣尼鉢經, s: dhāraṇīpasūtra), 1 quyển, Trúc Đàm Vô Sấm (竺曇無讖) dịch.|4. Đông phương tối thắng đăng vương đà-la-ni kinh (東方最勝燈王陀羅尼經), 1 quyển, Xà-na-quật-đa (闍那崛多, s: jñānagupta) dịch.|5. Đông phương tối thắng đăng vương Như Lai kinh (東方最勝燈王如來經), 1 quyển; Xà-na-quật-đa (闍那崛多, s: jñānagupta) dịch.| 6. Thánh tối thượng thắng minh Như Lai đà-la-ni kinh (聖最上燈明如來陀羅尼經), 1 quyển; Thí Hộ (施護, s: dānapāla) dịch.
Đông Phước Môn Viện
(東福門院, Tōfuku Monin, 1607-1678): tức Đức Xuyên Hòa Tử (德川和子, Tokugawa Masako), tên người nữ Trung Cung của Hậu Thủy Vĩ Thiên Hoàng (後水尾天皇, Gomizunō Tennō, tại vị 1611-1629), mẹ của Minh Chánh Thiên Hoàng (明正天皇, Meishō Tennō, tại vị 1629~1643); tên là Hòa Tử (和子), con gái của Đức Xuyên Tú Trung (德川秀忠, Tokugawa Hidetada); cháu nội của Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu). Bà được tuyển vào cung nội năm 1602, rồi đến năm 1624 thì làm chức Trung Cung. Trong cung nội, bà lấy tên là Nguyên Hòa Tử (源和子). Bà được ban cho Viện Hiệu vào ngày mồng 9 tháng 11 năm 1627 (Khoan Vĩnh [寛永] 4).
Đông Phước Tự 東福寺
[ja] トウフクジ Tōfukuji ||| Tōfukuji, the main temple of the Tōfukuji branch of Japanese Rinzai 臨濟宗, located in Kyoto 京都. Also known as Enichi-zan. Construction was completed in 1236 with Enni Bennen 圓爾辨圓 as the designated founder-priest. At one time the Tōfukuji had 53 satellite temples under its influence, but this was reduced to 25 after the Meiji Restoration. => j: Tōfukuji, Ngôi chùa chính, chi nhánh Đông phước tự thuộc dòng thiền Lâm Tế ở tại Kinh Đô. Còn được gọi là Enichi-zan. Việc kiến trúc được hoàn thành năm 1236 với ngài Viên Nhĩ Biện Viên (j: Enni Bennen 圓爾辨圓) được công nhận là vị tăng khai sáng. Vào lúc đó, Đông phước tự có 53 ngôi chùa chi nhánh, nhưng rồi giảm xuống chỉ còn 25 ngôi sau thời Minh Trị phục hưng.
đông phổ đà tự
3306位於香港新界荃灣之山腹。由天台宗之茂峰法師於民國二十二年(1933)冬集合信徒之力創建,殿宇巍峨,規模宏大,故命名爲千佛山。係仿大陸十方叢林之方式,集四方僧伽,專心修行,早晚課皆仿南海普陀山之儀式。每年開四次講經法會,宣揚教法;創辦佛教宗學研究班,令弟子專究天台、淨土二宗。
đông qua ấn tử
1549禪林用語。把冬瓜橫著切斷所蓋之印跡,雖似真印,但虛偽不實,禪林乃轉指師家接引學人時,未嚴加勘驗而隨便印可證明。碧巖錄第九十八則(大四八‧二二一下):「只管被諸方冬瓜印子印定了,便道:我會佛法奇特,莫教人知。」又「冬瓜直儱侗」一語,則指冬瓜雖真直,但未成熟之意;引喻為人之素性雖良好,但未成熟。儱侗,意謂未成熟。
; (冬瓜印子) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Con dấu được làm bằng quả bí đao. Lấy quả bí đao cắt ngang làm thành con dấu (ấn) tuy giống, nhưng con dấu giả chứ không phải dấu thật. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được mượn dùng để chỉ cho người thầy khi chưa xét nghiệm người học một cách thấu đáo mà đã vội tùy tiện ấn chứng cho họ. Bích nham lục tắc 98 (Đại 48, 221 hạ), ghi: Chỉ cần được các nơi dùng con dấu bí đao (đông qua ấn tử) ấn chứng cho rồi thì liền nói: Tôi hiểu Phật pháp rất kì đặc, chớ nói cho người khác biết. Ngoài ra, từ ngữ Đông qua trực lung đồng chỉ cho quả bí tuy đã thẳng nhưng vẫn chưa già đúng mức; dùng để dụ cho người tính vốn tốt nhưng chưa thành thục.
Đông Quan
(東關, Tōkan): tức Quan Đông (關東, Kantō), tức vùng đất rộng lớn hiện gồm 6 huyện lớn là Ibaraki (茨城), Tochigi (栃木), Gunma (群馬), Saitama (埼玉), Chiba (千葉) và Kanagawa (神奈川). Từ này đối với Quan Tây (關西, Kansai).
Đông Quốc
(東國, Tōgoku): các tiểu quốc phía đông, nghĩa là từ vùng đất phụ cận kinh thành của Hoàng triều đi về các tiểu quốc phía Đông.
đông sơ
3296(1908~1977)江蘇泰縣人,俗姓范。字鐙朗,號仁曙。以別號東初行。年十三,依本籍姜堰觀音庵靜禪和尚出家。年二十二,於寶華山受具足戒,先後就讀鎮江竹林佛學院及廈門閩南佛學院,親近太虛大師,繼而參禪於常州天寧寺,經年有省。民國二十四年(1935),於鎮江焦山定慧寺,受曹洞宗智光和尚付法,三十五年繼席該寺方丈。其間與其法兄雪煩共創佛學院,發行「中流」月刊。兩年後退方丈職,遊化京滬各地。三十八年抵臺灣,翌年,掩關於臺北北投法藏寺,次年於關中創辦「人生」月刊。四十五年創建中華佛教文化館。先後影印大正大藏經,並創辦「佛教文化」季刊。師曾任中國佛教會常務理事等職,但於卓錫臺灣之後,專心於修持及佛教文化事業之推廣,晚年致力於佛教史學之研究,中日佛教交通史、中印佛教交通史、中國佛教近代史三書,爲其代表性著作,此外尚有佛教藝術、禪、心經思想史等著作多種。由於撰作資料之蒐集,師曾數度遊訪印度、印尼,日本、美國等地。六十六年十二月示寂,世壽七十。僧臘五十七,法臘四十二。
; (東初) (1908 - 1977) Vị tăng Trung quốc, người huyện Thái, tỉnh Giang tô, họ Phạm, tự Đăng lãng, hiệu Nhân thự, biệt hiệu Đông sơ hành. Năm 13 tuổi, sư y vào hòa thượng Tĩnh thiền xuất gia ở am Quan âm tại Khương yển. Năm 22 tuổi, sư thụ giới Cụ túc ở núi Bảo hoa, rồi lần lượt theo học tại các Phật học viện Trúc lâm ở Trấn giang và Mân nam ở Hạ môn, được gần gũi đại sư Thái hư. Về sau, sư tham thiền ở chùa Thiên minh tại Thường châu. Năm Dân quốc thứ 24 (1935), sư được hòa thượng Trí quang tông Tào động phó thác ở chùa Định tuệ, núi Tiêu sơn, huyện Trấn giang. Năm Dân quốc 35 (1946), sư kế vị trụ trì chùa này. Trong thời gian trụ trì, sư cùng với sư huynh là Tuyết phiền sáng lập Phật học viện và phát hành nguyệt san Trung lưu. Hai năm sau sư từ chức trụ trì, đi hóa đạo ở Bắc kinh, Thượng hải. Năm Dân quốc 38 (1949), sư đến Đài loan, năm Dân quốc 39 (1950), sư đóng cửa nhập thất ở chùa Pháp tạng tại Bắc đầu, Đài bắc. Năm sau, sư sáng lập nguyệt san Nhân sinh. Năm Dân quốc 45 (1956), sư sáng lập Nhà Văn hóa Phật giáo Trung hoa, lần lượt in ảnh Đại chính tạng kinh, đồng thời, sáng lập báo Văn hóa Phật giáo ba tháng ra một kì. Sư từng giữ chức Chủ tịch thường vụ Hội Phật giáo Trung quốc, nhưng sau khi ra Đài loan, sư chuyên tâm vào việc tu trì và mở rộng sự nghiệp văn hóa Phật giáo. Về cuối đời, sư dốc toàn lực vào công trình nghiên cứu lịch sử Phật giáo. Và để sưu tập các tư liệu cho việc biên soạn, sư đã nhiều lần đến các nước: Ấn độ, Indonesia, Nhật bản, Hoa kì v.v... Tháng 12 năm Dân quốc 66, sư tịch, thọ 70 tuổi, 42 tuổi hạ. Sư có các tác phẩm: Trung Nhật Phật giáo giao thông sử, Trung Ấn Phật giáo giao thông sử, Trung quốc Phật giáo cận đại sử, Phật giáo nghệ thuật, Thiền, Tâm kinh tư tưởng sử.
Đông Sơn
(東山): có nghĩa là Bằng Mậu Sơn (憑茂山, tức Ngũ Tổ Sơn) thuộc Huyện Hoàng Mai (黃梅縣), Kì Châu (蘄州, thuộc Tỉnh Hồ Bắc), nơi Hoằng Nhẫn đã từng sống qua. Đối với Đạo Tín thì sống ở Tây Sơn (西山), tức Song Phong Sơn (雙峰山, tức Tứ Tổ Sơn) cùng huyện trên. Từ đó, Pháp Môn Đông Sơn có nghĩa là từ dùng để chỉ giáo lý của Hoằng Nhẫn và một phái của ông mà đã trở nên nổi tiếng trên khắp thiên hạ nhờ vào sự hoạt động của đệ tử ông. Theo Lăng Già Sư Tư Ký (楞伽師資記) cho rằng tương truyền Tắc Thiên Võ Hậu (則天武后) có tuyên bố rằng: "Nếu như tu hành có vấn đề thì không gì hơn là theo Pháp Môn Đông Sơn", và quả đúng với ý nghĩa như vậy. Tuy nhiên, ngày nay do sự khảo sát thấy mối quan hệ thầy trò rất rõ ràng, rồi địa vức hoạt động của họ lại rất gần nhau, vì vậy khi gọi Pháp Môn Đông Sơn có nghĩa là bao gồm cả Đạo Tín nữa.
đông sơn
3292位於湖北黃梅之雙峰山。原稱馮茂山(又稱馮墓山、馮母山),其山位於縣境之東,故又稱東山。亦稱五祖山。禪宗四祖道信、五祖弘忍皆住此山接引學人,舉揚禪風,世稱其所傳禪法爲東山法門,又稱東山淨門。其教法以指導初發心者爲主,具有漸悟之傾向,並可見禪宗教團獨特之儀禮與規則之源流。唐上元二年(675)弘忍示寂,門人神秀等葬其遺骸於此。後師戒、秀禪師、法演等亦先後來住,其中,法演乃楊岐派之大哲。山腰有真慧寺,爲弘忍所開創。〔宋高僧傳卷八、景德傳燈錄卷三、傳法正宗記卷六、佛祖歷代通載卷十九〕
; 1) Núi Đông: An eastern hill. 2) Đông Sơn Tự: An Eastern Hill Monastery.
; (東山) Cũng gọi Ngũ tổ sơn, Phùng mậu sơn, Phùng mộ sơn, Phùng mẫu sơn. Đây là dãy núi Song phong nằm về mạn đông huyện Hoàng mai tỉnh Hồ bắc cho nên cũng gọi là Đông sơn. Tứ tổ Đạo tín và Ngũ tổ Hoằng nhẫn của Thiền tông đều trụ tại đây để dẫn dắt người học, xiển dương Thiền phong, người đời gọi Thiền pháp do các ngài truyền là Pháp môn Đông sơn, hay Tịnh môn Đông sơn. Giáo pháp của các ngài nhằm chỉ dạy những người mới phát tâm là chính, gồm cả hai khuynh hướng tiệm và đốn đồng thời, trong đó, người ta cũng có thể thấy nguồn gốc các nghi lễ và qui tắc độc đáo của giáo đoàn Thiền tông. Năm Thượng nguyên thứ 2 (675) đời Đường, tổ Hoằng nhẫn thị tịch. Các đệ tử là Thần tú v.v... an táng di hài của ngài ở núi này. Về sau, các vị: Sư giới, Tú thiền sư, Pháp diễn v.v... cũng lần lượt đến ở đây. Ở lưng chừng núi có chùa Chân tuệ do tổ Hoằng nhẫn sáng lập. [X. Tống cao tăng truyện Q.8; Cảnh đức truyền đăng lục Q.3; Truyền pháp chính tông kí Q.6; Phật tổ lịch đại thông tải Q.19].
đông sơn bộ
Purvasailah (skt)—Phật Bát Thế La Bộ—Một trong năm hệ phái của Đại Chúng Bộ—One of the five divisions of the Mahasamghikah school—See Tây Sơn Trụ Bộ.
đông sơn pháp môn
Vì Ngũ Tổ hoằng pháp thiền tại núi Đông Sơn, nên các tòng lâm dùng hai chữ Đông Sơn để ám chỉ pháp môn của Ngũ Tổ dạy, nên gọi là pháp môn Đông Sơn.
; Pháp môn của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, trụ trì tại Hoàng Mai Đông Viện (chùa về phía đông của núi Hoàng Mai)—The Dharma Door (Intuitive School) from the fifth patriarch Hung-Jen, who resided at Huang-Mei eastern monastery.
Đông Sơn Thiền Tự
(東山禪寺): xem Ngũ Tổ Tự (五祖寺) bên dưới.
đông sơn trụ bộ
Purvasailah (skt)—See Tây Sơn Trụ Bộ.
Đông Sơn Tự
(東山寺): xem Ngũ Tổ Tự (五祖寺) bên dưới.
; (東山寺): còn gọi là Ngũ Tổ Tự (五祖寺), Đông Sơn Thiền Tự (東山禪寺), Đông Thiền Tự (東禪寺); hiện tọa lạc tại Ngũ Tổ Trấn (五祖鎭), Huyện Hoàng Mai (黃梅縣), Tỉnh Hồ Bắc (湖北省); là đạo tràng hoằng pháp của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, một trong những ngôi danh lam quan trọng của Phật Giáo thuộc địa khu Hán tộc. Chùa được kiến lập vào năm 654 (Vĩnh Huy [永徽] 5) nhà Đường.
đông sơn tự
Purvasaila-samgharama (skt)—Tự viện nằm về phía đông của núi Dhanakataka—A monastery east of Dhanakataka.
Đông Thiền Tự
(東禪寺): xem Ngũ Tổ Tự (五祖寺) bên dưới.
đông thiền tự
3308<一>位於福建福州白馬山。開創於梁大同五年(539),於中國刻經史佔有重要地位。北宋神宗元豐三年至政和二年(1080~1112),勅令於此開版大藏經,刻成「福州東禪寺版大藏經」,係最初於民間嘗試開版(私版)之大藏經。其間,沖真、了元、智賢,普明、達杲五人先後住持本寺。(參閱「中文大藏經」1001) <二>位於湖北黃梅縣西南。又稱蓮華寺、東漸寺。爲禪宗五祖弘忍(688~761)之道場,當時門下僧眾達七百餘人。據傳,五祖於碓房半夜密傳衣鉢予六祖慧能。寺內尚存六祖當年之簸糠池、墜腰石等遺蹟,此外另有名畫家吳道子所繪之傳衣圖。〔大清一統志卷二六四、湖廣通志卷七十八〕 <三>位於日本東京。號佛日山。屬臨濟宗妙心寺派。開創於慶長十五年(1610),係以飫肥城主伊東祐慶、麻布櫻田之邸宅爲寺地,嶺南崇六爲開山始祖,故今此地尚有「嶺南坂」之稱。安政、萬延年間,於本寺置英國公使館。文久元年(1861),發生水戶浪士殺傷公使之事件,此即東禪寺之變。明治維新後不久,遭回祿之災,現僅存佛殿、書院、山門。山門匾額「海上禪林」四字,係出自朝鮮雪峰之筆。〔本朝高僧傳卷四十五〕
; (東禪寺) I. Đông Thiền Tự. Chùa ở núi Bạch mã huyện Phúc châu tỉnh Phúc kiến, được sáng lập vào năm Đại đồng thứ 5 (539) đời nhà Lương. Chùa có một địa vị quan trọng trong lịch sử khắc bản kinh ở Trung quốc. Từ năm Nguyên phong thứ 3 đến năm Chính hòa thứ 2 (1080 - 1112), vua Thần tông nhà Bắc Tống ban sắc chỉ khắc bản Đại tạng kinh đầu tiên ở chùa này. Khi hoàn thành được gọi là Phúc Châu Đông Tự Bản Đại Tạng Kinh. Trong thời gian khắc kinh, năm vị: Xung chân, Liễu nguyên, Trí hiền, Phổ minh và Đạt cảo lần lượt trụ trì chùa này. (xt. Trung Văn Đại Tạng Kinh). II. Đông Thiền Tự. Cũng gọi Liên hoa tự, Đông tiệm tự. Chùa ở phía tây nam huyện Hoàng mai tỉnh Hồ bắc. Chùa này là đạo tràng của ngài Hoằng nhẫn (688-761), vị Tổ thứ 5 của Thiền tông Trung quốc. Bấy giờ, trong chùa có tới hơn 700 vị tăng tu tập và chính tại đạo tràng này, Ngũ tổ đã mật truyền y bát cho Lục tổ Tuệ năng. Hiện nay trong chùa vẫn còn các di tích của Lục tổ như: Ao sàng cám, hòn đá mà Lục tổ đeo trên lưng để giã gạo v.v... Ngoài ra còn có bức tranh truyền y do Ngô đạo tử vẽ. [X. Đại thanh nhất thống chí Q.264; Hồ quảng thông chí Q.78].
đông thuyền
Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Tên hiệu đầy đủ của chùa là Linh Sơn Đông Thuyền Tự, tọa lạc trên một đỉnh đồi thoáng đãng tại ấp Cư Sĩ, làng Dương Xuân Thượng. Chùa vốn do Hòa Thượng Tế Vỹ, một trong những cao túc của Tổ Liễu Quán khai sơn vào khoảng giữa thế kỷ thứ 18. Ban đầu chùa chỉ là một thảo am. Sau khi Hòa Thượng Tế Vỹ thị tịch, sư Đại Quang Tuệ Chiếu kế tục trụ tri, nhưng trải qua những biến động vào cuối thế kỷ thứ 18, chùa trở thành hoang phế. Hơn mười năm sau, khi vua Gia Long đã lên ngôi, để tưởng nhớ đến dấu tích của một cao túc của tổ Liễu Quán, Hòa Thượng Đạo Tâm Trung Hậu bên chùa Thuyền Tôn đã dựng lại thảo am. Năm 1838, hoàng nữ thứ 13 của vua Gia Long là Nguyễn Phước Ngọc Cơ, sau khi chồng con mất sớm, đã xuống tóc thọ giới Sa Di với Hòa Thượng Tánh Không, đã xây dựng một từ đường phía sau chùa làm nơi thờ tự chồng con mât sớm, họ hàng của bà, và cho chính bà về sau nầy. Đến năm 1842, bà ngọc Cơ với tư cách là Hội Chủ của chùa, đã cùng với những bà con trong hoàng tộc đứng ra đảm trách việc trùng tu chùa. Qui mô trùng tu gồm chánh điện vuông một gian hai chái, phương trượng, Tăng xá, thiền đường, hậu liêu hơn mười phòng. Đồng thời đúc một tượng Tam Thế Phật, Phật Quán Âm bằng đồng, cũng như các tượng khác và các pháp khí trong chùa, cùng đại hồng chung nặng nặng 398 cân. Sau khi việc trùng tu hoàn tất, Hòa Thượng Tế Chính Bổn Giác, tăng cang chùa Giác Hoàng đã sang để chứng minh trong cùng năm ấy. Sau khi bà Ngọc Cơ thị tịch, chùa Đông Thuyền được giao cho các vị thừa tự thuộc hai thôn Dương Xuân Thượng và Hạ trông coi, lưu truyền được ba đời. Đến năm 1978, vị thừa tự cuối cùng đã hiến chùa lại cho giáo hội, sư bà Diệu Không đảm nhận việc trụ trì và trùng tu chùa, đã cử Ni sư Diệu Đạt từ chùa Hồng Ân ra trông coi. Năm 1987 và 1989, tôn tạo lại từ đường Công chúa, xây dựng hậu liêu, tịnh trà, cũng như cổng tam quan. Ngày nay chùa Đông Thuyền vẫn còn giữ được nét cổ kính với kiểu kiến trúc buổi đầu triều Nguyễn—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The full name is Linh Sơn Đông Thuyền Tự, situated on an open hill at Cư Sĩ hamlet, Dương Xuân Thượng village. The temple was built in the middle of the eighteenth century by Most Venerable Tế Vỹ, one of the highly enlightened disciples of Patriarch Liễu Quán. From the beginning, the temple was only a thatched house. After the the death of Most Venerable Tế Vỹ, Venerable Đại Quang Tuệ Chiếu took over. However, after the crises in the late eighteenth century, the temple was left in ruins. More than ten years later, when king Gia Long already ascended the throne. Most Venerable Đạo Tâm Trung Hậu from Thuyền Tôn temple rebuilt the thatched house as a dedication to the relic of the living place of one of Patriarch Liễu Quán's best disciples. In 1838, the thirteenth princess of king Gia Long, Nguyễn Phước Ngọc Cơ, who left home and became a novice with Most Venerable Tánh Không after her husband and children passed away in their young age, built a worship house in the back of the temple to worship her husband and children, her dead relatives, as well as for her worship after her death. In 1842, as head of the congregation, she together with her realtives in the royal family undertook the reconstruction of the temple. The new structure consisted of a square main hall with two side-rooms, the headmonk's residence, houses for staff, meditation hall, and a back house with more than ten rooms. The set of statues of Past, Present and Future Buddhas and a statue of Avalokitesvara Bodhisattva in bronze were cast, and a great-size bell, 398 pounds, and most of other statues in the temple were made this time. After the reconstruction was completed, Most Venerable Tế Chính Bổn Giác, a royal-recognized monk from Giác Hoàng temple, inaugurated the new temple in the same year. After the princess' death, Đông Thuyền temple was entrusted to the heirs in the princess' family in Dương Xuân Thượng and Hạ hamlets. The worship was thus carried on for three generations. The in 1978, the last heir of the family submitted the temple to the Buddhist official authority. Most venerable Nun Diệu Không assigned Nun Diệu Đạt from Hồng Ân temple to take charge of the temple. In 1987 and 1989, Bhikkhuni Diệu Đạt rebuilt the princess' worship house, the back house, tea house, and a three-entrance gate. Đông Thuyền nowadays still keeps its antique appearance in the architectural style of the earliest times of the Nguyễn Dynasty.
đông tháp tông
3306唐代四分律宗三家之一。又稱東塔部宗、東塔律宗。唐代懷素(634~707)爲初祖,以其居長安崇福寺東塔,故有此稱。懷素初投玄奘,研習經論,未久從南山宗道宣,習四分律刪繁補闕行事鈔,後又從相部宗學法礪之四分律疏,以其未能盡善,遂於永淳元年(682)撰四分律開宗記二十卷,糾彈舊疏十六大義之缺失,而別創一家,世稱新章(新疏)。後又作新疏拾遺鈔二十卷、俱舍論疏十五卷,並親自宣講新章五十餘遍,一時學者歸之。懷素之門下有法慎、義嵩,隨學律文,尤以法慎且講說新章,門風甚盛。至代宗時,宰相元載篤敬懷素,推崇律教,曾書寫新疏四十部、法華經疏三十部等,並傳行之;又命安國寺之如淨爲懷素作傳。另有康皋設立靈壇,傳授律藏,一時新章大行關中。 其前,有滿意門下之定賓作破迷執記一卷,破斥新章,擁護舊疏。故歷來相部、東塔之間,就新舊兩疏之得失論諍不絕。唐代宗崇敬佛門,欲斷此諍,乃於大曆十三年(778)集三家之大德如淨、圓照等十四人,於安國寺校定新舊兩疏,兼採其長。大抵,懷素主張以戒行爲宗,又提倡色法戒體之說,謂定慧乃戒學之所攝,評破古師之以止作、受隨、止惡、止善、教行、專精不犯、因果等爲宗,故據說一切有部之理論,認爲戒體屬於色法。要言之,法礪以成實論爲根本;懷素則以大毘婆沙論、俱舍論爲依據。〔律宗綱要卷上、卷下、宋高僧傳卷十四、卷十五、四分律開宗記卷一、大唐貞元續開元釋教錄卷中、八宗綱要卷下〕(參閱「四分律」1665、「定賓」3183、「律宗」3795、「相部宗」3908、「懷素」6663)
; (東塔宗) Cũng gọi Đông tháp bộ tông, Đông tháp luật tông. Luật tông do sư Hoài tô (634-707) sáng lập vào đời Đường, Trung quốc, vì sư ở ngôi tháp phía đông chùa Sùng phúc tại Trường an nên gọi tông phái của sư là tông Đông tháp. Lúc đầu, sư theo ngài Huyền trang học tập kinh luận, không bao lâu sư đến nơi ngài Đạo tuyên nghiên cứu Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao. Về sau, sư lại theo Tướng bộ tông học Tứ phần luật sớ của ngài Pháp lệ; vì nhận thấy Tứ phần luật sớ chưa được hoàn hảo, nên vào niêm hiệu Vĩnh thuần năm đầu (682), sư soạn bộ Tứ phần luật khai tông kí 20 quyển, để kiểm xét lại và bổ túc 16 nghĩa quan trọng mà bộ sớ cũ (Tứ phần luật sớ) đã bỏ sót. Từ đó sư sáng lập riêng một phái mà người đời gọi là Tân chương (Tân sớ, Sớ mới). Về sau, Hoài tố lại soạn Tân sớ thập di sao 20 quyển, rồi đích thân tuyên giảng Tân sớ, người đến theo học rất đông. Tuy nhiên, đệ tử của ngài Mẫn ý là sư Định tân có soạn Phá mê chấp kí 1 quyển để bài bác Tân chương mà ủng hộ Cựu sớ. Do đó, giữa Tướng bộ và Đông tháp đã diễn ra một cuộc tranh luận dai dẳng bất phân thắng phụ. Để chấm dứt cuộc tranh luận kéo dài, năm Đại lịch 13 (778), vua Đường Đại tông triệu tập các bậc Đại đức của cả ba tông phái (Nam sơn, Tướng bộ, Đông tháp) gồm 14 vị như: Như tịnh, Viên chiếu v.v... đến chùa An quốc để kiểm xét lại hai bộ sớ mới và cũ rồi đúc kết lấy những ưu điểm của cả hai bộ. Đại khái, sư Hoài tố lấy giới hạnh làm tông và đề xướng thuyết Giới thể sắc pháp, cho rằng Giới học bao hàm cả Định, Tuệ, bác bỏ chủ trương lấy chỉ tác, thụ tùy, chỉ ác, chỉ thiện, giáo hành, chuyên tinh bất phạm, nhân quả v.v... làm tông. Tóm lại, sư Hoài tố lấy các luận Đại tì bà sa và Câu xá làm chỗ y cứ. [X. Luật tông cương yếu Q.thượng, Q.hạ; Tống cao tăng truyện Q.14, Q.15; Tứ phần luật khai tông kí Q.1; Đại đường trinh nguyên tục thích giáo lục Q.trung; Bát tông cương yếu Q.hạ]. (xt. Tứ Phần Luật, Định Tân, Luật Tông, Tướng Bộ Tông, Hoài Tố).
Đông thắng thân châu
東勝身洲; C: dōngshèngshēnzhōu; j: tōshōshinshū; S: pūrva-videhaḥ. |Một trong Tứ đại châu (四大洲) theo vũ trụ quan thần thoại Ấn Độ, nằm về phía Đông của núi Tu-di.
Đông thắng thân châu 東勝身洲
[ja]トウショウシンシュウ tōshōshinshū ||| The continent of Pūrva-videhaḥ, one of the four great continents 四大洲of Indian mythical cosmology, which is located on the eastern side of Mt. Sumeru 須彌山. => (s: Pūrva-videhaḥ) Một trong tứ đại châu theo vũ trụ quan thần thoại Ấn Độ, nằm về phía Đông của núi Tu-di.
đông thắng thần châu
Pùrvavideha (S). The eastern of the four great continents of a world, east of Mt Meru, semicircular in shape.
; Purvavideha (skt)—Phật Bà Đề—Phật Bà Tỳ Đề Ha—See Tứ Châu (4).
đông ti
3295指禪林東序之僧所用之廁所,至後世,成爲廁所之通稱。又稱東淨、後架、起止處、雪隱。廁所乃至穢之處,應保持清潔,故稱淨、圊(清之意)。蓋東序之僧所用之廁所,稱爲東司、東淨;對此,西序之僧所用之廁所,則稱爲西司、西淨。又負責清理廁所之職者,稱爲淨頭,爲叢林四十八單職事之一。此外,古來廁所又稱雪隱,係因雪竇重顯止於靈隱寺時曾任淨頭之職。〔釋氏要覽卷下屏廁條、禪林象器箋殿堂門、職位門〕
; (東司) Cũng gọi là Đông tịnh, Hậu giá, Khởi chỉ xứ, Tuyết ẩn. Nhà vệ sinh dành cho chư tăng của Đông tự trong Thiền lâm, nhưng đến đời sau thì trở thành nhà vệ sinh chung. Trái lại, nhà vệ sinh dành cho chư tăng của Tây tự thì gọi là Tây ty, Tây tịnh. Người phụ trách việc quét dọn nhà vệ sinh gọi là Tịnh đầu, là một trong 48 chức sự của tùng lâm. Bởi vì, nhà vệ sinh là nơi rất bẩn thỉu, hôi hám, phải luôn luôn giữ gìn sạch sẽ nên gọi là Tịnh (sạch sẽ). Ngoài ra, xưa nay nhà vệ sinh trong Thiền lâm còn được gọi là Tuyết ẩn, là vì lúc ngài Tuyết đậu Trùng hiển ở chùa Linh ẩn có lần giữ chức Tịnh đầu. [X. mục Bình xí trong Thích thị yếu lãm Q.hạ; môn Điện đường, môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
đông tiết
1551叢林四節之一,即指冬至之日。於此日,用湯之後,大眾共食糍果,其後才進用藥石(晚餐)。又於此日,大眾必互行賀儀;於事先,公佈此一儀禮之告示牌,稱為冬牓。禪苑清規卷二冬年人事條(卍續一一一‧四四四下):「冬牓云:『聊表至節陳賀之儀。』」此外,冬至又稱亞歲。亞者,次之意;歲,指新年。蓋以冬至為次於新年之大節慶,故稱亞歲。又冬至之夜,稱為分冬;此因當日之夜晚,春氣已漸有回甦之機。〔虛堂和尚語錄卷九、敕修百丈清規卷七庫司四節特為首座大眾湯條〕
; (冬節) Chỉ cho ngày Đông chí, một trong bốn lễ tiết hằng năm của tùng lâm. Vào ngày này, sau khi dùng trà, đại chúng ăn bánh và trái cây rồi sau đó mới ăn cơm chiều. Cũng nhân dịp này, đại chúng phải chúc mừng lẫn nhau. Nghi thức chúc mừng được công bố trước trên bảng, gọi là Đông bảng. Ngoài ra, Đông chí là ngày lễ lớn thứ 2 trong năm, chỉ đứng sau năm mới, nên cũng gọi là Á tuế. Còn đêm Đông chí thì gọi là Phân đông, vì buổi chiều tối của ngày này khí xuân dần dần hồi sinh.
đông trai
1551禪林於冬至特設之齋會。冬至秉拂之時,都寺必為大眾營辦冬齋。禪苑清規卷三監院條(卍續一一一‧四四五下):「眾僧齋粥,常運勝心,管待四來,不宜輕易,如冬齋、年齋、解夏齋、結夏齋、多(疑作炙)茄會(端午、七夕、重九、開爐、閉爐、臘八、二月半是)。」又於冬至之日所行之上堂,稱為冬至上堂。〔禪林象器箋卷十四祭供門〕
; (冬齋) Trai hội đặc biệt vào ngày Đông chí trong Thiền lâm. Khi lên giảng đường thuyết pháp vào ngày Đông chí, vị Đô tự phải sửa soạn đông trai cúng dường đại chúng. Mục giám viện trong Thiền uyển thanh qui (Vạn tục 111, 445 hạ), nói: Vào các dịp trai hội như: Đông trai, Niên trai, Giải hạ trai, Kết hạ trai, Chá giá hội (Đoan ngọ, Thất tịch, Trùng cưu, Khai lư, Bế lư, Lạp bát, Nhị nguyệt bán), v.v... phải hết lòng lo việc ăn uống cho chúng tăng từ các nơi đến, không được sơ suất. [X. môn Tế cúng trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.14].
đông triều
1551指冬至之晨。禪林中,於是日之晨必行賀儀。〔幻住庵清規月進條〕
; Sáng sớm ngày Đông Chí—The morning of the winter soltice.
; (冬朝) Buổi sáng sớm ngày Đông chí. Trong Thiền lâm, vào sáng ngày này, chư tăng thường chúc mừng nhau. [X. mục Nguyệt tiến trong Huyễn trụ am thanh qui].
đông tây nhị ban
See Tri Sự Đầu Thủ.
đông tịnh
Nhà xí trong tự viện—The pivy in a monastery.
đông tịnh tự
3306位於臺灣花蓮縣。民國前四年(1908)由地方善信集資興建。原爲兩寺,一名東臺寺,一名淨光寺,合併後稱東淨寺。寺內建有靈光塔,塔高十餘丈,中分十層,古色古香,內有名家壁畫百餘幀。爲東臺灣佛教名剎。
đông tự
3296禪宗寺院中,立於佛殿、法堂東側之班位,乃指通曉世法之僧眾。即指知事,知事位。對此,立於西側者稱西序,指長於學德者,即頭首、頭首位。勅修百丈清規卷四方丈特爲新舊兩序湯(大四八‧一一三五上):「光伴者,列主伴兩邊,西序居左,東序居右。」又並列於東序之都寺、監寺、副寺、維那、典座、直歲等六知事,稱爲東序知事。〔勅修百丈清規卷四東序知事、叢林校定清規總要、禪林象器箋職位門〕(參閱「兩序」3070)
; (東序) Trong chùa viện thuộc Thiền tông, từ ngữ Đông tự là chỉ chung cho những vị tăng thông hiểu các pháp thế gian, giữ các chức vụ như Tri sự, Tri sự vị, được phân ban ở phía đông điện Phật và Pháp đường. Trái lại, những vị có học vấn và giới đức cao giữ các chức vụ như Đầu thủ, Đầu thủ vị thì được sắp xếp ở phía tây gọi là Tây tự. Mục Phương trượng đặc vị tân cựu lưỡng tự thang trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1135 thượng), nói: Người tiếp đãi, bày xếp hai bên chủ và khách: Tây tự ở bên trái, Đông tự ở bên phải. Ngoài ra, sáu vị: Đô tự, Giám tự, Phó tự, Duy na, Điển tọa và Trực tuế của Đông tự gọi là Đông tự Tri sự. [X. mục Đông tự tri sự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4; Tùng lâm giáo định thanh qui tổng yếu; Thiền lâm tượng khí tiên chức vị môn]. (xt. Lưỡng Tự).
đông tự mạn đồ la
3295指日僧空海於大同元年(806)自我國攜入日本,現藏於京都東寺灌頂院之彩繪金胎兩部曼荼羅。又作御修法曼荼羅。爲日本現圖曼荼羅之根本圖,亦爲日本兩部曼荼羅之濫觴。〔金剛界曼荼羅鈔卷上、御請來目錄〕
; (東寺曼荼羅) Cũng gọi Ngự tu pháp mạn đồ la. Bức tranh Mạn đồ là Kim cương bộ và Thai tạng bộ do sư Không hải mang từ Trung quốc về Nhật bản vào niên hiệu Đại đồng năm đầu (806), hiện được cất giữ ở viện Quán đính của chùa Đông tự ở Kyoto. Đây là bức vẽ căn bản của Hiện đồ mạn đồ la Nhật bản, đồng thời, cũng là nguồn gốc của hai bộ mạn đồ la Nhật bản. [X. Kim cương giới mạn đồ la sao Q.thượng; Ngự thỉnh lai mục lục].
Đông Tự Như Hội
(東寺如會, Tōji Nyoe, 744-823): người vùng Thiều Châu (韶州, Tỉnh Quảng Đông). Ông xuất gia lúc nhỏ tuổi, vào năm thứ 8 (773) niên hiệu Đại Lịch (大曆), ông đến tham vấn Kính Sơn Pháp Khâm (徑山法欽), và sau kế thừa dòng pháp của Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一). Đương thời, môn hạ của Mã Tổ rất đông, khi Như Hội vào Tăng Đường thì Thiền sàng bị gãy, nên được gọi là Hội Gãy Sàng. Sau ông đến trú tại Đông Tự (東寺) ở Đàm Châu (潭州, thuộc Tỉnh Hồ Nam), rồi đến ngày 19 tháng 8 năm thứ 3 (823) niên hiệu Trường Khánh (長慶) thì ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi. Ông được ban cho thụy hiệu là Truyền Minh Đại Sư (傳明大師).
Đông vực truyền đăng mục lục
東域傳燈目録; C: dōngyù chuándēng mùlù; j: tōiki dentō mokuroku; |1 quyển, của Vĩnh Siêu (永超. j: eichō).
Đông vực truyền đăng mục lục 東域傳燈目録
[ja] トウイキデントウモクロク Touiki dentō mokuroku ||| Tōiki dentō mokuroku 1 fasc., by Eichō 永超. T 2183.55.1145c-1165b. => (j: Tōiki dentō mokuroku), 1 quyển, của Vĩnh Siêu (j: Eichō 永超).
đông vực truyện đăng mục lục
3305全一卷或二卷。日本永超編述(1094)。收於大正藏第五十五冊。全書集流布於日本之經典目錄,計分弘經錄、傳律錄、講論錄、雜述錄、傳記錄等五科。(一)弘經錄,分爲華嚴、般若、法華、眾經等四種,計七一八部。(二)傳律錄,內收梵網經義記等大小乘律部注書一○四部。(三)講論錄,收大乘釋經論、大乘集義論末釋三九八部及小乘論疏記四十二部。(四)雜述錄與(五)傳記錄不分,共計收錄大乘義章以下章疏紀傳二六七部、西域諸賢著述十二部、梵釋寺錄傳記書目外十四部、護命僧正撰述書目外二十七部。以上五科總合一五八二部。又各項之下,列有卷數、作者,間亦有考注。〔諸宗章疏錄卷二〕
; (東域傳燈目錄) Có 1 quyển hoặc 2 quyển, do ngài Vĩnh siêu người Nhật bản biên soạn vào năm 1094, thu vào Đại chính tạng tập 55. Nội dung sách này biên tập mục lục các kinh điển được truyền bá ở Nhật bản gồm tất cả 1582 bộ chia làm năm khoa: 1. Hoằng kinh lục: Gồm 718 bộ, chia làm bốn loại: Hoa nghiêm, Bát nhã, Pháp hoa, Chúng kinh v.v... 2. Truyền luật lục: Trong đây thu gom 104 bộ sách chú giải các bộ luật Đại thừa, Tiểu thừa như Phạm võng kinh nghĩa kí v.v... 3. Giảng luận lục: Thu 398 bộ luận Đại thừa như Đại thừa thích kinh luận, Đại thừa tập nghĩa luận mạt thích và 42 bộ Tiểu thừa luận sớ kí v.v... 4. Tạp thuật lục 5. Truyện kí lục Hai khoa này thu chép tất cả từ Đại thừa nghĩa chương trở xuống đến Chương sớ kỉ truyện gồm 267 bộ, Tây vực chư hiền trước thuật 12 bộ, Phạm thích tự lục truyện kí thư mục ngoại 14 bộ, Hộ mệnh tăng chính soạn thuật thư mục ngoại 27 bộ. Dưới mỗi hạng mục có ghi số quyển, tác giả và thỉnh thoảng có phần chú thích. [X. Chư tông chương sớ lục Q.2].
Đông Đại Tự
(東大寺, Tōdai-ji): ngôi chùa Tổng Bản Sơn của Hoa Nghiêm Tông Nhật Bản, hiện tọa lạc tại Zasshi-chō (雜司町), Nara-shi (奈良市), Nara-ken (奈良縣). Chùa còn có các tên gọi khác như Kim Quang Minh Tứ Thiên Vương Hộ Quốc Chi Tự (金光明四天王護國之寺), Đại Hoa Nghiêm Tự (大華嚴寺), Thành Đại Tự (城大寺), Tổng Quốc Phận Tự (總國分寺), là một trong bảy ngôi chùa lớn của vùng Nam Đô. Hiệu chùa có nghĩa là ngôi chùa lớn nằm ở phía đông kinh đô Bình Thành (平城). Tên chùa được tìm thấy lần đầu tiên trong phần Đông Đại Tự Tả Kinh Sở Giải Án (東大寺冩經所解案) ghi tháng 11 năm thứ 9 (747) niên hiệu Thiên Bình (天平) thứ 9 của Chánh Thương Viện Văn Thư (正倉院文書) và đôi khi trong văn thư này chùa được gọi là Đông Tự (東寺). Theo Tục Nhật Bản Kỷ (續日本書紀), nhân ghé tham bái Tri Thức Tự (知識寺) ở tiểu quốc Hà Nội (河內, Kawauchi) vào tháng 2 năm thứ 12 (748) cùng niên hiệu trên, Thánh Võ Thiên Hoàng (聖武天皇, Shōmu Tennō, tại vị 724-749) thấy tượng Lô Xá Na Phật (盧舍那佛) tướng hảo trang nghiêm, bèn thốt lên rằng: “Trẫm cũng tạo tượng này để tôn thờ”; cho nên nhà vua phát nguyện tạc tượng Phật. Vào ngày rằm tháng 10 năm thứ 15 cùng niên hiệu trên, dựa trên cơ sở giáo lý của Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經), chiếu chỉ tạo lập tượng Đại Phật Lô Xá Na được ban bố. Chiếu chỉ này thể hiện đế quyền vĩ đại trên cơ sở của Chế Độ Luật Lịnh, kêu gọi sự viện trợ của đại chúng quốc dân. Chánh điện chùa thờ đức Phật Tỳ Lô Giá Na (Vairocana Buddha), rất nổi tiếng với danh hiệu là Đại Phật Nại Lương. Vào năm 751 (năm thứ 3 niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo [天平勝寳]), Đại Hùng Bảo Điện được hoàn thành, năm sau thì tiến hành lễ Khai Nhãn Cúng Dường tượng Đại Phật, rồi đến năm 754 vị Đường tăng của Trung Hoa là Giám Chơn (鑑眞, Ganjin) đã thiết lập Giới Đàn Viện tại chùa và đây được xem như là một trong ba giới đàn lớn nhất của Nhật Bản. Đến thế kỷ thứ 9, chùa có cả trang viên và Tăng binh rộng lớn, cho nên uy thế của chùa rất nổi bật. Kể từ khi thành lập cho đến nay, chùa hiện còn một số kiến trúc đường xá như Pháp Hoa Đường (法華堂), Chuyển Hại Môn (轉害門), Kinh Khố (經庫) và Chánh Thương Viện (正倉院), v.v. Chùa hiện tàng trữ các tượng Phật được làm vào thời đại Thiên Bình, và cổng Nam Đại Môn Nhân Vương thuộc thời đại Liêm Thương là do sự hợp tác của Vận Khánh (運慶) và Khoái Khánh (快慶). Chánh điện Đại Phật hiện tồn được trùng tu vào giữa thời Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1868), là kiến trúc làm bằng gỗ lớn nhất thế giới.
đông đại tự
3291<一>爲河南洛陽之最大巨剎。俗稱勅賜護國迎恩寺。始創於明萬曆年間(1573~1619),爲近世臨濟宗之寺院。清乾隆七年(1742)重修,寺中左右壁上有佛傳、華嚴會等圖示。 <二>位於日本奈良。爲華嚴宗總本山。又稱大華嚴寺、恆說華嚴寺、城大寺、總國分寺、金光明四天王護國寺。世稱爲四聖建立(本願聖武天皇、開基良辨、勸進行基、導師菩提仙那)。欲使華嚴經之蓮華藏世界實現於現世並興隆佛法,聖武天皇遂於天平十年(738)頒發東大寺營造詔勅,建立以金銅盧舍那佛(奈良大佛)爲中心的大伽藍;天平勝寶四年(752),舉行盛大之開光典禮。與藤原氏之氏寺興福寺並稱爲南都之代表寺,爲南都七大寺之一。治承四年(1180),遭平重衡之兵火燒毀。其後,俊乘由於源賴朝之援助,乃再興之。永祿十年(1567),復受三好、松永之兵火燒毀。至元祿時代,公慶再度修整,即今安置本尊之大佛殿。 本寺寺域極廣,諸堂散布各處。中心之大佛殿係世界最大之木造建築,爲一回廊圍繞之雙層四注造。本尊盧舍那佛臺座之蓮瓣,製於該寺創立之時,爲毛彫之蓮華藏世界,其頭部補修於江戶時期。堂前之八角金銅燈籠之扉,屬流麗之天平工藝,上有精緻浮彫。該寺正南面之南大門爲鎌倉時期之大建築,係一天竺式之代表作。兩側之金剛力士爲運慶、快慶所作之最大木造傑作。大佛殿東面山麓之三月堂(法華堂),其年代較東大寺爲古,稱爲金鐘寺、羂索院。天平時期之本堂與鎌倉時期之禮堂,自外觀看,則調和爲一體。本尊之不空羂索觀音(乾漆造)爲莊嚴的天平巨佛。日光、月光(塑造)與四天王像,均爲天平佛,此外另有其他佛像與之並排而立。背面廚子則置有祕佛執金剛神像。著名的「取水」行事之起點爲二月堂與佛殿之間的開山堂(良辨堂)、鐘樓、三昧堂(四月堂)等鎌倉建築。大佛殿西側戒壇院爲三戒壇之一。四天平像(塑造)爲天平彫刻之代表作。西北隅之轉害門爲天平的八腳門。北側的正倉院亦屬東大寺所轄。彫刻方面有僧形八幡、金銅釋迦誕生佛;肖像方面有良辨、俊乘之肖像畫。此外,東大寺圖書館另藏有伎樂舞樂面七面、俱舍曼荼羅、華嚴五十五個所繪卷、東大寺要錄十冊、古文書、古寫經等。
; (東大寺) I. Đông Đại Tự. Cũng gọi Sắc tứ hộ quốc nghinh ân tự. Ngôi chùa lớn nhất ở huyện Lạc dương, tỉnh Hà nam, Trung quốc, được sáng lập vào khoảng năm Vạn lịch (1573 - 1619) đời Minh. Thời gần đây, chùa này thuộc về tông Lâm tế. Năm Càn long thứ 7 (1742) đời Thanh, chùa được sửa lại, trên vách ở hai bên trong chùa có vẽ sự tích đức Phật và hội Hoa nghiêm. II. Đông Đại Tự. Cũng gọi Đại Hoa nghiêm tự, Hằng thuyết hoa nghiêm tự, Thành đại tự, Tổng quốc phần tự, Kim quang minh tứ thiên vương hộ quốc tự. Chùa ở thành phố Nại lương Nhật bản, là Tổng bản sơn (chùa Trung ương) của tông Hoa nghiêm. Muốn thế giới Liên hoa tạng được thực hiện ngay ở cõi đời này và muốn Phật pháp được hưng thịnh, vào năm Thiên bình thứ 10 (738), Thiên hoàng Thánh vũ ban lệnh kiến tạo chùa Đông đại, đúc tượng Phật Tì lô giá na bằng đồng (Đại Phật ở Nại lương), được hoàn thành vào năm Thái bình thiên bảo thứ 4 (752), là một trong bảy ngôi chùa lớn ở Nam đô. Năm Trị thừa thứ 4 (1180) chùa bị quân lính của Bình trọng hoành thiêu hủy trong chiến tranh. Về sau, ngài Tuấn thừa kiến thiết lại với sự giúp đỡ của Nguyên lại triều. Năm Vĩnh lộc thứ 10 (1567) chùa lại bị binh hỏa Tam hảo, Tùng vĩnh đốt cháy. Đến thời đại Nguyên lộc (1688 - 1703) ngài Công khánh lại trùng tu, tức là điện Đại Phật thờ tượng Bản tôn hiện nay. Điện Đại Phật là kiến trúc bằng gỗ lớn nhất thế giới, làm theo kiểu 2 tầng 4 mái và 1 dãy hành lang bao quanh. Những cánh sen trên tòa cao của đức Phật Bản tôn Lô xá na được làm vào thời kì sáng lập chùa này, là thế giới Liên hoa tạng được chạm trổ rất nhỏ, bộ phần đầu được tu bổ vào thời đại Giang hộ. Các cánh cửa của chiếc lồng đèn bằng đồng hình tám góc ở trước Đại điện là nghệ thuật thuộc thời Thiên bình, trên có những bức chạm nổi rất tinh vi. Cổng lớn ở hướng chính nam của chùa là kiến trúc thuộc thời kì Liêm thương, tiêu biểu cho kiểu kiến trúc ở Ấn độ. Tượng Lực sĩ Kim cương ở hai bên Đại điện là kiệt tác bằng gỗ lớn nhất do Vận khánh và Khoái khánh chạm trổ. Tam nguyệt đường (Pháp hoa đường) ở chân núi phía đông điện Đại Phật có niên đại xưa hơn chùa Đông đại, gọi là chùa Kim chung, viện Quyên sách. Nhìn từ ngoài thì Bản đường của thời kì Thiên bình và Lễ đường của thời đại Liêm thương hòa hài với nhau thành một thể. Tượng đức Bản tôn Quyên sách quan âm (bằng sơn khô), tượng Nhật quang, Nguyệt quang (tượng đắp) và Tứ thiên vương, đều là những tượng được tạo vào thời Thiên bình. Ngoài ra còn nhiều tượng Phật khác nữa. Phía sau nhà bếp có thờ tượng Bí phật chấp kim cương thần. Ở khoảng giữa Nhị nguyệt đường và Phật điện là Khai sơn đường(Lương biện đường), lầu chuông, Tam muội đường (Tứ nguyệt đường) v.v... đều là những kiến trúc nổi tiếng của thời đại Liêm thương. Viện Giới đàn ở phía tây điện Đại Phật là một trong ba giới đàn. Tượng Tứ thiên vương (tượng đắp) là tác phẩm tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc của thời đại Thiên bình. Bát cước môn ở góc tây bắc của Chuyển hại môn là kiến trúc ở thời Thiên bình. Viện Chính thương ở phía bắc cũng nằm trong phạm vi của chùa Đông đại. Về phương diện chạm trổ thì có tám lá phướn hình vị tăng, tượng Phật Thích ca đản sinh bằng đồng; về chân dung thì có tranh của Lương biện và Thừa tuấn. Ngoài ra, thư viện chùa Đông đại còn cất giữ nhiều thứ nhạc cụ, Câu xá mạn đồ la, 55 cuộn tranh về kinh Hoa nghiêm, Đông đại tự yếu lục 10 tập, văn thư xưa, kinh chép tay thời cổ v.v...
đông địa
See Đông Độ in Vietnamese-English Section.
Đông Độ
(東土): vùng đất, đất nước, địa phương ở phía Đông, tức Trung Hoa; là từ dùng đối với Tây Thiên (西天), tức Ấn Độ. Trong Truyền Đăng Lục (傳燈錄) 18, chương Huyền Sa Sư Bị (玄沙師僃) có đoạn: “Sư viết: 'Đạt Ma bất lai Đông Độ, Nhị Tổ bất vãng Tây Thiên' (師曰、達磨不來東土、二祖不徃西天, sư nói: 'Đạt Ma không đến Đông Độ, Nhị Tổ chẳng về Tây Thiên').” Hay như trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀) quyển 53 cũng có câu: “Tây Thiên cầu pháp, Đông Độ dịch kinh (西天求法、東土譯經, Ấn Độ cầu pháp, Trung Hoa dịch kinh).” Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂, 807-883), vị tăng của Tông Quy Ngưỡng (潙仰宗), có danh hiệu là “Đông Độ Tiểu Thích Ca (東土小釋迦, Thích Ca Nhỏ Của Trung Hoa).” Trong Thiền Tông, thường có từ “Đông Độ Lục Tổ (東土六祖)”, tức là 6 vị tổ sư của Trung Hoa, gồm Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨) là sơ tổ cho đến Huệ Khả (慧可), Tăng Xán (僧璨), Đạo Tín (道信), Hoằng Nhẫn (弘忍) và Huệ Năng (慧能). Ngoài ra, từ Đông Độ còn có nghĩa là cõi Ta Bà đầy đau khổ, ô nhiễm này; Tây Thiên là thế giới thanh tịnh, giải thoát của chư Phật; cho nên có câu ngạn ngữ tán dương công hạnh xả thân thỉnh kinh, cầu pháp của Đại Sư Huyền Trang (玄奘, 602-664) rằng: “Ninh hướng Tây Thiên nhất bộ tử, bất hướng Đông Độ nhất bộ sanh (寧向西天一步死、不向東土一步生, thà hướng Tây Thiên một bước chết, chẳng hướng Đông Độ một bước sống).”
; (東土): có mấy nghĩa. (1) Thời cổ dại, chỉ cho một địa khu hay tiểu quốc nào đó ở phía Đông của đất Thiểm (陝). Như trong Quốc Ngữ (國語), phần Trịnh Ngữ (鄭語), có đoạn: “Hoàn Công vi Tư Đồ, thậm đắc Chu chúng dữ Đông độ chi nhân (桓公為司徒,甚得周眾與東土之人, Hoàn Công làm chức Tư Đồ, rất được lòng dân xứ Chu và người đất Thiểm).” (2) Dưới thời Đông Tấn, Nam Triều, từ này đặc biệt dùng để chỉ cho một dãy Tô Nam (蘇南) và Triết Giang (浙江). Như trong Tấn Thư (晉書), Dữu Dực Truyện (庾翼傳), có đoạn: “Thời Đông Độ đa phú dịch, bách tánh nãi tùng hải đạo nhập Quảng Châu, Sắc Sứ Đặng Nhạc đại khai cổ chú, chư di nhân thử tri tạo binh khí (時東土多賦役、百姓乃從海道入廣州、刺史鄧嶽大開鼓鑄、諸夷因此知造兵器, lúc bấy giờ Đông Độ nhiều sưu thuế và lao dịch, bá tánh bèn từ đường biển vào Quảng Châu, Sắc Sứ Đặng Nhạc bắt đầu đúc khí giới, nhờ đó bọn mọi rợ mới biết chế tạo binh khí).” (3) Tên gọi thời xưa của Trung Quốc, đối với phương Tây mà nói. Như trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 8 có đoạn: “Đông Độ đệ nhất thế Tổ Bồ Đề Đạt Ma tôn giả tự Nam Thiên Trúc lai, cửu nguyệt nhị thập nhất nhật đạt ư Quảng Châu (東土第一世祖菩提達磨尊者自南天竺來、九月二十一日達於廣州, Tổ đời thứ nhất của Trung Hoa là tôn giả Bồ Đề Đạt Ma, từ Nam Thiên Trúc đến, ngày 21 tháng 9 thì đến tại Quảng Châu).” Hay trong Nguyên Tẩu Hành Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (元叟行端禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1419) quyển 4, phần Hàng Châu Kính Sơn Hưng Thánh Vạn Thọ Thiền Tự Ngữ Lục (杭州徑山興聖萬壽禪寺語錄), lại có câu: “Tây Thiên tích nhật Tịnh Danh lão, Đông Độ kim triêu Bàng Uẩn công (西天昔日淨名老、東土今朝龐蘊公, Tây Thiên [Ấn Độ] ngày xửa Tịnh Danh lão, Đông Độ [Trung Hoa] sáng nay Bàng Uẩn ông).” Hoặc trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1204) quyển 1, phần Trí Tuệ Linh Lung Phạ Ra Đát Đa Như Lai Bảo Huấn (智慧玲瓏嚩囉噠哆如來寶訓), cũng có câu: “Hình cốt tuy tồn Đông Độ, tâm thần dĩ tại Liên Trì (形骸雖存東土、心神已在蓮池, hình cốt tuy còn Đông Độ [Ấn Độ], tâm thần đã ở Liên Trì [Tây phương]).”
đông độ
The eastern land, i.e. China.
; 1) Nước Tàu: The eastern land (China). 2) Đông Tịnh Độ của Đức Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật: The Eastern Paradise which is presided by Maitreya, the Coming Buddha.
đông độ cửu tổ
3291指天台宗在我國師徒相承之九世,相對於西天之二十四祖。即龍樹、慧文、慧思、智顗、灌頂、智威、惠威、玄朗、湛然,是爲天台宗東土九祖。
; See Thiên Thai Cửu Tổ.
; (東土九祖) Chỉ cho chín vị tổ truyền thừa của tông Thiên thai ở Trung quốc. Tức là các ngài: Long thụ, Tuệ văn, Tuệ tư, Trí khải, Quán đính, Trí uy, Huệ uy, Huyền lãng, Trạm nhiên.
đông độ lục tổ
3291禪宗自印度之菩提達摩東來中土後,衣鉢相傳凡六世,即初祖達摩、二祖慧可、三祖僧璨,四祖道信、五祖弘忍、六祖慧能,是爲東土六祖。
; (東土六祖) Chỉ cho 6 vị tổ Thiền tông ở Trung quốc. Sau khi tổ Bồ đề đạt ma từ Ấn độ đến Trung quốc mở ra đạo Thiền, thì Thiền tông truyền nối được sáu đời, tức là: Sơ tổ Đạt ma, Nhị tổ Tuệ khả, Tam tổ Tăng xán, Tứ tổ Đạo tín, Ngũ tổ Hoằng nhẫn và Lục tổ Tuệ năng.
đông độ đại sư
See Thiên Thai Đại Sư.
đùa cợt
To jest—To joke.
đùng đùng
Violently.
đúc chuông
To cast a bell.
đúc tượng
To cast a statue.
đúng
Right—Proper.
đúng lúc
Right time—Right moment.
đúng người đúng chỗ
The right man in the right place.
đúng đắn
Decent.
đút lót
To bribe.
đăng
6258<一>梵語 dīpa。音譯儞播。即燈明。為六種供具之一。(參閱「燈明」6259) <二>比喻佛法如燈火之照明破暗。大般若波羅蜜多經卷四○六(大七‧二九上):「故佛所言,如燈傳照。」
; 1) Đăng quang: Bắt đầu—To inaugurate—To start. 2) Đèn: Dipa (skt)—A lamp—Lantern. 3) Ghế: A stool—Bench—Footstool. 4) Lên: To ascend—To advance.
; (燈) I. Đăng. Phạm:Dìpa, dịch âm: Nễ bá. Tức là đèn sáng. Một trong 6 thứ vật dụng cúng Phật. (xt. Đăng Minh). II. Đăng. Ví dụ Phật pháp như ngọn đèn tỏa ánh sáng phá tan bóng tối. Kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển 406 (Đại 7, 29 thượng), ghi: ... Cho nên lời Phật nói, như đèn sáng mãi không dứt.
đăng chỉ nhân duyên kinh
6260全一卷。後秦鳩摩羅什譯。收於大正藏第十六冊。記述王舍城長者之子「燈指」出家修道,證阿羅漢果之因緣。提示眾生對殊勝福田種下少許善根,即能享人天之樂,進而入於涅槃。
; (燈指因緣經) Có 1 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần, thu vào Đại chính tạng tập 16. Nội dung nói về nhân duyên của ngài Đăng chỉ, con của một vị Trưởng giả ở thành Vương xá, xuất gia tu đạo và chứng quả A la hán để chỉ dạy chúng sinh gieo trồng căn lành trong ruộng phúc thù thắng, thì sẽ được hưởng sự an vui ở cõi người, cõi trời và cuối cùng được vào Niết bàn.
đăng chỉ tỉ khâu
6259原為佛世時王舍城中一長者之子,初生之日,其手一指放出大光明,故取名燈指。家業極富,然以逸樂豪奢,復遭群匪劫掠而失財貧困。後因獲屍寶而再度致富。未幾,燈指感悟榮樂之不久住,即生厭患之心,後出家得阿羅漢果。佛陀即為諸比丘說燈指比丘之手指放光、得屍寶等之宿緣。〔燈指因緣經、法苑珠林卷三十五〕
; (燈指比丘) Vốn là con trai của một Trưởng giả trong thành Vương xá ở thời đại đức Phật. Lúc mới sinh, từ một ngón tay đứa bé phóng ra một luồng ánh sáng, vì thế mà đặt tên là Đăng chỉ (ngón tay đèn). Gia nghiệp giầu có, nhưng vì ăn chơi hoang phí lại bị giặc cướp lấy mất của cải, nên Đăng chỉ trở thành nghèo túng. Sau nhờ được của báu trong tử thi mà lại giầu sang như xưa. Chẳng bao lâu, Đăng chỉ cảm ngộ được sự vinh hoa khoái lạc là vô thường, liền sinh tâm nhàm chán, nên xuất gia tu đạo và chứng quả A la hán. Đức Phật từng nói về túc duyên (nhân duyên đời trước) ngón tay phóng ánh sáng, được của báu trong tử thi của tỉ khưu Đăng chỉ cho các tỉ khưu khác nghe. [X. kinh Đăng chỉ nhân duyên, Pháp uyển châu lâm Q.35].
đăng diệt
Đèn tắt—The extinction of a lamp.
đăng diệt phương thạnh
6260係佛陀於涅槃前對佛法終滅所作之預言。謂佛法將滅時,反呈蓬勃興盛之相;猶如燈火將盡之時,更顯光彩燦爛,然隨即趨於闇滅。法滅盡經(大一二‧一一一九中):「吾法滅時譬如油燈,臨欲滅時光明更盛,於是便滅。」〔摩訶止觀卷七〕
; (燈滅方盛) Ngọn đèn bừng lên ánh sáng rồi mới tắt hẳn. Đây là lời tiên tri của đức Phật trước lúc vào Niết bàn về sự kiện Phật pháp diệt hết. Kinh Pháp tạng (Đại 12, 1119 trung), nói: Khi pháp ta sắp diệt hết, ví như đèn dầu, lúc sắp tắt, ánh sáng lại bừng lên rồi mới tắt hẳn. Nghĩa là Phật pháp trước khi diệt hẳn,cũng sẽ hưng thịnh rực rỡ trong một thời gian ngắn, rồi mới hoàn toàn chìm vào bóng tối. [X. Ma ha chỉ quán Q.7].
đăng hỏa
Dipapradipa (skt)—Ánh lửa hay ánh sáng của đèn—Lamp-light.
đăng khoa
To pass an examination.
đăng khách mã mục lục
5166西藏名 Dkar-chag ldan-dkar-ma。全稱登喀馬宮殿譯經論目錄(藏 Pho-braṅ stod-thaṅ ldan-dkar-gyi chos-ḥgyur ro-cog-gi dkar-chag)。為普子結(藏 Dpal-brtsegs)、虛空藏(藏 Nam-mkhaḥi sñiṅ-po)等人所編。著作年代不詳。為現存最古之西藏大藏經目錄。共計七三四部,二十七項,收錄迄當時為止之一切顯密經論題名,雖較現行之「西藏大藏經」所收錄者為少,然內含法華、涅槃、般若(十萬頌)、楞伽、毘奈耶、深密等重要大乘經典。〔西藏大藏經經部目錄部序說(Bkaḥ-ḥgyur rin-po-cheḥi gsuṅ-bar srid-gsum rgyen gcig rdsu-ḥphrulśiṅ-rtaḥi dkar-chag ṅo-mtshar bkod-pa rgya-mtshoḥi lde-mig)、西藏佛學原論(呂澂)〕
; (登喀馬目錄) Tạng: Dkar-chag ldan-dkar-ma. Gọi đủ: Đăng khách mã cung điện dịch kinh luận mục lục (Tạng: Dkar-chag ldan-dkar-ma), do các ngài Phổ tử kết (Tạng: Dpal-brtsegs), Hư không tạng (Tạng: Nam-mkhaḥi sñiṅ-po) v.v... biên soạn, không rõ niên đại, là bộ mục lục Đại tạng kinh Tây tạng xưa nhất hiện còn. Nội dung gồm 27 hạng mục, biên chép tất cả 734 bộ kinh luận Hiển Mật được lưu hành đến thời bấy giờ. Những kinh điển được thu chép trong bộ Mục lục này tuy ít hơn so với Đại tạng kinh Tây tạng hiện hành, nhưng nó bao hàm những kinh điển Đại thừa trọng yếu như: Pháp hoa, Niết bàn, Bát nhã (10 vạn bài tụng), Lăng già, Tì nại da, Thâm mật v.v... [X. Tây tạng đại tạng kinh bộ Mục lục bộ tự thuyết (Tạng: Bkaḥ-ḥgyur rin-po-cheḥi gsuṅ-bar srid-gsum rgyen gcig rdsu-ḥphrulśiṅ-rtaḥi dkar-chag ṅo-mtshar bkod-pa rgya-mtshoḥi lde-mig); Tây tạng Phật học nguyên luận (Lữ trừng)].
đăng ký
To register.
đăng lai
6258(1614~1685)明末臨濟宗僧。四川墊江人,俗姓曾。字葦渡,號三山。十七歲,科舉不第,乃耽味禪學,讀聚雲吹萬廣真之古音傳、平山錄、巴掌和尚錄,醉心不已,欲為吹萬兒孫。三十歲,禮弔嵓山南浙二出家。翌年,寓居四川東明寺,參禮鐵壁慧機,不契,返蜀。後再禮慧機,順治十一年(1654)承嗣其法。歷住四川崇聖院、興龍院、五雲院、曇華院、浙江天寧院。康熙二十四年示寂,世壽七十二。著有三山來禪師語錄十六卷、五家宗旨纂要三卷、高峰三山禪師疏語三卷。〔續燈正統卷十七〕
; (燈來) (1614 - 1685) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở cuối đời Minh, người huyện Điếm giang, tỉnh Tứ xuyên, họ Tăng, tự Vi độ, hiệu Tam sơn. Năm 17 tuổi, sư thất bại trên bước đường khoa cử, bèn để tâm nghiên cứu Thiền học. Sư đọc Cổ âm truyện, Bình sơn lục, Ba chưởng hòa thượng lục của ngài Xuy vạn Quảng chân ở núi Vân tụ mà lòng ngây ngất mãi, muốn làm đệ tử ngài Vạn xuy. Năm 30 tuổi, sư lễ ngài Nam chiết nhị ở núi Điếu nham xin xuất gia. Năm sau, sư ngụ ở chùa Đông minh tỉnh Tứ xuyên, tham lễ ngài Thiết bích Tuệ cơ, nhưng không khế ngộ, sư trở về đất Thục. Sau, sư lại tham lễ ngài Tuệ cơ và đến năm Thuận trị 11 (1654), sư được nối pháp. Sư lần lượt trụ trì các viện Sùng thánh, Hưng long, Ngũ vân, Đàm hoa ở tỉnh Tứ xuyên và viện Thiên ninh thuộc tỉnh Chiết giang. Năm Khang hi 24 (1685) sư tịch, thọ 72 tuổi. Sư có các trứ tác: Tam sơn Lai thiền sư ngữ lục 6 quyển, Ngũ gia tông chỉ toản yếu 3 quyển, Cao phong Tam sơn thiền sư sớ ngữ 3 quyển. [X. Tục đăng chính thống Q.17].
đăng lung
6262安置燈火之籠狀器具,可避免燈燭為風吹熄,或蚊、蛾等小蟲進入而為火所傷。又作燈樓、燈爐、燈呂。其質料除竹、瓦之外,尚有以紗葛、紙、石、金屬等製成。燈籠除為僧房中之照明器外,後世亦轉為佛前之供具。 據五分律卷十八、有部毘奈耶雜事卷十三等載,佛陀允許燃燈以布薩、說戒,然夏夜燃燈易傷小蟲,應作燈籠。可以銅、鐵、瓦、木等為材料,若籠有孔,應以紙絹及薄物掩蓋,以免蟲入於籠內。故知燈籠之制已存於律文中。 我國一般習俗,每以農曆元月十五日元宵節點燃各種燈籠。亦有以花及各種形狀之燈籠裝飾於寺廟或殿堂,稱為花燈。 於日本,每用於供養神佛。多在佛殿左右各安置一盞,在堂內、寺域內皆可裝設。燈籠有長達七公尺,或置於堂內僅長一公尺者。形狀有八角、六角、四角、圓形、卵形、菱形等。由於形狀與質料之異,而有石燈籠、金燈籠、四角形燈籠、高燈籠、牡丹燈籠、釣燈籠等類。另有四角形高燈籠(盆燈籠),係以紙糊成,廣泛用於盂蘭盆;在盆會之夜置此類燈籠及種種供物,於蘆葦等所作之舟上,任河水漂流,稱為放河燈。又日夜不斷地燃燈,即稱為常夜燈。〔四分律卷五十二、法苑珠林卷三十五、諸經要集卷四然燈緣、藥師寺緣起金堂條〕
; Đăng Lư—Đèn lồng—A lantern.
; (燈籠) Lồng đèn. Cũng gọi Đăng lâu (lầu đèn), Đăng lư (lò đèn), Đăng cung (cung đèn). Lồng đèn có tác dụng chắn gió lọt vào làm tắt đèn, đồng thời ngăn chặn những con muỗi, ruồi, thiêu thân (con ngài) không cho bay vào để khỏi bị chết cháy. Cứ theo luật Ngũ phần quyển 18 và Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 13 chép, thì đức Phật cho phép thắp đèn để Bố tát thuyết giới, nhưng vào những đêm mùa hè thắp đèn làm thương tổn những côn trùng nhỏ nên cần làm lồng để ngăn chận không chochúng bay vào. Lồng đèn có thể làm bằng các vật liệu như: đồng, sắt, đất nung, gỗ, v.v... nếu lồng có kẽ hở chiếu sáng thì nên lấy giấy, lụa hoặc vật mỏng che lại để loài trùng khỏi bay vào đèn. Tập tục phổ thông của Trung quốc, hằng năm vào đêm rằm tháng giêng âm lịch, dân chúng thắp đủ loại đèn lồng. Cũng có khi dùng hoa và các loại đèn lồng để trang trí chùa viện, điện đường, gọi là Hoa đăng. Tại Nhật bản, đèn lồng thường dùng để cúng dường Phật và thần. Phần nhiều ở hai bên điện Phật đều để một ngọn đèn, trong nhà và khuôn viên chùa đều có thiết trí. Lồng đèn có cái dài tới 7 mét, nếu để trong nhà thì chỉ dài 1 mét. Về hình dáng thì có các loại lồng đèn 8 góc, 6 góc, 4 góc, hình vuông, hình tròn, hình trứng, hình quả ấu, v.v... Do hình dáng và chất liệu khác nhau mà có các loại lồng đèn như: Lồng đèn đá, lồng đèn vàng, lồng đèn hình 4 góc, lồng đèn cao, lồng đèn mẫu đơn, lồng đèn con cá v.v... Ngoài ra, còn có lồng đèn cao hình 4 góc (lồng đèn chậu) bằng giấy dán hồ, phần nhiều dùng trong đại lễ Vu lan bồn. Vào đêm Vu lan, loại đèn lồng này cùng với phẩm vật cúng dường được đặt trên chiếc bè kết bằng những cây lau rồi thả xuống sông cho trôi theo giòng nước, gọi là Phóng hà đăng (đèn thả trên sông). Còn đèn cháy suốt ngày đêm không dứt thì gọi là Thường dạ đăng. [X. luật Tứ phần Q.53; Pháp uyển châu lâm Q.35; Nhiên đăng duyên trong Chư kinh yếu tập Q.4].
đăng lư
See Đăng Lung.
đăng lục
6260又稱傳燈錄。指記載禪宗歷代傳法機緣之著作。燈或傳燈,意謂以法傳人,如燈火相傳,輾轉不絕。燈錄之作,萌芽於南北朝時代,而正式之燈錄出現於禪宗成立以後,經歷代輾轉相續,至宋代達於極盛,此後,元明清各代繼承傳統,燈錄之作,續而不盡。而禪宗語要,具在諸燈錄中,一般以宋代所著之景德傳燈錄、天聖廣燈錄、建中靖國續燈錄、聯燈會要、嘉泰普燈錄等五燈為燈錄成書時期之分野。 (一)五燈以前:祖堂集,二十卷,乃禪宗正式燈錄中現存最古之燈錄。係五代南唐保大十年(952)泉州招慶寺、靜筠二師所編。內容係繼承寶林傳之祖統說,以史實之立傳態度編錄諸禪師之語要,並收錄偈頌、歌行等禪文學,及朝鮮禪宗之史料,為研究五代歷史、文化、思想等之珍貴資料。 (二)五燈時期:(1)景德傳燈錄,三十卷,宋代道原撰於景德元年(1004)。略稱傳燈錄。收於大正藏第五十一冊。內容大抵取材於寶林傳、祖堂集諸書,為過去七佛及歷代禪宗諸祖五家五十二世,共一七○一人之傳燈法系,係研究中國禪宗史之根本資料。(2)天聖廣燈錄,三十卷,宋代李遵勗編,高宗紹興十八年(1148)刊行。收於卍續藏第一三五冊。將本書與景德傳燈錄比較,知本書所錄各宗各世系之禪師增加無幾,僅對章節之次第略加變動,人數及語句略有擴充而已。(3)建中靖國續燈錄,三十卷,目錄三卷,宋代佛國惟白編。書成於徽宗建中靖國元年(1101)。收於卍續藏第一三六冊。惟白意在承續道原景德傳燈錄之作,故稱續燈錄。(4)聯燈會要,三十卷,南宋晦翁悟明撰於孝宗淳熙十年(1183)。又稱禪宗聯燈錄。收於卍續藏第一三六冊。(5)嘉泰普燈錄三十卷,目錄三卷。宋代雷庵正受撰,寧宗嘉泰四年(1204)編成。收於卍續藏第一三七冊。輯錄諸方宗師、王侯、公卿、尼師等之機緣語要。上記自景德傳燈錄至嘉泰普燈錄等五書亦總稱為五燈、五燈錄。 又五燈時期中除上述所列燈錄之外,尚有下列數種:(1)傳燈玉英集,十五卷,宋代王隨撰,景祐元年(1034)編成。現收於宋藏遺珍第三冊(臺灣新文豐出版社影印刊行)。乃刪定道原景德傳燈錄三十卷之拔鈔本。(2)五燈會元,二十卷,目錄二卷,南宋普濟撰。收於卍續藏第一三八冊。本書取五燈錄等撮其精要,刪繁就簡,將五燈錄共一五○卷之龐大部帙縮為二十卷,會為一書,故作此稱。自本書一問世,前述之五燈錄遂少流通,內外學者無不喜其方便,是為本書特色之一。又五燈錄諸書多以南嶽懷讓、青原行思二大師之系統來分敘歷代世系,以下不再分小宗,故被評為「世次既多,支派繁衍,大宗難以統攝。」本書之編輯則宗派分明,眉目朗然,沿流溯源,索閱極便,故元明以來士大夫之好談禪悅者,無不家有其書,是為本書另一重要特色。(3)五燈會元補遺,一卷,明代南石文琇(1345~1418)撰,永樂十五年(1417)編成。收於卍續藏第一四二冊。(4)五燈會元續略,四卷或八卷,明代遠門淨柱撰於崇禎十七年(1644)。略稱五燈續略。收於卍續藏第一三八冊。 (三)五燈以後:(1)續傳燈錄,三十六卷,目錄三卷,明代圓極居頂編。收於大正藏第五十一冊。(2)增集續傳燈錄,六卷,目錄一卷,明代南石文琇著。收於卍續藏第一四二冊。(3)指月錄,三十二卷,明代瞿汝稷撰。又作水月齋指月錄。收於卍續藏第一四三冊。(4)繼燈錄,六卷,目錄一卷,明代永覺元賢(1578~1657)著。收於卍續藏第一四七冊。(5)五燈嚴統,二十五卷,目錄二卷,明代費隱通容、百癡行元合撰。收於卍續藏第一三九冊。(6)續燈存槀,十二卷,目錄一卷,明代箬庵通問編,居士施沛彙集。收於卍續藏第一四五冊。(7)教外別傳,十六卷,明代黎眉(郭凝之)等編。收於卍續藏第一四四冊。(8)續指月錄,二十卷,清代聶先撰。收於卍續藏第一四三冊。(9)祖燈大統,九十八卷,目錄二卷,清代位中淨符編撰於康熙十一年(1672)。(10)五燈全書,一二○卷,目錄十六卷,清代霽崙超永編,康熙三十六年(1697)刊行。收於卍續藏第一四○冊至一四二冊。作者自五燈會元等諸傳燈錄中,刪其繁蕪,增所未備, 費時十餘年,收錄立傳計有七千餘人,可謂集燈錄之大成。(11)續燈正統,四十二卷,目錄一卷,清代別菴性統編,康熙三十年(1691)刊行。收於卍續藏第一四四冊。(12)揞黑豆集,九卷,清代心圓居士撰,火蓮居士於乾隆五十九年(1794)刊行。收於卍續藏第一四五冊。(13)錦江禪燈,二十卷,目錄一卷,清代丈雪通醉(1610~1693)著。收於卍續藏第一四五冊。(14)黔南會燈錄,八卷,清代善一如純輯。收於卍續藏第一四五冊。 以上所述燈錄計二十四種,前二十二種(連同五燈)為通史性之燈錄,末後二種乃地方性之燈錄。此外尚有若干燈錄,不及備載。蓋諸燈錄中集有偈頌、公案、古則、機語、傳記等記錄,成為中國佛教思想史上珍貴之原始資料。
; (燈錄) Cũng gọi Truyền đăng lục. Các tác phẩm ghi chép cơ duyên truyền pháp của những bậc Tổ sư Thiền tông qua các đời. Đăng hoặc truyền đăng nghĩa là truyền pháp cho người, như ngọn đèn này truyền sang ngọn đèn khác nối tiếp nhau không dứt. Các tác phẩm Đăng lục đã manh nha vào thời đại Nam Bắc triều, nhưng đến sau khi Thiền tông được thành lập thì Đăng lục mới chính thức xuất hiện. Trải qua nhiều truyền nối, đến đời Tống thì cực thịnh. Từ đó về sau, các đời Nguyên, Minh, Thanh kế thừa truyền thống này, cho nên các tác phẩm Đăng lục xuất hiện ngày càng nhiều. Thông thường, năm bộ Đăng lục trứ tác vào đời Tống được xem như cột mốc để phân định về thời kì hình thành và phát triển của Đăng lục. Đó là các bộ: Cảnh đức truyền đăng lục, Thiên thánh quảng đăng lục, Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục, Liên đăng hội yếu và Gia thái phổ đăng lục. I. Thời Kì Trước Ngũ Đăng (5 bộ Đăng lục) có bộ: Tổ đường tập, 20 quyển, là bộ Đăng lục chính thức của Thiền tông xưa nhất hiện còn, do hai vị sư Tĩnh và Quân biên soạn ở chùa Chiêu khánh tại Tuyền châu vào năm Bảo đại thứ 10 (952) nhà Nam Đường đời Ngũ đại. Nội dung bộ Lục này kế thừa thuyết Tổ thống trong Bảo lâm truyện, theo thể cách viết sự thực mà biên chép ngữ yếu của các Thiền sư, đồng thời, thu tập văn học Thiền, như kệ tụng, ca hành v.v... và cả lịch sử của Thiền tông Triều tiên. Đây là tư liệu rất quí cho việc nghiên cứu về lịch sử, văn học, tư tưởng, v.v... của thời Ngũ đại. II. Thời Kì Ngũ Đăng. Như đã nói ở trên, thời kì này gồm có 5 bộ: 1. Cảnh đức truyền đăng lục, 30 quyển, gọi tắt: Truyền đăng lục, do ngài Đạo nguyên soạn vào niên hiệu Cảnh đức năm đầu (1004) đời Tống, được đưa vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung dùng tài liệu trong các bộ Bảo lâm truyện, Tổ đường tập, ghi chép 7 đức Phật quá khứ và 52 vị Tổ sư Thiền tông thuộc 5 nhà qua các đời, gồm 1701 pháp hệ truyền đăng. Đây là tư liệu căn bản để nghiên cứu lịch sử của Thiền tông Trung quốc. 2. Thiên thánh quảng đăng lục, 30 quyển, do cư sĩ Lí tuân Úc biên soạn vào đời Tống, ấn hành vào năm Thiệu hưng 18 (1148), được xếp vào Vạn tục tạng tập 135. So với Cảnh đức truyền đăng lục, thì thấysách này không ghi chép thêm được bao nhiêu những vị Thiền sư thuộc các tông phái và các thế hệ, chẳng qua chỉ thay đổi về thứ tự các Chương, Tiết mà thôi. 3. Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục, 30 quyển, Mục lục 3 quyển, do ngài Phật quốc Duy bạch biên soạn vào đời Tống, hoàn thành vào niên hiệu Tĩnh quốc năm đầu (1101), thu vào Vạn tục tạng tập 136. Đây là tác phẩm nối tiếp bộ Cảnh đức truyền đăng lục, cho nên được gọi là Tục đăng lục. 4. Liên đăng hội yếu, 30 quyển, do ngài Hối ông Ngộ minh soạn vào năm Thuần hi thứ 10 (1183) đời vua Hiếu tông nhà Nam Tống, cũng gọi Thiền tông liên đăng lục, được thu vào Vạn tục tạng tập 136. 5. Gia thái phổ đăng lục, 30 quyển, Mục lục 3 quyển, do ngài Lôi am Chính thụ soạn vào năm Gia thái thứ 4 (1204) đời Tống, được đưa vào Vạn tục tạng tập 37. Nội dung thu chép cơ duyên ngữ yếu của các bậc Tông sư, Ni sư, Vương hầu, Công khanh v.v... Ngoài 5 bộ Đăng lục vừa nêu ở trên, trong thời kì Ngũ đăng còn có các bộ. 1. Truyền đăng ngọc anh tập, 15 quyển, do cư sĩ Vương tùy soạn vào niên hiệu Cảnh hựu năm đầu (1034) đời Tống, được thu vào Tống tạng di trân tập 3 (bản in ảnh của nhà Xuất bản Tân văn phong tại Đài loan). Đây là bản bạt sao san định bộ Cảnh đức truyền đăng lục 30 quyển của ngài Đạo nguyên. 2. Ngũ đăng hội nguyên, 20 quyển, Mục lục 2 quyển, do ngài Phổ tế soạn vào đời Nam Tống, được đưa vào Vạn tục tạng tập 138. Nội dung sách này tóm tắt nghĩa tinh yếu của 5 bộ Đăng lục, lược bớt những chỗ rườm rà, đem số 150 quyển của 5 bộ rút lại còn 20 quyển và hợp chung làm một bộ, cho nên đặt tên là Ngũ đăng hội nguyên. Sau khi bộ sách này xuất hiện thì Ngũ đăng lục nêu trên ít được lưu thông, giới học giả đều hoan hỉ vì sự tiện lợi của nó. Đây là đặc sắc nổi bật của bộ sách này. Ngoài ra, Ngũ đăng lục phần nhiều chỉ căn cứ vào hệ thống của 2 đại sư Nam nhạc Hoài hải và Thanh nguyên Hành tư mà phân chia các thế hệ qua các đời, chứ từ đó trở xuống không chia ra tông phái nữa, cho nên khi đọc Ngũ đăng, người đọc khó có được quan niệm thống nhiếp. Nhưng Ngũ đăng hội nguyên thì phân chia tông phái rõ ràng, gốc ngọn phân minh, tìm biết rất tiện. Cho nên từ thời Nguyên, Minh trở lại đây, bất cứ ai quan tâm nghiên cứu Thiền học cũng có bộ sách này: Đây lại là một đặc sắc quan trọng nữa của bộ sách. 3. Ngũ đăng hội nguyên bổ di, 1 quyển, do ngài Nam thạch Văn tú (1345 - 1418) soạn vào năm Vĩnh lạc 15 (1417) đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 142. 4. Ngũ đăng hội nguyên tục lược, 4 quyển hoặc 8 quyển, gọi tắt: Ngũ đăng tục lược, do ngài Viễn môn Tịnh trụ soạn vào năm Sùng trinh 17 (1644) đời Minh, thu vào Vạn tục tạng tập 138. III. Từ Sau Thời Ngũ Đăng gồm có các bộ: 1. Tục truyền đăng lục, 36 quyển, Mục lục 3 quyển, do ngài Viên cực Cư đính biên soạn và hiệu đính vào đời Minh, được xếp vào Đại chính tạng tập 51. 2. Tăng tục tập truyền đăng lục, 6 quyển, Mục lục 1 quyển, do ngài Nam thạch Văn tú đời Minh soạn, thu vào Vạn tục tạng tập 142. 3. Chỉ nguyệt lục, 32 quyển, cũng gọi Thủy nguyệt trai chỉ nguyệt lục, do cư sĩ Cù nhữ tắc soạn vào đời Minh, thu vào Vạn tục tạng tập 143. 4. Kế đăng lục, 6 quyển, Mục lục 1 quyển do ngài Vĩnh giác Nguyên hiền (1578 - 1657) soạn vào đời Minh, thu vào vạn tục tạng tập 147. 5. Ngũ đăng nghiêm thống, 25 quyển, Mục lục 2 quyển, do 2 ngài Phí ẩn Thông dung và Bách si Nguyện công soạn chung vào đời Minh, được xếp vào Vạn tục tạng tập 139. 6. Tục đăng tồn cảo, 12 quyển, Mục lục 1 quyển, do ngài Nhược am Thông vấn soạn vào đời Minh, cư sĩ Thi bái vậng tập. 7. Giáo hóa biệt truyền, 16 quyển, do Lê mi (Quách ngưng chi) biên soạn vào đời Minh, thu vào Vạn tục tạng tập 144. 8. Tục chỉ nguyệt lục, 20 quyển, do Niếp tiên soạn vào đời Thanh, được xếp vào Vạn tục tạng tập 143. 9. Tổ đăng đại thống, 18 quyển, Mục lục 2 quyển, do Vị trung Tịnh phù soạn vào năm Khang hi 11 (1672) đời Thanh. 10. Ngũ đăng toàn thư, 120 quyển, Mục lục 16 quyển, do Tể luân Siêu vĩnh biên soạn và ấn hành vào năm Khang hi 36 (1697) đời Thanh, thu vào Vạn tục tạng tập 140 đến tập 142. 11. Tục đăng chính thống, 42 quyển, Mục lục 1 quyển, do ngài Biệt am Tính thống biên soạn và ấn hành vào năm Khang hi 30 (1691) đời Thanh, thu vào Vạn tục tạng tập 144. 12. Ảm hắc đậu tập, 9 quyển, do cư sĩ Tâm viên soạn và cư sĩ Hỏa liên ấn hành vào năm Càn long 59 (1794) đời Thanh, thu vào Vạn tục tạng tập 145. 13. Cẩm giang thiền đăng, 20 quyển, Mục lục 1 quyển do ngài Trượng tuyết Thông túy (1610 - 1693) soạn vào đời Thanh, được đưa vào Vạn tục tạng tập 145. 14. Kiềm nam hội đăng lục, 8 quyển, do Thiện nhất Như thuần biên tập vào đời Thanh, thu trong Vạn tục tạng tập 145. Trong 24 Đăng lục nói ở trên, 22 bộ trước (kể cả Ngũ đăng) có tính cách thông sử, 2 bộ còn lại có tính chất địa phương. Ngoài ra, còn có nhiều bộ Đăng lục khác, không thể ghi đủ. Bởi vì trong các bộ Đăng lục có thu chép các bài kệ tụng, công án, cổ tắc, cơ ngữ, truyện kí v.v... cho nên có thể coi đó là nguồn tư liệu quí giá về phương diện lịch sử tư tưởng của Phật giáo Trung quốc.
đăng minh
6259梵語 dīpa,巴利語同。略稱燈。指於佛前供養或室內照明時所用之燈火。據四分律卷五十及摩訶僧祇律卷三十五載,僧房之照明,允許使用燈火,其設備及使用法均有所規定。如須對諸比丘提供燈油、燈炷、盛油器等物,規定置燈之處,及熄燈、點燈前皆須作預告並唱頌。 在佛塔、佛像、經卷前燃燈,能獲大功德,於諸經典中之例甚多。如施燈功德經謂,信仰佛法僧,布施少許燈明,其所得之福報無限。又謂佛陀入滅後,以燈明布施塔寺,於此世可得三種淨心;命終時,由於善心不失,可得三種智慧,死後則可生於三十三天。法華經卷六藥王品於敘述藥王菩薩之捨身布施故事中謂,燃一指乃至一足趾供養佛塔,勝過於用其他財寶之布施。賢愚經卷三亦言,貧女以至誠所獻之一燈,永遠不滅,王者所獻之諸燈則已滅盡;此即所謂「貧者一燈,長者萬燈」,乃強調誠心之重要。又我國佛教必於佛堂或佛壇供燈明,即依諸經所說而行。 燈明依燃料之別,分為多種。如法華經卷七陀羅尼品,列舉酥燈、油燈、諸香油燈、優鉢羅華油燈等七種。舊華嚴經卷十六,列舉寶燈、摩尼燈、漆燈、沈水香燈、一切香王燈、無量色光燄燈等十種。燈明多置於燭臺、燈臺或燈籠中。又不分晝夜所點之燈(通宵燃明之常夜燈),稱為常燈明,或長明燈。點燃眾多燈以供養佛之法會,稱為萬燈會。 燈明可破闇為明,故經中常將法、智慧比喻為燈。如謂以智慧照破愚癡闇障,遂有稱智慧為無明長夜燈炬者。又法脈亦稱法燈,師父傳法於弟子,稱為傳燈;承續之,稱為續燈;延續不絕,稱為無盡燈。 此外,密教更將燈人格化,而作為外四供養之一的金剛燈菩薩。又燈與閼伽、塗香、花鬘、飲食、燒香等合為六種供養,配於六波羅蜜時,燈明即相當於第六智波羅蜜。〔增一阿含經卷三十八、北本大般涅槃經卷二十一、菩薩本行經卷上、燈指因緣經、有部毘奈耶雜事卷十三、大比丘三千威儀卷下、大智度論卷三十、四分律行事鈔卷下四、禪林象器箋器物門〕
; Ngọn đèn sáng treo trước hình tượng Phật, là biểu tượng của trí tuệ Phật—The lamp hung before the image or statue of a Buddha, a symbol of his wisdom.
; (燈明) Phạm,Pàli:Dìpa. Gọi tắt: Đăng. Đèn sáng. Chỉ cho ngọn đèn thắp trước bàn thờ để cúng dường Phật hoặc thắp sáng trong nhà. Cứ theo luật Tứ phần quyển 50 và luật Ma ha tăng kì quyển 35 chép, thì chúng tăng được phép dùng đèn để thắp sáng trong phòng, cách thiết bị và cách sử dụng đều có qui định. Chẳng hạn việc cung cấp cho các vị tỉ khưu các thiết bị như: dầu đèn, bấc đèn, chai, lọ đựng dầu, v.v... rồi chỗ để đèn, và trước khi thắp đèn, tắt đèn đều phải thông báo trước. Trong các kinh điển có rất nhiều chỗ nói về công đức thắp đèn sáng cúng dường trước tháp Phật, tượng Phật và kinh quyển v.v... Như kinh Thí đăng công đức nói, tin kính Tam bảo, cúng dường chút ít đèn sáng cũng được phúc báo vô hạn. Kinh này nói tiếp, sau khi đức Phật nhập diệt, cúng dường đèn sáng ở các chùa tháp, thì ở đời hiện tại có thể được ba thứ tịnh tâm; đến lúc lâm chung, nhờ thiện tâm không mất, có thể được 3 thứ trí tuệ, sau khi chết thì được sinh lên cõi trời Đao lợi. Phẩm Dược vương trong kinh Pháp hoa quyển 6 nói: Thiêu một ngón tay cúng dường tháp Phật được công đức gấp bội phần bố thí của báu. Kinh Hiền ngu quyển 3 cũng nói, người đàn bà nghèo chí thành cúng một ngọn đèn mãi mãi chưa tắt, còn bậc vương giả cúng nhiều ngọn đèn thì đã tắt hết. Đây nhấn mạnh lòng chí thành là quan trọng. Tùy theo nhiên liệu mà đèn được chia ra nhiều loại. Như phẩm Đà la ni trong kinh Pháp hoa quyển 7 nêu 7 loại: Đèn tô (bơ) đèn dầu, đèn dầu thơm, đèn dầu hoa bát la, v.v... Kinh Hoa nghiêm quyển 16 (bản dịch cũ) thì nêu 10 loại như: Đèn báu, đèn ma ni, đèn sơn, đèn hương trầm thủy, đèn hương vương, đèn vô lượng ánh sáng, v.v... Đèn sáng phần nhiều được đặt trên cây đèn, đài đèn hoặc để trong lồng đèn. Đèn được thắp suốt ngày đêm gọi là Thường đăng minh, hoặc Trường minh đăng. Pháp hội thắp nhiều đèn cúng dường chư Phật gọi là Vạn đăng hội (hội muôn ngọn đèn). Đèn sáng có năng lực phá tan bóng tối thành ánh sáng, nên trong kinh thường ví dụ pháp và trí tuệ là đèn. Như nói trí tuệ chiếu phá ngu si ám chướng, nên mới gọi trí tuệ là bó đuốc trong đêm dài vô minh. Ngoài ra, pháp mạch gọi là Pháp đăng, sư phụ truyền pháp cho đệ tử gọi là Truyền đăng, kế thừa gọi là Tục đăng, tiếp nỗi mãi không dứt gọi là Vô tận đăng. Trong Mật giáo, đèn được nhân cách hóa mà gọi là Bồ tát Kim cương đăng, là một trong bốn món cúng dường. Đèn cùng với át già (nước trong), hương thoa, vòng hoa, thức ăn, hương đốt, v.v... hợp thành 6 thứ cúng dường, khi phối với 6 ba la mật thì Đăng minh tương đương với Trí ba la mật. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.38; kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) Q.21; kinh Bồ tát bản hạnh Q.thượng; kinh Đăng chỉ nhân duyên; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.13; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.hạ; luận Đại trí độ Q.30; Tứ phần luật hành sự sao Q.hạ phần 4; Thiền lâm tượng khí tiên khí vật môn].
đăng minh phật
Nhật Nguyệt Đăng Minh Phật—Một vị Phật được nhắc đến trong Kinh Pháp Hoa (vị Phật thời quá khứ đã thuyết Kinh Pháp Hoa)—A Buddha mentioned in the Lotus Sutra, who preached the Lotus Sutra in the past. ** For more information, please see Nhật Nguyệt Đăng Minh Phật.
đăng quang
1) Ánh sáng đèn: The light of a lamp—Lantern light. 2) Lên ngôi hay lên ngai: Enthronement—To inaugurate—See Đăng Tọa.
đăng quang phạm chí
6258又作焰光學志。為釋尊過去世修梵行時之名。據止觀輔行傳弘決卷二之四所載,燈光梵志於林藪間行吉祥願,經四百二十年後入摩竭陀國,有陶師之女,見其端正,投於其前,燈光謂其不樂此欲而拒之,女言若不遂願則將自害;燈光自念常護戒,若犯者則非吉祥,乃離之七步,然隨即生起慈心,寧自入地獄,不令女死,遂從其所願。後還俗,勤修梵行十二年,命終之後,生於梵天。〔慧上菩薩問大善權經卷上〕
; (燈光梵志) Cũng gọi Diễm quang học chí. Tên của vị Phạm chí, tiền thân của đức Thích tôn. Cứ theo Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 2 phần 4 chép, thì Phạm chí Đăng quang tu hạnh cát tường trong rừng sâu, ròng rã 420 năm. Sau ngài đến nước Ma kiệt đà, lúc ấy có cô gái con nhà thợ gốm, thấy dung mạo của ngài đẹp đẽ trang nghiêm liền sinh lòng yêu thương và tỏ tình muốn được gần gũi, Đăng quang từ chối; cô gái nói nếu không được toại nguyện thì nàng tự sát. Phạm chí tự nghĩ: Ta phải luôn giữ giới, nếu không thì chẳng phải cát tường, rồi ngài bỏ đi. Nhưng vừa đi được 7 bước thì ngài sinh khởi tâm từ bi, thà mình vào địa ngục chứ không để người ta chết vì mình. Nghĩ thế rồi ngài liền chiều theo ý của cô gái. Sau đó ngài hoàn tục, nhưng vẫn siêng tu phạm hạnh, khi mệnh chung được sinh lên cõi trời Phạm thiên. [X. kinh Tuệ thượng bồ tát vấn Đại thiện quyền Q.thượng].
đăng quang thành
6258梵名 Dīpavatī。音譯提婆跋提城。為釋迦佛前生從錠光佛受來世成道記莂之處。又作阿摩羅跋提城(梵 Amaravatī)、蓮華城(梵 Padmāvatī)。據法顯、玄奘所著遊記載,此城為北印度那揭羅曷國之首府。即古代健馱羅國以西、喀布爾河南岸之迦拉拉巴(Jalalabad)之地。燈光城之名見於大慈恩寺三藏法師傳卷二,又據大毘婆沙論卷一八三,則知此城即今之瓦拉那西。
; (燈光城) Phạm: Dìpavatì. Dịch âm: Đề bà bạt đề thành. Cũng gọi A ma la bạt đề thành (Phạm: Amaravatì), Liên hoa thành (Phạm: Padmàvatì). Đây là nơi mà tiền thân Phật Thích ca được đức Phật Đĩnh quang thụ kí thành Phật trong đời vị lai. Cứ theo sự ghi chép của ngài Pháp hiển và ngài Huyền trang, thì thành này là Thủ phủ của nước Na yết la hạt thuộc Bắc Ấn độ, tức là vùng đất Jalalabad nằm về phía nam ngạn sông Kabul và phía tây nước Kiện đà la thời xưa. Tên thành Đăng quang thấy trong Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 2.
đăng thời
Ngay tức khắc—At once—Immediately.
đăng tiết phật cung
6260西藏佛教於燈節(音譯局阿曲巴)時所供養物之總稱。包括酥油花與酥油燈兩種。所謂酥油花係於木架或牌坊架上以各色酥油塑造出各形山川、人物、花草鳥獸或傳奇故事,造型精巧生動。酥油燈則係於燈碗中以酥油點燃之油燈。二者皆於藏曆正月十五日夜晚,在拉薩及塔爾寺、拉卜楞寺所舉行之燈節中供養陳列。其中塔爾寺所製作之酥油花更被譽為該寺三絕(繪畫、堆繡、酥油花)之一。
; (燈節佛供) Gọi chung các phẩm vật cúng dường vào dịp Đăng tiết của Phật giáo Tây tạng. Gồm có hai loại: 1. Tô du hoa: Các hình núi sông, người vật, hoa cỏ, chim thú hoặc sự tích truyền kì, được đắp nặn rất tinh xảo, sống động bằng dầu tô nhiều mầu trên giá gỗ hoặc vách tường các chùa viện. 2. Tô du đăng: Loại đèn hình cái bát đốt bằng dầu tô. Cả hai loại đèn đều được trưng bày để cúng dường khi cử hành lễ Đăng tiết ở thủ đô Lhasa và các chùa Tháp nhĩ, chùa Lạp bốc lăng vào đêm rằm tháng giêng, theo lịch Tây tạng. Trong đó, Tô du hoa của chùa Tháp nhĩ được nổi tiếng là một trong Tam tuyệt (tranh vẽ, tranh thêu, tô du hoa) của chùa này.
đăng trình
To set out, to start one's way.
đăng trụ
5166即天台宗所說依菩薩行而登入初住之位。大乘菩薩之修行階位有十信、十住、十行、十迴向、十地、等覺、妙覺等五十二位;其中,登入十住之位,稱為登住。然圓教菩薩之十住,即相當於別教菩薩十地之位;故圓教之菩薩若有登住者,即已去除部分之惑而證理;別教之菩薩則於登地以後方成就之。〔法華玄義卷五、釋門歸敬儀卷中〕
; Bồ Tát tiến vào ngôi Thập Trụ—The advance of the Bodhisattva to the ten grounds.
; (登住) Giai vị Sơ trụ của hàng Bồ tát tu Bồ tát hạnh, theo thuyết của tông Thiên thai. Sự tu hành của hàng Bồ tát Đại thừa phải trải qua 52 giai vị là: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác và Diệu giác. Trong đó, Bồ tát bước vào giai vị Thập trụ gọi là Đăng trụ (lên giai vị Thập trụ). Nhưng Thập trụ của Bồ tát Viên giáo tức tương đương với giai vị Thập địa của Bồ tát Biệt giáo. Cho nên, Bồ tát Viên giáo nếu Đăng trụ thì trừ được một phần lậu hoặc mà chứng lí chân như. Còn hàng Bồ tát Biệt giáo thì khi Đăng địa mới thành tựu được. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.5; Thích môn qui kính nghi Q.trung].
đăng tòa
Bước lên tòa (một vị Pháp Sư sắp thuyết pháp)—To ascend the throne.
đăng vương
6258即須彌燈王佛之略稱。為東方須彌相世界之佛。據吳‧支謙所譯維摩詰經卷上不思議品載,此佛身長八萬四千由延,其獅子座高六萬八千由延,高廣淨好,嚴飾第一。以維摩詰顯神通力,故此佛即時遣三萬二千獅子座入於維摩詰丈室。
; (燈王) Gọi đủ: Tu di đăng vương Phật. Đức Phật ở thế giới Tu di tướng thuộc phương đông. Cứ theo phẩm Bất tư nghị trong kinh Duy ma cật quyển thượng do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, thì thân đức Phật Đăng vương cao 8 vạn 4 nghìn do tuần, tòa Sư tử của Ngài cao 6 vạn 8 nghìn do tuần, thanh tịnh trang nghiêm bậc nhất. Khi ngài Duy ma hiển bày sức thần thông thì đức Phật này liền dời 3 vạn 2 nghìn tòa Sư tử đến trong trượng thất của ngài Duy ma.
đăng đàn thuyết pháp
Thăng tọa—To ascend the platform to preach (to expound the sutras).
đăng đàn thụ giới
5166請參閱 登喀馬目錄指登戒壇受戒律。築起高壇舉行授戒儀式之處,稱為戒壇;受戒者登上戒壇領受戒律,則稱為登壇受戒,略稱壇戒。(參閱「戒壇」2917、「受戒」3101)
; (登壇受戒) Chỉ cho việc lên đàn nhận lãnh giới luật. Đàn được kiến trúc trên một chỗ nền cao để cử hành nghi thức truyền giới, gọi là Giới đàn. Những giới tử lên đàn nhận lãnh giới luật thì gọi là Đăng đàn thụ giới, gọi tắt là Giới đàn. (xt. Giới Đàn, Thụ Giới).
đăng đầu
6261即禪林中司掌燈燭之職稱。禪苑清規卷四街坊水頭炭頭華嚴頭條(卍續一一一‧四四八下):「菜街坊、醬街坊、水頭、炭頭(中略),竝是外勸檀越增長福田,內助禪林資持道果。」〔禪苑清規卷三監院條〕
; (燈頭) Chức vụ trông nom việc đèn đuốc trong Thiền lâm. Điều Nhai phường Thủy đầu Thán đầu Hoa nghiêm đầu trong Thiền uyển thanh qui quyển 4 (Vạn 111, 448 hạ), nói: Thái nhai phường, Tương nhai phường, Thủy đầu, Thán đầu (...) đều là những chức vụ bên ngoài thì khuyến hóa tín đồ tăng trưởng phúc điền, bên trong thì giúp đỡ Thiền lâm tiến tu đạo quả. [X. điều Giám viện trong Thiền uyển thanh qui Q.3].
đăng địa
5166梵語 bhūmyākramaṇa。即天台宗所說依菩薩行而登入初地之階位。大乘菩薩之修行階位有十信、十住、十行、十迴向、十地、等覺、妙覺等五十二位;其中,登上初地之階位,稱為登地,須經過一大阿僧祇劫之修行;十地之間,自初地至第十地之終則須經過二大阿僧祇劫之修行。初地,又稱歡喜地,天台宗認為別教菩薩一登歡喜地,即開始斷除部分煩惱,求證部分真如之理,永不退還三界之迷境,漸次昇進而至佛果。然在圓教菩薩而言,則因其「十住位」即相當於別教之「十地位」,故圓教菩薩一旦登入「初住」之位,即已去除部分之煩惱而證法性真理。
; (登地) Phạm: Bhumyàkramaịa. Tức là giai vị của những người tu theo hạnh Bồ tát mà tiến lên Sơ địa theo thuyết của tông Thiên thai. Sự tu hành của Bồ tát Đại thừa có 52 giai vị là: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác và Diệu giác. Trong đó, Bồ tát tiến lên Sơ địa gọi là Đăng địa, phải tu hành qua một đại a tăng kì kiếp; rồi từ Sơ địa đến Thập địa, phải tu hành qua 2 đại a tăng kì kiếp. Sơ địa cũng gọi là Hoan hỉ địa. Tông Thiên thai cho rằng Bồ tát Biệt giáo một khi đã lên đến Hoan hỉ địa, liền bắt đầu dứt trừ một phần phiền não, cầu chứng một phần lí chân như, thì mãi mãi không còn trở lại 3 cõi nữa, mà dần dần tiến tới quả Phật. Nhưng, đứng về phương diện tu hành của Bồ tát Viên giáo mà nói, thì vì giai vị Thập trụ của Bồ tát Viên giáo tương đương với giai vị Thập địa của Bồ tát Biệt giáo, cho nên, một khi Bồ tát Viên giáo đã tiến vào giai vị Sơ trụ thì tức là đã trừ bỏ một phần phiền não mà chứng chân lí pháp tính vậy.
Đăng 登
[ja] トウ tō ||| (1) To climb, ascend to a high place. To mount. (2) To advance, step up. (3) To commence; to do. (4) To record, make an entry. To publish. (5) As soon as; at that time. => 1. Trèo lên, leo lên nơi cao. Trèo lên núi. 2. Tiến lên, tiến bước. 3. Khởi đầu, thực hiện. 4. Ghi vào, làm một danh sách. Xuất bản. 5. Ngay khi, ngay lúc đó.
Đằng Nguyên Cơ Phòng
(藤原基房, Fujiwara-no-Motofusa, 1144-1230): vị công khanh sống vào khoảng cuối thời Bình An và đầu thời Liêm Thương, thường được gọi là Tùng Điện Cơ Phòng (松殿基房, Matsudono Motofusa); nên có hiệu là Tùng Điện (松殿), hay Bồ Đề Viện (菩提院), Trung Sơn (中山); con trai thứ của vị Quan Bạch Đằng Nguyên Trung Thông (藤原忠通, Fujiwara-no-Tadamichi), mẹ là Nguyên Tuấn Tử (源俊子)—con gái của Nguyên Quốc Tín (源國信, Minamoto-no-Kunizane); Tổ của dòng họ Tùng Điện (松殿, Matsudono). Kế thừa người anh Cơ Thật (基實, Motozane), ông lên làm Nhiếp Chính (攝政) và trở thành Trưởng Giả của dòng họ. Ông đối lập với Bình Thanh Thạnh (平清盛, Taira-no-Kiyomori), nhưng rồi thất thế, bị lưu đày đến vùng Bị Tiền (僃前, Bizen). Sau khi nhà họ Bình chạy về phía Tây, ông có mưu đồ trở về lại, nhưng thất bại.
Đĩnh
(鼎): bên cạnh nghĩa là cái đĩnh tượng trưng cho vương quyền, đế vị, nó còn có nghĩa là ngôi vị nhà vua, của hoàng đế. Ngoài ra nó còn là tên của một trong 64 quẻ dịch, nghĩa là làm mới, cách tân. Cho nên đỉnh kiến (鼎建) có nghĩa là nhà vua kiến lập. Như trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, CBETA No. 1583) quyển 33 có đoạn: “Đỉnh kiến bảo phường vu Hoàng Long phong hạ, vi khai sơn đệ nhất đại yên, chí Khang Hy Giáp Dần lục nguyệt nhị thập hữu thất nhật, thuyết kệ cát tường nhi thệ, thế thọ thất thập cửu (鼎建寶坊于黃龍峰下、爲開山第一代焉、至康熙甲寅六月廿有七日、說偈吉祥而逝、世壽七十九, kiếp lập ngôi chùa dưới đỉnh núi Hoàng Long, làm vị tổ khai sơn thứ nhất; đến ngày 27 tháng 6 năm Giáp Dần [1674] đời vua Khang Hy, ngài nói kệ rồi an nhiên ra đi, hưởng thọ 79 tuổi).”
đơn
1) Đơn lẻ: Single—Alone. 2) Hóa đơn: A bill—A cheque. 3) Một: One. 4) Số lẻ: Odd numbers.
đơn giản
Simple.
Đơn Hà Thiên Nhiên
(丹霞天然, Tanka Tennen, 739-824): lúc nhỏ ông theo học Nho Giáo, trúng khoa cử, giữa đường khi lên Trường An (長安), tình cờ nhân ghé nghỉ qua đêm tại một lữ quán, cùng hàn huyên với một Thiền giả qua đường, nên thay vì chọn làm quan, ông quyết định chọn tu hành làm Phật. Ông đến gặp Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一), rồi đi theo hầu Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷) được 3 năm. Sau đó ông lại quay trở về với Mã Tổ, nhưng ông chẳng tham lễ gì cả mà vào trong nhà, cỡi lên đầu thánh tăng ngồi. Chúng tăng đến thưa với Mã Tổ sự việc này, Mã Tổ đến xem thấy vậy bảo rằng: “con ta Thiên Nhiên.” Nghe vậy ông bước xuống lễ bái và nói: “xin cám ơn thầy đã ban cho pháp hiệu.” Từ đó ông được gọi là Thiên Nhiên. Sau ông đến ở tại Hoa Đảnh Phong (華頂峰) trên Thiên Thai Sơn được 3 năm, rồi đến lễ bái Kính Sơn Đạo Khâm (徑山道欽). Trong khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (元和, 806-821), ông đến Long Môn Hương Sơn (龍門香山) vùng Lạc Đông (洛東), kết bạn với Phục Ngưu Tự Tại (伏牛自在). Về sau, ông đến kết thảo am ở Đơn Hà Sơn (丹霞山), Nam Dương (南陽, Tỉnh Hà Nam), học đồ theo tham học lên đến hơn 300 người. Vào tháng 6 năm thứ 4 (824) niên hiệu Trường Khánh (長慶), ông thị tịch, hưởng thọ 86 tuổi, và được ban cho thụy hiệu là Trí Thông Thiền Sư (智通禪師).
Đơn Hà Tử Thuần
(丹霞子淳, Tanka Shijun, 1064-1117): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, họ là Cổ (賈), xuất thân Huyện Tử Đồng (梓潼), Kiếm Châu (劍州, Tỉnh Tứ Xuyên), còn gọi là Đức Thuần (德淳). Năm 27 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới, rồi đi tham vấn một số danh tăng như Chơn Như Cung Triết (眞如恭喆), Chơn Tịnh Khắc Văn (眞淨克文), Đại Hồng Báo Ân (大洪報恩), v.v., cuối cùng đến tham yết Đạo Giai (道楷) ở Đại Dương Sơn (大陽山) và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 3 (1104) niên hiệu Sùng Ninh (崇寧), ông đến trú tại Đơn Hà Sơn (丹霞山) vùng Nam Dương (南陽), sau chuyển đến Đại Thừa Sơn (大乘山) ở Đường Châu (唐州) và Đại Hồng Sơn (大洪山) ở Tùy Châu (隨州). Tại những nơi này ông đều cổ xướng Thiền phong của mình. Vào ngày 11 tháng 3 năm thứ 7 (1117) niên hiệu Chính Hòa (政和), ông thị tịch. Môn nhân của ông có một số nhân vật tài danh như Chơn Hiết Thanh Liễu (眞歇清了), Thiên Đồng Chánh Giác (天童正覺), Đại Thừa Lợi Thăng (大乘利昇), Đại Hồng Khánh Dự (大洪慶預), v.v. Các trước tác của ông như Đơn Hà Thuần Thiền Sư Ngữ Lục (丹霞淳禪師語錄) 2 quyển, Hư Đường Tập (虛堂集) 3 quyển, vẫn còn hiện hành.
đơn hà tử thuần
Thiền sư Đơn Hà Tử Thuần sanh năm 1064 tại tỉnh Tứ Xuyên, là một trong những đại đệ tử của Thiền sư Phù Dung. Ông thọ cụ túc giới vào năm hai mươi tuổi. Sư trụ tại núi Đơn Hà, thuộc tỉnh Tứ Xuyên—Zen master Dan-Xia-Zhi-Chun was born in 1064 in Si-Chuan province, one of the great disciples of Zen master Fu-Rong. He was ordained at the age of twenty. He resided at Mount Dan-Xia. • Một hôm sư thượng đường thuyết pháp: “Trong càn khôn giữa vũ trụ, ở trong có một hòn ngọc ẩn tại hình sơn. Triệu Pháp Sư nói vậy, chỉ có thể chỉ vào dấu và nói về vết, chứ không thể cầm lấy mà chỉ bày cho người. Ngày nay Đơn Hà mở toát vũ trụ đập nát hình núi, cầm lấy mà chỉ bày cho mọi người quan sát. Những người có tuệ nhãn có thể thấy được.” Đơn Hà cầm gậy dọng xuống sàn nói: “Có thấy không? Cò trắng trên tuyết sắc vẫn khác, Trăng sáng hoa lau chẳng giống nhau.”—One day he entered the hall and addressed the monk, saying, “Within the cosmos, inside the universe, at the very center, there is a jewel concealed in form mountain. Dharma master Zhao says that you can only point at tracks and speak of traces of this jewel, and that you cannot hold it up for others to see. But today I split open the universe, break apart form mountain and hold it forth for all of you to observe. Those with the eye of wisdom will see it.” Dan-Xia hit the floor with his staff and said, “Do you see? A white egret stands in the snow, but its color is different. It doesn't resemble the clear moon or the water reeds!” • Sư thượng đường, nhắc lại Đức Sơn dạy chúng nói: “Tông ta không ngữ cú, không một pháp cho người.” Đức Sơn nói thoại thế ấy, đáng gọi là chỉ biết vào cỏ tìm người, bất chợt toàn thân bùn nước. Chín chắn xem ra, chỉ đủ một con mắt. Nếu là Đơn Hà thì không thế. Tông ta có ngữ cú đao vàng cắt chẳng mở, sâu xa chỉ huyền diệu, ngọc nữ đêm mang thai—Dan-Xia entered the hall and said, De-Shan spoke as follows: “My doctrine is without words and phrases, and truthfully, I have no Dharma to impart to people.” You can say De-Shan knew how to go into the grass to save people. But he didn't soak the whole body in muddy water. If you look carefully you see he has just one eye. But as for me, my doctrine has words and phrases, and a golden knife can't cut it open. It is deep, mysterious, and sublime. A jade woman conceives in the night.” • Sư thượng đường: “Dừng dừng đúng ngọ còn thiếu nửa, lặng lặng canh ba vẫn chửa tròn, sáu cửa chẳng từng biết hơi ấm, lại qua thường ở trước trăng trong.”—Dan-Xia entered the hall and said, “At high noon is still lacks half. In the quiet night it is still not complete. Households haven't known the intimate purpose, always going and coming before the clear moon.” • Sư thượng đường thuyết: “Trăng sáng chiếu soi đầm trong bày bóng, nước không có ý thấm trăng, trăng không có tâm soi nước, trăng nước cả hai đều quên mới đáng gọi là đoạn. Vì thế nói: Việc lên trời cần phải thổi mất, việc thập thành cần phải dẹp mất, ném vàng vang tiếng chẳng cần xoay nhìn. Nếu hay như thế mới hiểu nhằm trong dị loại mà đi. Quý vị đến trong ấy lại thấu hiểu chăng? Sư im lặng một lúc lại nói: Thường đi chẳng cất nhân gian bước, mang lông đội sừng lẫn đất bùn.”—Dan-Xia entered the hall said, “The precious moon streams its shining light, spreading out vast and clear. The water reflects, but does not absorb its essence, nor does the moon rend its shining mind. When water and moon are both forgotten, this may be called cut-off. Therefore, it is said: Things rising to heaven must fall back to earth. What is fully completed is inevitably lacking. Cast off the desire for reputation and don' look back. If you can do this, you can then walk in the fantastic diversity. And when you have reached this place, have you seen it all? After a long pause Dan-Xia said: If you are not devoted to walking among people, then you fall into the dirt and mud wearing feathers and horns.” • Thiền Sư Đơn Hà thị tịch vào mùa xuân năm 1117. Tháp cốt của sư được dựng lên ở phía nam Hồng Sơn, bây giờ là thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc—Dan-Xia died in the spring of the year 1117. A monment and the master's complete remains were placed in a stupa south of Mount Hong, now is Wu-Han city, Hubei province.
đơn ma
Trước khi Phật thành đạo, trong khi còn tu khổ hạnh, Ngài chỉ ăn mỗi ngày một hạt mè—A single hempseed a dayto which the Buddha reduced his food before his enlightenment.
đơn na
Putana (skt)—A female demon—See Bố Đát Na and Phú Đơn Na.
đơn sơ
See Đơn giản.
đơn thuần
Unmixed—Pure—Not containing any other substance.
đơn vị
1) Chỗ ngồi đã được ghi vào danh sách: A listed position, or seat. 2) Chỗ ngồi một người: A single seat.
đơn âm
Monosyllabic.
đơn đao trực nhập
(單刀直入) Một mình cầm dao xông thẳng vào trận địa của địch. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho vị thầy, khi hướng dẫn người học, không dùng trí mưu sách lược, dẹp bỏ tất cả lời nói quanh co, mà bàn thẳng vào vấn đề cốt lõi nhằm khơi mở trí giác ngộ cho họ. Nhân thiên nhãn mục quyển 2 (Đại 48, 311 hạ), nói: Đại dụng xoay trời, tay vo giết người, đơn đao vào thẳng, người cảnh đều đoạt, chiếu dụng song hành. Nghĩa là chẳng dùng bất cứ phương pháp nào mà dứt tuyệt nguồn gốc vọng tưởng, chẳng cần đến nhân duyên thí dụ mà mở toang sự lí. [X. Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.21; Hư đường Trí ngu thiền sư ngữ lục Q.6].
đơn điền
Udana (skt)—Điểm khoảng một tất dưới rún, là nơi chứa đựng những nguyên lý tất yếu, có thể làm biến đổi sự luân lưu của dòng bất tử—A spot about an inch below the navel where lies the reservoir of vital principle which can be transmuted unto the Elexir of Immortality.
đơn độc
Solitary—Alone—Isolated.
Đơn-noa 單拏
[ja] タンナ tanna ||| Transcription of the Sanskrit/Pali daṇḍa. See 檀拏. => Phiên âm chữ daṇḍa từ tiếng Sanskrit và Pali. Xem Đàn-noa 檀拏
Đơn-đà 單馱
[ja] タンダ tanda ||| Transcription of the Sanskrit/Pali daṇḍa. See 檀拏. => Phiên âm chữ daṇḍa từ tiếng Sanskrit và Pali. Xem Đàn-noa 檀拏
đưa mắt nhìn
To gaze.
đưa tin
To bring news.
đưa tận tay
To give something into someone's hands.
đưa tới
Conductive to—To evoke.
đương
1) Đảm đương: To undertake. 2) Thích hợp: Suitable—Proper. 3) Tương đương: Be equal to. 4) Tương lai: In the future.
đương cơ
Thích ứng với căn cơ trình độ của chúng sanh gọi là đương cơ. Cũng gọi là khế cơ.
; Đức Phật thuyết pháp hợp với căn cơ của chúng sanh khiến họ được an lạc—To suit the capacity or ability, i.e. of hearers, as did the Buddha; to avail oneself of an opportunity.
đương cơ chúng
5536指宿緣純熟,一聞教法,即可得度者。聽法之大眾可分成四種類別,當機眾即其中之一。〔法華經文句卷二下、大明三藏法數卷十五〕(參閱「四眾」1763)
; Một trong tứ chúng, đương cơ chúng là các vị nghe, thọ nhận và hành trì tinh chuyên những gì Phật dạy trong Kinh Pháp Hoa—One of the four kinds of disciples, those hearers of the Lotus who were adaptable to its teaching, and receive it—See Tứ Chúng (B) (2).
; (當機衆) Những người nhờ phúc duyên đời trước nay đã thuần phục, nên vừa nghe giáo pháp liền được độ, là một trong bốn chúng nghe pháp. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.2 phần dưới; Đại minh tam tạng pháp số Q.15]. (xt. Tứ Chúng).
đương cơ ích vật
5536即配合各種根性,適時施與適當之化益之意。諸經說法之所以不同,係因應眾生根機之不同,而施與化益之善巧方便。智顗之法華玄義卷一上(大三三‧六八四上):「餘教當機益物,不說如來施化之意,此經明佛設教元始。」
; (當機益物) Tùy theo căn tính của chúng sinh mà giáo hóa làm lợi ích cho họ một cách thích hợp và đúng lúc. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 1 phần trên của ngài Trí khải nói (Đại 33, 684 thượng): Về đương cơ ích vật, các kinh khác không nói đến ý nghĩa đặt ra các phương tiện khéo léo để hóa độ chúng sinh của Như lai, còn kinh này thì nói rõ nguồn gốc lập giáo của Ngài.
đương dương
Dưới ánh mặt trời—In the sun, in the light.
đương hữu
The future ditto (existence).
đương kim như lai
5534 請參閱 彌勒受決經 [1]爲北魏道人統法果之主張;謂皇帝即如來,拜天子即爲拜佛。由於此類主張之影響,乃形成北魏佛教之「國家性格」,即佛教一方面在帝王之信仰及保護下蓬勃發展,寺院僧尼激增,造像風氣盛極一時;另一方面卻不免漸失其宗教超然之立場,懾服於君權之下;統治者亦屢次藉各種理由進行沙汰僧尼,對佛教之發展頻加限制。與法果同時代之廬山慧遠(334~416)著「沙門不敬王者論」,則與法果之主張成強烈對比。(參閱「沙門不敬王者論」2973)
; (當今如來) Vua là Như lai, lạy vua tức là lễ Phật. Đây là chủ trương của Đạo nhân thống Pháp quả ở đời Bắc Ngụy. Do ảnh hưởng của chủ trương này mà Phật giáo thời Bắc Ngụy đã trở thành tính cách quốc gia, nghĩa là Phật giáo một mặt nhờ sự tín ngưỡng và bảo hộ của nhà vua mà được phát triển mạnh mẽ, số chùa viện và tăng ni tăng lên rất nhanh, việc đúc chuông, tạc tượng cực thịnh một thời; nhưng mặt khác, cũng vì thế mà Phật giáo dần dần mất tính siêu việt của tôn giáo, vì khuất phục dưới quyền ông vua và kẻ thống trị cũng thường tìm mọi lí do để sa thải tăng ni, hạn chế sự phát triển của Phật giáo. Ngài Tuệ viễn (334 - 416) ở Lô sơn là người cùng thời đại với Đạo nhân thống Pháp quả, có soạn luận Sa môn bất kính vương giả để phản đối chủ trương của Pháp quả một cách mạnh mẽ. (xt. Sa Môn Bất Kính Vương Giả Luận).
đương lai
1) Đời vị lai hay cuộc đời sẽ đến sau nầy: The future life. 2) Việc sẽ đến: That which is to come, the future.
đương lai hạ sanh di lặc tôn phật
The Soon-To-Come Honoured Buddha Maitreiya.
Đương lai Phật 當來佛
[ja] トウライブツ tōraibutsu ||| The "future Buddha;" the aspect of the Sanjie 三階 teaching of the "universal Buddha," pufo 普佛; based on the ekayāna 一乘 teaching of the Lotus Sutra 法華經 this denotes that all sentient beings will in the future attain the full awakening of the Buddha. => 'Đức Phật tương lai', giáo lý phổ Phật (pufo 普佛) của Tam giai giáo, căn cứ vào giáo lý Nhất thừa trong kinh Pháp Hoa, giáo lý nầy cho rằng mọi chúng sinh đều sẽ được giác ngộ thành Phật trong tương lai.
đương lai đạo sư
5535指彌勒菩薩。謂彌勒菩薩將於未來繼釋尊之後,在娑婆世界成佛,爲眾生導師。
; (當來導師) Chỉ bồ tát Di lặc. Nghĩa là trong vị lai, bồ tát Di lặc sẽ nối tiếp đức Phật Thích ca, thành Phật ở thế giới Sa bà để dẫn dắt chúng sinh.
Đương lai 當來
[ja] トウライ tōrai ||| The future, the coming time; after this (sāmparāyika). 〔二障義 HPC 1.800b5〕 => Tương lai, thời gian sắp đến; sau đó (sāmparāyika).
đương ma mạn đồ la
5535乃日本大和當麻寺所傳之淨土曼荼羅。又稱觀經曼陀羅、藕絲曼陀羅。爲日本淨土三曼荼羅之一。原圖係以蓮藕絲織成,歷經久傳,迄已破損,今僅存斷片。文龜年中(1501~1503)再度模寫,故又稱文龜曼荼羅。全圖分內、外陣,內陣爲以彌陀三尊爲中心之寶樓閣,其前爲寶池,寶池中突出之舞臺,上演舞樂。於舞樂會之左右對稱排列父子相迎會,以迎接往生者。外陣則分爲左右與下之外緣等,表現觀無量壽經之意,右緣共十三觀,左緣爲序分之十一圖,下緣爲九品來迎相。原圖縱橫各四點五公尺;縮寫本則大多爲原圖之四分之一,一般甚爲普及。
; (當麻曼荼羅) Cũng gọi Quán kinh mạn đồ la, Ngẫu ti mạn đồ la. Bức mạn đồ la ở chùa Đương ma tại Đại hòa, là một trong 3 mạn đồ la của tông Tịnh độ Nhật bản. Bức vẽ này được dệt bằng tơ ngó sen (ngẫu ti), vì quá lâu đời nên đã bị rách nát, nay chỉ còn những mãnh vụn mà thôi. Trong năm Văn qui (1501 - 1503), mạn đồ la này được vẽ lại nên còn gọi là Văn qui mạn đồ la. Toàn bức vẽ được chia làm Nội trận và Ngoại trận: - Nội trận là Lầu gác báu lấy Di đà tam tôn (Di đà, Quan âm, Thế chí) làm trung tâm, phía trước là ao báu, ở giữa ao nổi lên một sân vũ nhạc để ca múa, hai bên hội Vũ nhạc bày xếp hội Phụ tử tương nghinh để đón tiếp người vãng sinh. - Ngoại trận thì chia làm hai bên và phía dưới, biểu thị ý nghĩa trong kinh Quán vô lượng thọ; phần bên phải gồm 13 pháp quán, phần bên trái là 11 bức vẽ của phần tựa, phần dưới là tướng đón tiếp lên chín phẩm. Bức vẽ cũ hình vuông, mỗi bề 4,5m, còn bức vẽ lại thì được thu nhỏ hơn, chỉ bằng một phần tư bức cũ, nhưng rất phổ biến.
đương ma mạn đồ la hội quyển
5536凡二卷。屬於淨土曼荼羅之繪卷。藏於日本鎌倉光明寺。係描寫奈良時代所製作當麻曼荼羅之因緣故事的繪圖。所描繪之內容包括橫佩大臣之女因發心書寫稱讚淨土經一千卷,而感得一化尼(阿彌陀佛之化身)應現,化尼令女集蓮藕絲,染成五色絲,以織曼荼羅;以及織曼荼羅之情景、所完成之曼荼羅,和化尼放光而去之場面;乃至該女由於本願而接受迎接(往生)之狀況。長度四十九公分,畫面豪華,細線連綿,爲鎌倉中期之傑作。
; (當麻曼荼羅繪卷) Gồm 2 quyển là mạn đồ la Tịnh độ, được cất giữ ở chùa Quang minh tại Liêm thương, Nhật bản. Những bức vẽ trong tác phẩm này miêu tả sự tích nhân duyên làm ra Đương ma mạn đồ la vào thời đại Nại lương. Nội dung như sau: Người con gái của Đại thần Hoành bội nhờ phát tâm chép 1.000 cuốn kinh Xưng tán tịnh độ mà cảm được một vị Hóa ni (hóa thân của Phật A di đà) ứng hiện. Vị Hóa ni dạy người con gái gom những sợi tơ ngó sen nhuộm thành năm mầu để dệt mạn đồ la. Khi mạn đồ la được hoàn thành, vị Hóa ni phóng hào quang rồi đi. Người con gái nhờ bản nguyện ấy mà sau được tiếp đón về Tịnh độ. Bức mạn đồ la Đương ma này là kiệt tác của thời đại Nại lương.
đương ma tự
5535位於日本大和奈良縣北葛城郡當麻村二上山麓。又稱二上山禪林寺。乃真言、淨土兩宗兼修之寺院。聖德太子之弟麻呂子王創建於河內(大阪府)山田鄉,時稱萬法藏院。天武天皇九年(681)移至現地。奈良時代,藤原豐成之女中將(法如尼)入住該寺,曾供奉所織之淨土變相圖(當麻曼荼羅)。治承年間(1177~1180)寺宇一度燒燬,其後源賴朝重興之。金堂之本尊彌勒菩薩坐像高二點二公尺,爲白鳳時期之作品。四天王像爲同時期之「乾漆造」。講堂建於鎌倉時期,其內置有藤原期之佛像。本堂建於曼荼羅堂東側,爲全寺最大之堂,係鎌倉時代之建築。壇上之佛龕內置有當麻曼荼羅。
; (當麻寺) Cũng gọi Nhị thượng sơn Thiền lâm tự. Chùa ở chân núi Nhị thượng, thôn Đương ma, quận Cát thành, phía bắc huyện Nại lương, Đại hòa, Nhật bản, do em của thái tử Thánh đức tên là Ma lữ tử vương sáng lập ở làng Sơn điền, Hà nội (phủ Đại phản), nguyên tên là Vạn pháp tạng viện. Đến năm Thiên hoàng Thiên vũ thứ 9 (681) mới được dời đến địa điểm hiện nay (chân núi Nhị thượng). Thời đại Nại lương, con gái của Đằng nguyên Phong thành tên là Trung tương (Ni sư Pháp như) vào ở chùa này, có cúng dường bức tranh Tịnh độ biến tướng (Đương ma mạn đồ la) do chính tay bà dệt. Khoảng năm Trị thừa (1177 - 1180), chùa bị thiêu hủy, sau đó được Nguyên lại triều tái thiết. Tượng bồ tát Di lặc ngồi cao 2,2 m ở Kim đường và tượng Tứ thiên vương bằng sơn khô là những tác phẩm của thời kì Bạch phượng. Giảng đường được xây cất vào thời kì Liêm thương, bên trong có thờ tượng Phật được tạo vào thời Đằng nguyên. Bản đường là tòa nhà lớn nhất của chùa, là công trình kiến trúc của thời đại Liêm thương, được xây cất ở phía đông Mạn đồ la đường. Trong khám thờ Phật trên đàn, có thờ Đương ma mạn đồ la.
đương phân khoá tiết
5534天台宗判釋教相之用語。(一)當分,謂於藏、通、別、圓等四教各有其當分之教、行、理、亦即就諸經之當意而判其教意,如阿含經爲使離生死、入涅槃而說,故屬當分。(二)跨節,謂直超前三教而闡述圓意,亦即由法華經之意以定餘經之意。蓋當分之義門,在一代經之當位,故以當分而成法華之「相待妙」,乃方便之施設;跨節之義門,則藉法華經而見一代經,故以跨節而成法華之「絕待妙」,乃佛之本意。法華玄義卷一下(大三三‧六九一上):「當分者,如三藏佛,赴種種緣,說種種教。(中略)跨節者,何處別有四教主,各各身,各各口,各各說?」〔法華玄義釋籤卷三、天台四教儀集註卷上〕
; (當分跨節) Tiếng dùng trong giáo phán của tông Thiên thai. 1. Đương phận: Nghĩa là bốn giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên, mỗi giáo có giáo, hành, lí của đương phận, cũng tức là tùy theo bản ý của các kinh mà phán giáo, như kinh A hàm là khiến cho lìa sinh tử vào Niết bàn mà nói, nên thuộc về Đương phận. 2. Khóa tiết: Nghĩa là vượt ba giáo trước mà nói thẳng vào lí Viên giáo, cũng tức là căn cứ vào ý của kinh Pháp hoa mà định nghĩa các kinh khác. Bởi vì, nghĩa môn Đương phận là cái đương vị của tất cả các kinh được thuyết giảng trong một đời đức Phật, cho nên, nhờ Đương phận mà thành cái diệu tương đãi của kinh Pháp hoa, do đó mà giả lập phương tiện tạm thời. Còn nghĩa môn khóa tiết thì nhờ kinh Pháp hoa mà thấy được tất cả kinh đức Phật thuyết giảng trong một đời, cho nên, do khóa tiết mà thành cái diệu tuyệt đãi, đó là bản ý của Phật. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 1 phần dưới (Đại 33, 691 thượng), nói: Đương phận, như ba tạng kinh, đức Phật tùy theo các duyên mà tuyên nói các giáo pháp (...); còn Khóa tiết thì vì không có đối đãi nên không có bốn giáo, không có thân, khẩu nói riêng biệt. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.3; Thiên thai tứ giáo nghi tập chúc Q.thượng].
đương phận
Tùy theo điều kiện, địa vị và nhiệm vụ của mình (các nhà Thiên Thai lập ra từ “Đương Phận” nói về tứ giáo “Tạng Thông Biệt Viên” mỗi giáo đều có giáo Đương Phận của mình)—According to condition, position, duty, etc.
Đương sinh ái 當生愛
[ja] トウショウアイ tōshōai ||| The feeling of attachment toward the coming life that one gives rise to as one approaches the moment of death in this life. One of three kinds of attachment 三愛. => Đắm chấp yêu thích đời sống kiếp sau, sinh khởi khi người sắp mạng chung. Một trong ba loại ưa thích (tam ái 三愛).
Đương sinh 當生
[ja] トウショウ tōshō ||| The next life; one's coming lifetime. => Đới sống kế tiếp; sinh mạng đời sau của một người.
đương thể
Bản thể—The present body or person; in body or person.
đương thể tức không
5537謂不待分析壞滅一切有爲法之事體而直接體達其當體本即是空。蓋因緣生之法,如夢如幻,並無實性。觀如此當體即空者,稱爲體空觀。(參閱「體空觀」6930)
; Lục căn tiếp xúc lục trần sanh ra lục thức, ngay đó biết được vốn là vô thủy vô sanh, vốn tự không tịch, chẳng phải cảnh trần diệt rồi mới không, ngay khi ấy sự vật đó vốn là không, gọi là đương thể tức không.
; See Thể Không.
; (當體即空) Thể của tất cả pháp hữu vi tức là cái không. Bởi vì vạn tượng đều do nhân duyên giả hợp mà có, tất cả đều như mộng như huyễn, không có thực tính. Quán xét đương thể tức không gọi là Thể không quán. (xt. Thể Không Quán).
đương thể tức thị
5537如波之當體即水,煩惱之當體即菩提,生死之當體即涅槃。爲水爲波,爲菩提爲煩惱,皆因實智與妄情所見之異。妄情之前,法界總爲生死;實智之前,法界悉爲涅槃。此當體即是,乃天台圓教至極之教法。〔止觀輔行傳弘決卷一、十不二門指要鈔卷上〕
; (當體即是) Ngay cái đó tức là bản thể. Như đương thể của sóng tức là nước, đương thể của phiền não tức là bồ đề, đương thể của sinh tử tức là Niết bàn. Nước hay sóng, bồ đề hay phiền não, đều do cái nhìn bằng thực trí hay vọng tình mà có sai khác. Nhìn bằng vọng tình thì pháp giới đều là sinh tử, nhìn bằng thực trí thì pháp giới đều là Niết bàn. Đương thể tức thị là giáo pháp tột cùng của Viên giáo trong tông Thiên thai. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1;Thập bất nhị môn chỉ yếu sao Q.thượng].
đương tình hiện tướng
5535指於凡夫妄情之前,現種種之相。譬如於疑心之前生暗鬼。然在理上,此類物相乃屬虛妄不實者,唯因凡夫迷心本來具有「實我」、「實法」之執情,如今在「非我」、「非法」之事物上,現出「實我」、「實法」之相貌,遂認其爲「實我」、「實法」者,稱爲當情現相;相當於唯識三性中之遍計所執性。(參閱「三性」563)
; (當情現相) Khi phàm phu sinh khởi vọng tình thì các loại tướng trạng hiện ra. Ví như khi trong lòng ngờ vực thì sinh ra quỉ ám. Nhưng tất cả đều là giả tướng, do vọng tưởng chấp trước mà nhận là có thực. Đương tình hiện tướng ở đây tương đương với tính Biến kể sở chấp trong ba tính của Duy thức. (xt. Tam Tính).
Đương tình hiện tướng 當情現相
[ja] トウジョウゲンソウ tōjōgensō ||| The deludedly cognized world which is manifest on the basis of people's mistaken attachment. The aspect of existence is also called bianjisuozhixing 遍計所執性. "Habitually manifest aspect." => Cảnh giới nhận thức do vô minh, biểu hiện căn cứ trên chấp trước sai lầm của con người. Còn gọi là tính biến kế sở chấp (c: bianjisuozhixing 遍計所執性).
Đương tình 當情
[ja] トウジョウ tōjō ||| 'Common sense', 'habituated thought'; manifested subsequent to belief in the reality of form, mind and sentient beings. => Tri giác phàm tình', 'suy nghĩ theo thói quen'; biểu hiện tuỳ theo niềm tin vào thực tại của sắc, tâm và chúng sinh.
đương tướng tức đạo
5535言諸法之當相即是真實之道。意謂世間淺近事相皆有深妙之道理,猶言「即事而真」。密宗之事相門盛談此旨。
; (當相即道) Tướng trạng của các pháp tức là đạo chân thực. Nghĩa là trong các sự tướng tầm thường của thế gian đều có đạo lí sâu xa mầu nhiệm, cũng như nói Tức sự nhi chân. Môn Sự tướng của Mật tông rất hay bàn về ý chỉ này.
đương vị tức diệu
5534指在當分之地位,即爲微妙;即使處於世俗間,不改凡夫之位,亦可契合真理。意即不論何事,其位皆妙,如良醫所觀,毒有毒之妙,藥有藥之妙。據法華玄義釋籤卷十一所說,法華之心爲當位即妙,不改本位、不捨罪業亦可成佛道。
; Việc gì mà ở đúng chỗ của nó cũng đều vi diệu cả, như độc dược cũng có công dụng của độc dược, lương dược cũng có công dụng của lương dược—According to its place, or application, wonderful or effective; e.g. poison as poison, medicine as medicine.
; (當位即妙) Ở ngay địa vị hiện tại là vi diệu. Nghĩa là mặc dù chúng sinh còn sống giữa thế tục, chưa thay đổi địa vị phàm phu của mình, nhưng vẫn có thể khế hợp chân lí. Tức bất luận sự vật nào, địa vị của nó đều vi diệu, như cách nhìn của vị thầy thuốc giỏi, chất độc có cái diệu của chất độc, thuốc có cái diệu của thuốc. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 11 nói: Tâm pháp hoa là đương vị tức diệu, không thay đổi bản vị, không xa lìa tội nghiệp mà cũng có thể thành Phật đạo.
Đương đương 當常
[ja] トウジョウ tōjō ||| The "future constant." The possession of Buddha nature by all sentient beings. (Nirvāna Sutra) => “Bất biến, thường hằng”. Phật tính có trong mỗi chúng sinh.
đương đầu bổng hạt
5536禪林用語。意謂警醒人之迷妄。棒喝,緣於禪家宗匠接引學人之作法。棒,始於德山;喝,來自臨濟。棒、喝均爲接引學人轉迷開悟之法。(參閱「棒喝」5054)
; (當頭棒喝) Ngay trong cái đánh và tiếng hét mà tỉnh ngộ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Đánh (bổng) và hét (hát) là phương pháp tiếp dẫn người học của các bậc thầy lỗi lạc kì tài trong Thiền lâm làm cho họ chuyển mê khai ngộ. Gậy đánh bắt nguồn từ ngài Đức sơn, tiếng hét thì từ ngài Lâm tế mà ra, nên đã có câu Đức sơn đánh, Lâm tế hét được truyền tụng trong các tùng lâm. (xt. Bổng Hát).
Đương 當
[ja] トウ tō ||| (1) Should be, granted, deserve; what is right according to reason. (2) Future case; will be, will. (3) Have to (do),should (do), ought to (do). (4) Then, at that time. (5) In the presence of, in the place, in, at. => 1. Nên, cho là như vậy, đáng; điều gì đúng tuỳ theo lý do. 2. Thì tương lai; sẽ là, sẽ. 3. Phải (làm), nên (làm), phải (nên làm). 4. Rồi, vào lúc đó. 5. Sự hiện diện, nơi chốn.
Đường Lâm Tông Thọ
(棠林宗壽, Tōrin Sōju, ?-1837): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Giang Hộ, húy là Tông Thọ (宗壽), hiệu Đường Lâm (棠林), nhụ hiệu Đại Triệt Chánh Nguyên Thiền Sư (大徹正源禪師), xuất thân vùng Phi Đạn (飛驒, Hida, thuộc Gifu-ken [岐阜縣] ngày nay). Ban đầu ông nhập môn theo học với Phương Cốc (芳谷) ở Thiền Xương Tự (禪昌寺), sau ông đến tham Thiền với Cửu Phong Chủ Chuyết (九峰主拙) ở Thường Đức Tự (常德寺) vùng Tán Kì (讚岐, Sanuki), và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Duy Diễm (惟琰) ở Mai Tuyền Tự (梅泉寺) vùng Mỹ Nùng (美濃, Mino). Đến năm 1804, ông kế thừa trú trì Từ Ân Tự (慈恩寺, Jion-ji) vùng Mỹ Nùng (美濃, Mino) và nổ lực giáo hóa chúng đạo tục. Năm 1832, ông chuyển lên sống ở Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji).
Đường
堂; C: táng; J: dō;|Có các nghĩa sau: 1. Đại sảnh, phòng tiếp khách, phòng họp; 2. Phòng khánh tiết, toá án; 3. Đáng tôn kính, trang nghiêm; 4. Một nơi thoáng rộng trên đồi; 5. Sự phồn thịnh, xuất sắc.
đường
4449梵語 prāsāda, layana。即殿宇之義。又稱殿堂。即指供安置佛像、講經或修行等用途之建築物。與塔共為構成伽藍之主體,殿堂與塔廟,合稱堂塔。印度建造各種堂宇,如佛殿、大堂、布薩堂等名,散見於各經律。我國堂宇出現於諸種文獻者甚多;或依安置之本尊而命名,如法王殿、釋迦堂、閻魔堂等;或供法會、修行等用途,如戒壇堂、讚佛堂、講堂等;或依位置及形狀而命名,如中堂、本堂等;或安置祖像及遺骨,如舍利殿、開山堂等;亦有供日常生活者,如齋堂、茶堂等。至於形狀,除較特殊者外,多為正方形、長方形。〔北本涅槃經卷二十九、四分律卷三十五、洛陽伽藍記卷一至卷五〕
; Xem tín.
; 1) Đường thẳng: A line. 2) Hoang đường: Wild—Untrue. 3) Nhà Đường bên Trung Quốc, khoản từ năm 618 đến 907 sau Tây Lịch: The T'ang dynasty, around 618-907 A.D. in China. 4) Sảnh đường: Prasada (skt)—Hall—Temple—Court.
; (堂) Phạm: Pràsàda, Layana. Cũng gọi Điện đường. Những tòa nhà trong tùng lâm dùng để thờ Phật, giảng kinh và tu hành. Cùng với ngôi tháp là những kiến trúc chính trong chùa, như Đường và tháp gọi chung là Đường tháp. Hoặc căn cứ theo tượng Bản tôn được thờ mà đặt tên, như Pháp vương điện, Thích ca đường, Diêm ma đường v.v... hoặc theo việc dùng cho pháp hội, tu hành mà đặt tên, như Giới đàn đường, Tán Phật đường. Giảng đường v.v... hoặc theo vị trí và hình dáng mà đặt tên, như Trung đường, Bản đường; hoặc thờ tượng và di cốt của Tổ sư thì gọi là Xá lợi điện, Khai sơn đường v.v... Cũng có trường hợp nhà được dùng vào việc sinh hoạt hàng ngày thì gọi là Trai đường, Trà đường v.v... Về hình dáng thì phần nhiều xây cất theo hình vuông và hình chữ nhật. [X. kinh Niết bàn Q.29 (bản Bắc); luật Tứ phần Q.35; Lạc dương già lam kí Q.1 đến Q.5].
đường ban
4451堂內之班位。坐堂之時,其位置依身分而規定。
; (堂班) Vị trí của các ban trong điện đường. Chỗ ngồi của các ban trong điện đường căn cứ theo chức vị, đia vị mà được qui định.
Đường Chiêu Đề Tự
(唐招提寺, Tōshōdai-ji): ngôi Tổng Bản Sơn trung tâm của Luật Tông Nhật Bản, tọa lạc tại Gojō-chō (五條町), Nara-shi (奈良市), Nara-ken (奈良縣), một trong 7 ngôi chùa lớn của vùng Nam Đô. Tượng thờ chính của chùa là tượng ngồi Lô Xá Na Phật (盧舍那佛, thời đại Nại Lương) cao 6 trượng. Là ngôi tự viện có liên quan mật thiết với vị Đường tăng Giám Chơn (鑑眞, Ganjin), về sự tình xây dựng chùa được miêu tả rất rõ trong Đường Đại Hòa Thượng Đông Chinh Truyện (唐大和上東征傳) do Đạm Hải Tam Thuyền (淡海三船, Oumi-no-Mifune) soạn thuật vào năm 779. Vượt qua biết bao gian khổ để đến được triều đình Nhật, vào năm 754 (Thiên Bình Thắng Bảo [天平勝寳] 6), Giám Chơn đã thiết lập Giới Đàn trước tượng Đại Phật của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) để truyền thọ giới pháp cho Thiên Hoàng, Hoàng Hậu và hơn 440 người trong cung nội. Từ đó về sau, ông xác lập chế độ thọ giới. Sau đó, ông nhường lại Đường Thiền Viện (唐禪院) ở Đông Đại Tự cho đệ tử Pháp Tấn (法進, Hōshin), rồi xây dựng một ngôi Biệt Viện mới tại khu đất nhà ở cũ của cố Thân Vương Tân Điền Bộ (新田部, Nitabe)—khu đất do triều đình ban tặng vào năm 759 (Thiên Bình Bảo Tự [天平寳字] 3), và chuyển đến trú ở đây với tên do ông đặt là Đường Chiêu Đề Tự. Đây chính là duyên khởi của chùa này. Về quy mô của ngôi già lam, người tạo lập, v.v., có ghi rõ trong Chiêu Đề Tự Kiến Lập Duyên Khởi (招提寺建立緣起, năm 835). Quần thể đại quy mô của ngôi già lam này có Kim Đường (金堂) nối liền với Hành Lang chạy vòng quanh, Giảng Đường (講堂), Lầu Kinh (經樓), Lầu Chuông (金樓), Tăng Phòng (僧房), v.v., là những kiến trúc được dời từ Đông Triều Tập Điện của Bình Thành Kinh (平城京). Sau khi kinh đô được dời về Trường Cương (長岡), chùa vẫn tiếp tục xây dựng thêm. Dưới thời Bình An, do vì kinh đô dời đi nơi khác nên chùa phải chịu số phận suy vong cùng với những ngôi chùa khác của vùng Nam Đô. Trong phần Thật Phạm Luật Sư Truyện (實範律師傳) của bản Chiêu Đề Thiên Tuế Truyện Ký (招提寺千歳傳記) được hình thành vào năm 1701 (Nguyên Lộc [元祿] 14), có ghi lại lần hoang phế của chùa dưới thời đại này. Đến thời đại Liêm Thương, chùa bắt đầu tái hưng nhờ những hoạt động phục hưng giáo học vùng Nam Đô của Trinh Khánh (貞慶, Jōkei), Duệ Tôn (叡尊, Eison), Giác Thạnh (覺盛, Kakujō), v.v. Vào năm 1202 (Kiến Nhân [建仁] 2), Trinh Khánh bắt đầu tu sửa Đông Thất (東室), thiết lập Đạo Tràng Niệm Phật; đến năm 1240 (Nhân Trị [仁治] nguyên niên) thì xây dựng Lầu Kinh, v.v. Năm 1244 (Khoan Nguyên [寬元] 2), Giác Thạnh—người được kính ngưỡng như là vị sơ tổ thời Trung Hưng của chùa—đến làm trú trì. Ông tiến hành phục hưng về mặt giáo học; và vị tổ thứ 2 là Chứng Huyền (証玄, Shōgen) cũng tận lực góp phần làm cho chùa xương thạnh. Bức tượng Thích Ca theo dạng thức của Thanh Lương Tự (清涼寺, Seiryō-ji) được tôn trí tại Lễ Đường (禮堂, năm 1202), tranh vẽ Đông Chinh Truyện (東征傳), v.v., nói lên một cách chân thật thời kỳ phục hưng này. Lịch sử của chùa từ thời Nam Bắc Triều trở đi thì không rõ lắm, nhưng giống như các ngôi tự viện khác, chùa cũng bị suy tàn mãi cho đến thời Cận Đại. Đến năm 1596 (Trường Khánh [長慶] nguyên niên), do vì động đất, toàn bộ ngôi già lam bị hư nát. Sau đó, nhờ Tướng Quân Đức Xuyên Cương Cát (德川綱吉, Tokugawa Tsunayoshi) quy y với Long Quang (隆光, Ryūkō)—vị trú trì Hộ Trì Viện (護持院) của chùa, Tướng Quân phát nguyện tu bổ lại toàn bộ già lam để hồi hướng công đức cho thân mẫu ông. Từ khi chùa thành lập chưa có trận hỏa tai nào xảy ra cho đến thời Cận Đại; nhưng vào năm 1802 (Hưởng Hòa [享和] nguyên niên), ngôi tháp được dựng vào năm 810 bị sét đánh làm cháy rụi. Thêm vào đó, vào năm 1833 (Thiên Bảo [天保] 4), Tây Thất (西室), Khai Sơn Đường (開山堂) và năm 1848 (năm đầu niên hiệu Gia Vĩnh [嘉永]) thì Giới Đàn Đường (戒壇堂) bị cháy thành tro bụi. Tuy nhiên, cũng may mắn thay, trung tâm già lam thì không bị ảnh hưởng hỏa tai lớn, các kiến trúc quý giá như Kim Đường, Giảng Đường, Kho Kinh, Kho Báu, v.v., vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay. Bảo vật của chùa hiện có một quần thể tượng điêu khắc giá trị gồm mấy mươi pho như tượng ngồi Lô Xá Na Phật, tượng đứng Thiên Thủ Quan Âm (thời đại Nại Lương), tượng đứng Dược Sư Như Lai (đầu thời Bình An), tượng ngồi Giám Chơn Hòa Thượng (thời đại Nại Lương), v.v. Ngoài ra, còn có rất nhiều bảo vật khác như bình đựng xá lợi do Giám Chơn đem sang, tranh vẽ, kinh điển, v.v. Về tên gọi Đường Chiêu Đề Tự (唐招提寺), Đường (唐) ở đây có nghĩa nói đến vị Đường Tăng Giám Chơn sang truyền Luật Tông vào Nhật. Còn Chiêu Đề (招提) là âm dịch của tiếng Pāli hay Sanskrit cātuddisa, nghĩa là tứ phương, bốn phương. Vậy ngôi Đường Chiêu Đề Tự là ngôi chùa của vị Đường Tăng Giám Chơn dành cho người của bốn phương đến tu tập. Có lẽ đây cũng là chân ý của Hòa Thượng Giám Chơn.
đường chiêu đề tự
4067為日本律宗之總本山,位於奈良市西京五條。舊名龍興寺,又號建初律寺,略稱招提寺。南都七大寺之一。係我國唐代僧鑑真大師所創。與東大寺之戒壇院並為傳布與研究律學之兩大道場。初於天平勝寶六年(754),鑑真率門人至日本,聖武天皇歸依之,同年四月於東大寺受菩薩戒。未久,將新田部親王之舊地賜建本寺,工半而天皇崩逝,孝謙天皇繼其遺志。天平寶字三年(759)八月寺成,賜額「唐招提寺」,同年淳仁天皇於本寺登壇受戒,賢憬亦寫大藏經五○四八卷捐贈。 延曆年中,如寶律師住本寺宣講戒律。大同元年(806),平城天皇敕置安居講師,延請淨行之僧,宣講法華、最勝、仁王等經。弘仁元年(810)增建五層塔、宮殿、長廊等。翌年嵯峨天皇令天下僧尼研學戒法,並敕諭若有違者以僧律治之。其後漸次荒廢,嘉禎年中,覺盛任住持,為中興第一世。然至足利時代,寺祿為武家所奪,寺域隨之縮小。慶長年中、元錄年中嘗二度復修,增建諸堂。至明治維新時再衰頹,內部亦分裂,所隸屬之末寺或獨立、或他屬。明治三十三年(1900)八月,已獨立之末寺共奉本寺為總本山。現今總轄二十一所分寺。所藏文物頗豐,著名者有鑑真和尚夾紵坐像及藥師如來等木雕佛像群。此外,有東征繪傳五卷及多種古寫經、古書籍等。
; (唐招提寺) Tên cũ: Long hưng tự. Cũng gọi Kiến sơ luật tự. Gọi tắt: Chiêu đề tự. Tổng bản sơn của Luật tông Nhật bản, nằm ở Ngũ điều Tây kinh, thành phố Nại lương, là một trong bảy ngôi chùa lớn ở Nam đô, do đại sư Giám chân người Trung quốc sáng lập. Chùa này và chùa Đông đại là hai đạo tràng lớn truyền bá và nghiên cứu Luật học. Vào năm Thiên bình thắng bảo thứ 6 (754), ngài Giám chân đưa các đệ tử đến Nhật bản, Thiên hoàng Thánh vũ xin qui y ngài và tháng 4 năm ấy nhà vua thụ giới Bồ tát ở chùa Đông đại. Sau đó không lâu, Thiên hoàng lấy đất của thân vương Tân điền bộ ban cho ngài để xây cất chùa này, làm được nửa chừng thì Thiên hoàng băng hà. Thiên hoàng Hiếu liêm lên kế vị và tiếp tục công việc mà người tiền nhiệm đã bỏ dở. Đến năm Thiên bình bảo tự thứ 3 (759) thì chùa hoàn thành, được ban hiệu là Đường Chiêu Đề Tự, cùng năm ấy, Thiên hoàng Thuần nhân thụ giới ở chùa này, ngài Hiền cảnh chép Đại tạng kinh 5048 quyển để dâng cúng. Trong năm Diên lịch, luật sư Như bảo ở tại chùa này tuyên giảng giới luật. Niên hiệu Đại đồng năm đầu (806), Thiên hoàng Bình thành ban chiếu chỉ mở an cư, thỉnh những vị tăng giới hạnh thanh tịnh giảng các kinh Pháp hoa, Tối thắng, Nhân vương v.v... Niên hiệu Hoằng nhân năm đầu (810), xây cất thêm tháp năm tầng, cung điện, hồi lang v.v... Năm Hoằng nhân thứ 2 (811), Thiên hoàng Tha nga ra sắc lệnh cho tăng ni phải học tập nghiên cứu giới pháp, nếu ai vi phạm sẽ bị xử trị theo đúng giới luật. Về sau, chùa dần dần hoang tàn, trong năm Gia trinh, ngài Giác thịnh làm trụ trì, chùa được trung hưng. Nhưng đến thời đại Túc lợi, tài sản của chùa bị Vũ gia cướp đoạt, diện tích chùa cũng bị thu hẹp. Trong năm Trường khánh chùa được sửa lại và trong năm Nguyên lộc nhiều tòa nhà mới được xây cất thêm. Đến thời Minh trị Duy tân chùa lại rơi vào tình trạng suy đồi, nội bộ cũng bị phân hóa: Các chùa trực thuộc trước kia nay tách ra độc lập hoặc lệ thuộc vào các chùa khác. Nhưng đến tháng 8 năm Minh trị 33 (1900), các chùa chi nhánh độc lập đó lại cùng tôn chùa này (Đường chiêu đề) là Tổng bản sơn. Hiện nay chùa này có 21 chùa chi nhánh trực thuộc. Trong chùa còn cất giữ rất nhiều di vật văn hóa, nổi tiếng hơn cả có tượng hòa thượng Giám chân ngồi, tết bằng hai lớp sợi gai và tượng Dược sư Như lai cùng các tượng Phật khác chạm bằng gỗ. Ngoài ra, còn có bộ Đông chinh hội truyện 5 quyển, nhiều loại kinh chép tay và các sách vở cổ.
đường chính
The right way.
đường chủ
4450為延壽堂主之略稱。係掌管延壽堂(病房)內一切事務之職。禪苑清規卷四延壽堂主淨頭條(卍續一一一‧四四九下):「堂主須請寬心耐事、道念周旋、安養病僧、善知因果之人。」又水陸堂主、羅漢堂主雖各執掌一堂,亦稱堂主,然此特指延壽堂主,係以總稱為別名。
; Vị chủ Diên Thọ Đường, làm chủ tế các buổi lễ—The head of a hall on a special occasion—The leader of the Hall.
; (堂主) Gọi đủ: Diên thọ đường chủ. Chức vụ trông coi tất cả các việc trong Diên thọ đường (phòng chữa và dưỡng bệnh). Điều Diên thọ đường chủ tịnh đầu trong Thiền uyển thanh qui quyển 4 (Vạn tục 111, 449 hạ), nói: Khi tuyển chức vụ Đường chủ, phải thỉnh người có lòng rộng lượng, nhẫn nại, chịu khó, đạo niệm chu toàn, chăm nuôi, an úy bệnh tăng, biết rõ nhân quả. Ngoài ra, những người trông coi các việc khác cũng gọi là Đường chủ, như: Thủy lục đường chủ, La hán đường chủ. Nhưng danh từ Đường chủ ở đây chỉ đặc biệt chỉ cho Diên thọ đường chủ là dùng tên chung làm tên riêng.
đường công danh
Path of glory.
đường danh lợi
Path of wealth and fame.
đường dạng
4069又作禪宗樣。日本鎌倉時代初期,與禪宗一起自南宋傳至日本之建築式樣。最初,僅使用於禪宗寺院之建築,後來亦用於其他建築,與和式建築同為日本建築上之二大主流。伽藍配置以一直線排列為其主要建築之特色,另如構造之細部亦為特色之一。此類遺構有鎌倉圓覺寺舍利殿、岐阜永保寺觀音堂、東京正福寺地藏堂等。
; (唐樣) Cũng gọi Thiền tông dạng. Kiểu mẫu đời Đường Trung quốc. Một kiểu kiến trúc theo gót Thiền tông từ Nam Tống truyền đến Nhật bản vào đầu thời đại Liêm thương. Mới đầu, kiểu kiến trúc này chỉ được sử dụng trong các chùa viện Thiền tông, nhưng về sau được sử dụng rộng rãi. Kiểu kiến trúc cố hữu của Nhật bản và lối kiến trúc của đời Đường Trung quốc này là hai dòng chủ yếu về mặt kiến trúc của Nhật bản. Điểm đặc sắc của lối kiến trúc này là ngôi chùa được phối trí theo một đường thẳng. Một đặc sắc khác là các bộ phận của kiến trúc được cấu tạo một cách rất tỉ mỉ, như Điện Xá lợi của chùa Viên giác ở Liêm thương, Quan âm đường của chùa Vĩnh bảo ở Kì phụ, Địa tạng đường của chùa Chính phúc ở Đông kinh v.v...
đường dần
4068請參閱 續高僧傳 (1470~1523)明代書畫家。江蘇吳縣人,字伯虎。賦性疏朗,狂逸不羈,自號六如居士、逃禪仙吏、魯國唐生。幼有「才子」之譽,鄉試時名列第一,後舉應天解元,因株連受刑,憤而辭官回鄉,從此寄情詩文書畫,遍遊天下名都,嘗鐫其章曰:「江南第一風流才子」。唐寅工詩、古文詞,畫風師承李成、范寬、馬遠、夏珪,復宗法元代四大家,與沈周、文徵明等人之畫風亦有交融之處。其畫幅之廣,成為明代畫壇一大特色,誠屬院派畫家中之一枝獨秀。〔明史卷二八六、明史稿卷二六七〕
đường hoàng
Openly—In the open.
đường khách
4068西藏佛教之卷軸佛像。有大小形制之別,最大者長達十餘丈,存於布達拉宮。一般在二尺至三尺之間,作室內供奉之用。有彩畫、織錦、絲繡等。為藏族佛教藝術珍品。
; (唐喀) Loại tranh tượng Phật cuốn lại. Kích thước lớn nhỏ khác nhau, bức lớn nhất dài tới hơn 10 trượng, được cất giữ trong cung Bố đạt lạp (Potala) ở Lhasa, Tây tạng. Còn thông thường thì khoảng từ hai thước đến ba thước, dùng để thờ trong nhà. Có bức vẽ năm mầu, có bức thêu bằng tơ lụa hoặc gấm vóc. Đây là những tác phẩm nghệ thuật quí giá của Phật giáo Tây tạng.
đường nhất huyền
4063(1892~1988)江蘇青浦人。國防兵醫學院(國防醫學院前身)第九期畢業。對國學、中西醫學均有精湛之造詣。民國十八年(1929)親近太虛大師。曾任高雄六十兵工廠附設醫院院長,並執教於東方佛教學院。著作甚勤,主要有中國古代哲學史條目、重訂無相頌講話、禪門剩語、法華經補述、六祖壇經條目、讀華嚴經、法華經記合刊、圓覺經講義等。
; (唐一玄) (1892 - 1988) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người huyện Thanh phố, tỉnh Giang tô. Ông tốt nghiệp khóa 9 Quân y viện quốc phòng. Đối với nền Quốc học cũng như y học Đông Tây, ông nghiên cứu rất sâu sắc. Năm Dân quốc 18 (1929), ông được gần gũi với đại sư Thái hư. Sau khi ra Đài loan, ông dạy ở học viện Phật giáo Đông phương và chuyên tâm trước thuật. Những tác phẩm chủ yếu của ông gồm có: Trung quốc cổ đại, Triết học điều mục, Trùng đính vô tướng tụng giảng thoại, Thiền môn thặng ngữ, Pháp hoa kinh bổ thuật, Lục tổ đàn kinh điều mục, Độc hoa nghiêm kinh, Pháp hoa kinh kí hợp san, Viên giác kinh giảng nghĩa.
đường phiên hội minh bi
4069位於西藏拉薩市中心之大昭寺前。又稱甥舅和盟碑、長慶會盟碑。於唐代長慶三年(823),相當吐蕃开泰九年,為紀念唐和吐蕃最後一次會盟而建。碑身呈方柱形,高四點七六公尺,寬九十五公分,厚五十公分。碑陽及兩側以漢藏兩種文字刻載會盟全文及唐蕃會盟官員姓名、職位;碑陰以藏文刻載唐蕃友好關係史和此次會盟經過及意義。為千年來漢藏民族間友好團結之歷史物證,亦為吐蕃歷史之重要文物。現保存完好,碑文絕大部分清晰可辨。
; (唐蕃會盟碑) Cũng gọi Sính cữu hòa minh bi, Trường khánh hội minh bi. Tấm bia kỉ niệm sự quan hệ đồng minh giữa nhà Đường và Thổ phồn (Tây tạng), dựng ở trước chùa Đại chiêu tại trung tâm Lhasa, Tây tạng. Đây là tấm bia kỉ niệm lần đồng minh sau cùng giữa nhà Đường và Thổ phồn được khắc vào năm Trường khánh thứ 3 (823) đời Đường, tức năm Di thái thứ 9 của Thổ phồn. Thân bia hình trụ vuông, cao 1,76m, rộng 0,95m, dày 0,50m. Mặt trước và hai bên cạnh bia khắc toàn văn bản liên minh và họ tên cùng chức vị của các quan chức Đường, Phồn dự họp bằng hai thứ chữ Hán và Tạng. Mặt sau khắc chữ Tây tạng ghi lại lịch sử mối quan hệ thân thiện giữa Đường, Phồn từ trước và ý nghĩa cuộc liên minh lần này. Đây là một chứng tích lịch sử về sự đoàn kết hữu nghị giữa hai dân tộc Hán Tạng cả nghìn năm nay và cũng là một di vật văn hiến quan trọng của lịch sử Thổ phồn. Tấm bia này hiện được bảo tồn hoàn hảo, văn bia còn khá rõ ràng, có thể đọc được một cách dễ dàng.
đường phạm văn tự
4068全一卷。唐代僧全真集。文宗開成四年(839)完成。收於大正藏第五十四冊。內容係漢梵語彙之對照編列,包括自「天地日月」乃至「如來大聖」等語,並有密教用語散列其間;其文字之排列酷似唐僧義淨所撰之梵語千字文。
; (唐梵文字) Có 1 quyển, do ngài Toàn chân soạn tập vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 54. Nội dung biên soạn các ngữ vựng Hán, Phạm đối chiếu, bao gồm các từ ngữ từ Thiên địa nhật nguyệt đến Như lai đại thánh, trong đó rải rác có các dụng ngữ của Mật giáo. Cách sắp xếp văn tự giống như bộ sách Phạm ngữ thiên tự văn (một nghìn chữ tiếng Phạm) do ngài Nghĩa tịnh soạn vào đời Đường.
đường quyên
Bỏ đi vì không có giá trị—To cast away as valueless.
đường quân nghị
4066請參閱 梵語千字文 (1909~1978)四川宜賓人。為熊十力之學生。曾任南京中央大學、香港新亞書院、新亞研究所教授。與牟宗三並為民國五、六十年代我國新儒家之代表。著作等身,包括中西哲學思想之比較論文集、道德自我之建立、文化意識與道德理性、哲學概論等十多種,此外,中國哲學原論原性篇、原道篇,及晚年所作生命存在與心靈境界一書中之若干章節,皆為佛教思想之專論。
đường sanh mạng
Life line on the palm of the hand.
đường sanh tử luân hồi
The way of the transmigration.
đường sinh
4065由我國至印度求法請經者,稱為唐生。據印度劄記卷上所載,唐宋之世,由中土西行請經求法之僧絡繹不絕,相沿至今,猶稱華人為唐生。
; (唐生) Các bậc cao tăng từ Trung quốc đến Ấn độ cầu pháp, thỉnh kinh, gọi là Đường sinh. Cứ theo Ấn độ đáp kí quyển thượng chép, thì từ đời Đường, Tống các vị tăng Trung quốc sang Ấn độ cầu pháp, thỉnh kinh tiếp nối nhau không dứt, nên Ấn độ gọi người Hoa là Đường sinh.
đường sấn
4451又作堂嚫。即禪林施僧之施物。䞋,為達嚫(梵 dakṣiṇā)之略稱,指布施物。〔備用清規卷四煎點西堂頭首新命條〕(參閱「達嚫」5677)
; (堂嚫) Phẩm vật bố thí chúng tăng trong Thiền lâm. [X. mục Tiễn điểm Tây đường đầu thủ tân mệnh trong Bị dụng thanh qui Q.4]. (xt. Đạt Sấn).
đường tam tạng
Tức ngài Tam Tạng Huyền Trang, vì ngài tinh thông tam tạng kinh điển sau khi đi Thiên Trúc thỉnh kinh về nên gọi là Tam Tam Pháp Sư, ngài sống vào thời nhà Đường nên có biệt hiệu là Đường Tam Tạng—The T'ang Tripitaka, a name for Hsuan-Tsang—See Huyền Trang.
đường thái tông
4064(598~649)唐高祖第二子,名世民。武德九年(626)即位。貞觀二年(628)直搗梁都,統一全國。在政治上銳意圖治,輕賦寬刑,海內昇平,威及域外,世稱貞觀之治。此時期亦為我國政教合一之典型時代。太宗天縱神武,崇敬三寶,歷代罕見。玄奘西行求法,本屬偷渡越禁,太宗非但未加追問,反更優禮有加,敕令住錫西京弘福寺,寺內置翻經院,一切經費由國家供給,並親賜瑜伽師地論之序,即今之大唐三藏聖教序,勒石於碑,不僅成就玄奘大師之譯經事業,且亦奠定唐宋以降千百年來佛教弘化之基礎。貞觀二十三年駕崩,享年五十二。
; (唐太宗) (598 - 649) Vị vua nhà Đường, họ Lí, tên Thế dân, là con thứ 2 của Đường cao tổ lên ngôi vào năm Vũ đức thứ 9 (626). Năm Trinh quán thứ 2 (628), vua đem quân đánh thẳng vào kinh đô nhà Lương, thống nhất đất nước. Vua có lòng khoan dung nhân từ, thu thuế nhẹ, giảm hình phạt, trong nước thanh bình, uy danh lừng lẫy. Thời kì này cũng được xem là thời đại điển hình về chính trị và tôn giáo hợp nhất của Trung quốc. Thái tông văn võ toàn tài và rất sùng kính Tam bảo. Khi ngài Huyền trang sang Ấn độ cầu pháp vốn không được phép vua cho ra khỏi nước, vậy mà, khi ngài trở về, Thái tông chẳng những đã không nhắc gì đến việc ấy, mà còn thêm ưu đãi, sắc cho ngài ở chùa Hoằng phúc tại Tây kinh, rồi xây Viện Dịch kinh trong chùa để ngài phiên dịch kinh điển và tất cả phí tổn do nhà nước cung cấp. Sau, đích thân Thái tông viết bài tựa cho luận Du già sư địa do ngài Huyền trang dịch, tức nay là bài Đại Đường Tam Tạng Thánh Giáo Tự, được khắc vào bia đá. Vua Thái tông không những đã giúp cho sự nghiệp dịch kinh của ngài Huyền trang được thành tựu, mà còn đặt nền tảng vững chắc cho công cuộc hoằng dương Phật pháp tại Trung quốc cả nghìn năm sau. Vua băng vào năm Trinh quán 23 (649), thọ 52 tuổi.
đường tháp
4069於山西五臺縣佛光寺東之山腰與寺西北之塔坪里,共有七座古塔,其中四座為唐代所建之塔,建築手法古老,形制特殊,為唐塔中所罕見。此四塔為:(一)解脫禪師塔,位於寺西北之塔坪里,建於穆宗長慶四年(824)。方形,兩層,高約十公尺。基座為束腰須彌式,塔身中空,正面有券拱門(砌成半圓或弧形之門),塔內上部為疊澀藻井。塔剎有剎座覆鉢及受花,寶珠已不存。(二)無垢淨光塔,位於寺東山腰,建於玄宗天寶十一年(752)。平面八角形,束腰須彌座,塔身殘壞,塔內出土的漢白玉佛、菩薩、金剛等雕像,皆係建塔時之原作,比例適度,線條流暢。(三)志遠和尚塔,位於寺東山腰,建於武宗會昌四年(844)。八角形基座,上砌圓形覆鉢式塔身,形體秀美,西向闢門,塔剎殘壞。此種形制之唐塔,為我國唯一者。(四)大德方便和尚塔,位於寺東山腰,建於德宗貞元十一年(795)。平面六角形,高四公尺,西向闢門,塔剎殘壞。門外北向嵌有塔銘刻石,記載頗詳。唐代以前我國古塔多為圓、方兩種形制,六角或八角形者頗為少見,佛光寺墓塔則具此特色。
; Điện đường và tháp miếu—Temples and monasteries in general.
; (唐塔) Bảy ngôi tháp ở sườn núi phía đông và ở làng Tháp bình phía tây bắc của chùa Phật quang ở huyện Ngũ đài, tỉnh Sơn tây, Trung quốc. Trong đó, có bốn tháp được xây dựng vào đời Đường, kiến trúc cổ kính, hình dáng Vua Thái Tông Nhà Đường đặc thù, rất ít thấy trong các kiểu tháp đời Đường. Đó là: 1. Giải thoát thiền sư tháp: Ở làng Tháp bình, phía tây bắc chùa Phật quang, được xây dựng vào năm Trường khánh thứ 4 (824) đời vua Mục tông. Tháp hình vuông, hai tầng, cao chừng 10m, được xây theo kiểu núi Tu di ở giữa thắt lại, trong thân tháp rỗng, mặt chính có cửa hình vòm cung, phần trên trong tháp là những ô trang trí, trên nóc tháp có tòa bát úp, thụ hoa và bảo châu, nhưng đã hư nát. 2. Vô cấu tịnh quang tháp: Ở sườn núi phía đông chùa Phật quang, được xây dựng vào năm Thiên bảo 11 (752) đời vua Huyền tông, hình tám góc, tòa xây theo kiểu núi Tu di ở iữa thắt lại, thân tháp đã hư nát. Những pho tượng Phật, Bồ tát, Kim cương v.v... bằng bạch ngọc đời Hán đào được ở trong tháp, chạm trổ rất đẹp, tỉ lệ cân đối, đường nét uyển chuyển. 3. Chí viễn hòa thượng tháp: Ở sườn núi phía đông chùa Phật quang, được xây dựng vào năm Hội xương thứ 4 (844) đời vua Vũ tông. Nền tháp hình tám góc, thân tháp kiểu bát úp, hình dáng đẹp đẽ thanh tú, cửa mở về hướng tây, đỉnh tháp đã hư hoại. Đây là kiểu tháp đời Đường duy nhất còn lại ở Trung quốc. 4. Đại đức phương tiện hòa thượng tháp: Ở sườn núi phía đông của chùa Phật quang, được xây dựng vào năm Trinh nguyên 11 (795) đời vua Đức tông, hình sáu góc, cao 4m, cửa mở hướng tây, nóc tháp đã hư nát; ngoài cửa hướng bắc của tháp có bài minh khắc trên đá, ghi chép rất rõ ràng. Từ đời Đường trở về trước, những ngôi tháp cổ ở Trung quốc phần nhiều được xây theo hình tròn, hoặc hình vuông, còn kiểu tháp hình sáu góc hoặc tám góc thì rất ít thấy. Các ngôi tháp ở chùa Phật quang thì có đủ các đặc sắc này.
đường thượng
Tên gọi khác của vị Phương Trượng trong tự viện, hay các vị sư trụ trì (Đường Đầu Hòa Thượng)—The head of the hall or monastery—An abbot.
đường ti
4451禪林六知事之一。又作維那。負責僧堂指導之僧。維那之居室,稱為維那寮,亦稱堂司。維那之下,掌諸雜務之役僧,稱為堂司行者,略稱堂行。又戒臘牌乃記載僧眾戒臘,依戒臘以定僧眾位次之牌;其中記載堂司戒臘之牌,稱堂司牌。〔敕修百丈清規卷四堂司特為新舊侍者茶湯條、禪苑清規卷一掛搭條、禪林象器箋職位門〕(參閱「維那」5890)
; See Đường Tư.
đường trung tông
4064(656~710)唐高宗之第七子,名顯,為武后所出。弘道元年(683)高宗崩,遺詔柩前即位,改元嗣聖,二月,為武后廢為廬陵王。武后長安末年,張柬之舉兵迎帝復位,年號神龍(705),為慶祝唐祚之中興,恢復則天武后所廢除「老子玄元皇帝」之尊號,並於諸州設置「大唐中興」之佛寺及道觀,景龍元年(707)復改中興為龍興,以祈國運昌隆。後惑於韋后,重用武三思,后淫亂,弒帝於神龍殿,享年五十五,前後在位七年。
; (唐中宗) Cũng gọi Duy na. Vị tăng phụ trách việc chỉ đạo trong nhà Tăng (Tăng đường). Là một trong sáu vị Tri sự của Thiền lâm. Phòng ở của Duy na gọi là Duy na liêu, cũng gọi Đường tư. Vị tăng giúp Duy na làm các việc lặt vặt gọi là Đường tư hành giả, gọi tắt là Đường hành. Còn tấm thẻ trong đó ghi tuổi hạ của vị Đường tư, gọi là Đường tư bài. [X. mục Đường tư đặc vị tân cựu thị giả trà thang trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4; mục Quải đáp trong Thiền uyển thanh qui Q.1; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Duy Na).
đường trời
Xem Thiên đạo.
đường tu khổ hạnh
Con đường khó thực hành, phải dùng nhiều công phu khổ hạnh và phải thực tập trong vô lượng kiếp để đạt được đại giác—Difficult path of practice—The exertion of strenuous effort in austere practice for countless aeons in order to attain enlightenment.
đường tăng
T'ang monk, especially Hsuan-Tsang as the T'ang monk—See Huyền Trang.
đường tư
Biệt hiệu của vị Duy Na trong tự viện, chịu trách nhiệm các công việc ở Tăng đường—Hall Chief—The controller of the business in a monastery.
đường tương thanh
4069(1918~ )江蘇無錫人。國立雲南大學、上海新中國醫學院畢業。曾任中國醫藥學院教授、中國佛教會臺灣省分會監事、新竹縣支會理事、中華佛教居士會理事、臺中監獄教化科長。氏每於授課之暇,撰文發表於各佛刊,亦常往監獄、電臺、大專院校講演佛法。著有佛法心要、慈航十訓述義、慈航大師遺訓廣義、因果報應故事彙編等。
; (唐湘清) (1918 -) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người huyện Vô tích, Giang tô. Ông tốt nghiệp Đại học Quốc lập ở Vân nam và Viện Y học Trung quốc mới lập ở Thượng hải; ông từng làm giáo sư của viện Y dược học Trung quốc, Giám sự Phân hội Phật giáo Đài loan, Quản lí sự vụ Chi hội Phật giáo huyện Tân trúc, Quản lí sự vụ hội Cư sĩ Phật giáo Trung hoa, Trưởng khoa giáo hóa tội phạm trong các trại giam ở Đài trung. Mỗi khi rảnh rỗi, ông thường đến các trại giam, đài phát thanh, các trường Đại học chuyên khoa để giảng diễn Phật pháp và soạn bài đăng trên các tạp chí Phật giáo. Ông có các tác phẩm: Phật pháp tâm yếu, Từ hàng thập huấn thuật nghĩa, Từ hàng đại sư di huấn quảng nghĩa, Nhân quả báo ứng cố sự vậng biên.
đường tắt
A short cut—Shortest way.
đường viện
4067請參閱 法華傳記 日本佛教用語。日僧圓仁(後任日本天台宗延曆寺第三世座主)曾經來唐求法,返日本時,攜回大量經論章疏,並建造建築物以收藏之,稱為唐院。其後,延曆寺第五世座主圓珍亦於園城寺建造唐院。為區別起見,稱前者為前唐院,後者為後唐院。
; (唐院) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Viện nhà Đường. Ngài Viên nhân, người Nhật bản (sau làm Tọa chủ đời chứ 3 của chùa Diên lịch thuộc tông Thiên thai Nhật bản) sang Trung quốc vào đời nhà Đường để cầu pháp, khi về nước, ngài có mang theo một số lượng lớn kinh luận chương sớ, đồng thời, xây cất nhà viện để cất giữ gọi là Đường viện. Về sau, Tọa chủ đời thứ 5 của chùa Diên lịch là ngài Viên trân cũng xây Đường viện ở chùa Viên thành gọi là Hậu Đường viện.
đường vũ tông
4067(814~846)為唐穆宗第五子,原名瀍,後改名為炎。自幼年即不喜佛教。於開成五年(840),繼其兄文宗即帝位,師事道士趙歸真,崇信道教。歸真恃武宗之寵,每有進言,必排毀佛教,力斥佛教非中國之教,蠹害生靈,宜盡除去,宰相李德裕亦輔成其事。武宗遂於會昌五年(845)下敕廢佛,毀天下佛寺四千六百餘所,迫僧尼二十六萬五百人還俗,毀招提蘭若四萬餘,沒收良田數千萬頃,焚經毀像,鐘磬銅像等俱委各地鹽鐵使鑄錢,鐵像則鑄農具,甚而私家所藏金銀等像亦敕令限時送官。另據舊唐書武宗紀、資治通鑑卷二四八等所載,會昌五年七月,武宗下令毀寺,迫令僧尼還俗,僅東西兩都兩街各留二寺,每寺留僧三十人,節度觀察使治所及同州、華州、商州、汝州等四州各留一寺,寺分三等,上等留僧二十人,中等留十人,下等五人,其餘皆令還俗。此一空前浩劫,世稱會昌法難,又稱第三武之厄,為我國佛教史三武一宗法難中,最大之破佛事件。翌年因服道士金丹,中毒而亡,享年三十三,在位僅六年。〔大宋僧史略卷中、卷下、佛祖統紀卷四十二、佛祖歷代通載卷二十三、釋氏稽古略卷三〕
; (唐武宗) (814 - 846) Vị vua nhà Đường của Trung quốc, là con thứ 5 của Đường Mục tông, vốn tên là Triền, sau đổi là Viêm. Ngay từ nhỏ, ông đã không ưa Phật giáo. Năm Khai thành thứ 5 (840), ông kế vị anh là Văn tông lên ngôi, thờ Đạo sĩ Triệu qui chân làm thầy, rất sùng tín Đạo giáo. Qui chân cậy mình được Vũ tông yêu chuộng nên mỗi khi tâu vua điều gì thì ắt chê bai nói xấu Phật giáo, cho rằng Phật giáo không phải là tôn giáo của Trung quốc, là sâu mọt làm hại sinh linh, nên diệt trừ cho hết, Tể tướng Lí đức dụ cũng tán đồng ý kiến ấy. Thế là, vào năm Hội xương thứ 5 (845), Vũ tông hạ lệnh phế bỏ Phật giáo, phá hủy hơn 4.600 ngôi chùa trong nước, cưỡng bức 250.000 tăng ni hoàn tục, đập phá hơn 40.000 chiêu đề lan nhã, tịch thu mấy nghìn vạn khoảnh ruộng đất (một khoảnh = 100 mẫu), đốt kinh hủy tượng, còn chuông khánh và tượng đồng thì giao cho quan Diêm thiết sứ đúc tiền, tượng bằng sắt thì đúc các đồ dùng làm ruộng, cả đến các tượng bằng vàng, bạc thờ ở tư gia cũng ra lệnh nộp cho nhà nước đúng thời hạn đã qui định. Ngoài ra, cứ theo Cựu Đường thư Vũ tông kỉ và Tư trị thông giám quyển 28 ghi chép, thì vào tháng 7 năm Hội xương thứ 5 (845), Vũ tông hạ lệnh phá chùa, bắt buộc tăng ni hoàn tục, chỉ để lại hai chùa ở Tả nhai, Hữu nhai tại Đông kinh và Tây kinh, mỗi chùa để lại 30 vị tăng; còn ở bốn châu là Đồng châu, Hoa châu, Thương châu và Nhữ châu thì mỗi châu để lại một chùa, chia làm ba hạng: hạng nhất giữ lại 28 vị tăng, hạng nhì 10 vị và hạng ba 5 vị, còn lại đều phải hoàn tục. Đây là một tai họa to lớn chưa từng thấy, đời goi là Hội Xương Pháp Nạn, một trong ba Pháp nạn của Phật giáo Trung quốc mà sử gọi là Tam Vũ Nhất Tông Pháp Nạn. Năm sau, vì uống kim đơn của Đạo sĩ nên Vũ tông bị trúng độc mà chết, hưởng dương 33 uổi, làm vua được 6 năm. [X. Đại tống tăng sử lược Q.trung; Q.hạ; Phật tổ thống kỉ Q.42; Phật tổ lịch đại thông tải Q.23; Thích thị kê cổ lược Q.3].
đường đường
Majestic—Stately.
đường đường mật mật
4451禪林用語。意指絕對真理朗然呈現於一切處。同於「徧界不曾藏」一語。景德傳燈錄卷十八(大五一‧三四八下):「雪峰有時謂眾曰:『堂堂密密地。』師出問曰:『是什麼堂堂密密?』雪峰起立曰:『道什麼?』師退步而立。」
; (堂堂密密) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chân lí tuyệt đối hiển hiện rõ ràng ở khắp mọi nơi. Giống với từ ngữ Biến giới bất tằng tàng (khắp cõi chưa từng ẩn giấu). Cảnh đức truyền đăng lục quyển 18 (Đại 51, 348 hạ) chép: Tuyết phong có lúc bảo chúng rằng: Đường đường mật mật. Sư bước ra hỏi: Đường đường mật mật là cái gì? Tuyết phong đứng dậy hỏi: Nói cái gì?. Sư liền lui vào.
đường đại hoà thượng đông chinh truyện
4064全一卷。日僧元開撰。又作唐鑑真過海大師東征傳、東征傳、鑑真大和上傳記。收於大正藏第五十一冊。此書以漢文寫成,係記述大和唐招提寺之開山唐僧鑑真之傳歷。書中初述鑑真之出身、出家、受戒、求學、弘律。次敘唐天寶二年(743)以來,五次欲渡日本受挫,遂遊化於廣東、江南等地,後於天寶十二年第六次渡日本始成功。於日本天平勝寶六年(754)抵日,乃開創唐招提寺及傳授戒律等。最後則記其於天平寶字七年(763)入寂。本書為鑑真傳中最重要之資料,除見於大正新修大藏經外,尚收錄於群書類從傳部、大日本佛教全書遊方傳叢書第一、日本大藏經律宗章疏第二等。〔東域傳燈目錄卷下、諸宗章疏錄卷二〕
; (唐大和上東征傳) Cũng gọi Đường Giám chân quá hải đại sư đông chinh truyện, Đông chinh truyện, Giám chân đại hòa thượng truyện kí. Có 1 quyển, do ngài Nguyên khai, vị tăng Nhật bản, soạn bằng Hán văn thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung trình bày về tiểu sử của ngài Giám chân. Trước hết nói về sự ra đời, xuất gia, thụ giới, cầu học, truyền bá Luật của ngài Giám chân, kế đến, tường thuật từ năm Thiên bảo thứ 2 (743) đời Đường trở đi, đã năm lần ngài toan vượt biển sang Nhật mà không thành, nên ngài đi giáo hóa ở các vùng Quảng đông, Giang nam. Sau đó, vào năm Thiên bảo 12 (753), ngài lại vượt biển lần thứ 6 để qua Nhật và lần này đã thành công. Vào năm 754 (năm Thiên bình thắng bảo thứ 6 của Nhật bản), ngài đặt chân lên đất Nhật, sáng lập chùa Đường chiêu đề và truyền thụ giới luật. Cuối cùng, ngài nhập tịch vào năm Thiên bình bảo tự thứ 7 (763). Sách này là tư liệu quan trọng nhất trong truyện ngài Giám chân, và ngoài Đại chính tạng ra, nó còn được thu vào Quần thư loại tòng truyện bộ, Đại Nhật bản Phật giáo toàn thư du phương truyện tùng thư 1, Nhật bản Đại tạng kinh Luật tông chương sớ 2 v.v... [X. Đông vực truyền đăng mục lục Q.hạ; Chư tông chương sớ lục Q.2].
Đường Đại Hòa Thượng Đông Chinh Truyện
(唐大和上東征傳, Tōdaiwajōtōseiden): 1 quyển, truyền ký của vị Đường tăng Giám Chơn (鑑眞, Ganjin), gọi tắt là Đông Chinh Truyện (東征傳, Tōseiden), do Chân Nhân Nguyên Khai (眞人元開, 722-785, tục danh là Đạm Hải Tam Thuyền [淡海三船, Oumi-no-Mifune]) soạn, thành lập vào năm 779 (Bảo Quy [寳龜] 10). Đây là thư tịch lấy ngòi bút hoa lệ của vị văn nhân nổi tiếng đương thời là Đạm Thuyền Mẫn Lang để hòa giải những phản đối cũng như ngộ nhận của chư tăng đối với Giám Chơn sau khi Tư Thác (思託, Shitaku)—đệ tử của Giám Chơn—sang triều đình Nhật Bản. Đạm Thuyền Mẫn Lang đã dựa trên bản Đại Đường Truyền Giới Sư Tăng Danh Ký Đại Hòa Thượng Giám Chơn Truyện (大唐傳戒師僧名記大和上鑑眞傳, còn gọi là Quảng Truyện [廣傳], 3 quyển) để chỉnh lý thành 1 quyển. Nội dung của tác phẩm này thuật rõ ý của Vinh Duệ (榮叡) và Phổ Chiếu (普照)—hai vị tăng sang nhà Đường với mục đích cung thỉnh Giám Chơn sang làm Truyền Giới Sư cho Nhật Bản, thông qua quyết tâm của Giám Chơn vượt biển để sang truyền trao giới luật, trãi biết bao gian khổ qua 6 lần vượt biển trong vòng 12 năm, từ đó viết nên câu chuyện về tinh thần bất khuất, nhiệt tâm đối với vấn đề truyền pháp như thế nào qua hình ảnh Giám Chơn. Phần đầu thuật về xuất thân cũng như quá trình hành đạo của ông tại Trung Quốc; sau khi sang Nhật vào năm 754 (Thiên Bình Thắng Bảo [天平勝寳] 6), ông đã thiết lập Giới Đàn Viện tại Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), rồi sáng lập Đường Chiêu Đề Tự (唐招提寺, Tōshōdai-ji), v.v., giây phút qua đời và tán dương về đức hạnh cao cả của ông. Cuối sách có phụ thêm 2 đoạn Hán thi có lời tựa của Nguyên Khai và một số bài thơ khác truy niệm về Giám Chơn. Vào năm 1298 (Vĩnh Nhân [永仁] 6), trên cơ sở của tác phẩm này, Truyện Tranh Đông Chinh (東征繪傳, 5 quyển) được vẽ ra và tranh vẽ do ngòi bút của Lục Lang Binh Vệ Nhập Đạo Vận Hành (六郎兵衛入道運行).
đường đại phật giáo
4064唐代佛教脫離了南北朝輸入期之領域,而獨自創立許多新宗派。唐室維護宗教,高僧碩學輩出,譯經事業空前大盛。尤其佛教寺院林立,佛畫推陳出新,十宗並弘,文物燦然大備,為中國佛教傳播之輝煌時代。 淨土宗因道綽、善導而盛。道綽前後講經二百回,日日稱名七萬遍,盡力社會教化,提倡小豆念佛法,著有安樂集二卷。善導於長安吾真寺、實際寺、光明寺等大弘念佛法門,曾寫阿彌陀經十萬卷,畫淨土變相圖三百幅,又任龍門石窟奉先寺大石佛造立之檢校,其聲名廣受唐室上下之尊崇,著觀經疏、往生禮讚等五部九卷書。其他淨土高僧尚有迦才、懷感、法照、飛錫、少康、慧日等,晚唐之際,尚有道鏡等。 律宗為依五部律中之四分律以弘通戒律之一派,有道宣之南山律宗、法勵之相部宗、懷素之東塔宗。道宣鑽研律學,修行定慧,廣求諸律之異傳,為律宗之集大成者,住於終南山豐德寺,被譽為南山律師。所著總有三十五部,一八八卷。其中,四分律行事鈔、戒疏、羯磨疏、拾毘尼義鈔、比丘尼鈔等稱南山五大部,為律學必讀之書。法勵學律於靜洪、洪淵,又往江南學十誦律,前後講四分律四十餘遍,著四分律疏、羯磨疏等,有弟子滿意、懷素等。懷素為東塔宗開祖,有四分律開宗記一書,補法勵說之不足。 法相宗為論究諸法之體性相狀,明萬法唯識之妙理。自世親立說以來,經南北朝地論宗、陳時攝論宗之所傳,到唐代玄奘、窺基,終於成立法相宗。玄奘求法天竺,從戒賢學瑜伽唯識,巡歷印度各地,攜回六五七部經,奉詔於長安弘福寺譯經,譯出六百卷大般若波羅蜜多經以及顯揚聖教論、佛地經、瑜伽師地論等。在譯經史上與鳩摩羅什前後輝映,當時長安以玄奘為中心之法相宗,風靡一世。 華嚴宗依大方廣佛華嚴經,談法界緣起,事事無礙之妙旨,為唐代新興宗派。初祖杜順、二祖智儼、三祖法藏。杜順著有法界觀門;智儼著華嚴經搜玄記、華嚴經孔目章、華嚴五十要問答,為華嚴宗成立之基礎。法藏為華嚴宗實際上之開祖,曾於太原寺講華嚴經,武后賜號「賢首大師」;師對五教十宗之教判中,以華嚴經為最圓滿,而以一乘圓教之思想,開華嚴一宗,又著探玄記、五教章、華嚴經旨歸等六十餘部。 天台宗依妙法蓮華經倡一心三觀,三諦圓融,與華嚴宗共為中國佛學之雙璧。自隋代智顗開宗,灌頂相承,入唐後,沈寂一時,後智威、慧威、玄朗、湛然繼之。湛然為六祖,乃天台中興大師,大張教綱,開闡智顗之微旨,對抗諸宗之學說。有法華玄義釋籤、法華文句記、止觀輔行傳弘決等著作。會昌法難後,此宗漸衰。 禪宗自梁時菩提達磨東來傳法,經慧可、僧璨、道信、弘忍次第相承,至唐代神秀、慧能出,確立禪宗,其間高僧輩出,盛極一時,唐末以後他宗漸衰,而禪宗猶盛,中國佛教遂漸以禪宗為代表,且幾以慧能一派為宗。唐代禪宗除慧能、神秀南北二宗外,尚有牛頭禪,為四祖道信之弟子法融之一派。神秀一系傳法於長安、洛陽,以北方為中心;慧能一系初在韶州,更及於湖南、江西。南北二宗因教義不同而有南頓北漸之分。唐代北宗勢力大,但其後漸衰。慧能門下英才群集,最著名者有青原行思、南嶽懷讓、荷澤神會、永嘉玄覺、南陽慧忠等。中唐以後,大為興盛,其中青原、南嶽二系更盛,傳法於江西、湖南等地,後來所稱之禪宗五家:臨濟、曹洞、溈仰、雲門、法眼等均屬此二系之下。 密宗即瑜伽密教,依真言陀羅尼之法門,修五相三密妙行,期即身成佛。雖西晉已開其端緒,而唐玄宗時天竺之善無畏、金剛智、不空等先後至長安,密宗始盛。善無畏為印度那爛陀寺學者,開元年間來中土,譯出密教經典無數,其中與弟子一行共譯大毘盧遮那佛神變加持經,為密教所依之根本聖典。 初唐、中唐佛教之隆盛,大致如上,晚唐由於武宗廢佛,除禪宗外,諸宗因受摧殘,漸次式微。
; (唐代佛教) Phật giáo đời Đường. Phật giáo đời Đường bước ra khỏi lĩnh vực của thời kì du nhập, từ Hán qua Nam Bắc triều, mà tự sáng lập nhiều tông phái mới. Hầu hết các vua nhà Đường đều ủng hộ Phật giáo, lại thêm nhiều vị cao tăng thạc học xuất hiện, sự nghiệp dịch kinh phát triển trước kia chưa từng thấy, các chùa viện được xây dựng ở khắp nơi, hội họa của Phật giáo trình hiện những đường nét mới, văn học, nghệ thuật phát đạt rực rỡ, nên có thể nói, đời Đường là thời đại hoàng kim của Phật giáo Trung quốc. Các tông phái Phật giáo phát triển mạnh mẽ ở đời Đường gồm có: 1. Tịnh Độ Tông: Do các ngài Đạo xước và Thiện đạo hoằng truyền. Ngài Đạo xước giảng kinh tất cả 200 lần, mỗi ngày niệm danh hiệu Phật bảy vạn biến, hết lòng giáo hóa dân chúng, đề xướng pháp Tiểu đậu niệm Phật(dùng những hạt đậu nhỏ để đếm trong khi niệm Phật, như ngày nay ta lần tràng hạt vậy), soạn An lạc tập 2 quyển. Ngài Thiện đạo xiển dương pháp môn niệm Phật ở các chùa Ngộ chân, Thực tế, Quang minh tại Trường an, chép 10 vạn quyển kinh A di đà, vẽ 300 bức tranh Tịnh độ biến tướng và trông coi công việc tạc tượng Phật lớn bằng đá ở chùa Phụng tiên tại hang đá Long môn, tiếng tăm của ngài vang dội nên rất được Hoàng gia nhà Đường cũng như các quan trong triều tôn kính. Ngài còn soạn Quán kinh sớ, Vãng sinh lễ tán v.v... 5 bộ gồm 9 quyển. Ngoài ra, tông Tịnh độ còn có những bậc cao tăng khác như các ngài: Ca tài, Hoài cảm, Pháp chiếu, Phi tích, Thiếu khang, Tuệ nhật, Đạo kính v.v... 2. Luật Tông: Tông phái y cứ vào bộ luật Tứ phần mà hoằng truyền giới luật, gồm có: Nam sơn luật tông của ngài Đạo tuyên, Tướng bộ tông của ngài Pháp lệ và Đông tháp tông của ngài Hoài tố. Ngài Đạo tuyên chuyên về Luật học, ngài sưu tầm và nghiên cứu một cách tinh tường các bộ luật lưu truyền khác nhau, là người tập đại thành Luật tông. Ngài ở chùa Phong đức núi Chung nam, được khen tặng là Nam sơn luật sư. Các trước tác của ngài gồm 35 bộ, 188 quyển. Trong đó, Tứ phần luật hành sự sao, Giới sớ, Yết ma sớ, Thập tì ni nghĩa sao và Tỉ khưu ni sao được gọi là Nam sơn ngũ đại bộ. Năm bộ này là những sách rất cần thiết cho Luật học. Ngài Pháp lệ học luật nơi các luật sư Tĩnh hồng, Hồng uyên, sau qua Giang nam học luật Thập tụng. Ngài giảng luật Tứ phần tất cả hơn 40 lần, soạn Tứ phần luật sớ, Yết ma sớ v.v... Đệ tử ngài có các vị: Mãn ý, Hoài tố. Ngài Hoài tố là tổ khai sáng tông Đông tháp, có soạn bộ Tứ phần luật khai tông kí để bổ túc cho những chỗ còn thiếu sót trong thuyết của ngài Pháp lệ. 3. Pháp Tướng Tông: Chuyên nghiên cứu về thể tính và tướng trạng của các pháp, thuyết minh diệu lí vạn pháp duy thức. Thuyết này do bồ tát Thế thân đề xương, được các tông Địa luận ở thời Nam Bắc triều và Nhiếp luận ở thời Trần truyền bá. Cuối cùng đến đời Đường ngài Huyền trang và đệ tử là sư Khuy cơ thành lập tông Pháp tướng Duy thức. Ngài Huyền trang sang Ấn độ cầu pháp, theo luận sư Giới hiền học Du già duy thức, khi hồi hương, ngài mang về tất cả 657 bộ kinh, dịch được 600 quyển kinh Đại bát nhã ba la mật đa và các bộ luận Hiển dương thánh giáo, Phật địa, Du già sư địa v.v... Bấy giờ, chùa Hoằng phúc, nơi ngài Huyền trang ở, là trung tâm truyền bá của tông Pháp tướng, nổi tiếng một thời. 4. Hoa Nghiêm Tông: Dựa vào kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm để thuyết minh lí mầu nhiệm của pháp giới duyên khởi, sự sự vô ngại. Đây là tông phái mới hưng khởi vào đời Đường, Sơ tổ là ngài Đỗ thuận, Nhị tổ là ngài Trí nghiễm, Tam tổ là Pháp tạng. Ngài Đỗ thuận soạn bộ Pháp giới quán môn, ngài Trí nghiễm soạn Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí, Hoa nghiêm kinh khổng mục chương, Hoa nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp v.v... Những tác phẩm này được xem là nền tảng để thành lập tông Hoa nghiêm. Nhưng, trên thực tế, ngài Pháp tạng mới là tổ khai sáng tông Hoa nghiêm. Ngài từng giảng kinh Hoa nghiêm ở chùa Thái nguyên, được Vũ hậu ban hiệu Hiền Thủ Đại Sư. Trong phán giáo Ngũ giáo thập tông, ngài cho kinh Hoa nghiêm là viên mãn nhấtvà lấy tư tưởng Nhất thừa viên giáo làm cơ sở mà mở ratông Hoa nghiêm. Ngài có soạn hơn 60 bộ sách như: Thám huyền kí, Ngũ giáo chương, Hoa nghiêm kinh chỉ qui v.v... 5. Thiên Thai Tông: Căn cứ vào kinh Diệu pháp liên hoa mà đề xướng thuyết Nhất tâm tam quán, Tam đế viên dung. Tông Thiên thai và tông Hoa nghiêm là hai viên ngọc quí của nền Phật học Trung quốc. Từ khi ngài Trí khải mở tông vào đời Tùy, ngài Quán đính thừa kế, đến đời Đường thì bặt đi một thời gian, rồi sau được các ngài: Trí uy, Tuệ uy, Huyền lãng, Trạm nhiên tiếp nối nhau phát huy. Ngài Trạm nhiên là tổ thứ 6, đã có công trung hưng tông Thiên thai, mở rộng giềng mối giáo pháp, làm sáng tỏ ý chỉ sâu kín của đại sư Trí khải, phê phán học thuyết các tông khác, là tác giả của những bộ sách: Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm, Pháp hoa văn cú kí và Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết. Sau pháp nạn Hội xương, tông này suy vi dần. 6. Thiền Tông: Từ Sơ tổ Bồ đề đạt ma mở pháp ở đời Lương, theo thứ tự truyền cho các ngài Tuệ khả, Tăng xán, Đạo tín và Hoằng nhẫn, đến đời Đường thì có ngài Thần tú, Tuệ năng xuất hiện, chính thức xác lập Thiền tông. Trong thời gian ấy rất nhiều bậc cao tăng ra đời, làm cho Thiền tông một thời cực thịnh. Từ cuối đời Đường về sau, các tông khác đều rơi vào tình trạng suy vi dần, chỉ riêng Thiền tông vẫn thịnh và đã trở thành tông phái tiêu biểu cho Phật giáo Trung quốc. Thiền tông đời Đường, ngoài hai phái Tuệ năng, Thần tú, còn có Ngưu đầu thiền, là phái của ngài Pháp dung, đệ tử của Tứ tổ Đạo tín. Hệ phái ngài Thần tú ở miền Bắc, truyền pháp tại Trường an, Lạc dương, còn hệ phái ngài Tuệ năng thì ở phương Nam, mới đầu truyền pháp ở Thiều châu, sau đến các tỉnh Hồ nam, Giang tây v.v... Hai tông Nam, Bắc do giáo nghĩa bất đồng mà chia ra Nam đốn, Bắc tiệm. Bắc tông đời Đường có thế lực lớn,nhưng về sau suy dần. Còn Nam tông thì thịnh mãi. Đệ tử của ngài Tuệ năng có nhiều vị anh tài xuất chúng, nổi tiếng nhất là các Thiền sư: Thanh nguyên Hành tư, Nam nhạc Hoài nhượng, Hà trạch Thần hội, Vĩnh gia Huyền giác, Nam dương Tuệ trung v.v... Từ giữa đời Đường về sau, Nam tông rất hưng thịnh, trong đó, hai kệ phái Thanh nguyên, Nam nhạc thịnh hơn cả, truyền pháp ở các vùng Giang tây, Hồ nam v.v... về sau, chia ra năm dòng: Lâm tế, Tào động, Qui ngưỡng, Vân môn và Pháp nhãn gọi là Thiền tông ngũ gia, đều thuộc về hai hệ phái Thanh nguyên và Nam nhạc. 7. Mật tông: Mật giáo du già, nương theo pháp môn Chân ngôn đà la ni, tu diệu hạnh Ngũ tướng tam mật được tức thân thành Phật. Tuy đã được mở đầu từ thời Tây Tấn, nhưng phải đợi đến thời Đường Huyền tông, khi các ngài Thiện vô úy, Kim cương trí, Bất không v.v... từ Ấn độ lần lượt đến Trung quốc thì Mật tông mới hưng thịnh. Ngài Thiện vô úy là một vị học giả ở chùa Na lan đà bên Ấn độ, đến Trung quốc vào khoảng năm Khai nguyên (713-741), dịch rất nhiều kinh điển Mật giáo, trong đó, bộ kinh Tì lô giá na Phật thần biến gia trì là Thánh điển y cứ căn bản của Mật giáo. Bộ kinh này ngài dịch chung với đệ tử là sư Nhất hạnh. Như đã trình bày ở trên, vào đầu và giữa đời Đường, Phật giáo Trung quốc khá hưng thịnh, nhưng đến cuối đời Đường thì do vua Vũ tông phế bỏ Phật giáo nên ngoại trừ Thiền tông, các tông khác lần lượt suy dần.
Đường đại Tiến Phúc tự cố tự chủ phiên kinh Đại đức Pháp Tạng Hoà thượng truyện.
唐大薦福寺故寺主翻經大徳法藏和尚傳; C: táng dàjiànfúsì gùsìzhŭ fānjīng dàdé fă-zàng héshàng zhuàn; J: tō daisenfukuji kojishu honkyō daitoku hōzō ōshō den; |1 quyển, của Thôi Trí Viễn (崔致遠, k: ch'oe chiwŏn).
Đường đại tiến phước tự cố tự chủ phiên kinh Đại đức Pháp Tạng Hoà thượng truyện. 唐大薦福寺故寺主翻經大徳法藏和尚傳
[ja] トウダイセンフクジコジスホンキョウダイトクホウゾウワショウデン Tō daisenfukuji kojishu honkyō daitoku hōzō ōshō den ||| T'ang Ta-chien-fu-ssu ku-ssu-chu fan-ching ta-te Fazang ho-shang chuan; 1 fasc., by Ch'oe Chiwŏn 崔致遠. T 2054.50.280-289c. => 1quyển, của Thôi Trí Viễn (e: Ch'oe Chiwŏn 崔致遠).
đường đại viên
4064(?~1941)湖南武崗人。初皈依印光大師,修學淨土,以讀海潮音雜誌,而傾心唯識。歷任武昌佛學院教務主任,並主編海潮音、東方文化等雜誌。為太虛大師早期弘法事業上之重要助手。曾在武漢、中華、漢口文化學院等大學宣講唯識論要、唯識之科學方法等。著有佛學講演集、唯識研究述要、唯識易簡等書。
; (唐大圓) (? - 1941) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người huyện Vũ cương, tỉnh Hồ nam. Lúc đầu, ông qui y đại sư Ấn quang, tu học Tịnh độ, nhân đọc tạp chí Hải triều âm, ông chuyển sang nghiên cứu Duy thức. Ông từng giữ các chức Chủ nhiệm giáo vụ viện Phật học Vũ xương và chủ biên các tạp chí Hải triều âm, Đông phương văn hóa. Ông là người giúp đỡ đắc lực cho sự nghiệp hoằng pháp của đại sư Thái hư trong thời kì đầu. Ông từng giảng Duy thức tại các Đại học Vũ hán, Đại học Trung hoa, học viện Văn hóa Hán khẩu. Ông có các tác phẩm: Phật học giảng diễn tập, Duy thức nghiên cứu thuật yếu, Duy thức dị giản,
Đường Đầu
(堂頭): tên gọi khác của vị trú trì, cho nên người ta thường gọi vị này là Đường Đầu Hòa Thượng.
đường đầu
4451原指禪院住持之居處(方丈)。又引申為禪林之住持,又稱堂上、堂頭和尚。臨濟錄行錄(大四七‧五○四下):「首座云:『汝何不去問堂頭和尚,如何是佛法的的大意?』」〔敕修百丈清規卷三入院條、禪林象器箋殿堂門〕(參閱「方丈」1432)
; See Phương Trượng in Vietnamese-Englich Section.
; (堂頭) Cũng gọi Đường thượng, Đường đầu hòa thượng. Nguyên chỉ chỗ ở (phương trượng) của vị Trụ trì trong Thiền viện, sau được dùng để chỉ cho vị Trụ trì trong Thiền lâm. Lâm tế lục hành lục (Đại 47 504 hạ), chép: Vị Thủ tọa nói: Sao ông không đến hỏi hòa thượng Đường đầu thế nào là đại ý Phật pháp?. [X. mục Nhập viện trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3; môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Phương Trượng).
đường ốc lí phán dương châu
4451禪林用語。揚州為我國貨物集散之商業中心。此處轉意謂坐於室內,即能行如揚州之繁榮的商業買賣,以喻衲僧之自在妙用。從容錄第三十則(大四八‧二四七下):「輸我當行相買賣。(堂屋裏販揚州)」
; (堂屋裏販揚州) Ngồi trong nhà mà có thể buôn bán ở Dương châu. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Dương châu là trung tâm thương nghiệp phồn thịnh ở Trung quốc. Thiền tông mượn từ ngữ trên để dụ cho cái diệu dụng tự do tự tại của vị nạp tăng. Thung dung lục tắc 30 (Đại 48, 247 hạ) chép: Tôi đang chuyên chở hàng hóa đi buôn bán (Đường ốc lí phiến Dương châu).
Đường 堂
[ja] ドウ dō ||| (1) A hall, a reception room; a meeting place. Temple, shrine. (2) State chamber, a court of justice. (3) Venerable, grave. (4) An open place on the hills. (5) Flourishing, excellent. => Có các nghĩa sau: 1. Đại sảnh, phòng tiếp khách, phòng họp. 2. Phòng khánh tiết, toá án. 3. Đáng tôn kính, trang nghiêm. 4. Một nơi thoán rộng trên đồi. 5. Sự phồn thịnh, xuất sắc.
được
To gain
được giải thoát
To be free
được xoa dịu
To be placated
được xử dụng
To be used
đạc
6881梵語 ghaṇṭā,巴利語同。又稱寶鐸、風鐸、簷鐸。為鈴之一種。即垂掛於寺廟堂塔之相輪及簷端等處之大鈴,金屬製,呈鐘型。懸鐸以莊嚴寺塔之習俗,夙行於印度,我國約始於北魏時代。此外,我國古來即有鐸,多以青銅製成,又依鐸舌之製材分為金鐸、木鐸二種,金鐸用金(銅)舌,為軍旅中之號令器具;木鐸用木舌,為宣教政令之器具。慧琳音義卷一(大五四‧三一四下):「寶鐸,下唐洛反。鄭玄注周禮云:『鐸,大鈴也。』」〔大般若經卷一、洛陽伽藍記卷一、歷代三寶紀卷九〕
; To measure.
; (鐸) Phạm, Pàli: Ghaịỉa. Cũng gọi Bảo đạc, Phong đạc, Diêm đạc. Loại chuông lớn treo trên tướng luân (đỉnh tháp) hoặc treo ở đầu riềm nhà trong các chùa viện. Tập tục treo chuông để trang nghiêm chùa tháp vốn đã có ở Ấn độ, còn ở Trung quốc thì bắt đầu được lưu hành vào khoảng thời Bắc Ngụy. Chuông có hai loại: 1. Kim đạc: Quả lắc bằng đồng. 2. Mộc đạc: Quả lắc bằng bạc. Kim đạc dùng để báo hiệu lệnh trong quân ngũ, mộc đạc tuyên cáo hiệu lệnh chính trị.
đạc lịch toản
(
đạc điền
To measure (survey) land.
đại
Mahā (S).
; Mahà (S). Great, large, big, all-pervading, all-embracing; numerous đa; surpassing thắng; mysterious diệu; beyond comprehension bất khả tư nghị; omnipresent thể vô bất tại. The elements, or essential things, i.e. (a) Tam đại the three all-pervasive qualities of the chân như: its thể substance, tướng form, dụng functions; (b) Tứ đại the four elements: đất earth, nước water, gió air or wind, lửa fire; (c) Thất đại the seven elements: 1-Địa earth; 2-Thủy water; 3-Hỏa fire; 4-Phong air or wind; 5-Không space; 6-Kiến perception; 7-Thức mind or consciousness.
; 1) Lớn: Maha—Great—Large—Big. 2) Yếu tố: The elements or essential things.
; (大) I. Đại. Phạm: Mahà. Dịch âm: Ma ha, Ma hạ. Chỉ cho tự thể rộng lớn, bao trùm khắp cả; hoặc là nghĩa nhiều, hơn, nhiệm mầu, không thể nghĩ bàn. Kinh Thủ lăng nghiêm nghĩa sớ chú quyển 3 phần 2 (Đại 39, 867 thượng), nói: Thể bao trùm hết thảy, không đâu không có, không gì không là; chẳng vì đối với nhỏ mà cho là lớn, nhưng ngay đương thể là lớn, cho nên gọi là đại. II. Đại. Chỉ về nguyên tố. Sự tạo tác của những nguyên tố rất rộng lớn, cho nên gọi là Đại. Như tứ đại (bốn nguyên tố): Đất, nước, lửa, gió, hoặc Ngũ đại: Đất, nước, lửa, gió, không v.v... (xt. Đại Chủng, Ngũ Đại, Tứ Đại). III. Đại. Chỉ chung cho giáo pháp Đại thừa. Theo môn Quán nhân duyên trong luận Thập nhị môn, thì sáu ba la mật là đạo (thừa) của chư Phật, có năng lực trừ diệt tất cả khổ đau và mang lại lợi ích to lớn cho chúng sinh, cũng có thể thấu suốt đáy nguồn của hết thảy các pháp, vì thế gọi là Đại. Phát tâm đại bồ đề, hiểu rõ kinh Tì Phật lược tối thượng, tu hạnh rộng lớn lợi mình lợi người, tinh tấn khổ hạnh trong ba đại kiếp a tăng kì, đầy đủ phúc và trí trang nghiêm, chứng được quả vị cao tột của chư Phật, kiến lập Phật sự rộng lớn, cho nên gọi là Đại thừa. IV. Đại. Phạm:Mahat. Chỉ cho Đại đế, là đế thứ 2 trong 25 đế do học phái Số luận của Ấn độ thành lập, là pháp biến hiện đầu tiên trong muôn tượng. LuậnKim thất thập quyển thượng (Đại 54, 1250 hạ), nói: Tự tính trước hết sinh ra Đại, Đại gọi là Giác, hoặc gọi là Tưởng, hoặc gọi là biến mãn (trùm khắp), hoặc gọi là Trí, hoặc gọi là Tuệ. Vì Đại này là ở nơi trí, nên Đại được gọi là Trí.
đại a di đà kinh
802<一>梵名 Aparimitāyuḥ-sūtra。音譯阿鉢囉彌怛阿喻失蘇怛囉。凡二卷。吳.支謙譯。收於大正藏第十二冊。宋、元、明三本首尾均題有「阿彌陀經」四字,麗本於卷首題「阿彌陀三耶三佛薩樓佛檀過度人道經」,於卷尾則題「阿彌陀經」。又古來為與鳩摩羅什所譯之阿彌陀經區別,遂稱本經為大阿彌陀經。本經為無量壽經之異譯,與無量清淨平等覺經皆僅說二十四願,故兩經同稱二十四願經。經中所述有關阿闍世王太子之來會及彌陀入滅、觀音成道等記事,與無量壽經之述說有所出入。若就此等諸經編纂之時代先後而言,二十四願經之編纂先於無量壽經等之四十八願經;又二十四願經中,無量清淨平等覺經之願文較本經整然有秩,故本經之編纂又先於彼經,故知本經為無量壽經諸譯中成立最早之一部。〔出三藏記集卷二、法經錄卷一、開元釋教錄卷二、淨土教の起原及發達〕(參閱「無量壽經」5119) <二>凡二卷。宋代王日休校輯於紹興三十年(1160)至三十二年間。收於大正藏第十二冊。係合糅對校無量清淨平等覺經(支讖譯)、無量壽經(康僧鎧譯)、阿彌陀經(支謙譯)、無量壽莊嚴經(法賢譯)等四本而成者,而非由梵夾所譯出。(參閱「無量壽經」5119)
; Aparimitāyuh sŪtra (S)Tên một bộ kinh. Xem Kinh Vô lượng thọ.
; (大阿彌陀經) I. Đại A Di Đà Kinh. Phạm: Aparimitāyuḥ-sūtra. Dịch âm: A bát ra di đát a dụ thất tô đát ra. Gồm 2 quyển, ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, thu vào Đại chính tạng tập 12. Trong ba bản Đại tạng Tống, Nguyên, Minh, ở đầu và cuối kinh này đều đề bốn chữ A Di Đà Kinh; trong Đại tạng Cao li thì ở đầu quyển đề: A di đà Tam da tam Phật tát lâu Phật đàn quá độ nhân đạo kinh, còn ở cuối quyển thì đề A Di Đà Kinh. Kinh này là bản dịch khác của kinh Vô lượng thọ và để phân biệt với kinh A di đà do ngài Cưu ma la thập dịch nên gọi kinh này là kinh Đại A di đà. Kinh này và kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác chỉ nói 24 nguyện, cho nên cả hai kinh đều được gọi là kinh Nhị thập tứ nguyện. Nội dung kinh này ghi chép các việc như: Thái tử con vua A xà thế đến dự pháp hội; đức Phật Di đà nhập diệt, bồ tát Quán âm thành đạo v.v... có hơi khác với nội dung kinh Vô lượng thọ. Đứng về phương diện niên đại biên soạn mà nhận xét, thì kinh Nhị thập tứ nguyện xuất hiện trước kinh Tứ thập bát nguyện. Trong loại kinh Nhị thập tứ nguyện, thì văn nguyện của kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác có thứ tự hơn văn nguyện trong kinh này, cho nên, kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác phải xuất hiện sau kinh này. Bởi thế biết, kinh Đại A di đà là một bộ kinh được thành lập sớm nhất trong các bản dịch kinh Vô lượng thọ. [X. Xuất Tam tạng kí tập Q.2; Pháp kinh lục Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.2; Tịnh độ giáo chi khởi nguyên cập phát đạt]. (xt. Vô Lượng Thọ Kinh). II. Đại A Di Đà Kinh. Gồm 2 quyển, do Vương nhật hưu kiểm xét và biên tập vào khoảng năm Thiệu hưng 30 (1160) đến năm 32 (1162) đời Tống. Thu vào Đại chính tạng tập 12. Đây là bộ kinh do biên giả dung hợp, đối chiếu với bốn bản kinh: Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác (Chi sấm dịch), Vô lượng thọ(Khang tăng khải dịch), A di đà(Chi khiêm dịch) và Vô lượng thọ trang nghiêm (Pháp hiền dịch) mà thành, chứ không phải dịch từ bản kinh tiếng Phạm. (xt. Vô Lượng Thọ Kinh).
đại a do đa
Mười ngàn triệu—Ten thousand million—See Ayuta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đại a la hán
Great Arhats.
đại a tỳ
Great Avichi.
đại a xà lê
802請參閱 過度人道經 或 阿彌陀經 密宗修法時之主要領導僧侶。又稱大阿闍梨,大阿闍棃耶、大阿。助修者則稱小阿闍棃。冠上「大」字,係表尊崇之意。與灌頂時之「教授阿闍棃」相對,而稱呼授法之阿闍棃為「大阿闍棃」,如曼荼羅供之導師即是大阿闍棃。(參閱「阿闍棃」3688)
; (大阿闍梨) Vị tăng chính hướng dẫn việc tu pháp trong Mật giáo. Cũng gọi Đại a xà lê da, Đại a. Đặt chữ Đại ở trên là để bày tỏ ý tôn kính. Vị A xà lê truyền trao pháp trong lễ Quán đính đươc gọi là Đại a xà lê để phân biệt với vị Giáo thụ a xà lê. (xt. A Xà Lê).
Đại A-la-hán 大阿羅漢
[ja] ダイアラカン daiarakan ||| The greatest among the arhats 阿羅漢 in terms of age and virtue. Those who have completed the four stages of the arhat's path 四果, such as the sixteen arhats 十六羅漢, and five hundred arhats 五百羅漢. => Bậc cao quý nhất trong hàng A-la-hán, với nghĩa tuổi tác và đức hạnh. Những vị đã chứng được Tứ quả A-la-hán, như Thập lục La-hán, Ngũ bách La-hán. Đại A-la-hán Nan-đề-mật-đa-la sở thuyết pháp trú ký 大阿羅漢難提蜜多羅所説法住記
đại an
Tai An (C)Tên một vị sư.
đại an ban thủ ý kinh
779凡二卷。又稱安般經、安般守意經、大安般經。後漢安世高譯。今收於大正藏第十五冊。安般(梵 ānāpāna),全稱安那般那,即指出入息念。梵語 āna(安那)即入息(吸氣),apāna(般那)即出息(呼氣)。本經敘述坐禪時行數息觀(默數出入息,令心隨息而定)以之收斂散心。雖題為「經」,其形式體裁則屬「論」。內容與修行道地經卷五之數息品、大毘婆沙論卷二十六所載之數息觀相似。此外,安世高另譯有安般守意經一卷,稱為小安般經。〔出三藏記集卷二、卷六、閱藏知津卷三十、法經錄卷三、彥琮錄卷一〕
; (大安般守意經) Gồm 2 quyển. Cũng gọi An ban kinh, An ban thủ ý kinh, Đại an ban kinh. Ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, thu vào Đại chính tạng tập 15. An ban (Phạm:Ànàpàna), nói đủ: An na ban na, chỉ hơi thở ra, hít vào. An na (Phạm: àna) là hít vào; Ban na (Phạm: apàna) là thở ra. Nội dung nói về việc ngồi thiền thực hành quán sổ tức (đếm hơi thở) khiến tâm không tán loạn, cũng giống như phẩm Sổ tức trong kinh Tu hành đạo địa quyển 5 và Sổ tức quán trong luận Đại tì bà sa quyển 26. Tuy tựa đề là kinh nhưng hình thức và thể tài thì thuộc về Luận. Ngoài ra, ngài An thế cao còn dịch kinh An ban thủ ý 1 quyển, gọi là kinh Tiểu an ban. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Q.6; Duyệt tạng tri tân Q.30, Pháp kinh lục Q.3; Ngạn tông lục Q.1].
đại an lạc bất không bồ tát
780梵名 Vajrāmogha-samaya-sattva。音譯嚩日羅母伽三昧耶薩怛嚩。又作大安樂不空金剛三昧耶真實菩薩、大安樂不空真真實菩薩,大安樂真實菩薩、普賢延命菩薩。為密教現圖胎藏界曼荼羅遍智院七尊中,位於最右端之菩薩。身呈肉色,頭戴寶冠,趺坐於紅蓮花之上,左右各有十臂。種子為觗(ka),三昧耶形為甲冑,密號真實金剛。〔青龍寺儀軌、玄法寺儀軌、諸說不同記卷三、胎藏界七集卷上〕
; Vajramogha-Samya-Sattva (S)Đại An Lạc Bất Khônhg Tam Muội Da Chân Thật Bồ tát; Đại An Lạc Chân Thật Bồ tát; Phạ Nhật La Mẫu Già Tam Muội Da Tát Đát PhạTên một vị Bồ tát.
; (大安樂不空菩薩) Phạm: Vajràmogha-samaya-sattva. Dịch âm: Phạ nhật la mẫu già tam muội da tát đát phạ. Cũng gọi Đại an lạc bất không kim cương tam muội da chân thực bồ tát, Đại an lạc bất không chân thực Bồ tát, Đại an lạc chân thực bồ tát, Phổ hiền diên mệnh bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở đầu cực hữu trong bảy tôn vị của viện Biến tri trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Thân hình ngài mầu da người, đầu đội mũ báu, ngồi kết già trên hoa sen hồng, có 20 cánh tay. Chủng tử là (ka), hình tam muội da là giáp trụ, mật hiệu Chân thực Kim cương. [X. Thanh long tự nghi quĩ; Huyền pháp tự nghi quĩ; Chư thuyết bất đồng kí Q.3; Thai tạng giới thất tập Q.thượng].
đại an lạc bất khônhg tam muội da chân thật bồ tát
Xem Đại An Lạc Bất Không Bồ tát.
đại an lạc chân thật bồ tát
Xem Đại An Lạc Bất Không Bồ tát.
đại an thiền sư
Zen Master T'a-An—Thiền Sư Đại An sanh năm 793 tại Phước Châu (bây giờ thuộc tỉnh Phúc Kiến), đệ tử của Bá trượng—Zen Master T'a-An was born in 793 in Fu-Chou (in modern Fu-Jian Province), was a disciple of Zen master Bai-Zhang. • Khi Đại An gặp Bá Trượng, lễ bái xong, sư thưa: “Con muốn cầu biết Phật, thế nào là phải?” Bá Trượng bảo: “Thật là người cỡi trâu tìm trâu.” Đại An hỏi: “Sau khi biết thì thế nào?” Bá Trượng nói: “Thì như người cỡi trâu về đến nhà.” Đại An lại hỏi: “Chẳng biết trước sau gìn giữ thế nào?” Bá Trượng bảo: “Như người chăn trâu cầm roi dòm chừng không cho nó ăn lúa mạ của người.” Sư nhơn đây lãnh hội ý chỉ, chẳng đi tìm đâu nữa—When T'a-An met Bai-Zhang, he bowed and asked: “This student seeks to know Buddha. How can I do so?” Bai-Zhang said: “It's like riding the ox looking for the ox.” T'a-An said: “After finding it, then what?” Bai-Zhang said: “It's like riding the ox and arriving home.” T'a-An then asked: “How does one ultimately uphold and sustain this?” Bai-Zhang said: “It's like an oxherd who, grasping his staff, watches the ox so that he doesn't transgress by eating other people's sprouts and grain.” Upon receiving this instruction T'a-An sought nothing further. • Sư thượng đường dạy chúng: “Cả thảy các ngươi đến Đại An nầy tìm cầu cái gì? Nếu muốn làm Phật, các ngươi tự là Phật. Sao lại gánh Phật sang nhà bên cạnh tìm, luống tự nhọc nhằn? Ví như con nai khát nước mà chạy theo ánh nắng (ánh nắng giống như nước, con nai lầm tưởng là nước cắm đầu chạy tìm), biết bao giờ được khế hợp. Các ngươi muốn làm Phật, chỉ cần không có những tâm điên đảo, vin theo, vọng tưởng, nghĩ ác, cấu dục, chẳng sạch của chúng sanh, tức các ngươi là Phật chánh giác mới phát tâm, lại đến chỗ riêng nào luận bàn. Sở dĩ, Đại An nầy ở tại núi Qui ba mươi năm, ăn cơm núi Qui, đại tiện núi Qui, mà không học thiền núi Qui, chỉ coi chừng con trâu. Nếu nó lạc đường hay vào trong cỏ, liền lôi nó lại. Nếu nó ăn lúa mạ của người, liền đánh đập điều phục nó. Đáng thương đã lâu chịu người rầy rà, hiện giờ nó đổi thành con trâu trắng đứng trước mặt, trọn ngày hiện sờ sờ đuổi cũng chẳng đi—Kui-Shan T'a-An addressed the monks, saying: “What are you all seeking from me by coming here? If you want to become a Buddha, then you should know that you yourself are Buddha. Why are you running around from place to place, like a thirsty deer chasing a mirage? When will you ever succeed? You want to be a Buddha, but you won't recognize that your topsy-turvy contradictory ideas; your deluded understandings; your mind which believes in innumerable things, purity and pollution; that it is just this mind that is the authentic original awakened mind of Buddha. Where else will you go to find it? I've spent the last thirty years here on Mount Kui, eating Kui-Shan's rice, shitting Kui-Shan's shit, but not practicing Kui-Shan's Zen! I just mind an old water buffalo. If he wanders off the road into the grass then I pull him back by his nose ring. If he eats someone else's rice shoots then I use the whip to move him away. After such long training period he's become very lovable, and he obeys my words. Now he pulls the Great Vehicle, always staying where I can see him the whole day through, and he can't be driven away. • Cả thảy các ngươi, mỗi người có hòn ngọc lớn vô giá, từ cửa con mắt phóng quang soi sáng núi sông cây cỏ, từ cửa lỗ tai phóng quang nhận lãnh phân biệt tất cả âm thanh lành dữ, sáu cửa ngày đêm thường phóng quang, cũng gọi là phóng quang tam muội. Các ngươi tự chẳng biết, lại nhận bóng trong thân tứ đại. Nó là vật do trong ngoài giúp đỡ không dám chinh nghiêng, như người gánh nặng đi qua cây cầu khỉ, không dám để sẩy chân. Hãy nói vật gì có thể gìn giữ được? Như thế, không có một mảnh tơ, một sợi tóc có thể thấy. Đâu chẳng nghe Hòa Thượng Chí Công nói: “Trong ngoài tìm kiếm trọn không ra. Trên cảnh thi vi gôm tất cả.” Trân trọng!—Each one of you has a priceless treasure. There is light emanating from your eyes which illuminates mountains, rivers, and the great earth. There is light radiating from your ears which apprehends all good and evil dounds. The six senses, day and night they emanate light and this is called the 'light emanating samadhi.' You yourself can't comprehend it, but it is reflected in the four great bodies. It is completely supported within and without, and never unbalanced. It's like someone with a heavy load on his back, crossing a bridge made from a single tree trunk, but never losing his step. And now if you ask what is it that provides this support and where is it revealed, then I just say that not a single hair of it can be seen. No wonder the monk Zhi-Kong said: 'Searching inside and out you'll find nothing. Actions in the causational realm are a big muddle.' Take care!” • Có vị Tăng hỏi: “Tất cả thi vi là dụng của pháp thân, thế nào là pháp thân?” Sư đáp: “Tất cả thi vi là dụng của pháp thân.” Vị Tăng hỏi: “Lìa năm uẩn, thế nào là thân xưa nay?” Sư đáp: “Đất, nước, lửa, gió, thọ, tưởng, hành, thức.” Vị Tăng hỏi: “Cái ấy là năm uẩn chứ gì?” Đại An đáp: “Chúng không là năm uẩn.”—A monk asked: All actions are the function of the dharmakaya. What is the dharmakaya?” T'a-An said: “All actions are the function of the dharmakaya.” The monk asked: “Apart from the five skandhas, what is the original body?” T'a-An said: “Earth, water, fire, wind (the four elements of form), sensation, perception, mental action, and consciousness.” The monk asked: “Aren't these the five skandhas?” T'a-An said: “They are not the five skandhas.” • Hòa Thượng Tuyết Phong nhơn vào núi lượm được một nhánh cây hình giống con rắn, đề trên lưng một câu: “Vốn tự thiên nhiên chẳng nhờ bào gọt,” gởi tặng sư. Sư nhận, nói: “Ngươi bổn sắc ở núi, vẫn không vết dao búa.”—Xue-Feng came to Mount Kui. While living there he found an unusual stick shaped like a snake. On the back of it he wrote: “This is natural and was not carved.” Xue-Feng gave the stick to T'a-An, who said: “Inhabitants of this mountain have no ax with which to carve it.” • Có người hỏi sư: “Phật ở chỗ nào?” Sư đáp: “Chẳng lìa tâm.” Vị Tăng lại hỏi: “Người trên hai ngọn có được cái gì?” Sư đáp: “Pháp không có chỗ được, dù có chỗ được, được vốn không được.”—A monk asked: “Where is Buddha?” T'a-An said: “Not apart from mind.” The monk said: “Then what were the attainments of the ancestors on Twin peaks?” T'a-An said: “In the Dharma there is nothing attained. If there is anything to be attained, it is that nothing is attained.” • Năm 883, sư trở về chùa Hoàng Bá và thị tịch tại đây. Môn đồ xây tháp thờ sư trên núi Lăng Già. Sau khi thị tịch, sư được vua ban hiệu “Viên Trí Thiền Sư”—In 883, he returned to Mount Huang-Bo and died there. His stupa was constructed on Mount Lanka and he received the posthumous title “Zen Master Perfect Wisdom.”
đại an tâm
Daian-jin (J).
Đại An Tự
(大安寺, Daian-ji): ngôi chùa của Phái Cao Dã Sơn (高野山派) thuộc Chơn Ngôn Tông, tọa lạc tại Daianji-cho (大安町), Nara-shi (奈良市), là một trong 7 ngôi chùa lớn của Phật Giáo Nam Đô, còn gọi là Nam Đại Tự (南大寺, Nandai-ji). Theo Đại An Tự Già Lam Duyên Khởi Tinh Lưu Ký Tư Tài Trương (南大寺伽藍緣起并流記資財帳) có ghi lại việc Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi) phó thác cho Điền Thôn Hoàng Tử (田村皇子, sau này là Thư Minh Thiên Hoàng [舒明天皇, Jomei Tennō]) xây dựng ngôi đại tự với tên gọi là Hùng Ngưng Tự (熊凝寺, Kumagori-dera). Đây chính là khởi nguyên của Đại An Tự. Trong Thánh Đức Thái Tử Truyện Tư Ký (聖德太子傳私記) cũng cho rằng Hùng Ngưng Tự là tiền thân của ngôi già lam này. Trong Nhật Bản Thư Kỷ (日本書紀, Nihonshōki) có ghi rằng vào năm thứ 11 (639) đời Thư Minh Thiên Hoàng, nhà vua ra chiếu chỉ xây Đại Cung và Đại Tự bên bờ sông Bách Tế, cho dựng ngôi tháp 9 tầng và đổi tên chùa là Bách Tế Đại Tự (百濟大寺, Kudara-no-ōdera). Đến năm thứ 2 (673) đời vua Thiên Võ Thiên Hoàng (天武天皇, Temmu Tennō), chùa lại được dời về vùng Cao Thị (高市, Takechi) và lấy tên là Cao Thị Đại Tự (高市大寺, Takechi-no-ōdera). Sau đó, chùa lại đổi tên là Đại Quan Đại Tự (大官大寺, Daikandai-ji), trở thành một trong 3 ngôi chùa quan lớn và hưng thịnh đến tột đỉnh. Vào năm thứ 3 (710) niên hiệu Hòa Đồng (和銅), lúc kinh đô được dời về Bình Thành (平城, Heizei), chùa cũng chuyển về vị trí hiện tại và lấy tên là Đại An Tự. Từ quy mô già lam có dạng thức đặc thù được gọi là Cách Thức Đại An Tự, chiều cao của chùa, nó được gọi là Nam Đại Tự (南大寺, Nandai-ji) để sánh với Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) và Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji). Với tư cách là trung tâm học vấn của Tam Luận Tông, chùa đã một thời hưng thạnh. Chính từ đây đã xuất hiện những bậc danh tăng như Đạo Từ (道慈, Dōji), Cần Tháo (勤操, Gonzō), Hành Biểu (行表, Gyōbyō), Tối Trừng (最澄, Saichō), Lương Biện (良辨, Rōben), v.v. Đến thời đại Bình An, sau mấy lần bị hỏa tai vào năm thứ 11 (911) niên hiệu Diên Hỷ (延喜), năm đầu (1071) niên hiệu Khoan Nhân (寬仁), ngôi già lam bị cháy rụi khá nhiều và sau đó được tái thiết ở mức độ nào đó. Tuy nhiên, vào khoảng cuối thời Bình An, cũng cùng chung số phận với những ngôi đại tự khác của vùng Nam Đô, chùa lâm vào tình trạng suy vi. Đến thời Liêm Thương, cùng với việc phục hưng giáo học, một số chùa như Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji), Tây Đại Tự, v.v., đã phát triển mạnh; nhưng trường hợp Đại An Tự thì lại càng suy thối hơn. Quần thể đường vũ hiện tồn được tái thiết dưới thời Minh Trị; bảo vật của chùa có bức tượng đứng Thập Nhất Diện Quan Âm (dưới thời Nại Lương) là tượng thờ chính, tượng Dương Liễu Quan Âm, Thiên Thủ Quan Âm, v.v., theo Cách Thức Đại An Tự.
đại an tự
778<一>位於洪州(江西南昌),為安世高於後漢靈帝建寧三年(170)所建。唐宣宗時,黃檗希運入此寺舉揚禪風,四方來集之學徒頗多,相國裴休亦師事之,終於有大禪苑之建築。 <二>位於韓國全羅南道谷城郡竹谷面,山號為桐裏山。又稱泰安寺。相傳係於唐天寶年間創建。新羅神武王元年(839),慧徹(又作惠哲,785~861)學禪法於襲公山之西堂智藏(馬祖道一之法嗣),歸國後,即在此寺弘法,其門下有道銑等人,亦住此寺闡揚禪法,故桐裏山乃成為禪門九山之一。現存寺域廣大,有鳳凰門、普濟樓、大雄殿、應真殿、惠哲禪師照輪清淨塔、寂忍禪師(惠哲)碑、廣慈禪師(允多、惠哲之法孫)塔、廣慈大師碑等。〔朝鮮寺剎史料卷上、朝鮮禪教史(忽滑谷快天)〕 <三>位於日本奈良。今屬真言宗山階派。為南都七大寺之一。又稱南大寺,或單稱大寺。推古天皇二十五年(617)建立之熊凝精舍即本寺前身。鎌倉時代一度廢弛,大正初年重修。今寺內有木造千手觀音立像、木造不空羂索觀音立像、木造楊柳觀音立像等多種,被列為日本國寶。又藏有空海傳自我國之周尺,世稱大安寺尺。〔大安寺碑文一首並序、大安寺唐院記、大安寺住侶記〕
; Daian-ji (J)Tên một ngôi chùa.
đại an uỷ
779請參閱 大安般守意經 <一>又稱善安慰。為佛、菩薩、陀羅尼等之異稱。佛、菩薩、陀羅尼等皆可利益眾生,除卻眾生之怖畏,故有此異名。佛常以方便宣顯實義,安慰眾生,而令遠離怯弱。〔占察善惡業報經卷下、大集經卷三十七、勝鬘寶窟卷中本〕 <二>阿彌陀三十七號之一。讚阿彌陀偈(大四七‧四二一上):「稽首頂禮大安慰。」彌陀能除卻眾生一切恐懼,令得大安,故以之為別名。
; (大安慰) I. Đại an úy. Cũng gọi Thiện an úy (khéo an úy). Tên khác của Phật, Bồ tát, Đà la ni v.v... Phật, Bồ tát, Đà la ni đều có năng lực mang lại yên vui, lợi ích và tiêu trừ sự sợ hãi cho chúng sinh, cho nên gọi là Đại an úy. [X. kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo Q.hạ; kinh Đại tập Q.37; Thắng man bảo quật Q.trung phần đầu]. II. Đại an úy. Một trong 37 hiệu của đức Phật A di đà. Tán A di đà kệ (Đại 47, 421 thượng), nói: Cúi đầu kính lạy đức Đại an úy. Phật A di đà hay trừ tất cả sự sợ hãi cho chúng sinh khiến được yên vui, nên gọi Đại an úy.
đại an đạt la
Mahendra (skt)—Mahendri—Tên của một thành phố gần cửa sông Godavery, bây giờ là Rajamundry—Rajamahendri, a city near the mouth of the Godavery, the present Rajamundry.
đại an ủi
Một vị an ủi lớn, danh hiệu của Phật—The great comforter—Pacifier—A Buddha's title.
Đại An 大安
[ja] ダイアン Daian ||| Tae-an; a Silla monk (5-6c) who was known for his active propagation of Buddhism among the common people. => k: Tae-an; Tăng sĩ Tân La, (k: Silla Triều Tiên), thế kỷ thứ 5-6, người nổi tiếng trong việc truyền bá Phật pháp cho giới bình dân.
đại ba la mật
The great paramitas or perfections of bodhisattvas—The ten paramitas.
đại bi
858梵語 mahākaruṇā,巴利語同。悲,意為拔苦。諸佛菩薩不忍十方眾生受苦而欲拔濟之,其心稱大悲,乃佛菩薩為救度眾生痛苦之悲愍心。小乘有部以之為十八不共法之一,大乘法相宗則以之為佛百四十不共法之一。一般又以之為四無量心之一,如華嚴經所說之十種大悲心,及寶雨經所說之佛三十二種大悲心。此外,通常又以之與「大慈」並用,最常見者為表示觀音之慈悲。然「大悲」一詞,於諸經中之解釋略有異同。 (一)小乘之說,如大毘婆沙論卷三十一、卷八十三、俱舍論卷二十七等所說,所謂大悲,乃緣於三界一切有情而起,為佛之世俗智,凡有五義,即:(1)資糧大,乃以大福德智慧之資糧而成辦者。(2)行相大,此力能於三苦之境,作拔苦之行相。(3)所緣大,以三界之有情為所緣。(4)平等大,遠離怨親等之分別心,而普遍利樂一切有情。(5)上品大,大悲為諸法中之最上品,更為其餘各種悲心所不可比。若以「大悲」與「悲」相較,則有八種之異:(1)自性異,大悲以智慧為體,悲以無瞋為體。(2)行相異,大悲緣「三苦」之行相,悲唯緣「苦苦」之行相。(3)所緣異,大悲通緣三界,悲唯緣欲界。(4)依地異,大悲依第四禪,悲通依於四禪。(5)依身異,大悲依佛身,悲依二乘之身。(6)證得異,大悲係遠離有頂之惑而證得,悲則僅遠離欲界之惑而證得。(7)救濟異,大悲能成就救濟之事,悲唯希望救濟。(8)哀愍異,大悲能哀愍平等,悲則唯拔除欲界有情之苦,故其哀愍不平等。此外,成實論卷十二亦詳釋佛之大悲,所說與有部之說大致相同,惟成實論強調「先談法空,後論大悲」,乃兩者顯著之差異。 (二)大乘之說,新譯華嚴經卷五十三於所列舉二千普賢行法中,以大悲配於十住位,而舉出菩薩生起大悲之十種緣由,即:(1)菩薩觀察眾生之所依怙而起大悲,(2)菩薩觀察眾生根性不調順而起大悲,(3)菩薩觀察眾生缺乏善根而起大悲,(4)菩薩觀察眾生長夜惛眠而起大悲,(5)菩薩觀察眾生行諸不善法而起大悲,(6)菩薩觀察眾生為欲所縛而起大悲,(7)菩薩觀察眾生沉沒於生死海中而起大悲,(8)菩薩觀察眾生長嬰疾苦而起大悲,(9)菩薩觀察眾生不欲行善法而起大悲,(10)菩薩觀察眾生失諸佛法而起大悲。此外,寶雨經卷五、思益經卷三、大薩遮尼乾子經卷六、除蓋障菩薩經卷八等,均載有如來三十二大悲(梵 dvātriṃśat tathāgatasya mahākaruṇāḥ)之說,即有情未能了達諸法實諦,又以妄執之故,長惛眠於無明之大夜,如來乃深切哀愍而起大悲,並為之攝化垂示。思益經並謂,說法、隨宜、方便、法門、大悲等五者為如來所用之五力,乃一切二乘之所不能及。又瑜伽師地論卷四十四、卷四十九等亦舉出與上記類同之記載,所異者,瑜伽論強調,悲與大悲之別在於「極清淨故」,即以第十地之菩薩及佛之慈悲稱為大悲,餘者之慈悲僅稱為悲,蓋因彼等尚未達於「極清淨」之境地。由是,十住毘婆沙論卷一所舉菩薩八法之中,有所謂高低大小之說,並提出「三緣慈悲」之論,即:有情緣之慈悲為小悲,法緣之慈悲為中悲,無緣之慈悲為大悲。〔佛性論卷二、法華玄贊卷九、翻譯名義大集第十章〕(參閱「慈悲」5805)
; Mahākaruṇā (S), Karunika (P), Karuṇā-bhāvana (S), Great compassion.
; Mahàkarunà (S). Great pity, great mercy, great compassion.
; Mahakaruna (skt)—Most pitiful—Great pity—Lòng từ bi rộng lớn hay tâm đầy lòng từ bi. Đại bi là lòng thương xót vĩ đại của chư Phật và chư Bồ Tát. Đại bi còn có nghĩa là lòng cứu độ chúng sanh đau khổ, chỉ chư Phật và chư Bồ Tát, đặc biệt ám chỉ Phật Quán Âm, vì bổn nguyện của các ngài phát sinh từ lòng đại bi rộng lớn—To be full of compassion (greatly pitiful). Mahakaruna means the Great Compassion of the Buddhas and Bodhisattvas. Also means a heart that seeks to save the suffering (great compassion), applied to all Buddhas and Bodhisattvas, especially to Kuan-Yin, for their original vows growing out of a great compassionate heart.
; (大悲) Phạm,Pàli:Mahàkaruna. Bi nghĩa là thương xót và cứu giúp. Chư Phật và Bồ tát không nỡ thấy chúng sinh đau khổ nên mở lòng thương rộng lớn cứu vớt. Theo Hữu bộ Tiểu thừa thì Đại bi là một trong 18 pháp bất cộng, còn theo tông Pháp tướng Đại thừa thì là một trong 140 pháp bất cộng. Cũng có thuyết cho Đại bi là một trong bốn tâm Vô lượng, như 10 tâm đại bi nói trong kinh Hoa nghiêm và 32 tâm đại bi nói trong kinh Bảo vũ. Ngoài ra, Đại bi thường được dùng song song với Đại từ mà phổ thông nhất là để biểu thị lòng từ bi của bồ tát Quan thế âm. Nhưng, về danh từ đại bi các kinh giải thích có hơi khác nhau. I. Theo thuyết của Tiểu thừa: Luận Đại tì bà sa quyển 31, quyển 38, luận Câu xá quyển 27 cho rằng, Đại bi là trí thế tục của Phật duyên với tất cả hữu tình trong ba cõi mà khởi, có 5 nghĩa: 1. Tư lương đại: Do nhiều phúc đức và trí tuệ tạo thành. 2. Hành tướng đại: Sức đại bi có khả năng nhổ tận gốc ba thứ khổ (khổ khổ, hoại khổ, hành khổ). 3. Sở duyên đại: Lấy hữu tình trong ba cõi làm sở duyên. 4. Bình đẳng đại: Lòng bình đẳng mang lại lợi ích, yên vui cho tất cả hữu tình, không phân biệt kẻ oán người thân. 5. Thượng phẩm đại: Đại bi là phẩm hạnh cao nhất trong các pháp, không có lòng thương nào khác sánh kịp. Nếu lại đem so sánh giữa Đại bi và Bi thì có tám sự khác nhau: 1. Tự tính dị (Khác về tính chất): Đại bi lấy trí tuệ làm thể, còn Bi thì lấy không sân hận làm thể. 2. Hành tướng dị(Hành tướng khác): Đại bi duyên theo hành tướng của Ba khổ, còn Bi thì chỉ duyên theo hành tướng khổ khổ. 3. Sở duyên dị (Sở duyên khác): Đại bi duyên chung cả ba cõi, Bi chỉ duyên ở cõi Dục. 4. Y địa dị (Chỗ nương khác): Đại bi nương vào thiền thứ tư, Bi nương chung cả bốn thiền. 5. Y thân dị (Thân nương khác): Đại bi nương vào thân Phật, Bi nương vào thân Thanh văn, Duyên giác. 6. Chứng đắc dị (Chứng đắc khác): Đại bi xa lìa phiền não ở cõi trời Hữu đính mà chứng đắc, còn Bi thì chỉ dứt trừ phiền não của cõi Dục mà chứng đắc. 7. Cứu tế dị (Cứu độ khác): Đại bi có năng lực thành tựu việc cứu độ, còn Bi thì chỉ hi vọng cứu độ. 8. Ai mẫn dị(Thương xót khác): Đại bi thì lòng thương xót bình đẳng, còn Bi thì chỉ cứu các nỗi khổ của hữu tình ở cõi Dục, cho nên lòng thương không bình đẳng. Ngoài ra, luận Thành thực quyển 12 cũng giải thích rõ về Đại bi của Phật, sự giải thích này đại khái cũng giống với thuyết của Hữu bộ, nhưng luận Thành thực nhấn mạnh: Trước hết nói về pháp không, sau mới bàn đến đại bi, đó là điểm bất đồng rõ rệt giữa hai bên. II. Thuyết của Đại thừa: Trong 2.000 hành pháp của ngài Phổ hiền nói trong kinh Hoa nghiêm quyển 53 (bản dịch mới), Đại bi được phối hợp với giai vị Thập trụ để nêu ra 10 nguyên do phát khởi đại bi của Bồ tát. 1. Do quán xét nơi chúng sinh nương tựa (mà phát khởi đại bi). 2. Do quán xét căn tính của chúng sinh không điều thuận. 3. Do quán xét thấy chúng sinh thiếu thiện căn. 4. Do quán xét chúng sinh còn mãi trong đêm dài tối tăm. 5. Do quán xét chúng sinh làm các việc bất thiện. 6. Do quán xét chúng sinh bị lòng tham muốn trói buộc. 7. Do quán xét chúng sinh mãi chìm đắm trong bể khổ sống chết. 8. Do quán xét chúng sinh bị bệnh khổ triền miên. 9. Do quán xét chúng sinh không muốn làm các việc thiện. 10. Do quán xét chúng sinh không biết đến Phật pháp. Ngoài ra, kinh Bảo vũ quyển 5, kinh Tư ích quyển 3, kinh Đại tát già ni kiền tử quyển 6, kinh Trừ cái chướng bồ tát quyển 8 v.v... đều có nêu ra thuyết Như lai tam thập nhị đại bi (Phạm: dvātriṃśat tathāgatasya mahākaruṇāḥ) tức là các hữu tình không thấy rõ được thực tướng của các pháp, lại vì vọng chấp nên cứ chìm đắm mãi trong đêm dài vô minh; đức Như lai rất thương xót và khởi tâm đại bi nhiếp hóa chỉ dạy họ. Kinh Tư ích nói: Thuyết pháp, tùy nghi, phương tiện, pháp môn, đại bi là năm lực của đức Như lai và là chỗ mà tất cả hàng Nhị thừa không thể đạt đến được. Luận Du già sư địa quyển 44, quyển 49 thì đặc biệt nhấn mạnh sự sai khác giữa Bi và Đại bi là ở điểm cực thanh tịnh. Tức là cho từ bi của Phật và của các vị Bồ tát Thập địa là Đại bi, còn từ bi của các bậc khác thì chỉ gọi là Bi, là vì các bậc ấy vẫn chưa đạt đến cảnh địa cực thanh tịnh. Bởi thế, trong tám pháp của Bồ tát nói trong luận Thập trụ tì ba sa quyển 1 mới có cái gọi là cao đê đại tiểu (cao thấp lớn nhỏ), đồng thời, đề ra thuyết Tam duyên từ bi, nghĩa là: Từ bi duyên theo các hữu tình là Tiểu bi, từ bi duyên pháp là Trung bi, còn từ bi không có năng duyên và sở duyên là Đại bi. [X. luận Phật tính Q.2; Pháp hoa huyền tán Q.9; Phiên dịch danh nghĩa đại tập chương 10]. (xt. Từ Bi).
đại bi bồ tát
861指觀世音菩薩。大悲之名,雖通於諸佛菩薩,然此菩薩為慈悲門之主,故特稱之。〔請觀音經、觀無量壽佛經疏卷三定善義〕
; Tức Quán Âm Bồ Tát, một vị Bồ Tát với lòng đại bi rộng lớn—Kuan-Shi-Yin, a Bodhisattva of great pity, or the greatly pitiful regarder of the earth cires.
; (大悲菩薩) Chỉ cho bồ tát Quan thế âm. Danh từ Đại bi tuy chỉ chung cho chư Phật và Bồ tát, nhưng bồ tát Quan thế âm là chủ của môn Từ bi nên đặc biệt gọi Ngài là Đại bi bồ tát. [X. kinh Thỉnh Quan âm; Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.3 định thiện nghĩa].
đại bi chú
859梵名 Mahākāruṇikacitta-dhāraṇī。又稱千手千眼觀世音大悲心陀羅尼、千手千眼觀世音菩薩大身咒、廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼、大悲心陀羅尼。亦即說示千手千眼觀世音菩薩內證功德之根本咒。據唐代伽梵達磨所譯之千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經所載,此咒全文計有八十四句,誦此咒能得十五種善生,不受十五種惡死。善生者:(一)所生之處常逢善王,(二)常生善國,(三)常值好時,(四)常逢善友,(五)身根常得具足,(六)道心純熟,(七)不犯禁戒,(八)所有眷屬恩義和順,(九)資具財食常得豐足,(十)恆得他人恭敬扶接,(十一)所有財寶不受他人劫奪,(十二)意欲所求皆悉稱遂,(十三)龍天善神恆常護衛,(十四)所生之處得以見佛聞法,(十五)所聞正法悟甚深義。十五種惡死,係指:(一)飢餓困苦死,(二)枷禁杖楚死,(三)怨家讎對死,(四)軍陣相殺死,(五)虎狼惡獸殘害死,(六)毒蛇蚖蠍所中死,(七)水火焚漂死,(八)毒藥所中死,(九)蟲毒所害死,(十)狂亂失念死,(十一)山樹崖岸墜落死,(十二)惡人厭魅死,(十三)邪神惡鬼得便死,(十四)惡病纏身死,(十五)非分自害死。此外,千眼千臂觀世音菩薩陀羅尼神咒經卷上則謂,若誦此咒一百零八遍者,則一切煩惱罪障,乃至五逆等重罪,悉皆消弭,而得身口意之清淨。於今之密宗、禪宗等顯密宗派均極重視誦持此咒。 本咒文有多種翻譯,其章句亦依各經而異,如千眼千臂觀世音菩薩陀羅尼神咒經卷上(智通譯)、千手千眼觀世音菩薩姥陀羅尼身經(菩提流志譯)所載為九十四句;千手千眼觀自在菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼咒本(金剛智譯)為一一三句;金剛頂瑜伽千手千眼觀自在菩薩修行儀軌經卷下(不空譯)為四十句,並謂誦此咒可得息災、增益、降伏、敬愛鉤召等四種成就;千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼(不空譯)所載則有八十二句。〔敕修百丈清規卷上祝釐章、禪林象器箋經錄門〕
; Great Compassion Mantra—Một tên khác của Thiên Thủ Kinh hay Thiên Thủ Đà La Ni Kinh, chứa đựng những bài chú trừ khử dục vọng—Another name of the “Ten-Thousand Hands” “ sutra or “Ten-Thousand Hands Dharani” sutra, containing spells against lust.
; (大悲咒) Phạm: Mahàkàruịikacitta-dhàraịì. Cũng gọi Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm đại bi tâm đà la ni, Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát đại thần chú, Quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni, Đại bi tâm đà la ni. Cũng tức là thần chú căn bản hiển bày công đức nội chứng của bồ tát Quan thế âm nghìn mắt nghìn tay. Cứ theo kinh Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni do ngài Già phạm đạt ma dịch vào đời Đường, thì toàn văn bài chú này có 84 câu và người trì tụng chú này sẽ được 15 thứ thiện sinh (sinh ra được tốt lành) và tránh được 15 thứ ác tử (cái chết thê thảm). - Mười lăm thứ thiện sinh là: 1. Sinh vào nơi thường gặp được vua hiền. 2. Thường sinh vào nước tốt lành yên vui. 3. Thường gặp thời vận may mắn. 4. Thường gặp bạn tốt. 5. Sáu giác quan thường được đầy đủ. 6. Tâm đạo thuần thành. 7. Không phạm giới cấm. 8. Họ hàng ân nghĩa thuận hòa. 9. Của cải lương thực thường được dồi dào. 10. Thường được người khác cung kính, giúp đỡ. 11. Có của báu thì không bị người ta cướp đoạt. 12. Những điều mong cầu đều được như ý. 13. Long thiên thiện thần luôn luôn hộ vệ. 14. Sinh vào nơi được thấy Phật nghe pháp. 15. Nghe chính pháp ngộ được nghĩa sâu xa. - Mười lăm thứ bạo tử là: 1. Chết vì đói khát khốn khổ. 2. Chết vì bị gông cùm giam cầm đánh đập. 3. Chết vì oan gia báo thù. 4. Chết vì giết nhau trong chiến trận. 5. Chết vì bị ác thú hùm, sói ăn thịt. 6. Chết vì bị rắn độc, bò cạp cắn. 7. Chết vì bị nước cuốn, lửa đốt. 8. Chết vì trúng thuốc độc. 9. Chết vì trùng độc làm hại. 10. Chết vì điên cuồng mất trí. 11. Chết vì ngã từ sườn núi hoặc rơi từ cây cao xuống. 12. Chết vì thầy bùa trù ếm. 13. Chết vì tà thần ác quỉ được dịp hãm hại. 14. Chết vì bịnh nan y. 15. Chết vì tự sát. Ngoài ra, kinh Thiên nhãn thiên tí Quán thế âm bồ tát đà la ni thần chú quyển thượng nói: Người trì tụng chú này 108 biến, thì tất cả phiền não tội chướng, ngay cả trọng tội ngũ nghịch cũng đều được tiêu trừ, thân, khẩu, ý thanh tịnh. Ngày nay, các tông phái của Hiển giáo cũng như của Mật giáo rất coi trọng sự trì tụngthần chú này. Bài chú này có nhiều loại phiên dịch và về chương cú thì cũng tùy theo các kinh mà có khác, như kinh Thiên nhãn thiên tí Quán thế âm bồ tát đà la ni thần chú quyển thượng (ngài Trí thông dịch), kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát mỗ đa la ni than (ngài Bồ đề ưu chí dịch) có 94 câu; Thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà là ni chú bản (ngài Kim cương trí dịch) có 113 câu; kinh Kim cương đính du già thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại bồ tát tu hành nghi quĩ quyển hạ (ngài Bất không dịch)có 40 câu; Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni (ngài Bất không dịch)có 82 câu. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng Chúc li chương; Thiền lâm tượng khí tiên Kinh lục môn].
đại bi cung
858悲與智為兩兩成雙之法門,故配以左右手。大悲主靜德,配於左手;大智主動德,配於右手。又以大悲配於弓,以大智配於箭,而有「大悲弓」、「大智箭」之稱。
; The bow of great pity—Bi và trí là hai pháp môn tu tập được ví như cung và tên. Đại bi ví với tĩnh đức bên tay trái; đại trí ví với động đức bên tay phải—The bow of great pity includes pity and wisdom, compared with bow and arrow. Pity, a bow in the left hand; and wisdom, an arrow in the right hand.
; (大悲弓) Bi và trí là hai pháp môn đi song song, cho nên được phối với tay trái và tay phải. Đại bi chủ về đức tĩnh, được phối với tay trái; Đại trí chủ về đức động, phối với tay phải. Ngoài ra, Đại bi còn được phối với cái cung, Đại trí phối với mũi tên, cho nên mới gọi Đại bi cung, Đại trí tiễn.
đại bi giả
860請參閱 大悲空智金剛大教王儀軌經 具有大悲心之菩薩。即指觀世音菩薩。〔請觀音經〕(參閱「觀世音菩薩」6953)
; Bậc đại bi, chỉ Bồ Tát Quán Âm—Kuan-Shi-Yin—The great pitiful one.
; (大悲者) Bậc đại bi. Chỉ cho bồ tát Quan thế âm, vị Bồ tát có tâm đại bi. (xt. Quan Thế Âm Bồ Tát).
đại bi không trí kim cang kinh
Xem Đại bi Không trí Kim cang đại giáo vương nghi quỹ kinh.
đại bi không trí kim cang đại giáo vương nghi quỹ kinh
Hervajra-Ḍākinījala-sambara-tantra (S), Mahātantranarāja-māyākalpa (S), Hervajra-dakinijala-sambara-tantra (S)Tên một bộ kinh.
đại bi không trí kim cương đại giáo vương nghi quỹ kinh
860梵名 Mahātantrarāja-māyākalpa,或 Hevajra-ḍākinījāla-sambara-tantra。凡五卷二十品。宋代法護譯。又作大悲空智金剛經、喜金剛本續王、喜金剛本續。此係一般通用之名稱,印度、西藏注釋家則多用二儀軌(梵 Dvikalpa)之名。收於大正藏第十八冊。本經係自梵本大怛特羅王大儀軌之三十二儀軌(根本怛特羅)中摘出,唯三十二儀軌今已不存,故本經尚有可疑之處。其內容:金剛序品第一記載世尊住金剛明妃陰門形法生中之宮殿,出生妙三摩地,由此三摩地起,對金剛藏菩薩明示金剛薩埵、大薩埵、三昧耶薩埵,且謂此悉從大悲智金剛大菩提心所開示;其次述說空智金剛之三十二血脈相,謂此三十二相總攝於羅羅拏(梵 lalanā)、辣娑拏(梵 rasanā)、阿嚩底(梵 avadhūtī)等三相;以下二十品即就此三十二相一一詳述其內容。 本經係屬四種怛特羅中之第四怛特羅,即無上瑜伽部(梵 Anuttarayoga),相當於不空所譯金剛頂經瑜伽十八會指歸之第九會,即一切佛集會拏吉尼戒網瑜伽。其成立年代,據考證,推定為八世紀前半,或七世紀後半以降。十九世紀,自尼泊爾發現梵文寫本,一九五九年,歐洲佛教學者史內爾葛弗(D.L. Snellgrove)以之與西藏譯本對照,加以英譯,並附上甘赫(梵 Kāṇha)所著之瑜伽寶鬘(梵 Yogaratnamālā)出版。本經之注疏,除瑜伽寶鬘外,以西藏之三大注疏為著名,即金剛藏(梵 Vajragarbha)之呼金剛攝義廣註(梵 Hevajra-piṇḍārtha-ṭīkā)、那洛巴(藏 Nā-ro-pa)之金剛句真髓集細疏(梵 Vajrapada-sāra-saṃgraha-pañjikā)、寶藏吉(梵 Ratnākaraśānti)之吉祥喜金剛細疏真珠鬘(梵 Śri-hevajra-pañjikā-muktikāvalī-nāma)。〔西藏大藏經總目錄、B. Bhattacharyya: Sādhanamālā, GOS. XXVI, XLI; S.B. Dasgupta:Introduction to Tantric Buddhism; D.L. Snellgrove: The Hevajra tantra〕
; Hevajradākinījalasambara tantra (S)Một bộ kinh trong Mật bộ.
; (大悲空智金剛大教王儀軌經) Phạm: Mahàtantraràja-màyàkalpa, hoặc Hevajra-đàkinìjàla-sambaratantra. Gồm 5 quyển, 20 phẩm, do ngài Pháp hộ dịch vào đời Tống. Cũng gọi Đại bi không trí Kim cương kinh, Hỉ kim cương bản tục vương, Hỉ kim cương bản tục. Tên gọi này thông dụng. Nhưng các nhà chú thích Ấn độ và Tây tạng lại hay dùng danh xưng: Nhị nghi quĩ (Phạm: Dvikalpa). Thu vào Đại chính tạng tập 18. Kinh này được trích ra từ trong 32 nghi quĩ (Đát đặc la căn bản) của Đại đát đặc la vương đại nghi quĩ bản tiếng Phạm, nhưng 32 nghi quĩ nay đã thất lạc, cho nên kinh này còn có chỗ khả nghi. Nội dung: Phẩm Tựa tường thuật việc đức Thế tôn ở trong cung điện Kim cương minh phi âm môn hình pháp sinh, sinh ra Tam ma địa mầu nhiệm, rồi Ngài từ nơi Tam muội này đứng dậy, chỉ dạy cho bồ tát Kim cương biết rõ về Kim cương tát đỏa, Đại tát đỏa, Tam muội da tát đỏa và bảo tất cả đều được mở bày từ tâm Đại bồ đề bi trí kim cương. Kế đến, trình bày về 32 tướng huyết mạch của Không trí kim cương, cho rằng 32 tướng này được thu nhiếp vào 3 tướng là: La la noa (Phạm:Lalanà), Lạt sa noa (Phạm: Rasanà), A phạ để (Phạm: Avadhùtì) v.v... Sau hết, từ phẩm 20 trở xuống nói rõ về nội dung của mỗi tướng trong 32 tướng. Kinh này thuộc về Đát đặc la thứ 4 trong bốn Đát đặc la, tức là Vô thượng du già bộ (Phạm: Anuttarayoga), tương đương với Nhất thiết Phật tập hội noa cát ni giới võng du già của hội thứ 9 trong Kim cương đính kinh du già thập bát hội chỉ qui do ngài Bất không dịch. Về niên đại, theo khảo chứng và suy đoán, kinh này có thể đã được thành lập vào hậu bán thế kỉ VII hoặc tiền bán thế kỉ VIII. Vào thế kỉ XIX, bản tiếng Phạm chép tay đã được tìm thấy ở Népal. Năm 1959, ông D.L. Snellgrove, một học giả Phật giáo châu Âu, đem đối chiếu với bản dịch Tây tạng, rồi dịch ra tiếng Anh, phụ thêm phần Du già bảo man (Phạm: Yogaratnamàlà) do ngàiKàịkasoạn và xuất bản. Về những bản chú thích kinh này thì ngoài tập Du già bảo man của ngàiKàịka vừa nói ở trên ra, còn có ba bộ Đại sớ nổi tiếng của Tây tạng là: Hô kim cương nhiếp nghĩa quảng chú (Phạm: Hevajra piịđàrtha-ỉikà) của ngài Kim cương tạng (Phạm: Vajragarbha), Kim cương cú chân tủy tập tế sớ (Phạm: Vajrapada sàra saôgraha paĩjikà) của ngài Na lạc ba (Tạng: Nà ropa), Cát tường hỉ kim cương tế sớ chân châu man (Phạm:Zrì-hevajrapaĩjika-muktikàvalì-nàma) của ngài Bảo tạng cát (Phạm:Ratnàkarazànti) v.v... [X. Tây tạng đại tạng kinh tổng mục lục; B. Bhattacharyya: Sàdhanamàlà, GOS. XXVI, XLI; S.B. Dasgypta: An Introduction to Tantric Buddhism; D.L. Snellgrove: The Hevajratantra].
đại bi kinh
862梵名 Mahā-karuṇā-puṇḍarīka。凡五卷。北齊那連提耶舍譯。今收於大正藏第十二冊。內容記載佛陀臨涅槃時,以正法付囑迦葉、阿難等,宣示供養舍利之功德及結集之法。計十四品:梵天品、商主品、帝釋品、羅睺羅品、迦葉品、持正法品、舍利品、禮拜品、善根品、布施福德品、殖善根品、以諸譬喻付囑正法品、殖善根品、教品。本經係於北齊天保九年(570),於鄴都天平寺譯出。宋、元、明三本與西藏本皆僅有十三品(係將本經之第十二、十三品合為一品),高麗本則有十四品。〔歷代三寶紀卷九、法經錄卷一、大唐內典錄卷六、大周刊定眾經目錄卷二、開元釋教錄卷六、至元法寶勘同總錄卷二〕
; Mahā-karuṇā-pundarika (S)Tên một bộ kinh.
; Mahakaruna-pundarika sutra (skt)—Năm quyển do ngài Na Liên Đề Da Xá dịch sang Hoa ngữ năm 552 sau Tây Lịch—Five books translated into Chinese by Narendrayasas in 552 A.D.
; (大悲經) Phạm: Mahà-karuịà-puịđarìka. Gồm 5 quyển, do ngài Na liên đề da xá dịch vào thời Bắc Tề. Thu vào Đại chính tạng tập 12. Nội dung ghi chép lúc đức Phật sắp vào Niết bàn đem chính pháp giao phó cho tôn giả Ca diếp và tôn giả A nan, đồng thời, Ngài nói rõ về công đức cúng dường xá lợi và phương pháp kết tập kinh điển, gồm có 14 phẩm: - Phẩm Phạm thiên. - Phẩm Thương chủ. - Phẩm Đế thích. - Phẩm La hầu la. - Phẩm Ca diếp. - Phẩm Trì chính pháp. - Phẩm Xá lợi. - Phẩm Lễ bái. - Phẩm Thiện căn. - Phẩm Bố thí phúc đức. - Phẩm Thực thiện căn. - Phẩm Dĩ chư thí dụ phó chúc chính pháp. - Phẩm Thực thiện căn. - Phẩm Giáo. Kinh này được phiên dịch ở chùa Thiên bình tại Nghiệp đô vào năm Thiên bảo thứ 9 (570) đời Bắc Tề. Ba bản Tống, Nguyên, Minh và bản Tây tạng đều chỉ có 13 phẩm (phẩm 12, 13 được nhập làm 1 phẩm), bản Cao li thì có 14 phẩm. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Pháp kinh lục Q.1; Đại đường nội điển lục Q.6; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.2].
đại bi mạn đà la
The great pity Mandala.
đại bi nguyện
862<一>指佛菩薩為濟度眾生而發之誓願。如諸佛因悲心而發之種種別願皆是。又阿彌陀佛所發之四十八願,乃於「因位」時所發之誓願,願願皆以悲心導引諸有情,故有「無上大悲願」之稱。 <二>日本淨土真宗特指阿彌陀佛四十八願中之第十七願。又作諸佛稱揚願、諸佛咨嗟願、選擇稱名願。此願以諸佛稱揚讚歎阿彌陀佛極樂國土及其名號,迴向眾生,令眾生聞信而欣至彼剎土中;係諸佛之大悲示相,故稱為大悲願。
; (大悲願) I. Đại bi nguyện. Chỉ cho thệ nguyện của chư Phật và Bồ tát cứu độ chúng sinh. Chư Phật và Bồ tát mỗi vị đều có thệ nguyện riêng, như đức Phật A di đà có 48 thệ nguyện, mà nguyện nào cũng đem tâm đại bi mà giáo hóa, cứu độ các hữu tình chúng sinh, nên gọi là Đại bi nguyện. II. Đại bi nguyện. Tịnh độ chân tông của Nhật bản đặc biệt gọi nguyện thứ 17 trong 48 nguyện của Phật A di đà là Đại bi nguyện. Cũng gọi chư Phật xưng dương nguyện, chư Phật tư ta nguyện, Tuyển trạch xưng danh Nguyện. Nguyện 17 này đem sự tán dương của chư Phật đối với danh hiệu và nước Cực lạc của Phật A di đà hồi hướng cho chúng sinh, khiến chúng sanh tin tưởng và mong muốn được vãng sinh Cực lạc.
đại bi phổ hiện
861請參閱 諸說不用記 指觀世音菩薩為應各類眾生之根機,而示現三十三種相。(參閱「三十二應」511、「三十三身」513)
; Đại Bi Phổ Hiện ám chỉ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, vị đã hiện thân ra ba mươi ba chủng loại khác nhau để tùy cơ cứu độ—Great pity universally manifested—Kuan-Yin, who in thirty-three manifestations meets every need.
; (大悲普現) Bồ tát Quán thế âm vì tâm đại bi nên tùy theo căn cơ của chúng sinh mà thị hiện ba mươi ba thân tướng để cứu độ. (xt. Tam Thập Nhị Ứng, Tam Thập Tam Thân).
đại bi quán thế âm
Quán Âm, vị Bồ Tát lắng nghe những lời than khóc trên mặt đất nầy mà đến để cứu độ—Kuan-Yin, the greatly pitiful regarder of earth's cries to come to save.
đại bi quán thế âm bồ tát
See Đại Bi Bồ Tát.
đại bi sinh tâm tam muội
Tam muội của Phật Di Lặc—The samadhi of Maitreya.
đại bi sám pháp
862全一卷。宋代天台宗僧四明知禮編集。又作出像大悲懺法、大悲心咒懺法、千手千眼大悲心咒行法。今收於大正藏第四十六冊。乃知禮依據伽梵達磨所譯之大悲心陀羅尼經而作,內容敘述千手觀音之懺法。係以天台宗教義指導修持之懺儀作法。謂虔信千手觀音,不僅可消災得福,死後且可往生西方淨土。
; (大悲懺法) Có 1 quyển. Ngài Tứ minh Tri lễ của tông Thiên thai biên soạn vào đời Tống. Cũng gọi Xuất tượng đại bi sám pháp, Đại bi tâm chú sám pháp, Thiên thủ thiên nhãn đại bi tâm chú hành pháp, thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung trình bày pháp sám hối Thiên thủ Quan âm theo giáo nghĩa tông Thiên thai để hướng dẫn sự hành trì. Người lễ sám phải chí thành tin tưởng bồ tát Thiên thủ Quan âm, cầu xin trong đời hiện tại tiêu tai được phúc, sau khi chết vãng sinh Cực lạc Tịnh độ.
đại bi tam muội
The samàdhi of great compassion, in which Buddha and bodhisattvas develop their great pity.
; Tam muội của lòng đại bi, qua đó chư Phật và chư Bồ Tát phát triển lòng đại bi của họ—The samadhi of great pity, in which Buddhas and bodhisattvas developed their great pity—The samadhi in which Vairocana evolves the group and it is described as the "mother of all Buddha-sons.”
đại bi thai tạng
861指一切行法皆須由大悲培育,有如胎藏。亦即肉團心所具之菩提理性,依大悲之萬行而生長發育,猶如母胎內之子。〔十住心論卷八〕(參閱「大悲」858)
; Thai tạng còn gọi là Hoa Tạng, là tâm Bồ Đề sẳn có của chúng sanh. Thai tạng nầy giống như một bông sen tám cánh , với Đức Tỳ Lô Giá Na ở trung tâm, ngài cũng chính là cội nguồn của bi tâm—The womb-store of great pity, the fundamental heart of Bodhi in all; this womb is likened to a heart opening as an eight-leaved lotus, in the centre being Vairocana, the source of pity.
đại bi thai tạng mạn đồ la
Mạn Đồ La của Đại Bi Thai Tạng hay Mạn Đồ La được sản sanh từ Đại Bi Thai Tạng—The Mandala of the womb-store of pity—See Đại Bi Thai Tạng.
đại bi thai tạng tam muội
Tam muội của Đại Bi Thai Tạng Mạn Đồ La do Đức Đại Nhật Như Lai sản sanh ra. Tam muội nầy là mẹ của tất cả Phật tử—The samadhi in which Vairocana Buddha evolves the group , and it is described as the “mother of all Budha-sons.”
đại bi thiên thủ địa ngục
Đại bi đại thọ khổ—The hell of vicarious suffering for all beings—See Đại Bi Đại Quán Âm Thiên Thủ Địa Ngục.
đại bi thuỷ
859請參閱 大悲懺法 以大悲咒加持之淨水。一般佛子咸信飲用此水,能得十五種善生,不受十五種惡死。又據大日經疏卷三載,水以滋潤萬物之德,為大悲之標幟,故稱大悲水;五字嚴身觀則謂以徤(vaṃ,鍐)字加持臍輪者為大悲水,蓋徤字乃水大之種子,住於大悲心,流注甘露水,滋潤眾生界,故稱大悲水。
; (大悲水) Nước đại bi. Tức là nước có gia trì chú Đại bi. Phổ thông, các Phật tử tin rằng uống nước này có thể được mười lăm thiện sinh (sinh ra gặp những điều tốt lành) và tránh khỏi mười lăm ác tử (những cách chết hung dữ, thê thảm). Theo Đại nhật kinh sớ quyển 3, thì nước có tính nhuần thấm muôn vật, tiêu biểu cho đại bi, vì thế gọi là Đại bi thủy. Ngũ tự nghiêm thân quán thì cho rằng gia trì chữ (vaô), ở vòng rốn là Đại bi thủy, vì chữ là chủng tử của thủy đại, trụ nơi tâm đại bi, tạo nên dòng nước cam lộ nhuần thấm cõi chúng sinh.
đại bi triền bồ tát
Xem Bi triền nhuận Bồ tát.
đại bi tâm
Mahakaruna (skt)—See Đại Bi.
đại bi tâm đà la ni
Mahā-karuṇikacitta dhāraṇī (S)Thiên thủ Thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà la ni kinh.
đại bi tâm đà la ni kinh
859梵名 Mahākāruṇikacitta-dhāraṇī。全一卷。唐代伽梵達磨譯。全稱千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經。略稱千手經。今收於大正藏第二十冊。現時流通之大悲咒,即此經宣說之咒語。大悲咒在我國甚具靈驗,廣為佛子所奉持。以大悲咒所加持之水,稱為大悲水,為我國佛子所常服。有關大悲咒之經典,除上述譯本之外,另有金剛智、不空等人所譯,俱載於大正藏第二十冊。
; (大悲心陀羅尼經) Phạm:Mahàkàruịikacitta-dhàraịì. Có 1 quyển, ngài Già phạm đạt ma dịch vào đời Đường. Gọi đủ: Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni kinh. Gọi tắt: Thiên thủ kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 20. Chú Đại bi lưu thông hiện giờ là lời chú được tuyên thuyết trong kinh này. Chú Đại bi rất linh nghiệm, ở Trung quốc cũng như Việt nam, đa số Phật tử tin tưởng và trì tụng, Những kinh điển có liên quan đến chú Đại bi, ngoài bản kinh dịch nói trên, còn có những bản dịch của ngài Kim cương trí, Bất không v.v... tất cả đều được đưa vào Đại chính tạng tập 20.
đại bi tứ bát chi ứng
Hai mươi hai hay hai mươi ba sự thị hiện của Đức Quán Âm Đại Bi, nhằm đáp ứng với như cầu của chúng sanh—The thirty-two or thirty-three manifestations of all pitiful Kuan-Yin, responding to sentient beings' needs.
đại bi vạn hành
862起大慈大悲之心,普為無量之佛事,稱為大悲;三密妙行等之行,稱為萬行。又以「拔苦」為大悲之義;而於「大悲」二字之中,賅攝三密妙行等之萬行,稱為大悲萬行。(參閱「三句階段」542)
đại bi vạn hạnh
(大悲萬行) Muôn hạnh đại bi. Phát khởi tâm đại từ đại bi làm vô lượng Phật sự, gọi là Đại bi. Tu các hạnh ba mật mầu nhiệm, gọi là vạn hạnh. Đại bi nghĩa là cứu khổ, mà trong hai chữ Đại bi bao gồm muôn hạnh của ba mật nhiệm mầu, gọi là Đại bi vạn hạnh. (xt. Tam Cú Giai Đoạn).
đại bi xiển đề
862又作有性闡提。闡提,原指斷除善根、永不得成佛之根機。大悲闡提則謂大悲菩薩起大悲心,憐憫一切眾生,發願度盡眾生界,遂專行利他救濟,因而自身終無成佛之期。此係法相宗依楞伽經所說二種闡提中之「菩薩闡提」而立。即大悲菩薩雖發願度盡一切眾生,但眾生界無量無邊,又以無性有情畢竟不能成佛之故,遂受此大願之拘礙而終於失去成佛之時,永遠止於因位,故稱為闡提,如觀音、文殊、地藏等皆屬之。〔入楞伽經卷二、成唯識論掌中樞要卷上本(窺基)、台宗二百題卷五〕
; Tên gọi tắt của Nhất Xiển Đề, chỉ những vị có lòng đại bi mà nguyện không thành Phật, như một vị Bồ Tát nguyện không thành Phật cho đến khi nào cứu độ hết thảy chúng sanh như ngài Quán Âm hay Địa Tạng—The greatly pitiful icchantika (icchantika of great mercy), a Bodhisattva who cannot or who vows not to become a Buddha until his saving work is done (until all beings are saved) such as Kuan-Yin or Ti-Tsang.
; (大悲闡提) Cũng gọi Hữu tính xiển đề. Xiển đề vốn chỉ cho loại căn cơ đã dứt hết gốc lành không bao giờ thành Phật. Nhưng Đại bi xiển đề là bậc Bồ tát đại bi, mở lòng đại bi thương xót tất thảy chúng sinh, phát nguyện độ hết cõi chúng sinh, nên chuyên lo làm việc cứu giúp mang lại lợi ích cho người khác, do đó, bản thân mình, cuối cùng, không có hạn kì thành Phật. Đây là tông Pháp tướng căn cứ vào hai loại xiển đề nói trong kinh Lăng già mà lập ra Bồ tát xiển đề. Tức là Bồ tát đại bi phát nguyện cứu độ hết thảy chúng sinh, nhưng cõi chúng sinh thì vô lượng vô biên, vô cùng vô tận; vả lại, loài hữu tình vô tính rốt ráo không thể thành Phật, thành ra Bồ tát đại bi vì thệ nguyện rộng lớn, cuối cùng, mất cơ hội thành Phật, mà vĩnh viễn dừng lại ở Nhân vị, vì thế gọi là Xiển đề, như các vị bồ tát Quán âm, Văn thù, Địa tạng v.v... [X. Kinh Nhập lăng già Q.2; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng phần đầu (Khuy cơ); Thai tông nhị bách đề Q.5].
đại bi đàn
862即指密教之胎藏界曼荼羅。又作大悲胎藏曼荼羅、大悲曼荼羅、悲生曼荼羅。壇,梵語 maṇḍala(曼荼羅)之意譯。乃大日經所說,謂胎藏界之曼荼羅,為自大悲胎藏出生之曼荼羅。〔大日經卷一、大日經疏卷五〕(參閱「胎藏界曼荼羅」3935)
; The altar of pity—Bàn thờ đại bi, một từ ngữ chỉ pháp giới mạn đà la hay nhóm của Phật Thích Ca—The altar of pity, a term for Garbhadhatu mandala, or for the Sakyamuni group.
; (大悲壇) Chỉ cho mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Cũng gọi Đại bi thai tạng mạn đồ la, Đại bi mạn đồ la, Bi sinh mạn đồ la. Đàn là dịch ý từ tiếng Phạm maịđala (mạn đồ la). Kinh Đại nhật nói rằng, mạn đồ la của Thai tạng giới là mạn đồ la từ Thai tạng đại bi sinh ra. [X. kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.5]. (xt. Thai Tạng Giới Mạn Đồ La).
đại bi đại quán âm thiên thủ địa ngục
Đức Quán Âm đi vào địa ngục chịu khổ và tìm cứu chúng sanh—Kuan-Yin Bodhisattva who suffers when going into hells to seek and save the suffering.
đại bi đại thọ khổ
Công việc của chư Bồ Tát là chịu khổ thế cho chúng sanh—Vicarious suffering (in purgatory) for all beings, the work of bodhisattvas.
đại bi định
860梵語 mahākaruṇā-samāpatti,巴利語同。又作大悲三昧。即含藏大悲功德之禪定,乃佛菩薩之悲無量心定。佛菩薩悲愍一切眾生,遍滿大悲無量心而行之禪定,稱為大悲定,佛菩薩即住於此禪定而起大悲心。解脫道論卷二(大三二‧四○七下):「大悲定、雙變定,是佛所得,非聲聞所得。」
; Mahā-karuṇā-sampapatti (S).
; (大悲定) Phạm, Pàli: Mahàkaruịà-samàpatti. Cũng gọi Đại bi tam muội. Tức là thiền định hàm chứa vô lượng công đức đại bi của chư Phật và Bồ tát. Chư Phật và Bồ tát thương xót tất cả chúng sinh, ở trong thiền định mà khởi tâm đại bi vô lượng, gọi là Đại bi định. Luận giải thoát đạo quyển 2 (Đại 32, 407 hạ), nói: Đại bi định, Song biến định là sở đắc của Phật, chẳng phải sở đắc của Thanh văn.
Đại bi 大悲
[ja] ダイヒ daihi ||| (1) Great compassion; great pity (mahā-karuṇā). 〔法華經 T 262.9.23b26〕(2) The great compassion differs from ordinary compassion in eight ways, which are explained in the Mahāvibhāṣā-śāstra. (1) With respect to its nature [自性異] , ordinary compassion is absence of hatred, whereas the great compassion is absence of ignorance. (2) With respect to its aspect [行相異], ordinary compassion takes on the form of one suffering, the ordinary suffering, whereas the great compassion takes on the form of threefold suffering. (3) With respect to its object [所縁異], ordinary compassion is concerned with the beings of one kāma-dhātu 欲界 only, whereas the great compassion is concerned with the three dhātus 三界. (4) With respect to its sphere (bhūmi) [依地異] , ordinary compassion is of the sphere of the ten dhyānas: the four dhyānas, the four stages cross to the four dhyānas, middle and the kāma-bhūmi, whereas the great compassion is of the sphere of the fourth dhyāna only. (5) With respect to its support [依身異] , ordinary compassion arises in śrāvakas, pratyekabuddhas, buddhas as well as sentient beings (pṛthagjanas), whereas the great compassion arises only in the Buddha. (6) With respect to its acquisition [證得異], ordinary compassion is obtained through detachment from kāma-dhātu and the third dhyāna, whereas the great compassion is obtained through detachment from bhavagra only. (7) With respect to its saving (others) [救濟異], ordinary compassion only gives rise to the sympathy for the act of saving (others), whereas the great compassion gives rise to the sympathy and accomplishes the act of saving. (8) With respect to compassion [哀愍異], ordinary compassion is an unequal compassion, for it sympathizes only with beings who are suffering, whereas the great compassion is an equal compassion, turned towards beings equally. 〔大毘婆沙論卷三十一、卷八十三、倶舍論卷二十七〕 => I. Lòng yêu thương, lòng trắc ẩn rộng lớn (s: mahā-karuṇā). II. Đại bi khác với tình yêu thương thông thường ở 8 điều (được giải thích trong Luận Đại Tỳ-bà-sa): 1. Tự tính dị: Tình thương thì không sân hận, trong khi đại bi thì không vô minh. 2. Hành tướng dị: Tình thương thì duyên với hành tướng một loại khổ (khổ khổ), đại bi duyên với hành tướng “Ba khổ”. 3. Sở duyên dị: Tình thương chỉ duyên với Dục giới, đại bi duyên với Tam giới. 4. Y địa dị: Tình thương nương vào 10 cõi Thiền (Thập địa); 4 Tĩnh lự, 4 Cận phần, Trung gian và cõi Dục, trong khi Đại bi chỉ thuộc vào Đệ tứ thiền. 5. Y thân dị: Tình thương sinh khởi nơi thân Thanh văn, Bích chi, thân Phật cũng như thân chúng sinh, trong khi Đại bi chỉ sinh khởi nơi thân Phật. 6. Chứng đắc dị: Lòng Bi chỉ chứng đắc khi xa lìa phiền não cõi Dục và cõi thiền thứ 3, trong khi Đại bi chỉ chứng đắc được khi đoạn trừ lậu hoặc ở cõi trời hữu đảnh (s: bhavagra). 7. Cứu tế dị: Lòng Bi chỉ phát khởi sự đồng cảm trong việc cứu độ chúng sinh, trong khi Đại bi vừa phát khởi sự đồng cảm vừa thành tựu việc cứu độ chúng sinh. 8. Ai mẫn dị: Lòng Bi thì không bình đẳng, vì chỉ thông cảm những những bị khổ, trong khi Đại bi là lòng yêu thương bình đẳng, xem mọi chúng sinh đều như nhau. (Luận Đại Tỳ-bà-sa quyển 31, 83; Câu-xá luận quyển 37).
đại biến
Great change.
đại biểu
Representative—Delegate.
đại biện công đức sa đát na
888又作大辨功德天、大德天女。二十八部眾之一,為千手觀音之眷屬,擁護行者之善神。係帝釋天之女,多聞天之妃。其形像,左手把紫紺色如意珠,右手持金剛劍。真言為:唵摩訶具陵吉利他曳娑婆訶。〔千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經、佛像圖彙卷四〕
; (大辨功德娑怛那) Cũng gọi Đại biện công đức thiên, Đại đức thiên nữ. Một trong hai mươi tám bộ chúng, quyến thuộc của bồ tát Thiên thủ Quan âm, là vị thiện thần ủng hộ người tu hành. Vị thần nữ này là con gái của trời Đế thích, vợ của Đa văn thiên. Hình tượng: Tay trái cầm viên ngọc như ý xanh biếc, tay phải cầm thanh kiếm kim cương. Chân ngôn là: Án ma ha cụ lăng cát lợi tha duệ sa bà ha. [X. kinh Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni; Phật tượng đồ vậng Q.4].
đại biện thiên
Sarasvati—The great eloquent deva (god).
đại biện tài thiên
The great eloquent deva, who was persuaded to descend from heaven.
đại biện tài thiên nữ
The great eloquent goddess.
đại biệt đương
791乃日本佛寺內之職位名稱。據山門堂記、叡岳要記卷上、九院佛閣抄等所載,於弘仁九年(918),在最澄、義真連署之下決定十六院時,乃任命義真為根本大乘止觀院大別當、真忠為同院小別當、康遠為西塔院大別當、真忠為同院小別當、圓澄為根本法華院大別當、惠曉為小別當。此為最古之記錄。後來亦用為社僧(神社之僧)之職稱。大別當不僅為官寺(朝廷所建之寺)之長官,亦為院、廳之長官。
đại bà la môn
The great Bràhmana, applied to the Buddha, who though not of Brahman caste was the embodiment of Brahman virtues.
; Theo Kinh Niết Bàn thì vị Bà La Môn lớn ở Ấn Độ, chỉ Đức Phật, vị đã có tư tưởng cho rằng không chỉ giai cấp Bà La Môn mới là hiện thân của đạo đức—According to the Nirvana Sutra, the great Brahmana, applied to the Buddha, who thought not of Brahman caste was the embodiment of Brahman virtues.
đại bà la môn kinh
Kinh nói lên quan điểm Phật giáo về giai cấp Bà La Môn—A sutra dealing with Buddhist Aspect of the Brahman caste.
đại báo ân tự
857位於江蘇江寧縣城(南京)之南,寺址在古長千里。晉太康年間,有信士得舍利於長干里,乃建本寺,當時稱為長干寺。晉簡文帝時,敕於長干寺造三級塔。梁武帝時曾詔修之。至宋朝時,改名天禧寺,建聖感塔。元代又改名天禧慈恩旌忠寺,元末毀於兵。明永樂十年,敕建梵宇,改名為大報恩寺,以追福太祖帝后。萬曆末年,雪浪洪恩於此大弘華嚴。清初石濤原濟禪師亦曾駐錫於此。 明永樂帝,曾於此寺內造一壯麗輝煌之大報恩寺琉璃塔,塔高九級,共有八面,結構形式仿木造建築。此塔始建於永樂十年(1412),歷十九年,至宣德六年(1432)完成。據江南大報恩寺琉璃寶塔全圖記載,此塔高三十二丈九尺餘,此等高度,為中國古代佛塔中所少見。塔之各層各面均開有門,門拱上佈滿各色琉璃浮雕。塔外壁,由上至下,均嵌砌白色琉璃磚,每面磚上皆有浮雕佛像。塔壁上另有琉璃浮雕之四天王、金剛護法神和如來等像。塔頂冠以黃金風波銅鍍寶頂,上掛鐵索八條、銅鍋兩口、天盤一個、鐵圈九個。其造型甚美,工程亦大。惜於清咸豐年間(1851~1861)太平天國之役時焚燬。民國三十一年(1942),於舊址發現唐玄奘頂骨,三十三年于此建塔以安奉之,名三藏塔,塔為磚建,四面五層。
đại bát n
ê hoàn kinh Xem Kinh Đại Niết bàn.
đại bát nh
ã sơ phận Ba la mật Satasāhaśrīka-prajāpāramitā (S).
đại bát nhã ba la mật đa kinh
839梵名 Mahā-prajñāpāramitā-sūtra。凡六百卷。略稱大般若經。唐代玄奘譯。收於大正藏第五至七冊。「般若波羅蜜」,意即「通過智慧到達彼岸」。全經旨在說明世俗認識及其面對之一切對象,均屬因緣和合,假而不實,唯有通過「般若」對世俗真相之認識,方能把握絕對真理,達於覺悟解脫之境。為大乘佛教之基礎理論,亦為諸部般若經之集大成者。 般若部乃大藏經中最大部之經典,約占全部「經藏」三分之一;而大般若經即占般若部四分之三,其餘四分之一則為大品般若、小品般若、金剛般若等般若諸經。於經典成立之發展過程中,般若部諸經之先後次第,以道行般若、小品般若為最早,其次為大品般若、金剛般若等,其後乃為大般若經及其餘諸部般若之續出,其時約於大乘經典成立之中期。 玄奘之前,已有若干般若經之漢譯,然因未能周備,故玄奘乃集眾重譯,校合三種梵文原本,以嘉尚、大乘欽、大乘光、慧朗、窺基等人任「筆受」之職,玄則、神昉等人任「綴文」之職,慧貴、神泰、慧景等人任「證義」之職,於玉華宮寺,自高宗顯慶五年(660)正月至龍朔三年(663)十月譯成。翌年二月,玄奘即示寂於玉華宮寺。 全經共有四處十六會六百卷。四處,係指佛陀宣說本經之四個處所,即:王舍城鷲峰山、給孤獨園、他化自在天王宮、王舍城竹林精舍。十六會中,第一、三、五、十一、十二、十三、十四、十五、十六等九會為玄奘新譯,共計四八一卷,其餘七會為重譯。 第一會共七十九品,凡四百卷。此會詳述般若觀之開闡與習行、菩薩之願行進趣、般若之甚深殊勝,敘說諸大弟子、諸天、釋梵之供養讚歎因緣及受持一句之廣大功德,並由常啼、法涌二菩薩受般若之因緣,說明聽聞般若波羅蜜甚為難得。據法苑珠林卷一○○、開元釋教錄卷十一等所載,第一會之梵本共有十三萬二千六百頌。相當於現存之梵文十萬頌般若(梵 Śatasāhasrikā-prajñāpāramitā)。根據大正藏之對校,梵本凡有六章七十二品,內缺常啼菩薩、法涌菩薩、結勸等三品,其餘諸品之開合與漢譯本相異處頗多。西藏譯之各版本亦多同於梵本,惟奈塘(藏 Snar-than)版中具有常啼菩薩等三品,而共計七十五品。 第二會共有八十五品,凡七十八卷。與第一會相較,文略而義同,各品之廢立亦異,並缺常啼菩薩等三品。相當於現存之梵文二萬五千頌般若(梵 Pañcaviṃśatisāhasrikā-prajñāpāramitā),法苑珠林卷一○○、開元釋教錄卷十一等,亦載其梵本有二萬五千頌。西藏譯本分為七十六品,內有常啼品等。另據西明寺玄則所撰第二會序等載,西晉無羅叉譯之放光般若經二十卷、竺法護譯之光讚經十卷(缺後半)、姚秦鳩摩羅什譯之摩訶般若波羅蜜經二十七卷(大品)等諸經,皆為此會之同本異譯。 第三會共有三十一品,凡五十九卷。其旨趣雖與前兩會相近,而諸品之開合不同,亦缺常啼、法涌等三品。據法苑珠林卷一○○、開元釋教錄卷十一載,第三會梵本有一萬八千頌。相當於西藏譯一萬八千頌般若(藏 Śes-rab-kyi Pha-rol-tu-phyin-pa khri-brgyad-stoṅ-pa)西藏譯本共分八十七品,具有常啼菩薩品等。 第四會共有二十九品,凡十八卷。其大旨雖與前三會相同,文字則頗見省略。據玄則第四會序、法苑珠林、開元釋教錄等所載,後漢支婁迦讖譯之道行般若經十卷、吳‧支謙譯之大明度經六卷、後秦鳩摩羅什譯之小品般若波羅蜜經十卷等諸經,皆為此會之同本異譯(北宋施護譯之佛母出生三法藏般若波羅蜜多經二十五卷,亦與此會為同本),梵本共有八千頌。相當於現存之梵文八千頌般若(梵 Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā)。 第五會共有二十四品,凡十卷。所說較第四會尤為簡略,法苑珠林及開元釋教錄等書,皆記載其梵本為四千頌。 第六會共有十七品,凡八卷。乃佛對最勝天王說般若及其修習之法。此會與南朝陳代月婆首那譯之勝天王般若波羅蜜經七卷為同本。法苑珠林及開元釋教錄等,載其梵本共有二千五百頌。 第七會曼殊室利分二卷,相當於梵文七百頌般若(梵 Saptaśatikā-prajñāpāramitā),不另立品名。敘述曼殊室利及佛有關如來、有情界之一相不可得、福田相不可思議、一相莊嚴三摩地等之說法。此會與梁代曼陀羅仙譯之文殊師利所說摩訶般若波羅蜜經二卷(收載於大寶積經第四十六會)、僧伽婆羅譯之文殊師利所說般若波羅蜜經一卷為同本。法苑珠林、開元釋教錄等,載其梵本共有八百頌。 第八會那伽室利分一卷,記述妙吉祥菩薩有關一切法非實如幻夢及無上法食等之說法,與宋代翔公譯之濡首菩薩無上清淨分衛經二卷為同本。法苑珠林及開元釋教錄等,說其梵本共有四百頌。 第九會能斷金剛分一卷,相當於梵文金剛能斷般若波羅蜜多(Vajracchedikā-prajñāpāramitā)。乃佛對善現尊者說菩薩乘之發趣、般若之修行及心之攝伏等。此會與後秦鳩摩羅什、元魏菩提流支、陳‧真諦譯之金剛般若波羅蜜經各一卷,及隋代笈多譯之金剛能斷般若波羅蜜經一卷、唐代義淨譯之能斷金剛般若波羅蜜多經一卷等皆屬同本。法苑珠林及開元釋教錄等,說其梵本有三百頌。 第十會般若理趣分一卷,相當於梵文般若理趣百五十頌(Prajñāpāramitā-naya-śatapañcāśatikā)。乃佛為諸菩薩說一切法甚深微妙般若理趣清淨法門等。唐代菩提流志譯之實相般若波羅蜜經、金剛智譯之金剛頂瑜伽理趣般若經、不空譯之大樂金剛不空真實三麼耶經、宋代施護譯之徧照般若波羅蜜經各一卷,皆與此會為同本。法苑珠林及開元釋教錄等,載其梵本凡三百頌。至元法寶勘同總錄卷一則說此會與現存梵本相同,皆為一百五十頌。 第十一會布施波羅蜜多分以下至第十五會,相當於西藏譯 Pha-rol-tu-phyin-pa lṅa-bstan-pa。其中,第十一會布施波羅蜜多分五卷,舍利子為諸菩薩述說以大悲心行布施,則得攝受一切智智,證無上菩提等。佛對滿慈子闡明一切法非實有,無捨得損益之義,並以神力令大眾見十方世界無量菩薩之布施行,並宣說發心乃至菩提之差別、發心求一切智智之功德、一切智智相應作意之發起等。第十二會淨戒波羅蜜多分五卷,舍利子承佛神力而廣說淨戒之真義,闡明持守淨戒與非持淨戒之一一戒條,如發二乘心為犯戒,趣向無上正等菩提為持戒,味著施相、分別諸法、遠離一切智為犯戒。第十三會安忍波羅蜜多分一卷,滿慈子與舍利子之間,闡明安忍無上菩提之法,即以慚愧心作空觀,則止息鬥心而得安穩。第十四會精進波羅蜜多分一卷,佛對滿慈子闡釋住於般若,止息六情,精勤三學,完成菩薩行之道。第十五會靜慮波羅蜜多分二卷,佛在靈山會中對舍利子、滿慈子解說四禪、八解脫、九次第定等一切定,並說空般若三昧。據開元釋教錄載,第十一、十二兩會之梵本各為二千頌,第十三、十四兩會各為四百頌,第十五會為八百頌。法苑珠林則謂十四會之梵本為八百頌。 第十六會般若波羅蜜多分八卷,佛於王舍城竹林會中,對善勇猛菩薩遍說般若無所得解脫。法苑珠林及開元釋教錄等,載其梵本為二千五百頌。此會相當於現存梵文 Suvikrāntavikrāmi-paripṛcchā,西藏譯分為七章。 此十六會中,已有部分刊行出版其梵本及西藏譯本,如初會、第四會、第七會、第九會等。本經傳譯之後,西明寺玄則對十六會各別製序,大慈恩寺窺基作大般若波羅蜜多經理趣分述讚三卷、新羅元曉作大慧度經宗要一卷。另有大般若經關法六卷(宋代大隱)、大般若經綱要十卷(清代葛
; Mahā-prajāpāramitā sŪtra (P)Đại Bát nhã KinhGồm 600 quyển do ngài Huyền Trang dịch, chia thành 16 hội.
; Maha-Prajna-Paramita Sutra—See Đại Bát Nhã Kinh.
; (大般若波羅蜜多經) Phạm:Mahà-prajĩàpàramità-sùtra. Gồm 600 quyển, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. Gọi tắt: Đại bát nhã kinh, thu vào Đại chính tạng tập 5 đến tập 7. Bát nhã ba la mật đa nghĩa là trí tuệ đạt đến bờ bên kia (bờ giải thoát). Toàn bộ kinh nhắm mục đích nói rõ ràng, hết thảy mọi hiện tượng trong thế gian đều do nhân duyên (các mối quan hệ tương đối) hòa hợp mà có, là giả dối không thật. Phải nhận thức chân tướng của các pháp (hiện tượng) bằng trí tuệ bát nhã thì mới có thể nắm bắt được chân lí tuyệt đối mà đạt đến cảnh giới giác ngộ giải thoát. Kinh này là cơ sở lí luận của Phật giáo Đại thừa, và là tập đại thành của các bộ kinh Bát nhã. Bát nhã bộ là bộ kinh điển lớn nhất trong Đại tạng kinh, toàn bộ chiếm khoảng 1/3 tạng kinh, còn kinh Đại bát nhã thì chiếm 3/4 của toàn Bát nhã bộ, 1/4 còn lại thì thuộc các kinh Bát nhã như: Đại phẩm bát nhã, Tiểu phẩm bát nhã, Kim cương bát nhã v.v... Còn nói về thứ tự trước sau của các kinh thuộc Bát nhã bộ trong quá trình thành lập và phát triển của kinh điển, thì Đạo hành bát nhã và Tiểu phẩm bát nhã là sớm nhất, kế đó là Đại phẩm bát nhã và Kim cương bát nhã v.v..., sau hết là kinh Đại bát nhã và các bộ Bát nhã khác xuất hiện tiếp theo. Lúc ấy là khoảng thời kì giữa của sự thành lập kinh điển Đại thừa. Trước ngài Huyền trang đã có một số kinh Bát nhã được dịch ra Hán văn, nhưng vì chưa được đầy đủ nên ngài Huyền trang tổ chức dịch lại tại chùa Ngọc hoa cung với các ngài Gia thượng, Đại thừa khâm, Đại thừa quang, Tuệ lãng, Khuy cơ bút thụ, các ngài Huyền tắc, Thần phưởng nhuận văn, các ngài Tuệ quí, Thần thái, Tuệ cảnh chứng nghĩa. Công việc phiên dịch được bắt đầu vào tháng giêng năm Hiển khánh thứ 5 (660) đời vua Cao tông nhà Đường đến tháng 10 năm Long sóc thứ 3 (663) thì hoàn tất. Năm sau, ngài Huyền trang thị tịch tại chùa Ngọc hoa cung. Toàn bộ kinh Đại bát nhã gồm 600 quyển chia làm 16 hội do đức Phật đã tuyên thuyết ở bốn nơi: 1. Núi Linh thứu ở gần thành Vương xá. 2. Vườn Cấp cô độc. 3. Cung vua trời Tha hóa tự tại. 4. Tinh xá Trúc lâm ở gần thành Vương xá. Trong 16 hội thì 9 hội: 1, 3, 5, 11, 12, 13, 14, 15, 16 là dịch mới của ngài Huyền trang, gồm có 481 quyển, còn 7 hội kia là dịch lại. Hội thứ 1: Gồm 79 phẩm, 400 quyển, nội dung nói về việc mở rộng và tu tập pháp quán Bát nhã, hạnh nguyện của Bồ tát và sự sâu xa thù thắng của Bát nhã; tường thuật nhân duyên tán thán cúng dường của các vị Đại đệ tử, chư Thiên, Thích, Phạm và công đức rộng lớn của việc thụ trì Bát nhã dù chỉ với một câu, đồng thời, căn cứ vào nhân duyên thụ lãnh Bát nhã của hai bồ tát Thường đề và Pháp dũng mà nói rõ việc được nghe nói Bát nhã ba la mật là việc rất khó. Cứ theo Pháp uyển châu lâm quyển 100 và Khai nguyên thích giáo lục quyển 11 nói, thì nguyên bản tiếng Phạm của hội thứ 1 gồm có 132.600 kệ tụng, tương đương với 100.000 kệ tụng Bát nhã (Phạm: Zatasàhasrikà-prajĩàpàramità) tiếng Phạm hiện còn. Đối chiếu và so sánh với Đại chính tạng, thì bản tiếng Phạm gồm có 6 chương, 72 phẩm, trong đó, thiếu mất các phẩm là: Phẩm Bồ tát Thường đề, phẩm Bồ tát Pháp dũng và phẩm Kết khuyến, các phẩm còn lại có rất nhiều chỗ khác với bản Hán dịch. Nhưng các bản Tạng dịch cũng có nhiều chỗ giống bản tiếng Phạm và chỉ có bản Nại đường (Tạng:Snar - than) là có đủ 3 phẩm Thường đề, Pháp dũng và Kết khuyến mà thành 75 phẩm. Hội thứ 2: Gồm 85 phẩm, 78 quyển. So với hội thứ 1, về nghĩa thì giống nhau, nhưng văn thì ngắn gọn hơn, sự thay đổi các phẩm cũng khác và thiếu ba phẩm Thường đề, Pháp dũng v.v... Tương đương với 25.000 kệ tụng Bát nhã (Phạm: Paĩcaviôzatisàhasrikà-prajĩàpàramità) hiện còn. Bản dịch Tây tạng chia làm 76 phẩm, trong có các phẩm Thường đề v.v... Theo bài tựa của hội thứ 2 do ngài Huyền tắc ở chùa Tây minh soạn, thì các kinhnhư: Phóng quang bát nhã 20 quyển do ngài Vô xoa la dịch vào đời Tây Tấn, kinh Quang tán (thiếu nửa sau) 10 quyển do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn, kinh Ma ha bát nhã ba la mật 27 quyển (Đại phẩm) do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần v.v... đều là những bản dịch khác của hội này. Hội thứ 3: Gồm 31 phẩm, 59 quyển. Về chỉ thú thì gần giống với hai hội trước, nhưng các phẩm thì khác nhau và cũng thiếu 3 phẩm Thường đề, Pháp dũng v.v... Theo Pháp uyển châu lâm quyển 100 và Khai nguyên thích giáo lục quyển 11, thì nguyên bản tiếng Phạm của hội thứ 3 gồm 18.000 kệ tụng, tương đương với 18.000 tụng Bát nhã của bản dịch Tây tạng (Tạng: Zes-rab-kyi Pha-rol-tu phyin-pa khri-brgyad-stoí-pa). Bản dịch Tây tạng chia làm 87 phẩm, có đủ ba phẩm Thường đề v.v... Hội thứ 4: Gồm 29 phẩm, 18 quyển. Về yếu chỉ thì giống với ba hội trước, nhưng văn rất tỉnh lược. Theo bài Tựa hội thứ 4 của ngài Huyền tắc và Pháp uyển châu lâm, Khai nguyên thích giáo lục, thì các kinh như: Đạo hành bát nhã 10 quyển do ngài Chi lâu ca sấm dịch vào đời Hậu Hán, kinh Đại minh độ 6 quyển do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, kinh Tiểu phẩm bát nhã ba la mật 10 quyển do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần v.v... đều là những bản dịch khác của hội này (kinh Phật mẫu xuấtsinh tam pháp tạng bát nhã ba la mật đa 25 quyển do ngài Thí hộ dịch vào đời Bắc Tống cũng là cùng bản với hội này). Bản tiếng Phạm gồm 8.000 kệ tụng, tương đương với 8.000 tụng Bát nhã (Phạm:Awỉasàhasrikà-prajĩàpàramità) hiện còn. Hội thứ 5: Gồm 24 phẩm, 10 quyển. Nội dung rất vắn tắt so với bốn hội trước. Pháp uyển châu lâm và Khai nguyên thích giáo lục đều nói bản tiếng Phạm của hội này có 4.000 tụng. Hội thứ 6: Gồm 17 phẩm, 8 quyển. Nội dung hội này là đức Phật nói pháp Bát nhã và cách tu tập Bát nhã cho Thắng thiên vương nghe. Hội này cùng bản với kinh Thắng thiên vương Bát nhã ba la mật đa 7 quyển do ngài Nguyệt bà thủ na dịch vào đời Trần thuộc Nam triều. Pháp uyển châu lâm và Khai nguyên thích giáo lục nói, nguyên bản tiếng Phạm của hội này là 2.500 kệ tụng. Hội thứ 7: Phần Mạn thù thất lợi, 2 quyển, tương đương với 700 kệ tụng Bát nhã (Phạm: Saptazatikà-prajĩàpànamità) tiếng Phạm, không lập tên phẩm riêng. Nội dung tường thuật việc ngài Mạn thù thất lợi và đức Phật thuyết pháp về nhất tướng của Như lai và của hữu tình giới là bất khả đắc, tướng của phúc điền là bất khả tư nghị, nhất tướng trang nghiêm tam ma địa v.v... Hội này là cùng bản với kinh Văn thù sư lợi sở thuyết ma ha bát nhã ba la mật 2 quyển, do ngài Mạn đà la tiên dịch vào đời Lương (thu vào hội thứ 46 trong kinh Đại bảo tích) và kinh Mạn thù sư lợi sở thuyết bát nhã ba la mật 1 quyển, do ngài Tăng già ba la dịch (cũng vào đời Lương). Pháp uyển châu lâm và Khai nguyên thích giáo lục nói bản tiếng Phạm của hội này có 800 kệ tụng. Hội thứ 8: Phần Na già thất lợi, 1 quyển. Nội dung tường thuật việc bồ tát Diệu cát tường thuyết giảng về các pháp thế gian như mộng huyễn chẳng phải thật có và về pháp vị vô thượng. Hội này là đồng bản với kinh Nhu thủ bồ tát vô thượng thanh tịnh phân vệ 2 quyển, do Tường công dịch vào đời Tống. Pháp uyển châu lâm và Khai nguyên thích giáo lục nói bản tiếng Phạm của hội này có 400 kệ tụng. Hội thứ 9: Năng đoạn kim cương phần, 1 quyển. Tương đương với Kim cương năng đoạn bát nhã ba la mật đa (Phạm:Vajracchedikàprajĩàpàramità) tiếng Phạm. Nội dung đức Phật nói về việc phát tâm hướng tới Bồ tát thừa, tu hành theo Bát nhã và phương pháp nhiếp phục tâm cho tôn giả Thiện hiện (Tu bồ đề) nghe. Các kinh: Kim cương bát nhã ba la mật 1 quyển do các ngài: Cưu ma la thập đời Diêu Tần, Bồ đề lưu chi đời Nguyên Ngụy và ngài Chân đế đời Trần dịch, kinh Kim cương năng đoạn bát nhã ba la mật 1 quyển, do ngài Cấp đa dịch vào đời Tùy, và kinh Năng đoạn kim cương bát nhã ba la mật đa 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường v.v... đều là đồng bản của hội này. Pháp uyển châu lâm và Khai nguyên thích giáo lục nói bản tiếng Phạm của hội này có 300 kệ tụng. Hội thứ 10: Phần Bát nhã lí thú, 1 quyển, tương đương với 150 kệ tụng Bát nhã lí thú (Phạm:Prajĩàpàramità-nayazatapaĩcàzatikà) tiếng Phạm hiện còn. Nội dung đức Phật nói về pháp môn: Nhất thiết pháp thậm thâm vi diệu Bát nhã lí thú thanh tịnh cho các Bồ tát nghe. Các kinh: Thực tướng bát nhã ba la mật do ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Đường, Kim cương đính du già lí thú bát nhã do ngài Kim cương trí dịch, Đại lạc kim cương bất không chân thực tam ma da do ngài Bất không dịch, Biến chiếu bát nhã ba la mật do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống v.v... mỗi thứ 1 quyển, đều là cùng bản với hội này. Theo Pháp uyển châu lâm và Khai nguyên thích giáo lục nói, thì bản tiếng Phạm của hội này gồm 300 kệ tụng. Nhưng Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục quyển 1 thì bảo hội này và nguyên bản tiếng Phạm hiện còn giống nhau, đều gồm 150 bài tụng. Hội thứ 11: Phần Bố thí ba la mật đa, 5 quyển. Nội dung ngài Xá lợi phất nói với các vị Bồ tát là nếu đem lòng đại bi làm việc bố thí, thì sẽ được Nhất thiết trí trí, chứng Vô thượng bồ đề. Còn đức Phật thì vì Mãn từ tử mà nói rõ nghĩa tất cả pháp chẳng phải thực có, không có được, mất, lợi, hại, đồng thời, Ngài dùng sức thần thông khiến đại chúng thấy các Bồ tát trong vô lượng thế giới ở 10 phương đang tu hạnh bố thí và phát tâm cầu Nhất thiết trí. Hội thứ 12: Phần Tịnh giới ba la mật đa, 5 quyển. Nội dung ngài Xá lợi phất nhờ sức thần thông của đức Phật mà nói rộng về nghĩa chân thực của tịnh giới, chỉ bảo rõ thế nào là giữ giới và thế nào là phạm giới. Như: Phát tâm Nhị thừa là phạm giới, hướng tới Vô thượng chính đẳng bồ đề là giữ giới; dính mắc vào tướng bố thí, phân biệt các pháp, xa lìa nhất thiết trí là phạm giới v.v... Hội thứ 13: Phần An nhẫn ba la mật đa, 1 quyển. Nội dung ngài Mãn từ tử và Xá lợi phất nói rõ về pháp An nhẫn vô thượng bồ đề, tức là nếu đem tâm tàm quí mà tu pháp quán không thì sẽ chấm dứt tâm tranh đấu, được an ổn. Hội thứ 14: Phần Tinh tiến ba la mật, 1 quyển. Nội dung đức Phật giải thích rõ cho Mãn từ tử về việc an trụ nơi Bát nhã, ngăn dứt sáu tình, siêng chăm ba học: Đó là con đường dẫn đến hoàn thành hạnh Bồ tát. Hội thứ 15: Phần Tĩnh lự ba la mật đa, 2 quyển. Nội dung đức Phật ở trong hội Linh sơn nói về tất cả thiền định như: Tứ thiền, Bát giải thoát, Cửu thứ đệ định v.v... đồng thời, Ngài nói về Không bát nhã tam muội cho các tôn giả Xá lợi phất và Mãn từ tử nghe. Theo Khai nguyên thích giáo lục, bản tiếng Phạm của hai hội thứ 11, 12 mỗi hội là 2.000 kệ tụng, hai hội 13, 14 mỗi hội 400 kệ tụng, hội 15 có 800 kệ tụng. Nhưng Pháp uyển châu lâm bảo bản tiếng Phạm của hội 14 là 800 kệ tụng. Hội thứ 16: Phần Bát nhã ba la mật đa, 8 quyển. Nội dung đức Phật ở trong hội Trúc lâm, thành Vương xá nói cho bồ tát Thiện dũng mãnh nghe về giải thoát Bát nhã vô sở đắc. Pháp uyển châu lâm và Khai nguyên thích giáo lục nói, nguyên văn bản tiếng Phạm của hội này gồm 2500 kệ tụng, tương đương tiếng Phạm hiện còn: Suvikràntavikràmiparipfcchà, bản dịch Tây tạng chia làm 7 chương. Trong 16 hội nêu trên đây, đã có một số hội được ấn hành nguyên bản tiếng Phạm và bản dịch Tây tạng, như các hội thứ 1, thứ 4, thứ 7, thứ 9 v.v... Sau khi kinh này được truyền dịch, ngài Huyền tắc ở chùa Tây minh có viết lời tựa cho mỗi hội trong 16 hội, ngài Khuy cơ ở chùa Đại từ ân soạn Đại Bát nhã ba la mật đa kinh Lí thú phần thuật tán 3 quyển, ngài Nguyên hiểu người Tân la (Triều tiên) thì soạn Đại tuệ độ kinh tông yếu 1 quyển. Ngoài ra còn có Đại bát nhã kinh quan pháp 6 quyển của ngài Đại ẩn đời Tống, Đại bát nhã kinh cương yếu 10 quyển của ngài Cát đỉnh đời Thanh v.v... Rồi đến Đại tạng kinh cương mục chỉ yếu lục quyển 1, quyển 2 thượng, Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục quyển 1, Duyệt tạng tri tân quyển 16 đến quyển 23 v.v... cũng đều có nói về cương yếu của kinh này. Số hội, số kệ tụng, quyển thứ, số phẩm, cùng bản dịch khác, người dịch của kinh này được đồ biểu như sau: [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Đại đường cố tam tạng pháp sư Huyền trang hành trạng; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.1; Phật giáo kinh điển khái thuyết; Tân Phật giáo thứ 9 mục 7 (Độ biên Hải húc, Đại bát nhã kinh khái quan); Tông giáo nghiên cứu tân thứ 2 đoạn 4 (Can tả Long trường, Bát nhã kinh chi chư vấn đề); Nguyên thủy bát nhã kinh chi nghiên cứu].
đại bát nhã hội
839請參閱 大般若波羅蜜多經 日本佛教用語。即為鎮國除災而講讚或轉讀大般若經之法會。又作大般若經會、般若會。般若,智慧之義;又大般若經凡六百卷,乃古來一切經之首位,供養之,有無上之功德。
; (大般若會) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tức là Pháp hội giảng diễn hoặc đọc tụng kinh Đại bát nhã để cầu quốc thái dân an. Cũng gọi Đại bát nhã kinh hội, Bát nhã hội. Kinh Đại bát nhã gồm 600 quyển, là bộ kinh ở vào hàng đầu của tất cả các kinh, cúng dường kinh này sẽ được vô lượng công đức.
đại bát nhã kinh
Xem Đại Bát Nhã Ba la mật đa kinh.
; The Maha-prajna-paramita sutra—Kinh thuyết về triết lý căn bản Đại Thừa và Lục Ba La Mật. Người ta nói rằng Phật đã thuyết Kinh nầy cho 16 chúng hội ở bốn nơi khác nhau: Linh Thứu Sơn, Thành Xá Vệ, Cung trời Tha Hóa Tự Tại, và Trúc Lâm Tịnh Xá. Kinh gồm 600 quyển được Ngài Trần Huyền Trang dịch sang Hoa Ngữ vào thời nhà Đường—The fundamental philosophical work of the Mahayana school, the formulation of wisdom, which is the sixth paramita. It is said to have been delivered by Sakyamuni in four places at sixteen assemblies: Gridhrakuta near Rajagrha (Vulture Peak), Sravasti, Paranirmitavasavartin, and Veluvana near Rajagrha (Bamboo Garden). It consists of 600 books as translated by Hsuan-Tsang under the T'ang dynasty.
đại bát niết bàn
844梵語 mahā-parinirvāṇa。音譯作摩訶般涅槃那。略稱涅槃。指大滅度、大圓寂,為佛完全解脫之境地。據天台四教儀集註卷上之說,大者,為法身;滅者,為解脫;度者,為般若,即三德祕藏。北本涅槃經卷二十六(大一二‧五二一中):「菩薩摩訶薩修大涅槃,於一切法悉無所見,若有見者,不見佛性,不能修習般若波羅蜜,不得入於大般涅槃。」〔入楞伽經卷二、俱舍論光記卷六〕(參閱「涅槃」4149)
; Mahàparinirvàna-sùtra (S). Sùtra of the Great Decease.
; Mahaparinirvana—Great Nirvana (skt)—Đại nhập diệt hay sự nhập diệt lớn. Đại Thừa giải thích đây là sự chấm dứt dục vọng và ảo tưởng của mọi sinh hoạt trong luân hồi sanh tử, nó vượt ra ngoài mọi khái niệm. Đây không phải là một sự hoại diệt hoàn toàn hay chấm dứt hiện hữu, sự tái xuất hiện của Nhiên Đăng Cổ Phật cùng với Phật Thích Ca trên đỉnh Linh Thứu đã làm sáng tỏ ý nghĩa nầy. Đây là một trạng thái vượt ra ngoài mọi ngôn từ diễn đạt của con người—The great or final entrance into extinction and cessation. It is interpreted in Mahayana as meaning the cessation or extinction of passion and delusion of mortality, and of all activities, and deliverance into a state beyond these concepts. In Mahayana it is not understood as the annihilation, or cessation of existence; the reappearance of Dipamkara (who had long entered nirvana) along with Sakyamuni on the Vulture Peak supports this view. It is a state above all terms of human expression.
; (大般涅槃) Phạm: Mahà-parinirvàịa. Dịch âm: Ma ha bát niết bàn na. Gọi tắt: Niết bàn. Hàm ý đại diệt độ, đại viên tịch, là cảnh giới hoàn toàn giải thoát của chư Phật. Cứ theo Thiên thai tứ giáo nghi tập chú quyển thượng, thì Đại là pháp thân, Diệt là giải thoát. Độ là bát nhã, tức là ba đức sâu kín của chư Phật. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 26 (Đại 12, 521 trung), nói: Bồ tát ma ha tát tu Đại niết bàn, đối với tất cả pháp đều không có kiến chấp, nếu có kiến chấp thì không thấy tính Phật, không thể tu tập bát nhã ba la mật, không vào được cảnh giới Đại niết bàn. [X. kinh Nhập lăng già Q.2; Câu xá luận quang kí Q.6]. (xt. Niết Bàn).
đại bát niết bàn hậu phần kinh
Hậu Phần Niết Bàn Kinh, gồm hai quyển, được ngài Nhạ Na Bạt Đà La dịch vào đời nhà Đường, nói về sự nhập diệt của Phật và sự phân chia xá lợi—Treaties on the Mahaparinirvana Sutra, two books, translated into Chinese by Jnanabhadra under the T'ang dynasty, the sutra explained about the passing away of the Buddha and the divisions of his relics.
Đại Bát Niết Bàn Kinh
(s: Mahāparinirvāṇasūtra, c: Ta-pan-nieh-p'an-ching, j: Daihatsunehankyō, 大般涅槃經): còn gọi là Niết Bàn Kinh (涅槃經), Bắc Bổn Niết Bàn Kinh (北本涅槃經), 40 quyển, hiện còn, Taishō 12, 365, No. 374, Đàm Vô Sấm (曇無讖, 385-433) dịch từ năm 416-423 (niên hiệu Huyền Thỉ [玄始] thứ 3-10) đời Bắc Lương.
đại bát niết bàn kinh
844請參閱 大般涅槃經集解 梵名 Mahā-parinirvāṇa-sūtra。<一>凡四十卷。北涼曇無讖譯。又作大涅槃經、涅槃經、大經。今收於大正藏第十二冊。係宣說如來常住、眾生悉有佛性、闡提成佛等之教義。屬大乘涅槃經。共分十三品:(一)壽命品,(二)金剛身品,(三)名字功德品,(四)如來性品,(五)一切大眾所問品,(六)現病品,(七)聖行品,(八)梵行品,(九)嬰兒行品,(十)光明遍照高貴德王菩薩品,(十一)師子吼菩薩品,(十二)迦葉菩薩品,(十三)憍陳如品。 本經以阿含、法句經為始,並援引首楞嚴經、瞿師羅經、摩訶般若波羅蜜經、法華經、城經、雜華經等,所受般若經之影響不小。本經係於北涼玄始十年(421),依河西王沮渠蒙遜之請,於姑臧譯出。據大唐西域求法高僧傳卷上會寧傳,與西藏譯本之經末所記載,本經之梵本原有二萬五千偈。西藏譯本共有兩種譯本,兩本皆題為大般涅槃經(藏 Yoṅs-su mya-ṅan-las-ḥdus-pa chen-poḥi mdo),一本譯自梵本,相當於本經之初分五品,另一本則轉譯自漢譯本,相當於本經及「大般涅槃經後分」。又本經由曇無讖譯出後,傳於南方宋地,經慧嚴、慧觀、謝靈運等人,對照法顯所譯之六卷泥洹經,增加品數,重修而成二十五品三十六卷(收於大正藏第十二冊),古來稱之為南本涅槃經;對此,曇無讖譯本則稱為北本涅槃經。此外,一八七一年,英國學者比爾(S. Beal)曾將本經之卷十二、卷三十九譯為英文出版。 本經之注疏極多,較重要者有涅槃論一卷(元魏達磨菩提譯)、涅槃經本有今無偈論一卷(陳‧真諦譯)、大般涅槃經集解七十一卷(梁代寶亮等集)、涅槃經義記十卷(隋代慧遠)、涅槃經玄義二卷(灌頂)、涅槃經疏三十三卷(灌頂)、涅槃經遊意一卷(吉藏)、涅槃經疏十五卷)唐代法寶)、涅槃經宗要一卷(新羅元曉)等。〔梁高僧傳卷七慧嚴傳、出三藏記集卷八、卷十五、法經錄卷一、大唐內典錄卷三、閱藏知津卷二十五〕 <二>凡三卷。東晉法顯譯。又作方等泥洹經。今收於大正藏第一冊。內容敘述佛陀入滅前後之情況。屬小乘涅槃經。本經缺少大乘涅槃經所說之「佛身常住」、「眾生悉有佛性」、「闡提成佛」等論旨。其異譯本有三:(一)西晉白法祖所譯之佛般泥洹經二卷,(二)東晉譯(譯者不詳)之般泥洹經二卷,(三)姚秦佛陀耶舍、竺佛念共譯之長阿含遊行經三卷。此外,今人巴宙亦譯有大般涅槃經,係從南傳巴利文經典譯出。〔開元釋教錄卷十三、出三藏記集卷二、至元法寶勘同總錄卷六、法經錄卷三〕(參閱「大乘涅槃經」819)
; Daihatsu Nehangyō (J)Tên một bộ kinh.Xem Kinh Đại Niết bàn.
; Niết Bàn Kinh, được Phật Thích Ca thuyết giảng trước khi Ngài nhập diệt, kinh giảng về đại nhập diệt—The Maha parinirvana sutra—Nirvana Sutra which was delivered by Sakyamuni before his death, explained the great or final entrance into extinction and cessation. (A) Hai bản kinh của trường phái Tiểu Thừa được tìm thấy trong Trường A Hàm Du Hành Kinh—The two Hinayana versions are found in the Long Agama (B) Hai bản kinh bằng Hoa ngữ của Đại Thừa—The Mahayana has two Chinese versions 1) Bắc Bản Niết Bàn Kinh gồm 40 quyển: The Northern in 40 books. 2) Nam Bản Niết Bàn Kinh gồm 36 quyển, được sữa lại từ Bắc Bản: The Southern in 36 books, a revision of the Northern version.
; (大般涅槃經) Phạm:Mahà-parinirvàịa-sùtra. I. Đại Ban Niết Bàn Kinh. Gồm 40 quyển, do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương. Cũng gọi Đại niết bàn kinh, Niết bàn kinh, Đại kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 12. Nội dung kinh này giảng nói về giáo nghĩa Như lai thành Phật, chúng sinh đều có tính Phật, Xiển đề thành Phật v.v... gồm có 13 phẩm. 1. Phẩm Thọ mệnh. 2. Phẩm Kim cương thân. 3. Phẩm Danh tự công đức. 4. Phẩm Như lai tính. 5. Phẩm Nhất thiết đại chúng sở vấn. 6. Phẩm Hiện bệnh. 7. Phẩm Thánh hạnh. 8. Phẩm Phạm hạnh. 9. Phẩm Anh nhi hạnh. 10. Phẩm Quang minh biến chiếu cao quí đức vương bồ tát. 11. Phẩm Sư tử hống bồ tát. 12. Phẩm Ca diếp bồ tát. 13. Phẩm Kiều trần như. Kinh này lấy kinh A hàm, kinh Pháp cú làm đầu, đồng thời, có viện dẫn các kinh: Thủ lăng nghiêm, Cù sư la, Ma ha bát nhã ba la mật, Pháp hoa, Thành kinh, Tạp hoa v.v... nhưng chịu ảnh hưởng kinh Bát nhã nhiều hơn cả. Kinh này do ngài Đàm vô sấm dịch tại Cô tang vào năm Huyền thủy thứ 10 đời Bắc Lương theo lời thỉnh cầu của Hà tây vương là Thư cừ Mông tốn. Cứ theo Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện quyển thượng truyện Hội ninh và bản dịch Tây tạng (phần cuối) ghi chép, thì bản tiếng Phạm của kinh này gồm 25.000 bài kệ. Có hai loại bản dịch Tây tạng và cả hai đều đề tựa là: Đại bát niết bàn kinh (Tạng: Yoṅs-su mya-ṅan-las-ḥdus-pa chen-poḥi mdo). Một bản dịch thẳng từ tiếng Phạm, tương đương với 5 phẩm của phần đầu kinh này, còn một bản thì dịch lại từ bản Hán dịch, tương đương với kinh này và kinh Đại bát niết bàn hậu phần. Sau khi kinh này được dịch ra và truyền xuống miền Nam (đất nhà Tống), các sư Tuệ nghiêm, Tuệ quán và cư sĩ Tạ linh vận đối chiếu với kinh Nê hoàn (6 quyển) do ngài Pháp hiển dịch, thêm vào một số phẩm, rồi sửa lại mà thành 25 phẩm 36 quyển (thu vào Đại chính tạng tập 12) mà xưa nay thường gọi là Nam bản Niết bàn kinh (kinh Niết bàn bản Nam). Đối lại, bản dịch của ngài Đàm vô sấm thì được gọi là Bắc bản Niết bàn kinh. Ngoài ra, năm 1871, một học giả người Anh tên S. Beal đã dịch quyển 12 và quyển 39 của kinh này ra tiếng Anh và xuất bản. Kinh này có rất nhiều sách chú giải, quan trọng hơn cả thì có: Niết bàn luận 1 quyển (ngài Đạt ma bồ đề dịch vào đời Nguyên Ngụy), Niết bàn kinh bản hữu kim vô kệ luận 1 quyển (ngài Chân đế dịch vào đời Trần), Đại bát niết bàn kinh tập giải 71 quyển(nhóm các sư Bảo lượng thu tập vào đời Lương), Niết bàn kinh nghĩa kí 10 quyển (ngài Tuệ viễn soạn vào đời Tùy), Niết bàn kinh huyền nghĩa 2 quyển (Quán đính), Niết bàn kinh sớ 33 quyển (Quán đính), Niết bàn kinh du ý 1 quyển(Cát tạng), Niết bàn kinh sớ15 quyển(Pháp bảo đời Đường), Niết bàn kinh tông yếu 1 quyển (Nguyên hiểu, người Tân la) v.v... [X. Lương cao tăng truyện Q.7 truyện Tuệ nghiêm; Xuất tam tạng kí tập Q.8; Q.15; Pháp kinh lục Q.1; Đại đường nội điển lục Q.3; Duyệt tạng tri tân Q.25]. II. Đại Ban Niết Bàn Kinh. Gồm 3 quyển, do ngài Pháp hiển dịch vào đời Đông Tấn. Cũng gọi Phương đẳng Nê hoàn kinh, thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung tường thuật tình hình trước và sau khi đức Phật nhập diệt, là kinh Niết bàn của Tiểu thừa, kinh này thiếu phần nói về Phật thân thường trụ, Chúng sinh đều có tính Phật, Xiển đề thành Phật v.v... Ngoài ra, kinh này còn có ba bản dịch khác: 1. Kinh Phật ban nê hoàn 2 quyển, do ngài Bạch pháp tổ dịch vào đời Tây Tấn. 2. Kinh Ban nê hoàn 2 quyển, được dịch vào đời Đông Tấn (không rõ dịch giả). 3. Kinh Du hành 3 quyển trong Trường a hàm, do các ngài Phật đà da xá và Trúc Phật niệm dịch vào đời Diêu Tần. Ngoài ra gần đây còn có kinh Đại ban niết bàn do Ba trụ dịch từ kinh văn Pàli Nam truyền. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.30; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.6; Pháp kinh lục Q.3]. (xt. Đại Thừa Niết Bàn Kinh).
đại bát niết bàn kinh bộ
Mahā-parinirvāṇa-sŪtra (S), Myang hdas (T)Đại diệt độ1- Maha-Parinirvana Sutra: Đại Bát Niết bàn kinh 2- Đại bát Niết bàn còn là cảnh giới giải thoát hoàn toàn của chư Phật.
đại bát niết bàn kinh huyền nghĩa
844凡二卷。略稱涅槃經玄義。灌頂(561~632)撰。今收於大正藏第三十八冊。本書乃涅槃經最重要之解說書。卷首為序論,將涅槃分為別釋與通釋兩類解釋之,而以法身、般若、解脫等三德說明涅槃經;又將涅槃經分為釋名、釋體、釋宗、釋用、釋教等五科段。此種「名、體、宗、用、教」之分科法,本為智顗獨特之見解,灌頂即繼承其師,以之為本而立論。其後,智圓亦根據天台宗之立場解釋涅槃經,而有涅槃玄義發源機要四卷之作,是為本書之註疏。
; (大般涅槃經玄義) Gồm 2 quyển. Gọi tắt: Niết bàn kinh huyền nghĩa, do ngài Quán đính (561-632) soạn, thu vào Đại chính tạng tập 38. Đây là bộ sách giải thuyết kinh Niết bàn quan trọng nhất. Ở đầu quyển có Tự luận, trong đó chia phần giải thích làm hai loại: Biệt thích, Thông thích, và dùng ba đức: Pháp thân, Bát nhã, Giải thoát để thuyết minh kinh Niết bàn. Sau đó lại chia kinh làm 5 khoa là: Thích danh, Thích thể, Thích tông, Thích dụng và Thích giáo. Phương pháp chia khoa này vốn là kiến giải riêng của ngài Trí khải. Về sau, sư Trí viên cũng căn cứ vào lập trường giải thích kinh Niết bàn của tông Thiên thai mà soạn Niết bàn huyền nghĩa phát nguyên cơ yếu 4 quyển, để chú thích bộ Đại bát niết bàn kinh huyền nghĩa này.
đại bát niết bàn kinh hậu phần
846凡二卷。唐代若那跋陀羅譯。又作大般涅槃經荼毘分、大涅槃經後譯荼毘分、涅槃經後分、闍維分、後分。敘述佛入滅前後之事蹟。收於大正藏第十二冊。西藏藏經則將本經附於大般涅槃經末尾。係自漢譯本中轉譯者。分為四品半,即憍陳如品餘、遺教品、應盡還源品、機感荼毘品、聖軀廓潤品。 關於本經之傳譯,據大唐西域求法高僧傳卷上會寧傳、大周刊定眾經目錄卷二載,本經乃唐麟德年中(664~665),南天竺僧若那跋陀羅與唐僧會寧於南海波陵國所共譯,於儀鳳年初送至長安。本經世稱為曇無讖譯大般涅槃經後分。憍陳如品餘即補續大般涅槃經之憍陳如品,然本經所記,多同於長阿含遊行經等之說,即小乘涅槃之文,與曇無讖所譯大乘涅槃之意不同,故義淨認為本經與大乘涅槃頗不相涉;然開元釋教錄卷十一則以經中所說(大五五‧五九一上):「常樂我淨,佛菩薩境界,非二乘所知。」及經初所題之「憍陳如品末」,而認為本經與大涅槃義理相涉、文勢相接。 據灌頂之大般涅槃經疏卷三十三引居士請僧經,可知在唐代以前,大般涅槃經即有燒身品、起塔品、囑累品等三品後分經之說。然出三藏記集卷五之疑經偽撰雜錄,將居士請僧經編入疑錄。又宋代智圓之涅槃經疏三德指歸卷二十,謂本經之遺教、還源二品相當於囑累品,荼毘、廓潤二品相當於燒身品,起塔品則尚未傳至中土。另據止觀輔行傳弘決卷六之三載,涅槃後分本在偽目,至大唐刊定始入正經。依此推之,居士請僧經若屬偽經,則本經或為會寧等人偽撰亦未可知。〔宋高僧傳卷二智賢傳、貞元新定釋教目錄卷十二、大藏綱目指要錄卷三、閱藏知津卷二十五〕
; (大般涅槃經後分) Gồm 2 quyển, do ngài Nhã na bạt đà la dịch vào đời Đường. Cũng gọi Đại bát niết bàn kinh đồ tì phần, Niết bàn kinh hậu phần, Xà duy phần, Hậu phần. Thu vào Đại chính tạng tập 12. Nội dung tường thuật về sự tích trước và sau khi đức Phật nhập diệt. Trong tạng kinh Tây tạng, kinh này được thêm vào ở cuối kinh Đại bát niết bàn. Kinh này chia làm 4 phẩm rưỡi là: 1. Phẩm Di giáo. 2. Phẩm Ứng tận hoàn nguyên. 3. Phẩm Cơ cảm đồ tì. 4. Phẩm Thánh khu khuếch nhuận và phần còn lại của phẩm Kiều trần như. Cứ theo Đại đường cầu pháp cao tăng truyện Hội minh truyện và Đại chu san định chúng kinh mục lục quyển 2 nói, thì kinh này là do hai ngài Nhã na bạt đà la người Nam thiên trúc và Hội ninh người Trung quốc dịch trong năm Lân đức (664- 665) đời Đường tại nước Ba lăng vùng Nam hải, và được đưa về Trường an vào đầu năm Nghi phụng. Kinh này được gọi là Đàm vô sấm dịch Đại bát niết bàn kinh hậu phần (Phần sau của kinh Đại bát niết bàn do Đàm vô sấm dịch). Nhưng, những việc tường thuật trong kinh này phần nhiều giống với nội dung của kinh Du hành trong Trường a hàm, tức là văn Niết bàn Tiểu thừa, khác với ý trong kinh Đại bát niết bàn do ngài Đàm vô sấm dịch. Cho nên ngài Nghĩa tịnh nhận định là kinh này không dính dáng gì đến Niết bàn Đại thừa. Song, Khai nguyên thích giáo lục quyển 11 thì căn cứ vào những câu như (Đại 55, 591 thượng): Thường lạc ngã tịnh, cảnh giới của Phật và Bồ tát không phải là chỗ mà Nhị thừa có thể biết được... mà cho kinh này có mang nghĩa lí của Niết bàn Đại thừa, và mạch văn liên tiếp nhau. Theo Đại bát niết bàn kinh sớ quyển 33 của ngài Quán đính dẫn lời kinh Cư sĩ thỉnh tăng thì biết, trước đời Đường, kinh Đại bát niết bàn hậu phần còn có ba phẩm là: Phẩm Thiêu thân, phẩm Khởi tháp, phẩm Chúc lụy. Nhưng mục Nghi kinh ngụy soạn tạp lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 5 xếp kinh Cư sĩ thỉnh tăng vào loại Kinh tồn nghi (kinh còn ngờ là giả). Lại Niết bàn kinh sớ tam đức chỉ qui quyển 20 của ngài Trí viên đời Tống cho rằng, phẩm Di giáo và phẩm Hoàn nguyên của kinh này tương đương với phẩm Chúc lụy, phẩm Đồ tì và phẩm Khuếch nhuận tương đương với phẩm Thiêu thân, còn phẩm Khởi tháp thì vẫn chưa được truyền đến Trung quốc. Ngoài ra, Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 6 đoạn 3 nói, Niết bàn hậu phần vốn nằm trong Ngụy mục (mục kinh giả), mãi đến Đại Đường san định mới được xếp vào loại kinh chính. Cứ đó suy ra, nếu kinh Cư sĩ thỉnh tăng là kinh giả, thì kinh Niết bàn hậu phần có lẽ đã do các vị Hội ninh giả tạo chăng? Điều này cũng chưa thể biết chắc được. [X. Tống cao tăng truyện Q.2 truyện Trí hiền; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.12; Đại tạng cương mục chỉ yếu lục Q.3; Duyệt tạng tri tân Q.25].
đại bát niết bàn kinh luận
Gồm một quyển được Ngài Thiên Thân Bồ Tát biên soạn và Tổ Bồ Đề Đạt Ma dịch sang Hoa ngữ—One book (sastra) on the Parinirvana Sutra, composed by Vasubandhu and translated into Chinese by Bodhidharma.
đại bát niết bàn kinh sớ
846凡三十三卷。隋代灌頂撰。又作南本涅槃經疏、涅槃經疏。今收於大正藏第三十八冊。本書係以天台教旨解釋南本涅槃經,並隨處以南本涅槃經與方等般泥洹經、大般泥洹經、北本涅槃經等經辨其異同。灌頂於大業十年(614)至十五年間撰著之,原書僅有釋文十二卷、玄義一卷,書中唯以科句節斷經文。其後荊溪湛然再治之,於諸文之下,冠上「私謂」或「私云」之語,以彰顯其義。荊溪再治本共有十五卷。南宋度宗咸淳八年(1272),師正以原疏之科句分別標示於經中,於元世祖至元十九年(1282)開版。至明朝萬曆年中,圓澄更將經文與注疏彙編成會疏三十六卷,並製條箇三卷,然後人對其所作會疏頗有「擅自筆削,混淆涇渭」之貶。日本守篤本純重行取十五卷疏會入經文,校合諸本,附上注解,共成三十六卷刊行之。此外,本書另有十八卷、二十卷、三十三卷等諸種版本。本書之注疏有私記十二卷(行滿)、私記九卷(道暹)、治定疏科十卷(智圓)、三德指歸二十卷(智圓)等。〔大般涅槃經玄義卷下末、涅槃玄義發源機要卷四、宋高僧傳卷六、佛祖統紀卷七、新編諸宗教藏總錄卷一〕
; Gồm 33 quyển được dịch sang Hoa ngữ dưới thời nhà Tùy—33 books on the treaties on Parinirvana Sutra, translated into Chinese under the Sui dynasty.
; (大般涅槃經疏) Gồm 33 quyển, do ngài Quán đính soạn vào đời Tùy. Cũng gọi Nam bản niết bàn kinh sớ, Niết bàn kinh sớ, thu vào Đại chính tạng tập 38. Bộ sách này dùng giáo chỉ của tông Thiên thai để giải thích kinh Niết bàn (bản Nam) và biện biệt rõ chỗ dị đồng giữa kinh Niết bàn (bản Nam) và các kinh Phương đẳng bát nê hoàn, Đại bát nê hoàn và Niết bàn (bản Bắc). Bộ sách này vốn chỉ có Thích văn 12 quyển, Huyền nghĩa 1 quyển. Về sau, ngài Kinh khê Trạm nhiên sửa lại thành 15 quyển để làm cho ý nghĩa được sáng tỏ. Năm Hàm thuần thứ 8 (1272) đời vua Độ tông nhà Nam Tống, ngài Sư chính dùng khoa cú của bản sớ gốc để phân biệt các đề mục trong kinh, vào năm Chí nguyên 19 (1282) đời vua Thế tổ nhà Nguyên bắt đầu khắc bản. Trong năm Vạn lịch đời Minh, ngài Viên trừng lại hợp biên cả kinh văn và chú sớ thành Hội sớ 36 quyển, đồng thời soạn thêm Điều cá 3 quyển, nhưng người đời sau chê bản Hội sớ này là: Tự ý thêm bớt, hay dở lẫn lộn. Ngài Thủ đốc Bản thuần người Nhật bản lại đem bản sớ 15 quyển hội nhập với kinh văn, so sánh với các bản khác, rồi thêm phần chú giải thành 36 quyển và ấn hành. Ngoài ra, bộ sách này còn có các bản in 18 quyển, 20 quyển, 33 quyển. Chú sớ sách này có: Tư kí 12 quyển (Hạnh mãn), Tư kí 9 quyển (Đạo tiên), Trị định sớ khoa 10 quyển (Trí viên), Tam đức chỉ qui 20 quyển (Trí viên). [X. Đại bát niết bàn kinh Q.hạ phần cuối; Niết bàn huyền nghĩa phát nguyên cơ yếu Q.4; Cao tăng truyện Q.6; Phật tổ thống kỉ Q.7; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].
đại bát niết bàn kinh tập giải
846凡七十一卷。梁代寶亮等撰。又作大般涅槃經義疏、大般涅槃疏、涅槃經集解。今收於大正藏第三十七冊。內容集錄諸家有關南本涅槃經之說,且隨處揭舉撰者之解說以闡釋經文,為現存涅槃經注疏中之最古者。本書係梁天監八年(509),奉武帝之敕命撰集者。撰注者有寶亮、道生、僧亮、法瑤、曇濟、僧宗、智秀、法智、法安、曇准、曇愛、慧朗、曇懺、明駿、慧誕等十餘師。〔梁高僧傳卷八、佛祖統紀卷三十七〕
; (大般涅槃經集解) Gồm 71 quyển, do nhóm các ngài Bảo lượng soạn vào đời Lương. Cũng gọi Đại ban niết bàn kinh nghĩa sớ, Đại ban niết bàn sớ, Niết bàn kinh tập giải. Thu vào Đại chính tạng tập 37. Đây là bộ sách xưa nhất trong những sách chú thích, sớ giải kinh Niết bàn hiện còn. Nội dung thu chép những thuyết của các nhà giải thích kinh Niết bàn (bản Nam) và tùy chỗ có nêu sự giải thích riêng của các soạn giả. Sách này được soạn vào năm Thiên giám thứ 8 (509) theo sắc chỉ của Vũ đế nhà Lương. Nhóm soạn tập và chú giải gồm các sư: Bảo lượng, Đại sinh, Tăng lượng, Pháp thụy, Đàm tế, Tăng tông, Trí tú, Pháp trí, Pháp an, Đàm chuẩn, Đàm ái, Tuệ lãng, Đàm sám, Minh tuấn, Tuệ diên v.v... [X. Lương cao tăng truyện Q.8; Phật tổ thống kỉ Q.37].
Đại bát niết-bàn kinh tập giải 大涅槃經集解
[ja] ダイネハンギョウシュウカイ Dainehangyō shūkai ||| Da banniepan jing jijie; 71 fasc., by Pao-liang 寶亮 et. al., T 1763.37.377a-611a. => (c: Da banniepan jing jijie); 71 quyển, của Bảo Lượng (寶亮 Pao-liang) và một số tác giả khác.
Đại bát niết-bàn kinh 大般涅槃經
[ja] ダイハンネハンキョウ Dai nehan kyō ||| Da banniepan jing; The Mahāparinirvāna-sūtra: (1) T 374.12.365c-603c. 40 fasc., translated by Dharmakṣema 曇無讖. (2) 36 fasc., translated by Huiyan 慧嚴 . See 涅槃經 for summary of all translations. => (c: Da banniepan jing; e: Mahāparinirvāna-sūtra): Gồm 40 quyển; Đàm Vô Sấm (曇無讖s: Dharmakṣema) dịch. Gồm 36 quyển; Huệ Nghiêm ( Huiyan慧嚴) dịch. Xem mục Niết-bàn kinh để biết tóm lược các bản dịch.
Đại bát niết-bàn 大般涅槃
[ja] ダイハンネハン daihan nehan ||| (mahā-parinirvāna). 'Great Nirvāna', great extinction; supreme, perfect awakening. The great death of the Buddha. => (s: mahā-parinirvāna; e: Great Nirvāna). Đại tịch diệt; cảnh giới giác ngộ tối thượng, viên mãn. Đại viên tịch của chư Phật.
đại bát nê hoàn kinh
838請參閱 大般涅槃經 梵名 Mahā-parinirvāṇa。凡六卷。東晉法顯譯。又稱六卷泥洹經。今收於大正藏第十二冊。解說如來常住、悉有法性等義,共分十八品。本經相當於北涼曇無讖所譯大般涅槃經之前十卷五品,譯文較曇無讖稍略。本經有多種同本異譯本,出三藏記集卷二之新集異出經錄共舉出大般涅槃經等八部,開元釋教錄卷十一則舉出泥洹經等七部。或謂劉宋求那跋陀羅所譯之泥洹經與長阿含遊行經亦為本經之同本異譯。此外,南本涅槃經即根據北本涅槃經與本經再治而成者。〔高僧法顯傳、出三藏記集卷十五智猛傳、法經錄卷一、歷代三寶紀卷七、至元法寶勘同總錄卷二〕(參閱「大般涅槃經」844)
; Nam bổn Đại Bát Nhã Kinh, 36 quyển được Ngài Pháp Hiển dịch và sữa chữa lại từ Bắc Bổn Bát Nhã Kinh—Mahaparinirvana Sutra, the southern version, a revision of the northern version made by Fa-Hsien, in 36 books.
; (大般泥洹經) Phạm: Mahà-parinirvàịa. Gồm 6 quyển, do ngài Pháp hiển dịch vào đời Đông Tấn. Cũng gọi Lục quyển Nê hoàn kinh, thu vào Đại chính tạng tập 12. Nội dung chia làm 18 phẩm, nói về nghĩa Như lai thường trụ, chúng sinh đều có tính Phật. Kinh này tương đương với 5 phẩm của 10 quyển đầu trong kinh Đại ban niết bàn do ngài Đàm vô sấm dịch vào thời Bắc Lương và văn dịch sơ lược hơn. Kinh này có nhiều loại bản dịch khác: Mục Tân tập dị xuất kinh lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 2 nêu tất cả 8 bộ kinh Đại ban niết bàn, Khai nguyên thích giáo lục quyển 11 thì liệt kê 7 bộ kinh Nê hoàn. Lại có thuyết cho rằng, kinh Nê hoàn do ngài Cầu na bạt đà la dịch vào đời Lưu Tống và kinh Du hành trong Trường a hàm cũng là các bản dịch khác của kinh này. Ngoài ra, kinh Niết bàn (bản Nam) tức đã được căn cứ vào kinh Niết bàn (bản Bắc) và vào kinh này để sửa lại mà thành. [X. Cao tăng Pháp hiển truyện; Xuất tam tạng kí tập Q.15 Trí mãnh truyện; Pháp kinh lục Q.1; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.2]. (xt. Đại Ban Niết Bàn Kinh).
Đại Bát-nhã Ba-la-mật kinh 大般若波羅蜜經
[ja] ダイハンニャハラミツキョウ Dai hannyaharamitsukyō ||| Da bore po luo mi jing The Mahāprajñāparamitā-sūtra. 600 fascicles, translated by Xuanzang 玄奘 in 659. T vol. 5-7, 220. Usually referred to by the short title of 大般若經. => (c: Da bore po luo mi jing; e: Mahāprajñāparamitā-sūtra). 600 quyển; Huyền Trang (s: Xuanzang 玄奘) dịch năm 659. Thường dùng tên gọi tắt là Đại Bát-nhã kinh.
Đại Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh 大般若波羅蜜多經
[ja] ダイハンニャハラミッタキョウ Dai hannyaharamitta kyō ||| Mahā-prajñā-pāramitā-sūtra. 600 fascicles, T 220.5-7. A collection of sixteen sutras, short and long, which articulate the doctrine of prajñāpāramitā. Translated by Xuanzang from 660-663. This massive work, filling three entire Taishō volumes, includes such well known works as the Heart Sutra 心經 and Diamond Sutra 金剛經, and is one of the most complete collections of Prajñāpāramitā sutras available. Xuanzang 玄奘 considered abridging his translation to avoid repetition, but was dissuaded by a dream, and thus translated the Prajñāpāramitā corpus in toto. Edward Conze has translated many different portions of this corpus, in Conze (1973), Conze (1975) and Conze (1993). Though taken from the Sanskrit, not Chinese versions of these texts, provides a sampling of their style and content. => (c: Mahā-prajñā-pāramitā-sūtra). 600 quyển. Tập hợp gồm 16 bộ kinh dài và ngắn trình bày rõ giáo lý Bát-nhã. Huyền Trang dịch năm 660-663. Tác phẩm đồ sộ nầy chứa trọn 3 quyển trong Đại chính tân tu đại tạng kinh (Taisho), bao ggồm những bộ kinh nổi tiếng như Tâm kinh, Kinh Kim Cương, và là 1 trong các bộ kinh Bát-nhã hoàn chỉnh nhất đang được sử dụng. Huyền Trang đã cân nhắc dịch phẩm để tránh sự lặp lại, nhưng được can ngăn trong một giác mơ, do vậy nên ngài đã dịch toàn thể kinh văn Bát-nhã. Edward Conze đã dịch nhiều phần khác nhau của toàn kinh văn nầy trong Conze (1973), Conze (1975) và Conze (1993). Mặc dù xuất phát từ tiếng Sanskrit, chưa có một bản dịch Hán văn nào đáp ứng được mẫu mực văn phong và nội dung như bộ kinh nầy.
Đại Bát-nhã kinh. 大般若經
[ja] ダイハンニャキョウ Daihannya kyō ||| The short title for 大般若波羅蜜經. => Tên gọi tắt của Đại Bát-nhã Ba-la-mật kinh.
Đại bát-niết-bàn kinh
1.大般涅槃經; S: mahāparinirvāṇa-sūtra; J: daihatsu nehangyō;|Một bộ kinh Ðại thừa viết bằng văn hệ Phạn ngữ (sanskrit), gồm nhiều tập, đã được dịch ra chữ Hán. Kinh này nói về Phật tính, là thể tính tồn tại trong tất cả chúng sinh (Hữu tình). Ngoài ra, kinh này cũng giảng các đề tài quan trọng khác của Phật giáo Ðại thừa. Trong cách phân chia của Tam tạng Trung Quốc thì kinh này được xếp vào hệ kinh Phương đẳng (s: vaipulya-sūtra). Ðừng nhầm lẫn với Ðại bát-niết-bàn kinh (p: mahā-parinibbāna-sutta), viết bằng văn hệ Pā-li, nói về những năm cuối cùng của đức Phật và lúc Ngài nhập diệt.|2.大般涅槃經; P: mahāparinibbāna-sutta;|Một bài kinh nằm trong Trường bộ kinh. Kinh này được viết bằng văn hệ Pā-li, trình bày những năm cuối cùng của đức Phật, về thời điểm nhập Niết-bàn của Ngài cũng như việc hoả thiêu xác thân và việc phân chia Xá-lị. Kinh này được nhiều tác giả tham gia ghi lại khoảng 480 trước Công nguyên. Ðừng nhầm lẫn với Ðại bát-niết-bàn kinh (mahā-parinirvāṇa-sūtra), viết bằng văn hệ Phạn ngữ (sanskrit), nói về Phật tính.
đại bạch bồ tát
Xem Bạch thân quán tự tại Bồ tát.
đại bạch hoa
Bông mạn đà la lớn—The great mandara flower.
đại bạch ngưu xa
773指一佛乘。即法華經譬喻品所說四車之一。天台、賢首諸師以羊車比喻聲聞乘,以鹿車比喻緣覺乘,以牛車比喻菩薩乘,而以大白牛車比喻一佛乘。對界內三乘之方便權教,以門外露地所授之大白牛車比喻界外一乘真實之法門,此說即所謂「會三歸一」之旨。嘉祥、慈恩諸師則主張宅內牛車與宅外牛車同體無殊,故將二乘會歸菩薩乘。(參閱「三車四車」557)
; 1) Xe Trâu trắng trong Kinh Pháp Hoa—The great white-bullock cart of the Lotus Sutra. 2) Ám chỉ Đại Thừa, đối lại với xe nai và xe dê ám chỉ Thanh Văn và Duyên Giác của Tiểu Thừa—The Mahayana, as contrast with the deer-cart and goat-cart of sravakas and pratyeka-buddhas of the Hinayana.
; (大白牛車) Xe trâu trắng lớn. Một trong bốn thứ xe nói trong phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa, tức dụ cho Nhất Phật thừa. Các sư Thiên thai, Hiền thủ đem xe dê ví dụ Thanh văn thừa, xe nai ví dụ Duyên giác thừa, xe trâu ví dụ Bồ tát thừa, còn xe trâu trắng lớn thì ví dụ Nhất Phật thừa. Trao cho xe trâu trắng lớn trên chỗ đất phong quang ở ngoài cửa là dụ cho pháp môn Nhất thừa chân thực vượt ngoài ba cõi để đối lại với Tam thừa là giáo pháp phương tiện tạm thời trong ba cõi. Đây là ý chỉ Hội tam qui nhất (Hợp Tam thừa vào Nhất thừa). Nhưng, các ngài Gia tường, Từ ân thì cho rằng, xe trâu trong nhà và xe trâu ngoài nhà là đồng thể không khác, cho nên đem Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác) hợp vào Bồ tát thừa. (Xt. Tam Xa Tứ Xa).
đại bạch quang
Sitansu (S).
đại bạch quang thần
Sitamsu (skt)—The spirits with white rays.
đại bạch tản cái phật mẫu
Mẹ của chư Phật, có đại uy lực phóng quang minh, lấy lộng trắng che rợp khắp cả chúng sanh—The “mother of Buddhas” with her great snow-white radiant umbrella, emblem of her protection of all beings.
đại bạch tản cái đà la ni kinh
Mahāpratisarā-dhāraṇī (S)Một bộ kinh trong Mật bộ.
đại bạch y
Xem Bạch Y Quan Âm Bồ tát.
; Pandaravasini (skt)—Bạch Y Quán Âm, tất cả đều một màu trắng, sen trắng, tòa trắng, vân vân—The great white-robed one, a form of Kuan-Yin, all in white, with white lotus, white throne… ** For more information, please see Bạch Y.
đại bạch đoàn hoa
See Đại Bạch Hoa.
đại bại
To suffer a heavy defeat—To suffer a big loss.
đại bạt lam
Mahabala or Mahamudrabala (skt)—Một trăm triệu tỷ tỷ tỷ tỷ—100 septillions (10042 ).
đại bản
772指無量壽經。天台宗將淨土三經中之無量壽經稱為大本,而將阿彌陀經稱為小本。(參閱「無量壽經」5119)
; The great, chief or fundamental book or text. Thiên Thai sect takes the Vô lượng thọ kinh as the major of the three Pure-land sùtras and the A di đà kinh as tiểu bản minor text.
; (大本) Tức là kinh Vô lượng thọ. Tông Thiên thai gọi kinh Vô lượng thọ trong ba bộ kinh Tịnh độ là Đại bản và gọi kinh A di đà là Tiểu bản. (xt. Vô Lượng Thọ Kinh).
đại bản kinh
Amitabha-Vyùha-Sùtra (S)
đại bản sơn
Daihon-zan (J)Địa danh.
đại bảo
Châu bảo lớn. 1) Đại châu bảo: Great jewel—Most precious thing. 2) Phật pháp: The dharma or Buddha-law. 3) Bồ Tát: The Bodhisattva. 4) Bàn thờ của Mật tông: The fire altar of the esoteric cult.
đại bảo hoa
Bông quí hay sen được kết bằng ngọc—The great precious flower—A lotus made of pearls.
đại bảo hoa vương
King of Jewel-lotuses (the finest of such gem-flowers).
đại bảo hoa vương tọa
A throne of the King of Jewel-lotuses.
đại bảo hải
Biển công đức lớn của Đức Phật A Di Đà—The great precious ocean of the merit of Amitabha.
đại bảo ma ni
Viên ngọc quí hay chân lý Phật giáo—The great precious mani—Pure pearl—The Buddha-Truth.
đại bảo pháp vương
906為元明兩朝對西藏佛教高僧之封號。元世祖至元七年(1270)初,尊薩迦派之八思巴為國師,封為大寶法王,總攝天下佛教及康藏政務,開西藏政教合一之基礎。元末,薩迦政權旁落。明朝建國以後,對西藏仍依元朝舊制,於永樂四年(1406)封迦爾居派之哈立麻(藏 Halima,本名德欣喜巴,藏 Dezhin Shegpa)為大寶法王。 又西藏佛教之主要傳承有其獨特而嚴密之組織,除由上師傳授弟子之繼承外,另有轉世佛爺之傳承,其中迦爾居派噶瑪巴(藏 Karmapas)系之傳承,我國一般亦稱之為大寶法王,其傳承世系為:第一世求松肯巴(藏 Dusumkhyenpa, 1110~1193)、第二世噶瑪巴希(藏 Karma Pakshi, 1204~1283)、第三世朗俊多傑(藏 Rangjung Dorje, 1284~1339)、第四世羅培多傑(藏 Rolpe Dorje, 1340~1383)、第五世德欣喜巴(藏 Dezhin Shegpa, 1384~1415)、第六世統瓦東頓(藏 Thongwa Donden, 1416~1453)、第七世秋卓吉措(藏 Chodrag Gyatsho, 1454~1506)、第八世米卻多傑(藏 Mikyo Dorje, 1507~1554)、第九世汪秋多傑(藏 Wangchuk Dorje, 1556~1603)、第十世確映多傑(藏 Choying Dorje, 1604~1674)、第十一世耶希多傑(藏 Yeshe Dorje, 1676~1702)、第十二世強秋多傑(藏 Changchub Dorje, 1703~1732)、第十三世都奪多傑(藏 Dudul Dorje, 1733~1797)、第十四世德確多傑(藏 Thegchog Dorje, 1798~1868)、第十五世卡雅多傑(藏 Khakhyab Dorje, 1871~1922)、第十六世朗俊雷比多傑(藏 Rangjung Rigpe Dorje, 1923~1981)。〔佛祖統紀卷四十八、佛祖歷代通載卷二十一〕
; Maharatna-dharma-raja (skt)—Danh hiệu của người cải cách và sáng lập nên phái “Mũ Vàng” bên Tây Tạng, được sùng bái như A Di Đà tái sanh. Ông nhận danh hiệu Tông Khách Ba năm 1426 sau Tây Lịch—Title of the reformer of the Tibetan church, founder of the Yellow Sect in 1417 A.D., worshipped as an incarnation of Amitabha, now incarnate in every Bogdo-gegen-Hutuktu reigning in Mongolia. He received this title in 1426 A.D, Tsong-Kha-Pa.
đại bảo phương
Vùng Đại Bảo, được diễn tả trong Kinh Đại Bảo Tích, vùng nầy nằm giữa Dục giới và Sắc giới—The great precious region, described in the Maharatnakuta Sutra, as situated between the world of desire and the world of form.
đại bảo phật
Xem Đa bảo Phật.
đại bảo quảng bác lâu các thiện trụ bí mật đ
à La Ni kinh Mahā-mani-vipula-vimanavisva-supratisthita-guhya-paramrahasya-kalpa-rāja-dhāraṇī (S)Bảo Lâu Các KinhTên một bộ kinh.
đại bảo quảng bác lâu các thiện trụ bí mật đà la ni kinh
906梵名 Mahā-maṇi-vipula-vimāna-viśva-supratiṣṭhita-guhya-parama-rahasya-kalpa-rāja-dhāraṇi。凡三卷。唐代不空譯。略稱寶樓閣經。收於大正藏第十九冊。卷首列大寶廣博樓閣善住祕密陀羅尼輪二圖、根本陀羅尼及引序品之文記其功德;卷上有序品、根本陀羅尼品、心及隨心陀羅尼品;卷中有成就心陀羅尼品、成就隨心陀羅尼品、諸儀軌陀羅尼品、建立曼荼羅品、畫像品、護摩品;卷下有護摩品之餘。全經旨在說明大麼尼廣博樓閣善住祕密陀羅尼之威德力、功德、成就法、修行儀軌、曼荼羅建立法、護摩法等。 本經尚有二種異譯本,即廣大寶樓閣善住祕密陀羅尼經三卷(唐代菩提流支譯)及牟梨曼荼羅咒經一卷(梁代,譯者佚名),均收於大正藏第十九冊。其中,菩提流支所譯者,品名與本經有異,且將護摩品分為護摩及印法二品,而總成十品。牟尼曼荼羅咒經則不分品數,且無序品,又將護摩品之餘普遍光明寶清淨如來心印以下之諸陀羅尼印,置於曼荼羅建立品之前。〔開元釋教錄卷六、卷九、貞元新定釋教目錄卷十五、諸阿闍梨真言密教部類總錄卷上〕
; (大寶廣博樓閣善住秘密陀羅尼經) Phạm: Mahà-maịi-vipula-vimànavizva-supratiwỉhita-guhya-paramarahasya-kalpa-ràja-dhàraịì. Gồm 3 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường. Gọi tắt: Bảo lâu các kinh, thu vào Đại chính tạng tập 19. Ở đầu quyển có vẽ hai hình bánh xe: 1. Đại bảo quảng bác lâu các thiện trụ bí mật đà la ni. 2. Căn bản đà la ni và dẫn văn ghi công đức ở phẩm Tựa. Quyển thượng có 3 phẩm: Tự, Căn bản đà la ni, Tâm và tùy tâm đà la ni. Quyển trung có 6 phẩm: Thành tựu tâm đà la ni, Thành tựu tùy tâm đà la ni, Chư nghi quĩ đà la ni, Kiến lập mạn đồ la, Họa tượng, Hộ ma. Quyển hạ tiếp phần còn lại của phẩm Hộ ma. Nội dung toàn kinh nói rõ về sức uy đức, công đức, pháp thành tựu, phép tắc tu hành, pháp kiến lập mạn đồ la, pháp hộ ma v.v... của Đại ma ni quảng bác lâu các thiện trụ bí mật đà la ni. Kinh này còn có hai bản dịch khác: 1. Quảng đại bảo lâu các thiện trụ bí mật đà la ni kinh 3 quyển, do ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Đường. 2. Mâu lê mạn đồ la chú kinh 1 quyển, được dịch vào đời Lương, mất tên người dịch. Cả hai bản đều được thu vào Đại chính tạng tập 19. Trên đây, bản của ngài Bồ đề lưu chi, tên phẩm khác với tên phẩm trong bản dịch của ngài Bất không. Phẩm Hộ ma thì được chia làm hai phẩm là Hộ ma và Ấn pháp, nên tất cả là 10 phẩm. Còn kinh Mâu lê mạn đồ la chú thì không chia số phẩm, không có phẩm Tựa và đem các Đà la ni ấn còn lại của phẩm Hộ ma, từ Phổ biến quang minh bảo thanh tịnh Như lai tâm ấn trở xuống, đặt ở trước phẩm Kiến lập mạn đồ la. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.6, Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15, Chư a xà lê chân ngôn Mật giáo bộ loại tổng lục Q.thượng].
Đại bảo quảng bác lầu các thiện trú bí mật đà-la-ni kinh 大寶廣博樓閣善住祕密陀羅尼經
[ja] ダイホウコウハクロウカクゼンジュウヒミツダラニキョウ Daihō kōbaku rōkaku zenjū himitsu daranikyō ||| The Dabao guangbo louge shanzhu mimi tuoluoni jing; Skt. [ārya-]Mahāmaṇivipulavimāna[viśva]supratiṣṭhita-guhyaparamarahasyakalparāja-[nāma]dhāraṇī; Tib. ['phags pa] nor chen po rgyas pa'i gshal med khang shin tu rab tu gnas pa [To.506/885, P.138/510]; (Most Secret, Well-Established Dhāraṇi of the Vast, Gem-Encrusted Tower). The earliest Buddhist text to outline a developed form of esoteric practice, containing explicit descriptions of mudrā 印契, sādhana 成就法, divinities with multiple faces and arms, and protocols for conducting fire ceremonies (homāvidhi 護摩法) and constructing maṇḍalas 曼陀羅建立法. Three Chinese translations are extant: (1) 1 fasc. (T 1007.19.657-668), Sutra of the Mūrti? Maṇḍala and its Incantations 牟梨曼陀羅呪經 (abbr. Mūrti-sūtra 牟梨經), tr. during the Liang 梁 dynasty by an unknown translator. (2) 3 fasc. (T 1006.19.636-657), Most Secret, Well-Established Dhāraṇi of the Vast Gem-Encrusted Tower 廣大寶樓閣善住祕密陀羅尼經 (abbr. 善住祕密經), tr. Bodhiruci II 菩提流志. Corresponds to chapter 2, Fundamental Mantra 根本呪品, in the 1st fasc. of Amoghavajra's version. (3) 3 fasc. (T 1005.19.619-634), Most Secret, Well-Established Dhāraṇi of the Vast, Widely Renowned, Gem-Encrusted Tower 大寶廣博樓閣善住祕密陀羅尼經 (abbr. 寶樓閣經), tr. Amoghavajra 不空. Source for the Maṇḍala of the Gem-encrusted Pagoda Sutra 寶樓閣經曼荼羅. BGBT4/68-69. Tr. from Gilgit MS: Matsumura kō? 松村 恒, Mikkyō Zuzō 密教図像 2, 1984. =>(c: Dabao guangbo louge shanzhu mimi tuoluoni jing; Skt. [ārya-]Mahāmaṇivipulavimāna[viśva]supratiṣṭhita-guhyaparamarahasyakalparāja-[nāma]dhāraṇī; Tib. ['phags pa] nor chen po rgyas pa'i gshal med khang shin tu rab tu gnas pa; e: Most Secret, Well-Established Dhāraṇi of the Vast, Gem-Encrusted Tower). => Kinh văn cổ nhất vạch ra sự phát triển dạng thức tu tập Mật giáo, bao gồm những biểu hiện của ấn khế (印契s: mudrā), thành tựu pháp (成就法s: sādhana), các vị thần nhiều tay và mặt và những nghi quỹ cho Hộ-ma pháp (護摩法homāvidhi) và mạn-đà-la kiến lập pháp. Có 3 bản dịch tiếng Hán hiện đang lưu hành: 1. Mâu-lê mạn-đà-la chú kinh (牟梨曼陀羅呪經e: Sutra of the Mūrti? Maṇḍala and its Incantations ). Viết tắt là Mâu-lê kinh (牟梨經s: Mūrti-sūtra). 1 quyển. Được dịch vào đời Lương, dịch giả vô danh. 2. Quảng đại bảo lầu các thiện trú bí mật đà-la-ni kinh (廣大寶樓閣善住祕密陀羅尼經e: Most Secret, Well-Established Dhāraṇi of the Vast Gem-Encrusted Tower). Viết tắt là Thiện trú bí mật kinh. 3 quyển, Bồ-đề Lưu-chí dịch. Tương đương phẩm 2 trong Căn bản chú phẩm, quyển thứ I trong bản dịch của Bất Không Kim Cương (s:Amoghavajra). 3. Đại bảo quảng bác lầu các thiện trú bí mật đà-la-ni kinh. Gọi tắt là Bảo lầu các kinh. ba quyển, Bất Không dịch. Nguồn gốc từ Bảo lầu các kinh mạn-đồ-la (寶樓閣經曼荼羅e: Maṇḍala of the Gem-encrusted Pagoda Sutra) . Dịch từ Gilgit MS: Matsumura kō? (Tùng Thôn Hằng) 松村 恒, Mikkyō Zuzō (Mật giáo )密教図像 2, 1984
đại bảo trang nghiêm kỳ kiếp
Mahāratna-pratimandita (S)Hoa Quang Như Lai là Phật vị lai, hậu thân của ngài Xá lợi Phất, cõi giới của Hoa Quang Như Lai là Ly Cấu, kỳ kiếp của ngài là Đại Bảo trang nghiêm vì có vô số Bồ tát đều đồng hiệu Đại Bảo.
đại bảo tích kinh
907梵名 Mahā-ratnakūṭa-sūtra。凡一二○卷。又作寶積經。唐代菩提流志等譯。收於大正藏第十一冊。係纂輯有關菩薩修行法及授記成佛等之諸經而成。寶積,即「積集法寶」之意。因其為大乘深妙之法,故謂之「寶」;聚集無量之法門,故謂之「積」。全經計收四十九會(部),其中,魏晉南北朝隋唐之諸譯經家用不同經名陸續譯出二十三會八十卷餘,稱為「舊譯」,菩提流志新譯出二十六會三十九卷半,稱為「新譯」,本經即為新舊譯之合編本。全經內容泛論大乘佛教之各種主要法門,涉及範圍甚廣,每一會相當一部經,亦各有其獨立之主題,例如四十六會「文殊說般若會」主要論述「般若性空」之思想;第五會「無量壽如來會」宣說彌陀淨土之信仰;另如第二、第三、第七、第十一、第二十四會等則闡揚密教之各種重要教義。此外,本經各會所屬部類亦極紛雜,如第十四會「佛說入胎藏會」屬於小乘部,第一「三律儀會」、第二十三「摩訶迦葉會」屬於律部,第四十六會「文殊說般若會」屬於般若部,第四十七會「寶髻菩薩會」屬於大集部。故可說全經每一會雖然各有特色,然若就整體而言,則缺乏一貫之系統。又於菩提流志所譯二十六會中,有十一會二十二卷為初次翻譯者,其餘十五會則屬重譯部分。本經之異譯本極多,茲為便於比較,特將四十九會名稱、卷數、譯者(新譯即指菩提流志)列表如次: 除上舉四十九會外,另有下列之異譯本。又下表會數欄內之數字,乃相當於大寶積經內容之會數。 本經之梵本,今僅存部分斷簡殘片。據大慈恩寺三藏法師傳卷十等載,玄奘自印度歸返時,曾帶回本經之梵本,玄奘譯完大般若經六百卷後,諸方名德又敦請玄奘再譯本經,然其時玄奘已精力殆盡而預知寂期不遠,遂捨卻所請。而玄奘所帶回之梵本,今已不存。另據多羅那他之印度佛教史第十三章、第二十章等所載,本經之梵文原本,與華嚴、大集、般若等經相同,均有十萬頌之多,後因輾轉傳譯而僅餘今之四十九會一二○卷。本經另有西藏譯本,題為「大寶積法門十萬章」(藏 Dkon-mchog brtsegs-pa chen-poḥi chos-kyi-rnam-graṅs leḥu stoṅ-phrag-brgya-pa),亦有四十九會,然西藏譯本原為各會單獨傳譯,且缺少其中若干會,後乃自漢譯本補充數會,並仿其四十九會之制而集成者。本經各會之注疏極多,北魏菩提留支所譯之大寶積經論四卷(安慧著)為第四十三會之釋論,同為菩提留支所譯之大寶積經釋為第四十一會之注釋,潛真之大寶積經疏三卷為第十五會(不空譯本)之注釋,康僧會之大寶積經子註為第十九會(安玄譯本)之注釋,此外,第五會、第四十八會之注疏甚多。〔開元釋教錄卷九、至元法寶勘同總錄卷一、閱藏知津卷二、卷三、西藏譯大寶積經の研究(櫻部文鏡,大谷學報第十一之三)〕
; MahāratnakŪṭa-sŪtra (S), Mahā-ratnakuta sŪtra (S), Ratnakuta (S)Bảo Tích KinhTên một bộ kinh.
; Ratnakùta-sùtra (S) Great Jewelled accumulation sùtra.
; Maharatnakuta-sutra (skt)—Bộ Kinh 49 quyển, trong đó 36 quyển đã được Ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch ra Hoa Ngữ—A collection of forty-nine sutras, of which thirty-six were translated into Chinese by Bodhiruci—See Kinh Đại Bảo Tích.
; (大寶積經) Phạm: Mahā-ratnakūṭa-sūtra. Gồm 120 quyển. Cũng gọi Bảo tích kinh, do các ngài Bồ đề lưu chi v.v... dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 11. Bộ kinh này do biên chép thu tập các pháp tu hành của Bồ tát và thụ kí thành Phật trong các kinh mà thành. Bảo tích hàm ý là tích tập pháp bảo. Vì các pháp Đại thừa rất sâu xa mầu nhiệm nên gọi là Bảo (quí báu); chứa nhóm vô lượng pháp môn nên gọi là Tích (chứa nhóm). Kinh này là bản tổng hợp của Tân dịch (dịch mới) và Cựu dịch (dịch cũ) gồm 49 hội (bộ), trong đó, các nhà dịch kinh vào các đời Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều, Tùy, Đường lần lượt dịch vào các kinh khác nhau, được tất cả 23 hội, hơn 80 quyển, gọi là Cựu dịch. Ngài Bồ đề lưu chi dịch 26 hội, 39 quyển rưỡi, gọi là Tân dịch. Nội dung toàn kinh bàn chung về các pháp môn chủ yếu của Phật giáo Đại thừa, phạm vi rất rộng. Mỗi một hội có chủ đề độc lập và tương đương một bộ kinh; chẳng hạn như hội thứ 46 là Văn thù thuyết bát nhã hội chủ yếu bàn về tư tưởng Bát nhã tính không. Hội thứ 5 là Vô lượng thọ như lai hội nói về tín ngưỡng Di đà tịnh độ. Còn như các hội thứ 2, 3, 7, 11, 24 v.v... thì nêu rõ các giáo nghĩa trọng yếu của Mật giáo. Ngoài ra, các bộ phái mà các hội sở thuộc được nói đến trong kinh này rất lộn xộn, như: - Hội 14 Phật thuyết nhập thai thuộc về Tiểu thừa bộ. - Hội 1 Tam luật nghi. - Hội 23 Ma ha ca diếp (thuộc về Luật bộ). - Hội 46 Văn thù thuyết bát nhã thuộc về Bát nhã bộ. - Hội 47 Bảo kế bồ tát thuộc về Đại tập bộ v.v... Như vậy, có thể nói, mỗi hội tuy có đặc sắc, nhưng đứng về phương diện chỉnh thể của toàn bộ kinh mà nhận xét, thì thiếu mất hệ thống nhất quán. Kinh này có rất nhiều bản dịch khác nhau. Để tiện việc so sánh, nay đem tên hội, số quyển người dịch trình bày bằng các đồ biểu như sau: Ngoài 49 hội kể trên, còn có các bản dịch khác sau đây, những chữ số trong khung Số Hội của đồ biểu cũng tương đương với số Hội trong nội dung kinh Đại bảo tích. Nguyên bản tiếng Phạm của kinh này nay chỉ còn lại những phần rời rạc. Cứ theo Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện quyển 10, khi ngài Huyền trang từ Ấn độ trở về nước, đã mang về theo bản tiếng Phạm của kinh này. Sau khi ngài Huyền trang đã dịch xong toàn bộ kinh Đại bát nhã 600 quyển, bậc danh đức các nơi thỉnh ngài dịch lại bộ kinh Bảo tích, nhưng lúc ấy ngài đã kiệt sức và tự biết chẳng bao lâu nữa ngài sẽ tịch, nên ngài đã từ chối lời thỉnh cầu. Nhưng bản tiếng Phạm do ngài Huyền trang mang về nay không còn. Lại theo Ấn độ Phật giáo sử chương 13, chương 20 của Đa la na tha nói, thì nguyên bản tiếng Phạm của kinh này cùng với các kinh Hoa nghiêm, Đại tập. Bát nhã mỗi thứ đều có hơn 10 vạn bài tụng, nhưng sau vì cứ đắp đổi truyền dịch nên nay chỉ còn 49 hội 120 quyển. Kinh này còn có bản dịch tiếng Tây tạng nhan đề: Đại bảo tích pháp môn thập vạn chương (Tạng: Dkon-mchog brtsegs-pa chen-poḥi chos-kyi-rnam-graṅs leḥu stoṅ-phrag-brgya-pa) cũng có 49 hội. Nhưng bản dịch Tây tạng vốn truyền dịch các hội một cách riêng lẻ, vả lại thiếu một số hội, sau mới theo bản Hán dịch mà bổ sung số hội đó và phỏng theo qui tắc 49 hội mà tập thành. Mỗi hội trong kinh này có rất nhiều chú sớ. Đại bảo tích kinh luận 4 quyển (ngài An tuệ soạn), do ngài Bồ đề lưu chi dịch vào thời Bắc Ngụy, là chú thích hội 43 và Đại bảo tích kinh thích cũng do ngài Bồ đề lưu chi dịch là chú thích hội 41, Đại bảo tích kinh sớ 3 quyển của ngài Tiềm chân là chú thích hội 15 (bản dịch của ngài Bất không), Đại bảo tích kinh tử chú của ngài Khang tăng hội là chú thích hội 19 (bản dịch của ngài An huyền). Ngoài ra, có rất nhiều bản chú sớ các hội thứ 5, hội thứ 28. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.19; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.1; Duyệt tạng tri tân Q.2, Q.3; Tây tạng dịch Đại bảo tích kinh chi nghiên cứu (Anh bộ Văn kính, Đại cốc học báo 11)].
đại bảo tích kinh luận
908梵名 Mahā-ratnakūṭa-dharmaparyāya-śatasāhasrikā-parivarta-kāśyapa-parivarta-ṭikā。凡四卷。安慧著(據西藏譯本),北魏菩提流(留)支譯。此論雖名為大寶積經論,然並非唐代菩提流志所編譯之大寶積經全經一二○卷之釋論,而僅是第四十三會普明菩薩會(即「古寶積經」)之注疏。本論內容初揭出歸敬偈二頌,其次論釋「寶積」之名義,蓋寶積一經攝盡一切大乘法中,如來為諸菩薩所說各種邪行、正行等十六種相差別之說法,故稱「寶積」。其後就原經文,以問答體詳釋原經之文義。本論所論釋之普明菩薩會另有三種異譯本,於四種譯本中,本論博採四本,而以大寶積經第四十三會之普明菩薩會為主。本論另有西藏譯本,收於丹珠爾經疏部。〔歷代三寶紀卷九、大唐內典錄卷四、古今譯經圖紀卷四、開元釋教錄卷六、貞元新定釋教目錄卷九〕
; Mahā-ratnakuta-dharmaparyayastasahaśrīka-parivarta-kasyapa-parivartatika (S)Tên một bộ luận kinh.
; (大寶積經論) Phạm: Mahā-ratnakūṭa-dharmaparyāya-śatasāhasrikā-parivarta-kāśyapa-parivarta-ṭikā. Gồm 4 quyển, do ngài An tuệ soạn (theo bản dịch Tây tạng), ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Bắc Ngụy. Luận này tuy có tên là Đại bảo tích kinh luận, nhưng không phải là bản chú thích toàn bộ kinh Đại bảo tích 120 quyển do ngài Bồ đề lưu chi biên dịch vào đời Đường, mà chỉ là sách chú sớ của hội thứ 43, là hội Phổ minh bồ tát (tức kinh Bảo tích cổ) mà thôi. Nội dung trước hết nêu hai bài kệ tụng Qui kính, kế đến, giải thích danh nghĩa hai chữ Bảo tích, cho rằng bộ kinh Bảo tích thu nhiếp tất cả pháp Đại thừa, đức Như lai vì các Bồ tát mà nói 16 tướng sai khác của tà hạnh, chính hạnh. Sau hết, dùng thể vấn đáp giải thích rõ văn kinh. Luận này còn có bản dịch Tây tạng, thu vào kinh sớ bộ trong Đan châu nhĩ. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Đại đường nội điển lục Q.4; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.6; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.9].
Đại bảo tích kinh 大寶積經
[ja] ダイホウシャクキョウ Dai hōshaku kyō ||| The Da baoji jing; Skt. Ratnakūṭa-sūtra; 120 fasc. [T 310.11.1-687], abbr. 寶積經, tr. Bodhiruci and others during 706-13 CE. A collection of Mahāyāna sutras which were based on sermons given by the Buddha at 49 assemblies. Fascicles 1-46 are all separate texts in the Tib. sDe dge canon [To.45-89; fasc.34 = To.272; fasc.38 = To.261; fasc.42 = To.149; fasc.48 = To.92; fasc.49 = To.93]. => (c: Da baoji jing; Skt. Ratnakūṭa-sūtra); 120 quyển. Viết tắt là Bảo tích kinh. Bồ-đề Lưu-chi và một số người khác dịch từ năm 706-713. Đây là một bộ kinh Đại thừa căn cứ vào những bài giảng của Đức Phật trong 49 pháp hội. Cuốn 1-46 tạo thành một bản kinh riêng trong tạng kinh Tây Tạng (Tib. sDe dge canon [To.45-89; quyển 34 = To.272; quyển 38 = To.261; quyển42 = To.149; quỷên 48 = To.92; quyển 49 = To.93]. )
đại bảo tạng
Đại Bảo Tạng chứa đựng chân lý Phật pháp—The great precious treasury, containing the gems of the Buddha-truth.
đại bất thiện địa pháp
752梵語 a-kuśala-mahā-bhūmika-dharma。有部心所法之一。指與一切不善心相應而現起之兩種心理現象,即:(一)無慚(梵 āhrīkya),對諸功德及有德者無所崇敬,無所隨屬。因恭敬所敵對之法,故為諸善士所厭。又或觀自己所造之罪而無羞恥心稱為無慚。(二)無愧(梵 anapatrāpya),對現在、當來二世之罪果無所怖畏。又觀他人所造之罪而無羞恥心,稱為無愧。此二法恆與一切不善心周遍而俱起,故稱大不善,其所依地之心王稱為大不善地;又此二法為此地之所有,故稱為大不善地法。〔大毘婆沙論卷四十二、俱舍論卷四、顯揚聖教論卷一、大乘阿毘達磨雜集論卷一、雜阿毘曇心論卷二〕(參閱「慚愧」5810)
; Akuśala-mahā-bhumika dhāraṇī (S).
; Theo Câu Xá Luận, có hai loại tâm sở pháp khởi lên cùng với mọi tâm bất thiện—According to the Kosa Sastra, there are two great characteristics of the evil state: 1) Vô Tàm: No sense of shame—Disgrace. 2) Vô Quí: Shameless.
; (大不善地法) Phạm: A-kuzala-mahà-bhùmikadharma. Một trong các pháp Tâm sở của Hữu bộ. Chỉ cho hai loại hiện tượng tâm lí hiện khởi do tương ứng với tất cả tâm bất thiện. Đó là: 1. Vô tàm (Phạm:àhrìkya, không thẹn thùng): Không có lòng sùng kính và thuận theo đối với các bậc có đạo đức và đối với các việc thiện, không có tâm hổ thẹn đối với tội lỗi mình đã gây nên, vì thế bị các bậc thiện sĩ tránh xa. 2.Vô quí (Phạm: anapatràpya, không xấu hổ): đối với tội quả ở hiện tại và vị lai không có lòng sợ hãi, và khi làm điều xấu ác, không biết hổ thẹn với người khác. Hai tác dụng tâm lí trên đây thường dấy động cùng một lúc với tất cả tâm bất thiện, nên gọi là Đại bất thiện; lại chính Tâm vương là nơi từ đó chúng dấy động thì gọi là Đại bất thiện địa; còn hai pháp vô tàm, vô quí là thuộc về Đại bất thiện địa, nên gọi là Đại bất thiện địa pháp. [X. luận Đại tì bà sa Q.42; luận Câu xá Q.4; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2]. (xt. Tàm Quí).
đại bồ tát
865指深行之菩薩。無量壽經卷下(大一二‧二七八下):「彼有七百九十億大菩薩眾、諸小菩薩。」又發自利利他之願心,實行佛道,於菩薩位中已達不退位,稱為大菩薩;尚在退位者,則為小菩薩。故若以初住以上不退位為大菩薩,則在十信位者為小菩薩;若以初地以上為大菩薩,則地前是小菩薩。日本真宗謂凡夫信阿彌陀佛之本願,全領其名號,得不退轉之益,稱為大菩薩;積集自力之善根,而得往生淨土,是為小菩薩。此外,大菩薩一詞,亦作為菩薩之尊稱,而非相對於小菩薩而言。
; Mahā-Bodhisattva (S).Xem Bồ tát Ma ha tát.
; Bồ Tát lớn—Bodhisatva Mahasattva—Great Bodhisattva.
; (大菩薩) Chỉ cho vị Bồ tát mà hạnh tu đã sâu rộng. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 278 hạ), nói: Đức Phật kia có 7 trăm 90 ức (79.000.000.000) chúng đại Bồ tát và các tiểu Bồ tát. Lại những người phát tâm nguyện rộng lớn tự lợi lợi tha, thực hành Phật đạo, đối với quả vị đã chứng được không trở lui, thì gọi là Đại bồ tát, những người còn trở lui thì gọi là Tiểu bồ tát. Bởi vậy, nếu cho rằng Bồ tát từ Sơ trụ trở lên, không thoái vị là Đại bồ tát, thì những người thuộc giai vị Thập tín là Tiểu bồ tát; còn nếu cho Sơ địa trở lên là Đại bồ tát, thì những giai vị trước Thập địa là Tiểu bồ tát. Tịnh độ chân tông Nhật bản cho rằng, hạng phàm phu tin vào bản nguyện của Phật A di đà, chuyên niệm danh hiệu của Ngài, được lợi ích không thoái chuyển, gọi là Đại bồ tát; còn tự lực tích tập thiện căn mà được vãng sanh thì là Tiểu bồ tát. Ngoài ra, danh từ Đại bồ tát cũng được dùng làm tiếng tôn xưng các bậc Bồ tát, chứ không phải nói tương đối với Tiểu bồ tát.
đại bồ tát tạng kinh
865梵名 Mahāyāna-piṭakasūtra。凡二十卷。唐代玄奘譯。為玄奘西行求法返國後最先譯出之經。內容記述四無量、六度、四攝等大乘教義。唐代菩提流志將本經編入大寶積經(收於大正藏第十一冊)卷三十五至五十四,稱為菩薩藏會。
; Mahāyānapiṭāka sŪtra (S), Mahābodhisattva-piṭāka-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
; (大菩薩藏經) Phạm:Mahàyàna piỉakasùtra. Gồm 20 quyển, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. Đây là bộ kinh được ngài Huyền trang dịch đầu tiên sau khi cầu pháp ở Thiên trúc trở về nước. Nội dung nói về giáo nghĩa Đại thừa như Tứ vô lượng tâm, Lục độ, Tứ nhiếp pháp v.v... Kinh này được ngài Bồ đề lưu chí đưa vào kinh Đại bảo tích (Đại chính tạng tập 11) từ quyển 35 đến quyển 54 được gọi là Bồ tát tạng hội.
đại bồ đề
864指佛菩提。又稱無上菩提、佛果菩提。相對於聲聞、緣覺之菩提而言。成唯識論卷一(大三一‧一上):「由斷礙解所知障,故得大菩提。」
; Mahābodhi (S)Tên ngôi chùa được dựng lên chỗ Phật thành đạo được tín đồ Ấn giáo và Phật giáo chiêm bái.
; The great bodhi—See Đại Bồ Đề Tâm.
; (大菩提) Chỉ bồ đề của Phật. Cũng gọi Vô thượng bồ đề, Phật quả bồ đề. Đối lại với bồ đề của Thanh văn và Duyên giác. Luận Thành duy thức quyển 1 (Đại 31, 1 thượng), nói: Do dứt trừ sở tri chướng mà được đại bồ đề.
đại bồ đề phướn
Phướn đại bồ đề, một biểu trưng của Mật giáo về sự giác ngộ của Phật—The banner of great bodhi, an esoteric symbol of Buddha-enlightenment.
đại bồ đề thọ sử
Mahābodhivaṃsa (S)Tên một bộ luận kinh.
đại bồ đề tràng
865指以象徵定、慧之左右二手所作「虛心合掌」之密印相。此印相係「一切如來入三昧耶遍一切無能障礙力無等三昧力明妃」所示現,為無上菩提之標幟,能圓滿地波羅蜜,乃一切諸佛救世之大印。菩薩處生死中,巡歷諸趣;或於一切如來大會,皆以此大菩提幢作其標幟。〔大日經卷四密印品〕
; (大菩提幢) Chỉ cho mật ấn Hư tâm hợp chưởng (hai bàn tay chắp để rỗng ở giữa) tượng trưng cho định và tuệ. Tướng ấn này do Nhất thiết Như lai nhập tam muội biến nhất thiết vô năng chướng ngại lực vô đẳng tam muội lực minh phi thị hiện, là tiêu biểu của Vô thượng bồ đề, đầy đủ các ba la mật, là đại ấn cứu thế của tất cả chư Phật. Bồ tát ở trong sinh tử, qua lại các cõi, hoặc trong tất cả đại hội của Như lai, đều dùng đại bồ đề chàng này làm tiêu biểu. [X. kinh Đại nhật Q.4 phẩm Mật ấn].
đại bồ đề tâm
Mahayana (skt)—The great bodhi mind—Tâm giác ngộ bồ đề của Phật hay Đại thừa, ngược lại với tâm bồ đề của hàng nhị thừa Thanh Văn và Duyên Giác—The mind of Mahayana or Buddha-enlightenment, as contrast with the mind of inferior bodhi of the sravakas and pratyeka-buddhas.
Đại Bồ-tát tạng kinh 大菩薩藏經
[ja] ダイボサツゾウキョウ Dai bosatsu zō kyō ||| The Da pusa zang jing; Bodhisattva piṭaka-sūtra (Sutra of the Scriptural-Basket of the Great Bodhisattva). Included in T.11.310 [sūtra 12] secs. 35-54) . Trans by Xuanzang in 645 at Hongfu Monastery 弘褔寺. Part of the Ratnakūṭa sūtra. The brunt of the Ratnakūṭa was translated by Bodhiruci (706) and Dharmarakṣa (313), though many other translators contributed selections. According to Xuanzang's biography, the last text he was asked to translate was the complete Ratnakūta. He began, but sickness and old age prevented him from getting very far. Since the Ta p'u-sa tsang ching was the first text he translated upon returning to China, that brought his work full circle. => (c: Da pusa zang jing; Bodhisattva piṭaka-sūtra; e: Sutra of the Scriptural-Basket of the Great Bodhisattva). Huyền Trang dịch năm 645 tại Hoằng Phúc tự (弘褔寺e: Hongfu Monastery). Là một phần của Kinh Đại Bảo tích (s: Ratnakūṭa sūtra). Phần lớn kinh Đại Bảo tích được Bồ-đề Lưu-chi và Trúc Pháp Hộ dịch năm 313, cho dù có nhiều dịch giả khác đã góp phần trích dịch. Theo tiểu sử Huyền Trang, bộ kinh cuối cùng ngài được yêu cầu phiên dịch chính là toàn bộ kinh Đại Bảo tích. Ngài khởi công dịch, nhưng bệnh tật và tuổi già khiến ngài không thể hoàn thành được. Vì Đại Bồ-tát tạng kinh (c: Ta p'u-sa tsang ching) là bộ kinh đầu tiên ngài dịch sau khi trở về Trung Hoa, điều ấy đã khiến cho công trình phiên dịch của ngài được trọn vẹn.
Đại Bồ-tát 大菩薩
[ja] ダイボサツ daibosatsu ||| Great bodhisattvas, who are at the level of the seventh bhūmi 七地 or above, and who therefore cannot backslide. => Đại Bồ-tát, bậc đã đạt đến thất địa hoặc cao hơn, và không còn thối chuyển.
Đại bồ-đề
大菩提; S, P: mahābodhi;|Giác ngộ vô thượng, không có gì vượt qua nổi.
Đại bồ-đề 大菩提
[ja] ダイボタイ daibodai ||| The enlightenment of the Buddha. The Buddha's enlightenment as contrasted to the enlightenment of śrāvakas and pratyekabuddhas. 'Great Awakening.' => Sự giác ngộ của chư Phật. Sự giác ngộ của chư Phật khác với sự giác ngộ của Thanh văn và Bích chi Phật. Đại giác ngộ.
đại bổn
Kinh Điển chánh hay cơ bản—The great, chief, major or fundamental book or text.
đại bổn a di đà kinh
Kinh Đại Bổn Di Đà hay Kinh Vô Lượng Thọ được trường phái Thiên Thai dùng như một trong ba bổn kinh chính của Tịnh Độ Tông—The Major Amitabha Sutra (the Infinite Life Sutra) which the T'ien-T'ai takes as the major of the three Pure-Land sutras.
đại bộ phái
855巴利名 Mahānikāya。流行於泰國、高棉、寮國等國上座部佛教派別之一。十九世紀中期至二十世紀中期,法相應部先後在上述諸國形成,原有之比丘統稱為大部,屬正統派。信徒多為中下階層之平民,寺院由民間個人或村落、團體修建,稱民間寺院,寺院住持由布施者指定。有一與各級行政機構平行之僧侶機構,最高首腦為僧長(在泰國,兩派僧長之上復有一僧王),中央機構有大長老會等。實行短期出家制度,比丘可隨時退出僧團,農村之男子須於寺廟經過一段出家生活,方能取得成年人之資格。比丘可接受金錢,允許吃葷,然禁止自己宰殺烹調。該派注重佛教教育,各寺廟大都辦有學校,對僧侶晉級實行嚴格之考核制度。在泰國,大部派又分裂出以佛陀達薩(巴 Buddhadāsa)為首之山林派(巴 Āraññanikāya)。
; Mahānikāya (S)Tên một tông phái.
; (大部派) Pàli: Mahànikàya. Một trong các phái thuộc Phật giáo Thượng tọa bộ lưu hành ở các nước: Thái lan, Cao miên, Lào. Vào giữa thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX, Pháp tương ứng bộ lần lượt hình thành tại các nước nói trên, thì các tỉ khưu vốn đã có trước được gọi chung là Đại bộ, thuộc phái chính thống. Tín đồ phái này phần đông thuộc giai tầng trung và hạ lưu, chùa viện do cá nhân hoặc làng xã, đoàn thể trong dân gian xây cất, gọi là chùa viện dân gian, vị trụ trì chùa viện do những người tạo lập chỉ định. Về mặt tổ chức, có một cơ cấu Tăng lữ song song với cơ cấu hành chính các cấp. Người có tuổi hạ cao nhất là Tăng trưởng (ở Thái lan, trên vị Tăng trưởng của hai phái lại có một vị vua sãi). Cơ cấu trung ương có hội Đại trưởng lão v.v... Sau khi đã thi hành nghĩa vụ xuất gia trong một thời gian, vị tỉ khưu có thể ra khỏi Tăng đoàn bất cứ lúc nào, các trai tráng phải qua một giai đoạn sống cuộc đời xuất gia trong các chùa viện mới có đủ tư cách của người thành niên. Tỉ khưu có thể nhận tiền bạc, cho ăn cá thịt, nhưng không được tự tay mình giết hại và đun nấu thức ăn. Phái này chú trọng việc giáo dục Phật giáo, các chùa phần lớn đều có mở trường học. Đối với tăng lữ lên cấp phải qua chế độ thi cử rất nghiêm khắc. Ở Thái lan, phái Đại bộ lại chia ra phái Sơn lâm (Pàli:Àraĩĩanikàya) tôn ngài Phật đà đạt tát (Pàli:Buddhadàsa) làm Thượng thủ.
đại bửu tích kinh
Maha-ratnakuta sutra—See Kinh Đại Bửu Tích.
đại ca chiên diên
Mahà Katyàyana (S).
; Đại Ca Đa Diễn Na—Mahakatyayana—Katyayana—Ma Ha Ca Chiên Diên, một trong mười đại đệ tử của Đức Phật—One of the ten great disciples of Sakyamuni Buddha—See Ma Ha Ca Chiên Diên.
đại ca diếp
Mahà Kasyapa (S)
; Maha Ca Diếp—Mahakasyapa (skt)—Một trong mười đệ tử lớn của Đức Phật—One of the ten great disciples of Sakyamuni Buddha—See Ma Ha Ca Diếp.
đại ca diếp hội
Kāśyapaparivarta (S)Một bộ kinh trong Bảo Tích bộ.
đại ca diếp hội kinh
Kāśyapaparivarta-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
đại ca đa diễn na
See Đại Ca Chiên Diên.
Đại Ca-diếp
(Mah-kyapa): là một trong Thập đại đệ tử của Phật, cũng là người được đức Phật giao phó Tăng đoàn sau khi ngài nhập diệt. Vị này khác với Bồ Tát Ca-diếp đã thưa hỏi Phật trong phẩm Bồ Tát Ca-diếp cũng như ở các nơi khác trong kinh này.
đại cao vương
Abhyudgata-ruja (skt)—Tên của một kiếp mà trong đó Diệu Trang Nghiêm Vương tái sanh làm Diệu Trang Nghiêm Như Lai—Great august monarch, name of the kalpa in which Subha-vyuha (Diệu Trang nghiêm Vương) , who is not known in the older literature, is to be reborn as a Buddha.
Đại Chiêu
大昭; T: jo-khan;|Tên của một ngôi chùa ở trung tâm La-sa (t: lhasa), do công chúa Văn Thành thiết kế và công chúa Trì Tôn (s: bhṛkuṭi, âm là Ba-lị-khố-cơ), con của một thứ phi người Nepal và vua Khí-tông Lộng-tán xây dựng đời Ðường. Chùa này có chứa một tượng Phật Thích-ca Mâu-ni bằng vàng.
đại chiêu
Jo-khan (J)Tên một vị sư.
đại chiêu khánh luật tự chí
805凡十卷。清代吳樹虛撰。今收於中國佛寺史志彙刊第一輯。大昭慶律寺位於杭州西湖北岸,與南岸之淨慈寺對峙。舊名菩提院,建於石晉天福元年(936),宋乾德二年(964)重建,僧永智開山。太平興國三年(978)築戒壇,七年賜額「大昭慶律寺」。歷宋、元、明、清,或燬於火,或遭兵燹,屢廢屢興,香火不絕。記本寺之掌故,舊有昭慶伽藍記、昭慶記事、喜日宗譜等。其後,廣賓綜理諸書而撰為西湖律宗大昭慶律寺輯略十四篇。清乾隆年間,寺僧宜潔別裁志稿五卷,沙門篆玉為之釐正。乾隆二十九年(1764),鄉人吳樹虛重輯,撰大昭慶律寺志十卷,計分盛典、興建、舊蹟、淨社、戒律、軌儀、僧伽、游集等八門。
đại chiêu tự
805大昭,西藏名 Jo-khaṅ。位於西藏拉薩市中心。又作大召寺、珠甘寺、〖⿱老木〗郎。唐代文成公主設計,而由棄宗弄讚之另一妃子尼泊爾公主墀尊(Bhṛkuṭi,波利庫姬)所建造,歷代屢有擴建。建築式樣頗具唐代風格,有高四層之銅質餾金樓閣五座。正殿供奉文成公主由長安攜往之釋迦牟尼像,各殿有棄宗弄讚、兩公主之塑像及佛像、壁畫等。明、清以降,拉薩之正月傳召法會均在此舉行。寺頂之「金鹿與輪迴」,乃本寺之標幟;金鹿為菩薩化身,雙眼凝視輪迴,象徵傾聽大乘佛法之奧理。寺門外有唐穆宗長慶三年(823)所建之「唐蕃會盟碑」,其上鐫刻漢、藏二種文字。碑側有古柳一株,傳係文成公主所植,稱為唐柳、公主柳。寺內保存有唐代以來之大量歷史文物。(參閱「小昭寺」924、「珠甘寺」4187)
; (大昭寺) Đại chiêu, Tạng: Jo-khan. Chùa ở trung tâm Thủ đô Lhasa của Tây tạng. Cũng gọi Đại triệu tự, Châu cam tự, Lão lang. Do hai bà phi của vua Khí tông lộng tán là công chúa Văn thành nhà Đường và công chúa Trì tôn (Bhfkuỉi) của Népal cùng xây dựng. Kiểu kiến trúc mang phong cách đời Đường,có năm tòa lầu gác bốn tầng dát vàng. Ở chính điện thờ tượng Phật Thích ca mâu ni do công chúa Văn thành rước từ cố đô Trường an tới. Trên vách có rất nhiều bích họa. Trên nóc chùa có hình con nai và bánh xe bằng vàng là tiêu biểu của chùa này. Nai vàng là hóa thân của Bồ tát, hai mắt chăm chú nhìn bánh xe, tượng trưng sự lắng nghe Phật pháp cao siêu, mầu nhiệm. Ngoài cửa chùa có tấm bia Đường Phồn Hội Minh (Liên minh Trung quốc Tây tạng) dựng vào năm Trường khánh thứ 3 (823) đời vua Mục tông nhà Đường. Bên cạnh bia có một cây liễu đã lâu đời, gọi là Đường liễu, Công chúa liễu, tương truyền do công chúa Văn thành trồng. Trong chùa còn có rất nhiều văn vật lịch sử đời Đường. (xt. Tiểu Chiêu Tự, Cam Châu Tự).
đại chu san định chúng kinh mục lục
796凡十五卷。唐代明佺等撰。又作武周刊定眾經目錄、大周錄、武周錄。為東漢至武周有關翻譯經論之目錄。共收經典三六一六部,八六四一卷。今收於大正藏第五十五冊。唐則天武后天冊萬歲元年(695),由佛授記寺沙門明佺等七十名高僧奉敕撰集而成,菩提流志、義淨等諸師亦皆參與編纂。內容包括:(一)眾經目錄,即第一卷至第十四卷,屬於正篇;此正篇又分為前十二之別錄與十三、十四卷之見定入藏流行目。(二)偽經目錄,即最後第十五卷。本錄係採自新、舊正目與大小乘經律論、賢聖集傳等三件而成。舊目指前人所撰之一切經目錄、開皇三寶錄、內典錄等正目;新目指唐初至武周所譯之經論,凡錯注、疑偽皆校正而後入目。合三六一六部八六四一卷,然不包括卷十三、十四之見定入藏流行部卷。各卷(第十五卷除外)之末皆列有譯者、譯時、典據。〔開元釋教錄卷十、大周刊定眾經目錄序、真元新定釋教目錄卷十八、至元法寶勘同總錄卷十〕
; Danh mục của 14 quyển kinh Phật được biên soạn dưới thời Võ Hậu đời Đường, mà sau đó đổi thành nhà Châu—The catalogue of 14 Books of Buddhist Scriptures made under the Empress Wu of the T'ang dynasty, the name of which she changed to Chou.
; (大周刊定衆經目錄) Gồm 15 quyển, do các ngài Minh thuyên v.v... soạn vào đời Đường. Cũng gọi Vũ chu san định chúng kinh mục lục, Đại chu lục, Vũ chu lục. Là bộ mục lục ghi chép các kinh luận được phiên dịch từ đời Đông Hán đến đời Vũ chu gồm 3.616 bộ, 8.641 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 55. Niên hiệu Thiên sách vạn tuế năm đầu (695), Vũ hậu Tắc thiên thỉnh ngài Minh thuyên ở chùa Phật thụ kí cùng với bảy mươi vị cao tăng, trong đó có các ngài Bồ đề lưu chí, Nghĩa tịnh v.v... tham gia biên soạn. Nội dung bao gồm: 1. Mục lục các kinh: Phần Chính thiên từ quyển 1 đến quyển 14, được chia ra: - 12 quyển đầu là Biệt lục. - Quyển 13, 14 là mục lục được đưa vào tạng để lưu hành. 2. Mục lục kinh giả: Quyển thứ 15. Bộ mục lục này được biên soạn theo ba nguồn tư liệu mà thành: a) Các mục chính cũ và mới. b) Các kinh, luật, luận Đại Tiểu thừa, và c) Hiền thánh tập truyện. - Mục cũ: Chỉ cho các bộ mục lục do tiền nhân soạn như: Nhất thiết kinh mục lục, Khai hoàng tam bảo lục, Nội điển lục v.v... - Mục mới: Chỉ cho các kinh luận được dịch từ đầu đời Đường đến đời Vũ chu. Tất cả chú thích, sớ giải sai lầm, hoặc ngờ là kinh giả, đều được kiểm tra, sửa chữa rồi sau mới đưa vào mục lục. Ở cuối mỗi quyển (ngoại trừ quyển 15) đều có ghi tên người dịch, thời đại dịch và sách tham khảo. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.10; Đại chu san định chúng kinh mục lục tự; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.18; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.10].
đại chung
914指報時之鳴擊器。又作梵鐘、洪鐘。懸於鐘樓之上,每日晨昏及法會之際鳴之,可號令全山之諸堂。〔敕修百丈清規卷下〕
; Đại Hồng Chung đặt trên nóc tịnh xá—The great bell in the bell tower of a large monastery.
; (大鍾) Chuông to. Là chuông báo giờ giấc. Cũng gọi Phạm chung, Hồng chung. Quả chuông treo trên lầu chuông, mỗi ngày sớm chiều và giờ pháp hội, đánh lên để báo hiệu cho đại chúng biết. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ].
đại chuyên phật học xã đoàn
848近二十餘年來,大專青年學佛人數激增,各院校紛紛成立佛學社團,發行刊物,並舉辦各項活動,對臺灣佛教之發展,不無推動之力量。茲列舉自民國四十九年(1960)至六十年,先後成立之學社,及其成立年月。 其後,另有東哲社(靜宜文理學院)、怛音社(工業技術學院)、普明社(大同工學院)、哲學社(淡水工商專校)、鐘鐸社(交通大學)、進德學社(教育學院)、東方文化研究社(屏東師專)、慧鐘社(清華大學)、哲誼社(中華醫專)、晨鐘社(德育護專)、慈慧學社(高雄工專)、菩提社(勤益工專)、力行社(東方工專)、正義學社(永達工專)、中華文化研習社(中華工專)、文化研究社(南榮工專)、智覺社(雲林工專)、大雲社(建國工專)、東方哲學社(崑山工專)、東方哲學社(聯合工專)、正定社(國際商專)、中諦學社(中山大學)等,亦陸續成立,積極展開各種佛學研究之活動。
đại chuyết tổ năng
Daisetsu Sonō (J)Tên một vị sư.
đại chuyển luân phật đảnh
Mahā-uṣnīṣa-cakravartin (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Mahosnisa-cakra-vartin (S)Quảng Sanh Phật Đảnh, Hội Thông Đại Phật ĐảnhTên một vị Phật hay Như Lai.
; See Đại Thắng Kim Cang.
đại chuyển luân phật đỉnh
903請參閱 大藏經綱目指要錄 請參閱 大薩遮尼乾子所說經 請參閱 大薩遮尼乾子所說經 梵名 Mahoṣṇīsa-cakra-vartin。又作大轉佛頂、廣生佛頂、廣大佛頂、會通大佛頂、黃色佛頂。或稱會通大頂輪。為三佛頂之一,或八佛頂之一。於密教胎藏界曼荼羅釋迦院中,安置於中尊釋迦牟尼佛右側下段第三位之尊。身呈黃色,現菩薩形,跏坐於赤蓮華上,右手持蓮華,蓮上立一獨股杵,左手拇、中指相捻,食指豎直,面向左。種子為毱(ṭrūṃ)三昧耶形為五股金剛杵,密號破魔金剛。〔大日經卷一具緣品、卷五祕密漫荼羅品、一字佛頂輪王經卷四、青龍寺儀軌卷下、大日經疏卷五〕
; Mahā-uṣnīṣa-cakravartin (S).
; (大轉輪佛頂) Phạm: Mahowịìsa-cakra-vartin. Cũng gọi Đại chuyển Phật đính, Quảng sinh Phật đính, Quảng đại Phật đính, Hội thông đại Phật đính, Hoàng sắc Phật đính. Hoặc gọi Hội thông đại đính luân. Một trong ba Phật đính, hoặc một trong tám Phật đính. Vị tôn này ngồi ở vị trí thứ ba hàng dưới phía bên phải của đức Trung tôn Thích ca mâu ni trong viện Thích ca trên mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Ngài hiện tướng Bồ tát, mình mầu vàng, ngồi kết già trên hoa sen đỏ. Tay phải cầm hoa sen, trên hoa sen dựng chày một chĩa; ngón cái và ngón giữa của tay trái bấm vào nhau, ngón trỏ đứng thẳng, mặt hướng về phía trái. Chủng tử là (ỉrùô), hình tam muội da là chày Kim cương năm chĩa, mật hiệu là Phá ma kim cương. [X. kinh Đại nhật Q.1 phẩm Cụ duyên, Q.5 phẩm Bí mật mạn đồ la; kinh Nhất tự Phật đính luân vương Q.4; Thanh long tự nghi quĩ Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.5].
đại chuyển luân vương
See Đại Thắng Kim Cang.
đại chuẩn đề
Mahācundi (S)Chuẩn Đề Quán Âm Bồ tátTên một vị Phật hay Như Lai.
; Mahà-Cundi (S). A form of Quán âm.
; Một hình thức khác của Đức Quán Âm. Có một loại chú Đà La Ni bắt đầu với tên Chuẩn Đề—Maha-cundi, a form of Kuan Yin. There are dharanis beginning with the name of Cundi.
Đại Chuẩn đề đà-la-ni kinh 大准提陀羅尼經
[ja] ダイシュンダイダラニキョウ Dai shundai darani kyō ||| The Da zhunti tuoluoni jing; see Qi juzhi fomusuoshuo zhunti tuoluoni jing 七倶胝佛母所説准提陀羅尼經; (T 1077.20.185-186). => (c: Da zhunti tuoluoni jing). Xem Thất câu chi Phật mẫu sở thuyết Chuẩn đề đà-la-ni kinh (七倶胝佛母所説准提陀羅尼經 c: Qi juzhi fomusuoshuo zhunti tuoluoni jing).
đại chánh trí
Xem Bồ tát.
đại chánh đại học
Taisho Daigaku (S)Trường Đại học Phật giáo ở Nhật.
đại châu
A great continent, one of the four continents of the world.
đại châu hoà thượng
837即唐代沙門慧海。俗姓朱。從越州大雲寺道智法師受業,後至江西參訪馬祖道一,六年大悟,歸越州。嘗撰頓悟入道要門論一卷,馬祖道一評曰「大珠圓明」,世人遂稱之大珠和尚。〔景德傳燈錄卷六、佛祖歷代通載卷十四〕(參閱「慧海」6040)
Đại Châu Huệ Hải
(大珠慧海, Daiju Ekai, ?-?): vị tăng dưới thời nhà Đường, xuất thân Kiến Châu (建州, Phúc Kiến), người đời thường gọi là Đại Châu Hòa Thượng (大珠和尚). Ông theo xuất gia với Đạo Trí Pháp Sư (大智法師) ở Đại Vân Tự (大雲寺) vùng Việt Châu (越州, Thiệu Hưng, Triết Giang), ban đầu chuyên học kinh luận, có chỗ sở ngộ; sau đi tham vấn các nơi, đến yết kiến Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) và ngộ được bản tánh của mình, nên theo hầu vị này 6 năm. Ông soạn cuốn Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận (頓悟入道要門論) 1 quyển, đem trình cho Mã Tổ xem, nhân đó Mã Tổ bảo rằng: “Việt Châu hữu đại châu, viên minh quang thấu, tự tại vô già chướng (越州有大珠、圓明光透、自在無遮障, Chốn Việt Châu có viên ngọc lớn, ánh sáng tròn đầy thấu suốt, tự tại không có gì chướng ngại).” Từ đó, ông có tên Đại Châu (大珠). Sau khi ngộ đạo, ông trở về Việt Châu xiển dương giáo pháp.
; 大珠慧海; C: dàzhū huìhăi; J: daishū ekai; tk. 8/9; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Mã Tổ Ðạo Nhất. Sư có để lại hai bộ sách quý là Ðại Châu ngữ lục và Ðốn ngộ nhập đạo yếu môn luận.|Sư họ Châu, quê ở Kiến Châu, theo Hoà thượng Ðạo Trí chùa Ðại Vân ở Việt Châu xuất gia. Nhân có người chỉ dẫn, Sư đến yết kiến Mã Tổ.|Mã Tổ gặp Sư hỏi: »Từ đâu đến?« Sư thưa: »Từ chùa Ðại Vân ở Việt Châu đến.« Mã Tổ hỏi: »Ðến đây cầu việc gì?« Sư thưa: »Ðến cầu Phật pháp.« Mã Tổ bảo: »Kho báu nhà mình mà chẳng đoái hoài, lại bỏ nhà đi xa, tìm cái gì? Ta trong ấy không có một vật, cầu Phật pháp cái gì?« Sư hỏi: »Thầy nói gì là kho báu của Huệ Hải?« Mã Tổ bảo: »Chính nay ngươi hỏi ta, là kho báu của ngươi, đầy đủ tất cả không thiếu thốn, tự do sử dụng, đâu nhờ tìm cầu bên ngoài!« Nhân câu nói này, Sư thông suốt, tự nhận bản tâm không do hiểu biết.|Sau khi ở lại hầu Mã Tổ sáu năm, Sư trở về Việt Châu phụng dưỡng bản sư. Sư ẩn dấu chỗ ngộ đạo thâm sâu của mình và soạn quyển Ðốn ngộ nhập đạo yếu môn luận. Quyển này bị một người lén đem đến trình Mã Tổ. Xem xong, Mã Tổ bảo chúng: »Ðại chúng! ở Việt Châu có Ðại Châu tròn sáng thấu suốt tự tại vô ngại!« Nghe vậy, chúng rủ nhau đến Sư tham vấn đạo và Sư từ đây mang danh hiệu Ðại Châu.|Sư bảo các vị đến tham vấn: »Thiền khách! Tôi chẳng hội Thiền, trọn không có một pháp có thể chỉ dạy người, không phiền các vị đứng lâu, hãy tự đi nghỉ.« Tuy vậy mà học chúng ngày càng đến đông, Sư tuỳ câu hỏi mà trả lời, biện tài không ngại.|Một Cư sĩ đến hỏi: »Tức tâm tức Phật, cái gì là Phật?« Sư bảo: »Ông nghi cái gì không phải là Phật chỉ ra xem?« Cư sĩ lặng thinh. Sư bảo: »Ðạt thì khắp cảnh là Phật, chẳng ngộ thì còn khác xa.«|Một vị khách hỏi: »Ba giáo Nho, Lão, Thích là giống nhau hay khác nhau?« Sư đáp: »Ðược bậc cao minh rộng lòng sử dụng thì cả ba được như nhau, còn theo kẻ hẹp lòng cố chấp, thì khác nhau ba lối. Thật ra, tất cả đều do một tính khởi dụng mà ra, nhưng vì căn cơ nhỏ hẹp mà thấy thành ba. Mê hay ngộ là do người, chứ chẳng phải vì giáo lí giống hay khác nhau.«|Một Luật sư đến hỏi: »Thầy tu có dụng công không?« Sư đáp: »Có.« Vị này hỏi: »Dụng công thế nào?« Sư đáp: »Ðói thì ăn, mệt thì ngủ.« Luật sư hỏi: »Dụng công như thế thì cũng như người thế tục sao?« Sư đáp: »Chẳng như vậy.« Vị này hỏi tiếp: »Vì sao chẳng như vậy?« Sư trả lời: »Khi ăn, họ chẳng chịu ăn mà nghĩ đến trăm thứ nhu cầu, khi ngủ họ chẳng chịu ngủ mà tính toán ngàn việc.« Luật sư nghe rồi lặng thinh.|Một Pháp sư thuộc tông Duy thức – nhưng có một quan niệm sai lệch về Duy thức, quá chấp Hữu – đến tham vấn và được Sư dùng lí Không (s: śūnyatā) tuyệt đối chỉnh lại. Ông ta hỏi: »Thiền sư dùng tâm gì tu đạo?« Sư trả lời: »Không có tâm nào để dùng, cũng chẳng có đạo nào để tu.« Pháp sư hỏi: »Nếu nói không có tâm nào để dùng, chẳng có đạo nào để tu thì sao hằng ngày vẫn hội họp khuyên kẻ khác tập thiền tu đạo?« Sư đáp: »Lão tăng chẳng có một miếng đất cắm dùi, thì chỗ nào để họp người? Lão tăng cũng chẳng miệng lưỡi thì làm sao khuyên dạy người được?« Pháp sư liền nói: »Thiền sư trước mặt còn nói dối!« Sư bảo: »Lão tăng không miệng lưỡi khuyên người, thì đâu thể nói dối!« Pháp sư nói: »Thật không hiểu nổi cách nói chuyện của Thiền sư!« Sư nói: »Lão tăng tự mình cũng chẳng hiểu!«|Không biết Sư tịch nơi nào.
đại châu huệ hải
DaishŪ Ekai (J)Tên một vị sư.
Đại Châu lục 大周録
[ja] ダイシュウロク Daishūroku ||| The Dazhou lu. Short title of the 大周刊定衆經目録. => Tên gọi tắt của tác phẩm Đại Châu san định chúng kinh mục lục (大周刊定衆經目録).
Đại Châu san định chúng kinh mục lục 大周刊定衆經目録
[ja] ダイシュウカンジョウシュウキョウモクロク Daishū kanjō shūkyō mokuroku ||| Dazhou kanding zhongjing mulu; (Catalogue of Scriptures, Authorized by the Great Zhou). Abbreviated as Dazhou lu 大周録. 20 fasc., by Mingquan 明佺. T 2153.55.373b-467a. => (c: Dazhou kanding zhongjing mulu). Viết tắt là Đại Châu lục (Dazhou lu 大周録). 20 quyển, của Minh Thuyên (明佺c: Mingquan )
đại chí
792隋代僧。會稽山陰人,俗姓顧。為天台智者大師之弟子。開皇年間,住廬山修頭陀法。大業初年,敕令嚴禁游方隱逸,師聞之大憤,憂佛法衰敗,乃出山謁帝,陳諫不聽,因奏言(大五○‧六八二中):「願陛下興顯三寶,當然一臂於嵩岳,用報國恩。」帝許之,遂於嵩山設齋燃臂。燃畢,入定七日坐化,享年四十七。〔續高僧傳卷二十七〕
; High aims; elevated mind.
; (大志) Vị tăng đời Tùy. Sư người Sơn âm, Cối kê, họ Cổ, là đệ tử của ngài Thiên thai Trí khải. Khoảng năm Khai hoàng, sư ở Lô sơn tu hạnh đầu đà. Đầu năm Đại nghiệp, vua ra lệnh nghiêm cấm việc du phương, ẩn dật. Nghe tin ấy sư rất lo Phật pháp sẽ suy vi liền xuống núi yết kiến Hoàng đế, trình bày can ngăn, nhưng vua không nghe. Cuối cùng sư tâu rằng (Đại 50, 682 trung): Mong Bệ hạ hộ trì Tam bảo, tôi sẽ đốt một cánh tay ở núi Tung nhạc để báo đền ơn nước. Vua bằng lòng. Sư liền thiết trai đốt một cánh tay ở Tung sơn. Đốt xong, sư nhập định bảy ngày rồi ngồi an nhiên mà tịch, hưởng dương 47 tuổi. [X. Tục cao tăng truyện Q.27].
đại chính giác tự
772座落於北平西直門外。原稱真覺寺,俗稱五塔寺。明永樂間(1403~1424),班迪達(梵 Paṇḍita)來朝,進獻金佛五尊、金剛寶座規式,成祖封之為大國師,賜與金印,並建此寺令住。憲宗成化九年(1473),依照班迪達所獻金剛寶座規式為準,建造中印度式之塔,稱為大正覺塔,或金剛寶座塔。全寺由五座寶塔所組成,故稱五塔寺。清末義和團事變(1900)時,寺宇多遭燒燬,民國十六年(1927)復為軍閥盜賣,損失甚重,今僅存塔而已。塔全部為白色大理石所造,下設五層方臺,方臺繞以扶欄,築有基壇。此五塔之式樣與十四世紀初緬甸佛教徒補修之佛陀伽耶大塔大致相同,但中央之塔顯著較低,呈現迥異之景觀。
; (大正覺寺) Chùa tọa lạc ở ngoài cửa Tây trực, thành phố Bắc bình. Chùa vốn có tên là Chân giác tự, tục gọi là Ngũ tháp tự (chùa Năm tháp). Khoảng năm Vĩnh lạc (1403 - 1424) đời Minh, ngài Ban địch đạt (Phạm: Paịđita) đến Trung quốc dâng cúng năm pho tượng Phật bằng vàng và kiểu mẫu tòa báu Kim cương, vua Thành tổ nhà Minh phong ngài làm Đại quốc sư, ban cho ấn vàng và xây dựng ngôi chùa này thỉnh ngài trụ trì. Năm Thành hóa thứ 9 (1473), vua Hiến tông căn cứ vào mẫu tòa báu Kim cương do ngài Ban địch đạt dâng cúng mà kiến tạo tòa tháp theo kiểu Trung Ấn độ, gọi là Đại chính giác tháp, hoặc Kim cương bảo tọa tháp. Toàn chùa do năm tòa Bảo tháp cấu thành, cho nên cũng gọi là Ngũ tháp tự. Vào cuối đời Thanh xảy ra biến cố Nghĩa hòa đoàn (1900), phần lớn chùa tháp đã bị thiêu hủy. Thêm vào đó, năm Dân quốc 16 (1927) lại bị bọn quân phiệt cướp phá, tổn thất rất nặng nề, nay chỉ còn tháp mà thôi. Toàn bộ tháp được xây bằng đá Đại lí mầu trắng, nằm trên đài vuông năm tầng có lan can bao quanh và dưới đài là một nền cao. Kiểu năm ngôi tháp này cũng giống Đại tháp ở Phật đà già da (Phạm:Buddha-gayà, nơi đức Phật thành Chính giác) mà đã do tín đồ Phật giáo Miến điện sửa chữa lại vào đầu thế kỉ XIV, nhưng ngọn tháp ở chính giữa thấp hơn, nên đã tạo thành cảnh quan khác xa với Đại tháp.
Đại chính tân tu đại tạng kinh
大正新修大藏經; J: taishō shinshū daizō-kyō;|Bản in hiện đại của Tam tạng (s: tripiṭaka) Trung Quốc, được một nhóm học giả người Nhật biên tập và xuất bản từ năm 1924-1934. Ðại tạng này bao gồm 3360 Kinh và những bài luận văn khác.|Phần chính của Ðại tạng này bao gồm 55 tập, trong đó 21 tập thuộc về Kinh (s: sūtra), 3 tập thuộc về Luật (s, p: vinaya), 8 tập thuộc A-tì-đạt-ma (s: abhidharma), 4 tập nói về các tông phái của Trung Quốc và Nhật, 7 tập nói về lịch sử, tiểu sử, mục lục. Ngoài 55 tập chính nêu trên còn có 30 tập với 736 tác phẩm của người Nhật và 15 tập Ðồ tượng.
đại chính tân tu đại tạng kinh
Taishō shinshŪ daizō-kyō (S)Tên một bộ kinh.
đại chính đại học
772位於日本東京之佛教大學。於大正十五年(1926),由佛教各宗大學聯合創設。內設佛教學部(學院)與文學部,並有大學院(研究所)。佛教學部設有佛教學科,分專攻佛教學、天台宗、真言宗、淨土宗、梵文學等五個研究室。文學部有哲學、文學、史學、社會學等四學科。其中,哲學科復分西洋哲學、中國學(舊東洋哲學)、宗教學等三個研究室,史學科有日本史學研究室,文學科有國文(日文)學、英美文學二研究室,社會學科則有社會學、社會事業二研究室。大學院則有碩士、博士兩種課程。圖書館之藏書有數十萬冊之多。
đại chú
Mahātika (S)Một trong những luận kinh do Dhammapala, thế kỷ 5, soạn và chú thích kinh điển Pali.
đại chúng
851梵語 mahā-saṃgha,sabhā 或 mahā-sabhā,巴利語同。意譯多數之眾。一般指比丘等多人集會。又對上座長老而言,年少下臘者特稱大眾。〔大品般若經卷四辯才品、法華經卷一序品、舍利弗問經、大毘婆沙論卷九十九〕
; Sabha (S), Mahā-sabha (S), Mahā-saṃgha (S), Mahā-sabha (S), Sabha (S).
; Mahàsangha (S) The great assembly, any assembly, all present, everybody.
; The people—The masses—Great assembly—Any assembly—All present—Everybody.
; (大衆) Phạm, Pàli: Mahà-saôgha, Sabhà hoặcMahà-sabhà. Dịch ý là số nhiều, số đông.Thông thường chỉ cho số đông các vị tỉ khưu tập họp ở một nơi. Ngoài ra, đối với các vị Trưởng lão, Thượng tọa, thì những vị tỉ khưu trẻ và tuổi hạ còn nhỏ được gọi là Đại chúng. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.4 phẩm Biện tài; kinh Pháp hoa Q.1 phẩm Tựa; kinh Xá lợi phất vấn; luận Đại tì bà sa Q.99].
Đại Chúng Bộ
(s, p: Mahāsāṅghika, 大眾部): là một trong những bộ phái Phật Giáo của Ấn Độ ngày xưa, hiện nay không còn hiện hữu nữa. Nguồn gốc của Đại Chúng Bộ vẫn còn rất mơ hồ, và là đề tài bàn tán sôi nỗi giữa các học giả. Lý do tạo sự hứng thú mãnh liệt về nguồn gốc của bộ phái này chính là văn kiện Luật Tạng (Vinaya) của họ thể hiện dưới nhiều cách để đại diện cho toàn bộ văn phong cổ hơn; vì vậy văn kiện này có liên quan trọng yếu đến lịch sử những văn kiện Luật Tạng của các bộ phái. Ban đầu tín đồ của Đại Chúng Bộ lập cước ở vùng Tây Bắc Ấn, nhưng cũng có mặt ở Đông Nam Ấn, quanh vùng Amarāvatī và Nāgājunikondā; trong khi đó Thượng Tọa Bộ thì ở miền Đông Bắc. Mỗi bộ phái đều có ký thuật riêng của họ. Theo một ký thuật cho biết rằng Đại Chúng Bộ được hình thành trong lần phân lập đầu tiên của Phật Giáo vào năm 320 sau công nguyên. Bộ phái này tách ra từ Thượng Tọa Bộ nhân cuộc tranh luận về tính xác thực của những văn bản nào đó. Đại Chúng Bộ cho rằng các văn bản này do Thượng Tọa Bộ khám phá ra chứ không phải do chính kim khẩu của đức Phật thuyết. Theo ký thuật này, Đại Chúng Bộ không tham gia Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ ba.
Đại chúng bộ
大眾部; S: mahāsāṅghika;|Chỉ phái »đại chúng«, phần lớn, đa số của Tăng-già; một trong hai trường phái Tiểu thừa, được tách ra trong hội nghị Kết tập lần thứ ba tại Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra). Trong hội nghị này, nhóm Ðại chúng bộ có năm quan điểm riêng về tính chất của A-la-hán. Theo thời gian, Ðại chúng bộ lại tách ra thành Nhất thuyết bộ (s: ekavyāhārika) và Khôi sơn trụ bộ (s: gokulika). Từ Nhất thuyết bộ lại xuất phát Thuyết xuất thế bộ (s: lokottaravāda) và từ bộ phái kia lại sinh ra Ða văn bộ (s: bahuśrutīya), Thuyết giả bộ (s: prajñaptivāda) và Chế đa sơn bộ (s: cai-tika).|Quan điểm của Ðại chúng bộ được xem là tiền thân của giáo pháp Ðại thừa sau này. Người ta đã tìm thấy nơi Ðại chúng bộ quan điểm cho rằng, tất cả đều chỉ là giả danh, cái tuyệt đối cũng như tương đối, Niết-bàn hay Luân hồi, thế gian hay Xuất thế gian. Tất cả những danh tự đó không hề có một thật chất trường tồn. Thời đó, quan điểm này đã ngược hẳn giáo lí của Trưởng lão bộ (s: sthavira; p: thera-vāda).|Các vị thuộc Ðại chúng bộ xem đức Phật là con người siêu thế, với thân tâm hoàn toàn thanh tịnh. Ðó là khái niệm đầu tiên dẫn đến quan điểm »Phật siêu việt« sau này của Ðại thừa Phật Giáo. Ðại chúng bộ xem đức Phật là sống vô tận, đã đạt Nhất thiết trí, toàn năng, thể nhập đại định vĩnh cửu. Các vị này cũng tin rằng Bồ Tát có thể chủ động tái sinh vào cảnh khổ, thí dụ để xoa dịu đau khổ của chúng sinh trong địa ngục, để giảng pháp và để nuôi thiện nghiệp cho các chúng sinh đó.
đại chúng bộ
852梵名 Mahāsaṅghika,巴利名 Mahāsaṅghikā。音譯莫訶僧祇尼迦耶、摩訶僧祇部,略稱僧祇部。又稱聖大眾部。為小乘二十部之一,與上座部並為最初之兩大部。據異部宗輪論所記載,佛陀入滅百餘年,大天比丘提出五條教義後,產生贊成之革新派比丘,與反對之保守派比丘。兩派互相抗爭,前者遂結成大眾部,後者則結成上座部。本派主張:佛身無漏、色身無邊、佛壽無量,並認為生死或涅槃皆為假名(現象),人之心性本來清淨,然由於動搖之故而受污染,此即後世大乘佛教思想之先驅。此外又主張「現在實有、過未無體」(僅有現在為真正之存在),此係對立於上座部之「三世實有、法體恒有」之說。又其所傳之經典,除一般小乘三藏之外,亦包括華嚴、涅槃、勝鬘、維摩、金光明、般若等諸大乘經。於三藏之中,以經、律二藏為隨機、隨方、隨時而說,故特重論藏,以精研正智、窮究深旨為疾斷煩惱、速證菩提之要法。 另據大唐西域記卷九摩伽陀國條、三論玄義、宗輪論述記卷上等所載,於第一次經典結集時,即有窟內、窟外兩處結集之別,初時兩處之人,無有異諍,法亦無異說,窟內多耆年比丘,窟外則多少壯。至大天比丘(出自窟外)提出五條教義後,兩派乃起乖諍。又據南方佛教所傳之島史(巴 Dīpavaṃsa)、大史(巴 Māhāvaṃsa),及佛音之論事註(巴 Kathāvatthuppakaraṇaṭṭhakathā)序等所記載,則謂根本佛教分裂為二,係於佛陀入滅後二百年頃,七百比丘會合於毘舍離,決議跋耆族比丘所提出之「十事」,以十事為非法者乃上座部。其時,別有一萬徒眾,以十事為合法,是為大眾部。然據南傳論事(巴 Kathāvatthu)中所記載大眾部之教義,則與上記異部宗輪論所說不符,是知南傳所謂之大眾部未必即為宗輪論所說之大眾部。 本派以央崛多羅國為本處而向四方傳佈,初時尚且一味和合,然至後世,則漸分裂,先後衍出一說部、說出世部、雞胤部、多聞部、說假部、制多山部、西山住部、北山住部等,合其本部,共為九部派。〔舍利弗問經、摩訶僧祇律卷三十二、部執異論、十八部論、大毘婆沙論卷九十九、大乘玄論卷五、大乘法苑義林章卷一〕(參閱「大天五事」754、「小乘佛教」935)
; Mahāsaṃghanikas (P), Mahā-saṃghika (S).
; Mahàsanghika (S) The school of the community, or majority; one of the chief early divisions. Thượng tọa bộ, Mahàsthaviràh, the elders sect.
; Ma Ha Tăng Kỳ Bộ: Mahasanghika (skt). (A) Lịch sử thành lập Đại Chúng Bộ—History of the formation of the Mahasanghikas: Đại Chúng Bộ hay trường phái chủ trương già trẻ cùng họp bên ngoài và cùng kết tập Luật bộ, một trong hai trường phái đầu tiên. Tại cuộc hội nghị ở Tỳ Xá Lê, đã có một số Tăng lữ bất đồng ý kiến trầm trọng với một số Tăng lữ khác những điểm quan trọng liên quan tới giáo pháp. Số Tăng lữ có những ý kiến khác biệt tuy chiếm đa số nhưng họ lại bị một số Tăng lữ khác lên án và gọi là Ác Tỳ Kheo và kẻ thuyết phi pháp đồng thời đã trục xuất họ. Trong lịch sử Phật giáo, số Tỳ Kheo nầy được gọi là Đại Chúng Bộ vì trong cuộc hội tập họ đã chiếm đa số và phản ảnh được ý kiến của đại đa số tục chúng. Những Tăng lữ đã xua đuổi những vị nầy đã tự xưng là Thượng Tọa Bộ hoặc Trưởng Lão vì họ tự cho là đại biểu chính thống giáo nghĩa Phật Giáo Nguyên Thủy. Đại Chúng Bộ là những người phân phái sớm nhất, và là tiền thân của Phật giáo Đại Thừa. Họ bênh vực cho bộ phái mới của họ một cách tận tình và chỉ sau vài chục năm đã phát triển đáng kể về mặt quyền uy và đại chúng. Họ sửa đổi các giới luật của bộ Luật Tạng (Vinaya) cho phù hợp với chủ thuyết của họ và đưa thêm vào những giới luật mới, do đó đã có sự cải cách canh tân đối với hàng Tăng già Phật Giáo. Ngoài ra, họ còn thay đổi cách sắp xếp và cách luận giải các đoạn văn của Kinh và Luật. Họ còn đưa ra một số kinh mới, cho rằng đó là những lời do chính Đức Phật phán truyền. Họ bác bỏ một số đoạn trong kinh điển đã được Nghị Hội lần thứ nhất chấp nhận. Họ không thừa nhận nhiều đoạn trong bộ kinh Bổn Sanh, phần phụ lục Parivara trong Luật Tạng vì cho rằng đây là sáng tác của một tu sĩ người Tích Lan. Họ không chấp nhận bộ Luận Tạng được kết tập trong Nghị Hội thứ ba dưới sự bảo trợ của vua A Dục. Họ cho rằng những quyển sách nầy chỉ mới được soạn sau nầy, chỉ được xem như là phần phụ lục chứ không được đưa vào trong bộ sưu tập kinh điển của họ. Như thế họ đã kết tập lại lần nữa các bộ tạng Kinh, tạng Luật, và đưa vào những phần đã bị Nghị Hội Ca Diếp gạt bỏ. Do đó mà có sự phân chia giáo điển đến hai lần. Bộ kết tập của Đại Chúng bộ mang tên Acariyavada, khác với bộ kết tập của Thượng Tọa bộ tại Nghị Hội lần thứ nhất—The general body of disciples or everybody who assembled outside—The school of the community or majority; one of the chief early divisions. At the council held at Vaisali, certain monks differed widely from the opinions of other monks on certain important points of the dharma. Though the monks that differed formed the majority, they were excommunicated by the others who called them Papa-Bhikkhus and Adhamma-vadins. In Buddhist history, these Bhikkhus were known as Mahasanghikas because they formed the majority at the council or probably because they reflected the opinions of the larger section of the laity. The Bhikkhus who excommunicated them styled themselves Sthaviras or the Elders, because they believed that they represented the original, orthodox doctrine of the Buddha. We have seen that Mahasanghikas coined the term Mahayana to represent their system of belief and practice, and called the Sthaviras Hinayana. It is universally believed that the Mahasinghikas were the earliest seceders, and the forerunners of the Mahayana. They took up the cause of their new sect with zeal and enthusiasm and in a few decades grew remarkably in power and popularity. They adapted the existing rules of the Vinaya to their doctrine and introduced new ones , thus revolutionizing the Buddhist Sangha. Moreover, they made alterations in the arrangement and interpretation of the Sutra and the Vinaya texts. They also canonized a good number od sutras, which they claimed to be the sayings of the Buddha. They rejected certain portions of the canon which had been accepted in the First Council, and did not recognize as the Buddha's sayings (the Buddhavacana) parts of the Jataka, the Parivara (an appendix to the Vinaya) for they believed that this portion was composed by a Simhalese monk. They also rejected the Abhidharma which was compiled in the Third Council held under the patronage of King Asoka. Opinion differs as to their authenticity as canonical texts since these works were compositions of a later period. All these texts are therefore additional and are not included in the canonical collection of the Mahasanghikas. Thus they compiled afresh the texts of the Dhamma and the Vinaya and included those texts which had been rejected in Mahakasyapa's Council. Thus arose a twofold division in the Canon. The compilation of the Mahsanghikas was designated the Acariyavada as distinguished from Theravada, compiled at the First Council. (B) Sự tồn vong của Đại Chúng bộ—The survival of the Mahasanghikas: Lúc đầu Đại Chúng bộ không phát triển được nhiều vì sự chống đối mạnh mẽ của Thượng Tọa bộ. Họ đã phải chiến đấu quyết liệt mới đứng vững được ở Ma Kiệt Đà, nhưng rồi dần dần họ tạo được sức mạnh và trở thành một bộ phái hùng mạnh. Điều nầy được chứng minh qua việc họ đã thành lập được các trung tâm hoạt động tại thành Hoa Thị, Tỳ Xá Ly và mở rộng cả về phía nam lẫn phía bắc. . Tôn giả Huyền Trang cho chúng ta biết rằng đa số các Tỳ Kheo cấp dưới ở thành Hoa Thị đều khởi đầu bằng trường phái Đại Chúng bộ. Nghĩa Tịnh (671-695) cũng nói rằng ông đã tìm thấy Đại Chúng bộ ở Ma Kiệt Đà (miền Trung Ấn Độ), một ít ở Lata và Sindhu thuộc miền tây Ấn, và một ít ở miền bắc, miền nam và miền đông Ấn. Bia ký ở kinh đô Sư Tử Mathura (Mathura Lion Capital) năm 120 trước Tây Lịch cũng ghi rằng một luận sư tên Budhila có biệt tài thuyết giảng Đại Chúng bộ. Đây là bằng chứng đầu tiên bằng chữ khắc cho thấy là có sự hiện diện của Đại Chúng bộ. Một người Kamalagulya trong triều đại Huviska đã tặng cho các thầy dạy Đại Chúng bộ một lọ Wardak ở A Phú Hãn, bên trong đựng các di tích của Đức Phật. Tại A Phú Hãn, Huyền Trang đã tìm thấy ba tu viện thuộc Đại Chúng bộ, chứng tỏ rằng bộ phái nầy đã được nhiều người theo ở miền tây bắc. Đại Chúng bộ cũng có một trung tâm hoạt động tại Karle. Như vậy, Đại Chúng bộ không chỉ giới hạn ở Ma Kiệt Đà, mà còn lan qua các miền phía bắc, phía tây và có tín đồ rãi rác khắp nơi trong nước. Về phía nam Ấn Độ, các bia ký còn ghi lại rất nhiều các bộ phái của Đại Chúng bộ. Tháp Amaravati, khoảng 18 dậm về phía tây của Bezwada. Tháp nầy có lẽ được xây dựng vào thế kỷ thứ hai trước Tây Lịch, vòng ngoài tháp được xây vào khoảng thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch, và các công trình điêu khắc vòng trong thuộc thế kỷ thứ ba sau Tây Lịch. Tháp Nagarjunakonda nằm cạnh tháp Amaravati, là thánh địa Phật giáo quan trọng nhất tại miền nam. Các kiến trúc ở Nagarjunakonda từng là các trung tâm quan trọng của Đại Chúng bộ và trở thành những điểm hành hương. Có thể nói là Đại Chúng bộ đã tạo ảnh hưởng trong cả hai miền nam bắc, nhưng họ tạo được nhiều ảnh hưởng ở miền nam hơn, đặc biệt là ở hai quận Guntur và Krishna—The their early days, the Mahasanghikas could not make much progress because of the strong opposition of the Theravadins (Sthaviravadins). They had to struggle hard to establish themselves in Magadha, but they steadily gained in strength and became a powerful sect. They even established centers at Pataliputra and Vaisali and spread their influence to both the North and the South. Hsuan-Tsang tells us that 'the majority of the inferior monks at Pataliputra began with the Mahasanghika school.' I-Ch'ing also states that he found the Mahasanghikas in Magadha in central India, a few in Lata and Sindhu in western India; and a few in northern, southern and eastern India. The inscription on the Mathura Lion Capital (120 B.C) records that a teacher named Budhila was given a gift so that he might teach the Mahasanghikas. This is the earliest epigraphic evidence that the Mahasanghika sect existed. The Wardak vase in Afghanistan containing the relics of the Buddha was presented to the teachers of the Mahasanghikas by one Kamalagulya during the reign of Huviska. At Andharah in Afghanistan, Hsuan-Tsang found three monasteries belonging to this sect, which proves that this sect was popular in the North-West. The cave at Karle in Maharashtra records the gift of a village as also of a nine-celled hall to the adherents of the school of the Mahasanghikas. Clearly, the Mahasanghikas had a center at Karle and exercised influence over the people of the West. They were not thus confined to Magadha alone, but spread over the northern and western parts of India and had adherents scattered all over the country. In the south, the inscriptions at Amaravati stupa, about 18 miles west of Bezwada. The stupa was propably constructed in the second century B.C., its outer rail was erected in the secend century A.D. and the sculptures in the inner rail are supposed to belong to the third century A.D. The Nagarjunakonda represents, next to Amaravati, the most important Buddhist site in southern India. These structures at Nagarjunakonda obviously flourished as important centers of the branches of the Mahasanghika sect and became places of pilgrimage. It is thus apparent that the Mahasanghikas extended their activities both towards the North and the South, particularly in Guntur and Krishna district. (C) Niềm tin chính yếu của Đại Chúng bộ—Main beliefs of the Mahasanghikas: a) Tuy nhiên, Đại Chúng bộ, cũng như Thượng Tọa bộ, đều chấp nhận các nguyên tắc cốt yếu của đạo Phật, nên về mặt nầy họ không khác biệt Thượng Tọa bộ. Các chủ thuyết căn bản ở đây là Tứ Diệu Đế, Bát Thánh Đạo, vô ngã, thuyết nghiệp báo, thuyết mười hai nhân duyên, ba mươi bảy phẩm trợ đạo và các giai đoạn chứng đắc trên đường tu đạo. Đối với họ, Đức Phật là siêu thế (lkottara); hoàn toàn thanh tịnh; thân, thọ, và quyền năng của chư Phật là vô biên. Chư Phật luôn ở trong trạng thái định (samadhi). Trí tuệ Phật nắm bắt mọi sự việc trong một thoáng. Nói tóm lại, tất cả những gì thuộc về chư Phật đều là siêu việt. Quan niệm của Đại Chúng bộ về chư Phật góp phần phát triển thuyết 'tam thân Phật' sau nầy trong trường phái Đại Thừa. Như vậy Đại Chúng bộ quan niệm về Đức Phật theo kiểu hóa thân và mở đường cho quan niệm về chư Bồ Tát sau nầy. Theo họ, chư Bồ Tát cũng là siêu nhiên, họ không bao giờ có sự tham dục, ác tâm, hoặc sự tổn hại. Vì muốn cứu giúp chúng sanh, họ chủ động giáng thế bằng bất cứ hóa thân nào do họ chọn. Tất cả những quan niệm nầy dẫn tới sự Thần Thánh hóa chư Phật và chư Bồ Tát. Một bộ phận của Đại Chúng bộ gồm những người theo Đại Thiên lại cho rằng các A La hán cũng còn những điểm yếu kém, họ còn phải học, còn có sự nghi hoặc ít nhiều, họ chỉ có kiến thức nhờ sự giúp đở của người khác. Do đó quả vị A La Hán chưa phải là giai đoạn Thánh thiện sau cùng—However, the Mahasanghikas, like the Theravadins, accepted the cardinal principles of Buddhism, and were, in this regard, not different from them. The fundamentals are the four noble truths, the eightfold path, the non-existence of the soul, the theory of karma, the theory of the thirty-seven Bodhipaksiya-dharmas (pratitya-samutpada), and the gradual stages of spiritual advancement. According to them the Buddhas are supramundane (lokottara); they have no defiled elements (sasrava dharmas); their bodies, their length of life and their powers are unlimited. They are always in a state of meditation (samadhi); they understand everything in a moment. b) Theo Giáo Sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, Đại Chúng Bộ còn có những niềm tin khác như—According to Prof. Bapat in the Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, the Mahasanghikas have other beliefs as follows: • Năm thức có thể khiến cho người ta chấp thủ những chuyện thế tục nhưng đồng thời cũng giúp cho người ta ly tham: The five self-perceptions (vijnanas) conduce both to attachment to worldly matters (saraga) and non-attachment to the same state (viraga). • Các quan năng như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, vân vân, chỉ là bằng thịt cho nên không thể cảm nhận được hoạt động của thức: The organs of sense (rupendriyas) are mere flesh. They themselves cannot perceive the self-perceptions (vijnanas) of the organs. • Người ta có thể đoạn trừ khổ đau và đạt đến Niết Bàn thông qua trí tuệ (prajna): One can eliminate suffering and obtain the highest bliss through knowledge. • Một vị dự lưu (Srotapanna) có thể bị thối chuyển, còn vị A La Hán thì không. Thông qua tâm và tâm sở (caitasika), vị dự lưu có thể biết rõ tự thân mình (svabhava). Vị dự lưu cũng có thể phạm mọi thứ tội lỗi, ngoài trừ năm trọng tội (pancanantaryani) là giết mẹ, giết cha, giết A La hán, làm chảy máu thân Phật và gây chia rẽ trong Tăng già: One who has entered the path of sanctification is liable to retrogress while an Arhat is not. He is capable of knowing his own nature (svabhava) through his mind (citta) and caitasika dharmas. He is also liable to commit all kinds of offences except the five heinous crimes (pancanantaryani), namelt, matricide, patricide, the murder of an Arhat, shedding the blood of the Buddha and creating a split in the Sangha. • Không có điều gì là bất định (avyakrta), nghĩa là bản chất của mọi việc phải là tốt hay xấu, vì nó không thể không tốt mà cũng không xấu: Nothing is indeterminate (avyakrta), i.e., the nature of things must be either good or bad for it cannot be neither good or bad. • Bản chất của tâm là thanh tịnh, tâm trở nên ô nhiễm khi bị vướng vào dục vọng (upaklesa) và những niệm xấu khác (agantukaraja). Quan niệm nầy của Đại Chúng bộ có thể được xem như triết lý duy tâm của phái Du Già (Yogacara), theo đó A lại da thức (Alayavijnana) là cái kho của ý thức thanh tịnh và ý thức nầy chỉ trở thành bất tịnh khi bị ô nhiễm bởi các vấn đề trần tục: The original nature of the mind is pure; it becomes contaminated when it is stained by passions (upaklesa) and adventitious defilements (agantukarajas). This view of the Mahsanghikas may be considered the precursor of the idealistic philosophy of Yogacara, in which the alayavijnana is the storehouse of pure consciousness which becomes impure only when it is polluted by worldly objects. • Sau khi chết và trước lúc tái sanh thì không có sự sống: After death and before rebirth a being has no existence. *** For more information, please see Nhị Bộ, and Kết Tập Kinh Điển II.
; (大衆部) Phạm: Mahàsaíghika, Pàli: Mahàsaíghikà. Dịch âm: Mạc ha tăng kì ni ca da, Ma ha tăng kì bộ, gọi tắt: Tăng kì bộ. Cũng gọi Thánh đại chúng bộ. Một trong 20 bộ của Tiểu thừa, cùng với Thượng tọa bộ là hai bộ phái Phật giáo phân hóa đầu tiên. Cứ theo luận Dị bộ tông luân chép, thì sau khi đức Phật nhập diệt hơn 100 năm, có vị tỉ khưu tên là Đại thiên nêu ra năm điều giáo nghĩa, từ đó đã nảy sinh ra hai phái: Phái tỉ khưu chủ trương cải cách tán thành và phái tỉ khưu chủ trương bảo thủ phản đối. Hai phái chống đối nhau, phái trước bèn trở thành Đại chúng bộ, phái sau thành Thượng tọa bộ. Đại chúng bộ chủ trương sắc thân của Phật là vô lậu, vô biên, thọ mệnh của Ngài vô lượng và cho rằng sinh tử hay Niết bàn đều là tên giả (hiện tượng), rằng tâm tính người ta vốn trong sạch, chỉ vì dao động mà bị nhiễm ô, đây là tư tưởng tiên khu của Phật giáo Đại thừa sau này. Phái này còn chủ trương Hiện tại thực hữu, quá vị vô thể(Chỉ có hiện tại là thực sự tồn tại). Chủ trương này của Đại chúng bộ đối lập với thuyết Tam thế thực hữu, pháp thế hằng hữu của Thượng tọa bộ. Cứ theo mục Ma ha già quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 9, Tam luận huyền nghĩa và Tông luân luận thuật kí quyển thượng ghi chép, thì khi kết tập kinh điển lần thứ nhất có chia làm hai nơi riêng biệt: Trong hang và Ngoài hang. Trong hang gồm những vị tỉ khưu lớn tuổi, còn Ngoài hang thì đa số là những vị tỉ khưu thanh niên. Lúc đầu, hai nơi không có tranh luận gì, và cũng không có quan điểm khác biệt nào đối với giáo pháp. Nhưng đến khi tỉ khưu Đại thiên (thuộc phái Ngoài hang) đưa ra năm điều giáo nghĩa thì lúc đó hai phái mới bắt đầu tranh cãi. Còn theo Đảo sử (Pàli:Dìpavaôsa), Đại sử (Pàli:Mahàvaôsa) của Phật giáo Nam truyền và bài tựa Luận sự chú (Pàli: Kathàvatthuppakaraịaỉỉhakathà) của ngài Phật âm Pàli: Buddhaghosa) nói, thì nguyên nhân khiến cho Phật giáo căn bản bị chia ra làm hai bộ phái là sau khi đức Phật nhập diệt khoảng 200 năm, 700 vị tỉ khưu nhóm họp ở thành Tì xá li để quyết nghi mười việc do các tỉ khưu thuộc chủng tộc Bạt kì nêu ra, những vị Trưởng lão cho mười việc là phi pháp trong khi 10.000 đồ chúng khác thừa nhận mười việc là hợp pháp. Từ đó giáo đoàn chia làm hai bộ phái: Thượng tọa bộ gồm những vị Trưởng lão và Đại chúng bộ là 10.000 vị tỉ khưu. Nhưng giáo nghĩa của Đại chúng bộ được ghi chép trong Luận sự (Pàli:Kathàvatthu) của Nam truyền không giống với những điều ghi trong luận Dị bộ tông luân nói ở trên, cho nên biết Đại chúng bộ mà Nam truyền nói đến chưa chắc đã là Đại chúng bộ được đề cập trong luận Dị bộ tông luân. Đại chúng bộ lấy nước Ương quật đa la làm trung tâm điểm để từ đó truyền bá giáo nghĩa và ảnh hưởng của mình ra các nơi khác. Lúc đầu còn thuần nhất hòa hợp, nhưng đến các thế hệ sau thì dần dần đã phân hóa thành chín bộ phái: Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ, Kê dận bộ, Đa văn bộ, Thuyết giả bộ, Chế đa sơn bộ, Tây sơn trụ bộ, Bắc sơn trụ bộ và Bộ phái gốc. [X. kinh Xá lợi phất vấn; luật Ma ha tăng kỳ Q.32; luận Bộ chấp dị; luận Thập bát bộ; luận Đại tì bà sa Q.99; Đại thừa huyền luận Q.5; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1]. (xt. Đại Thiên Ngũ Sự, Tiểu Thừa Phật Giáo).
Đại chúng bộ 大衆部
[ja] ダイシュブ Daishubu ||| The Mahāsāṅghika sect, one of the early branches of Indian Nikāya Buddhism 部派佛教. Their name means "great assembly" and they are thought to have been a relatively liberal sect, who ran into conflict with such schools as the Theravāda 上座部 when they proposed to make adjustments in the rules of conduct to allow for exigencies of time, local customs, and geography. They are also known to be associated with lay practice movements, and therefore considered to be a forerunner of the Mahāyāna movement. => Ma-ha tăng-kỳ bộ (s: Mahāsāṅghika), một trong những phái đầu tiên của Bộ phái Phật giáo (部派佛教e: Indian Nikāya Buddhism). Tên bộ phái có nghĩa là “Đại chúng” và có tư tưởng là một tông phái tương đối tự do, đang có khuynh hướng chống lại những tông phái như Thượng toạ bộ (s: Theravāda 上座部) khi họ đề nghị điều chỉnh lại giới luật cho phù hợp với các yếu tố thời gian, tập quán địa phương, và địa lý. Bộ phái nầy được biết cũng quan tâm đến phong trào tu tập của giới cư sĩ, do vậy cũng được xem là người tiên phong của cuộc vận động Đại thừa.
đại chúng hóa
To popularize—To put within reach of the masses.
đại chúng thỉnh pháp
1546禪林中,住持開堂說法時,燒香侍者代表大眾請住持說法,稱為代眾請法。即於住持上堂之際,燒香侍者由東階登上法座,跪於香爐之左,右手自左袖中取出小香盒,以左手開蓋,蓋與香盒皆置於右掌中,左手點燃香,稱為「請法香」。其後再將香盒收回袖中,略問訊之後即自法座下來,復自職事席位之前進入法座之正面中央,深深問訊,然後歸於侍者自己之席位。燒香侍者進行代眾請法之際,兩序與大眾均應一齊北面問訊。〔敕修百丈清規卷一聖節條〕
; (代衆請法) Trong Thiền lâm, khi vị Trụ trì thuyết pháp, Thị giả đốt hương thay mặt đại chúng thỉnh Trụ trì nói pháp, gọi là Đại chúng thỉnh pháp. Khi vị Trụ trì sắp lên giảng đường, Thị giả đi từ phía đông lên tòa pháp, quì ở bên trái lư hương, tay phải rút ra một cái hộp hương nhỏ từ trong tay áo bên trái, dùng tay trái mở nắp, nắp và hộp hương đều để trong bàn tay phải, tay trái đốt hương, gọi là Thỉnh pháp hương. Sau đó, đem hộp hương để lại trong tay áo, Sau khi thưa hỏi, vị Thị giả xuống tòa, rồi lại từ phía trước chỗ ngồi của các chức sự tiến vào chính giữa tòa pháp để tác bạch. Sau đó, Thị giả trở về vị trí của chính mình. Trong khi vị Thị giả đốt hương thay đại chúng thỉnh pháp thì hai ban chức sự (Đông tự, Tây tự) và đại chúng đều phải quay về phương bắc để thỉnh pháp. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1 Thánh tiết điều].
đại chúng tỳ kheo
Great Assembly of Great Bhikshus.
đại chúng ấn
Ấn của tự viện—The seal of a monastery.
Đại chúng 大衆
[ja] ダイシュウ daishū ||| (1) A great crowd; large gathering, or group. (2) The saṃgha--monks and nuns. (3) Those stuck in saṃsāra. (4) In T'ien-t'ai, one of the original members of the group. (5) Buddhist practitioners, or followers. => Đám đông người, nhóm nhiều người. Đoàn thể gồm Tăng và ni. Những ai đang bị kẹt trong vòng luân hồi. Theo tông Thiên Thai, một trong những thành viên căn bản của hội chúng. Phật tử, tín đồ đạo Phật.
đại chủng
878請參閱 雲門匡真禪師廣錄 梵語 mahābhūta。指構成色法之地、水、火、風四大要素。即:地大(梵 pṛthivī-dhātuḥ)、水大(梵 ab-dhātuḥ)、火大(梵 tejo-dhātuḥ)、風大(梵 vāyu-dhātuḥ)四種,故稱能造之大種、四大種、四大、四界。分別可稱地種乃至風種,地大種乃至風大種,或地界乃至風界等。據俱舍論卷一載,地大有堅性(梵 khakkhaṭatvaṃ),水大有濕性(梵 dravatvaṃ),火大有暖性(梵 uṣṇatvaṃ),風大有動性(梵 laghu-samudīraṇatvaṃ)。又就四大之作用而言,地大有保持不使墜落之作用,水大有攝集不使散溢之作用,火大有使物成熟而免於壞爛之作用,風大有增盛流引、上下縱橫生長之作用。〔品類足論卷一、俱舍論卷四、大毘婆沙論卷七十五、卷一二七〕(參閱「四大」1649)
; Mahabhuta (skt)—Four primary elements—Bốn thứ lớn trong khắp vạn pháp (đất, nước, lửa, gió), vạn vật không thể lìa bốn thứ nầy mà sinh được—The four great seeds or elements which enter into all things (earth, water, fire and wind), as from seeds all things spring.
; (大種) Phạm: Mahàbhùta. Chỉ cho bốn yếu tố lớn (Tứ đại) địa, thủy, hỏa, phong (đất, nước, lửa, gió) cấu tạo thành các sắc pháp (vật chất). Đó là: - Địa đại (Phạm: pṛthivī-dhātuḥ) - Thủy đại (Phạm: ab-dhātuḥ)- Hỏa đại (Phạm: tejo-dhātuḥ) - Phong đại (Phạm: vāyu-dhātuḥ) Cũng gọi Năng tạo đại chủng, Tứ đại chủng. Tứ đại, Tứ giới. Cứ theo luận Câu xá quyển 1 nói, thì Địa đại có tính cứng chắc (Phạm: khakkhaṭatvaṃ), Thủy đại có tính ẩm ướt (Phạm: dravatvaṃ), Hỏa đại có tính ấm nóng (Phạm: uṣṇatvaṃ),Phong đại có tính chuyển động (Phạm: laghu-samudīraṇatvaṃ). [X. luận Phẩm loại túc Q.1; luận Câu xá Q.4; luận Đại tì bà sa Q.75, Q.127]. (xt. Tứ Đại).
đại chủng tánh
MahābhŪtas (S)Tứ đại, Lục đạiGồm: địa, thuỷ, hoả, phong (không, thức).
đại chủng tánh tự tánh
MahābhŪta-svabhāva (S)Đại tánh tự tánhNhân tạo tác tất cả sắc pháp.
đại chứng
904(1297~1361)元代曹洞宗僧。江西鄱陽人,俗姓史。字無印。出家於饒州昌國寺,十四歲受具足戒。參禮天童山雲外雲岫,後嗣其法。至治初年,受詔入宮中說法,帝賜以「佛日圓明慧辯禪師」之號。泰定元年(1324)赴江浙,因丞相脫歡之請,住衢州南禪寺,未久遷光孝寺。至元四年(1338)入信州祥符寺,至正七年(1347)入雪竇山資聖寺,後居圓明庵。至正二十一年示寂,世壽六十五。〔雪竇寺誌卷六、五燈會元續略卷一、續傳燈錄卷三十六〕
đại chứng chỉ thạch sư tử
904禪宗公案名。大證,指唐代之大證國師南陽慧忠。此則公案為大證國師與唐肅宗、耽源應真等三人關於石獅子之機緣語句。聯燈會要卷三(卍續一三六‧二四二下):「肅宗同師到宮前,師指石師子云:『請陛下,下取一轉語。』宗云:『朕下不得,請師下。』師云:『山僧罪過。』後耽源問師:『皇帝還會麼?』師云:『皇帝且置,子作麼生會?』」公案中之石獅子譬喻本來之面目,非能以概念或言詮表達者,除非自己體得。故肅宗與大證各以「朕下不得」、「山僧罪過」之語來避免直接用言語詮釋「本來面目」。〔拈評三百則不能語卷中五十二〕
; (大證指石獅子) Ngài Đại chứng chỉ vào con sư tử bằng đá. Tên công án trong Thiền tông. Công án này là những câu nói cơ duyên giữa Quốc sư Đại chứng (ngài Tuệ trung ở Nam dương) đời Đường với vua Túc tông và Đam nguyên Ứng chân về con sư tử đá. Liên đăng hội yếu quyển 3 (Vạn tục 136, 242 hạ) chép: Túc tông cùng sư đến trước cung, sư chỉ vào con sư tử đá nói: - Xin Bệ hạ cho một chuyển ngữ. Vua nói: - Trẫm không cho được, thỉnh sư cho! Sư nói: - Sơn tăng chịu tội vậy. Sau đó, Đam nguyên hỏi sư: - Hoàng đế có hiểu không? Sư bảo: - Hãy khoan nói Hoàng đế, ông hiểu thế nào đã? Sư tử bằng đá trong công án trên là thí dụ bản lai diện mục, ngoài việc tự chứng ra, không thể dùng khái niệm hay lời nói mà diễn đạt được. Cho nên Túc tông và Quốc sư đều tránh, không trực tiếp giải thích bằng ngôn ngữ thế nào là bản lai diện mục. [X. Niêm bình tam bách tắc bất năng ngữ Q.trung 52].
đại cuộc
Great work.
đại cát biến bồ tát
Xem Đại Cát Tường Biến Bồ tát.
đại cát long tự
775西藏名 Stag-luṅ。位於西藏拉薩(藏 Lha-sa)北七十二公里之山岳中,原係迦爾居派(藏 Bkaḥ-brgyud-pa)之支派大隆派本山,後屬黃教。西元一一八○年(一說一一七八年),迦爾居派潑結木九巴(藏 Phag-mo-gru)之弟子大吉隆壇(藏 Stag-luṅ-dam-pa)於大隆地方創建本寺,座下僧眾多達三千人,遂以寺為中心,形成大隆派,蓬勃發展。十五世紀時黃教興起,勢力遍及全藏,大隆派乃漸趨衰微,僧院歸於黃教,黃教轉世喇嘛住此。〔青冊(Debther sṅon-po); L.A. Waddell: The Buddhism of Tibet; Ch. Bell: The Religion of Tibet(橋本光寶譯,西藏の喇嘛教)
đại cát long đàn
776(1142~1210)西藏名 Stag-luṅ-dam-pa。西藏佛教迦爾居派分支大隆迦爾居之創始人。為潑結木九巴弟子。南宋淳熙七年(1180),於大隆(亦譯達壠)地方建大吉隆寺,收徒傳法,創立該支派。十五世紀格魯派(即黃教)得勢後,大隆派勢力漸衰微。
đại cát tường biến bồ tát
775大吉祥變,梵名 Lakṣma-mahāvidya,音譯攞乞叉摩摩訶微地也。又稱大吉變菩薩。為密教現圖胎藏界曼荼羅觀音院最外列上方第六位之菩薩。此尊住於如幻三昧,表示普門示現之德。身呈肉 漶A趺坐於赤蓮花之上。左手豎臂,覆作拳狀,持半開敷之蓮花,置於肩側。右手仰掌,稍屈拇指,置於胸前。密號動用金剛,種子為逘(sa),三昧耶形為開合之蓮花。〔玄法寺儀軌、祕藏記、諸說不同記卷三、胎藏界七集卷上〕
; Laksma-Mahāvidyā (S)Đại Cát Biến Bồ tát.
; Vị Bồ Tát thứ sáu của hàng thứ ba trong pháp giới—The sixth bodhisattva in the third row of the Garbhadhatu.
; (大吉祥變菩薩) Đại cát tường biến, Phạm: Lakwma mahàvidya, dịch âm: La khất xoa ma ha vi địa dã. Cũng gọi Đại cát biến bồ tát. Vị Bồ tát ở ngôi thứ 6 phía trên hàng ngoài cùng trong viện Quan âm trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Vị tôn này ở trong tam muội Như huyễn nêu tỏ đức Phổ môn thị hiện. Thân hình ngài mầu da người, ngồi kết già trên hoa sen đỏ, cánh tay trái giơ lên đầu vai, bàn tay như úp xuống, cầm đóa hoa sen vừa nở đặt ở cạnh vai, bàn tay phải ngửa lên, ngón cái hơi co lại, để ở trước ngực. Mật hiệu là Động dụng kim cương, chủng tử là (sa), hình tam muội da là hoa sen chớm nở. [X. Huyền pháp tự nghi quĩ; Bí tạng kí; Chư thuyết bất đồng kí Q.3; Thai tạng giới thất tập Q.thượng].
đại cát tường bồ tát
Xem Đại Cát Tường Đại Minh Bồ tát.
đại cát tường kim cang
See Kim Cang Thủ.
đại cát tường minh bồ tát
774大吉祥明,梵名 Śrīmahāvidya,音譯室利摩訶微地也。為密教現圖胎藏界曼荼羅觀音院中列上方第六位之菩薩。又作吉祥觀自在菩薩、吉祥菩薩、吉祥。大吉祥,表示不染生死、清淨無垢,即以無染清淨法門破除眾生之冥暗。身呈肉色,趺坐於赤蓮花之上。左臂置於肩側,持未開敷之蓮花。右臂置於胸前,掌向外,屈無名、小指,豎餘三指。密號常慶金剛,種子為逘(sa),三昧耶形為未開敷之蓮花。〔青龍寺儀軌、玄法寺儀軌、祕藏記、諸說不同記卷三、胎藏界七集卷上〕
; Śrīmahā-vidyā (S), Śrīmahāvid (S)Cát Tường Bồ tát, Cát Tường Quán Tự Tại Bồ tát.
; Vị Bồ tát thứ sáu trong hàng thứ hai trong Pháp Giới nhóm Quán Âm—The sixth bodhisattva in the second row of the Garbhadhatu Kuan-Yin Group.
; (大吉祥明菩薩) Đại cát tường minh, Phạm:Zrìmahàvidya, dịch âm: Thất lị ma ha vi địa dã. Cũng gọi Cát tường Quán tự tại bồ tát, Cát tường bồ tát, Cát tường. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 6 phía trên hàng giữa trong viện Quan âm trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Đại cát tường biểu thị không nhiễm sinh tử, trong sạch không cáu bẩn, tức là dùng pháp môn vô nhiễm thanh tịnh để phá trừ sự tối tăm của chúng sinh. Hình tượng của vị tôn này là mầu da người, ngồi kết già trên hoa sen đỏ, cánh tay trái giơ lên ngang vai, cầm hoa sen chưa nở; cánh tay phải để ở trước ngực, bàn tay hướng ra ngoài, ngón áp út, ngón út co lại, ba ngón còn lại dựng thẳng. Mật hiệu là Thường khánh kim cương, chủng tử là (sa), hình tam muội da là hoa sen chưa nở. [X. Thanh long tự nghi quĩ; Huyền pháp tự nghi quĩ; Bí tạng kí; Chư thuyết bất đồng kí Q.3; Thai tạng giới thất tập Q.thượng].
đại cát tường quán tự tại bồ tát
Xem Đại Cát Tường Đại Minh Bồ tát.
đại cát tường thiên
The Good-Fortune Devis.
Đại cát tường thiên nữ thập nhị danh hiệu kinh 大吉祥天女十二名號經
[ja] ダイキツショウテンジョジュウニミョウゴウキョウ Daikichijō tennnyo jūni myōgō kyō ||| The Dajixiang tiannü shierminghao jing; Skt. Mahālakṣmī; Tib. dpal chen mo'i mdo [To.740/1005, P.399]; (Twelve Names of the Great Auspicious Goddess) 1 fasc. (T 1252.21.252), trans. Amoghavajra 不空. => (c:Dajixiang tiannü shierminghao jing; Skt. Mahālakṣmī; Tib. dpal chen mo'i mdo; e: Twelve Names of the Great Auspicious Goddess).1 quyển, Bất Không (不空s: Amoghavajra ) dịch.
Đại cát tường thiên nữ thập nhị khế nhất bách bát danh vô cấu đại thừa kinh 吉祥天女十二契一百八名無垢大乘經
[ja] ダイキチジョウテンジョジュウニカイイチヒャクハチミョウムクダイジョウキョウ Dai kichijōtennyo jūni kai ippyakuhachi myō muku daijō kyō ||| The Da jixiangtiannü shierxie yibaiba ming wugou dasheng jing; Skt. [ārya-śrī-]Mahādevī-vyākaraṇa; Tib. ['phags pa] lha mo chen mo dpal lung bstan pa [To.739, P.398]; (Sutra of the Exalted Goddess [and Her Twelve Mudras and One Hundred and Eight Names] in the Immaculate Mahāyāna). 1 fasc. (T 1253.21.253-255), trans. Amoghavajra 不空. BGBT4/141-2. => (c: Da jixiangtiannü shierxie yibaiba ming wugou dasheng jing; Skt. [ārya-śrī-]Mahādevī-vyākaraṇa; Tib. ['phags pa] lha mo chen mo dpal lung bstan pa; e: Sutra of the Exalted Goddess [and Her Twelve Mudras and One Hundred and Eight Names] in the Immaculate Mahāyāna). 1 quyển. Bất Không (不空s: Amoghavajra ) dịch.
đại cát tường đại minh bồ tát
774大吉祥大明,梵名 Mahāśrī-mahāvidya,音譯摩訶室利摩訶微地也。大吉祥表示不染生死、清淨無垢蓮花三昧,大明有照應度機類無邊際之義。為密教現圖胎藏界曼荼羅觀音院中列上方第五位之菩薩。又作大吉祥觀自在菩薩、大吉祥。身呈肉色,趺坐於赤蓮花之上。左手持開敷之蓮花,置於腰側。右手置於胸前,豎掌向外,捻拇指、食指,屈中、無名指,立小指。左側有使者持花鬘。密號靈瑞金剛,種子為逘(sa),三昧耶形為開敷之蓮花。〔祕藏記、諸說不同記卷三、胎藏界七集卷上〕
; Mahāśrī mahāvidyā (S)Đại Cát Tường Quán Tự Tại Bồ tát, Đại Cát Tường Bồ tátTên một vị Bồ tát.
; (大吉祥大明菩薩) Đại cát tường đại minh: Mahàsrì mahàvidya, dịch âm: Ma ha thất lợi ma ha vi địa dã. Đại cát tường (rất tốt lành) là biểu thị tam muội hoa sen trong trắng không nhiễm sinh tử; Đại minh là ánh sáng rực rỡ chiếu soi các cơ loại nên cứu độ mà không có biên giới. Vị Bồ tát này ngồi ở vị trí thứ 5 phía trên hàng giữa trong viện Quan âm trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Cũng gọi Đại cát tường Quán tự tại bồ tát, Đại cát tường. Thân hình Ngài mầu da người, ngồi kết già trên hoa sen đỏ, tay trái cầm hoa sen nở để ở cạnh sườn, tay phải đặt ở trước ngực, bàn tay dựng thẳng hướng ra ngoài, ngón cái, ngón trỏ bấm vào nhau, ngón giữa, ngón áp út co lại, ngón út đứngthẳng. Bên tráicó sứ giả cầm vòng hoa. Mật hiệu là Linh thụy kim cương,chủng tử là (sa), hình tam muội da là hoa sen nở. [X. Bí tạng kí; Chư thuyết bất đồng kí Q.3; Thai tạng giới thất tập Q.thượng].
đại cát đại minh bồ tát
Vị Bồ Tát thứ năm trong hàng thứ hai thuộc nhóm Pháp Giới Quán Âm—The fifth bodhisattva in the second row of the Garbhadhatu Kuan-Yin group.
đại câu hy na
Ma Ha Câu Hy Na, một trong những đại đệ tử của Phật, cũng là cậu của Xá Lợi Phất, tác giả nổi tiếng với bộ Luận Chánh Kiến và Chánh Pháp—one of eminent disciples of Sakyamuni, a maternal uncle of Sariputra, reputed author of the Samgitiparyaya sastra.
đại câu hy na kinh
Mahakausthila (skt)—Kinh ghi lại những vấn đáp giữa Ngài Xá Lợi Phất và Ma Ha Câu Hy Na về chánh kiến và chánh pháp—A sutra of Questions from Sariputra and Answers from Mahakausthila on the right views and dharma.
đại công
1) Great merit. 2) Very fair—Impartial—Very just.
đại công đức
Great merit and virtue.
đại cơ
886請參閱 大樹緊那羅王所問經 請參閱 大樹緊那羅王所問經 <一>又作大根機、大機根。指大乘之機根。即受持大乘法,信念堅固,以修行力可至菩薩乘之機類。 <二>禪林用語。又作大機用、大機大用。意指具有極大之作用。與「格外玄機」同義。然若將「大機大用」一詞析為大機、大用,則二者之意義有別,大機明示宗旨之境界,大用則是接化學人之方法。〔人天眼目卷二、百丈語錄〕
; Một cơ hội lớn hay một phương pháp để trở thành Bồ Tát của trường phái Đại Thừa—The great opportunity—Mahayana method of becoming a bodhisattva.
; (大機) I. Đại cơ. Cũng gọi Đại căn cơ, Đại cơ căn. Chỉ cho căn cơ Đại thừa. Tức là căn cơ thụ trì pháp Đại thừa, lòng tin bền vững, nhờ sức tu hành có thể đạt đến Bồ tát thừa. II. Đại cơ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cũng gọi Đại cơ dụng, Đại cơ đại dụng. Chỉ cho tác dụng rất lớn. Đồng nghĩa với Cách ngoại huyền cơ. Nhưng nếu tách riêng từ Đại cơ, Đại dụng ra, thì Đại cơ hiển bày rõ cảnh giới tông chỉ, còn Đại dụng thì là phương pháp tiếp hóa người học. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2; Bách trượng ngữ lục].
Đại cơ 大機
[ja] ダイキ daiki ||| "great capacity." (1) A person who has received the supreme teaching of the great vehicle and embodies its resultant excellent abilities. A person who has accepted the great vehicle teaching and possesses the spiritual qualities resultant of bodhisattva practices. (2) Great functioning. The great functioning of an impeccable Chan teacher; the methods s/he uses to guide practitioners. => 1. Người nhận được giáo lý tối thượng của đại thừa và thể hiện kết quả năng lực xuất chúng. Người tự nguyện tu tập giáo pháp Đại thừa và có được kết quả năng lực tinh thần qua tu tập công hạnh Bồ-tát. 2. Đại dụng. Đại dụng của bậc Thiền sư hoàn hảo, phương pháp vị ấy dùng để hướng dẫn người tu.
đại cương
878即根本要義。法門之大義,譬如網之大綱;委細之教義,則譬如網之細目。法華玄義卷十(大三三‧八○○中):「唯論如來設教大綱,不委微細綱目。」
; General idea—Outline.
; (大綱) Giáo nghĩa căn bản chủ yếu. Nghĩa lớn của pháp môn ví như cái giềng lưới của tấm lưới; giáo nghĩa nhỏ thì ví như những mắt lưới của tấm lưới. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10 (Đại 33, 800 trung), nói: ... Chỉ bàn về đại cương (giềng lưới) lập giáo của Như lai, chứ không nói đến những cương mục (mắt lưới) nhỏ nhặt.
đại cảnh trí
Tấm kiếng toàn giác phản chiếu Phật trí—Great perfect mirror wisdom (perfect all-reflecting Buddha-wisdom).
đại cảnh trí quán
Thiền quán phản ánh trí huệ Phật trong mọi chúng sanh (Phật có thể đi vào trong ta và ta có thể đi vào trong Phật)—A meditation on the reflection of the perfect Buddha-wisdom in every being, that as an image may enter into any number of reflectors (the Buddha can enter into me and I can enter into him too).
đại cần dũng
Kiên dũng tinh cần—Danh hiệu của Phật Tỳ Lô Giá Na—Great Zealous and bold—A title of Vairocana (Tỳ Lô Giá Na).
đại cốc
793位於日本京都東山華頂山西麓、祇園東側之高地,即圓山町至雙林寺一帶之泛稱。以日本淨土宗開祖法然於此地弘通淨土教、其後並入寂(1212)於此而聲名大著。弘長二年(1262),日本淨土真宗開祖親鸞示寂,遺骸亦納葬於此地。
đại cốc quang chiếu
793請參閱 西藏大藏經甘殊爾勘同目錄 (1911~ )日本佛教學者。係日本真宗開祖親鸞之後裔,一九二七年繼承西本願寺派門主。一九三五年東京帝國大學東洋史學科畢業。一九三八年曾至中國考察。一九五七年任日本佛教會會長。著有唐代之佛教儀禮等。
đại cốc quang diễn
794(1875~1943)日本真宗大谷派第二十三世之法主。京都人。法號彰如。號愚峰。九歲剃度。明治三十一年(1898)就學於東京。後曾任佛骨奉迎正使,奉派赴暹羅。並曾出任大谷派管長。昭和十八年示寂於東京大森,享年六十九。師亦以擅長俳句(日本之短詩,以十七字為一首)著稱。
đại cốc quang thuỵ
793(1876~1948)日本淨土真宗西本願寺派第二十二世法主。京都人。法號鏡如。十歲剃度,學習院畢業後,留學歐洲。明治三十五年(1902),率大谷探險隊前往中亞、新彊、喀什米爾、犍陀羅、印度等地,翌年因父歿而歸國。後就任本願寺派管長,致力於宗教革新。明治四十二年,氏於印度派橘瑞超等人發掘調查吐魯番、庫車等地,翌年再派橘瑞超等人赴新彊省,獲得不少出土物。此外,並編纂「佛教大辭彙」三冊(後擴大為七冊)亦頗為學界所稱譽。昭和二十三年歿,享壽七十三。著有大谷光瑞全集、大無量壽經義疏、第一義諦、極樂莊嚴、佛教大意、維摩經講話、他力真宗、隨筆百則、中國的將來與日本帝國的使命、印度地誌等。
; (大穀光瑞) Pháp chủ đời thứ 22 của phái chùa Tây bản Nguyện thuộc Tịnh độ chân tông Nhật bản, người Kinh đô (Kyoto), pháp hiệu Kính như. Sư xuất gia năm mười tuổi, sau khi tốt nghiệp viện Học tập, sư du học châu Âu. Năm Minh trị 35 (1902), sư dẫn đầu đoàn thám hiểm đến Trung á, Tân cương, Kasmìra, Gandhàra, Ấn độ v.v... Năm sau, vì thân phụ qua đời, sư phải trở về. Í Sau khi hồi hương, sư làm Quản trưởng phái chùa Tây bản Nguyện, ra sức cải cách tông giáo. Năm Minh trị 42 (1909), sư ở Ấn độ, gửi một đoàn người do ông Quất thụy siêu hướng dẫn đến khai quật và điều tra các vùng đất Thổ lỗ phiên, Khố xa v.v... Năm sau phái đoàn này đến tỉnh Tân cương, đào được nhiều cổ vật. Ngoài ra, sư còn biên soạn bộ Phật giáo đại từ vậng 3 tập (sau chia ra 7 tập) cũng rất được học giới đón nhận. Năm Chiêu hòa 23 sư tịch, thọ 73 tuổi. Tác phẩm của sư gồm có: - Phật giáo đại từ vậng 3 tập (hoặc 7 tập). - Đại cốc Quang thụy toàn tập. - Đại vô lượng thọ kinh nghĩa sớ. - Đệ nhất nghĩa đế. - Cực lạc trang nghiêm. - Phật giáo đại ý. - Duy ma kinh giảng thoại. - Tha lực chân tông. - Tùy bút bách tắc. - Trung quốc đích tương lai dữ Nhật bản đế quốc đích sứ mệnh. - Ấn độ địa chí.
đại cốc thạch phật
793日本大谷寺之磨崖佛像群。位於御止山西南側自然窟之西面內壁。石佛群自右至左,依序為千手觀世音、釋迦三尊、藥師三尊、彌陀三尊。現存佛像保存甚佳,大約作於弘仁時代(810~823)。與大分縣臼杵市之磨崖佛同為日本珍貴之佛教古蹟。〔日本石佛大觀、史跡名勝天然紀念物〕
đại cốc đại học
793為日本淨土真宗大谷派設立於京都之佛教大學。其前身為東本願寺涉成園於寬文五年(1665)所開辦之學府,明治十九年(1886)以規模漸具,改稱真宗大學,設本科四年,研究科三年,大正十一年(1922)以大學令改真宗大谷大學為今名。有短期大學部、大學部、碩士、博士課程,後二者均分真宗學、佛教學、哲學、佛教文化四科。該校經創校迄今三百餘年之改制,始成今日完整大學之形式,為當前日本首屈一指之佛教大學。
đại cổ
875梵語 dundubhi。法器之一。又稱太鼓。即誦經、梵唄時所用樂器之一。印度自古即用之,有部目得迦卷八載,佛陀曾於逝多林為六大城比丘說法,擊大鼓以集眾。我國古代亦用於儀式、舞樂、軍陣等。唐代以降,禪林普遍使用大鼓,或設鼓樓而懸擊之,或懸於佛堂一隅,以報法會之起作。 據敕修百丈清規卷下所載,禪林依大鼓之用法,分為法鼓、茶鼓、齋鼓、浴鼓、更鼓等數種,其敲擊之法與敲擊之數各有不同。其中,法鼓於住持之上堂、小參、普說、入室等擊之,上堂時三通,小參一通,普說五下,入室三下,皆當緩擊;茶鼓於祖忌獻茶湯時長擊一通,由侍司主之;齋鼓懸於庫司前,齋時擊三通;更鼓由庫司主之,早晚平擊三通,餘隨更次擊之;浴鼓於浴時擊四通,由知浴主之。日本則以太鼓、鉦鼓、羯鼓為佛前奏樂之三鼓,又舞樂時用大太鼓,讀經時用經太鼓,日蓮宗唱題之際則用皮製之團扇太鼓。〔文殊師利問經卷上、隋書音樂志第九、第十、禪林象器箋唄器門、歌稁品目卷三〕
; (大鼓) Trống lớn: Phạm:Dundubhi. Một trong những đồ pháp khí. Cũng gọi Thái cổ. Một loại nhạc cụ của Ấn độ đời xưa dùng khi tụng kinh, tán kệ (Phạm bái, đọc canh). Hữu bộ mục đắc ca quyển 8 chép, đức Phật từng ở rừng Thệ đa nói pháp cho các tỉ khưu từ sáu thành lớn đến nghe, phải đánh trống to để triệu tập đại chúng. Trung quốc thời xưa cũng dùng trống trong các nghi thức tế lễ, khiêu vũ, ca nhạc, quân trận v.v... Từ đời Đường trở đi, trong Thiền lâm, trống được sử dụng một cách phổ biến, hoặc treo trên lầu trống, hoặc treo ở một góc Phật đường, mỗi khi cử hành pháp hội thì đánh trống để báo hiệu. Cứ theo Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển hạ chép, thì cách dùng trống lớn được chia làm mấy loại như: Pháp cổ (trống báo giờ thuyết pháp), Trà cổ (báo giờ dâng nước trà cúng Tổ sư trong ngày kị tổ), Trai cổ (báo giờ thụ trai), Dục cổ(báo giờ tắm), Canh cổ(trống điểm canh) v.v... Cách đánh trống tùy theo việc mà có khác. Trong đó, khi vị Trụ trì thướng đường (lên nhà giảng thuyết pháp) thì đánh ba hồi, giờ Tiểu tham một hồi, Phổ thuyết năm tiếng, Nhập thất ba tiếng, đều đánh chậm rãi. Trà cổ đánh vào giờ dâng nước trà cúng Tổ sư trong ngày kị (giỗ) Tổ và đánh một hồi dài, do vị Thị giả phụ trách. Trai cổ treo ở trước Khố tư, vào giờ thụ trai đánh ba hồi. Canh cổ do vị Khố tư phụ trách, sớm, chiều đánh ba hồi bình thường, còn thì đánh theo thứ tự của mỗi canh trong đêm. Dục cổ đánh vào giờ tắm gội, đánh bốn hồi, do vị Tri dục phụ trách Nhật bản thì dùng ba loại trống: Thái cổ (trống lớn), Chinh cổ (cái chiêng) và Yết cổ (trống do giống rợ Yết thuộc Hung nô chế tạo) để tấu nhạc trước đức Phật, còn lúc múa và hát thì sử dụng Đại thái cổ, khi tụng kinh dùng Kinh thái cổ. Tông Nhật liên khi xướng niệm tên kinh Pháp hoa thì dùng trống hình cái quạt tròn bưng bằng da. [X. kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng; Tùy thư âm nhạc chí Q.9, Q.10; Thiền lâm tượng khí tiên Bái khí môn; Ca vũ phẩm mục Q.3].
đại cứu cánh
Tsogchen (T).
Đại cứu kính
大究竟; T: dzogchen [rdzogs-chen]; S: atiyoga; cũng gọi là Ðại viên mãn (大圓滿), Ðại thành tựu (大成就); |Giáo pháp chủ yếu của tông Ninh-mã (t: nyingmapa) trong Phật giáo Tây Tạng. Giáo pháp này được xem là Mật giáo cao nhất do đức Thích-ca Mâu-ni chân truyền. Giáo pháp này được gọi là »Ðại cứu kính« vì nó cùng tột, không cần bất cứ một phương tiện nào khác. Theo giáo pháp này, tâm thức luôn luôn thanh tịnh, hành giả chỉ cần trực nhận điều đó. Theo truyền thuyết, Ðại cứu kính được Liên Hoa Sinh (s: pad-masambhava) và Tì-ma-la Mật-đa (s: vimala-mitra) đưa vào Tây Tạng trong thế kỉ thứ 8 và sau đó được Long-chen-pa tổng kết trong thế kỉ thứ 14. Cuối cùng, tông phái này được Jig-me Ling-pa (1730-1798) kết tập và truyền đến ngày nay.|Giáo pháp Ðại cứu kính xuất phát từ Bản sơ Phật Phổ Hiền, từ Pháp thân (Ba thân) siêu việt thời gian và không gian. Pháp thân truyền trực tiếp cho Báo thân là Kim Cương Tát-đoá (s: vajrasattva), truyền đến Ứng thân là Ga-rab Dor-je (sinh năm 55 sau Công nguyên). Garab Dor-je truyền lại giáo pháp này cho đệ tử là Diệu Ðức Hữu (s: mañjuśrīmitra) với hơn 6 triệu câu kệ. Vị đệ tử này chia các câu kệ này làm 3 phần: Semde (tâm thức), Longde (hư không) và Mengagde (khai thị). Học trò của Diệu Ðức Hữu là Cát Tường Sư Tử (s: śrīsiṃha) hoàn chỉnh thêm phần khai thị và giao cho Kì-na Tu-đa-la (s: jñānasūtra) và Tì-ma-la Mật-đa (Tịnh Hữu). Sau đó Tì-ma-la Mật-đa đưa giáo pháp này qua Tây Tạng.|Một dòng khác của giáo pháp này được Liên Hoa Sinh Ðại sư phát triển hơn nữa. Sư là người được các vị Không hành nữ (s: ḍākinī) truyền pháp Ðại cứu kính. Giáo pháp này xuất phát từ nhận thức, thể của tâm thức vốn thanh tịnh, không ô nhiễm, nhưng vì con người không nhận ra điều đó nên cứ mãi trầm luân trong sinh tử. Một phương cách đột phá được vòng sinh tử này là nhận cho được tâm thức »trần trụi« »tự nhiên« là thể tính của mọi hoạt động tâm lí. Sư trình bày cánh cửa dẫn đến »Tri kiến uyên nguyên«, là sự thống nhất giữa tính Không (s: śūnyatā) và Cực quang (s: ābhāsvara; e: clear light; ánh sáng rực rỡ). Bên cạnh các cách thể nhận Không, còn có cách dựa vào ánh sáng của tri kiến uyên nguyên mà giác ngộ. Ðây chính là cơ sở của các lời khai thị trong Tử thư, một trong những luận giải quan trọng của Phật giáo Tây Tạng.|Một phép tu khác là thực hiện được sự tan rã của tứ đại đã tạo thành thân thể không để lại dấu vết (biến mất), đạt được »thân cầu vồng« (s: indracā-pakāya).
đại danh
Xem Ma ha na ma.
; Great fame—Great name.
đại dinh
Headquarters.
đại diễn lịch
807我國曆法之一。為唐代僧一行所作。唐開元九年(721),帝詔令一行製新曆,此乃因李淳風所作之麟德曆漸為人所忽用,且麟德曆中之日蝕推測的誤謬亦日益顯著,故帝詔一行另撰新曆。一行曾南赴交州,北抵鐵勒,以測量各地之緯度,又用各種測日之儀器以定下各地日蝕之日期,並測見恆星之移動,撰妥草稿,然其於開元十五年十月寂滅,故所謂開元大衍曆五十二卷,概係為草稿。其後,帝又詔令張說、陳玄景編訂曆數七篇、略例一篇、曆議十篇等,開元十七年頒付有司,實行至寶應元年(762)改用郭獻之之五紀曆。大衍曆之名即依據周易繫辭「大衍之數」一語而來。〔舊唐書卷三十四律曆志、新唐書卷二十七上曆志、通志略卷二十、佛祖統紀卷四十〕
; (大衍曆) Một trong những lịch pháp của Trung quốc do ngài Nhất hạnh soạn vào đời Đường. Năm Khai nguyên thứ 9 (721), vua Đường ban chiếu chỉ cho ngài Nhất hạnh soạn lịch mới để thay cho lịch Lân đức của Lí thuần phong soạn mà trong đó đã tính sai về ngày nhật thực. Ngài Nhất hạnh liền đi đến Giao châu ở phía nam, Thiết lặc ở phương bắc để tính toán vĩ độ của các nơi, rồi dùng những dụng cụ đo mặt trời để định ngày nhật thực, đồng thời, tính xem sự di động của Hằng tinh (étoile) rồi ghi thành bản thảo. Nhưng vào tháng 10 năm Khai nguyên 15 (727), khi Khai nguyên đại diễn lịch 52 quyển mới hoàn thành được bản thảo thì ngài Nhất hạnh thị tịch. Sau, vua lại sai Trương thuyết, Trần huyền cảnh biên đính Lịch số bảy thiên, Lược liệt một thiên và Lịch nghị mười thiên. Năm Khai nguyên 17 (729) vua ban cho các quan sử dụng đến niênhiệuBảo ứng năm đầu (762) thì đổi lại dùng lịch Ngũ kỉ của Quách hiến. Tên Đại diễn lịch là căn cứ theo từ ngữ Đại diễn chi số trong Hệ từ của sách Chu dịch mà ra. [X. Cựu đường thư Q.34 Luật lịch chí; Tân đường thư Q.27 phần trên mục Lịch chí; Thông chí lược Q.20; Phật tổ thống kỉ Q.40].
đại diệm kiên phật
Mahārkiskanda-Buddha (S), Great Blazing Shoulders Buddha, Một đức Phật Như Lai, quốc độ ở phương Bắc đối với cõi ta bà.Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Great blazing shoulder s Buddha.
; Great blazing shoulders Buddha.
đại diện
To represent—To delegate.
đại diệt đế kim cang trí
Đoạn Đức của Phật, một trong ba đức lớn của Phật—The Buddha's principle of Nirvana, the extinction of suffering, and his supreme or Vajra wisdom. ** For more information, please see Tam Đức.
đại diệt độ
Xem Ma ha Bát Niết bàn.
; Great extinction and passing over from mortality.
Đại diệu kim cương cam lồ quân nã lợi diệm man xí thạnh đảnh kinh 大妙金剛大甘露軍拏利焔鬘熾盛佛頂經
[ja] ダイミョウコンゴウダイカンログンナリエンマンシジョウブツチョウキョウ Daimyō kongō dai kanro Kundari Emman jijō bucchō kyō ||| The Damiao jingang da ganlu Junnali yanman chicheng foding jing (Sutra of the Excellent Vajrāmbrosia Kuṇḍali, Yama and the Blazing Buddha-Corona). 1 fasc. (T 965.19.339-342), tr. Dharmasena 達磨栖那. => (c: Damiao jingang da ganlu Junnali yanman chicheng foding jing; e: Sutra of the Excellent Vajrāmbrosia Kuṇḍali, Yama and the Blazing Buddha-Corona). 1 quyển. Đạt-ma-tê-na (達磨栖那 s: Dharmasena dịch).
Đại Doanh
(大瀛, Daiei, 1760-1804): học Tăng của Phái Bổn Nguyện Tự thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ; húy là Đại Doanh (大瀛), Quách Lượng (廓亮); tên lúc nhỏ là Ki Chi Tấn (幾之進), Thị Đại (示大); tự là Tử Dung (子容); thụy hiệu Chơn Thật Viện (眞實院), hiệu là Nhưng Viên (芿園), Thiên Thành (天城), Kim Cang Am (金剛庵), Thoại Hoa (瑞華), Tịch Nhẫn (寂忍), Bảo Chơn (葆眞), Lãng Nhiên (朗然), Viên Hải (圓海), Bảo Lương (寶梁); xuất thân Trung Đồng Hạ (中筒賀, Nagatsutsuga), An Nghệ (安芸, Aki, thuộc Hiroshima [廣島]); con trai thứ 3 của Lâm Dưỡng Triết (林養哲). Ông theo hầu Tuệ Vân (慧雲) ở Báo Chuyên Phường (報專坊), vùng An Nghệ, tu học giáo thuyết Chơn Tông và kiêm học cả ngoại điển. Sau ông từ bỏ việc thế tục, chuyển đến trú tại Thắng Viên Tự (勝圓寺) ở trong vùng, mở trường Tư Thục ở vùng Quảng Đảo (廣島, Hiroshima) và tận lực giáo dục chúng môn đệ. Vào năm 1797, ông đề xuất thư chất vấn lên trường Học Lâm về việc Năng Hóa Trí Động (能化智洞) chủ trương thuyết Dục Sanh Quy Mạng (欲生歸命), rồi viết cuốn Hoành Siêu Trực Đạo Kim Cang Phê (橫超直道金剛錍), Chơn Tông An Tâm Thập Luận (眞宗安心十論) để làm sáng tỏ Tông nghĩa chánh thống. Năm 1804, vâng mệnh chính quyền Mạc Phủ, ông cùng với nhóm Đạo Ẩn (道隱) xuống Giang Hộ, tiến hành đối luận với Trí Động. Trước tác của ông có Chơn Tông An Tâm Thập Luận (眞宗安心十論) 2 quyển, Hoành Siêu Trực Đạo Kim Cang Phê (橫超直道金剛錍) 3 quyển, Luận Hành Thiên (論衡篇) 2 quyển, Vãng Sanh Luận Chú Nguyên Yếu (徃生論註原要) 6 quyển, v.v.
đại duyên lành
The great good cause.
đại dũng
803請參閱 法住記 (1893?~1929)民國初年僧。四川巴縣人,俗姓李,名錦章。辛亥革命後,曾任軍政司法之職。初與重慶佛源法師共同創建香光學社,民國八年(1919)依太虛大師出家。翌年,受具足戒於金山寺。民國十年東渡日本,於高野山密宗大學專修密法,歷時一年有餘,得阿闍黎位,為民國以來早期留日學僧之一。民國十二年十月回國後,即先後於滬、杭、武漢等地傳授密法,重振中絕千餘年之唐朝密法,法尊、法舫等均受其影響。翌年,赴北京,依白普仁學藏密,並組織藏文學院,旋改為留藏學法團,率大剛、法尊等二十餘人,擬赴西藏留學,藏人疑其有政治作用,乃阻之西康。遂依大格西潔尊者,專修藏文經典,並翻譯宗喀巴之菩提道次略論。民國十六年,擬赴拉薩,又為守軍所阻,遂止於甘孜扎迦寺,依扎迦習密,受阿闍黎法位。民國十八年示寂於該寺。
; Aryasura (skt)—Great brave—Great courage—To be full of vigour.
đại dũng mãnh bồ tát
803大勇猛,梵名 Mahā-vīra,音譯摩訶尾囉。為密教安於現圖胎藏界曼荼羅遍知院中央一切如來遍知印南方第一位之菩薩。身呈肉色,左手上仰,置於臍下,手持如意寶,右手曲肘持劍,趺坐於赤蓮花上。種子為觗(ka),為「作業」之義,三昧耶形為如意寶珠,密號嚴迅金剛。〔大日經卷三轉字輪漫荼羅行品、青龍寺儀軌卷中、大日經疏卷五、胎藏界七集卷上、諸說不同記卷二〕
; Mahā-vira (S)Đại Hùng- Đại Hùng: Một trong những danh hiệu được dùng để chỉ đứcPhật.
; A Guardian ruler in the Garbhadhatu group called Mahanila, the Great Blue Pearl.
; (大勇猛菩薩) Đại dũng mãnh, Phạm:Mahà-vìra, dịch âm: Ma ha vĩ ra. Vị Bồ tát ở ngôi thứ nhất phía nam của Nhất thiết Như lai biến tri ấn ở trung ương viện Biến tri trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Hình tượng của vị tôn này mầu da người, tay trái ngửa lên đặt ở dưới rốn, cầm ngọc báu như ý,tay phải co lại cầm thanh gươm, ngồi kết già trên hoa sen đỏ. Chủng tử là (ka),nghĩa là Tác nghiệp, hình tam muội da là ngọc báu như ý, mật hiệu là Nghiêm tấn Kim cương. [X. kinh Đại nhật Q.3 phẩm Chuyển tự luân mạn đồ la hành; Thanh long tự nghi quĩ Q.trung; Đại nhật kinh sớ Q.5; Thai tạng giới thất tập Q.thượng; Chư thuyết bất đồng kí Q.2].
đại dương
Ocean.
đại dương gia phong
866禪宗公案名。為大陽警玄與僧之問答語句。大陽,指宋代曹洞宗之大陽警玄禪師。禪林類聚卷七(卍續一一七‧四六下):「僧問:『如何是和尚家風?』師云:『滿瓶傾不出,大地沒飢人。』」「滿瓶」為此則公案之眼目。謂任何人原本皆有佛性,皆為自性清淨身,故在佛法而言為滿瓶,且在任何境遇下亦不改變其實態,故說「滿瓶傾不出,大地沒飢人」。〔五燈會元卷十四〕
; (大陽家風) Tên công án trong Thiền tông. Công án này là cơ duyên vấn đáp giữa thiền sư Đại dương Cảnh huyền thuộc tông Tào động đời Tống với một vị tăng. Thiền lâm loại tụ quyển 7 (Vạn tục 117, 46 hạ) chép: Tăng hỏi: - Gia phong của Hòa thượng thế nào? Sư đáp: - Bình đầy nghiêng chẳng đổ, Đại địa không người đói. Bình đầy là cốt tủy của công án này. Nghĩa là ai ai cũng đều sẵn có tính Phật, đều là tự tính thanh tịnh. Cho nên, đứng về mặt Phật pháp mà nói là bình đầy, vả lại, trong bất cứ hoàn cảnh nào tính ấy cũng không thay đổi, nên nói Bình đầy nghiêng không đổ, Đại địa không người đói. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.14].
đại dương kỉnh huyền thiền sư
Zen master T'a-Yang-Jing-Xuan—See Kỉnh Huyền Thiền Sư.
đại dạ
Đêm trước ngày dàn hỏa thiêu của một vị Tăng được đốt lên—The great night—The night before the funeral pyre of a monk is lighted.
đại dữu lĩnh
857為通往嶺南的五條要道之一。位於江西大庾縣南,廣東南雄縣北。古稱塞上。漢武帝遣庾勝兄弟征伐南越,庾勝據守此嶺,遂稱大庾。又稱庾嶺、臺嶺山。唐代張九齡嘗鑿路以利往來,並於嶺上開徑植梅,故亦稱梅嶺。唐玄宗時,六祖慧能從五祖弘忍處領受心印,攜密傳之佛衣、佛鉢,徹夜南走。同門惠明聞之,即率數十人追奪,至大庾嶺,慧能遂將衣鉢擲向磐石,自己隱藏於茅草中而言(大四八‧三四九中):「此衣表信,可力爭耶?」惠明捧之而衣鉢不動,逮雙方問答數回後,惠明始豁然大悟,下山而去。後慧能繼至廣州法性寺,發揚南頓之宗風,未久歸曹溪示寂。〔六祖法寶壇經行由品〕
; (大庾嶺) Núi ở mạn nam huyện Đại dữu tỉnh Giang tây, phía Bắc huyện Nam hùng tỉnh Quảng đông. Ngày xưa gọi là Tái thượng. Vua Vũ đế nhà Hán sai anh em Dữu thắng đi chinh phạt nước Nam việt, Dữu thắng chiếm giữ ngọn núi này, nên gọi là Đại dữu. Cũng gọi Dữu lĩnh, Đài lĩnh sơn v.v... Trương cửu linh đời Đường từng đục một con đường qua núi để tiện việc đi lại. Đây là một trong năm đường giao thông trọng yếu xuyên qua Lĩnh nam. Trên núi có trồng mai, vì thế còn gọi là Mai lĩnh. Đời vua Huyền tông nhà Đường, Lục tổ Tuệ năng nhận lãnh tâm ấn nơi Ngũ tổ Hoằng nhẫn, Ngài mang áo bát của Phật được mật truyền đi suốt đêm về phương Nam. Đồng môn là Huệ minh hay tin liền dẫn đầu vài chục người đuổi theo để đoạt lại áo bát. Đến núi Đại dữu, ngài Tuệ năng bèn để áo bát lên tảng đá rồi ẩn mình trong lùm cây rập và nói (Đại 48, 394 trung): Áo này biểu thị niềm tin, há dùng sức mạnh mà giành được sao?. Huệ minh cầm lấy áo bát nhắc lên nhưng không nhúc nhích. Sau mấy câu vấn đáp, Huệ minh hoát nhiên đại ngộ, liền xuống núi quay về. Còn ngài Tuệ năng thì tiếp tục đi đến chùa Pháp tính ở Quảng Châu, mở ra tông phong Nam đốn. Không bao lâu, ngài về Tào khê thị tịch. [X. kinh Lục tổ pháp bảo đàn phẩm Hành do].
đại gian ác
Great impostor.
Đại giá
(大駕): có mấy nghĩa chính. (1) Khi Hoàng Đế xuất hành, quy mô đội nghi trượng vô cùng to lớn, gọi là đại giá. Từ này được dùng để thể hiện sự quy mô, hình thức lớn hơn cả pháp giá (法駕), tiểu giá (小駕). Như trong tác phẩm Độc Đoán (獨斷) của Thái Ung (蔡邕, 132-192) nhà Hán có đoạn: “Thiên tử xuất, xa giá thứ đệ vị chi lỗ bạ, hữu đại giá, hữu tiểu giá, hữu pháp giá; đại giá tắc công khanh phụng dẫn, đại Tướng Quân tham thừa, Thái Bộc Khanh, thuộc xa bát thập nhất thừa, bị thiên thừa vạn kỵ (天子出、車駕次第謂之鹵簿、有大駕、有小駕、有法駕、大駕則公卿奉引、大將軍參乘、太僕御、屬車八十一乘、僃千乘萬騎, khi thiên tử xuất hành, thứ tự các xa giá được gọi là lỗ bạ, có đại giá, có tiểu giá, có pháp giá; đại giá thì công khanh dẫn theo, đại Tướng Quân cùng ngồi, Thái Bộc Khanh thuộc cỗ xe tám mưới mốt, có đủ ngàn cỗ xe, vạn thớt ngựa).” (2) Chỉ chung cho các xa giá của thiên tử. (3) Chỉ Hoàng Đế. Như trong Tấn Thư (晉書), Truyện Trung Nghĩa (忠義傳), có câu: “Đại giá thân chinh, dĩ chánh phạt nghịch (大駕親征、以正伐逆, Hoàng Đế thân chinh, để trừng phạt nghịch).” (4) Từ kính xưng đối với tha nhân.
đại giá y
xem ma-ha-lăng-già
Đại Giác
(大覺): sự giác ngộ lớn, chỉ sự giác ngộ của đức Thế Tôn (世尊). Đây là tên gọi khác của chư Phật. Người phàm phu thì không có sự giác ngộ, tỉnh thức; còn các vị Thanh Văn (聲聞), Duyên Giác (緣覺), Bồ Tát (菩薩) thì có giác ngộ, nhưng không lớn bằng Phật; chỉ có chư Phật mới giác ngộ triệt để chân lý của vũ trụ, nên được xưng tán là Đấng Đại Giác. Như trong Đại Bát Niết Bàn Kinh Hậu Phần (大般涅槃經後分, Taishō No. 377) quyển Thượng có câu: “Nhĩ thời, tứ chúng nhất thiết chiêm ngưỡng Đại Giác Thế Tôn chơn kim sắc thân, mục bất tạm xả, tất giai khoái lạc (爾時、四眾一切瞻仰大覺世尊眞金色身、目不暫捨、悉皆快樂, lúc bấy giờ, bốn chúng tất cả đều chiêm ngưỡng thân sắc vàng của đấng Thế Tôn Đại Giác, mắt không hề rời, thảy đều vui mừng).” Hay như trong (肇論略註, CBETA No. 873) lại có câu: “Vị Như Lai tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, tam giác dĩ viên, cố xưng Đại Giác; nhiên thử Đại Giác, nãi Báo Thân chi xưng (謂如來自覺、覺他、覺行圓滿、三覺已圓、故稱大覺、然此大覺、乃報身之稱, sự tự giác ngộ, giác ngộ cho người khác và thực hành sự giác ngộ tròn đầy của đức Như Lai, ba sự giác ngộ ấy đã viên mãn; nên gọi là sự giác ngộ lớn; do vậy sự giác ngộ lớn này là tên gọi của Báo Thân).”
đại giác
912指釋尊之覺悟。又作正覺、大悟。釋尊覺悟宇宙之實相後,不僅將自己從迷惑中解放出來,更欲使他人得到解脫,而今覺行圓滿,故其覺悟稱為大覺。〔心地觀經卷一、仁王護國般若波羅蜜多經卷上〕
; Bodai Shin (J), Great Awakening, Great enlightenmentXem Đại thành tựu giả.
; The supreme bodhi, or enlightenment, and the enlightenment power of a Buddha.
; 1) Giác ngộ tối thượng, chỉ sự giác ngộ của Phật—The supreme bodhi, or enlightenment—The enlightening power of a Buddha. 2) Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng tọa lạc trong ấp Nhị Hòa, xã Hòa Hiệp, cù lao Phố, thành phố Biên Hòa, Nam Việt Nam. Chùa được dựng lên từ cuối thế kỷ thứ 17, và đã được trùng tu nhiều lần. Năm 1749, Hòa Thượng Mật Hoằng, đến từ tỉnh Bình Định, tu tại chùa và được cử làm trụ trì năm 1773. Trong thời gian chiến tranh với nhà Tây Sơn, chúa Nguyễn Phước Ánh đã nhiều lần lánh nạn trong các chùa ở miền Nam, trong đó có chùa Đại Giác. Công chúa Ngọc Anh là con gái thứ ba của Nguyễn Vương đã xin Hòa Thượng cho xuất gia tại chùa nầy. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã ra lệnh cho trùng tu chùa, xây lầu chuông, lầu trống, cho tạc pho tượng A Di Đà, cao 2 mét 25. Chùa hiện còn giữ tấm hoành phi sơn son thếp vàng của công chúa Ngọc Anh cúng, ghi “Đại Giác Tự,” năm Minh Mạng nguyên niên 1820—Name of a famous ancient pagoda, located in Nhị Hòa hamlet, Hiệp Hòa village, Phố Islet, Biên Hòa City, South Vietnam. It was built in the late seventeenth century and has been rebuilt many times. In 1749, Most Venerable Mật Hoằng from Bình Định province entered the monkhood at the pagoda and was promoted Head in 1773. During the war with Tây Sơn, Lord Nguyễn Phước Ánh stayed in various pagodas of the South including Đại Giác Pagoda. Princess Ngọc Anh, his third daughter, suggested Most Venerable Mật Hoằng to take her vows as a Buddhist nun. After getting the crown in 1802, the Lord ordered to renovate the pagoda, so a bell tower and a drum tower were set up and the statue of Amitabha Buddha, 2.25 meters high, was cast. The pagoda has still kept the ribbon donated by Princess Ngọc Anh in the King Minh Mạng's reign in 1820. The ribbon is gilded and painted in red, from which one reads “Đại Giác Pagoda.” It was rebuilt and enlarged in 1959.
; (大覺) Chỉ sự giác ngộ của đức Phật. Cũng gọi Chính giác, Đại ngộ. Sau khi giác ngộ được chân tướng của vũ trụ, đức Phật đã hoàn toàn giải thoát. Từ đó, Ngài thuyết pháp độ sinh, làm cho người khác cũng được giải thoát như Ngài, khiến giác và hạnh tròn đủ, vì thế sự giác ngộ của Phật gọi là Đại giác. [X. kinh Tâm địa quán Q.1; kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa Q.thượng].
đại giác bát thuỷ
913即宋代雲門宗之大覺懷璉禪師(1009~1090)因洗面潑水於地而有省發之典故。大覺為泐潭懷澄之法嗣。據五燈會元卷十五載,大覺誕生以來,即已知其天稟,自幼慕道而出家,寢食之間亦不懈怠,一日洗面,潑水於地,微有省發,即尋師訪道,後於泐潭之法席,會得禪旨,蒙受印可。〔禪苑蒙求卷上〕
đại giác dẫn cảnh
912禪宗公案名。禪苑蒙求卷中(卍續一四八‧一二○下):「魏府大覺禪師,僧問:『學人仗鏌鎁劍,擬取師頭時如何?』師便引頸,僧云:『斬!』便打。」鏌鎁乃古代吳國之著名刀匠干將之妻,其所製之名劍稱為鏌鎁劍。公案中之「鏌鎁劍」表示利劍之意。此則公案說明大覺禪師對生死透脫之狀。〔禪林類聚卷十七〕
; (大覺引頸) Đại giác đưa cổ. Công án trong Thiền tông. Thiền uyển mong cầu quyển trung (vạn tục 148, 120 hạ) chép: Một hôm có vị tăng hỏi thiền sư Đại giác Ngụy phủ: - Khi người học cầm gươm Mạc da định lấy đầu thầy, thì thế nào? Sư liền đưa cổ ra, tăng nói: - Chém! Sư liền đánh. Mạc da là tên người vợ của Can tương, một anh thợ rèn nổi tiếng ở nước Ngô đời xưa. Gươm anh ta chế ra gọi là gươm mạc da, là loại gươm rất sắc bén. Công án này cho biết thiền sư Đại giác đã thấu suốt lẽ sống chết. [X. Thiền lâm loại tụ Q.17].
đại giác hữu tình
Conscious beings of or for the great intelligence or enlightenment.
đại giác kim tiên
912指佛陀。宋徽宗宣和元年(1119)嘗詔改佛陀為大覺金仙。宋史徽宗本紀:「宣和元年春正月乙卯,詔佛改號大覺金僊,餘為僊人大士,僧為德士,(中略)女冠為女道,尼為女德。」蓋時以佛教隸屬道教,謂佛為仙人之一,實寓貶黜之意。然印度古代,每稱棲隱山林修道之人為仙人,深含尊敬之意,而對佛陀,既視為超乎聲聞、緣覺等之大覺者,故特以「大覺」、「大仙」稱之;又因佛身為真金之色,故稱金仙,諸經中多用之,非如我國後世所含貶次於道流之意。〔佛祖統紀卷四十六〕
; (大覺金仙) Từ chỉ cho đức Phật do vua Huy tông nhà Tống đặt ra. Tống sử huy tông bản kỉ ghi: Mùa xuân tháng giêng năm Ất mão niên hiệu Tuyên hòa năm đầu (1119), vua ban sắc chỉ đổi hiệu Phật là Đại giác kim tiên, Bồ tát là Tiên nhân đại sĩ, tăng là Đức sĩ, (...) nữ quan là Nữ đạo, ni là Nữ đức. Bởi vì thời bấy giờ Phật giáo phải lệ thuộc Đạo giáo, cho nên coi Phật là một trong những vị tiên là ngụ ý hạ thấp Phật giáo. Nhưng ở Ấn độ đời xưa, những người ẩn thân tu đạo trong núi rừng thường được gọi là Tiên nhân, hàm ý tôn kính. Còn đức Phật thì được xem là bậc Đại giác vượt lên trên hàng Thanh văn, Duyên giác, cho nên đặc biệt được gọi là Đại giác, Đại tiên. Lại vì thân đức Phật mầu vàng ròng, cho nên gọi là Kim tiên; trong các kinh phần nhiều cũng dùng từ Kim tiên để tôn xưng đức Phật chứ không phải như đời sau ở Trung quốc cho danh từ Kim tiên có ý chê bai và hạ thấp đức Phật. [X. Phật tổ thống kỉ Q.46].
đại giác mẫu
Mẹ của đại giác, tên khác của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát—The mother of the great enlightenment, an appellation of Manjusri.
đại giác phái
Daikaku-ha (J)Tên một tông phái.
Đại Giác Quốc Sư văn tập 大覺國師文集
[ja] ダイカクコクシブンシュウ Daikaku kokushi bunshū ||| The Taegak kuksa munjip. "The Collected Writings of the National Teacher Taegak." Taegak is the posthumous title of Ŭich'ŏn 義天. HPC 4.528-567. => (c: Taegak kuksa munjip; e: The Collected Writings of the National Teacher Taegak). Đại Giác (k: Taegak) là thụy hiệu của Nghĩa Thiên (k: Ŭich'ŏn 義天).
đại giác thiền sư
Daikaku zenji (J)Tên một vị sư.
đại giác thiền sư ngữ lục
914請參閱 大覺禪師語錄 凡三卷。又作蘭溪和尚語錄、建長開山大覺禪師語錄、大覺錄。宋代僧蘭溪道隆(1213~1278)撰,智光、圓顯等編。收於大正藏第八十冊。道隆於理宗淳祐六年(1246)赴日本弘法,故本語錄之編集係由道隆之中日兩國門人合力完成。內容包括住日本常樂寺、建常寺、建寧寺之語錄、小參,另有普說、法語、頌古、偈頌、佛祖贊、小佛事等,卷末附錄普說補遺一篇。
; Daikaku zenji goroku (J)Tên một bộ sưu tập.
; (大覺禪師語錄) Gồm 3 quyển. Cũng gọi Lan khê hòa thượng ngữ lục, Kiến trường khai sơn Đại giác thiền sư ngữ lục, Đại giác lục. Do ngài Lan khê Đạo long (1213-1278) soạn vào đời Tống, nhóm các sư Trí quang, Viên hiển biên tập, thu vào Đại chính tạng tập 80. Ngài Đạo long sang Nhật bản hoằng pháp vào năm Thuần hựu thứ 6 (1246) đời vua Lí tông nhà Tống, cho nên bộ ngữ lục này được các vị đệ tử Trung quốc và Nhật bản của ngài hợp lực biên tập mà thành. Nội dung gồm: Thường lạc tự ngữ lục, Kiến thường tự ngữ lục, Kiến sinh tự ngữ lục, Tiểu tham, Phổ thuyết, Pháp ngữ, Tụng cổ, Kệ tụng, Phật tổ tán, Tiểu Phật sự v.v..., cuối quyển có chép thêm 1 thiên Phổ thuyết.
đại giác thế tôn
912大覺與世尊之合稱。又作大覺尊。自覺、覺他、覺行圓滿,故稱大覺;為世中之尊,故稱世尊。仁王護國般若波羅蜜多經卷上(大八‧八三五上):「大覺世尊前已為我等說摩訶般若波羅蜜多、金剛般若波羅蜜多、天王問般若波羅蜜多、大品等無量無數般若波羅蜜多。」另於大乘本生心地觀經卷一、大乘阿毘達磨雜集論卷一等之偈中亦見此稱。〔摩訶止觀卷一上〕
; Vị Thế Tôn đã đạt được đại giác ngộ, chỉ Đức Phật—The World-Honoured One of the great enlightenment—An appellation of the Buddha.
; (大覺世尊) Đại giác và Thế tôn. Cũng gọi Đại giác tôn. Đại giác là bậc đầy đủ tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn; Thế tôn là bậc tôn quí trong đời. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật quyển thượng (Đại 8, 825 thượng), nói: Đại giác Thế tôn trước đã nói cho chúng con nghe về Ma ha bát nhã ba la mật đa, Kim cương bát nhã ba la mật đa, Thiên vương vấn bát nhã ba la mật đa, Đại phẩm đẳng vô lượng vô số bát nhã ba la mật đa. Ngoài ra, từ Đại giác Thế tôn cũng được thấy trong các bài kệ của kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 1, luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 1 v.v... [X. Ma ha chỉ quán Q.1 phần trên].
Đại Giác Tôn 大覺尊
[ja] ダイカクソン daikaku son ||| Most honored enlightened one. An epithet of the Buddha. 〔金剛三昧經 273.9.369a23〕 => Đấng giác ngộ được tôn quý nhất. Một danh hiệu của Đức Phật.
Đại Giác Tự
(大覺寺, Daikaku-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Đại Giác Tự (大覺寺派) thuộc Chơn Ngôn Tông, hiện tọa lạc tại Sagaōzawa-chō (嵯峨大澤町), Sakyō-ku (左京區), Kyoto-shi (京都市), còn được gọi là Tha Nga Ngự Sở (嵯峨御所), Đại Giác Tự Môn Tích (大覺寺門跡). Nguyên lai xưa kia chùa là Ly Cung của Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō, tại vị 809-823), Không Hải Đại Sư điêu khắc tượng Ngũ Đại Minh Vương (五大明王) và kiến lập Ngũ Giác Viện (五覺院). Khi gặp bệnh dịch hoành hành, Đại Sư cho đọc tụng Bát Nhã Tâm Kinh do tự tay mình viết và nạp vào Tâm Kinh Đường (心經堂). Vào năm 876 (niên hiệu Trinh Quán [貞觀] thứ 18), thể theo lịnh chỉ của Hoàng Hậu Chánh Tử (正子), chùa được khai sáng và ban tặng cho Hoàng Tử thứ 2 là Thân Vương Hằng Tịch (恆寂, Kōjaku). Thân Vương an trí tượng A Di Đà, chỉnh trang cảnh quan chùa, và vào năm 878 (niên hiệu Nguyên Khánh [元慶] thứ 2), chùa được phép cho độ mỗi năm 2 người. Đến năm 918 (niên hiệu Diên Hỷ [延喜] thứ 18), Vũ Đa Thiên Hoàng (宇多天皇, Uda Tennō, tại vị 887-897) thọ trì hai bộ Quán Đảnh tại chùa này, và Khoan Không (寛空) làm vị Tổ đời thứ 2 của chùa. Trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Nguyên (天元, 978-983), chùa thuộc quyền quản lý của Nhất Thừa Viện (一乘院) của Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji). Đến năm 1268 (niên hiệu văn vĩnh thứ 5), Hậu Tha Nga Thiên Hoàng (後嵯峨天皇, Gosaga Tennō, tại vị 1242-1246) đến tu tại đây, rồi sau đó Quy Sơn Thiên Hoàng (龜山天皇, Kameyama Tennō, tại vị 1259-1274) cũng đến nhập chúng. Vào năm 1307 (niên hiệu Đức Trị [德治] thứ 2), Hậu Vũ Đa Thiên Hoàng (後宇多天皇, Gouda Tennō, tại vị 1274-1287) tiến hành tổ chức Viện Chính tại Thọ Lượng Viện (壽量院), cho xây dựng phòng ốc và trở thành vị Tổ thời Trung Hưng của chùa. Đến năm 1336 (niên hiệu Kiến Võ thứ 3), chùa bị cháy toàn bộ. Năm 1392 (niên hiệu Nguyên Trung thứ 9), ngay tại chùa này, Hậu Quy Sơn Thiên Hoàng (後龜山天皇, Gokameyama Tennō, tại vị 1383-1392) nhường thần khí lại cho Hậu Tiểu Tùng Thiên Hoàng (後小松天皇, Gokomatsu Tennō, tại vị 1382-1412) và nơi đây trở thành vũ đài lịch sử đấu tranh. Đời đời chư vị Thân Vương đều làm trú trì ở đây, mặc dầu bị đốt cháy tan tành trong vụ loạn Ứng Nhân (應仁), nơi đây vẫn trở thành ngôi chùa Môn Tích và rất hưng thịnh. Chính các dòng họ Phong Thần (豐臣, Toyotomi), Đức Xuyên (德川, Tokugawa) đã từng hộ trì đắc lực cho chùa, nhưng kể từ cuối thời Giang Hộ trở đi thì trở nên hoang phế. Dưới thời Minh Trị Duy Tân, có khi chẳng ai trú trì ở đây cả, rồi sau đó nhóm Nam Ngọc Đế (楠玉諦), Cao Tràng Long Sướng (高幢龍暢) đã tận lực phục hưng lại hiện trạng. Khách Điện (客殿) của chùa là kiến trúc thời Đào Sơn (桃山, Momoyama), trong đó có 13 bức tranh tùng và chim ưng. Thần Điện (宸殿) là kiến trúc cung điện đầu thời thời Giang Hộ, có 18 bức tranh hoa Mẫu Đơn, 8 bức Hồng Mai với bút tích của Thú Dã Sơn Lạc (狩野山樂, Kanō Sanraku, 1559-1635), do Hậu Thủy Vĩ Thiên Hoàng (後水尾天皇, Gomizunō Tennō, tại vị 1611-1629) hiến cúng. Trong Ngũ Đại Đường (五大堂) có an trí tượng Ngũ Đại Minh Vương thuộc cuối thời Bình An và một số tượng khác. Bảo vật của chùa có đồ hình Ngũ Đại Hư Không Tạng (五大虛空藏), Khổng Tước Kinh Âm Nghĩa (孔雀經音義), v.v.
đại giác tự
912<一>又稱雲門寺。位於廣東乳源縣雲門山。雲門宗初祖文偃創建於五代同光元年(923)。(參閱「雲門山」5335) <二>位於北平暘臺山。始建於遼咸雍四年(1068),初名清水院,金時為西山八大院之一,稱靈泉寺。明宣德三年(1428)重修,改今名。 <三>位於浙江於潛縣北,西天目山蓮華峰。全稱大覺正等禪寺。元至元二十九年(1292),臨濟宗楊歧派高峰原妙創建。原妙之後,由大覺祖雍權攝寺事,後永泰住持此寺。寺有五鳳樓、諸天閣、藏經可觀樓等。元末遭兵火,明洪武十年(1377)隆潛重建,永樂元年(1403)遭洪水崩壞,十二年宗顧移寺址於今地,弘治七年(1494)知府梁萬鍾恢復舊址,重建大殿及禪堂等。明末復燬,今存者為子院。〔新續高僧傳卷十八、卷五十九、天目山名勝志(錢文選)〕 <四>位於臺灣高雄縣大社鄉。清康熙二十七年(1688)由臺南知府蔣光焄所興建,為臺灣古剎之一。臺灣光復後,由眼淨和尚出任住持。民國四十八年(1959)該寺恭請隆道、慈靄二法師晉山後,募資重建,現已頗具規模。 <五>日本高野山真言宗大本山。位於京都市。本為嵯峨天皇之離宮,時稱嵯峨院,貞觀十八年(876)皇女(淳和天皇)改之為寺,而以恒寂法親王(淳和天皇皇子)為開山。後宇多天皇入住該寺後,大建伽藍,世稱中興開山、大覺寺法皇。日本南北朝之議和亦在此舉行。寺東之大澤池,景色頗佳。寺內藏有甚多佛畫。
; To fu kuji (J).
đại giác viện
913位於臺灣臺中市五權路。創建於民國五十九年(1970)冬。緣於民國十三年,信眾於萬春宮前舉行佛學講座,以皈依者日多,且露天講座之不便,乃籌建大覺院,以為弘法之用。因信眾日增,院址不敷使用,遂購得五權路現址。五十四年成立財團法人,以翁茄苳為董事長。五十九年破土奠基,大殿及兩廂三層樓房先後完成,巍峨堂皇,氣勢宏偉。
đại giám phái
Daikan-ha (J)Tên một tông phái.
đại giám thiền sư
Daikan Zenji (J)Tên một vị sư.
; The great miror, a title of the sixth Zen patriarch—See Hui-Neng in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đại giám thiền sư tiểu thanh quy
915全一卷。元代大鑑清拙正澄撰。今收於大正藏第八十一冊。又作大鑑小清規。略述臨濟宗叢林之規矩,計收兩班出班拈香之法、坐具禮拜之法、維那須知法、月中每日粥時念文、施食、僧堂眾僧須知、侍者寮榜、相看求掛搭禮、四節日巡堂禮、四節僧堂茶禮、藏主寮榜、秉拂提綱法、精進勸等十餘條。本書係大鑑禪師東渡日本(1326)後,以百丈清規為藍本,為適應日本禪林而作。
; (大鑒禪師小清規) Có 1 quyển, do ngài Đại giám Thanh chuyết Chính trừng soạn, thu vào Đại chính tạng tập 81. Cũng gọi Đại giám tiểu thanh qui. Đại giám Thanh chuyết Chính trừng là vị thiền sư Trung quốc sống vào đời Nguyên, năm 1326, ngài sang Nhật bản truyền pháp, ngài lấy bộ Bách trượng thanh qui làm gốc mà soạn ra sách này để thích ứng với sinh hoạt trong Thiền lâm Nhật bản. Nội dung trình bày sơ lược về những qui củ tùng lâm của tông Lâm tế gồm hơn 10 điều: Lưỡng ban xuất ban niêm hương, Tọa cụ lễ bái pháp, Duy na tu tri pháp, Nguyệt trung mỗi nhật chúc thời niệm văn, Thí thực, Tăng đường chúng tăng tu tri, Thị giả liêu bảng, Tương khán cầu quải đáp lễ, Tứ tiết nhật tuần đường lễ, Tứ tiết tăng đường trà lễ, Tạng chủ liên bảng, Bỉnh phất đề cương pháp, Tinh tiến khuyến v.v...
đại giáo
Đại Thừa Giáo hay giáo pháp lớn so với Tiểu Thừa. Đại thừa được diễn tả là giáo phái tìm cầu hay làm rộng trí tuệ bằng tu tập; trong vài trường phái, chủ trương tu theo Đại Thừa sẽ dẫn đến quả vị Phật—The great teaching as compared with the smaller or inferior (Tiểu thừa—Hinayana). Mahayana is described as seeking to find and extend all knowledge, and in certain schools, to lead all to Buddhahood. It has a concept of an eternal Buddha, or Buddhahood as Eternal (Adi-Buddha).
đại giáo hòa thượng ngữ lục
Daikya Ōshō goroku (J)Tên một bộ sưu tập.
đại giáo viện
Daikyō-in (J)Tên một ngôi chùa.
đại giáo võng
848請參閱 現證三昧大教王經 或教王經 指如來之教法。如來之教法能救沈淪於生死大海之人,故以網譬之。舊華嚴經卷五十八(大九‧七七三下):「張大教網,亘生死海。」
; Lưới Đại Giáo cứu chúng sanh thoát khỏi biển đời sanh tử—The net of the great teaching, which saves men from the sea of mortal life.
; (大教網) Chỉ cho giáo pháp của đức Như lai. Giáo pháp của Như lai ví dụ như tấm lưới (võng) có thể cứu vớt chúng sinh chìm đắm trong biển khổ sống chết. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 58 (Đại 9, 773 hạ), nói: Giăng đại giáo võng (giăng lưới giáo lớn), trùm khắp biển sống chết.
đại giải thoát địa
Trạng thái trong đó hành giả giải thoát khỏi mọi chướng ngại—The state where the cultivators get free all hindrances.
đại giới
806於僧眾之團體生活中,依作法規定某一特定區域為界,在此區域內之僧眾,共同舉行布薩、說戒等事。依戒場之大小而有大小界之別。大界範圍大,其距離之大小,有不同說法。據四分律刪繁補闕行事鈔卷二上載,大界之範圍為三由旬,即方圓一百二十里以內。又標示大界區域之石柱常題有「大界外相」四字。(參閱「結界」5181)
; 1545日本曹洞宗於授戒會時,受戒者若由於疾病或其他事故不能親入戒場受戒時,得由親戚或知己代為受戒,稱為代戒。一般於授戒會作法第六日授予血脈時,先由戒師依序授血脈予戒子,其次方授予代戒或亡戒。〔行持軌範卷二授戒會作法〕
; The area of a vihàra or a monastic establishment. Đại giới ngoại tướng: four characters often placed on the boundary stones of monasterial grounds.
; The complete commandments of Hinayàna and Mahàyàna, especially of the latter.
; 1) Cụ Túc Giới của Tiểu và Đại Thừa, đặc biệt nói về giới Đại Thừa—The complete commandments of Hinayana and Mahayana, especially of the latter. 2) Khu vực tịnh xá hay tự viện: The area of vihara (monastery) or monastic establishment.
; (大界) Là một khu vực đặc biệt nào đó có qui định ranh giới rõ ràng, trong đó, chúng tăng sinh hoạt chung và cùng nhau cử hành bố tát, thuyết giới v.v... tùy theo giới tràng lớn nhỏ mà phạm vi của khu vực Đại giới có sai khác. Theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển 2 phần trên nói, thì phạm vi Đại giới là ba do tuần (hơn 43 km). Lại cây cột đá đánh dấu khu vực Đại giới thường có đề bốn chữ: Đại giới ngoại tướng. (xt. Kết Giới).
; (代戒) Nhận giới thay cho người khác. Theo qui định của tông Tào động Nhật bản, nếu người thụ giới vì một lí do đặc biệt nào đó, như đau nặng, hoặc vì một duyên sự bất khả kháng mà không thể đích thân vào đàn giới để nhận giới, thì người thân thích hay bạn bè tri kỉ được phép nhận giới thay cho mình. Theo tác pháp thụ giới, thông thường vào ngày thứ 6 thì trao giới pháp cho các giới tử; trước hết, giới sư truyền giới cho giới tử hiện tiền theo thứ tự, sau đó mới trao giới pháp cho người nhận giới thay hoặc người đã mất giới. [X. Hành trì quĩ phạm Q.2 Thụ giới hội tác pháp].
đại giới ngoại tướng
Bốn chữ thường được đặt trên những bia đá địa giới của tự viện—Four characters often placed on the boundary stones of monasterial grounds.
đại giới nhi (mà) phàm phu tán thán như lai
Theo Kinh Phạm Võng trong Trường Bộ Kinh, phàm phu thường tán thán Như Lai vì Như Lai thành tựu đại giới—According to the Brahmajala Sutta in the Long Discourses of the Buddha, ordinary people would praise the Tathagata for his superiority of morality: 1) Trong khi một số Sa Môn, Bà La Môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà hạnh như xem tướng tay chân, chiêm tướng, triệu tướng, mộng tướng, thân tướng, dấu chuột cắn, tế lửa, tế muỗng, dùng miệng phun hột cải, v.v… vào lửa, tế vỏ lúa, tế tấm, tế gạo, tế thục tô, tế dầu, tế máu, khoa xem chi tiết, khoa xem địa lý, khoa xem mộng, khoa cầu thần ban phước, khoa cầu ma quỷ, khoa dùng bùa chú khi ở trong nhà bằng đất, khoa rắn, khoa thuốc độc, khoa bồ cạp, khoa chim, khoa chim quạ, khoa đoán số mạng, khoa ngừa tên bắn, khoa tiết tiếng nói của chim. Còn Sa môn Cồ Đàm thì tránh xa những tà hạnh kể trên: Whereas some asectics and Brahmins, feeding on the food of the faithful, make their living by such base arts, such wrong means of livelihood as palmistry, divining signs, portents, dreams, body-marks, mouse-gnawings, fire-oblations, oblations from a ladle, of husks, rice-powder, rice-grains, ghee or oil, from the mouth or of blood, reading the finger-tips, house-lore and garden-lore, skill in charm, ghost-lore, earth-house lore, snake-lore, poison-lore, rat-lore, bird-lore, crow-lore, foretelling a person's life-span, charms against arrows, knowledge of animals' cries, the ascetic Gotama refrains from such base arts and wrong means of livelihood. 2) Trong khi một số Sa môn, Bà La Môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn nuôi sống mình bằng những tà mạng như xem tướng các hòn ngọc, tướng que gậy, tướng áo quần, tướng gươm kiếm, tướng mũi tên, tướng cây cung, tướng võ khí, tướng đàn bà, tướng đàn ông, tướng thiếu niên, tướng thiếu nữ, tướng đầy tớ nam, tướng đầy tớ nữ, tướng voi, tướng ngựa, tướng trâu, tướng bò đực, tướng bò cái, tướng dê, tướng cừu, tướng gia cầm, tướng chim cun cút, tướng con cắc kè, tướng vật tai dài, tướng ma, tướng thú vật. Còn Sa môn Cồ Đàm thì từ bỏ những tà mạng kể trên: Whereas some ascetics and Brahmins make their living by such base arts as judging the marks of gems, sticks, clothes, swords, spears, arrows, weapons, women, men, boys, girls, male and female slaves, elephants, horses, buffaloes, bulls, cows, goats, rams, cocks, quail, iguanas, bamboo-rats, tortoises, deer, the ascetic Gotama refrains from such base arts. 3) Trong khi một số Sa Môn, Bà La Môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như đoán trước: Vua sẽ tiến quân, vua sẽ lui quân, vua bản xứ sẽ tấn công, vua ngoại bang sẽ triệt thoái, vua bản xứ sẽ thắng trận, vua ngoại bang sẽ bại trận; vua ngoại bang sẽ thắng trận, vua bản xứ sẽ bại trận. Như vậy sẽ có sự thắng trận cho phe bên nầy, sẽ có sự thất bại cho phe bên kia. Còn Sa môn Cồ Đàm thì từ bỏ những tà mạng kể trên: Whereas some ascetics and Brhamins make their living by such base arts as predicting: 'the chiefs will march out—The chiefs will march back,' Our chiefs will advance and other chiefs will retreat,' 'Our chiefs will win and the other chiefs will lose,' 'The other chiefs will win and ours will lose,' 'Thus there will be victory for one side and defeat for the other,' the ascetci Gotama refrains from such base arts. 4) Trong khi một số Sa môn, Bà La Môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như đoán trước sẽ có nguyệt thực, sẽ có nhựt thực, sẽ có tinh thực, mặt trăng, mặt trời sẽ đi đúng chánh đạo, mặt trăng, mặt trời sẽ đi ngoài chánh đạo, các tinh tú sẽ đi đúng chánh đạo, các tinh tú sẽ đi ngoài chánh đạo, sẽ có sao băng, sẽ có lửa cháy các phương hướng, sẽ có động đất, sẽ có sấm trời, mặt trăng, mặt trời, các sao sẽ mọc, sẽ lặn, sẽ mờ, sẽ sáng, nguyệt thực sẽ có kết quả như thế nầy, nhựt thực sẽ có kết quả như thế nầy, tinh thực sẽ có kết quả như thế nầy, mặt trăng mặt trời đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế nầy, mặt trăng mặt trời đi ngoài chánh đạo sẽ có kết quả như thế nầy, các tinh tú đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế nầy, sao băng sẽ có kết quả như thế nầy, lửa cháy các phương hướng sẽ có kết quả như thế nầy, động đất sẽ có kết quả như thế nầy, sấm trời sẽ có kết quả như thế nầy, mặt trăng, mặt trời, các sao mọc, lặn, mờ, sáng, sẽ có kết quả như thế nầy. Còn Sa môn Cồ Đàm thì tránh xa, không tự nuôi sống bằng những tà mạng kể trên: Whereas some ascetics and Brahmins make their living by such base arts as predicting an eclipse of the moon, the sun, a star; that the sun and moon will go on their proper course – will go astray; that a star will go on its proper course – will go astray; that there will be a shower of meteors, a blaze in the sky, an earthquake, thunder; a rising, setting, darkening, brightening of the moon, the sun, the stars; and 'such will be the outcome of these things,' the ascetic Gotama refrains from such base arts and wrong means of livelihood. 5) Trong khi một số sa môn, Bà La Môn, dầu đã dùng các món đồ ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như đoán trước sẽ có nhiều mưa, sẽ có đại hạn, sẽ được mùa, sẽ mất mùa, sẽ được an ổn, sẽ có hiểm họa, sẽ có bệnh, sẽ không có bệnh, hay làm các nghề như đếm trên ngón tay, kế toán, cộng số lớn, làm thư, làm theo thế tình. Còn Sa môn Cồ Đàm tránh xa các tà hạnh kể trên: Whereas some ascetics and Brahmins make their living by such base arts as predicting good or bad rainfall; a good or bad harvest; security, danger, disease, health; or accounting, computing, calculating, poetic composition, philosophising, the ascetic Gotama refrains from such base arts and wrong means of livelihood. 6) Trong khi một số Sa môn, Bà La Môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng. Như sắp đặt ngày lành để rước dâu hay rễ, lựa ngày giờ tốt để hòa giải, lựa ngày giờ tốt để chia rẽ, lựa ngày giờ tốt để đòi nợ, lựa ngày giờ tốt để cho mượn hay tiêu dùng, dùng bùa chú để giúp người được may mắn, dùng bùa chú để khiến người bị rủi ro, dùng bùa chú để phá thai, dùng bùa chú để làm cóng lưỡi, dùng bùa chú khiến quai hàm không cử động, dùng bùa chú khiến cho người phải bỏ tay xuống, dùng bùa chú khiến cho tai bị điếc, hỏi gương soi, hỏi phù đồng, thiếu nữ, hỏi thiên thần để biết họa phước, thờ mặt trời, thờ đại địa, phun ra lửa, cầu Siri thần tài. Còn Sa môn Cồ Đàm tránh xa các tà mạng kể trên: Whereas some ascetics and Brahmins make their living by such base arts as arranging the giving and taking in marriage, engagements and divorces; declaring the time for saving and spending, bringing good or bad luck, procuring abortions, using spells to bind the tongue, binding the jaw, making the hands jerk, causing deafness, getting answers with a mirror, a girl-medium, a deva; worshipping the sun or Great Brahma, breathing fire, invoking the goddess of luck, the ascetic Gotama refrains from such base arts and wrong means of livelihood. 7) Trong khi một số Sa Môn, Bà La Môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như dùng các ảo thuật để được yên ổn, để khỏi làm các điều đã hứa, để được che chở khi ở trong nhà đất, để dương được thịnh, để làm người liệt dương, để tìm đất tốt làm nhà, để cầu phước cho nhà mới, lễ rửa miệng, lễ hy sinh, làm cho mửa, làm cho xổ, bài tiết các nhơ bẩn về phía trên, bài tiết các nhơ bẩn về phía dưới, tẩy tịnh trong đầu, thoa dầu trong tai, nhỏ thuốc mắt, cho thuốc xịt qua lổ mũi, xức thuốc mắt, thoa dầu cho mắt, chữa bệnh đau mắt, làm thầy thuốc mổ xẻ, chữa bệnh cho con nít, cho uống thuốc làm bằng các loại rễ cây, ngăn ngừa công hiệu của thuốc. Còn Sa môn Cồ Đàm tránh xa các tà mạng kể trên: Whereas some ascetics and Brahmins, feeding on the food of the faithful, make their living by such base arts, such wrong means of livelihood as appeasing the devas and redeeming vows to them, making earth-house spells, causing virility or impotence, preparing and consecrating building-sites, giving ritual rinsing and bathings, making sacrifices, giving emetics, purges, expectorants and phlegmagogues, giving ear-medicine, eye-medicine, and nose-medicine, ointments and counter-ointments, eye-surgery, surgery, pediatry, using balms to counter the side-effects of previous remedies, the ascetic Gotama refrains from such base arts and wrong means of livelihood.
đại giới đàn
Formal Ceremony of Ordination—Triple platform ordination.
Đại giới 大戒
[ja] ダイガイ daigai ||| (1) "All of the precepts" as opposed to the five, or ten precepts, which are called 小戒. (2) The complete and sudden precepts of the Mahāyāna. (3) A section in part one of the Brahmajālasutta (梵網經). => 1. “Giới cụ túc”, khác với 5 giới, 10 giới, được gọi là Tiểu giới. 2. Giới luật hoàn toàn viên mãn (Đạo cọng giới) của Đại thừa. 3. Một chương trong phần 1 của kinh Phạm Võng ( 梵網經s: Brahmajālasutta).
đại h
òa thượng Daiōshō (J)Tên một vị sư.
Đại Hiết Liễu Tâm
(大歇了心, Taiketsu Ryōshin, ?-?): vị tăng của Phái Hoàng Long thuộc Lâm Tế Tông, sống vào khoảng giữa thời đại Liêm Thương, húy Liễu Tâm (了心), đạo hiệu Đại Hiết (大歇), thường được gọi là Bát Nhã Phòng (般若房). Sau khi xuất gia, ông đến tham yết Thối Canh Hành Dũng (退耕行勇) để thâm cứu áo nghĩa giáo học của vị này, rồi ông lại sang nhà Tống cầu pháp, đi tham cứu khắp chốn Thiền lâm, và quay về nước sống tại Thọ Phước Tự (壽福寺, Jufuku-ji), làm chức Thủ Bản (首版). Trong thời gian này, ông cung thỉnh Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) đến để cử xướng Thiền phong thuần túy nơi đây. Sau đó, ông đến trú tại Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji) ở trên kinh đô Kyoto và tiếp thu đồ chúng dạy dỗ. Chính Đại Hiết là người đã hoàn chỉnh hình thức cũng như quy tắc y phục lễ nhạc của Thiền lâm Nhật Bản.
đại hiếu
Very pious towards one's parents.
đại hiền
883韓國名僧。又稱太賢。生卒年及籍貫均不詳,其確實活躍時間在新羅景德王時代(742~764)。主要著述有:成唯識論學記、瑜伽纂要、唯識決擇、菩薩戒本宗要、梵網經古迹記等。師於唯識、華嚴、戒律三學均有極深之造詣。於唯識學宗圓測、慈恩、道證,於華嚴學宗元曉、法藏,於戒律學宗義寂、勝莊。師始治華嚴,後攻唯識,皆能通達無礙。新羅佛教界深受元曉之影響,而元曉之後進學者,則又承大賢之學;中國學者,亦多稱之。所著「梵網經古迹記」,影響及於日本平安時代之唯識學者善珠(724~797)。善珠所著「梵網經略疏」,其體系即依據大賢之「梵網經古迹記」而成。景德王天寶十二年(753)發生大旱,大賢奉詔入宮講「金光明經」祈雨,涸井忽湧泉,高達二十二公尺,因名該井為「金光井」。曾受國王召請,後隱棲深山以終。大賢信仰彌勒菩薩,常繞彌勒菩薩圓塔經行,據聞當大賢繞塔時,彌勒菩薩之臉常隨著大賢而轉。〔朝鮮佛教の寺と歷史〕
; 1) Great sages. 2) Ngài Đại Hiền, một vị sư người nước Cao Ly (Đại Hàn), đã sống bên Tàu vào thời đại nhà Đường, thuộc Tông Pháp Tướng, đã viết nhiều kinh sớ gọi là Cổ Tích Ký—Ta-Hsien (Jap. Daiken), a Korean monk who lived in China during the T'ang dynasty, of the Dharmalaksana school, noted for his annotations on the sutras and styled the archaeologist.
đại hiểu thật triệt
885(1685~1757)清代臨濟宗僧。江蘇崇明人,俗姓陳。月潭明達之法嗣。初居終南山之憶洞山,一日參雲門公案,見電光而徹證。歷住金山(江蘇丹徒縣)江天寺、常州(江蘇武進縣)天寧寺等名剎。清高宗南巡時(1757)嘗賜予紫衣。其門人天濤際雲繼承江天寺、納川際海繼承天寧寺。其法系至近代仍存。
Đại Hoa Nghiêm kinh lược sớ 大華嚴經略策
[ja] ダイケゴンキョウリャクサク Dai kegonkyō ryakusaku ||| Da huayan jing luece; by Chengguan 澄觀. T 1737.36.701b-709c. => (c: Da huayan jing luece); của Trừng Quán (c: Chengguan澄觀).
đại hoa tự
865位於雲南昆明大華山。元代僧玄鑑(1276~1313)所建。有石碑樓、天王殿、大雄寶殿、縹緲樓及大悲寶閣等建築。雖曾於清康熙二十七年(1688)重修,但仍保存宋代之樣式。寺域寬廣,庭院為亭閣及迴廊所圍繞,內栽植竹林、桂花、紫陽花,且飾以太湖石,充分表現中國式庭院之特色。如今,大華寺已成為觀日出之名勝。
; (大華寺) Chùa ở núi Đại hoa thuộc Côn minh, tỉnh Vân nam Trung quốc, do ngài Huyền giám (1276-1313) sáng lập vào đời Nguyên. Chùa gồm các tòa: Lầu bia đá, điện Thiên vương, điện Đại hùng, lầu Phiêu diểu (thăm thẳm), gác Đại bi v.v... Chùa tuy đã được sửa lại vào năm Khang hi 27 (1688) đời Thanh, nhưng vẫn còn bảo tồn được nét kiến trúc của đời Tống. Khu nội tự rộng rãi, sân chùa được bao bọc bởi các lớp hành lang, trong trồng trúc, hoa quế, hoa tử dương, biểu hiện đầy đủ đặc sắc của chùa viện kiểu Trung quốc. Hiện nay, chùa Đại hoa là một thắng cảnh nổi tiếng và người ta đến đây để xem cảnh mặt trời mọc.
đại hoà thượng sơn
796請參閱 大周刊定眾經目錄 位於遼東半島金州平野之東側。舊稱大黑山。隋煬帝於大業十年(614)第三次遠征高句麗,在沙卑城(又稱卑沙城)破敵;唐太宗真觀十九年(645),張亮所攻略之地亦為沙卑城。此沙卑城即在大和尚山上。據全遼志卷四載,金州東十五里有大黑山,山頂有古城址,四面皆絕壁,僅有西門可登,此城即沙卑城。另據方輿全國總說載,大和尚山為風光明媚之地,山腹有響水寺、朝陽寺觀音閣、勝水寺、石鼓寺等。〔遼史卷三十八、滿州舊蹟志卷上、滿州の史蹟(村田治郎)〕
Đại hoặc 大惑
[ja] ダイワク daiwaku ||| Great afflictions--the primary afflictions 根本煩惱. See 大小二惑 => Phiền não thô trọng-- Căn bản phiền não. Xem Đại tiểu nhị hoặc.
Đại hung phúc hành 大胸腹行
[ja] ダイキョウフクコウ daikyōfukukō ||| A Chinese translation of mohuoluojia 摩睺羅迦 (mahoraga). => Hán dịch của Ma-hầu la-già (摩睺羅迦c: mohuoluojia; s: mahoraga).
đại huyền kim cang
Xem Đại hắc thiên.
đại huyễn mật thừa
Mahāmāyā tantra (S), gyu ma chen mo(T).
đại huyễn sư
754為佛之德名。佛說幻化之事,能為幻化之事,故稱幻師。大集經卷十九(大一三‧一三一上):「說一切法如水月,我今敬禮大幻師。」
; Nhà ảo thuật lớn, một danh hiệu được gán cho Phật—Great magician, a title given to a Buddha.
; (大幻師) Đức danh của Phật. Phật nói các việc huyễn hóa, có thể làm các việc huyễn hóa, Đại Hùng Bảo Điện ở chùa Đại Hoa cho nên gọi Ngài là Huyễn sư. Kinh Đại tập quyển 19 (Đại 13, 131 thượng) chép: Ngài nói các pháp như trăng nước, con nay kính lễ Đại huyễn sư.
đại huệ
880<一>謂佛陀之大智慧。 <二>為梵語 mahāprajñā 之意譯,音譯摩訶般若。〔三論玄義卷六上〕(參閱「摩訶般若」6080) <三>菩薩名,梵名 Mahāmati,音譯作摩訶摩底,於楞伽經會上,為一會之上首。 <四>(677~744)為唐代南嶽懷讓之諡號。故後世又稱懷讓為大慧禪師。(參閱「南嶽懷讓」3755) <五>(1089~1163)南宋禪僧,名宗杲。(參閱「大慧宗杲」881) <六>(1564~1636)明代法相宗學僧。又稱大惠。(參閱「大惠」858)
; 857(1564~1636)明代僧。又作大慧。浙江仁和人,俗姓邵。字靈源。壯歲即四處參訪名德,精研法相唯識之學。五十七歲時始出家為僧。南北講說,弘闡唯識十餘年,崇禎九年示寂於杭州昭慶寺,世壽七十三。有棱嚴日記、唯識證義、唯識自考錄等。〔昭慶寺志卷八〕
; Tai Hui (C), Mahāpaa (P), Mahāprajā (S), Mahā-jā (P), Mahā-Vibhāṣāna (S)Tên một vị sư.
; Ma Ha Ma Đề—Mahamati (skt). 1) Đại Huệ, vị Bồ Tát chính trong Kinh Lăng Già, người tham vấn chính trong kinh nầy: Great wisdom, a leading bodhisattva and principal interlocutor in the Lankavatara sutra. 2) Tên của vị Đại Thiền Sư ở Hàng Châu đời nhà Tống—Name of Hangchow Master of the Zen school in the Sung dynasty. 3) Danh hiệu của Nhất Hạnh, một Thiền Sư nổi tiếng đời Đường: Title of I-Hsing, a famous Zen master of the Ch'an school in T'ang dynasty.
; (大慧) I. Đại Tuệ. Trí tuệ siêu việt của đức Phật. II. Đại Tuệ. Phạm: Mahàprajĩà. Dịch âm: Ma ha bát nhã. [X. Tam luận huyền nghĩa Q.6 phần trên]. (xt. Ma Ha Bát Nhã). III. Đại Tuệ. Phạm:Mahàmati. Tên vị Bồ tát Thượng thủ trên hội Lăng già. IV. Đại Tuệ(677-744). Thụy hiệu của ngài Nam nhạc Hoài nhượng ở đời Đường. Ngài được đời sau gọi là Đại tuệ thiền sư. (xt. Nam Nhạc Hoài Nhượng).
đại huệ (bồ tát)
Mahàmati (S). Great wisdom, the leading bodhisattva of the Lankàvatàra-sùtra.
đại huệ bồ tát
Mahāmati (S)Ma ha ma đề Bồ tátTên một vị Bồ tát.
Đại Huệ ngữ lục 大慧語録
[ja] ダイエゴロク Daie goroku ||| See 大慧普覺禪師語録. => (c: Dahui yulu). Xem Đại Huệ Phổ Giác thiền sư ngữ lục (大慧普覺禪師語録).
đại huệ phái
881為我國禪宗臨濟宗楊岐派之一支,開祖為大慧宗杲(1089~1163)。宗杲自楊岐派第三世之圜悟克勤得法之後,初住江西雲居山。南宋紹興七年(1137),入住徑山能仁寺,雲衲來集者常逾數千,又著正法眼藏六卷等,大倡「看話禪」,此一法脈即稱大慧派。與圜悟之另一弟子虎丘紹隆所開創之「虎丘派」相對稱。嗣法者有拙庵德光、卍庵道顏、懶安鼎雲等九十餘人,其中,以拙庵之法系最繁興,門下有妙玄之善、北磵居簡、浙翁如琰等,日本達磨宗之祖大日能忍亦受拙庵之印可而返日弘法。元大德年間,成宗嘗歸依妙玄之善法孫元叟行端,並賜號「慧文正辯禪師」,後住徑山,闡揚大慧宗風。門下英才頗多,其中,楚石梵琦歷住福臻、永祚、本覺諸大寺,主張「教禪一如」,文宗賜號「佛日慧辯禪師」。北磵居簡之下有物初大觀、晦機元熙、笑隱大訢等,日本天祐思順即傳大慧派北磵居簡之法。又佛祖歷代通載(念常)、釋氏稽古略(覺岸)、五燈會元(普濟)等,亦均為此派門人之鉅著。〔佛祖歷代通載卷三十、五燈會元卷十九、禪宗正脈卷十九、續 ッO錄卷二十七〕
; (大慧派) Một chi nhánh của phái Dương kì thuộc tông Lâm tế của Thiền tông Trung quốc, tổ khai sáng là ngài Đại tuệ Tông cảo (1089 - 1163). Sau khi được pháp nơi thiền sư Viên ngộ Khắc cần đời thứ 3 của phái Dương kì, ngài Tông cảo đến ở núi Vân cư tỉnh Giang tây giáo hóa. Đến năm Thiệu hưng thứ 7 (1137) ngài vào trụ trì chùa Năng nhân ở Kính sơn, có hơn nghìn người đến theo học. Ngài soạn tác phẩm Chính pháp nhãn tạng 6 quyển, hết sức đề cao Khán thoại thiền, từ đó trở thành dòng pháp riêng gọi là Đại tuệ phái. Các đệ tử nối pháp có hơn 90 người như: Chuyết am Đức quang, Vạn am Đạo nhan, Lại an Đỉnh vân v.v... Trong đó, pháp hệ của ngài Chuyết am phồn hưng nhất, môn hạ có các sư Diệu huyền Chi thiện, Bắc giản Cư giản, Triết ông Như diễm v.v... Tổ khai sáng của tông Đạt ma Nhật bản là Đại nhật Năng nhẫn cũng được sự ấn khả của ngài Chuyết am rồi về nước hoằng hóa. Khoảng năm Đại đức đời Nguyên, vua Thành tông qui y sư Nguyên tẩu Hạnh đoan (hàng cháu của ngài Diệu huyền Chi thiện). Sư Hạnh đoan trụ ở Kính sơn xiển dương tông phong của ngài Đại tuệ, môn hạ rất nhiều người ưu tú, trong đó có sư Sở thạch Phạm kì chủ trương Giáo thiền nhất như, được vua Văn tông ban hiệu Phật nhật tuệ biện thiền sư. Đệ tử của ngài Bắc giản Cư giản có Vật sơ Đại quan, Hối cơ Nguyên hi, Tiếu ẩn Đại hân v.v... Sư Thiên hựu Tư thuận người Nhật bản cũng truyền pháp của ngài Bắc giản Cư giản. Những tác phẩm lớn do các sư thuộc phái này biên soạn gồm có: Phật tổ lịch đại thông tải (Niệm thường), Thích thị kê cổ lược (Giác ngạn), Ngũ đăng hội nguyên (Phổ tế) v.v... [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.30; Ngũ đăng hội nguyên Q.19; Thiền tông chính mạch Q.19; Tục truyền đăng lục Q.27].
đại huệ phổ giác thiền sư ngữ lục
882凡三十卷。略稱大慧語錄。南宋大慧宗杲禪師(1089~1163)語,雪峰蘊聞編。收於大正藏第四十七冊。內容分為語錄(卷一─九)、頌古(卷十)、偈頌(卷十一)、讚佛祖(卷十二)、普說(卷十三─十八)、法語(卷十九─二十四)、書(卷二十五─三十)等七部。本語錄之異本中,大慧普覺禪師書係由黃文昌重編(此為語錄中之部分),略稱大慧書,以書信體答門下縉紳居士所問,藉之說示宗門要旨,計收五十三篇書信。〔大明三藏聖教北藏目錄卷四、閱藏知津卷四十二〕
; (大慧普覺禪師語錄) Gồm 30 quyển. Gọi tắt: Đại tuệ ngữ lục. Do thiền sư Đại tuệ Tông cảo (1089-1163) nói, ngài Tuyết phong Uẩn văn ghi chép, thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung chia làm 7 phần: Ngữ lục (từ quyển 1 đến quyển 9). Tụng cổ (quyển 10). Kệ tụng (quyển 11) Tán Phật tổ (quyển 12). Phổ thuyết (quyển 13 đến 18). Pháp ngữ (quyển 19 đến 24). Thư (quyển 25 đến 30) v.v... [X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Duyệt tạng tri tân Q.24].
Đại Huệ Phổ Giác thiền sư ngữ lục 大慧普覺禪師語録
[ja] ダイエフガクゼンシゴロク Daie fugaku zenshi goroku ||| Dahui pujue chanshi yulu; T 1998a.47.811b-943a. The teaching record of Dahui. Abbreviated as Dahui yulu 大慧語録. => (c: Dahui pujue chanshi yulu). Pháp ngữ của Đại Huệ. Gọi tắt là Đại Huệ ngữ lục (c: Dahui yulu 大慧語録).
; [ja] ダイエフガクゼンシゴロク Daie fugaku zenshi goroku ||| Dahui pujue chanshi yulu; T 1998a.47.811b-943a. The teaching record of Dahui. Abbreviated as Dahui yulu 大慧語録. => (c: Dahui pujue chanshi yulu). Pháp ngữ của Đại Huệ. Gọi tắt là Đại Huệ ngữ lục (c: Dahui yulu 大慧語録).
đại huệ phổ giác thiền sư phổ thuyết
882請參閱 宗門武庫 請參閱 大慧普覺禪師普說 請參閱 宗門武庫 凡五卷。南宋慧然、蘊聞、道先等編。略稱大慧普說。乃編錄大慧普覺禪師宗杲普說宋代諸禪匠之宗旨而成。首卷載諸人之問話,二至四卷詳記臨濟禪風,末附湯丞相請大慧禪師陞座疏語及大慧普覺禪師法語,第五卷係淨智居士黃文昌重編。此書刊行於南宋光宗紹熙元年(1190),即宗杲示寂後二十七年,為研究臨濟禪機之絕佳資料。
; (大慧普覺禪師普說) Gồm 5 quyển, do các sư Tuệ nhiên, Uẩn văn, Đạo tiên biên tập vào đời Nam Tống. Gọi tắt: Đại tuệ phổ thuyết. Nội dung ghi chép lời thiền sư Đại tuệ Phổ giác Tông cảo nói về tông chỉ của các Thiền sư quan trọng ở đời Tống. Quyển đầu ghi lời hỏi của những người học; quyển 2 đến 4 ghi rõ Thiền phong của tông Lâm tế, ở cuối có phụ lời sớ của Thang thừa tướng thỉnh thiền sư Đại tuệ thăng tòa và pháp ngữ của Thiền sư; quyển 5 do cư sĩ Tịnh trí Hoàng văn Xương biên chép lại. Sách này được ấn hành vào niên hiệu Thiệu hi năm đầu (1190) đời vua Quang tông nhà Nam Tống, tức là 27 năm sau khi ngài Tông cảo thị tịch. Đây là tư liệu rất quan trọng để nghiên cứu Thiền cơ của tông Lâm tế.
Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Thư
(大慧普覺禪師書, Daiefukakuzenjisho): xem Đại Huệ Thư (大慧書, Daiesho) bên dưới.
Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Tông Môn Võ Khố
(大慧普覺禪師宗門武庫, Daiefukakuzenjishūmonbuko): xem Đại Huệ Võ Khố (大慧武庫, Daiebuko) bên dưới.
Đại Huệ Phổ Giác thiền sư tông môn võ khố 大慧普覺禪師宗門武庫
[ja] ダイエフガクゼンシシュウモブコ Daie fugaku zenshi shūmon buko ||| Dahui Pujue Chanshi zongmen wuku; (Chan Master Dahui Pu jue's Arsenal for the Chan Lineage), 1 fasc. Compiled by Daojian (d.u.); completed in 1186. T 1998b.47.943b-957c. => (c: Dahui Pujue Chanshi zongmen wuku; e: Chan Master Dahui Pu jue's Arsenal for the Chan Lineage), 1 quyển; Daojian (d.u.) sưu tập; hoàn tất năm 1186.
Đại Huệ Thư
(大慧書, Daiesho): tức Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Thư (大慧普覺禪師書, Daiefukakuzenjisho), còn gọi là Đại Huệ Thư Vấn (大慧書問, Daieshomon), 2 quyển, Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) nhà Tống trước tác, do Huệ Nhiên (慧然) biên tập, Hoàng Văn Xương (黃文昌) trùng biên, san hành vào năm thứ 2 (1166) niên hiệu Càn Đạo (乾道). Tại Nhật có bản san hành vào năm thứ 7 (1630) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永). Đây là thư tịch thâu tập các văn thư thuyết về tông yếu qua cuộc vấn đáp giữa vị quan và cư sĩ khoảng 40 người với 2 vị tăng thuộc môn hạ của Đại Huệ. Theo ký lục san hành cho biết bản của Trung Quốc, Triều Tiên có đến 10 loại khác nhau, riêng Nhật Bản thì có khoảng 12, 13 loại. Bản được thâu lục trong Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục (大慧普覺禪師語錄) 25~30 có vài điểm dị đồng. Sách chú thích cũng có mấy loại như bản sao của Đại Khuê Thiệu Trác (大圭紹琢), Vạn An Anh Chủng (萬安英種), Khảo Lão Châu (栲栳珠) của Vô Trước Đạo Trung (無著道忠), v.v.
Đại Huệ Thư Vấn
(大慧書問, Daieshomon): xem Đại Huệ Thư (大慧書, Daiesho) ở trên.
Đại Huệ Tông Cảo
大慧宗杲; C: dàhuì-zōnggǎo; J: daie sōkō; 1089-1163;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc phái Dương Kì tông Lâm Tế. Sư là đệ tử giỏi nhất của Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần (Phật Quả). Tên của Sư hay được nhắc nhở đến cùng với việc đốt tập Công án lừng danh Bích nham lục. Sư rất đề cao việc sử dụng công án làm phương tiện giác ngộ và những cuộc tranh luận của Sư với Thiền sư Hoằng Trí Chính Giác về Khán thoại thiền (Lâm Tế) và Mặc chiếu thiền (Tào Ðộng) nêu rõ lập trường của hai tông này. Sư thường khuyến khích môn đệ tập trung tất cả năng lực vào những công án để giải, nhưng tuyệt đối không được dùng lí trí phân biệt phải trái. Từ đây công án trở thành một thành phần quan trọng trong việc tu tập của dòng Lâm Tế, được truyền đến ngày nay tại Nhật Bản.|Sư họ Hề quê ở Ninh Quốc Tuyên Châu, xuất gia năm mười ba tuổi và thụ giới cụ túc năm 17 tuổi. Mặc dù tuổi còn nhỏ nhưng Sư đã nghiên cứu xem rất nhiều Ngữ lục và rất thích những lời dạy của các vị tôn túc như Vân Môn, Mục Châu. Nhân lúc đọc các thiền ngữ này Sư nảy sinh lòng thắc mắc vì sao ban đầu chỉ có một vị Tổ Bồ-đề Ðạt-ma mà sau lại phát sinh ra nhiều tông phái khác nhau. Nghe lời cha mẹ khuyên, Sư cất bước du phương.|Sư tham vấn rất nhiều vị Thiền sư danh tiếng đương thời. Nhân dịp đến Thiền sư Lặc Ðàm Văn Chuẩn, Sư trổ tài hùng biện, Thiền sư Văn Chuẩn rất phục nhưng lại bảo rằng: »Ông chỉ thiếu một tiếng ›Ồ‹. Nếu chẳng được tiếng ›Ồ‹ này thì khi nói chuyện trong phòng ta thì có Thiền, khi ra khỏi thì hết, khi thức tỉnh thì có thiền, vừa nằm ngủ liền hết. Nếu như thế thì làm sao đối địch được sinh tử?« Thiền sư Văn Chuẩn khuyên Sư đến yết kiến Viên Ngộ và nghiên cứu kĩ Ðại tạng kinh.|Ðến Viên Ngộ nhập viện, Sư sớm chiều thưa thỉnh nhưng sau một năm Sư vẫn chưa sáng được việc mình. Một hôm, nhân lúc Viên Ngộ nhắc lời dạy của Vân Môn: »Tăng hỏi Vân Môn: ›Thế nào là chỗ chư Phật xuất thân?‹. Vân Môn đáp: ›Ngọn Ðông sơn đi trên nước. Nếu là Thiên Ninh thì không như thế.‹ Nếu có người hỏi ›thế nào là chỗ chư Phật xuất thân‹ chỉ nói với y rằng gió nhẹ từ phương Nam đến thì điện các sinh mát mẻ.« Sư nghe câu này hoát nhiên tỉnh ngộ, trình bày sở đắc nhưng Viên Ngộ chưa hoàn toàn công nhận. Sư tự than là »đạo lí của Viên Ngộ giống như con chó nhìn chảo mỡ nóng, liếm cũng không được mà bỏ thì không đành.« Viên Ngộ nhắc lại giai thoại của mình nơi Ngũ Tổ Pháp Diễn: »Ta hỏi ›Câu có câu không như bìm nương cây, là thế nào?‹ Ngũ Tổ bảo: ›Tả cũng tả chẳng thành, vẽ cũng vẽ chẳng được.‹ Ta lại hỏi: ›Chợt gặp cây ngã bìm khô thì thế nào?‹ Ngũ Tổ bảo: ›Theo nhau lại vậy.‹« Sư nhân nghe đây triệt ngộ và sau khi được Viên Ngộ trắc nghiệm, Sư được Ấn khả. Viên Ngộ khen: »Cảo chẳng phải một đời hai đời làm Thiện tri thức lại.«|Sau Sư trụ trì ở Kính Sơn phủ Lâm An, môn đệ tấp nập có đến cả ngàn người. Cách giáo hoá của Sư như vũ bão, có thể gọi là tiêu biểu cho tông Lâm Tế hệ phái Dương Kì sau này.|Một vị tăng vừa vào cửa, Sư bảo: »Chẳng phải, đi ra!« Vị tăng liền ra, Sư bảo: »Không lường đại nhân, bị trong ngữ mạch chuyển.«|Kế một vị tăng vào, Sư bảo: »Chẳng phải, đi ra!« Vị tăng đến gần, Sư bảo: »Ðã nói với ông chẳng phải, lại đến gần tìm cái gì!« và đánh đuổi ra.|Lại một vị tăng vào nói: »Hai vị tăng vừa rồi không hiểu ý Hoà thượng.« Sư liền cúi đầu »Hư!« một tiếng. Vị tăng này mù mịt không biết thế nào, Sư liền đánh đuổi ra và nói: »Lại là ông hiểu ý Lão tăng!«|Lại một vị tăng vào. Sư hỏi: »Vừa rồi có hai vị Thượng toạ một người biết nắm chẳng biết buông, một người biết buông mà chẳng biết nắm, ông lại biện được chăng?« Tăng thưa: »Tất cả lĩnh thụ rồi.« Sư bảo: »Sau khi lĩnh thụ rồi có tin tức tốt nào khác chăng?« Vị tăng vỗ tay một cái liền ra. Sư bảo: »Sau ba mươi năm ngộ đi vậy.«|Vì Sư giáo hoá quan Thị Lang Trương Cửu Thành, bị Tần Cối gán tội là bè đảng với họ Trương nên bị đày ra Hành Châu mười năm, phải cổi pháp phục. Ðược tám năm, vua đặc ân tha cho, năm sau trả lại pháp phục. Sau, Sư được chiếu về trụ lại Kính Sơn. Niên hiệu Long Hưng năm đầu (1163) ngày mùng mười tháng tám, Sư theo lời thỉnh của thị giả viết kệ:|Sinh cũng chỉ thế ấy|Tử cũng chỉ thế ấy|Viết kệ cùng không kệ|Có gì là quan trọng.|Viết xong, Sư ném bút thị tịch, thọ 75 tuổi, 58 tuổi hạ.
đại huệ tông cảo
880請參閱 宗門武庫 (1089~1163)宋代臨濟宗楊岐派僧,字曇晦,號妙喜,又號雲門。俗姓奚,宣州(安徽)寧國人。十七歲,出家於東山慧雲寺之慧齊門下,翌年受具足戒。先後參訪洞山微、湛堂文準、圜悟克勤等師。宣和年間,與圜悟克勤住東京(開封),大悟後,乃嗣圜悟之法,圜悟並以所著「臨濟正宗記」付囑之。未幾,令師分座說法,由是叢林歸重,名振京師。靖康元年(1126),承相呂舜徒奏賜紫衣,並得「佛日大師」之賜號。紹興七年(1137),應丞相張浚之請,住持徑山能仁寺,諸方緇素雲集,宗風大振。紹興十一年,侍郎張九成至能仁寺從師習禪,偶論議朝政;其時秦檜當道,力謀與金人議和,張九成則為朝中之主戰派。秦檜大權在握,竭力斬除異己,師亦不得倖免,於十一年五月褫奪衣牒,流放衡州(今湖南衡陽),其間集錄古尊宿之機語及與門徒間商量討論之語錄公案,輯成「正法眼藏」六卷。紹興二十年,更貶遷至梅州(今廣東梅州),其地瘴癘物瘠,師徒百餘人斃命者過半,然師猶以常道自處,怡然化度當地居民。紹興二十五年遇赦,翌年復僧服。二十八年,奉敕住徑山,道俗慕歸如舊,時有「徑山宗杲」之稱。師辯才縱橫,平日致力鼓吹公案禪法,其禪法被稱為「看話禪」(即以考察公案、話頭而求開悟之禪法),此與宏智正覺之「默照禪」相輝映。晚年,住徑山,四方道俗聞風而集,座下恒數千人。孝宗歸依之,並賜號「大慧禪師」。隆興元年八月微恙,十日親書遺奏,又書遺偈,擲筆委然而入寂,世壽七十五,法臘五十八。諡號「普覺禪師」。遺有大慧語錄、正法眼藏、大慧武庫等書。嗣法弟子九十餘人,較著名者有思岳、德光、悟本、道顏等。〔明高僧傳卷五、大慧年譜、嘉泰普燈錄卷十五、聯燈會要卷十七、五燈會元卷十九〕
; Daiye Soko (J), Tai Hui Tsung kao (C), Daiye Soko (J)Tên một vị sư.
; Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo (1089-1163)—Zen master Ta-Hui-Zong-Kao. Dòng Thiền thứ hai mươi hai—Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo sanh năm 1089 tại Ninh Quốc, một đại sư đời nhà Tống. Ngài là đệ tử của Viên Ngộ Thiền sư. Năm mười bảy tuổi xuất gia tại chùa Huệ Vân, và thọ cụ túc giới năm mười tám tuổi. Lúc thiếu thời tình cờ ông gặp được quyển Vân Môn Ngữ Lục. Sư thường đi du phương và tu tập với các vị thiền sư có tiếng thời bấy giờ. Về sau sư theo tu với thiền sư Trạm Đường. Trạm Đường biết khả năng xuất chúng của sư; tuy nhiên, Trạm Đường bảo sư là sư chưa giác ngộ vì trở ngại của kiến thức phàm phu. Sau khi Trạm Đường viên tịch, sư tìm đến thiền sư Viên Ngộ tại chùa Thiên Ninh, nơi đó ông gặp sư Viên Ngộ đang thuyết pháp cho chư Tăng Ni. Sư Viên Ngộ có nhắc một chuyện về các sư hỏi Ngài Vân Môn: “Thế nào là chỗ chư Phật xuất thân?” Vân Môn đáp: “Núi đông trên nước đi.” Đoạn một người trong chúng hỏi Viên Ngộ: “Thế nào là chỗ chư Phật xuất thân?” Viên Ngộ đáp. “Gió nam từ nam, nhưng cung điện lại khô ráo lạnh lẽo.” Nghe xong sư hoát nhiên tỉnh ngộ, quá khứ vị lai đều dứt hẳn—Ta-Hui-Zong-Kao—The Twenty-second Chinese Zen Generation (Sixteenth after Hui-Neng)—He was born in 1089 in Ning-Kuo, a famous monk in the Sung dynasty. He was a disciple of Yuan-Wu. He left home at the age of seventeen to live at Hui-Yun (Wisdom Cloud) Temple, and received ordination there the following year. As a young man Dahui happened to encounter a copy of the Record of Yunmen. He often traveled and practiced under various famous Zen masters. Later he studied under a Zen master named Zhan-T'ang. Master Zhan recognized Da-Hui's unusual ability; however, told him: “You haven't experienced enlightenment and the problem is your ordinarily intellectual understanding!” After master Zhan died, Da-Hui traveled to Yuan-Wu's residence, T'ian-Ning Temple, where he heard the master address the monks. In his talk, Yuan-Wu spoke of an incident in which a monk asked Yun-Mên “What is the place where all Buddhas come forth?” Yun-Mên answered, “The water on East Mountain flows uphill.” Then someone in the audience asked Yuan-Wu, “What is the place where all Buddhas come forth?” Yuan-Wu said, “Warm breeze come from the South, but in the palace there's a cold draught.” Upon hearing these words, Da-Hui's past and future were cut off. • Thiền sư Đại Huệ là một trong những môn đồ lớn của Viên Ngộ, người đã đóng góp to lớn vào việc hoàn chỉnh phương pháp công án thiền. Ngài là một tay cự phách tán dương sự giác ngộ, một trong những lời tán dương của ngài là : “Thiền không có ngôn ngữ. Hễ có chứng ngộ là có tất cả.” Từ đó những chứng cứ hùng hồn của ngài đối với sự chứng ngộ, như đã thấy, đều xuất phát từ kinh nghiệm riêng tư của mình. Trước đây, ngài đã sửa soạn đầy đủ để viết một bộ luận chống lại Thiền tông, trong đó nhằm tước bỏ những điều mà các Thiền gia gán ghép cho Thiền. Tuy nhiên, sau khi hỏi đạo với Thầy mình là Thiền sư Viên Ngộ, tất cả những quyết định trước kia đều bị sụp đổ, khiến ngài trở thành một biện giả hăng say nhất của kinh nghiệm Thiền—Zen master Ta-Hui, one of Yuan-Wu's chief disciples, played a major role in shaping koan practice. He was a great advocate of 'satori,' and one of his favorite sayings was: “Zen has no words; when you have 'satori' you have everything.” Hence his strong arguments for it, which came, as has already been shown, from his own experience. Until then, he was quite ready to write a treatise against Zen in which he planned to disclaim everything accredited to Zen by its followers. His interview with his master Yuan-Wu, however, rushed all his former determination, making him come out as a most intense advocate of the Zen experience. • Năm 1163, sư gọi đồ chúng lại viết bài kệ sau. Sanh cũng chỉ thế ấy Tử cũng chỉ thế ấy Có kệ cùng không kệ Là cái gì quan trọng Viết xong kệ, sư ném bút thị tịch. In 1163 he composed a verse with large brushstrokes: Birth is just so. Death is just so. So, as for composing a verse, Why does it matter? Ta-Hui then throw down the brush and passed away.
; (大慧宗杲) (1089 - 1163) Vị Thiền tăng thuộc phái Dương kì, tông Lâm tế ở đời Tống, tự Đàm hối, hiệu Diệu hỉ, cũng hiệu Vân môn, họ Hề, người Ninh quốc, Tuyên châu (An huy). Năm 17 tuổi, sư theo ngài Tuệ tề xuất gia ở chùa Tuệ vân tại Đông sơn, năm sau, sư thụ giới Cụ túc. Sư lần lượt tham học các ngài Động sơn vi, Trạm đường Văn chuẩn, Viên ngộ Khắc cần v.v... Khoảng năm Tuyên hòa, sư ở Đông kinh (Khai phong) với ngài Viên ngộ Khắc cần. Sau khi đắc pháp, được ngài Viên ngộ ấn chứng và trao cho sư bộ Lâm tế chính tông kí do ngài soạn. Không bao lâu, ngài Viên ngộ phân tòa cho sư thuyết pháp; từ đó tùng lâm mỗi ngày thêm hưng thịnh và danh tiếng của sư vang khắp Kinh đô. Niên hiệu Tĩnh khang năm đầu (1126), Thừa tướng Lữ thuấn đồ tâu vua ban cho sư áo đỏ và danh hiệu Phật Nhật Đại Sư. Năm Thiệu hưng thứ 7 (1137), nhận lời thỉnh của Thừa tướng Trương tuấn, sư vào trụ trì chùa Năng nhân ở Kính sơn, người bốn phương về tham học rất đông, tông phong đại thịnh. Năm Thiệu hưng 11 (1141), quan Thị lang Trương cửu thành đến chùa Năng nhân theo sư tu Thiền, tình cờ bàn luận việc chính trị của triều đình. Bấy giờ Tần cối nắm quyền, âm mưu nghị hòa với người Kim, còn Trương cửu thành thì thuộc phe chủ chiến trong triều. Tần cối dùng uy quyền thao túng, tiêu diệt bất cứ ai không đồng ý kiến với mình, sư cũng không được miễn trừ. Cho nên vào tháng 5 năm Thiệu hưng 11, sư bị tước áo pháp và chứng điệp, rồi lưu đày đến Hành châu (nay là huyện Hành dương tỉnh Hồ nam). Trong thời gian này, sư chép nhặt những câu nói cơ duyên của các bậc tôn túc và những công án trong các ngữ lục, rồi cùng môn đồ thảo luận mà soạn thành Chính pháp nhãn tạng 6 quyển. Năm Thiệu hưng 20 (1150), sư lại bị đày đến Mai châu (nay là Mai châu tỉnh Quảng đông), là vùng lam sơn chướng khí, dễ mắc dịch bệnh, vì thế đồ chúng hơn 100 người bị chết quá nửa, nhưng sư vẫn giữ đạo thường, an nhiên tự tại, hóa độ dân cư vùng này. Đến năm Thiệu hưng 25 (1155) sư được đặc xá, năm sau mặc lại tăng phục. Năm Thiệu hưng 28 (1158), sư vâng sắc chỉ đến ở Kính sơn, đạo tục hướng về như cũ, bấy giờ sư được gọi là Kính sơn Tông cảo. Sư có tài biện luận ít người sánh kịp, sư ra sức cổ xúy cho pháp Thiền công án, gọi là Khán thoại thiền (phép thiền tham cứu công án, thoại đầu để cầu khai ngộ), cùng với Mặc chiếu thiền của ngài Hoành trí Chính giác thuộc tông Tào động phát triển song song một cách rực rỡ. Cuối đời, bốn phương nghe đạo phong của sư qui tụ về Kính sơn tham học thường đến nghìn người. Vua Hiếu tông ban hiệu là Đại tuệ thiền sư và xin qui y sư. Niên hiệu Long hưng năm đầu (1163) sư thị tịch vào tháng 8, thọ 75 tuổi, 58 hạ, thụy hiệu Phổ Giác Thiền Sư. Đệ tử nối pháp hơn 90 người, nổi tiếng hơn cả có: Tư nhạc, Đức quang, Ngộ bản, Đạo nhan. Tác phẩm có: Đại tuệ Ngữ lục, Chính pháp nhãn tạng, Đại tuệ vũ khố. [X. Minh cao tăng truyện Q.5; Đại tuệ niên phổ; Gia thái phổ đăng lục Q.15; Liên đăng hội yếu Q.17; Ngũ đăng hội nguyên Q.19].
Đại Huệ Tông Cảo 大慧宗杲 (1089-1163)
[ja] ダイエシュウコウ Daie Shūkō ||| (1089-1163); DahuiZonggao, disciple of Yuanwu xijin (1063-1135) and the seventeenth generation successor of the Yangqi 楊岐 branch of the Linji school of Ch'an. A popularizer of the huatou 話頭 method of Chan practice. Strongly influenced Korean Sŏn through the works of Chinul 知訥 and Japanese Zen through Dōgen 道元. His works include the Zheng fayan cang 正法眼藏, the Dahui yulu 大慧語録 and Dahui wuku 大慧武庫. => (j: Daie Shūkō; c: Dahui Zonggao, đệ tử của Viên Ngộ Khắc Cần (c: Yuanwu xijin;1063-1135) và là vị tổ thứ 17 của phái Dương Kỳ, dòng thiền Lâm Tế. Là người truyền bá pháp tu thiền thoại đầu. Pháp nầy có ảnh hưởng mạnh mẽ đến thiền tông Triều Tiên qua các tác phẩm của Trí Nột (k: Chinul 知訥) và thiền Nhật Bản qua Đạo Nguyên (j: Dōgen 道元). Tác phẩm của Đại Huệ gồm Chính pháp nhãn tạng (正法眼藏c: Zheng fayan cang ), the and Đại Huệ ngữ lục (大慧語録c: Dahui yulu ) và Đại Huệ võ khố (大慧武庫c: Dahui wuku).
Đại Huệ Võ Khố
(大慧武庫, Daiebuko): từ gọi tắt của Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Tông Môn Võ Khố (大慧普覺禪師宗門武庫, Daiefukakuzenjishūmonbuko), còn gọi là Tông Môn Võ Khố (宗門武庫, Shūmonbuko), 1 quyển, do Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) nhà Tống soạn, Đạo Khiêm (道謙) biên tập, san hành vào năm thứ 13 (1186) niên hiệu Thuần Hy (淳熙). Ở Nhật Bản, có các Bản Ngũ Sơn vào khoảng thời đại Nam Bắc Triều, bản năm thứ 5 (1628) và 14 (1637) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永), v.v. Đây là tác phẩm do môn đệ Đạo Khiêm biên lục những hành trạng của cổ nhân Đại Huệ. Bản hiện hành gồm 2 quyển, trong đó quyển hạ có thêm vào phần Thập Di Lục (拾遺錄) của Tuyết Đường Đạo Hạnh (雪堂道行), pháp từ của Đại Huệ.
đại huệ đao
The great wisdom sword.
đại huệ ấn đao
Ấn Đao Đại Huệ của trường phái Mật Tông—The sign of the great wisdom sword of the esoteric schools.
Đại huệ 大慧
[ja] ダイエ daie ||| Great wisdom; supreme wisdom. A direct translation of the Sanskrit mahā-prajñā, which is transcribed as 摩訶般若. 〔法華經, T 262.9.32c1〕 => Trí tuệ rộng lớn, trí tuệ siêu việt. Trực dịch chữ mahā-prajñā từ tiếng Sanskrit, phiên âm là Ma-ha bát-nhã (摩訶般若).
Đại hà 大河
[ja] ダイガ daiga ||| Great river, often used as a metaphor for the extensive power of the afflictions. 〔涅槃經 T 374.12〕 => Sông lớn, thường dùng như một ví dụ cho sức mạnh lớn lao của phiền não.
đại hàn
Very cold.
đại hàn lâm
Sitavan (skt)—Khu rừng lạnh lớn, có nghĩa là bãi tha ma bên Tây Trúc—The grove of great cold—The graveyard—Burial stupas (in India).
đại hàn lâm thánh nan noa đà la ni
Mahāsītavatī (S)Một bộ kinh trong Mật bộ.
Đại hàn lâm thánh nan-nã đà-la-ni kinh 大寒林聖難拏陀羅尼經
[ja] ダイカンリンショウナンナダラニキョウ Daikanrin shōnanda daranikyō ||| The Da hanlin shengnan na tuoluonijing; Skt. Mahāśītapatī-vidyārājñī; Tib. ['phags pa] be con chen po zhes bya ba'i gzungs [To.606/958, P.308/583]; (Dhāraṇī of the Holy Daṇḍa [for the Great Cold Forest]). 1 fasc. (T 1392.21.908-911), trans. Fatian 法天. Spoken by the Bhagavan to Rahula, who is wandering lost in the great cold forest at Ingikāyatana; he is taught the "bludgeon" (daṇḍa 難拏) spell of Mahāśītapatī (nee' Mahāśītavanī), who grants protection from wild beasts, venomous insects, criminals and demons. Partly conforms to the fourth text of the Pañcarakṣā corpus. BGBT4/90. => (c: Da hanlin shengnan na tuoluonijing; Skt. Mahāśītapatī-vidyārājñī; Tib. ['phags pa] be con chen po zhes bya ba'i gzungs; e: Dhāraṇī of the Holy Daṇḍa [for the Great Cold Forest]). 1 quyển. Pháp Thiên (法天 c: Fatian) dịch. Do Thế tôn giảng cho La-hầu-la khi bị đi lạc trong rừng lạnh (người Ấn Độ thời xưa gọi đại hàn lâm là nghĩa địa) ở Ingikāyatana; La-hầu-la được dạy thần chú nan-nã (daṇḍa 難拏; s: Mahāśītapatī (nee' Mahāśītavanī), có công năng bảo hộ thoát khỏi thú dữ, trùng độc, ác quỷ và yêu ma. Một phần kinh nầy phù hợp với bản văn thứ tư trong Ngũ vị tập (s: Pañcarakṣā).
đại hành
784<一>行業廣大之意,指菩薩之修行。菩薩為求佛果菩提,乃發大誓願,歷經三祇百劫,修波羅蜜等諸善萬行,積大功德,故稱大行。反之,聲聞、緣覺等二乘之行,則稱為小行。此外,於天台宗,指摩訶止觀中之四種三昧為修大行。日本真宗教行信證中之行卷則指稱念南無阿彌陀佛之名號為大行。蓋此名號攝諸善法,具諸德本,是眾生往生之行業,以詮顯眾生之口業 A故稱大行。若此稱名屬報恩之行業,則稱報恩大行。(參閱「教行信證」4600) <二>唐代僧。齊州(山東歷城)人。姓氏不詳。又稱妙行。乾符年間,盜賊寇掠,民不得安業,師乃入泰山,結草為衣,採樹為食,專行法華、普賢懺法,如是三年,感得普賢現身,由是益加策勵,篤念如來之法,朝暮激切,至忘飲食。其後,忽感幻身無常,慮來世之受生,信手取卷,得阿彌陀經,日夜誦持,至三七日之夜半,見琉璃地之瑩淨現前,心眼更為洞明,感見阿彌陀佛及觀音、勢至等無數之化佛。其後乃專以念佛教化道俗,遠近風從。唐僖宗聞其德望,召入宮中問法要,敕號「常精進菩薩」,賜開國公之爵。後一年罹疾,復見琉璃地,即日於所居之禪室示寂,世壽不詳。弟子有道鏡等。〔往生西方淨土瑞應刪傳、淨土往生傳卷下、宋高僧傳卷二十四、佛祖統紀卷二十二〕
đại hân
853請參閱 大乘莊嚴經論 或 大莊嚴經論 請參閱 大莊嚴經論 (1284~1344)元代臨濟宗大慧派禪僧。江州(江西九江)人,俗姓陳。字笑隱。幼年出家於本郡之水陸院。及長,博通內外學。初參廬山開先寺之一山了萬,未契。後乃參謁百丈山之誨機元熙,得嗣其法。後又參禮天目山之中峰明本。歷住永嘉江心、錢塘靈隱等名剎,學侶萃聚,盛極一時。文宗時召入問道,賜金衲衣、金幣,及「廣智全悟大禪師」之號。順帝之時,待遇益厚,奉敕校正百丈清規。至元二年(1336),賜「釋教宗主」之號,掌領五山寺。至正四年示寂,世壽六十一,法臘四十六。著有四會語錄、蒲室集等,並重修敕修百丈清規八卷。〔五燈會元續略卷四、五燈嚴統卷二十二、五燈全書卷五十五〕
; (大訢) Vị Thiền tăng phái Đại tuệ thuộc tông Lâm tế sống vào đời Nguyên. Người Giang châu (huyện Cửu giang tỉnh Giang tây), họ Trần, tự Tiếu ẩn. Sư xuất gia từ thủa nhỏ ở viện Thủy lục tại quận nhà. Lớn lên, sư thông suốt cả nội và ngoại học. Mới đầu, sư tham vấn ngài Nhất sơn Liễu vạn ở chùa Khai tiên tại Lư sơn, không hợp. Sau, sư đến học ngài Hối cơ Nguyên hi ở núi Bách trượng và được nối pháp. Sau đó, sư lại tham yết ngài Trung phong Minh bản ở núi Thiên mục. Về sau, sư từng trụ trì các ngôi chùa danh tiếng như: Giang tâm ở Vĩnh gia, Linh ẩn ở Tiền đường v.v..., người đến tham học rất đông, cực thịnh một thời. Vua Văn tông thỉnh sư vào cung hỏi đạo và ban hiệu: Quảng trí toàn ngộ đại thiền sư. VuaThuận đế đãi ngộ sư rất trọng hậu và xin sư sửa chữa Bách trượng thanh qui. Năm Chí nguyên thứ 2 (1336), sư được ban cho hiệu là Thích giáo tông chủ, trông nom năm chùa. Năm Chí nguyên thứ 4 sư tịch, thọ 61 tuổi. Tác phẩm có: Tứ hội ngữ lục, Bồ thất tập, đồng thời, sửa lại Sắc tu Bách trượng thanh qui 8 quyển. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.4; Ngũ đăng nghiêm thống Q.22; Ngũ đăng toàn thư Q.55].
đại hình
Penalty of more than five years of imprisonment, with or without hard labor, or deportation to a penal settlement.
Đại Hòa
(大和, Yamato): tên gọi ngày xưa của Nhật Bản, địa phương hiện tại thuộc địa phận Nara-ken (奈良縣). Nguyên gốc cách đọc Yamato (やまと) của Nhật ngày xưa chính là chữ Oa (倭), nhưng đến thời Nguyên Minh Thiên Hoàng (元明天皇, Gemmei Tennō, tại vị 707-715) thì quyết định đổi chữ Oa (倭) thành chữ Hòa (和) rồi thêm vào chữ Đại (大) phía trước và thành ra Đại Hòa (大和); hoặc đôi khi viết là Đại Oa (大倭), nhưng vẫn giữ nguyên cách đọc là Yamato. Hơn nữa, Oa còn là cách gọi của người Trung Quốc đối với Nhật Bản ngày xưa, cho nên người Nhật thường được gọi là Oa nhân (倭人).
Đại Hòa thượng
大和尚; J: daiōshō;|Hoà thượng
đại hòa thượng
Great monk, senior monk, abbot; a monk of great virtue and old age
; Upadhyaya (skt)—The Great Master—A monk of great virtue and old age.
đại hóa
The transforming teaching and work of a Buddha in one life time.
; Hóa thân thuyết pháp và tu hành của một vị Phật—The transforming teaching and work of a Buddha in one lifetime.
Đại Hùng
(s: mahāvīra, 大雄): ý chỉ bậc anh hùng vĩ đại, là đức hiệu của đức Phật, vì Ngài là đấng anh hùng, có đủ năng lực trí tuệ lớn, có thể hàng phục ma chướng, chiến thắng tự thân mình. Vì vậy, tại Chánh Điện tôn thờ đức Phật được gọi là “Đại Hùng Bảo Điện (大雄寶殿, ngôi điện báu của đấng Đại Hùng).” Như trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262), Phẩm Tùng Địa Dũng Xuất (從地踊出品) thứ 15, có câu: “Thiện tai ! Thiện tai ! Đại hùng Thế Tôn ! (善哉、善哉、大雄世尊, Lành thay ! Lành thay ! Đức Thế Tôn đại hùng !).” Hay trong Phụ Tử Hợp Tập Kinh (父子合集經, Taishō Vol. 11, No. 320) quyển 13, Phẩm Tịnh Cư Thiên Thuyết Kệ Tán Phật (淨居天子說偈讚佛品) thứ 24, có đoạn: “Đại hùng mãnh Thế Tôn, xả sanh tử trọng đảm, cần tu vô thối khuất, tốc chí ư Bồ Đề (大雄猛世尊、捨生死重擔、勤修無退屈、速至於菩提, Thế Tôn đại hùng mãnh, bỏ sống chết gánh nặng, siêng tu không thối chuyển, mau đến nơi Bồ Đề).” Hoặc như trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 7, phần Trú Kim Lăng Thiên Giới Thiền Tự Ngữ Lục (住金陵天界禪寺語錄), lại có câu: “Đại Hùng Điện niêm hương, hoàng kim điện thượng Tam Tôn Phật, bạch ngọc quang trung nhất cá tăng (大雄殿拈香、黃金殿上三尊佛、白玉光中一箇僧, nơi Điện Đại Hùng niêm hương, vàng ròng trên điện Ba Đấng Phật, ngọc trắng hào quang một lão tăng).”
đại hùng
866梵語 mahā-vīra。為偉大之英雄之意。為佛之德號。因佛具有大智力,能降伏魔障,故稱大雄。法華經從地踊出品(大九‧四○中):「善哉!善哉!大雄世尊。」我國寺院大殿之供奉佛陀者,即稱大雄寶殿。此外,耆那教之教主筏馱摩那(梵 Vardhamāna),亦被其教徒尊為大雄。(參閱「耆那教」4283、「摩訶毘羅」6079)
; Mahāvira (S), Mahāvila Đại Dũng mãnh Bồ tát; Ma ha Tỳ la; Ni càn đà nhã đề tử1- Được dùng để chỉ đức Phật. 2- Ma ha Tỳ la hay Ni càn đà nhã đề tử là khai tổ Kỳ na giáo ở Ấn độ thời đức Phật.
; Great hero, a Buddha's title indicating his power over demons.
; Great in Courage—The great hero—Đại hùng của Đức Phật để hàng phục chúng ma—The Buddha's power over demons.
; (大雄) Phạm: Mahà-vìra. Hàm ý người anh hùng vĩ đại. Là đức hiệu của Phật. Vì Ngài có đầy đủ trí lực to lớn, hàng phục được tất cả ma chướng, nên gọi là Đại hùng. Phẩm Tòng địa dũng xuất trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 40 trung) chép: Lành thay! Lành thay! Đại hùng Thế tôn. Đại điện thờ tượng Phật trong các chùa viện ở Trung quốc thường gọi là Đại hùng bảo điện. Ngoài ra, vị giáo chủ của Kì na giáo là Phiệt đà na ma (Phạm:Vardhaôana) cũng được các tín đồ tôn là Đại hùng. (xt. Kì Na Giáo, Ma Ha Tì La).
đại hùng tinh
Ursa major.
đại hưng quốc tự
887位於陝西大荔縣之古寺。隋文帝大興佛法時,曾命四十五州各置大興國寺,本寺即其一,亦為文帝出生之地。東魏大統七年(541),文帝生,託神尼智仙撫養,住於般若尼寺。十三歲始還家,時值北周排佛之潮,及至隋起,帝由山東入,及登天子位,乃重興佛教,繼於各地造大興國寺,並重建般若尼寺。仁壽二年(602),帝及后同感得舍利,遂於州郡之大剎內營塔百餘所,塔下必置神尼之像。本寺背城臨水,殿塔廊廡,極盡莊嚴,隋末唐初,法祥、道宗曾於此弘法。
; (大興國寺) Ngôi chùa cổ ở huyện Đại lệ tỉnh Thiểm tây. Khi vua Văn đế nhà Tùy phát triển Phật giáo, vua ban lệnh cho 45 châu đều làm chùa và đều đặt tên là Đại hưng quốc tự, ngôi chùa này là một trong số đó và cũng là nơi Văn đế ra đời. Năm Đại thống thứ 7 (541) Văn đế sinh ra, nhờ Thần ni Trí tiên ở chùa Bát nhã ni tự nuôi nấng, dạy dỗ. Năm 13 tuổi vua mới trở về nhà, gặp lúc Thái vũ đế nhà Bắc chu bài trừ Phật giáo. Khi nhà Tùy nổi lên diệt Bắc chu, thì vua trở về qua đường Sơn đông và lên ngôi Thiên tử. Nhà vua bắt đầu chấn hưng Phật giáo, ra lệnh cho các châu xây dựng chùa Đại hưng quốc tự và làm lại chùa Bát nhã ni tự. Năm Nhân thọ thứ 2 (602), vua và hoàng hậu đều cảm được xá lợi, liền cho xây hơn một trăm tòa tháp thờ xá lợi Phật trong những ngôi chùa lớn tại các châu quận, ở dưới tháp thờ tượng của Thần ni. Phía sau chùa này là sông, điện tháp, phòng xá, hành lang v.v... tất cả đều rất trang nghiêm. Vào cuối đời Tùy đầu đời Đường, các ngài Pháp tường, Đạo tông từng hoằng pháp ở chùa này.
đại hưng thiện tự
887位於陝西西安市南二點五公里處。又稱興善寺。隋文帝於長安東南興建新城(大興城),於遵善坊左側建立本寺,初稱遵善寺。其寺領之宏大、堂塔之雄壯,堪稱隋唐以來長安第一。其時,四方學僧雲集,寺運殷盛。隋開皇年間,印度僧人闍那崛多、達摩笈多等先後來長安,住此傳授密宗。唐中宗神龍、景龍年間(705~709),一度稱為酆國寺。據傳號稱開元三大士之印度高僧善無畏、金剛智、不空三人亦曾駐此譯出密宗經典。本寺為當時長安三大譯經場之一。天寶十五年(756)五月,不空在此舉行息災咒法,並設一灌頂道場與戒壇,此後遂與青龍寺並稱為密教之中心道場。日僧圓仁、圓珍等人即於本寺受傳密教。會昌法難後一度荒廢,至明代再 袗陸_。清代時由於回教徒之掠奪,再度受毀。寺域內有唐建中元年(780)所立之不空三藏碑。〔歷代三寶紀卷十二、開元釋教錄卷七、貞元新定釋教目錄卷十五〕
; Chùa Đại Hưng Thiện ở trường An, xây dựng vào đời nhà Tùy; là một trong mười ngôi chùa lớn của thời đại nhà Đường—The great goodness-promoting monastery, one of the ten great T'ang monasteries at Ch'ang-An, commenced in the Sui dynasty.
; (大興善寺) Chùa ở cách thành phố Tây an khoảng 5 km thuộc tỉnh Thiểm tây. Cũng gọi Hưng thiện tự. Khi vua Văn đế nhà Tùy xây thành trì mới (thành Đại hưng) ở phía đông nam Trường an thì vua cho làm chùa này về bên trái phường Tuân thiện, mới đầu gọi là Tuân thiện tự. Khuôn viên chùa rộng rãi, nhà tháp tráng lệ, nguy nga, có thể nói chùa này đứng vào bậc nhất ở Trường an trong thời Tùy, Đường. Thời ấy, tăng sinh từ khắp nơi tụ họp ở chùa này để học hỏi, vận chùa khá thịnh. Khoảng năm Khai hoàng đời Tùy, các vị tăng người Ấn độ như Xà na quật đa, Đạt ma cấp đa v.v... lần lượt đến Trường an và trao truyền Mật giáo ở chùa này. Theo truyền thuyết, ba vị Đại sĩ thời Khai nguyên là các ngài Thiện vô úy, Kim cương trí và Bất không – những cao tăng Ấn độ – đã từng dịch kinh điển Mật tông ở chùa này. Chùa Đại hưng thiện là một trong những nơi dịch kinh nổi tiếng tại Trường an. Năm Thiên bảo 15 (756), vào tháng 5, ngài Bất không cử hành chú pháp Tiêu tai ở đây, đồng thời, thiết lập một đạo tràng Quán đính và đàn giới. Từ đó về sau, chùa này cùng với chùa Thanh long đều là đạo tràng chính của Mật giáo. Các sư Viên nhân, Viên trân v.v... người Nhật bản đã được trao truyền Mật giáo ở chùa này. Sau Pháp nạn Hội xương, đã một thời chùa bị hoang phế. Đến đời Minh, chùa được làm lại. Tới đời Thanh, khi tín đồ Hồi giáo vào cướp phá, chùa lại bị hủy hoại. Trong nội tự có tấm bia Bất không tam tạng được dựng vào niên hiệu Kiến trung năm đầu (780) đời Đường. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; Khai nguyên thích giáo lục Q.7; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15].
đại hưng tự
887請參閱 大燈國師語錄 請參閱 虎穴錄 位於韓國全羅南道海南郡。號頭輪山。韓國三十一本山之一。原名大芚寺。創建於百濟久爾辛王七年(426),八十餘年後,善行頭陀重建之。李朝宣祖三十年(1596),一度燬於兵火,六年後重修,此後為西山派之宗門重鎮。寺內珍藏西山大師清虛休靜之衣鉢。蓋休靜繼承碧松智嚴、芙蓉靈觀等之法燈,主張「教禪兼修」,乃漸統一高麗朝以來教禪兩宗對立之勢,門風甚盛,弟子千餘人,上堂高足七十餘人。休靜示寂之後,門人松雲惟政、鞭羊彥機、逍遙太能、靜觀一禪等各開一派,另又衍出青梅派、中觀派、虛閑派等,門庭盛極一時,堪稱為李朝佛教劃時代之時期,直至今日,韓國佛教僧徒之中大部皆屬西山派。於本寺之西山派,歷代亦宗師輩出,大弘宗風。今有大雄殿、十王殿、羅漢殿、千佛殿、枕溪樓、駕虛樓、大香樓、洗塵堂、白雪堂、禪堂、念佛堂、寺務司局、接賓寮等,山內並有清神、挽日等十二庵,山外有道岬、美黃等三十二末寺。〔朝鮮寺剎史料卷上、朝鮮佛教通史、李朝佛教〕
Đại Hưu Chánh Niệm
(大休正念, Daikyū Shōnen, 1215-1289): vị tăng của Phái Dương Kì và Phái Tùng Nguyên thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, vị tổ sư của Phái Phật Nguyên (佛源派), hiệu là Đại Hưu (大休), xuất thân vùng Vĩnh Gia (永嘉), Ôn Châu (溫州, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay). Ban đầu ông theo học với Đông Cốc Diệu Quang (東谷妙光) ở Linh Ẩn Tự (靈隱寺), sau đó thì kế thừa dòng pháp của Thạch Khê Tâm Nguyệt (石溪心月). Vào năm 1269, ông qua Nhật, chấp nhận cho Tướng Quân Bắc Điều Thời Tông (北條時宗, Hōjō Tokimune) quy y, rồi khai sáng Tịnh Trí Tự (淨智寺, Jōchi-ji) ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Sau đó ông đã từng sống qua các chùa như Thiền Hưng Tự (禪興寺, Zenkō-ji), Thọ Phước Tự (壽福寺, Jufuku-ji) cũng như Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji). Đến năm 1288, ông đến ở tại Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) và vào tháng 11 năm sau thì thị tịch tại đây. Ông được ban thụy hiệu là Phật Nguyên Thiền Sư (佛源禪師). Di thư của ông để lại có Đại Hưu Hòa Thượng Ngữ Lục (大休和尚語錄) 6 quyển.
đại hưu chính niệm
773(1215~1289)南宋臨濟宗僧。溫州(浙江永嘉)人。石溪心月之法嗣。咸淳五年(1269),隨蘭溪道隆至日本。應北條時宗之請,歷住禪興、建長、壽福、圓覺等剎。日本正應二年示寂,享年七十五。諡號「佛源禪師」。其流派稱大休派(又作佛源門徒),為日本禪宗二十四流之一。遺著有大休和尚語錄六卷。〔元亨釋書卷八〕
; DaikyŪ shōnen (J)Tên một vị sư.
; (大休正念) Vị tăng tông Lâm tế đời Nam Tống. Người Ôn châu (Vĩnh gia Triết giang), đệ tử nối pháp của ngài Thạch khê Tâm nguyệt. Năm Hàm thuần thứ 5, sư theo ngài Lan khê Đạo long đến Nhật bản. Nhận lời thỉnh của Thời tông Bắc điều, sư từng trụ trì các chùa Thiền hưng, Kiến tường, Thọ phúc, Viên giác v.v... Năm Chính ứng (Nhật bản) thứ 2 sư tịch, thọ 75 tuổi. Thụy hiệu Phật nguyên thiền sư. Dòng Thiền của sư gọi là phái Đại hưu, cũng gọi Phật nguyên môn đồ, một trong 24 dòng Thiền tại Nhật bản. Tác phẩm có: Đại hưu hòa thượng ngữ lục 6 quyển. [X. Nguyên hanh thích thư Q.8].
đại hưu yết để
773禪林用語。指大休大歇之境地。謂心意識之作用,拂除一切思慮分別,脫卻迷妄,住於大安樂之境界。修心訣(大四八‧一○○七下):「若不以般若中功著力,焉能對治無明,得到大休大歇之地?」
; (大休歇底) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho cảnh giới chấm dứt mọi việc, hoàn toàn nghỉ ngơi. Nghĩa là các tác dụng của tâm, ý, thức đã được gột sạch tất cả mọi tư duy phân biệt, trừ hết mê vọng và trụ nơi cảnh giới đại an lạc. Tu tâm quyết (Đại 48, 1007 hạ) nói: Nếu không gắng sức dụng công tu tập Bát nhã, thì làm sao đối trị được vô minh để đạt đến cảnh giới đại hưu đại yết?
đại hương
1546即代替他人燒香或上香。又代為燒香或上香之人亦稱為代香。
; (代香) Thắp hương hay dâng hương cho người khác. Lại người thắp hương hoặc dâng hương thay cũng gọi là Đại hương.
đại hương tượng
xem ma-ha-na-già.
đại hạ
834請參閱 寶林傳 請參閱 續貞元釋教錄 (Bactria)位於中亞阿姆河流域之古國名。一度稱覩貨羅(梵 Tukhāra)或吐火羅。即今阿富汗、烏茲別克、塔吉克間。古代屬波斯帝國領域,亞歷山大以後,即成為希臘之殖民地。亞歷山大死後,受塞流卡斯王族支配。紀元前二五○年,狄奧多塔斯(Diodotos)獨立,建立大夏王國。約一世紀後,因斯奇泰族入侵而亡國。其後,受大月氏族支配。(參閱「覩貨羅國」6293)
; (大夏) (Bactria) Tên một nước xưa nằm ở lưu vực sông A mẫu (Oxus) tại Trung á. Có một thời được gọi là Đổ hóa la hoặc Thổ hỏa la (Phạm: Tukhàra). Tức ngày nay ở khoảng giữa các nước A phú hãn (Afghanistan), Ô tự biệt khắc (Uzbekistan), Tháp cát khắc (Tadzohikistan). Đời xưa nước này thuộc lãnh thổ của đế quốc Ba tư, từ sau thời A lịch sơn đại (Alexander the Great) thì trở thành thực dân địa của Hi lạp. Năm 250 trước Tây lịch kỉ nguyên, Địch áo đa tháp tư (Diodotos) xưng vương và lập nước Đại hạ. Khoảng một thế kỉ sau, chủng tộc Tư kì thái xâm chiếm, rồi sau lại bị Đại nguyệt thị thống trị. (xt. Đỗ Hóa La Quốc).
đại hạn
Drought.
đại hạnh
Great deed—Great fortune.
; (大行) Hạnh nghiệp rộng lớn của Bồ tát. Bồ tát phát thệ nguyện lớn, tu các hạnh ba la mật, trải qua ba a tăng kì trăm kiếp để cầu quả Phật. Tông Thiên thai cho tu bốn loại tam muội trong Ma ha chỉ quán là đại hạnh. Còn Chân tông Nhật bản thì chủ trương xưng niệm danh hiệu Na mô A di đà Phật trong quyển Hành của Giáo hành tín chứng là đại hạnh. Bởi vì, danh hiệu này bao nhiếp hết thảy công đức thiện pháp, là hạnh nghiệp vãng sinh của chúng sinh, nên gọi là Đại hạnh. (xt. Giáo Hành Tín Chứng).
đại hạnh phúc
Felicity.
đại hạnh phổ hiền bồ tát
Samantabha (S).
đại hải
Biển lớn—The great ocean—Mahasamudra-sagara.
đại hải bát bất tư nghì
Tám pháp bất tư nghì của biển cả—The eight marvellous characteristics of the ocean: 1) Sâu lần lần (càng ra xa càng sâu): Its gradually increasing depth. 2) Chẳng thể tới đáy: Its unfathomableness. 3) Cùng một vị mặn: Its universal saltness. 4) Thủy triều chẳng bao giờ quá hạn: Its punctual tides. 5) Có nhiều châu báu: Its stores of precious things. 6) Có chúng sanh thân lớn trú ngụ: Its enormous creatures. 7) Chẳng dung chứa xác chết: Its objection to corpses. 8) Nhận khắp muôn dòng mưa lũ đổ vào mà vẫn không tăng giảm: Its unvarying level despite all that pours into it.
đại hải bát bất tư nghị
835指大海所具有八種不可思議之性質;北本大般涅槃經卷三十二即以此八種不可思議比喻涅槃之特性,即:(一)漸漸轉深,謂如來所說涅槃之法,隨順眾生根性之利鈍大小,無不令其各各獲益,次第修證,而至於究竟之地;如經中所說優婆塞戒、沙彌戒、比丘戒、菩薩戒、須陀洹果乃至菩薩果、佛果之類,猶如大海之流,從淺至深。(二)深難得底,謂如來所說涅槃之法,理智圓融,妙不決定,一切二乘、菩薩皆莫測其所至;如經中或說我、無我,或說常、無常,或說淨、不淨,或說空、不空,乃至或說五陰即是佛性之類,於如是等法,說無窮盡,猶如大海之深,難得其底。(三)同一鹹味,謂如來所說涅槃之法,雖有四教之異,莫不為令眾生同得實相之理;如經中所說一切眾生同有佛性,同一解脫,同一因果,乃至一切同得常樂我淨之類,猶如大海雖納百川,而同一鹹味。(四)潮不過限,謂如來說涅槃之時,制諸禁戒,令諸弟子如法受持,不得踰越;如經中所說制諸比丘不得受畜八不淨物之類,猶如海潮,朝夕往來,不過其限。(五)種種寶藏,謂如來所說涅槃之法,為世珍寶,可尊可貴,凡眾生窘於法財者,令其修習,得免逼迫之苦,而成就出世饒益之樂;如經中所說之四念處、四正勤乃至如來功德智慧之類,無所不具,猶如大海,種種諸寶皆悉含藏。(六)大身眾生居住,謂如來所說涅槃之法,甚深無量,一切佛及菩薩莫不依此而住;如經中所說,佛菩薩有大智慧、大神通乃至大慈悲之類,無非聖法之所含攝,猶如大海,一切鯤鯨大身之類,咸依之而居。(七)不宿死屍,謂如來所說涅槃之法,專為扶持戒律而談常住,不令眾生起斷滅之見,於末法中,生清淨正信之心,遠離一切邪惡之人;如經中所說,闡提誹謗方等,非法說法,法說非法,受畜八種不淨之物,佛物僧物隨意而用,或於比丘、比丘尼所作非法事,皆為死屍,涅槃經遠離如是等事,猶如大海之不宿死屍。(八)萬流大雨不增不減,謂如來所說涅槃之法,廣談佛性,盛演圓常,平等清淨,不生不滅,眾生諸佛同一覺源,曾無有異;猶如萬流大雨之歸大海,而海水亦不增不減。
; (大海八不思議) Tám tính chất không thể nghĩ bàn của biển lớn. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 32 đem tám tính chất không thể nghĩ bàn này ví dụ với tám đặc tính của Niết bàn là: 1. Dần dần chuyển sâu: Pháp Niết bàn do đức Như lai nói: thuận theo căn tính lợi độn, đại tiểu của chúng sinh mà làm cho đều được lợi ích, lần lượt tu chứng đến chỗ cứu cánh. Như từ Ưu bà tắc, Sa di, Tỉ khưu, Bồ tát, quả Tu đà hoàn cho đến quả Bồ tát và quả Phật, cũng như biển lớn từ cạn đến sâu. 2. Sâu thẳm khó dò đến đáy: Pháp Niết bàn của Như lai, lí trí viên dung, mầu nhiệm không định, như kinh nói ngã, vô ngã, thường, vô thường, tịnh, bất tịnh, không, bất không, cho đến nói năm uẩn tức là tính Phật. Tất cả những pháp ấy không cùng không tận, hàng Nhị thừa và Bồ tát đều không thể do lường được, hệt như biển lớn sâu thẳm khó có thể dò đến tận đáy. 3. Cùng một vị mặn: Pháp Niết bàn của Như lai, tuy có bốn giáo khác nhau, nhưng đều khiến chúng sinh chứng được lí thực tướng. Như kinh nói tất cả chúng sinh đều có tính Phật, cùng một giải thoát, cùng một nhân quả, cho đến hết thảy đều được thường lạc ngã tịnh, giống như biển lớn, tuy dung chứa nước trăm sông nhưng cùng một vị mặn. 4. Mực nước không vượt quá hạn: Ở thời Niết bàn, đức Như lai chế ra các giới cấm khiến đệ tử nhận giữ đúng pháp, không được vượt qua. Như kinh nói cấm các tỉ khưu không được cất giữ tám vật bất tịnh, giống như nước triều ngoài biển, sớm chiều lên xuống, không quá giới hạn. 5. Chứa các vật báu: Pháp Niết bàn là của báu ở thế gian, rất đáng tôn quí, những chúng sinh nghèo cùng về pháp tài, khiến họ tu tập để thoát khỏi sự khổ bức bách mà thành tựu nhiều điều lợi ích yên vui trong pháp xuất thế. Như kinh nói đầy đủ các pháp bốn niệm xứ, bốn chính cần cho đến công đức trí tuệ của Như lai, giống như biển lớn hàm chứa tất cả vật quí báu. 6. Nơi ở của chúng sinh có thân to lớn: Pháp Niết bàn của Như lai rất sâu vô lượng, hết thảy chư Phật và Bồ tát đều nương nơi Niết bàn mà an trú. Như kinh nói đại trí tuệ, đại thần thông cho đến đại từ bi của chư Phật, Bồ tát và tất cả Thánh pháp đều hàm chứa trong Niết bàn, giống như biển lớn là chỗ ở của tất cả loài cá có thân to lớn như cá voi, cá côn v.v... 7. Không chứa xác chết: Pháp Niết bàn của Như lai chỉ vì phù trì giới luật mà nói thường trụ, khiến chúng sinh không sinh khởi tri kiến đoạn diệt, ở trong thời mạt pháp, khiến họ sinh tâm chính tín thanh tịnh, tránh xa tất cả những người tà ác. Như kinh nói hạng Nhất xiển đề dèm chê kinh Phương đẳng, phi pháp nói là chính pháp, chính pháp cho là phi pháp, cất giữ tám vật bất tịnh, tùy ý sử dụng những vật của Phật và tăng, hoặc làm những việc trái pháp đối với tỉ khưu và tỉ khưu ni, họ đều giống như những cái xác chết, pháp Niết bàn không dung những việc như thế, cũng như biển cả không dung chứa thây người chết. 8. Những trận mưa lớn không thêm không bớt: Pháp Niết bàn nói rõ về tính Phật, viên mãn thường trụ bình đẳng thanh tịnh, chẳng sinh chẳng diệt, chúng sinh và chư Phật cùng một nguồn giác, không có sai khác, cũng như trăm nghìn dòng sông, muôn trận mưa lớn đổ dồn về biển cả, nhưng nước biển không hề thêm bớt.
đại hải chúng
836指眾多之沙門。又作清淨大海眾、海眾。叢林集一團之眾僧為海;蓋以一會之僧眾猶如大海,為諸川所流歸,故稱大海眾。釋氏要覽卷下(大五四‧二九八中):「眾僧如彼大海,流河決水,以入乎海,便滅本名,但有大海之名。」
; The great ocean congregation; as all the waters flowing into the sea become salty, so all ranks flowing into the sangha become of one flavour and lose old differentiations.
; The great congregation, as all waters flowing into the sea become salty, as all ranks flowing into the sangha become of one flavour and lose old differentiations.
; (大海衆) Chỉ một số nhiều các vị sa môn. Cũng gọi Thanh tịnh đại hải chúng, Hải chúng. Chúng tăng tụ tập trong tùng lâm ví dụ như biển lớn, giống như các con sông chảy về biển. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 298 trung), nói: Chúng tăng như biển cả, các dòng sông đổ về, liền mất hết tên sông, chỉ còn là biển cả.
đại hải thập tướng
835指大海所具有之十種德相;舊華嚴經卷二十七即以此十種德相比喻十地菩薩修行而得入於佛之智海,即:(一)次第漸深,比喻歡喜地菩薩修行,入佛智海,漸次而進,能成就大願。(二)不受死屍,比喻離垢地菩薩修行,入佛智海,獲功德清淨,離諸垢染。(三)餘水入失本名,比喻發光地菩薩修行,入佛智海,皆獲平等功德,捨離一切假名。(四)普同一味,比喻焰慧地菩薩修行,入佛智海,獲無差別功德,與佛如來同一體相。(五)無量珍寶,比喻難勝地菩薩修行,入佛智海,獲廣大無量方便,利益眾生。(六)無能至底,比喻現前地菩薩修行,入佛智海,獲甚深功德,利益眾生。(七)廣大無量,比喻遠行地菩薩修行,入佛智海,獲無量功德,以廣大覺慧,觀察諸法,無有窮盡。(八)大身所居,大身即鯤鯨之類,比喻不動地菩薩,修無功用行,入佛智海,獲住一切功德,以無量身,現廣大莊嚴。(九)潮不過限,比喻善慧地菩薩修行,入佛智海,獲護世功德,利於世間,隨機授法。(十)普受大雨,比喻法雲地菩薩修行,入佛智海,獲護世功德,受如來大法雲雨,而無厭足。 又舊華嚴經卷四十六記載,海雲比丘觀大海十相,除觀上述(一)(五)(六)(七)(八)等五相外,並觀「水量無限、水色有種種不可思議、一切生物住其中、為大雲所覆、無增減」等五相,合為十相。此外,北本涅槃經卷三十二舉出大海有八不思議,即除去上述十相中之(三)與(七),所餘之八種。海八德經亦稱巨海有八美德,以喻僧伽之德,稱為大海八德。中阿含卷八阿修羅經亦舉出大海之八未曾有法,其內容亦與上述所舉大致相同。〔南本涅槃經卷三十、新華嚴經卷三十九、華嚴經疏卷四十四、大般涅槃集解卷六十二〕
; Theo Kinh Hoa Nghiêm, có mười tướng của biển cả—According to the Hua-Yen Sutra, there are the ten aspects of the ocean: 1) Từ một đến tám giống như trong Đại Hải Bát Bất Tư Nghì—From one to eight are the same as in the eight marvellous characteristics of the ocean—See Đại Hải Bát Bất Tư Nghì. 9) Các thứ nước khác mất ngay bản chất riêng một khi đã chảy vào biển: All other waters lose their names in it. 10) Rộng lớn vô lượng: Its vastness of expanse
; (大海十相) Mười đặc tính của biển cả. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 27 dùng mười đặc tính này để ví dụ mười đức tướng tu hành của hàng Bồ tát Thập địa được vào biển trí của Phật là: 1. Lần lượt vào sâu dần dần: Ví dụ sự tu hành của Bồ tát Hoan hỉ địa, vào biển trí của Phật, lần lượt tiến dần, có thể thành tựu đại nguyện. 2. Không tiếp nhận thây người chết: Ví dụ sự tu hành của Bồ tát Li cấu địa, vào biển trí của Phật, được công đức trong sạch, lìa các cấu nhiễm. 3. Các dòng sông chảy về mất hết tên gốc: Ví dụ sự tu hành của Bồ tát Phát quang địa, vào biển trí của Phật, đều được công đức bình đẳng, lìa bỏ tất cả tên giả. 4. Tất cả đều cùng một vị mặn: Ví dụ sự tu hành của Bồ tát Diệm tuệ địa, vào biển trí của Phật, được công đức không sai khác, cùng một thể tướng Như lai. 5. Của báu vô lượng: Ví dụ sự tu hành của Bồ tát Nan thắng địa vào biển trí của Phật, được vô lượng phương tiện rộng lớn, làm lợi ích chúng sinh. 6. Không thể đến đáy: Ví dụ sự tu hành của Bồ tát Hiện tiền địa, vào biển trí của Phật, được công đức rất sâu, làm lợi ích chúng sinh. 7. Rộng lớn vô lượng: Ví dụ sự tu hành của Bồ tát Viễn hành địa, vào biển trí của Phật, được công đức vô lượng, dùng tuệ giác rộng lớn không cùng tận quán xét các pháp. 8. Chỗ ở của các loài có thân to lớn: Thân to lớn là loài cá voi, cá côn, ví dụ Bồ tát Bất động địa, tu hạnh vô công dụng vào biển trí Phật, được tất cả công đức, dùng thân vô lượng hiện ra cảnh trang nghiêm rộng lớn. 9. Nước triều không quá giới hạn: Ví dụ Bồ tát Thiện tuệ địa tu hành vào biển trí Phật, được công đức lợi ích cho thế gian, tùy căn cơ mà trao pháp. 10. Tiếp nhận tất cả trận mưa lớn: Ví dụ Bồ tát Pháp vân địa tu hành vào biển trí Phật, được công đức lợi ích cõi đời, tiếp nhận đại pháp vũ của Như lai mà không cho là đủ. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 46 thì nói, trong mười đặc tính kể trên, tỉ khưu Hải vân quán năm đặc tính: lượng nước biển không có hạn, nước có nhiều mầu sắc không thể nghĩ bàn, vô số sinh vật sống ở trong, được những áng mây lớn che phủ, không thêm không bớt để thay cho 1, 5, 6, 7, 8 ở trên. Ngoài ra, kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 32 nêu tám đặc tính bất khả tư nghị của biển cả, thì trừ ba và bảy trong mười đặc tính nói trên, còn lại là tám đặc tính. Kinh Hải bát đức cũng nói biển lớn có tám đức để ví dụ đức của chúng tăng. Còn kinh A tu la trong Trung a hàm quyển 8 cũng nêu tám pháp chưa từng có của biển lớn mà nội dung đại khái cũng tương tự những điều trình bày ở trên. [X. kinh Niết bàn(bản Nam) Q.30; kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) Q.39; Hoa nghiêm kinh sớ Q.44; Đại bát niết bàn tập giải Q.62].
đại hải ấn
Hải Ấn Tam Muội—Lấy mặt nước biển cả in hiện muôn hình vạn trạng để so với Tam muội của Bồ Tát bao hàm hết thảy vạn pháp—The ocean symbol, as the face of the sea reflects all forms, so the samadhi of a bodhisattva reflects to him all truths.
đại hắc thiên
870大黑,梵名 Mahākāla,音譯摩訶迦羅、莫訶哥羅、嘛哈噶拉。又作大黑神、大黑天神、摩訶迦羅天。乃佛教之守護神,具有戰鬥神、財福神(廚房神)、冥府神等幾種性格。形像頗多。於密教現圖胎藏界曼荼羅外金剛部中,列於左方第三位,呈現黑色極忿怒相,火髮豎立,三面六臂,正面有三目,左右二面各二目。以髑髏為瓔珞,以蛇為臂釧,趺坐於圓座上。其種子為棙(yaṃ),三昧耶形為劍。大黑天神法載其真言為:唵蜜止蜜止(micch micch,降伏)舍婆隸(śvare,自在)多羅羯帝(taragate,救度)娑婆訶。印度教視之為毘瑟奴(梵 Viṣṇu)之化身,大日經疏卷十以此天為毘盧遮那佛之化身,即降伏「荼吉尼」之忿怒神;良賁之仁王護國般若波羅蜜多經疏卷下一則以之為戰神,乃摩醯首羅(大自在天)之化身,夜遊林間,食人血肉。凡此,蓋皆基於忿怒相而立說。此神由八思巴送入元朝宮廷,成為世祖以下歷代崇奉之神,至明朝後,又輾轉入滿州。 此外,南海寄歸內法傳卷一受齋軌則條則以此神為食廚之神。我國江南一帶,自古以來民間廚房即多祀此神。日本亦沿此風,多於諸寺庫廚安置二臂之大黑天像。〔大集經卷五十五分布閻浮提品、理趣釋卷下、玄法寺儀軌卷下、青龍寺儀軌卷下、慧琳音義卷十、諸說不同記卷十〕(參閱「大自在天」783)
; Mahākāla (S), nag po chen po or gon po (T)Ma ha Ca la thiên, Đại Huyền Kim Cang.
; Mahakala (skt)—The great black deva. (A) Mật Giáo cho rằng đây là vị Trời một mặt tám tay hay ba mặt sáu tay. Vị trời nầy được tôn sùng như Thần chiến tranh, là đấng ban cho sức mạnh vũ bảo của chiến tranh. Ngài cũng được coi như là Đức Đại Nhựt Như Lai muốn hàng phục ma quân mà tái sanh—The esoteric cult describes the deva as the masculine form of Kali with one face and eight arms, or three faces and six arms. He is worshipped as giving warlike power, and fierceness. He is said also to be an incarnation of Vairocana for the purpose of destroying the demons. (B) Hiển Giáo thì cho rằng vị nầy là Thần Thí Phúc—The Exoteric cult interprets him as a beneficent deva, a Pluto , a god of wealth, or a kindly happy deva. ** Đại Hắc Thiên có sáu hình thức—Six forms of Mahakala: 1) Tỳ Kheo Đại Hắc Thiên: Vị Đệ tử Phật có mặt đen, được coi như là tiền thân của Phật trong kiếp một vị đại Thiên—A black-face disciple of the Buddha, said to be the Buddha as Mahadeva in a previous incarnation, now guardian of the refectory. 2) Ma Ha Ca La Đại Hắc Nữ: Kali (skt)—Vợ của Siva—The wife of Siva. 3) Vương Tử Ca La Đại Hắc: Con trai của Thần Siva—The son of Siva. 4) Chân Đà Đại Hắc: Cinta-mani (skt)—Vị Hắc Thiên với viên ngọc phép, một biểu tượng của tài thí—The one with the talismanic pearl, symbol of bestowing fortune. 5) Dạ Xoa Đại Hắc: Vị Hắc Thiên chuyên hàng phục ma quân—Subduer of demons. 6) Ma Ca La Đại Hắc: Mahakala (skt)—Vị Hắc Thiên luôn mang trên lưng một cái túi và cầm bên tay phải một cây búa—Who carries a bag on his back and holds a hammer on his right hand.
; (大黑天) Đại hắc. Phạm: Mahàkàla, dịch âm: Ma ha ca la, Mạc ha ca la, Mạ hấp cát lạp. Cũng gọi Đại hắc thần, Đại hắc thiên thần, Ma ha ca la thiên. Là vị thần thủ hộ của Phật giáo, có tính cách như: Thần chiến đấu, thần tài phúc (thần nhà bếp), thần âm phủ v.v... Thần này có rất nhiều hình tượng, được đặt ở vị trí thứ ba phía trái trong Kim cương bộ ngoài trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, da đen kịt và tướng rất phẫn nộ, tóc dựng tua tủa như những ngọn lửa; ba mặt sáu tay, mặt chính có ba mắt, hai mặt ở hai bên mỗi mặt hai mắt; đeo chuỗi đầu lâu, quấn rắn làm vòng xuyến, ngồi xếp bằng trên tòa ngồi hình tròn. Chủng tử là (yaô), hình tam muội da là thanh kiếm. Chân ngôn được ghi trong Đại hắc thiên thần pháp là: Án mật chỉ mật chỉ (micch micch, hàng phục) xá bà lệ (Zvare, tự tại) đa la yết đế (taragate, cứu độ) sa bà ha. Ấn độ giáo coi vị thần này là hóa thân của Tì sắt nô (Phạm:Viwịu); Đại nhật kinh sớ quyển 10 thì cho là hóa thân của Phật Tì lô giá na, tức là thần phẫn nộ hàng phục Đồ cát ni; Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật kinh sớ quyển hạ phần 1 của Lương bí thì cho là thần chiến đấu, hóa thân của Ma hê thủ la (trời Đại tự tại), ban đêm đi trong rừng, ăn máu thịt của người. Những thuyết trên đây đều căn cứ vào tướng dáng phẫn nộ của vị thần này mà đặt ra. Ngoài ra, điều Thụ trai quĩ tắc trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 thì cho vị thần này là thần nhà bếp. Dân chúng vùng Giang nam của Trung quốc phần đông cũng thờ thần này làm thần nhà bếp. Nhiều chùa tại Nhật bản cũng thờ tượng Đại hắc thiên hai tay ở trong nhà bếp. [X. kinh Đại tập Q.55 phẩm Phân bố diêm phù đề; Lí thú thích Q.hạ; Huyền pháp tự nghi quĩ Q.hạ; Thanh long tự nghi quĩ Q.hạ; Tuệ lâm âm nghĩa Q.10; Chư thuyết bất đồng kí Q.10]. (xt. Đại Tự Tại Thiên).
đại hỉ
Great rejoicing.
đại họa
Great calamity, catastrophe.
; Crusher.
đại học
Ta-hsueh (C), Great Teaching Một phần trong học thuyết của Khổng Tử.
; Daigaku (J).
; University.
đại học giả
Mahāpaṇḍita (S), pan di ta chen po (T).
; pan di ta chen po (T).
đại hồng chung
Big bell.
; The great bell.
đại hồng liên
Hoa Sen Đỏ—Great red lotus—Tên của một loại địa ngục lạnh đến nổi da thịt nứt toác ra như những hoa sen đỏ—The cold hell where the skin is covered with chaps like lotuses.
đại hồng liên ngục
Xem Ma ha Ba đầu ma địa ngục.
đại hồng liên địa ngục
806大紅蓮,梵名 Mahā padma,音譯摩訶鉢特摩、摩訶般特摩。八寒地獄之一。墮此地獄,則身體皮肉因嚴寒逼切而拆裂,猶如赤蓮花,故有此稱。〔俱舍論光記卷十一〕(參閱「八寒地獄」297)
; (大紅蓮地獄) Đại hồng liên. Phạm: Mahà padma. Dịch âm: Ma ha bát đặc ma, Ma ha ban đặc ma. Một trong tám địa ngục lạnh. Những người bị rơi vào địa ngục này thì vì rét buốt như cắt, nên da thịt trên thân thể bị nứt nẻ, giống như hoa sen đỏ, nên gọi là địa ngục Hồng liên hoa. [X. Câu xá luận quang kí Q.11]. (xt. Bát Hàn Địa Ngục).
đại hồng phúc
Great blessing, divine blessing.
; Great happiness.
đại hồng thủy
Deluge, flood.
Đại Hộ Minh kinh 大護明經
[ja] ダイゴミョウキョウ Daigomyō kyō ||| The Dahuming jing 1 fasc. (T 1048.20.44-46); see Dahu ming da tuoluoni jing 大護明大陀羅尼經. => (c: Dahuming jing), 1 quyển. Xem Đại Hộ Minh đại đà-la-ni kinh ( 大護明大陀羅尼經 c: Dahu ming da tuoluoni jing).
Đại Hộ Minh đại đà-la-ni kinh 大護明大陀羅尼經
[ja] ダイゴミョウダイダラニキョウ Daigo myō dai daranikyō ||| The Dahu ming da tuoluoni jing; (Mahāmantrānusāriṇī). Dhāraṇī of the Great Mantra Protector; 1 fasc. (T 1048.20.44-46), abbr. 大護明經, trans. Fatian 法天. Evocation of the disease-dispelling powers of Mahāmantrānusāriṇī. Corresponds in part to the fifth text of the Pañcarākṣa corpus. BGBT4/92. => (c: Dahu ming da tuoluoni jing; s: Mahāmantrānusāriṇī; e: Dhāraṇī of the Great Mantra Protector); 1quyển. Viết tắt là Đại Hộ Minh kinh. Pháp Thiên (s: Fatian 法天) dịch. Trình bày năng lực tiêu trừ tai chướng của Đại Hộ Minh (s: Mahāmantrānusāriṇī). Tương đương với bài thứ năm trong tập sao lục Ngũ vị (s: Pañcarākṣa).
đại hộ ấn
The great protective sign. ** Namah sarva-Tathagatebhyah; Sarvatha Ham Kham Raksasi Mahabali; Sarva-tathagata-punyo nirjati; Hum Hum Trata Trata apratihati svaha.
đại hội
A general assembly, general meeting; congress.
; General assembly.
đại hội chúng
General assembly of the saints.
đại hội kinh
Mahāsamaya sutta (P)Tên một bộ kinh.
đại hội kết tập
Xem kết tập.
đại hữu
790(1334~1407)明代天台宗僧。姑蘇吳縣(江蘇)人。字啟宗。號蘧庵。十二歲出家,通內外經典,從古庭善習華嚴,復從九皐聲學摩訶止觀,後於弘教寺天泉澤會中任懺首之職。一日閱元代蒙潤之天台四教儀集註而得省,乃漸通達天台綱格。未久,住持甫里白蓮寺,尊蒙潤為遠祖。復被請為嘉定圓通寺之開山,為講寺之首。後歸西山,築室號真如,專修念佛三昧。洪武二十六年(1393),拜僧祿司右善世,二十九年陞左善世,考試天下僧徒,因功賜袈裟、衣衾、鞋履。永樂三年(1405)奉詔入京纂修佛典,總括般若要義。五年入寂,享年七十四。著有淨土指歸集二卷、阿彌陀經略解、金剛經略解,得法弟子有慧澈、德完。〔續佛祖統紀卷二、釋氏稽古略續集卷二、金陵梵剎志卷二、吳都法乘卷六〕
; 781梵語 sāmānya-padārtha。又作總相諦、總諦、大有性、同句義、有句義。音譯作三摩若。為勝論學派所立,乃六句義、十句義之第四。謂諸法均具有其共同之存在性。相當於現代語彙中之「共相」一詞。勝宗十句義論(大五四‧一二六三下):「何者為有性?謂與一切實、德、業句義和合,一切根所取,於實、德、業有詮智因,是謂有性。」即諸法之實體(實)、相狀(德)、作用(業),其存在性得以成立之原因;此一存在性,乃非所作,而為常住,無有動作,不可細分。此係勝論學派所說,蓋勝論學派所持者,乃一「實在論」之共相觀點。然以佛教立場觀之,則不承認諸法具有實體性之共相,而僅有「共名」而已。以「牛」之概念比喻之,勝論學派主張所有的牛,自其實體、相狀、作用而言,均具有共同的存在特質,而呈現於各個不同之個體中;佛教則謂,牛之所以稱為牛,並非它們保有共同之本質,而僅因牛不同於其他非牛之動物而已,故知「牛」僅有共名,而無共相。蓋佛教之基本立場,反對諸法具有常恆不變之本質,故「共相」一詞自然不具實際上之意義與內涵。 又佛教經論中,每以勝論學派六句義中論及「大有」句義者,稱為「大有經」,如仁王般若波羅蜜經卷上(大八‧八二六下):「一切眾生煩惱不出三界藏,一切眾生果報二十二根不出三界,諸佛應化法身亦不出三界,三界外無眾生。(中略)三界外別有一眾生界藏者,外道大有經中說,非七佛之所說。」故知「大有經」並非一經之名,而係指六句義中之「大有」句義。勝論學派既謂諸法具有實質之共相,故被佛教斥為外道。〔外道小乘涅槃論、仁王經疏卷中一(良賁)、印度六派哲學(李世傑)、印度哲學綱要(李志夫)〕(參閱「十句義」409、「六句義」1254)
; Samanya-padartha (S)Các pháp đều có tánh tồn tại chung của nó.
; (大有) Phạm: sāmānya-padārtha. Cũng gọi Tổng tướng đế, Tổng đế, Đại hữu tính, Đồng cú nghĩa, Hữu cú nghĩa. Dịch âm: Tam ma nhã. Nghĩa thứ 4 trong Lục cú nghĩa, Thập cú nghĩa do học phái Thắng luận lập ra. Tức là các pháp đều có tính tồn tại chung, tương đương với danh từ Cộng tướng trong ngữ vựng hiện đại. Luận Thắng tông thập cú nghĩa (Đại 54, 1263 hạ), nói: Thế nào là có tính? Nghĩa là tất cả cú nghĩa Thực, Đức, Nghiệp hòa hợp, tất cả căn sở thủ, đối với Thực, Đức, Nghiệp đều có cái nhân trí tuệ để hiểu rõ, đó là có tính. Tính tồn tại của các pháp được thành lập là vì chúng có thực thể (Thực), tướng trạng (Đức) và tác dụng (Nghiệp). Tính tồn tại này chẳng phải do được tạo ra mà là tự nhiên thường trụ, không có động tác, không thể phân chia. Đây là chủ trương của học phái Thắng luận, tức là Thực tại luận theo quan điểm tướng chung. Nhưng, đứng trên lập trường của Phật giáo mà nhận xét, thì Phật giáo không thừa nhận thực thể tính của các pháp có tướng chung, mà chỉ có tên chung. Chẳng hạn như khái niệm trâu, theo chủ trương của học phái Thắng luận, đứng về phương diện thực thể, tướng trạng, tác dụng mà nói, thì những con trâu đều có đặc chất tồn tại chung, chỉ khác nhau về mặt cá thể mà thôi. Nhưng Phật giáo thì cho rằng, trâu được gọi là trâu không phải vì trâu có bản chất chung, mà chỉ vì trâu khác với các động vật chẳng phải là trâu nên được gọi là trâu, như vậy, trâu chỉ có tên chung chứ không có tướng (bản chất) chung. Bởi vì, lập trường cơ bản của Phật giáo là không thừa nhận các pháp có bản chất thường hằng bất biến, cho nên danh từ tướng chung (cộng tướng = bản chất chung), trên thực tế, không có ý nghĩa nội dung. Lại nữa, trong các kinh luận Phật giáo, mỗi khi bàn đến cú nghĩa Đại hữu trong sáu cú nghĩa của học phái Thắng luận, thì gọi là Đại hữu kinh. Như kinh Nhân vương bát nhã ba la mật quyển thượng (Đại 8, 826 hạ), nói: Tất cả chúng sinh phiền não không ra khỏi ba cõi, pháp thân ứng hóa của chư Phật cũng không ra khỏi ba cõi, ngoài ba cõi không có chúng sinh. (...) Ngoài ba cõi còn có một cõi chúng sinh nữa là do ngoại đạo nói trong kinh Đại hữu chứ không phải thuyết của bảy đức Phật. Căn cứ vào đó mà biết Đại hữu kinh không phải là tên của một bộ kinh nhưng là cú nghĩa Đại hữu trong bảy cú nghĩa. Học phái Thắng luận chủ trương thực chất của các pháp có tướng chung, cho nên bị Phật giáo bài bác mà cho là ngoại đạo. [X. luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn; Nhân vương kinh sớ Q.trung phần 1 (Lương bí); Ấn độ lục phái triết học (Lí thế kiệt); Ấn độ triết học cương yếu (Lí chí phu)]. (xt. Thập Cú Nghĩa, Lục Cú Nghĩa).
đại hữu tánh
Samanya Padartha (S)Các pháp đều cvó tánh tồn tại cộng đồng của nó.
đại hỷ
Great joy.
đại khiếu hoán địa ngục
770大叫喚,梵名 Mahā-raurava,巴利名 Dhūma-roruva。又作大號叫地獄、大叫地獄、大喚地獄、噭嚾地獄。八熱地獄之一。獄中罪人痛苦不堪而大號叫,故稱大叫喚地獄。據正法念處經卷八載,此地獄有吼吼、受苦無有數量、受堅苦惱不可忍耐、隨意壓、一切闇、人間煙、如飛蟲墮、死活等、異異轉、唐悕望、雙逼惱、迭相壓、金剛嘴烏、火鬘、受鋒苦、受無邊苦、血髓食、十一炎等十八受苦處;同卷又載,凡樂行殺生、偷盜、邪行、飲酒、妄語者,命終後必墮此地獄。〔長阿含經卷十九地獄品、大樓炭經卷二、起世經卷三、大智度論卷十六、立世阿毘曇論卷八〕(參閱「八熱地獄」311)
; Mahāraurava (S).
; Maharaurava (skt)—Địa ngục thứ năm trong trong tám địa ngục nóng (see Bát Nhiệt Địa Ngục)—The hell of great wailing, the fifth of the eight hot hells.
; (大叫喚地獄) Đại khiếu hoán, Phạm:Mahà-raurava, Pàli:Dhùma-roruva. Cũng gọi Đại hào khiếu địa ngục, Đại khiếu địa ngục, Đại hoán địa ngục, Khiếu hoán địa ngục. Một trong tám địa ngục nóng. Tội nhân trong ngục này khổ đau không chịu nổi mà cất tiếng kêu gào, vì thế gọi là Đại khiếu hoán địa ngục. Cứ theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 18 nói, thì địa ngục này có 18 chỗ chịu khổ là: Chỗ kêu gào, chỗ chịu khổ vô lượng, chỗ chịu các thứ khổ não không nhẫn được, chỗ bị ép theo ý ngục tốt, chỗ hoàn toàn tối tăm, chỗ khói mịt mù dày dặc, chỗ sâu bọ bay và rơi xuống, chỗ chết đi sống lại, chỗ mỗi lúc đổi khác, chỗ tuyệt vọng, chỗ bức não, chỗ thay phiên nhau bị ép, chỗ chim mỏ bằng Kim cương mổ, chỗ đội vòng tóc lửa, chỗ mũi nhọn đâm, chỗ chịu khổ vô biên, chỗ ăn máu tủy và chỗ lửa cháy ngùn ngụt v.v... Cũng kinh đã dẫn quyển 8 còn chép: Phàm những kẻ thích giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối, uống rượu, sau khi chết, sẽ rơi vào địa ngục này. [X. phẩm Địa ngục trong kinh Trường a hàm Q.19; kinh Đại lâu thán Q.2; kinh Khởi thế Q.3; luận Đại trí độ Q.16; luận Lập thế a tì đàm Q.8]. (xt. Bát Nhiệt Địa Ngục).
đại khiếu địa ngục
Mahàraurava (S). The hell of great wailing.
Đại khiếu địa ngục 大叫地獄
[ja]ダイキョウジゴク daikyōjigoku ||| Mahāraurava-narakaḥ, the hell of great screaming; the fifth of the eight burning hells 八熱地獄. Liars and murderers are reborn here, where one day of life is equal to 640,000 years. => (s: Mahāraurava-narakaḥ) Địa ngục trong đó tội nhân bị trong tẫn dữ dội phát ra những tiếng kêu than rất lớn, là địa ngục thứ 5 trong Bát nhiệt địa ngục. Nói dối và giết người sẽ bị đoạ vào đây, nơi đó 1 ngày tương đương 640,000 năm.
đại khoái lạc
Great contentment and bliss.
Đại Khuyến Tấn
(大勸進, Daikanjin): (1) Tên chức quan chuyên trách việc kiến lập các tự viện. (2) Tên gọi cũ của chức Biệt Đương (別當, Bettō) ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) vùng Nại Lương (奈良, Nara). (3) Tên gọi khác của chức Biệt Đương ở Thiện Quang Tự (善光寺, Zenkō-ji).
đại khái
In general.
đại khánh hỉ tâm
880指淨土行者由於彌陀以大悲攝取而產生之大歡喜心。即深信彌陀之攝取一切眾生,凡願往生者,縱業未了,亦得蒙佛接引;此一真實信心,相續不斷,生大歡喜心,故稱大慶喜心。
; (大慶喜心) Tâm vui mừng của người tu Tịnh độ được đức Phật A di đà từ bi nhiếp thụ mà nảy sinh. Tức là hành giả tin một cách sâu sắc rằng đức Phật A di đà thu nhận tất cả chúng sinh, phàm người phát nguyện vãng sinh, cho dù sự nghiệp chưa thành, cũng mong được Phật tiếp dẫn. Niềm tin chân thực ấy tương tục không dứt, khiến sinh tâm vui mừng rất lớn, cho nên gọi là Đại khánh hỉ tâm.
đại khôi hà
Kharodakanadi (P), Sông vôi
Đại không
cảnh không tịch rốt ráo của Đại thừa, tức là cảnh giới Niết-bàn.
đại không
801「空」為佛教重要思想之一;「空」與「有」相對,遮有為空,其空亦空,即說有空亦空之,是為究竟之大空。對於小乘之「偏空」,而稱大乘究竟之空寂為大空,即大乘之涅槃。大寶積經卷二十二(大一一.一二一中):「廣大空寂,名曰虛空,涅槃宮殿亦復如是為大空寂,無有主宰,亦無我所,一切眾生設入其中,無能攝取一毛端量,廣大空寂,廣大無量,名大涅槃。」又於十八空之中,無東西南北等方位之實體,亦稱為大空。此外於密教中,了悟阿字本不生之理,亦稱為大空。〔入楞伽經卷三、無盡燈論卷上〕
; MahāśŪnyatā (S)Thế giới 10 phương không có các tướng phương vị cố định.
; The great void, or the Mahàyàna parinirvàna, as being more complete and final than the nirvàna ođ Hinayàna.
; Mahasunyata (skt). • Cái không thuộc mức độ cao nhất hay “Đệ Nhất Nghĩa Thánh Trí Đại Không.”—Emptiness of the highest degree, that is, “Paramartharyajnana.” • Đại Không hay Niết Bàn của phái Đại Thừa. Đại Không được trường phái Chân Ngôn dùng để nói lên cái trí huệ tinh thần phi vật chất. Đại Không còn là một biểu tượng, với những vũ khí như Kim Cang chùy, Tam ma địa, những vòng thiêng hay những mạn đà la. Đại không cũng được dùng để ám chỉ hư không, trong đó không có Đông, Tây, Bắc, Nam—The great void—Universal space—The Mahayana parinirvana, as being more complete and final than the nirvana of Hinayana. It is used in the Shingon sect for the immaterial or spiritual wisdom, with its esoteric symbols; its weapons, such as the vajra; its samadhis; its sacred circles, or mandalas, etc. It is used also for space, in which there is neither east, west, north or south.
; (大空) Không là một trong những tư tưởng quan trọng của Phật giáo. Không tương đối với Hữu, phân tích hữu đến không thì cái không ấy cũng là Không, nghĩa là Hữu, Không cũng không, rốt rào là Đại không. Đối lại với cái không thiên lệch (thiên không) của Tiểu thừa mà gọi cái Không vắng lặng của Đại thừa là Đại không, tức là Niết bàn của Đại thừa. Kinh Đại bảo tích quyển 22 (Đại 11, 121 trung), nói: Rộng lớn rỗng lặng gọi là hư không, Niết bàn cũng như thế nên gọi là Đại không rỗng lặng. Niết bàn không có chủ tể, cũng không có ngã sở (của ta). Khi tất cả chúng sinh đã chứng Niết bàn thì không còn chấp thủ gì nữa, hoàn toàn vắng lặng, rộng lớn vô biên, gọi là Đại niết bàn. Lại thực thể của Thập bát không không có phương vị đông, tây, nam, bắc, cũng gọi là Đại không. Ngoài ra, trong Mật giáo, thấu suốt được lí chữ A vốn chẳng sinh, cũng gọi là Đại không. [X. kinh Nhập lăng già Q.3; luận Vô tận đăng Q.thượng].
đại không bất khả đắc
Hư không bao la không nắm bắt hay đo lường được—Space, great and unattainable or immeasurable.
đại không hành tam muội
801乃密教大金剛無勝三昧之異名,為金剛手菩薩所入之三昧。與傆(hūṃ,吽)字相應。大日經疏卷十(大三九‧六八二中)︰「次金剛手入大金剛無勝三昧(中略),吽引此真言體也,無怖畏義也。訶是行,上一點是大空,下畫是定,所謂大空行三昧,即是大金剛三昧之異名。」
; (大空行三昧) Tên gọi khác của Đại kim cương vô thắng tam muội, là tam muội của bồ tát Kim cương thủ thể nhập, tương ứng với chữ (hùô, hồng). Đại nhật kinh sớ quyển 10 (Đại 39, 682 trung), nói: Kế đến, bồ tát Kim cương thủ vào tam muội Đại Kim cương vô thắng (...), chữ Hồng là thể của chân ngôn này, nghĩa là không sợ hãi. Chữ Ha là hành, một cái chấm ở trên là Đại không, nét ở dưới là tam muội (định), cho nên, Đại không hành tam muội tức là tên khác của Đại Kim cương tam muội.
đại không mạn đồ la
802謂曼荼羅之體無相寂滅,而能成一切事,喻如虛空之無相寂滅,而能現一切相,故稱大空曼荼羅。
; (大空曼荼羅) Thể của mạn đồ la vắng lặng không có hình tướng, nhưng có thể thành tất cả mọi việc, cũng như hư không vô tướng tịch diệt, mà có thể hiện tất cả tướng, cho nên gọi là Đại không mạn đồ la.
đại không tam muội
801<一>為重空三昧之異稱。有空空三昧、無相無相三昧、無願無願三昧等。(參閱「重空三昧」3983) <二>又作正覺三昧、究竟三空三昧。三空三昧即三解脫門。所謂大空三昧,即不執於空,亦不著有,照見空與不空畢竟無相而具一切相之三昧;住此三昧者,即住於佛之無礙智慧。又就字門而言,乃揔(ṇa,努)字之義。為大日如夾之三摩地。如來住此大空三昧,無行無到,亦無去來,而能如其心量隨緣應現。〔大日經疏卷四、卷六〕
; Sunyasamadhi (skt)—A samadhi on the idea that all things are of the same Buddha-nature—See Nhất Thiết Như Lai Định.
; (大空三昧) I. Đại không tam muội. Cũng gọi Trùng không tam muội. Có ba thứ: Không không tam muội, Vô tướng vô tướng tam muội, Vô nguyện vô nguyện tam muội. (xt. Trùng Không Tam Muội). II. Đại không tam muội. Cũng gọi Chính giác tam muội, Cứu cánh tam không tam muội. Tam không tam muội tức là Tam giải thoát môn. Đại không tam muội tức là tam muội chẳng chấp không, cũng chẳng chấp có, mà thấy suốt không và chẳng không rốt ráo không hình tướng mà đầy đủ tất cả tướng. Hành giả an trụ, nơi tam muội này tức là an trụ nơi trí huệ vô ngại của Phật. Nếu nói theo Tự môn (những chữ cái của tiếng Phạm), thì Đại không tam muội là nghĩa chữ (ịa), tức là Tam ma địa của đức Đại nhật Như lai. Như lai trụ nơi tam muội Đại không này thì không đi không đến, cũng không qua không lại, cứ tùy duyên ứng hiện theo tâm lượng của Ngài. [X. Đại nhật kinh sớ Q.4, Q.6].
đại không vị
801即密教大空不生之法身大覺位。法身具有無礙、包含、常恒等三德,如同世間之虛空具有無礙、包含、常恒等三德,故稱為大空;又法身為諸法之所依,故加「位」之一字,稱為大空位。即身成佛義(大七七‧三八一下)︰「法身同大虛而無礙,含眾象而常恒,故曰大空;諸法之所依住,故號位。」
; (大空位) Là pháp thân đại không bất sinh của Mật giáo. Pháp thân có đủ ba đức: Vô ngại, bao hàm, thường hằng, cũng như hư không nên gọi là Đại không. Pháp thân là chỗ nương của các pháp, nên thêm một chữ vị, gọi là Đại không vị. Tức thân thành Phật nghĩa (Đại 77, 381 hạ), nói: Pháp thân giống như hư không, chẳng bị ngăn ngại, bao hàm muôn tượng và thường hằng, nên gọi là Đại không. Pháp thân là chỗ nương của các pháp, cho nên gọi là Vị.
đại khổ
Great suffering.
đại khổ hải
Biển khổ lớn hay biển sanh tử trong lục đạo luân hồi—The great bitter sea, or great sea of suffering—The great sea of mortality in the six gati, or ways of incarnate existence.
đại khổng tước vương
The mayùra, or "peacock".
; Một vị tôn trong bộ Minh Vương cưỡi khổng tước—A Mayura who rides a peacock.
Đại Kim Cương diệu cao sơn lâu các đà-la-ni 大金剛妙高山樓閣陀羅尼
[ja] ダイコンゴウミョウコウセンロウカクダラニ Daikongō myōkōsen rōkaku darani ||| The Dajingang miaogaoshan louge tuoluoni; Skt. Mahāvajrameruśikharakūṭāgāra-dhāraṇī; Tib. rdo rje'i ri rab chen po'i rtse mo'i khang pa brtsegs pa'i gzungs [To.751/946, P.407]; (Dhārani of the Pavilion Crowning Meru, the Great Adamantine Mountain). 1 fasc. (T 1415.21.928-931), trans. Dānapāla 施護. => (c: Dajingang miaogaoshan louge tuoluoni; s: Mahāvajrameruśikharakūṭāgāra-dhāraṇī; t: rdo rje'i ri rab chen po'i rtse mo'i khang pa brtsegs pa'i gzungs ; e: Dhārani of the Pavilion Crowning Meru, the Great Adamantine Mountain). 1 quyển. Thí Hộ (s: Dānapāla 施護) dịch.
đại kim sắc khổng tước vương chú kinh
802全一卷。又作大孔雀王神咒經、大金色孔雀咒經、孔雀王咒經。東晉帛尸黎蜜多羅譯。收於大正藏第十九冊。為原始密教經典。內容包括︰金色孔雀王、大孔雀王心咒、彌勒菩薩、梵天、天帝釋、大鬼神、咒等。帛尸黎率先將本經傳入東晉首都建康(今南京),其後有姚秦鳩摩羅什譯之孔雀王咒經一卷、唐代不空譯之佛母大孔雀明王經三卷、唐代義淨譯之佛說大孔雀咒王經三卷等。本經收於高麗大藏經者,譯者佚名;收於元、明本者,譯者之名題為「東晉西域沙門帛尸黎蜜多羅」。〔開元釋教錄卷四、貞元新定釋教目錄卷六〕
; (大金色孔雀王咒經) Có 1 quyển. Cũng gọi Đại khổng tước vương thần chú kinh, Đại kim sắc khổng tước chú kinh, Khổng tước vương chú kinh, do ngài Bạch thi lê mật đa la dịch vào đời Đông Tấn, thu vào Đại chính tạng tập 19, là kinh điển Mật giáo nguyên thủy. Nội dung bao gồm: Kim sắc Khổng tước vương, Đại khổng tước vương tâm chú, Di lặc bồ tát, Phạm thiên, Thiên đế thích, Đại quỉ thần, Chú v.v... Ngài Bạch thi lê đầu tiên đem kinh này truyền vào thủ đô Kiến khang (nay là Nam kinh) vào đời Đông Tấn, về sau, có kinh Khổng tước vương chú 1 quyển do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần, kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương 3 quyển do ngài Bất không dịch vào đời Đường, kinh Phật thuyết đại khổng tước chú vương 3 quyển do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường. Kinh Đại kim sắc khổng tước vương chú này trong Đại tạng kinh Cao li không có tên người dịch, còn trong các bản Đại tạng đời Nguyên, Minh thì ghi tên người dịch là: Đông Tấn Tây vực sa môn Bạch thi lê mật đa la. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.4; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.6].
đại kinh
873請參閱 大愛道比丘尼經 請參閱 大愛道比丘尼經 各宗派所指之大經各異,於天台宗,多指大涅槃經;於淨土宗,乃指大無量壽經,對此而言,小無量壽經(即鳩摩羅什譯之阿彌陀經一卷)則稱小經;於密教,則多指大日經及金剛頂經兩經。
; Malunkyaputa, Mahamalunkyaputta-suttam (P). Vacchagotta (MN73), Mahavaccha-gottasutta (P).
; Theo phái Thiên Thai, thì Đại Kinh chỉ hai bộ Kinh Phật Thuyết Vô Lượng Thọ, hai trong ba bộ kinh chánh của Tịnh Độ Tông, trong khi Kinh A Di Đà được gọi là Tiểu Bổn Kinh—According to the T'ien-T'ai sect, the great sutra implies the Infinite Life Sutra of the Pure Land Sect, while the Amida Sutra is considered as a Smaller Sutra—See Đại Vô Lượng Thọ Kinh.
; (大經) Kinh quan trọng. Tùy theo tông chỉ của các tông phái mà mỗi tông nhìn nhận Đại kinh có khác nhau, như tông Thiên thai cho kinh Niết bàn là Đại kinh, tông Tịnh độ thì cho kinh Đại vô lượng thọ là Đại kinh, còn gọi kinh Tiểu vô lượng thọ (tức là kinh A di đà 1 quyển ngài Cưu ma la thập dịch) là Tiểu kinh. Mật giáo thì phần nhiều nhận kinh Đại nhật và kinh Kim cương đính là Đại kinh.
đại kinh bốn mươi
Mahā-Cattarisaka-sutta (P), Sutra on The Great Forty Tên một bộ kinh.
đại kinh dấu chân voi
Maha-hatthipadopama-suttam (P).
đại kinh giáo giới la hầu la
Mahā-rahulovada sutta (P), The Greater Sutra of Advice to Rahula Tên một bộ kinh.
đại kinh giáo giới la-hầu-la
Maha-Rahulovadasuttam (P).
đại kinh khổ uẩn
Mahā-Dukkhakkhandha sutta (P), The Greater Sutra on the Mass of Suffering Tên một bộ kinh.
; Mahadukkhakkhandhasutta (P).
đại kinh mãn nguyệt
Mahapunna-masuttam (P). (MN109)
đại kinh nghiệp phân biệt
Mahā-Kamma-vibhaṅga sutta (P), Sutra on The Greater Exposition of Kamma Tên một bộ kinh.
đại kinh người chăn bò
Mahagopalakasuttam (P).
đại kinh pháp hành
Mahā-Dhamma-samadana sutta (P), The Greater Sutra on Taking on Practices Tên một bộ kinh.
đại kinh pháp hạnh
Mahadhamma-samadana-suttam (P).
đại kinh phương quảng
Mahavedallasuttam (P).
; Mahā-vedalla sutta (P), Sutra on The Greater Set of Questions-and-Answers Tên một bộ kinh.
đại kinh rừng sừng bò
Mahagosingasuttam (P).
đại kinh saccaka
Mahā-saccaka sutta, Sakuludayi (MN77) (P), The Greater Sutra to Saccaka Tên một bộ kinh.
; Mahasaccakasuttam (P).
đại kinh sáu sáu
Mahā-salayatanika sutta (P), Sutra on The Great Six Sense-media Discourse Tên một bộ kinh.
đại kinh sáu xứ
Muhasalayatanikasuttam (P).
đại kinh sư tử hống
Mahā-sihanada sutta (P), The Great Sutra on the Lion's Roar Tên một bộ kinh.
; Mahasihanadasuttam (P).
đại kinh thí dụ lõi cây
Mahasaro-pamasuttam (P).
đại kinh ví dụ dấu chân voi
(MN28) .
đại kinh xóm ngựa
Mahassapurasuttam (P).
đại kinh đoạn tận ái
Mahatanha sankhaya suttam (P).
đại kiên cố bà la môn
Đức Thích Ca Mâu Ni trong một tiền kiếp làm quan đại thần trong một nước có tên là Đại Kiên Cố Bà La Môn—The great reliable Brahmana. Sakyamuni in a previous life when he was a minister of a country.
đại kiên cố bà la môn kinh
Kinh nói về một tiền kiếp của Thích Ca Mâu Ni—A Sutra of the Great Reliable Brahmana—See Đại Kiên Cố Bà La Môn.
đại kiên tư
(大鍵
đại kiếp
Mahàkalpa (S). The great cosmic era of the world, from the beginning of a universe till it is destroyed and another begins in its place. It has four kalpas or periods known as vivarta thành kiếp, the creation period; vivarta siddha trụ kiếp, period of life; samvarta hoại kiếp, destruction period; samvartatthàhi diệt kiếp, total destruction period
; Mahakalpa (skt). (A) Một đại kiếp là 1.334.000.000 năm, một kiếp là 336.000.000 năm, một tiểu kiếp là 16.800.000 năm: A mahakalpa is represented as 1,334,000,000 years, a kalpa is 336,000,000 years, and a small kalpa is 16,800,000 years. (B) Một vòng thành, trụ, hoại, không của vũ trụ, mỗi thời kiếp được chia ra làm 20 tiểu kiếp, mỗi tiểu kiếp lại được chia ra làm hai thời “tăng” và “giảm,” mỗi thời “tăng” được cai trị bởi “tứ thiên vương” (thiết, đồng, bạc, vàng), trong thời đó tuổi thọ của con người tăng một tuổi mỗi trăm năm cho đến 84.000 năm, và thân người cũng tăng tới 84.000 bộ. Kế đó là “giảm” thời lại được chia làm ba giai đoạn chướng ngại là nạn dịch, chiến tranh và đói khát, lúc mà tuổi thọ của con người giảm từ từ đến lúc chỉ còn 10 tuổi thọ và chiều cao chỉ còn một bộ—The great kalpa, from a beginning of a universe till it is destroyed and another begins in its place. It has four kalpas or periods (the complete period of kalpas of formation, existence, destruction, and non-existence). Each great kalpa is subdivided into four assankhyeya-kalpas, each assankhyeya-kalpa is divided into twenty antara-kalpas or small kalpas, so that a mahakalpa consists of eighty small kalpas. Each small kalpa is divided into a period of “increase” and “decrease.” The increase period is ruled over by the four cakravartis in succession, i.e. the four ages of iron, copper, silver, gold, during which the length of human life increases by one year every century to 84,000 years, and the length of the human body to 84,000 feet. Then comes the kalpa of “decrease” divided into periods of the three woes, pestilence, war, and famine, during which the length of human life is gradually decreased (reduced) to ten years and the human body to one foot in heigth: 1) Thành Kiếp: Vivarta (skt)—The creation period—The kalpa of formation. 2) Trụ Kiếp: Vivartasiddha (skt)—The appearance of sun and moon, light, human life and other lives—The kalpa of existence. 3) Hoại Kiếp: Samvarta (skt)—Decay—The kalpa of destruction. 4) Không Kiếp (Diệt Kiếp): The kalpa of utter annihilation, or empty kalpa—Destruction first by fire, then water, then fire, then delige, then a great wind.
đại kiếp ngũ dụ
791佛典中經常用以比喻劫期長遠、不可勝計之譬喻有五,即:(一)草木喻,若將大千世界之草木皆寸斬為籌,每隔百年取一籌,取盡此籌,乃為一劫。(二)沙細喻,譬如殑伽河,河廣四十里,河中充滿細沙,其細如麵,每隔百年取一粒沙,取盡此沙,乃為一劫。(三)芥子喻,譬如四方各百里之城,其中滿堆芥子,每隔百年取一粒,取盡城中之芥子,乃為一劫。(四)碎塵喻,若將大千世界碎為微塵,每隔百年取一塵,取盡此塵,乃為一劫。(五)拂石喻,譬如一石,廣二由旬,厚半由旬,兜率天每隔百年以六銖衣拂石一遍,拂盡此石,乃為一劫。
; (大劫五喻) Năm thí dụ trong kinh điển Phật, thường được dùng để ví dụ thời gian của đại kiếp lâu xa, không thể tính được. Đó là: 1. Thảo mộc dụ (dụ cây cỏ): Nếu đem hết cây cỏ trong đại thiên thế giới chặt thành một tấc để làm những cái thẻ, rồi cứ cách 100 năm lấy một thẻ, lấy hết số thẻ ấy mới là một kiếp. 2. Sa tế dụ (dụ cát mịn): Như sông Hằng rộng 14 km, có nhiều cát mịn, mịn như bột gạo, cứ cách 100 năm lấy một hạt cát, khi lấy hết cát ấy mới là một kiếp. 3. Giới tử dụ (dụ hạt cải): Ví như một tòa thành quách hình vuông, mỗi chiều dài 36 kilômet, trong đó chứa đầy hạt cải, cứ cách 100 năm lấy ra một hạt, khi lấy hết hạt cải trong thành mới là một kiếp. 4. Toái trần dụ (dụ nghiền thành bụi nhỏ): Nếu đem cả thế giới đại thiên nghiền ra thành bụi nhỏ, cứ 100 năm lấy một hạt bụi, khi nào lấy hết bụi ấy mới là một kiếp. 5. Phất thạch dụ (dụ lau đá): Ví như một tảng đá rộng hai do tuần, dày nửa do tuần, cứ cách 100 năm, người trời cõi Đâu suất lại lau tảng đá ấy một lần bằng chiếc áo nặng sáu gam, chừng nào lau mòn hết tảng đá ấy mới là một kiếp.
Đại Kiếp Tân Na
(大劫賓那): xem Ma Ha Kiếp Tân Na (s: Mahākalpina, p: Mahākapphiṇa, 摩訶劫賓那) bên dưới.
đại kiếp tân na bồ tát
Kiếp Tân Na—Mahakapphina or Kapphina (skt).
Đại kiếp 大劫
[ja] ダイコウ daikō ||| A great length of time; an aeon, a kalpa (asaṃkhya, mahā-kalpa, uttama-kalpa) kalpa. Transliterated as 阿僧祇. => Một thời gian rất dài; một khoảng thời gian vô tận, một kiếp (s: asaṃkhya, mahā-kalpa, uttama-kalpa). Phiên âm là A-tăng-kỳ (阿僧祇).
đại kiết tường
Great auspicious.
đại kiết tường biến bồ tát
See Đại Cát Tường Biến Bồ Tát.
đại kiết tường kim cang
See Đại Cát Tường Kim Cang and Kim Cang Thủ.
đại kiết tường minh bồ tát
See Đại Cát Tường Minh Bồ Tát.
đại kiết tường thiên
Mahasri (skt)—The Good-fortune devis and devas.
đại kiết đại minh bồ tát
See Đại Cát Tường Minh Bồ Tát.
đại kiếu khấp địa ngục
Địa ngục khóc than lớn, địa ngục thứ năm trong tám ngục nóng—The hell of great wailing, the fifth of the eight hot hells.
đại kiền
891又作鍵
đại kỉ
751僧眾對比自己多五年(五夏)以上戒臘者之尊稱。唐代道宣所述教誡新學比丘行護律儀一書列舉二十二條對大己比丘應注意之事項,即:(一)須帶袈裟紐。(二)不得通肩被袈裟。(三)不得邪腳倚立。(四)不得垂手立。(五)不得非時喧笑。(六)立時如「事師法」所規定者。事師法為教誡新學比丘行護律儀中所列舉之第三大項,內共舉出五十一條事師時所應注意之條文。(七)若有教誡,當須設禮。(八)須作謙卑心。(九)不得抓瘡。(十)不得於其前洟唾。(十一)不得於其前嚼楊枝。(十二)未喚坐,不得輒坐。(十三)不得共同床坐。(十四)不得坐大己五夏人常坐臥處床。(十五)須知五夏以上即闍梨位,十夏以上是和尚位。(十六)尊人喚坐,須合掌曲躬,然後乃坐。(十七)坐時不得無禮自恣,倚靠器物。(十八)若有所言語,須謙下,不得取上分。(十九)不得張口呵欠,當以手遮之。(廿)不得以手捋面。(廿一)不得大噓氣作聲。(廿二)坐當須端身定住。〔南海寄歸內法傳卷四尊敬乖式〕
; (大己) Tiếng tôn xưng người có giới lạp (tuổi đạo) hơn mình từ năm hạ trở lên. Trong sách Giáo giới tân học tỉ khưu hành hộ luật nghi do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường, có nêu hai mươi hai điều nên chú ý đối với các tỉ khưu đại kỉ như sau: 1. Phải thắt nút ca sa. 2. Không được đắp ca sa kín cả hai vai. 3. Không được kiễng chân đứng dựa. 4. Không được đứng thõng tay. 5. Không được nói cười chẳng phải lúc. 6. Khi đứng, phải đúng như Phép hầu thầy đã qui định (Phép hầu thầy là hạng mục lớn thứ 3 có nêu trong sách Giáo giới tân học tỉ khưu hành hộ luật nghi, trong đó có ghi 51 điều phải chú ý khi hầu thầy). 7. Nếu vị đại kỉ có dạy bảo điều gì thì phải tạ lễ. 8. Đối với vị đại kỉ, phải có tâm khiêm nhường, tự hạ mình. 9. Không được gãi ngứa. 10. Không được khạc nhổ trước mặt vị đại kỉ. 11. Không được nhấm cành dương (xỉa răng) trước mặt vị đại kỉ. 12. Vị đại kỉ chưa bảo ngồi thì không được tự tiện ngồi. 13. Không được ngồi chung giường với vị đại kỉ. 14. Không được ngồi trên cái giường hoặc nơi chỗ mà người lớn hơn mình năm hạ thường ngồi, nằm. 15. Phải biết năm hạ trở lên là địa vị A xà lê, mười hạ trở lên là địa vị Hòa thượng. 16. Những người trên mình bảo ngồi, phải chắp tay cúi đầu rồi mới ngồi. 17. Khi ngồi, không được vô lễ, tự do dựa lưng vào các vật. 18. Nếu có điều gì, phải nhún nhường, không được giành phần hơn. 19. Khi ngáp, không được há to, phải lấy tay che miệng lại. 20. Không được lấy tay vuốt mặt. 21. Không được hắt hơi thành tiếng. 22. Khi ngồi, phải ngồi thật ngay thẳng. [X. phần Tôn kính quai thức trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4].
đại kỳ kiếp
Mahā-kappa (P).
; Mahākalpa (S), Mahā-kappa (P)Một Đại kiếp có 4 trung kiếp: thành kiếp, trụ kiếp, hoại kiếp, không kiếp. Một trung kiếp có 20 tiểu kiếp. Mỗi tiểu kiếp có 2 thời: thời giảm và thời tăng. Mỗi thời giảm hay tăng có (84.000 -10) x 100 = 8.399.000 năm. Mỗi tiểu kiếp có 8.399.000 x 2 thời = 16.798.000 năm. Một Trung kiếp nhiều hơn tiểu kiếp 20 lần. Một đại kiếp nhiều hơn trung kiếp 4 lần. Hết một đại kiếp thì hết một trung thiên đại thiên thế giới, rồi một cõi tam thiên đại thiên thế giới khác ra đời.
đại kỳ phật pháp
Buddha kalpa (S)Sau khi Phật nhập diệt, đại kỳ Phật pháp chia làm 3 kỳ: - 500 năm đầu là thời kỳ chánh pháp - 1000 năm giữa là thời kỳ hướng ngoại, cận giáo pháp - 10.000 năm chót là thời kỳ mạt pháp.
Đại La-hán 大羅漢
[ja] ダイラカン dairakan ||| See da aluohan 大阿羅漢. => Xem Đại A-la-hán (大阿羅漢c: da aluohan).
đại liên hoa
Pundarika—Phân Đà Lợi—The great white lotus—Địa ngục cuối cùng trong tám ngục lạnh—The last of the eight cold hells.
đại liên hoa pháp tạng giới
Tây Phương Cực Lạc—The great lotus Heaven in the Paradise of the West.
đại liên hoa trí huệ tam ma địa trí
Diệu Quán Sát Trí của Đức Phật A Di Đà—Samadhi-wisdom, the wisdom of the great lotus, the penetrating wisdom of Amitabha Buddha.
đại liễu ngu môn
Dairyo gumon (J)Tên một ngôi chùa.
đại long ca nhĩ cư phái
866西藏名 Stag-luṅ-bkaḥ-brgyud-pa。西藏佛教迦爾居派潑結派支系之一。又稱達壠迦爾居派。南宋淳熙七年(1180),大吉隆壇(藏 Stag-luṅ-dam-pa)偕門徒至拉薩附近建大隆精舍(又作達壠寺),傳其法燈,創立本派。景炎元年(1276)本派僧人桑結溫(1251~1294)於西康省昌都之類烏齊地方建類烏齊寺,成為本派在康區(古代西藏四區之一)之主寺,與達壠寺並稱為上塘、下塘。達壠寺第九任座主扎西貝則(1357~1424)曾受明成祖封為國師。
đại long quyền hiện
Bồ Tát Đại Long Quyền Hiện, vị đã đạt được đại địa, bằng nguyện lực Ngài đã hóa thành Long Vương—The Bodhisattva who, having stained the great stages, by the power of his vow transformed himself into a dragon-king.
Đại Long Trí Hồng
(大龍智洪, Dairyū Chikō, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Tống, người kế thừa dòng pháp của Bạch Triệu Chí Viên (白兆志圓) ở Tỉnh An Huy (安徽省). Ông đã từng sống qua ở Đại Long Sơn (大龍山) vùng Lãng Châu (朗州, Tỉnh Hồ Nam), được gọi là Hoằng Tế Đại Sư (弘濟大師).
đại long tượng
Mahānāga (S).
đại loại
See Đại Khái.
đại loại thuần
904(1923~ )日本之東方思想、宗教學學者。東京大學文學部畢業。歷任於國士館大學、東洋大學等。長期研究東方宗教、哲學等,並講授東方倫理學史。
đại loại đức đà la ni kinh
Mahā-bala-dhāraṇī-sŪtra (S).
đại loạn
Conflagration.
đại luân bồ tát
Mahācakra (S)Mạn đồ la Bồ tátTên một vị Bồ tát.
đại luân kim cang
Một trong 33 vị Bồ Tát trong Kim Cang Thủ của Thai Tạng Giới, biểu hiện trí đức đoạn hoặc—One of the thirty-three bodhisattvas in the court of the Garbhadhatu (Kim Cang Thủ) group, destroyer of delusion.
đại luân kim cang bồ tát
Mahācakra-vajra (S)Tên một vị Bồ tát.
đại luân kim cương bồ tát
884大輪金剛,梵名 Mahā-cakra-vajra。或謂即持金剛利菩薩。為列於密教現圖胎藏界曼荼羅金剛手院第三行第七位之菩薩。密號般若金剛,種子為傆(hūṃ),三昧耶形為三鈷。其形像,全身呈白肉色,眼稍上視,右手屈臂,開肘仰掌,屈食、中、無名三指,繫持數珠,左手屈臂,持三鈷杵置於胸前,左腳立膝,坐白蓮華座。此尊不見載於大日經及其疏或阿闍梨所傳曼荼羅,玄法寺儀軌卷二、青龍寺儀軌卷中亦僅有持金剛利菩薩,而未載此尊之名。〔胎藏界曼荼羅尊位現圖抄私卷二、胎藏界七集卷上、胎藏界曼荼羅鈔、諸說不同記卷四〕
; (大輪金剛菩薩) Đại luân kim cương, Phạm: Mahàcakra-vajra. Cũng có thuyết cho là Trì kim cương lợi bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 7 hàng thứ ba trong viện Kim cương thủ trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Bát nhã kim cương, chủng tử là (hùô), hình tam muội da là chày 3 chĩa. Hình tượng vị tôn này toàn thân mầu da trắng, mắt hơi nhìn lên, cánh tay phải co lại, khuỷu tay doãng ra và ngửa bàn tay, ngón trỏ, ngón giữa, ngón áp út co lại cầm xâu chuỗi (tràng hạt), cánh tay trái co lại cầm chày 3 chĩa để ở trước ngực, đầu gối chân trái dựng lên, ngồi trên tòa sen trắng. Vị tôn này không thấy được ghi trong kinh Đại nhật và Đại nhật kinh sớ hoặc trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô uý truyền. Còn trong Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 2, Thanh long tự nghi quĩ quyển trung cũng chỉ thấy có bồ tát Trì kim cương lợi, chứ không có tên vị tôn này. [X. Thai tạng giới mạn đồ la tôn vị hiện đồ sao tư Q.2; Thai tạng giới thất tập Q.thượng; Thai tạng giới mạn đồ la sao; Chư thuyết bất đồng kí Q.4].
đại luân minh vương
884梵名 Mahā-cakra。又作大輪金剛。乃菩薩示現之忿怒身,即以消除一切業障、越法,以清淨圓滿戒品為本誓之明王。為密教八大明王之一。據大妙金剛經載,其形像遍身黃色,放大火,右手持八輻金剛輪,左手持一獨股之金剛杵,種子為傆(hūṃ),三昧耶形為輪。坐蓮華座。其真言為:唵(oṃ)嚩日羅(vajra,金剛)作訖羅(cakra,輪)吽(hūṃ,種子)。〔大妙金剛大甘露軍拏利焰鬘熾盛佛頂經、大輪金剛修行悉地成就及供養法〕(參閱「八大明王」272)
; Mahā-cakra (S).
; (大輪明王) Phạm: Mahà-cakra. Cũng gọi Đại luân kim cương. Vị Minh vương bồ tát thị hiện thân phẫn nộ để tiêu trừ tất cả nghiệp chướng, tội vượt pháp và lấy giới phẩm thanh tịnh viên mãn làm bản thệ. Là một trong tám vị Đại minh vương của Mật giáo. Cứ theo kinh Đại diệu kim cương, thì hình tượng vị tôn này toàn thân mầu vàng, phóng những ngọn lửa lớn, tay mặt cầm bánh xe Kim cương tám nan hoa, tay trái cầm chày Kimcương một chĩa, chủng tử là (hùô), hình tam muội da là bánh xe, ngồi trên tòa sen. Chân ngôn là: Án (oô) phạ nhật la (vajra, kim cương) tác ngật la (cakra, bánh xe) hồng (hùô, chủng tử). [X.kinh Đại diệu kim cương đại cam lộ quân noa lợi diệm man xí thịnh Phật đính; Đại luân kim cương tu hành tất địa thành tựu cập cúng dường pháp]. (xt.Bát Đại Minh Vương)
đại luận sư
Mahavadin—Danh hiệu của những vị thầy nổi bậc—Doctor of the Sastras—A title given to eminent teachers.
đại luận thập chủng giới
883請參閱 理趣釋經 請參閱 理趣經 或 般若理趣經 請參閱 理趣釋經 請參閱 妙法蓮華三昧祕密三摩耶經 請參閱 大智度論 大論即大智度論,其所載十種戒,稱為大論十種戒。即:(一)不缺戒,謂修行之人毀犯淨戒,如器已缺,無所堪用,若能恒自守護,如愛明珠,則能攝一切戒。(二)不破戒,謂修行之人毀犯戒法,如器破裂,不堪為用,若能護持不犯,無有破損,稱為不破戒。(三)不穿戒,謂修行之人毀犯戒法,如器穿漏,不堪受物,若能護持無毀,稱為不穿戒。(四)不雜戒,謂修行之人,或毀定共戒,念破戒事,稱為「雜」;若能護持不毀,欲念不起,稱為不雜戒。(五)隨道戒,謂聲聞初果隨順諦理,能破見惑,無所分別,稱為隨道戒。(六)無著戒,謂二乘之人見真諦理,能成聖道,於諸思惑無所染著,稱為無著戒。(七)自在戒,謂菩薩化他妙用,於諸世間,得自在無礙,稱為自在戒。(八)智所讚戒,謂菩薩於諸世界化導眾生,為智者所讚歎,稱為智所讚戒。(九)隨定戒,謂菩薩隨首楞嚴定,現諸威儀,導利眾生,雖威儀變現,而任運常靜,稱為隨定戒。(十)具足戒,謂菩薩持中道第一義諦戒,用中道慧,徧入諸法,無戒不備,稱為具足戒。
; (大論十種戒) Đại luận tức là luận Đại trí độ; mười loại giới được nói trong luận này gọi là Thập chủng giới. Đó là: 1. Bất khuyết giới: Người tu hành hủy phạm tịnh giới, như đĩa, chén đã bị sứt mẻ (khuyết) không còn dùng được nữa; nếu thường tự giữ gìn như quí viên ngọc minh châu, thì có thể thu nhiếp tất cả giới. 2. Bất phá giới: Người tu hành hủy phạm giới pháp, như đĩa, chén đã vỡ không dùng được nữa, nếu thường giữ gìn không vi phạm, không tổn hại, thì gọi là Bất phá giới. 3. Bất xuyên giới: Người tu hành hủy phạm giới pháp như bát đĩa đã thủng, không đựng thức ăn được nữa, nếu thường giữ gìn không phạm thì gọi là Bất xuyên giới. 4. Bất tạp giới: Người tu hành hoặc hủy định cộng giới, hoặc nghĩ đến việc phá giới, gọi là Tạp; nếu thường cẩn thận không phạm, dục niệm không khởi thì gọi Bất tạp giới. 5. Tùy đạo giới: Sơ quả Thanh văn thuận theo đế lí, thường phá kiến hoặc, không còn phân biệt, gọi là Tùy đạo giới. 6. Vô trước giới: Nhị thừa thấy lí chân đế, hay thành Thánh đạo, đối với tư hoặc không còn nhiễm trước, gọi là Vô trước giới. 7. Tự tại giới: Bồ tát giáo hóa độ sanh một cách khéo léo, nên đối với các thế gian được tự tại vô ngại, gọi là Tự tại giới. 8. Trí sở tán giới: Bồ tát giáo hóa chúng sanh trong các thế giới, được bậc trí giả khen ngợi, gọi là Trí sở tán giới. 9. Tùy định giới: Bồ tát thuận theo định Thủ lăng nghiêm, hiện các uy nghi, dắt dẫn chúng sanh, tuy uy nghi biến hiện, nhưng thường tự tại tĩnh định, gọi là Tùy định giới. 10. Cụ túc giới: Bồ tát giữ giới Trung đạo đệ nhất nghĩa đế, dùng trí tuệ Trung đạo, thâm nhập khắp các giới, gọi là Cụ túc giới.
đại lâm
Mahavana (P).
đại lâm tinh xá
800大林,梵名 Mahā-vana,巴利名同。<一>位於中印度毘舍離城附近,又稱鳩咜伽羅沙羅(梵 Kūṭāgāra-śālā,巴 Kūṭāgāra-sālā)、重閣講堂、高閣講堂、重閣堂、普集講堂、重閣精舍、高觀殿、高樓臺觀。據善見律毘婆沙卷十載,此林無人種植,自然天成,從迦維羅衛國連至雪山,林區遼闊,故稱大林,佛曾住此說法。大林精舍內有供佛之堂,狀如雁子,設備完足。另據大唐西域記卷七載,重閣講堂鄰接獼猴池岸精舍(梵 Markaṭa-hrada-vihāra),佛陀昔時遊化該地時獼猴奪鉢,至樹上取蜜奉持佛,並為佛穿鑿一池。然據中阿含卷二十一無刺經、增一阿含卷二十四等所載,則謂大林精舍與獼猴池岸精舍並不相鄰,而為位處異地之兩精舍。另有一說,謂大林與獼猴同一精舍之異名。或謂獼猴即毘舍離城中一居民之名。〔雜阿含經卷三、善見律毘婆沙卷一、有部毘奈耶雜事卷三十六、祓智度論卷三、大唐西域記卷四秣菟羅國條〕 <二>位於北印度烏仗那國。佛陀於因位修菩薩行 氶A其時稱為薩縛達王(即一切施主),曾於此地遇一婆羅門子之乞討,由於當時已失國位,身無分文,遂令婆羅門子將自己綑縛起,交付敵國國王以求賞金。〔出曜經卷一撰集百緣經卷一〕
; Mahā-vana (P), KŪṭagāra-sala (S), Mahāvana vihāra (S), Kutagara-sala (S, P)Trùng Các đườngTên một ngôi chùa.
; (大林精舍) Đại lâm, Phạm, Pàli: Mahà-vana. I. Đại lâm tinh xá. Ngôi tinh xá ở vùng phụ cận thành Tì xá li, Trung Ấn độ. Cũng gọi Cưu đà già la sa la (Phạm: Kùỉàgàra zàla, Pàli: Kùỉàgàra-sàlà), Trùng các giảng đường, Cao các giảng đường, Trùng các đường, Phổ tập giảng đường, Trùng các tinh xá, Cao quan điện, Cao lâu đài quan. Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 10 chép, khu rừng này rất rộng, chạy dài từ nước Ca duy la vệ cho đến núi Tuyết, đức Phật từng đã nói pháp ở đây. Trong tinh xá Đại lâm, có nhà thờ Phật hình dáng như con chim nhạn. Theo Đại đường tây vực kí quyển 7 ghi, tinh xá Đại lâm gần bên tịnh xá Di hầu trì ngạn (Phạm: Markaỉa hrada vihàra = tinh xá nằm ở bờ ao Di hầu). Thời xưa, lúc đức Phật du hóa đến vùng này, có con khỉ (di hầu) cầm lấy bình bát của Phật leo lên cây lấy mật ong xuống dâng cúng Phật, rồi lại đào một cái ao cho Phật. Nhưng, theo kinh Vô thích trong Trung a hàm quyển 21 và kinh Tăng nhất a hàm quyển 24 nói, thì tinh xá Đại lâm và tinh xá Di hầu trì ngạn là hai tinh xá ở hai nơi khác nhau chứ không ở gần nhau. Lại có thuyết cho rằng Đại lâm và Di hầu là hai tên khác nhau của một tinh xá. Cũng có thuyết bảo Di hầu là tên của một giống cư dân trong thành Tì xá li. [X. kinh Tạp a hàm Q.3; Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.36; luận Đại trí độ Q.3; Đại đường tây vực kí Q.4 Mạt nâu la quốc điều]. II. Đại lâm tinh xá. Ngôi tinh xá ở nước Ô trượng na Bắc Ấn độ. Thủa xưa, khi đức Phật còn tu hạnh Bồ tát ở nhân vị đã từng ở nơi này;bấy giờ Ngài là vua Tát phược đạt (tức vua bố thí tất cả), có một người con Bà la môn đến xin; lúc đó nhà vua đã mất nước, không còn gì để cho, mới bảo người con Bà la môn trói mình lại, rồi đem giao cho quốc vương nước thù địch để lấy tiền thưởng. [X. kinh Xuất diệu Q.1; kinh Soạn tập bách duyên Q.1].
đại lâm tịnh xá
Mahavana-Sangharama (skt)—Trúc Lâm Tịnh Xá—The Venuvana monastery—The monastery of the great forest—Trúc Lâm Ca Lan Đà, gần thành Vương Xá, một nơi mà Phật Thích Ca thường dùng làm chỗ kiết hạ an cư—Venuvana-vihara in the Karanda venuvana, near Rajagrha, a favorite resort of Sakyamuni.
Đại Lâm Tự
(大林寺, Dairin-ji): tọa lạc phía Tây Nam Huyện Đức Hóa (德化縣), Phủ Cửu Giang (九江府, Tỉnh Giang Nam), phía nam Lô Sơn (廬山). Chùa được xây dựng dưới thời nhà Tấn, Huệ Viễn (慧遠), Huệ Vĩnh (慧永), Đàm Dực (曇翼), v.v., đã từng sống tại đây. Vào cuối thời nhà Nguyên, chùa bị hỏa tai và được trùng tu lại trong khoảng thời gian niên hiệu Tuyên Đức (宣德, 1426-1435).
đại lâm tự
799位於江西廬山大林峰下。傳為東晉廬山慧遠之徒孫曇詵(361~440)所創建。寺名大林,係因曇詵於講經臺東南廣植花木,繁茂如林,故有此稱。本寺歷代迭經興衰,於清代初年,遭火焚毀。民國十一年(1922),於故址興建講堂,迎請安慶迎江寺竺庵法師以復興大林寺,主要以聚集於廬山避暑之知識分子為布教對象。太虛大師曾於本寺舉辦演講會,並將本寺作為其所倡導之世界佛學運動之據點,致力於復興慧遠白蓮社之精神。於近代,本寺漸成為廬山淨土教之中心。〔廬山志卷三〕
đại lâu thán kinh
882請參閱 大慧普覺禪師語錄 略稱樓炭經。今收於大正藏第一冊。內載須彌四洲之相狀、世界之成立及其破壞時期等。本經有四部同本異譯,其名稱及內容如次:(一)大樓炭經,六卷十三品(西晉法立、法炬共譯):(1)閻浮利品,(2)鬱單曰品,(3)轉輪王品,(4)泥梨品,(5)阿須倫品,(6)龍鳥品,(7)高善士品,(8)四天王品,(9)忉利天品,(10)戰鬥品,(11)小劫品,(12)災變品,(13)天地成品。 (二)起世因本經,十卷十二品(隋代達摩笈多譯):(1)閻浮洲品,(2)鬱多羅究留洲品,(3)轉輪王品,(4)地獄品,(5)諸龍金翅鳥品,(6)阿修羅品,(7)四天王品,(8)三十三天品,(9)戰鬥品,(10)劫住品,(11)住世品,(12)最勝品。 (三)起世經,十卷十二品(隋代闍那崛多譯):(1)閻浮洲品,(2)鬱單越洲品,(3)轉輪聖王品,(4)地獄品,(5)諸龍金翅鳥品,(6)阿修羅品,(7)四天王品,(8)三十三天品,(9)戰鬥品,(10)劫住品,(11)世住品,(12)最勝品。 (四)長阿含卷十八以下五卷(東晉佛陀耶舍、竺佛念共譯):(1)閻浮提洲品,(2)鬱單曰品,(3)轉輪聖王品,(4)地獄品,(5)龍鳥品,(6)阿須倫品,(7)四天王品,(8)忉利天品,(9)三災品,(10)戰鬥品,(11)三中劫品,(12)世本緣品。〔開元釋教錄卷七、貞元新定釋教目錄卷十〕
; Kinh Đại Lâu Thán gồm sáu quyển nói về Vũ trụ quan Phật Giáo hay sự thành hoại của vũ trụ. Kinh được Ngài Pháp Lập dịch ra Hoa ngữ vào đời nhà Tấn—A sutra of six books on Buddhist cosmology. The sutra explained about the creation and destruction of the cosmos, translated into Chinese by Fa-Li.
; (大樓炭經) Gọi tắt: Lâu thán kinh, thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung nói về tướng trạng của núi Tu di, bốn đại châu và sự thành hoại của thế giới. Kinh này có bốn bản dịch khác nhau, tên gọi và nội dung như sau: I. Kinh Đại lâu thán 6 quyển, 13 phẩm (do các ngài Pháp lập và Pháp cự dịch chung vào thời Tây Tấn): 1. Phẩm Diêm phù lợi. 2. Phẩm Uất đơn viết. 3. Phẩm Chuyển luân vương. 4. Phẩm Nê lê. 5. Phẩm A tu luân. 6. Phẩm Long điểu. 7. Phẩm Cao thiện sĩ. 8. Phẩm Tứ thiên vương. 9. Phẩm Đao lợi thiên. 10. Phẩm Chiến đấu. 11. Phẩm Tiểu kiếp. 12. Phẩm Tai biến. 13. Phẩm Thiên địa thành. II. Kinh Khởi thế nhân bản 10 quyển, 12 phẩm(do ngài Đạt ma cấp đa dịch vào đời Tùy). 1. Phẩm Diêm phù châu. 2. Phẩm Uất đa la cứu lưu châu. 3. Phẩm Chuyển luân vương. 4. Phẩm Địa ngục. 5. Phẩm Chư long kim sí điểu. 6. Phẩm A tu la. 7. Phẩm Tứ thiên vương. 8. Phẩm Tam thập tam thiên. 9. Phẩm Chiến đấu. 10. Phẩm Kiếp trụ. 11. Phẩm Trụ thế. 12. Phẩm Tối thắng. III. Kinh Khởi thế10 quyển, 12 phẩm (do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy). 1. Phẩm Diêm phù đề. 2. Phẩm Uất đơn việt châu. 3. Phẩm Chuyển luân thánh vương. 4. Phẩm Địa ngục. 5. Phẩm Chư long kim sí điểu. 6. Phẩm A tu la. 7. Phẩm Tứ thiên vương. 8. Phẩm Tam thập tam thiên. 9. Phẩm Chiến đấu. 10. Phẩm Kiếp trụ. 11. Phẩm Thế trụ. 12. Phẩm Tối thắng. IV. Trường a hàm từ quyển 18 đến quyển 23(do các ngài Phật đà da xá và Trúc Phật niệm cùng dịch vào đời Đông Tấn). 1. Phẩm Diêm phù đề châu. 2. Phẩm Uất đơn viết. 3. Phẩm Chuyển luân thánh vương. 4. Phẩm Địa ngục. 5. Phẩm Long điểu. 6. Phẩm A tu luân. 7. Phẩm Tứ thiên vương. 8. Phẩm Đao lợi thiên. 9. Phẩm Tam tai. 10. Phẩm Chiến đấu. 11. Phẩm Tam trung kiếp. 12. Phẩm Thế bản duyên. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.7; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.10].
đại lãnh thần hầu
Xem Cáp nô man.
đại lão hòa thượng
Great Monk—Senior monk—Abbot—A monk of of great virtue and old age.
đại lí quốc kinh tràng
851位於雲南昆明古幢公園內。又稱地藏寺石幢、梵文經幢。俗稱古幢。幢高八點三公尺,由石所造,呈七層八角棱形。第一層彫刻段進全所撰漢文之佛頂尊勝寶幢記,及梵文佛說般若波羅蜜多心經、大日尊發願、發四宏願。第二層刻四天王及梵文陀羅尼經。第三層以上彫刻釋迦牟尼佛、菩薩、四大天王、樓宇、飛禽等。此石幢乃大理國時期(938~1254)段氏的布燮(高級官員)袁豆光,為歌頌其國鄯闡(今毘明)侯高明生之功德而造者。彫刻精緻,線條鮮明細膩,形象維妙維肖,被譽為滇中藝術之極品。
đại lương hoàng đế lập thần minh thành phật nghĩa kí
849全一卷。南朝梁武帝撰。收於大正藏第五十二冊弘明集卷九。係駁斥范縝之神滅說;因當時宜都太守范縝作「神滅論」一文,謂形體消失時,心神亦隨之消失;心神既無存,佛自不有。武帝則主張肉體雖滅亡,然精神不滅;唯因心神不滅,始可成佛。生滅與善惡,乃無明與神明共有之作用,其變化僅在一時之緣而已。本記將神不滅論,作為心識問題來探討,而由其所強調心神具有無明與神明之二面而言,可推及大乘起信論中阿賴耶識之思想。本記之現存本附有沈績之序注。
; (大梁皇帝立神明成佛義記) Có 1 quyển, do Lương Vũ đế soạn vào thời Nam triều, thu vào Hoằng minh tập quyển 9 trong Đại chính tạng tập 52. Nội dung sách này nhằm bài bác thuyết Thần diệt của Phạm chẩn. Lí do là thời đó, quan Thái thú Nghi đô Phạm chẩn công bố một bản văn nhan đề Thần diệt luận, cho rằng khi hình thể tan hoại thì tâm thần cũng theo đó mà tiêu mất, tâm thần đã không còn thì tự nhiên Phật cũng chẳng có. Trái lại, vua Vũ đế thì chủ trương nhục thể tuy diệt vong, nhưng tinh thần không diệt, vì tâm thần không diệt nên mới có thể thành Phật. Sinh diệt và thiện ác là tác dụng của vô minh và thần minh, sự biến hóa của nó chỉ là do duyên nhất thời mà thôi. Tập sách nhỏ này đem Thần bất diệt luận đặt thành vấn đề tâm thức để suy cứu và do chỗ nhấn mạnh tâm thần có hai mặt vô minh và thần minh mà đã khiến người ta nghĩ đến tư tưởng A lại da thức trong luận Đại thừa khởi tín. Tập sách hiện còn có thêm lời tựa và phần chú giải của Trầm tích.
đại lương hoàng đế sắc đáp thần hạ thần diệt luận
849全一卷。南朝梁武帝撰。收於大正藏第五十二冊弘明集卷十。南北朝時,學人以心神為研究主題之一,然當時宜都太守范縝常稱無佛,不信因果,著「神滅論」一文,謂形與神名稱雖異,實為一體,形體之外別無心神;心神既無,佛自不有。范縝之說,引起「神滅不滅」之激烈論諍。梁武帝遂令光宅寺之法雲起草本論,駁斥神滅說,並以本論致送臣下六十餘人。眾臣紛紛覆書,極口贊同武帝之見解,武帝即以本論作當時論諍之結語。弘明集卷十亦收有諸臣之書信。或謂武帝致書臣下,意在探究彼等之是否忠誠。
; (大梁皇帝敕答臣下神滅論) Có 1 quyển, do Lương Vũ đế soạn vào thời Nam triều, thu vào Hoằng minh tập quyển 10 trong Đại chính tạng tập 52. Thời Nam Bắc triều, các học giả đặt tâm thần làm một trong những chủ đề để nghiên cứu, nhưng bấy giờ, Thái thú Nghi đô là Phạm chẩn viết Thần diệt luận, chủ trương hình hài diệt vong thì tâm thần cũng theo đó mà tiêu mất, mà tâm thần đã không thì Phật cũng chẳng có. Lí thuyết này của Phạm chẩn đã đưa đến cuộc tranh luận dữ dội về vấn đề Thần diệt hay bất diệt. Lương Vũ đế bèn xuống lệnh cho ngài Pháp vân ở chùa Quang trạch dự thảo sách này để bác bỏ thuyết Thần diệt và đem sách này ban cho hơn sáu mươi vị quan. Các quan dâng thư phúc đáp, hết lời tán đồng quan điểm của nhà vua. Vũ đế liền dùng luận này để kết thúc cuộc tranh luận thời đó. Có thuyết cho rằng Vũ đế gửi sách này cho các quan với dụng ý thăm dò xem họ có trung thành với mình không.
đại lược
Abstract—Summary.
đại lượng
Cāgavā (P), Generous.
; Generous—Tolerant.
đại lạc
Great joy.
đại lạc kim cang bất không chân thật tam ma đa kinh
Xem Bát nhã Lý thú kinh.
đại lạc kim cang tát đỏa
1) Unceasing great joy. 2) Phổ Hiền, tên của vị tổ thứ hai trong tám vị tổ Chân Ngôn Giáo: A Shingon name for the second of its eight patriarch, P'u-Hsien.
Đại lạc kim cương Bất không chân thật tam muội da kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa lý thú thích 大樂金剛不空眞實三昧耶經般若波羅蜜多理趣釋
[ja] ダイガクコンゴウフクウシンジツサンマイヤキョウハンニャハラミツタリシュシャク Dairaku kongō fukū shinjitsu sammaya kyō hannya haramitta rishushaku ||| The Dale jingang bukong zhenshi sanmeiye jing banruoboluomiduo liqushi; 2 fasc. (T 1003.18.607-617), tr. Amoghavajra 不空, abbr. Rishushaku 理趣釋. Foremost East Asian commentary on the symbolism and significance of the Rishukyō 理趣經. Japanese commentaries: T 2240, T 2241. See Gelfman (1979) for a study and English translation. => (c:Dale jingang bukong zhenshi sanmeiye jing banruoboluomiduo liqushi); 2 quyển; Bất Không (s: Amoghavajra 不空) dịch. Viết tắt là Lý thú thích (s: Rishushaku 理趣釋). Là bản chú giải đầu tiên ở Á Đông về biểu tượng và ý nghĩa của Lý thú kinh (理趣經s: Rishukyō). Bản dịch tiếng Nhật: T 2240, T 2241. Để nghiên cứu bản dịch tiếng Anh, xem Gelfman (1979).
Đại lạc kim cương tát đoả tu hành thành tựu nghi quỹ
大樂金剛薩埵修行成就儀軌 [ja] ダイラクコンゴウサツタシュギョウジョウシュウギキ Dairaku Kongōsatta shugyō jōju giki ||| The Dale jingangsaduo xiuxing chengjiu yigui (Ritual Procedure for the Successful Cultivation of the Vajrasattva of Great Bliss). 1 fasc. (T 1119.20.509), trans. Amoghavajra 不空. See the study in Astley (1990). => (c: Dale jingangsaduo xiuxing chengjiu yigui (Ritual Procedure for the Successful Cultivation of the Vajrasattva of Great Bliss). 1 quyển. Bất Không (s: Amoghavajra 不空) dịch. Xem nghiên cứu của Astley (1990).
đại lạc thuyết
Mahāsukhavāda (S).
; Mahapratibhana—A bodhisattva in the Lotus sutra, noted for pleasant discourse.
đại lạc thuyết bồ tát
Mahāpratibhana (S)Tên một vị Bồ tát.
đại lạc đại tham nhiễm
882密教金剛薩埵之內證法。金剛薩埵離世間雜染之欲樂,而樂於貪染色、香等之實相,故稱大樂大貪染。即理趣經所說十七清淨法門。蓋一切諸法雖有種種差別,惟自性乃絕待清淨,故若證悟此自性清淨之理,離差別之妄執,則自他即共受永劫真實之大樂,此乃金剛薩埵之內證。又金剛薩埵以此大樂法門而別於世間之小貪小欲。〔理趣釋卷上〕
; (大樂大貪染) Pháp nội chứng của Kim cương tát đỏa trong Mật giáo. Kim cương tát đỏa đã xa lìa dục lạc nhơ nhớp của thế gian, nhưng lại rất ưa tham đắm thực tướng của sắc, hương v.v... nên gọi là Đại lạc đại tham nhiễm, tức là 17 pháp môn thanh tịnh nói trong kinh Lí thú. Cứ theo kinh Lí thú, tất cả các pháp tuy có sai biệt, nhưng tự tính thì tuyệt đối trong sạch, cho nên, nếu chứng ngộ được lí tự tính trong sạch ấy, xa lìa vọng chấp sai biệt, thì mình và người sẽ vĩnh viễn được niềm vui lớn lao, chân thật: Đây là nội chứng của Kim cương tát đỏa. Và niềm vui sướng lớn lao, chân thật này của Ngài khác hẳn với dục lạc nhỏ mọn và nhơ nhớp của thế gian. [X. Lí thú thích Q.thượng].
đại lễ
1546指傳拜。即欲遣人代為禮拜他方之有德者或聖蹟、聖像時,自己須先行禮拜代替者,稱為代禮。釋氏要覽卷中(大五四‧二七八下):「代禮,若此方俗之傳拜也。十誦律云:『弟子遊方,和尚知彼有靈蹤、聖像、名德人,和尚令傳禮於彼,其弟子得側身受和尚禮。』」
; (代禮) Lễ thay. Tức là khi nhờ người khác thay mình đi lễ bái bậc có đức hoặc các Thánh tích, Thánh tượng ở phương khác, thì trước hết chính mình phải lễ bái người thay thế ấy, gọi là Đại lễ. Thích thị yếu lãm quyển trung (Đại 54, 278 hạ), nói: Đại lễ là phong tục gửi lễ (để nhờ người khác đi lễ thay) ở Trung quốc. Luật Thập tụng:Đệ tử du phương, Hòa thượng biết nơi ấy có linh tích, Thánh tượng, bậc danh đức, Hòa thượng nhờ vị ấy đến đó lễ bái thay cho mình thì vị đệ tử ấy được phép nghiêng mình nhận lễ của Hòa thượng (gửi).
đại lộ
Boulovard—Avenue.
đại lộ biên
Xem Châu lỵ bàn đà già.
đại lộ biên sanh
1) Được sanh ra bên lề xa lộ: Born by the highway side. 2) Thuần Đà, một trong những vị đệ tử cuối cùng của Đức Phật: Cunda, one of the Buddha's last disciples.
đại lộ thần
Mahānagna (S)Nặc kiện na.
đại lục
Mainland—Continent.
Đại Lữ
(大呂): có 2 nghĩa chính: (1) Tên gọi âm thanh thứ nhất trong 6 loại âm thanh thuộc về Âm, có hình dung âm nhạc hoặc ngôn từ trang nghiêm, chính đại, cao diệu, hài hòa. Âm này tương đương với âm Đoạn Kim (斷金, dangin) trong 12 âm luật của Nhật Bản, cao hơn Hoàng Chung (黃鐘) một luật. Như trong chương Xuân Quan (春官), Đại Ty Nhạc (大司樂) của Chu Lễ (周禮) có câu: “Nãi tấu Hoàng Chung, ca Đại Lữ, vũ Vân Môn, dĩ tự thiên thần (乃奏黃鐘、歌大呂、舞雲門、以祀天神, bèn tấu điệu Hoàng Chung, ca điệu Đại Lữ, múa khúc Vân Môn, để tế thiên thần).” (2) Tên gọi khác của tháng 12 Âm Lịch. Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 có giải thích về Đại Lữ rằng: “Sửu vi Đại Lữ, thập nhị nguyệt chi thần danh Sửu; Sửu giả, nữu dã; ngôn cư chung thỉ chi tế, cố dĩ Sửu vi danh (丑爲大呂、十二月之辰名丑、丑者、紐也、言居終始之際、故以丑爲名, Sửu là Đại Lữ, chi của tháng Mười Hai là Sửu; Sửu là nữu [buộc, thắt], nghĩa là sống tận cùng từ đầu đến đuôi, nên lấy Sửu làm tên).” Trong Biện Chánh Luận (辯正論, Taishō Vol. 52, No. 2110) quyển 4 có đoạn: “Viên hữu trung Thiên Trúc quốc Tam Tạng Pháp Sư, bổn Sát Lợi vương chủng tánh, Sát Lợi đế danh Ba La Phả Ca La Mật Đa La, Đường ngôn tác Minh Tri Thức, viễn văn Đường quốc hoằng xiển Đại Thừa, cố thiệp Thông hà lai du Thánh thế, dĩ Trinh Quán nguyên niên Đại Lữ chi nguyệt, cung tê Phạn bản đạt hồ thượng kinh (爰有中天竺國三藏法師、本剎利王種姓、剎利帝名波羅頗迦羅密多羅、唐言作明知識、遠聞唐國弘闡大乘、故涉蔥河來遊聖世、以貞觀元年大呂之月、躬齎梵本達乎上京, bèn có Tam Tạng Pháp Sư nước Thiên Trúc [Ấn Độ], vốn dòng họ vua Sát Đế Lợi, vua Sát Đế Lợi tên là Ba La Phả Ca La Mật Đa La, Tàu gọi là Minh Tri Thức, xa nghe nhà Đường xiển dương Đại Thừa rộng khắp, nên vượt qua sông Thông mà đến giao du với nhà vua; vào tháng Chạp năm đầu [627] niên hiệu Trinh Quán, cung kính mang các bản kinh tiếng Phạn lên kinh đô).”
Đại Lực
(大力): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho sức mạnh của đại tự nhiên. Như trong bài Trường Ca Hành (長歌行) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Đại lực vận thiên địa (大力運天地, đại lực vận hành trời đất).” (2) Chỉ sức mạnh vô cùng to lớn. (3) Tôn xưng của đức Phật, chỉ cho đấng có sức mạnh tâm linh trí tuệ to lớn, có thể đoạn tận phiền não, vô minh. Như trong Phật Thuyết Đại Thừa Bồ Tát Tạng Chánh Pháp Kinh (佛說大乘菩薩藏正法經, Taishō Vol. 11, No. 316) quyển 26 có đoạn: “Ư kỳ chánh pháp bất nhạo thân cận, thiết kiến hữu nhân ư chư khế kinh, nhi sanh cung kính tôn trọng cúng dường, hữu đại lực năng chủng chủng xưng tán (於其正法不樂親近、設見有人於諸契經、而生恭敬尊重供養、有大力能種種稱讚, đối với chánh pháp của vị ấy không muốn gần gủi, như thấy có người đối với các khế kinh, mà sanh cung kính tôn trọng cúng dường, có năng lực lớn có thể xưng tán các loại).” Hay trong Thích Thiền Ba La Mật Thứ Đệ Pháp Môn (釋禪波羅蜜次第法門, Taishō Vol. 46, No. 1916) quyển 10 có câu: “Lợi căn Thanh Văn cụ thử lục pháp Phát Chân Vô Lậu, tức thành bất hoại pháp đại lực A La Hán (利根聲聞具此六法發眞無漏、卽成不壞法大力阿羅漢, Thanh Văn lợi căn có đủ sáu pháp Phát Chân Vô Lậu này, tức thành A La Hán có năng lực lớn không hoại pháp).”
đại lực
Great in power—The great powers obtainable by a bodhisattva: 1) Chí lực: Will. 2) Ý lực: Mind. 3) Hành lực: Action. 4) Tàm lực: Shame to do evil. 5) Huệ lực: Wisdom. 6) Cường lực: Energy. 7) Trì lực (Sức tu trì): Firmness. 8) Đức lực: Virtue. 9) Biện lực: Reasoning. 10) Sắc lực: Personal appearance. 11) Thân lực: Physical powers. 12) Tài lực: Wealth. 13) Thần lực: Spirit. 14) Thần thông lực: Magic. 15) Hoằng pháp lực: Spreading the truth. 16) Hàng ma lực: Subduing demons.
đại lực bồ tát
Mahāvikramin (S)Tên một vị Bồ tát.
đại lực giả
Balin (skt)—Vị có sức mạnh to lớn, một danh hiệu của Đức Phật—The strong one, an epithet of the Buddha.
đại lực kim cang
Đại Lực Kim Cang trong nhóm “Pháp Giới,” một vị hộ pháp đắc lực—The mighty “diamond” or Vajra-maharaja in the Garbhadhatu group, a fierce guardian and servant of Buddhism.
đại lực kim cang bồ tát
Mahā-bala (S).
đại lực kim cang châm bồ tát
Xem Kim Cang Châm Bồ tát.
đại lực kim cương bồ tát
(大力金剛菩薩) Đại lực, Phạm: Mahà-bala, dịch âm: Ma ha phạ la. Vị Thị giả được đặt ở phía trái của bồ tát Kim cương tát đỏa hàng thứ nhất trong viện Kim cương thủ trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu: Đại cần kim cương, chủng tử là (he), hình tam muội da là chày một chĩa. Hình tượng vị này mồm mở to, mắt giận dữ, tóc lửa dựng ngược, cánh tay phải co lại, bàn tay ngửa lên để ở trước ngực, bốn ngón tay hơi co, ngón cái duỗi thẳng, khuỷu tay trái đưa lên, cầm chày một chĩa, hai bàn chân đạp lên hoa sen. Mình mặc áo trời, hai chéo áo bay phấp phới ở hai bên. Nhưng Thai tạng đồ tượng thì nói, hai tay vị tôn này đều cầm chày một chĩa và giao nhau đặt ở trước ngực, ngồi bán già. [X. Quảng đại nghi quĩ Q.4; Thai tạng giới mạn đồ la tư sao; Thai tạng giới mạn đồ la tôn vị hiện đồ sao tư Q.2].
đại lực sĩ
Mahā-balavān (P).
đại lực trụ địa
(大力住地) Cũng gọi Đại lực trụ trì, Đại lực vô minh. Tức là căn bản vô minh (vô minh gốc rễ). Căn bản vô minh có năng lực lớn, có thể sinh khởi và làm chỗ nương cho tất cả nhiễm pháp chi mạt (ngành ngọn) cũng như mặt đất là chỗ nương cho muôn vật, vì thế gọi là Đại lực trụ địa. [X. luận Thích ma ha diễn Q.2; Thích luận phổ quán kí Q.2; Thích luận danh mục].
đại lực vương
Đại Lực Vương, được ghi nhận bởi lòng bố thí không ngằn mé của ông. Vua Trời Đế Thích muốn thử lòng ông bèn hiện ra như một vị Bà Môn đến xin thịt của Ngài; Đại Lực Vương không ngần ngại cắt cánh tay cho ngay. Vua Trời Đế Thích hồi đó chính là Đề Ba Đạt Đa, còn Đai Lực Vương chính là Phật Thích Ca Mâu Ni—King Powerful, who was noted for his unstinted generosity. Indra to test him appeared as a Brahman and asked for his flesh; the king ungrudgingly cut off and gave him his arm. Idra was then Devadatta, King Powerful was Sakyamuni.
đại lực vương kim cang
See Đại Lực Kim Cang và Đại Lực Vương.
đại lực đại sư
Tali (C).
Đại lực 大力
[ja] ダイリキ dairiki ||| (1) Great power or energy. Excellent abilities. (2) A term for a type of saṃādhi. (3) The name of a bodhisattva. 〔法華經 T 262.9.02a11〕 => Có các nghĩa sau: 1. Năng lực hoặc sinh lực vĩ đại. Khả năng ưu việt. 2. Thuật ngữ chỉ một loại định lực. 3. Danh hiệu của một vị Bồ-tát.
Đại Ma-lý-chi bồ-tát kinh 大摩里支菩薩經
[ja] ダイマリシボサツキョウ Dai marishibosatsu kyō ||| The Da molizhi pusa jing; Skt. [ārya-]Mārīcī-dhāraṇī; Tib. ['phags pa] 'od zer can shes bya ba'i gzungs [To.566, P.184]; (Sutra of Great Mārīcī, the Bodhisattva). 7 fasc. (T 1257), trans. Tianxizai 天息災. Describes procedures for evoking the goddess Mārīci 摩里支 through recitation, offerings, and so on. See also (T 1255-1256). For an English translation see Hall (1990). BGBT4/93-4. => (c: Da molizhi pusa jing; Skt. [ārya-]Mārīcī-dhāraṇī; Tib. ['phags pa] 'od zer can shes bya ba'i gzungs ; e: Sutra of Great Mārīcī, the Bodhisattva). 7 quyển. Thiên Tức Tai (Tianxizai 天息災) dịch. Trình bày phương thức cầu nguyện nữ thần Ma-lý-chi (Mārīci 摩里支) qua tụng kinh, cúng dường v.v... Có thể đọc bản dịch tiếng Anh của Hall (1990).
đại mai
851即浙江鄞縣大梅山。位於鄞縣東南四十公里,以山上有大梅樹,故名大梅。唐貞元十二年(796),馬祖之法嗣法常,自天台山來此棲隱,故後世稱之為大梅法常。(參閱「法常」3384)
Đại Mai Pháp Thường
大梅法常; C: dàméi fǎcháng; J: daibai hōjō; 752-839; |Thiền sư Trung Quốc. Pháp tự của Mã Tổ Ðạo Nhất Thiền sư và thầy của Hàng Châu Thiên Long.|Sư họ Trịnh, quê ở Tương Dương. Sư đã nghiên cứu học hỏi triết lí Phật pháp hơn 30 năm trước khi đến tham vấn Mã Tổ. Sư hỏi Tổ: »Thế nào là Phật?« Tổ đáp: »Tức tâm là Phật.« Nhân đây Sư đại ngộ.|Sau khi được truyền tâm ấn, Sư đến núi Ðại Mai kết cỏ làm am, ẩn túc trong rừng mai suốt 30 năm. Mã Tổ nghe Sư ở núi bèn sai một vị tăng đến thăm dò. Tăng đến hỏi Sư: »Hoà thượng gặp Mã Tổ đã được cái gì, về ở núi này?« Sư đáp: »Mã Tổ nói với tôi: Tức tâm là Phật, tôi bèn đến ở núi này.« Tăng lại nói: »Gần đây Mã Tổ lại nói: Phi tâm phi Phật.« Sư đáp: »Ông già mê hoặc người chưa có ngày xong, mặc ông phi tâm phi Phật, tôi chỉ biết tức tâm là Phật.« Vị Tăng trở về thuật lại cho Mã Tổ. Tổ nói: »Ðại chúng! Trái mai đã chín!«|Một hôm Sư gọi chúng đến bảo: »Ðến không thể kềm, đi không thể tìm.« Nghe tiếng chuột kêu Sư lại nói: »Tức vật này không phải vật khác, các ngươi phải khéo gìn giữ, nay ta đi đây.« Nói xong Sư tịch, thọ 88 tuổi.
đại mai pháp thường
Tamai Fa-cheng (C), Daibai Hojo (J), Taiba Hōjō (J), Damei Fachang (C)Tên một vị sư. (752-839) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Mã Tổ Đạo Nhất.
đại mai pháp thường thiền sư
Zen master T'a-Mei-Fa-Chang—Thiền sư Đại Mai sanh năm 752 tại Tương Dương (bây giờ thuộc tỉnh Hồ Bắc), là đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất—Zen master T'a-Mei-fa-Chang was born in 752 in Xiang-Yang (now in Hu-bei province), was a disciple of Ma-Tsu-T'ao-Yi. • Ban sơ đến tham vấn Mã Tổ, sư hỏi: “Thế nào là Phật?” Mã Tổ đáp: “Tức tâm là Phật.” Sư liền đại ngộ—Upon his first meeting with the great teacher Ma-Tsu, T'a-Mei asked him: “What is Buddha?” Ma-Tsu said: “Mind is Buddha.” Upon hearing these words, T'a-Mei experienced great enlightenment. • Trong hội Diêm Quang (chỗ giáo hóa của Thiền sư Tề An) có vị Tăng vào núi tìm cây gậy, lạc đường đến am sư. Vị Tăng hỏi: “Hòa Thượng ở núi nầy được bao lâu?” Sư đáp: “Chỉ thấy núi xanh lại vàng bốn lần như thế.” Vị Tăng hỏi: “Ra núi đi đường nào?” Sư nói: “Đi theo dòng suối.” Vị Tăng về học lại cho Thiền sư Tề An nghe, Tề An nói: “Ta hồi ở chỗ Mã Tổ từng thấy một vị Tăng, sau nầy không biết tin tức gì, có phải là vị Tăng này chăng?” Tề An bèn sai vị Tăng ấy đi thỉnh sư xuống núi. Sư có bài kệ: “Tồi tàn khô mộc ỷ hàn lâm Kỷ độ phùng xuân bất biến tâm Tiều khách ngộ chi du bất cố Dĩnh nhơn na đắc khổ truy tầm.” (Cây khô gãy mục tựa rừng xanh Mấy độ xuân về chẳng đổi lòng Tiều phu trông thấy nào đoái nghĩ Dĩnh khách thôi thì chớ kiếm tìm). During the Zheng-He era (785-820), a monk in Zen Master Yan-Quang Qi-An's congregation was collecting wood for making monks' staffs when he became lost. Coming upon Zen master T'a-Mei Fa-Chang's cottage, he asked: “Master, how long have you been living here?” T'a-Mei said: “I have seen the mountain's green change to brown four times.” The monk then asked: “Where's the road down off the mountain?” T'a-Mei said: “Follow the flow of the water.” The monk returned to Yan-Kuang and told him about the monk he'd met. Yan-Kuang said: “When I was at Jiang-Xi, studying with Ma-Tsu, I saw such a monk there. I haven't heard any news about him since then. I don't know if it's him or not.” Yan-Kuang then sent a monk to invite T'a-Mei to come for a visit. T'a-Mei responded to the invitation with a poem that said: “A damaged tree stump slumps in the forest. Mind unchanged as springtime pass. A woodcutter passes but still doesn't see it. Why do you seek trouble by pursuing it?” • Mã Tổ nghe sư ở núi bèn sai một vị Tăng đến thăm dò. Tăng đến hỏi sư: “Hòa Thượng gặp Mã Tổ đã được cái gì, về ở núi nầy?” Sư đáp: “Mã Tổ nói với tôi 'Tức tâm là Phật,' tôi bèn đến ở núi nầy.” Vị Tăng bèn nói: “Gần đây giáo pháp Mã Tổ đã thay đổi.” Đại Mai hỏi: “Đổi ra làm sao?” Vị Tăng đáp: “Phi tâm phi Phật.” Đại Mai nói: “Ông già mê hoặc người chưa có ngày xong, mặc ông 'Phi tâm phi Phật,' tôi chỉ biết 'Tức tâm tức Phật.'” Vị Tăng trở về thưa với Mã Tổ những lời sư nói. Mã Tổ nói với đại chúng: “Đại chúng! Trái Mai đã chín.” Từ đây nhiều vị thiền khách tìm đến tham vấn sư—When Ma-Tsu heard that T'a-Mei lived on the mountain, he sent a monk to call upon him and ask the question: “When you saw Master Ma-Tsu, what did he say that caused you to come live on this mountain?” T'a-Mei said: “Master Ma-Tsu said to me: 'Mind is Buddha.' Then I came here to live.” The monk said: “These days Master Ma-Tsu's teaching has changed.” T'a-Mei said: “What is it?” The monk said: “Now he says: 'No mind. No Buddha.'” T'a-Mei said: “That old fellow just goes on and on, confusing people. Let him go ahead and say: 'No mind. No Buddha.' As for me: 'I still say 'Mind is Buddha.'” The monk returned and reported this to Master Ma-tsu. Ma-Tsu said: “The Plum is ripe.” Soon afterward, T'a-Mei's reputation spread widely and students traveled into the mountains to receive his instruction. • Sư thượng đường dạy chúng: “Tất cả các ngươi mỗi người tự xoay tâm lại tận nơi gốc, chớ theo ngọn của nó. Chỉ được gốc thì ngọn tự đến. Nếu muốn biết gốc cần rõ tâm mình. Tâm nầy nguyên là cội gốc tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, tâm sanh thì các thứ pháp sanh, tâm diệt thì các thứ pháp diệt. Tâm chẳng tựa tất cả thiện ác, mà sanh muôn pháp vốn tự như như.”—Zen Master T'a-Mei entered the hall and addressed the monks, saying: “All of you must reserve your mind and arrive at its root. Don't pursue its branches! Attaining its sources, its end will also be reached. If you want to know the source, then just know your own mind. When the mind manifests, the innumerable dharmas are thus manifested. And when the mind manifests, the innumerable dharmas are thus manifested. And when the mind passes away, the myriad dharmas pass away. Mind does not, however, dependently arise according to conditions of good and evil. The myriad dharmas arise in their own thusness.” • Giáp Sơn cùng Định Sơn đồng đi đường cùng nói chuyện với nhau. Định Sơn nói: “Trong sanh tử, không Phật tức phi sanh tử.” Giáp Sơn nói: “Trong sanh tử, có Phật tức chẳng mê sanh tử.” Hai người lên núi lễ vấn sư. Giáp Sơn đem câu nói của hai người thuật lại sư nghe và hỏi sư: “Chưa biết chỗ thấy của hai người ai được thân ? Sư bảo: “Một thân một sơ.” Giáp Sơn hỏi: “Ai được thân?” Sư nói: “Hãy đi sáng mai lại.” Sáng hôm sau Giáp Sơn lại đến hỏi sư. Sư bảo: “Người thân thì chẳng hỏi, người hỏi thì chẳng thân.”—As the monk Jia-Shan and T'ing-Shan were traveling together they had a discussion. T'ing-Shan said: “When there is no Buddha within life and death, then there is no life and death.” Jia-Shan said: “When Buddha is within life and death, there is no confusion about life and death.” The two monks couldn't reach any agreement, so they climb the mountain to see T'a-Mei Fa-Chang. Jia-Shan raised their question with T'a-Mei and asked: “We'd like to know which viewpoint is most intimate?” T'a-Mei said: “Go now. Come back tomorrow.” The next day Jia-Shan again came to T'a-Mei and raised the question of the previous day. T'-Mei said: “The one who's intimate doesn't ask. The one who asks isn't intimate.” • Một hôm, sư chợt gọi đồ chúng đến bảo: “Đến không thể kềm, đi không thể tìm.” Sư ngừng một lúc, khi nghe tiếng sóc kêu, sư lại hỏi: “Tức vật nầy không phải vật khác, các ngươi phải khéo giữ gìn. Nay ta đi đây.” Nói xong sư thị tịch (839)—One day, T'a-Mei suddenly said to his disciples: “When it comes, it can't be held back. When it goes, it can't be pursued.” He paused a moment, when the monks heard the sound of a squirrel. T'a-Mei said: “It's just this thing! Not some other thing! Each of you! Uphold and sustain it well. Now I pass away.” Upon saying these words T'a-Mei left the world (839).
Đại Mai Sơn Thường Thiền Sư Ngữ Lục
(大梅山常禪師語錄, Daibaizanjōzenjigoroku): xem Minh Châu Đại Mai Sơn Thường Thiền Sư Ngữ Lục (明州大梅山常禪師語錄, Meishūdaibaizanjōzenjigoroku).
đại mang luân đồng tử kinh
Mahā-Malunkyovada sutta (P), Sutra on The Greater Instructions to Malunkya Mang luân đồng tử kinhTên một bộ kinh.
đại mani
The great precious mani.
Đại Mi Tánh Thiện
(大眉性善, Daibi Shōzen, 1616-1673): vị tăng của Hoàng Bá Tông Trung Quốc, hiệu là Đại Mi (大眉), tự Lương Giả (良者), họ Hứa (許), xuất thân Huyện Tấn Giang (晉江縣), Tuyền Châu (泉州, Tỉnh Phúc Kiến), sanh ngày 14 tháng 2 năm thứ 44 (1616) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Năm 17 tuổi, ông đến đầu sư với Ẩn Nguyên Long Kỷ (隱元隆琦) ở Sư Tử Nham (獅子巖), Phúc Thanh (福清), cùng thầy sắp xếp kế hoạch sang du hóa Nhật Bản. Đến năm thứ 3 (1654) niên hiệu Thừa Ứng (承應), ông cùng với Ẩn Nguyên sang Nhật và đã từng làm chức Duy Na cho Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) ở Trường Khi (長崎, Nagasaki), Phổ Môn Tự (普門寺, Fumon-ji) ở Phú Điền (富田), Nhiếp Tân (攝津, Settsu, thuộc Ōsaka-fu [大阪府]). Vào năm đầu (1661) niên hiệu Khoan Văn (寛文), ông làm Đô Tự (都寺) cho Vạn Phước Tự (萬福寺, Manfuku-ji) ở Hoàng Bá Sơn (黃檗山), Vũ Trị (宇治, Uji, thuộc Kyōto-fu [京都府]), đến năm sau ông xây dựng Đông Lâm Am (東林庵) trong núi và lui về ẩn cư. Đến năm thứ 5 (1665) cùng niên hiệu trên, ông kế thừa dòng pháp của Ẩn Nguyên. Vào tháng 2 năm thứ 10 (1670), ông làm Yết Ma A Xà Lê (羯摩阿闍梨) cho ba Giới Đàn trên Hoàng Bá Sơn. Đến mùa Thu năm đầu (1673) niên hiệu Diên Bảo (延寶), ông nhường Đông Lâm Am lại cho Thiết Nhãn Đạo Quang (鐵眼道光), xây dựng Pháp Tàng Viện (法藏院) để tàng trữ các bản khắc gỗ của kinh tạng. Vào ngày 18 tháng 10 cùng năm này, ông thị tịch, hưởng thọ 58 tuổi đời và 42 hạ lạp. Trước tác của ông có Đông Lâm Đại Mi Hòa Thượng Ngữ Lục (東林大眉和尚語錄) 1 quyển. Đệ tử nối dòng pháp của ông có Mai Lãnh Đạo Tuyết (梅嶺道雪).
đại minh
Mặt trời—Sun.
đại minh bạch thân bồ tát
798大明白身,梵名 Gaurī mahāvidya,音譯毫利摩訶微地也。為密教安於現圖胎藏曼荼羅觀音院內第五位之菩薩。密號常淨金剛、放光金剛,種子為逘(sa,諦不可得之義),三昧耶形為開敷蓮花。身呈淺黃色,右手屈臂,手掌上仰,置於胸前;左手屈肘,手掌向上,執開敷之蓮花,坐於赤蓮花上。大悲空智金剛大教王儀軌經卷四金剛王出現品以此尊為八明妃之一,名遨哩明妃(藏 Gos-dkar-mo,意譯白衣女),蓋以此尊與白衣觀音同體。〔玄法寺儀軌卷一、胎藏界七集卷上、阿娑縛抄卷二○七胎曼釋上、大日經疏演奧鈔卷十六本〕
; Gauri-Mahāvidyā (S)Tên một vị Bồ tát.
; Vị Bồ Tát có thân trắng, vị thứ sáu đứng hàng đầu trong Thai Tạng Giới, nhóm Quán Thế Âm—The great bright white-bodied Bodhisattva, sixth in the first row of the Garbhadhatu Kuan-Yin group.
; (大明白身菩薩) Đại minh bạch thân, Phạm: Gaurì mahàvidya, dịch âm: Hào lị ma ha vi địa dã. Vị Bồ tát ở vị trí thứ 5 trong viện Quan âm trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Thường tịnh kim cương, Phóng quang kim cương, chủng tử là (sa, nghĩa là Đế bất khả đắc), hình tam muội da là hoa sen nở. Hình tượng Ngài thân mầu vàng nhạt, cánh tay phải co lại, bàn tay ngửa lên đặt ở trước ngực; khuỷu tay trái co, bàn tay hướng lên, cầm hoa sen nở, ngồi trên hoa sen mầu đỏ. Phẩm Kim cương vương xuất hiện trong kinh Đại bi không trí Kim cương đại giáo vương nghi quĩ quyển 4 cho vị tôn này là một trong tám vị Minh phi, tên là Ngao lí minh phi (Tạng: Gos-dkar-mo, Hán dịch: Bạch y nữ), là vì vị tôn này đồng thể với bồ tát Quan âm Bạch y. [X. Huyền pháp tự nghi quĩ Q.1; Thai tạng giới thất tập Q.thượng; Thai mạn thích phần trên trong A sa phọc sao Q.207; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.16 phần đầu].
đại minh bảo
799(1114~1173)宋代曹洞宗僧。磁州(河北)人,俗姓武。幼習儒典,八歲出家,十九歲從寂照菴之祖榮學禪,年二十七試經、受具足戒。後離祖榮,於燕京萬壽寺參謁住持青州普照寺之希辨,得嗣其法。後隱於山東泗水之靈光。三十六歲,住持於長清縣泰山之靈巖寺、仰山棲隱寺。貞元三年(1155),應民之請,歸返磁州,住於大明寺,致力於該寺之復興,禪風大振。晚年復隱於紫山、谼峪。大定十三年七月示寂,世壽六十,法臘三十四。〔五燈會元續略卷一、五燈全書卷六十一、佛祖道影卷三〕
đại minh cao tăng truyện
799請參閱 大明度無極經 請參閱 大明度無極經 凡八卷。明代如惺撰。略稱明高僧傳。今收於大正藏第五十冊。係集錄南宋初至明神宗萬曆年中約五百年間高僧之事蹟。分為譯經、解義、習禪三篇,計收正傳一三八人,附傳七十一人。本書述作之由來,據卷首自序載,乃作者鑑於漢明帝以來所編撰之僧史或高僧傳,大多終止於宋代,為彰顯明代諸聖僧之行誼,俾使天下沙門見賢思齊,遂撰此書。
; (大明高僧傳) Gồm 8 quyển, do ngài Như tỉnh soạn vào đời Minh, thu vào Đại chính tạng tập 50. Nội dung thu chép tiểu sử của các bậc cao tăng trong khoảng 500 năm từ đầu đời Nam Tống đến năm Vạn lịch đời vua Thần tông nhà Minh thuộc ba lãnh vực: Dịch kinh, Giải nghĩa, Tập thiền và chia làm hai phần. Phần thứ1là truyện chính, gồm 138 vị; phần thứ 2 là truyện phụ, gồm 71 vị.
đại minh cung
1545位於臺灣基隆市仁愛區。創建於清咸豐十一年(1861),舊稱源齋堂,為基隆市最早之佛堂,亦為當地在家居士宣揚佛教之始。民國十年(1921)第二次重修擴建,改稱代明宮。正殿奉安本尊三寶,左右及中殿供奉諸佛菩薩。五十八年第四次擴建重修,雕樑畫棟,殿宇堂皇。
Đại Minh Pháp Sư
(大明法師, Daimyō Hōshi, ?-?): hay còn gọi là Quýnh Pháp Sư (炅法師), chính là thầy của Ngưu Đầu Pháp Dung (牛頭法融, 594-657), người sau này được đưa vào hệ Thiền Tông. Ông vốn là học giả của Tam Luận Tông, sống dưới thời Tùy Đường, đã từng tu học với Pháp Lãng (法朗, 507-581) ở Hưng Hoàng Tự (興皇寺), Dương Đô (楊都, Nam Kinh). Sau đó ông vào Mao Sơn (茅山, cách 45 dặm về phía đông nam Huyện Cú Dung, Giang Tô), chuyên tâm hoằng dương Trung Luận (中論) và cho đến cuối đời không một lần hạ sơn. Môn hạ của ông có Huệ Hạo (慧暠), Pháp Mẫn (法敏), Huệ Lăng (慧稜), Huệ Tuyền (慧璿), v.v.
đại minh phật
Great Brightness Buddha Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Great brightness Buddha.
đại minh quốc sư
Daimin Kokushi (J)Tên một vị sư.
đại minh tam tạng pháp số
797凡五十卷。明代一如奉敕編纂。略稱大明法數、三藏法數。本書係輯自大藏經典中諸法數之名詞,依增數法類編撰而成。名目起自「一心」,終於「八萬四千法門」計收一五五五條,每條並附有略解,凡出於某經某論或某某撰述者,皆詳注於各條之下;若遇各家或各宗派說法不同,則徵引諸家之異說,內容極為詳備。民初黃理齋據該書另編通檢一冊,將一五五五條中所引之各類名詞,一一析出,令初學者方便檢閱。〔法華科註序、釋鑑稽古略續集卷三、佛典疏鈔目錄卷下〕
; (大明三藏法數) Gồm50 quyển, do ngài Nhất như vâng mệnh vua biên soạn vào đời Minh. Gọi tắt: ại Minh pháp số, Tam tạng pháp số. Sách này thu tập các danh từ pháp số trong Đại tạng kinh, rồi sắp xếp theo thứ tự từ số nhỏ đến số lớn mà biên soạn thành. Danh mục bắt đầu từ Nhất tâm và chung kết là Bát vạn tứ thiên pháp môn gồm 1.555 điều mục, mỗi điều mục đều có thêm phần giải thích vắn tắt, nói rõ xuất xứ từ kinh nào, luận nào hoặc soạn giả nào. Ngoài ra, nếu gặp trường hợp các nhà hoặc các tông phái có những quan điểm bất đồng thì có trưng dẫn đầy đủ và rõ ràng để tiện đối chiếu. Đầu năm Dân quốc (1911), Hoàng lí trai căn cứ vào sách này biên soạn thêm 1 quyển Thông kiểm, phân tích, giải thích các loại danh từ trong 1.555 điều mục, để giúp người mới học dễ tra cứu. [X. Pháp hoa khoa chú tự; Thích giám kê cổ lược tục tập Q.3; Phật điển sớ sao mục lục Q.hạ].
đại minh tam tạng thánh giáo mục lục
798凡四卷。略稱北藏目錄。明朝永樂年間(1403~1424)下詔南京與北京分別寫錄、翻刻大藏經,是為南藏、北藏。大明三藏聖教目錄亦即北藏之目錄。(參閱「中文大藏經」1001)
; Sách ghi chép lại mục lục Tam tạng Kinh Điển dưới thời vua Vĩnh Lạc nhà Minh. Đây là mục lục của Bắc Tạng—The Great Ming dynasty catalogue of the Tripitaka, made during the reign of the emperor Yung Lo. It is the catalogue of the northern collection.
; (大明三藏聖教目錄) Gồm 4 quyển. Gọi tắt: Bắc tạng mục lục. Khoảng năm Vĩnh lạc (1403-1424) đời Minh, triều đình hạ chiếu cho Nam kinh và Bắc kinh đều khắc in Đại tạng kinh, đó là Nam tạng và Bắc tạng. Bộ Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục này là mục lục của Bắc tạng. (xt. Trung Văn Đại Tạng Kinh).
đại minh tục nhập tạng chư tập
Kinh điển linh tinh của Phật giáo được sưu tập dưới thời nhà Minh, từ khoảng 1368 đến 1644 sau Tây Lịch—Supplementary miscellaneous collection of Buddhist books, made under the Ming dynasty from 1368 to 1644 A.D.
đại minh tự
798<一>即古之棲靈寺,位於江蘇江都縣西北約二千八百公尺。又稱西寺。為我國揚州名剎。別稱平山堂。唐朝鑑真法師曾於此弘戒。本寺建於南朝宋孝武帝大明(457~464)年間,稱為大明寺。隋仁壽元年(601)於寺中建九層塔,稱為棲靈塔。唐宋期間,大明寺與棲靈寺二名並存,兩代有關該寺之詩文記載頗多,素以「天下第五泉,淮東第一觀」馳名於世。會昌三年(843),塔遭大火,棲靈寺之名漸晦,而大明寺之名仍著。五代十國時,吳主楊行密曾加興修,復建寺塔。宋代歐陽修築堂宇於大明寺之右,稱為平山堂,第五泉即位於堂之西南。至明代僅存寺基,英宗天順年間(1457~1464),僧智滄溟遊五臺歸揚州,就該寺遺址重建,其後迭有增建,歷數代而規模大備。清初復名為棲靈寺。乾隆三十年(1765),帝遊蜀岡時,賜名「法淨寺」。然揚州人仍稱之為平山堂。民初經政府一再興修,成為遊覽勝境。現為鑑真東渡事跡之陳列處。 <二>位於河南濟源縣。始建於宋代,歷代多有修茸,現存之殿宇為明代之建築。
; Daimy-ji (J)Tên một ngôi chùa.
đại minh vương
Các Minh Vương sứ giả của Phật Tỳ Lô Giá Na—The angels or messengers of Vairocana. **For more information, please see Minh Vương.
đại minh vương bạch thân bồ tát
The Great Bright White-bodied bodhisattva.
đại minh độ vô cực kinh
798凡六卷。又稱大明經、大明度經。吳.支謙譯。收於大正藏第八冊。內分三十品,有:行品、天帝釋問品、清淨品、不可計品、守空品、強弱品、囑累阿難品等。大明,即摩訶般若之意譯;度無極,即波羅蜜之意譯。本經之同本異譯經較重要者有:後漢支婁迦讖所譯之道行般若經十卷、後秦鳩摩羅什所譯之小品般若波羅蜜經十卷、唐玄奘所譯之大般若經第四分等〔出三藏記集卷二、歷代三寶紀卷五、開元釋教錄卷二〕
; (大明度無極經) Gồm 6 quyển. Cũng gọi Đại minh kinh, Đại minh độ kinh, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, thu vào Đại chính tạng tập 8. Đại minh là dịch ý của Ma ha bát nhã; Độ vô cực là dịch ý của Ba la mật. Nội dung gồm có 30 phẩm như: Hành phẩm, Thiên đế thích vấn phẩm, Thanh tịnh phẩm, Bất khả kế phẩm, Thủ không phẩm, Cường nhược phẩm, Chúc lụy A nan phẩm v.v... Kinh này còn có các bản dịch khác như: - Kinh Đạo hành bát nhã 10 quyển, do ngài Chi lâu ca sấm dịch vào đời Hậu Hán. - Kinh Tiểu phẩm bát nhã ba la mật 10 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần. - Kinh Đại bát nhã phần thứ tư, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường v.v... [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.2]
đại mãn
Viśākhā (S)Tỳ xá khư, Thiện Chi, Lộc Mẫu1- Một bà lão tu tại gia ở thành Xá lợi. Trong hàng nữ tu tại gia thời Phật tại thế, bà Tỳ xá khư là người có công lớn hơn hết. 2- Một trong Dạ xoa bát đại tướng: Bảo Hiền, Mãn Hiền, Mật Chủ, Oai Thần, Ứng Niệm, Đại Mãn, Vô tỷ lực, Mật Nghiêm. 3- Thiện Chi: Mẹ của Câu lưu tôn Phật lúc chưa xuất gia.
; Mahapurna—King of monsters birds or garudas who are enemies of the nagas or serpents—Great complete—Full complete.
đại mãn nguyện nghĩa bồ tát
One of the sixteen bodhisattvas of the southern quarter, born by the will of Vairocana (Đại Nhựt Như Lai).
Đại Mãn 大滿
[ja] ダイマン daiman ||| (1) Great completion; great fullness. (2) The name of a monk. See 弘忍. (3) The name of a garuḍa-king.〔法華經 T 262.9.2b4〕 => 1. Hoàn toàn viên mãn; thành tựu to lớn. 2. Pháp danh của một vị tăng. Xem Hoằng Nhẫn. 3. Tên của một loại Ca-lầu-la vương.
đại mãng thần
Xem Ma hầu la dà.
đại môn
802請參閱 大金色孔雀王咒經 或孔雀王雜神咒經 又作總門。日本寺院最外圍之正門,若以東西南北之方位分,則有東大門、南大門、西大門、北大門之別。
đại mông sơn thí thực
879蒙山施食,旨在利濟孤魂。蒙山,位於今四川名山縣。宋時有不動上師,人稱甘露大師,居於四川蒙山,曾為普濟幽靈,集瑜伽焰口及密宗諸部,輯成蒙山施食,成為佛門必備課誦儀軌。及至近代,有興慈大師力倡蒙山施食,並加入六番開示,稱為大蒙山施食。 施放大蒙山施食時,中間置一法壇,上供佛像,中置香花時果、香爐燭臺,備白米清水各一杯,並請大僧主壇說法;法壇對面設一孤魂臺,供十方法界六道群靈之位,於起香後,以黃布或繩圍至法壇前,令諸鬼神於此禮拜,聞法受食,使無所障礙,得大利益,施放大蒙山施食之時,以戊亥二時為宜,一般施放蒙山亦於晚殿時舉行。
; (大蒙山施食) Nghi thức cúng thức ăn cho các cô hồn. Mông sơn thuộc huyện Danh sơn, tỉnh Tứ xuyên hiện nay. Vào thời Tống, có thượng sư Bất động, người đời gọi ngài là đại sư Cam lộ, ở núi Mông sơn, thu tập các bộ Du già diệm khẩu và Mật tông biên soạn thành nghi thức cúng tế cô hồn, gọi là Mông sơn thí thực mà đã trở thành khóa tụng hằng ngày trong Phật giáo. Gần đây, đại sư Hưng từ đề xướng Mông sơn thí thực có bổ sung thêm sáu lần khai thị, gọi là Đại mông sơn thí thực. Khi cử hành nghi thức Đại mông sơn thí thực, một pháp đàn được thiết lập ở giữa, trên thờ tượng Phật, hương đèn hoa quả, lư hương, đài nến, một chén gạo trắng, một chén nước trong. Đối diện với pháp đàn, bày một bàn thờ cô hồn, có bài vị của lục đạo quần linh trong mười phương pháp giới; sau khi thắp hương, lấy vải vàng hoặc sợi dây chuyền đến trước pháp đàn để cho các quỉ thần lễ bái, nghe pháp và nhận thức ăn. Nghi thức Đại mông sơn thí thực nên cúng vào các giờ Tuất, Hợi (tức là từ 19 giờ đến 23 giờ), nhưng hiện nay các chùa thường cúng vào buổi chiều.
đại mạc
Great desert.
đại mạn (ngã mạn cống cao)
Extreme arrogance.
đại mạn đà la
The great mandala—Một trong bốn loại Mạn Đồ La, vẽ hoặc tạc hình tướng và hình thể chư Phật và chư Bồ Tát trong trường phái Mật Tông—One of the four groups of Buddhas and bodhisattvas of the esoteric school.
đại mạn đà la vương
See Mạn Đà La Vương.
đại mạn đồ la
847請參閱 大般涅槃經集解 <一>密教以五大所成的佛菩薩之法體,或以五大之色綵繪佛菩薩相好具足之尊體。所謂五大即地大、水大、火大、風大、空大等能生成萬法之五種要素,其次第配對之色為黃、白、紅、黑、青等五色。又稱摩訶曼荼羅、大曼。為四種曼荼羅之一。即於如來三種祕密身中,由五大所成的相好具足之形像,稱為大曼荼羅。或修五相成身觀而成就本尊瑜伽的行者之身,亦稱大曼荼羅。此外,以五大之色,綵畫圖像,一般亦稱大曼荼羅。若就金剛界曼荼羅而言,金剛頂瑜伽經初品所說六曼荼羅中之初者即稱大曼荼羅,即指金剛界曼荼羅成身會中諸尊之畫像。此大曼荼羅,可配於四種法身中之自性法身、三密中之身密、三寶中之佛寶。〔理趣釋卷上、即身成佛義、陀羅尼門諸部要目〕 <二>為日本佛教用語。乃日本日蓮宗所說圓實大乘之曼荼羅。又稱輪圓具足曼荼羅、十界圓具曼荼羅、十界勸請曼荼羅。即以文字圖顯法華經本門八品虛空會之會座儀式。
; (大曼荼羅) I. Đại mạn đồ la. Mật giáo dùng năm mầu vàng, trắng, đỏ, đen, xanh tương ứng với năm đại (đất, nước, lửa, gió, không) để vẽ hình tượng của Phật và Bồ tát có đầy đủ tướng hảo trang nghiêm, gọi là Đại mạn đồ la. Cũng gọi Ma ha mạn đồ la, Đại mạn. Là một trong 4 loại mạn đồ la. Hoặc là thân của hành giả nhờ tu quán Ngũ tướng thành thân mà thành tựu được bản tôn Du già, thì cũng gọi là Đại mạn đồ la. Nếu nói theo Kim cương giới mạn đồ la, thì mạn đồ la đầu tiên trong sáu mạn đồ la đã được nói trong phẩm thứ nhất của kinh Kim cương đính du già, tức là Đại mạn đồ la, tức là chỉ cho tượng vẽ các vị tôn trong hội Thành thân của mạn đồ la Kim cương giới. Đại mạn đồ la này có thể phối với tự tính pháp thân trong bốn thứ pháp thân, thân mật trong tam mật, Phật bảo trong tam bảo. [X. Lí thú thích Q.thượng; Tức thân thành Phật nghĩa; Đà la ni môn chư bộ yếu mục]. II. Đại mạn đồ la. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Cũng gọi Luân viên cụ túc mạn đồ la, Thập giới khuyến thỉnh mạn đồ la, Thập giới viên cụ mạn đồ la. Tức là dùng đồ biểu văn tự để hiển bày nghi thức hội tọa của hội Hư không trong 8 phẩm Bản môn kinh Pháp hoa theo thuyết của tông Nhật liên Nhật bản.
đại mệnh
The great order—Command—Destiny or fate (life-and-death, mortality, reincarnation).
đại mộng
876比喻生死之境界。往生論註卷上(大四○‧八二八中):「長寢大夢,莫知悕出。」
; The great dream, the dream of life, this life, the world.
; Giấc mộng lớn—Giấc mộng đời—Cuộc đời hay thế giới nầy—Great dream—The dream of life—This life—The world.
; (大夢) Giấc mộng lớn. Ví dụ cho cảnh giới sống chết. Vãng sinh luận chú quyển thượng (Đại 40, 828 trung), nói: Mãi say đại mộng, chẳng mong thoát li.
đại mộng bản sanh kinh
Mahāsupina jātaka (P)Tên một bộ kinh.
đại mục chơn lân đà
Mahāmucilinda (S)Tên một vị sư.
đại mục kiền liên
Xem Mục kiền liên.
; Mahàmaudgalyàyana (S)
; Ma Ha Mục Kiền Liên—Mahamaudgalyayana—See Ma Ha Mục Kiền Liên.
đại nghi
Dai gidan (J), Great doubt.
Đại nghi đoàn
大疑團; J: dai-gidan; nghĩa là »Một khối nghi lớn«; |Một trong ba điều kiện cần thiết để Giác ngộ theo Thiền tông. Hai điều kiện khác là Ðại phấn chí (j: dai-funshi) và Ðại tín căn (dai-shinkon).|Ðại nghi đoàn ở đây không phải là cái nghi ngờ xao dao, hồ nghi, nghi ngờ nơi Phật pháp mà là một trạng thái kinh ngạc, tự phân tích, tự hỏi tâm trạng của chính mình. Thiền sư hiện đại người Nhật là Bạch Vân An Cốc (j: hakuun yasutani) viết như sau về Ðại nghi đoàn:|»Cái quan trọng ở đây không phải là một cái nghi ngờ bình thường, quý vị nên lưu ý! Cái nghi ở đây là cả một khối nghi lớn, một khối nghi xuất phát từ Ðại tín căn. Khối nghi này bắt buộc chúng ta tự hỏi ở chính mình rằng, tại sao thế giới hiện hữu dường như quá không hoàn hảo, đầy ưu sầu khổ não trong khi lòng tin thâm sâu của chúng ta lại bảo rằng, sự thật thì không phải như vậy. Ðó chính là một khối nghi lớn không để chúng ta yên tâm – tương tự như trường hợp chúng ta tự biết mình đều là những triệu phú, nhưng không biết vì lí do gì mà cứ sống trong cảnh cơ hàn, không một xu nào trong túi. Trong trường hợp này thì cường độ của Ðại nghi đoàn tương ưng với Ðại tín căn.«
đại nghi đoàn
Dai-gidan (J).
đại nghĩ nguyên lai
903(1575~1630)明代曹洞宗僧。廬州(安徽合肥)舒城人,俗姓沙。諱元來、大艤,號無異,世稱博山禪師。無明慧經之法嗣。十六歲落髮於五臺山,修空觀五年。旋至無明慧經處參學,閱傳燈錄有所省悟,隨慧經至玉山,嗣其法。明朝萬曆三十年(1602),棲隱於江西博山能仁寺,其時江南各地來求戒者達數萬人,學侶雲集,蔚成叢林。後歷主福建薰巖、寶林、鼓山湧泉等寺。所至之處,大弘教化。崇禎三年示寂,世壽五十六。著有無異元來禪師廣錄三十五卷、無異大師語錄集要六卷。〔續燈存稾卷十一、五燈嚴統卷十六、續燈正統卷三十八〕
; (大艤元來) (1575-1630) Vị Thiền tăng tông Tào động sống vào đời Minh. Người Thư thành, Lô châu (Hợp phì, An huy) họ Sa, húy Nguyên lai, Đại nghĩ, hiệu Vô dị, người đời gọi là Bác sơn thiền sư. Năm 16 tuổi, sư xuất gia ở núi Ngũ đài, tu pháp không quán 5 năm. Sau, sư đến tham học ngài Vô minh Tuệ kinh, nhân đọc Truyền đăng lục mà tỉnh ngộ và được nối pháp ngài Tuệ kinh. Năm Vạn lịch 30 (1602) đời Minh, sư ẩn cư tại chùa Năng nhân, ở Bác sơn, tỉnh Giang tây, bấy giờ, những người từ các vùng ở Giang nam đến theo học và cầu giới nơi sư có tới mấy vạn người, chùa Năng nhân nghiễm nhiên trở thành ngôi tùng lâm. Về sau, sư lần lượt trụ trì các chùa Huân nham, Bảo lâm, Dũng tuyền v.v... ở tỉnh Phúc kiến. Sự giáo hóa của sư ở những nơi này rất thịnh. Năm Sùng trinh thứ 3 (1630) sư tịch, thọ 56 tuổi. Sư có các tác phẩm: Vô dị Nguyên lai thiền sư quảng lục 35 quyển, Vô dị đại sư ngữ lục tập yếu 6 quyển. [X. Tục đăng tồn cảo Q.11; Ngũ đăng nghiêm thống Q.16;Tục đăng chính thống Q.38]
đại nghĩa
874請參閱 無量壽經義疏 (745~818)唐代僧。衢州(浙江)須江人,俗姓徐。二十歲出家,受具足戒。參謁洪州馬祖道一,嗣其法。後住於鵝湖山,故稱鵝湖大義。曾為德宗、順宗說法。憲宗時,嘗詔入內,於麟德殿論議,對答四諦禪道,眾法師皆杜口心服。師並舉(卍續一三八‧五五上)「順宗問尸利禪師:『大地眾生如何得見性成佛?』利曰:『佛性猶如水中月,可見不可取。』」一事,而謂帝曰:「佛性非見必見,水中月如何攫取?」帝乃問:「何者是佛性?」師對曰:「不離陛下所問。」帝默契,由是益重禪宗。元和十三年示寂,壽七十四。敕諡「慧覺大師」。〔五燈會元卷三、釋氏稽古略卷三〕
; Great cause.
; (大義) (745-818) Vị Thiền tăng ở đời Đường, người Tu giang, Cù châu (Triết giang), họ Từ. Năm 20 tuổi, sư xuất gia, thụ giới Cụ túc. Sư tham yết ngài Mã tổ Đạo nhất ở Hồng châu và được nối pháp của ngài. Sau, sư đến ở núi Nga hồ nên gọi là Nga hồ Đại nghĩa. Sư từng nói pháp cho các vua Đức tông, Thuận tông. Thời vua Hiến tông, sư thường được mời vào điện Lân đức để thảo luận về Phật pháp, đối đáp lưu loát, các pháp sư khác đều kính phục sư. Trong một cuộc đàm đạo với vua Hiến tông, sư kể lại cơ duyên vấn đáp giữa vua Thuận tông và thiền sư Thi lợi như sau (Vạn tục 138, 55 thượng): Thuận tông hỏi thiền sư Thi lợi: - Làm thế nào chúng sinh thấy được tính mà thành Phật? Thiền sư Thi lợi đáp: - Tính Phật giống như mặt trăng ở trong nước, thấy được mà không lấy được. Kể xong, thiền sư Đại nghĩa nói với vua: - Tính Phật chẳng thấy ắt sẽ thấy, còn mặt trăng ở trong nước thì làm thế nào mà bắt lấy được? Vua liền hỏi: - Cái gì là tính Phật? Ngài Đại nghĩa trả lời: - Chẳng lìa cái mà Bệ hạ hỏi. Nhà vua thầm khế hội, từ đó càng quí trọng Thiền tông. Năm Nguyên hòa 13 (818) sư tịch, thọ 74 tuổi, vua ban thụy hiệu là Tuệ giác đại sư. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.3; Thích thị kê cổ lược Q.3].
đại nghĩa thành
The city of all ideas or aims.
đại nghĩa vương
The King of all ideas or aims.
đại nghĩa độ
874指黃檗希運禪師為母引導之故事。黃檗,閩人,幼年出家,其母哀念而失明。黃檗參禮百丈,得悟後歸省,母子雖相見,然互不相識。鄉人告之,其母恍然追至福清渡畔,不幸跌溺。黃檗隔岸見之,不禁哀曰:「一子出家,九族生天;若是妄語,諸佛妄語!」乃投炬入河,為母引導。自此,福清渡又改名為大義渡,而此一典故又稱黃檗引導。
; (大義渡) Bến đò Đại nghĩa. Sự tích thiền sư Hoàng bá Hi vận dẫn đường cho mẹ. Hoàng bá, người tỉnh Mân (Phúc kiến), xuất gia từ thủa nhỏ, mẹ ngài vì thương nhớ con, khóc đến mù mắt. Hoàng bá tham lễ thiền sư Bách trượng Hoài hải, sau khi ngộ đạo, ngài trở về thăm mẹ. Mẹ con tuy gặp nhau, nhưng không nhận ra. Người làng bảo cho bà mẹ biết, bà quờ quạng đuổi theo đến bến đò Phúc thanh, không may ngã chết đuối. Hoàng bá ở cách bờ trông thấy, không ngăn được niềm thương xót nói: Một người con xuất gia, chín họ sinh thiên, nếu không đúng thế, thì chư Phật nói dối!. Rồi sư ném đuốc xuống sông làm phép dẫn đường cho mẹ. Từ đó, bến đò Phúc thanh được đổi tên là bến đò Đại nghĩa; và sự tích này cũng gọi là Hoàng bá dẫn đạo.
đại nghịch
Great treason.
đại ngu
1) Si mê lớn: Greatly ignorant. 2) Đại Ngu là tên của một tự viện và cũng là danh hiệu của Mã Tổ của Thiền phái Qui Tông, vị trụ trì ở đó: Name of a monastery and title of its patriarch Ma-Tsu or the Zen or Intuitive school.
đại ngu lương khoang
Daigu ryōkan (J)Tên một vị sư.
đại ngu tam quyền
873禪宗公案名。又作臨濟大悟。大愚指唐代之高安大愚禪師,三拳指臨濟義玄擊打大愚肋下三拳。此公案為臨濟義玄大悟之因緣故事。臨濟初於黃檗希運座下 A三次問法,其聲未絕,黃檗便打。其後臨濟辭離黃檗,經黃檗指引,往見高安大愚,懇切問以(卍續一三八‧一九四下)「不知某甲有過無過?」而致三次被打。大愚謂:「『黃檗與麼老婆心切,為汝得徹困,更來這裡問有過無過!』師於言下大悟,乃曰:『元來黃檗佛法無多子!』愚搊住曰:『這尿床鬼子!適來道有過無過,如今卸道黃檗佛法無多子!你見箇什麼道理?速道!速道!』師於大愚肋下築三拳。」〔五燈會元卷十一臨濟義玄章、禪苑蒙求卷上〕
đại ngu thủ chi
Tai yu Shou chih (C)Tên một vị sư.
đại ngu tông trúc
Daigu Sōchiku (J)Tên một vị sư.
đại nguyên soái minh vương
752梵名 Āṭavaka。音譯阿吒婆拘、阿吒薄俱。十六藥叉大將之一。又作太元帥明王、鬼神大將、曠野神。為消除惡獸及水火刀兵等障難,鎮護國土與眾生之神。其形像,身呈黑青色,四面八臂,左、右及頂上等三面各具三眼,八臂之中,左右之第三手作供養印,其餘六手分執輪、槊、索、跋折羅、棒、刀。日僧常曉於唐代至我國,從花林寺元昭受法後返日本弘傳,為鎮護國家之祕法,稱大元帥法,頗為日本台密家所重。又殑伽河之北那邏延天祠之東三十餘里有窣堵波,相傳即佛降伏大元帥明王之遺址。〔阿吒婆拘鬼神大將上佛陀羅尼經、阿吒薄俱元帥大將上佛陀羅尼經修行儀軌卷上、卷中、大唐西域記卷七〕
; Một trong mười sáu Minh Vương, có tên là A-Tra-Bạc-Câu—The great commander, one of the sixteen commanders, named Atavika.
; (大元帥明王) Phạm:Àỉavaka. Dịch âm: A tra bà câu, A tra bạc câu. Một trong 16 đại tướng Dược xoa. Cũng gọi Thái nguyên súy minh vương. Quỉ thần đại tướng, Khoáng dã thần. Vị thần giữ gìn che chở chúng sanh và đất nước bằng cách tiêu trừ các tai nạn như: Thú dữ, bão lụt, hỏa hoạn, chiến tranh, v.v... Hình tượng của vị thần này mầu xanh thẫm, có bốn mặt tám tay, ba mặt phía trái, phía phải và trên đỉnh đầu mỗi mặt có ba mắt, trong tám tay, tay thứ ba bên trái, bên phải bắt ấn cúng dường, sáu tay còn lại lần lượt cầm các khí cụ như: Bánh xe, cây giáo, vòng dây, bạt chiết la, gậy, dao v.v... Vị tăng Nhật bản tên là Thường hiểu đến Trung quốc vào đời Đường, sau khi nhận pháp nơi ngài Nguyên chiếu ở chùa Hoa lâm, trở về Nhật bản truyền bá, làm phép bí mật trấn hộ quốc gia, gọi là Đại nguyên súy pháp, rất được các nhà Thai mật Nhật bản tôn trọng. Lại ngôi tốt đổ ba (tháp) nằm về mạn đông đền thờ trời Na la diên, cách sông Hằng hơn 30 km về phía bắc, tương truyền là dấu tích của nơi đức Phật đã hàng phục Đại nguyên súy minh vương. [X. kinh A tra bà câu quỉ thần đại tướng thướng Phật đà la ni; A tra bạc câu nguyên súy đại tướng thướng Phật đà la ni kinh tu hành nghi quĩ Q.thượng, Q.trung; Đại đường tây vực kí Q.7].
đại nguyên vấn đáp
831又作大原談義。乃日本淨土宗史事。日本文治二年(1186),一說文治五年,源空應天台宗顯真之請,在大原龍禪寺與明遍、智海、貞慶等諸宗高僧大德互相答問,討論淨土之定義。源空講說淨土宗義、念佛功德、彌陀本願之旨要。使問者大為信服,集會之三百人歡喜流淚,相傳因而舉行三日三夜之不斷念佛。
; (大原問答) Cuộc vấn đáp ở chùa Đại nguyên long thiền. Cũng gọi Đại nguyên đàm nghĩa. Sử truyện của tông Tịnh độ Nhật bản. Vào năm Văn trị (Nhật bản) thứ 2 (1186) (cũng có thuyết nói năm Văn trị thứ 5), đáp lời mời của sư Hiển chân thuộc tông Thiên thai, ngài Nguyên không cùng với các bậc cao tăng như: Minh biến, Trí hải, Trinh khánh v.v... thuộc các tông khác nhau hội họp ở chùa Đại nguyên long thiền để bàn thảo về định nghĩa Tịnh độ. Ngài Nguyên không nói về yếu chỉ của tông nghĩa Tịnh độ, công đức niệm Phật, bản nguyện Di đà, làm cho những người đặt các câu hỏi rất là tin phục và tất cả 300 người hiện diện đều vui mừng đến rơi lệ. Tương truyền, nhân dịp ấy, cử hành niệm Phật ba ngày ba đêm không ngớt.
đại nguyện
904<一>指佛、菩薩願眾生成佛之心廣大深重。放光般若經卷三問僧那品(大八‧二○上):「菩薩為眾生故,起大誓願言:『我自當具足六波羅蜜,亦當教他人使具足六波羅蜜。』」 <二>指大悲願力。即救度一切眾生之大悲願力;為阿彌陀佛之本願力。〔勝鬘經卷十二、舊華嚴經卷二十三〕
; The great vow to save all the living and bring them to buddhahood
; Mahapranidhana (skt). • Các lời nguyện lớn mà các vị Bồ Tát thiết lập khi khởi đầu sự nghiệp tâm linh của các ngài: Great vows made by the Bodhisattva in the beginning of his spiritual career. • Đại nguyện của chư Phật và chư Bồ Tát, cứu độ hết thảy chúng sanh và khiến họ đạt thành Phật quả: The great vow of a Buddha or Bodhisattva to save all the living and bring them to Buddhahood.
; (大願) I. Đại nguyện. Chỉ cho tâm nguyện rộng lớn, sâu dày của chư Phật, Bồ tát mong cho chúng sinh thành Phật. Kinh Phóng quang bát nhã quyển 3 phẩm Vấn tăng na (Đại 8, 20 thượng), nói: Bồ tát vì chúng sinh mà phát đại thệ nguyện rằng: Tôi tự sẽ tu đầy đủ sáu ba la mật, cũng sẽ khuyến hóa người khác tu đầy đủ sáu ba la mật. II. Đại nguyện. Chỉ cho nguyện lực đại bi. Tức là nguyện lực đại bi cứu độ tất cả chúng sinh; là sức bản nguyện của đức Phật A di đà. [X. kinh Thắng man Q.12; kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.23].
đại nguyện lực
Lực lớn của chư Phật và chư Bồ Tát nhờ đó mà các ngài thành tựu được đại nguyện—The great power of accomplishing a vow by a Buddha or Bodhisattva.
đại nguyện nghiệp lực
905意指大願之業因力等。見於曇鸞、道綽、善導等人之所著書。對此,淨土宗有各種解釋:(一)指大願之業因力;蓋淨土之莊嚴與慈悲眾生之功德,一切不外是阿彌陀佛本願之作用力所致。(二)指大願之力、大業之力;即法藏菩薩(阿彌陀佛在因位發願時之名)之發願與修行。法藏菩薩思惟救度眾生而建立四十八願,故稱大願力;菩薩發下大願後,積累兆載大劫之六度萬行,故稱大業力。(三)指大願、大業、大力;即法藏菩薩之發願、修行以及結果所完成阿彌陀佛之救濟力。〔觀經疏卷一、往生論註卷下、觀經玄義分楷定記卷一〕
; Bốn mươi tám nguyện và lực công đức lớn của Đức Phật A Di Đà—The forty-eight vows and the great meritorious power of Amitabha.
; (大願業力) Chỉ cho sức nghiệp nhân của đại nguyện. Từ ngữ này được thấy trong các tác phẩm của các sư Đàm loan, Đạo xước, Thiện đạo v.v... Đối với nhóm từ này, tông Tịnh độ đưa ra nhiều cách giải thích: 1. Chỉ cho sức nghiệp nhân của đại nguyện: Sự trang nghiêm của Tịnh độ và công đức từ bi cứu độ chúng sinh, tất cả không ngoài sức tác dụng của bản nguyện của Phật A di đà mà có. 2. Chỉ cho sức đại nguyện, sức đại nghiệp: Sự phát nguyện và tu hành của bồ tát Pháp tạng (tên Phật A di đà khi phát nguyện ở Nhân vị). Bồ tát Pháp tạng tư duy về việc cứu độ chúng sinh mà kiến lập 48 nguyện nên gọi Đại thệ nguyện lực; sau khi phát nguyện, Bồ tát tích chứa công đức muôn hạnh sáu độ trải bao nhiêu đại kiếp nên gọi là Đại nghiệp lực. 3. Chỉ cho Đại nguyện, Đại nghiệp, Đại lực: Sức cứu độ của đức Phật A di đà là do kết quả của sự phát nguyện và tu hành của bồ tát Pháp tạng mà được hoàn thành. [X. Quán kinh sớ Q.1; Vãng sinh luận chú Q.hạ; Quán kinh huyền nghĩa phần khải định kí Q.1].
đại nguyện thanh tịnh báo độ
905指阿彌陀佛之極樂淨土。此極樂淨土係酬報阿彌陀佛所發起之清淨本願而生起者,故稱大願清淨報土。
; Cõi Tịnh Độ Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà—The Pure-Reward Land of Amitabha, the reward resulting from his vows.
; (大願清淨報土) Chỉ cõi Tịnh độ cực lạc của Phật A di đà. Cõi Tịnh độ cực lạc này là kết quả của bản nguyện thanh tịnh mà đức Phật A di đà đã phát khởi, nên gọi là Đại nguyện thanh tịnh báo độ.
đại nguyện thuyền
905指諸佛菩薩之廣大本願。佛菩薩以其本願力,救濟眾生,度生死海,送至彼岸之淨土;猶如船筏之運載旅人到達彼岸,故以「大願船」喻之。或 S指阿彌陀佛之本願。往生要集卷中(大八四‧五八下):「阿彌陀佛與觀世音、大勢至乘大願船汎生死海,就此娑婆世界,呼喚眾生,令上大願船,送著西方。若眾生肯上大願船者,並皆得去,此是易往也。」
; Thuyền Bát Nhã hay Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà, đưa tất cả những ai tín thọ nơi ngài qua biển sanh tử luân hồi để đến Tịnh Độ—The great vow boat of Amitabha Buddha, which ferries the believers over the sea of mortality to the Pure Land.
; (大願船) Con thuyền đại nguyện. Chỉ cho bản nguyện rộng lớn của chư Phật, Bồ tát. Chư Phật và Bồ tát dùng sức bản nguyện của các Ngài cứu vớt chúng sinh, đưa qua biển sống chết, đến bờ Tịnh độ yên vui, giống như thuyền đò chở khách đến bến bên kia, nên dụ là Thuyền đại nguyện. Cũng chỉ riêng cho bản nguyện của Phật A di đà. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 84, 58 hạ), nói: Phật A di đà và các bồ tát Quán thế âm, Đại thế chí dong thuyền đại nguyện, vượt qua biển sống chết đến thế giới Sa bà này, kêu gọi chúng sinh lên thuyền để đưa họ về Tây phương. Nếu chúng sinh chịu lên thì đều được đưa đi; cuộc hành trình này rất dễ.
đại nguyện tự
904位於臺灣臺中縣東勢鎮。開山住持聖心法師為宏揚地藏菩薩之精神,創建於民國四十三年(1954)。初僅平屋數間,八七水災全被沖毀。五十年重建大殿及寮房,五十八年再度重建大殿。內殿莊嚴肅穆,外觀宏偉堂皇,為本省佛寺中極為壯觀之地藏菩薩道場。
đại ngã
792梵語 parmātman,或 mahātman。即遠離我執、我見,而達自由自在境界之最高我;含有常一主宰之意。為涅槃四德「常樂我淨」中之「我」。吾人所執著自我之身心,無自在性、常一性;佛陀所證得之涅槃,則為真實且常住不變者,故稱為大我,義同真我。凡上所說,勝鬘經等諸經典,有詳細之說明。印度思想界之大我思想,一度被佛教之無我、空觀等所否定,然至後世,又被採用通行。此外,密教以「成就八自在我,於諸法得大自在」者為大我,廣義指曼荼羅所示之諸佛諸菩薩諸尊,狹義則特指大日如來或五智如來。〔南本涅槃經卷二十一、大日經疏卷五〕
; Mahātman (S), Parmatman (S)Chân ngãNgã siêu việt xa lìa ngã chấp, ngã kiến đạt đến tự tại.
; The greater self, or the true personality chân ngã. Hinayàna is accused of only knowing and denying the common idea of a self, or soul, whereas there is a greater self, which is a nirvàna self. It especially refers to the Great Ego, the Buddha, but also to any Buddha.
; Mahatma (skt). 1) Đại ngã—Thực chất thật của con người—Nguyên tắc cao nhất con người: The great self—The true personality. 2) Niết Bàn tự tại: Nirvana self. 3) Cái ta lớn: The great ego. 4) Đức Phật, một danh hiệu dành cho những bậc đã đạt đến trạng thái tâm linh cao nhứt—The Buddha—The highest principle in man—A name of honor which should be reserved for those of highest spiritual attainment.
; (大我) Phạm: Parmàtman hoặc Mahàtman. Đại ngã là cái ngã siêu việt do xa lìa ngã chấp, ngã kiến mà đạt đến cảnh giới tự tại thường nhất, là ngã trong bốn tính chất thường lạc ngã tịnh của Niết bàn. Vì Niết bàn mà đức Phật đã chứng được là chân thực và thường trụ bất biến, cũng chính là Đại ngã, đồng nghĩa với chân ngã. Tư tưởng Đại ngã của giới triết học Ấn độ có lần đã bị thuyết Vô ngã, Không quán v.v... của Phật giáo phủ định, nhưng đến đời sau được thu dụng trở lại. Ngoài ra, Mật giáo cho rằng, người thành tựu tám thứ tự tại của Ngã, đối với các pháp được tự tại, gọi là Đại ngã. Theo nghĩa rộng thì Đại ngã chỉ cho chư Phật, chư Bồ tát, chư Tôn nêu trong mạn đồ la, còn theo nghĩa hẹp thì chỉ riêng cho đức Đại nhật Như lai hoặc Ngũ trí Như lai. [X. kinh Đại niết bàn (bản Nam) Q.21; Đại nhật kinh sớ Q.5].
đại ngôn
Grandiloquent.
đại ngư
Makara (skt)—Một loài thủy quái—A monster fish.
đại ngưu xa
Xe Trâu là xe lớn nhất trong truyện ngụ ngôn nhà lửa trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa—The great ox cart in the Lotus sutra parable of the burning house.
đại ngộ
Great ealization—Greatly realize.
Đại ngộ triệt để
大悟徹底; J: daigo-tettei; nghĩa là »cái ngộ lớn đến tận đáy«; |Chỉ sự giác ngộ thâm sâu, được dùng để phân biệt với những kinh nghiệm Kiến tính (見性; j: kenshō) ban sơ, mặc dù bản tính của cả hai vốn chỉ là một.|Những thành phần chính của Ðại ngộ triệt để: chứng ngộ được sự trống rỗng, tính Không (s: śūnyatā; j: kū) của vạn vật; sự tiêu huỷ của tất cả những khái niệm nhị nguyên; sự trực nhận rằng: toàn thể vũ trụ và bản thể chính là một không hai, Sắc tức là Không; sự đoạn diệt của khái niệm »Ta« (Ngã).
Đại ngộ 大悟
[ja] ダイゴ daigo ||| Great enlightenment. The destruction of all duality-based illusions. => Giác ngộ hoàn toàn. Sự chuyển hoá toàn thể ảo tưởng nhị nguyên.
đại ngữ
1546指禪家垂說之時,代替他人下語。可分二種:(一)師家自代學人下語。師家垂語後,每令學人下語;若眾中所言不契,則由師家自下語代眾。可通「別語」,然「別語」一般多指於二人對話之情形,第三者基於「局外人」之立場代為敘述之語,故異於代語,惟禪林中,常將代語與別語並稱為「代別」。禪宗諸語錄中,雲門語錄代語最多,蓋宗門之代語、別語,以雲門為始。(二)師家自代古人下語。師家舉古則,遇古人無語之處時,乃代之下語。〔禪林象器箋卷十一垂說門〕
; (代語) Nói thay người khác. Trong Thiền lâm, khi dạy học, vị thầy có thể nói thay cho người khác. Có hai trường hợp: 1. Thầy nói thay cho học trò: Sau khi giảng dạy, thầy bảo học trò trình bày lại chỗ lãnh hội của mình, nếu không khế hợp, thì vị thầy tự nói thay. 2. Thầy nói thay cho người xưa: Thầy nêu ra cổ tắc, khi gặp chỗ mà các bậc cổ đức chưa nói, thì thầy nói thay. [X. môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.11].
đại nhiếp thọ
1) Nhiếp thọ hết thảy chúng sanh: The great all-embracing receiver. 2) Danh hiệu của Phật, đặc biệt là Phật A Di Đà: A title of a Buddha, especially Amitabha.
đại nhiếp thụ
914請參閱 灌頂經 請參閱 灌頂經 為佛之德號。佛以大慈悲攝受一切眾生,故有此稱。讚阿彌陀偈(大四七‧四二三上):「稽首清淨大攝受。」
; The great all-embracing receiver - a title of a Buddha, especially Amitàbha.
; (大攝受) Đức hiệu của Phật. Vì Phật đem tâm từ bi nhiếp thụ tất cả chúng sinh nên gọi Đại nhiếp thụ. Tán A di đà Phật kệ (Đại 47, 423 thượng), nói: Cúi đầu đính lễ đức Đại nhiếp thụ thanh tịnh.(Khể thủ thanh tịnh Đại nhiếp thụ).
đại nhiễm pháp
806指理智冥合之至極,形於男女兩性之染愛,乃密教愛染明王之悉地。瑜祇經卷上(大一八‧二五六下):「次左金剛弓,右執金剛箭,如射眾星光,能成大染法。」
; Pháp ái nhiễm lớn nhất là sắc dục nhiễm hay sự ái nhiễm của hai tính nam nữ, liên hệ tới Ái Nhiễm Minh Vương—The great taint, or dharma of defilement, sex-attraction, associated with the god of love (Ái Nhiễm Minh Vương).
; (大染法) Pháp rất nhơ nhớp. Chỉ cho lí và trí ngầm hợp đến cực độ thể hiện trong sự ái nhiễm của hai tính nam nữ, là Tất địa của Ái nhiễm minh vương trong Mật giáo. Kinh Du kì quyển thượng (Đại 18, 256 hạ), nói: Kế đến, tay trái cầm cung kim cương, tay phải cầm tên kim cương, nếu bắn các vì sao sáng, có thể thành đại nhiễm pháp.
đại nhiệm
Great responsibility.
đại nhiệt địa ngục
Pratapa (S), Hell of Great Heat.
Đại nhiệt địa ngục 大熱地獄
[ja]ダイネツジゴク dainetsujigoku ||| Pratāpana-narakaḥ, the extremely scorching hot hell, which is the seventh of the eight burning hells 八熱地獄. => (s: Pratāpana-narakaḥ); địa ngục nóng bức, địa ngục thứ bảy trong Bát nhiệt địa ngục.
đại nho
Great scholar.
đại nhân
Xem Đại sĩ.
; Great being—Great man.
đại nhân bát niệm
Tám niệm pháp của các bậc đại nhân—Eight lines of thought for great men: 1) Vô Dục: Absence of desire. 2) Tri Túc: Contentment. 3) Viễn Ly: Aloneness. 4) Tinh Cần: Zeal. 5) Chánh niệm: Correct thinking. 6) Định Tâm: Fixed mind. 7) Trí Tuệ: Wisdom. 8) Hỷ Lạc: Inner Joy.
; (大人八念) Tám điều tâm niệm của bậc đại nhân. Kinh Bát niệm trong Trung a hàm quyển 18 chép, ngài A na luật đà ngồi yên lặng trong khu rừng gần bờ sông Chi đề sấu, suy nghĩ rằng: Đạo từ vô dục (không ham muốn) mà được, chẳng phải hữu dục (có ham muốn) mà được, cho đến đạo từ trí tuệ, chẳng phải ngu si mà được. Lúc ấy, đức Thế tôn dùng Tha tâm trí biết được những ý nghĩ trong tâm A na luật đà, nên Ngài mới hiện ra ở trước mặt A na luật đà mà nói về tám điều tâm niệm của bậc đại nhân như sau: 1. Đạo tòng vô dục, phi hữu dục đắc. Cũng gọi Thiểu dục giác, Vô dục giác. Nghĩa là, tỉ khưu tu đạo, đối với tất cả trần cảnh, không nên sinh tâm mong muốn. Tuy mình được vô dục, nhưng không để người khác biết, cho nên đắc đạo. 2. Đạo tòng tri túc, phi vô yếm đắc. Cũng gọi Tri túc giác. Nghĩa là, tỉ khưu tu đạo, mặc cốt để che thân, ăn cần để sống, tất cả nhu cầu đều nên tự biết đủ. 3. Đạo tòng viễn ly, phi tụ hội đắc. Cũng gọi Nhạo tịch tĩnh giác, Ẩn xứ giác, Viễn ly giác. Nghĩa là, tỉ khưu tu đạo, đối với các pháp thế gian và thân tâm đều nên xa lìa. 4. Đạo tòng tinh cần, phi giải đãi đắc. Cũng gọi Bất bì quyện giác, Tinh tiến giác. Nghĩa là, tỉ khưu tu đạo, thường luôn tinh tiến, dứt các điều ác, tu mọi pháp lành, hằng tự khởi tâm chuyên nhất, không bỏ phương tiện. 5. Đạo tòng chính niệm, phi tà niệm đắc. Cũng gọi Chính niệm giác, Chính ức giác, Bất vong niệm giác, Thủ chính niệm giác, Chế tâm giác. Nghĩa là, tỉ khưu tu đạo, quán xét các pháp trong tâm ngoài thân tất thảy đều rỗng lặng, không có tà niệm. 6. Đạo tòng định ý, phi loạn ý đắc. Cũng gọi Định ý giác, Định tâm giác, Chính định giác. Nghĩa là, tỉ khưu tu đạo, nên xa lìa các điều xấu ác, lắng tâm thiền định, không có tán loạn. 7. Đạo tòng trí tuệ, phi ngu si đắc. Cũng gọi Trí tuệ giác, Chính tuệ giác. Nghĩa là, tỉ khưu tu đạo, nên quán xét các pháp thịnh suy ở thế gian để được trí tuệ sáng suốt, diệt trừ hoặc nghiệp, chấm dứt khổ sống chết. 8. Đạo tòng bất hí nhạo, phi hí hành đắc. Cũng gọi Vô hí luận giác, Bất hí luận giác. Nghĩa là, tỉ khưu tu đạo, nên thường tĩnh lặng, xa lìa các trò vui đùa, các cuộc dạo chơi ngắm cảnh, an trú nơi lí vô vi, chính ý tỏ ngộ. Tám điều tâm niệm trên đây với tám điều giác ngộ trong kinh Bát đại nhân giác, về tên gọi tuy hơi khác, nhưng về ý nghĩa thì đại khái gần giống nhau. [X. kinh A na luật bát niệm; Di giáo kinh luận kí Q.trung; Bát đại nhân giác kinh lược giải]. (xt. Bát Đại Nhân Giác).
đại nhân tướng ấn
Sealed with the sign of manhood.
đại nhân đà la tọa
The throne of Ibdra, whose throne is four-square to the universe.
đại nhân đà la đàn
Indra-altar of square shape. He is worshipped as the mind-king of the universe, all thing depending on him.
đại nhạn tháp
866乃我國名塔。原十層,今存七層。位於陝西西安市南郊慈恩寺內。初名慈恩寺塔。唐高宗永徽三年(652),依玄奘之建議所築,旨在貯藏玄奘自西域請回之經論梵本。該塔仿西域形式建成,五層磚造。各層皆置舍利。基面各百四十尺,高百八十尺。武則天年中,依中國式樣重行改造,築至十層,每層四門,高三百尺。天祐元年(904)毀於朱溫兵火,僅存七層,後雖經多次修建,然形式迄今未改。 雁塔名稱來源有二說,一為雁捨身供僧,僧感而築靈塔,遂有此稱;另一說謂達嚫國有伽葉佛伽藍,穿石山作五層塔,底層成雁形,故稱為雁塔。今塔高六十四公尺,呈方形七層樓閣式,不同於一般塔式。塔底層南門兩側,嵌有唐太宗撰文「大唐三藏聖教序碑」及唐高宗所作序文。青石門框門楣上,刻有佛、菩薩像,端嚴優美,西門楣佛殿雕刻,細部畢具,皆為唐代原物,可能為初建或武則天重修時之作品,為現存唐代線刻之上品,亦為研究唐代建築、雕刻藝術之重要文物。
; (大雁塔) Ngôi tháp nổi tiếng ở chùa Từ ân ngoại ô phía nam thành phố Tây an thuộc tỉnh Thiểm tây, Trung quốc, được xây dựng vào năm Vĩnh huy thứ 3 (652) đời vua Cao tông nhà Đường, theo kiến nghị của ngài Huyền trang để cất giữ những kinh điển mà ngài đã thỉnh từ Ấn độ về. Tháp được kiến trúc theo kiểu Ấn độ, có năm tầng, mỗi tầng đều có thờ xá lợi. Thân tháp cao 180 thước (Tàu), nền tháp mỗi bề 140 thước. Thời Vũ tắc Thiên, tháp Đại nhạn được xây lại theo kiểu Trung quốc, cao 300 thước gồm mười tầng, mỗi tầng có bốn cửa. Niên hiệu Thiên hựu năm đầu (904), tháp bị hủy hoại trong chiến tranh Chu ôn, chỉ còn lại bảy tầng. Sau, tuy đã được sửa chữa nhiều lần, nhưng đến nay hình thức vẫn không thay đổi. Về nguồn gốc tên Tháp nhạn có hai thuyết: 1. Do chim nhạn bỏ mình cúng dường tăng, vị tăng cảm động mà xây hình tháp, đặt tên là tháp Đại nhạn. 2. Ở nước Đạt thấn có chùa Phật Già diếp, đục núi làm tháp năm tầng, tầng dưới cùng làm thành hình chim nhạn, nên gọi là tháp Đại nhạn. Tòa tháp Nhạn hiện nay cao 64 m, hình vuông, bảy tầng lầu gác, khác với kiểu tháp thông thường. Ở hai bên cửa phía nam của tầng dưới cùng dựng tấm bia Đại Đường Tam Tạng Thánh Giáo Tự do vua Đường Thái tông soạn và bài tựa của vua Đường Cao tông. Phía trên đà ngang của khung cửa tháp bằng đá mầu xanh có khắc hình tượng Phật và Bồ tát rất đẹp và trang nghiêm. Cửa phía tây cũng chạm trổ hình tượng Phật, nét khắc rất tinh xảo, là những tác phẩm điêu khắc nổi tiếng của đời Đường hiện còn. Đây là những văn vật trọng yếu để nghiên cứu nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc của Trung quốc ở đời Đường.
Đại nhẫn lực 大忍力
[ja] ダイニンリキ daininriki ||| The power of great tolerance. => Năng lực của lòng bao dung rộng lớn.
đại nhẫn pháp giới
Thế giới lớn để học về nhẫn nhục, chỉ thế giới Ta Bà hiện tại—The great realm for learning patience—The present world.
Đại Nhẫn Quốc Tiên
(大忍國仙, Dainin Kokusen, 1723-1791): vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa và cuối thời Giang Hộ (江戸, Edo), húy là Quốc Tiên (國仙), thông xưng là Đại Nhẫn (大忍); xuất thân vùng Cương Thôn (岡村, Okamura), Võ Tàng (武藏, Musashi, thuộc Kanagawa-ken [神奈川縣]), họ Tùng Nguyên (松原). Năm lên 13 tuổi, ông theo xuất gia và thọ giới với Toàn Quốc (全國) ở Thanh Lương Tự (清涼寺) vùng Cận Giang (近江, Ōmi). Sau đó, ông từng đến tham học với các bậc cao đức như Tông Hiếu (宗孝), Tào Hải (曹海), Ngoan Cực (頑極), Duyệt Nghiêm (悅嚴), Đạo Sát (道察), và cuối cùng thì kế thừa dòng pháp của Toàn Quốc. Ông đã từng làm trú trì đời thứ 25 của Đại Tuyền Tự (大泉寺, Daisen-ji) ở vùng Võ Tàng và đời thứ 10 của Viên Thông Tự (圓通寺, Entsū-ji) ở Bị Trung (僃中, Bicchū). Trong khoảng thời gian đó, ông có khai sơn một số nơi như Chơn Như Am (眞如庵), Đại Phước Tự (大福寺), Bát Nhã Am (般若庵). Pháp từ của ông có một bậc Thiền kiệt nổi tiếng là Đại Ngu Lương Khoan (大愚良寛, Daigu Ryōkan).
đại nhẫn quốc tiên
Dainin kokusen (J)Tên một vị sư.
đại nhẫn thế giới
Xem Ta bà.
; Saha (S) The great realm to learn patience.
đại nhập diệt tức
See Đại Bát Niết Bàn.
Đại nhật biến chiếu 大日遍照
[ja] ダイニチヘンショウ dainichihenshō ||| An alternative Chinese translation of the name of Mahāvairocana. See 大日如來. => Danh hiệu khác bằng tiếng Hán của Đại nhật Như Lai.
đại nhật bản pháp hoa nghiệm kí
766凡三卷。又作本朝法華驗記、法華驗記。日本鎮源著於長久元年至四年(1040~1043)。收集自聖德太子以後之法華經行者共一二九人之傳記,大多為受持法華經而獲靈驗異聞之記述。
; (大日本法華驗記) Gồm 3 quyển. Cũng gọi Bản triều pháp hoa nghiệm kí, Pháp hoa nghiệm kí. Do ngài Trấn nguyên người Nhật soạn vào niên hiệu Trường cửu năm đầu đến năm thứ 4 (1040-1043). Nội dung thu chép truyện kí của các hành giả trì tụng kinh Pháp hoa, gồm 129 người từ thái tử Thánh đức trở về sau, hầu hết là những truyện linh dị do thụ trì kinh Pháp hoa mà có.
đại nhật bản phật giáo hội
766為聯絡協調日本佛教各宗派,以審議處辦共通事項為目的,而成立於一九三八年之財團法人佛教聯合會,二年後改為今名。設有理事十人、監事二人,各宗派各選一人為評議員,任期均為兩年。會址位於東京都。由常務理事總理本會事務。
đại nhật bản phật giáo toàn thư
766請參閱 圓覺經略疏 日本明治四十四年至大正十一年(1911~1922)間,由南條文雄、高楠順次郎、大村西崖、望月信亨等人成立之佛書刊行會編印,共收集日本撰述(亦包含若干我國撰述之著作)之經律論注釋書、諸宗宗典、史傳等九五三部,三三九六卷。內分目錄、總記、諸經、華嚴、法華、台密、真言、悉曇、淨土、融通念佛、時宗、戒律、三論、法相、因明、俱舍、起信、禪宗、行事、宗論、補任、系譜、地誌、寺誌、日記、詞藻、雜等二十八部門。版式為菊版之二十五開本,以五號活字二段排印,並以西式裝釘,共一五○冊,另有目錄一冊。此係日本撰述佛典大規模刊行之首例。昭和五年(1930)再版。
; (大日本佛教全書) Sách gồm 953 bộ, 3.396 quyển được hội Phật Thư San Hành biên soạn và in ấn từ năm Minh trị 44 đến năm Đại chính 11 (1911-1922) do các ông Nam điều Văn hùng, Cao nam Thuận thứ lang, Đại thôn Tây nhai, Vọng nguyệt Tín hanh v.v... chủ trương thành lập. Bộ Toàn thư này thu tập các sách chú thích kinh, luật, luận, sách nói về tông chỉ của các tông phái, sử truyện v.v... do các tác giả Nhật bản soạn thuật (cũng có một số trứ tác do người Trung quốc soạn thuật), trong đó chia làm 28 bộ môn: Mục lục, Tổng kí, Chư kinh, Hoa nghiêm, Pháp hoa, Thai mật, Chân ngôn, Tất đàm, Tịnh độ, Dung thông, Niệm Phật, Thời tông, Giới luật, Tam luận, Pháp tướng, Nhân minh, Câu xá, Khởi tín, Thiền tông, Hành sự, Tông luận, Bổ nhậm, Hệ phổ, Địa chí, Tự chí, Nhật kí, Từ tảo, Tạp loại v.v... Đây là bộ sách Phật giáo do người Nhật soạn thuật lần đầu tiên được ấn hành với qui mô lớn như vậy. Bộ sách được đóng thành 150 tập theo kiểu đóng sách phương Tây, có riêng một tập mục lục. Nó được tái bản vào năm Chiêu hòa thứ 5 (1930).
Đại Nhật kinh
大日經; S: mahāvairocana-sūtra;|Kinh Ðại thừa, một bộ kinh căn bản của Mật tông Trung Quốc và Chân ngôn tông Nhật Bản. Kinh này do Thiện Vô Uý (s: śubhaka-rasiṃha) – một trong ba Ðại sư của giáo pháp Mật tông – dịch ta tiếng Hán, năm 725. Kinh Ðại Nhật chứa phần lớn giáo pháp căn bản của Tan-tra.
đại nhật kinh
767梵名 Mahā-vairocanābhisaṃbodhi-vikurvitādhiṣṭhāna-vaipulya-sūtrendra-vāja-nāma-dharmaparyāya。凡七卷。唐代善無畏、一行、寶月等譯。又作毘盧遮那成佛經、大毘盧遮那成佛神變加持經、大毘盧遮那經。為真言三部經之一。係密宗胎藏界之根本大經,與金剛頂經同為日本東台兩密所依聖典。收於大正藏第十八冊。本經乃大日世尊在金剛法界宮所說,旨在開示一切眾生本有清淨菩提心所具之無盡莊嚴藏,示以本有本覺曼荼羅為主旨,並宣說三密之方便。 本經共計三十六品,頓漸兼陳,理事並闡。全經以阿(豙)字本不生之心地為宗,以如實自知,開悟無生智,獲無相悉地為趣。前六卷三十一品為本經之主體,第七卷五品屬供養法。前三十一品中之第一入真言門住心品為本經之序品,亦是本經之主要關鍵,此品闡釋密教基本教義(教相);其中「菩提心為因,大悲為根,方便為究竟」三句,已統釋全經之宗旨,凡本經所說,皆不出此三句法門。第二入漫荼羅具緣真言品以下至第三十一囑累品乃敘述密教之各種儀軌、行法(事相)。第七卷則說明供養等次第法。 據大日經開題謂,本經有三本,即:(一)法爾常恆本,以心王心數諸尊,各各演說自內證法門。(二)分流廣本,係龍猛菩薩入南天竺鐵塔,對金剛薩埵所誦傳之十萬頌經。(三)分疏略本,即現傳之七卷三千餘頌經,乃撮自十萬頌之精要者。據開元釋教錄卷九載,本經之梵本係沙門無行自天竺學成歸來所攜回,時祕藏於長安華嚴寺。後善無畏三藏與一行禪師俱到該寺,從中選取大日經略三千頌,而於開元十二年(724)奉詔於長安大福先寺譯出。本經亦有西藏譯本,但其章品之廢立與次第,與漢譯本稍異,如西藏藏經不以第七卷為經典,而將之歸於論疏部,收於「丹珠爾部」中,另加寂靜護摩儀軌品等七品(稱為外篇),總共亦三十六品,譯出年代較漢譯晚三十年。關於本經之注疏,有一行之大毘盧遮那成佛經疏二十卷、大毘盧遮那成佛經義釋十四卷,此二書係解釋大日經前六卷之文義,另有不可思議所撰之大毘盧遮那供養次第法疏二卷,為最後一卷之注疏。此外,西藏大藏經丹珠爾中,亦收有大量之注釋書。〔大日經疏卷一、開元釋教錄卷十二、貞元新定釋教目錄卷十四、至元法寶勘同總錄卷五、大唐西域求法高僧傳卷下法琳傳〕(參閱「大日經義釋」769)
; Dainichikyō (J), Mahā-vairocana -sŪtra (S)Tên một bộ kinh. Xem Đại Tỳ lô giá na Thành Phật thần biến gia trì kinh.
; (大日經) Phạm: Mahà-vairocanàbhisaôbodhi- Vikurvitàbhiwỉhàna- Vaipulyasùtrendra-vàjanàma-dharmaparyàya, gồm 7 quyển, do các ngài Thiện vô úy, Nhất hạnh, Bảo nguyệt cùng dịch vào đời Đường. Cũng gọi Tì lô giá na thành Phật kinh, Đại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì kinh, Đại tì lô giá na kinh. Một trong ba bộ kinh chân ngôn, là kinh căn bản của Thai tạng giới trong Mật giáo, cùng với kinh Kim cương đính đều là Thánh điển y cứ của Đông mật và Thai mật Nhật bản. Được thu vào Đại chính tạng tập 18. Kinh này do đức Thế tôn Đại nhật thuyết giảng ở cung Kim cương pháp giới, nội dung lấy mạn đồ la bản hữu bản giác làm yếu chỉ, mục đích chỉ bày tâm bồ đề thanh tịnh có sẵn trong tất cả chúng sinh, đồng thời, tuyên giảng phương tiện Tam mật (thân mật, ngữ mật, ý mật). Kinh này có 36 phẩm. Toàn kinh lấy chữ A vốn chẳng sinh làm tông chỉ, lấy Tất địa vô tướng làm mục đích. Trong 36 phẩm thì 31 phẩm trước là phần chủ thể của kinh, 5 phẩm còn lại là thuộc pháp cúng dường. Trong 31 phẩm trước, phẩm Nhập chân ngôn thứ 1 là phẩm tựa, cũng là phẩm then chốt của kinh. Phẩm này nói rõ giáo nghĩa (giáo tướng) cơ bản của Mật giáo, trong đó, ba câu: Tâm bồ đề là nhân, Đại bi là căn, Phương tiện là cứu cánh đã nói lên tông chỉ của toàn kinh. Từ phẩm Nhập mạn đồ la cụ duyên chân ngôn thứ 2 đến phẩm Chúc lụy thứ 31 là trình bày các nghi quĩ, hành pháp (sự tướng) của Mật giáo. Từ phẩm 32 đến phẩm 36 thuyết minh thứ tự của các pháp cúng dường. Cứ theo Đại nhật kinh khai đề nói, thì kinh này có ba bản: 1. Pháp nhĩ thường hằng: Chư tôn dùng tâm vương, tâm sở diễn nói pháp môn Tự nội chứng. 2. Phân lưu quảng: Bản này gồm 10 vạn bài tụng, do bồ tát Long mãnh vào tháp sắt ở Nam Thiên trúc nghe ngài Kim cương tát đỏa tụng truyền. 3. Phân sơ lược: Bản 7 quyển hiện nay lưu truyền, gồm hơn 3.000 bài tụng là toát yếu từ 10 vạn bài tụng. Cứ theo Khai nguyên thích giáo lục quyển 9 nói, thì bản tiếng Phạm của kinh này là do sa môn Vô hành đem từ Thiên trúc về, bấy giờ cất giữ ở chùa Hoa nghiêm tại Trường an. Sau, ngài Tam tạng Thiện vô úy và thiền sư Nhất hạnh đến chùa này, chọn lấy bản Sơ lược Đại nhật kinh gồm 3.000 bài tụng và phụng chiếu dịch ra chữ Hán ở chùa Phúc tiên tại Trường an vào năm Khai nguyên 12 (724). Kinh này cũng có bản dịch tiếng Tây tạng, gồm 36 phẩm, nhưng sự sắp xếp thứ tự chương, phẩm có hơi khác với bản Hán dịch. Như trong tạng kinh Tây tạng, quyển 7 không được xếp vào loại kinh mà đưa vào bộ Luận sớ để trong Cam châu nhĩ bộ, rồi thêm vào những 7 phẩm như phẩm Tịch tĩnh hộ ma nghi quĩ (gọi là Ngoại thiên) v.v... Bản dịch Tây tạng muộn hơn bản Hán dịch 30 năm. Về phần chú sớ của kinh này thì có các bộ: -Đại tì lô giá na thành Phật kinh sớ 20 quyển. -Đại tì lô giá na thành Phật kinh nghĩa thích 14 quyển. Hai bộ sớ trên đây đều do ngài Nhất hạnh soạn, để giải thích văn nghĩa trong 6 quyển trước của kinh Đại nhật. Ngoài ra còn có:Đạitì lô giá na cúng dường thứ đệ pháp sớ2 quyển, do ngài Bất khả tư nghị soạn, để chú giải quyển thứ 7. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.12; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.5; Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.hạ Pháp lâm truyện]. (xt. Đại Nhật Kinh Nghĩa Thích).
đại nhật kinh lược nhiếp niệm tụng tuỳ hành pháp
768請參閱 大日經略攝念誦隨行法 全一卷。唐代不空譯。今收於大正藏第十八冊。略稱大日經略念誦法、五支念誦要行法、五支念誦法。闡說三昧耶、不動尊、如來鉤、普通真言、金剛甲冑等五印明。
; (大日經略攝念誦隨行法) Có 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 18. Í Gọi tắt: Đại nhật kinh lược niệm tụng pháp, Ngũ chi niệm tụng yếu hành pháp, Ngũ chi niệm tụng pháp. Nội dung nói rõ về năm ấn minh: Tam muội da, Bất động tôn, Như lai câu, Phổ thông chân ngôn và Kim cương giáp trụ.
đại nhật kinh nghĩa thích
769凡十四卷。又作毘盧遮那成佛神變加持義釋、義釋。唐代僧一行(683~727)記。收於卍續藏第三十六冊。係大日經之注釋書,內容有:入真言門住心品、入漫荼羅具緣真言品、成就悉地品、祕密八印品、受方便學處品、囑累品等三十一品,本書之注釋書有遼‧覺苑撰之大日經義釋演密鈔等。又大日經疏與「義釋」兩者之關係,至今疑點尚多。或謂由大日經義釋之序推知:由善無畏口述釋義,一行筆記者,即「疏」;而由智儼及溫古二人再整理釋義者,即「義釋」。於密教中,大日經疏與大日經義釋,皆為研讀大日經之指南。〔八家祕錄卷上、諸宗章疏錄卷三〕
; (大日經義釋) Gồm 14 quyển. Cũng gọi: Tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì nghĩa thích, Nghĩa thích, là sách chú thích kinh Đại nhật, do ngài Nhất hạnh (683 - 727) ghi vào đời Đường, thu vào Vạn tục tạng tập 36. Nội dung gồm 31 phẩm như: Nhập chân ngôn môn trụ tâm phẩm, Nhập mạn đồ la cụ duyên chân ngôn phẩm, Thành tựu tất địa phẩm, Bí mật bát ấn phẩm, Thụ phương tiện học xứ phẩm, Chúc lụy phẩm v.v... Về phần chú thích của sách này thì có: Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao do ngài Giác uyển soạn vào đời Liêu. Lại về mối quan hệ giữa hai bộ Đại nhật kinh sớ và Đại nhật kinh nghĩa thích đến nay vẫn còn nhiều điểm nghi ngờ. Có thuyết cho rằng căn cứ vào bài tựa của bộ Đại nhật kinh nghĩa thích mà suy, thì bản do ngài Thiện vô úy giải nghĩa, ngài Nhất hạnh ghi chép, là Sớ; còn bản do hai ngài Trí nghiễm và Ôn cổ chỉnh lí, thích nghĩa, là Nghĩa thích. Trong Mật giáo, hai bộ Đại nhật kinh sớ và Đại nhật kinh nghĩa thích đều là kim chỉ nam cho những người nghiên cứu kinh Đại nhật. [X. Bát gia bí lục Q.thượng; Chư tông chương sớ lục Q.3].
đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao
769凡十卷。略稱演密鈔。遼‧覺苑撰。今收於卍續藏第三十七冊。為大日經義釋之注書,乃歷代密教行者重要參考書之一,迄今猶受重視。覺苑為燕京圓福寺沙門,於遼道宗太康年間(即宋神宗熙寧年間),奉道宗之敕而著成此書。內容分為二大門:(一)文前聊簡,包括起教因緣、藏教收攝、說經會處、辨教淺深、明經宗趣、翻譯傳通等六項。(二)依文正釋,即大日經義釋文句之注釋。
; (大日經義釋演密鈔) Gồm 10 quyển. Gọi tắt: Diễn mật sao, do ngài Giác uyển soạn vào đời Liêu. Là sách chú giải bộ Đại nhật kinh nghĩa thích, thu vào Vạn tục tạng tập 37. Đây là một trong các sách tham khảo quan trọng đối với các hành giả Mật giáo qua các thời đại, cho đến nay nó vẫn còn được coi trọng. Ngài Giác uyển trụ trì chùa Viên phúc ở Yên kinh, khoảng năm Thái khang đời vua Đạo tông nhà Liêu (khoảng năm Hi ninh đời vua Thần tông nhà Tống) đã vâng sắc chỉ của Đạo tông mà soạn sách này. Nội dung chia làm hai môn lớn: 1. Giới thiệu sơ lược trước khi giải thích văn kinh, gồm sáu hạng mục: - Khởi giáo nhân duyên. - Tạng giáo thu nhiếp. - Thuyết kinh hội xứ. - Biện giáo thiển thâm. - Minh kinh tông thú. - Phiên dịch truyền thông. 2. Nương theo chính văn mà thích nghĩa, tức là chú thích văn cú của bộ Đại nhật kinh nghĩa thích.
Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao 大日經義釋演密鈔
[ja] ダイニチキョウギシャクエンミツショウ Dainichikyō gishaku emmi sho ||| The Darijing yishi yanmi chao (Esoteric Extracts from the Presentations in the Abridged Commentary to the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra) ; 10 fasc. [Z.37.1-275], composed in 1070 CE by Jueyuan 覺苑 on the orders of Liao 遼 emperor Daozong 道宗 (r.1055-1101). In this work, Jueyuan endeavours to amalgamate the imagery and philosophy of the Avataṃsaka 華嚴經 with the esotericism of the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra (according to its abridged Chn. comm., the Explanation of the Meanings of the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra 大日經義釋). [msj162] => (c: Darijing yishi yanmi chao; e: Esoteric Extracts from the Presentations in the Abridged Commentary to the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra) ; 10 quyển, Giác Uyển (c: Jueyuan 覺苑) soạn năm 1070 theo lệnh của Hoàng đế Đạo Tông (Daozong 道宗; 1055-1101) đời Liêu. Trong tác phẩm nầy, Giác Uyển nỗ lực hợp nhất hình tượng và triết lý trong kinh Hoa Nghiêm với Mật giáo qua Đại nhật kinh nghĩa thích (theo chú giải tóm tắt bằng tiếng Hán; Đại nhật kinh nghĩa thích).
Đại nhật kinh nghĩa thích 大日經義釋
[ja] ダイニチキョウギシャク Dainichikyō gishaku ||| The Darijing yishi; (Explanation of the Meanings of the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra). 14 fasc. [Z.36.507ff], revised and abridged by Zhiyan 智儼 and Wengu 温古 from Yixing's 一行 complete Commentary on the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra 大日經疏 [T 1796]. It was taken by Ennin 円仁 to Japan, where subcommentaries were composed by Enchin 円珍 and Ninkū 仁空. It was used mainly in Tendai esotericism 台密, in contrast to the Shingon schools, which generally preferred Yixing's full commentary. [msj162] => (c: Darijing yishi; e: Explanation of the Meanings of the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra). 14 quyển, được Trí Nghiễm (c: Zhiyan 智儼) và Ôn Cổ (Wengu 温古) hiệu đính cùng tóm lược từ luận giải hoàn chỉnh của Nhất Hạnh (Yixing's 一行 ) về Đại nhật kinh sớ (大日經疏e: Commentary on the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra). Luận giải nầy được Viên Nhân (j: Ennin 円仁) mang về Nhật Bản, tại đây Viên Trân (j: Enchin 円珍 ) và Nhân Không (j: Ninkū 仁空) soạn thêm phần phụ chú. Tác phẩm nầy chủ yếu được tông phái Thai mật (Tendai esotericism 台密) sử dụng, ngược lại, Chân ngôn tông thường thích dùng bản chú giải đầy đủ của Nhất Hạnh hơn.
đại nhật kinh sớ
769凡二十卷。善無畏(637~735)講解,一行(683~727)筆錄。又稱大毘盧遮那成佛經疏、大疏。收於大正藏第三十九冊。隨文解釋大日經七卷中之前六卷三十一品。善無畏譯出大日經後,應諸方之請而講解大日經,一行筆錄之,遇有善無畏另作解釋之處,則記「阿闍梨言」,若屬一行自己之看法,則記「私謂」、「今謂」以資識別。所釋明快暢達,義旨無所不盡,特以具緣品以下,多用淺略深祕二重釋,頗能發揮本經奧旨。又於第六卷阿闍梨所傳曼荼羅之圖位,補說經疏之曼荼羅,以闡明大日經之主旨。全書多處引用大品般若、法華、華嚴、大智度論、中論、瓔珞經、無盡意經、大般涅槃經、佛性論等,顯示作者學識之淵博。本書有再治本,題為大日經義釋,十四卷,或謂由智儼、溫古等重新整理而成者,其內容與本書大同小異。本書之注書有大日經義釋演密鈔(遼‧覺苑)等數十種。〔宋高僧傳卷五、大日經義釋演密鈔卷一、新編諸宗教藏總錄卷一〕(參閱「大日經義釋」769)
; (大日經疏) Gồm 20 quyển. Ngài Thiện vô úy (637 - 735) giảng giải, ngài Nhất hạnh (683 - 727) ghi chép. Cũng gọi Đại tì lô giá na thành Phật kinh sớ, Đại sớ, thu vào Đại chính tạng tập 39. Nội dung giải thích 6 quyển trước gồm 31 phẩm trong 7 quyển kinh Đại nhật. Để hân biệt lời văn của hai ngài được rõ ràng, hễ chỗ nào do ngài Thiện vô úy giải thích, thì ngài Nhất hạnh ghi: A xà lê nói, còn nếu là những nhận xét của chính ngài Nhất hạnh thì được ghi: Riêng nói hoặc Nay nói, lời văn sáng sủa, trôi chảy, nghĩa lí thông suốt. Nhất là từ phẩm Cụ duyên trở đi, ngài Nhất hạnh thường giải thích làm hai lớp từ nghĩa nông cạn đến nghĩa sâu xa, nhằm phát huy hết ý chỉ kín nhiệm của kinh này. Ngoài ra, trong toàn bộ Sớ, có rất nhiều chỗ ngài Nhất hạnh đã dẫn dụng các kinh, luận như: Kinh Đại phẩm bát nhã, kinh Pháp hoa, kinh Hoa nghiêm, kinh Anh lạc, kinh Vô tận ý, kinh Đại bát niết bàn, luận Đại trí độ, luận Trung quán, luận Phật tính v.v.... chứng tỏ học thức của tác giả rất uyên bác. Có thuyết cho rằng sách này về sau do hai ngài Trí nghiễm và Ôn cổ sửa lại và đề tên là: Đại nhật kinh nghĩa thích, 14 quyển, nội dung có sai khác chút ít với sách này. Về sách chú thích thì có đến mấy chục loại, nhưng nổi tiếng hơn cả là bộ Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao (Giác uyển đời Liêu). [X. Tống cao tăng truyện Q.5; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.1; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1]. (xt. Đại Nhật Kinh Nghĩa Thích).
Đại nhật kinh sớ 大日經疏
[ja] ダイニチキョウソ Dainichikyō sho ||| The Darijing shu; abbr. title of the Commentary on the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra 大毘盧遮那成佛經疏 [T 1796]. => (c: Darijing shu); Viết tắt của kinh Đại Tỳ-lô-giá-na thành Phật kinh sớ (大毘盧遮那成佛經疏e: Commentary on the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra).
Đại nhật kinh 大日經
[ja] ダイニチキョウ Dainichikyō ||| The abbreviated title for Mahāvairocanābhisaṃbodhi-vikurvitādhiṣṭhāna-vaipulyasūtra, the Chinese translation of the Da piluzhena chengfo shénbian jiachi jing 大毘盧遮那成佛神變加持經 (T 848.18.1-55), which became the most important text for the East Asian Vajrayāna/Tantrayāna school. This scripture presents the world as a stage on which Vairocana reveals the three mysteries of the Esoteric school by which one may discover one's innate pure mind of enlightenment. See entry on the full name of the text for further details. => Tên gọi tắt của kinh đại Tỳ-lô-giá-na thành Phật thần biến gia trì kinh (s: Mahāvairocanābhisaṃbodhi-vikurvitādhiṣṭhāna-vaipulyasūtra; c: Da piluzhena chengfo shénbian jiachi jing 大毘盧遮那成佛神變加持經), là bản kinh trở nên rất quan trọng của Mật tông Phật giáo Á Đông. Kinh này trình bày vũ trụ như là cõi giới trong đó Đức Phật Tỳ-lô-giá-na biểu hiện Tam mật, qua đó, mọi chúng sinh có thể nhận ra bản tâm sáng suốt thanh tịnh của mình. Xem ở đề mục tên kinh để biết rõ chi tiết.
Đại Nhật Như Lai
(s: Mahāvairocana, Vairocana, 大日如來): âm dịch là Ma Ha Tỳ Lô Giá Na (摩訶毘盧遮那), dịch là Đại Biến Chiếu Như Lai (大遍照如來), Biến Chiếu Như Lai (遍[徧]照如來). Về danh nghĩa, ma ha (摩訶) có nghĩa là to lớn, nhiều, hơn cả. Tỳ (毘) là phổ biến, quảng bác, rộng rãi, cao hiển. Lô giá na (盧遮那) là quang minh, sáng tỏa, mỹ lệ. Cho nên Ma Ha Tỳ Lô Giá Na còn có các tên gọi khác nhau như Tối Cao Hiển Quảng Minh Nhãn Tạng Như Lai (最高顯廣明眼藏如來, Kim Cang Đảnh Nghĩa Quyết [金剛頂義決], Bất Không [s: Amoghavajra, 不空] soạn, Taishō No. 39), Vô Lượng Vô Biên Cứu Cánh Như Lai (無量無邊究竟如來, Lý Thú Kinh [理趣經], Kim Cang Trí [s: Vajrabodhi, 金剛智] dịch, Taishō No. 8), Quảng Bác Thân Như Lai (廣博身如來, Thí Chư Ngạ Quỷ Pháp [施諸餓鬼法], Bất Không dịch, Taishō No. 21), Nhất Thiết Pháp Tự Tại Mâu Ni (一切法自在牟尼, Đại Nhật Kinh Sớ [大日經疏] 18, Nhất Hành [一行, 683-727] ghi, 20 quyển, Taishō No. 39), v.v. Đây là đấng giáo chủ bổn tôn trung tâm tuyệt đối của Mật Giáo, được xem như thể hiện toàn bộ chân lý của vũ trụ. Trong Đại Nhật Kinh Sớ giải thích rằng ánh sáng trí tuệ của Ngài trừ tối tăm, tỏa sáng khắp tất cả, là ánh sáng lớn không thể nào so sánh với thần mặt trời có phân biệt ngày đêm, phương hướng, tỏa chiếu khắp hết thảy mọi nơi, hoạt động từ bi của Ngài liên tục, vĩnh viễn bất diệt; vì vậy mới thêm vào chữ “đại (s: mahā, 大)” để thể hiện sự hơn hẳn, vượt trội lên tất cả. Đấng Đại Nhật Như Lai như vậy lấy thật tướng của vũ trụ làm Pháp Thân, hết thảy chư Phật, Bồ Tát đều xuất sanh từ đức Phật này, và tất cả mọi chuyển động đều là hiển hiện cái đức của đấng Như Lai này. Đại Nhật Kinh (s: Mahāvairocanābhisaṃbodhi-vikurvitādhiṣṭhāna-vaipulya-sūtrendra-rāja nāma dharmaparyāya, 大日經) cũng như Kim Cang Đảnh Kinh (s: Sarvatathāgatatattvasaṃgrahanāmamahāyāna-sūtra, 金剛頂經) là những kinh điển thuyết về cách thức hiển hiện các đức ấy trong mối quan hệ với rất nhiều đấng bổn tôn khác; đồ hình thể hiện Ngài là hai bộ Mạn Trà La của Thai Tạng Giới (胎藏界) và Kim Cang Giới (金剛界). Mật hiệu của Ngài là Biến Chiếu Như Lai. Về hình tượng, với tính cách là đấng Như Lai nhưng hình là Bồ Tát. (1) Kim Cang Giới Đại Nhật (金剛界大日): hình tháp, chủng tử là vaṃ, āḥ, oṃ; là đấng trung tôn của 8 hội, ngoài Lý Thú Hội (理趣會) vốn lấy Kim Cang Tát Đỏa (金剛薩埵) làm đấng chủ tôn trong 9 hội, thuyết về kinh điển của hệ Kim Cang Đảnh Kinh. Trong quyển 3 của Kim Cang Đảnh Du Già Trung Lược Xuất Niệm Tụng Kinh (金剛頂瑜伽中略出念誦經, 4 quyển, Kim Cang Trí dịch, Taishō No. 18) có dạy rằng nên nghĩ tưởng đức Tỳ Lô Giá Na Phật, Ngài ngồi ngay trung ương của đàn, ngồi kiết già với oai đức lớn, sắc trắng như con thiên nga, hình như mặt trăng trong lành, hết thảy tướng hảo đều tròn đầy; trên đầu Ngài đội mũ báu, tóc rũ xuống, áo trời bằng tơ mỏng nhẹ buông trên vai. Trong quyển Trung của Chư Phật Cảnh Giới Nhiếp Chân Thật Kinh (諸佛境界攝眞實經, 3 quyển, Bát Nhã [般若] dịch, Taishō No. 18) cũng có giải thích rằng trên đảnh đầu Ngài có mũ 5 thứ báu, trong mũ báu có 5 vị Hóa Phật ngồi kiết già; quán như vậy xong rồi, hãy bắt Kiên Lao Kim Cang Quyền Ấn (堅牢金剛拳印), Bồ Đề Dẫn Đạo Đệ Nhất Trí Ấn (菩提引導第一智印); nhờ gia trì ấn này mà có thể thọ ký quyết định chắc chắn chứng đắc vô thượng Bồ Đề. (2) Thai Tạng Giới Đại Nhật (胎藏界大日): hình Ngũ Luân Tháp (五輪塔) không có trang sức, chủng tử āḥ, a, khaṃ, ma; là đấng chủ tôn trung tâm của Trung Đài Bát Diệp Viện (中台八葉院), được thuyết trong hệ Đại Nhật Kinh; trong quyển 1 của Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì Kinh (大毘盧遮那成佛神變加持經, 7 quyển, gọi tắt là Đại Nhật Kinh, Taishō No. 18, Thiện Vô Úy [善無畏, 637-765] và Nhất Hành [一行, 683-727] cọng dịch) có đoạn rằng đấng Đại Nhật Thắng Tôn xuất hiện, sắc vàng ròng rực rỡ, trên đầu đội mũ búi tóc; có ánh sáng cứu thế viên mãn, xa lìa nhiệt não, trú trong Tam Muội. Trong Đại Nhật Kinh Sớ quyển 4 cũng giải thích thêm rằng Ngài lấy chữ A để chuyển thành thân của Đại Nhật Như Lai, giống như sắc màu vàng kim của Diêm Phù Đàn Tử Ma (閻浮檀紫摩), như tượng Bồ Tát, khắp thân phóng đủ loại hào quang. Ấn tướng của Ngài là Pháp Giới Định Ấn (法界定印) nhằm thuyết về sự xa lìa nhiệt não và trú trong Tam Muội. (3) Tứ Diện Đại Nhật (四面大日): trong Lược Xuất Niệm Tụng Kinh (中略出念誦經) quyển 1 có giải thích rằng từ ý nghĩa hiển đắc Tứ Trí của Như Lai nội chứng, đức Phật này thể hiện không y cứ vào phương diện nào cả. Đấng bổn tôn chính của Tháp Du Kỳ (瑜祇塔) trên Cao Dã Sơn cũng dựa trên cơ sở của đấng Tứ Diện Đại Nhật. Tại Nhật Bản, hiện tồn rất nhiều tôn tượng bằng tranh cũng như gỗ khắc của đức Đại Nhật Như Lai này.
đại nhật như lai
766梵名 Mahāvairocana。為密教供奉之本尊與最上根本佛。音譯作摩訶毘盧遮那。又作毘盧遮那佛、最高顯廣眼藏、遍照王如來、光明遍照、大日遍照、遍一切處、遍照尊。其名有三義,即:(一)除暗遍明義,謂如來智慧日光遍一切處,作大照明,無有內外、晝夜之別。(二)眾務成辦義,謂如來日光遍照法界,能平等開發無量眾生之善根,乃至成就世、出世間種種殊勝事業。(三)光無生滅義,謂佛心之日雖為無明所覆障,而無所減;究竟如法實相三昧圓明,而無所增。以如此諸種原因,故世間之日不可為喻,但取其少分相似處,故加以「大」字。 大日如來係密宗將宇宙實相佛格化之根本佛,亦為一切諸佛菩薩所出之本原及所歸之果體;其身口意業遍虛空,演說如來之三密門金剛一乘甚深教。大日經疏卷一謂,大日如來分本地法身與加持受用身兩種,其中,本地法身指如來之自證極位,加持受用身指說法之教主;彼以平等之身口意祕密加持為所入之門(即以身平等之密印、語平等之真言、心平等之妙觀為方便),故知加持受用之身即是毘盧遮那遍一切身,此二身畢竟無二無別。故密宗以大日如來為最高之佛格與根本總德。以其與諸法遍在,故密號遍照金剛。 又因大日如來為金、胎兩部曼荼羅之主尊,故非常被重視,其智德以金剛界大日如來表示之,其理德則以胎藏界大日如來表示;理、智雖然二分,實際亦不相離。金剛界大日為金剛界九會中,除理趣會以外之中尊,位於五佛中央,現菩薩形,身呈白色,戴五智寶冠,結智拳印,結跏趺坐於七獅子座,此即智法身,種子為徤(vaṃ),三昧耶形為率都婆;胎藏界大日則為位於中臺八葉院中央之理法身,亦現菩薩形,身呈黃金色,頭戴五佛寶冠,結法界定印,坐於八葉蓮華臺上,種子為豙(a),三昧耶形為率都婆或如來頂印。 現存之大日如來像,不論繪畫或雕刻,均為坐像,沒有立像或倚像,且其雕刻材料幾乎限用木材,此乃依此佛之性質而定。又天台宗每將釋迦佛與大日如來之法身、應身視為同體,日本東密則將兩者視為別體。〔大乘理趣六波羅蜜多經卷二、守護國界主陀羅尼經卷九、大日經疏卷四、金剛界七集卷上〕(參閱「毘盧遮那」3858)
; Vairocana, Mahàvairocana (S). The sun, shining everywhere. Great Sun Buddha.
; (大日如來) Phạm: Mahàvairocana. Dịch âm: Ma ha tì lô giá na. Đức Phật bản tôn tối thượng của Mật giáo. Cũng gọi Tì lô giá na Phật, Tối cao hiển quảng nhãn tạng, Biến chiếu vương Như lai, Quang minh biến chiếu, Đại nhật biến chiếu, Biến nhất thiết xứ, Biến chiếu tôn. Tên hiệu của Ngài có ba nghĩa: 1. Ánh sáng soi khắp đánh tan bóng tối: Ánh sáng trí tuệ của Như lai chiếu rọi khắpmọi nơi, không bị thời gian, không gian ngăn ngại. 2. Thành tựu mọi việc: Ánh sáng của Như lai chiếu soi khắp pháp giới, có thể khai phát thiện căn cho vô lượng chúng sinh một cách bình đẳng, cho đến thành tựu các việc thù thắng thế gian và xuất thế gian. 3. Ánh sáng không sinh diệt: Ánh sáng Phật trong chúng sinh tuy bị vô minh che lấp, nhưng không vì thế mà bị tổn giảm; thực tướng tam muội rốt ráo tròn sáng mà vẫn không tăng thêm. Mật tông chủ trương Đại nhật Như lai là thực tướng vũ trụ được Phật cách hóa, là bản thể của tất cả chư Phật và Bồ tát. Ba nghiệp thân, khẩu, ý của Ngài đầy khắp hư không, diễn nói giáo pháp sâu xa mầu nhiệm Tam mật môn kim cương Nhất thừa của Như lai. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 1, thì Đại nhật Như lai có hai thân: 1. Bản địa pháp thân: Quả vị tự chứng cùng tột của Như lai. 2. Gia trì thụ dụng thân: Vị giáo chủ nói pháp. Ngài dùng thân, khẩu, ý bình đẳng bí mật gia trì làm môn sở nhập(tức là dùng mật ấn của thân bình đẳng, chân ngôn của ngữ bình đẳng và diệu quán của tâm bình đẳng làm phương tiện). Thân Gia trì thụ dụng tức là thân Tì lô giá na bao trùm tất cả, hai thân này rốt ráo không hai không khác. Bởi thế, Mật tông lấy đức Đại nhật Như lai làm Phật căn bản tối thượng. Lại vì Ngài là bản thể tràn đầy khắp mọi nơi, nên có mật hiệu là Biến chiếu kim cương. Đại nhật Như lai là vị tôn đứng đầu hai bộ mạn đồ la Kim cương giới và Thai tạng giới. Đại nhật Như lai của Kim cương giới biểu thị Trí đức, còn Đại nhật Như lai của Thai tạng giới thì biểu thị Lí đức. Lí và Trí tuy là hai, nhưng thực ra không lìa nhau. Đại nhật Như lai Kim cương giới là vị Trung tôn của cả chín hội Kim cương giới, ngoại trừ hội Lí thú. Hình tượng Ngài ngồi giữa năm đức Phật, hiện tướng Bồ tát, thân mầu trắng, đội mũ báu năm trí, kết ấn Trí quyền, ngồi kết già trên tòa bảy sư tử, đây là Trí pháp thân, chủng tử là (vaô),hình tam muội da làhình tháp. Đại nhật Như lai Thai tạng giới là Lí pháp thân; hình tượng Ngài ngồi ở trung ương viện Trung đài bát diệp, cũng hiện tướng Bồ tát, thân mầu vàng ròng, đội mũ báu năm Phật, kết ấn Pháp giới định, ngồi trên đài hoa sen tám cánh, chủng tử là (a), hình tam muội da là hình tháp hoặc là ấn Đính Như lai. Các bức tượng của đức Đại nhật Như lai hiện còn, dù vẽ hay khắc, đều là tượng ngồi và hầu hết được khắc bằng gỗ. Tông Thiên thai cho rằng Phật Thích ca và Đại nhật Như lai là đồng thể, nhưng Đông mật Nhật bản thì xem các Ngài là biệt thể. [X. kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.2; kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.9; Đại nhật kinh sớ Q.4; Kim cương giới thất tập Q.thượng]. (xt. Tì Lô Giá Na).
Đại nhật Như Lai 大日如來
[ja] ダイニチニョライ dainichinyorai ||| Mahāvairocana, the Buddha who is the central teacher and object of veneration in Vajrayāna Buddhism 密宗. "The Great Sun Buddha, is the transcendent and cosmocratic apotheosis of the historical Buddha, Sakyamuni. Under the earlier designation Vairocana ("the luminous one"), he represents Buddhism's most profound speculation on the emptiness and interpenetration of all elements in the universe (dharmadhātu). As Mahāvairocana he is concretely envisaged as the all-encompassing lord of the cosmos and is the object of worship for a form of Tantric Buddhism that spread from India to Sumatra, China, Japan, and Tibet." (Encyclopedia of Religion, Orzech). Originally the name referred to the light of the sun, but later on took on connotations of the buddha as fundamental principle of the universe. He is one of the five buddhas 五佛 depicted in the maṇḍalas of the vajradhātu and garbhadhātu. The name is transcribed into Chinese as 摩訶毘盧遮那 and 毘盧遮那佛, and is translated variously as 最高顯廣眼藏, 遍照王如來, 光明遍照, 大日遍照, 遍一切處, 遍照尊. => (s: Mahāvairocana), Đức Phật là bậc đạo sư chính và là đối tượng tôn thờ của Mật tông Phật giáo (Vajrayāna Buddhism 密宗). “Đại nhật Như Lai, là Thích Ca Mâu Ni, Đức Phật lịch sử siêu việt và giải thoát mọi ràng buộc thế gian. Với danh hiệu ban sơ là Vairocana (Đấng chiếu sáng), Ngài biểu tượng cho lĩnh vực nghiên cứu sâu mầu nhất của Phật giáo về Tính không và tính tương tức của mọi pháp giới (s:dharmadhātu). Là Đại nhật Như Lai, Ngài được nhìn một cách cụ thể như là Đấng toàn thiện của toàn vũ trụ và là đối tượng thờ phượng của Mật tông Phật giáo (Tantric Buddhism) trải dài từ Ấn Độ đến Sumatra, Trung Hoa, Nhật Bản và Tây Tạng.” (Bách khoa Từ điển Tôn giáo, Orzech). Ban đầu, danh hiệu có nghĩa là ánh sáng của mặt trời, nhưng sau đó có ý nghĩa mở rộng, Đức Phật như là nguyên lý nền tảng của vũ trụ. Đại nhật là một trong Ngũ Phật mô tả trong mạn-đà-la của Kim cương giới (s: vajradhātu) và Thai tạng giới (s: garbhadhātu). Danh hiệu được phiên âm theo tiếng Hán là Ma-ha Tỳ-lô-giá-na và Tỳ-lô-giá-na Phật và được dịch thành nhiều từ như Tối cao hiển quảng nhãn tạng, Biến chiếu vương Như Lai, Quang minh biến chiếu, Đại nhật biến chiếu, Biến nhất thiết xứ, Biến chiếu tôn.
Đại Nhật Năng Nhẫn
大日能忍; J: dainichi nōnin; tk. 12-13;|Thiền sư Nhật Bản, là người khai sáng Nhật Bản Ðạt-ma tông (j: nihon darumashū). Dòng thiền của Sư tồn tại không lâu vì sau này, phần lớn các môn đệ chính đều gia nhập tông Tào Ðộng (j: sōtō) của Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen). Người kế thừa Sư là Giác Yển (j: kakuan).|Sư tu tập thiền không có sự hướng dẫn của thầy nhưng vẫn tự mình chứng ngộ. Vì không ai ấn chứng nên Sư không được chấp nhận. Thế nên, Sư viết một bức thư nhờ hai vị đệ tử sang Trung Quốc tìm thầy ấn chứng. Ðệ tử của Sư đến yết kiến Thiền sư Phật Chiếu Ðức Quang (j: busshō tokkō, 1121-1203), thuộc tông Lâm Tế và được vị này thừa nhận, ấn khả.
đại nhật năng nhẫn
Dainichi Nōnin (J)Tên một vị sư.
Đại Nhật Phật
大日佛; S: mahāvairocana hoặc vairocana; cũng được dịch âm là Tì-lô-giá-na;|Một trong Ngũ Phật, hiện thân của Pháp giới. Khoảng thế kỉ thứ 10, trong giáo pháp Ðại thừa người ta nói thêm về quan điểm »Phật chuyển hoá siêu việt« và các vị Bồ Tát chuyển hoá liên hệ. Ðại Nhật Phật là vị Phật đầu tiên được xem là chuyển hoá từ Pháp thân. Tại Nhật, Phật Ðại Nhật hay được ví như mặt trời và bốn vị Phật còn lại như các hành tinh quay xung quanh (Phật gia).||H 24: Ðại Nhật Phật. Trong hình này Phật Ðại Nhật được diễn tả với Ấn tối thượng Bồ-đề. Ngón trỏ của tay phải được các ngón tay trái bao quanh, biểu hiện sự tuyệt đối trong tương đối, nhất thể trong vạn vật. Hai con thú hộ vệ Ngài là sư tử, và dấu hiệu của Ngài, mặt trời chói loà (ở đây được vẽ nằm trên đĩa) cũng được trình bày dưới toạ đài.
Đại nhật tam bộ kinh 大日三部經
[ja] ダイニチサンブキョウ Dainichi sanbukyō ||| The three principal texts of the cult of Mahāvairocana, or Esoteric Buddhism: the Dari jing 大日經, the Jingangding jing 金剛頂經, and the Suxidi jing 蘇悉地經. => Ba bộ kinh căn bản của tín ngưỡng Đại nhật, hay Mật tông Phật giáo: Đại nhật kinh (c: Dari jing 大日經), Kim cương đỉnh kinh (c: Jingangding jing 金剛頂經), và Tô-tất-địa kinh (c: Suxidi jing 蘇悉地).
Đại nhật 大日
[ja] ダイニチ dainichi ||| Mahāvairocana, the Buddha who is the center of Esoteric Buddhism, who represents the reality of the universe, or the embodiment of light. Transcribed as 摩訶毘盧遮那. See 大日如來. => (s: Mahāvairocana), Đức Phật trung tâm trong Mật tông Phật giáo, biểu tượng cho thực tại của pháp giới, hay hiện thân của ánh sáng. Phiên âm là Ma-ha Tỳ-lô-giá-na. Xem Đại nhật Như Lai.
đại nhựt
Phật Tỳ Lô Giá Na—Vairocana Buddha or Mahavairocana.
đại nhựt cúng
Lễ cúng dường thờ phượng Phật Tỳ Lô Giá Na—A meeting for the worship of Vairocana.
đại nhựt giác vương
Mahavairocana (skt)—Mặt trời chiếu sáng khắp cả, tên của một vị cổ Phật Tỳ Lô Giá Na, là đối tượng thờ phượng chánh của phái Chân ngôn bên Nhật—The sun, shing everywhere, name of an antique Buddha Vairocana. The chief object of worship of the Shingon sect in Japan,
đại nhựt kinh
Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì Kinh, một trong ba bộ kinh chính của Phật giáo Mật Tông, được Thiện Vô Úy dịch sang Hoa ngữ vào thời đại nhà Đường. Kinh dạy về Đại Nhựt Như Lai là hiện thân của Pháp Giới, chia ra làm Thai Tạng Giới hay thế giới hiện tượng và Kim Cang Bất Hoại Giới, cả hai hợp thành Pháp Giới. Hiện thân của Phật Tỳ Lô Giá Na là chư Phật hay chư Bồ Tát, được tiêu biểu bởi những hình vòng (hay mặt trời và các hành tinh quay quanh nó). Trong Kim Cang Giới Mạn Đồ La thì Đại Nhựt Như Lai là trung tâm của năm nhóm. Trong Thai Tạng Giới thì Đại Nhựt Như Lai là trung tòa của bông sen tám cánh. Ngài được coi như là hiện thân của chân pháp, trong hai nghĩa Pháp Thân và Pháp Bảo. Một số trường phái cho rằng Đại Nhựt Như Lai là pháp thân của Phật Thích Ca, nhưng Mật giáo lại phủ nhận điều nầy—Vairocana Sutra, name of one of the three major sutras of the Mantrayana, translated into Chinese by Subhakarasimha in the T'ang dynasty. The sutra teaches that Vairocana is the whole world, which is divided into Garbhadhatu (material) and Vajradhatu (indestructible), the two together forming Dharmadhatu. The manifestations of Vairocana's body to himself, that is, Buddhas and Bodhisattvas, are represented symbolically by diagrams of several circles. In the Vajradhatu mandala, he is the centre of the five groups. In the Garbhadhatu, he is the centre of the eight-leaved Lotus court. He is generally considered as an embodiment of the Truth, both in the sense of Dharmakaya and Dharmaratna. Some schols hold Vairocana to be the dharmakaya of sakyamuni, but the esoteric school denies this identity.
đại nhựt như lai
Mahāvairocana (S)Ma ha tỳ lư giá na, Tỳ lư giá na, Biến Chiếu Như lai, Tối cao hiển quảng nhãn tạng Như laiThường trụ Tam thế Diệu pháp thân Như lai, Đức Đại Nhật Phật, Nhứt thiết Nhơn Trung tôn. Xem Phật Tỳ lô giá na.
; Mahavairocana
đại nhựt tông
Trường phái Đại Nhựt, liên hệ với Thai Tạng Giới hay thế giới hiện tượng—The cult of Vairocana especially associated with the Garbhadhatu or phenomenal world.
đại niên cư sĩ
Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, Cư sĩ Thiền sư Đại Niên, một quan chức đời nhà Tống. Ngài là tác giả của bài thơ sau đây—According to Zen Master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book II, Upasaka Zen master Ta-Nien (973-1020), a mandarin during the Sung Dynasty. He was the author of the below poem: Cối xay tám góc chuyển trời cao Sư tử lông vàng hóa chó ngao Ví muốn cất mình lên bắc đẩu Chắp tay về ngắm chốn nam tào. An octagonal millstone rushes through the air; A golden-coloured lion has turned into a cur: If you want to hide yourself in the North Star, Turn round and fold your hands behind the South Star.
đại niết bàn
Great Nirvāṇa.
; Great Nirvana.
đại niết bàn kinh
Mahāparinirvāṇa-sŪtra (S).
Đại Niết-bàn 大涅槃
[ja] daihannehan . => Xem Đại bát niết-bàn kinh.
đại niệm phật
Invoking Buddha with a loud voice—Meditating on Buddha with continuous concentration.
; 1) Niệm Phật lớn tiếng—Invoking or repeating Buddha's name with a loud voice. 2) Thiền định quán tưởng liên tục về Phật—Meditating on Buddha with continuous concentration.
đại niệm phật tự
797為日本融通念佛宗之總本山。位於大阪市。為融通念佛宗之開祖良忍所開創。數遭大火肆虐。至江戶時代,由於幕府之外護,興榮一時。
đại náo
To stir.
đại nã
Sudana (skt)—See Tu Đạt.
đại não
Brain.
đại nạn
Great calamity.
Đại Nạp Ngôn
(大納言, Dainagon): theo quy chế của Luật Lịnh thì đây là vị Thứ Quan của Thái Chính Quan (太政官), là vị cao quan chỉ sau Tả Đại Thần mà thôi, với tư cách là một thành viên của hội đồng công khanh, người này tham nghị bàn bạc chuyện chính trị quốc gia, rồi trình tấu lên triều đình được hay không, và đóng vai trò truyền đạt những tuyên chỉ của Thiên Hoàng.
đại nộ
Great anger.
Đại Nội
(大內, Ōuchi): tên của một dòng họ thuộc hàng Thủ Hộ Đại Danh dưới thời đại Chiến Quốc, vốn quản lãnh vùng Châu Phòng (周防, Suō), Trường Môn (長門, Nagato), cũng như Phong Tiền (豐前, Buzen).
Đại Nội Nghĩa Hoằng
(大內義弘, Ōuchi Yoshihiro, 1356-1399): tên vị Võ Tướng sống dưới hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh; tên lúc nhỏ là Tôn Thái Lang (孫太郎); con của Đại Nội Hoằng Thế (大內弘世, Ōuchi Hiroyo). Ông xuất gia lấy hiệu là Hữu Phồn (有繁). Ông đã từng mở rộng thế lực của mình ở các địa phương Cửu Châu, Trung Quốc, rồi làm quan Thủ Hộ các vùng Châu Phòng (周防, Suō), Trường Môn (長門, Nagato), Phong Tiền (豐前, Buzen), Thạch Kiến (石見, Iwami). Hơn nữa, do vì ông có công trong việc bình định vụ loạn Minh Đức (明德), nên ông còn được ban cho chức quan Thủ Hộ hai vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi) và Kỷ Y (紀伊, Kii). Ông đã từng giao dịch với Triều Tiên và có công trong việc hợp nhất hai triều Nam Bắc. Nhưng do vì ông nghịch ý của Túc Lợi Nghĩa Mãn (足利義滿, Ashikaga Yoshimitsu) nên bị thảo phạt và chết trong trận chiến của Vụ Loạn Ứng Vĩnh (應永の亂). Pháp danh của ông là Hương Tích Tự Điện Tú Sơn Nhân Thật (香積寺殿秀山仁實); còn gọi là Tú Sơn Thật Công (秀山實公) hay Mai Song Đạo Thật (梅窻道實).
đại nội thanh loan
752(1845~1918)日本佛教學者。仙台人。明治初年任本願寺法主侍講。平生致力於社會事業之興辦,竭力提昇日本文化。晚年出任東洋大學校長。
Đại oai lực Ô-xu-sắc-ma minh vương kinh 大威力烏樞瑟摩明王經
[ja] ダイイリキウスサマミョウオウキョウ Daīriki Ususama myōō kyō ||| The Daweili Wushusemo mingwang jing; (Mahābalavajrakrodha-sūtra*). 3 fasc. (T 1227.21.142-158) trans. Ajitasena* 阿質達霰. => (c: Daweili Wushusemo mingwang jing; e: Mahābalavajrakrodha-sūtra*). Ba quyển. Người dịch A-chất-đạt-tản ( 阿質達霰s: Ajitasena*).
đại oai đức
Mahàtejas (S). Of awe-inspiring power, or virtue, able to suppress evil-doers and protect the good.
đại oai đức câu lâu na vương
Mahātedjas (S).
đại oai đức minh vương
Xem Diêm Mạn Uy nộ vương. Xem Minh Vương Bất động Bồ tát.
đại oai đức tạng
Mahātedjogarbha (S)Một trong nhiều phép tam muội.
Đại oai đức đà-la-ni kinh 大威德陀羅尼經
[ja] ダイイトクダラニキョウ Dai itoku daranikyō ||| The Dawei de tuoluonijing; Skt. Mahābala-dhāraṇī-sūtra; (Dhāraṇī of the Greatly Powerful One). 20 fasc. (T 1341.21.755-839), trans. Jñānagupta 闍那崛多. => (c: Dawei de tuoluonijing; Skt. Mahābala-dhāraṇī-sūtra; e: Dhāraṇī of the Greatly Powerful One). 20 quyển, Người dịch Xà-na-quật-đa ( 闍那崛多s: Jñānagupta).
Đại oai đức 大威德
[ja] ダイイトク daiitoku ||| Great authority; to possess the great power to crush evil. (2) The name of a garuḍa king. 〔法華經 T 262.9.2b03〕 => 1. Người có uy tín lớn; có năng lực lớn để hàng phục ma quỷ. 2. Tên của một loại Ca-lâu-la (Kim sí điểu) vương.
đại phiền não địa pháp
The six things or mental conditions producing passion and delusion: stupidity, excess, laziness, unbelief, confusion, discontent (or ambition) theo Câu xá luận.
; Sáu điều kiện tinh thần sinh ra dục vọng và phiền não—The six things or mental conditions producing passion and delusion: 1) Si mê: Stupidity. 2) Phóng dật (quá độ): Excess. 3) Trây lười: Laziness. 4) Bất tín: Unbelief. 5) Hôn Trầm (lộn lạo): Confusion. 6) Trạo cử: Restlessness.
đại phong
(1039-1125) Thiền tăng đời Tống, tên Linh Ngạc, tự là Thông Tẩu, người xứ Vĩnh Gia (Ôn Châu Chiết Giang) Trung Quốc. Xuất thân tiến sĩ, sư bỏ quan để xuất gia. Sư đến Trấn Giang, Giang Tô thờ Thiền sư Hoài Hiền ở chùa Kim Sơn làm thầy và đắc pháp. Sư từ Mân (Phúc Kiến) đến Hồ Dương, ở bên cạnh Linh Tuyền Cổ Tự cất nhà sơ sài để ở. Trước tiên là chuyên tâm tĩnh tu, sau đó sư thấy sự qua lại của dân hai bên bờ sông quá bất tiện nên sư quyên tiền và động viên dân chúng xây bắc cầu. Niên hiệu Tuyên Hoà thứ 2 (1120), sư bắt đầu chủ trì việc xây dựng cầu đường. Nhờ có kiến thức chuyên môn nên cuối cùng hoàn thành. Cây cầu này dài 30 trượng (90m) rộng 9 thước (2,7m), có tên là »Hồ Dương Hoà Bình«. Hai bên đầu cầu đều có bia đá lớn trên khắc chữ »Hoà Bình Lí« và »Hoà Bình Kiều« do chính tay Văn Thiên Tường cuối đời Tống viết. Ngoài việc làm cầu ra, sư còn giỏi trị bệnh cho người. Nếu kể về thiền tăng có tài giám sát việc xây dựng cầu đường và giỏi trị bệnh thì như đếm trên đầu ngón tay. Đại Phong là một vị tăng có tinh thần khoa học. Theo phả hệ sư là Tổ: Thiền tông đời thứ 19, Nam Tông đời thứ 14, hệ Nam Nhạc đời thứ 13, tông Lâm Tế đời thứ 9.
; Typhoon—Great storm.
đại phong sơn
834位於日本奈良東南方。為日本修驗道之聖地。北自金峰山,南迄玉置山,山區綿亙八千六百公尺。古代日本修驗道者,皆登此山苦練。相傳為修驗道之祖役小角所開創。苦練修行者每深入峰巒隱居,入山時有順峰(自熊野來)及逆峰(自吉野來)之別。(參閱「金峰山寺」3581)
đại phong tai
Great storm, third of three destructive calamities to end the world.
; Tai ương gió bão, loại tai ương thứ ba tiêu hủy thế giới—Great storms, the third of the three destructive calamities to end the world—See Đại phong thủy hỏa tai.
đại phong thủy hỏa tai
Mahapralaya—The final and utter destruction of a universe by wind, flood, and fire.
đại phàm
The whole—All.
đại pháp
Chỉ Phật pháp, thiền pháp. Tiết [i]Khai thị Duy-na[/i] Như trong DTNL q. 3 ghi: »總 而 言 之、 只 是 見 地 未 徹、 劄 腳 未 穩、 道 念 輕 微 故 爾。 道 念 者 何? 了 生 死、 明 大 法 之 念 也。 – [i]Nói tóm lại, chỉ vì kiến địa chưa thấu suốt, việc của mình chưa ổn nên xem nhẹ đạo niệm vậy. Đạo niệm là gì? Là niệm liễu thoát sinh tử, tỏ ngộ thiền pháp đó[/i]«.
; Mahā-dharma (S).
; Xem Luận.
; The great Dharma, or Law (of Mahàyàna salvation).
; Pháp Đại Thừa cứu độ chúng sanh—Great dharma or Law of Mahayana salvation.
đại pháp cổ
800 請參閱 金陵清涼院文益禪師語錄 或 法眼文益禪師語錄 指佛陀所宣說之大法。蓋大法之聲,猶如鼓音,能警醒人,令離生死之長夜,故稱大法鼓。法華經序品(大九.三下):「吹大法螺,擊大法鼓。」(參閱「法鼓3417」)
; Trống pháp lớn mà tiếng vọng của nó có thể cảnh tỉnh được chúng sanh—The Great Law drum.
; (大法鼓) Trống pháp lớn. Chỉ cho đại pháp do đức Phật tuyên thuyết. Vì tiếng đại pháp của Phật giống như tiếng trống lớn cảnh tỉnh chúng sinh khiến ra khỏi đêm dài sống chết, nên gọi là Đại pháp cổ. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 3 hạ), nói: Thổi loa pháp lớn, đánh trống pháp lớn. (xt. Pháp Cổ).
đại pháp cổ kinh
801梵名 Mahā-bherī-hāraka-parivarta。凡二卷。劉宋求那跋陀羅譯。今收於大正藏第九冊。內容講說如來常住一乘真實之理,兼述一切世間樂見離車童子於佛陀入滅後傳正法之事。主旨類似法華、涅槃諸經,經題具有「擊大法門之鼓,宣說深妙之義趣」之涵義。〔出三藏記集卷二、法經錄卷一、歷代三寶紀卷十、大唐內典錄卷六、古今譯經圖紀卷三、大周刊定眾經目錄卷一〕
; Mahā-bheriharaka-parivarta (S).
; Mahabheriharaka-parivarta (skt)—Được Cầu Na Bạt Đà La dịch sang Hoa ngữ từ năm 420 đến 479 sau Tây Lịch—Translated into Chinese by Gunabhadra around 420 to 479 A.D.
; (大法鼓經) Phạm: Mahà-bherì-hàraka-parivarta. Gồm 2 quyển, do ngài Cầu na bạt đà la dịch vào đời Lưu Tống, thu vào Đại chính tạng tập 9. Nội dung giảng nói về lí Như lai thường trụ Nhất thừa chân thực, đồng thời, tường thuật việc đồng tử Nhất thiết thế gian nhạo kiến li xa truyền trì chính pháp sau khi đức Phật nhập diệt. Ý chỉ chủ yếu trong kinh này cũng giống như trong các kinh Pháp hoa, Niết bàn, đề kinh bao hàm đầy đủ nghĩa đánh trống pháp lớn, tuyên nói nghĩa thú sâu xa mầu nhiệm. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Pháp kinh lục Q.1; Lịch đại tam bảo kỉ Q.10; Đại đường nội điển lục Q.6; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.3; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.1].
Đại pháp cự đà-la-ni kinh 大法炬陀羅尼經
[ja] ダイホウコダラニキョウ Daihō ko darani kyō ||| The Dafa ju tuoluonijing; Skt. Dharmolkadhāraṇī-sūtra; (Dhāraṇī of the Lamp of Dharma). 52 chapters in 20 fasc. (T 1340.21.661-755), trans. Jñānagupta 闍那崛多. => (C: Dafa ju tuoluonijing; Skt. Dharmolkadhāraṇī-sūtra; e: Dhāraṇī of the Lamp of Dharma). 52 phẩm trong 20 quyển. Xà-na-quật-đa (s: Jñānagupta 闍那崛多) dịch.
đại pháp khẩn na la vương
Mahādharma-kinnaras radja (S)Tên một vị thiên.
đại pháp loa
801指佛陀所宣說之大法。蓋大法之聲,猶如螺貝,能警醒人,故稱大法螺。法華經卷一序品(大九.三下):「今佛世尊,欲說大法,雨大法雨,吹大法螺,擊大法鼓,演大法義。」〔無量壽經卷上、不空羂索神變真言經卷十八〕(參閱「法螺」3428)
; Loa pháp Đại thừa—The Great Law conch, or Mahayana bugle.
; (大法螺) Giáo pháp do đức Phật nói cũng giống như tiếng loa, có năng lực cảnh tỉnh chúng sinh, nên gọi là Đại pháp loa. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 3 hạ), nói: Nay đức Thế tôn, muốn nói pháp lớn, tuôn mưa pháp lớn, thổi loa pháp lớn, đánh trống pháp lớn, diễn nghĩa pháp lớn. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.18]. (xt. Pháp Loa).
đại pháp luân
Mahādharma-chakra (S).
đại pháp mạn
Intellectual pride, arrogance through possession of the Truth.
; Intellectual pride or arrogance through possession of the Truth.
đại pháp nhãn
Huyền chỉ Thiền tông giáo ngoại biệt truyền tức chính pháp nhãn tạng. Tiết Huệ Khả Thiền sư trong TĐT q. 2 ghi: »如 來 以 大 法 眼 付 囑 迦 葉、 如 是 展 轉 乃 至 於 我。 – [i]Như Lai đem huyền chỉ Thiền tông trao cho Ca-diếp, lần lượt truyền trao như thế cho đến tay ta[/i]«.
đại pháp nhãn tạng
Chỉ huyền chỉ Thiền tông giáo ngoại biệt truyền. Chương Tổ thứ 9, Phục-đà-mật-đa trong CĐTĐL q. 1 ghi: »如 來 大 法 眼 藏 今 付 於 汝、 汝 護 念 之。 – [i]Huyền chỉ Thiền tông của Như Lai giao lại cho ngươi, ngươi phải khéo giữ gìn[/i]«.
đại pháp vũ
Mưa pháp lớn—Mưa pháp Đại thừa—The raining, preaching of the Mahayana.
đại pháp vương
Sudharmaraja—King of the Sudharma Kinnaras, the horse-headed human bodied musicians of Kuvera.
Đại pháp 大法
[ja] ダイホウ daihō ||| (1) The great dharma; great teaching; the teaching of the Buddha (mahā-dharma). (2) The teachings of the Mahāyāna. (3) Great virtue. (4) The great practice dharma 大修法 of the esoteric sect. => 1. Giáo pháp vĩ đại; giáo lý rộng lớn; giáo pháp vĩ đại của Đức Phật (s: mahā-dharma). 2. Giáo lý Đại thừa. 3. Tác dụng ưu việt. 4. Đại tu pháp (大修法) của Mật tông.
đại phú
Very rich.
đại phúc
Đại phước--Great happiness—Great felicity.
Đại phúc 大腹
[ja] ダイフク daifuku ||| See mohuoluojia 摩睺羅迦 (mahoraga) => Xem Ma-hầu la-già (摩睺羅迦c: mohuoluojia; s: mahoraga).
đại phương
① Đất đai, thế giới. Tiết Ngọc Tuyền Tông Liễn Thiền sư trong NĐHN q. 20 ghi: »橫 身 宇 宙、 獨 步 大 方。 – [i]Một mình bước đi trong thế giới, dang thân nơi vũ trụ[/i]«. ② Đường cái. Tiết Tiến Phúc Đạo Anh Thiền sư trong TĐT q. 18 ghi: »不 居 正 位、 豈 落 邪 途。 不 蹈 大 方、 那 趨 小 徑? – [i]Chẳng ở chính vị, há rơi vào nẻo tà? Chẳng đi trên đường cái, đâu thể rảo bước trên lối nhỏ?[/i]«.
đại phương gia
Bậc tu hành cao thủ. Tiết Hiền Công Đại Hoà thượng hành nghiệp khúc kí trong NHQL q. 3 ghi: »大 方 家 之 手 段、 遇 物 一 刀 兩 斷。 趙 州 救 得 此 猫、 未 免 熱 瞞 一 上。 – Đại phương gia chi thủ đoạn, ngộ vật nhất đao lưỡng đoạn, Triệu Châu cứu đắc thử miêu, vị miễn nhiệt man nhất thượng. – [i]Thủ đoạn của bậc (tu hành) cao thủ, gặp việc giải quyết dứt khoát, Triệu Châu cứu được con mèo, chưa khỏi một phen dối gạt[/i]«.
đại phương quang tổng trì bảo quang minh kinh
Ta-fang-kuang tsung-t 'ai pao-kuang-ming ching (C)Tên một bộ kinh.
đại phương quảng
757梵語 mahā-vaipulya。為九部經之一,十二部經之一。又作無比、廣破、大方等。無外曰大,正理曰方,包富曰廣。一乘實相之理,具此三義,故稱大方廣。為大小乘之通名,然多用於大乘經。大乘為方廣部之至上,故稱大方廣。如大方廣佛華嚴經、大方等如來藏經、大方廣地藏十輪經等皆是。諸經以正理廣辯諸法,一切法之性相眾多,非廣言繁詞不能辯徹,此廣言能破除極頑堅之無智闇,而證得幽博、平等之理趣。〔順正理論卷四十四、大日經疏卷九、大乘法苑義林章卷二本〕(參閱「毘佛略」3849)
; Mahā-vaipulya (S)Một trong 9 thể loại kinh, dùng để chỉ kinh Đại thừa như: Đại Phương Quảng Phật Hoa nghiêm, Đại Phương đẳng Như Lai tạng, Đại Phương quảng Địa tạng Thập luận.
; Mahàvaipulya (S). Sùtras of Mahàyàna. Phương quảng and phương đẳng are similar in meaning. Quảng broad, widespread; phương levelled up, equal, everywhere, universal. The Vaipulya works are styled sùtras, for the broad doctrine of universalism.
; Mahavaipulya (skt)—The great Vaipulya, or sutra of Mahayana—See Đại Phương Đẳng.
; (大方廣) Phạm: Mahà-vaipulya. Một trong chín bộ kinh, một trong mười hai bộ kinh. Cũng gọi Vô tỉ, Quảng phá, Đại phương đẳng. Đại nghĩa là lớn không ngoài, Phương nghĩa là chính lí, Quảng nghĩa là bao trùm. Đại phương quảng là chỉ cho lí Nhất thừa thực tướng. Đại phương quảng là tên gọi chung cho cả Đại thừa và Tiểu thừa, nhưng thực tế thì phần nhiều được dùng để chỉ các kinh Đại thừa. Như: Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh, Đại phương đẳng Như lai tạng kinh, Đại phương quảng Địa tạng thập luân kinh v.v... Các kinh dùng chính lí để giải thích các pháp một cách rộng rãi, vì tính tướng của tất cả pháp quá nhiều, nếu không thuyết minh rộng thì không thể thấu suốt được. Lời nói rộng có khả năng giúp người tu học phá trừ bóng tối ngu si mà chứng được lí sâu xa, bình đẳng. [X. luận Thuận chính lí Q.44; Đại nhật kinh sớ Q.9; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2 phần đầu].
đại phương quảng bồ tát tạng văn thù sư lợi căn bản nghi quỹ kinh
765凡二十卷。北宋天息災譯。收於大正藏第二十冊。敘述有關文殊師利之曼拏羅、圖像等儀則,以及印相、護摩等作法。計分二十八品。本經乃自大中祥符法寶錄卷五所錄出者。宋藏遺珍所收之現存祥符錄雖有缺損,然從同書卷二十二之總錄,及大中祥符法寶錄略出中來推論,則可知本經與觀想佛母般若波羅蜜多菩薩經一卷及十號經一卷,係同於北宋雍熙三年(986)所譯成。據諸儀軌稟承錄卷六載,唐代寶思惟所譯之大方廣菩薩藏經中文殊師利根本一字陀羅尼法、唐代義淨所譯之曼殊室利菩薩咒藏中一字咒王經相當於本經之成就最上法品,可視為本經之別生經。 本經之梵本為 Ārya-mañjuśrī-mūla-kalpa(聖文殊師利根本儀軌),共五十五品;藏譯本為 Ḥphags-pa ḥjam-dpal-gyi rtsa-baḥi rgyud(聖文殊根本怛特羅),共三十六品。本經與梵本、藏譯本相比較,所缺內容甚多,其中最重要之梵本第五十三品諸王受記品(梵 Rāja-vyākaraṇa-parivarta),本經亦缺;此品之內容係以懸記之形式,講說自釋尊以前至波羅王朝初期,印度各地之王統史,為印度佛教史極為珍貴之史料,布頓(藏 Bu-ston)、多羅那他(梵 Tāranātha)等西藏系統之佛教史家,於著作之中常引用此一資料。〔天聖釋教總錄卷下、至元法寶勘同總錄卷五、蓮門類聚經籍錄卷上〕
; (大方廣菩薩藏文殊師利根本儀軌經) Gồm 20 quyển, do ngài Thiên tức tai dịch vào đời Bắc Tống, thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung gồm 28 phẩm, trình bày các phép tắc vẽ tượng, vẽ mạn noa la cho đến tác pháp hộ ma, ấn tướng v.v... có liên quan đến bồ tát Văn thù sư lợi. Kinh này được chép ra từ quyển 5 của Đại trung tường phù pháp bảo lục và cùng với kinh Quán tưởng Phật mẫu bát nhã ba la mật đa bồ tát 1 quyển và kinh Thập hiệu 1 quyển cùng được dịch vào năm Ung hi thứ 3 (986) đời Bắc Tống. Cứ theo Chư nghi quĩ bẩm thừa lục quyển 6 nói, thì Văn thù sư lợi căn bản nhất tự đà la ni pháp trong kinh Đại phương quảng bồ tát tạng do ngài Bảo tư duy dịch vào đời Đường và kinh Nhất tự chú vương trong Mạn thù thất lợi bồ tát chú tạng do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường tương đương với phẩm Thành tựu tối thượng pháp của kinh này, cho nên có thể xem các kinh vừa nói ở trên là các kinh biệt sinh của kinh này. Nguyên bản tiếng Phạm của kinh này là: Àrya-maĩjuzrì-mùla-kalpa (Thánh Văn thù sư lợi căn bản nghi quĩ) gồm 5 phẩm. Bản dịch Tây tạng: Fphags-pa hjam-dpal-gyi rtsa-ba#i rgyud (Thánh Văn thù căn bản đát đặc la) gồm 36 phẩm. So sánh với nguyên bản tiếng Phạm và bản dịch Tây tạng thì nội dung kinh này còn thiếu rất nhiều, mà quan trọng nhất là thiếu phẩm Chư vương thụ kí (Phạm: Ràjavyàkaraịa-parivarta) là phẩm thứ 53 của Phạm bản. Nội dung phẩm này là những lời huyền kí(lời nói dự đoán trước)về các triều vua của Ấn độ trước thời đức Phật đến đầu thời kì triều vua Ba la, là sử liệu rất quí báu về lịch sử Phật giáo Ấn độ. Các sử gia Phật giáo Tây tạng như: Bu-ston, Tàranàtha v.v... thường trích dẫn tư liệu này trong các tác phẩm của họ. [X. Thiên thánh thích giáo tổng lục Q.hạ; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.5; Liên môn loại tụ kinh tịch lục Q.thượng].
Đại phương quảng Bồ-tát tàng kinh trung Văn-thù-thất-lợi căn bản nhất tự đà-la-ni kinh 大方廣菩薩藏經中文殊室利根本一字陀羅尼經
[ja] ダイホウコウボサツゾウキョウチュウモンジュシツリコンポンイチジダラニキョウ Daihōkō Bosatsuzōkyō chū Monjushiri kompon ichiji daranikyō ||| The Dafangguang Pusazangjing zhong Wenshushīi genben yizi tuoluonijing; (Mañjuśrī's Fundamental One-Syllable Dhāraṇī from the Mahāvaipulya-bodhisattvapiṭaka). 1 fasc. (T 1181.20.780-781), trans. Maṇicintana 寶思惟 in 702 CE. Corresponds to chapter 9 of the Mañjuśrīmūlakalpa. => (c: Dafangguang Pusazangjing zhong Wenshushīi genben yizi tuoluonijing; (Mañjuśrī's Fundamental One-Syllable Dhāraṇī from the Mahāvaipulya-bodhisattvapiṭaka), 1 quyển. Bảo Tư Duy (Maṇicintana 寶思惟) dịch năm 702.
đại phương quảng giác phật kinh
Mahāvaipulyabuddha-gaṇdavyŪha-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
đại phương quảng kinh
Mahāvaipulya (S)Một trong 47 tên khác nhau của Kinh Pháp Hoa.
đại phương quảng mạn thù thất lợi kinh
764請參閱 華嚴經感應傳 請參閱 華嚴經綱要 全一卷。唐代不空譯。又稱佛說大方廣曼殊室利經觀自在多羅菩薩儀軌經、觀自在菩薩授記經、多羅菩薩儀軌經。收於大正藏第二十冊。本經乃大本文殊經中觀音授記經之一部分,共分四品。內容敘述自觀音普現色身、授記、右瞳中出現多羅菩薩、講說功德、陀羅尼等,及觀音曼荼羅、護摩、灌頂、供養、大咒、一髻羅剎陀羅尼等。
; (大方廣曼殊室利經) Có 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường. Cũng gọi Phật thuyết đại quảng mạn thù thất lợi kinh Quán tự tại đa la bồ tát nghi quĩ kinh, Quán tự tại bồ tát thụ kí kinh, Đa la bồ tát nghi quĩ kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 20. Kinh này là một phần của kinh Quan âm thụ kí trong kinh Đại bản văn thù, gồm có bốn phẩm. Nội dung nói về Quan âm phổ hiện sắc thân, thụ kí, bồ tát Đa la xuất hiện từ mắt bên phải, công đức giảng nói, đà la ni, cho đến các pháp hộ ma, quán đính, cúng dường, Quan âm mạn đồ la, đại chú, nhất kế la sát đà la ni v.v...
Đại phương quảng Mạn-thù-thất-lợi đồng chân bồ-tát Hoa Nghiêm bản giáo tán Diệm-man-đức-ca phẫn nộ vương chân ngôn a-tỳ-giá-ca-lỗ nghi quỹ phẩm
大方廣曼殊室利童眞菩薩華嚴本教讃閻曼德迦忿怒王眞言阿毘遮迦嚕儀軌品 [ja] ダイホウコウマンジュシツリドウシンボサツケゴンホンキョウサンエンマントクケフンヌオウシンゴンアヒシャケロギキホン aihōkō Manjushiridō shimbosatsu kegon honkyō san Emmantokka funnuō shingon abisharoka giki bon ||| The Dafangguang Manshushīitong zhenpusa huayan benjiao zan yanmandejia fennuwang zhenyan Apizhelujia yigui pin; Tib. jam dpal gyi rtsa ba'i rgyud [To.543]; (Ritual Chapter on Yamāntaka, Ferocious King of Mantras and Abhicāraka, from the Bodhisattvapiṭakāvisara-mañjusr'īkumārabhūta-mūlakalpa). 1 fasc. (T 1216.21.77-81), abbreviated as Ritual Chapter on Abhicāraka 阿毘遮迦嚕儀軌品, trans. unknown (attributed to Amoghavajra 不空). A chapter from the Mañjuśrīmūlakalpa (T 1191). Corresponds to part of the Tibetan version. => (c: Dafangguang Manshushīitong zhenpusa huayan benjiao zan yanmandejia fennuwang zhenyan Apizhelujia yigui pin; Tib. jam dpal gyi rtsa ba'i rgyud ; e: Ritual Chapter on Yamāntaka, Ferocious King of Mantras and Abhicāraka, from the Bodhisattvapiṭakāvisara-mañjusr'īkumārabhūta-mūlakalpa). 1quyển Gọi tắt là A-tỳ-giá-ca-lỗ nghi quỹ phẩm. Dịch giả vô danh (gán cho Bất Không). Là 1 phẩm trong Mañjuśrīmūlakalpa. Tương đương với một phần trong bản dịch tiếng Tây Tạng.
đại phương quảng như lai bí mật tạng kinh
Tathagata-Garbha-Sutra (skt)—Kinh nói về nghĩa của Như Lai Tạng là trong phiền não của chúng sanh đã sẳn có đức của pháp thân Như Lai, được Bất Không đời Đường dịch sang Hoa ngữ vào khoảng từ năm 350 đến 431 sau Tây Lịch—Translated into Chinese around 350-431 A.D.
Đại phương quảng Như Lai tàng kinh 大方廣如來藏經
[ja] ダイホウコウニョライゾウキョウ Daihoukō nyoraizou kyō ||| Dafangguang rulaizang jing; (Tathāgatagarbha-sūtra) 1 fasc. trans. Bukong 不空; T 667.16.460b-468a; See also T 666.16.457a-460b. => (c: Dafangguang rulaizang jing; e: Tathāgatagarbha-sūtra). 1 quyển, Bất Không (c: Bukong 不空) dịch.
đại phương quảng như lai tạng kinh
757請參閱 如來不思議境界經 全一卷。唐代不空譯。收於大正藏第十六冊。內容係佛為金剛慧菩薩等,以密房、稻麥、貧人等種種譬喻講說一切有情所具之如來藏。本經原屬顯教經典,然由於係密教第六祖不空三藏所譯,故歷來多收於祕密部之中。
; (大方廣如來藏經) Có 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 16. Nội dung Phật dùng các ví dụ như: Phòng kín, hạt lúa, người nghèo v.v... để nói cho bồ tát Kim cương tuệ nghe về Như lai tạng sẵn có của hết thảy chúng sinh. Kinh này vốn thuộc về kinh điển Hiển giáo, nhưng vì do ngài Bất không là Tổ thứ 6 của Mật giáo dịch, cho nên xưa nay thường được thu vào Bí mật bộ.
đại phương quảng phật
758請參閱 如來藏經 指華嚴經之本尊。即證得大方廣理之佛。大,包含之義;方,軌範之義;廣,謂體極用周;佛,謂果圓覺滿。〔華嚴經探玄記卷一〕
; Mahā-vaipulya Buddha (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Hoa Nghiêm Bổn Tôn, vị Phật đã chứng nghiệm được lý đại phương quảng hay là bậc đã công viên quả mãn—The fundamental honoured one of the Avatamsaka—The Buddha who realizd the universal law.
; (大方廣佛) Chỉ cho đức Bản tôn của kinh Hoa nghiêm, tức là vị Phật đã chứng được lí Đại phương quảng. Đại là bao hàm; phương quảng là thể dụng trùm khắp; Phật là quả giác tròn đầy. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1].
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh
(s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 大方廣佛華嚴經): gọi tắt là Hoa Nghiêm Kinh (c: Hua-yen-ching, j: Kegonkyō, 華嚴經), Tạp Hoa Kinh (雜華經). Đây là một trong những bộ kinh quan trọng của Phật Giáo Đại Thừa. Hoa Nghiêm Tông (華嚴宗, Kegonshū) của Trung Hoa và Nhật Bản đều ý cứ vào bộ kinh này, lập ra diệu nghĩa gọi là pháp giới duyên khởi (法界緣起), sự sự vô ngại (事事無礙), v.v., để làm tông chỉ. Theo tựa đề mà luận, Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh lấy pháp dụ cho nhân quả, nêu lên danh xưng gọi là “lý trí nhân pháp (理智人法, lý trí người và pháp)”; cho nên yếu chỉ của kinh đều ở trong đây. Từ đại (大) ở đây có nghĩa là bao hàm; phương (方) là quỹ phạm; quảng (廣) là cùng khắp; tức nói chung thể dụng của pháp giới nhất tâm, rộng lớn không cùng, nên mới gọi là đại phương quảng. Phật là đấng chứng nhập vào pháp giới vô tận to lớn không cùng; hoa (華) là thí dụ nhân hạnh thành tựu vạn đức tròn đầy; cho nên để khai diễn muôn hạnh nhân vị, lấy thâm nghĩa của hoa để trang sức cho quả vị Phật, nên có tên là Phật Hoa Nghiêm (佛華嚴). Vào ngày thứ 14 sau khi thành đạo dưới cội cây Bồ Đề, kinh này được đức Như Lai thuyết cho các Bồ Tát thượng vị như Văn Thù (s: Mañjuśrī, 文殊), Phổ Hiền (s: Samantabhadra, 普賢), v.v., về pháp môn tự nội chứng. Giáo lý của Kinh Hoa Nghiêm là bánh xe pháp căn bản trong các giáo pháp, vì vậy có tên là Xưng Tánh Bản Giáo (稱性本敎); hơn nữa, giáo pháp này thuộc về pháp môn Đốn Giáo (頓敎), nên được gọi là Sơ Đốn Hoa Nghiêm (初頓華嚴). Mặc dầu kinh này xuất phát từ Ấn Độ, nhưng vẫn chưa phát huy toàn bộ huyền chỉ tối cao của kinh; cho đến khi Trung Hoa thành lập Hoa Nghiêm Tông, áo nghĩa đó mới đạt đến tột đỉnh chân nghĩa. Về Phạn bản của kinh này, từ xưa đến nay vẫn có nhiều thuyết khác nhau. Theo bản Hoa Nghiêm Kinh Truyền Ký (華嚴經傳記, Taishō Vol. 51, No. 2073) quyển 1 của Sa Môn Pháp Tạng (法藏, 643-712) của Sùng Phước Tự (崇福寺) ở Kinh Triệu (京兆) cho biết rằng Bồ Tát Long Thọ (s: Nāgājruna, 龍樹) thấy kinh này dưới Long Cung, có 3 bản Thượng Trung Hạ. Trong bản Thượng và Trung, số phẩm tụng rất nhiều, với sức phàm tình thì không thể nào thọ trì được; nên ẩn tàng không truyền ra. Và bản được truyền đến nay là bản Hạ, có đến mười vạn (100.000) câu kệ và 48 phẩm (hay 38 phẩm). Về sau, Bồ Tát Thế Thân (s: Vasubandhu, 世親) viết ra Thập Địa Kinh Luận (十地經論, Taishō Vol. 26, No. 1522, 12 quyển) để giải thích Phẩm Thập Địa (十地品) của kinh này. Các luận sư khác như Kim Cang Quân (金剛軍), Kiên Huệ (堅慧), v.v., cũng có các luận chú về Phẩm Thập Địa. Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký (華嚴經探玄記, Taishō Vol. 35, No. 1733) quyển 1 lại chia kinh này thành 6 bản là Hằng Bản (恆本), Đại Bản (大本), Thượng Bản (上本), Trung Bản (中本), Hạ Bản (下本) và Lược Bản (略本). Ngoài ra, Hoa Nghiêm Kinh Chỉ Quy (華嚴經旨歸, Taishō Vol. 45, No. 1871), Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Sớ (大方廣佛華嚴經疏, Taishō Vol. 35, No. 1735) quyển 3 lại nêu ra 10 tên khác của kinh như Dị Thuyết Kinh (異說經), Đồng Thuyết Kinh (同說經), Phổ Nhãn Kinh (普眼經), Thượng Bản Kinh (上本經), Trung Bản Kinh (中本經), Hạ Bản Kinh (下本經), Lược Bản Kinh (略本經), Chủ Bạn Kinh (主伴經), Quyến Thuộc Kinh (眷屬經), Viên Mãn Kinh (圓滿經). Lại theo Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 100, Phạn bản của Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát Kinh (不可思議解脫經, tức Tứ Thập Hoa Nghiêm Kinh [四十華嚴經]) có tất cả mười vạn câu kệ. Tuy nhiên, Nhiếp Đại Thừa Luận Thích (攝大乘論釋, Taishō Vol. 31, No. 1595) quyển 15, bản dịch của Thiên Trúc Tam Tạng Chơn Đế (s: Paramārtha, 眞諦, 499-569) nhà Lương, lại cho rằng Hoa Nghiêm Kinh có trăm ngàn kệ, nên có tên là Bách Thiên Kinh (百千經). Bản hiện tồn có ba loại: (1) Lục Thập Hoa Nghiêm (六十華嚴, Taishō Vol. 9, No. 278), 60 quyển, do Phật Đà Bạt Đà La (s: Buddhabhadra, 佛駄跋陀羅, 359-429) dịch từ năm 418-420 hay 421 (niên hiệu Nghĩa Hy [義熙] thứ 14 đến niên hiệu Nguyên Hy [元熙] thứ 2 hoặc Nguyên Sơ [元初] thứ 2) thời Đông Tấn; còn gọi là Cựu Hoa Nghiêm (舊華嚴), Cựu Dịch Hoa Nghiêm Kinh (舊譯華嚴經), Cựu Kinh (舊經), Tấn Kinh (晉經); tổng thành 7 nơi, 8 hội, 34 phẩm. Hoa Nghiêm Tông lấy 8 hội phân thành phần trước và phần sau; 7 hội của phần trước được thuyết trong thời gian 21 ngày sau khi đức Phật thành đạo; 1 hội của phần sau được thuyết vào thời kỳ sau. Trong khi đó, Bồ Đề Lưu Chi (s: Bodhiruci, 菩提流支, 562-727) lại cho rằng 5 hội trước được thuyết vào 7 ngày đầu sau khi đức Phật thành đạo; còn 2 hội sau được thuyết vào tuần thứ hai. Trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Sớ quyển 4, Trừng Quán (澄觀, 738-839) cho rằng trong 9 hội của Tân Hoa Nghiêm (新華嚴, tức Bát Thập Hoa Nghiêm, theo thuyết 7 chỗ, 9 hội), 5 hội đầu được thuyết vào tuần đầu tiên; hội thứ 6, 8 và 8 thuộc vào tuần thứ 2; và hội thứ 9 có Phẩm Nhập Pháp Giới (入法界品) thì thuộc về sau này. Về việc phiên dịch kinh này, theo Xuất Tam Tạng Ký Tập (出三藏記集, Taishō Vol. 55, No. 2145) quyển 9, Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký quyển 1, v.v., Phạn bản của Hoa Nghiêm Kinh nguyên lai có mười vạn (100.000) câu kệ, do Chi Pháp Lãnh (支法領) nhà Đông Tấn mang từ nước Vu Điền (s: Ku-stana, 于闐) vào ba vạn sáu ngàn (360.000) câu kệ, từ tháng 3 năm 418 (Nghĩa Hy [義熙] thứ 14) đời vua An Đế (安帝, tại vị 397-419); rồi được Phật Đà Bạt Đà La dịch thành 60 quyển; nên có tên gọi là Lục Thập Hoa Nghiêm. Đây là bản dịch thứ nhất. Tuy nhiên, trong dịch bản này, Phẩm Nhập Pháp Giới vẫn còn khuyết văn, và mãi cho đến năm 680 (Vĩnh Long [永隆] nguyên niên) đời vua Huyền Tông (玄宗, 712-756) nhà Đường mới được bổ dịch. Bản Chú Sớ của kinh này thì rất nhiều, như Hoa Nghiêm Kinh Sớ (華嚴經疏, 7 quyển) của Huệ Viễn (慧遠, 334-416); Hoa Nghiêm Kinh Sưu Huyền Phân Tề Thông Trí Phương Quỹ (華嚴經搜玄分齊通智方軌, 5 quyển) của Trí Nghiễm (智儼, 620-668); Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký (華嚴經探玄記, 20 quyển) của Pháp Tạng (法藏, 643-712), v.v. (2) Bát Thập Hoa Nghiêm (八十華嚴, Taishō Vol. 10, No. 279), 80 quyển, do Thật Xoa Nan Đà (s: Śikṣānanda, 實叉難陀, 652-710) nhà Đường dịch; còn gọi là Tân Hoa Nghiêm (新華嚴), Đường Kinh (唐經); tổng thành 7 chỗ, 9 hội, 39 phẩm, là bản dị dịch của Lục Thập Hoa Nghiêm. Một vài điểm dị đồng giữa hai bản Lục Thập Hoa Nghiêm và Bát Thập Hoa Nghiêm có thể nêu ra như sau: Phạn bản của Bát Thập Hoa Nghiêm được Thật Xoa Nan Đà mang từ nước Vu Điền vào Trung Quốc thể theo lời thỉnh cầu của Võ Tắc Thiên (武則天, tại vị 684-705); bắt đầu dịch từ tháng 3 năm 695 (Chứng Thánh [證聖] nguyên niên) tại Biến Không Tự (遍空寺), đến tháng 10 năm 699 (Thánh Lịch [聖曆] thứ 2) thì hoàn tất. Tương truyền trong khoảng thời gian này, đích thân Võ Hậu đến dịch trường, tự tay đề tên phẩm kinh. Đây được xem như là bản dịch thứ hai. So với bản Cựu Dịch Lục Thập Hoa Nghiêm, bản Tân Dịch này có văn từ lưu loát, nghĩa lý tròn đầy, cho nên được lưu thông thịnh hành. Kinh điển chính của Hoa Nghiêm Tông chính là bản Bát Thập Hoa Nghiêm này. Ngoài ra, dịch bản tiếng Tây Tạng có 45 phẩm; trong đó 44 phẩm đầu tương đương với 38 phẩm trước của kinh này, phẩm thứ 45 thì tương đương với Phẩm Nhập Pháp Giới thứ 39. Về các bản Chú Sớ của Bát Thập Hoa Nghiêm, có Lược Sớ San Định Ký (略疏刊定記, 15 quyển) của Huệ Uyển (慧苑, 673-?); Hoa Nghiêm Kinh Sớ (華嚴經疏, 30 quyển) của Thần Tú (神秀, 605-706); Hoa Nghiêm Kinh Sớ (華嚴經疏, 60 quyển) của Trừng Quán (澄觀, 738-839); Hoa Nghiêm Kinh Luân Quán (華嚴經綸貫, 1 quyển) của Phục Am (復菴); Hoa Nghiêm Kinh Cương Yếu (華嚴經綱要, 80 quyển) của Hám Sơn Đức Thanh (憨山德清, 1546-1623), v.v. (3) Tứ Thập Hoa Nghiêm (四十華嚴), 40 quyển, do Bát Nhã (s: Prajñā, 般若, 734-?) nhà Đường dịch; gọi đủ là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Nhập Bất Tư Nghì Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm (大方廣佛華嚴經入不思議解脫境界普賢行願品, Taishō Vol. 10, No. 293); gọi tắt là Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm (普賢行願品), còn có tên là Trinh Nguyên Kinh (貞元經). Bản này được truyền vào nước Ni Ba La (尼波羅, tức Ni Bạc Nhĩ [尼泊爾], Nepal), là cùng với bản Hoa Nghiêm Kinh trong 9 bộ kinh Đại Thừa. Nội dung bộ kinh thuật lại việc Thiện Tài Đồng Tử (s: Sudhana-śreṣṭhi-dāraka, 善財童子) từng đi tham vấn qua 55 (hoặc 53) vị thiện tri thức và thành tựu hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền. Đặc biệt, trong bản Tứ Thập Hoa Nghiêm này có nêu lên 10 hạnh nguyện của Phổ Hiền. Về vấn đề phiên dịch bản kinh này, vào tháng 11 năm 795 (Trinh Nguyên [貞元] thứ 11) đời vua Đức Tông (德宗, tại vị 779-805) nhà Đường, do Sư Tử Vương (師子王) của nước Ô Đồ (s: Oḍra, 烏荼), Thiên Trúc (天竺), phái sứ giả tiến cống Phạn bản Hoa Nghiêm Kinh vốn do tự tay nhà vua viết. Đến tháng 6 năm sau, bản này được Bát Nhã Tam Tạng (般若三藏) người Kế Tân (罽賓, tức Ca Tất Thí [s: Kāpiśa, 迦畢試]) dịch tại Sùng Phước Tự (崇福寺), Trường An (長安). Hai cao tăng Trừng Quán và Viên Chiếu (圓照) giám định dịch bản tại Giám Hư Tự (鑑虛等); và đến tháng 2 năm 798 (Trinh Quán thứ 14) thì hoàn tất công tác phiên dịch. Phạn bản của kinh này hiện bảo tồn tại thư viện của các nước như Anh, Pháp, Ấn Độ, v.v. Bản biệt dịch của kinh này có La Ma Già Kinh (羅摩伽經, 3 quyển) của Thánh Kiên (聖堅, ?-?) nhà Đông Tấn; Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Nhập Pháp Giới Phẩm (大方廣佛華嚴經入法界品, 1 quyển) của Địa Bà Ha La (地婆訶羅, 613-687) nhà Đường; Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Nhập Pháp Giới Phẩm Tứ Thập Nhị Tự Quán Môn (大方廣佛華嚴經入法界品四十二字觀門, 1 quyển) của Bất Không (s: Amoghavajra, 不空, 705-774) nhà Đường, v.v. Về bản Chú Sớ của kinh có Hoa Nghiêm Kinh Hạnh Nguyện Phẩm Sớ (華嚴經行願品疏, 10 quyển) của Trừng Quán; Hoa Nghiêm Kinh Biệt Hành Sớ (華嚴經別行疏, 2 quyển) của Trọng Hy (仲希, ?-?); Hoa Nghiêm Kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện Tu Chứng Nghi (華嚴經普賢行願修證儀, 1 quyển) của Tịnh Nguyên (淨源, 1011-1088), v.v. Ngoài ra, còn có một số bản tán vịnh Thiện Tài Đồng Tử đi tham vấn chư thiện trí thức như Đại Phương Quảng Hoa Nghiêm Nhập Pháp Giới Phẩm Tán (大方廣華嚴入法界品讚) của Dương Kiệt (楊傑, hậu bán thế kỷ 11); Văn Thù Chỉ Nam Đồ Tán (文殊指南圖讚) của Phật Quốc Duy Bạch (佛國惟白, ?-?), v.v.
Đại phương quảng phật hoa nghiêm kinh
大方廣佛華嚴經; S: buddhāvataṃsaka-ma-hāvaipulya-sūtra; J: daihō kōbutsu kegonkyō; thường được gọi tắt là Hoa nghiêm kinh (s: ava-taṃsakasūtra hoặc gaṇḍavyūha);|Kinh Ðại thừa cơ bản của Hoa nghiêm tông. Kinh nhấn mạnh đến tính »vô ngại« của mọi hiện tượng và chủ trương rằng, Tâm con người chính là vũ trụ và đồng thể với tâm Phật. Quan điểm này của Ðại thừa hay được Thiền tông nhấn mạnh và vì thế, kinh này cũng thường được tông này nhắc nhở.|Kinh Hoa nghiêm thuộc về những bộ kinh hệ Phương đẳng, là một bộ kinh gồm 81 quyển mà phần dài nhất là phẩm Hoa nghiêm (s: gaṇḍavyūha). Một phần quan trọng độc lập khác là Thập địa (s: daśabhūmika). Ngày nay người ta chỉ còn tìm thấy kinh Hoa nghiêm trong dạng chữ Hán và chữ Tây Tạng, phần chữ Hán được dịch trong thế kỉ thứ 5.|Giáo pháp trong kinh này không phải do Phật Thích-ca trực tiếp truyền dạy – trong hội này Ngài nói rất ít – mà là phát biểu của các dạng xuất hiện của Pháp thân (Ba thân). Sự im lặng của đức Thích-ca biểu hiện tính Không và sự truyền dạy giáo pháp được hiểu là một dạng của Chân như, xuất hiện cho con người hiểu được. Tương truyền kinh này rất khó hiểu, chỉ các Ðại Bồ Tát mới lĩnh hội được.|Bộ kinh này được dịch ra Hán văn dưới ba dạng, bộ 40 quyển của Bát-nhã (s: prajñā), bộ 60 quyển của Giác Hiền (cũng gọi là Phật-đà Bạt-đà-la; s: buddhabhadra), và bộ 80 quyển của Thật-xoa Nan-đà (s: śikṣānanda).|Phẩm Hoa nghiêm – chữ Phạn là Gaṇḍa-vyūha – tương đương với bộ 40 quyển của Pháp sư Bát-nhã nên cũng được gọi là Tứ thập hoa nghiêm. Gaṇḍavyūha thường được xem là toàn bộ Hoa nghiêm kinh (s: avataṃsaka hoặc buddhāvataṃ-saka) bởi vì bộ kinh Ðại thừa mang biệt danh Gaṇḍavyūha được xem như là 9 bộ kinh cốt yếu ở Ne-pal. Tại Trung Quốc và Tây Tạng, phẩm Gaṇḍavyūha được gọi là phẩm »Nhập Pháp giới« (入法界; s: dharmadhātupraveṣa). Như vậy, bộ Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh bao gồm cả Gaṇḍavyūha.|Ðây là phẩm dài nhất và quan trọng nhất của bộ kinh, được đức Thích-ca thuyết tại Xá-vệ (s: śrāvastī), tả cảnh Thiện Tài đồng tử (s: sudhana) đi tìm đạo dưới sự hướng dẫn của Văn-thù Sư-lị (s: mañjuśrī). Thiện tài đồng tử tham vấn 53 vị Thánh nhân, kể cả Di-lặc (s: maitreya), đức Phật tương lai. Cuối cùng Thiện Tài gặp được Phổ Hiền (s: samantabhadra), được vị này giáo hoá và đạt Bồ-đề. Ðoạn cuối của phẩm này trình bày mười đại nguyện của Phổ Hiền, là cơ sở của một đời sống Bồ Tát. Phẩm này trở thành giáo lí căn bản của Hoa nghiêm tông.|Hai bài kệ quan trọng của kinh Hoa nghiêm là (Thích Duy Lực dịch):|1. Nếu người muốn biết rõ|Tất cả Phật tam thế|Phải quán tính Pháp giới|Tất cả do tâm tạo.|2. Nếu người muốn biết cảnh giới Phật|Ý căn thanh tịnh như hư không|Xa lìa vọng tưởng và chấp thủ|Khiến tâm khắp nơi đều vô ngại|Ðại phương quảng viên giác tu-đa-la liễu nghĩa kinh|大方廣圓覺修多羅了義經; S: mahāvai-pulya-pūrṇa-buddhasūtra-prasannārtha-sūtra; tên gọi đầy đủ của Viên giác kinh;|Viên giác kinh
đại phương quảng phật hoa nghiêm kinh
758梵名 Buddhāvataṃsaka-mahāvaipulya-sūtra。又稱華嚴經、雜華經。乃大乘佛教要典之一。我國華嚴宗即依據本經,立法界緣起、事事無礙等妙義為宗旨。茲就本經之經題而論,大方廣佛華嚴經,係「法喻因果」並舉,「理智人法」兼備之名稱,一經之要旨,皆在此中。大,即包含之義;方,即軌範之義;廣,即周遍之義。亦即總說一心法界之體用,廣大而無邊,稱為大方廣。佛,即證入大方廣無盡法界者;華,即成就萬德圓備之果體的因行譬喻;故開演因位之萬行,以嚴飾佛果之深義,則稱為佛華嚴。總之,大方廣佛華嚴係所詮之義理,而「經」則為能詮之言教。 本經係如來成道後之第二七日,於菩提樹下為文殊、普賢等上位菩薩所宣說之自內證法門,此一華嚴經教乃教法中之根本法輪,故稱「稱性本教」。又因本教法屬頓教法門,故亦稱初頓華嚴。內容記述佛陀之因行果德,開顯出重重無盡、事事無礙之妙旨。華嚴經雖出於印度,然尚未發揮本經最高之玄旨,直至我國成立華嚴宗,方才發揚其真義。 關於本經之梵本,自古以來即有諸種異說,據法藏之華嚴經傳記卷一載,龍樹菩薩於龍宮中見本經有上、中、下三本,其上本與中本之頌數品數浩大,非凡力所能受持,故隱而不傳;至於所傳之下本,即是十萬偈四十八品(或謂三十八品)之華嚴經。其後,世親菩薩作十地經論以釋十地品,金剛軍、堅慧等論師亦造有十地品之釋論。又華嚴經探玄記卷一,將本經分為恆本、大本、上本、中本、下本、略本等六本。華嚴經旨歸、華嚴經疏卷三等則舉出:異說經、同說經、普眼經、上本經、中本經、下本經、略本經、主伴經、眷屬經、圓滿經等十種之別。另據大智度論卷一○○所載,不可思議解脫經(四十華嚴經)之梵本共有十萬偈。然梁譯攝大乘論釋卷十五則謂,華嚴經僅有百千偈,故稱百千經。 茲將現存華嚴經之別生經,即由大本別出抄譯(又稱別譯)之經,以及華嚴經之別本,與華嚴經之品名相比,列表如下: 此外,華嚴經之異譯本(相當華嚴經之全部),則有下列三種: (一)六十華嚴。凡六十卷。東晉佛馱跋陀羅譯。又稱舊華嚴、晉經。收於大正藏第九冊。總成七處,八會,三十四品。華嚴宗將本經三十四品攝為教起因緣分、舉果勸樂生信分、修因契果生解分、託法進修成行分、依人入證成德分等五分,此係就經文而別之;及立所信、差別、平等、成行、證入等五周之因果,此則就義理而區分。如上表所示。 六十華嚴之結構組織,採用七處八會之說法,七處,即演說之場所為七處;八會,即演說之回數為八會。茲列表於下頁。 此外,天台宗將本經之八會分為前分與後分,前分,乃前七會屬之,為佛成道三七日間所說;後分,乃後一會屬之,為後時之所說。又菩提流支認為前五會乃佛成道後之初七日所說,而第六會以後,則為第二七日所說。另澄觀於華嚴經疏卷四則舉出,新華嚴(八十華嚴,採七處九會之說)九會中,前五會為初七日之說法,第六、七、八三會為第二七日之說法,第九會入法界品則為後時之說法。 關於本經之翻譯,據出三藏記集卷九、華嚴經探玄記卷一等所舉,華嚴經之梵本,原有十萬偈,由東晉支法領從于闐國攜入三萬六千偈,自安帝義熙十四年(418)三月,由佛馱跋陀羅譯成六十卷,稱為六十華嚴,此即第一譯。然六十華嚴中之入法界品尚有缺文,直至唐永隆元年(680)始補譯之。 本經之註疏甚多,有華嚴經疏七卷(慧遠)、華嚴經搜玄分齊通智方軌五卷(智儼)、華嚴經孔目章四卷(智儼)、華嚴經探玄記二十卷(法藏)等。 <二>八十華嚴。凡八十卷。唐代實叉難陀譯。又稱新華嚴、唐經。收於大正藏第十冊。總成七處,九會,三十九品。為六十華嚴之異譯。茲將八十華嚴與六十華嚴之異同處,列表如左: 八十華嚴之梵本,乃實叉難陀應武則天之請,從于闐國攜入我國,自唐武則天證聖元年(695)三月,於遍空寺內始譯,武后親臨譯場,揮毫首題品名,至聖曆二年(699)十月功畢,此即第二譯。新譯之八十華嚴比舊譯之六十華嚴,文辭流暢,義理更周,故流通較盛。華嚴宗之主經即此八十華嚴。 此外,本經之西藏譯本,總成四十五品。其中,前四十四品相當於本經之前三十八品,第四十五品相當於本經第三十九入法界品。又西藏本之別譯有第十一品、第三十二品等二品。上述西藏本之文句與本經出人之處不少。 關於本經之註疏,有略疏刊定記十五卷(慧苑)、華嚴經疏三十卷(神秀)、華嚴經疏六十卷(澄觀)、華嚴經綸貫一卷(復菴)、華嚴經綱要八十卷(德清)等。 <三>四十華嚴。凡四十卷。唐代般若譯。全稱大方廣佛華嚴經入不思議解脫境界普賢行願品,略稱普賢行願品,又稱貞元經。收於大正藏第十冊。為新舊兩譯華嚴經入法界品之別譯,與傳於尼波羅國(尼泊爾)之九部大乘經中之華嚴經為同本。內容記述善財童子歷參五十五善知識(或謂五十三參),而成就普賢之行願。 四十華嚴僅有入法界品一品,然此品佔華嚴經四分之一以上,故視之為異譯,茲將其結構組織,列表如後。 又四十華嚴之敘述,雖與新舊兩華嚴經之入法界品大同小異,然其文較廣,於卷四十中新添加普賢十種大願,及「重頌」(以偈頌重覆闡釋經法)之普賢廣大願王清淨偈,為本經之特色。 關於本經之翻譯,係於唐德宗貞元十一年(795)十一月,由南天竺烏荼國師子王派使者進貢其所親寫華嚴經之梵本,翌年六月,於長安崇福寺,由罽賓般若三藏譯之,澄觀及圓照、鑑虛等諸師詳定,至貞元十四年二月譯畢,共四十卷,此即四十華嚴。又本經之梵本,現保存於英、法、印度等國之圖書館或學會中。本經亦有西藏譯本及西夏文字之經本。 此外,本經記述善財童子遊行南方,歷訪善知識之說,與道行般若經等所述薩陀波倫菩薩東行參求般若之說類同。又本經所記之諸大聲聞不能聞知佛之自在神變,以寓「斥小歎大」(斥責小乘,稱歎大乘)之意,與維摩經等之旨趣一致。 本經之別譯,有西秦聖堅所譯之羅摩伽經三卷、唐代地婆訶羅所譯之大方廣佛華嚴經入法界品一卷、唐代不空所譯之大方廣佛華嚴經入法界品四十二字觀門一卷。又本經卷四十普賢廣大願王清淨偈之異譯有二種。 本經之註疏,有華嚴經行願品疏十卷(澄觀)、華嚴經別行疏二卷(仲希)、華嚴經普賢行願修證儀一卷(淨源)等。另讚詠善財童子歷參五十五善知識者,有大方廣華嚴入法界品讚(楊傑)、文殊指南圖讚(惟白)等。〔出三藏記集卷二、歷代三寶紀卷三、卷七、大唐內典錄卷六、開元釋教錄卷三、至元法寶勘同總錄卷二、唐本一切經目錄卷上、貞元新定釋教目錄卷十三、卷十七、大藏聖教法寶標目卷九〕(參閱「五十三參」1048、「五十五善知識」1053、「五周因果」1106、「善財童子」4888;「華嚴宗」5245)
; Buddhavatamsaka Mahāvaipulya sŪtra (S), Daiho kobutsu kegonky (J), Buddhavataṃsaka-sŪtra (S), Ta-fang-kuang fo-hua-yen ching (C)Hoa Nghiêm KinhTên một bộ kinh. Gọi tắt là Avatamsaka Sutra (Hoa Nghiêm Kinh).
; Buddhavatamsaka-Mahavaipulya-Sutra
; (大方廣佛華嚴經) Phạm: Buddhàvataôsakamahàvaipulya-sùtra. Cũng gọi Hoa nghiêm kinh, Tạp hoa kinh, một trong những kinh điển trọng yếu của Phật giáo Đại thừa. Tông Hoa nghiêm Trung quốc đã y cứ vào kinh này mà lập ra các nghĩa vi diệu: Pháp giới duyên khởi, sự sự vô ngại v.v... làm tông chỉ. Đề kinh: Đại phương quảng Phật hoa nghiêm đã bao hàm yếu chỉ của toàn kinh, đầy đủ cả Pháp dụ nhân quả và Lí trí nhân pháp. Đại là bao hàm; Phương là quĩ phạm; Quảng là rộng khắp, tức là thể dụng của Nhất tâm pháp giới rộng lớn không có bờ bến, gọi là Đại phương quảng. Phật là bậc đã chứng vào pháp giới rộng lớn vô tận ấy; Hoa dụ cho nhân hạnh đã thành tựu quả thể tròn đủ muôn đức; hoặc nói nghĩa muôn hạnh của Phật ở Nhân vị là để trang nghiêm quả Phật, thì gọi là Phật hoa nghiêm. Tóm lại, Đại phương quảng Phật hoa nghiêm là nghĩa sở thuyên, còn Kinh là ngôn giáo năng thuyên. Kinh này là pháp môn tự nội chứng mà đức Như lai đã nói cho các bậc thượng vị Bồ tát như: Văn thù, Phổ hiền v.v... nghe sau khi Ngài thành đạo được 14 ngày dưới gốc cây Bồ đề. Kinh Hoa nghiêm là pháp luân căn bản trong các giáo pháp, nên gọi là Xứng tính bản giáo. Là vì giáo pháp này thuộc pháp môn đốn giáo, nên cũng gọi là Sơ đốn hoa nghiêm. Nội dung trình bày nhân hạnh, quả đức của Phật, hiển bày diệu chỉ trùng trùng vô tận, sự sự vô ngại. Kinh Hoa nghiêm tuy xuất phát ở Ấn độ, nhưng vẫn chưa phát huy được ý chỉ sâu xa, cho mãi đến khi tông Hoa nghiêm được thành lập ở Trung quốc thì chân nghĩa của kinh này mới được hiển dương đến chỗ cao tột. Về nguyên bản tiếng Phạm kinh Hoa nghiêm, từ xưa đã có nhiều thuyết khác nhau. Theo Hoa nghiêm kinh truyện kí quyển 1 của ngài Pháp tạng nói, thì ngài Long thụ đã thấy kinh này ở Long cung có ba bản thượng, trung, hạ; số bài tụng và số phẩm rất đồ sộ, sức phàm phu không thể thụ trì được, nên giấu kín không truyền, mà chỉ truyền bản hạ, tức là kinh Hoa nghiêm gồm 10 vạn bài kệ, 48 phẩm (có thuyết nói 38 phẩm). Về sau, bồ tát Thế thân cũng như các luận sư: Kim cương quán, Kiên tuệ v.v... đều có làm luận để giải thích phẩm Thập địa. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1 chia kinh này làm sáu bản là: Hằng bản, Đại bản, Thượng bản, Trung bản, Hạ bản và Lược bản. Hoa nghiêm kinh chỉ qui, Hoa nghiêm kinh sớ quyển 3 thì nêu ra mười thứ khác nhau là: Kinh Dị thuyết, kinh Đồng thuyết, kinh Phổ nhãn, kinh Thượng bản, kinh Trung bản, kinh Hạ bản, kinh Lược bản, kinh Chủ bản, kinh Quyến thuộc, kinh Viên mãn v.v... Ngoài ra, luận Đại trí độ quyển 100 nói, bản tiếng Phạm của kinh Bất khả tư nghị giải thoát (kinh Hoa nghiêm 40 quyển) có mười vạn bài kệ. Nhiếp đại thừa luận thích quyển 15 (bản dịch đời Lương) cũng nói: Kinh Hoa nghiêm có 100.000 bài kệ, nên gọi là Bách thiên kinh. Dưới đây là những kinh Biệt sinh (tức là những kinh được rút ra từ bản chính, cũng gọi Biệt dịch), những bản khác và những tên phẩm của kinh Hoa nghiêm hiện còn được so sánh với nhau như sau: - Kinh Phật thuyết đâu la (phẩm Danh hiệu) 1 quyển, Chi lâu ca sấm dịch vào đời Đông Hán. - Kinh Bồ tát bản nghiệp(phẩm Tịnh hạnh) 1 quyển, Chi khiêm dịch vào đời Ngô. - Kinh Chư Bồ tát cầu Phật bản nghiệp (phẩm Tịnh hạnh) 1 quyển, Niếp đạo chân dịch vào đời Tây Tấn. - Kinh Bồ tát thập trụ hành đạo phẩm (phẩm Thập trụ) 1 quyển, Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. - Kinh Tiệm bị nhất thiết trí đức(phẩm Thập địa) 5 quyển, Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. - Kinh Đẳng mục bồ tát sở vấn tam muội (phẩm Thập định) 3 quyển, Trúc pháp hộ dịch vào Tây Tấn. - Kinh Như lai hưng hiển (phẩm Tính khởi) 4 quyển, Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. - Kinh Độ thế phẩm(phẩm Li thế gian) 6 quyển, Trúc pháp hộ dịch. - Kinh Bồ tát thập trụ (phẩm Thập trụ), 1 quyển, Kì đa mật dịch vào đời Đông Tấn. - Kinh Thập trụ(phẩm Thập địa) 4 quyển, Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần. -Kinh Hiển vô biên Phật độ công đức (phẩm Thọ mệnh)1 quyển, Huyền trang dịch vào đời Đường. - Kinh Giảo lượng nhất thiết Phật sát công đức(phẩm Thọ mệnh) 1 quyển, Pháp hiền dịch vào đời Tống. - Kinh La ma già (phẩm Nhập pháp giới) 3 quyển, Thánh kiên dịch vào đời Tây Tần. - Kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh tục nhập pháp giới phẩm (phẩm Nhập pháp giới) 1 quyển, Địa bà ha la dịch vào đời Đường. - Kinh Văn thù sư lợi phát nguyện (phẩm Nhập pháp giới)1 quyển, Giác hiền dịch vào đời Đông Tấn. -Kinh Đại phương quảng Như lai bất tư nghị cảnh giới(hội Phổ quang pháp đường) 1 quyển, Thực xoa nan đà dịch vào đời Đường. - Kinh Đại phương quảng nhập Như lai trí đức bất tư nghị(hội Phổ quang pháp đường) 1 quyển, Thực xoa nan đà dịch. -Kinh Đại phương quảng phổ hiền sở thuyết (Biệt bản Hoa nghiêm)1 quyển, Thực xoa nan đà dịch. - Kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm bất tư nghị Phật cảnh giới phần (Biệt bản Hoa nghiêm)1 quyển, Đề vân bát nhã dịch vào đời Đường. - Kinh Phật hoa nghiêm nhập Như lai đức trí bất tư nghị cảnh giới (Biệt bản Hoa nghiêm) 2 quyển, Xà na quật đa dịch vào đời Tùy. - Kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm tu từ phần (Biệt bản Hoa nghiêm) 1 quyển, Đề vân bát nhã dịch vào đời Đường. Ngoài ra, về các bản dịch khác của kinh Hoa nghiêm (tương đương với toàn bộ kinh Hoa nghiêm) thì có ba loại sau đây: 1. Lục Thập Hoa Nghiêm, gồm 60 quyển, do ngài Phật đà bạt đà la dịch vào đời Đông Tấn. Cũng gọi Cựu hoa nghiêm, Tấn kinh, thu vào Đại chính tạng tập 9. Nội dung gồm 7 xứ, 8 hội, 34 phẩm. Tông Hoa nghiêm thu 34 phẩm này vào 5 phần là: Giáo khởi nhân duyên, Cử quả khuyến lạc sinh tín, Tu nhân khế quả sinh giải, Thác pháp tiến tu thành hành và Y nhân nhập chứng thành đức. Trên đây là đứng về phương diện kinh văn mà phân biệt. Tiếp đến, dựa theo nghĩa lí mà chia và lập 5 vòng nhân quả là: Sở tín, Sai biệt, Bình đẳng, Thành hạnh và Chứng nhập. Về cách kết cấu, tổ chức kinh Hoa nghiêm (60 quyển) thì nói theo Thất xứ, Bát hội. Thất xứ là bảy nơi diễn thuyết, Bát hội là tám lần diễn thuyết được tóm tắt như sau: Hội thứ 1: Ở đạo tràng Tịch diệt (từ quyển 1 đến quyển 4) bao gồm 2 phẩm: Thế gian tịnh nhãn và Lô xá na. Hội thứ 2: Ở điện Phổ quang minh (từ quyển 4 đến quyển 7) gồm 6 phẩm: Như lai danh hiệu, Tứ đế, Như lai quang minh giác, Bồ tát minh nan, Tịnh hạnh và Bồ tát hiền thủ. Hội thứ 3: Trên cung trời Đao lợi(từ quyển 8 đến quyển 10) gồm 6 phẩm: Phật thăng Tu di đính, Diệu thắng điện thượng thuyết kệ, Bồ tát thập trụ, Phạm hạnh, Sơ phát tâm bồ tát công đức và Minh pháp. Hội thứ 4: Ở cung trời Dạ ma(từ quyển 11 đến quyển 13) gồm 4 phẩm: Phật thăng Dạ ma thiên cung, Dạ ma thiên cung Bồ tát thuyết kệ, Công đức hoa tụ bồ tát thập hành và Bồ tát thập vô tận tạng. Hội thứ 5: Trên cung trời Đâu suất(từ quyển 13 đến quyển 23) gồm 3 phẩm: Như lai thăng Đâu suất thiên cung, Đâu suất thiên cung Bồ tát tán Phật và Kim cương chàng bồ tát thập hồi hướng. Hội thứ 6: Ở cung trời Tha hóa tự tại (từ quyển 23 đến quyển 36) gồm 11 phẩm: Thập địa, Thập minh, Thập nhẫn, A tăng kì, Thọ mệnh, Bồ tát trụ xứ, Phật bất tư nghị pháp, Như lai tướng hải, Phật tiểu tướng công đức, Phổ hiền Bồ tát hạnh và Bảo vương như lai tính khởi. Hội thứ 7: Ở pháp đường Phổ quang (điện Phổ quang minh lần thứ 2– từ quyển 36 đến quyển 43) có một phẩm: Li thế gian. Hội thứ 8: Ở rừng Thệ đa (từ quyển 44 đến quyển 60) có 1 phẩm: Nhập pháp giới. Ngoài ra, tông Thiên thai chia 8 hội của kinh này thành 2 phần: Phần đầu gồm 7 hội là phần đức Phật nói pháp trong thời gian 21 ngày sau khi thành đạo. Phần sau 1 hội cuối cùng là phần đức Phật nói pháp trong thời gian sau 21 ngày. Ngài Bồ đề lưu chi thì cho rằng 5 hội trước là phần đức Phật nói trong 7 ngày đầu sau khi thành đạo, còn từ hội thứ 6 về sau là phần đức Phật nói trong 14 ngày kế tiếp. Ngoài ra, trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 4, ngài Trừng quán cho rằng trong chín hội của Tân hoa nghiêm (Bát thập Hoa nghiêm dùng thuyết Thất xứ, cửu hội), thì 5 hội trước là phần nói pháp trong 7 ngày đầu, 3 hội 6, 7, 8 là phần nói pháp trong 14 ngày tiếp theo, còn hội thứ 9 là phần nói pháp trong những ngày sau đó. Về phần phiên dịch kinh này, cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 9 và Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1 nói, thì nguyên bản tiếng Phạm của kinh Hoa nghiêm vốn có 10 vạn bài kệ, nhưng bản do ngài Chi pháp lãnh đời Đông Tấn từ nước Vu điền mang vào Trung quốc chỉ có 3vạn6nghìn bài kệ. Vào tháng 3 năm Nghĩa hi 14 (418) đời An đế, ngài Phật đà bạt đà la dịch thành 60 quyển, gọi là Lục thập Hoa nghiêm. Đây là lần dịch đầu tiên, nhưng phẩm Nhập pháp giới chưa được hoàn bị, mãi đến niên hiệu Vĩnh long năm đầu (680) mới được dịch bổ sung. Kinh này có rất nhiều sách chú sớ như: Hoa nghiêm kinh sớ 7 quyển (Tuệ viễn), Hoa nghiêm kinh sưu huyền phân tề thông trí phương quĩ 5 quyển (Trí nghiễm), Hoa nghiêm khổng mục chương 4 quyển (Trí nghiễm), Hoa nghiêm kinh thám huyền kí 20 quyển (Pháp tạng) v.v... 2. Bát Thập Hoa Nghiêm, gồm 80 quyển, do ngài Thực xoa nan đà dịch vào đời Đường. Cũng gọi Tân hoa nghiêm, Đường kinh, thu vào Đại chính tạng tập 10, gồm Thất xứ, Cửu hội, 39 phẩm, là bản dịch khác của Lục thập Hoa nghiêm. Những chỗ dị đồng giữa Hoa nghiêm 80 quyển và Hoa nghiêm 60 quyển được đồ biểu như sau: Nguyên bản tiếng Phạm của kinh Hoa nghiêm (80 quyển) do ngài Thực xoa nan đà mang từ nước Vu điền vào Trung quốc theo lời thỉnh cầu của Vũ tắc thiên. Vào tháng 3 niên hiệu Chứng thánh năm đầu (695), ngài Thực xoa nan đà bắt đầu phiên dịch ở chùa Biến không, Vũ hậu đích thân đến dịch trường viết tên của phẩm đầu. Đến năm Thánh lịch thứ 2 (699) vào tháng 10 thì dịch xong. Đây là lần phiên dịch thứ hai. Bát thập Hoa nghiêm so với Lục thập Hoa nghiêm thì lời văn trôi chảy, nghĩa lí trong sáng, đầy đủ, nên được lưu thông rất rộng. Đây là bộ kinh chính yếu của tông Hoa nghiêm. Ngoài ra, kinh này còn có bản dịch Tây tạng, gồm 45 phẩm. Trong đó, 44 phẩm đầu tương đương với 38 phẩm trước của Bát thập Hoa nghiêm, còn phẩm 45 thì tương đương với phẩm Nhập pháp giới thứ 39. Văn cú trong bản dịch Tây tạng có rất nhiều chỗ khác với bản Hán dịch. Về chú sớ của kinh này thì có: Lược sớ san định kí 15 quyển(Tuệ quyển), Hoa nghiêm kinh sớ 30 quyển (Thần tú), Hoa nghiêm kinh sớ 60 quyển (Trừng quán), Hoa nghiêm kinh luân quán 1 quyển (Phục am), Hoa nghiêm kinh cương yếu 80 quyển (Đức thanh) v.v... 3. Tứ Thập Hoa Nghiêm, gồm 40 quyển, do ngài Bát nhã dịch vào đời Đường. Gọi đủ: Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh nhập bất tư nghị giải thoát cảnh giới phổ hiền hành nguyện phẩm, gọi tắt: Phổ hiền hành nguyện phẩm, cũng gọi Trinh nguyên kinh, thu vào Đại chính tạng tập 10. Đây là bản dịch khác của phẩm Nhập pháp giới trong hai bản kinh Hoa nghiêm (bản mới và cũ, tức là bản 80 quyển và bản 60 quyển) và là cùng bản với kinh Hoa nghiêm trong chín bộ kinh Đại thừa truyền ở nước Ni bạc nhĩ (Népal). Nội dung của bản dịch này ghi chép việc đồng tử Thiện tài lần lượt tham vấn 55 vị thiện tri thức (có chỗ nói53 vị), mà thành tựu hạnh nguyện Phổ hiền. Tứ thập Hoa nghiêm tuy chỉ có một phẩm Nhập pháp giới, nhưng nó đã chiếm tới hơn 1/4 của toàn bộ kinh Hoa nghiêm, vì thế, nó được xem như là bản dịch khác của kinh Hoa nghiêm. Cách kết cấu, tổ chức của Tứ thập Hoa nghiêm được đồ biểu như sau: Lại sự trình bày của Tứ thập Hoa nghiêm, phần lớn tuy giống với phẩm Nhập pháp giới của cả Lục thập Hoa nghiêm và Bát thập Hoa nghiêm ở trên, nhưng văn từ rộng hơn và nhất là trong quyển 40 có thêm vào Phổ hiền thập chủng đại nguyện và bài kệ trùng tụng Phổ hiền quảng đại nguyện vương thanh tịnh. Đây là đặc sắc của bản kinh này. Nguyên bản tiếng Phạm của kinh này do chính tay vua Sư tử nước Ô đồ thuộc Nam thiên trúc viết và sai sứ giả đem đến dâng vua Đức tông nhà Đường, Trung quốc, vào tháng 11 năm Trinh nguyên 11 (795), đến tháng 6 năm sau, ngài Tam tạng Bát nhã người Kế tân phiên dịch ở chùa Sùng phúc tại Trường an, có các ngài Trừng quán, Viên chiếu, Giám hư v.v... xem xét cẩn thận, rõ ràng. Đến tháng 2 năm Trinh nguyên 14 (798), việc phiên dịch mới được hoàn tất. Bản tiếng Phạm của kinh này hiện còn được cất giữ trong các Thư viện hoặc Học viện của các nước Anh, Pháp, Ấn độ v.v... kinh này còn có bản dịch tiếng Tây tạng và bản dịch văn Tây hạ. Ngoài ra, thuyết đồng tử Thiện tài đi về phương Nam lần lượt tham vấn các thiện tri thức được trình bày trong kinh này cũng giống với thuyết bồ tát Tát đà ba luân qua phương Đông tìm cầu Bát nhã nói trong kinh Đạo hành bát nhã. Lại nữa, kinh này cũng ghi việc các vị đại Thanh văn không thể nghe biết được sức thần biến tự tại của đức Phật, để ngụ ý chê Tiểu thừa, khen Đại thừa, giống với chỉ thú của kinh Duy ma. Về các bản dịch khác của kinh này thì có: Kinh La ma già 3 quyển do ngài Thánh kiên dịch vào đời Tây Tần; kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm phẩm Nhập pháp giới 1 quyển, do ngài Địa bà ha la dịch vào đời Đường; Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh Nhập pháp giới phẩm Tứ thập nhị tự quán môn 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường. Về bài kệ Phổ hiền quảng đại nguyện vương thanh tịnh trong quyển 40 của kinh này cũng có hai bản dịch khác. Về chú sớ thì có: Hoa nghiêm kinh hành nguyện phẩm sớ 10 quyển do ngài Trừng quán soạn; Hoa nghiêm kinh biệt hành sớ 2 quyển của ngài Trọng hi; Hoa nghiêm kinh Phổ hiền hành nguyện tu chứng nghi 1 quyển của ngài Tịnh nguyên v.v... Ngoài ra, phần tán thán đồng tử Thiện tài lần lượt tham vấn55 vị thiện tri thức thì có: Đại phương quảng Hoa nghiêm Nhập pháp giới phẩm tán của Dương kiệt; Văn thù chỉ nam đồ tán của Duy bạch v.v... [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.3, Q.7; Đại đường nội điển lục Q.6; Khai nguyên thích giáo lục Q.3; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.2; Nhất thiết kinh mục lục Q.thượng (bản đời Đường); Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13, Q.17; Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục Q.9]. (xt. Ngũ Thập Tam Tham, Ngũ Thập Ngũ Thiện Tri Thức, Ngũ Chu Nhân Quả, Thiện Tài Đồng Tử, Hoa Nghiêm Tông).
đại phương quảng phật hoa nghiêm kinh nhập pháp giới phẩm
758全一卷。又稱大方廣佛華嚴經續入法界品、續入法界品、華嚴經入法界品。唐代地婆訶羅譯。今收於大正藏第十冊。依華嚴探玄記卷一載,本書係針對晉譯六十華嚴經入法界品中(卷五十七後半)摩耶夫人以下至彌勒菩薩之前,所缺欠之八、九紙之經文,予以補充之作,為根據新梵本翻譯之傳世經典。內容敘述善財童子求訪有德童女等九人之經過。即善財依摩耶夫人之勸,往見正念王之童女天主光、善知眾藝、賢勝、堅固解脫、妙月、無勝軍、尸毘最勝等善知識,後至妙意花門城之童子德生與童女有德之處,二人以不可思議之善根力,令善財童子之身柔軟光滑。
; (大方廣佛華嚴經入法界品) Có 1 quyển. Cũng gọi Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh tục nhập pháp giới phẩm, Tục nhập pháp giới phẩm, Hoa nghiêm kinh nhập pháp giới phẩm, do ngài Địa bà ha la dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 10. Cứ theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1 ghi, thì sách này là tác phẩm bổ sung cho phần văn kinh bị thiếu từ đoạn Ma da phu nhân đến Di lặc bồ tát trong phẩm Nhập pháp giới (nửa sau quyển 57) của kinh Hoa nghiêm (60 quyển). Kinh này được phiên dịch theo bản tiếng Phạm mới để lưu truyền. Nội dung tường thuật việc đồng tử Thiện tài theo lời khuyên của phu nhân Ma da đến yết kiến các vị thiện tri thức như: Đồng nữ Thiên chủ quang của vua Chính niệm, Thiện tri chúng nghệ, Hiền thắng, Kiên cố giải thoát, Diệu nguyệt, Vô thắng quân, Thi tì tối thắng v.v... Cuối cùng, Thiện tài đến chỗ ở của đồng tử Đức sinh và đồng nữ Hữu đức tại thành Diệu ý hoa môn và được hai vị này dùng sức thiện căn bất khả tư nghị làm cho thân thể của đồng tử Thiện tài trang nghiêm rực rỡ.
Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm kinh nhập pháp giới phẩm đốn chứng Tỳ-lô-giá-na pháp thân tự luân du-già nghi quỹ 大方廣佛花嚴經入法界品頓證毘盧遮那法身字輪瑜伽儀軌
[ja] ダイホウコウブツケゴンキョウニュウホウカイホントンショウヒロシャナホッシnジリンユガギキ Daihōkō butsu Kegon kyō Nyūhokkaibon tonshō Birushana hosshin jirin yuga giki ||| The Dafangguang fo Huayanjing Rufajiepin dunzheng Piluzhena fashen zilun yujia yigui; (Ritual Procedure for the Syllable-Wheel Yoga of Suddenly Realizing the Dharma-Body of Vairocana, from the Gaṇḍavyūha Chapter of the Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipūlyasūtra). 1 fasc. (T 1020.19.709), abbr. Ritual Procedure of the Avataṃsaka-sūtra 花嚴經儀軌, attr. Amoghavajra 不空. => (c: Dafangguang fo Huayanjing Rufajiepin dunzheng Piluzhena fashen zilun yujia yigui; (Ritual Procedure for the Syllable-Wheel Yoga of Suddenly Realizing the Dharma-Body of Vairocana, from the Gaṇḍavyūha Chapter of the Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipūlyasūtra). 1 quyển. Viết tắt là Hoa Nghiêm kinh nghi quỹ (Ritual Procedure of the Avataṃsaka-sūtra 花嚴經儀軌), Bất Không (s: Amoghavajra 不空) dịch.
Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm kinh sưu huyền phần tể thông trí phương tiện 方廣佛華嚴經搜玄分齊通智方軌
[ja] ダイホウコウブツケゴンキョウソウゲンブンセイツウチホウキ Daihoukō butsu kegonkyō sougen bunsei tsūchi houki ||| Dafangguang fo huayan jing suxuan fenqi tongzhi fanggui; 10 fasc., by Zhiyan 智儼. T 1732.35.13-107. => (c: Dafangguang fo huayan jing suxuan fenqi tongzhi fanggui); 10 quyển. Của Trí Nghiễm (c: Zhiyan 智儼).
đại phương quảng phật hoa nghiêm kinh sớ
764請參閱 四十二字觀門 請參閱 華嚴金師子章 請參閱 新譯大方廣華嚴經音義 凡六十卷。唐代澄觀撰。又稱華嚴經疏、新華嚴經疏、清涼疏、華嚴大疏、大疏。收於大正藏第三十五冊。本疏敘述新譯華嚴經(八十卷華嚴經)之綱要,並解釋其文義。係針對當時華嚴宗僧多違背祖師法藏之教說,故作此書復興祖師本旨。全書分十門,即:(一)教起因緣,(二)藏教所攝,(三)義理分齊,(四)教所被機,(五)教體淺深,(六)宗趣通局,(七)部類品會,(八)傳譯感通,(九)總釋經題,(十)別解文義。其中「藏教所攝門」,載述菩提流支、鳩摩羅什、曇牟讖、慧遠、印法師、劉虬、岌法師、真諦、慧觀、惠光、吉藏、法雲、智顗、元曉、慧苑等之判教理論,並闡釋華嚴宗之小、始、終、頓、圓等五教判教學說,主張華嚴經屬於圓教。其「義理分齊門」,則廣立門目,論理事無礙等教理。 有關本書之撰著年代,依宋高僧傳卷五澄觀傳載,始於唐德宗興元元年(784),成於貞元三年(787)。另據隆興佛教編年通論卷十八載,則謂建中四年(783)起稿,歷時四年乃成。本書之注疏有澄觀自著之隨疏演義鈔九十卷、疏演義鈔三十卷,及淨源之疏注一二○卷、賢昱之略注經百卷等。〔新編諸宗教藏總錄卷一、華嚴宗章疏并因明錄、佛典疏鈔目錄卷上〕
; (大方廣佛華嚴經疏) Gồm 60 quyển, do ngài Trừng quán soạn vào đời Đường. Cũng gọi Hoa nghiêm kinh sớ, Tân hoa nghiêm kinh sớ, Thanh lương sớ, Hoa nghiêm đại sớ, Đại sớ. Thu vào Đại chính tạng tập 35. Nội dung bản sớ này trình bày về cương yếu của kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển), đồng thời, giải thích văn nghĩa trong kinh. Phần nhiều chư tăng của tông Hoa nghiêm đương thời đã hiểu sai giáo thuyết của Tổ sư Pháp tạng, cho nên bộ sách này được soạn với mục đích phục hưng ý chỉ căn bản của ngài Pháp tạng. Toàn bộ sớ được chia làm mười môn: 1. Giáo khởi nhân duyên. 2. Tạng giáo sở nhiếp. 3. Nghĩa lí phân tề. 4. Giáo sở bị cơ. 5. Giáo thể thiển thâm. 6. Tông thú thông cục. 7. Bộ loại phẩm hội. 8. Truyền dịch cảm thông. 9. Tổng thích kinh đề. 10. Biệt giải văn nghĩa. Trong đó, môn Tạng giáo sở nhiếp thuật về lí luận phán giáo của các ngài: Bồ đề lưu chi, Cưu ma la thập, Đàm mâu sấm, Tuệ viễn, Ấn pháp sư, Lưu cầu, Ngập pháp sư, Chân đế, Tuệ quán, Huệ quang, Cát tạng, Pháp vân, Trí khải, Nguyên hiểu, Tuệ uyển v.v...đồng thời, giải thích rõ học thuyết Ngũ giáo phán: Tiểu, Thủy, Chung, Đốn, Viên của tông Hoa nghiêm và cho rằng kinh Hoa nghiêm thuộc về Viên giáo. Môn Nghĩa lí phân tề thì lập ra nhiều môn và bàn về Lí vô ngại, Sự vô ngại... Về các bộ chú sớ sách này thì có: Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ tùy sớ diễn nghĩa sao 90 quyển, do chính ngài Trừng quán soạn; Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ diễn nghĩa sao 30 quyển, cũng do ngài Trừng quán tự soạn; Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ chú 120 quyển của ngài Tịnh nguyên; Đại phương quảng Phật hoa nghiêm lược chú kinh 100 quyển của ngài Hiền dục. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1; Hoa nghiêm tông chương sớ tinh nhân minh lục; Phật điển sớ sao mục lục Q.thượng].
Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm kinh sớ 大方廣佛華嚴經疏
[ja] ダイホウコウブツケゴンキョウソ Daihoukō butsu kegonkyō so ||| Dafangguang fo huayan jing shou; 60 fasc., by Chengguan 澄觀. T 1735.35.503a-963a. => (c: Dafangguang fo huayan jing shou); 60 quyển, của Trừng Quán (c: 澄觀Chengguan).
Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm kinh trung quyển quyển đại ý lược tự 大方廣佛華嚴經中巻巻大意略叙
[ja] ダイホウコウブツケゴンキョウチュウカンカンダイリャクジョ Daihōkō butsu kegonkyō chūkenken daii ryakujo ||| Dafangguang fo huayan jingzhong juanjuan dayi lueshou; 1 fasc., by Li Tongxuan 李通玄. T 1740.36.1008c-1011b. => (c: Dafangguang fo huayan jingzhong juanjuan dayi lueshou);1quyển. Của Lý Thông Huyền ( 李通玄c: Li Tongxuan).
Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm kinh tuỳ sớ diễn nghĩa sao 大方廣佛華嚴經隨疏演義鈔
[ja] ダイホウコウブツケゴンキョウズイソエンギショウ Daihoukō butsu kegonkyō zuiso engi shō ||| Dafangguang fo huayan jing suishou yanyi chao; 90 fasc., by Chengguan 澄觀. T 1736.36.1a-701a. => (c: Dafangguang fo huayan jing suishou yanyi chao); 90 quyển, của Trứng Quán (c: Chengguan 澄觀).
Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm kinh 大方廣佛華嚴經
[ja] ダイホウコウブツケゴンキョウ Daihōkōbutsu kegonkyō ||| Dafangguangfo huayan jing is the full title of the Hua-yen ching 華嚴經 => (c:Dafangguangfo huayan jing). Tên gọi đầy đủ của kinh Hoa Nghiêm (c: Hua-yen ching 華嚴經).
Đại phương quảng Phật Như Lai bất tư nghị cảnh giới kinh 大方廣佛如來不思議境界經
[ja] ダイホウコウブツニョライフシギキョウカイキョウ Daihoukō butsu nyorai fushigi kyōkai kyō ||| Dafangguang fo rulai busiyi jingjie jing; 1 fasc., trans. Śiksānanda 實叉難陀. T 301.10.909a-912a. => (c: Dafangguang fo rulai busiyi jingjie jing); 1 quyển. Thật-xoa Nan-đà (s: Śiksānanda 實叉難陀) dịch.
đại phương quảng thập luân kinh
757梵名 Daśa-cakra-kṣiti-garbha。凡八卷。譯於北涼,譯者佚名。又作方廣十輪經、十輪經。收於大正藏第十三冊。本經述說地藏菩薩之功德,並說依十種佛輪及三乘之十種依止輪,可以轉十惡業輪等。凡十五品。其異譯本為大乘大集地藏十輪經,共十卷八品,係唐永徽二年(651)玄奘於京師大慈恩寺譯經院所譯,由大乘光等筆授。蓋本經旨在融合三乘以歸於大乘,並對破戒之比丘闡釋作「勝想」之功德,及敘說地藏菩薩現沙門之像,以濟度末法濁世之眾生。此乃針對「唯有一乘說」之思想而加以反駁,故隋代之信行乃依據本經而提倡「普佛普法」之說,於其所著三階佛法一書中,共有百餘處引證本經之說。此外,本經卷三所揭示之「十種王輪」之說法,恐為後世地藏十王信仰之由來。〔開元釋教錄卷四、卷八、卷十一、大唐內典錄卷六、卷九、古今譯經圖紀卷四〕
; Daśacakra-kṣitigarbha (S)Thập Luân kinh, Phương Quảng Thập Luân kinh, Địa Tạng Thập Luận kinhTên một bộ kinh.
; (大方廣十輪經) Phạm: Daza-cakra-kwiti-garbha. Gồm 8 quyển, được dịch vào thời Bắc Lương, nhưng mất tên dịch giả. Cũng gọi Phương quảng thập luân kinh, Thập luân kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 13. Nội dung kinh này gồm 15 phẩm nói về công đức của bồ tát Địa tạng, đồng thời bảo nếu nương vào mười Phật luân và mười y chỉ luân của Tam thừa thì có thể xoay chuyển mười ác nghiệp luân. Bản dịch khác của kinh này là kinh Đại thừa đại tập Địa tạng thập luân, gồm mười quyển, tám phẩm, do ngài Huyền trang dịch vào năm Vĩnh huy thứ 2 (651) ở viện Dịch kinh chùa Từ ân tại kinh đô Trường an, do các sư Đại thừa quang v.v... ghi chép. Mục đích của kinh này nhằm dung hợp Tam thừa về Đại thừa, đồng thời, nhắm vào các tỉ khưu phá giới mà giải thích rõ về công đức thắng tưởng và việc bồ tát Địa tạng hiện tướng sa môn để cứu độ chúng sinh ở đời mạt pháp xấu xa. Kinh này cũng phản bác tư tưởng Duy hữu nhất thừa thuyết (thuyết chỉ có Nhất thừa), cho nên ngài Tín hành ở đời Tùy mới căn cứ vào kinh này mà đề xướng thuyết Phổ Phật phổ pháp và đã dẫn chứng kinh này rất nhiều trong tác phẩm Tam giai Phật pháp của mình. Ngoài ra, thuyết Thập chủng vương luân được trình bày trong quyển 3 của kinh này có lẽ đã là nguồn gốc của tín ngưỡng Địa tạng thập vương ở đời sau. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.4, Q.8, Q.11; Đại đường nội điển lục Q.6, Q.9; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4].
Đại phương quảng tập kinh 大方廣大集經
[ja] ダイホウコウダイシュウキョウ Daihoukō daishū kyō ||| See 大集經. => (c: Daihoukō daishū kyō). Xem Đại tập kinh( 大集經).
Đại phương quảng tổng trì bảo quang minh kinh 大方廣總持寶光明經
[ja] ダイホウコウソウジホウコウミョウキョウ Daihōkō sōji hōkōmyō kyō ||| The Dafangguang zongchi baoguangming jing Skt. Ratnolkā-nāma-dhāraṇī; Tib. dkon mchog ta la la'i gzungs; (Dhāraṇī of Jewel Light) 5 fasc. [T 299.10.884-905], abbr. 總持寶光明經, tr. Fatian 法天 in 983 CE. [To.145/847, P.472] => (c: The Dafangguang zongchi baoguangming jing Skt. Ratnolkā-nāma-dhāraṇī; Tib. dkon mchog ta la la'i gzungs; e: Dhāraṇī of Jewel Light), 5 quyển. Viết tắt là Tổng trì bảo quang minh kinh (c: 總持寶光明經), Pháp Thiên (法天c: Fatian) dịch năm 983.
đại phương quảng viên giác kinh đại sớ
765請參閱 圓覺經略疏 請參閱 圓覺經凡三卷(或十二卷)。略稱圓覺經大疏。唐代宗密述。今收於卍續藏第十四冊。隨文解釋大方廣圓覺修多羅了義經。卷初揭出「歸命妙色身」等五言十六句之歸敬頌,次將圓覺經分為:教起因緣、藏乘分攝、權實對辯、分齊幽深、所被機宜、能詮體性、宗趣通別、修證階差、敘昔翻傳、別解文義等十門,並解說其文義。撰者宗密係由圓覺經而得悟者,故平生特別推重此經。除本疏之外,另有圓覺經大疏釋義鈔十八卷、大方廣圓覺修多羅了義經略疏注四卷、大方廣圓覺經略疏鈔十二卷等,以細解其文義;其中,釋義鈔為本書之注釋。其他注書有宋代觀復之圓覺鈔辨疑誤二卷、元代清遠之圓覺經疏鈔隨文要解十二卷等。〔新編諸宗教藏總錄卷一、增補諸宗章疏錄〕
; (大方廣圓覺經大疏) Gồm 3 quyển (hoặc 12 quyển). Gọi tắt: Viên giác kinh đại sớ. Ngài Tông mật soạn thuật vào đời Đường, thu trong Vạn tục tạng tập 14. Là sách giải thích kinh Đại phương quảng viên giác tu đa la liễu nghĩa. Quyển đầu nêu ra bài tụng qui kính gồm 16 câu, mỗi câu năm chữ: Qui mệnh diệu sắc thân. Kế đến, chia kinh Viên giác ra làm mười môn: Giáo khởi nhân duyên, Tạng thừa phân nhiếp; Quyền thực đối biện, Phân tề u thâm; Sở bị cơ nghi, Năng thuyên thể tính; Tông thú thông biệt, Tu chứng giai sai; Tự tích phiên truyền và Biệt giải văn nghĩa, rồi lần lượt trình bày văn nghĩa. Ngài Tông mật nhờ thụ trì kinh Viên giác mà được ngộ đạo, cho nên bình sinh ngài đặc biệt quí trọng bộ kinh này. Ngoài bản sớ trên, ngài còn soạn các bộ: - Viên giác kinh đại sớ thích nghĩa sao, 18 quyển. - Đại phương quảng Viên giác tu đa la liễu nghĩa kinh lược sớ chú, 4 quyển. - Đại phương quảng Viên giác kinh lược sớ sao, 12 quyển. Trong đó, Thích nghĩa sao là sách chú thích bộ Đại sớ trên. Ngoài các bộ chú sớ trên đây của ngài Tông mật ra, kinh Viên giác còn có các sách chú thích khác như: Viên giác sao biện nghi ngộ, 2 quyển, do ngài Quan phục soạn vào đời Tống, Viên giác kinh sớ sao tùy văn yếu giải, 12 quyển, do ngài Thanh viễn soạn vào đời Nguyên v.v... [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1; Tăng bổ chú tông chương sớ lục].
đại phương quảng viên giác tu đa la liễu nghĩa kinh
765全一卷。略稱圓覺修多羅了義經、圓覺經。唐代佛陀多羅譯。收於大正藏第十七冊。凡十二章,係佛為文殊師利等十二菩薩說大圓覺之妙理。 關於本經之翻譯,見開元釋教錄卷九(大五五‧五六五上):「沙門佛陀多羅,唐云覺救,北印度罽賓人也。於東都白馬寺譯圓覺了義經一部。此經近出不委何年,且弘道為懷務甄詐妄,但真詮不謬,豈假具知年月耶?」續古今譯經圖紀、貞元新定釋教目錄卷十二等主張雷同。為禪宗常用經典。近代或疑為漢人撰述。蓋本經內容所說,多處與首楞嚴經、大乘起信論相同,而首楞嚴經自古已被疑為偽經,大乘起信論亦被疑為我國撰述者,故本經亦被推斷為唐初時之偽撰。本經之注疏極多,較重要者有:宗密之圓覺經大疏三卷、惟愨之圓覺經疏三卷、宋孝宗之御註二卷、行霆之類解八卷、智聰之心鏡六卷等。〔開元釋教錄略出卷二、大藏聖教法寶標目卷四、新編諸宗教藏總錄卷一〕
; (大方廣圓覺修多羅了義經) Có 1 quyển. Gọi tắt: Viên giác tu đa la liễu nghĩa kinh, Viên giác kinh, do ngài Phật đà đa la dịch vào đời Đường, thu trong Đại chính tạng tập 17. Nội dung gồm 12 chương tường thuật việc đức Phật nói cho mười hai Bồ tát như Văn thù sư lợi v.v... nghe về diệu lí Đại viên giác. Thiền tông thường dẫn dụng bộ kinh này. Gần đây có thuyết ngờ là đã do người Hán làm ra, vì nội dung có nhiều chỗ giống với kinh Thủ lăng nghiêm và luận Đại thừa khởi tín, mà cả hai bộ này từ xưa đã bị ngờ là kinh, luận giả, cho nên kinh này cũng bị suy đoán là đã được ngụy tạo vào đầu đời Đường. Kinh này có rất nhiều sách chú sớ, mà trọng yếu hơn cả là: Viên giác kinh đại sớ 3 quyển của ngài Tông mật, Viên giác kinh sớ 3 quyển của ngài Duy xác, Ngự chú 2 quyển của vua Hiếu tông nhà Tống, Loại giải 8 quyển của ngài Hành đình, Tâm kính 6 quyển của ngài Trí thông. [X. Khai nguyên thích giáo lục lược xuất Q.2; Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục Q.4; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].
Đại phương quảng Viên Giác tu-đa-la liễu nghĩa kinh lược sớ chú 大方廣圓覺修多羅了義經略疏註
[ja] ダイホウコウエンガクシュタラリョウギキョウリャクソチュ Daihoukō engaku shūtara ryōgikyō ryakusochū ||| Dafangguang yuanjue xiuduoluo liaoyijing lueshuzhu; 4 fasc., by Zongmi 宗密. T 1795.39.523b-576b; Z 247.9.789-821. => (c: Dafangguang yuanjue xiuduoluo liaoyijing lueshuzhu); 4 quyển, của Tông Mật (c:Zongmi 宗密).
Đại phương quảng Viên Giác tu-đa-la liễu nghĩa kinh nghi quỹ 大方廣圓覺修多羅了義經説誼
[ja] ダイホウコウエンガクシュタラリョウギキョウセツギ Daihoukō engakushūtara ryōgikyō setsugi ||| Taebanggwang wŏngak sudara yoŭigyŏng sŏrŭi. Kihwa's 己和 commentary on the Sutra of Perfect Enlightenment, which is the most important Korean commentary on this sutra. This commentary is distinctive in that Kihwa (in departure from his Chinese predecessors) judged significant portions of the text to be corrupt, and accordingly, rewrote these sections.HPC 7.122-169. Commonly known by the short title of 圓覺經説誼. => (k: Taebanggwang wŏngak sudara yoŭigyŏng sŏrŭi). Kỷ Hoà (k: Kihwa's 己和) chú giải kinh Viên Giác, là luận giải quan trọng nhất của Triều Tiên về kinh nầy. Luận giải nầy đặc biệt là Kỷ Hoà (khi rời khỏi vị thầy Trung Hoa của mình) đã am hiểu tường tận những phần của luận giải đã bị sai lạc, do đó, đã viết lại những phần nầy. Thường gọi tắt là Viên Giác kinh nghi quỹ.
Đại phương quảng Viên Giác tu-đa-la liễu nghĩa kinh 大方廣圓覺修多羅了義經
[ja] ダイホウコウエンガクシュタラリョウギキョウ Daihoukō engaku shūtara ryōgikyō ||| Dafangguang yuanjue xiuduoluo liaoyijing; The full title of the Yuanjue jing 圓覺經. => (c: Dafangguang yuanjue xiuduoluo liaoyijing); Tên gọi đầy đủ của kinh Viên Giác (c:Yuanjue jing 圓覺經).
Đại phương quảng 大方廣
[ja] ダイホウコウ daihōkō ||| (vaipulya, mahā-vaipulya). 'Great and broad.' (1) A term for the true principle awakened to by the Buddha. In some Huayan interpretations, 大 means essence, 方 means aspects, and 廣 refers to function. (2) The great vaipulyas or sutras of Mahāyāna. Vaipulya is extension, spaciousness, widespread. This term suggests the broadening of the basis of Buddhism, as found in Mahāyāna. The vaipulya works are styled sutras, as the broad doctrine of universalism, differing from the traditional account of his discourses, is put into the mouth of the Buddha in a more universal aspect. (3) In the introduction to his commentary to the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經, Kihwa 己和 devotes much energy to the explanation of this word, explaining da 大 to mean initial enlightenment, fang 方 to mean corrective practices with which one's enlightenment is enhanced and guang 廣 as the compassionate extension of one's enlightenment to others. => (s: vaipulya, mahā-vaipulya). 1. Thuật ngữ chỉ cho sự giác ngộ chân thực của Đức Phật. Trong một vài giải thích của tông Thiên Thai, Đại là Thể, Phương là Tướng và Quảng là Dụng. 2. Đại phương đẳng hay kinh Đại thừa. Đại phương đẳng là rộng lớn, phổ biến. Thuật ngữ gợi lên ý nghĩa rộng lớn, bao quát của nền tảng giáo lý Phật giáo, như Đại thừa đã dựng lập. Phương đẳng là một thể loại kinh. Là giáo lý phổ quát cho mọi căn cơ, khác với những bài thuyết giảng theo truyền thống trong những pháp hội, được xem là do Đức Phật nói trong một bối cảnh phổ quát hơn. 3. Trong lời giới thiệu cho bản chú giải kinh Viên Giác, Kỷ Hoà (己和k: Kihwa) dành nhiều công sức để giải thích từ nầy, Đại nghĩa là Thuỷ giác, Phương là công phu tu tập chân chính để hiển bày tính giác và Quảng là lòng từ rộng lớn của người giác ngộ bao trùm khắp mọi chúng sinh.
đại phương tiện
Mahopàya (S). The great appropriate means, or expedient method of teaching by buddhas and bodhisattvas,
; Mahopaya (skt)—Phương tiện thiện xảo của Phật và Bồ Tát—The great appropriate means, or expedient method of teaching by Buddhas and bodhisattvas. ** For more information, please see Phương Tiện.
đại phương đẳng
1) Vô Lượng Nghĩa Kinh—Sutra of Infinite Meaning—The great Vaipulyas, or sutra of Mahayana. 2) Phương Đẳng và Phương Quảng đồng nghĩa. Đây là tên chung của 12 bộ Kinh Tiểu và Đại Thừa: The Great Vaipulyas means broad, widespread, and levelled up, equal to everywhere, universal. The Vaipulya works are styled sutras, for the broad doctrine of universalism. This is the name for the 12 Hinayana and Mahayana Sutras.
đại phương đẳng như lai tạng kinh
Mahāvaipulya-tathāgatagarbha-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
; See Đại Phương Quảng Như Lai Bí Mật Tạng Kinh and Kinh Vô Lượng Nghĩa.
Đại phương đẳng Như Lai tạng kinh 大方等如來藏經
[ja] ダイホウドウニョライゾウキョウ Daihōdō nyoraizō kyō ||| Dafangdeng rulaizang jing; (Tathāgatagarbha-sūtra) 1 fasc., trans. Buddhabhadra 佛陀跋陀羅T 666.16.457a-460b; See also T 667.16.460b-468a. => (c: Dafangdeng rulaizang jing; e: Tathāgatagarbha-sūtra). 1 quyển. Phật-đà-bạt-đà-la (佛陀跋陀羅s:Buddhabhadra ) dịch.
đại phương đẳng nhật tạng kinh
756請參閱 大集月藏經 請參閱 大集經 凡十卷。隋代那連提耶舍譯。為大方等大集經日密分之同本異譯。內分十三品,敘述佛陀在王舍城宣說不淨之因緣與舍摩他之觀法等,並警戒破戒之比丘。後四方諸佛遣諸菩薩持咒至說法之會座,佛遂就此等諸咒,宣說大法。復次,光味大仙於佉羅抵山,為諸龍王舉示經盧虱吒大仙之事蹟與星宿之法,其後並讚歎佛之功德,佛乃自須彌山頂至佉羅抵山,教化龍王,並以二十八大支提付囑諸龍王、夜叉,令其永遠守護。〔出三藏記集卷二、開元釋教錄卷四、卷六、卷七、貞元新定釋教目錄卷六〕
; (大方等日藏經) Gồm 10 quyển, do ngài Na liên đề da xá dịch vào đời Tùy. Là bản dịch khác của kinh Đại phương đẳng đại tập kinh Nhật mật phần. Nội dung gồm 13 phẩm, tường thuật việc đức Phật ở thành Vương xá nói về nhân duyên bất tịnh và pháp quán Xa ma tha, đồng thời, răn dạy các tỉ khưu phá giới. Sau đó, chư Phật ở bốn phương sai các Bồ tát mang lời chú đến hội tòa thuyết pháp, đức Phật mới căn cứ vào những chú này mà tuyên giảng đại pháp. Kế đó, có đại tiên tên Quang vị ở núi Khư la để nói cho các Long vương nghe về sự tích của đại tiên Kinh lư sắt tra và pháp tinh tú. Sau đó, đại tiên Quang vị khen ngợi công đức của Phật, Phật liền từ đỉnh núi Tu di đến núi Khư la để giáo hóa Long vương và đem 28 ngôi tháp lớn phó chúc cho các Long vương, dạ xoa, bảo họ giữ gìn mãi mãi. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.4, Q.6, Q.7; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.6].
đại phương đẳng phật hoa nghiêm kinh
Tên khác của Kinh Hoa Nghiêm. Có ba loại: 60, 80 và 40 quyển—Buddhavatamsaka-mahavaipulya-sutra—Avatamsaka sutra. There are three kinds of translation: 60, 80 and 40 books.
đại phương đẳng viên giác tu đa la liễu nghĩa kinh
Mahā-vaipulya-pŪrṇa-buddha-sŪtra-prasan-nārtha-sŪtra (S)Viên giác kinhTên một bộ kinh.
đại phương đẳng vô tướng đại vân kinh
Mahāmegha sŪtra (S)Phương đẳng Đại vân kinh, Đại vân thỉnh vũ kinh, Vô tướng kinhMột bộ trong Mật bộ kinh.
đại phương đẳng vô tưởng kinh
757請參閱 大方等無想經 梵名 Mahāmegha-sūtra。凡六卷(或五卷、四卷)。北涼曇無讖譯。又作大方等無相大雲經、方等無相大雲經、方等大雲經、大雲無相經、大雲密藏經、大般涅槃經。略稱無相經、大雲經。今收於大正藏第十二冊。內容敘述佛依大雲菩薩之請問,開示通達陀羅尼門、大海三昧、諸佛實語、如來常住、如來寶藏等之修行。凡三十七品。關於譯者,出三藏記集卷二載為曇無讖;隋代法經錄卷一、彥琮錄卷一則載為前秦竺佛念。歷代三寶紀卷八載,竺佛念譯出大方等無相經五卷;同書卷九載,曇無讖譯出方等大雲經六卷。開元釋教錄卷十一則謂,曇無讖譯為第二譯本,初譯本為缺本。近年敦煌發現有大雲無想經卷九,其文不載於今六卷經中,而專說陀羅尼門。又本經之別生經極多,如大雲密藏菩薩問大海三昧經一卷、人弘法經一卷、善德婆羅門求舍利經一卷、善德婆羅門問提婆達經一卷、大雲密藏菩薩請雨經一卷、四百三昧名經一卷等。此外,本經歷來有偽造、重譯二說,主張偽造者以為本經係唐武則天敕令沙門偽撰,頒於天下,以鞏固其「天后」之君權。〔開元釋教錄卷十九、大唐內典錄卷六、大周刊定眾經目錄卷三、貞元新定釋教目錄卷六、卷二十一、舊唐書卷六〕
; (大方等無想經) Phạm: Mahàmegha-sùtra. Gồm 6 quyển (hoặc 5 quyển, 4 quyển), do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương. Cũng gọi Đại phương đẳng vô tướng đại vân kinh, Phương đẳng vô tướng đại vân kinh, Phương đẳng đại vân kinh, Đại vân vô tướng kinh, Đại vân mật tạng kinh, Đại bát niết bàn kinh. Gọi tắt: Vô tướng kinh, Đại vân kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 12. Nội dung gồm 37 phẩm, tường thuật việc đức Phật theo lời thỉnh vấn của bồ tát Đại vân, chỉ dạy phương pháp tu hành thông suốt môn Đà la ni, Tam muội đại hải, những lời nói chân thực của chư Phật, tính thường trụ của Như lai, bảo tạng của Như lai v.v... Về người dịch kinh này thì có nhiều thuyết: - Xuất tam tạng kí tập quyển 2 nói là ngài Đàm vô sấm dịch. - Pháp kinh lục quyển 1 và Ngạn tông lục quyển 1 đời Tùy thì cho là ngài Trúc phật niệm dịch vào đời Tiền Tần. -Lịch đại tam bảo kỉ quyển 8 ghi là Trúc phật niệm dịch Đại phương đẳng vô tướng Kinh 5 quyển; và quyển 9 thì nói Đàm vô sấm dịch Phương đẳng đại vân kinh 6 quyển. - Khai nguyên thích giáo lục quyển 11 thì bảo, bản dịch của Đàm vô sấm là bản thứ hai, bản dịch đầu tiên đã mất tên dịch giả. Những năm gần đây người ta đã tìm thấy kinh Đại vân vô tưởng 9 quyển ở Đôn hoàng nhưng không có kinh văn như trong 6 quyển kinh hiện nay, mà chỉ chuyên nói về môn Đà la ni. Lại nữa, kinh này có rất nhiều kinh biệt sinh, như: Kinh Đại vân mật tạng bồ tát vấn đại hải tam muội 1 quyển, kinh Nhân hoằng pháp 1 quyển, kinh Thiện đức bà la môn cầu xá lợi 1 quyển, kinh Thiện đức bà la môn vấn Đề bà đạt 1 quyển, kinh Đại vân mật tạng bồ tát thỉnh vũ 1 quyển, kinh Tứ bách tam muội 1 quyển... Ngoài ra, về nguồn gốc kinh này có hai thuyết ngụy tạo và dịch lại. Thuyết chủ trương ngụy tạo thì cho rằng kinh này là do Vũ tắc thiên đời Đường ra sắc chỉ cho sa môn soạn rồi ban cho khắp nơi trong nước để củng cố quân quyền Thiên hậu của bà. [X. Khai nguyên thích giáo Q.19; Đại đường nội điển lục Q.6; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.6, Q.21; Cựu đường thư Q.6].
đại phương đẳng đà la ni kinh
757請參閱 如來藏經 請參閱 方等三昧行法 凡四卷。北涼法眾譯。又作方等檀持陀羅尼經、檀持陀羅尼。今收於大正藏第二十一冊。內容敘述佛應文殊師利之請問,說諸種陀羅尼功德。分初分、授記分、夢行分、護戒分、不思議蓮華分等五部分,詳明修懺行道、滅罪增壽、善惡夢應等種種事相。本經向以講說菩薩之二十四重戒及闡明聲聞之授記作佛而著稱。〔出三藏記集卷二、法經錄卷一、歷代三寶紀卷九、開元釋教錄卷四〕
; (大方等陀羅尼經) Gồm 4 quyển, do ngài Pháp chúng dịch vào đời Bắc Lương. Cũng gọi Phương đẳng đàn trì đà la ni kinh, Đàn trì đà la ni. Thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung tường thuật việc đức Phật đáp lời thỉnh cầu của ngài Văn thù sư lợi nói về công đức của các thứ Đà la ni, chia làm năm phần: Sơ phần, Thụ kí, Mộng hành, Hộ giới và Bất khả tư nghị liên hoa. Trong đó, trình bày rõ các sự tướng tu sám hành đạo, diệt tội tăng thọ, thiện ác mộng ứng v.v... [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Pháp kinh lục Q.1; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.4].
Đại phương đẳng đà-la-ni kinh 大方等陀羅尼經
[ja] ダイホウドウダラニキョウ Daihoudou darani kyō ||| Dafangdeng tuoluoni jing; 4 fasc., trans. by Fazhong 法衆. T 1339.21.641a-661a. => (c: Dafangdeng tuoluoni jing); 4 quyển; Pháp Chúng (c: Fazhong 法衆) dịch.
đại phương đẳng đại tập kinh
Ta-fang-teng ta-chi-ching (C)Tên một bộ kinh.Xem Đại tập kinh.
; Mahāvaipulya-mahāsaṃnanipāta-sŪtra (S), Mahāsaṃnanipāta-sŪtra Đại tập kinhTên một bộ kinh.
; Kinh Phật thuyết cho đại chúng Bồ Tát khắp mười phương. Tên đầy đủ của Kinh Đại Tập, được dịch sang Hoa Ngữ vào khoảng từ năm 397 đến 439 sau Tây Lịch. Người ta cho rằng Phật đã thuyết bộ kinh nầy giữa khoảng Ngài từ 45 đến 49 tuổi. Kinh thuyết cho chư Phật và chư Bồ Tát—The sutra of the great assembly of Bodhisattvas from the ten directions, and of the apocalpytic sermons delivered to them by the Buddha—Mahavaipulya-Mahasamnipata-Sutra (skt) is full name. Translated into Chinese around 397-439 A.D., said have been preached by the Buddha from the age of 45 to 49, to Buddhas and Bodhisatvas assembled from every region, by a great staircase made between the world of desire and that of form.
Đại phương đẳng đại tập kinh 大方等大集經
[ja] ダイホウドウダイシュウキョウ Daihoudou daijūkyō ||| Dafangdeng daji jing; (Mahāsamnipata-sūtra). 'The Great Collection Scripture.' 60 fasc., trans. by Dharmakṣema 曇無懺 et. al. T 397.13.1a-407a. => (c: Dafangdeng daji jing; s: Mahāsamnipata-sūtra; e; The Great Collection Scripture). 60 quyển. Đàm Vô Sấm (s:Dharmakṣema 曇無懺) và nhiều người khác dịch.
đại phước đức bồ tát
Mahāpuṇya (S)Tên một vị Bồ tát.
đại phạm
Mahàbrahmànas (S). The third Brahmaloka, the third region of the first dhyàna.
; Mahabrahmanas (skt)—Great Brahma or Mahabrahman—The third Brahmaloka or region of the first dhyana.
đại phạm thiên
849梵名 Mahābrahmā-deva,巴利名同。位於色界初禪天之第三天。又稱梵天王,梵天、梵王、大梵、梵童子(梵 Brahmā sanaṃkumāra)、世主天、娑婆世界主(梵 Brahmā sahāṃpati)。音譯作摩訶梵、梵摩三鉢。大梵天以自主獨存,謂己為眾生之父,乃自然而有,無人能造之,後世一切眾生皆其化生;並謂已盡知諸典義理,統領大千世界,以最富貴尊豪自居。大梵天為梵書時代以來之神格,爾後婆羅門即以大梵天為最尊崇之主神。 蓋於印度梨俱吠陀時代之末期,以祈禱主神(梵 Brahmaṇas-pati)為至上神,並視之為宇宙生成之原理。至梵書時代之初,則以生主神(梵 Prajāpati)為最高神。未久,興起梵之崇拜,係由祈禱主神所進化之神格。初時,梵天為生主神之子,其後漸次得勢,遂取代生主神之地位,成為創造世界之原理。至奧義書時代,大梵天具有實有(梵 satya)、知(梵 jñāna)、妙樂(梵 ānanda)等三種性質,而為唯一常住獨存之絕對原理,此一絕對原理與個人我(梵 ātman)結合,產生「梵我一如」之說,此乃奧義書之中心思想。至摩訶婆羅多(梵 Mahābhārata)時代,由於「一體三分」(梵 trimūrti)思想之興起,遂以梵天(梵 Brahmā)與毘濕笯(梵 Viṣṇu)、濕婆(梵 Śiva)二神為同體,其初,梵天位居三尊之首,後則漸居下風。 於佛教所倡三界之說中,將此等外道之諸天配列於欲、色二界,梵界即位處色界之初禪天,通常有三處與四處之別。三處即大智度論卷九、大毘婆沙論卷九十八等所說之「梵眾天、梵輔天、大梵天」;四處則如長阿含經卷二十忉利天品所載之「梵身天、梵輔天、梵眾天、大梵天」,三處與四處均總稱為梵天。 據大毘婆沙論卷九十八載,大梵天身長為一踰繕那(由旬)半,壽量為一劫半,彼於五中劫獨一而居,復經五中劫與眾共住,再五中劫又與眾別,屬初靜慮地(初禪天)之中間禪。又阿含及諸大乘經中,常載此王深信佛法、助佛教化等事,每值佛出世,大梵天王必先來請轉法輪,手持白拂,於會座參法聽受,常以法義與佛問答;後與帝釋天同受佛之付囑,護持國土,而為顯密二教所共尊崇。 密教以梵天為十二天之一,或千手觀音二十八部眾之一。列位於現圖胎藏界曼荼羅外金剛部院東門之南方,身呈白肉色,頭戴髮髻冠,有四面四臂。據大日經疏卷五載,具四臂之中,右一手持蓮花,一手持數珠;左一手執軍持,一手作「唵」字印,此印為修行者之吉祥印。其種子為揬(pra)。據大日經真言藏品所載,其真言為:南摩(皈命)鉢羅闍(prajā,一切生)鉢多曳(pataye,主)娑縛訶。〔雜阿含卷四十四、長阿含卷十四梵動經、卷十六堅固經、增一阿含卷十勸請品、大悲經卷一梵天品、大日經卷一、雜阿毘曇心論卷二、大日經疏卷十、玄應音義卷三〕
; Mahā-Brahma (S),, Mahābrahmadeva (S), Brahma-Sanamku (S)Thi khí thiênMột cảnh Phạm thiên trong 4 cảnh của cõi sắc giới, miền sơ thiền thiên. Sơ thiền thiên có 4 cảnh: Phạm thân thiên, Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên và Đại Phạm thiên Là chủ của cõi Sơ thiền, đứng đầu Tam thiên Đại thiên.
; Mahabrahma (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Đại Phạm Thiên được Phật giáo thừa nhận, nhưng ở vị thế thấp, chứ không như vị chúa sáng thế, mà chỉ như vị Trời giao tiếp mà các vị Thánh Phật giáo vượt qua để đạt được giác ngộ Bồ Đề. Vị nầy được xem như là cha của tất cả chúng sanh—According to Eitel in the Dictionary of Chinese Buddhist Terms, Mahabrahman is the first person of the Brahminical Trimurti, adopted by Buddhism, but placed in an inferior position, being looked upon not as Creator, but as a transitory devata whom every Buddhistic saint surpasses on obtaining bodhi. Notwithstanding this, the saddharma-pundarika calls Brahma or the father of all living beings (cha của tất cả chúng sanh). Mahabrahman is the unborn or uncreated ruler over all, especially according to Buddhism over all the heavens of form, of mortality.
; (大梵天) Phạm, Pàli: Mahàbrahmà-deva. Vị trời ở tầng thứ 3 thuộc Sơ thiền cõi Sắc. Cũng gọi Phạm thiên vương, Phạm thiên, Phạm vương, Đại phạm, Phạm đồng tử (Phạm: Brahmà samaôkumàra), Thế chủ thiên, Sa bà thế giới chủ (Phạm: Brahmà sahàôpati). Dịch âm: Ma ha phạm, Phạm ma tam bát. Theo tư tưởng Ấn độ thời cổ, Đại phạm thiên tồn tại độc lập, tự nhiên mà có, không do người tạo ra, là cha của chúng sinh, tất cả chúng sinh đời sau đều do mình hóa ra, tự cho mình biết hết nghĩa lí trong các sách, là bậc tôn quí, giầu sang và mạnh mẽ nhất, thống lãnh đại thiên thế giới. Từ thời đại Phạm thư đến nay Đại phạm thiên được coi là thần cách; về sau, người Bà la môn lại tôn Đại phạm thiên là vị Chủ thần được tôn sùng hơn hết các thần. Vào cuối thời đại Lê câu phệ đà ở Ấn độ, Kì đảo chủ thần (Phạm: Brahmanaspati) được tôn là vị thần cao nhất, đồng thời, được coi là nguyên lí tạo thành vũ trụ. Nhưng, đến đầu thời đại Phạm thư thì Sinh chủ thần (Phạm:Prajàpati) được tôn làm thần tối cao. Không bao lâu, người ta lại sùng bái Đại phạm, vì cho rằng Đại phạm là từ Kì đảo chủ thần tiến hóa lên. Lúc đầu, Phạm thiên là con của Sinh chủ thần, về sau dần dần chiếm được ưu thế, bèn giữ địa vị thay cho Sinh chủ thần và trở thành nguyên lí sáng tạo thế giới. Đến thời kì Áo nghĩa thư, thì Đại phạm thiên có đầy đủ ba tính chất là thực hữu (Phạm:satya), tri (Phạm:jĩàna) và diệu lạc (Phạm:ànanda) mà trở thành nguyên lí tuyệt đối duy nhất thường trụ; nguyên lí tuyệt đối này kết hợp với tiểu ngã (Phạm:àtman) mà sản sinh ra thuyết Phạm ngã nhất như. Đây là tư tưởng trung tâm của Áo nghĩa thư. Đến thời đại Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata), do sự hưng khởi của tư tưởng Nhất thể tam phân (Phạm: trimùrti, một thể chia ba) mà Phạm thiên (Phạm:Brahmà) được coi là cùng thể với hai thần Tì thấp nô (Phạm:Viwịu) và Thấp bà (Phạm:Ziva), lúc đầu, Phạm thiên đứng đầu ba vị, nhưng sau dần dần bị hạ thấp. Trong thuyết Tam giới của Phật giáo, các trời ngoại đạo này được xếp vào hai cõi Dục và Sắc, Phạm thiên được liệt vào trời Sơ thiền cõi Sắc, thông thường có ba nơi, bốn nơi khác nhau. Theo luận Đại trí độ quyển 9 và luận Đại tì bà sa quyển 98, thì ba nơi là: Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên, Đại phạm thiên. Còn theo phẩm Đao lợi thiên trong kinh Trường a hàm quyển 20, thì bốn nơi là: Phạm thân thiên, Phạm phụ thiên, Phạm chúng thiên, Đại phạm thiên. Ba nơi và bốn nơi đều gọi chung là Phạm thiên. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 98, thì thân của Đại phạm thiên cao 1,5 du thiện na (do tuần), sống lâu 1,5 đại kiếp, trong đó, năm trung kiếp sống một mình, năm trung kiếp nữa sống chung với các vị trời khác, rồi năm trung kiếp kế tiếp lại sống một mình, cõi này thuộc Thiền trung gian của Sơ tĩnh lự địa (Sơ thiền thiên). Trong các bộ A hàm và kinh Đại thừa thường nói vị vua trời này tin sâu Phật pháp, giúp đỡ đức Phật trong việc giáo hóa, mỗi lần gặp Phật ra đời, thì Đại phạm thiên vương trước tiên thỉnh Phật chuyển pháp luân, rồi tay cầm phất tử mầu trắng, ngồi trong hội tòa nghe Phật nói pháp. Về sau, Đại phạm thiên cùng với Đế thích thiên đều được đức Phật phó chúc hộ trì đất nước và Phật pháp, nên rất được Hiển giáo và Mật giáo tôn sùng. Mật giáo coi Phạm thiên là một trong 12 vị trời, hoặc là một trong 28 bộ chúng của Thiên thủ Quan âm. Phạm thiên được đặt ở phía nam của cửa Đông thuộc viện Ngoại kim cương bộ trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, hình tượng mầu da người, đầu đội mũ hình búi tóc, có bốn mặt, bốn tay. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 5 chép, thì trong bốn tay bên phải, một tay cầm hoa sen, một tay cầm tràng hạt; bên trái, một tay cầm quân trì, một tay bắt ấn chữ Án, ấn này là ấn Cát tường của người tu hành. Chủng tử là (pra),chân ngôn là: Na ma (qui mệnh) bát la xà (prajà, nhất thiết sinh) bát đa duệ (pataye, chủ) sa phạ ha. [X. Tạp a hàm Q.44; Trường a hàm Q.14 kinh Phạm động, Q.16 kinh Kiên cố; Tăng nhất a hàm Q.10 phẩm Khuyến thỉnh; kinh Đại bi Q.1 phẩm Phạm thiên; kinh Đại nhật Q.1; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.10; Huyền ứng âm nghĩa Q.3].
đại phạm thiên vương
Mahabrahma-devaraja, king of the eighteen Brahmalokas.
đại phạm thiên vương vấn phật quyết nghi kinh
850全一卷(或二卷)。略稱問佛決疑經。今收於卍續藏第八十七冊。內容敘述佛於靈山時,拈花微笑而付囑大迦葉禪法之事。計有二十四品。本經不見載於諸經錄,唯見於宋人傳聞,或疑為我國後代所偽作者,今所存係東傳日本者。〔人天眼目卷五宗門雜錄、佛祖統紀卷五、釋氏稽古略卷四〕
; (大梵天王問佛决疑經) Có 1 quyển (hoặc 2 quyển). Gọi tắt: Vấn Phật quyết nghi kinh, thu vào Vạn tục tạng tập 87. Nội dung gồm 24 phẩm, tường thuật việc đức Phật đưa cành hoa lên, ngài Ca diếp mỉm cười và Phật phó chúc pháp Thiền cho ngài Đại ca diếp trên hội Linh sơn. Kinh này không thấy được ghi trong các bộ Kinh lục, chỉ thấy lưu truyền ở đời Tống, có thuyết ngờ là do người đời sau ở Trung quốc ngụy tác, bản hiện còn là bản được truyền qua Nhật bản. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.5 Tông môn tạp lục; Phật tổ thống kỉ Q.5, Thích thị kê cổ lược Q.4].
Đại phạm thiên vương 大梵天王
[ja] ダイボンテンノウ daibon tennō ||| The king of the great Brahman-heaven. A supernatural being who protects the dharma. The great Brahma heaven is one of the three heavens contained in the first meditation heaven of the form realm. He is also called 尸棄 (Śikhin). Also called simply 大梵王 (Dafanwang) or 梵王. => Vị vua cõi trời Đại phạm. Một vịcó năng lực siêu phàm hộ trì Phật pháp. Đại phạm thiên vương là một trong ba cõi trời ở trong Sơ thiền thiên thuộc Sắc giới. Còn được gọi là Thi Khí (s: Śikhin尸棄). Còn gọi tắt là Đại phạm vương (大梵王 c:Dafanwang) hay Phạm vương.
Đại phạm thiên 大梵天
[ja]ダイボンテン daibon ten ||| Also written simply as 梵天. Mahābrahman, which is the third of the three heavens contained in the first dhyāna heaven 初禪天 in the form realm. Listed as one of the seventeen meditation heavens of the form realm 色界十七天. => Còn gọi tắt là Phạm thiên (梵天s: Mahābrahman), là tầng trời thứ ba trong ba cõi trời ở Sơ thiền thiên của Sắc giới. Được xếp vào một trong 17 cõi Thiền thiên của Sắc giới.
đại phạm tự
851<一>位於廣東曲江縣。乃刺史韋宙請六祖說法之處。唐開元二年(714),僧宗錫建,始稱開元寺。後改稱大梵寺,刺史韋宙曾請六祖於此宣說壇經。〔廣東通志卷二二九〕 <二>非特定之寺名,而為一般寺院之通稱。與「大梵剎」同義,即「大寺院」之意。
đại phản
High treason.
Đại phấn chí
大憤志; J: dai-funshi; [chữ 憤 đọc âm »Phấn«, không đọc »Phẫn«];|Một trong ba điều kiện cần thiết để giác ngộ theo Thiền tông Nhật Bản. Hai diều kiện khác là Ðại nghi đoàn (j: dai-gidan) và Ðại tín căn (dai-shinkon).|Ðại phấn chí là ý chí dũng cảm bất khuất phục, đầy năng lực để tìm được câu giải đáp cho Ðại nghi đoàn. Bạch Vân An Cốc (j: hakuun yasutani) – một Thiền sư hiện đại người Nhật – viết như sau về Ðại phấn chí:|»Tất cả chúng ta đều có niềm tin lớn nơi Phật pháp rằng, tất cả mọi chúng sinh đều có Phật tính. Vì thế mà chúng ta quyết định tìm được chân lí này để trực nhận được nó.«
đại phần
Bhikhuvibhaṅga (S)Tỳ kheo phần.
; Mahāvibhaṅga (S), Bhikhu-vibhanga Tỳ kheo phầnMột trong hai phần của Kinh Phần trong Luận Tạng, dành cho Tỳ kheo.
đại phẩm
Mahāvagga (P)Một trong 6 phẩm của Luật tạng.
đại phẩm bát nhã
Xem Ma ha Bát nhã Ba la mật đa Kinh.
đại phẩm bát nhã kinh
803梵名 Pañcaviṃśati-sāhasrikā-prajñāpāramitā。凡二十七卷(或三十、四十卷),九十品。又稱二萬五千頌般若。乃鳩摩羅什於後秦弘始四年至十四年(402~412)所譯。又作摩訶般若波羅蜜經、摩訶般若經、新大品經、大品經。收於大正藏第八冊。係大乘佛教初期說般若空觀之經典。據龍樹之大智度論載,本經前六十六品為般若道,後二十四品為方便道。據吉藏之大品經義略序載,全書九十品中,前六品係佛對舍利弗等上根之人所說,第七品至四十四品為佛命須菩提對中根之人所說,第四十五品至九十品為佛對下根之諸天、人所說。本經之同本異譯有如下三種:(一)光讚般若波羅蜜經,西晉竺法護譯,凡十卷,二十七品。(二)放光般若波羅蜜經,西晉無羅叉譯,凡二十卷(或三十卷),九十品。(三)大般若經第二會,唐代玄奘譯,凡七十八卷,八十五品。此外亦有藏譯本(共分七十六品)。至於梵本(共分八品)則由杜持(N. Dutt)出版(1934年),惟非全本。本經之注釋書極多,較重要者有龍樹之 j智度論一百卷、嘉祥大師吉藏之大品經義疏十卷與大品經遊意一卷、真諦之大品般若經玄文四卷。〔出三藏記集卷二、歷代三寶紀卷八、開元釋教錄卷四、佛教聖典概說〕
; Mahaprajna-paramita sutra.
; (大品般若經) Phạm: Paĩcaviôzati-sàhasrikàprajĩàpàramità. Gồm27 quyển (hoặc30, 40 quyển), 90 phẩm. Cũng gọi Nhị vạn ngũ thiên tụng bát nhã, do ngài Cưu ma la thập dịch vào năm Hoằng thủy thứ 4 đến năm 14 (402 - 412) đời Hậu Tần. Còn gọi là Ma ha bát nhã ba la mật kinh, Ma ha bát nhã kinh, Tân đại phẩm kinh, Đại phẩm kinh, thu vào Đại chính tạng tập 8. Là kinh thuộc thời kì đầu của Phật giáo Đại thừa nói về Bát nhã không quán. Cứ theo luận Đại trí độ của ngài Long thụ, thì 66 phẩm trước của kinh này là Bát nhã đạo, 24 phẩm sau là Phương tiện đạo. Theo bài tựa trong Đại phẩm kinh nghĩa lược của ngài Cát tạng, trong 90 phẩm của toàn bộ kinh thì 6 phẩm trước là đức Phật nói cho hàng thượng căn như các ngài Xá lợi phất v.v... từ phẩm thứ 7 đến phẩm 24 là Phật bảo ngài Tu bồ đề nói cho hàng trung căn, từ phẩm 45 đến phẩm 90 là Phật nói cho hàng hạ căn như các trời, người... Kinh này có ba bản dịch khác nhau: 1. Kinh Quang tán bát nhã ba la mật, gồm 10 quyển, 27 phẩm, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. 2. Kinh Phóng quang bát nhã ba la mật, gồm 20 (hoặc 30 quyển), 90 phẩm, do ngài Vô la xoa dịch vào đời Tây Tấn. 3. Kinh Đại bát nhã hội thứ hai, gồm 78 quyển, 85 phẩm, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. Ngoài ra, kinh này cũng có bản dịch tiếng Tây tạng (gồm 76 phẩm). Bản tiếng Phạm (8 phẩm) thì do N. Dutt xuất bản (1934). Kinh này có rất nhiều sách chú thích, quan trọng hơn cả thì có luận Đại trí độ 100 quyển của ngài Long thụ, Đại phẩm kinh nghĩa sớ 10 quyển và Đại phẩm kinh du ý 1 quyển của ngài Cát tạng, Đại phẩm bát nhã kinh huyền văn 4 quyển của ngài Chân đế. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Khai nguyên thích giáo lục Q.4; Phật giáo thánh điển khái thuyết].
Đại phẩm Bát-nhã kinh 大品般若經
[ja] ダイホンハンニャキョウ Daihon hannyakyō ||| Dapin bore jing; the Mahāprajñāparamitā-sūtra in 27 fascicles, as contrasted to the 10 fascicle edition. Taishō volume 8. Officially titled 摩訶般若波羅蜜經, it is an explication of the 25,000 verse Prajñāparamitā-sūtra. Extant commentaries on it are only those two by Jizang 吉藏: a one fascicle work entitled Dapinjing youyi 大品經遊意, and a ten fascicle work entitled Dapinjing shou 大品經疏. => (c: Dapin bore jing; e: Mahāprajñāparamitā-sūtra)gồm 27 quyển, khác với ấn bản gồm 10 quyển, cuốn tám trong Đại chính tân tu ĐTK (Taishō). Thường gọi là Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật kinh, đó là chú giải 25.000 bài kệ trong kinh Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật (s: Prajñāparamitā-sūtra). Các luận giải về kinh nầy nay chỉ còn hai bản của Cát Tạng: một bản nhan đề Đại phẩm kinh du ý (c: 大品經遊意Dapinjing youyi ), gồm một quyển; và Đại phẩm kinh sớ (大品經疏c: Dapinjing shou) gồm 10 quyển.
đại phẩm kinh
Mahāvarga-sŪtra (S)Xem Đại phẩm Bát nhã kinh.
; The larger, or fuller edition of a canonical work, especially of the text.
; Kinh Đại Bát Nhã được Cưu Ma La Thập dịch sang Hán Tạng 27 quyển—The larger or fuller edition of a canonical work. The Mahaprajna-Paramita Sutra translated into Chinese by Kumarajiva in 27 books.
đại phẩm kinh nghĩa sớ
803請參閱 大品般若經 或 摩訶般若波羅蜜經 凡十卷。隋代吉藏撰。今收於卍續藏第三十八冊。本書記述鳩摩羅什所譯大品般若經之綱要,並解釋其文義。內容分為十門,即:(一)釋經題,先依次詳釋摩訶、般若、波羅蜜,次就修多羅之義,廣舉諸家之說,並解其義。(二)序說經意,即闡明佛說摩訶般若之因緣,總析為九種因緣。(三)明部儻多少,如敘說般若波羅蜜時,又細別為三類:(1)兩種般若,即共聲聞、不共聲聞。(2)三種般若,即光讚、放光、道行。(3)五種般若,即摩訶、金剛、天王問、光讚、仁王般若等五種。(四)辨開合,明示般若五時八部之別,謂其非淺深次第前後相成。(五)明前後,即論摩訶般若之前後。(六)辨經宗,謂般若以因果為宗,其正體非因非果。(七)明顯密,謂如來之化有四門,其中,般若有顯、密之化及傍、正等四門。(八)辨教,說明南方五時、北土四宗之說為非,謂如來之經教唯大小二乘而已。(九)明傳譯,敘述朱士行等經典傳譯者之事蹟。(十)依文解釋,依大品般若經,逐字逐句,詳為解說。以上十門之中,第一至第九門收於卷一,第十門則為卷二至卷十,然卍續藏所收之本缺漏第二卷。全書內容援引涅槃、華嚴、四分律、大智度、成實等經律論之說,此外亦屢屢引用道安、鳩摩羅什、僧肇、僧詮等諸論師之說。〔三論宗章疏、東域傳燈目錄卷上、三論宗經論章疏目錄〕
; (大品經義疏) Gồm 10 quyển, ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy, thu vào Vạn tục tạng tập 38. Sách này ghi cương yếu và giải thích văn nghĩa của kinh Đại phẩm bát nhã do ngài Cưu ma la thập dịch. Nội dung chia làm 10 môn: 1. Giải thích tên kinh: Trước hết, theo thứ tự giải thích rõ nghĩa các chữ Ma ha, Bát nhã, Ba la mật; kế đến, giải nghĩa Tu đa la, có nêu ra thuyết của các nhà khác về vấn đề này. 2. Trình bày nội dung: Nói rõ chín nhân duyên Phật thuyết Ma ha bát nhã. 3. Nêu rõ bộ loại: Bát nhã ba la mật được chia ra ba bộ loại: a) Hai loại Bát nhã: Cộng thanh văn, Bất cộng thanh văn. b) Ba loại Bát nhã: Quang tán, Phóng quang, Đạo hành. c) Năm loại Bát nhã: Ma ha, Kim cương, Thiên vương vấn, Quang tán, Nhân vương bát nhã. 4. Biện khai hợp: Chỉ rõ năm thời tám bộ Bát nhã riêng biệt, được hợp thành không phải do thứ lớp nông sâu. 5. Minh tiền hậu: Bàn về thứ tự trước sau của Ma ha bát nhã. 6. Biện kinh tông: Bát nhã lấy nhân quả làm tông, nhưng thể chính của nó thì chẳng phải nhân chẳng phải quả. 7. Nói rõ hiển mật: Bát nhã có Hiển, Mật, Bàng, Chính. 8. Biện minh về giáo: Nói rõ thuyết năm thời phương nam, bốn tông phương bắc là sai, nghĩa là kinh giáo của Như lai chỉ có hai thừa Đại, Tiểu mà thôi. 9. Nói về sự truyền dịch: Trình bày sự tích những người truyền dịch kinh điển như Chu sĩ hành v.v... 10. Theo văn giải nghĩa: Theo kinh Đại phẩm bát nhã giải thích rõ ràng từng chữ từng câu. Trong 10 môn trên đây, từ môn thứ 1 đến môn thứ 9 được thu vào quyển 1, môn thứ 10 là từ quyển 2 đến quyển 10, nhưng bản được đưa vào Vạn tục tạng còn sót quyển thứ 2. Nội dung toàn bộ sách có viện dẫn thuyết trong kinh, luật, luận như: Kinh Niết bàn, kinh Hoa nghiêm, luật Tứ phần, luận Đại trí độ, luận Thành thực v.v... Ngoài ra, cũng dẫn dụng các thuyết của những luận sư: Đạo an, Cưu ma la thập, Tăng triệu, Tăng thuyên v.v... [X. Tam luận tông chương sớ; Đông vực truyền đăng mục lục Q.thượng; Tam luận tông kinh luận chương sớ mục lục].
Đại phẩm 大品
[ja] ダイホン Daihon ||| The Tapin; See 大品般若經. => Xem Đại phẩm Bát-nhã kinh.
đại phật
784一丈六尺以上之巨大佛像。又作大像。材料多為巖石、金屬,或木石塑漆等。依高僧法顯傳所載,北天竺陀歷國有高達八丈之木雕彌勒菩薩像,造於佛陀涅槃後三百年,佛教之宣流即始自此像之造立。大唐西域記卷五羯若鞠闍國條、卷八摩揭陀國條、卷十一摩訶刺侘國條等亦有三十尺至七十尺高之大佛像之記載。今印度聯合州迦斯阿(Kasia)西南之涅槃堂尚有長約六點五公尺之大涅槃像,依其銘文及造像手法推定,約為五世紀左右所雕造。另於孟買甘赫瑞(Kanheri)窟殿之壁上,亦保存一座約七公尺高之立佛像,右手下垂,左手持法衣置肩,面容端嚴,身軀雄偉,為七世紀頃之作品。在錫蘭,保存完善之古代大佛像甚多,其中以阿烏卡那(Awkana)石像最壯大,係就斷崖而雕造成者,高約十五公尺,右手上舉,伸五指,左手執衣端置肩,立於蓮花上,姿勢優美,毫無硬直之感,衣紋之雕法亦生動有緻,推定為笈多王朝時期所造立。此外,北印度之犍馱邏(梵 Gandhāra)本是佛像藝術之搖籃地,然由近年所發掘之古代遺品,大多為小佛像,而罕見大像之殘片,或此地並未流行大佛之雕造。至於西域,今阿富汗之巴米安(Bamian)大磨崖存有二大佛立像,各高五十六、三十六點八公尺,皆為二世紀頃之作品,惜已剝落,不復舊觀。 我國大佛塑造,至遲始於東晉康帝建元二年(344),曇順於南林寺造立丈八之像,其事載於法苑珠林卷五十二。梁天監十五年(516)竣工之彌勒石佛,坐高五丈,立形十丈,更是壯觀,世稱剡縣大佛。北魏則向有造石佛之風,文成帝和平初年,應沙門統曇曜之請,於武州山石壁鑿窟五所,各鐫一佛,最高者七十尺,雕飾奇偉,為當時之冠;其後三十年間陸續開鑿二十窟,所造佛像均達數十尺以上,此即著稱於世之大同雲岡石窟。唐以後,大佛造立之風更盛,如四川凌雲寺三十六丈之彌勒大佛、邠州慶壽寺十丈許之大佛、普濟寺百尺之彌勒像、洛陽龍門奉先寺三十五尺之盧舍那佛等均是。由宋至今,此風不墜。臺灣之大佛像,即有基隆大佛寺之觀音立像、彌勒坐像、臺中寶覺寺之彌勒坐像、彰化八卦山之釋迦佛坐像、高雄佛光山之接引大佛立像等。 韓國最大佛像為忠清南道灌燭寺之石造彌勒菩薩像,前後歷三十九年(968~1006)始竣工,全高約六十五尺。日本較著名之大佛則有奈良大佛、鎌倉大佛、京都大佛及豐後、佐貫二地之磨崖佛等。〔高僧法顯傳師子國條、法苑珠林卷十四、卷三十三、卷三十九、佛祖統紀卷四十、卷五十三、釋迦方志卷上、卷下、魏書卷十四、卷一一四、古今圖書集成神異典第九十三〕
; (大佛) Tượng Phật to lớn từ 1 trượng 6 thước (Tàu, khoảng 3,2 m) trở lên. Cũng gọi Đại tượng, phần nhiều được làm bằng nham thạch, kim loại, gỗ, đá v.v... Theo Cao tăng Pháp hiển truyện, nước Đà lịch ở Bắc Thiên trúc có pho tượng bồ tát Di lặc khắc bằng gỗ cao tới 8 trượng (khoảng 16m), được tạo vào khoảng 300 năm sau đức Phật Niết bàn, Phật giáo được truyền bá bắt đầu từ việc tạo lập pho tượng này. Đại đường tây vực kí quyển 5, 8, 11 (các mục Yết nhã cúc xà quốc, Ma yết đà quốc, Ma ha thích sá quốc) cũng có nói về tượng Đại Phật cao từ 30 đến 70 thước (khoảng 6 m đến 14 m). Trong nhà Niết bàn ở mạn tây nam tiểu bang Kasia (The United Province) tại Ấn độ hiện nay có pho tượng Phật nhập Niết bàn dài khoảng 6,5m. Căn cứ vào văn bia và kĩ thuật tạo tượng mà suy định, thì pho tượng này được tạo vào khoảng thế kỉ thứ V Tây lịch. Tại Kanheri còn giữ được một pho tượng Phật đứng cao chừng 7m, tay phải thõng xuống, tay trái cầm áo pháp đặt trên vai, nét mặt đoan nghiêm, thân hình mạnh mẽ, là tác phẩm ở khoảng thế kỉ thứ VII. Tại Tích lan còn rất nhiều tượng Đại Phật đời xưa được bảo tồn một cách hoàn thiện, trong đó, pho tượng bằng đá rất lớn ở Awkana được khắc ở sườn núi, cao khoảng 15m, tay phải giơ lên, năm ngón duỗi thẳng, tay trái cầm góc áo để trên vai, đứng trên hoa sen, tư thế rất đẹp, những nếp áo mềm mại, sống động, được tạo lập vào thời Vương triều Cấp đa. Ngoài ra, Kiện đà la (Phạm: Gandhàra) tại Bắc Ấn độ vốn là cái nôi của nghệ thuật tượng Phật, nhưng những di phẩm đời xưa được phát hiện vào thời gần đây, phần nhiều là tượng Phật nhỏ, có lẽ nghệ thuật tạo Đại Phật chưa được lưu hành ở đây. Đại ma nhai Bamian ở Afghanistan hiện nay còn có hai pho tượng Đại Phật đứng, một pho cao 56m, một pho cao 36,8m, đều là tác phẩm ở khoảng thế kỉ thứ II, rất tiếc đã bị tróc lở, chứ không được nguyên vẹn. Tại Trung quốc, việc tạo tượng Đại Phật hơi trễ: Vào năm Kiến nguyên thứ 2 (344) đời vua Khang đế nhà Đông Tấn, ngài Đàm thuận đã tạo một pho tượng cao 5,3m ở chùa Nam lâm, sự kiện này được ghi trong Pháp uyển châu lâm quyển 52. Năm Thiên giám 15 (516) đời Lương, các tượng Phật Di lặc bằng đá được hoàn thành, tượng ngồi cao 10m, tượng đứng cao 20m, trông rất tráng lệ, người đời gọi là Diệm huyện Đại Phật. Thời Bắc Ngụy vốn đã có phong tục tạo tượng Phật bằng đá. Đầu năm Hòa bình, đáp lời khuyến thỉnh của vị Sa môn thống (Tăng thống) là ngài Đàm diệu, vua Văn thành đã cho tạo 5 động đá trên vách núi ở Vũ châu, trong mỗi động, khắc một tượng Phật, pho cao nhất là 28m, là những tượng đẹp nhất thời bấy giờ. Khoảng 30 năm sau đó, 20 hang động nữa được đục mở, và các tượng Phật được khắc cao từ 8, 9 mét trở lên, đây chính là động đá Vân cương ở Đại đồng nổi tiếng xưa nay. Từ đời Đường trở về sau, phong khí tạo lập Đại Phật lại càng thịnh, như Đại Phật Di lặc 36 trượng ở chùa Lăng vân thuộc tỉnh Tứ xuyên, Đại Phật hơn 10 trượng ở chùa Khánh thọ và tượng Di lặc 100 thước ở chùa Đại Phật ở Vân Cương Phổ tế thuộc Bân châu, Đại Phật Tì lô giá na 35 thước ở chùa Phụng tiên tại Long môn, Lạc dương v.v... Từ đời Tống đến nay, phong tục này vẫn được tiếp nối. Tại Đài loan, có tượng Quan âm đứng, tượng Di lặc ngồi ở chùa Đại Phật tại Cơ long; tượng Di lặc ngồi ở chùa Bảo giác tại Đài trung, tượng Phật Thích ca ngồi ở núi Bát quái tại Chương hóa, tượng Đại Phật đứng ở núi Phật quang tại Cao hùng v.v... Tại Hàn quốc, có tượng bồ tát Di lặc bằng đá ở chùa Quán chúc tỉnh Trung thanh nam, cao khoảng 65 thước, là tượng Đại Phật lớn nhất, công trình trải qua 39 năm (968 - 1006) mới hoàn thành. Tại Nhật bản, các Đại Phật nổi tiếng nhất thì có Đại Phật thời Nại lương, Đại Phật thời Liêm thương, Đại Phật ở Kyoto và các Đại Phật khắc trên sườn núi ở hai vùng Phong hậu và Tá quán... [X. điều Sư tử quốc trong Cao tăng Pháp hiển truyện; Pháp uyển châu lâm Q.14, Q.33, Q.39; Phật tổ thống kỉ Q.40, Q.53; Thích ca phương chí Q.thượng, Q.hạ; Ngụy thư Q.14, Q.114; Cổ kim đồ thư tập thành thần dị điển thứ 93].
Đại Phật Liêm Thương
(鎌倉大佛, Kamakuradaibutsu): tức là Cao Đức Viện (高德院, Kōtoku-in), ngôi chùa của Phái Trấn Tây Nghĩa (鎭西義派), thuộc Tịnh Độ Tông, hiện tọa lạc tại số 4-2-28 Hase (長谷), Kamakura-shi (鎌倉市), Kanagawa-ken (神奈川縣); hiệu núi là Đại Dị Sơn (大異山), sau đổi thành Sư Tử Hống Sơn (獅子吼山); hiệu chùa là Thanh Tịnh Tuyền Tự (清淨泉寺); người đời thường gọi là Chùa Đại Phật Liêm Thương. Tượng thờ chính là A Di Đà Như Lai. Theo quy định của chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương, Tịnh Quang (淨光, Jōkō) được phong làm Thánh Khuyến Tấn, rồi vào năm 1238 (Lịch Nhân [曆仁] nguyên niên), ông tiến hành xây dựng Điện Phật chùa, và đến năm 1243 thì làm lễ lạc thành chùa. Tiếp theo năm 1252 (Kiến Trường [建長] 4), ông tiến hành đúc tượng Phật A Di Đà Như Lai bằng đồng vàng thay cho tượng gỗ. Tương truyền vào mấy năm 1335 (Kiến Võ [建武] 2), 1369 (Ứng An [應安] 2), 1498 (Minh Ứng [明應] 7), Chánh Điện của chùa đã mấy lần bị gió cuốn bay; mãi cho đến cuối thời đại Thất Đinh, tượng Đại Phật trở thành nằm lộ thiên. Cao Đức Viện này ban đầu thuộc về Chơn Ngôn Tông, và Nhẫn Tánh (忍性, Ninshō) của Chơn Ngôn Luật Tông đã từng trú trì tại đây. Song đến thời đại Nam Bắc Triều, chùa lại thuộc về sự quản lý của Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji) thuộc Lâm Tế Tông; và đến vào khoảng giữa thời đại Giang Hộ thì chùa được chuyển sang Tịnh Độ Tông.
đại phật loan thạch quật
790位於四川大足縣寶頂山。大足縣縣城四周岡巒起伏,山嶺重疊。自唐至清,境內十餘處石崖雕刻數以萬計之佛像,其中以北山與寶佛頂兩處規模最大。寶頂山大佛灣石刻大都根據佛經中之故事而來。在三百多窟龕中,有臂膀圓潤、體態飽滿之觀音;有挺腰瞋目,肌肉強勁之力士;有衣帶飄舞,演奏天樂之飛天;有侍立佛側,虔誠肅穆之男女信眾。此類形像反映出唐代雕刻之寫實手法與當時社會民俗之情況。觀諸雕刻之佛、菩薩、飛天等石像,舉凡面型、姿態、衣冠、服飾等均趨向中國化,已頗具民族風格。其側有小佛灣,又稱大寶樓閣,原規模較大,後圯毀,現存造像六百餘尊,石壁四垣遍佈雕像,中有小室,稱為毘盧庵,內外壁均鐫有本尊行化圖及地獄變像圖等,雄偉壯觀。前有一石塔,方型三層,除雕像外,滿刻十二部大藏經目錄,但所用部類等與一般藏經目錄不同。(參閱「大足石窟」794)
; (大佛灣石窟) Động đá Đại Phật ở hõm núi Bảo đính thuộc huyện Đại túc tỉnh Tứ xuyên (Trung quốc). Chung quanh Huyện thành huyện Đại túc núi non trùng điệp quanh co. Từ đời Đường đến đời Thanh, trong huyện có hơn mười chỗ điêu khắc hàng vạn pho tượng Phật trên sườn núi, trong đó, hai nơi Bắc sơn và Bảo Phật đính là qui mô lớn nhất. Các tượng Phật được khắc trong hang động Đại Phật loan ở núi Bảo đính phần lớn đều căn cứ theo sự tích trong các kinh. Trong hang động có hơn 300 cỗ khám thờ tượng Quan âm với thân hình đầy đặn, đôi cánh tay mềm mại, tròn trịa; tượng các lực sĩ chống nạnh trợn mắt, bắp thịt rắn chắc; tượng các phi thiên (trời bay) với giải áo phấp phới, diễn tấu nhạc trời, tượng các nam nữ tín đồ thành kính nghiêm trang đứng hầu bên Phật. Loại hình tượng này phản ánh thủ pháp tả thực trong điêu khắc ở đời Đường và tình hình xã hội, phong tục dân gian của đương thời. Nhìn các pho tượng Phật, Bồ tát, Phi thiên v.v... được chạm trổ bằng đá, người ta thấy khuôn mặt, dáng dấp, áo mũ, cách phục sức v.v... đều biểu hiện cái phong cách dân tộc Trung quốc. Bên cạnh Đại Phật loan, có Tiểu Phật loan, cũng gọi Đại bảo lâu các, vốn có qui mô khá lớn, nhưng sau bị đổ nát, hiện còn hơn 600 pho tượng. Trên mặt vách đá của bốn bức tường đầy khắp tượng khắc. Trong tường có ngôi thất nhỏ gọi là am Tì lô, mặt trong và mặt ngoài vách của am đều khắc tranh Bản tôn hành hóa và tranh địa ngục biến, trông rất hùng tráng. Phía trước am có ngôi tháp đá hình vuông cao ba tầng, ngoài phần khắc tượng ra, còn khắc mục lục của 12 bộ Đại tạng kinh, nhưng các bộ loại khắc ở đây khác với mục lục tạng kinh phổ thông. (xt. Đại Túc Thạch Quật).
đại phật thiền tự
790請參閱 大佛頂首楞嚴經 位於臺灣基隆市中正公園山頂。又稱大佛寺。原址在仁愛區文安里新民莊,原稱佛教講堂。民國五十五年(1966)遷至現址,五十七年成立財團法人,五十八年觀音菩薩聖像開光,高約二十二公尺,內分五層,登頂可俯覽全市。寺宇建築,悉仿唐代款式,宏麗莊嚴。
đại phật trí
Chư Phật biết phương cách nào đúng và thời điểm nào hợp để giáo hóa cứu độ chúng sanh—Great Buddhist Wisdom which knows what method is right at what time for preaching and saving certain sentient beings
đại phật tự
785<一>原名慶豐寺。位於陝西邠縣城西十二公里。依山鑿窟造像。大部分為北朝之作品,但有唐貞觀二年(628)之題記。寺前有明鏡臺。窟平面呈半圓形,直徑約二十一公尺,高約三十公尺,趺坐大佛倚岩鑿雕,兩側侍立二菩薩。大佛高二十四公尺,面相豐腴,雍容肅穆,造形雄偉勻稱,雕飾端嚴富麗,菩薩高五公尺。佛菩薩背光各雕坐佛七尊、飛天十九。窟前有三層樓,高五十公尺。佛窟西側有面北排列之小石窟四個,窟內有佛菩薩等造像,壁上雕有經變故事及唐代以來遊人之題刻。東側之千佛洞,亦有三窟,雕有人物像三百多幅。為陝西最大、最完整之石窟。 <二>又稱淨因寺。位於山西太原市西北。始建於北齊,金泰和五年(1205)重建,明代亦多次重建。碑文記載,漢時,土山崩塌,裂陷成洞,洞內土丘高及十丈,形似佛像,傳為山崩佛現,乃淨土教之因緣。 <三>位於四川樂山。原名凌雲寺,乃建於唐代之古剎。因凌雲山斷崖,刻有一尊我國最大之斷崖大佛,故俗稱大佛寺。大佛高七十一公尺,由唐玄宗開元元年(713)至唐德宗貞元十九年(803),費時九十年,始於褐色之絕壁上雕刻完成。歷經一千二百餘年之風雨剝蝕,佛身已處處可見綠苔及繁茂之雜草樹木,使佛像彷彿穿上法衣,增添幾分神祕感。此外,聳立於大佛寺東邊之靈寶古塔,為唐代所建之十三層塔,因酷似西安之小雁塔而著名。 <四>位於山東歷城縣西南青銅山山麓。寺已廢圯,佛像仍存,開鑿於唐代,高九公尺,雄偉莊嚴,身著披肩式袈裟,衣紋流動,線條簡約。左側有菩薩與供養比丘之雕像。菩薩高二點二公尺,面容豐滿,宛如唐代婦女畫像。 <五>舊稱迦葉如來寺,又稱宏仁寺,俗稱臥佛寺。位於甘肅張掖縣城。始建於西夏永安元年(1098),明、清屢有修繕,現存大殿為乾隆年間所建,面闊四十九公尺,深二十四公尺,總面積一三七○平方公尺,內供有世尊涅槃像,身長三四點五公尺,肩寬七點五公尺。為甘肅境內最大之西夏建築遺物。 <六>北平名剎。位於西直門北一千七百公尺之香山鄉畏吾村。乃明正德年間太監張雄所建,賜額曰「大慧」。寺中有大悲殿,內有銅佛高五丈,故俗稱為大佛寺。嘉靖年中,太監麥口於其左增置佑聖觀,又建真武祠,值世宗好道,寺藉此以存。清末時曾重修,其旁塑有二十八宿像,狀甚奇詭。 <七>即位於臺灣基隆市中正公園山頂之大佛禪寺。(參閱「大佛禪寺」790)
; Daibutsu-ji (J)Tên một ngôi chùa.
đại phật đảnh
1) Một chữ viết tắt của Đà La Ni—An abbreviation for Dharani. 2) Một tông phái Phật giáo Mật Tông, với Phật Tỳ Lô Giá Na trong Kim Cang giới và Phật Thích Ca Mâu Ni trong Pháp giới: A title of the esoteric sect for their form of Buddha or Buddhas, especially of Vairocana if the Vajradhatu and Sakyamuni of the Garbhadhatu groups.
đại phật đảnh mãn hạnh thủ lăng nghiêm đà la ni
Xem Đại Phật Đảnh Đà la ni.
đại phật đảnh như lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư bồ tát vạn hạnh thủ lăng nghiêm kinh
Ta-fo-ting ju-lai mi-yin hsiu-teng liao-i che-p'u-sa wan-hsing shou-leng-yen ching (C)Tên một bộ kinh.
đại phật đảnh như lai phóng quang tát đát đa bát đát la đà la ni
Xem Đại Phật Đảnh Đà la ni.
Đại Phật đảnh Như Lai phóng quang tất đát đa bát đát đà-la-ni 大佛頂如來放光悉怛多鉢怛陀羅尼
[ja] ダイブツチョウニョライホウコウシツタンタハツタンダラニ Dai bucchō nyorai hōkō Shittatahattara darani ||| The Da foding rulai fangguang Xidaduobodaluo tuoluoni; Skt. Sarvatathāgataoṣṇīṣaśitātapatrā-nāmāparājitā-mahāpratyaṅgirā-mahāvidyārājñī-nāma-dhāraṇī; Tib. ['phags pa] De bshin gshegs pa'i gtsug tor nas byung ba'i gdugs dkar po can gshan gyi mi thub pa phir bzlog pa chen mo mchog tu grub pa shes bya ba'i gzungs; (Dhāraṇī of Śitātapatra, Great Corona of All Tathāgatas, Radiating Light [The Great Queen of Vidyā called Aparājitā]). A dhāraṇī for avoiding disasters, evil spirits, etc. There are five Chinese translations: (1) 1 fasc. (T 944b.19.102-105) Great Dhāraṇi of the Great Buddha-Corona 大佛頂大陀羅尼, tr. unknown. (2) In the esoteric Sūraṅgama Sūtra 大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經 (T 945), tr. Pramiti 般刺蜜帝. (3) 1 fasc. (T 944a.19.100-102) Dhāraṇī of the Light-Emitting Śitātapatra, Great Corona of All Tathāgatas 大佛頂如來放光悉怛多鉢怛陀羅尼, tr. Amoghavajra 不空. (4) 1 fasc. (T 976.19.401-404) Dhāraṇī of the Great White Parasol Buddha-Corona 佛頂大白傘蓋陀羅尼經, translated from a separate Tibetan version [To.590/985, P.202/610] (['phags pa] De bshin gshegs pa thams cad kyi gtsug tor nas byung ba gdugs dkar po can shes bya ba gshan gyis mi thub ma phyir zlog pa'i rig sngags kyi rgyal mo chen mo) by Zhwa lu pa 沙羅巴. (5) 1 fasc. (T 977.19.404-407) Dhāraṇī of the Great White Parasol 大白傘蓋總持陀羅尼經, tr. Zhenzhi 眞智. For an Eng. translation from Khotanese, see Hoernle (1911). [To.591, P.203; To.592/986, P.204/611; To.593, P.205] BGBT4/96-100. (c: Da foding rulai fangguang Xidaduobodaluo tuoluoni; Skt. Sarvatathāgataoṣṇīṣaśitātapatrā-nāmāparājitā-mahāpratyaṅgirā-mahāvidyārājñī-nāma-dhāraṇī; Tib. ['phags pa] De bshin gshegs pa'i gtsug tor nas byung ba'i gdugs dkar po can gshan gyi mi thub pa phir bzlog pa chen mo mchog tu grub pa shes bya ba'i gzungs; e: Dhāraṇī of Śitātapatra, Great Corona of All Tathāgatas, Radiating Light [The Great Queen of Vidyā called Aparājitā]). => Thần chú trừ tai ương, ác quỷ.v.v..., có 5 bản dịch tiếng Hán: 1. Đại Phật đảnh đại đà-la-ni, 1 quyển. Dịch giả vô danh. 2. Thủ Lăng Nghiêm kinh theo Mật giáo (Đại Phật đảnh Như Lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư bồ-tát vạn hạnh Thủ Lăng Nghiêm kinh). Bát-thích-mật-đế (般刺蜜帝s:Pramiti) dịch. 3. Đại Phật đảnh Như Lai phóng quang tất đát đa bát đát đà-la-ni, 1 quyển. Bất Không dịch. 4. Phật đảnh đại bạch tán cái đà-la-ni kinh (佛頂大白傘蓋陀羅尼經c: Dhāraṇī of the Great White Parasol Buddha-Corona), 1quyển. Do Sa-la-ba dịch từ bản tiếng Tây Tạng in rời (['phags pa] De bshin gshegs pa thams cad kyi gtsug tor nas byung ba gdugs dkar po can shes bya ba gshan gyis mi thub ma phyir zlog pa'i rig sngags kyi rgyal mo chen mo). 5. Đại bạch tán cái tổng trì đà-la-ni kinh, 1 quyển. Chân Trí (Zhenzhi 眞智) dịch. Bản dịch tiếng Anh từ tiếng Khotanese, xin xem Hoernle (1911).
đại phật đảnh thủ lăng nghiêm
Great Buddha Shurangama Mantra.
Đại Phật đảnh Thủ Lăng Nghiêm kinh 大佛頂首楞嚴經
[ja] ダイブツチョウシュリョウゴンキョウ Dai butchō shuryōgon kyō ||| The Śūraṃgama-sūtra (Da foding shoulengyan jing). See 首楞嚴經. => (s: Śūraṃgama-sūtra; c: Da foding shoulengyan jing). Xem Thủ Lăng Nghiêm kinh首楞嚴經.
đại phật đảnh đà la ni
Mahāpratyangira-dhāraṇī (S)Đại Phật Đảnh Như Lai Phóng Quang Tát đát đa Bát đát la Đà la ni, Đại Phật Đảnh Mãn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Đà la ni.
Đại Phật đảnh đại đà-la-ni 大佛頂大陀羅尼
[ja] ダイブツチョウダイダラニ Dai butsuchō daidarani ||| The Da foding datuoluoni; see Dà fódĭng rúlái fàngguāng Xīdáduōbōdáluó tuóluóní 大佛頂如來放光悉怛多鉢怛陀羅尼. => (c:Da foding datuoluoni); Xem Đại Phật đảnh Như Lai phóng quang tất đát đa bát đát đà-la-ni (大佛頂如來放光悉怛多鉢怛陀羅尼c: Dà fódĭng rúlái fàngguāng Xīdáduōbōdáluó tuóluóní )
; [ja] ダイブツチョウダイダラニ Dai butsuchō daidarani ||| The Da foding datuoluoni; see Dà fódĭng rúlái fàngguāng Xīdáduōbōdáluó tuóluóní 大佛頂如來放光悉怛多鉢怛陀羅尼. Đại Phật đảnh Như Lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư bồ-tát vạn hạnh Thủ Lăng Nghiêm kinh 大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經 => (s: Śūraṃgama-sūtra; c: Da foding rulai miyin xiuzheng liaoyi zhupusa wanxing shoulengyan jing). Xem Thủ Lăng Nghiêm kinh (首楞嚴經).
đại phật đỉnh mạn đồ la
790又作攝一切佛頂曼荼羅。即密教以大佛頂為中尊而建立之曼荼羅。覺禪鈔根據大妙金剛經所標之圖為:八葉蓮華之間以獨股杵為界,華臺坐法界定印之大佛頂尊師子座,周圍有七寶,華葉之本為八佛頂,其次為八大菩薩,末列八大明王,四角安置四內供養菩薩,外院有外四供養、四攝菩薩,其間則配置八方天。〔圖像鈔卷二、別尊雜記卷七、祕藏金寶鈔卷六、祕鈔問答卷二〕
; (大佛頂曼荼羅) Cũng gọi Nhiếp nhất thiết Phật đính mạn đồ la. Mạn đồ la lấy Đại Phật đính làm vị Trung tôn mà kiến lập. Mạn đồ la trong Giác thiền sao được căn cứ theo kinh Đại diệu kim cương mà vẽ như sau: Giữa hoa sen tám cánh dựng chày một chĩa làm ranh giới, Đại Phật đính tôn ngồi trên tòa sư tử giữa đài hoa, kết ấn Pháp giới định, chung quanh có bảy báu, trên tám cánh hoa là tám Phật đính, kế đó là tám vị Đại bồ tát, cuối cùng là tám Đại minh vương, bốn góc đặt bốn vị Bồ tát nội cúng dường, viện ngoài có bốn Bồ tát ngoại cúng dường, bốn vị Nhiếp bồ tát, ở khoảng giữa các vị Bồ tát này thì phối trí các vị trời tám phương. [X. Đồ tượng sao Q.2; Biệt tôn tạp kí Q.7; Bí tạng kim bảo sao Q.6; Bí sao vấn đáp Q.2].
đại phật đỉnh pháp
787請參閱 大佛頂首楞嚴經 或 楞嚴經 請參閱 大佛頂首楞嚴經會解 又作攝一切佛頂輪王法。密教以大佛頂為本尊,為調伏天變或兵亂所修之法。分成金剛部大日金輪與胎藏部釋迦金輪二者。修本法之根據有大佛頂首楞嚴經、大妙金剛經、大佛頂廣聚陀羅尼經等。佛頂為如來無見頂相功德之佛格化,計有三佛頂、五佛頂、八佛頂、九佛頂、十佛頂等。大佛頂乃是總攝諸佛頂尊而為最勝尊。據大佛頂首楞嚴經卷七載,修此法時,應於方圓丈六之八角壇上置一金屬蓮花,花中安置盛有八月露水之鉢,取八圓鏡置於各角,圍繞花鉢;鏡外另置十六蓮花,鋪設十六香爐,復取白牛之乳置於十六器,製成各種上妙之食。壇前復安一小火爐,以兜樓婆香煎取香水,沐浴其炭,投酥蜜入爐中,燒盡後,以之饗佛菩薩。
; (大佛頂法) Cũng gọi Nhiếp nhất thiết Phật đính luân vương pháp. Pháp của Mật giáo lấy Đại Phật đính làm Bản tôn tu để điều phục thiên tai, chiến loạn. Pháp này chia làm hai bộ: Kim cương bộ Đại nhật kim luân và Thai tạng bộ Thích ca kim luân. Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm, kinh Đại diệu kim cương và kinh Đại Phật đính quảng tụ đà la ni v.v... đều có nói về pháp tu này. Phật đính là công đức Vô kiến đính tướng của Như lai được coi là Phật cách, có các loại: Ba Phật đính, năm Phật đính, tám Phật đính, chín Phật đính, mười Phật đính v.v... Đại Phật đính là vị tôn tối thắng, bao nhiếp tất cả các tôn vị Phật đính. Cứ theo kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 7, thì khi tu pháp Đại Phật đính phải đặt một hoa sen bằng kim loại trên đàn tám góc, chu vi 4,8m, trong hoa để một chiếc bát đựng sương tháng 8, ở mỗi góc đàn đặt một tấm gương tròn chung quanh bát hoa; phía ngoài những tấm gương đặt thêm 16 hoa sen nữa và bày 16 lư hương, rồi lấy sữa bò trắng để trong 16 cái bình tinh khiết để làm thành các món ăn thượng diệu. Ở trước đàn để một lò lửa nhỏ, lấy nước trầm rửa than cho thơm, tẩm than bằng tô mật, rồi bỏ vào lò đốt lên để cúng dường Phật và Bồ tát.
đại phật đỉnh thủ lăng nghiêm kinh
788凡十卷。又作大佛頂經、楞嚴經。全稱大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經。唐朝般剌蜜帝譯。收於大正藏第十九冊。為鳩摩羅什所譯首楞嚴三昧經之別本。本經內容敘述阿難受摩登伽女之幻術,戒體將毀之際,佛遙知之,即遣文殊師利以神咒破幻術。其後,阿難與摩登伽女同詣佛所,佛乃為說圓解、圓行、圓位,乃至詳說七趣以辨陰魔,及三摩提之法、根塵同源與縛脫無二之理。 有關本經之部屬,古來頗有異說,子璿判定本經屬華嚴宗五時教判之終教,賅括頓、圓二教;智旭之閱藏知津則列之於方等密咒經之首。本經之傳譯,據開元釋教錄卷九載,係沙門懷迪所譯。另據智昇之續古今譯經圖紀與子璿之首楞嚴經義疏注經卷一等之說,則本經之譯本或有二種,其一即為懷迪所譯,時間應在般剌蜜帝之前。本經自唐宋以來,凡有百餘注疏,較重要者有元朝惟則之首楞嚴經會解,其書援引諸宗之注書而隨文解釋本經之經文。有關本經之真偽,歷來即有諍論,近代學者或謂本經乃唐朝房融等人所偽作者。除漢譯本外,本經亦有藏譯本,係清高宗乾隆年間自漢譯本轉譯者。〔大唐內典錄卷三、貞元新定釋教目錄卷十四、禪林象器箋經錄門〕
; (大佛頂首楞嚴經) Gồm 10 quyển. Cũng gọi Đại Phật đính kinh, Lăng nghiêm kinh. Gọi đủ là: Đại Phật đính Như lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ tát vạn hạnh thủ lăng nghiêm kinh. Do ngài Bát lạt mật đế dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 19, là bản dịch khác của kinh Thủ lăng nghiêm tam muội do ngài Cưu ma la thập dịch. Nội dung kinh này tường thuật việc ngài A nan bị huyễn thuật của nàng Ma đăng già mê hoặc, lúc gần hủy giới thể thì đức Phật biết được việc này, liền sai ngài Văn thù sư lợi đem thần chú Thủ lăng nghiêm đến phá trừ huyễn thuật để giải cứu cho ngài A nan. Sau đó, ngài A nan và nàng Ma đăng già cùng đến chỗ đức Phật nghe Phật giảng về Viên giải, Viên hạnh, Viên vị cho đến bảy đường để biện minh ấm ma và pháp Tam ma đề, lí căn, trần cùng một nguồn, phược (trói), giải (cởi) không hai. Từ trước đến nay, kinh này có nhiều thuyết phán giáo khác nhau. Chẳng hạn như ngài Tử tuyên phán kinh này thuộc Chung giáo trong giáo phán năm thời của tông Hoa nghiêm, bao gồm cả Đốn giáo và Viên giáo. Còn trong Duyệt tạng tri tân thì ngài Trí húc liệt kinh này vào đầu các kinh Phương đẳng mật chú. Về sách chú sớ kinh này thì đời Đường, Tống đến nay đã có tới hơn 100 bản, nhưng quan trọng hơn cả thì có: Thủ lăng nghiêm kinh hội giải của ngài Duy tắc đời Nguyên. Trong sách này, ngày Duy tắc viện dẫn những bộ chú thích của các tông rồi theo chính văn mà giải thích kinh này. Về sự truyền dịch kinh Thủ lăng nghiêm cũng có nhiều thuyết. Theo Khai nguyên thích giáo lục quyển 9 thì kinh này do sa môn Hoài địch dịch. Nhưng, theo Tục cổ kim dịch kinh đồ kỉ của ngài Trí thăng và Thủ lăng nghiêm kinh nghĩa sớ chú kinh quyển 1 của ngài Tử tuyền thì kinh này có hai bản dịch: Một của ngài Hoài địch, một của ngài Bát lạt mật đế. Bản của ngài Hoài địch có trước bản của ngài Bát lạt mật đế. Về vấn đề chân, ngụy của kinh này, xưa nay cũng có sự tranh luận. Trong số các học giả cận đại, có người cho kinh này do Phòng dung ngụy tạo vào đời Đường. Ngoài ra, kinh này cũng có bản dịch tiếng Tây tạng, được chuyển dịch từ bản dịch chữ Hán vào khoảng năm Càn long đời Cao tông nhà Thanh. [X. Đại đường nội điển lục Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14;Thiền lâm tượng khí tiên kinh lục môn].
đại phật đỉnh thủ lăng nghiêm kinh hội giải
789凡二十卷。元代惟則撰。今收於卍續藏第十九冊。又稱大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經會解、首楞嚴經會解。援引諸宗注書以隨文解釋大佛頂首楞嚴經,間亦加有己說。本書作於元順帝至正二年(1342),十二年付梓。明神宗萬曆四十七年(1619),幽溪傳燈作楞嚴經圓通疏十卷加以疏釋。〔釋氏稽古略續集卷一、禪籍志卷下〕
; (大佛頂首楞嚴經會解) Gồm 20 quyển, do ngài Duy tắc soạn vào đời Nguyên, thu trong Vạn tục tạng tập 19. Cũng gọi Đại Phật đính Như lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ tát vạn hạnh Thủ lăng nghiêm hội giải, Thủ lăng nghiêm kinh hội giải. Nội dung sách này, soạn giả viện dẫn những bản chú sớ của các tông, rồi theo chính văn mà giải thích kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm, thỉnh thoảng cũng có thêm quan điểm của chính soạn giả. Sách này được soạn vào năm Chí chính thứ 2 (1342) đời Thuận đế nhà Nguyên và mười năm sau đó (1352) được khắc in. Năm Vạn lịch 47 (1619) đời vua Thần tông nhà Minh, ngài U khê Truyền đăng soạn Lăng nghiêm kinh viên thông sớ mười quyển để giải thích thêm. [X. Thích thị kê cổ lược tục tập Q.1; Thiền tịch chí Q.hạ].
đại phật đỉnh đà la ni
788梵語 mahāpratyaṅgirā-dhāraṇī。全稱大佛頂如來頂髻白蓋無有能及甚能調伏總持。又作大佛頂如來放光悉怛多鉢怛囉陀羅尼、大佛頂滿行首楞嚴陀羅尼、首楞嚴陀羅尼、大佛頂如來頂髻白蓋陀羅尼、大佛頂真言。又稱楞嚴咒、佛頂咒、首楞嚴咒。為宣說大佛頂如來內證功德之陀羅尼。全咒總為四二七句,最初之四一八句敘說歸命諸佛菩薩等事,及遠離諸惡鬼病等諸難,不能視為正咒。正咒為第四一九句哆姪他(梵 tadyathā,意譯為「即說咒曰」)以下,即「唵 阿那隸 毘舍提 鞞囉跋闍羅陀唎 槃陀槃陀儞 跋闍囉謗尼泮 虎吽都嚧甕泮 莎婆訶」八句。於大佛頂首楞嚴經卷七「大佛頂如來放光悉怛多鉢怛囉菩薩萬行灌頂部」,錄有此陀羅尼,題名為「中印度那蘭陀曼荼羅灌頂金剛大道場神咒」,共為四三九句。又於大正藏第十九冊亦收有此陀羅尼之三種異譯:(一)不空譯,佛頂如來放光悉怛多鉢怛囉陀羅尼,一卷。(二)沙囉巴譯,佛頂大白傘蓋陀羅尼經,一卷。(三)真智等譯,大白傘蓋總持陀羅尼經,一卷。此外,此陀羅尼亦有西藏譯本,內容與真智之譯本大同小異。於「漢滿蒙藏四體合璧大藏全呪」第三套第一卷所收之本陀羅尼,係將大佛頂首楞嚴經所載者與西藏譯本相對照,而補足漢譯所缺漏者。近代學者曾於中亞發現本陀羅尼之梵本斷片。 據大佛頂首楞嚴經卷七載,誦持此咒者,火不能燒,水不能溺,大毒小毒所不能害,一切惡星並諸鬼神不能起惡,尚可蒙毘那夜迦諸惡鬼守護。又若心散亂,不住三摩地,心憶口持此咒,則為金剛藏王菩薩眷屬隨從護衛,乃至求長壽、求果報、求國泰民安、風調雨順等事,無一不能實現。首楞嚴義疏注經卷七(大三九‧九一九中):「此咒四百二十七句,前諸句數,但是歸命諸佛菩薩眾賢聖等,及敘咒願加被離諸惡鬼病等諸難。至四百十九云哆姪他,此云即說咒曰,從四百二十唵字下去,方是正咒,如前云六時行道誦咒,每一時誦一百八遍,即正誦此心咒耳。如或通誦,更為盡善。」〔諸阿闍梨真言密教部類總錄卷上、大佛頂陀羅尼勘註(明覺)、禪林象器箋經錄門〕
; (大佛頂陀羅尼) Phạm: Mahàpratyaígirà-dhàraịì. Gọi đủ là: Đại Phật đính Như lai đính kế bạch cái vô hữu năng cập thậm năng điều phục tổng trì. Cũng gọi Đại Phật đính Như lai phóng quang tất đát đa bát đát la đà la ni, Đại Phật đính mãn hạnh thủ lăng nghiêm đà la ni, Thủ lăng nghiêm đà la ni, Đại Phật đính Như lai đính kế bạch cái đà la ni, Đại Phật đính chân ngôn. Còn gọi: Lăng nghiêm chú, Phật đính chú, Thủ lăng nghiêm chú. Là Đà la ni tuyên thuyết công đức nội chứng của Đại Phật đính Như lai. Toàn bài chúcó427 câu, 418 câu đầu nói về việc đính lễ chư Phật, Bồ tát sẽ được xa lìa các chướng nạn như ác quỉ, bệnh tật v.v..., 418 câu này không được xem là chú chính thức. Mà từ câu 419 đến câu 427 gồm 8 câu là: Án, a na lệ, tì xá đề, bệ la bạt xà la đà rị, bàn đà bànđà nễ, bạt xà ra báng ni phấn, hổ hồng đô rô ung phấn, sa bà ha, mới là phần chú chính thức. Đại Phật đính Như lai phóng quang tất đát đa bát đát ra Bồ tát vạn hạnh quán đính bộ trong kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 7 có chép Đà la ni này và đề tên là: Trung Ấn độ Na lan đà mạn đồ la quán đính kim cương đại đạo trang thần chú, gồm có 439 câu. Lại Đà la ni được thu trong Đại chính tạng tập 19 có ba bản dịch: 1. Phật đính Như lai phóng quang tất đát đa bát đát ra đà la ni, 1 quyển, do ngài Bất không dịch. 2. Kinh Phật đính đại bạch tản cái đà la ni, 1 quyển, do ngài Sa la ba dịch. 3. Kinh Đại bạch tản cái tổng trì đà la ni, 1 quyển, ngài Chân trí dịch. Ngoài ra, Đà la ni này cũng có bản dịch Tây tạng, nội dung gần giống như bản dịch của ngài Chân trí. Còn bản Đà la ni này trong Hán Mãn Mông Tạng tứ thể hợp bích Đại tạng toàn chú quyển 1, bộ thứ 3, là bản bổ túc những chỗ còn thiếu sót trong bản Hán dịch sau khi đối chiếu giữa bản dịch Tây tạng và bản được chép trong kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm. Gần đây, bản tiếng Phạm (đã rách) của Đà la ni này đã được tìm thấy ở vùng Trung á. Cứ theo kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 7, thì người trì tụng Đà la ni này sẽ thoát khỏi các tai nạn như lửa, nước, tà thần, ác quỉ, tất cả độc hại lớn nhỏ đều không xâm phạm được. Trái lại, còn được ác quỉ Tì na dạ ca ủng hộ. Lại nữa, nếu khi tụng Đà la ni này mà tâm tán loạn, không trụ nơi tam ma địa, thì chỉ cần đọc và nhớ cũng được quyến thuộc của bồ tát Kim cương tạng vương theo hộ vệ. Cho đến cầu sống lâu, phúc báo, quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa v.v... tất thảy đều được như nguyện. [X. Chư a xà lê chân ngôn Mật giáo bộ loại tổng lục Q.thượng; Đại Phật đính đà la ni khám chú (Minh giác); Thiền lâm tượng khí tiên kinh lục môn].
đại phổ ninh tự đại tạng kinh mục lục
Nguyên Tạng Mục Lục—Mục lục của toàn bộ Nguyên Tạng Kinh điển—The catalogue of the Yuan Tripitaka—See Nguyên Tạng.
đại quan
(1201-1268) Thiền tăng đời Tống, họ Lục, hiệu Vật Sơ, người xứ Ngân Huyện (nay thuộc tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền sư Bắc Giản Cư Giản, tông Lâm Tế. Sư trụ Quảng Lợi Thiền Tự ở núi A-dục Vương. Tác phẩm: [i]Vật Sơ Hoà thượng ngữ lục[/i] 1 quyển, [i]Vật Sơ Thặng Ngữ[/i] 25 quyển.
đại quang
773(1922~ )山東人。字念澄。倓虛法師之弟子。北平中國佛教學院畢業。曾任香港佛教聯合會總務及學務委員、能仁書院董事等職。此外,曾創辦觀音中小學、兒童教養院、施診所、出版社等慈善、文化事業。著有倓虛大師影塵回憶錄。
đại quang a la hán
Uptissa (S)Ưu ba để xá.
đại quang chư huệ
Ta-kuang Chu-hui (C), Ta-kuang Chu-tun (C), Daiko Koke (J)(836/837-903) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Thạch Sương Khánh Chư.
; Daiko Koke (C), Ta-kuang Chu-tun (C)Tên một vị sư.
Đại Quang Cư Hối
(大光居誨, Daikō Kokai, 837-903): còn được gọi là Cư Nhượng (居讓), người vùng Trường An (長安), họ là Vương (王). Ông theo Thạch Sương Khánh Chư (石霜慶諸) hầu hạ được 2 năm, rồi sau được ấn khả. Hơn 20 năm sau, ông đến trú tại Đại Quang Sơn (大光山) ở Đàm Châu (潭州) và tận lực cử xướng Thiền pháp của mình. Vào ngày mồng 3 tháng 9 năm thứ 3 (903) niên hiệu Thiên Phục (天復), ông thị tịch, hưởng thọ 67 tuổi đời và 36 hạ lạp.
đại quang minh
Xem Đại Quang Minh vương.
đại quang minh tàng
Treasury of Great Brightness.
Đại quang minh tạng
大光明藏; J: daikōmyō-zō;|1. Một cách diễn bày của Thiền tông chỉ cái Tâm vốn thanh tịnh (Tự tính thanh tịnh tâm), Phật tính sẵn có của mỗi chúng sinh, chỉ được trực nhận qua kinh nghiệm Giác ngộ, Kiến tính;|2. Tên của am của Thiền sư Thiên Ðồng Như Tịnh nằm trên Thiên Ðồng sơn. Như Tịnh là thầy truyền pháp của Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền, Tổ của dòng Tào Ðộng Nhật Bản.
đại quang minh tạng
Gọi đủ: Truyền Đăng Đại Quang Minh Tạng. Đăng lục 3 quyển, do ngài Bảo Đàm biên tập vào đời Tống. Từ trong bộ [i]Cảnh Đức Truyền Đăng lục[/i] ngài sao lục các phần cơ duyên ngộ pháp của chư Tổ được truyền thừa và thêm lời bình, được xếp vào [i]Tục Tạng kinh[/i] tập 137, trang 769. Nội dung bao gồm 7 vị Phật, 28 vị Tổ Ấn Độ, các vị Tổ Trung Quốc, các đại sư Đạo Nhất, Hoàng Bá và các vị nối pháp, tính chung được 190 vị. Sách được xuất bản vào niên hiệu Hàm Thuần thứ 1 (1265) đời Tống. Các quyển chú thích sách này gồm có: [i]Đại Quang Minh Tạng Sự Uyển[/i], 1 quyển, do ngài Đạo Luân soạn; [i]Đại Quang Minh Tạng Miệt Mông[/i], 3 quyển, do ngài Thử Sơn Huyền Uyên soạn.
; 774凡三卷。全稱傳燈大光明藏。南宋寶曇輯。收於卍續藏第一三七冊。本書係自景德傳燈錄等書中,抄錄傳燈諸祖悟法之機緣並加評語。內容包括七佛、西竺二十八祖、震旦諸祖及馬祖、黃檗等大師及其法嗣,計收錄一九○人。度宗咸淳元年(1265)刊行。其注釋書有桂洲道倫所撰大光明藏事苑一卷、此山玄淵所撰大光明藏蔑蒙三卷。
; (大光明藏) Gồm 3 quyển. Gọi đủ: Truyền đăng đại quang minh tạng. Ngài Bảo đàm biên tập vào đời Nam Tống, thu vào Vạn tục tạng tập 137. Sách này sao chép cơ duyên đắc pháp của chư tổ truyền đăng từ trong các sách như Cảnh đức truyền đăng lục v.v... và có thêm lời bình. Nội dung nói về 190 vị, gồm: bảy đức Phật, 28 vị tổ Tây trúc, các Tổ Trung quốc và các Thiền sư như: Mã tổ, Hoàng bá v.v... vàđệ tử nối pháp của các ngài. Sách này được ấn hành vào niên hiệu Hàm thuần năm đầu (1265). Về sách chú thích thì có: Đại quang minh tạng sự uyển 1 quyển của ngài Quế châu Đạo luân; Đại quang minh tạng miệt mông 3 quyển của ngài Thử sơn Huyền uyên.
đại quang minh vương
773大光明,梵名 Mahā-prabhāsa,音譯摩訶波羅婆修。釋尊於因位修菩薩行時之王名。據賢愚經卷三大光明王始發道心緣品載,過去無量無邊阿僧祇劫,閻浮提有大王,名大光明,聰明勇慧,王相具足。時有一邊國之王,獻二象子,王大悅,延請象師散闍調教,教成,王乘之出城,象見群象在蓮華池,而奔逐之入林,王傷而怒,象師乃請王觀其調象之法,遂作七熱鐵丸,令象吞之,象焦爛而死。王見之,大為驚悔,召問象師,象師謂,己唯能調其身,而未能調其心,唯佛能調身調心。王聞言,即便發心,誓願作佛,精勤歷劫,果獲其報。爾時之王即釋尊,象師即舍利弗,象即難陀。此即大光明王之本生,此說盛行於西域龜茲。於今龜茲(Kizil)之 Schlucht-h隶hle 窟之壁畫中,有一幅大光明王之畫,王跨乘象,兩手捉舉樹枝,此畫恐係根據上記之本生故事而來者。另於大方便佛報恩經卷五慈品,載有故事不同之大光明王本生,其內容與月光王本生略同。〔賢愚經卷十大光明始發無上心品、大莊嚴論經卷九、經律異相卷二十五、卷二十六〕
; Mahā-prabhāsa (S)Đại Quang minh.
; The Great- Light Brilliant King or Ming-Wang—Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong thời quá khứ, là quốc vương của cõi Diêm Phù Đề, gọi là Đại Quang Minh Vương. Khi đó voi trắng của Ngài bị động tâm khi nhìn thấy một con voi cái, nên chạy theo vào rừng. Khi ấy Ngài liền quở trách viên quản tượng, và viên quản tượng đáp lại rằng. “ Thưa Ngài, tôi chỉ có thể kiểm soát được cái thân, nhưng không thể kiểm soát được cái tâm; chỉ có Phật mới làm được chuyện nầy.” Ngay sau đó Ngài đã phát đại nguyện tu hành thành đạt đạo quả Bồ Đề và thành Phật. Về sau nầy, Ngài bố thí tất cả, ngay cả việc bố thí đầu cho một người Bà La Môn, người đã đến xin đầu vì nghe theo lời xúi dục của một nhà vua thù địch với Ngài—Sakyamuni in previous existence, when king of Jambudvipa, at Benares. There his white elephant, stirred by the sight of a female elephant, ran away with him into the forest, where he rebuke his mahout, who replied, “I can only control the body, not the mind; only a Buddha can control the mind.” Thereupon the royal rider made his resolve to attain bodhi and become a Buddha. Later, he gave to all that asked, finally even his own head to a Brahman who demanded it, at the instigation of an enemy king.
; (大光明王) Đại quang minh, Phạm: Mahàprabhàsa; dịch âm: Ma ha ba la bà tu. Tên vị vua tiền thân của đức Thích ca khi Ngài còn ở Nhân vị tu hạnh Bồ tát. Cứ theo phẩm Đại quang minh vương thủy phát đạo tâm duyên trong kinh Hiền ngu quyển 3 chép, thời quá khứ vô lượng vô biên a tăng kì kiếp, ở cõi Diêm phù đề có một vị Đại vương tên là Đại quang minh, thông minh dũng cảm, đầy đủ đức tướng của một vị vua. Bấy giờ, có vị vua nước láng giềng, hiến hai con voi, vua Đại quang minh rất vừa ý, liền mời tượng sư Tán xà đến để huấn luyện voi. Luyện xong, vua cỡi voi ra ngoài thành. Voi trông thấy đàn voi ở trong ao sen, bèn chạy đến đuổi chúng vào rừng, làm vua bị thương nên vua rất giận. Vua cho triệu Tượng sư đến để khiển trách. Tượng sư mời vua xem cách ông ta dạy voi. Ông ta đem bảy viên sắt nóng bắt voi nuốt, nuốt xong, voi lăn ra chết, vua rất kinh ngạc và hối hận. Lúc đó, Tượng sư tâu vua: Thần chỉ có thể luấn luyện được thân voi chứ chưa huấn luyện được tâm voi, duy có Phật mới điều phục được cả thân và tâm. Nhà vua nghe xong liền phát tâm, nguyện tu thành Phật và trải qua nhiều kiếp, tinh cần tu tập, cuối cùng đạt được quả Phật. Vua Đại quang minh thời ấy nay là đức Thích ca, Tượng sư là ngài Xá lợi phất và con voi là ngài Nan đà. Thuyết này thịnh hành ở nước Cưu tư bên Tây vực. Trong các bức bích họa ở hang núi Schlucht-hole tại nước Cưu tư (Kizil) hiện nay, có một bức tranh vẽ hình vua Đại quang minh ngồi xoạc chân trên lưng voi, hai tay nâng cành cây. Bức họa này có lẽ đã căn cứ vào tích truyện bản sinh nói ở trên mà có. Ngoài ra, phẩm Từ trong kinh Đại phương tiện Phật báo ân quyển 5, có chép truyện tích bản sinh của một vị vua Đại quang minh khác, nội dung hơi giống với truyện bản sinh của Nguyệt quang vương. [X. kinh Hiền ngu Q.10 phẩm Đại quang minh thủy phát Vô thượng tâm; Đại trang nghiêm luận kinh Q.9; Kinh luật dị tướng Q.25, Q.26].
đại quang minh vương xả đầu thí bà la môn
Vị vua của nước Ba La Nại, đã bố thí đầu mình cho một vị Bà La Môn—The Great Light Brilliant King or King of the Benares, who gave his own head to a Brahman—See Đại Quang Minh Vương.
đại quang phật
Mahāprabhā-Buddha (S), Great Light BuddhaTên một vị Phật hay Như Lai.
; Great light Buddha.
đại quang phổ chiếu
Universal light—Ánh sáng chiếu khắp muôn phương, đặc biệt là những tia nằm giữa hai chân mày của Phật, như đã được kể đến trong Kinh Pháp Hoa—The great light shinning everywhere, especially the ray of light that streamed from between the Buddha's eyebrows, referred to in the Lotus sutra.
đại quang phổ chiếu quán thế âm bồ tát
Xem Thập Nhất Diệu Phán Quan Bồ tát.
đại quang phổ chiếu quán âm
Một trong sáu hình thức khác nhau của Ngài Quán Âm—One of the six forms of Kuan Yin.
đại quang tác vũ
773禪宗公案名。又作大光這野狐精。乃唐代禪僧大光居誨與一僧之問答。碧巖錄第九十三則(大四八‧二一七上):「僧問大光:『長慶道:因齋慶讚,意旨如何?』大光作舞,僧禮拜。光云:『見箇什麼便禮拜?』僧作舞。光云:『這野狐精!』」本則乃承自碧巖錄第七十四則「金牛飯桶」之公案。金牛和尚每至正午食時,自將飯桶於僧堂前作舞,後有一僧以之叩問長慶,長慶讚歎金牛之所為。一僧舉此公案向大光問長慶之意旨,大光與金牛同樣作舞,僧則禮拜之,大光呵責其禮拜,僧亦仿其作舞。如是,則禪旨之領悟與禪徒相互以機鋒勘驗之切磋,易陷於缺乏實悟之泥沼,而僅落於模仿之葛藤,故大光以「這野狐精」喝斥之。
; (大光作舞) Đại quang múa. Tên công án trong Thiền tông. Cũng gọi Đại quang giá dã hồ tinh. Nội dung nói về cơ duyên vấn đáp giữa thiền sư Đại quang Cư hối đời Đường với một vị tăng. Bích nham lục tắc 39 (Đại 48, 217 thượng), chép: Tăng hỏi Đại quang: Trường khánh nói: Nhân thụ trai mà hát múa vui mừng, ý chỉ thế nào? Đại quang liền múa, tăng lễ bái. Đại quang hỏi: Ông thấy gì mà lễ bái?. Tăng liền múa. Đại quang nói: Con dã hồ tinh này! Tắc này là tiếp theo công án Kim ngưu phạn dũng trong Bích nham lục tắc 74. Nội dung như sau: Hòa thượng Kim ngưu mỗi khi đến giờ thụ trai (giờ ngọ) thường tự bưng thùng cơm ra trước Tăng đường mà múa. Sau, có vị tăng đem việc này hỏi ngài Trường khánh, thì ngài Trường khánh khen ngợi việc làm ấy của hòa thượng Kim ngưu. Vị tăng lại nêu công án này hỏi ngài Đại quang về ý chỉ của ngài Trường khánh, thì Đại quang cũng múa hệt như Kim ngưu, vị tăng liền lễ bái. Khi Đại quang hỏi tăng về ý nghĩa của sự lễ bái thì tăng cũng bắt chước múa theo. Như vậy, cơ phong khám nghiệm Thiền đồ về sự lãnh ngộ Thiền chỉ rất dễ bị rơi vào cái khuôn sáo mô phỏng tầm thường, thiếu thực ngộ, nên Đại quang mới dùng từ Giá dã hồ tinh để cảnh tỉnh.
đại quang tự
Daikō-ji (J)Tên một ngôi chùa.
đại quang âm thiên
Abhasvara—Cõi trời thứ ba trong Nhị Thiền Thiên của trời sắc giới—The third of the celestial regions in the second dhyana heaven of the form realm. ** For more information, please see Tứ Thiền Thiên.
đại qui mô
On a large scale.
đại quyết
Dai funshi (J), Great determination.
đại quyền
914<一>指佛、菩薩等大聖為濟度眾生而顯現種種異形。觀無量壽經正觀記謂韋提希夫人及阿闍世王悉為大權之示跡。 <二>大權修理菩薩,略稱大權菩薩。為禪家之護法神,祀於浙江定海縣東之招寶山(阿育王山),該山聳峙海濱,船舶、寶貨常集其下。大權菩薩像著帝王之服,左手覆於膝上,右手加額,呈遠眺之姿,以示護航、招寶之意,故又稱招寶七郎。(參閱「大權修理菩薩」915)
; Đại Thánh Quyền, khả năng tuyệt luân của chư Phật và chư Bồ Tát có thể tự hóa thân vào người khác hay hóa hiện dị hình, bằng cách đó mà Hoàng Hậu Ma Gia đã làm mẹ 1.000 Phật, La Hầu La làm con của 1.000 Phật, và tất cả chúng sanh đều nằm trong khả năng của Pháp thân Phật—The great potentiality or the great power of Buddhas and bodhisattvas to transform themselves into others, by which Maya becomes the mother of 1,000 Buddhas, Rahula the son of 1,000 Buddhas, and all beings are within the potency of the dharmakaya.
; (大權) Phương tiện lớn. Nghĩa là chư Phật, Bồ tát dùng phương tiện hiển hiện các hình tướng khác lạ để cứu độ chúng sinh. Cứ theo Quán vô lượng thọ kinh chính quán kí, thì phu nhân Vi đề hi và vua A xà thế đều là những hình tướng do Bồ tát thị hiện (đại quyền).
đại quyền tu lí bồ tát
914禪林護法神,亦為阿育王山之護法神。又稱招寶七郎大權修理菩薩、大權菩薩、招寶七郎、修理菩薩。以祀於浙江定海縣東招寶山,故有此名。招寶山又稱阿育王山,山臨東海,渡海者每望山而遙祈大權菩薩之護祐,故寺院中之此尊形像,多作加額遙望船隻之狀。據舊唐書宣宗本紀載,宣宗即位前曾就鹽官之安師剃度,會昌五年(845),至會稽參詣釋提桓因祠,祈興復法門,神即託夢告曰:「三年後登位,必自興法。」事果驗。大中元年(847)二月,乃敕釋提桓因「招寶七郎大權修理菩薩」之號。其形像,左手安置於膝上,右手加額,作遠眺狀,以示護航、招寶之意,身著帝王服。清拙正澄嘗作大權贊:「威權廣大,赫赫煌煌,神通電也非速,願力金兮未剛,護佛真身舍利,依前不識佛光。如何是佛光?斫額望扶桑。」〔古今圖書集成山川典第一一○、瑩山清規卷上、禪林象器箋靈像門〕
; (大權修理菩薩) Cũng gọi Chiêu bảo thất lang đại quyền tu lí bồ tát, Đại quyền bồ tát, Chiêu bảo thất long, Tu lí bồ tát. Vị Bồ tát được thờ ở núi Chiêu bảo, phía đông huyện Định hải thuộc tỉnh Chiết giang, Trung quốc. Núi Chiêu bảo cũng gọi là núi A dục vương, ở gần biển Đông, những người đi biển thường từ xa trông lên núi để cầu xin bồ tát Đại quyền phù hộ. Cứ theo Cựu đường thư Tuyên tông bản kỉ chép, thì trước khi làm vua, Tuyên tông từng đến Diêm quan xin sư Tề an xuất gia. Năm Hội xương thứ 5 (845), Tuyên tông đến Cối kê tham lễ đền thờ Thích đề hoàn nhân, cầu xin phục hưng pháp môn. Đêm đến, Thích đề hoàn nhân báo mộng cho Tuyên tông, bảo: Ba năm sau sẽ lên ngôi và ắt sẽ phục hưng đạo pháp. Lời báo mộng ấy sau quả đã thành sự thật. Niên hiệu Đại trung năm đầu (847), vào tháng 2, vua Tuyên tông đã ban hiệu cho Thích đề hoàn nhân là: Chiêu bảo thất lang đại quyền tu lí bồ tát. Hình tượng vị Bồ tát này là tay trái đặt trên đầu gối, tay phải che trên trán, dáng như nhìn ra xa, hàm ý hộ vệ tàu bè và ban cho của báu, mình mặc áo đế vương, là vị thiện thần hộ trì Phật pháp. [X. Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển thứ 110; Oánh sơn thanh qui Q.thượng; Thiền lâm tượng khí tiên Linh tượng môn].
đại quyền tu lợi bồ tát
Vị Bồ Tát hay một loại thần hộ pháp cho các tự viện, tay phải để trước trán che mắt trông xa, người ta nói ngài là vị thần trấn thủ bờ biển trong vương quốc của vua A Dục—A Bodhisattva, a protector of monasteries, depicted as shading his eyes with his hand and looking afar, said to have been a Warden of the Coast under the emperor Asoka.
đại quán
915(1201~1268)宋代臨濟宗僧。浙江鄞縣人,俗姓陸。號物初。為大慧宗杲之法孫,嗣北磵居簡之法。南宋淳祐元年(1241)晉住浙江法相禪院,舉揚禪法,其後轉住象田興教禪院、智門禪寺、教忠報國禪寺。景定四年(1263),住持阿育王山廣利禪寺及六處道場,弘揚大慧下之臨濟禪,接化四方緇素。咸淳三年(1267)覺心居士再刊古尊宿語錄、師為記總序。門人德溥編有物初和尚語錄一卷,又集其詩文為物初賸語二十五卷。咸淳四年示寂,世壽六十八。〔育王山志卷八、續傳燈錄卷三十五、五燈嚴統卷二十二〕
; (大觀) (1201-1268) Vị Thiền tăng tông Lâm tế ở đời Tống, người huyện Ngân, tỉnh Chiết giang, Trung quốc, họ Lục, hiệu Vật sơ, đệ tử nối pháp của ngài Bắc giản Cư giản và là pháp tôn của thiền sư Đại tuệ Tông cảo. Niên hiệu Thuần hựu năm đầu (1241) đời Nam Tống, sư trụ trì thiền viện Pháp tướng ở Chiết giang, nêu tỏ pháp Thiền, sau dời đến Thiền viện Tượng điền hưng giáo, Thiền tự Trí môn, Thiền tự Giáo trung báo quốc v.v... Năm Cảnh định thứ 4 (1263), sư trụ trì Thiền tự Quảng lợi, hoằng dương Thiền Lâm tế từ sau ngài Đại tuệ để tiếp hóa tăng, tục bốn phương. Năm Hàm thuần thứ 3 (1267), cư sĩ Giác tâm in lại bộ Cổ tôn túc ngữ lục, sư làm bài Tổng tự. Đệ tử của sư là Đức phổ biên soạn các pháp ngữ của sư thành Vật sơ hòa thượng ngữ lục 1 quyển, sau lại thu tập tất cả thơ văn của sư thành Vật sơ thặng ngữ 20 quyển. Năm Hàm thuần thứ 4 sư tịch, thọ 68 tuổi. [X. Dục vương sơn chí Q.8; Tục truyền đăng lục Q.35; Ngũ đăng nghiêm thống Q.22]
đại quán đảnh
Theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng, lễ quán đảnh được dùng để rữa sạch tội chướng và ác nghiệp để đi vào công đức—In Tibetan Buddhism, the great baptism, used on special ocassions for washing away sin and evil and entering into virtue.
đại quán đảnh kinh
Mahābhisekamantra (S).
đại quán đỉnh
The greater baptism, used in special occasions by Chân ngôn sect, for washing away sin and evil and entering into virtue.
đại quân
Mahāsena (S).
đại quả thiên
Xem Quảng Quả Thiên.
đại quảng trí tam tạng
Trí lớn rộng về Tam Tạng Kinh điển, danh hiệu của A Mục Khư hay Bất Không—Great wide wisdom in the tripitaka, a title of Amogha.
đại quỷ thần vương
Pāṇḍaka (S)Ban xà caTên một vị thiên. Vua loài quỉ thần.
đại sa môn
793梵語 mahā-śramaṇa,巴利語 mahā-samaṇa。為對佛陀之尊稱。佛陀係沙門中之最偉大者,故稱大沙門。又對沙彌或外道之出家者而言,佛教之比丘較為偉大,故亦稱大沙門。〔四分律卷三十三〕
; Mahā-śramāṇa (S).
; Mahàsramana (S). The great shaman, i.e. Buddha; also any bhiksu in full orders.
; 1) Tôn hiệu của Đức Phật—Great shaman—The Buddha. 2) Bất cứ Tỳ Kheo nào đã thọ cụ túc giới: Any bhiksu in full orders.
; (大沙門) Phạm: Mahà-zramaịa, Pàli: Mahàsamaịa. Tiếng tôn xưng đức Phật. Phật là bậc sa môn vĩ đại nhất trong các sa môn, nên gọi là Đại sa môn. Ngoài ra, so với sa di hoặc người ngoại đạo xuất gia thì tỉ khưu cao cả hơn nên cũng gọi Đại sa môn. [X. luật Tứ phần Q.33].
đại sa môn thống
Vị Tăng Thống được Hoàng Đế nhà Tùy bổ nhậm trong khoảng từ năm 581 đến 618 sau Tây Lịch—A director of the order appointed by the emperor of the Sui dynasty from 581 to 618 A.D.
đại san nhã
10,000 San Nhã hay 1006 tỷ (1006 X 1,000,000,000)—10,000 septillions—See San Nhã.
đại sinh chủ
772梵名 Mahāprajāpatī。音譯摩訶波闍波提。又作大愛道、愛道、大世主。指佛陀之姨母。佛母摩訶摩耶謝世後,即由姨母代為撫育釋尊。法華玄贊卷一(大三四‧六七一中):「大術生佛七日命終,此尼養佛,大術姊妹之類,故號為姨母。大勝生主本梵王名,一切眾生皆彼子,故從彼乞得,因以為名。」〔俱舍論卷十四、大唐西域記卷六〕(參閱「摩訶波闍波提」6078)
; Mahaprajapati (skt)—The lady of the living—See Đại Ái đạo (Ma Ha Ba Xà Ba Đề).
; (大生主) Phạm: Mahàprajapatì. Dịch âm: Ma ha ba xà ba đề. Cũng gọi Đại ái đạo, Ái đạo, Đại thế chủ. Di mẫu của đức Phật. Pháp hoa huyền tán quyển 1 (Đại 34, 671 trung), nói: Đại thuật (mẹ ruột của Phật, tức phu nhân Ma da) sinh Phật được bảy ngày thì mệnh chung, Phật được bà Ma ha ba xà ba đề nuôi nấng, vì bà là em ruột của Đại thuật nên gọi là Di mẫu. Đại thắng sinh chủ vốn là tên của Phạm vương, tất cả chúng sinh đều là con của ngài. Vì bà Ma ha ba xà ba đề là do cầu Đại thắng sinh chủ mà được, nên gọi là Đại sinh chủ. [X. luận Câu xá Q.14; Đại đường tây vực kí Q.6]. (xt. Ma Ha Ba Xà Ba Đề).
đại suy tướng
Major signs of decay or approcing death—See Ngũ Suy Tướng.
đại sán
782清代畫僧。江蘇吳縣人。字石蓮、石濂、石湖,號厂翁。住廣東長壽寺。康熙年間,越南國王阮福週迎往說法,頗受信重。逾年辭歸,有海外紀事三卷,以述之。師工繪事,能作山水花卉,雅有禪意,為世所重。
đại sát
Thật là. Quả thật. Phó từ. Chương Động Sơn Hoà thượng trong TĐT q. 6 ghi: »有 僧 問 洞 山: 時 時 勤 拂 拭、 大 殺 好、 因 什 麼 不 得 衣 鉢? – [i]Có vị tăng hỏi Động Sơn: Luôn luôn siêng lau chùi, thật là hay, vì sao chẳng được y bát?[/i]«. [i]Vân Môn quảng lục[/i] q. trung ghi: »佛 法 大 殺 有、 只 是 灸 瘡 痛。 – [i]Phật pháp quả thực có, hiềm vì trên vết bỏng lại đốt thêm ngải cứu[/i]«.
; ksetra (skt)—A sacred spot or district.
đại sát giới
xem ba-la-di.
Đại sĩ
大士|Cách dịch nghĩa của danh hiệu Bồ Tát
đại sĩ
751<一>梵語 mahāpuruṣa,巴利語 mahāpurisa。對佛之尊稱之一。與「無上士」同義,意即最勝之士夫。據雜阿含經卷四十八載,八天神曾讚歎沙門瞿曇,其中第二天子讚歎云(大二‧三五五中):「大士之大龍,大士之牛王,大士夫勇力,大士夫良馬,大士夫上首,大士夫之勝。」〔無量壽如來會卷上〕 <二>梵語 mahāsattva。為菩薩之美稱。音譯作摩訶薩埵,又作摩訶薩。與「菩薩」同義。經中每用「菩薩摩訶薩」之連稱。菩薩為自利利他、大願大行之人,故有此美稱。一般而言,摩訶薩埵如譯成「大士」時,則菩薩多譯成「開士」,然皆指菩薩而言。〔度世品經卷四、法華文句卷二、釋氏要覽卷上稱謂條〕(參閱「菩薩」5209)
; Mahāpurisavitakka (P), Mahāpuruṣa (S), Mahāpuruṣa (S), Mahāpurisa (P), Great Being, Exalted Being Mahāsattva (S), Vô thượng sĩMột trong những danh hiệu của Phật.Đại nhân, Siêu nhân.
; Mahàsattva (S). A great being, noble, a leader of men, a bodhisattva.
; Mahasattva (skt)—Một chúng sanh vĩ đại—Một con người cao thượng hay một người dẫn dắt chúng sanh loài người—Tiếng gọi chung cho chư Thanh Văn, Bồ Tát hay Phật—Một bậc tự lợi lợi tha—A great being—A noble—A leader of men—A Sravaka—A Bodhisattva—A Buddha—One who benefis himself to help others.
; (大士) I. Đại sĩ. Phạm: Mahàpuruwa, Pàli: Mahàpurisa. Một trong những tiếng tôn xưng đức Phật, đồng nghĩa với Vô thượng sĩ, hàm ý là bậc sĩ phu hơn hết. Kinh Tạp a hàm quyển 48 chép, từng có tám vị thiên thần khen ngợi sa môn Cù đàm, trong đó, vị Thiên tử thứ hai khen rằng (Đại 2, 355 trung): Đại sĩ là rồng lớn, Đại sĩ là ngưu vương, Đại sĩ phu là người có sức mạnh, Đại sĩ phu là con ngựa hay, Đại sĩ phu là bậc đứng đầu, Đại sĩ phu là người hơn hết. [X. Vô lượng thọ Như lai hội Q.thượng]. II. Đại sĩ. Phạm:Mahàsattva. Tiếng tôn xưng Bồ tát. Dịch âm: Ma ha tát đỏa, cũng gọi Ma ha tát, cùng nghĩa với Bồ tát. Trong kinh thường nối liền: Bồ tát ma ha tát. Vì Bồ tát là bậc có đại hạnh, đại nguyện cứu độ chúng sinh nên gọi là Ma ha tát đỏa. Thông thường, khi Ma ha tát đỏa được dịch thành Đại sĩ thì Bồ tát phần nhiều được dịch thành Khai sĩ, nhưng đều chỉ cho Bồ tát cả. [X. kinh Độ thế phẩm Q.4; Pháp hoa văn cú Q.2; Thích thị yếu lãm Q.thượng Xưng vị điều]. (xt. Bồ Tát).
đại sĩ tiêm
Thẻ xâm Quan Âm được đặt trước tượng Quan Âm trong các chùa—Bamboo slips used before Kuan-Yin.
đại sư
834梵語 śāstṛ,巴利語 satthar。初果以上,乃至諸佛菩薩,堪為眾生之師範,故稱大師。本事經作三種大師:(一)如來,如來出現世間,闡揚大法,化諸眾生出離生死,令得無量 q利安樂,是為眾生之師範。(二)阿羅漢,阿羅漢諸漏已盡,梵行具足,出現世間,開示四諦,令眾生脫離生死,皆得無量義利安樂,是為眾生之師範。(三)有學弟子,初果須陀洹、二果斯陀含、三果阿那含,精修梵行,具足多聞,於諸經典,善知法義,出現世間,開示四諦,令諸眾生出離生死,皆得無量義利安樂,是為眾生之師範。瑜伽師地論卷八十二(大三○‧七五九中):「能善教誡聲聞弟子一切應作不應作事,故名大師;又能化導無量眾生,令苦寂滅,故名大師;又為摧滅邪穢外道出現世間,故名大師。」 佛遺教經(大一二‧一一一○下):「汝等比丘,於我滅後當尊重珍敬波羅提木叉,如闇遇明、貧人得寶,當知此則是汝大師。」此蓋以佛所說戒及法為佛滅後之大師。 又後世我國對人師中之通曉佛教教義且有盛德者,亦常尊為大師,如攝山大師(僧朗)、智者大師、天台大師(智顗)、南岳大師(慧思)、嘉祥大師(吉藏)、賢首大師(法藏),又如近代之太虛大師、印光大師等。〔長阿含卷十五究羅檀頭經、大般若經卷四三四、十誦律卷五十二、大智度論卷二〕
; Satthar (S), Sastri (S), Satthar (P), Daishi (J), Great master.
; The great teacher, or leader, one of the ten titles of Buddha.
; 1) Vị Thầy lớn: Great teacher (master) or leader. 2) Một trong mười danh hiệu của Phật: One of the ten titles of a Buddha. 3) Danh hiệu mà các vị thầy Phật giáo thường được truy tặng sau khi tịch: This is a Buddhist title which is usually conferred posthumously (after the master died).
; (大師) Phạm: Zàstf, Pàli: Satthar. Tiếng tôn xưng các bậc tu chứng từ Sơ quả cho đến chư Phật, Bồ tát xứng đáng làm bậc thầy khuôn mẫu cho tất cả chúng sinh. Cứ theo kinh Bản sự thì Đại sư có 3 bậc: 1. Như lai: Đức Như lai ra đời, xiển dương đại pháp giáo hóa chúng sinh ra khỏi sống chết, khiến được vô lượng lợi ích yên vui. 2. A la hán: Bậc A la hán đã hết sạch các phiền não, đầy đủ phạm hạnh, xuất hiện nơi thế gian, mở bày tứ đế, khiến chúng sinh thoát khỏi sống chết, được vô lượng lợi ích an lạc. 3. Đệ tử Hữu học: Sơ quả Tu đà hoàn, Nhị quả Tư đà hàm, Tam quả A na hàm, siêng tu phạm hạnh, nghe nhiều hiểu rộng, thông suốt nghĩa lí trong các kinh điển, xuất hiện nơi đời, chỉ dạy tứ đế, khiến các chúng sinh ra khỏi đường sống chết, được vô lượng lợi ích yên vui. Luận Du già sư địa quyển 82 (Đại 30, 759 trung) thì nói: Bậc khéo răn dạy các đệ tử Thanh văn những việc nên làm và không nên làm, cho nên gọi là Đại sư; bậc giáo hóa dẫn đường cho vô lượng chúng sinh khiến họ dứt khổ, gọi là Đại sư. Lại bậc vì phá trừ tà ma ngoại đạo mà ra đời, cũng gọi là Đại sư. Kinh Phật di giáo (Đại 12, 1110 hạ), nói: Này các tỉ khưu! Sau khi ta nhập diệt, các ông nên tôn trọng, quí kính Ba la đề mộc xoa, như người trong chỗ tối tăm gặp được ánh sáng, người nghèo khó được của báu; nên biết Ba la đề mộc xoa là bậc Đại sư của các ông. Tức là sau khi đức Phật nhập diệt, các đệ tử phải lấy giới pháp của Phật làm thầy.Tại Trung quốc, tiếng Đại sư cũng được dùng để tôn xưng các bậc cao tăng thạc đức như: Đại sư Nhiếp sơn (ngài Tăng lãng), đại sư Trí giả, đại sư Thiên thai (ngài Trí khải), đại sư Nam nhạc (ngài Tuệ tư), đại sư Gia tường (ngài Cát tạng), đại sư Hiền thủ(ngài Pháp tạng), rồi thời cận đại thì như đại sư Thái hư, đại sư Ấn quang v.v... [X. kinh Đâu la đàn đầu trong Trường a hàm Q.15; kinh Đại bát nhã Q.434; luận Thập tụng Q.52; luận Đại trí độ Q.2].
đại sư hiệu
835歷代朝廷對德高望重,堪為國師之僧侶,常賜以稱號,稱為大師號。如唐宣宗大中二年(848)敕贈廬山慧遠辯覺大師之號,其後又追諡正覺大師、圜悟大師;懿宗咸通十一年(870)並敕雲顥、僧徹、可孚、重謙為三慧大師、淨光大師、法智大師、青蓮大師。類於此者,另有國師、禪師、菩薩等稱號。於生前所賜者,稱特賜;死後追封者,稱諡號、敕諡;重行追封者,稱重諡、加諡。 日本則專用於諡號,如最澄為傳教大師,圓仁為慈覺大師等。〔宋高僧傳卷六、卷七、卷十二、佛祖統紀卷四十二、釋氏要覽卷上、大宋僧史略卷中、卷下〕
; (大師號) Danh hiệu Đại sư. Những bậc cao tăng thạc học xứng đáng là Quốc sư, thường được triều đình ban tặng danh hiệu Đại sư. Như năm Đại trung thứ 2 (848), vua Tuyên tông nhà Đường đã ban tặng danh hiệu Đại sư cho ngài Lô sơn Tuệ viễn là Biện giác đại sư; sau khi ngài tịch, vua lại ban thụy hiệu là Chính giác đại sư, Viên ngộ đại sư. Năm Hàm thông 11 (870), cùng một lúc, vua Ý tông lần lượt ban tặng các ngài Vân hạo, Tăng triệt, Khả phu và Trọng khiêm là: Đại sư Tam tuệ, đại sư Tịnh quang, đại sư Pháp trí và đại sư Thanh liên. Ngoài ra, còn có các danh hiệu: Quốc sư, Thiền sư, Bồ tát v.v... Sự ban tặng danh hiệu lúc còn sống gọi là Đặc tứ, sự truy phong sau khi chết gọi là Thụy hiệu, Sắc thụy; truy phong lần thứ hai trở lên gọi là Trùng thụy, Gia thụy. Nhật bản thì chuyên dùng thụy hiệu, như ngài Tối trừng được phong thụy hiệu là Truyền giáo đại sư, ngài Viên nhân là Từ giác đại sư v.v... [X. Tống cao tăng truyện Q.6, Q.7, Q.12; Phật tổ thống kỉ Q.42; Thích thị yếu lãm Q.thượng; Đại tống tăng sử lược Q.trung, Q.hạ].
Đại sớ 大疏
[ja] ダイソ daisho ||| (1) A 'large commentary.' (2) A reference to the Commentary on the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra 大毘盧遮那成佛經疏. => 1. Một luận giải đồ sộ. 2. Đề cập đến Đại Tỳ-lô-giá-na thành Phật kinh sớ (大毘盧遮那成佛經疏s: Commentary on the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra). Đại Mục-kiền-liên 大目乾連[ja] ダイモッケンレン Daimokkenren ||| Mahā-Maudgalyāyana; see 目連. => Đại Mục-kiền-liên (s: Mahā-Maudgalyāyana);Xem Mục-liên (目連).
Đại sử
大史; P: mahāvaṃsa;|Một sử kí về lịch sử Tích Lan, được xem là tác phẩm của Cao tăng Ma-ha Na-ma (p: ma-hānāma, tk. 6). Ðại sử có ghi lại những bài thuật về đời sống từ thời đức Phật giáo hoá, thời gian Tích Lan bị lệ thuộc đến thế kỉ thứ 4.|Tiểu sử (p: cūlavaṃsa) là phần phụ bản của Ðại sử, được biên soạn dưới nhiều tác giả. Hai bộ sử này là những tác phẩm quan trọng cho việc nghiên cứu Phật giáo nguyên thuỷ và Phật giáo ở Tích Lan.
đại sử
770巴利名 Mahāvaṃsa。相傳為五世紀末大名(巴 Mahānāma)所編纂。又作大王統史。有三種編訂本:(一)與小史合編,全書分四部分。(二)與小史之部分合編,全書分兩部分。(三)由德國學者威廉蓋格爾(Wilhelm Geiger, 1856~1943)編訂,倫敦巴利語聖典學會(P.T.S.)出版。其後,日本學者立花俊道所譯大王統史,係以錫蘭政府印刷局印行之 Mahāvaṃsa ーikā(1895)之本文為底本,參照威廉蓋格爾校訂之 P.T.S. 刊行羅馬字本,今收於南傳大藏經第六十冊。係以佛教為中心記述錫蘭之歷史,與「島史」(巴 Dīpavaṃsa)同為現存之王統編年史詩,均以巴利文寫成,惟其敘述較島史嚴謹。凡三十七章,載錄始自錫蘭上古,迄摩訶斯那王(巴 Mahāsena, 334~362)之世,可視為錫蘭正統保守佛教之大寺派(巴 Mahāvihāra)所傳之佛教史。但自毘闍耶王(巴 Vijaya)入島至天愛帝須王(巴 Devānaṃpiya-Tissa, 250 B.C.~210 B.C.)諸王間年代有過長之不當。雖全書之敘述未必皆為正確,然於史籍甚銯之當時仍為寶貴之資料。八、九世紀間,大史註(巴 Vaṃsatthappakāsinī)問世。至十三世紀,達摩奇提長老(巴 Dhammakitti)為作續補,自第三十七章第五十一偈至第七十九章,記載始自吉祥雲色王(巴 Siri-Meghavaṇṇa, 362~409),以迄室利毘迦羅摩王獅子(巴 Siri-Vikkama-rāja-sīha, 1798~1815)遭英人放逐、廢統之編年史。現行本缺四十、四十三兩章,詩句總數六二三五。其後再經數人續補至第一○一章第二十九偈。從達摩奇提以下續篇之部,即稱小史(巴 Cūḷavaṃsa),又作小王統史,以別於大史之稱。今有英譯、日譯本。〔M. Winternitz:Geschichteder indischen Literatur, Bd. Ⅱ; W. Geiger:Dīpavaṃsa und Mahāvaṃsa und die geschichtliche ]berlicferung in Ceylon(Z.D.M.G. 1909); R. Lanman: Pāli Book titles and their brief designations〕
; Mahāvaṃsa (P), (S, P)Một trong những bộ chú giải kinh điển quan trọng bằng tiếng PaliXem Nam Truyền Phật giáo sử thư Đại sử.
; (大史) Pàli: Mahàvaôsa, tương truyền do ngài Đại danh (Pàli: Mahànàma) biên soạn vào cuối thế kỉ thứ V Tây lịch. Cũng gọi là Đại vương thống sử. Có ba bản sửa chữa và biên soạn lại: 1. Biên soạn chung với Tiểu sử, toàn sách chia làm 4 phần. 2. Biên soạn chung với 1 phần tiểu sử, toàn sách chia làm 2 phần. 3. Do học giả người Đức là Wilhelm Geiger (1856 - 1943) biên soạn và sửa chữa, Học hộiPàli ngữ Thánh điển (P.T.S) ở Luân đôn xuất bản. Về sau, Đại vương thống sử do học giả Nhật bản tên là Lập hoa Tuấn đạo dịch là lấy bản Mahàvaôsa Ỉìkà (1895) do Cục ấn loát của chính phủ Tích lan ấn hành làm bản chính, rồi tham khảo bản chữ La tinh của Wilhelm Geiger do P.T.S xuất bản, được xếp vào Nam truyền đại tạng kinh tập 60. Đại sử gồm 37 chương, lấy Phật giáo làm cơ sở để ghi chép lịch sử Tích lan, cùng với Đảo sử (Pàli: Dìpavaôsa) đều là những Sử thi biên niên bằng văn Pàli hiện còn. Nội dung chép sử Tích lan từ đời thượng cổ cho đến đời vua Mahàsena (334 - 362), có thể coi là bộ sử Phật giáo Tích lan do phái Phật giáo bảo thủ chính thốngMahàvihàra lưu truyền. Nhưng niên đại giữa các Vương triều từ vua Vijaya vào đảo đến vua Devànaôpiya-Tissa (250 tr. TL. đến 210 tr.TL) là quá dài, không thích đáng. Sự tường thuật trong toàn bộ sử tuy chưa hẳn đều đã chính xác, nhưng vào thời đại mà sách sử quá ít oi như thời bấy giờ thì nó vẫn là một tư liệu quí báu. Khoảng thế kỉ VIII, IX, Đại sử chú (Pàli: Vaôsatthappakàsinì) được lưu hành. Đến thế kỉ XIII, trưởng lão Dhammakitti soạn Tục bổ (bổ túc tiếp theo), từ chương 37 bài kệ thứ 51 đến chương 79 bắt đầu ghi chép từ vua Siri-Meghavaịịa (362 - 409) cho đến vua Siri-Vikkama-ràja-sìha (1798 - 1815) bị người Anh trục xuất khi họ xâm lăng Tích lan. Lịch sử các vương triều đến đây cũng bị chấm dứt. Bản Đại sử hiện nay thiếu hai chương 40 và 43, tổng cộng có 6.235 câu thơ. Về sau lại được mấy người tiếp tục bổ túc thêm đến bài kệ thứ 29 chương 101. Các thiên được viết tiếp theo từ sau ngài Dhammakitti được gọi là Tiểu sử (Pàli: Cùơavaôsa), cũng gọi Tiểu vương thống sử, để phân biệt với Đại sử. Hiện có các bản dịch tiếng Anh, tiếng Nhật. [X. M. Winternitz: Geschichte der indischen Literature, Bd. II; W. Geiger: Dìpavaôsa und Mahàvaôsa und die geschichitliche Überlicferung in Ceylon (Z.D.M.G. 1909); R. anman: Pàli Book titles and their brief designations].
Đại sự
大事; S, P: mahāvastu;|Một tác phẩm thuộc Tiểu thừa của →Thuyết xuất thế bộ (s: lokottaravāda) nói về các tiền kiếp xa xưa của đức Phật →Thích-ca. Tác phẩm này cũng nói đến bước đường tu học của một vị Bồ Tát (→Thập địa) và vì vậy người ta xem tác phẩm này là một gạch nối giữa Tiểu thừa và Ðại thừa.
đại sự
Việc lãnh ngộ thiền pháp, siêu thoát sinh tử, nhà thiền cho đây là việc lớn bên trong của mỗi người. Tiết »Nghệ Ngôn« trong NHQL q. 29 ghi: »解 心 未 絕、 往 往 巧 見 橫 生、 此 謂 之 聰 明 境 界、 亦 謂 之 樹 下 魔 軍、 便 當 盡 情 剪 滅、 庶 進 移 有 路、 而 大 事 可 期。 – [i]Tâm tri giải chưa dứt thì thường thường xảo kiến nảy sinh. Đây gọi là cảnh giới của trí thông minh, cũng còn gọi là ma quân dưới cây (Bồ đề), phải nên tận tình trừ sạch. Kế đến tiến dời có đường thì việc lãnh ngộ thiền pháp mới có hi vọng[/i]«.
; 794梵名 Mahāvastu,乃 Mahāvastu-avadāna 之略。凡三篇。係以梵文寫就,記述佛陀生平事蹟之傳記。所謂 Mahāvastu,意譯作大事,即指佛陀之出世;avadāna,即傳記、故事之意。全書計分三篇:第一篇記述釋尊之前生,第二篇鈙述上生兜率至樹下成道之事蹟,第三篇為初轉法輪與諸大弟子等之本生。 本書現無漢譯,亦無西藏譯本。部分學者以本書與佛本行集經為同類書之異本,然此二書內容差異甚大,故不可混同。大抵而言,本書之編輯,雜亂而不統一,每每糅入多數之本生、譬喻故事,及十地、觀世等經,致使全書鈙述中斷。據奧地利學者溫特爾尼玆(M. Winternitz)研究,本書約完成於四世紀之後,然其骨架應於二世紀左右已形成。法國學者斯納爾(⑼. Senart)於一八八二年至一八九七年出版其梵文原本。此外,日本學者萩原雲來、久野芳隆則進行有關本書之和漢研究。另有平川彰之「律藏研究」、干潟龍祥之「本生經類思想史之研究」等,均為研究本書與律藏、本生譚關係之參考書。至於研究其原典者,則有:F. Edgerton:Buddhist Hybrid Sanskrit Grammar and Dictionary, 1953 與 H. G渋nther:Die Sprache des Mahāvastu 1942 等二種著作。〔R. Mitra: Sanskrit Buddhist Literature of Nepal; M. Winternitz:Geschichte der indischen Literatur, Bd. Ⅱ; C. Bendall:Catalogue of the Buddhist Sanscrit Manuscripts)
; Important matter—Big affair.
; (大事) Phạm: Mahàvastu, gọi đủ: Mahàvastuavadàna. Gồm 3 thiên, kể lại sự tích của cuộc đời đức Phật. Mahàvastu, dịch ý là Đại sự (việc lớn), chỉ cho việc xuất hiện của đức Phật;avadàna, tức là truyện kí, truyện cổ. Nội dung: - Thiên thứ 1: Nói về các kiếp tiền thân của đức Thích tôn. - Thiên thứ 2: Sự tích của đức Thích tôn từ khi sinh lên cung trời Đâu suất cho đến khi thành đạo dưới gốc cây Bồ đề. - Thiên thứ 3: Việc chuyển pháp luân đầu tiên của đức Thích tôn và truyện bản sinh của các vị đại đệ tử. Hiện nay, kinh này không có bản dịch chữ Hán, cũng không có bản dịch Tây tạng. Một số học giả cho rằng kinh này là bản dịch khác của kinh Phật bản hạnh tập. Nhưng xét ra, nội dung của hai kinh này rất khác nhau, do đó, không thể cho là cùng một bản. Nói một cách đại khái, nội dung kinh này rất lộn xộn, thiếu mạch lạc, không thống nhất, thường đưa vào nhiều truyện bản sinh, sự tích thí dụ, các kinh Thập địa, Quán thế v.v... đến nỗi khiến người ta có cảm tưởng như toàn kinh bị đứt quãng. Theo học giả M. Winternitz, người nước Áo, thì kinh này được hoàn thành khoảng thế kỉ thứ V, nhưng phần nòng cốt thì đã hình thành từ khoảng thế kỉ II. Đến khoảng năm 1882 - 1897, nguyên bản tiếng Phạm được một học giả người Pháp là ông E. Senart xuất bản. Rồi các học giả Nhật bản là Địch nguyên Vân lai và Cửu dã Phương long tiến hành nghiên cứu các tư liệu bằng tiếng Nhật và Hán văn có liên quan đến kinh này. Ngoài ra, có Luật tạng nghiên cứu của Bình xuyên chương, Bản sinh kinh loại tư tưởng sử chi nghiên cứu của Can tích Long tường v.v... đều là sách tham khảo để nghiên cứu về sự quan hệ giữa kinh này với Luật tạng và Bản sinh đàm. Còn nghiên cứu về nguyên bản tiếng Phạm của kinh này thì có hai tác phẩm là: Buddhist Hybrid Sanskrit Grammar and Dictionary, 1953 của F. Edgerton và Die Sprach des Mahàvastu 1942 của H. Günther v.v... [X. R. Mitra: Sanskrit Buddhist Literature of Nepal; M. Winternitz: Geschichte der indischen Literature, Bd. II; C. Rendall: Catalogue of the Buddhist Sanskrit Manuscripts].
đại sự kinh
See Mahavastu in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đại sự liễu tất
Việc lớn đã xong, tức chỉ cho việc lãnh ngộ hoàn toàn thiền pháp, siêu thoát sinh tử. [i]Duy Tắc ngữ lục[/i] q. 2 ghi: »公 (指 張 無 盡 居 士) 疑 團 愈 熟、 在 客 軒 中 行 坐 俱 不 安、 方 轉 身 欲 上 床、 忽 爾 脫 然、 復 走 上 方 丈、 時 悅 公 (指 兜 率 悅 和 尚) 預 知 其 來、 備 香 燭 開 門 接 見、 乃 曰: 且 喜 相 公 大 事 了 畢。 – [i]Cư sĩ Trương Vô Tận lúc ấy khối nghi càng thuần thục, ở bên hiên nhà khách đứng ngồi không yên, vừa xoay mình muốn lên giường, bỗng nhiên rỗng rang, liền chạy lên phương trượng. Khi đó Hoà thượng Đâu Suất Duyệt biết trước Vô Tận sẽ đến nên chuẩn bị nhang đèn, mở cửa tiếp đón. Ngài nói: Mừng cho Tướng công, việc lớn đã xong[/i]«.
đại sự nhân duyên
For the sake of great cause, or because of a great matter the Buddha appeared.
; Phật xuất hiện vì một đại sự nhân duyên: Khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật, hay là giác ngộ theo kinh Pháp Hoa, Phật tánh theo kinh Niết Bàn và thiên đường cực lạc theo kinh Vô Lượng Thọ—For the sake of a great cause, or because of a great matter—The Buddha appeared, for the changing beings from illusion into enlightenment (according to the Lotus Sutra), or the Buddha-nature (according to the Nirvana Sutra), or the joy of Paradise (according to the Infinite Life Sutra).
Đại sự 大事
[ja] ダイジ daiji ||| The "great matter." An abbreviation of 一大事因縁. (1) The single great matter (for which the Buddha appears in the world), thus--practice, or awakening. (2) Saving sentient beings. (3) Magnanimity, generosity, tolerance, liberality. => Viết tắt của Nhất đại sự nhân duyên. 1. Sự việc lớn lao duy nhất (Đức Phật thị hiện trên thế gian) là để--tu tập, hoặc thức tỉnh chúng sinh. 2. Cứu độ chúng sinh. 3. Hành động cao thượng, rộng lượng, khoan dung, hào phóng.
đại tai giải thoát phục
Great! The robe of deliverance - verses in pray of the cassock, from the Thiện kiến luận, sung on initiation into the order.
đại tang
Deep mourning.
đại th
ành tựu pháp Dzogchen (T), Great Perfection Rdzogs-chen (T), atiyoga (S), Mahāsandhi (S)Đại cứu cánhĐược Padmasambhava và Vimalamitra đưa vào Tây tạng ở thế kỷ thứ VIII, thuộc trường phái Nyingmapa Phật giáo Tây tạng.
; ành tựu giả Mahāsiddha (S), drup thop chen po (T), Ḍeṇgipa, Ḍiṇgi, Ḍiṇga, Teṇki, Taṇki, Dheṇki, Dhaki Ma ha Tất đạt, Đại giác.
đại thanh
Mahānila (S)Ngọc báu màu xanh của trời Đế Thích.
đại thanh châu
Mahanila (skt)—Ma Ha Ni La—Viên ngọc quí, lớn và xanh biết, có lẽ giống như viên ngọc của vua Trời Đế Thích—A precious stone, large and blue, perhaps identical with Indranila-mukta—Theprecious stone of Indra—Sapphire.
đại thi
ên thế giới Tissahassilokadhātu (P), Mahāsahassilokadhātu (P), Tissahassilokadhatu (P).
đại thi hào
Great poet.
Đại Thiên
(大千): tức Đại Thiên Thế Giới (s: mahāsāhasra-lokadhātu, p: mahāsahassa-lokadhātu, 大千世界), hay Đại Thiên Giới (大千界), là vũ trụ quan của Ấn Độ cổ đại. Người Ấn Độ xưa lấy 4 châu lớn và mặt trời, mặt trăng làm một thế giới nhỏ; hợp 1.000 thế giới nhỏ lại thì trở thành Tiểu Thiên Thế Giới (小千世界); rồi kếp hợp 1.000 Tiểu Thiên Thế Giới lại thành Trung Thiên Thế Giới (中千世界); và kết hợp 1.000 Trung Thiên Thế Giới thì hình thành nên Đại Thiên Thế Giới. Từ đó, nếu kết hợp cả Tiểu Thiên Thế Giới, Trung Thiên Thế Giới và Đại Thiên Thế Giới thì có Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Người thống trị Đại Thiên Thế Giới là Đại Phạm Thiên Vương (大梵天王) của cõi Sắc Cứu Cánh Thiên (s: Akaniṣṭha, 色究竟天). Một Đại Thiên Thế Giới đầu có một vị Đại Phạm Thiên Vương và Đại Thiên Thế Giới thì vô lượng vô số; trong khi đó, Đại Phạm Thiên Vương cũng không thể tính hết được. Đại Thiên Thế Giới của chúng ta được gọi là thế giới Ta Bà (s, p: sahā, 娑婆); mỗi Đại Thiên Thế Giới đều có một đức Phật hóa độ, cho nên đức Phật Thích Ca (s: Śākya, p: Sakya, 釋迦) là giáo chủ của cõi Ta Bà.
đại thiên
Gọi tắt của từ »Đại thiên thế giới 大 千 世 界«. [i]Pháp Diễn ngữ lục[/i] q. trung ghi: »拈 起 也 大 千 岌 崿。 放 下 也 凡 聖 同 源。 – [i]Giơ lên thì cõi đại thiên cao ngất, buông xuống thì phàm thánh cùng nguồn[/i]«. Bài »Nhất bát ca« trong CĐTĐL q. 30 ghi: »亦 無 垢、 亦 無 淨、 大 千 同 一 眞 如 性。 – [i]Cũng không nhơ, cũng không sạch, đại thiên cùng một tính chân như[/i]«.
; 753梵名 Mahādeva。<一>大眾部之始祖。音譯作摩訶提婆。生於佛滅後百餘年,乃中印度秣菟羅國(梵 Mathurā)商人子。相傳出家前造三逆罪,後懺悔而入佛門,住於雞園寺。師具大神力,得三達智,曾至華氏城(梵 Pāṭali-putra)傳道,阿育王皈依之。亦是被派遣至摩醯娑慢陀羅國(巴 Mahiṃsaka-maṇḍala)之唯一傳道師,曾於彼國講天使經(巴 Devadūta-sutta),四萬人因此得道。提倡五種新說(即大天五事),教團中因而分為贊成之大眾部與反對之上座部兩派。阿育王贊成大眾部,故當時上座部多逃往迦濕彌羅。不久,師命終,王持殊勝之葬具荼毘而火不燃,復依一占相師之言,灑以狗糞,火炎忽發,須臾即燒成灰燼,繼而暴風至,飄散無遺。〔善見律毘婆沙卷二、分別功德論卷一、瑜伽論纂釋卷一、義林章纂註(普寂)〕 <二>小乘制多山部開祖。佛陀入滅後二百年頃之人。初從外道出家,為賊住外道之領袖,後捨外道,歸正道,名大天。於大眾部出家,博學多聞,行狀高邁,住於制多山,教化門徒,因評議大眾部五事及制戒授受之義,而分立出西山住部、北山住部等。〔異部宗輪論、異部宗輪論述記〕(參閱「制多山部」3085) <三>為善財童子所參訪五十三善知識之一。(參閱「五十三參」1048)
; Mahādeva (S)Vị A la hán khoảng 100 năm sau khi Phật nhập diệt thành lập Đại chúng bộ tại chùa Kế Viên (Kukkhutarama), từ đó tăng đoàn chia thành hai: Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ.
; Ma-Ha-Đề Bà—Maha-deva (skt). 1) Tiền kiếp của Phật Thích Ca là Tứ Thiên Vương: A former incarnation of Sakyamuni as Cakravarti. 2) Danh hiệu của Ma Hê Thủ La Thiên hay Đại Tự Nguyện Thiên: A title of Mahesvara or Great God of Free Will. 3) Tên một vị tỳ kheo trong Đại Chúng Bộ, xuất gia khoảng 100 năm sau ngày Phật nhập diệt, ông cũng bị coi như là người theo hùa với Vua A Dục định giết hết những người trong Thượng Tọa Bộ; tuy nhiên người đứng đầu trong Thượng Tọa Bộ chạy thoát được sanh xứ Ka Thấp Di La—An able suppporter of the Mahasanghikah, whose date is given as about a hundred years after the Buddha's death, but he is also described as a favourite of Asoka, with whom he is associated as persecutor of the Sthavirah; however, the head of which escaped into kashmir
; (大天) Phạm: Mahàdeva. Dịch âm: Ma ha đề va. I. Đại Thiên. Vị thủy tổ của Đại chúng bộ, ra đời hơn 100 năm sau đức Phật nhập diệt, là con của một thương gia nước Mạt thố la (Phạm: Mathurà) Trung Ấn độ. Tương truyền trước khi vào cửa Phật, ngài đã gây ba tội nghịch, sau sám hối xuất gia, ở chùa Kê viên. Ngài có đại thần lực, được ba trí thông đạt, từng đến truyền đạo ở thành Hoa thị (Phạm: Pàỉali-putra), vua A dục xin qui y với Ngài. Ngài cũng là vị sư duy nhất được phái đến truyền đạo ở nước Ma hê sa mạn đà la (Pàli: Mahiôsaka-maịđala), ngài giảng kinh Thiên sứ (Pàli: Devadùta-sutta), bốn vạn người nhờ đó mà đắc đạo. Ngài đề xướng năm việc (Đại thiên ngũ sự), do đó, giáo đoàn chia làm hai phái: Đại chúng bộ tán thành và Thượng tọa bộ phản đối. Vua A dục tán thành Đại chúng bộ, nên bấy giờ Thượng tọa bộ phần nhiều bỏ sang nước Ca thấp di la. Không bao lâu, ngài Đại thiên nhập tịch. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.2; luận Phân biệt công đức Q.1; Du già luận toản thích Q.1; Nghĩa lâm chương toản chú (Phổ tịch)]. II. Đại Thiên. Vị Tổ khai sáng của Chế đa sơn bộ Tiểu thừa, ra đời khoảng 200 năm sau đức Phật nhập diệt. Mới đầu, ngài theo ngoại đạo, trở thành lãnh tụ của phái Tặc trụ. Sau ngài bỏ ngoại đạo, xuất gia với Đại chúng bộ, được đặt tên là Đại thiên. Ngài là bậc học rộng, nghe nhiều, hành trạng cao xa, ở núi Chế đa, giáo hóa môn đồ. Nhân bàn về năm việc của Đại chúng bộ và ý nghĩa của việc chế giới, thụ giới mà phân biệt ra Tây sơn trụ bộ, Bắc sơn trụ bộ. [X. luận Dị bộ tông luân; Dị bộ tông luân luận thuật kí]. (xt. Chế Đa Sơn Bộ). III. Đại Thiên. Một trong số 53 vị thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đến tham vấn. (xt. Ngũ Thập Tam Tham).
đại thiên ngũ sự
753又作五事非法、五事妄語。印度部派佛教大眾部之祖大天(梵 Mahādeva,年代約於佛入滅後百年)嘗編作一偈,以宣揚其所提倡之五項教義(大四九‧一五上):「餘所誘無知,猶豫他令入;道因聲故起,是名真佛教。」其時,上座部(或有部)持相反論點,而視其所倡之五事為非法,稱為五事妄語、妄言、邪說、惡見等。五事即指:(一)餘所誘,阿羅漢雖已無婬欲煩惱,然有漏失不淨(遺精、便利、涕唾等)者,乃因惡魔憎嫉佛法,遂對修善者誘惑破壞所致。(二)無知,阿羅漢雖依無漏道而修,斷盡三界之見思煩惱,然因無知有染污及不染污二種,阿羅漢僅斷染污無知,尚未斷盡不染污之無知,則尚有疑惑存在。(三)猶豫,疑有「隨眠之疑」與「處非處之疑」二種,阿羅漢尚未斷盡後者,則雖為獨覺聖者,每每仍有其惑。(四)他令入,阿羅漢須依他人之記莂,方知自己為羅漢,如舍利弗、目犍連等智慧、神通第一之人,亦須依佛陀之授記,始自知已解脫。(五)道因聲故起,阿羅漢雖已有解脫之樂,然至誠唱念「苦哉」,聖道始可現起;此係因四聖諦之觀苦、空、無常、無我等,即是聖道。此係大天對五事之闡釋。由以上五事觀點之歧異,遂導致其後上座部與大眾部分裂之勢。〔摩訶僧祇律卷三十三、大毘婆沙論卷九十九、三論玄義〕(參閱「部派佛教」4814)
; (大天五事) Năm việc do ngài Đại thiên (Phạm: Mahàdeva) đề xướng. Cũng gọi Ngũ sự phi pháp, Ngũ sự vọng ngữ. Đại thiên ra đời khoảng 100 năm sau khi đức Phật nhập diệt, ngài là thủy tổ của Đại chúng bộ trong thời Phật giáo bộ phái ở Ấn độ. Ngài từng làm một bài kệ để tuyên dương giáo nghĩa của 5việc do ngài đề xướng. Bài kệ ấy như sau (Đại 49, 15 thượng): Dư sở dụ vô tri. Do dự tha linh nhập. Đạo nhân thanh cố khởi. Thị danh chân Phật giáo.. Ý nghĩa bài kệ: 1. Dư sở dụ (kẻ khác dụ dỗ): A la hán tuy không còn dâm dục, nhưng có hiện tượng xuất tinh trong mộng mị, là vì ác ma ghen ghét Phật pháp, nên dụ dỗ, lừa dối để phá hoại người tu thiện. 2. Vô tri (còn sự không biết): Vô tri có hai thứ là Nhiễm ô và Bất nhiễm ô. Các vị A la hán tuy không còn vô tri nhiễm ô, nhưng vẫn còn vô tri bất nhiễm ô. 3. Do dự (còn hoài nghi): Nghi có hai thứ là nghi tùy miên và nghi xứ phi xứ. A la hán vẫn chưa dứt hết nghi xứ phi xứ, nên tuy là bậc Thánh mà vẫn còn ngờ vực. 4. Tha linh nhập (nhờ người khác giúp đỡ): A la hán phải nhờ người khác ấn chứng mới biết mình là La hán. Như Xá lợi phất là người trí tuệ bậc nhất, Mục kiền liên là người thần thông bậc nhất, nhưng cũng phải nhờ đức Phật chỉ bảo cho mới biết mình đã giải thoát. 5. Đạo nhân thanh cố khởi (nhờ âm thanh mới chứng Thánh đạo): A la hán nhờ quán xét Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã (Tứ Thánh đế) mà được niềm vui giải thoát, đó là do chán các nỗi khổ và chí thành cất tiếng kêu khổ thay mà Thánh đạo hiện khởi. Trên đây là sự giải thích của Đại thiên về năm việc do chính ngài đề xướng. Nhưng, theo quan điểm của Thượng tọa bộ, thì năm việc đó là trái với Phật pháp, là nói láo, nên đã đưa đến sự chia rẽ giáo đoàn thành hai phái là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. [X. luật Ma ha tăng kì Q.33; luận Đại tì bà sa Q.99; Tam luận huyền nghĩa]. (xt. Bộ Phái Phật Giáo).
đại thiên thế giới
750梵語 mahāsāhasra-lokadhātu,巴利語 mahāsahassa-lokadhātu。略稱大千界、大千。為古代印度人之宇宙觀。古代印度人以四大洲及日月諸天為一小世界,合一千小世界為小千世界;合一千小千世界為中千世界;合一千中千世界為大千世界。今之俗語乃襲用佛教「大千世界」一詞,轉用於形容人間之紛紜諸相。小千、中千、大千並提,則稱三千大千世界。〔大毘婆沙論卷一二○、俱舍論卷十一〕(參閱「三千大千世界」523)
; A major chiliocosm, or universe, of 3,000 great chiliocosms.
; Vũ trụ của 3000 thế giới bao gồm 1.000 tiểu thiên thế giới, 1.000 trung thiên thế giới, và 1.000 đại thiên thế giới—A major chiliocosmos—Universe of 3000 great chiliocosmos.
; (大千世界) Phạm: Mahàsàhasra-lokadhàtu,Pàli: Mahàsahassa-lokadhàtu. Gọi tắt: Đại thiên giới, Đại thiên. Nghìn thế giới lớn, là vũ trụ quan của người Ấn độ cổ đại. Người Ấn độ đời xưa lấy 4 đại châu và mặt trời mặt trăng làm một Tiểu thế giới; hợp 1.000 tiểu thế giới là một Tiểu thiên thế giới; hợp 1.000 tiểu thiên thế giới là Trung thiên thế giới; hợp 1.000 trung thiên thế giới là Đại thiên thế giới. Ngày nay, thuật ngữ Đại thiên thế giới được người đời chuyển dụng để miêu tả sự rối ren của thế giới. Ngoài ra, Tiểu thiên, Trung thiên, Đại thiên gọi chung là Tam thiên đại thiên thế giới(Ba nghìn thế giới lớn). [X. luận Đại tì bà sa Q.120; luận Câu xá Q.11]. (xt. Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới).
đại thiên thọ hoà thượng
754唐代僧。又稱安壽大和尚。據藏文史籍載,師曾為吐蕃贊普松贊干布(即棄宗弄贊王)迎請赴藏,與藏族譯師吞米桑布札、達摩廓霞、拉壠金剛祥、印度學僧孤薩惹論師等共譯佛經。所譯經論不詳。
đại thiên vương
Tứ Đại Thiên Vương—Maharaja—The four guardians of the universe.
Đại thiên 大千
[ja] ダイセン daisen ||| An abbreviation of 三千大千世界 sanqiandaqianshijie (trisāhasra-mahāsāhasra-loka-dhātu). => Viết tắt của Tam thiên đại thiên thế giới (三千大千世界 c: sanqiandaqianshijie; s: trisāhasra-mahāsāhasra-loka-dhātu).
Đại Thiên 大天
[ja] ダイテン Daiten ||| mahādeva. => s: mahādeva.
đại thiêu chích ngục
Pratapana (skt)—See Đại Viêm Nhiệt.
đại thiết vi
Mahācakravāda (S)Núi Đại thiết vi.
đại thiết vi (sơn)
Mahàcakravàla (S). The great circular "iron" enclosure; the higher of the double circle of mountains forming the outer periphery of every world, concentric to the seven circles around Sumeru.
đại thiết vi sơn
914即圍繞三千大千世界之大鐵山。據彰所知論卷上器世界品載,以閻浮提等四大洲為一小世界,集一千小世界為一小千世界,其外有一鐵山圍之,稱為小鐵圍山;集一千小千世界為一中千世界,其外亦有一鐵山圍之,稱為中鐵圍山;集一千中千世界為一大千世界,其外復有鐵山圍之,稱為大鐵圍山。(參閱「鐵圍山」6878)
; Núi Đại Thiết Vi—Mahacakravala (skt)—Núi sắt bao quanh thế giới—The great circular “iron” enclosure; the higher of the double circle of mountains forming the outer periphery of every world, concentric to the seven circles around Sumeru.
; (大鐵圍山) Núi sắt lớn bao bọc chung quanh ba nghìn đại thiên thế giới. Cứ theo phẩm Khí thế giới trong luận Chương sở tri quyển thượng chép, thì bốn châu lớn như Diêm phù đề v.v... là một Tiểu thế giới, hợp 1.000 tiểu thế giới là Tiểu thiên thế giới, bên ngoài có một núi sắt bao quanh, gọi là núi Tiểu thiết vi; hợp 1.000 tiểu thiên thế giới là Trung thiên thế giới, bên ngoài cũng có một núi sắt bao bọc, gọi là Trung thiết vi sơn; hợp 1.000 trung thiên thế giới là Đại thiên thế giới, bên ngoài lại có núi sắt bao quanh, gọi là Đại thiết vi sơn. (xt. Thiết Vi Sơn).
đại thiền khiếu ngộ
891請參閱 圓通大應國師語錄 請參閱 圓通大應國師語錄 請參閱 圓通大應國師語錄 請參閱 圓通大應國師語錄 禪宗公案名。大禪,指唐代歸宗智常之法嗣智通,又稱大禪佛智通。大禪於歸宗之會下時,一夜叫道「我已大悟」,而被歸宗認可之故事。景德傳燈錄卷十(大五一‧二八一上):「在歸宗會下時,忽一夜巡堂叫云:『我已大悟也!』(中略)歸宗云:『汝見什麼道理言大悟?試說似吾看!』師對云:『師姑天然是女人作。』歸宗默而異之。」〔五燈會元卷四、禪苑蒙求卷上〕
; (大禪叫悟) Đại thiền kêu ngộ: Tên công án trong Thiền tông. Đại thiền là chỉ ngài Trí thông, đệ tử nối pháp của thiền sư Qui tông Trí thường. Cũng gọi Đại thiền Phật Trí thông. Công án này nói về cơ duyên ngộ đạo của ngài Đại thiền. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 10 (Đại 51, 281 thượng), nói: Khi ở dưới hội của ngài Qui tông, một đêm đi tuần, sư bỗng kêu lên Ta đã đại ngộ! (...). Qui tông nói: Ông thấy đạo lí gì mà nói đại ngộ? Thử nói xem nào! Đại thiền đáp: Sư cô vốn là người nữ. Ngài Qui tông im lặng ấn khả. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.4; Thiền uyển mông cầu Q.thượng].
đại thiền phật
891<一>指優秀之禪僧。 <二>指仰山之法嗣景通,與歸宗智常之法嗣智通。此二禪僧又稱為二大禪佛。〔祖庭事苑卷二雪竇拈古〕
; (大禪佛) Biệt hiệu của hai Thiền sư là Cảnh thông nối pháp ngài Ngưỡng sơn và Trí thông nối pháp ngài Qui tông. Ngoài ra còn là tiếng tôn xưng các Thiền sư ưu tú trong Thiền tông. [X. Tổ đình sự uyển Q.2 Tuyết đậu niêm cổ].
đại thiện
Thiền tăng đời Đường, nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất. Sư trụ núi Thạch Sơn ở Đàm Châu (nay là huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam) Trung Quốc.
đại thiện kiến
Mahāsudarśana (S), Mahā-sudassana (P), Mahā-sudassana (P).
đại thiện kiến vương
856大善見,梵名 Mahā-sudarśana,巴利名 Mahā-sudassana。印度太古之王。即釋尊之前身。又作大善現王、大善賢王、大快見王。據中阿含卷十四大善見王經所載,佛陀於拘尸城娑羅林中欲般涅槃時,應阿難之問「何以不於瞻波、舍衛等諸大城涅槃」,而答稱:拘尸城過去有王名大善見,以四軍整御天下,成就七寶,具足四德,命終後歸生梵天。彼時之大善見王即佛陀自身。近代學者大衛斯(Rhys Davids)、松本文三郎均以此王為太陽之人格化,松本更謂大善見王經所載之事即極樂淨土說之起源。〔長阿含經卷三、佛般泥洹經卷上、有部毘奈耶雜事卷三十七、極樂淨土論、T.W. Rhys Davids: The Mahā-sudassana Suttanta(S.B.E. vol. XI); W.W. Rockhill: The Life of Buddha〕
; Mahā-sudarśana (S).
; (大善見王) Đại thiện kiến, Phạm: Mahà-sudarzana, Pàli: Mahà-sudassan. Tên một vị vua Ấn độ ở thời quá khứ, tiền thân của đức Thích tôn. Cũng gọi Đại thiện hiện vương, Đại thiện hiền vương, Đại khoái kiến vương. Cứ theo kinh Đại thiện kiến vương trong Trung a hàm quyển 14 chép, khi đức Phật sắp vào Niết bàn ở rừng Sa la thành Câu thi, ngài A nan hỏi Phật là Tại sao đức Phật không vào Niết bàn ở các đô thành lớn như Chiêm ba, Xá vệ v.v... thì đức Phật trả lời: Ở thành Câu thi này thủa xưa có vị vua tên là Đại thiện kiến, dùng bốn quân chủng chế ngự thiên hạ, thành tựu bảy báu, đầy đủ bốn đức, sau khi mệnh chung sinh về cõi trời Phạm. Vua Đại thiện kiến lúc bấy giờ chính là tiền thân của đức Phật. Gần đây các học giả Rhys Davids và Tùng bản văn tam lang đều cho vị vua này là mặt trời được nhân cách hóa. Tùng bản còn cho rằng những việc được chép trong kinh Đại thiện kiến vương là khởi nguồn cho thuyết Tịnh độ cực lạc. [X. kinh Trường a hàm Q.3; kinh Phật ban nê hoàn Q.thượng; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.37; luận Cực lạc tịnh độ; T.W. Rhys Davids: The Mahà-sudassana suttanta (S.B.E. Vol. XI), W.W. Rokhill: The Life of Buddha].
đại thiện lợi
See Đại Thiện Đại Lợi.
đại thiện sanh
Mahāsujato (S)Tổ đới thứ bảy dòng họ Thích Ca.
đại thiện tri thức
Chỉ bậc cao tăng Thiền tông. [i]Đàn Kinh bản Đôn Hoàng[/i] ghi: »若 不 能 自 悟 者、 須 覓 大 善 知 識 示 道 見 性。 何 名 大 善 知 識? 解 最 上 乘 法、 眞 示 正 路、 是 大 善 知 識。 – [i]Nếu người không có khả năng tự ngộ, cần tìm bậc cao tăng Thiền tông dạy cho cách kiến tính. Sao gọi là đại thiện tri thức? Đó là người hiểu pháp tối thượng thừa, chỉ thẳng con đường chính[/i]«.
; 856指大有德之善知識。即教人遠離諸惡,奉行諸善之善友。(參閱「善知識」4884)
; Những thiện hữu tri thức lớn—Well acquainted with the good—Great friends.
; (大善知識) Bậc thiện tri thức có đức lớn. Ví như chư Phật, Bồ tát mở lòng từ bi, dùng mọi phương tiện, chỉ dạy chúng sanh xa lìa các điều ác, tu tập các pháp lành, diệt trừ phiền não để được giải thoát. (X. Thiện Tri Thức).
đại thiện tâm
Mahā-kuśalacitta (P).
đại thiện đại lợi
Sự lợi ích lớn kết quả của việc thiện lành—Implying the better one is the greater the resultting benefit—The great benefit that results from goodness.
đại thiện địa pháp
855梵語 kuśala-mahā-bhūmikā dharmā。俱舍家所立六位心所之一。即與一切善心相應而俱起之心理現象。共有十種,即:(一)信(梵 śraddhā),使心澄淨。(二)不放逸(梵 apramāda),專注修諸善法。(三)輕安(梵 prasrabdhi),使心輕妙安穩。(四)捨(梵 upekṣā),使身心捨離執著諸法之念,而住於平等。(五)慚(梵 hrī),對有德敬崇從屬,或對自己所造之罪,內省自恥。(六)愧(梵 apatrāpya),恐懼罪果;或自己所造之罪,於他人前感到羞恥。(七)無貪(梵 alobha),於順境無貪染之性。(八)無瞋(梵 adveṣa),於逆境無瞋恚之性。(九)不害(梵 ahiṃsā),不損惱他人。(十)勤(梵 vīrya),修善法使心勇悍之性。以上十法,周遍於一切善心,故稱大善;而心王則為彼大善所行之依處,故稱大善地;此等十法又為彼大善地所有之法,故稱大善地法。 順正理論卷十一於上記十法之外,別加「厭」、「欣」二法,而成十二法。厭,厭離過失;欣,欣求功德。於俱舍家之主張,「厭」係緣於四諦中之苦、集二諦而生起,「欣」係緣於滅、道二諦而生起,不能於一心之中相互俱起,故無法周遍一切善心,而唯有十法可言。此外,成唯識論卷六於上記十法之外,另加「無癡」,共成十一善法,然以「欣、不忿、不恨、不惱、不嫉」等五項與「欲」俱起,而為「無瞋」之一分(部分);以「厭、不慳、不憍」等三項與「慧」俱起,而為「無貪」之一分;以「不覆、不誑、不諂」為「無癡」之一分,而與俱舍家之說有所不同。〔俱舍論卷四、大毘婆沙論卷四十二、雜阿毘曇心論卷二、顯揚聖教論卷一、成唯識論述記卷六〕
; Kuśala-mahābhimika-dharmah (S), Kuśala-mahābhŪmikā-dharma (S)Một pháp bao gồm 6 tâm thiện được các Tổ Vô Trước, Thế Thân và Già Đa Diễn Ni Tử đề cập đến.
; Mười pháp thiện hay mười tâm sở trong Câu Xá Luận—The ten mental conditions for cultivation of goodness in the Kosa Sastra: (A) 1) Tín: Đức tin—Faith. 2) Cần: Siêng năng—Zeal. 3) Xả: Không vướng mắc—Renunciation. 4) Tàm: Xấu hổ đối với lỗi lầm của chính mình—Shame for one's own sins. 5) Quý: Xấu hổ đối với lỗi lầm của người—Shame for another's sins. 6) Không tham: No desire. 7) Không sân: No dislike. 8) Bất tổn hại (người và vật): No harm. 9) Khinh an: Calmness. 10) Tự chủ: Không buông lung phóng túng—Self-control. (B) 1) Thọ: Feeling. 2) Tưởng: Perception. 3) Tư: Contemplation. 4) Xúc: Touch. 5) Dục: desire. 6) Tuệ: Wisdom—Insight. 7) Niệm: Mindfulness. 8) Tác Ý: To have the thought arise—Beget. 9) Thắng Giải: Supreme liberation. 10) Tam Ma Địa: (See Samadhi).
; (大善地法) Phạm: Kuzala-mahà-bhùmikàdharmà. Một trong 6 món tâm sở do tông Câu xá lập ra, tức là hiện tượng tâm lí tương ứng với tất cả tâm thiện mà cùng khởi động, gồm có 10 thứ: 1. Tín (Phạm:zradhà), làm cho tâm lắng trong, yên lặng). 2. Bất phóng dật (Phạm: apramàda), chuyên chú tu các pháp lành. 3. Khinh an (Phạm: prasrabdhi), khiến tâm được nhẹ nhàng, an ổn. 4. Xả(Phạm: upekwà), khiến cho thân tâm xả bỏ ý niệm dính mắc vào các pháp mà an trụ nơi bình đẳng. 5. Tàm (Phạm: hrì), cung kính thuận theo người có đức độ, phải biết hổ thẹn đối với tội lỗi mà chính mình đã gây ra. 6. Quí (Phạm: apatràpya), sợ quả báo của tội lỗi, biết xấu hổ với người khác khi mình phạm tội. 7. Vô tham (Phạm: alobha), đối với cảnh thuận không tham đắm. 8. Vô sân (Phạm: advewa), đối với cảnh nghịch không tức giận. 9. Bất hại (Phạm: ahiôsà), không gây tổn hại cho người khác. 10. Cần (Phạm:Vìrya), khiến tâm dũng mãnh để siêng năng tu tập các thiện pháp. Mười pháp kể ở trên trùm khắp tất cả tâm thiện, nên gọi là Đại thiện. Còn tâm vương là chỗ nương của những hành vi đại thiện ấy, nên gọi là Đại thiện địa; mười pháp này là sở hữu của Đại thiện địa, cho nên gọi là Đại thiện địa pháp. Ngoài mười pháp đã ghi ở trên, luận Thuận chính lí quyển 11 còn thêm hai pháp Yếm và Hân mà thành mười hai pháp. Yếm là chán ghét tội lỗi, Hân là ưa thích mưu cầu công đức. Các nhà Câu xá cho rằng, Yếm duyên theo khổ đế và tập đế mà sinh khởi; Hân thì duyên theo diệt đế và đạo đế mà sinh khởi; hai pháp này không thể cùng khởi trong một tâm, nên không có cách nào biến khắp tất cả tâm thiện, do đó chỉ nói mười pháp. Ngoài ra, luận Thành duy thức quyển 6 còn thêm Vô si vào nữa cộng thành 11 pháp thiện, nhưng cho năm thứ cùng khởi với Dục là Hân, Bất phẫn, Bất hận, Bất não, Bất tật là một phần của Vô sân, cho ba thứ cùng khởi với Tuệ là Yếm, Bất khan, Bất kiêu là một phần của Vô tham và cho Bất phú, Bất cuống, Bất siểm là một phần của Vô si. Chủ trương này khác với thuyết của tông Câu xá. [X. luận Câu xá Q.4; luận Đại tì bà sa Q.42; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.6].
đại thiện địa pháp trí
Kalsala MahābhŪmika Dharma (S)Gồm: Tín, Bất phóng dật, Khinh an, Xả, Tàm, Quí, Vô tham, Vô sân, Bất hại, Cần.
Đại thiện địa pháp 大善地法
[ja] ダイゼンチホウ daizenchihō ||| (kusala-mahā-bhūmika). One of the six groups of mental functions outlined in the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論. The ten mental conditions for cultivation of goodness, which are faith, zeal, renunciation, conscience, shame, no desire, no dislike, no harm, calmness and self control. A general term for the mental function that necessarily arises together with all virtues. The characters 'great-good-ground' (dashandi 大善地) mean 'virtue' (shanxin 善心), therefore the term means 'virtuous elements.' => Một trong 6 nhóm tâm sở pháp chính trong Câu-xá luận( 倶舎論s: Abhidharmakośa-bhāsya), gồm 10 nhân duyên để tâm nương vào mà tu tập các thiện pháp; đó là: 1. Tín; 2. Cần ; 3. Xả ; 4. Tàm; 5. Quý ; 6. Vô tham; 7. Vô sân; 8. Bất hại; 9. Khinh an; 10. Bất phóng dật. Là thuật ngữ chung để chie các tâm sở pháp tất yếu sinh khởi cùng với các công đức lành. Đại thiện địa có nghĩa là Thiện tâm 善心, do vậy thuật ngữ trên có ý nghĩa là “các thiện pháp”.
đại thuyền
Đại Thừa, con thuyền lớn cứu độ chúng sanh—Mahayana, the great ship of salvation.
Đại thuyền sư
Vị thuyền trưởng tài ba, thông thạo mọi đường nước trên biển cả, có thể chỉ huy con tàu vượt biển đến nơi an toàn. Hình ảnh này thường được dùng để chỉ chư Phật, Bồ Tát, vì các ngài là người đưa chúng sanh vượt biển sanh tử đến bờ giải thoát.
đại thuyền sư
853佛之德號。因佛能引導眾生渡生死大海,故稱大船師。涅槃經卷二十一(大一二‧四九○上):「汝今欲度生死大河,我能為汝作大船師。」
; Phật là vị thuyền trưởng của con thuyền cứu độ—The Buddha, the captain of the great ship of salvation.
; (大船師) Đức hiệu của Phật, vì Ngài có năng lực dẫn dắt chúng sinh vượt qua biển lớn sống chết, nên gọi Đại thuyền sư. Kinh Niết bàn, quyển 21 (Đại 12, 490 thượng), nói: Các người muốn vượt qua biển lớn sống chết, ta sẽ là Đại thuyền sư của các người.
đại thành
(1609-1666) Thiền tăng đời Minh, họ Long, tự Trúc Am, người xứ Trường Sa, Hồ Nam, Trung Quốc. Nối pháp Thiền sư Ẩn Trí Ngân, đời thứ 36 hệ Thanh Nguyên. Trụ trì chùa Quảng Tế ở Giả Sơn, Tác phẩm: [i]Trúc Am tập[/i], [i]Đại Thành Thiền sư ngữ lục[/i].
; Mahàsambhava (S). Great completion. The imaginary realm in which (in turn) appeared 20,000 kotis of Buddhas, all of the same title, Bhismagarjita-ghosasvararàja.
; Mahasambhava (skt)—Great completion.
đại thành cõi
Mahāsambhāva (S)Ngài Oai Âm Vương Phật, đức Phật thời quá khứ, kỳ kiếp của Ngài tên là Ly suy, cõi của Ngài là Đại thành. Thường Bất Khinh Bồ tát xuất hiện ở cõi này.
đại thành tựu
Rdzogs-chen (C).
Đại thành tựu giả
大成就者; S: mahāsiddha;|Ma-ha Tất-đạt
đại thành tựu giả
Mahāsiddhi (P), Great Accomplished One Người tu hành đắc đạo có thần thông.
đại thành tựu pháp
Atiyoga (S).
Đại Thánh
(s, p: mahāmuni, 大聖): từ tôn xưng đối với chư Phật, Bồ Tát cũng như các vị Đại Thanh Văn, khác với từ thánh nhân của thế tục; như Đại Thánh Phổ Hiền Bồ Tát (大聖普賢菩薩), Đại Thánh Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (大聖文殊師利菩薩), Đại Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát (大聖觀自在菩薩), Đại Thánh Bát Động Minh Vương (大聖不動明王), Đại Thánh Hoan Hỷ Thiên (大聖歡喜天), v.v. Trong Hán Tạng có các kinh như Đại Thánh Diệu Cát Tường Bồ Tát Thuyết Trừ Tai Giáo Lịnh Pháp Luân (大聖妙吉祥菩薩說除災敎令法輪, Taishō No. 966), Đại Thánh Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Tán Phật Pháp Thân Lễ (大聖文殊師利菩薩讚佛法身禮, Taishō No. 1195), v.v. Từ này cũng được dùng trong Đạo Giáo như trong Thái Thượng Huyền Linh Bắc Đẩu Bổn Mạng Diên Sanh Chơn Kinh (太上玄靈北斗本命延生眞經) có câu: “Niệm thử Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Chơn Quân danh hiệu, đương đắc tội nghiệp tiêu trừ (念此大聖北斗七元眞君名號、當得罪業消除, niệm danh hiệu của vị Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Chơn Quân này sẽ được tiêu trừ tội nghiệp).”
đại thánh
874梵語 mahā-muni,巴利語同。為對佛、菩薩及大聲聞等之尊稱;有別於世俗之聖人。如大聖普賢菩薩、大聖文殊師利菩薩、大聖觀自在菩薩、大聖不動明王、大聖歡喜天等,概皆出於尊敬之意。〔佛本行集經卷十七剃髮染衣品、大方等大集經卷四十三送使品、持心梵天所問經卷一明網菩薩品〕
; Mahāmuni (S), Great Sage Thiên chủMột từ để gọi đức Phật hay Đại Thanh văn. Lời tôn xưng Phật, Bồ tát.
; The great sage or saint.
; 1) The great sage or saint. 2) Danh hiệu của một vị Phật hay một vị Bồ Tát cao cấp: A title of a Buddha or a Bodhisattva of high rank.
; (大聖) Phạm, Pàli: Mahà-muni. Tiếng tôn xưng đức Phật, Bồ tát và Đại thanh văn để phân biệt với Thánh nhân thế tục. Như Đại thánh Phổ hiền bồ tát, Đại thánh Văn thù sư lợi bồ tát, Đại thánh Quán tự tại bồ tát, Đại thánh Bất động minh vương, Đại thánh Hoan hỉ thiên v.v... đại khái đều xuất phát từ ý tôn kính. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.17 phẩm Thế phát nhiễm y; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.43 phẩm Tống sứ; kinh Trì tâm phạm thiên sở vấn Q.1 phẩm Minh võng bồ tát].
đại thánh chủ
The great holy honoured one or lord.
đại thánh hoan hỷ thiên
Nandikesvara (S)Thánh Thiên.
đại thánh thế tôn
874為佛之尊號。佛為聖中之極、舉世之尊。法華經藥草喻品(大九‧二○上):「大聖世尊於諸天人一切眾中而宣是言。」
; See Đại Thánh Chủ.
; (大聖世尊) Tôn hiệu của đức Phật. Phật là bậc cùng tột trong hàng Thánh, tất cả thế gian đều tôn kính. Phẩm Dược thảo trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 20 thượng), nói: Đại thánh Thế tôn ở trong tất cả chúng trời người mà tuyên nói lời này.
đại thánh tự
Daishō-ji (J)Tên một ngôi chùa.
đại thánh tự tháp
875位於江西信豐縣城內孝義坊祝聖寺後。因於塔上發現木雕像銘文「大聖寺」而得名。此塔高約五十公尺,共九級六面。三面有真門,其餘相間之三面則隱出假門。門上有平座及腰檐。底層檐脊之上為第二層平座,底層內空,平座內形成一暗層,故為十八層。塔身以青磚砌成。據信豐縣志所載,不知此塔始建年月,然磚石間記有「楊貫重修」及三國赤烏年號等文字。贛州府志亦載,寶塔寺初為延福寺,今更名祝聖寺,殿後寶塔相傳係吳大帝赤烏年造。此塔氣勢雄偉,頗具歷史研究及建築藝術價值。
đại thánh văn thù
See Manjusri.
Đại thánh 大聖
[ja] ダイショウ daishō ||| A great sage. The Buddha 佛, a great bodhisattva 菩薩, or arhat 阿羅漢. (mahā-muni, tāyin). => Bậc thánh vĩ đại. Chư Phật, đại Bồ-tát, hay A-la-hán.
đại tháp
872<一>建於釋尊成道聖地佛陀伽耶(梵 Buddha-gayā)之高塔形精舍,為煉瓦所造。約建於阿育王時代,其後,由改信佛教之婆羅門予以擴建。十三、四世紀頃,印度教與回教戰爭中,回教軍隊到處破壞佛跡,佛教徒為保護聖跡,乃以土掩塔,直到十九世紀,英國統治印度才重新發現,加以整修。 <二>存於中印度山琦之佛塔,約建於西元前二世紀。阿育王時代或係磚造,今所見則是後來加蓋於其上者,係以石塊砌成,圓頂呈半球形,塔身在一圓形土堆上,塔直徑三十六公尺,高十六公尺。 <三>又作根本大塔、高野山大塔。位於日本高野山,建於弘仁十年(819),後歷經修葺,今所見為一水泥造之多寶塔。(參閱「根本大塔」4132)
; (大塔) I. Đại Tháp. Tòa tinh xá bằng gạch hình ngôi tháp cao ở thánh địa Phật đà già da (Phạm: Buddha-gayà) nơi đức Thích tôn thành đạo được xây dựng vào thời vua A dục. Về sau, người Bà la môn cải tín theo Phật giáo mới kiến thiết rộng lớn hơn. Khoảng thế kỉ XIII, XIV trong cuộc chiến tranh giữa Ấn độ giáo và Hồi giáo, các hật tích đều bị quân đội Hồi giáo phá hủy. Để bảo vệ Thánh tích này, tín đồ Phật giáo bèn lấy đất phủ lên trên tháp, mãi đến thế kỉ XIX, Anh quốc thống trị Ấn độ mới tìm ra và sửa sang lại. II. Đại Tháp. Ngôi tháp Phật hiện còn ở Sơn kì (Phạm: Sanchi) Trung Ấn độ, được kiến tạo vào thế kỉ thứ 2 trước Tây lịch. Tháp có hình chiếc bát úp, đường kính 36m, cao 16m, trên nóc tháp có cây lọng bằng đá. III. Đại Tháp. Cũng gọi Căn bản đại tháp, Cao dã sơn đại tháp. Ngôi tháp trên núi Cao dã bên Nhật bản, được xây dựng vào năm Hoằng nhân thứ 10 (819). Qua nhiều lần sửa chữa, nay thành như tháp Đa bảo. (xt. Căn Bản Đại Tháp).
đại thân
Thân lớn hay hóa thân trùm khắp vũ trụ của Phật—The great body—Nirmanakaya or transformable body of the Buddha which covers the whole universe.
Đại thân 大身
[ja] ダイシン daishin ||| (1) The great body of the buddha, which pervades all of space; as distinguished from the limited bodies of the buddha, such as the sixteen foot body 丈六. 〔法華經 T 262.9.60a8〕 (2) A synonym for the dharma-kāya 法身. => 1. Thân rộng lớn của Đức Phật, trùm khắp mọi không gian, để phân biệt với thân hạn lượng của Đức Phật, như thân cao 1 trượng 6. 2. Đồng nghĩa với Pháp thân.
đại thâu giáo
781指法華經。與涅槃經之「捃拾教」相對。天台宗謂,佛宣說法華經,如春耕、夏刈、秋收循序漸進,一時大收;即由初頓華嚴以來化導之功,因所化之根機已漸純熟,釋尊乃於法華會座,宣說開顯之法,使之會入一佛乘。湛然之法華玄義釋籤卷二(大三三‧八二三下):「法華開權,如已破大陣(中略),故以法華為大收。」(參閱「捃拾教」4116)
; (大收教) Chỉ cho kinh Pháp hoa, đối lại với Quấn thập giáo. Tông Thiên thai cho rằng đức Phật tuyên thuyết kinh Pháp hoa, ví như mùa xuân cày cấy, mùa hạ làm cỏ, mùa thu gặt hái, cứ tuần tự tiến dần, cuối cùng tóm thu tất cả. Tức là nhờ công hóa đạo từ thời Hoa nghiêm đốn giáo đầu tiên đến nay, các căn cơ được giáo hóa đã dần dần thuần thục, cho nên, trên hội Pháp hoa, đức Phật mới nói pháp khai quyền hiển thực khiến mọi người hội nhập Nhất Phật thừa. Trong Pháp hoa huyền tán thích tiêm quyển 2 (Đại 33, 823 hạ), ngài Trạm nhiên nói: Kinh Pháp hoa mở bày phương tiện, như đã phá tan trận lớn (...), vì thế cho Pháp hoa là Đại thu.
đại thí chủ
Mahādharma (S).
; Mahà-danapati (S). Great almsgiver.
đại thí chủ phật
Mahādanpati (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
đại thí hội
Moksa-mahà-parisad (S). A great gathering for almsgiving to all, rich and poor.
; Moksa-maha-parisad (skt). 1) Đại hội bố thí cho tất cả mọi người, từ giàu đến nghèo, trên danh nghĩa năm năm một lần—A great gathering for almsgiving to all, rich and poor, nominal quinquenial. 2) Theo Kinh Duy Ma Cật, vào thời Phật còn tại thế, lúc cư sĩ Duy Ma Cật lâm bệnh, Phật bảo trưởng giả tử Thiện Đức: “Ông đi đến thăm bệnh ông Duy Ma Cật dùm ta.”—According to the Vimalakirti Sutra, once Upasaka Vimalakirti was sick, the Buddha then said to a son a an elder called Excellent Virute: “You call on Vimalakirti to enquire his health on my behalf.” • Thiện Đức bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh đến thăm bệnh ông. Vì sao? Nhớ lại thuở trước, con lập ra đại hội thi ở nhà cha con, hạn trong bảy ngày để cúng dường cho tất cả vị sa Môn, Bà la môn, cùng hàng ngoại đạo, kẻ nghèo khó, hèn hạ, cô độc và kẻ ăn xin. Bấy giờ ông Duy Ma Cật đến trong hội nói với con rằng, 'Nầy trưởng giả tử! Vả chăng hội đại thí không phải như hội của ông lập ra đâu, phải làm hội Pháp thí chớ lập ra hội tài thí này làm gì?”—Excellent Virtue said: “World Honoured One, I am not qualified to call on him to enquire after his health. The reason is that once I held a ceremonial meeting at my father's house to make offerings to the gods and also to monks, brahmins, poor people, outcastes and beggars. When the meeting ended seven days later, Vimalakirti came and said to me: 'O son of the elder, an offering meeting should not be held in the way you did; it should bestow the Dharma upon others, for what is the use of giving alms away?' • Con nói: “Thưa cư sĩ! Sao gọi là hội Pháp thí?”—I asked: 'Venerable Upasaka, what do you mean by bestowal of Dhama?' • Ông đáp: “Hội Pháp thí là đồng thời cúng dường tất cả chúng sanh, không trước không sau đó là hội Pháp thí.”—He replied: 'The bestowal of Dharma is (beyond the element of time, having) neither start nor finish, and each offering should benefit all living beings at the same time. This a bestowal of Dharma.' • Con hỏi: “Thế là nghĩa gì?”—I asked: 'What does this mean?' • Cư sĩ đáp: “Nghĩa là vì đạo Bồ Đề, khởi từ tâm; vì cứu chúng sanh , khởi tâm đại bi; vì muốn giữ gìn Chánh Pháp, khởi tâm hoan hỷ; vì nhiếp trí tuệ, làm theo tâm xả; vì nhiếp tâm tham lẫn, khởi bố thí Ba la mật; vì độ kẻ phạm giới, trì giới Ba la mật; vì không ngã pháp, khởi nhẫn nhục Ba la mật; vì rời tướng thân tâm, khởi tinh tấn Ba la mật; vì tướng Bồ Đề, khởi thiền định Ba la mật; vì nhứt thiết trí, khởi trí tuệ Ba la mật; vì giáo hóa chúng sanh mà khởi ra 'Không;' chẳng bỏ Pháp hữu vi mà khởi 'vô tướng;' thị hiện thọ sanh, mà khởi 'vô tác;' hộ trì Chánh Pháp, khởi sức phương tiện; vì độ chúng sanh, khởi tứ nhiếp pháp; vì kính thờ tất cả, khởi pháp trừ khinh mạn; đối thân mạng và tài sản, khởi ba pháp bền chắc; trong pháp lục niệm, khởi ra pháp nhớ tưởng; ở sáu pháp hòa kính, khởi tâm chất trực; chơn chánh thực hành thiện pháp, khởi sự sống trong sạch; vì tâm thanh tịnh hoan hỷ, khởi gần bực Thánh hiền; vì chẳng ghét người dữ, khởi tâm điều phục; vì pháp xuất gia, khởi thâm tâm ; vì đúng theo chỗ nói mà làm khởi đa văn; vì pháp vô tránh, khởi chỗ yên lặng; vì đi tới Phật huệ, khởi ra ngồu yên lặng (tọa thiền); vì mở ràng buộc cho chúng sanh, khởi tâm tu hành; vì đầy đủ tướng tốt và thanh tịnh cõi Phật, khởi sự nghiệp phước đức; vì muốn biết tâm niệm tất cả chúng sanh đúng chỗ nên nói pháp, khởi ra nghiệp trí; vì biết tất cả pháp không lấy không bỏ, vào môn nhứt tướng, khởi ra nghiệp huệ; vì đoạn tất cả phiền não, tất cả chướng ngại, tất cả bất thiện, khởi làm tất cả pháp trợ Phật đạo. Như vậy thiện nam tử! Đó là hội Pháp Thí. Nếu Bồ Tát trụ nơi hội pháp thí đó, là vị đại thí chủ, cũng là phước điền cho tất cả thế gian.”—He replied: 'This means that bodhi springs from kindness (maitri) toward living beings; the salvation of living beings springs from compassion (karuna); the upholding of right Dharma from joy (mudita); wisdom from indifference (upeksa); the overcoming of greed from charity–perfection (dana-parmita); ceasing to break the precepts from discipline-perfection (sila-paramita); egolessness from patience-perfection (ksanti-paramita); relinquishment of body and mind from zeal-perfection (virya-paramita); realization of enlightenment from serenity-perfection (dhyana-paramita); realization of all-knowledge (sarvajna) from wisdom–perfection (prajna-paramita); the teaching and converting of living beings spring from the void; non-rejection of worldly activities springs from formlessness; appearance in the world springs from inactivity; sustaining the right Dharma from the power of expedient devices (upaya); the liberation of living beings from the four winning virtues; respect for and service to others from the determination to wipe out arrogance; the relinquishment of body, life and wealth from the three indestructibles; the six thoughts to dwell upon from concentration on the Dharma; the six points of reverent harmony in a monastery form the straightforward mind; right deeds from pure livelihood; joy in the pure mind from nearness to saints and sages; non-rising of hate for bad people from the effective control of mind; retiring from the world from the profound mind; practice in accordance with the preaching from the wide knowledge gained from hearing (about the Dharma); absence of disputation from a leisurely life; the quest of Buddha wisdom from meditation; the freeing of living beings from bondage from actual practice; the earning of all excellent physical marks to embellish Buddha lands from the karma of mortal excellence; the knowledge of the minds of all living beings and the relevant expounding of Dharma to them, from the karma of good knowledge; the understanding of all things commensurate with neither acceptance nor rejection of them to realize their oneness, from the karma of wisdom; the eradication of all troubles (klesa), hindrances and evils from all excellent karmas; the realization of all wisdom and good virtue from the contributory conditions leading to enlightenment. All this, son of good family, pertains to the bestowal of Dharma. A Bodhisattva holding this meeting that bestows the Dharma, is a great almsgiver (danapati); he is also a field of blessedness for all worlds.' • Bạch Thế Tôn! Khi ông Duy Ma Cật nói pháp ấy, trong chúng Bà la môn hai trăm người đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác—World Honoured One, as Vimalakirti was expounding the Dharma, two hundred Brahmins who listened to it, set their minds on the quest of supreme enlightenment. • Lúc đó tâm con đặng thanh tịnh, ngợi khen chưa từng có, cúi đầu đảnh lễ dưới chơn ông Duy Ma Cật. Con liền mở chuỗi Anh Lạc giá đáng trăm ngàn lượng vàng dâng lên, ông không chịu lấy. Con nói: “Thưa cư sĩ! Xin ngài hãy nạp thọ, tùy ý Ngài cho!” Ông Duy Ma Cật liền lấy chuỗi Anh Lạc chia làm hai phần, một phần đem cho người ăn xin hèn hạ nhứt trong hội, còn một phần đem dâng cho Đức Nan Thắng Như Lai. Tất cả chúng trong hội đều thấy cõi nước Quang Minh và Đức Nan Thắng Như Lai, lại thấy chuỗi Anh Lạc ở trên đức Phật kia biến thành bốn trụ đài quý báu, bốn mặt đều trang nghiêm rực rỡ không ngăn che nhau—I myself realized purity and cleanness of mind which I had never experienced before. I then bowed my head at his feet and took out my priceless necklace of precious stones which I offered to him but he refused it. I then said: 'Venerable Upasaka, please accept my present and do what you like with it.' He took my necklace and divided it in two, offering half to the poorest beggar in the assembly and the other half to the 'Invincible Tathagata' whose radiant land was then visible to all those present, who saw the half-necklace transformed into a precious tower in all its majesty on four pillars which did not shield one another. • Sau khi ông Duy Ma Cật hiện thần biến xong, lại nói rằng: “Nếu người thí chủ dùng tâm bình đẳng thí cho một người ăn xin rất hèn hạ xem cũng như tướng phước điền của Như Lai, không phân biệt, lòng đại bi bình đẳng, không cầu quả báo, đó gọi là đầy đủ pháp thí vậy.”—After this supernatural transformation, Vimalakirti said: 'He who gives alms to the poorest beggar with an impartial mind performs an act which does not differ from the field of blessedness of the Tathagata, for it derives from great compassion with no expectation of reward. This is called the complete bestowal of Dharma.' • Trong thành những người ăn xin hèn hạ nhất thấy thần lực như vậy và nghe lời nói kia, đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì thế nên con không kham lãnh đến thăm bệnh ông Duy Ma Cật—After witnessing Vimalakirti's supernatural power, the poorest beggar who had also listened to his expounding of the Dharma developed a mind set on supreme enlightenment. Hence I am not qualified to call on Vimalakirti to enquire after his health.” • Như thế, các Bồ Tát đều tuần tự đến trước Phật trình bày chỗ bổ duyên của mình, vị nào cũng khen ngợi, thuật lại những lời ông Duy Ma Cật và đều nói: “Không kham lãnh đến thăm bệnh ông.”—Thus each of the Bodhisattvas present related his encounter with Vimalakirti and declined to call on him to enquire after his health.
đại thí thái tử
Còn gọi là Năng Thí Thái Tử, là tiền thân của Đức Phật Thích Ca, khi ngài nhận được long ngọc và do bởi năng lực của ngọc nầy mà ngài đã làm vơi những nhu cầu cần kíp của những người nghèo—Prince “Giver.” The great princely almsgiver, a former incarnation of sakyamuni (Sakyamuni in previous life), when he obtained the magic dragon-pearl and by its power relieved the needs of all the poor. ** For more information, please see Đại Ý.
đại thí vương
Mihirakula.
đại thôn tây nhai
792(1867~1927)為日本美術史家。靜岡縣人。東京美術學校雕刻科第一屆畢業。在日本講授東洋美術史、東洋繪畫史、東洋雕刻史,以「密教發達志」而獲頒學士獎。著有東洋美術大觀十五卷、東瀛珠光六帖、支那美術史雕塑篇、東洋美術史、佛教圖像集古等書。又與森林太郎合著審美綱領及阿育王事蹟等書。
đại thông hòa thượng
Hòa Thượng Thần Tú, một trong những đệ tử quan trọng nhứt của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn—Most Venerable Shen-Hsiu, one of the most important disciples of the fifth patriarch.
đại thông kết duyên
854據法華經卷三化城喻品所載,往昔三千塵點劫以前,大通智勝佛出世,宣說妙法蓮華經。此佛曾為其出家之十六子講說法華經。十六子中之第十六子即為後來之釋迦佛。此十六子以聽聞大通智勝佛之說法,乃結下聽聞一乘法華之緣,稱為大通結緣。又參與靈山法華會座之聽眾即為大通結緣眾。〔法華文句卷二十、法華經玄義卷一上〕(參閱「大通智勝佛」854)
; (大通結緣) Cứ theo phẩm Hóa thành dụ trong kinh Pháp hoa quyển 2 chép, thì trong quá khứ cách ba nghìn trần điểm kiếp về trước, có đức Phật Đại thông trí thắng ra đời, tuyên thuyết kinh Diệu pháp liên hoa cho 16 người con xuất gia của Ngài nghe, trong đó, người con thứ 16 tức là Phật Thích ca. Sau khi nghe đức Phật Đại thông trí thắng nói pháp, 16 người con liền kết duyên Nhất thừa pháp hoa, gọi là Đại thông kết duyên. Ngoài ra, thính chúng tham dự hội Pháp hoa Linh sơn gọi là chúng Đại thông kết duyên. [X. Pháp hoa văn cú Q.20; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1 phần trên]. (xt. Đại Thông Trí Thắng Phật).
đại thông phương quảng sám hối diệt tội trang nghiêm thành phật kinh
853請參閱 大通方廣懺悔滅罪莊嚴成佛經 凡三卷。又作方廣滅罪成佛經、大通方廣經。今收於大正藏第八十五冊。上卷敘述佛向娑羅涅槃之途中,為十方菩薩宣說三乘一乘義,諸鬼神王等立誓護持此經,又為信相菩薩廣說三世諸佛、十二部經及諸大菩薩之名號及其功德;中卷講說無憍慢等種種四法,並敘述付此法予虛空藏菩薩,並為之授記之情形;下卷秉上卷之說,為師子吼菩薩宣講三寶一相之意,並為文殊師利舉示滅罪之法、墮阿鼻地獄之果報。本書傳譯事實不詳,隋代法經之眾經目錄卷二以本書與像法決疑經等同收入「眾經疑惑」,開元釋教錄卷十八則附之於「疑惑再詳錄」。歷代之經錄多疑其真偽,或係曇無讖以後,隋以前之偽作。〔大周刊定眾經目錄卷十五、歷代三寶紀卷十三、鳴沙餘韻解說(矢吹慶輝)〕
; (大通方廣懺悔滅罪莊嚴成佛經) Gồm 3 quyển. Cũng gọi Phương quảng diệt tội thành Phật kinh, Đại thông phương quảng kinh, thu vào Đại chính tạng tập 85. Nội dung kinh như sau: - Quyển thượng tường thuật việc đức Phật trên đường đi về rừng Sa la để vào Niết bàn, đã nói cho các vị Bồ tát trong mười phương nghe về ý nghĩa Tam thừa, Nhất thừa và việc các quỷ thần vương phát nguyện hộ trì kinh này. Rồi Ngài nói cho bồ tát Tín tướng nghe về chư Phật ba đời, 12 bộ kinh, về danh hiệu và công đức của các vị Đại bồ tát. - Quyển trung đức Phật giảng thuyết về bốn pháp như không kiêu mạn v.v... cùng việc thụ kí và phó chúc kinh này cho bồ tát Hư không tạng. - Quyển hạ ngoài việc tiếp tục những điều đã nói ở quyển thượng, đức Phật còn giảng cho bồ tát Sư tử hống nghe về ý nghĩa của Tam bảo nhất tướng, nói cho bồ tát Văn thù sư lợi nghe về pháp diệt tội và quả báo đọa địa ngục A tị. Về sự truyền dịch kinh này không được rõ. Chúng kinh mục lục quyển 2 của ngài Pháp kinh đời Tùy xếp kinh này và kinh Tượng pháp quyết nghi vào Chúng kinh nghi hoặc, Khai nguyên thích giáo lục quyển 18 thì ghi phụ vào Nghi hoặc tái tường lục. Các bản kinh lục xưa nay phần nhiều nghi kinh này là kinh giả, có lẽ đã được ngụy tác ở khoảng sau ngài Đàm vô sấm và trước đời Tùy. [X. Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.15; Lịch đại tam bảo kỉ Q.13; Minh sa dư vận giải thuyết (Thỉ xuy khánh huy)].
đại thông thiền sư ngữ lục
854凡六卷。全稱佛德大通禪師愚中和尚語錄。又作愚中和尚語錄、草餘集。日僧愚中周及(1323~1409)撰。收於大正藏第八十一冊。卷一至卷五集錄示眾、供養、拈香、下火、祭文、佛祖讚、自讚、題跋書尺、應臺等,卷六係附錄之年譜一卷。今依卷首之桂洲道倫撰之序及目錄皆謂附錄另有稟明鈔一篇,然本錄並未刊印,其內容係周及自宗鏡錄中摘錄簡明易解之修道規範集,以為學人自心之鑑。
; (大通禪師語錄) Gồm 6 quyển. Gọi đủ: Phật đức Đại thông thiền sư Ngu trung hòa thượng ngữ lục. Cũng gọi Ngu trung hòa thượng ngữ lục, Thảo dư tập. Do ngài Ngu trung Chu cập (1323 - 1409) người Nhật soạn, thu vào Đại chính tạng tập 81. Từ quyển 1 đến quyển 5 ghi chép: Thị chúng, Cúng dường, Niêm hương, Hạ hỏa, Tế văn, Phật tổ tán, Tự tán, Đề bạt thư xích, Ứng đài v.v... Quyển 6 là chép thêm niên phổ 1 quyển. Nay căn cứ vào bài tựa ở đầu quyển do ngài Đạo luận ở Quế châu soạn và mục lục, thì biết rằng trong quyển 6, ngoài phần niên phổ ra, còn có 1 thiên Bẩm minh sao, nhưng không được ấn hành. Nội dung thiên này là do ngài Chu cập trích ra từ trong Tông kính lục của ngài Vĩnh minh Diên thọ, nói về khuôn phép tu đạo, rất ngắn gọn, rõ ràng và dễ hiểu, để làm tấm gương cho người học soi lại tâm mình.
đại thông trí thắng như lai
Mahā-bhidjāna-djānabhibhu (S)Một đức Phật quá khử ở cõi Hảo Thành, kỳ kiếp Đại tướng. Ngài là thái tử con vua Chuyển luân thánh vương, có 16 người con trai. Khi Ngài thành Phật, 16 người con đều xuất gia thành 16 sa di Bồ tát. Hiện nay 16 vị đã thành Phật, đức A di đà và đức Thích ca là hai trong số 16 người ấy.
đại thông trí thắng phật
854大通智勝,梵名 Mahābhijñā-jñānābhibhū。又作大通眾慧如來、大通慧如來。即出現於過去三千塵點劫以前,演說法華經之佛名。依法華經卷三化城喻品所載,過去無量無邊不可思議阿僧祇劫有一佛,名為大通智勝如來,此佛未出家前有十六王子,於父王成道後,十六王子亦出家為沙彌,聽聞大通智勝佛宣講妙法蓮華經而信受奉行,後亦各昇法座廣說此經,一一皆度化六百萬億那由他恆河沙等眾生,故皆得阿耨多羅三藐三菩提,於十方國土現身說法。無量百千萬億菩薩、聲聞為其眷屬,諸王子中之第十六沙彌,即為釋迦如來。此即法華三周說法中之「因緣周」說法。釋尊既為過去大通智勝佛之王子,故靈山會之聽眾,皆為此如來之結緣眾。然「大通結緣」之說,至因緣周(即化城喻品)始有所開示。雖係為下根之人說其宿緣,但法說周及譬說周之機根(上、中二根)亦俱有宿世結緣之義。〔正法華經卷四、大智度論卷三十二、法華經玄義卷一上、法華文句卷七下〕(參閱「三周說法」560、「大通結緣」854)
; Mahabhijna-Jnanabhibhu—Một vị Phật với tối thượng thông trí trong cõi nước Hảo Thành (Sambhava), Kỳ Kiếp (Kalpa) của ngài tên là Đại Tướng (Maharupa). Ngài đã qua mười kiếp thiền định để thành Phật, và sau đó lại lui về 84.000 kiếp thiền định nữa, trong khi mười sáu vương tử của ngài vẫn tiếp tục thuyết pháp, trong số đó thì A Di Đà là vương tử thứ chín và Thích Ca Mâu Ni là vương tử thứ 16—The great Buddha of supreme penetration and wisdom—A fabulous Buddha whose realm was Sambhava, his kalpa Maharupa. Having spent ten middling kalpas in ecstatic meditation he became a Buddha, and retired again in meditation for 84.000 kalpas, during which his sixteen sons continued his preaching as Buddhas, among which Amitabha is his ninth son and Sakyamuni is his sixteen son.
; (大通智勝佛) Đại thông trí thắng, Phạm: Mahàbhijĩà-jĩànàbhibhù. Cũng gọi Đại thông chúng tuệ Như lai, Đại thông tuệ Như lai. Danh hiệu đức Phật ra đời trong quá khứ cách nay ba nghìn trần điểm kiếp, diễn nói kinh Pháp hoa. Cứ theo phẩm Hóa thành dụ trong kinh Pháp hoa quyển 3 chép, thì ở quá khứ, cách nay đã vô lượng vô biên bất khả tư nghị a tăng kì kiếp, có đức Phật hiệu là Đại thông trí thắng Như lai. Đức Phật ấy, lúc chưa xuất gia, đã là một vị vua có 16 vương tử, sau khi vua cha xuất gia thành đạo chứng quả, thì 16 vương tử cũng xin xuất gia làm sa di và được nghe đức Phật Đại thông trí thắng tuyên giảng kinh Diệu pháp liên hoa, tất cả đều tín thụ phụng hành. Sau, 16 vị sa di cũng lần lượt lên tòa giảng kinh Pháp hoa, mỗi vị đều hóa độ 600 vạn ức na do tha hằng hà sa chúng sinh, và đều được Vô thượng chính đẳng giác, rồi hiện thân thuyết pháp trong các quốc độ ở 16 phương. Vị sa di thứ 16 tức là tiền thân của đức Thích ca Như lai. [X. kinh Chính pháp hoa Q.4; luận Đại trí độ Q.32; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1 phần trên; Pháp hoa văn cú Q.7 phần dưới]. (xt. Tam Chu Thuyết Pháp, Đại Thông Kết Duyên).
đại thương
Big business.
Đại Thạch Tự
(大石寺, Taiseki-ji): ngôi chùa trung tâm của Nhật Liên Chánh Tông, hiện tọa lạc tại Fujinomiya-shi (富士宮市), Shizuoka-ken (靜岡縣); hiệu núi là Đa Bảo Phú Sĩ Đại Nhật Liên Hoa Sơn (多寶富士大日蓮華山), gọi tắt là Đại Nhật Liên Hoa Sơn (大日蓮華山). Đây là ngôi chùa do Nhật Hưng (日興, Nikkō), một trong 6 đệ tử chân truyền của Nhật Liên, sáng lập. Sau này, khi thầy qua đời được 7 năm, vào năm 1289, Bạch Liên A Xà Lê Nhật Hưng (白蓮阿闍梨日興) được vị Hương Chủ của vùng Thượng Dã (上野, Ueno) là Nam Điều Thời Quang (南條時光, Nanjō Tokimitsu) cung thỉnh đến để xây dựng Trì Phật Đường (持佛堂) ở vùng đất này; và nguyên lai nơi đây có tên là Đại Thạch (大石, Ōishi), nên tên chùa cũng được đặt theo địa danh. Có nhiều thuyết khác nhau về lý do vì sao Nhật Hưng tách ly vùng Thân Diên (身延, Minobu), trong đó có thuyết cho rằng vì ông bất hòa với người thí chủ Ba Mộc Tỉnh Thật Trường (波木井實長). Sau khi sống nơi đây được vài năm, Nhật Hưng khai sáng tiếp Bổn Môn Tự (本門寺, Honmon-ji) ở vùng Trọng Tu (重須, Omosu), và sống mãi nơi đây cho đến khi qua đời ở độ tuổi 88. Hiện ở Trọng Tu có ngôi mộ của ông. Chính tại ngôi Đại Thạch Tự này, ông đã thực hiện trọn vẹn di huấn của ân sư trong việc thành lập Bổn Môn Giới Đàn (本門戒壇) vốn chỉ truyền thọ cho từng người một mà thôi. Nơi ngôi già lam này, ông đã từng quy y cho phu nhân của Đức Xuyên Gia Tuyên (德川家宣, Tokugawa Ienobu) là Thiên Anh Viện (天英院). Chính bà đã tập trung công sức xây dựng già lam, tạo thành cảnh sắc rất tráng lệ, tuyệt mỹ. Vào năm 1912, Phái Phú Sĩ ngày xưa được đổi tên thành Nhật Liên Chánh Tông. Quần thể kiến trúc chính của chùa hiện có Nhị Thiên Môn, hai lầu chuông trống, Ngự Đường, Ngũ Trùng Tháp, v.v. Tuy nhiên, sau thời chiến tranh thì nơi đây trở thành ngôi chùa trung tâm của Sáng Giá Học Hội (創価學會, Sōkagakkai), rất nhiều đoàn thể thường xuyên đến tham bái. Từ năm 1955 trở đi, nơi phía tây Ngự Ảnh Đường có dựng lên Phụng An Đường (奉安堂) để an trí bức đồ hình Mạn Trà La do thủ bút của Nhật Liên vẽ nên; phía trước đó có Đại Khách Điện, Đại Hóa Thành 3 tầng, Đại Giảng Đường, v.v., toàn là những kiến trúc mang tính hiện đại tân thời. chùa hiện còn lưu trữ nhiều bảo vật như Tiêu Tức Văn của Nhật Liên.
đại thạch tự
773日本日蓮正宗本山。位於靜岡縣富士宮寺。南條時光所創,日蓮之弟子日興為開山住持。第二次世界大戰後,「日蓮正宗創價學會」發展迅速,常在此展開宗教活動,建有正本堂。
đại thần chú
Dharani spells or magical formulae connected with supernatural powers.
đại thần lực
Supernatural or magical powers.
; Supernatural or magical powers—Great spiritual powers.
Đại thần thông 大神通
[ja] ダイジンヅウ daijinzū ||| The great supernatural powers of the Buddha. See 神通. => Năng lực thần thông to lớn của chư Phật. Xem Thần thông.
đại thần vương
Mahakala—The great deva-king. 1) Một danh hiệu của Đại Tự Tại hay Ma Hê Thủ La Thiên: A title of Mahesvara—Siva. 2) Vị thần mặt đen hộ pháp các tự viện, trong trù phạn đường. Người ta nói vị nầy là đệ tử của Đại Thiên Mahadeva, và là tiền thân của Phật Thích Ca: A guardian of monasteries, with black face, in the dining hall; he is said to have been a disciple of Mahadeva, a former incarnation of Sakyamuni.
Đại thần 大臣
[ja] ダイシン daishin ||| A high minister (Skt. mahāmātra; Pali mahāmatta). 〔法華經 T 262.9.17b10〕 => Quan đầu triều (s: mahāmātra; p: mahāmatta).
đại thắng
Great victory.
đại thắng kim cang
Đại Chuyển Luân Vương, vị Kim Cang Tát Đỏa hay Kim Cang Thủ có 12 tay do Đức Đại Nhật hóa thân, mỗi tay đều cầm giữ một biểu tượng—One of the incarnations of Vairocana represented with twelve arms, each hand holding one of his symbols.
đại thắng kim cương
855請參閱 法華三大部補注 總攝密教金剛界三十七尊之菩薩。此尊一身兼具三十七尊之妙用,頂上放金剛威怒光明,左右第一手各結智拳印,左第二手持蓮花,第三手持羯磨杵,第四手持索,第五手持鈴,第六手持法輪;右第二手持五股杵,第三手持摩尼珠,第四手持鉤,第五手持鎖,第六手持智劍,坐於白色大蓮花座上,身色如日,惟依經之不同而形像各異。於三世三界中,僅此尊能摧諸佛頂,以速成大悉地。〔金剛峰樓閣一切瑜伽瑜祇經卷上一切如來大勝金剛頂最勝真言大三昧耶品、祕鈔問答卷十大勝金剛條〕
; (大勝金剛) Vị Bồ tát tổng nhiếp 37 vị tôn của Kim cương giới, Mật giáo. Một thân của vị tôn này có đủ diệu dụng của37 vị tôn, trên đỉnh đầu phóng ra ánh sáng kim cương rực rỡ, tay mặt tay trái thứ 1 kết ấn trí quyền, tay thứ 2 bên trái cầm hoa sen, tay thứ 3 cầm chày yết ma, tay thứ 4 cầm sợi dây, tay thứ 5 cầm chuông nhỏ, tay thứ 6 cầm bánh xe pháp; tay thứ 2 bên phải cầm chày5chĩa, tay thứ 3 cầm ngọc ma ni, tay thứ 4 cầm cái móc, tay thứ 5 cầm vòng xích, tay thứ 6 cầm gươm trí tuệ, ngồi trên tòa sen trắng, toàn thân sáng chói như mặt trời. Tùy theo các kinh mà hình tượng vị tôn này có khác. Trong ba đời ba cõi, chỉ có vị tôn này vượt hơn các Phật đính để mau thành Đại tất địa. [X. kinh Kim cương phong lâu các nhất thiết du già du kì Q.thượng phẩm Nhất thiết Như lai đại thắng kim cương đính tối thắng chân ngôn đại tam muội da; Bí sao vấn đáp Q.10 Đại thắng kim cương điều].
đại thắng tâm
The mind of mastery.
đại thặng thiên
Mahā-yānadeva (S)Danh hiệu do các sư người Ấn tặng Ngài Huyền Trang.
đại thế
1) Great power. 2) See Đại Thế Chí Bồ Tát.
Đại Thế Chí
大勢至; S: mahāsthāmaprāpta;|Một vị Bồ Tát quan trọng của Phật giáo Ðại thừa, là vị dạy dỗ cho con người »biết mình cần được giải thoát«. Tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, Ðại Thế Chí hay được vẽ tạc bên mặt của Quán Thế Âm, bên cạnh đức Phật A-di-đà, đại diện cho trí huệ của Ngài. Tranh tượng hay trình bày một ngôi chùa trên đỉnh đầu của Ðại Thế Chí.
đại thế chí (bồ tát)
Mahàsthàma, Mahàsthàmapràpta (S). A Bodhisattva representing the Buddha-wisdom of Amitàbha; he is on Amitàbha's right.
đại thế chí bồ tát
871大勢至,梵名 Mahā-sthāma-prāpta,音譯摩訶娑太摩鉢羅鉢跢。意譯作「得大勢」、「大精進」。略稱勢志菩薩、勢至菩薩。此菩薩以智慧光普照一切,令眾生離三塗,得無上力;又彼行時,十方世界一切地皆震動,故稱大勢至。與觀世音菩薩同為西方極樂世界阿彌陀佛之脅侍,世稱西方三聖。首楞嚴經卷五念佛圓通章謂,大勢至菩薩於因地時,以念佛心入無生忍,故今攝此娑婆世界之念佛眾生,歸入淨土。又依悲華經卷三載,當阿彌陀佛入滅後,由觀世音菩薩補其位;觀世音入滅後,則由大勢至補處成佛,掌握化權,號善住珍寶山王如來。 關於其形像,據觀無量壽經載,其天冠中有五百寶花,一一寶花又有五百寶臺,每一寶臺皆現十方諸佛之淨妙國土相;頂上之肉髻如鉢頭摩花,肉髻中安置一寶瓶;其餘身相則與觀世音菩薩大同小異。又據阿唎多羅陀羅尼阿嚕力品載,二菩薩俱呈純金色白燄光,右手執白拂,左手執蓮花,大勢至之身形較觀世音小。於密教現圖胎藏界曼荼羅中,位於觀音院內列上方第二位,全身肉色,左手持開合蓮花,右手屈中間三指,置於胸前,坐於赤蓮花上。密號持輪金剛,三昧耶形為未開敷之蓮花。〔大阿彌陀經卷上、悲華經卷二、法華經玄贊卷二、陀羅尼雜集卷一、大日經疏卷十三〕(參閱「觀世音菩薩」6953)
; Possessed of Great Power, Mahāsthāmaprāpta (S), Mahāsthāma (S).
; Vị Bồ Tát mà trí lực có thể đến khắp các nơi, ngài tiêu biểu cho trí huệ Phật, vị đứng bên phải Phật A Di Đà, tiêu biểu cho trí tuệ; trong khi Bồ Tát Quán Âm thì bên trái. Ngài được coi là vị Bồ Tát trông nom cửa trí huệ của Đức Phật—Mahasthama-prapta Bodhisattva—He whose wisdom and power reach everywhere, a bodhisattva representing the Buddha-wisdom of Amitabha; he is Amitabha's right, with Avalokitesvara on the left. He is considered as the guardian of Buddha-wisdom—See Đắc Đại Thế in Vietnamese-English Section, and Mahasthama in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (大勢至菩薩) Đại thế chí, Phạm: Mahà-sthàmapràpta. Dịch âm: Ma ha sa thái ma bát la bát đá. Dịch ý: Đắc đại thế, Đại tinh tiến. Gọi tắt: Thế chí bồ tát. Vị Bồ tát này dùng ánh sáng trí tuệ chiếu khắp tất cả, khiến chúng sinh lìa ba đường ác, được sức tự tại. Lúc Ngài đi thì mười phương thế giới đều rúng động, nên gọi là Đại thế chí. Bồ tát này và bồ tát Quan âm đứng hầu hai bên đức Phật A di đà trong thế giới Cực lạc. Thường được gọi là Tây phương tam Thánh. Theo chương Niệm Phật viên thông trong kinh Thủ lăng nghiêm quyển 5 nói, thì khi còn ở Nhân địa tu hành, bồ tát Đại thế chí đã do tâm niệm Phật mà vào Vô sinh nhẫn, cho nên nay tiếp dẫn chúng sinh niệm Phật ở thế giới Sa bà về Tịnh độ. Lại theo kinh Bi hoa quyển 3 chép, sau khi đức Phật A di đà nhập diệt, thì bồ tát Quan thế âm thay Ngài, sau khi Quan thế âm tịch diệt, thì bồ tát Đại thế chí bổ xứ thành Phật, hiệu là Thiện trụ trân bảo sơn vương Như lai, tiếp tục giáo hóa chúng sinh. Cứ theo kinh Quán vô lượng thọ thì trong chiếc mũ trời Ngài đội có 500 hoa báu, mỗi một hoa báu lại có 500 đài báu, mỗi một đài báu đều hiện quốc độ tịnh diệu của chư Phật trong mười phương; nhục kế như hoa Bát đầu ma, giữa nhục kế đặt một cái bình báu. Ngoài ra, thân tướng của Ngài đại để cũng giống với hình tượng của bồ tát Quan thế âm. Còn theo phẩm A lị đa la đà la ni a rô lực, thì hai vị Bồ tát này đều mầu vàng ròng, phóng hào quang trắng, tay phải cầm cây bạch phất, tay trái cầm hoa sen, thân hình ngài Đại thế chí nhỏ hơn bồ tát Quan thế âm. Trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, bồ tát Đại thế chí được đặt ở vị trí thứ 2 phía trên trong viện Quan âm, toàn thân mầu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, tay trái cầm hoa sen mới nở, tay phải co ba ngón giữa, đặt ở trước ngực, mật hiệu là Trì luân kim cương, hình tam muội da là hoa sen chưa nở. [X. kinh Đại a di đà Q.thượng, kinh Bi hoa Q.2; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2; Đà la ni tạp tập Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.13]. (xt. Quán Thế Âm Bồ Tát).
đại thế cái
Mahā-sthaprāpta (S).
đại thế phật
871如來之德號。佛有大勢力,能斷眾生之煩惱,故稱大勢佛。法華經方便品(大九‧九中):「以貪愛自蔽,盲瞑無所見,不求大勢佛,及與斷苦法。」
; (大勢佛) Đức hiệu của Như lai. Phật có thế lực lớn, hay dứt hết phiền não của chúng sinh, cho nên gọi là Đại thế Phật. Phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 9 trung), nói: Vì tham ái tự che, mờ tối không thấy gì, chẳng cầu Đại thế Phật, ban cho phép dứt khổ.
đại thệ
Saṃnahasaṃnaddha (S), Great vows Tứ hoằng thệ của Bồ tát.
đại thọ
Hiệu của Thiền tăng Hoằng Chứng đời Minh. X. Hoằng Chứng.
; 1) Great tree. 2) Theo tông Thiên Thai, Bồ Tát được xem như đại thọ: According to the T'ien-T'ai school, Bodhisattva is considered as a great tree.
đại thọ dụng
Vận dụng thiền pháp và hưởng thọ thiền duyệt tự tại vô ngại. Chương »Khai thị Duy-na Tín« trong DTNL q. 3 ghi: »僧 問 歸 宗: 如 何 是 佛? 歸 宗 云: 向 你 道、 你 還 信 否? 僧 云: 和 尚 重 言、 焉 敢 不 信? 歸 宗 云: 卽 你 便 是。 僧 云: 如 何 保 任? 歸 宗 云: 一 翳 在 目、 空 花 亂 墮。 者 僧 可 謂 具 大 信 力、 纔 聞 擧 著、 便 乃 直 下 承 當、 得 大 受 用 去 也。 – [i]Có vị tăng hỏi ngài Quy Tông: Thế nào là Phật? Quy Tông bảo: Ta nói với ngươi, ngươi có tin không? Tăng thưa: Lời Hoà thượng quan trọng, con đâu dám không tin? Quy Tông bảo: Ngay nơi ngươi chính là Phật. Tăng thưa: Làm sao bảo nhậm? Quy Tông nói: Một khi mắt bị nhặm sẽ thấy hoa đốm rơi loạn trong hư không. Có thể bảo vị tăng này có niềm tin rất mạnh, vừa nghe nêu lên liền lập tức thừa đương, được đại thọ dụng vậy[/i]«.
đại thọ khẩn na la vương
Druma Kimnara Rāja (S)Tên một vị thiên.
; The King of the mahadruma Kinnaras—Indra's musicians, who live on Gandha-madana.
đại thọ khẩn na la vương sở vấn kinh
Kinh được Ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hoa ngữ—The sutra on the King of the Mahadruma Kinnaras, translated into Chinese by Kumarajiva.
Đại Thọ Tự
(大樹寺, Daiju-ji): ngôi tự viện của Tịnh Độ Tông, sơn hiệu là Thành Đạo Sơn (成道山); tên chính thức là Thành Đạo Sơn Tùng An Viện Đại Thọ Tự (成道山松安院大樹寺); hiện tọa lạc tại số 5-1 Hiromoto (廣元), Kamoda-chō (鴨田町), Okazaki-shi (岡崎市), Aichi-ken (愛知縣). Tượng thờ chính là Thiên Quang Thiên Thể A Di Đà Như Lai (千光千体阿彌陀如來) và Như Ý Luân Quan Thế Âm Bồ Tát (如意輪觀世音菩薩). Đây là ngôi chùa cầu nguyện cho dòng họ Đức Xuyên (德川, Tokugawa, tức Tùng Bình [松平, Matsudaira]), cho nên bài vị cũng như mộ của lịch đại chư vị Tướng Quân đều an trí tại đây. Vào năm 1475 (Văn Minh [文明] 7), chùa được kiến lập để cúng dường cầu nguyện siêu độ cho Võ Tướng Tùng Bình Thân Trung (松平親忠, Matsudaira Chikatada) vị chết trong chiến trận, và Hòa Thượng Thế Dự Ngu Để (勢譽愚底) được cung thỉnh đến làm Tổ khai sơn. Đến năm 1560 (Vĩnh Lộc [永祿] 3), trong trận chiến Dũng Hiệp Gian (桶狹間, Okehazama), quân Kim Xuyên (今川, Imagawa) bị bại trận, Tùng Bình Nguyên Khang (松平元康, tức Đức Xuyên Gia Khang [德川家康, Tokugawa Ieyasu]) chạy vào đây trốn nạn, rồi định tự vẫn trước mộ phần của tổ tiên; nhưng nhờ vị trú trì đương thời là Đăng Dự (登譽) khuyên răn, nên ông từ bỏ ý định đó. Năm 1602 (Khánh Trường [慶長] 7), nơi đây chính thức trở thành chùa sắc nguyện của hoàng tộc. Chùa hiện còn lưu giữ khá nhiều bảo vật quý giá như Tháp Đa Bảo, bức bích họa ở Đại Phương Trượng, tượng A Di Đà Như Lai bằng gỗ, v.v.
đại thống
852請參閱 摩訶僧祇律 魏晉時期之僧官職稱。據隋書百官志第二十二載,北魏、北齊時曾於昭玄寺置大統一人、統一人、都維那三人,以統理眾僧尼。或謂其時並無實設大統、統等官職。然據續高僧傳卷二十四道臻傳、佛祖統紀卷三十八等所載,西魏文帝大統元年(535),曾以大中興寺之道臻任魏國沙門大統。另據續高僧傳卷八法上傳載,北齊文宣帝天保年中(550~559)新置「十統」,十統之首,稱為大統,以法上任之,其餘九人稱為通統。
; Vị Tăng cai quản Tăng Ni cả nước, được thành lập dưới thời Hoàng Đế nhà Tùy—The head of the order, an official instituted by Wen-Ti of the Sui dynasty.
; (大統) Một chức quan Tăng ở thời Ngụy, Tấn. Cứ theo Tùy thư bách quan chí quyển 22 chép, thì vào thời Bắc Ngụy, Bắc Tề, nha Chiêu huyền có đặt ra ba chức: Đại thống, Thống và Đô duy na để lãnh đạo toàn thể tăng ni. Cứ theo truyện Đạo trăn trong Tục cao tăng truyện quyển 24 và Phật tổ thống kỉ quyển 38 chép, thì niên hiệu Đại thống năm đầu (535) đời Văn đế nhà Tây Ngụy, ngài Đạo trăn ở chùa Đại trung hưng từng được tôn làm Sa môn đại thống nước Ngụy. Còn theo truyện Pháp thượng trong Tục cao tăng truyện quyển 8 ghi, thì trong năm Thiên bảo (550 - 559) đời Văn tuyên đế nhà Bắc Tề, triều đình đặt ra Thập thống, người đứng đầu Thập thống gọi là Đại thống do ngài Pháp thượng đảm nhiệm, chín người còn lại thì gọi là Thông thống.
đại thời
Xem đại kỳ kiếp.
đại thụ
See Đại Thọ.
đại thụ khẩn na la vương
885梵名 Druma-kiṃnara-rāja。為音樂天之天子,四緊那羅王之一。居於喜馬拉雅山馬納沙湖(梵 Mānasa)北岸之香醉山(香山)。據大樹緊那羅王所問經載,此王曾率領無數之緊那羅眾、乾闥婆眾、天眾、摩睺羅伽眾等,下山詣佛所,並於佛前彈琉璃琴。彼時,佛前大眾,除不退轉之菩薩外,餘者皆聽聞琴音而不能自制,悉如小兒之舉身舞動。其後,佛為王說法,並為之記莂。〔法華經序品、大寶積經菩薩見實會卷十一〕(參閱「緊那羅」5895)
; (大樹緊那羅王) Phạm: Druma-kiônara-ràja. Một trong bốn Khẩn na la vương, ở núi Hương túy (Hương sơn) phía bắc hồ Mànasa, núi Himàlaya. Cứ theo kinh Đại thụ khẩn na la vương sở vấn chép, thì vua Khẩn na la từng dẫn đầu các Khẩn na la, Càn thát bà, các trời, Ma hầu la già v.v... xuống núi, đi đến chỗ đức Phật, rồi gảy đàn lưu li trước đức Phật. Sau đó, đức Phật nói pháp và thụ kí cho họ. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa; kinh Đại bảo tích Q.11 hội Bồ tát kiến thực]. (xt. Khẩn Na La).
đại thụ khẩn na la vương sở vấn kinh
885凡四卷。後秦鳩摩羅什譯。又作大樹緊那羅王經、大樹緊那羅經、說不可思議品、緊那羅王經。今收於大正藏第十五冊。本經敘述王舍城耆闍崛山大眾集會席上,天冠菩薩就諸佛菩薩之種種法門,提出二十八問請問佛陀,佛陀以四法答之。其時大樹緊那羅王自香山中率諸眷屬來詣佛所,自調琴瑟,出微妙音聲,說法席上之大眾,除不退轉之菩薩外,餘如大迦葉等皆悉起舞,無法自制。此段敘述,旨在說明雖了見四聖諦、證得八解脫之聖者,亦須起無上正真道心,方能達於泰然不動之不退轉境地。其下又記載緊那羅王提出「寶住三昧」之問題,佛遂以「八十種法」答之。其後,佛應王之請,與諸佛菩薩共往香山,接受七夜之供養,其間並為大眾解說布施、持戒、忍辱等三十二法,及助長菩提、女身轉男身等法。其終,佛並為緊那羅王記莂,謂其未來當為功德王光明如來。本經於佛教史上之地位甚為重要,係以般若空之思想,說明大乘菩薩之修行。〔歷代三寶紀卷八、大唐內典錄卷三、譯經圖紀卷三、開元釋教錄卷四、貞元新定釋教目錄卷六〕
; (大樹緊那羅王所問經) Gồm 4 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần. Cũng gọi Đại thụ khẩn na la vương kinh, Đại thụ khẩn na la kinh, Thuyết bất khả tư nghị phẩm, Khẩn na la vương kinh, thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này tường thuật việc đại chúng tập họp ở núi Kì xà quật gần thành Vương xá, nghe đức Phật dùng bốn pháp trả lời 28 câu hỏi của bồ tát Thiên quan về các pháp môn của chư Phật, Bồ tát. Lúc ấy, Đại thụ khẩn na la vương từ núi Hương sơn hướng dẫn các quyến thuộc đến chỗ Phật, gảy đàn cầm, đàn sắt, phát ra âm thanh vi diệu, khiến đại chúng trong pháp hội, ngoại trừ bồ tát Bất thoái chuyển, còn lại như các ngài Đại ca diếp v.v... thảy đều nhảy múa, không tự ngăn được. Đoạn kinh trên đây cho thấy, tuy các bậc Thánh đã thấy rõ Tứ đế, chứng được Bát giải thoát, nhưng còn cần phải khởi đạo tâm chân chính vô thượng thì mới có thể đạt đến cảnh giới bất thoái, an nhiên tự tại được. Đoạn sau kinh ghi chép việc đức Phật dùng Tám mươi thứ pháp để trả lời câu hỏi Tam muội bảo trụ của vua Khẩn na la. Kế đó, nhận lời thỉnh cầu của vua, Phật cùng các Bồ tát đến núi Hương sơn nhận sự cúng dường liên tiếp trong bảy đêm, trong thời gian này, Phật nói cho đại chúng nghe về 32 pháp như bố thí, giữ giới, nhẫn nhục v.v... và các pháp giúp cho bồ đề tăng trưởng, chuyển thân nữ thành nam. Sau cùng, Phật thụ kí cho vua Khẩn na la, đời sau sẽ là Công đức vương quang minh Như lai. Về phương diện lịch sử của Phật giáo, kinh này có một địa vị rất trọng yếu, vì đã dùng tư tưởng Không của Bát nhã để nói rõ sự tu hành của Bồ tát. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Đại đường nội điển lục Q.3; Dịch kinh đồ kỉ Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.6].
đại thụ khổ
1545指菩薩為除眾生之苦,起大悲心而代眾生受惡趣之苦報。又作大悲代受苦、大悲代苦、大悲受苦、代苦。瑜伽師地論卷四十九(大三○‧五六五上):「為除一切有情苦故,一切有情諸惡趣業,以淨意樂,悉願自身代彼領受苦異熟果。」對此,日本天台宗乃設立種種「大悲代受苦」之論題,其中有主張菩薩於表面上代眾生受苦,但於其內心則不致受苦。亦有認為,菩薩由於業道之因緣(自作自受),不得代受苦;但自感應於眾生而言,不僅外形,甚至內心亦要受苦,然因大悲而代眾生受苦,反而可滿足其悲願而得到喜悅。日本真言宗古義派則認為,菩薩之代受苦實受到與眾生相同之苦。〔大智度論卷四十九、華嚴經行願品疏鈔卷五、台宗二百題卷六〕
; (代受苦) Chịu khổ thay. Cũng gọi Đại bi đại thụ khổ, Đại bi đại khổ, Đại bi thụ khổ, Đại khổ. Vì thương xót chúng sinh Bồ tát khởi tâm từ bi phát nguyện thay thế chúng sinh chịu quả báo khổ não trong đường ác. Luận Du già sư địa quyển 49 (Đại 30, 565 thượng), nói: Bồ tát đem tâm thanh tịnh ý lạc, phát nguyện trừ tất cả khổ đau và nghiệp ác thú cho hữu tình, thay thế chúng sinh chịu quả khổ dị thục. Đối với ý này, tông Thiên thai Nhật bản đã đặt ra nhiều luận đề Đại bi đại thụ khổ, trong đó, có thuyết cho rằng, bề ngoài tuy Bồ tát chịu khổ thay cho chúng sinh, nhưng trong tâm các Ngài không thấy khổ.Cũng có thuyết chủ trương, do nhân duyên của nghiệp đạo (mình làm mình chịu), Bồ tát không thể chịu khổ thay cho chúng sinh, nhưng vì lòng đại bi, Bồ tát vẫn hoan hỉ chịu khổ thay cho chúng sinh bằng sự cảm ứng, nhờ thế mà bi nguyện được viên mãn. Phái Cổ nghĩa thuộc tông Chân ngôn của Nhật bản thì cho rằng, khi chịu khổ thay cho chúng sinh, thì Bồ tát cũng khổ giống hệt như chúng sinh. [X. luận Đại trí độ Q.49; Hoa nghiêm kinh Hành nguyện phẩm sớ sao Q.5; Thai tông nhị bách đề Q.6].
đại thủ tông sư
Thiền sư có thủ đoạn cao siêu để tiếp dẫn người học. [i]Bích Nham lục[/i] q. 1 ghi: »此 是 大 手 宗 師。 不 與 爾 論 玄 論 妙。 論 機 論 境。 一 向 以 本 分 事 接 人。 – [i]Đây là thiền sư có thủ đoạn cao siêu, chẳng bàn luận huyền diệu, nói cơ nói cảnh với ngươi, xưa nay chỉ đem việc bản phận để tiếp dẫn người[/i]«.
Đại thủ ấn
大手印; S: mahāmudrā;|Một trong những giáo pháp tối thượng của Kim cương thừa (s: vajrayāna), được truyền dạy trong tông phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa) của Tây Tạng. Trong tiếng Tây Tạng, Ðại thủ ấn được hiểu là tâm ấn của sự chứng ngộ được tính Không (s: śūnyatā), của việc giải thoát khỏi Luân hồi (s: saṃsāra) và sự thông hiểu rằng, hai mặt đó không hề rời nhau.|Giáo pháp này xem Bản sơ Phật Phổ Hiền (s: sa-mantabhadra) – hiện thân của Pháp thân (s: dhar-makāya; Ba thân) – là người đã truyền Ðại thủ ấn cho vị Ma-ha Tất-đạt (mahāsiddha) Tai-lô-pa (s: tilopa). Tai-lô-pa tiếp tục truyền cho Na-rô-pa (t: nāropa). Mã-nhĩ-ba (t: marpa) được chân truyền giáo pháp này và mang về Tây Tạng chỉ dạy cho Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa). Phép tu Ðại thủ ấn bắt đầu bằng tu Chỉ (s: śamatha) và lấy đó làm căn bản để biến chuyển mọi kinh nghiệm thành sự trực ngộ tính Không. Có người xem Ðại thủ ấn như »Thiền« Tây Tạng. Ngoài phép tu thông thường, người ta còn lưu truyền phép tu »đặc biệt« của Na-rô-pa với tên Na-rô lục pháp (Sáu giáo pháp của Na-rô-pa; t: nāro chodrug).|Truyền thống Tây Tạng xem xét phép Ðại thủ ấn dưới ba khía cạnh: kiến (s: darśana), tu (s: bhā-vanā) và hành (s: caryā).|1. Kiến được định nghĩa là tri kiến nhận ra rằng thể tính đích thật của tâm là sự thống nhất giữa Không và Ánh sáng. Mỗi hiện tượng đều mang dấu ấn đặc biệt này.|2. Mục đích quan trọng nhất của tu tập thiền định là trực nhận thể tính của tâm thức, một sự trực nhận rất tự nhiên không cần sự cố gắng nào. Có hai cách để chuẩn bị phép thiền đó: a) bốn phép tu quán chiếu sự quý báu khi có được thân người, luật vô thường, Nghiệp báo và tính bất toàn của luân hồi; b) bốn phép tu đặc biệt gồm những Nghi quỹ (s: sādhana) với những phương pháp thanh lọc Thân, khẩu, ý. |3. Hành là hành động, ứng dụng sau khi đã kinh nghiệm trực tiếp Ðại thủ ấn, dẫn đến một tâm thức tự tại, siêu việt các quy ước thông thường, dẫn đến các tác phong kì lạ của các bậc »Cuồng thánh.«|Cát-mã-ba Lãng-tuấn Ða-kiệt (t: rangjung dorje; 1284-1339) viết như sau về Ðại thủ ấn: |»Ðiều gì phải thanh lọc: là tâm, tự tâm là tính Không, là Ánh sáng; Ai thanh lọc: đó là phép tu kim cương của Ðại thủ ấn; Cái gì được lọc bỏ: Vô minh hiện tiền đang lừa dối con người.|Mong thay quả vị thanh tịnh, Pháp thân diệu dụng sẽ được thực hiện! Ðó là kiến giải đối trị vô minh, là phép tu đích thật, đó là sự dẫn đến hành động vô thượng. Mong thay tín tâm nơi ba điều đó luôn luôn hiện diện.«
đại thủ ấn
754梵語 mahāmudrā。西藏佛教迦爾居派教法之一。又作摩訶穆德囉、嘛哈穆德囉、馬哈母咱、大象徵等。mahā,大之意;mudrā,印之意。譯名「大印」中加入「手」字者,乃尊重佛典之意。手者,為尊稱佛之手,表示佛之「如所有」與「盡所有」,及二無分別、空樂智慧。印者,亦表示佛之二無分別智,而此智乃最上、最要、最密,猶如印符、印契;謂一切輪迥涅槃之法,無不一一契合於佛之如如妙智,更無一法能逾越此智以外者。大者,簡小而言。一說大手印之梵語為「嘛哈穆德囉烏巴得夏」,「烏巴得夏」意譯為「口訣」,表示其言簡意賅,具涵深理,而便於口誦心記。有關大手印之重要典籍有莊嚴解脫道論、俱生和論。 密宗所稱手印有四,即三昧耶手印、法手印、羯摩手印及大手印。大手印又分三種,即:(一)實住大手印,謂住於實相,與因乘無住中道共,而冠之以大字,稱大中道者,由龍樹傳提婆,提婆傳月稱,遞傳至麥渣巴。不依八不中道觀,而以口傳密訣,得證空智。(二)空樂大手印,即依三昧耶手印、法手印、羯摩手印三者之方便,發生大樂,即於此樂,自證當體即空,故所得為果乘不共之共。(三)光明大手印,屬密乘之無上瑜伽部,必須經過灌頂始可學習。光明大手印又分漸悟與頓證二途,前者為一般能受持大手印者,先令具足四級灌頂,漸次導引之;後者乃為特別之利根,上師以心灌頂,並於定中加被之,俾使彈指即悟。然此二者之上,更有最上之大手印,即無須灌頂等修,但當恭敬禮拜,承事親近上師,由無上恭敬順信之心力,不假外物言詮,即能立時證悟,此即為大手印之最勝義心傳。 大手印與禪宗同講「以心傳心」、「明心見性」、「即身成佛」,然比較其差異,亦有數端:(一)禪宗參悟之後,依師印證;大手印則祈請上師,觀想融入自心而外,一依密咒道以求加持,一依般若道以求開悟。(二)禪宗須參話頭,認識本來面目,貴乎頓悟;大手印則按部就班,見修行果,有次第可循。以進度而言,禪宗為單提向上,迨至豁然開悟,頓見光明;大手印則由專一瑜伽、離戲瑜伽、一味瑜伽、無修瑜伽,始契至道。(三)禪宗直指人心,不假方便,然其公案每多機鋒語,若非上上利根,無法悟入;大手印則有加行、正行、結歸,甚至有七支坐及拳法等修身之善巧方便,故能普攝群機。 此外,顯教亦有大手印之名,乃係以經教證空性,即修法者心專於一境,持之以恆而獲禪定,而後觀察其心之所在,迨至無處可覓時,則悟心非實有,而達「空智解脫合一」之境界。
; Phyachen (T), Mahā-mudrā, phyag-rgyachen-po (T), cha ja chen po (T), phyag-rgyachen-po (T) Great Seal,
; (大手印) Phạm: Mahàmudrà. Cũng gọi Ma ha mục đức la, Ma cáp mục đức la, Mã cáp mẫu cha, Đại tượng trưng v.v... Giáo pháp của phái Ca nhĩ cư trong Phật giáo Tây tạng. Mahàlà đại, mudràlà ấn, giữa Đại ấn thêm vào chữ Thủ hàm ý là tôn trọng kinh điển Phật. Thủ là tay của Phật, biểu thị Như sở hữu, tận sở hữu cùng với Nhị vô phân biệt, không lạc trí tuệ của Phật. Ấn, cũng biểu thị trí Nhị vô phân biệt của Phật, là trí tối thượng, tối yếu, tối mật, giống như ấn phù, ấn khế. Nghĩa là, Đại thủ ấn hàm ý tất cả các pháp Luân hồi, Niết bàn, mỗi mỗi đều khế hợp với trí như như mầu nhiệm của Phật, không một pháp nào có thể vượt ngoài trí này. Đại là phân biệt với tiểu. Có thuyết cho rằng Đại thủ ấn tiếng Phạm là Ma cáp mục đức la ô ba đắc hạ. Ô ba đắc hạ dịch ý là Khẩu quyết, biểu thị cho lời nói ngắn gọn mà ý nghĩa sâu xa, tiện cho việc miệng tụng tâm ghi nhớ. Những kinh sách trọng yếu liên quan đến Đại thủ ấn thì có: Trang nghiêm giải thoát đạo luận, Câu sinh hòa luận. Thủ ấn trong Mật tông có bốn loại: Tam muội da thủ ấn, Pháp thủ ấn, Yết ma thủ ấn và Đại thủ ấn. Đại thủ ấn lại được chia ra làm ba thứ: 1. Thực trụ đại thủ ấn: Trụ ở thực tướng, hợp với Trung đạo vô trụ của nhân thừa, nên đặt chữ đại ở đầu, gọi là Đại trung đạo, từ bồ tát Long thụ truyền cho ngài Đề bà, ngài Đề bà truyền cho ngài Nguyệt xứng, rồi lần lượt truyền đến ngài Mạch tra ba. Pháp này không dựa theo quán Trung đạo bát bất, mà dùng bí quyết truyền khẩu mà chứng được trí không. 2. Không lạc đại thủ ấn: Nương theo ba phương tiện là Tam muội da thủ ấn, Pháp thủ ấn và Yết ma thủ ấn mà phát sinh niềm vui lớn, và ngay đó mà tự chứng đương thể tức không, hợp với quả thừa bất cộng. 3. Quang minh đại thủ ấn: Pháp này thuộc về bộ Du già vô thượng của Mật thừa, cần phải trải qua pháp quán đính mới có thể tu tập. Nó được chia làm hai: Tiệm ngộ và Đốn chứng. Tiệm ngộ là đối với hành giả phổ thông, trước hết phải đầy đủ bốn bậc quán đính rồi dần dần mới dắt dẫn họ thụ trì Đại thủ ấn. Còn Đốn ngộ là đối với những người đặc biệt lợi căn, vị Thượng sư dùng tâm quán đính và ở trong định gia bị cho họ, khiến trong khoảng gảy móng tay liền được ngộ. Nhưng, ngoài hai loại Tiệm và Đốn nói ở trên, còn có loại Đại thủ ấn tối thượng, không cần phải tu các pháp quán đính, mà chỉ nên cung kính lễ bái, thừa sự thân cận bậc Thượng sư nhờ tâm lực cung kính tín thuận tuyệt đối mà có thể chứng ngộ tức khắc: Đây chính là nghĩa tâm truyền tối thắng của Đại thủ ấn. Đại thủ ấn và Thiền đều nhấn mạnh việc Lấy tâm truyền tâm, Minh tâm kiến tính, Tức thân thành Phật, nhưng trong đó cũng có vài điểm sai khác nhau. 1. Thiền tông sau khi tham ngộ phải nhờ thầy ấn chứng; Đại thủ ấn thì cầu thỉnh Thượng sư gia trì bên ngoài mà quán tưởng hòa vào tâm mình. Tức là: Thiền tông nương vào Bát nhã đạo (con đường trí tuệ) để cầu khai ngộ, còn Đại thủ ấn thì nương vào Mật chú đạo (con đường mật chú) để cầu gia trì. 2. Thiền tông cần tham thoại đầu, nhận biết bản lai diện mục, chú trọng việc đốn ngộ; Đại thủ ấn thì tu hành theo thứ lớp. Nói về tiến độ, thì Thiền tông chỉ nêu lên con đường hướng thượng, cho đến khi hoát nhiên khai ngộ, chợt thấy quang minh. Còn Đại thủ ấn thì nương theo Chuyên nhất du già, Li hí du già, Nhất vị du già và Vô tu du già mới khế hợp chí đạo (đạo tột cùng). 3. Thiền tông chỉ thẳng tâm người, không nhờ phương tiện, nhưng công án của Thiền tông phần nhiều là những lời bí hiểm, nếu chẳng phải là bậc lợi căn thượng trí, thì không có cách nào ngộ nhập. Còn Đại thủ ấn thì có nhiều phương tiện khéo léo để tu thân như: Gia hạnh, Chính hạnh, Kết qui cho đến bảy chi tọa và quyền pháp v.v... cho nên có thể phổ cập mọi căn cơ. Ngoài ra, Hiển giáo cũng có danh từ Đại thủ ấn, tức là dùng kinh giáo để chứng tính Không; nghĩa là người tu pháp, tâm chuyên chú ở một cảnh, cứ như thế mãi mà được Thiền định. Sau đó, quán xét chỗ trụ của tâm, cho đến khi không còn chỗ tìm cầu, thì ngộ tâm chẳng thật có mà đạt tới cảnh giới Không trí giải thoát hợp nhất.
đại thủ ấn tất địa
Mahāmudrā-siddhi (S).
Đại thủ ấn tất-địa
大手印悉地; S: mahāmudrāsiddhi;|Thánh quả của phép tu tập Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā), Tất-địa (s: siddhi) cao quý nhất, đồng nghĩa với Kiến tính, ngộ đạo.
đại thủy hỏa tai
Mahàpralaya (S). The final and utter destruction of a universe by (wind), fllood and fire.
; Mahapralaya (skt)—Sự hoại diệt cuối cùng của vũ trụ với gió, nước lụt và lửa—The final and utter destruction of a universe by wind, flood and fire.
đại thứ năm
bốn đại là địa đại (đất, tượng trưng cho chất rắn), thủy đại (nước, tượng trưng cho độ ẩm), hỏa đại (lửa, tượng trưng cho năng lượng), phong đại (gió, tượng trưng cho sự chuyển động). Hư không được thêm vào bốn đại này, gọi là không đại, tức đại thứ năm.
Đại Thừa
(s, p: Mahāyāna, j: Daijō, 大乘): âm dịch là Ma Ha Diễn (摩訶衍), Ma Ha Diễn Na (摩訶衍那), nghĩa là cỗ xe lớn, thường chỉ cho Bồ Tát Thừa (菩薩乘) và Phật Thừa (佛乘), đối với Tiểu Thừa (小乘) là Thanh Văn Thừa (聲聞乘). Đối với Tiểu Thừa thì tu Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇgika-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道) và Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦), trở thành A La Hán (s: arhant, p: arahant, 阿羅漢); còn Bồ Tát Thừa của Đại Thừa thì tu Lục Ba La Mật (六波羅蜜) và nhắm mục đích thành Phật. Hơn nữa, ngay từ ban đầu Bồ Tát Thừa của Đại Thừa đã phát thệ nguyện lợi tha, tự mình khởi tâm tự mình chưa độ mà trước hết vào trong các đường ác để độ người khác.
Đại thừa
xem Ba thừa.
; 大乘; S: mahāyāna; dịch âm Hán Việt là Ma-ha-diễn-na, Ma-ha-diễn, tức là »cỗ xe lớn«; |Một trong hai trường phái lớn của đạo Phật, phái kia là Tiểu thừa, »cỗ xe nhỏ« (s: hīna-yāna). Xuất hiện trong thế kỉ thứ nhất trước Công nguyên, phái này tự nhận là cỗ xe lớn, nhờ dựa trên tính đa dạng của giáo pháp để mở đường cho một số lớn chúng sinh có thể giác ngộ.|Cả hai, Tiểu thừa và Ðại thừa đều bắt nguồn từ Ðức Phật Thích-ca Mâu-ni, nhưng khác nhau nơi sự quan tâm về thực hành giáo pháp. Nếu Tiểu thừa quan tâm đến sự giác ngộ của chính mình thì đại biểu của Ðại thừa mong muốn được giải thoát để cứu độ chúng sinh. Hình tượng tiêu biểu của Ðại thừa là Bồ Tát (s: bodhisattva) mà đặc tính vượt trội là lòng Bi (s, p: karuṇā).|Ðại thừa xuất phát (phần lớn) từ hai nhánh của Tiểu thừa là Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅg-hika) và Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda), lấy từ đó những yếu tố căn bản của giáo pháp mình: từ Ðại chúng bộ, Ðại thừa xem Phật là hoá thân của một thật thể, lấy hình ảnh xả thân của các vị Bồ Tát và quan điểm tính Không (s: śūnya). Từ Nhất thiết hữu bộ, Ðại thừa thừa nhận quan điểm Ba thân (s: trikāya).|Ngược lại với quan điểm nguyên thuỷ, Ðại thừa không quá nhấn mạnh đến đời sống xuất gia, cho rằng Cư sĩ tại gia cũng có thể đạt Niết-bàn với sự tế độ của chư Phật và chư Bồ Tát. Trong quan điểm Ðại thừa, Niết-bàn không phải chỉ là giải thoát khỏi Luân hồi – mà hơn thế nữa, hành giả giác ngộ về Chân tâm và an trụ trong đó. Mỗi chúng sinh đều mang Phật tính (s: buddhatā) và nhận ra điều đó là điều tuyệt đối quan trọng.|Ðại thừa lại được chia ra nhiều bộ phái khác nhau, xuất phát từ Ấn Ðộ và truyền qua Tây Tạng, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam. Tại Ấn Ðộ, Ðại thừa đã chia ra Trung quán tông (s: mādh-yamika) do Long Thụ (s: nāgārjuna) đề xuất và Duy thức tông (s: vijñānavāda, yogācāra) do Vô Trước (s: asaṅga) và Thế Thân (vasubandhu) sáng lập. Song song với Tan-tra (Mật tông) của Ấn Ðộ giáo, đạo Phật cũng sản sinh ra một trường phái là Kim cương thừa (s: vajrayāna), rất thịnh hành tại Tây Tạng. Thuộc về Ðại thừa tại Trung Quốc và Nhật Bản, người ta có thể kể đến Thiền tông, Hoa nghiêm tông, Thiên Thai tông, Tịnh độ tông. Giáo lí căn bản của Ðại thừa được chứa đựng trong những bộ Kinh (s: sūtra) và Luận (s: śāstra) với nhiều luận văn hết sức sâu sắc.
đại thừa
807梵語 mahā-yāna。音譯摩訶衍那、摩訶衍。又作上衍、上乘、勝乘、第一乘。為小乘(梵 hīnayāna)之相反詞。乘(梵 yāna),即交通工具之意,係指能將眾生從煩惱之此岸載至覺悟之彼岸之教法而言。有如次各說: (一)在阿含經,尊稱佛陀之教說為「大乘」。 (二)大乘、小乘之語,係釋尊入滅後一段時期,大乘佛教興起後,由於大、小乘對立而起之名詞。一般而言,係大乘佛教徒對原始佛教與部派佛教之貶稱,若由部派佛教之立場來看,大乘並非佛教。然由思想史之發展而言,小乘乃是大乘思想之基礎。 (三)小乘視釋迦為教主,大乘則提倡三世十方有無數佛。小乘僅否定人我之實在性,大乘且否定法我之實在性。小乘以自己之解脫為主要目標,故為自調自度(調指滅除煩惱;度指證果開悟)的聲聞、緣覺之道。大乘認為涅槃有積極之意義,乃自利、利他,兩面兼顧之菩薩道。 (四)小乘中,有阿含經、四分律、五分律等,以及婆沙論、六足論、發智論、俱舍論、成實論等論。至於大乘,則有般若經、法華經、華嚴經等經,以及中論、攝大乘論等論。大乘教徒雖承認小乘三藏之價值,然以為不如大乘經之殊勝;而小乘教徒則不以大乘經論為佛說。 (五)大乘所以殊勝之理由,菩薩善戒經卷七與大乘阿毘達磨雜集論卷十一皆曾列舉七項,世親之攝大乘論釋卷六亦曾舉出十一種理由。菩薩善戒經所說之「大乘」,要義如下:根據十二部經中之最上者毘佛略(梵 vaipulya,方等)之教法(法大),發菩提心(心大),領解其教法(解大),以清淨心(淨大),具足菩薩之福德與慧德(莊嚴大),經過三大阿僧祇劫之修行(時大),具足相好而得無上菩提(具足大),此即大乘法門之核心要義。 (六)印度之大乘,有中觀、瑜伽二系統以及後期之密教。(1)初期大乘,約一世紀至五世紀,集中闡發「假有性空」之理論,逐步形成由龍樹、提婆創始之中觀學派。(2)中期大乘,約五世紀至六世紀,出現以說如來藏緣起與阿賴耶識緣起為特點,集中闡發「萬法唯識」之各類佛經,從中形成由無著、世親為始祖之瑜伽學派。(3)後期大乘,七世紀以後,佛教義學逐漸衰微,密教起而代之,至十三世紀初在印度絕跡。而由印度本土傳出之大乘佛教,屬北傳佛教。 (七)在我國,根據大乘諸經論所創之多數教派,如三論、涅槃、地論、淨土、禪、攝論、天台、華嚴、法相、真言等為表示自宗之優越,而對大乘經典作種種分類與判斷。例如,真言宗分顯教、密教;華嚴宗及天台宗分權大乘(大乘中之方便教,立「五性各別說」之教)、實大乘(大乘中之真實教,主張一切均可成佛之教)。復有分有相大乘、無相大乘二種;或法相、破相、法性三大乘之說法。 (八)我國及日本現行之佛教,均屬大乘。 (九)緬甸、泰國之佛教屬古來之上座部系統;而西藏、蒙古所行之教,則屬大乘系統。 (十)天台宗將小乘經律論三藏稱為三藏教(藏教)(華嚴宗則稱之為小乘教)。又認為小乘中有「有門」(發智論、六足論等)、「空門」(成實論)、「亦有亦空門」(〖⿰虫昆〗勒論,此論未傳我國)以及「非有非空門」(迦旃延經,此亦未傳至我國)等四門,稱為小乘四門、或小乘四分。 (十一)智顗之金光明玄義,立有理乘(一切存在之本質為真如理性)、隨乘(隨應對象而作用之智慧)、得乘(得證自悟、悟他之果位)等三大乘之說,依次相當於真性、觀照、資成等三軌。〔法華經卷二譬喻品、大寶積經卷二十八大乘十法會、放光般若經卷五歎衍品、金剛仙論卷二、入大乘論卷上、法華文句卷三下、大乘大義章卷下、大乘義章卷一、摩訶止觀卷三下、大乘法苑義林章卷一本〕(參閱「大乘經典」828、「小乘」925、「教相判釋」4602、「〖⿰虫昆〗勒門」5911)
; Daijō (J), Mahāyāna (S), tek pa chen po (T), Great vehicle
; Dụ cho xe lớn chở được nhiều người. Kinh Đại thừa liễu nghĩa phá trừ tất cả chấp trước, cuối cùng chứng được Tam Không (Nhân không, Pháp không, Không không) thẳng đến Đẳng giác, Diệu giác, cũng gọi là Bồ tát thừa.
; Mahayana (skt)—Thượng thừa—Diệu Thừa—Thắng Thừa—The Great Vehicle—Cỗ xe lớn, một trong hai nhánh lớn Phật giáo (Tiểu thừa và Đại thừa). Đại thừa xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ I trước CN, nói là cỗ xe lớn vì tông chỉ của nó là giúp được nhiều người cùng giải thoát. Kỳ thật chủ đích của Đại thừa là cứu độ nhứt thiết chúng sanh. Một trong những điểm tối quan trọng của Phật giáo Đại thừa là nó nhấn mạnh đến giá trị của người tại gia. Nó cho rằng những người thế tục cũng có thể đạt tới đại giác và Niết bàn nếu người ấy chịu cố công tu hành. Những hệ phái Đại thừa chính là Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Thiền và Tịnh Độ…Bắc Tông: Phật Giáo truyền về phương Bắc qua Trung Hoa, Mông Cổ, Đại Hàn, Nhật và Việt Nam. Chúng ta ai cũng phải thừa nhận rằng Đại Thừa đã đóng góp rất nhiều vào tư tưởng và văn hóa Phật Giáo. Nó đã sản sinh ra lý tưởng Bồ Tát Đạo tuyệt vời. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là tấm gương bởi sự nghiệp của chính Ngài để con người noi theo. Mục tiêu sự nghiệp của Ngài là Giác Ngộ và Phật Quả, và con đường của Ngài là Bồ Tát Đạo. Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ ba được triệu tập vào thời Hoàng Đế A Dục ở thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch, đã có ít nhất là mười tám trường phái, mỗi trường phái đều có học thuyết và giới luật riêng. Có hai trường phái chiếm ưu thế trong các cuộc tranh luận tại Đại Hội, một trường phái Luận Giải gọi là Tỳ Bà Sa Luận Bộ, và một trường phái thực hiện Đa Nguyên gọi là Nhứt Thiết Hữu Bộ. Đại Hội quyết định theo lập trường của trường phái Luận Giải và chính quan điểm của trường phái nầy được truyền sang Tích Lan bởi những nhà truyền giáo của Vua A Dục, cầm đầu bởi chính con của vua là Thái Tử Mahendra. Tại đó trường phái nầy được biết là trường phái Nguyên Thủy. Còn những người ủng hộ trường phái Nhứt Thiết Hữu Bộ hầu hết di cư đến Kashmir thuộc miền Tây Bắc xứ Ấn Độ, nơi đây trường phái nầy trở nên nổi tiếng do sự phổ cập viên mãn của Bồ Tát Đạo. Tuy nhiên, tại một Đại Hội Kết Tập khác (Đại Hội lần thứ tư), được tổ chức dưới thời Hoàng Đế Ca Nị Sắc Ca tại thành Ca Thấp Di La vào thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch. Hai trường phái quan trọng nữa xuất hiện, trường phái Phân Biện Thuyết Bộ và trường phái Kinh Lượng Bộ. Hai trường phái nầy bất đồng nhau về tính xác thực của Vi Diệu Pháp. Trường phái Phân Biện Thuyết Bộ cho rằng được chính Đức Phật thuyết giảng, trong khi trường phái Kinh Lượng Bộ thì cho rằng Vi Diệu Pháp không phải do Đức Phật thuyết giảng. Vào lúc nầy, những mô tả của Đại Thừa cho chúng ta biết một số các đại hội đã được triệu tập để biên soạn kinh điển theo truyền thống Đại Thừa. Ở phía bắc và phía nam Ấn Độ, cũng như tại Nalanda trong Ma Kiệt Đà, người ta nghiên cứu và giảng dạy Đại Thừa. Nhiều bản văn Đại Thừa liên quan đến Đức Phật Di Lặc, vị Phật tương lai và nhiều Bồ Tát trên trời. Giáo lý Đại Thừa cũng như giáo lý của các trường phái khác bắt đầu xuất hiện dưới hình thức văn tự khoảng 500 năm sau ngày Đức Phật nhập diệt. Những kinh điển Đại Thừa sớm nhất như kinh Pháp Hoa và Bát Nhã được phổ biến trước thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch. Cốt tũy của quan niệm Đại Thừa là từ bi cho tất cả chúng sanh và phương tiện thiện xảo để hóa độ chúng sanh. Với triết lý thâm sâu và lòng từ bi phổ quát, và xử dụng phương tiện thiện xảo, Phật Giáo Đại Thừa đã nhanh chóng lôi cuốn quần chúng, không những ở Ấn Độ mà còn tại nhiều nơi mới phát triển Phật giáo như ở Trung Á. Khởi thủy của Phật Giáo Đại Thừa có thể tìm thấy ở thời kỳ sơ khởi của Đại Chúng Bộ và thời kỳ sơ khởi của Kinh Điển Đại Thừa. Vào thế kỷ đầu sau Tây Lịch, sự hình thành Đại Thừa Phật Giáo thực sự hoàn tất và tất cả những kinh điển Đại Thừa chủ yếu vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Trên lý thuyết mà nói, Đại Thừa Phật giáo được chia làm hai hệ tư tưởng: Trung Luận và Duy Thức Du Già—Northern or Mahayana—Major Vehicle—The greater vehicle, one of the two great schools of Buddhism (Hinayana and Mahayana). The Mahayana arose in the first century BC. It is called Great Vehicle because its objective is the salvation of all beings. It opens the way of liberation to a great number of people and indeed, expresses the intentionto liberate all beings. One of the most critical in Mahayana is that it stresses the value on laypersons. It emphasizes that laypersons can also attain nirvana if they strive to free themselves from worldly bondages. Major Mahayana sects include Hua-Yen, T'ien T'ai, Zen and the Pure Land. It should be noted that Mahayana spread from India to Tibet, China, Korea and Viet Nam. We must recognize that the Mahayana has contributed a great deal to Buddhist thought and culture. It has produced a wonderful Path of Bodhisattvas. Sakyamuni Buddha set an example by his own career that people could emulate. The goal of this career was Enlightenment and Buddhahood, and the way was the way of the Bodhisattva. The Third Council was held during the reign of Emperor Asoka in the third century B.C., there were already at least eighteen schools, each with its own doctrines and disciplinary rules. Among them, two schools dominated the deliberations at the Third Council, an analytical school called Vibhajyavadins, and a school of realistic pluralism known as the Sarvastivadins. The Council decided in favor of the analytical school and it was the views of this school that were carried to Sri Lanka by Asoka's missionaries, led by his son Mahendra. There it became known as the Theravada. The adherents of the Sarvastivada mostly migrated to Kashmir in the north west of India where the school became known for its popularization of the path of the perfections of the Bodhisattva. However, another Council (the Fourth Council) was held during the reign of King Kanishka in the first century A.D. in Kashmir; two more important schools emerged, the Vaibhashikas and the Sautrantikas. These two differed on the authenticity of the Abhidharma; the Vaibhashikas holding that the Abhidharma was taught by the Buddha, while the Sautrantikas held that it was not. By this time, Mahayana accounts tell us, a number of assemblies had been convened in order to compile the scriptures of the Mahayana tradition, which were already reputed to be vast in number. In the north and south west of India as well as Nalanda in Magadha, the Mahayana was studied and taught. Many of the important texts of the Mahayana were believed to have been related by Maitreya, the future Buddha and other celestial Bodhisattvas. The written texts of Mahayana as well as those of other schools began to appear about 500 years after the Buddha's Nirvana. The earliest Mahayana sutras such as the Lotus Sutra and the Sutra of the Perfection of Wisdom are usually dated before the first century A.D. The essence of the Mahayana Buddhism is the conception of compassion for all living beings. The Mahayana, with its profound philosophy, its universal compassion and its abundant use of skillful means, rapidly began to attract the majority of people, not only in India, but in the newly Buddhist lands of central Asia. The origin of Mahayana may be traced to an earlier school known as Mahasanghika and earlier literary sources known as Mahayana Sutras. By the first century A.D., the formation of the Mahayana Budhism was virtually complete, and most of the major Mahayana sutras were in existence. Theoretically speaking, Mahayana Buddhism is divided into two systems of thought: the Madhyamika and the Yogacara.
; (大乘) Phạm: Mahà-yàna, dịch âm: Ma ha diễn na, Ma ha diễn. Cũng gọi Thượng diễn, Thượng thừa, Thắng thừa, Đệ nhất thừa. Đối lại với Tiểu thừa (Hìnayàna). Thừa (yàna), là công cụ vận chuyển như xe cộ, thuyền bè v.v... ví dụ giáo pháp của đức Phật có khả năng chuyên chở chúng sinh từ bờ phiền não đến bờ giải thoát. Về danh từ Đại thừa, có các thuyết như sau: 1. Kinh A hàm tôn xưng giáo pháp của Phật là Đại thừa. 2. Danh từ Đại thừa chỉ xuất hiện sau thời kì đức Phật nhập diệt, và khi Phật giáo Đại thừa nổi lên, mới có các từ Đại thừa, Tiểu thừa đối lập nhau. Đứng về phương diện phát triển của tư tưởng sử mà nhận xét, thì Tiểu thừa là nền tảng của tư tưởng Đại thừa. 3. Tiểu thừa lấy đức Phật Thích ca làm giáo chủ, Đại thừa thì ngoài Phật Thích ca, còn tôn thờ vô số Phật trong mười phương ba đời. 4. Trong Tiểu thừa có kinh A hàm, luật Tứ phần, luật Ngũ phần và các luận Bà sa, Lục túc, Phát trí, Câu xá, Thành thực v.v... Đến Đại thừa thì có các kinh Bát nhã, Pháp hoa, Hoa nghiêm v.v... và các luận Trung quán, Nhiếp Đại thừa v.v... 5. Ở Ấn độ, Đại thừa có hai hệ thống lớn là Trung quán do các ngài Long thụ, Đề bà thành lập; và Du già do các ngài Vô trước, Thế thân khai sáng. 6. Phật giáo truyền đến Trung quốc là Phật giáo Đại thừa và phát triển thành nhiều tông phái như: Tam luận, Niết bàn, Địa luận, Tịnh độ, Thiền, Thiên thai, Hoa nghiêm, Pháp tướng, Chân ngôn v.v... khiến tư tưởng Đại thừa nở rộ như một đóa hoa mầu sắc rất rực rỡ. (xt. Đại Thừa Phật Giáo, Tiểu Thừa).
đại thừa a tì đạt ma tạp tập luận
818梵名 Mahāyānābhidharma-samuccaya-vyākhyā。凡十六卷。安慧菩薩雜糅,唐玄奘譯。收於大正藏第三十一冊。又稱阿毘達磨雜集論、雜集論、對法論。乃隨文注釋無著菩薩之大乘阿毘達磨集論而成。本書原係無著弟子覺師子所作,安慧加以合糅集論而成,為法相宗所依用重要論典之一,乃瑜伽十支論之一。其注釋書較重要者有大乘阿毘達磨雜集論述記十卷(窺基)、述記貫練編二十八卷(信培)。〔成唯識論了義燈卷一、大唐內典錄卷九、開元釋教錄卷八、貞元新定釋教目錄卷十一〕
; (大乘阿毗達磨雜集論) Phạm: Mahàyànàbhidharmasamuccaya-vyàkhyà. Gồm 16 quyển, là sách chú thích bộ Đại thừa a tì đạt ma tập luận của bồ tát Vô trước do ngài Sư tử giác soạn, ngài An tuệ xen thêm Tập luận mà thành, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 31. Đây là một trong 10 chi luận Du già, cũng là một trong những sách y cứ quan trọng của tông Pháp tướng. Về sách chú thích của bộ Tập luận thì có: Đại thừa a tì đạt ma tạp tập luận thuật kí 10 quyển của ngài Khuy cơ soạn, Thuật kí quán luyện biên 28 quyển do ngài Tín bồi soạn. [X. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.1; Đại đường nội điển lục Q.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.11].
đại thừa a tì đạt ma tập luận
818請參閱 阿毘達磨大乘經 梵名 Mahāyānābhidharma-samuccaya。凡七卷。無著菩薩造,唐玄奘譯。略稱集論。乃集解大乘阿毘達磨諸要項而成。今收於大正藏第三十一冊。內容分為本事分與決擇分,前者有三法、攝、相應、成就等四品,後者有諦、法、得、論議等四品。本事與決擇二分係取自瑜伽師地論中之本地分及攝決擇分。三法品之「廣分別」門中之有色無色,乃至有上無上等義門,與攝品之十一種分別、成就品之三種成就說,皆符合於瑜伽師地論卷十三、卷五十二及顯揚聖教論卷十四所說。本書與顯揚聖教論同為瑜伽師地論之綱目書。又本書係於唐永徽三年(652)三月譯出。本論之注釋書有阿毘達磨雜集論十六卷,與本論均為後之成唯識論等書所引用,故古來亦多為唯識家所重視。〔大唐內典錄卷五、開元釋教錄卷八、貞元新定釋教目錄卷十一〕
; (大乘阿毗達磨集論) Phạm: Mahàyànàbhidharmasammuccaya. Gồm 7 quyển, do ngài Vô trước soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 31. Gọi tắt: Tập luận. Nội dung bộ luận này giải thích những điểm trọng yếu của Đại thừa a tì đạt ma, chia ra làm hai phần. 1. Phần Bản sự có 4 phẩm: Tam pháp, Nhiếp, Tương ứng, Thành tựu. 2. Phần Quyết trạch có 4 phẩm: Đế, Pháp, Đắc, Luận nghị. Hai phần này được lấy ra từ các phần Bản địa và Nhiếp quyết trạch trong luận Du già sư địa. Trong đó các nghĩa hữu sắc, vô sắc cho đến hữu thượng, vô thượng v.v... trong môn Quảng phân biệt của phẩm Tam pháp, cùng với 11 loại phân biệt của phẩm Nhiếp và 3 loại thành tựu thuyết của phẩm Thành tựu, đều phù hợp với những điều nói trong luận Du già sư địa quyển 13, quyển 52 và luận Hiển dương thành giáo quyển 14. Bộ luận này và luận Hiển dương thánh giáo đều là sách đại cương của luận Du già sư địa và là bộ sách quan trọng đối với các nhà Duy thức. Chú thích luận này có luận A tì đạt ma tạp tập 16 quyển, cùng với luận này đều là sách dẫn dụng của luận Thành duy thức. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.11].
đại thừa a tỳ đạt ma tạp luận
Māhāyānā-abhidharma-sangīti (S)Do ngài Vô Trước biên soạn.
đại thừa a tỳ đạt ma tạp tập luận
Mahāyānabhidharma-samuccaya-vyakhya (S), Mahāyānabhidarma-samyutka-sangiti-śāstra (S)Đối Pháp LuậnTên một bộ luận kinh.
đại thừa a tỳ đạt ma tạp tập luận ký
Mahāyānabhidhamasaṃyukta-sangiti-śāstra-sthi-ramati (S)Tên một bộ luận kinh.
đại thừa a tỳ đạt ma tập luận
Mahāyānabhi-dharma-samuccaya (S)Tên một bộ luận kinh.
Đại thừa A-tỳ-đạt-ma tạp tập luận 大乘阿毘達磨雜集論
[ja] ダイジョウアビダツマゾウシュウロン Daijō abidatsuma zōshūron ||| Dasheng apidamo zajilun; (Mahāyānābhidharma-samuccaya-vyākhyā; Exegesis on the Collection of Mahāyāna Abhidharma). Abbr. as Apidamo zaji lun 阿毘達磨雜集論, Duifa lun 對法論 and Zaji lun 雜集論, by Sthiramati 安慧. It is an explication of Asaṅga's 大乘阿毘達磨集論 (T 1605). 16 fasc., trans. in 646 by Xuanzang 玄奘. T 1606.31.694b-774a. This is the only text by Sthiramati translated by Xuanzang. Kuiji wrote a commentary on it. The Tibetan tradition attributes the Zaji lun to Jinaputra. => (c: Dasheng apidamo zajilun; e: Mahāyānābhidharma-samuccaya-vyākhyā; Exegesis on the Collection of Mahāyāna Abhidharma). Viết tắt là: A-tỳ-đạt-ma tạp tập luận ( 阿毘達磨雜集論c: Apidamo zaji lun), Đối pháp luận ( 對法論c: Duifa lun) và Tạp tập luận ( 雜集論c: Zaji lun) của An Huệ ( 安慧s: Sthiramati). Đây là giải thích Đại thừa A-tỳ-đạt-ma tập luận của Vô Trước, gồm 16 tập, Huyền Trang dịch năm 646. Đây là luận giải duy nhất của An Huệ được Huyền Trang dịch. Khuy Cơ có viết chú giải về bản dịch nầy. Truyền thống Tây Tạng quy Tạp tập luận ( 雜集論c: Zaji lun) là của Tối thắng Tử (Jinaputra).
Đại thừa A-tỳ-đạt-ma tập luận 大乘阿毘達磨集論
[ja] ダイジョウアビダツマシュウロン Daijō abidatsumashū ron ||| Dasheng abitama ji lun (Treatise on the Great Vehicle Abhidharma); 7 fasc., T 1605.31.663-694. By Asaṅga 無著; trans. Xuanzang 玄奘 in 652. A text that treats Yogācāra doctrine and is closely related in content to the Yogācārabhūmi-śāstra 瑜伽論. There is a French translation from the Sanskrit by Rahula. => (c: Dasheng abitama ji lun; e: Treatise on the Great Vehicle Abhidharma); 7 quyển. Của Vô Trước ( 無著s: Asaṅga ); Huyền Trang (Xuanzang 玄奘) dịch năm 652. Chuyên luận nghiên cứu giáo lý Du-già hành tông, và có nội dung quan hệ rất mật thiết với Du-già luận. Có bản dịch tiếng Pháp từ tiêng Sanskrit của Rāhula.
Đại thừa bi phân đà lợi kinh 大乘悲分陀利經
[ja] ダイジョウヒブンタリキョウ Daijō hi buntari kyō ||| Dasheng bei fentuoli jing; 8 fasc., trans. unknown. T 158.3.233c-289a. => c: Dasheng bei fentuoli jing; tám quyển, dịch giả vô danh.
Đại thừa biến chiếu quang minh tạng vô tự pháp môn kinh 大乘遍照光明藏無字法門經
[ja] ダイジョウヘンショウコウミョウゾウムジホウモンキョウ Daijō henjō kōmyō zō muji hōmon kyō ||| The Dasheng bianzhao guangming zang wuzi famen jing; Skt. Anakṣarakaraṇḍaka-vairocanagarbha-nāma-mahāyāna-sūtra; Tib. rdo 'phangs pa'i mdo [To.295, P.925]; (Great Vehicle Sūtra of the No-Letter Casket from the Store of Vairocana) (1) 1 fasc. [T 828.17.870-872], Box of No-Letter Sūtra 無字寶篋經, tr. Bodhiruci 菩提流支 during 508-35 CE. (2) 1 fasc. [T 829.19.872-874], Great Vehicle Sutra of the Universally Radiant One's Detachment from Words 大乘離文字普光明藏經, tr. Divākara 地婆訶羅 in 683 AD. (3) 1 fasc. [T 830.17.874-876], Great Vehicle Sutra of the No-Letter Entrance to Dharma from the Store of Vairocana 大乘遍照光明藏無字法門經, abbr. 無字法門經, also 遍照光明藏無字法門經, tr. Divākara 地婆訶羅 during 676-88 AD. For a comparison of Chn. texts and a Jpn. tr. of Tib., see Sakai (1986). (c: Dasheng bianzhao guangming zang wuzi famen jing; Skt. Anakṣarakaraṇḍaka-vairocanagarbha-nāma-mahāyāna-sūtra; Tib. rdo 'phangs pa'i mdo; e: Great Vehicle Sūtra of the No-Letter Casket from the Store of Vairocana). => (1) 1 quyển: Vô tự bảo khiếp kinh (無字寶篋經e: Box of No-Letter Sūtra) , Bồ-đề Lưu-chi(Bodhiruci 菩提流支) dịch từ năm 508 đến 535. (2) 1 quyển: Đại thừa ly văn tự phổ quang minh tàng kinh (大乘離文字普光明藏經e: Great Vehicle Sutra of the Universally Radiant One's Detachment from Words , Địa-bà-a-la (s: Divākara 地婆訶羅) dịch năm 683 . (3) 1 quyển: Đại thừa biến chiếu quang minh tàng vô tự pháp môn kinh (大乘遍照光明藏無字法門經, e: Great Vehicle Sutra of the No-Letter Entrance to Dharma from the Store of Vairocana), viết tắt là Vô tự pháp môn kinh (無字法門經), còn có bản tên Biến chiếu quang minh tàng vô tự pháp môn kinh (遍照光明藏無字法門經), Địa-bà-a-la (s: Divākara 地婆訶羅) dịch năm 676-688 . Để đối chiếu với bản tiếng Hán và tiếng Nhật hoặc tiếng Tây Tạng, xin xem Sakai (1986).
đại thừa bách pháp minh môn luận
815梵名 Mahāyāna-śatadharma-prakāśamukha-śāstra。全一卷。屬印度大乘宗經論部。又稱大乘百法明門論略錄、百法明門論、百法論、略陳名數論。天親菩薩造,唐代玄奘譯。收於大正藏第三十一冊。係摘自瑜伽師地論本地分中之百法名數,為法相宗所依據重要論書之一。全書係就諸法而略分為五位百法,即:(一)心法,有眼識等八種。(二)心所有法,立偏行等六種分位,即:(1)偏行,有作意等五種。(2)別境,為有欲等五種。(3)善,有信等十一種。(4)煩惱,有貪等六種。(5)隨煩惱,有忿等二十種。(6)不定,有睡眠等四種。(三)色法,有眼等十一種。(四)心不相應行法,有得等二十四種。(五)無為法,有虛空無為等六種。本論有(大三一‧八五五中)「如世尊言,一切法 L我」之語,乃說明一切法即五位百法,次列舉補特伽羅無我及法無我,而闡述一切法無我之理,以為本論之主要旨趣。蓋俱舍立「七十五法」之說,而僅論及補特伽羅無我之理,是猶妄計心外有實法;唯識則闡明百法皆不離識、實我本空,故一一之法亦非實法,是為唯識證理之門。有關本書之著者,至元法寶勘同錄卷九,謂係提婆菩薩,西藏譯本則舉出護法(藏 Dpal-ldan-chos-skyoṅ)之名。本書之注疏極多,較重要者有:百法明門論解二卷(窺基)、百法明門論疏二卷(大乘光)、百法明門開宗義記一卷(曇曠)、百法明門論義一卷(德清)、百法明門直解一卷(智旭)等。〔大唐內典錄卷六、東域傳燈目錄卷下、佛家名相通釋(熊十力)〕
; Mahāyāna-satadharmapraka-samukha-śāstra (S). Māhāyānā-sata-dharmavādyādvāra-śāstra (S)Tên một bộ luận kinh do ngài Thế Thân biên soạn.
; (大乘百法明門論) Phạm: Mahàyàna-zatadharmaprakàzamukha-zàstra. Có 1 quyển, do bồ tát Thiên thân tạo, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 31. Cũng gọi Đại thừa bách pháp minh môn luận lược lục, Bách pháp minh môn luận, Bách pháp luận, Lược trần danh số luận. Đây là bộ luận của Phật giáo Đại thừa Ấn độ được trích ra từ Bách pháp danh số trong phần Bản địa của luận Du già sư địa, là một trong những luận thư trọng yếu của tông Pháp tướng. Nội dung luận này lược chia các pháp làm năm nhóm, 100 pháp: 1. Tâm pháp: Có tám loại. 2. Tâm sở hữu pháp: Có sáu loại: a) Biến hành có năm thứ. b) Biệt cảnh có năm thứ. c) Thiện có 11 thứ. d) Phiền não có 6 thứ. e) Tùy phiền não có 20 thứ. f) Bất định có 4 thứ. 3. Sắc pháp: Có 11 thứ. 4. Tâm bất tương ứng hành pháp: Có 24 thứ. 5. Vô vi pháp: Có 6 thứ. Luận này dựa vào câu nói: Tất cả pháp vô ngã của đức Phật để thuyết minh tất cả pháp không ngoài năm nhóm và 100 pháp ghi ở trên, kế đến, nêu Bổ đặc già la vô ngã và pháp vô ngã để hiển bày lí tất cả pháp vô ngã: Đây là chỉ thú của luận này. Bởi vì Câu xá lập thuyết 75 pháp, chỉ mới bàn về lí Bổ đặc già la vô ngã, nhưng còn vọng chấp ngoài tâm có thực pháp. Duy thức thì nói rõ 100 pháp đều không lìa thức, thực ngã vốn không, có pháp đều chẳng phải thực pháp, đây là môn Duy thức chứng lí. Về tác giả của luận này, Chí nguyên pháp bảo khám đồng lục quyển 9 nói do bồ tát Đề bà soạn, nhưng bản dịch Tây tạng thì lại cho là tác phẩm của ngài Hộ pháp (Tạng: Dpal-ldan-chos-skyon). Luận này có rất nhiều chú sớ, nhưng quan trọng hơn cả thì có: Bách pháp minh môn luận giải 2 quyển của ngài Khuy cơ, Bách pháp minh môn sớ 2 quyển của ngài Đạo thừa quang, Bách pháp minh môn khai tông nghĩa kí 1 quyển của ngài Đàm khoáng, Bách pháp minh môn luận nghĩa 1 quyển của ngài Đức thanh, Bách pháp minh môn trực giải 1 quyển của ngài Trí húc. [X. Đại đường nội điển lục Q.6; Đông vực truyền đăng lục Q.hạ; Phật gia danh tướng thông thích (Hùng thập lực)].
Đại thừa bách pháp minh môn luận 大乘百法明門論
[ja] ダイジョウヒャッポウミョウモンロン Daijō hyappō myōmon ron ||| Dasheng baifa mingmen lun; Mahāyāna śatadharmā-prakāśamukha śāstra (Lucid Introduction to the One Hundred Dharmas). 1 fasc., by Vasubandhu; 世親 trans., Xuanzang 玄奘 Hongfa Hall 弘法院in 648. A very brief Yogācāra text that lists the 100 dharmas 百法. T 1614.31.855b-c. => (c: Dasheng baifa mingmen lun;s: Mahāyāna śatadharmā-prakāśamukha śāstra; e: Lucid Introduction to the One Hundred Dharmas). 1 quyển, của Thế Thân, Huyền Trang dịch năm 648 tại Hoằng Pháp viện. Là luận văn rất vắn tắt của Du-già hành tông liệt kê 100 pháp.
đại thừa bản sinh tâm địa quán kinh
814請參閱 四論玄義 凡八卷。唐代般若譯。略稱本生心地觀經、心地觀經。今收於大正藏第三冊。乃釋迦如來於耆闍崛山,為文殊師利、彌勒等諸大菩薩敘述出家住阿蘭若者,如何觀心地、滅妄想,而成佛道。計分序品、報恩品、厭捨品、無垢性品、阿蘭若品、離世間品、厭身品、波羅蜜多品、功德莊嚴品、觀心品、發菩提心品、成佛品、囑累品等十三品。關於本經之傳譯,據卷首御製序載,此經梵本係唐高宗時代之師子國王所獻,逮元和年間,始由般若三藏等八人奉詔譯之,復由諫議大夫孟蘭等四人修飾而成。〔宋高僧傳卷三、至元法寶勘同總錄卷四、閱藏知津卷五、新編諸宗教藏總錄卷一〕
; (大乘本生心地觀經) Gồm 8 quyển, do ngài Bát nhã dịch vào đời Đường. Gọi tắt: Bản sinh tâm địa quán kinh, Tâm địa quán kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 3. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Thích ca Như lai, lúc ở núi Kì xà quật, đã nói cho các vị Đại bồ tát như ngài Văn thù sư lợi, Di lặc v.v... nghe về việc người xuất gia ở nơi A lan nhã phải quán xét tâm địa như thế nào để diệt vọng tưởng mà thành Phật đạo. Kinh này được chia làm 13 phẩm: Phẩm Tựa, phẩm Báo ân, phẩm Yếm xả, phẩm Vô cấu tính, phẩm A lan nhã, phẩm Li thế gian, phẩm Yếm thân, phẩm Ba la mật, phẩm Công đức trang nghiêm, phẩm Quán tâm, phẩm Phát bồ đề tâm, phẩm Thành Phật và phẩm Chúc lụy. Về sự truyền dịch kinh này, theo bài tựa ở đầu quyển do nhà vua soạn, thì nguyên bản tiếng Phạm của kinh đã do vua nước Sư tử (Tích lan) dâng vua Cao tông nhà Đường. Vào khoảng năm Nguyên hòa, nhóm ngài Bát nhã Tam tạng gồm 8 người vâng mệnh vua phiên dịch, rồi do quan Giám nghị đại phu Mạnh lan cùng 4 người nữa nhuận sắc mà thành. [X. Tống cao tăng truyện Q.3; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.4; Duyệt tạng tri tân Q.5; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].
đại thừa bảo yếu nghĩa luận
831請參閱 寶月童子問法經 凡十卷。作者不詳。北宋法護、惟淨等譯。今收於大正藏第三十二冊。係有關大乘教徒實踐法門之經說集。初為歸敬頌,次論人身難得、勝行難成、正法難聞,故勸人發菩提心,信奉正教。此外,並述及大悲、五種行、在家菩薩行、邪行正行、正法攝受、般若波羅蜜、方便、行願、信解等法門。本書乃自七十種經典中,擇要摘錄百數十文而成者。
; (大乘寶要義論) Gồm 10 quyển, không rõ tác giả, do các ngài Pháp hộ, Duy tịnh dịch vào đời Bắc Tống, thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung gồm một trăm vài mươi bài văn trọng yếu được trích từ 70 bộ kinh điển về pháp môn thực tiễn của Phật giáo Đại thừa. Trước hết, là bài tụng Qui kính, kế đến, bàn về thân người khó được, chính pháp khó gặp, thắng hạnh khó thành, cho nên khuyên người phát tâm bồ đề, tín phụng chính giáo. Ngoài ra, còn trình bày về các pháp môn như: Đại bi, năm thứ hạnh, hạnh Bồ tát tại gia, tà hạnh chính hạnh, chính pháp nhiếp thụ, bát nhã ba la mật, phương tiện, hạnh nguyện, tín giải v.v...
đại thừa bắc tông luận
Còn gọi: Bắc Tông Luận. Luận, 1 quyển, không rõ tác giả. Là sách thiền Bắc Tông lưu hành vào đời Đường, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 85. Dưới đầu đề của sách này có 3 chữ nhỏ »Đại thừa Tâm«, toàn văn chỉ có 469 chữ làm theo hình thức kệ tụng, đứng từ lập trường của Bắc Tông để bàn luận về Đại thừa Tâm và thế đối lập giữa sinh tử cùng Niết-bàn. Chẳng hạn như: »Ta còn chẳng khởi tâm Đại thừa, huống là tâm Thanh văn?… Ta còn chẳng khởi tâm Niết-bàn, huống là tâm sinh tử?« Trong ấy chủ trương »Quên tâm«.
; 813全一卷。略稱北宗論。為唐代流行之北宗禪籍。作者不詳。收於大正藏第八十五冊。另有大英博物館所藏敦煌本(史坦因第二五八一號)。本書標題之下有「大乘心」三個小字,內文篇幅極短,全論僅四六九字,係以偈頌之形式,從北宗之立場來論述大乘心及生死與涅槃之對立。例如(大八五‧一二八一下):「我尚不起大乘心,何況聲聞心?(中略)我尚不起涅槃心,何況生死心?」又本書「忘心」之主張,尤受注目。
; (大乘北宗論) Có 1 quyển, gọi tắt: Bắc tông luận, không rõ tác giả, thu vào Đại chính tạng tập 85, là bộ luận thuộc Thiền Bắc tông lưu hành ở đời Đường. Luận này còn có bản Đôn hoàng cất giữ tại Bác vật quán Anh quốc (số hiệu A. Stein 2581). Dưới đề sách này có 3 chữ nhỏ Đại thừa tâm và phần nội dung của thiên luận văn này rất ngắn, chỉ có 469 chữ dưới hình thức những bài kệ tụng, đứng trên lập trường Bắc tông để bàn về tâm Đại thừa và sự đối lập giữa sinh tử với Niết bàn. Chẳng hạn như những câu (Đại 85, 1281 hạ): Tâm Đại thừa ta còn chẳng khởi, huống chi là tâm Thanh văn! (...) Tâm Niết bàn ta còn không khởi, huống chi là tâm sinh tử?. Ngoài ra, chủ trương về vọng tâm trong luận này rất được chú ý.
đại thừa bồ tát tạng chánh pháp kinh
Ta-cheng p'u-sa tsang cheng-fa ching (C)Tên một bộ kinh.
đại thừa bổn hạnh tâm địa quán kinh
Ta-cheng pen-sheng hsin-ti kuan ching (C)Tên một bộ kinh.
đại thừa chưởng trân luận
Māhāyānā-tānaratna-śāstra (S)Do ngài Thanh Biện biên soạn.
Đại thừa chưởng trân luận 大乘掌珍論
[ja] ダイジョウショウチンロン Daijō shōchin ron ||| The Dasheng zhangzhen lun (Karatala-ratna); 2 fascicles, by Qingbian 清辯 (Bhāvaviveka, Bhaviveka); trans. by Xuanzang 玄奘 in 649. T 1578.30.268-279. A Mādhyamika work from the Svātrantika 獨立論證派 branch, that deals with the meaning of the emptiness of all elemental constructs. The first Madhyamaka text translated by Xuanzang. The debates between Madhayamaka and Yogācāra that were in full swing when Xuanzang was at Nālandā, focused on the teachings of Bhāvaviveka (representing Madhyamaka), on the one hand, and Sthiramati 安慧 and Dharmapāla 護法 (representing Yogācāra) on the other hand. More often cited by the abbreviated titles of 掌珍論 and 掌中論. Cf. 2258 => (c: Dasheng zhangzhen lun; s: Karatala-ratna); 2quyển, của Thanh Biện (清辯c: Qingbian;s: Bhāvaviveka; p: Bhaviveka); Huyền Trang dịch năm 649. Một tác phẩm của Trung Quán tông từ Độc lập luận chứng phái獨立論證派, đề cập đến tính không của mọi cấu trúc cơ bản. Là luận giải đầu tiên được Huyền Trang phiên dịch. Sự tranh luận giữa Trung Quán tông và Du-già hành tông hết sức sôi nổi khi Huyền Trang đang học ở Na-lan-đà, tập trung vào học thuyết của Thanh Biện (đại diện cho Trung Quán tông), và bên kia là An Huệ (安慧s: Sthiramati), Hộ Pháp (護法s: Dharmapāla), đại diện cho Du-già hành tông. Nhiều trích dẫn thường được ghi với tên viết tắt là Chưởng trân luận và Chưởng trung luận.
đại thừa chỉ quán pháp môn
812請參閱 大乘止觀法門 凡四卷。略稱大乘止觀。南朝陳代慧思講述。今收於大正藏第四十六冊。本書係闡述大乘止觀之法。以如來藏緣起思想為基礎,以心意識中真妄和合之本識為中心體系,此外又闡論染淨二性之說;此二體系互為表裏,尤以後者富於性惡思想之傾向。 本書共分三科,即略標大綱、廣作分別、歷事指點,另設五番建立,以明要旨。其中,五番建立之內容為:(一)止觀依止,修止觀法門者,須先依止一心,即自性清淨心(又作真如、佛性、如來藏、法界、法性),此清淨心之體狀有三種差別。即:(1)此心為第一義諦之真如心,本來即離一切名相。(2)此心雖離一切分別及境界之相,但與彼之諸相法性不一不異。(3)舉空與不空二種如來藏義,以廣辨真如之義。 (二)止觀境界,以真實性、依他性、分別性為大乘止觀之所觀境。真實性者,即出障真如及佛之淨德;依他性者,即在障之真如與染和合而成之阿黎耶識;分別性者,即六、七二識之妄想分別。三性具染淨兩面功能,故泛通十法界。 (三)止觀體狀,為修習大乘止觀法門之入門步驟。共分二門:(1)就染濁之三性而說,(2)就清淨之三性作釋。二門之中又各分為三性。止觀體狀,在說明由三性入三無性之方法,亦即轉分別性為無相性,轉依他性為無生性,轉真實性為無性性。若入三無性,可止行成就,安住常寂之境,復可由止起觀,於定之中,興起三業大用。 (四)止觀斷得,依三性次第之止觀修習,而得各各層次斷惑證真之成果。 (五)止觀作用,如止行成就,能體證清淨心「理融無二」之實相法性,與一切眾生圓同一相之身。若得觀行成就,即因淨心體顯,使法界無礙之三業大用自然生出,一切染淨之大能便得興起。所謂「歷事指點」,即將日常生活、禮佛、飲食、乃至大小便利等活動,悉納入修行軌跡中,並分止觀二門,勸令奉行。 本書係天台教學及性具思想之濫觴,亦為禪宗思想之先鋒,是國人所著最早之一部綜合性佛學鉅著。註釋書有了然之宗圓記五卷、智旭之釋要四卷、慈山之頌註一卷、清潭之頌講義一卷等。〔天竺別集卷上、佛祖統紀卷二十五、天台宗章疏、大乘止觀法門之研究(聖嚴,現代佛教學術叢刊第五十八冊)〕
; (大乘止觀法門) Gồm 4 quyển. Gọi tắt: Đại thừa chỉ quán, ngài Tuệ tư giảng vào đời Trần thuộc Nam triều, thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung sách này lấy tư tưởng Như lai tạng duyên khởi làm nền tảng, lấy bản thức chân vọng hòa hợp trong tâm ý thức làm nòng cốt để giảng rõ về pháp Chỉ quán của Đại thừa. Ngoài ra cũng bàn về thuyết hai tính Nhiễm và Tịnh, bởi vì thuyết Như lai tạng duyên khởi và thuyết hai tính nhiễm, tịnh rất liên quan mật thiết với nhau, đặc biệt thuyết sau có khuynh hướng theo tư tưởng tính ác. Sách này chia làm ba khoa: Lược tiêu đại cương, Quảng tác phân biệt, Lịch sự chỉ điểm và có Ngũ phiên kiến lập để làm cho ý chỉ chủ yếu được sáng tỏ. Nội dung Ngũ phiên kiến lập: 1. Chỉ quán y chỉ: Người tu pháp môn chỉ quán, trước hết phải nương vào Nhất tâm, tức là tâm tự tính thanh tịnh (cũng gọi là chân như, Phật tính, Như lai tạng, pháp giới, pháp tính). Thể trạng của tâm thanh tịnh này có ba loại sai khác: a) Tâm này là tâm chân như của đệ nhất nghĩa đế, xưa nay vốn xa lìa tất cả danh tướng. b) Tâm này tuy lìa tất cả tướng phân biệt và tướng cảnh giới, nhưng cùng với pháp tính của các tướng ấy là chẳng phải một cũng chẳng khác. c) Nêu ra nghĩa Không như lai tạng và Bất không như lai tạng để biện giải rõ nghĩa của chân như. 2. Chỉ quán cảnh giới: Đại thừa chỉ quán lấy tính chân thực, tính y tha và tính phân biệt làm cảnh sở quán: a) Tính chân thực là đức thanh tịnh của chân như và của Phật. b) Tính y tha là thức A lại da do chân như và nhiễm ô hòa hợp mà thành. c) Tính phân biệt là vọng tưởng phân biệt của thức thứ 6 và thứ 7. Ba tính trên đây có đủ công năng của cả hai mặt nhiễm và tịnh nên trùm khắp 10 pháp giới. 3. Chỉ quán thể trạng: Quá trình tu tập pháp môn Đại thừa Chỉ quán. Gồm có 2 môn: a) Nói về ba tính nhiễm ô. b) Giải thích ba tính thanh tịnh. Trong hai môn này, mỗi môn lại chia làm ba tính. Mục đích của Chỉ quán thể trạng là thuyết minh phương pháp từ ba tính vào ba vô tính, cũng tức là chuyển tính phân biệt thành vô tướng, chuyển tính y tha thành tính vô sinh và chuyển tính chân thực thành tính vô tính. Nếu vào Tam vô tính, thì có thể thành tựu được Chỉ, an trụ nơi cảnh thường vắng lặng, lại có thể từ Chỉ khởi Quán, ở trong định mà khởi đại dụng của ba nghiệp. 4. Chỉ quán đoạn đắc: Nhờ tu tập Chỉ quán theo thứ tự của ba tính mà được thành quả lần lượt đoạn hoặc chứng chân. 5. Chỉ quán tác dụng: Thành tựu được Chỉ thì thể chứng thực tướng pháp tính lí dung vô nhị của tâm thanh tịnh, cùng với thân của tất cả chúng sinh viên đồng nhất tướng. Nếu thành tựu được Quán thì thể của tâm thanh tịnh nhờ đó hiển rõ, khiến cho đại dụng ba nghiệp của pháp giới vô ngại tự nhiên phát sinh, tất cả đại dụng của nhiễm và tịnh liền được hưng khởi. Còn Lịch sự chỉ điểm thì có nghĩa là qui nạp tất cả sinh hoạt hàng ngày như lễ Phật, ăn uống cho đến các việc đại tiểu tiện v.v... vào con đường tu hành mà chia làm hai môn Chỉ, Quán để gắng sức vâng làm. Đây là bộ sách Phật học có tính cách tổng hợp đầu tiên do người Trung quốc trứ tác; nó là giáo học của tông Thiên thai và là uyên nguyên của tư tưởng tính cụ cũng như mở đường cho tư tưởng Thiền tông Trung quốc sau này. Về các sách chú thích thì có: Tông viên kí 5 quyển của ngài Liễu nhiên, Thích yếu 4 quyển của ngài Trí húc, Tụng chú 1 quyển của ngài Từ sơn, Tụng giảng nghĩa 1 quyển của ngài Thanh đàm v.v... [X. Thiên trúc biệt tập Q.thượng; Phật tổ thống kỉ Q.25; Thiên thai tông chương sớ; Đại thừa chỉ quán pháp môn chi nghiên cứu (Thánh nghiêm, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san tập 58)].
Đại thừa cú nghĩa Bồ-tát 大乘句義菩薩
[ja] ダイジョウコウギボサツ Daijō kōgi bosatsu ||| The bodhisattva Mahāyāna-supraviṇṭa, the first interlocutor to appear in the Mahāyāna-saṃgraha 〔攝大乘論 T 1593.31.113b〕. => Vị Bồ-tát thượng thủ đương cơ trong Nhiếp Đại thừa luận (攝大乘論s: Mahāyāna-saṃgraha. [ja] ダイジョウドウショウキョウ Daijō doushou kyō ||| Dasheng tongxing jing; See Tongxing jing 同性經. Xem Đồng tính kinh (同性經c: Tongxing jing).
Đại thừa cú nghĩa 大乘句義
[ja] ダイジョウコウギ daijōkōgi ||| See 大乘句義菩薩. => Xem Đại thừa cú nghĩa Bồ-tát.
đại thừa cơ bản
Mahayana-fundament.
đại thừa cửu bộ
809請參閱 八大曼拏羅經 十二部經中除去因緣、論議、譬喻等三部,其餘九部稱為大乘九部。即:(一)修多羅,意為契經。即經中長行之文,直說法相,隨其義理長短,不以字數為拘。(二)祇夜,意為應頌、重頌、重頌偈。應前長行之文,重宣其義,或二句、四句、六句、八句乃至多句,皆稱重頌。(三)伽陀,意為諷頌,又作孤起頌。不頌長行之文而直說偈句,如金光明經中之空品及楞嚴經中阿難讚佛偈等均屬之。(四)伊帝目多,意為本事,指如來說諸菩薩等因地所行之事等。(五)闍 h伽,意為本生,指佛說諸菩薩等本地受生之事及自說為菩薩時修諸苦行等事。(六)阿浮達磨,意為未曾有,又作希法。如佛出生時,即行七步,足跡之處皆有蓮花,放大光明,遍照十方世界,並自言是度一切眾生生老病死者,地大震動,天雨眾花,樹出音聲,作天伎樂,如是等無量希有之事,稱為未曾有。又四眾等,凡有聞所未聞、見所未見者,亦稱未曾有。(七)優陀那,意為自說,指無人發問,如來以他心智,觀察眾生之根機而主動宣說,如楞嚴會上說五十種魔事,不待阿難請問;又如阿彌陀經,無有緣起,自告舍利弗等。(八)毘佛略,意為方廣,指大乘方等經典,其義廣大,猶如虛空,即諸經之理體。(九)和伽羅,意為授記,指如來為諸菩薩、緣覺、聲聞授記作佛,如法華經中,佛予阿逸多授記作佛,號為彌勒。〔北本大般涅槃經卷三、卷五、法華經卷一方便品、巴利文善見律毘婆沙序、長部經註〕(參閱「九部經」145)
; (大乘九部) Chín thể tài kinh Đại thừa trong 12 thể tài kinh. Đó là: 1. Tu đa la: Khế kinh, tức là văn xuôi (trường hàng), nói thẳng pháp tướng, tùy nghĩa lí mà có câu dài, ngắn, số chữ không nhất định. 2. Kì dạ: Ứng tụng, trùng tụng, trùng tụng kệ. Tức là nhắc lại ý nghĩa của văn xuôi, hoặc hai câu, bốn câu, sáu câu, tám câu, cho đến nhiều câu. 3. Già đà: Phúng tụng, cũng gọi Cô khởi tụng. Không nhắc lại ý của văn xuôi mà nói ngay vào câu kệ, như phẩm Không trong kinh Kim quang minh và bài kệ A nan tán Phật trong kinh Lăng nghiêm. 4. Y đế mục đa: Bản sự. Như lai nói về những việc tu hành của các Bồ tát ở nhân vị. 5. Xà đa già: Bản sinh. Phật nói về việc thụ sinh của các Bồ tát ở bản địa và việc tu khổ hạnh của Ngài khi còn là Bồ tát. 6. A phù đạt ma: Vị tằng hữu (chưa từng có), cũng gọi Hi pháp (pháp hiếm có). Tức là đức Phật nói về những sự kiện chưa từng có, rất hiếm. Như khi Phật vừa sinh ra, liền đi bảy bước, chỗ dấuchân đều có hoa sen, phóng ra ánh sáng chói lọi chiếu khắp các thế giới trong mười phương và tự nói độ tất cả chúng sinh thoát khỏi sống, già, bệnh, chết, quả đất rúng động, các trời mưa hoa, trỗi nhạc, cây cối phát ra âm thanh v.v... 7. Ưu đà na: Tự thuyết, không có người thưa hỏi, Như lai dùng trí tuệ quán xét căn cơ của chúng sinh mà tuyên giảng. Như trên hội Lăng nghiêm, Như lai tự nói 50 Ma sự mà không đợi A nan thưa hỏi, cũng như kinh A di đà, không có duyên khởi, Phật tự bảo Xá lợi phất v.v... 8. Tì Phật lược: Phương quảng, tức là lí thể của các kinh, chỉ cho kinh điển Đại thừa phương đẳng, nghĩa lí rộng lớn như hư không. 9. Hòa già la: Thụ kí, Như lai thụ kí cho các Bồ tát, Duyên giác, Thanh văn sẽ được thành Phật, như trong kinh Pháp hoa, Phật thụ kí cho bồ tát A dật đa thành Phật hiệu là Di lặc. [X. kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) Q.3, Q.5; kinh Pháp hoa Q.1 phẩm Phương tiện; Thiện kiến luật tì bà sa tự (tiếngPàli); Trường bộ kinh chú]. (xt. Cửu Bộ Kinh).
đại thừa diệu kinh
The Lotus Sutra—See Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
đại thừa diệu pháp liên hoa kinh
Mahā-saddharma-pundarika sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
đại thừa du già kim cương tính hải mạn thù thất lợi thiên tí thiên bát đại giáo vương kinh
827凡十卷。唐代不空譯。略稱千臂千鉢曼殊室利經、文殊大教王經、千鉢經。本經述千臂千鉢曼殊室利菩薩之祕密三摩地法。今收於大正藏第二十冊。計分無生、無動、平等、淨土、解脫等五門九品(前九卷)。(一)根本清淨無生門,係毘盧遮那如來所說,作阿字觀,此門包括前二品。(二)圓成實相無動門,為阿閦如來所說,作囉字觀,包括第三、四品。(三)法界真如平等門,為寶生如來所說,作跛字觀,包括第五、六品。(四)妙觀理趣 b土門,無量壽佛所說,作左字觀,包括第七、八品。(五)金剛菩提解脫門,為不空成就如來所說,作曩字觀,即第九品之說。第十卷則就六師外道等詳述此法,令彼歸依。又由經文所述文殊現千臂,每臂持一鉢,每鉢中現千釋迦,其頂上戴五佛如來等記載,知此經係依密教思想及梵網經之盧舍那蓮華臺藏世界說轉化而來。依序文載,本經係金剛智三藏於長安薦福寺譯出,由慧超筆受。〔貞元新定釋教目錄卷二十九入藏錄、續貞元釋教目錄(恒安)〕
; (大乘瑜伽金剛性海曼殊室利千臂千鉢大教王經) Gồm 10 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường. Gọi tắt: Thiên tí thiên bát mạn thù thất lợi kinh, Văn thù đại giáo vương kinh, Thiên bát kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này trình bày về pháp Tam ma địa bí mật của bồ tát Mạn thù thất lợi. Chín quyển đầu chia làm 5 môn gồm 9 phẩm: 1. Môn Căn bản thanh tịnh vô sinh, gồm hai phẩm đầu, là môn quán chữ A, do đức Tì lô giá na Như lai nói. 2. Môn Viên thành thực tướng vô động, gồm hai phẩm 3 và 4, là môn quán chữ Ra, do đức A súc Như lai nói. 3. Môn Pháp giới chân như bình đẳng, gồm hai phẩm 5 và 6, là môn quán chữ Bả,do đức Bảo sinh Như lai nói. 4. Môn Diệu quán lí thú tịnh độ, gồm hai phẩm 7 và 8, là môn quán chữ Tả, do đức Phật Vô lượng thọ nói. 5. Môn Kim cương bồ đề giải thoát, phẩm 9, là môn quán chữ Nẵng, do đức Bất không thành tựu Như lai nói. Còn quyển thứ 10 thì giảng rõ pháp này cho Lục sư ngoại đạo nghe, khiến họ qui y. Ngoài ra, dựa theo văn kinh nói ngài Văn thù hiện 1.000 tay, mỗi tay cầm một chiếc bát, trong mỗi bát hiện 1.000 đức Thích ca, trên đầu Ngài đội 5 Phật Như lai, thì biết kinh này đã căn cứ theo tư tưởng Mật giáo và thuyết Lô xá na Liên hoa tạng thế giới trong kinh Phạm võng. Lại theo bài tựa cho biết, thì kinh này là do Tam tạng Kim cương trí dịch ra ở chùa Tiến phúc tại Trường an và do ngài Tuệ siêu bút thụ. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.29 Nhật tạng lục; Tục trinh nguyên thích giáo mục lục (Hằng an)].
Đại thừa du-già kim cương tính hải Mạn-thù-thất-lợi thiên tý thiên bát đại giáo vương kinh 乘瑜伽金剛性海曼殊室利千臂千鉢大教王經
[ja] ダイジョウユカコンゴウショウカイマンシュシツリセンヒセンパツダイキョウオウキョウ Daijō yuga kongō shōkai manjushiri sempi sempatsu daikyōoukyō ||| The Dasheng yujia jingang xinghai manshushīi qianbi qianbo dajiaowangjing (Mahāyana Yoga of the Adamantine Ocean, Mañjusrī with a Thousand Arms and Thousand Bowls: Great King of Tantras.). 10 fasc. (T 1177A.20.724-776), abbreviated as Great Tantra of Mañjuśrī 文殊大教王經, and as Thousand Bowls Sutra 千鉢經, trans. unknown (attributed to Amoghavajra 不空 and Hyecho 慧超 in colophon). According to a study by Gimello (1997), this is an apocryphon based partly on the Avataṃsaka 華嚴經. The unique form of Mañjuśrī it describes is represented in art dating from the late Tang, Xixia and Northern Song. => (c: Dasheng yujia jingang xinghai manshushīi qianbi qianbo dajiaowangjing; e: Mahāyana Yoga of the Adamantine Ocean, Mañjusrī with a Thousand Arms and Thousand Bowls: Great King of Tantras.). 10 quyển. Viết tắt là Văn Thù đại giáo vương kinh và Thiên bát kinh. Dịch giả vô danh (được gán cho Bất Không và Huệ Siêu theo lời ghi cuối kinh). Theo nghiên cứu của Gimello (1997), đây là kinh nguỵ tác căn cứ một phần trong kinh Hoa Nghiêm. Dạng độc đáo của Văn-thù-sư-lợi mà kinh diễn tả là đại biểu cho nghệ thuật có từ cuối đời Đường, Xixia và Bắc Tống.
Đại thừa Duy thức luận 大乘唯識論
[ja] ダイジョウユイシキロン Daijō yuishiki ron ||| Dasheng weishi lun; 1 fasc., Paramārtha's 眞諦 translation of Vasubandhu's Vimsatikā. See 唯識二十論. T 1589.31.70c-74b. => c: Dasheng weishi lun; 1 quyển, Chân Đế (Paramārtha's 眞諦) dịch từ Vimsatikā (Duy thức nhị thập luận) của Thế Thân (Vasubandhu). Xem Duy thức nhị thập luận 唯識二十論.
đại thừa giáo
Giáo pháp Đại thừa—Mahayana—See Đại Thừa.
đại thừa giáo cửu bộ
See Tông Phái.
đại thừa giới
The commands, precepts, or prohibitions for bodhisattvas and monks.
; Bồ Tát giới—The commandments or prohibitions for Bodhisattvas or monks—Commandments for Bodhisattvas—See Giới Cụ Túc, Mười Giới Trọng, and Bốn Mươi Tám Giới Khinh.
đại thừa giới kinh
Kinh điển Đại Thừa hay những kinh điển dạy về đạo pháp làm Phật. Những kinh điển mà Đức Phật đã giảng dạy, được viết lại bằng chữ Ấn Độ và dịch ra chữ Trung Hoa. Toàn tạng được chia làm năm loại tương ứng theo giáo thuyết đại thừa mà Đức Phật đã giảng trong suốt cuộc đời của Ngài—The Mahayana sutras—The Sutra-Pitaka or discourses ascribed to the Buddha, presumed to be written in India and translated into Chinese. These are divided into five classes corresponding to the Mahayana theory of the Buddha's life: 1) Hoa Nghiêm Thời: Hay những thời pháp được Phật thuyết ngay sau khi ngài thành đạo—The Avatamsaka or the sermons first preached by Sakyamuni right after his enlightenment. 2) Phương Đẳng Thời: Vaipulya. 3) Bát Nhã Thời: Prajna-Paramita. 4) Pháp Hoa Thời: Saddharma-Pundarika. 5) Niết Bàn Thời: Mahaparinirvana. ** For more information, please see Đại Thừa Giới.
Đại Thừa Huyền Luận
(大乘玄論, c: Ta-ch'êng-hsuan-lun, j: Daijōgenron): 5 quyển, hiện tồn, Taishō 45, 15, No. 1853, do Cát Tạng (吉藏, 549-623) nhà Đường thuật.
đại thừa huyền luận
814凡五卷。隋代嘉祥大師吉藏(544~623)撰。今收於大正藏第四十五冊。全書以三論宗空觀中道之基本思想論證大乘佛法。著者嘉祥大師不僅為三論學之集大成者,且對於當時佛教界所重視之法華(四部)、大品(二部)、維摩(四部)、華嚴、涅槃、勝鬘、彌勒、仁王、觀經、無量壽、金光明、金剛(各一部)等大乘經典之注疏亦多所研究,本書即包含上述經典之重要問題。 內容分為:二諦義(十章)、八不義(六章)、佛性義(十章)、一乘義(三章)、涅槃義(三章)、二智義(十二章)、教迹義(三章)、論迹義(五章)等八門。(一)二諦義,闡明真俗二諦之義,並通論南北朝佛教界之問題,係三論宗最重要的教義之一。(二)八不義,揭示「不一、不二、不常、不斷、不來、不出、不生、不滅」之義。(三)佛性義,闡明三因佛性。(四)一乘義,解釋法華經等所說之一乘。(五)涅槃義,解說涅槃之義,與佛性義、一乘義同受到當時涅槃經之影響。(六)二智義,辨說權實二智之義,與一乘義同為與法華教學有密切關係之論說。(七)教迹義,彰顯佛陀一代教化之迹儀。(八)論迹義,解說大智度論及三論大要,與三論玄義之後半,共通點甚多。 通觀之,本論頗受當時流行之教判理論所影響。本書雖為吉藏之論著,然係由後人集錄而成者,為吉藏最重要的著作之一,亦為理解三論宗之重要典籍。本書博採涅槃、維摩、大品般若、華嚴、法華、金剛、阿含等經,中論、百論、十二門論及大智度、成實、婆沙等論,又援引鳩摩羅什、僧肇、道生等諸師之說,一一加以論評,義旨精深,為古來三論家學者所重視。本書著作年代雖不詳,然可推知應為著者晚年之作。〔三論宗章疏、東域傳燈目錄卷下〕
; (大乘玄論) Gồm 5 quyển, do ngài Gia tường Cát tạng (544 - 623) soạn vào đời Tùy, thu vào Đại chính tạng tập 45. Toàn sách dùng tư tưởng cơ bản trung đạo không quán của tông Tam luận để luận chứng Phật pháp Đại thừa. Đại sư Gia tường - người tập đại thành Tam luận học - đã căn cứ theo các kinh, luận như: Niết bàn, Duy ma, Đại phẩm bát nhã, Hoa nghiêm, Pháp hoa, Kim cương, A hàm, Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận, Đại trí độ, Thành thực, Bà sa v.v..., đồng thời, nghiên cứu các bản chú sớ của các bộ kinh Pháp hoa, Đại phẩm, Duy ma, Hoa nghiêm, Niết bàn, Thắng man, Di lặc, Nhân vương, Quán kinh, Vô lượng thọ, Kim quang minh, Kim cương v.v..., rồi lại viện dẫn thuyết của các ngài Cưu ma la thập, Tăng triệu, Đạo sinh v.v..., rồi mỗi mỗi thêm phần bình luận với nghĩa lí tinh thâm, tư tưởng hàm súc mà tạo ra bộ Đại thừa huyền luận này, bao quát các vấn đề quan trọng của các kinh điển kể trên. Nội dung luận này gồm 8 môn: 1. Nhị đế nghĩa (10 chương): Giải thích rõ nghĩa chân đế, tục đế và bàn chung về các vấn đề của giới Phật giáo Nam Bắc triều, là một trong những giáo nghĩa rất trọng yếu của tông Tam luận. 2. Bát bất nghĩa(6 chương): Nói về nghĩa Bất nhất, bất nhị, bất thường, bất đoạn, bất lai, bất xuất, bất sinh, bất diệt. 3. Phật tính nghĩa(10 chương): Nói rõ ba nhân Phật tính. 4. Nhất thừa nghĩa (3 chương): Giải thích nghĩa Nhất thừa trong kinh Pháp hoa. 5. Niết bàn nghĩa (3 chương): Giảng giải nghĩa Niết bàn, nghĩa Phật tính và nghĩa Nhất thừa, đều chịu ảnh hưởng kinh Niết bàn đương thời. 6. Nhị trí nghĩa (12 chương): Nói về hai trí quyền, thực cùng với nghĩa Nhất thừa đều có quan hệ mật thiết với giáo học Pháp hoa. 7. Giáo tích nghĩa (3 chương): Nêu rõ dấu tích khuôn mẫu một đời giáo hóa của đức Phật. 8. Luận tích nghĩa(5 chương): Nói về đại cương luận Đại trí độ và Tam luận, có rất nhiều điểm giống nhau với nửa sau của Tam luận huyền nghĩa. Nhìn chung, bộ luận này chịu khá nhiều ảnh hưởng lí luận phán giáo đương thời, là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của ngài Cát tạng, dùng để lí giải tông Tam luận, rất được các học giả nói chung, và tông Tam luận nói riêng, xưa nay tôn trọng. [X. Tam luận tông chương sớ; Đông vực truyền đăng mục lục Q.hạ].
đại thừa hội
827又稱法勝寺大乘會。乃日本天台三會之一。從大乘經中,選出五部大乘經典,即華嚴、大集、大品般若、法華、涅槃等,在五日間,分別講說、稱歎此五部經,此種法會稱為大乘會。在日本,承曆二年(1078),京都法勝寺首度舉行此會。此後,每年十月敕令召請天台宗、真言宗之高僧舉行。
; (大乘會) Cũng gọi Pháp thắng tự đại thừa hội. Một trong 3 pháp hội của tông Thiên thai Nhật bản. Pháp hội này được tổ chức trong 5 ngày để lần lượt giảng thuyết, tán thán 5 bộ kinh: Hoa nghiêm, Đại tập, Đại phẩm bát nhã, Pháp hoa và Niết bàn. Tại Nhật bản, vào năm Thừa lịch thứ 2 (1078), lần đầu tiên chùa Pháp thắng ở Kyoto cử hành hội này. Từ đó về sau, hàng năm vào tháng 10, vua triệu thỉnh các vị cao tăng của tông Thiên thai và tông Chân ngôn tổ chức rất trọng thể.
đại thừa khai tâm hiển tính đốn ngộ chân tông luận
827全一卷。略稱頓悟真宗論。唐代慧光集釋。收於大正藏第八十五冊。內容以問答體論述真性之開顯及生死透脫之道,為唐代盛行之禪宗典籍。本書久已失傳,今巴黎國家圖書館藏有敦煌出土本(伯希和第二一六二號)。
; (大乘開心顯性頓悟真宗論) Có 1 quyển. Gọi tắt: Đốn ngộ chân tông luận, do ngài Tuệ quang soạn vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 85. Nội dung dùng thể văn vấn đáp để bàn về sự mở tỏ chân tính và con đường thoát khỏi sống chết, là bộ sách của Thiền tông thịnh hành ở đời Đường. Sách này thất truyền đã lâu, hiện nay Thư viện quốc gia ở Paris có cất giữ bản đào được ở Đôn hoàng (P. Pelliot 2162).
đại thừa khí
Đồng với »Đại thừa căn khí 大 乘 根 器«. Chương »Tổ thứ tám Phật-đà-nan-đề trong CĐTĐL q. 1 ghi: »既 而 領 徒 行 化 至 提 伽 國 城 毘 舍 羅 家。 見 舍 上 有 白 光 上 騰。 謂 其 徒 曰。 此 家 當 有 聖 人。 口 無 言 說 眞 大 乘 器。 不 行 四 衢 知 濁 穢 耳。 – [i]Sau đấy Tổ thống lãnh đồ chúng đi hoá đạo đến thành Đề-ca-quốc, trước nhà Tì-xá-la. Tổ thấy trên nóc nhà có một luồng ánh sáng trắng xông lên liền bảo môn đồ rằng: Nhà này đang có thánh nhân, miệng không thốt lời nào, thật là căn khí đại thừa, chẳng đi vào bốn nẻo, vì biết là dơ uế[/i]«.
đại thừa không tôn
ŚŪnyavāda (S).
Đại thừa khởi tín luận
大乘起信論; S: mahāyānaśraddhotpāda-śās-tra; J: daijō kishinron;|Một tác phẩm Ðại thừa xuất hiện trong thế kỉ 5-6, tương truyền do Mã Minh (s: aśva-ghoṣa) soạn. Mã Minh lại sống trong thế kỉ thứ 1-2 nên điều này vẫn còn là một nghi vấn. Nguyên bản chữ Phạn cũng như bản dịch Tạng ngữ không còn. Hiện nay người ta chỉ còn bản chữ Hán của năm 557, được các học giả sau này xem là một tác phẩm Phật giáo Trung Quốc thuần tuý.|Tác phẩm này là bộ luận về Ðại thừa và được xem là căn bản nhập môn của giáo lí này. Ðó là một tác phẩm trong số các kinh sách hiếm hoi được Thiền tông coi trọng. Luận này được chia làm 5 chương: 1. Lí do luận này ra đời: để giúp chúng sinh thoát khổ, truyền bá chính pháp, hỗ trợ người tu hành, làm tăng trưởng tín tâm của kẻ sơ căn, chỉ phương pháp đối trị tà kiến, dạy cách thiền định đúng đắn, chỉ ích lợi của niệm A-di-đà, chỉ cách tu tập thiền định; 2. Giảng giải các khái niệm quan trọng nhất của Ðại thừa; 3. Trình bày giáo pháp Ðại thừa: về ba tính chất của tâm, về giác ngộ và phi giác ngộ, về vô minh, đối trị tà kiến và các thành kiến khác, chỉ phương pháp đúng đắn đưa đến giác ngộ, Phúc đức và hạnh nghiệp của Bồ Tát; 4. Phép tu theo Ðại thừa: Phát triển tín tâm bằng hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, trí huệ và phương pháp Chỉ-Quán; 5. Ích lợi của phép tu Ðại thừa.
đại thừa khởi tín luận
819全一卷。又稱起信論。相傳為印度馬鳴(梵 Aśvaghoṣa)菩薩所造,南朝梁代真諦(499~569)譯。收於大正藏第三十二冊。本書闡明如來藏緣起之旨,及菩薩、凡夫等發心修行之相,係從理論、實踐兩方面歸結大乘佛教之中心思想,為佛教思想之重要入門書。 全書共分五篇,第一因緣分,舉出八分以敘述造立本論之因緣,是為「序分」;第二立義分、第三解釋分、第四修行信心分,此三分為本論之「正宗分」。立義與解釋二分闡明「一心」、「二門」、「三大」之理論,修行信心分則說明「四信」、「五行」之實踐法門。所謂「一心」,即指絕對之一心,此一心即為眾生心,亦為如來藏(真如)心;蓋世界萬有皆為真如之顯現,一切眾生本來亦常住於涅槃之中。所謂「二門」,即指「心真如門」與「心生滅門」。真如門即為絕對之真如,即闡說眾生心性之「本體」不生不滅,遠離言說之相,畢竟平等而常恆不變。又包含「依言」、「離言」二種。於生滅門中則揭示眾生心性之「現象」即為真如緣起。生滅門又分流轉門、還滅門二種,流轉門中揭出「阿賴耶識」一詞,說明此識乃「生滅」與「不生不滅」所和合的非一非異之識,並由此所謂真妄和合之阿賴耶識生起三細(無明業相、能見相、境界相)、六粗(智相、相續相、執取相、計名字相、起業相、業繫苦相)、五意(業識、轉識、現識、智識、相續識)、六染(根本業不相應染、能見心不相應染、現色不相應染、分別智相應染、不斷相應染、執相應染)而流轉於迷界;還滅門則係自迷界之中,依十信、十住、十行、十迥向、十地等階次之修行,而還至涅槃真如界。所謂「三大」,即指體、相、用三者。所謂「四信」,指虔信真如與佛、法、僧三寶。所謂「五行」,指篤行布施、持戒、忍辱、精進、止觀。第五勸修利益分,舉示受持本論者可得廣大利益,是為本論之「流通分」。 自「歷代三寶紀」以降,諸經錄大多以本論為「馬鳴造,真諦譯」,而廣為各宗派所習用,然隋代之眾經目錄卷五(大五五‧一四二上)則謂:「大乘起信論一卷,人云真諦譯,勘真諦錄無此論,故入疑。」而將本論置於「疑惑部」。惠均之四論玄義卷十、卷十二則謂本論係地論宗之論師所偽造,蓋本論所謂之「如來藏心能生起一切生滅諸法」之說,與諸地論師之宗說,實乃兩相契符。開元釋教錄卷八亦表存疑之看法。此外,又因本論之梵本,今已不存,而西藏藏經中亦未收錄本論,遂增加「偽作」之可能性。然持「平反」之立場者亦蔚然紛起,迄今不絕,遂成為歷來學界爭辯的懸案之一。歸納紛紜之眾說,本論來源有三:(一)龍樹以前之馬鳴所作,(二)龍樹之後某一同名異人之馬鳴所作,(三)國人所偽作。以上諸說,迄無定論,而於現代佛學研究中,由日本學者望月信亨再度引發一場筆墨波浪,望月信亨從考證入手,著「大乘起信論之研究」一書,否認本論為馬鳴所造。我國梁啟超繼之發難,並進一步否認本論為印度之撰述,其後歐陽漸、呂澂、王恩洋等亦相繼批判本論之真實性。與之針鋒相對而為本論辯護者,則有太虛、章太炎、唐大圓、印順等人。此外,歐洲著名佛教學者戴密薇(P. Demieville)著有「大乘起信論研究」之論文,廣蒐博證,肯定本論確係馬鳴之著作,為辯護者增加一大力量,惜其論文未譯成中文,而罕為國人所知。此正反兩方之說,雖可謂旗鼓相當,然對本論之價值甽同表一致,皆視之為嚴密精湛的大乘佛教思想之偉大著作。 本論為歷來各宗所依用重要經論之一,大乘佛教之主要宗派如華嚴、天台、禪、淨土、密宗等皆深受其影響,隋代之曇延、慧遠曾撰書以宏闡本論之旨,道綽於其「安樂集」中屢屢引用本論,三論宗之吉藏、天台宗之智顗亦對本論推崇備至;唐代時,元曉、法藏、澄觀、宗密等華嚴家爭相為本論作注疏;至湛然作「金錍論」,本論漸成為天台家造章疏時所必依用之經論;此外,宋代延壽之宗鏡錄、四明知禮之十不二門指要鈔、教行錄等亦每每依準本論之旨意。密宗所奉為重要論書之「釋摩訶衍論」,相傳即龍樹菩薩為闡釋本論而作者。 本論除真諦譯本外,另有唐朝于闐沙門實叉難陀重譯之二卷本,兩種譯本大同小異,然以真諦譯本流行較廣,且歷代之注疏皆採用真諦本,新譯本僅有明代智旭一人為之作注(起信論裂網疏)。除漢譯本外,本論亦有兩種英譯本,一為一九○○年在美國刊行之 Asvaghosa's discourse on the awakening of faith in the Mahāyāna,係日本鈴木大拙所譯;另一為一九○七年於上海發行之 The awakening of faith。 本論注疏之繁富不勝枚舉,較著名者有隋代慧遠之起信論義疏、新羅元曉之起信論疏、唐代法藏之起信論義記,三書合稱為「起信論三疏」,其中又以法藏之義記為最重要。上記之外,另有起信論疏(真諦)、一心二門大意(智愷)、起信論疏(智儼)、起信論同異略集(新羅見登)、起信論疏註(宗密)、起信論筆削記(子璿)、起信論纂註(真界)、起信論直解(德清)、起信論續疏(通潤)等,亦為歷來學者所重。〔大唐內典錄卷五、大周刊定眾經目錄卷六、至元法寶勘同總錄卷九、古今譯經圖紀卷四、三論玄疏文義要卷二、續高僧傳卷四玄奘傳、大乘起信論考證(梁啟超)、大乘起信論真偽辯(建康書局)、大乘起信論講記(印順)、大乘起信論與楞嚴經考辨(現代佛教學術叢刊第三十五冊)、大乘起信論開題(今津洪嶽,佛教大系)〕
; Mahāyāna-śraddhotpāda-śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
; Daijō Kishinron (J)Tên một bộ luận kinh.
; Mahàyàna-sraddhotpàda-sastra (S). attributed to Avaghosa Mã Minh. It is described as the foundation work of the Mahàyàna.
; Mahayana-sraddhotpada-sastra—The Mahayana Awakening of Faith, distributed by Asvaghosa (Mã Minh)—See Khởi Tín Luận.
; (大乘起信論) Có 1 quyển, cũng gọi Khởi tín luận, tương truyền do bồ tát Mã minh (Phạm: Azvaghoza) của Ấn độ tạo, ngài Chân đế (499 - 569) dịch vào đời Lương thuộc Nam triều, thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung sách này thuyết minh về duyên khởi Như lai tạng và tướng phát tâm tu hành của Bồ tát, phàm phu v.v... Tức là từ hai phương diện lí luận và thực tiễn mà qui kết về trung tâm tư tưởng của Phật giáo Đại thừa. Đây là bộ sách nhập môn trọng yếu của tư tưởng Phật giáo. Toàn bộ luận chia làm 3 phần, gồm 5 thiên: 1. Phần tựa: Có 1 thiên Nhân duyên, nêu ra 8 tiết để trình bày về nhân duyên (lí do) tạo luận. 2. Phần chính tông gồm 3 thiên: Thiên lập nghĩa, thiên Giải thích và thiên Tín tâm tu hành. Trong 3 thiên này, thì thiên Lập nghĩa và thiên Giải thích nói rõ về lí luận Nhất tâm, Nhị môn, Tam đại. - Nhất tâm tức chỉ cho nhất tâm tuyệt đối, là tâm chúng sinh, cũng là tâm Như lai tạng (Chân như). Bởi vì vạn hữu trong thế giới đều do Chân như hiển hiện, tất cả chúng sinh xưa nay vốn ở Niết bàn thường trụ, không có sinh diệt. - Nhị môn, tức chỉ cho Tâm chân như môn và Tâm sinh diệt môn. Chân như môn tức là chân như tuyệt đối, giải thích rõ bản thể của tâm tính chúng sinh không sinh không diệt, xa lìa tướng nói năng, rốt ráo bình đẳng, thường hằng bất biến. Còn tâm sinh diệt môn thì thuyết minh về mặt hiện tượng của tâm tính chúng sinh, tức là Chân như duyên khởi. - Tam đại là chỉ cho Thể đại, Tướng đại và Dụng đại. Thiên Tín tâm tu hành thì nói pháp môn thực tiễn của Tứ tín và Ngũ hạnh. Tứ tín là dốc lòng tin nơi Tam bảo và Chân như. Ngũ hạnh là thực hành bố thí, giữ giới, nhịn nhục, tinh tiến, chỉ quán. 3. Phần lưu thông: Có 1 thiên Khuyên tu lợi ích, nói rõ người thụ trì luận Đại thừa khởi tín sẽ được lợi ích rộng lớn. Từ Lịch đại tam bảo kỉ trở về sau, phần nhiều các Kinh lục (mục lục kinh) đều cho luận Đại thừa khởi tín là do ngài Mã minh tạo, ngài Chân đế dịch, nhưng Chúng kinh mục lục quyển 5 đời Tùy thì nói (Đại 55, 142 thượng): Người ta cho rằng luận Đại thừa khởi tín 1 quyển là do Chân đế dịch, nhưng xét trong Chân đế lục không có luận này, nên còn nghi. Do đó, Lịch đại tam bảo kỉ đã xếp luận Đại thừa khởi tín vào Nghi hoặc bộ. Còn Tứ luận huyền nghĩa quyển 10, quyển 12 thì nói rằng luận Đại thừa khởi tín là do một vị luận sư của tông Địa luận ngụy tạo, bởi vì thuyết Tâm Như lai tạng có năng lực sinh khởi tất cả pháp sinh diệt trong luận Đại thừa khởi tín rất phù hợp với Tông thuyết của các Địa luận sư. Khai nguyên thích giáo lục quyển 8 cũng tỏ ý tồn nghi. Hơn nữa, vì bản tiếng Phạm của luận này đến nay đã thất lạc, mà trong tạng kinh Tây tạng cũng chưa thu chép, cho nên, sự nghi ngờ là ngụy tác lại càng thêm mạnh. Tuy nhiên, những người thừa nhận luận này là thật vẫn giữ vững lập trường của mình, nên vấn đề thật, giả của bộ luận đã trở thành một nghi án đã gây ra cuộc tranh luận dai dẳng trong giới Phật giáo từ xưa đến nay. Tóm lại, về nguồn gốc của luận Đại thừa khởi tín có 3 thuyết: 1. Do ngài Mã minh sáng tác trước thời ngài Long thụ. 2. Do một người trùng tên với ngài Mã minh soạn sau ngài Long thụ. 3. Do người Trung quốc ngụy tạo. Nhưng, cho đến nay, vẫn chưa có thuyết nào được dứt khoát thừa nhận là đúng. Trong giới nghiên cứu Phật giáo cận đại, ông Vọng nguyệt Tín hanh - một học giả Nhật bản - một lần nữa lại khơi dậy cuộc tranh luận. Từ kết quả khảo chứng, Vọng nguyệt Tín hanh viết cuốn Đại thừa khởi tín luận chi nghiên cứu, trong đó, ông phủ nhận luận Khởi tín là tác phẩm của ngài Mã minh. Tiếp theo, các học giả Trung quốc như Lương khải siêu, Âu dương tiệm, Lữ trừng, Vương âm v.v... cũng nối nhau phê phán tính cách chân thực của luận này. Đối lại, phía bênh vực Khởi tín luận thì có: Thái hư, Chương thái viêm, Đường đại viên, Ấn thuận v.v... Đặc biệt hơn, học giả Phật giáo người châu Âu nổi tiếng là ông P. Demieville có viết bài Đại thừa khởi tín luận nghiên cứu, trong đó, ông trưng ra nhiều chứng liệu để khẳng định luận này chính là tác phẩm của ngài Mã minh, giúp cho phía bênh vực luận Khởi tín thêm một sức mạnh đáng kể. Nhưng rất tiếc là bản văn của ông P. Demieville chưa được dịch ra Hán văn nên rất ít người Trung quốc được biết đến. Hai thuyết khẳng định và phủ nhận tuy trái nhau nhưng cùng cho rằng luận Khởi tín là một tác phẩm vĩ đại của Phật giáo Đại thừa, chứa đựng những tư tưởng nghiêm mật, sâu sắc. Tại Trung quốc, các tông phái chủ yếu của Phật giáo như: Hoa nghiêm, Thiên thai, Tịnh độ, Thiền, Mật tông v.v... đều chịu ảnh hưởng của luận Khởi tín rất sâu, và nhiều tông phái cũng đã lấy đó làm chỗ y cứ. Những bậc đại sư các đời phần nhiều cũng viết sách để hoằng dương hoặc dẫn dụng yếu chỉ của luận này trong những tác phẩm của mình. Như các ngài: Đàm diên, Tuệ viễn, Đạo xước, Cát tạng, Trí khải, đời Tùy; Nguyên hiểu, Pháp tạng, Trừng quán, Tông mật, Trạm nhiên, đời Đường; Diên thọ, Tri lễ, đời Tống v.v... Luận này còn có bản dịch mới 2 quyển do ngài Thực xoa nan đà dịch vào đời Đường, nhưng không được lưu hành rộng rãi. Phần nhiều chú sớ xưa nay đều dùng bản dịch của ngài Chân đế, còn bản dịch của ngài Thực xoa nan đà thì chỉ có ngài Trí húc đời Minh chú giải (Khởi tín luận liệt cương sớ). Ngoài các bản Hán dịch ra, luận này còn có hai bản Anh dịch: 1. Azvaghowa’s discourse on the awakening of faith in the Mahàyàna, do Suzuki người Nhật dịch được ấn hành năm 1900 ở Mĩ quốc. 2. The Awakening of faith được phát hành ở Thượng hải năm 1907. Luận này có rất nhiều chú sớ, nhưng nổi tiếng hơn cả thì có: Khởi tín luận nghĩa sớ của ngài Tuệ viễn đời Tùy, Khởi tín luận sớ của ngài Nguyên hiểu người Tân la, Khởi tín luận nghĩa kí của ngài Pháp tạng đời Đường. Ba bộ sớ trên hợp chung lại gọi là Khởi tín luận tam sớ. Ngoài ra còn có: Khởi tín luận sớ (Chân đế), Nhất tâm nhị môn đại ý (Trí khải), Khởi tín luận sớ (Trí nghiễm), Khởi tín luận đồng dị lược tập (Kiến đăng-Tân la), Khởi tín luận sớ chú (Tông mật), Khởi tín luận bút tước kí (Tử tuyền), Khởi tín luận toản chú (Chân giới), Khởi tín luận trực giải (Đức thanh), Khởi tín luận tục sớ (Thông luận)v.v... cũng được giới học giả xưa nay xem trọng. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.6; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4; Tam luận huyền sớ văn nghĩa yếu Q.2; Tục cao tăng truyện Q.4 Huyền trang truyện; Đại thừa khởi tín luận khảo chứng (Lương khải siêu); Đại thừa khởi tín luận chân ngụy biện (Thư cục Kiến khang); Đại thừa khởi tín luận giảng kí (Ấn thuận); Đại thừa khởi tín luận dữ Lăng nghiêm khảo biện (Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san tập 35); Đại thừa khởi tín luận khai đề (Kim tân Hồng nhạc, Phật giáo đại hệ)].
đại thừa khởi tín luận biệt kí
820全一卷。唐代法藏撰。今收於大正藏第四十四冊。係就真諦所譯之大乘起信論中選擇要目解釋而成。計分三十五章。另據湛睿之起信論義記教理抄卷十五、順高之聽集記卷十三本、鳳潭之起信論幻虎錄卷四等所載,本書並非法藏所作,而係他人偽造者。本書之末注有順高之聽集記四卷、宗性之要文抄一卷。〔新編諸宗教藏總錄卷三、起信論注疏詳略卷中、大乘起信論之研究〕
; (大乘起信論別記) Có 1 quyển, do ngài Pháp tạng soạn vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 44. Nội dung sách này gồm 35 chương, giải thích những mục chủ yếu được tuyển chọn trong luận Đại thừa khởi tín bản dịch của ngài Chân đế. Cứ theo Khởi tín luận nghĩa kí giáo lí sao quyển 15 của ngài Trạm duệ, Thính tập kí quyển 13 phần đầu của ngài Thuận cao và Khởi tín luận huyễn hổ lục quyển 4 của ngài Phụng đàm nói, thì sách Biệt kí này không phải do ngài Pháp tạng soạn mà là người khác ngụy tạo. Về chú sớ thì có: Thích tập kí 4 quyển của Thuận cao, Yếu văn sao 1 quyển của Tông tính. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Khởi tín luận chú sớ tường lược Q.trung; Đại thừa khởi tín luận chi nghiên cứu].
Đại thừa khởi tín luận biệt ký 大乘起信論別記
[ja] ダイジョウキシンロンベッキ Daijō kishinron bekki ||| The Taesŭng kisillon pyŏlgi, "Expository Notes on the Awakening of Faith." By Wŏnhyo; HPC 1.677-697; T 1845.44.226a-240c.The second of Wŏnhyo's 元曉 two influential commentaries on the Awakening of Faith 大乘起信論. Often referred to simply as the Pyŏlgi 別記. => (k: Taesŭng kisillon pyŏlgi; e: Expository Notes on the Awakening of Faith). Của Nguyên Hiểu. Đây là cuốn luận giải có uy tín thứ hai của Nguyên Hiểu về Đại thừa Khởi tín luận. Thường gọi tắt là Biệt ký ( 別記k: Pyŏlgi).
đại thừa khởi tín luận bút sảo kí
823凡二十卷。宋代子璿撰。又稱起信論筆削記。收於大正藏第四十四冊。本書為圭峰宗密起信論注疏之注疏本。所釋詳細,頗能會合法藏之意,為歷來研究起信論不可缺少之注疏本。然以起信論配於五教判之圓教一乘,而與天台之圓教解釋相同,故遭後世之非議。注疏本有芸芳之筆削記鈔四卷。
; (大乘起信論筆削記) Gồm 20 quyển, do ngài Tử tuyền soạn vào đời Tống. Cũng gọi Khởi tín luận bút tước kí. Thu vào Đại chính tạng tập 44. Đây là sách giải thích bộ Khởi tín luận chú sớ của ngài Khuê phong tông mật. Nội dung giải thích rõ ràng, tỉ mỉ, rất hợp với ý của ngài Pháp tạng, là bộ chú sớ không thể thiếu được đối với việc nghiên cứu luận Đại thừa khởi tín xưa nay. Nhưng trong đó lại đem luận Khởi tín phối hợp với Nhất thừa viên giáo trong năm phần phán giáo và giải thích giống với Viên giáo Thiên thai, cho nên bị người đời sau chê trách. Chú sớ có: Bút tước kí sao 4 quyển của Vân phương.
đại thừa khởi tín luận liệt võng sớ
823凡六卷。明代智旭撰。又稱起信論裂網疏。今收於大正藏第四十四冊。本書係新譯(實叉難陀譯)起信論之注疏。其名裂網者,欲破除法相宗、法性宗二宗差別的見解之網。本論以藏、通、別、圓四教中之圓教配以一心之眾生心,而舉出圓教觀境之妄心。注疏本有觀國之講錄六卷。
; (大乘起信論裂網疏) Gồm 6 quyển, do ngài Trí húc soạn vào đời Minh. Cũng gọi Khởi tín luận liệt võng sớ, thu vào Đại chính tạng tập 44. Đây là sách chú sớ luận Khởi tín theo bản dịch mới của ngài Thực xoa nan đà. Bộ sách được đặt tên là Liệt võng (Xé lưới) là vì muốn nhằm vào việc phá trừ lưới kiến giải sai khác của 2 tông Pháp tướng và Pháp tính. Luận này đem Viên giáo trong 4 giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên phối hợp với tâm chúng sinh mà nêu ra vọng tâm quán cảnh của Viên giáo. Chú sớ có: Giảng lục 6 quyển của ngài Quán quốc.
đại thừa khởi tín luận nghĩa kí
824凡三卷。唐代法藏撰。又稱大乘起信論疏、起信論義記、藏疏、賢首疏。今收於大正藏第四十四冊。為大乘起信論三大疏之一。本書係以華嚴宗之立場而注釋大乘起信論者。共分成十門:(一)教起所因,(二)諸藏所攝,(三)顯教分齊,(四)教所被機,(五)能詮教體,(六)所詮宗趣,(七)釋論題目,(八)造論時節,(九)翻譯年代,(十)隨文解釋。其中第三之顯教分齊中,初述自日照三藏傳至戒賢、智光之三時判,次將傳入東土之大小乘諸經論總判為四宗:(1)隨相法執宗,即指小乘諸部。(2)真空無相宗,指般若經、中論等。(3)唯識法相宗,指深密經、瑜伽論等。(四)如來緣起宗,指楞伽經、密嚴經、寶性論、起信論等。不用華嚴宗之五教判,而新立四教判,將起信論配於第四宗,此與古來所論大異其趣。此外,本書復謂起信論中之「阿梨耶識」即是唯識家所說之「阿賴耶識」,又將三細中之業相、能見相、境界相次第配於自體分、見分、相分,且謂智相以下之六粗通於六意識之中。並明白舉示起信論唯舉第六識及第八識,而未論及第七識。凡上,皆為本書之特色,為起信論其他之注疏所未及者。 本疏與慧遠之疏、元曉之疏並稱起信論之三大疏,而以本疏最為風行。本疏原有三卷,論文部分有單行本,其後唐代之宗密將疏與論文會合出刊,然不引本疏之全文,且刪削頗多。自宋以降,一般注重宗密之疏,而世人多不知有本疏。後有日僧鳳潭,重新考訂本疏與論文之會合本,凡五卷,盛行於世。清朝楊文會猶感於本書之遭受割裂,遂別求古本,讎校出刊,是為七卷之會本,頗受學界之重視。本書之注疏本甚多,較重要者有宗密之起信論疏四卷、湛睿之教理鈔十九卷、慧澄之講義三卷、鳳潭之起信論幻虎錄五卷、普戒之要決三卷等。〔華嚴經探玄記卷一、唐書藝文志第四十九、新編諸宗教藏總錄卷三、大乘起信論之研究〕
; (大乘起信論義記) Gồm 3 quyển, do ngài Pháp tạng soạn vào đời Đường. Cũng gọi Đại thừa khởi tín luận sớ, Khởi tín luận nghĩa kí, Tạng sớ, Hiền thủ sớ, thu vào Đại chính tạng tập 44. Là một trong 3 bộ sớ lớn của luận Đại thừa khởi tín. Sách này đứng trên lập trường của tông Hoa nghiêm mà chú thích luận Đại thừa khởi tín. Nội dung chia làm 10 môn: 1. Giáo khởi sở nhân (Lí do lập giáo). 2. Chư tạng sở nhiếp (Được thu nhiếp vào tạng nào). 3. Hiển giáo phân tề (Hiển bày phạm vi của giáo). 4. Giáo sở bị cơ (Những căn cơ được giáo thu nhiếp). 5. Năng thuyên giáo thể (Giáo thể giải thuyết rõ ràng). 6. Sở thuyên tông thú (Tông thú được giảng giải rõ ràng). 7. Thích luận đề mục (Giải thích tên của bộ luận). 8. Tạo luận thời tiết (Tạo luận vào thời gian nào). 9. Phiên dịch niên đại (Luận được phiên dịch vào năm nào). 10. Tùy văn giải thích Giải thích chính văn). Trong Hiển giáo phân tề, trước hết thuật về 3 thời phán giáo từ ngài Tam tạng Nhật chiếu truyền đến các ngài Giới hiền và Trí quang, kế đến bàn tổng quát về các kinh, luận Đại thừa, Tiểu thừa truyền vào Trung quốc và chia làm 4 tông: 1. Tông Tùy tướng pháp chấp, gồm các kinh Tiểu thừa. 2. Tông Chân không vô tướng, gồm kinh Bát nhã, luận Trung quán. 3. Tông Duy thức pháp tướng, gồm kinh Thâm mật, luận Du già v.v... 4. Tông Như lai duyên khởi, gồm kinh Lăng già, kinh Mật nghiêm, luận Bảo tính, luận Khởi tín v.v... Sách này không dùng Ngũ giáo phán của tông Hoa nghiêm mà lập ra Tứ giáo và phối hợp luận Khởi tín với tông Như lai duyên khởi: Đây là điểm sai khác rất lớn với ý thú xưa nay. Ngoài ra, sách này lại cho rằng thức A lê da trong luận Khởi tín tức là thức A lại da của các nhà Duy thức, lại phối hợp Nghiệp tướng, Năng kiến tướng và Cảnh giới tướng trong Tam tế với Tự thể phần, Kiến phần và Tướng phần, còn Lục thô thì từ Trí tướng trở xuống thông với thức thứ 6, đồng thời, cho rằng luận Khởi tín chỉ nêu thức thứ 6 và thức thứ 8 chứ chưa bàn đến thức thứ 7. Những điều nói trên đều là đặc sắc của sách này, mà các bản chú sớ khác về luận Khởi tín chưa bì kịp. Bản sớ này cùng với hai bản sớ của ngài Tuệ viễn và Nguyên hiểu được gọi chung là ba bộ sớ lớn của luận Khởi tín, nhưng bản sớ này được lưu hành rộng rãi hơn cả. Sách này vốn có 3 quyển, phần chính văn có bản riêng; về sau, ngài Tông mật đời Đường hợp chung sớ và chính văn làm một rồi xuất bản, nhưng lược bớt khá nhiều văn sớ của sách này. Từ đời Tống về sau, phần nhiều người ta chú trọng bản sớ của ngài Tông mật chứ không biết có bản sớ này. Sau, ngài Phụng đàm người Nhật khảo đính lại bản sớ này rồi hợp chung với phần chính văn thành bộ 5 quyển, lưu hành rất thịnh. Đời Thanh, Dương văn hội cảm thấy sách này bị cắt xén, mới tìm lại bản cũ, đối chiếu, sửa chữa rồi ấn hành thành 7 quyển rất được học giới xem trọng. Sách này có nhiều bản chú sớ, nhưng quan trọng hơn cả là: Khởi tín luận sớ 4 quyển của ngài Tông mật, Giáo lí sao 19 quyển của ngài Trạm duệ, Giảng nghĩa 3 quyển của ngài Tuệ trừng, Khởi tín luận huyễn hổ lục 5 quyển của ngài Phụng đàm, Yếu quyết 3 quyển của ngài Phổ giới. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Đường thư nghệ văn chí thứ 49; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Đại thừa khởi tín luận chi nghiên cứu].
Đại thừa khởi tín luận nghĩa ký 大乘起信論義記
[ja] ダイジョウキシンロンギキ Daijō kishinron giki ||| Fazang's 法藏 commentary on the Awakening of Mahāyāna Faith 大乘起信論. Considered, along with the commentary by Wŏnhyo, to be one of the most important commentaries on that text. 3 or 5 fascicles, T 1846.44.240-287 => Do Pháp Tạng chú giải Đại thừa khởi tín luận. Cùng với chú giải của Nguyên Hiểu, bản nầy được xem là 1 trong những chú giải quan trọng nhất về luận Đại thừa khởi tín. Gồm 3 hoặc 5 tập.
đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ
824<一>凡二卷。又稱起信論義疏。隋代曇延撰。收於卍續藏第七十一冊。為大乘起信論之注疏,現今之流傳本僅餘卷上,其卷下內容與新羅元曉之海東疏相同,故卍續藏僅收錄其卷上。內容分為三門:(一)辨大意,(二)解題號,(三)入文解釋。 <二>凡四卷。隋代慧遠撰。收於大正藏第四十四冊。又稱起信論義疏、起信論疏、淨影疏。為大乘起信論三大疏之一。解釋真諦所譯之大乘起信論而成。於文前,先分判聲聞、菩薩二藏,與修多羅、毘尼、毘曇三藏,而將起信論攝屬二藏中之菩薩藏,與三藏中之阿毘曇藏,其次闡述起信論以八識之理為體,而以行法為宗。其後,解釋起信論之題號及撰號等。其下,則為起信論之逐文解釋。本書文義淺陋,差謬處頗多,或疑非慧遠所作。〔起信論義記要決卷上、續高僧傳卷八慧遠傳、新編諸宗教藏總錄卷三、三論宗章疏錄、大乘起信論之研究〕
; (大乘起信論義疏) I. Đại Thừa Khởi Tín Luận Nghĩa Sớ. Gồm 2 quyển, do ngài Đàm diên soạn vào đời Tùy. Cũng gọi Khởi tín luận nghĩa sớ, thu vào Vạn tục tạng tập 71. Đây là sách chú sớ luận Đại thừa khởi tín, nhưng bản lưu truyền hiện nay chỉ có quyển thượng, còn quyển hạ thì nội dung cũng giống với sách Đông hải sớ của ngài Nguyên hiểu người Tân la, cho nên Vạn tục tạng chỉ thu chép quyển thượng mà thôi. Nội dung quyển thượng gồm 3 môn: 1. Biện đại ý (Bàn về đại ý). 2. Giải đề hiệu (Giải thích tên sách). 3. Nhập văn giải thích (Giải thích chính văn). II. Đại Thừa Khởi Tín Luận Nghĩa Sớ. Gồm 4 quyển, do ngài Tuệ viễn soạn vào đời Tùy, thu vào Đại chính tạng tập 44. Cũng gọi Khởi tín luận nghĩa sớ, Khởi tín luận sớ, Tịnh ảnh sớ, là một trong ba bộ sớ lớn của luận Đại thừa khởi tín. Đây là bộ sớ giải thích luận Đại thừa khởi tín theo bản dịch của ngài Chân đế. Trước hết, ngài Tuệ viễn phân biệt luận Đại thừa khởi tín thuộc về tạng Bồ tát trong hai tạng (Thanh văn, Bồ tát) và thuộc về tạng A tì đàm trong ba tạng (Tu đa la, Tì ni, Tì đàm); kế đến, soạn giả nói rõ rằng luận Khởi tín lấy lí của tám thức làm thể, lấy hành pháp làm tông, rồi giải thích tên luận Khởi tín và người soạn luận; cuối cùng, giải thích chính văn. Sách này văn nghĩa hời hợt, thô kệch, có nhiều chỗ sai lầm nên người ta ngờ đây không phải tác phẩm của ngài Tuệ viễn. [X. Khởi tín luận nghĩa kí yếu quyết Q.thượng; Tục cao tăng truyện Q.8 Tuệ viễn truyện; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Tam luận tông chương sớ lục; Đại thừa khởi tín luận chi nghiên cứu].
Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ 大乘起信論義疏
[ja] ダイジョウキシンロンギソ Daijō kishinron giso ||| Dasheng qixin lun yishou; 4 fasc., by Huiyuan 慧遠. T 1843.44.175a-201c. => (c: Dasheng qixin lun yishou; 4 quyển, của Huệ Viễn ( 慧遠c: Huiyuan).
đại thừa khởi tín luận sớ
822<一>凡四卷。唐代法藏述,宗密注。略稱起信論注疏。乃宗密摘錄法藏之大乘起信論義記,兼加部分己說而成。全書分二篇,第一篇總述義門,又分:辨教起因緣、約諸藏所攝、顯教義分齊、明教所被機、能詮教體、所詮宗趣等六門。第二篇隨文解釋,又分解名題、解文義二門。總述義門之六門同於法藏義記十門之初六門;隨文解釋之二門中,解名題包含義記之第七釋論題目、第八造論時節、第九翻譯年代等三門,解文義則相當於義記之第十隨文解釋門。據鳳潭之起信論義記幻虎錄卷一、普寂之義記要決卷上所載,本書雖依準法藏之起信論義記而作,然以添削過多,又每每自加臆斷,竄改義記,故歷來頗有以鮱換金之譏。本書之注疏本有:起信論隨疏記(傳奧)、起信論筆削記(子璿)、起信論會閱(續法)等。〔新編諸宗教藏總錄卷三、華嚴宗論章疏目錄、大乘起信論之研究〕 <二>凡三卷。即法藏撰之大乘起信論義記。係以華嚴宗之立場而注釋大乘起信論。(參閱「大乘起信論義記」824) <三>凡二卷。新羅元曉撰。又稱海東疏。今收於大正藏第四十四冊。解釋真諦所譯之大乘起信論,為起信論三疏之一。略立三門:(一)標宗體,謂大乘起信論乃大小乘一切眾典之精髓。(二)釋題名,援引虛空藏經、阿毘達磨雜集論等之文,而闡述「大乘」之諸義。(三)依文顯義,即逐文注解起信論,以彰顯論中之深旨。本書論旨明晰,文義暢快,故多為法藏之義記、太賢之內義略探記、見登之同異略集、宗密之注疏等所引用。〔新編諸宗教藏總錄卷三、三論宗章疏錄〕
; (大乘起信論疏) I. Đại Thừa Khởi Tín Luận Sớ. Gồm 4 quyển, do ngài Pháp tạng soạn vào đời Đường, ngài Tông mật chú thích. Gọi tắt: Khởi tín luận chú sớ. Sách này là do ngài Tông mật trích lục từ bộ Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí của ngài Pháp tạng rồi thêm phần chú thích của mình mà thành. Nội dung chia làm hai thiên: - Thiên thứ 1: Tổng thuật nghĩa môn, chia làm sáu tiết: 1. Biện giáo khởi nhân duyên (nói về lí do lập giáo). 2. Ước chư tạng sở nhiếp (luận Khởi tín thuộc tạng nào). 3. Hiển giáo nghĩa phân tề (nói rõ phạm vi của giáo nghĩa). 4. Minh giáo sở bị cơ(nói rõ căn cơ nào được giáo thu nhiếp). 5. Năng thuyên giáo thể(giáo giải nói rõ ràng). 6. Sở thuyên tông thú (Tông thú được giải thích rõ ràng). - Thiên thứ 2: Tùy văn giải thích, chia làm hai môn: 1. Giải danh đề. 2. Giải văn nghĩa. Sáu tiết trong Tổng thuật nghĩa môn thì giống với 6 môn đầu của 10 môn trong bộ Nghĩa kí của ngài Pháp tạng. Trong hai môn của Tùy văn giải thích, thì Giải danh đề bao hàm 3 môn: Thích luận đề mục thứ 7, Tạo luận thời tiết thứ 8 và Phiên dịch niên đại thứ 9 trong bộ Nghĩa kí, còn Giải văn nghĩa thì tương đương với môn Tùy văn giải thích thứ 10 của bộ Nghĩa kí. Cứ theo Khởi tín luận nghĩa kí huyễn hổ lục quyển 1 của ngài Phụng đàm và Nghĩa kí yếu quyết quyển thượng của ngài Phổ tịch, thì sách này tuy được soạn theo Khởi tín luận nghĩa kí của ngài Pháp tạng, nhưng vì thêm bớt quá nhiều, lại thường theo ý kiến riêng mình phỏng đoán mà sửa đổi Nghĩa kí, cho nên xưa nay đã có nhiều người chê là đem thau đổi vàng. Những bản chú sớ sách này gồm có: - Khởi tín luận tùy sớ kí của Truyền áo. - Khởi tín luận bút tước kí của Tử tuyền. - Khởi tín luận hội duyệt của Tục pháp. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Hoa nghiêm tông luận chương sớ mục lục; Đại thừa khởi tín luận chi nghiên cứu]. II. Đại Thừa Khởi Tín Luận Sớ. Gồm 3 quyển. Tức là bộ Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí do ngài Pháp tạng soạn, nội dung giải thích luận Đại thừa khởi tín theo lập trường của tông Hoa nghiêm. (xt. Đại Thừa Khởi Tín Luận Nghĩa Kí). III. Đại Thừa Khởi Tín Luận Sớ. Gồm 2 quyển, do ngài Nguyên hiểu người Tân la soạn. Cũng gọi Hải đông sớ, thu vào Đại chính tạng tập 44. Là sách giải thích luận Đại thừa khởi tín theo bản dịch của ngài Chân đế. Nội dung sách này lập thành ba môn: 1. Tiêu tông thể: Luận Đại thừa khởi tín là tinh túy của tất cả các sách thuộc Đại thừa, Tiểu thừa. 2. Thích đề danh: Viện dẫn các kinh luận như Hư không tạng, A tì đạt ma tạp tập v.v... để trình bày rõ các nghĩa của danh từ Đại thừa. 3. Y văn hiển nghĩa: Theo văn chú giải để làm sáng tỏ ý chỉ sâu xa trong luận Khởi tín. Sách này trình bày lí nghĩa rõ ràng, văn từ lưu loát, cho nên phần nhiều đã được dẫn dụng trong Nghĩa kí của ngài Pháp tạng, Nội nghĩa lược thám kí của ngài Thái hiền, Đồng dị lược tập của ngài Kiến đăng, Chú sớ của ngài Tông mật v.v... [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Tam luận tông chương sớ lục].
Đại thừa khởi tín luận 大乘起信論
[ja] ダイジョウキシンロン Daijōkishinron ||| The Awakening of Mahāyāna Faith, attributed to Aśvaghoṣa; T 1665.32.575b-583b.One of the most important texts of the emerging indigenous East Asian Mahāyāna tradition. Written from the perspective of essence and function (tiyong 體用), this text sought to harmonize the two Indian-derived soteriological positions of the tathāgatagarbha and ālayavijñāna systems into a synthetic vision based on the One Mind in Two Aspects. The Awakening of Faith was to become one of the singlemost influential texts in the development of the East Asian style of Buddha-nature theory. It was studied and commented on repeatedly by a long list of East Asian scholars, including such luminaries as Wŏnhyo 元曉, Fazang 法藏 and Zongmi 宗密. Although its authorship is attributed to the Indian monk Aśvaghoṣa 馬鳴, modern scholarship is fairly certain that the text was an indigenous East Asian production. In great part due to the commentaries by Wŏnhyo 元曉, the Awakening of Faith ended up having an unusually powerful influence in Korea, where it may be the most oft-cited text in the entire tradition. => Được xem là của Mã Minh. Là một trong những luận văn quan trọng phát xuất từ truyền thống Đại thừa bản xứ Á Đông. Luận viết từ khía cạnh Thể và Dụng, luận nầy tìm kiếm sự hài hoà giữa 2 luận điểm siêu hình có nguồn gốc Ấn Độ về Như Lai tạng và hệ thống A-lại-da thức vào trong một quan điểm tổng hợp căn cứ vào Nhất tâm trong Nhị môn (e: Two Aspects). Luận Đại thừa khởi tín trở nên 1 trong những cuốn luận có ảnh hưởng duy nhất trong sự phát triển học thuyết Phật tính theo lối Á Đông. Luận nầy được nghiên cứu và chú giải nhiều lần qua một danh sách khá dài các học giả Á Đông, gồm những ngôi sao sáng như Nguyên Hiểu (Wŏnhyo 元曉), Pháp Tạng (Fazang 法藏 ), và Tông Mật (Zongmi 宗密). Mặc dù tác giả của luận nầy được xem là của một tăng sĩ Ấn Độ là Mã Minh (馬鳴s: Aśvaghoṣa), nhưng các học giả hiện đại thẳng thắn cho rằng luận nầy là một tác phẩm mang tính bản xứ Á Đông. Phần lớn nhờ bản chú giải của Nguyên Hiểu, luận Đại thừa khởi tín cuối cùng có được một ảnh hưởng khác thường ở Triều Tiên, nơi mà cuốn luận là bản văn thường được trích dẫn nhất trong mọi truyền thống.
đại thừa kim cương kế châu bồ tát tu hành phần kinh
818全一卷。略稱髻珠經。唐代菩提流志譯。今收於大正藏第二十冊。本經乃就菩薩修行悟入所得之三摩地來說明其修行次第,並分別敘述護念者、願求者、聽聞者等之功德,與毀謗此法門之果報。〔開元釋教錄卷九、貞元新定釋教目錄卷二十四〕
; (大乘金剛髻珠菩薩修行分經) Có 1 quyển. Gọi tắt: Kế châu kinh, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này nói rõ về thứ tự tu hành chứng nhập Tam ma địa của hàng Bồ tát, trình bày về công đức của những người hộ niệm, người cầu nguyện, người nghe kinh và về quả báo của người hủy báng pháp môn này. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.24].
đại thừa kinh
Mahàyàna-sutras (S). The sùtra-pitaka, discourses ascribed to the Buddha. These are divided into five classes corresponding to the Mahàyàna theory of the Buddha's life: 1-Avatamsaka Hoa nghiêm; 2-Vaipulya Phương đẳng; 3-Pràjna Bát nhã; 4-Saddharma Pundarika Pháp hoa; Mahàparinirvàna Niết bàn.
; Mahayana sutras.
Đại thừa kinh trang nghiêm luận
大乘經莊嚴論; S: mahāyānasūtralaṅkāra-śāstra;|Một tác phẩm của Ðại sư Vô Trước gồm 13 quyển. Tương truyền rằng, Sư mỗi đêm nhập định, lên cung trời Ðâu-suất được Di-lặc Bồ Tát giảng giải đạo lí (Mai-tre-ya-na-tha [s: maitreyanātha]). Trở về cõi này, Sư viết lại những bộ luận. Ðây là một trong năm bộ luận lớn mà Sư được đức Di-lặc truyền cho.
đại thừa kinh điển
828大乘經,梵語 mahāyāna-sūtra。指大乘佛教徒所信奉之經典。又作大乘修多羅、菩薩契經、方等經、大方等經。即大智度論所謂「聲聞藏、菩薩藏」中之「菩薩藏」。大體而言,小乘經典即指阿含經或南傳之尼柯耶(巴 nikāya),為部派佛教及今之南傳佛教徒所信奉。此類經典以外,尚有數量甚多之經典則為大乘經典。以大正大藏經為例,其中所收之經(律、論除外),阿含部及本緣部內之一部分為小乘經典,其餘之般若部、法華部、華嚴部、寶積部、涅槃部、大集部、經集部、密教部等所含之經書,皆為大乘經典。大乘經所說之主要內容,為成佛之途徑、菩薩道之內涵,及六波羅蜜、佛性等教義,凡此皆非小乘佛教之義理所側重者。而北傳中日韓等國之佛教徒,雖不排斥阿含經,然所信大體以大乘經典為主。 關於大乘經典之經卷部帙,茲列舉如下:據歷代三寶紀卷十五所舉,宋世眾經別錄立大乘錄、小乘錄、大小乘不判錄等之別,其中,大乘錄總計四三八部九一四卷;李廓之魏世眾經目錄則立大小乘之經、律、論等之別,其中,大乘經目錄二一四部;寶唱之梁世眾經目錄立有大乘經、小乘經、異譯經等之別,大乘經二六二部六七四卷;隋代法經之眾經目錄將大小乘之經、律、論各分為一譯、異譯、失譯、別生、疑惑、偽妄等六種,其中,大乘修多羅總計七八四部一七一八卷。同書卷十三大乘錄入藏目,將大乘經典分為有譯、失譯二種,合計四六九部一二八七卷。此外,開元釋教錄卷十九入藏錄,則舉出大乘經典有五一五部二一七三卷。 蓋大乘經典出現於世之年代雖不詳,然就東漢桓帝、靈帝時,竺佛朔、支婁迦讖等人傳譯道行經、般舟三昧經、首楞嚴經等,及龍樹菩薩於大智度論中援引六波羅蜜經、法華經、十地經、網明菩薩經、禪經、菩薩本起經等而論,則恐係從佛陀入滅後五百年頃,漸次出現於世,而至龍樹時代,已成重要之經典行世。此等大乘經典,雖經古來諸多論師主張並非佛陀所直接宣說者,然皆不外根據佛陀所說之教理而來,並進一步發揮佛法之微言大義,闡明其一一之實義,復深入印證考察而加以整理記述,故大乘經典可謂集佛陀教法之大成者。〔增一阿含經卷一序品、北本大般涅槃經卷七、大寶積經卷九十二、大方等大集經卷二十二、大智度論卷四十六、大乘莊嚴經論卷一、成唯識論卷三、大乘義章卷一、貞元新定釋教目錄卷二十九〕(參閱「小乘經典」937、「修多羅藏」4040、「經」5548)
; (大乘經典) Đại thừa kinh, Phạm: Mahàyàna-sùtra. Cũng gọi Đại thừa tu đa la, Bồ tát khế kinh, Phương đẳng kinh, Đại phương đẳng kinh. Chỉ cho những bộ kinh thuộc về Bồ tát tạng trong hai tạng. Như các bộ: Bát nhã, Pháp hoa, Hoa nghiêm, Bảo tích, Niết bàn, Đại tập, Kinh tập v.v... đều là kinh điển thuộc Đại thừa. Nội dung chủ yếu của kinh Đại thừa nói về đạo Bồ tát, giáo nghĩa sáu ba la mật, tính Phật và chỉ ra con đường tắt thành Phật. Về số bộ, quyển của kinh Đại thừa được ghi trong các bản Kinh lục như sau: Theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 15 nêu, thì Tống thế chúng kinh biệt lục ghi 438 bộ gồm 914 quyển. Ngụy thế chúng kinh mục lục của Lí khuếch ghi 214 bộ. Lương thế chúng kinh mục lục của ngài Bảo xướng ghi 262 bộ gồm 674 quyển. Tùy thế chúng kinh mục lục của ngài Pháp kinh ghi 784 bộ gồm 1.718 quyển. Khai nguyên thích giáo lục ghi 515 bộ gồm 2.173 quyển. Niên đại xuất hiện của kinh Đại thừa tuy không rõ, nhưng căn cứ vào những kinh Đạo hành, Bát chu tam muội, Thủ lăng nghiêm v.v... do các ngài Trúc phật sóc, Chi lâu ca sấm v.v... đã phiên dịch và lưu truyền ở thời Hoàn đế, Linh đế nhà Đông Hán, và các kinh mà bồ tát Long thụ đã viện dẫn trong luận Đại trí độ như: Kinh Lục ba la mật, kinh Pháp hoa, kinh Thập địa, kinh Võng minh bồ tát, kinh Thiền, kinh Bồ tát bản khởi v.v... mà nhận xét và suy đoán, thì có lẽ khoảng 500 năm sau khi đức Phật nhập diệt, các kinh Đại thừa đã xuất hiện dần dần, để rồi đến thời đại ngài Long thụ thì đã trở thành kinh điển trọng yếu lưu hành ở đời. Tuy từ xưa đến nay, các vị Luận sư phần nhiều cho rằng, kinh Đại thừa không phải do đức Phật trực tiếp tuyên thuyết, nhưng nội dung đều không ngoài lời dạy của Ngài mà có, rồi tiến thêm bước nữa mà phát huy ý chỉ sâu xa mầu nhiệm của Phật giáo, chỉ rõ nghĩa chân thực của các pháp, chỉnh lí, ghi chép lại bằng sự khảo sát ấn chứng thâm sâu, cho nên, có thể nói, kinh Đại thừa là tập đại thành giáo pháp đức Phật. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.1 phẩm Tựa; kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) Q.7; kinh Đại bảo tích Q.92; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.22; luận Đại trí độ Q.46; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.1; luận Thành duy thức Q.3; Đại thừa nghĩa chương Q.1; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.29]. (xt. Tiểu Thừa Kinh Điển, Tu Đa La Tạng Kinh).
đại thừa luận
831請參閱 占察經 即敷陳六度及諸法皆空等義,並注解大乘經典之各種論書。與小乘論對稱。又稱大乘阿毘曇、菩薩對法藏。佛陀住世時,別無論部,至佛陀入滅後,諸菩薩始為鈍根眾生製造諸論,分別解釋諸經之深義。如龍樹造大智度論以闡釋大品般若,提婆造百論,無著造瑜伽師地論,天親造大乘成業論等,護法造成唯識論等,清辨造掌珍論等。我國自鳩摩羅什、菩提流支、真諦、玄奘、施護等諸師相繼傳譯此等經論後,講習之風頗盛。開元釋教錄卷十九入藏錄,分大乘論為釋教論、集義論,其中,釋教論二十一部一五五卷,集義論七十六部三六三卷,合為九十七部五一八卷;至元法寶勘同總錄卷八列舉一一七部六二九卷;縮刷大藏經列舉一二八部六五九卷。此外,尚未漢譯者有月稱之中論釋(梵本)、龍樹之無畏論、世親之無盡意經廣釋、安慧之大乘莊嚴論釋、陳那之因明集(以上藏本)等。〔歷代三寶紀卷十三、卷十五、彥琮錄卷一、卷二、卷五、大唐內典錄卷六、大藏經綱目指要錄卷五、大藏聖教法寶標目卷五、卷六〕
; Abhidharma of the Mahayana.
; (大乘論) Những bộ luận thư trình bày về nghĩa Lục độ (sáu ba la mật), Chư pháp giai không (các pháp đều không) và chú giải kinh điển Đại thừa. Đối lại với luận Tiểu thừa. Cũng gọi Đại thừa a tì đàm, Bồ tát đối pháp tạng. Khi đức Phật còn tại thế, không có tạng Luận, nhưng sau khi Ngài nhập diệt, các vị Bồ tát mới làm ra những bộ luận để phân biệt và giải thích nghĩa sâu xa của các kinh, nhằm giáo hóa những chúng sinh độn căn. Như các bồ tát Long thụ tạo luận Đại trí độ, Đề bà tạo Bách luận, Vô trước tạo luận Du già sư địa, Thiên thân tạo luận Đại thừa thành nghiệp, Hộ pháp tạo luận Thành duy thức, Thanh biện tạo luận Chưởng trân v.v... Sau khi các bộ luận ghi trên truyền vào Trung quốc và được các ngài Cưu ma la thập, Bồ đề lưu chi, Chân đế, Huyền trang, Thí hộ v.v... nối nhau phiên dịch thì phong trào giảng diễn và học tập mỗi ngày một thịnh. Nhập tạng lục trong Khai nguyên thích giáo lục quyển 15 chia luận Đại thừa làm Thích giáo luận, Tập nghĩa luận, trong đó, Thích giáo luận có 21 bộ gồm 155 quyển, Tập nghĩa luận có 76 bộ gồm 363 quyển, tổng cộng là 97 bộ 518 quyển. Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục quyển 8 liệt kê 117 bộ 629 quyển; Súc loát đại tạng kinh nêu 128 bộ 659 quyển. Ngoài ra, những bộ luận chưa được dịch ra Hán văn gồm có: Trung luận thích (bản Phạm) của ngài Nguyệt xứng, luận Vô úy của ngài Long thụ, Vô tận ý kinh quảng thích của ngài Thế thân, Đại thừa trang nghiêm luận thích của ngài An tuệ, Nhân minh tập của ngài Trần na (từ luận Vô úy trở xuống là bản Tây tạng)... [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.13, Q.15; Ngạn tông lục Q.2, Q.5; Đại đường nội điển lục Q.6; Đại tạng kinh cương mục chỉ yếu lục Q.5; Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục Q.5; Q.6].
đại thừa luật
818請參閱 阿毘達磨雜集論述記 請參閱 大乘論 又作大乘毘尼、菩薩毘尼、菩薩律藏、菩薩調伏藏。指大乘菩薩受持之戒律。為「小乘律」之對稱。梵網經卷下(大二四‧一○○七中):「若佛子,常應發一切願,孝順父母師僧三寶,願得好師同學善友知識,常教我大乘經律:十發趣、十長養、十金剛、十地,使我開解,如法修行,堅持佛戒。」 歷代各種譯經目錄所載大乘律之分類與部數各異:(一)法經之眾經目錄卷五,立有「大乘毘尼藏」一則,內分一譯、異譯、失譯、別生、疑惑、偽妄等六種,共有五十部八十二卷。(二)歷代三寶紀卷十三,分成有譯、失譯兩種,共有三十一部五十四卷。(三)大唐內典錄卷八之入藏錄,別立「大乘律」之部門,分為一譯、重譯兩種。(四)開元釋教錄卷十九之入藏錄,共收二十六部五十四卷。(五)至元法寶勘同總錄卷八舉出大乘律經典二十八部五十六卷。(六)日本縮刷大藏經則收載三十部四十八卷。〔大唐內典錄卷六、卷九、大周刊定眾經目錄卷六、貞元新定釋教目錄卷二十四、卷二十九、閱藏知津卷三十二〕
; (大乘律) Cũng gọi Đại thừa tì ni, Bồ tát tì ni, Bồ tát luật tạng, Bồ tát điều phục tạng. Chỉ cho giới luật của Bồ tát Đại thừa. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1007 trung), nói: Nếu là Phật tử thì thường nên phát nguyện: Qui kính Tam bảo, hiếu thuận cha mẹ, gặp được thầy hiền, bạn tốt, luôn luôn gần gũi để học hỏi kinh luật Đại thừa, như: Mười phát thú, mười trưởng dưỡng, mười Kim cương, mười Địa, giúp mình hiểu rõ, như pháp tu hành, kiên trì giới cấm của Phật. Về số bộ và quyển của luật Đại thừa thì các bản Kinh lục từ xưa ghi chép khác nhau: - Chúng kinh mục lục quyển 5 liệt kê 50 bộ gồm 82 quyển. - Lịch đại tam bảo kỉ quyển 13 liệt kê 31 bộ gồm 54 quyển. - Nhập tạng lục trong Khai nguyên thích giáo lục quyển 19 liệt kê 26 bộ gồm 54 quyển. - Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục quyển 8 ghi 28 bộ gồm 56 quyển. - Súc loát tạng kinh (Nhật bản) liệt kê 34 bộ gồm 48 quyển. [X. Đại đường nội điển lục Q.6, Q.9; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.6; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.24, Q.29; Duyệt tạng tri tân Q.32].
Đại thừa ly văn tự phổ quang minh tàng kinh 大乘離文字普光明藏經
[ja] ダイジョウリモジフコウミョウゾウキョウ Daijō rimoji fukōmyōzō kyō ||| The Dasheng liwenzi puguangmingzang jing; T 829.19.872-874, Great Vehicle Sutra of the Universally Radiant One's Syllable-Detachment. See Dasheng bianzhao guangmingzang wuzi famenjing 大乘遍照光明藏無字法門經 for details. => (c: Dasheng liwenzi puguangmingzang jing; e: Great Vehicle Sutra of the Universally Radiant One's Syllable-Detachment). Xem Đại thừa biến chiếu quang minh tàng vô tự pháp môn kinh (大乘遍照光明藏無字法門經c: Dasheng bianzhao guangmingzang wuzi famenjing) để biết thêm chi tiết.
đại thừa lí thú lục ba la mật đa kinh
824凡十卷。唐代般若譯。今收於大正藏第八冊。略稱六波羅蜜經、六度經。內容講述護持國界及菩薩所修六波羅蜜之法。計分十品:(一)歸依三寶品,(二)陀羅尼護持國界品,(三)發菩提心品,(四)不退轉品,(五)布施波羅蜜多品,(六)淨戒波羅蜜多品,(七)安忍波羅蜜多品,(八)精進波羅蜜多品,(九)靜慮波羅蜜多品,(十)般若波羅蜜多品。據貞元新定釋教目錄卷十七載,初時,有大秦寺之波斯僧景淨,依據胡本,將本經譯為七卷本。然因景淨不識梵文,又未諳佛教義理,故所譯與原經出入甚鉅,般若三藏遂於貞元四年(788)十一月依據梵本,重譯本經。注疏本經者,有智通之六度經疏十卷、六度經義例訣、六度經義目各一卷、超悟之六度經疏四卷等。〔大唐貞元續開元釋教錄卷中、新編諸宗教藏總錄卷一〕
; (大乘理趣六波羅蜜多經) Gồm 10 quyển, do ngài Bát nhã dịch vào đời Đường, thu trong Đại chính tạng tập 8. Gọi tắt: Lục ba la mật kinh, Lục độ kinh. Nội dung nói về pháp hộ trì quốc gia và sáu pháp ba la mật của Bồ tát, gồm có 10 phẩm: 1. Phẩm qui y Tam bảo. 2. Phẩm đà la ni hộ trì quốc giới. 3. Phẩm phát bồ đề tâm. 4. Phẩm bất thoái chuyển. 5. Phẩm bố thí ba la mật đa. 6. Phẩm tịnh giới ba la mật đa. 7. Phẩm an nhẫn ba la mật đa. 8. Phẩm tinh tiến ba la mật đa. 9. Phẩm tĩnh lự ba la mật đa. 10. Phẩm bát nhã ba la mật đa. Cứ theo Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục quyển 17 chép, thì lúc đầu, có tu sĩ của Cảnh giáo, người Ba tư, tên Cảnh tịnh, ở nhà thờ Đại tần, theo bản tiếng Hồ mà dịch kinh này thành 7 quyển. Nhưng vì Cảnh tịnh không biết tiếng Phạm, lại cũng chưa hiểu rõ nghĩa lí Phật giáo, nên bản dịch này rất khác với nguyên văn. Năm Trinh nguyên thứ 4 (788), ngài Tam tạng Bát nhã y cứ vào bản tiếng Phạm, dịch lại kinh này. Các bản chú sớ kinh này gồm có: - Lục độ kinh sớ 10 quyển của ngài Trí thông. - Lục độ kinh nghĩa lệ quyết 1 quyển. - Lục độ kinh nghĩa mục 1 quyển. - Lục độ kinh sớ 4 quyển của ngài Siêu ngộ v.v... [X. Đại đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục Q.trung; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].
đại thừa lăng già kinh duy thức luận
Vimsatikavijnaptimatratasiddhi-sastra by Vasubandhu (Thế Thân).
đại thừa mật nghiêm kinh
Ghana vyŪha sŪtra (S), Kogonkyo (J)Hậu Nghiêm KinhTên một bộ kinh.
Đại Thừa Nghĩa Chương
(大乘義章, c: Ta-ch'êng-i-chang, j: Daijōgishō): 26 quyển, hiện tồn, Taishō 44, 465, No. 1851, do Huệ Viễn (慧遠, 523-592) nhà Tùy soạn. Đây là bộ từ điển giải thích các Thuật Ngữ Phật Giáo do Huệ Viễn ở Tịnh Ảnh Tự (淨影寺) thuộc Địa Luận Tông (地論宗) đã tích lũy những tri thức về các giáo học của Tỳ Đàm, Thành Thật, Nhiếp Luận, Địa Luận, Tam Luận, v.v., và biên soạn thành. Tất cả có 26 quyển, nhưng 20 quyển trừ Tạp Pháp Tụ (雜法聚) ra được thâu lục vào Đại Chánh Tạng (大正藏, Taishō). Bộ này được chia thành Giáo Pháp Tụ (敎法聚), Nghĩa Pháp Tụ (義法聚), Nhiễm Pháp Tụ (染法聚), Tịnh Pháp Tụ (淨法聚); mỗi phần như vậy có giải thích về pháp số (như Nhị Đế [二諦], Tam Giải Thoát Môn [三解脫門], Tứ Duyên [四緣], Bát Thức [八識], v.v.). Giáo học của thư tịch này là giáo học thâu tập toàn bộ Phật Giáo Trung Quốc từ xưa đến nay. Nó được xem như là sự tổng hợp giáo học Duy Thức của Chơn Đế (s: Paramārtha, 眞諦, 499-569) và Đại Thừa Khởi Tín Luận (大乘起信論).
đại thừa nghĩa chương
828<一>凡三卷。東晉廬山慧遠(334~416)問,鳩摩羅什(344~413)答。又稱大乘大義章、鳩摩羅什法師大義、法問大義、問大乘中深義十八科。民國十九年(1930),中國佛教歷史博物館重刊,題名「遠什大乘要義問答」。收於大正藏第四十五冊。共分十八條:問答真法身、重問答法身、問答法身像類、問答法身壽量、問答修三十二相、問答受決、問答法身感應、問答法身佛盡本習、問答造色法、問答羅漢受決、問答念佛三昧、問答四相、問答如法性真際、問答實法有、問答分破空、問答後識追憶前識、問答遍學、問答住壽義。據僧佑(445~518)之出三藏記集卷十二所載劉宋陸澄之法論目錄第一帙,及隋代費長房所編歷代三寶紀卷七慧遠條之記載,可推知隋代以前已將羅什、慧遠兩師往來問答之文疏編纂成書,亦為三卷十八章之形式,以便利當世學者,惟其條目內容與今本略有出入。羅什於本書中直接闡明對於大乘佛教教義及信仰之理念,並將龍樹、提婆一系之中觀佛教思想介紹至我國,促成般若等大乘經典之翻譯與研究。又書中反覆論述有關佛、菩薩法身之問題,顯示此為慧遠及當世佛教界所共同矚目之焦點。此外,由慧遠、羅什之問答,亦可作一中、印思想、文化之比較。〔法苑珠林卷一○○、大唐內典錄卷三、出三藏記集卷十二、三論宗章疏〕 <二>凡二十卷。隋代淨影寺慧遠(523~592)撰。收於大正藏第四十四冊。本書係一部佛教類書,類聚佛書要目並詳釋之,以詮顯大乘深義。要目分:教法聚、義法聚、染法聚、淨法聚、雜法聚等五聚。各聚概依增數法立義門,總揭二百二十二門(缺雜法聚),更設細段而詳釋之。本書引證賅博,義旨明晰,相當於佛教百科辭書之性質,故歷來佛教術語之說明大多引用本書。依續高僧傳卷八慧遠條載,本書原為十四卷,二四九科。現行本有二十卷本與二十八卷本(義天錄)兩種。 本書對染法聚中煩惱義之闡釋,從二障義至八萬四千煩惱義共分為三十門。又各篇之法數多從小數逐漸增至大數,每篇分為四門以至八門來解說。此種將佛教術語以法之數別排列說明而成為辭典體裁之作法,不知起自何時。然慧遠之師法上即曾著有大乘義章六卷及增數法門(內法數林)四十卷,此事載於續高僧傳卷十。此外,天台智顗亦撰有法界次第初門一書,由修禪之立場而建立六十科之法數。上列所述大多與大乘義章之項目相符,準此觀之,此種類書頗流行於六世紀前後之佛教界。本書五聚之分類或係根據成實論之發聚、苦諦聚、集諦聚、滅諦聚、道諦聚等觀念而來者。〔新編諸宗教藏總錄卷三、佛典疏鈔目錄卷上、大乘義章書後(陳寅恪先生論文集下)〕
; (大乘義章) I. Đại Thừa Nghĩa Chương. Gồm 3 quyển. Cũng gọi Đại thừa đại nghĩa chương, Cưu ma la thập pháp sư đại nghĩa, Pháp vấn đại nghĩa, Vấn đại thừa trung thâm nghĩa thập bát khoa. Năm 1930, Thư viện Trung quốc Phật giáo lịch sử tái bản, đề là: Viễn Thập Đại Thừa Yếu Nghĩa Vấn Đáp. Thu trong Đại chính tạng tập 45. Nội dung bộ sách này do ngài Tuệ viễn (334 - 416) ở Lô sơn đời Đông Tấn đặt câu hỏi và ngài Cưu ma la thập (344 - 413) trả lời, gồm 18 điều: 1. Vấn đáp chân pháp than (Hỏi và trả lời về chân pháp thân). 2. Trùng vấn đáp pháp thân (Hỏi và trả lời tiếp về pháp thân). 3. Vấn đáp pháp thân tượng loại (Hỏi và trả lời về các loại pháp thân). 4. Vấn đáp pháp thân thọ lượng (Hỏi và trả lời về thọ lượng của pháp thân). 5. Vấn đáp tu tam thập nhị tướng (Hỏi và trả lời về việc tu nhân 32 tướng). 6. Vấn đáp thụ quyết (Hỏi và trả lời về việc thụ kí). 7. Vấn đáp pháp thân cảm ứng (Hỏi và trả lời về sự cảm ứng của pháp thân). 8. Vấn đáp pháp thân Phật tận bản tập (Hỏi và trả lời về việc pháp thân Phật còn tập khí hay không). 9. Vấn đáp tạo sắc pháp (Hỏi và trả lời về việc cấu tạo sắc pháp). 10. Vấn đáp La hán thụ quyết(Hỏi và trả lời về việc La hán được thụ kí). 11. Vấn đáp niệm Phật tam muội (Hỏi và trả lời về Tam muội niệm Phật). 12. Vấn đáp tứ tướng (Hỏi và trả lời về bốn tướng). 13. Vấn đáp như pháp tính chân tế(Hỏi và trả lời về thực tế của pháp tính). 14. Vấn đáp thực pháp hữu (Hỏi và trả lời về thực có pháp không). 15. Vấn đáp phần phá không (Hỏi và trả lời về phá không). 16. Vấn đáp hậu thức truy ức tiền thức (Hỏi và trả lời về việc thức sau nhớ lại thức trước). 17. Vấn đáp biến học(Hỏi và trả lời về việc học khắp). 18. Vấn đáp trụ thọ nghĩa (Hỏi và trả lời về nghĩa trụ thọ). Cứ theo Pháp luận mục lục quyển 1 của Lục trừng trong Xuất tam tạng kí tập quyển 12 của ngài Tăng hựu (445 - 518) và điều Tuệ viễn trong Lịch đại tam bảo kỉ quyển 7 của Phí trường phòng đời Tùy chép, thì văn thư vấn đáp qua lại giữa hai ngài La thập và Tuệ viễn đã được biên soạn thành sách từ trước đời Tùy, cũng với hình thức 3 quyển 18 chương, nhưng nội dung các điều mục thì hơi khác với bản hiện nay. Trong sách này, ngài La thập đã trực tiếp nói rõ giáo nghĩa của Phật giáo Đại thừa; đồng thời, giới thiệu và truyền bá hệ thống tư tưởng Phật giáo Trung quán của các ngài Long thụ, Đề bà tại Trung quốc, do đó, đã đưa đến việc phiên dịch và nghiên cứu các kinh điển Đại thừa. Ngoài ra, cuộc vấn đáp của các ngài Tuệ viễn và La thập cũng có thể được xem như một sự so sánh giữa tư tưởng, văn hóa của Trung quốc và Ấn độ. [X. Pháp uyển châu lâm Q.100; Đại đường nội điển lục Q.3; Xuất tam tạng kí tập Q.12; Tam luận tông chương sớ]. II. Đại Thừa Nghĩa Chương. Gồm 20 quyển, do ngài Tuệ viễn (523- 592) ở chùa Tịnh ảnh soạn vào đời Tùy, thu trong Đại chính tạng tập 44. Nội dung bộ sách này chủ yếu phân loại và giải thích các mục trọng yếu trong kinh điển để hiển bày rõ nghĩa sâu xa của Đại thừa. Toàn sách chia làm 5 tụ: Giáo pháp tụ, Nghĩa pháp tụ, Nhiễm pháp tụ, Tịnh pháp tụ và Tạp pháp tụ. Mỗi tụ lại chia làm nhiều nghĩa môn được sắp xếp theo thứ tự pháp số tăng từ số ít đến số nhiều để giải thích. Như từ nghĩa2chướng đến 8vạn 4nghìn phiền não v.v... gồm tất cả 222 môn (trừ Tạp nhiễm tụ hiện nay không còn). Vì sách này dẫn chứng rộng rãi, nghĩa lí rõ ràng, có tính chất tương đương với một bộ từ điển bách khoa, cho nên từ xưa đến nay, các nhà nghiên cứu phần nhiều đều dẫn dụng để giải thích thuật ngữ Phật giáo. Theo điều Tuệ viễn trong Tục cao tăng truyện quyển 8, thì sách này vốn có 14 quyển gồm 249 khoa. Bản lưu hành hiện nay có hai loại: Bản 20 quyển và bản 28 quyển (Nghĩa thiên lục). Phương pháp sắp xếp pháp số theo thứ tự từ số nhỏ đến số lớn để thuyết minh thuật ngữ Phật giáo mà thành là thể tài từ điển này, không biết đã bắt đầu từ bao giờ? Nhưng Tục cao tăng truyện quyển 10 cho biết, thầy của Tuệ viễn (tác giả Đại thừa nghĩa chương) là ngài Pháp thượng từng đã soạn các sách: Đại thừa nghĩa chương 6 quyển và Tăng số pháp môn (Nội pháp số lâm) 40 quyển v.v... Ngoài ra, ngài Thiên thai Trí khải cũng có soạn Pháp giới thứ đệ sơ môn, trong đó, theo lập trường tu Thiền mà kiến lập pháp số 60 khoa. Nội dung những sách nói trên đây phần nhiều cũng phù hợp với những hạng mục trong Đại thừa nghĩa chương của ngài Tuệ viễn. Theo đó mà suy thì loại sách này đã rất được lưu hành trong giới Phật giáo ở khoảng trước sau thế kỉ VI. Còn về cách chia năm tụ trong sách này thì có người cho rằng đó là căn cứ theo phương pháp phân loại: Phát tụ, Khổ đế tụ, Tập đế tụ, Diệt đế tụ và Đạo đế tụ trong luận Thành thực. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Phật điển sớ sao mục lục Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương thư hậu (Trần dần khác tiên sinh luận văn tập hạ)].
Đại thừa nghĩa chương 大乘義章
[ja] ダイジョウギショウ Daijōgi shou ||| Dasheng yizhang; (Essay on the Meaning of Mahāyāna). 26 fasc., by Huiyuan 慧遠; T 1851.44.465a-875c. => (c: Dasheng yizhang; e: Essay on the Meaning of Mahāyāna). 26 quyển, của Huệ Viễn ( 慧遠c: Huiyuan).
đại thừa ngũ uẩn luận
812全一卷。又作粗釋體義論、五蘊論。印度世親造,唐代玄奘譯。今收於大正藏第三十一冊。小乘佛教以蘊、處、界等三科分類諸法,本書著重於闡明大乘五蘊法,並兼說大乘十二處、十八界等法,屬法相宗瑜伽十支論之一。小乘薩婆多部將諸法分為五位七十五法,而以五蘊總攝其中七十二有為法。對此,大乘則分為五位百法,其中之九十四有為法總攝於五蘊,即:色蘊有五根、五境、無表色;受蘊有受心所;想蘊有想心所;行蘊有除受、想心所外之一切心法及不相應行法等六十七法;識蘊攝阿賴耶等八識。大乘經典中,以本論對五蘊法之說明最為簡要。安慧有大乘廣五蘊論(日照譯),即廣此論而作。〔大唐內典錄卷五、開元釋教錄卷八、卷九、佛家名相通釋(熊十力)〕
; Māhāyānāvaipulya-pacaskadhaksa śāstra (S)Do ngài Thế Thân biên soạn.
; (大乘五蘊論) Có 1 quyển, do bồ tát Thế thân tạo, đại sư Huyền trang dịch vào đời Đường. Cũng gọi Thô thích thể nghĩa luận, Ngũ uẩn luận, thu trong Đại chính tạng tập 31. Nội dung sách này chủ yếu thuyết minh các pháp Đại thừa ngũ uẩn, Đại thừa thập nhị xứ và Thập bát giới. Là một trong 12 chi luận Du già của tông Pháp tướng. Thuyết nhất thiết hữu bộ Tiểu thừa chia vạn hữu làm 5 vị, 75 pháp, trong đó, Ngũ uẩn bao nhiếp 72 pháp hữu vi. Trái lại, Đại thừa chia các pháp làm 5 vị, 100 pháp, trong đó, Ngũ uẩn bao nhiếp 94 pháp hữu vi. Tức là Sắc uẩn có 5 căn, 5 cảnh, vô biểu sắc; Thụ uẩn có thụ tâm sở; Tưởng uẩn có tưởng tâm sở; Hành uẩn có 67 pháp gồm tất cả tâm pháp và bất tương ứng hành pháp ngoại trừ Thụ tâm sở và Tưởng tâm sở; Thức uẩn bao gồm 8 thức, như A lại da v.v... Trong các kinh điển Đại thừa, bộ luận này thuyết minh pháp ngũ uẩn rất là đơn giản mà cô đọng. Luận Đại thừa quảng ngũ uẩn do ngài An tuệ soạn, ngài Nhật chiếu dịch, tức là tác phẩm mở rộng luận này. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8, Q.9; Phật gia danh tướng thông thích (Hùng thập lực)].
Đại thừa ngũ uẩn luận 大乘五蘊論
[ja] ダイジョウゴウンロン Daijō goun ron ||| The Dasheng wŭyun lun (Pañcaskandhaka-prakaraṇa; Mahāyāna Treatise on the Five Skandhas); T 1612.31.848-850. By Vasubandhu 世親, translated by Xuanzang 玄奘 in 646 at Hongfu Monastery. A proto-Yogācāra work; English translation from Tibetan in Anacker (1984). => (s:Pañcaskandhaka-prakaraṇa; e: Mahāyāna Treatise on the Five Skandhas); Của Thế Thân (Vasubandhu 世親), Huyền Trang (Xuanzang 玄奘)dịch năm in 646 tại chùa Hoằng Phúc. Một tác phẩm có trước Du-già hành tông. Bản dịch tiếng Anh từ tiếng Tây Tạng của Anacker (1984).
đại thừa nhân
Nhân của Đại thừa hay Bồ Đề tâm—Mahayan cause—The mind of enlightenment (Bồ đề tâm).
Đại thừa nhập Lăng-già kinh 大乘入楞伽經
[ja] ダイジョウニュウリョウガキョウ Daijō nyūryōga kyō ||| Dasheng ru lengqie jing; 7 fasc. Śiksānanda's 實叉難陀 translation of the Lankāvatāra-sūtra. See 入楞伽經. => c: Dasheng ru lengqie jing; 7 quyển. Thật-xoa Nan–đà (實叉難陀s: Śiksānanda) dịch từ kinh Lăng-già (Lankāvatāra-sūtra). Xem Nhập Lăng-già kinh(入楞伽經).
Đại thừa nhập đạo thứ đệ 大乘入道次第
[ja] ダイジョウニュウドウシダイ Daijō nyūdou shidai ||| Dasheng rudao cidi; 1 fasc., by Zhizhou 智周. T 1864.45.449b-467c. => c: Dasheng rudao cidi; 1 quyển, của Trí Châu (智 周 c: Zhizhou).
đại thừa nhị chủng thành phật
810大乘佛教主張一切眾生皆可成佛,然又分為二種,即:(一)生得成佛,謂眾生之心性原本清淨,自可成佛。(二)修得成佛,謂遇值教化始修佛道,而得成佛。
; The two Mahayana kinds of Buddhahood: 1) Bản lai Phật tánh: Buddhahood of natural purity, for every one has the inherent nature. 2) Thành tựu Phật tánh: Buddhahood attained by practice.
; (大乘二種成佛) Phật giáo Đại thừa chủ trương tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật, nhưng chia làm hai loại: 1. Sinh được thành Phật: Tâm tính chúng sinh vốn thanh tịnh, tức là Phật. 2. Tu được thành Phật: Gặp Phật pháp tu hành mới được thành Phật.
đại thừa nhị thập tụng
Mahāyānaviṃśikā (S)Tên một bộ luận kinh.
đại thừa niết bàn kinh
819闡述法身常住,眾生悉有佛性、闡提成佛等論題之大乘經典。據諸經錄所載,歷來漢譯涅槃經有如下十五種:(一)胡般泥洹經,凡二卷,後漢支婁迦讖譯。(二)大般涅槃經,凡二卷,曹魏安法賢譯。(三)大般泥洹經,凡二卷,三國吳之支謙譯。(四)方等般泥洹經,凡二卷,西晉竺法護譯。(五)佛般泥洹經,凡二卷,西晉白法祖譯。(六)大般泥洹經,凡六卷,東晉法顯、佛陀跋陀羅共譯。(七)大般涅槃經,凡三卷,法顯譯。(八)般泥洹經,凡二卷。譯者不詳。(九)佛遺教經,全一卷,姚秦鳩摩羅什譯。(十)大般涅槃經,凡四十卷,北涼曇無讖譯。(十一)般泥洹經,凡二十卷,劉宋智猛譯。今已失傳。(十二)般泥洹經,全一卷。譯者不詳。(十三)四童子三昧經,凡三卷,隋闍那崛多譯。(十四)大般涅槃經後分,凡二卷,唐代若那跋陀羅、會寧共譯。(十五)大悲經,凡五卷,北齊那連提耶舍、法智共譯。 以上十五種中,(一)(二)(三)(十一)(十二)等五種今已不存,(五)(七)(十二)為小乘涅槃經,其餘皆屬大乘涅槃經,其中又以(六)(十)(十四)為重要。四十卷本為最完全者,即北本涅槃經,其後傳於南方宋地,由慧嚴、慧觀、謝靈運等將本經前半對照法顯所譯之六卷泥洹經,整理為三十六卷二十五品,此即南本涅槃經。〔中國佛教史及佛教史籍卷一〕(參閱「大般涅槃經」844 、「南本涅槃經」3738)
; (大乘涅槃經) Bộ kinh Đại thừa nói về các luận đề: Pháp thân thường còn, Tất cả chúng sinh đều có tính Phật, Xiển đề thành Phật v.v... Cứ theo các bộ Kinh lục thì từ xưa đến nay, kinh Niết bàn đã có tới 15 bản dịch: 1. Kinh Hồ bát nê hoàn, 2 quyển, do ngài Chi lâu ca sấm dịch vào đời Hậu Hán. 2. Kinh Đại bát niết bàn, 2 quyển, do ngài An pháp hiền dịch vào đời Tào Ngụy. 3. Kinh Đại bát nê hoàn, 2 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô. 4. Kinh Phương đẳng bát nê hoàn, 2 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. 5. Kinh Phật bát nê hoàn, 2 quyển, do ngài Bạch pháp tổ dịch vào đời Tây Tấn. 6. Kinh Đại bát nê hoàn, 6 quyển, do các ngài Pháp hiển và Phật đà bạt đà la cùng dịch chung vào đời Đông Tấn. 7. Kinh Đại bát niết bàn, 3 quyển, do ngài Pháp hiển dịch. 8. Kinh Bát nê hoàn, 2 quyển, không rõ dịch giả. 9. Kinh Phật di giáo, 1 quyển, do ngài Cưu la ma thập dịch vào đời Diêu Tần. 10. Kinh Đại bát niết bàn, 40 quyển, do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương. 11. Kinh Bát nê hoàn, 20 quyển, do ngài Trí mãnh dịch vào đời Lưu Tống. Nay đã thất truyền. 12. Kinh Bát nê hoàn, 1 quyển, không rõ dịch giả. 13. Kinh Tứ đồng tử tam muội, 3 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy. 14. Đại bát niết bàn kinh hậu phần, 2 quyển, do các ngài Nhã na bạt đà la và Hội ninh dịch chung vào đời Đường. 15. Kinh Đại bi, 5 quyển, do các ngài Na liên đề da xá và Pháp trí dịch chung vào đời Bắc Tề. Trong số 15 loại bản dịch kể trên, thì 5 bản 1, 2, 3, 11, 12 nay không còn, các bản 5, 7, 12 là kinh Niết bàn Tiểu thừa, số còn lại đều là kinh Niết bàn Đại thừa, trong đó, 3 bản 6, 10, 14 là quan trọng. Bản 40 quyển là hoàn bị nhất, tức là kinh Niết bàn (bản Bắc); về sau, bản này được truyền xuống miền Nam thuộc nhà Tống, các sư Tuệ nghiêm, Tuệ quán và cư sĩ Tạ linh vận đem đối chiếu nửa đầu của kinh này với kinh Nê hoàn 6 quyển do ngài Pháp hiển dịch, rồi chỉnh lý tập thành 36 quyển 25 phẩm, tức là kinh Niết bàn (bản Nam) hiện nay. [X. Trung quốc Phật giáo sử cập Phật giáo sử tịch Q.1]. (xt. Đại Bát Niết Bàn Kinh, Nam Bản Niết Bàn Kinh).
đại thừa phá hữu luận
Mahāyāna bhāvabheda śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
đại thừa pháp
Mahayana Doctrine—Đại Thừa không những là một triết lý và tâm lý phát triển cao độ và thâm sâu, mà nó cũng là một cỗ xe năng động để đạt thành Phật quả. Giáo pháp tu tập căn bản của Đại Thừa là việc tu tập Lục Độ Ba La Mật, trong đó trí tuệ viên mãn là cái đỉnh cao nhất, vì sự hiểu biết trực tiếp sâu sắc về tánh không sẽ biến đổi việc thực hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn và thiền định thành viên mãn. Vai trò của trí tuệ viên mãn thật là độc đáo trong sáu đức hạnh viên mãn, vì dưới ánh sáng của trí tuệ viên mãn, chúng ta thấy rõ tánh không của chủ thể, khách thể cũng như hành động của năm đức hạnh kia. Thí dụ như trong việc bố thí, chính trí tuệ viên mãn khiến cho chúng ta hiểu được tính không của chủ thể hay người cho, tính không của khách thể hay người nhận, và tính không của tặng vật. Tương tự, trong đức hạnh viên mãn của trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, và thiền định, chính là do sự hiểu biết trí tuệ viên mãn mà chúng ta có thể hiểu được sự thanh tịnh hay tính không của chủ thể, khách thể, và hành động hiện diện trong từng phạm vi hành động. Hành trì sáu đức hạnh viên mãn đưa đến việc thủ đắc công đức và kiến thức. Đức hạnh bố thí, trì giới, và nhẫn nhục viên mãn sẽ dẫn đến sự tích lũy công đức; trong khi thiền định và trí tuệ viên mãn lại dẫn đến sự tích lũy kiến thức cần thiết cho việc tu tập; đức hạnh tinh tấn cần thiết cho cả công đức và kiến thức. Cả hai thứ công đức và kiến thức đều tối cần thiết cho việc tu tập để đạt thành Phật quả. Ngoài ra, bốn tâm vô lượng hay bốn đức hạnh phát sinh ra các đức hạnh cứu độ vị tha. Chúng là những đại nguyện của những bậc giác ngộ muốn giải thoát chúng sanh. Những bậc giác ngộ nầy dùng đủ mọi phương tiện thiện xảo để độ mình độ người—The Mahayana is not only a highly developed and profound philosophy and psychology, it is also an accessible, dynamic vehicle for achievement of Buddhahod. The basic practice doctrine of Mahayana Buddhism is the cultivation of the six paramitas; among them, the perfection of wisdom is the crown of the six perfections, for it is the penetrative, direct understanding of emptiness will transform the practices of generosity, morality, patience, energy, and meditation into perfections. The role of the perfection of wisdom is unique among the six perfections, for it is in the light of the perfection of wisdom that we see the emptiness of the subject, object, as well as action of the other five perfections. For example, in the perfection of generosity, it is the perfection of wisdom that causes us to understand the emptiness of the subject of the action of giving or the giver, the emptiness of the object of giving or the recipient, and the emptiness of the gift. Similarly, in the perfections of morality, patience, energy, and meditation, it is through understanding the perfection of wisdom that one understands the purity or emptiness of the subject, object, and action present in every sphere of action. The practice of the six paramitas results in the accomplishment of the two accumulations of merit and knowledge. The perfection of generosity, morality, and patience result in the accumulation of merit; while those of meditation and wisdom result in the accumulationof knowledge; the perfection of energy is necessary in both accumulations of merit and knowledge. These two accumulations is very necessary for the cultivation and achievement of the Buddhahood. Besides, four infinite minds or four perfections of virtues may also be termed stereological or altruistic perfections. They are great vows of the enlightened ones with intention to free all sentient beings. These Enlightened Beings use all kinds of skillful means to save themselves as well as to save others.
đại thừa pháp giới vô sai biệt luận
816全一卷。又稱法界無差別論。印度堅慧菩薩造,唐代提雲般若譯。今收於大正藏第三十一冊。內容闡明菩提心之義,並論述法界之無差別平等。初舉歸敬頌,次列菩提心之十二義(果、因、自性、異名、無差別、分位、無染、常恆、相應、不作義利、作義利、一性),計分十二段。每段之初,先以五言頌總明大要,其次則一一詳解其義。全書之五言四句頌共有二十四則,七言四句頌一則。其譯出年代為武后大周天授二年(691)。本書另有一同名異譯本,又稱「如來藏論」,亦為提雲般若所譯,然其譯出年代則在開元(713~741)之後,亦收於大正藏第三十一冊。注疏有法藏之法界無差別論疏一卷(現行二卷)、法界無差別論大意一卷(調雲)、法界無差別論講錄三卷(撰者不詳)、法界無差別論示珠鈔一卷(德門)等。〔開元釋教錄卷九、大周刊定眾經目錄卷六、新編諸宗教藏總錄卷三、華嚴宗章疏、東域傳燈目錄卷下〕
; (大乘法界無差別論) Có 1 quyển. Cũng gọi Pháp giới vô sai biệt luận. Do ngài Kiên tuệ tạo, ngài Đề vân bát nhã dịch vào đời Đường, thu trong Đại chính tạng tập 31. Nội dung của luận này nói về nghĩa tâm bồ đề và tính bình đẳng vô sai biệt của pháp. Trước hết, nêu bài tụng Qui kính, kế đến liệt kê 12 nghĩa tâm bồ đề và chia làm 12 đoạn (Quả, Nhân, Tự tính, Vô sai biệt, Phần vị, Vô nhiễm, Thường hằng, Tương ứng, Bất tác nghĩa lợi, Tác nghĩa lợi, Nhất tính) để giải thích. Ở đầu mỗi đoạn, lại dùng kệ tụng thể năm chữ trình bày đại cương một cách tổng quát, sau đó mới giải nghĩa chi tiết. Luận này được dịch xong vào năm Thiên thụ thứ 2 (691) đời Vũ hậu Đại chu. Nó còn có bản dịch khác (cũng gọi Như lai tạng luận) cũng do ngài Đề vân bát nhã dịch, nhưng niên đại phiên dịch được ghi sau thời Khai nguyên (713 - 741), cũng thu trong Đại chính tạng tập 31. Về chú sớ thì có: - Pháp giới vô sai biệt luận sớ 1 quyển (bản lưu hành hiện nay là 2 quyển) của ngài Pháp tạng. - Pháp giới vô sai biệt đại ý 1 quyển của ngài Điều vân. - Pháp giới vô sai biệt luận giảng lục ba quyển, không rõ soạn giả. - Pháp giới vô sai biệt luận thị châu sao 1 quyển của Đức môn. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.6; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Hoa nghiêm tông chương sớ; Đông vực truyền đăng mục lục Q.hạ].
Đại thừa pháp giới vô sai biệt luận sớ 大乘法界無差別論疏
[ja] ダイジョウホッカイムシャベツロンソ Daijō hokkai mu sabetsu ronso ||| Dasheng fajie wu chabie lun shou; By Fazang 法藏. T 1838.44.61a-76b. => c: Dasheng fajie wu chabie lun shou; Của Pháp Tạng ( 法藏c: Fazang).
đại thừa pháp sư
Mahayana Master.
đại thừa pháp tướng nghiên thần chương
817凡五卷。日僧護命撰。今收於大正藏第七十一冊。略稱法相研神章、研神章。敘述世界建立之相,並闡明「三界唯識」等法相宗之要義。計分十四門,大多為問答之體裁。
; (大乘法相研神章) Gồm 5 quyển, do vị tăng người Nhật bản là Hộ mệnh soạn, thu trong Đại chính tạng tập 71. Gọi tắt: Pháp tướng nghiên thần chương, Nghiên thần chương. Nội dung sách này chia làm 14 môn, phần lớn dùng thể văn vấn đáp để nói rõ tướng thành lập thế giới và các nghĩa cốt yếu của tông Pháp tướng như Tam giới duy thức v.v...
đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương
817凡七卷(或作十四卷)。略稱法苑義林章、義林章、法苑,別稱七卷章。唐代窺基著。今收於大正藏第四十五冊。書中對於唯識教義之組織及基本內容,如判教、唯識義理、修行理論、果位等,均詳加闡釋,係古來唯識研究者之珍貴典籍。內容分為二十九章,第一卷有總料簡、五心、唯識義林、諸乘義林等四章。其中之總料簡章為本書最精要之部分,係著者基於唯識之立場以簡擇佛陀一代以降之教說,略分五段:(一)教益有殊門,舉出小乘異部與諸大乘教各別之利益。(二)時利差別門,先敘我國歷來各家之判教,次述唯識宗三時教之說。(三)詮宗各異門,初舉古來各宗立宗之不同,後詮法相之「非有非空中道宗」之要義。(四)體性不同門,先示外道、小乘、大乘等之教體不同,復揭示唯識宗「四重出體」之說。(五)得名懸隔門,為六合釋之概說。 第二卷有諸藏、十二分、斷障、二諦等四章。第三卷有大種造色、五根、表無表等三章。第四卷有歸敬、四食、六十二見、八解脫、二執等五章。第五卷有二十七賢聖、三科、極微、勝定果色、十因、五果、法處色等七章。第六卷有三寶、破魔羅、三慧、三輪等四章。第七卷有三身義林、佛土等二章。七卷本為現今所流行者,相傳另有八卷三十三章之異本,係在原有二十九章外,另加得非得、諸空、十二觀、三根等四章。本書之注釋書較重要者有:義林章決擇記(智周)、義林章補闕(慧沼)、義林章獅子吼章(基辨)、義林章纂註(普寂)等。〔新編諸宗教藏總錄卷三、法相宗章疏、東域傳燈目錄〕
; (大乘法苑義林章) Gồm 7 quyển (hoặc 14 quyển). Gọi tắt: Pháp uyển nghĩa lâm chương. Nghĩa lâm chương, Pháp uyển, Thất quyển chương. Do ngài Khuy cơ soạn vào đời Đường, thu trong Đại chính tạng tập 45. Sách này giải thích rõ ràng về tổ chức giáo nghĩa và nội dung cơ bản của Duy thức, như: Phán giáo, nghĩa lí duy thức, lí luận tu hành, quả vị v.v... Đây là bộ sách rất quí cho những người nghiên cứu Duy thức học từ xưa đến nay. Nội dung chia làm 29 chương: - Quyển 1 có 4 chương: Tổng liệu giản, Ngũ tâm, Duy thức nghĩa lâm và Chư thừa nghĩa lâm. Trong đó, chương Tổng liệu giản là bộ phận tinh yếu nhất của sách này. Ở đây, ngài Khuy cơ đã đứng trên lập trường Duy thức mà giản trạch giáo thuyết từ đời đức Phật trở về sau, chia làm 5 đoạn: 1. Giáo ích hữu thù môn: Nêu ra sự lợi ích khác nhau của các giáo pháp Tiểu thừa và Đại thừa. 2. Thời lợi sai biệt môn: Trước hết, trình bày về phán giáo của các nhà từ xưa đến nay ở Trung quốc. Kế đó, nói về thuyết Tam thời giáo của tông Duy thức. 3. Thuyên tông các dị môn: Trước hết, nêu lên sự bất đồng về việc thành lập các tông phái từ xưa tới nay, sau đó, giải thích yếu nghĩa Trung đạo, Phi hữu, Phi không của tông Pháp tướng. 4. Thể tính bất đồng môn: Đầu tiên chỉ rõ sự khác nhau về giáo thể giữa ngoại đạo, Tiểu thừa, Đại thừa, sau đó, nêu ra thuyết Tứ trùng xuất thể của tông Duy thức. 5. Đắc danh huyền cách môn: Nói một cách khái quát về Lục hợp thích. - Quyển 2 có 4 chương: Chư tạng, Thập nhị phần, Đoạn chướng và Nhị đế. - Quyển 3 có 3 chương: Đại chủng tạo sắc, Ngũ căn và Biểu vô biểu. - Quyển 4 có 5 chương: Qui kính, Tứ thực, Lục thập nhị kiến, Bát giải thoát và Nhị chấp. - Quyển 5 có 7 chương: Nhị thập thất hiền thánh, Tam khoa, Cực vi, Thắng định quả sắc, Thập nhân, Ngũ quả và Pháp xứ sắc. - Quyển 6 có 4 chương: Tam bảo, Phá ma ha, Tam tuệ và Tam luân. - Quyển 7 có 2 chương: Tam thân nghĩa lâm và Phật độ. Tương truyền sách này còn có bản khác gồm 8 quyển 33 chương, tức là ngoài 29 chương nói trên, còn thêm 4 chương: Đắc phi đắc, Chư không, Thập nhị quán và Tam căn. Những chú sớ trọng yếu về sách này thì có: - Nghĩa lâm chương quyết trạch kí của ngài Trí chu. - Nghĩa lâm chương bổ khuyết của ngài Tuệ chiểu. - Nghĩa lâm chương sư tử hống chương của ngài Cơ biện. - Nghĩa lâm chương toản chú của ngài Phổ tịch. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3; Pháp tướng tông chương sớ; Đông vực truyền đăng mục lục].
đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương bổ quyết
817原為十卷,今僅存三卷。又作大乘義林章補闕、補闕義林章、大乘法苑林章補闕、大乘法苑林章補闕章。唐代僧慧沼(650~714)撰。收於卍續藏第九十八冊。係慧沼增補、注釋其師窺基所撰之大乘法苑義林章之作。內容包括卷四、卷七、卷八之三科、空義、十二支、界處、二量等十二章。雖未見全貌,仍不失為法相宗重要典籍之一。
; (大乘法苑義林章補闕) Gồm 10 quyển, nay chỉ còn 3 quyển. Cũng gọi Đại thừa nghĩa lâm chương bổ khuyết, Bổ khuyết nghĩa lâm chương, Đại thừa pháp uyển lâm chương bổ khuyết, Đại thừa pháp uyển lâm chương bổ khuyết chương. Do ngài Tuệ chiểu (650 - 714) soạn vào đời Đường, thu trong Vạn tục tạng tập 98. Nội dung bao gồm 12 chương: Tam khoa, Không nghĩa, Thập nhị chi, Giới xứ, Nhị lượng v.v... trong quyển 4, quyển 7 quyển 8. Sách này hiện nay tuy không còn đầy đủ, nhưng vẫn được coi là một trong những tác phẩm trọng yếu của tông Pháp tướng.
đại thừa pháp vương
816明代對西藏佛教名僧之封號。明成祖永樂十一年(1413),封薩迦派僧昆澤思巴為「萬行俱融妙法最勝真如智慧弘慈廣濟護國宣教正覺大乘法王西天上善金剛普應大光明佛」,簡稱大乘法王。
; (大乘法王) Vua pháp Đại thừa. Tên hiệu do các Hoàng đế đời Minh của Trung quốc phong cho những vị danh tăng của Phật giáo Tây tạng. Năm Vĩnh lạc 11 (1414) vua Minh Thành tổ phong cho vị tăng thuộc phái Tát ca tên là Côn trạch tư ba danh hiệu: Vạn hạnh câu dung diệu pháp tối thắng chân như trí tuệ hoằng tứ quảng tế hộ quốc tuyên giáo chính giác đại thừa pháp vương tây thiên thượng thiện kim cương phổ ứng đại quang minh Phật, gọi tắt là Đại Thừa Pháp Vương.
Đại thừa phương quảng Mạn-thù-thất-lợi Hoa nghiêm bản giáo Diêm-mạn- đức-ca phẫn nộ vương chân ngôn đại oai đức nghi quỹ chú 大乘方廣曼殊室利菩薩華嚴本教閻曼德迦忿怒王眞言大威德儀軌品
[ja] ダイジョウホウコウマンジュシツリボサツケゴンホンキョウエンマントクケフンヌオウシンゴンダイイトクギキホン Daijō hōkō Manjushiri bosatsu kegon honkyō emmantokka funnuō shingon daītoku giki bon ||| The Dasheng fangguang Manshushīi pusa huayan benjiao Yanmandejia fennuwang zhenyan dawei deyi guipin; Tib. jam dpal gyi rtsa ba'i rgyud [To.543]; (Ritual Chapter on Yamāntaka, Ferocious King of Mantras and Great Intimidating Righteousness, from the Āryamañjuśriyamūlakalpa-bodhisattvapiṭakāvataṃsaka-mahāyāna-vaipulya-sūtra). 1 fasc. (T 1215.21.76-), abbreviated as Ritual Chapter on the Ferocious King of Great Intimidating Virtue 忿怒王大威德儀軌品, trans. unknown (attributed to Amoghavajra 不空). A chapter from the Mañjuśrīmūlakalpa (T 1191). => (c: Dasheng fangguang Manshushīi pusa huayan benjiao Yanmandejia fennuwang zhenyan dawei deyi guipin; Tib. jam dpal gyi rtsa ba'i rgyud; e: Ritual Chapter on Yamāntaka, Ferocious King of Mantras and Great Intimidating Righteousness, from the Āryamañjuśriyamūlakalpa-bodhisattvapiṭakāvataṃsaka-mahāyāna-vaipulya-sūtra). 1quyển. Viết tắt là Phẫn nộ vương đại oai đức nghi quỹ chú. Dịch giả vô danh (được gán cho BấtKhông; Amoghavajra 不空). Một phẩm rút ra từ Mañjuśrīmūlakalpa.
đại thừa phương tiện hội
Ta-ch'eng fang-pien hui (C).
đại thừa phương đẳng kinh
Vaipulya sŪtra (S)Phương quảng kinh, Tỳ Phú La Đại thừa Phương đẳng kinh, Phương quảng kinhTên một bộ kinh.
đại thừa phương đẳng kinh điển
The sùtras and scriptures of the Mahàyàna, their doctrines being phương chính square and correct and bình đẳng for all equally, or universal.
; Kinh Đại Thừa nói về bình đẳng tính của vũ trụ—The sutras and scriptures of the Mahayana, their doctrines being square and correct for all equally or universal.
đại thừa phật giáo
815請參閱 大乘百法明門論 大乘,梵語 mahā-yāna,意指大的交通工具。不以個人之覺悟(如小乘行者)為滿足,而以救度眾生為目的,一如巨大之交通工具可載乘眾人,故稱為大乘。以此為宗旨之佛教,即是大乘佛教。 西元前後,除比丘教團外,各地均有在家佛教信徒團體成立,彼等自稱菩提薩埵(梵 bodhisattva,意為求覺悟者,略稱菩薩)。菩薩一詞於本生譚中,原指佛陀之前身,特用於未達佛果之修道階段;上述在家信徒特具信心,自信必能成佛,故亦自稱菩薩。此種教團中,亦有來自比丘教團者,彼等信徒逐漸纂集、傳誦異於當時經藏(阿含經)之經典,如般若經、法華經、維摩經、華嚴經等大乘經典,此類經典敘述般若空之思想,並以詩歌讚歎佛陀永恆之生命,強調「上求菩提,下化眾生」之思想,並訶斥聲聞之希求自度乃不了義,重視六波羅蜜之實踐德目,尤其強調布施之重要性。其行動不僅具有社會性、實踐性之意義,且滲入濃厚之宗教情緒。我國與日本之宗派大都屬於大乘佛教。〔世界佛教通史第一篇第八章(聖嚴)、印度佛教史概說第九章(達和譯)〕(參閱「印度佛教」2215)
; (大乘佛教) Phạm:Mahàyàna. Đại thừa cũng đọc là Đại thặng, nghĩa là cỗ xe lớn. Những người không tự thỏa mãn với sự giác ngộ cá nhân, mà lấy việc cứu độ chúng sinh làm mục đích, giống như một cỗ xe lớn có thể chuyên chở được nhiều người cho nên gọi là Đại thừa. Nền Phật giáo lấy đó làm tông chỉ thì tức là Phật giáo Đại thừa. Nguồn gốc và đặc chất của Phật giáo Đại thừa: Nếu đứng về phương diện hình thức mà nhận xét sự phát triển của Phật giáo nói chung, thì ta thấy đến thời đại Phật giáo bộ phái, tổ chức Phật giáo đã khá hoàn bị. Những kinh điển căn bản và sự giải thích về giáo nghĩa đã được xác định, rồi đến những qui định của giáo đoàn, cũng càng ngày càng trở nên tinh vi, cho nên không bao lâu, cái tinh thần hoạt bát của Phật giáo nguyên thủy cũng đã phai phờ dần. Và cuối cùng, đối với lòng người, Phật giáo không còn có được sự tiếp xúc chặt chẽ. Trong tình hình ấy, phái tự do thừa kế Đại chúng bộ hệ đả phá tất cả hình thức bộ phái Phật giáo, khôi phục tinh thần của đức Phật để thích ứng với thời đại, đó là sự vận động của Đại thừa. Nhưng phong trào Phật giáo Đại thừa được phát động vào thời kì nào, từ địa phương nào, do nhân vật nào và lấy gì làm tiêu biểu? Về vấn đề này, dĩ nhiên phần chi tiết tuy có điều không thể biết, nhưng phần đại thể thì ta có thể khảo sát theo thứ tự sau đây: Trước hết, căn cứ vào thời đại để nhận xét, thì tư tưởng Đại thừa đã nảy mầm từ Phật giáo nguyên thủy, nhưng mãi khoảng trước sau kỉ nguyên Tây lịch mới thật sự trở thành phong trào rõ rệt. Theo văn hóa Ấn độ, căn cứ vào những văn phẩm được trứ tác vào khoảng thời gian vừa nói, thì tư tưởng Đại thừa vẫn chưa hình thành, còn theo lịch sử dịch kinh của Trung quốc thì cũng mãi đến thế kỉ II Tây lịch các kinh điển Đại thừa mới được phiên dịch. Cho nên, nếu cho rằng Phật giáo Đại thừa đã phát khởi từ trước kỉ nguyên Tây lịch thì e không được ổn thỏa. Về hình thức tuy đại khái như thế, song ta có thể tin chắc là Phật giáo Đại thừa đã manh nha vào khoảng thời gian đó. Kế đến là vấn đề liên quan đến khu vực trung tâm của Đại thừa lúc mới phát khởi. Nam Ấn độ, nhất là khu vực thuộc Án đạt la phái, là cái nôi của Phật giáo Đại thừa, đặc biệt nơi đã phát sinh ra Bát nhã Đại thừa. Địa phương Án đạt la là vùng mà phái tự do thuộc Đại chúng bộ rất hưng thịnh, tư tưởng phái này quan hệ khá mật thiết với Đại thừa, do đó, miền Nam Ấn độ có thể đã là địa điểm cơ bản của Phật giáo Đại thừa. Hiện trong Tiểu phẩm bát nhã cũng nói: Kinh Bát nhã ba la mật đa này bắt đầu ở phương Nam, rồi từ phương Nam truyền đến phương Tây, lại từ phương Tây truyền qua phương Bắc. Câu nói trên đây là một trong những truyền thuyết đáng tin cậy. Tuy thông thường vẫn cho Đại thừa phát khởi ở phương nam, nhưng, trái lại, Bắc Ấn độ mới là trung tâm phồn thịnh của Đại thừa. Nếu ta đem nghệ thuật và văn học của Phật giáo còn lưu truyền đến nay làm chứng cứ để đối chiếu, thì ta thấy điều đó rất rõ. Bởi vậy, nếu nói một cách tổng hợp thì tư tưởng Đại thừa đã nảy sinh ở cả hai miền Nam và Bắc Ấn, Nam Ấn đại biểu cho Không luận, Bắc Ấn đại biểu cho Hữu luận. Đến khi cả hai trào lưu hợp lại thì cuộc vận động Đại thừa đã trở nên rõ rệt. Nhưng ai đã đề xướng cuộc vận động Đại thừa? Về vấn đề này, trên đại thể, ta có thể nói đã do hai hạng người phát động: Thứ nhất là các vị tỉ khưu có đầu óc tiến bộ; thứ hai là những nam nữ cư sĩ theo chủ nghĩa tự do. Đặc biệt do hạng người thứ hai mà tư tưởng Đại thừa đã trở thành vô cùng hoạt bát. Theo kinh điển Đại thừa thì những vị cư sĩ như: Duy ma cật, phu nhân Thắng man, Hiền hộ v.v... tất cả 16 nhà hiền sĩ đều được coi là những nhân vật rất quan trọng, nghĩa là họ đã đóng một vai trò đáng kể trong việc phân phối giáo lí. Thông thường, những tỉ khưu bị truyền thống giới hạn, còn cư sĩ tại gia, tuy cũng theo truyền thống, song trực tiếp thích ứng cuộc sống với hoàn cảnh, muốn cố duy trì chân tinh thần của đức Phật, nên kết quả đã nảy sinh ra cuộc vận động đó. Như vậy, cuộc vận động Đại thừa bao gồm cả tăng và tục. Giáo lí của Phật giáo nguyên thủy đã nói, bất luận hạng người nào, chỉ cần lập đại thệ nguyện, cuối cùng đều có thể thành Phật. Vì thế Đại thừa đã lấy Phật làm lí tưởng tối cao. Tuy nhiên, Đại thừa công nhận rằng người ta không thể thành được Phật trong một sớm một chiều, mà điểm then chốt của Đại thừa là người ta phải tu hạnh Bồ tát (Phạm: Bodhisattva - người cầu Đại giác), trên cầu Bồ đề, dưới phát đại nguyện hóa độ chúng sinh, vì lợi ích của chính mình và của mọi người mà nỗ lực tu hành làm tất cả việc thiện mới mong được viên mãn như Phật. Một trong những đặc sắc của Đại thừa là chủ trương cho rằng, bất cứ ai, chỉ cần phát tâm bồ đề, lập chí nguyện cứu độ chúng sinh, là đều có thể dự vào hàng Bồ tát. Sau, Đại thừa còn được gọi là Bồ tát thừa chính vì lí do ấy. Mà một vị Bồ tát, như trong kinh Bản sinh đã nói, không cứ phải xuất gia làm sa môn, trái lại, những người tại gia, mặc dầu còn phải gánh vác nhiều chức vụ, chỉ cần phát tâm niệm trên cầu đạo Giác ngộ, dưới hóa độ chúng sinh, đều có thể gọi là Bồ tát. Do đó mà phạm vi hoạt động của Đại thừa trở nên rộng rãi và nhân sinh quan cũng có tính cách tích cực, khẳng định. Đối với Tiểu thừa,đây là tiêu biểu rõ nhất của Đại thừa. Cho nên, đặc sắc của Đại thừa tuy lấy Phật làm lí tưởng tối cao, nhưng thực thì muốn xã hội hóa Phật giáo. Chính vì muốn thực hiện mục đích và lí tưởng này mà các vị Bồ tát đều xả thân làm việc. Trở lên, mới chỉ đứng về phương diện nội bộ của Phật giáo nguyên thủy để tìm hiểu nguồn gốc sự phát khởi của Đại thừa, nhưng ngoài điểm ấy ra còn một nguyên động lực khác nữa đã thúc đẩy phong trào Đại thừa bành rướng mạnh, đó là tư tưởng giới Ấn độ thời bấy giờ đối với Phật giáo có tính cách kích thích. Đương thời ấy, hai thi phẩm tuyệt tác Ramàyàịa và Mahàbhàrata đã được hoàn thành, Số luận, Thắng luận và nhiều triết thuyết khác cũng đã được thiết lập, còn Tân bà la môn giáo (Hinduism) lấy Tì nữu noa (Phạm: Viwịu) và Thấp bà (Phạm: Ziva) làm trung tâm cũng đã dần dần đến thời kì hưng thịnh. Thêm vào đó, ở miền Bắc, văn hóa Hi lạp, Ba tư cũng đã xâm nhập Ấn độ. Đó là một thời đại có ảnh hưởng về mọi mặt. Cuộc vận động Phật giáo Đại thừa tuy là kế thừa hệ thống của Phật giáo nguyên thủy và Tiểu thừa, song về một khía cạnh nào đó, người ta có thể nói cuộc vận động ấy là một sách lược đáp ứng với nhu cầu thời đại, muốn phát huy tinh thần Phật giáo giữa các trào lưu phồn tạp đó. Thường theo sát thời đại để mở rộng phạm vi giáo tuyến, áp dụng thái độ hoằng pháp của Phật giáo nguyên thủy, khác hẳn với thái độ coi thường thời đại của Tiểu thừa, đó là đặc chất của Phật giáo Đại thừa. (xt. Ấn Độ Phật Giáo).
đại thừa quang minh định
Mahayanaprabhana (skt)—Một trong những tam ma địa—One of the samadhis.
Đại thừa quán tưởng mạn-nã-la tịnh chư ác thú kinh 大乘觀想曼拏羅淨諸惡趣經
[ja] ダイジョウカンソウマンナラジョウショアクシュキョウ Daijō kansō mandara jō shōakushu kyō ||| The Dasheng guanxiang mannaluo jing zhuequ jing; Skt. Sarvadurgatipariśodhana-tantra; Tib. de bzhin gshegs pa dgra bcom pa yang dag par dzogs pa'i sangs rgyas ngan song thams cad yongs su sbyong ba gzi brjid kyi rgyal po'i brtag pa phyogs gcig pa shes bya ba; (Tantra of the Mahāyāna Meditation Maṇḍala which Purifies [Transgressions and Halts] the Evil Transmigrations) [To.483, P.116] 2 fasc. (T 939.19.88-95), tr. Faxian 法賢. Full title: Sarvadurgatipariśodhana-tejorājasya-tathāgatārhato-samyaksambuddhasya-kalpaikadeśa. Explanatory tantra based on the second and third sections of the Tattvasaṃgraha (T 882). Chiefly concerned with the salvation of those who have been reborn in hostile realms, it is the primary text for funerary rites in Tibet and Nepal. In the Tibetan canon, there are two types of Sarvadurgatipariśodhana-tantra; Faxian's translation corresponds to the text also called Tantra of the Nine Buddhoṣṇīṣas (gtsug dgu'i rgyud) [To.483, P.116]. This version cites verses from the Subāhuparipṛcchā (T 895) and Vairocana-abhisaṃbodhi (T 848), and is indebted to yogatantras such as the Vajrodaya. The other version is called the Purification Tantra (sbyong rgyud). Indian commentaries in Tibetan are authored by Buddhaguhya [To.2624; P. 3451], Kāmadhenu [To.2625; P.2452], and Ānandagarbha [To.2626; P.4353]. For an Eng. tr., Skt. and Tib. ed., see Skorupski (1983). => (c: Dasheng guanxiang mannaluo jing zhuequ jing; s: Sarvadurgatipariśodhana-tantra; Tib. de bzhin gshegs pa dgra bcom pa yang dag par dzogs pa'i sangs rgyas ngan song thams cad yongs su sbyong ba gzi brjid kyi rgyal po'i brtag pa phyogs gcig pa shes bya ba; e: Tantra of the Mahāyāna Meditation Maṇḍala which Purifies [Transgressions and Halts] the Evil Transmigrations). 2 quyển, Pháp Hiền (法賢c: Faxian) dịch. Tên gọi đầy đủ là: s: Sarvadurgatipariśodhana-tejorājasya-tathāgatārhato-samyaksambuddhasya-kalpaikadeśa; e: Explanatory tantra based on the second and third sections of the Tattvasaṃgrāha. Chủ yếu đế cập đến sự cứu độ những vong linh thác sinh ở cảnh giới tăm tối, đó lá bản kinh chủ yếu cho tang lễ ở Tây Tạng và Nepal. Trong tạng kinh Tây Tạng, có hai loại Sarvadurgatipariśodhana-tantra; bản dịch của Pháp Hiền tương ưng với bản có tên Tantra of the Nine Buddhoṣṇīṣas (t: gtsug dgu'i rgyud). Bản dịch nầy trích các bài kệ từ Subāhuparipṛcchā và Vairocana-abhisaṃbodhi, được vay mượn từ Du-già tan-tra như Vajrodaya. Bản dịch khác có tên Purification Tantra (t: sbyong rgyud). Các chú giải bằng tiếng Ấn Độ ở Tây Tạng là của các tác giả Buddhaguhya , Kāmadhenu và Ānandagarbha. Về bản tiếng Anh dịch từ tiếng Sanskrit và Tây Tạng, xem Skorupski (1983).
Đại thừa quảng bách luận bản 大乘廣百論本
[ja] ダイジョウコウヒャクロンホン Daijō kōhyakuron hon ||| The Dasheng guangbailun ben; *Catuḥśataka (Mahāyāna-Vaipulya One Hundred Treatise). . One fascicle, T 1570.30.182-187. A major Madhyamaka text by Āryadeva 聖天, Nāgārjuna's first major disciple, translated by Xuanzang 玄奘 at Dacien Monastery in 650. For more information and other versions, see 廣百論. => (c: Dasheng guangbailun ben; s:*Catuḥśataka e: Mahāyāna-Vaipulya One Hundred Treatise). Một quyển. Luận chính của Đại thừa do Thánh Thiên (聖天s: Āryadeva), đệ tử đầu tiên của Long Thụ tạo, Huyền Trang dịch tại chùa Từ Ân năm 650. Xem mục từ Quảng bách luận để biết rõ hơn.
Đại thừa quảng bách luận thích luận 大乘廣百論釋論
[ja] ダイジョウコウヒャクロンシャクロン Daijō kōhyakuron shakuron ||| Dasheng guang bai lun shi lun; 10 fasc., by Āryadeva 聖天, commentary by Dharmapāla 護法, trans. Xuanzang 玄奘 in 650. Dharmapāla's commentary on Āryadeva's text (the Guangbailun 廣百論), i.e., a Yogācāra commentary on a Madhyamaka root text. Some passages from this text reappear in the Cheng weishi lun 成唯識論. English translation of the tenth chapter in Keenan (1997). => c: Dasheng guang bai lun shi lun; 10 quyển, của Thánh Thiên (聖天c: Āryadeva , luận giải của Hộ Pháp (護法 c: Dharmapāla ), Huyền Trang (Xuanzang 玄奘) dịch vào năm 650. Chú giải của Hộ Pháp về Quảng bách luận của Thánh Thiên, là luận giải của Du-già hành tông về bộ luận căn bản của phái Trung quán. Một vài đoạn trong luận nầy thấy xuất hiện trong Thành Duy thức luận. Có bản dịch tiếng Anh chương 10 luận nầy của Keenan (1997).
đại thừa tam bảo
811佛、法、僧可尊可貴,稱為三寶。據華嚴經隨疏演義鈔卷二并華嚴經明法品內立三寶章卷上所載,大乘三寶,即:(一)大乘佛寶,佛為自覺、覺他、覺行圓滿者,具足三身十身,能示現無邊相好,稱為大乘佛寶。(二)大乘法寶,如來所說之中道實相及人法二空之理,乃至無量勝妙法門,能令眾生依循此法而成正覺,稱為大乘法寶。(三)大乘僧寶,十住、十行、十回向、十地等階位之菩薩,不著有無二邊,而與中道之理和合,稱為大乘僧寶。
; (大乘三寶) Ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng theo quan điểm của Đại thừa. Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 2 và Hoa nghiêm kinh Minh pháp phẩm nội lập tam bảo chương quyển thượng chép, thì Đại thừa tam bảo là: 1. Đại thừa Phật bảo: Bậc tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, đầy đủ ba thân, mười thân, thị hiện vô biên tướng hảo. 2. Đại thừa Pháp bảo: Lí thực tướng trung đạo và nhân pháp nhị không, cho đến vô lượng pháp môn thắng diệu của Như lai, khiến chúng sinh tu tập theo mà thành chính giác. 3. Đại thừa Tăng bảo: Hàng Bồ tát Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa v.v... không chấp hữu vô, mà hòa hợp với lí trung đạo.
đại thừa tam tạng
810依大智度論之說,三藏為小乘之特稱,大乘經典僅為一修多羅藏;若據攝大乘論之說,則大乘亦有三藏,即:(一)大乘經藏,指華嚴經等,詮示大乘菩薩修行證果之法。(二)大乘律藏,指梵網經等,制大乘菩薩所持之戒。(三)大乘論藏,指阿毘達磨、大乘起信論等,抉擇詮辨大乘菩薩修證之法。此為一修多羅藏之分類,稱為總部三藏,小乘之三藏,則稱為別部三藏。〔攝大乘論釋卷一〕
; (大乘三藏) Theo luận Nhiếp đại thừa thì Tam tạng đại thừa là: 1. Đại thừa kinh tạng: Chỉ các kinh Hoa nghiêm v.v... thuyết giảng các pháp mà hàng Bồ tát tu hành để chứng quả. 2. Đại thừa luật tạng: Chỉ các kinh Phạm võng v.v... nói về giới luật mà Bồ tát Đại thừa phải nhận giữ. 3. Đại thừa luận tạng: Chỉ các bộ luận như A tì đạt ma, Đại thừa khởi tín, v.v... biện minh rõ ràng các pháp mà Bồ tát đã tu chứng. Nhưng theo luận Đại trí độ, thì Đại thừa chỉ có một tạng Kinh và gọi là Tổng bộ tạng, còn ba tạng Kinh, Luật, Luận của Tiểu thừa thì gọi là Biệt bộ tạng. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.1].
đại thừa thiên
Trời Đại Thừa, một danh hiệu dành cho Huyền Trang, Mộc Xoa Đề Bà—Mahayana-deva—A title given to Hsuan-Tsang, who was always styled Moksa-deva.
đại thừa thiền
831指菩薩禪。乃圭峰宗密(780~841)所立五種禪中之第四種。宗密之禪源諸詮集都序卷上之一(大四八‧三九九中):「悟我空偏真之理而修者,是小乘禪;悟我法二空所顯真理而修者,是大乘禪。」在宗密之禪法分類中,此種禪法仍次於最上乘禪。(參閱「五味禪」1105)
; (大乘禪) Chỉ thiền định của Bồ tát, đứng hàng thứ bốn trong năm loại thiền định do ngài Khuê phong Tông mật (780 - 841) thiết lập. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng phần 1 của ngài Tông mật (Đại 46, 399 trung), nói: Người tu tập pháp thiền mà chỉ ngộ lí ngã không là thiền Tiểu thừa; còn người tu thiền ngộ chân lí ngã, pháp đều không thì là thiền Đại thừa. (xt. Ngũ Vị Thiền).
đại thừa thiện căn giới
Thế giới Tây Phương Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà—The Mahayana good roots realm—The Amitabha Pure-Land of the West.
đại thừa thành nghiệp luận
816梵名 Karmasiddhi-prakaraṇa。世親著,唐代玄奘譯。今收於大正藏第三十一冊。異譯本有毘目智仙所譯之業成就論。係有關身口意三業之論書。全書站在大乘唯識思想之立場,以批判部派佛教諸派之學說。為「唯識說」之重要論書,而與「唯識二十論」同為世親批判其他部派學說之重要文獻。內容以有部、正量部為批評之對象,並論及業之體性,破斥有部之形色說、正量部之動色說、日出論者之非顯非行說等以心外之物為實體存在之說法,並採用經量部之種子說,以破除有部之三世實有論、正量部之不失法、增長法等。〔世親の成業論(山口益)、世親唯識の研究上(結城令聞)〕
; Karmasiddhi-prakarana (S)Nghệp Thành Tựu luậnTên một bộ luận kinh.
; (大乘成業論) Phạm: Karmasiddhi-prakaraịa. Do ngài Thế thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, thu trong Đại chính tạng tập 31. Luận Nghiệp thành tựu do ngài Tì mục trí tiên dịch là bản dịch khác của luận này, cùng với luận Duy thức nhị thập đều là sách quan trọng về Duy thức học. Nội dung của luận này đứng trên lập trường tư tưởng duy thức Đại thừa để bàn về thể tính của nghiệp, bài xích các thuyết chủ trương ngoài tâm có thực thể tồn tại, như thuyết Hình sắc của Hữu bộ, thuyết Động sắc của Chính lượng bộ, thuyết Phi hiển phi hành của các luận giả Nhật xuất v.v... Đồng thời, luận này dùng thuyết Chủng tử của Kinh lượng bộ để phá trừ Tam thế thực hữu luận của Hữu bộ, Bất thất pháp, Tăng trưởng pháp của Chính lượng bộ v.v.. [X. Thế thân chi thành nghiệp luận (Sơn khẩu ích); Thế thân duy thức chi nghiên cứu thượng (Kết thành Lệnh văn)].
Đại thừa thành nghiệp luận 大乘成業論
[ja] ダイジョウジョウゴウロン Daijō jōgō ron ||| The Dasheng chengye lun; Karma-siddhi-prakaraṇa (Mahāyāna Treatise Establishing Karma). One fascicle, T 1609.31.781-786. By Vasubandhu 世親, translated by Xuanzang 玄奘 in 651. The focus of this treatise is on articulation of the action of karma 業. It is explained that the karma created by physical action, speech, and thought is superficial compared to the situation when the ālayavijñāna 阿頼耶識 stores seeds of affliction. This is an intermediate work of Vasubandhu that shows how his ideas were developing since writing the Kośa 倶舍論 but not yet thinking like a Yogācārin. English translation from Tibetan in Anacker (1984), and an English translation in Pruden (1988a) from Lamotte's (1936) French rendition of Xuanzang's version. => c: Dasheng chengye lun;s: Karma-siddhi-prakaraṇa;e: Mahāyāna Treatise Establishing Karma). Một quyển, của Thế Thân, Huyền Trang dịch năm 651. Tiêu điểm của chuyên luận nầy là nói rõ hành tướng của nghiệp. Luận giải thích nghiệp được tạo do các nghiệp thân, miệng, ý; đối chiếu với tình trạng đơn giản như khi A-lại-da thức lưu giữ các hạt giống phiền não. Đây là một tác phẩm trung gian của Thế Thân biểu hiện cách mà tư tưởng của ngài phát triển từ khi viết Câu-xá luận, ngưng chưa có suy nghĩ như một tác giả thuộc Du-già hành tông. Đã có bản dịch tiếng Anh từ tiếng Tây Tạng của Anacker (1984), và bản tiếng Anh của Pruden (1988a) từ bản dịch tiếng Pháp về luận giải của Huyền Trang của Lamotte (1936).
Đại thừa thánh cát tường trì thế đà-la-ni kinh 大乘聖吉祥持世陀羅尼經
[ja] ダイジョウショウキツショウジセイダラニキョウ Daijō shōkitsushō jisei darani kyō ||| The Dasheng shengjixiang chishi tuoluoni jing (T 1164.20.669-672); an alternative transltion of the Chishi tuoluoni jing 持世陀羅尼經. => Bản dịch khác của Trì thế đà-la-ni kinh ( 持世陀羅尼經c: Chishi tuoluoni jing ).
đại thừa thất chủng đại nghĩa
809據大乘莊嚴經論卷十二載,大乘之「大」有七種意義,即:(一)緣大,謂菩薩修行大乘之法,以無量修多羅之廣大法義為緣,稱為緣大。(二)行大,謂菩薩修行大乘,既能自利,復能利他,自利、利他,妙行具足,故稱行大。(三)智大,謂菩薩修行大乘,常以智慧觀察,了知人、法皆無我,於一切境,善能分別,故稱智大。(四)勤大,謂菩薩修行大乘,自久遠大劫以來,發廣大心,精修無間,期登聖果,故稱勤大。(五)巧大,謂菩薩修行大乘,由善巧方便,化導於他,不捨生死,垂形諸趣,於生死中去住自在,故稱巧大。(六)畏大,畏即無所畏;謂菩薩修行大乘,智力內充,明了決定,於大眾中廣說一切法義,既決定無失,則無所恐懼,故稱畏大。(七)事大,謂菩薩修行大乘,為令一切眾生決了其大事因緣,故屢屢示現於世間,演大妙法,入大涅槃,故稱事大。
; (大乘七種大義) Cứ theo Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 12 nói, thì chữ Đại trong danh từ Đại thừa có 7 nghĩa: 1. Duyên đại: Bồ tát tu hành pháp Đại thừa, lấy vô lượng pháp nghĩa rộng lớn của Tu đa la làm duyên. 2. Hạnh đại: Bồ tát tu hành Đại thừa, tự lợi, lợi tha, diệu hạnh đầy đủ. 3. Trí đại: Bồ tát tu hành Đại thừa, thường dùng trí tuệ quán xét, biết rõ nhân, pháp đều vô ngã, khéo phân biệt các cảnh. 4. Cần đại: Bồ tát tu hành Đại thừa, từ các kiếp xa xưa đến nay phát tâm quảng đại, tinh cần tu tập không gián đoạn cho đến khi đạt được Thánh quả. 5. Xảo đại: Bồ tát tu hành Đại thừa, dùng phương tiện khéo léo, hiện thân vào các cõi, tự tại trong sinh tử hóa độ chúng sinh. 6. Úy đại: Úy tức là vô sở úy. Nghĩa là Bồ tát tu hành Đại thừa, trí lực đầy đủ, quyết định sáng suốt, ở giữa đại chúng diễn nói tất cả pháp nghĩa mà không sợ hãi. 7. Sự đại: Bồ tát tu hành Đại thừa, vì muốn khiến tất cả chúng sinh thấy rõ đại sự nhân duyên, cho nên thường thị hiện ở thế gian, nói Đại diệu pháp, vào Đại niết bàn.
đại thừa thất thiện
807據法華文句卷三上載,七善指圓頓大乘所具足之七善。即:(一)時節善,謂法華經具足序、正宗、流通三分,即初善、中善、後善,三分皆是當機得益之時,故稱時節善。(二)義善,謂法華一經所說之法,其義深遠,為頓教了義之理,而非聲聞、緣覺所能測其邊底,故稱義善。(三)語善,謂法華一經所說之法,其語巧妙,乃如來金口梵音,會理直說圓頓一乘妙教之文,聽聞之人無不歡喜,故稱語善。(四)獨一善,謂法華一經所說之法,純一無雜,獨為菩薩而說,非為二乘所共,即圓頓一乘之妙教,故稱獨一善。(五)圓滿善,謂法華一經所說之法,具明世間、出世間滿足之理,故稱圓滿善。(六)調柔善,謂法華一經所說之法,清淨潔白,唯談中道之理,而無空、假二邊瑕穢之相,調和柔順,故稱調柔善。(七)無緣慈善,謂法華一經所說之法,備有梵行之相,心不攀緣一切眾生,而於一切眾生自然現益,故稱無緣慈善。
; (大乘七善) Bảy điều thiện của pháp Đại thừa viên đốn trong kinh Pháp hoa. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 3 phần trên, thì bảy điều thiện là: 1. Thời tiết thiện: Kinh Pháp hoa có đủ ba phần Tựa, Chính tông và Lưu thông, tức là sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đều là thời gian lợi ích cho đương cơ. 2. Nghĩa thiện: Giáo pháp được nói trong kinh Pháp hoa là lí đốn giáo liễu nghĩa rất sâu xa, hàng Thanh văn, Duyên giác không thể lường được. 3. Ngữ thiện: Ngôn ngữ dùng để diễn nói kinh Pháp hoa là Phạm âm vi diệu từ kim khẩu của Như lai, hiển bày giáo lí Nhất thừa viên đốn, người nghe đều vui mừng. 4. Độc nhất thiện: Giáo pháp được nói trong kinh Pháp hoa là giáo viên đốn Nhất thừa, chỉ nói riêng cho hàng Bồ tát. 5. Viên mãn thiện: Giáo pháp trong kinh Pháp hoa có đầy đủ lí thế gian và xuất thế gian. 6. Điều nhu thiện: Giáo pháp trong kinh Pháp hoa là giáo lí trung đạo, điều hòa nhu thuận, không thiên hai bên. 7. Vô duyên từ thiện: Giáo pháp trong kinh Pháp hoa đầy đủ phạm hạnh, tâm không vướng bận chúng sinh mà tất cả chúng sinh đều tự nhiên được lợi ích.
đại thừa thập dụ
810諸大乘經典每以幻、炎、水中月、虛空、響、犍闥婆城、夢、影、鏡中像、化等十種譬喻,襯托出「空」之道理,以助學人成就空觀。(一)如幻,譬如幻師,幻作種種諸物及男女等相,體雖無實,然有幻色可見;一切諸法亦復如是,無明幻作,悉心不了,妄執為實,修空觀者,於諸幻法,心無所著,皆悉空寂,故說如幻。(二)如炎,無智之人初見陽焰,妄以為水;諸煩惱法亦復如是,無智不了,於結使中妄計我相,智者了知虛誑不實,皆是妄想,故說如炎。(三)如水中月,月在虛空,影現於水,諸愚小兒見水中月,歡喜欲取,智人見之則笑;比喻無智之人於五陰中妄起我、我所見,執為實有,於苦法中而生歡喜,得道智人愍之而笑,故說如水中月。(四)如虛空,虛空但有其名,而無實體,愚人不了,執之為實;一切諸法亦復如是,空無所有,無智之人於虛妄中計為實有,起彼我執,修空觀者,了一切法皆無所有,故說如虛空。(五)如響,深山幽谷及空舍中,若語聲、擊物聲,隨聲相應而有響生,愚人不了,以為實有;一切音聲語言亦復如是,有智之人了知語音無實,心不生著,故說如響。(六)如犍闥婆城,犍闥婆(乾闥婆),意為香陰。日初出時,見城門樓櫓宮殿,行人出入,日高漸滅,但可眼見,而無實有;一切諸法亦復如是,智者能了知諸法悉皆虛假,不生執著,故說如犍闥婆城。(七)如夢,夢中本無實事,妄執為實,覺還自笑;一切諸法亦復如是,一切結使煩惱皆是虛妄,愚人不了,執之為實,若得道覺悟,乃知虛妄,亦復自笑,故說如夢。(八)如影,影但可見而不可捉;一切諸法亦復如是,如眼耳等諸根,雖有見聞覺知,求其實體,了不可得,故說如影。(九)如鏡中像,鏡中之像,非鏡作、非面作、非鏡面和合而作,亦非無因緣作,雖非實有,然亦可見,愚者不了,執之為實,而生分別;一切諸法亦復如是,從因緣生,無有實體,但有名字,而起分別,誑惑凡夫生諸煩惱,智者雖復見聞,了知無實,故說如鏡中像。⑽如化,諸天仙得神通者變化諸物,雖有男女等相,而無生老病死苦樂之實;一切諸法亦復如是,無有生滅,如化而成,亦無有實,如人之生,但從先世之因,而有今世之身,悉皆虛假,故說如化。〔法界次第初門卷下之上〕(參閱「十喻」470)
; (大乘十喻) Các kinh điển Đại thừa thường dùng 10 thí dụ hiển bày lí Không để giúp người học thành tựu Không quán. Đó là: 1. Như huyễn: Ví như nhà ảo thuật giả tạo ra các vật và tướng nam nữ, thể tuy không thực, nhưng huyễn sắc thì có thể thấy. Tất cả các pháp cũng giống như thế, đều là có giả. Nhưng vì chúng sinh ngu mê, vọng chấp là thực. Người tu không quán, đối với các pháp huyễn hóa, tâm không dính mắc, thảy đều rỗng lặng. 2. Như dợn nắng (dương diệm): Người không có trí, mới thấy dợn nắng, lầm tưởng là nước; các pháp phiền não cũng giống như thế, người ngu không rõ, ở trong kết sử, chấp càn tướng ngã, người trí biết suốt, đều là vọng tưởng, hư dối chẳng thật. 3. Như bóng trăng trong nước: Trăng giữa hư không hiện bóng trong nước, lũ trẻ dại khờ, thấy thế vui mừng, muốn bắt lấy trăng. Người ngu cũng giống như vậy, ở trong năm ấm vọng chấp là ta, của ta, cho giả là thật, ở trong pháp khổ mà sinh vui mừng, bị người có trí chê cười, thực cũng đáng thương. 4. Như hư không: Hư không chỉ có tên suông chứ không có thật thể, người ngu không rõ lại cho là thật. Tất cả các pháp cũng hệt như thế, chẳng có gì hết, người không có trí, ở trong hư vọng, chấp bậy có thật, khởi lên ngã chấp. Người tu pháp Không quán biết rõ tất cả các pháp đều là có giả. 5. Như tiếng vang: Ở trong núi thẳm, hang sâu, khi người ta gọi hoặc gõ vào vật gì thì lập tức có tiếng vang dội lại. Người ngu không rõ, cho là thật có. Tất cả âm thanh, ngôn ngữ cũng thế, người trí biết rõ lời nói chẳng thật, tâm không dính mắc. 6. Như cung điện Càn thát bà: Lúc mặt trời mới mọc, trên mặt biển lặng sóng, thấy có cung điện lâu đài thuyền bè thành thị, khi mặt trời lên cao dần thì tất cả đều biến mất. Hết thảy các pháp cũng giống như thế, người trí biết rõ nên không tham đắm. 7. Như chiêm bao: Việc trong chiêm bao vốn không phải thật mà cho là thật, đến khi tỉnh dậy mình tự cười mình. Tất cả các pháp cũng giống như thế, hết thảy phiền não kết sử đều là giả dối, người ngu không biết chấp là có thật, đến khi đắc đạo giác ngộ liền biết là giả cũng lại mỉm cười một mình. 8. Như bóng: Người ta thấy bóng mà không nắm bắt được, tất cả các pháp cũng lại như thế; như các căn mắt, tai v.v... tuy có thấy nghe hay biết, nhưng không có thực thể. 9. Như hình trong gương: Hình dáng trong gương chẳng phải gương làm ra, chẳng phải mặt làm ra, chẳng phải gương và mặt hòa hợp mà làm ra, cũng chẳng phải không nhân duyên mà tạo ra, tuy chẳng phải có thật, nhưng vẫn thấy được; người ngu không biết, cho là có thật, rồi sinh phân biệt. Tất cả các pháp cũng giống như thế, do nhân duyên sinh, không có thực thể, chỉ có tên suông, phàm phu không biết, khởi tâm phân biệt mà sinh phiền não.Người trí tuy cũng thấy, nghe, nhưng biết rõ đó là giả dối. 10. Như hóa: Những vật do chư thiên và các vị tiên dùng thần thông biến hóa ra, tuy có tướng nam nữ mà thực sự không có khổ, vui, sống, già, bệnh, chết. Tất cả các pháp cũng giống như thế, không có sinh diệt, như hóa mà thành, chứ không có thật; như người sinh ra, chỉ do nhân kiếp trước mà có thân đời này, thảy là hư dối. [X. Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.hạ phần trên]. (xt. Thập Dụ).
đại thừa trang nghiêm bảo vương kinh
825請參閱 大乘莊嚴經論 梵名 Avalokiteśvara-guṇa-kāraṇḍa-vyūha,西藏名 Za-ma-tog-bkod-pa。凡四卷。又稱莊嚴寶王經。宋代天息災譯。今收於大正藏第二十冊。內容敘說觀自在菩薩之威力化現及六字大明陀羅尼「唵(oṃ)麼(ma)抳(ṇi)鉢訥銘(padme)吽(hūṃ)」之功德。現存之梵本係一八七三年出版於加爾各答。至於西藏譯本,據傳,西元四、五世紀頃,藏王曾自空中得此經,其後,派遣端美三菩提自尼波羅(今之尼泊爾)得梵本而攜返,譯成藏文。〔至元法寶勘同總錄卷五、 W.W. Rochkill: The Life of the Buddha〕(參閱「唵嚤呢叭
; Avalokiteśvara-guṇa-karanda-vyŪha (S), Kāraṇ-ḍavyŪha (S)Trang nghiêm Bảo vương kinhTên một bộ kinh Tên một bộ kinh trong Mật bộ.
; Avalokiteśvara-guṇa-karandavyŪha sŪtra (S)Trang nghiêm Bảo vương kinhTên một bộ kinh.
; (大乘莊嚴寶王經) Phạm: Avalokitezvara-guịakàraịđa-vyùha. Tạng: Za-ma-tog-bkodpa. Cũng gọi Trang nghiêm bảo vương kinh, gồm 4 quyển, do ngài Thiên tức tai dịch vào đời Tống, thu trong Đại chính tạng tập 20. Nội dung trình bày về sức uy thần hóa hiện củabồ tát Quán tự tại và công đức của sáu chữ Đại minh đà la ni Án (oô) ma (ma) ni (ịi) bát nạp minh (padme) hồng (hùô). Nguyên bản tiếng Phạm hiện còn đã được ấn hành ở Calcutta (Ấn độ) vào năm 1873. Còn về bản dịch Tây tạng thì theo truyền thuyết, khoảng thế kỉ IV, V Tây lịch, vua nước Tây tạng được nghe kinh này từ trong hư không, về sau mới sai đại thần Đoan mĩ tam bồ đề đến Népal thỉnh bản kinh tiếng Phạm về nước và dịch ra văn Tây tạng. [X. Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.5; W.W. Roekhill: The life of the Buddha]. (xt. Án Ma Ni Bát Di Hồng).
Đại thừa trang nghiêm bảo vương kinh 大乘莊嚴寶王經
[ja] ダイジョウショウゴンホウオウキョウ Daijō shōgon hōō kyō ||| (Kāraṇḍavyūha ). ['phags pa] za ma tog bkod bkod pa shes bya ba heg pa chen po'i mdo [To.116, P.784]; 4 fasc. (T 1050.20.47-64), trans. Tianxizai 天息災. Source for Avalokiteśvara's famous mantra oṃ maṇi padme hūṃ. KI (mb) 5. BGBT4/142-4. => (s: Kāraṇḍavyūha ['phags pa] za ma tog bkod bkod pa shes bya ba heg pa chen po'i mdo). 4 quyển. Thiên Tức Tai ( 天息災c: Tianxizai) dịch. Bắt nguồn từ thần chú nổi tiếng oṃ maṇi padme hūṃ của Bồ-tát Quán Thế Âm.
đại thừa trang nghiêm kinh luận
825請參閱 密嚴經 請參閱 密嚴經疏 梵名 Mahāyāna-sūtrālaṃkāra。凡十三卷。無著造,唐代波羅頗蜜多羅譯。今收於大正藏第三十一冊。內容解說菩薩發心、修行以及應修習之各種法門。又稱大乘莊嚴論、大莊嚴論、莊嚴經論、莊嚴論。乃瑜伽十支論之一。全書共分二十四品。現存之梵本係法國學者萊維(S. Lⅰvi)於一八九八年發現於尼泊爾者。西藏譯本將全書分為「頌」、「釋」兩部分。梵本及西藏譯本皆僅有二十一品。本論名目蓋含有莊嚴大乘經之深義,故成唯識論述記卷四本謂,本書書名應題為「莊嚴大乘經論」。 本論援引經典頗多,有十地經、無盡慧經、行清淨經等數十種。關於作者,眾說紛紜,梵本未舉出作者之名;南海寄歸內法傳卷四長髮有無條、開元釋教錄卷八等,均謂本書為無著所造;西藏譯本謂是彌勒造;成唯識論了義燈卷一本、成唯識論述記卷四本、解深密經疏卷四等則皆稱本頌為慈氏彌勒菩薩造,釋論則為天親菩薩所造。〔大唐內典錄卷五、至元法寶勘同總錄卷九、閱藏知津卷三十八〕
; Mahā-yānasŪtralamkara (S)Trang Nghiêm luận, Trang Nghiêm Kinh luậnTên một bộ luận kinh. Do Mã Minh Bồ tát biên soạn..
; Mahàyàna-sùtra-lankàra-tikà (S). An exposition of the teachings of the Vijnàna-vàda school Duy thức tông by Asanga Vô trước.
; Mahayanasutra-lamkara-tika—An exposition of the teaching of the Vijnana-vada school.
; (大乘莊嚴經論) Phạm: Mahàyàna-sùtràlaôkàra. Một trong 12 chi luận Du già. Gồm 13 quyển, do ngài Ba la phả mật đa la dịch vào đời Đường. Cũng gọi Đại thừa trang nghiêm luận, Đại trang nghiêm luận, Trang nghiêm kinh luận, Trang nghiêm luận. Thu vào Đại chính tạng tập 31. Nội dung gồm 24 phẩm, nói về việc Bồ tát phát tâm, tu hành và các pháp môn Bồ tát nên tu tập. Bản tiếng Phạm hiện còn là do học giả người Pháp tên S. Lévi đã tìm được ở Népal vào năm 1898. Bản dịch Tây tạng chia luận này làm hai phần Tụng và Thích. Cả nguyên bản và Tạng bản đều chỉ có 21 phẩm. Luận này viện dẫn rất nhiều kinh điển như: kinh Thập địa, kinh Vô tận tuệ, kinh Hành thanh tịnh v.v... Còn về tác giả của luận này thì có nhiều thuyết. Nguyên bản tiếng Phạm không nêu tên tác giả. Điều Trường phát hữu vô trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 và Khai nguyên thích giáo lục quyển 8 đều nói luận này do ngài Vô trước tạo. Bản dịch Tây tạng thì cho là của ngài Di lặc. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 1 phần đầu, Thành duy thức luận thuật kí quyển 4 phần đầu, Giải thâm mật kinh sớ quyển 4 v.v... đều nói rằng Tụng là do bồ tát Di lặc, còn Thích thì do bồ tát Thiên thân soạn. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9; Duyệt tạng tri tâm Q.38].
Đại thừa trang nghiêm kinh luận 大乘莊嚴經論
[ja] ダイジョウソウゴンキョウロン Daijō sōgonkyō ron ||| Dasheng zhuangyanjing lun (Mahāyānasūtra-laṃkāra). "Treatise on the Scripture of Adorning the Great Vehicle." 13 fascicles, attributed to Asaṅga (無著). T 1604.31.589b-661c. According to some traditions, the verses were written by Maitreyan 彌勒, and were expanded into prose form by Asaṅga 無著, or his brother Vasubandhu 世親. Translated in to Chinese by Prabhākaramitra 波羅頗蜜多羅 during 630-633. There is also a Tibetan translation. It is an important text for the Yogācāra school 瑜伽行派, being one of the eleven treatises on which the Cheng weishi lun 成唯識論 is based. It is comprised of twenty-four chapters, the content of which are almost exactly the same as that of the Chapter of the Bodhisattva Stages in the Yogācārabhūmi-śāstra 瑜伽論, with the most important discussions being in regard to: the bodhisattvas seeds 種姓, arousal of intention to save sentient beings 發心, faith and understanding 信解, six perfections 六波羅蜜, and the merits of practice 功德. Commonly abbreviated as Zhuangyan lun 莊嚴論. => (c: Dasheng zhuangyanjing lun; s: Mahāyānasūtra-laṃkāra; e: Treatise on the Scripture of Adorning the Great Vehicle. 13 quyển, được xem là của Vô Trước. Theo một vài truyền thuyết, bài kệ do Ngài Di-lặc viết, Vô Trước hoặc em trai là Thế Thân phát triển thành văn xuôi. Ba-la-phả-mật-đa-la ( 波羅頗蜜多羅s: Prabhākaramitra) dịch trong khoảng từ 630-633. Cũng có bản dịch tiếng Tây Tạng. Đây là luận văn quan trọng của Du-già hành phái, là một trong 11 chuyên luận mà Thành Duy thức luận căn cứ. Luận nầy bao gồm 24 phẩm, nội dung hầu như giống hệt với phẩm Bồ-tát vị trong Du-già luận, với những thảo luận quan trọng về vấn đề: chủng tính, phát tâm, tín giải, sáu ba-la-mật, và công đức. Thường được viết tắt là Trang nghiêm luận (Zhuangyan lun 莊嚴論).
; [ja] ダイジョウショウゴンキョウロン Daijō shōgonkyō ron ||| The Ta-sheng chuang-yen-ching lun (Mahāyānasūtra-lankāra), T 1604.31.589-663. 13 fasc. in 24 chapters, by Asaṅga 無著, translated by Prabhākaramitra 波羅頗蜜多羅. One of the eleven main treatise of the Yogācāra school. Discusses the course of bodhisattva practice from a Mahayana perspective, from the arousal of the mind of bodhicitta through the various practices and merits such as the six pāramitās. => (c: Ta-sheng chuang-yen-ching lun;s: Mahāyānasūtra-lankāra), 13 quyển, gồm 24 phẩm, của Vô Trước. Ba-la-phả-mật-đa-la (波羅頗蜜多羅s: Prabhākaramitra) dịch. Là một trong 11 chuyên luận chính của Du-già hành phái. Thảo luận công hạnh tu tập của hàng Bồ-tát theo khuynh hướng Đại thừa, từ phát bồ-đề tâm qua tu tập vô số công đức như sáu ba-la-mật.
đại thừa trang nghiêm luận
SŪtralāmkarā (S)Do ngài Vô Trước biên soạn.
; Mahāyāna lamkaraśāstra (S)Một trong 5 bộ luận (Du già luận, Phân biệt Du già luận, Biện trung luận, Kim Cang bát nhã luận) Bồ tát Di lặc từ cõi trời Đâu suất giáng xuống giảng cho ngài Vo Trước.
; Daijoshogoron (J)Tên một bộ luận kinh. Xem Mahayanasutralankara Sastra.
; Mahāyāna-sŪtralaṅkāra-śāstra (S), Daijoshogoron (J)Một bộ luận nổi tiếng của Đại thừa do ngài Vô Trước Bồ Tát soạn.
đại thừa trung quán thích luận
812請參閱 地藏十輪經 請參閱 大乘義章 梵名 Mūla-madhyamaka-sandhi-nirmocana-vyākhyā。凡九卷。安慧菩薩造,宋代惟淨等譯。收於大正藏第三十冊。又作中觀釋論。乃隨文解釋龍樹之中觀,為中觀八大注釋書之一。本論所釋之頌,與鳩摩羅什所譯之中論、波羅頗蜜多羅所譯之般若燈論對比,互有存缺出入,日本學者羽溪了諦於日本「國譯一切經」中附有各經內容之對照表。本書屢屢舉出毘婆沙師、犢子部師、經部師、勝論師、外人、異人、異宗、異部師、我宗、自部人等之說,而其所謂「異部異宗」,係指中觀派之論師。本書之梵本及西藏譯本現均不存。有關本書之卷數,於舊宋本與宋、元、明三本,及日本縮刷藏、大正藏(以日本增上寺所藏高麗本為底本)僅有九卷,然卍字藏經(以日本建仁寺、法然院所藏高麗本為底本)則有十八卷。此外,關於本書之譯者,據宋本、麗本、元本等所載,本書係法護與惟淨所共譯。〔閱藏知津卷三十八、大明三藏聖教北藏目錄卷四、大明三藏聖教南藏目錄、至元法寶勘同總錄卷九〕
; MŪla-madhyamaka-sandhinirmocana-vyakhya (S)Trung quán Thích luậnTên một bộ luận kinh.
; (大乘中觀釋論) Phạm: Mùla-madhyamaka-sandhinirmocana-vyàkhyà. Gồm 9 quyển. Cũng gọi Trung quán thích luận. Do bồ tát An tuệ tạo, ngài Duy tịnh dịch vào đời Tống, thu trong Đại chính tạng tập 30. Một trong 8 bộ chú sớ lớn giải thích luận Trung quán của ngài Long thụ. Phần tụng được giải thích trong luận này so với phần tụng trong Trung luận do ngài Cưu ma la thập dịch và phần tụng trong luận Bát nhã đăng do ngài Ba la phả mật đa la dịch thì hơi khác nhau. Trong Quốc dịch nhất thiết kinh, học giả Nhật bản Vũ khê Liễu đế có phụ thêm đồ biểu đối chiếu nội dung của các bộ luận trên. Luận này thường nêu ra thuyết của các luận sư của Tì bà sa, Độc tử bộ, Kinh bộ, Thắng luận, Ngoại nhân, Dị nhân, Dị tông, Dị bộ, Ngã tông, Tự tông v.v... và bảo rằng Dị Bộ Dị Tông là luận sư phái Trung quán. Nguyên bản tiếng Phạm cũng như bản dịch Tây tạng của luận này hiện nay đều không còn. Về số quyển của luận này, thì bản cũ đời Tống, ba bản Tống, Nguyên, Minh và bản trong Súc loát tạng, Đại chính tạng của Nhật (lấy bản Cao li cất giữ ở chùa Tăng thượng Nhật bản làm bản gốc) chỉ có 9 quyển, nhưng Tục tạng kinh (lấy bản Cao li tàng trữ ở chùa Kiến nhân và viện Pháp nhiên tại Nhật bản làm bản chính) thì có 18 quyển. Lại theo các bản Tống, Cao li, Nguyên v.v... thì luận này do các ngài Pháp hộ và Duy tịnh dịch chung. [X. Duyệt tạng tri tân Q.38; Đại minh tam tạng thánh giáo bắc tạng mục lục Q.4; Đại minh tam tạng thánh giáo nam tạng mục lục; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9].
đại thừa tu hành bồ tát hành môn chư kinh yếu tập
819凡三卷。唐代智嚴譯。今收於大正藏第十七冊。略稱菩薩行門諸經要集。係纂集諸經中,有關大乘菩薩行之要文而成,計有四十二經六十七條(或六十六條)。卷上引載象腋經、說妙法決定業障經等十一部之文,卷中引載海慧菩薩所問經、戲樂嚴經等十部之文,卷下引載虛空藏菩薩所問經、如來境界等二十一部之文。所引諸經之中,方廣如來智經、演法師品經、戲樂嚴經、勝積品經、金光上勝毘尼經、降伏魔經、寶童子夫人所問經、如來境界經、離垢菩薩所問經、寶聚經、那羅延品經、梵剎經、一切諸佛所念經、法集經、集會品經、殊勝具戒品經等十六經為未傳於中土之經。〔續古今譯經圖紀、開元釋教錄卷九、閱藏知津卷四十一〕
; (大乘修行菩薩行門諸經要集) Gồm3 quyển, do ngài Trí nghiêm dịch vào đời Đường, thu trong Đại chính tạng tập 17. Gọi tắt: Bồ tát hạnh môn chư kinh yếu tập. Nội dung trích lấy những đoạn văn trọng yếu nói về hạnh Bồ tát Đại thừa trong 42 bộ kinh gồm 67 (có thuyết nói 66) điều. - Quyển thượng trích dẫn văn của 11 bộ kinh như: Kinh Tượng dịch, kinh Thuyết diệu pháp quyết định nghiệp chướng v.v... - Quyển trung trích lấy văn của 10 bộ, như: Kinh Hải tuệ bồ tát sở vấn, kinh Hí nhạo nghiêm v.v... - Quyển hạ trích dẫn văn của 21 bộ, như: Kinh Hư không tạng bồ tát sở vấn, kinh Như lai cảnh giới v.v... Trong 42 kinh được trích dẫn có 16 bộ chưa được truyền đến Trung quốc. Đó là: kinh Phương quảng Như lai trí, kinh Diễn pháp sư phẩm, kinh Hí nhạo nghiêm, kinh Thắng tích phẩm, kinh Kim quang thượng thắng tì ni, kinh Hàng phục ma, kinh Bảo đồng tử phu nhân sở vấn, kinh Như lai cảnh giới, kinh Li cấu bồ tát sở vấn, kinh Bảo trụ, kinh Na la diên phẩm, kinh Phạm sát, kinh Nhất thiết chư Phật sở niệm, kinh Pháp tập, kinh Tập hội phẩm và kinh Thù thắng cụ phẩm. [X. Tục cổ kim dịch kinh đồ kỉ; Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Duyệt tạng tri tân Q.41].
đại thừa tâm
Vốn là thuật ngữ của giáo môn, ý nói tâm cầu Phật theo giáo pháp Đại thừa. Nhà thiền cho rằng chẳng rơi vào tình lượng chỗ nơi, vượt khỏi ngôn ngữ tri giải, thân tâm tự nhiên đạt đạo là »Đại thừa tâm«. [i]Đoạn Tế Tâm Yếu[/i] ghi: »道 無 方 所、 名 大 乘 心、 此 心 不 在 內 外 中 間、 實 無 方 所。 第 一 不 得 作 知 解、 只 是 說 汝 今 情 量 處、 情 量 若 盡、 心 無 方 所。 – [i]Đạo không có nơi chốn gọi là Đại thừa tâm. Tâm này chẳng ở trong, ngoài, chặng giữa, thật không có chỗ nơi. Thứ nhất là chẳng được khởi tri giải, chỉ nói với ngươi là chỗ tình lượng hiện nay, tình lượng nếu hết thì tâm không có nơi chốn[/i]«.
; The mind or heart of the Mahàyàna; seeking the mind of Buddha by means of Mahàyàna.
; The mind or heart of the Mahàyàna; seeking the mind of Buddha by means of Mahàyàna.
; Tâm Đại Thừa hay tìm về tâm Phật qua pháp tu Đại Thừa—The mind or heart of the Mahayana—Seeking the mind of Buddha by means of Mahayana.
đại thừa tông
The school of Mahàyàna, attributed to the rise in India of the Màdhyamika, i.e. the Trung quán or Tam luận school ascribed to Nagarjuna, and the Yoga or Dharmalaksana Pháp tướng school, the other school is the Hinayàna.
; Sau khi Đức Phật diệt độ, Phật giáo chia ra làm nhiều tông phái; hai loại chính là Tiểu Thừa và Đại Thừa. Những ai cầu chứng ngộ A-La-Hán thì gọi là Tiểu Thừa, những ai cầu thành Phật thì gọi là Đại Thừa. Lúc đầu ngay khi Phật nhập diệt, chỉ có hai tông Trung Quán và Du Già gọi là Đại Thừa, số còn lại là Tiểu Thừa. Trung Quán tức là Tam Luận Tông và Du Già tức là Pháp Tướng Tông bên Trung Quốc. Tại Nhật thì Câu Xá và Thành Thực tông là Tiểu Thừa, số còn lại là Đại Thừa—The school of Mahayana—After the Buddha's death, Buddhism was divided into many schools. The two main branches were Hinayana and Mahayana. Whoever seeks to become an arhat belongs to the Hinayana; while whoever seeks to become a Buddha belongs to the Mahayana. Right after the Buddha' deaththe school of Mahayana, attributed to the rise in India of the Madhyamika (the school ascribed to Nagarjuna) and the Yoga; the rest of the sects belonged to the Hinayana. The Madhyamika and Yoga were called Tsan-Luan and Dharmalaksana in China. In Japan, only Kosa and Satyasiddhi belong to the Hinayana; the rest of other schools belong to the Mahayana.
đại thừa tạo tượng công đức kinh
826梵名 Tathāgata-pratibimba-pratiṣṭhānuśaṃsā。凡二卷。唐代提雲般若譯。今收於大正藏第十六冊。內容敘述優陀延王造立佛像之因緣及其功德。本經譯於武周天授二年(691)之大周東寺,大周刊定眾經目錄卷五以本經與東晉所譯(譯者不詳)之「造立形像福報經」為同本異譯,緣山三大藏總目錄卷上則謂此說謬誤。〔續古今譯經圖紀、開元釋教錄卷九、大藏聖教法寶標目卷五〕(參閱「優填王」6411)
; Tathāgata-pratibimba-pratistha-nusamsa (S)Tên một bộ kinh.
; Tathāgata-pratibimbapratistha-nusamsa sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
; (大乘造像功德經) Phạm: Tathàgata-pratibimbapratiwỉhànuzaôsà. Gồm 2 quyển, do ngài Đề vân bát nhã dịch vào đời Đường, thu trong Đại chính tạng tập 16. Nội dung tường thuật về nhân duyên và công đức tạo lập tượng Phật của vua Ưu đà diên. Đại chu san định chúng kinh mục lục quyển 5 cho rằng kinh này là bản dịch khác của kinh Tạo lập hình tượng phúc báo được dịch vào đời Đông Tấn (không rõ người dịch). Nhưng Duyên sơn tam tạng tổng mục lục quyển thượng thì cho thuyết này là lầm lẫn. [X. Tục cổ kim dịch kinh đồ kỉ; Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục Q.5]. (xt. Ưu Điền Vương).
đại thừa tập bồ tát học luận
827梵名 Śikṣāsamuccaya。凡二十五卷。法稱菩薩著,宋代法護、日稱等共譯。又稱學處要集。今收於大正藏第三十二冊。乃修行大乘佛教者之教說金言集。梵本刊行於一九○二年,分十九章,漢譯本則立十八品。內容係就布施、持戒、忍辱、精進、禪定、般若波羅蜜等德目加以論述。本書援引之經典頗多,有華嚴經、寶光明陀羅尼、大善誘經、十法經等八十餘種。本書現行之梵本,係一九○二年英國學者賓達(C. Bendall)所刊行。此外,本書亦有英譯本,係自梵文本直接譯成者,與漢譯本比較之,則其內所引述華嚴等經之引文較為冗長,此外,又多處引用未傳之經文。〔至元法寶勘同總錄卷九、大乘集菩薩學論(荻原雲來,東洋哲學第九之一)〕
; Śikṣāsamuccaya (S)Giáo Tập Yếu, Học xứ yếu tậpDo ngài Tịch Thiên biên soạn.
; (大乘集菩薩學論) Phạm: Zikwàsamuccaya. Cũng gọi Học xứ tập yếu. Gồm25 quyển, do bồ tát Pháp xứng tạo, các ngài Pháp hộ và Nhật xứng dịch chung, thu trong Đại chính tạng tập 32. Nội dung gồm 18 phẩm, nói về các đức mục bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định v.v... Sách này dẫn dụng khá nhiều kinh điển như: Hoa nghiêm, Bảo quang minh đà la ni, kinh Đại thiện dụ, kinh Thập pháp v.v... Tất cả có tới hơn 80 loại. Nguyên bản tiếng Phạm của luận này được học giả người Anh tên là C. Bendall ấn hành vào năm 1902, chia làm 19 chương. Ngoài ra, còn có bản dịch tiếng Anh, trực tiếp dịch từ tiếng Phạm so với bản Hán dịch thì văn trích dẫn kinh Hoa nghiêm hơi dài và cũng có nhiều chỗ dẫn dụng các kinh chưa được truyền đến Trung quốc. [X. Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9; Đại thừa tập bồ tát học luận (Địch nguyên Vân lai, Đông dương triết học 9)].
đại thừa tặc
829又稱大乘匪。乃北魏末年,以法慶為首之流賊。北魏末年,冀州(今河北、山西二省及河南黃河以北)一帶,戰亂凶年相繼,不法之徒乃假借佛教之名作亂。其時,法慶說服國子博士李歸伯,自號大乘;並糾合愚民,勸人服狂藥,使不識父子兄弟,並高唱「殺一人為一住菩薩,乃至殺十人為十住菩薩」之說,組織兇暴之殺人團,殺害官吏。後賊黨人數多達五萬餘,破壞寺院,殺戮僧尼,焚燬經像,並稱「新佛出世,舊魔除去」,此「新佛」即指「大乘主」法慶本身,並謂迎接新佛,建設大乘佛國,必須破壞舊有佛教教團;又以殺害教徒,為平魔之業。時值北魏孝明帝在位(515~527),下詔討伐大乘賊,一戰死者數萬,終捕得法慶,移送京師斬首。李歸伯亦伏誅,大乘賊之亂始告平定。〔佛祖統紀卷三十八、魏書卷九、卷四十八、卷六十四、卷九十四、北史卷二十五、卷四十三〕
; (大乘賊) Giặc Đại thừa. Cũng gọi Đại thừa phỉ. Bọn giặc do Pháp khánh cầm đầu vào những năm cuối đời Bắc Ngụy. Vào thời gian này, suốt một dải đất Kí châu (nay là các tỉnh Hà bắc, Sơn tây và phía bắc sông Hoàng) bị giặc giã, mất mùa liên tiếp trong nhiều năm. Bấy giờ, những đảng phái bất hợp pháp mượn danh nghĩa Phật giáo để làm loạn, trong đó, có Pháp khánh thuyết phục Quốc tử bác sĩ Lí qui bá tự xưng Đại thừa, tụ họp dân ngu, khuyên họ uống cuồng dược, không còn biết cha con anh em, đồng thời, đưa ra thuyết Giết một người là Bồ tát nhất trụ, giết mười người là Bồ tát thập trụ, tổ chức thành các nhóm sát nhân hung bạo, giết hại quan lại. Về sau, số người gia nhập đảng giặc này lên đến hơn 5 vạn, phá hủy chùa viện, chém giết tăng ni, thiêu đốt hình tượng, rồi tuyên bố: Phật mới ra đời, tiêu diệt ma cũ, Phật mới này tức là Chúa Đại thừa, danh hiệu mà Pháp khánh đã tự đặt cho mình. Bọn Khánh còn nói: Muốn đón rước Phật mới, xây dựng nước Phật đại thừa, thì cần phải tiêu hủy giáo đoàn Phật giáo cũ và cho việc tàn sát giáo đồ là sự nghiệp bình định ác ma! Bấy giờ là Hiếu minh đế nhà Bắc Ngụy trị vì (515 - 527), hạ lệnh đánh dẹp bọn giặc Đại thừa, bắt được Pháp khánh đưa về kinh đô chém đầu, Lí qui bá cũng bị giết, giặc Đại thừa được bình định. [X. Phật tổ thống kỉ Q.38; Ngụy thư Q.9, Q.48, Q.64, Q.94; Bắc sử Q.25; Q.43].
đại thừa tứ quả
813據大乘莊嚴經論卷十二載,通教菩薩歷十地修行證果,有淺深始終之不同,借聲聞四果之位以區別之,大明三藏法數卷十六遂稱之為大乘四果。即:(一)初地生如來家,是為須陀洹果。(二)八地得授記,是為斯陀含果。(三)十地得受職,是為阿那含果。(四)佛地則為阿羅漢果。
; The four fruits or bodhisattva stages in Mahayan: 1) Tu Đà Hoàn: Srota-apanna. 2) Tư Đà Hàm: Sakrdagamin. 3) A Na Hàm: Anagamin. 4) A La Hán: Arhan.
; (大乘四果) Bốn quả vị chứng đắc của Đại thừa. Theo Đại minh tam tạng pháp số quyển 16, bốn quả Đại thừa là: 1. Sơ địa được sinh vào nhà Như lai. 2. Bát địa được thụ kí. 3. Thập địa được quả vị. 4. Phật địa.
Đại Thừa Tự
(大乘寺, Daijō-ji): ngôi chùa của Tào Động Tông, hiện tọa lạc tại số 10 Nagasaka-chō (長坂町), Kanazawa-shi (金澤市), Ishikawa-ken (石川縣); tên gọi chính thức là Đông Hương Sơn Đại Thừa Hộ Quốc Thiền Tự (東香山大乘護國禪寺); biệt danh là Xương Thọ Lâm (椙樹林). Tượng thờ chính của chùa là Thích Ca Như Lai. Vào năm 1236 (Hoằng Trường [弘長] 3), vị Trưởng Quan Kami vùng Gia Hạ (加賀, Kaga) là Phú Kiên Gia Thượng (富樫家尚) kiến lập một ngôi chùa ở Nono-shi (野野市), Ishikawa-gun (石川郡), rồi cung thỉnh Trừng Hải (澄海) của Chơn Ngôn Tông làm Tổ khai sơn chùa. Sau đó, vào năm 1289 (Chánh Ứng [正應] 2), Trừng Hải quy y theo vị Tổ đời thứ 3 của Vĩnh Bình Tự là Triệt Thông Nghĩa Giới (徹通義介), nên ông mới nhường ngôi chùa lại cho vị này và cải tông luôn. Về sau, Oánh Sơn Thiệu Cẩn (瑩山紹瑾) kế thừa Nghĩa Giới, đến năm 1300 (Chánh An [正安] 2) thì khai đàn thuyết giảng bộ Truyền Quang Lục (傳光錄) ở chùa này. Về sau, chùa trở thành nơi cầu nguyện của dòng họ Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji). Đến năm 1394 (Minh Đức [明德] 4), chùa bị binh hỏa đốt cháy tan tành; nhưng đến năm 1680 (Diên Bảo [延寶] 8), Vạn Sơn (卍山) đến trú ở đây, chùa được tái kiến lại như cũ và hưng thịnh. Trong khoảng năm 1695 (Nguyên Lộc [元祿] 8), chùa được dời về vị trí hiện tại, các đường vũ được chỉnh trang lại toàn bộ.
đại thừa tự
Daijō-ji (J)Tên một ngôi chùa.
Đại Thừa Viện Tự Xã Tạp Sự Ký
(大乘院寺社雜事記, Daijōinjishazojiki): đây không phải là tên gọi ngày xưa của tác phẩm này, mà nó được thay đổi kể từ năm đầu thời Minh Trị, khi phần lớn các văn thư ký lục của Hưng Phước Tự (興福寺, Kofuku-ji) đều trở thành thư tịch của Văn Khố Nội Các. Khi ấy, Văn Khố Nội Các kết hợp hai bản nhật ký của Tầm Tôn (尋尊), vị Tổ đời thứ 27 của Hưng Phước Tự và của Kinh Tầm (經尋), vị Tổ đời thứ 30 của chùa này, rồi đặt thành tên gọi như vậy. Kế đến, khi san hành bản này vào năm 1931, người hiệu đính mới thêm vào phần nhật ký của vị Tổ đời thứ 28 của chùa là Chính Giác (政覺) nữa. Tuy đây là 3 bản nhật ký của 3 vị Tổ ở Hưng Phước Tự, nhưng trong đó, bản nhật ký của Tầm Tôn có chất lượng hơn hai bản kia. Vào tháng 2 năm 1456, Tầm Tôn được bổ nhiệm làm chức Biệt Đương của Hưng Phước Tự; khi ấy ông bắt đầu viết nhật ký miệt mài, và chính tự ông đặt tên cho bản nhật ký của ông là Tự Vụ Chư Phương Hồi Thỉnh (寺務諸方迴請). Tiếp theo, vào thàng 3 năm 1459, khi ông từ chức Biệt Đương, ông tiếp tục viết phần Tự Xã Tạp Sự Ký (寺社雜事記) cho đến tháng giêng năm 1508, kéo dài khoảng 49 năm trường. Bản đầu, Tự Vụ Phương Chư Hồi Thỉnh, gồm 12 thiếp; bản sau kể cả phần thất lạc gồm 204 thiếp. Ngoài ra phần biệt ký hiện tồn gồm 8 thiếp, chỉ với số lượng như vậy thôi cũng quả là bạt quần rồi. Ngôn từ Tự Xã trong phần Tự Xã Tạp Sự Ký không có nghĩa là chùa chiền, đền thờ Thần xã nói chung, mà là ngôn từ viết tắt của Hưng Phước Tự và đền thờ Xuân Nhật Xã (春日社), và phần lớn Tầm Tôn dùng ngôn từ này với ý nghĩa như vậy. Như vậy bản nhật ký này là bản ký lục ghi lại những công việc pháp sự cũng như Phật sự, Thần sự của Hưng Phước Tự và Xuân Nhật Xã. Tuy nhiên, ở phía trái dưới bên ngoài đề của các bức thiếp của hai nơi này, Tầm Tôn đều có ghi dòng chữ “Đại Thừa Viện (大乘院)” cả, và bên dưới có ghi thêm dòng “Phú Viện Gia (付院家)”. Nói tóm lại, bên ngoài bìa đề cho dù có thay đổi tùy theo khi ấy Tầm Tôn còn làm chức Biệt Đương hay không, nhưng đây không phải là bản ký lục của riêng vị Biệt Đương, mà cũng chẳng phải là bản nhật ký của cá nhân Tầm Tôn; song dầu gì đi nữa thì đó cũng là ký lục của Đại Thừa Viện, hơn nữa đối tượng của ký lục ấy chủ yếu là tự viện và đền thờ Thần xã. Do đó, nó được lấy tên gọi là Đại Thừa Viện Tự Xã Tạp Sự Ký (大乘院寺社雜事記), hơn là Tầm Tôn Đại Tăng Chánh Ký (尋尊大僧正記).
đại thừa và nguyên thủy
Mahayana and Theravada—Theo Hòa Thượng K. Sri Dhammananda trong Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo, Sự khác biệt giữa Đại Thừa và Nguyên Thủy bởi những giáo lý căn bản sau đây—According to Most Venerable K. Sri Dhammananda in The Gems of Buddhism Wisdom, here are the similarities and differences of basic fundamental teachings between Mahayana and Theravada: (A) Những giáo lý giống nhau—Similar teachings: • Cả hai đều công nhận Đức Phật Thích Ca là bậc Đạo Sư—Both accept Sakyamuni Buddha as the Teacher. • Tứ Diệu Đế giống nhau cho cả hai trường phái—The Four Noble Truths are exactly the same in both schools. • Bát Chánh Đạo cũng y nhau nơi hai trường phái—The Eightfold Noble Path is exactly the same in both schools. • Lý Duyên Sinh hay Lý Duyên Khởi cũng y như nhau tại hai trường phái nầy—The Paticca-samappada or the Dependent Origination is the same in both schools. • Cả hai đều bác bỏ ý kiến về một đấng tối thượng và thống trị thế giới nầy—Both rejected the idea of a supreme being who created and governed this world. • Cả hai đều công nhận Vô Thường, Khổ, Vô Ngã, và Giới Định Huệ như nhau chứ không có gì khác biệt—Both accept Anica, Dukkha, Anatta and Sila, Samadhi, Panna without any difference. (B) Những giáo lý khác nhau—Different teachings: • Điểm khác biệt rõ rệt là lý tưởng Bồ Tát. Theo giáo lý Đại Thừa, Bồ Tát đạo là con đường dẫn đến thành Phật, chứ không phải là A La Hán—An obvious different point is the Bodhisattva ideal. According to the Mahayana doctrines, the Bodhisattva Way is a way that leads to Buddhahood while Theravada is for Arahantship. • Theo giáo lý Nguyên Thủy, Phật, Bích Chi, Duyên Giác đều là những A La Hán. Một đệ tử Phật cũng có thể trở thành một vị A La Hán—According to the Theravada doctrines, the Buddha, Pratyekabuddha are also Arahant. A disciple can also become an Arahant. • Kinh điển Đại Thừa không bao giờ dùng từ A La Hán Thừa, họ chỉ dùng Bồ Tát Thừa, Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa, trong khi các từ trên Nguyên Thủy gọi là Giác Ngộ—The Mahayana texts never use the term Arahantyana or Arahant Vehicle. They use three terms Bodhisattvayana, Sravakayana, and Pratyekabuddhayana. In the Theravada tradition these three terms are called Bodhis. • Vài người cho rằng Nguyên Thủy ích kỷ vì Nguyên Thủy dạy tìm kiếm sự giác ngộ cho tự thân, còn Đại Thừa vị tha vì Đại Thừa chủ trương tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn—Some people consider that Theravada is selfish because it teaches that people should seek their own salvation, while Mahayana is altruistic because it teaches that people should save other people before attaining Buddhahood (self-benefiting for the benefit of others and attaining of Buddhahood).
đại thừa vô lượng thọ kinh
Xem Đại thừa Vô lượng thọ Tông yếu kinh.
Đại thừa vô lượng thọ kinh 大乘無量壽經
[ja] ダイジョウムリョウジュキョウ Daijō muryōju kyō ||| The Dasheng wuliangshou jing; Skt. Aparamitāyur-nāma-mahāyānasūtra; Tib. Tshe dang ye shes dpag tu med pa shes bya ba theg pa chen po'i mdo; (Great Vehicle Sutra of Immeasurable Longevity) [To.674/849, 675, P.361/474, 362] A eulogy to the merits of the tathāgata Aparimatāyus 無量壽. Source for a nine-figure maṇḍala centred on Amitāyus [Ngor.10]. Versions exist in Khotanese, Uighur, Mongol, Manchu, and Tangut. Two Chinese translations: (1) 1 fasc. (T 936.19.82-85), Great Vehicle Sutra of the One of Immeasurable Lifespan 大乘無量壽經, tr. Facheng 法成. (2) 1 fasc. (T 937.19.85-86), Dhāraṇī of the Holy Tathāgata of Immeasurable Lifespan, King of Determined Radiance 大乘聖無量壽決定光明王如來陀羅尼經, tr. Fatian 法天. BGBT4/120-1 (c: Dasheng wuliangshou jing; Skt. Aparamitāyur-nāma-mahāyānasūtra; Tib. Tshe dang ye shes dpag tu med pa shes bya ba theg pa chen po'i mdo; e: Great Vehicle Sutra of Immeasurable Longevity). => Kinh tán dương công đức của Đức Vô lượng thọ Như Lai (Aparimatāyus 無量壽). Bắt nguồn từ đồ hình mạn-đà-la 9 mặt hướng về Đức Phật Vô Lượng Thọ (s: Amitāyus). Các bản dịch hiện còn lưu hành tại Khotanese, Uighur, Mongol, Manchu, và Tangut. Có 2 bản dịch tiếng Hán là: 1. Gồm 1 quyển, Đại thừa vô lượng thọ kinh, Pháp Thành (法成c: Facheng) dịch. 2. Đại thừa thánh Vô lượng thọ quyết định quang minh vương Như Lai đà-la-ni kinh. Pháp Thiên (Fatian 法天) dịch.
Đại thừa vô lượng thọ trang nghiêm kinh
大乘無量壽莊嚴經; S: aparimitāyur-sūtra; cũng có tên là Lạc hữu trang nghiêm kinh (s: su-khāvatī-vyūha);|Một trong ba bộ kinh căn bản của Tịnh độ tông. Bản dịch ngắn của kinh này chính là A-di-đà kinh. Kinh này được dịch tới 12 lần ra tiếng Hán từ năm 147 đến năm 713 dưới nhiều tên khác nhau, mô tả đời sống và lời nguyện của Phật A-di-đà cũng như thế giới Cực lạc của Ngài.|Kinh này bắt đầu bằng một bài giảng của đức Phật Thích-ca cho A-nan-đà, trong đó đức Phật kể về một tỉ-khâu tên Pháp Tạng (s: dharmākara). Tỉ-khâu này – lúc chưa thành Phật – đã nêu lên 48 thệ nguyện nếu thành Phật sẽ thực hiện, đó là xây dựng lên một Tịnh độ để tiếp dẫn những ai muốn thác sinh về đó. Các lời nguyện quan trọng nhất của Phật A-di-đà là:|(1) Trong Tịnh độ không còn thác sinh ác đạo; (2) Trong Tịnh độ không còn thân nữ; tất cả phụ nữ sinh trong cõi Tịnh độ lúc lâm chung trước đó đều đã biến thành nam; (3) Thân chúng sinh trong Tịnh độ đều bằng vàng ròng, có Ba mươi hai tướng tốt; (4) Chúng sinh trong Tịnh độ chứng Túc mệnh thông (s: purbbanivāsānusmṛti-abhijñā); (5)/(6) Chúng sinh trong Tịnh độ chứng Thiên nhãn thông (s: divyacakṣur-abhijñā)/ Thiên nhĩ thông (s: divya-śrotam-abhijñā); (7) Chúng sinh trong Tịnh độ chứng Thần túc thông (s: ṛddhividdhi-abhijñā); (8) Chúng sinh trong Tịnh độ chứng Tha tâm thông (s: cetahvaryyāya- abhijñā); (17) Chúng sinh trong mười phương thế giới chỉ cần nghe danh hiệu A-di-đà là phát tâm Bồ-đề.|Ðối với Tịnh độ tông thì các lời nguyện sau đây quan trọng hơn cả:|(18) Chúng sinh trong khắp mười phương thế giới chỉ cần nghe đến tên ta là đã khởi niệm đạt quả vô thượng. Lúc họ chết mà nhớ nghĩ đến ta, ta sẽ hiện đến cùng quyến thuộc xung quanh để giúp họ khỏi sợ hãi; (19) Chúng sinh trong vô lượng thế giới chỉ cần nghe đến tên ta, muốn tái sinh trong Tịnh độ của ta để trau dồi thiện nghiệp thì họ phải được toại nguyện; (24) Chúng sinh đã thác sinh vào Tịnh độ của ta chỉ còn tái sinh một lần nữa là sẽ nhập Niết-bàn, không thể bị đoạ được nữa.
đại thừa vô lượng thọ trang nghiêm kinh
827請參閱 大乘無量壽宗要經 凡三卷(或二卷)。北宋法賢譯。又作大乘無量壽莊嚴王經。略稱無量壽莊嚴經、莊嚴經。收於大正藏第十二冊。內容敘述阿彌陀佛之本願及其淨土之相。係無量壽經之同本異譯,惟本經初無序說,終無「五惡段」之說,而於三十六願文之順序內容亦頗有出入。注疏有誓鎧之莊嚴經毛渧記六卷。〔大藏目錄卷下、至元法寶勘同總錄卷四、大明三藏聖教北藏目錄卷二〕(參閱「無量壽經」5119)
; (大乘無量壽莊嚴經) Gồm 3 quyển (hoặc 2 quyển), do ngài Pháp hiền dịch vào đời Tống. Cũng gọi Đại thừa vô lượng thọ trang nghiêm kinh. Gọi tắt: Vô lượng thọ trang nghiêm kinh, Trang nghiêm kinh, thu trong Đại chính tạng tập 12. Nội dung nói về bản nguyện và Tịnh độ cực lạc của đức Phật A di đà. Đây là bản dịch khác của kinh Vô lượng thọ, nhưng ở đầu kinh này không có lời tựa, ở cuối không có đoạn nói về năm điều ác, mà thứ tự của 36 nguyện cũng hơi khác. Về sách chú thích thì có: Trang nghiêm kinh mao đế kí 6 quyển của ngài Thệ khải. [X. Đại tạng mục lục Q.hạ; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.4; Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.2]. (xt. Vô Lượng Thọ Kinh).
đại thừa vô lượng thọ tông yếu kinh
826梵名 Aparimitāyur(-jñāna)-nāma dhāraṇī。全一卷。譯者佚名。又作大乘無量壽經、無量壽宗要經。收於大正藏第十九冊。內容敘述無量智決定王如來之陀羅尼及其功德。本經與宋代法天所譯之大乘聖無量壽決定光明王如來陀羅尼經一卷為同本異譯。又本經另有梵、藏、于闐、回鶻文字土耳古語、蒙古、滿州語等各種譯本,其中,于闐本係史坦因於一九一○ ~發現於敦煌千佛洞,一九一二年刊布首部。一九一六年,德國學者瓦理瑟(M. Walleser)對本經進行梵藏漢三種譯本之研究,並將全經譯為德文刊行。〔大乘無量壽宗要經(矢吹慶輝)、ァパリミタ|ュル陀羅尼經之校合(池田澄達,宗教研究第一之三)〕
; Aparimitāyur-nāma-dhāraṇī (S)Vô Lượng Thọ Tông yếu Kinh, Đại thừa Vô lượng thọ kinh, Vô lượng thọ Tông yếu kinhTên một bộ kinh.
; (大乘無量壽宗要經) Phạm: Aparimitàyur (-jĩana)-nàma dhàraịì. Có 1 quyển, không rõ dịch giả. Cũng gọi Đại thừa vô lượng thọ kinh, Vô lượng thọ tông yếu kinh, thu trong Đại chính tạng tập 19. Nội dung nói về công đức của Đà la ni (chú) do Vô lượng trí quyết định vương Như lai nói. Kinh này là bản dịch khác của kinh Đại thừa thánh vô lượng thọ quyết định quang minh vương Như lai đà la ni 1 quyển, do ngài Pháp thiên dịch vào đời Tống. Ngoài ra, còn có bản dịch bằng những thứ tiếng: Tây tạng, Vu điền, Hồi cốt (Thổ nhĩ cổ ngữ), Mông cổ, Mãn châu v.v... Trong đó, bản Vu điền do ông A. Stein tìm được ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng vào năm 1910 và được ấn hành năm 1912. Năm 1916, học giả người Đức tên M.Walleser đối chiếu 3 bản Phạm, Tạng và Hán để nghiên cứu, rồi dịch ra tiếng Đức và xuất bản. [X. Đại thừa vô lượng thọ tông yếu kinh (Thỉ xuy khánh huy)].
Đại Thừa Vô Sanh Phương Tiện Môn
(大乘無生方便門, Daijōmushōhōbenmon): 1 quyển, sách cương yếu của Bắc Tông Thiền, dị bản của Đại Thừa Ngũ Phương Tiện Bắc Tông (大乘五方便北宗), giữa hai bản có nội dung khác nhau khá nhiều nhưng thể hiện quá trình phát triển đồng nhất tư tưởng. Bản S2503 có tiêu đề của tác phẩm này, phần đầu thuyết về tác pháp thọ giới đặc biệt mà các bản của Đại Thừa Ngũ Phương Tiện Bắc Tông không có. Bản S7961 lưu truyền một phần tác pháp thọ giới cũng được xem như là một dị bản của tác phẩm này.
đại thừa vô sinh phương tiện môn
826請參閱 掌珍論 全一卷。撰者不詳。今收於大正藏第八十五冊。內容係從我國北宗禪之立場論述入道之五門。開頭所標示之五門為本書之大綱,即:(一)總彰佛體,(二)開智慧門,(三)顯示不思議法,(四)明諸法正性,(五)自然無礙解脫道。其次舉示四弘誓願、勸請、懺悔等之作法及淨心眼等。復分別論述五門,即:(一)總彰佛體,論述佛之語義、平等法身、佛界、如來之意義、法報化三身、寂照之用等。(二)開智慧門,係論述由定發慧,得方便至大涅槃開智慧門之凡夫、二乘、菩薩等三種人,並解說聞不聞、音聲佛事、善知識、涅槃、根本智、後得智、慧縛與慧解,及法華、華嚴、金剛等三經。(三)顯示不思議法,論說維摩經之不可思議解脫法門、四大海水入毛孔、促一劫為七日等。第四僅餘殘卷,敘述諸法正性,以下則缺文。本書有敦煌千佛洞舊藏寫本,為大英博物館所藏(史坦因第二五○三號)。〔北宗禪─敦煌本發現によりて明瞭となれゐ神秀の思想(久野芳隆,大正大學學報三○‧三一)、大乘五方便の研究(增永靈鳳,印度學佛教研究六)〕
; (大乘無生方便門) Có 1 quyển, không rõ soạn giả, thu vào Đại chính tạng tập 85. Nội dung, trước hết, trình bày về năm cửa vào đạo theo lập trường của Thiền Bắc tông Trung quốc, kế đến, nói rõ bốn thệ nguyện rộng lớn, khuyến thỉnh, tác pháp sám hối và tịnh tâm nhãn v.v... Năm cửa vào đạo gồm: 1. Tổng chương Phật thể: Bàn về ý nghĩa chữ Phật, pháp thân bình đẳng, cõi Phật, ý nghĩa Như lai, pháp thân, báo thân, hóa thân, diệu dụng tịch chiếu v.v... 2. Khai trí tuệ môn: Nói về phàm phu, Nhị thừa, Bồ tát v.v... nhờ định mà phát tuệ, đạt đến Đại niết bàn; rồi giải nói về các vấn đề: Nghe, không nghe, âm thanh làm việc Phật, thiện tri thức, Niết bàn, trí căn bản, trí hậu tắc, tuệ trói buộc và tuệ giải thoát, kinh Pháp hoa, kinh Hoa nghiêm, kinh Kim cương v.v... 3. Hiển thị bất tư nghị pháp: Bàn về pháp môn giải thoát không thể nghĩ bàn của kinh Duy ma và các việc như nước bốn biển lớn rót vào lỗ chân lông, rút một kiếp còn bảy ngày v.v... 4. Minh chư pháp chính tính: Trình bày về tính thực của các pháp. Từ đây trở xuống đến môn thứ 5 thì không còn bản văn. Sách này có bản cũ chép tay tiếng Tây tạng tìm thấy trong động Thiên Phật ở Đôn hoàng, hiện được cất giữ ở viện bảo tàng nước Anh (A. Stein số 2503). [X. Đại thừa ngũ phương tiện chi nghiên cứu (Tăng vĩnh Linh phượng, Ấn độ học Phật giáo nghiên cứu 6)].
đại thừa vô thượng pháp
The supreme Mahàyàna truth.
; The supreme Mahayana.
đại thừa vô tác đại giới
Theo tông Thiên Thai, thì Đại Thừa giới không liên hệ gì đến những hành động bên ngoài, mà chỉ là những biến đổi từ bên trong—The Mahayana great moral law involving no external action; a T'ien-T'ai expression for the inner change which occurs in the recipient of ordination; it is the activity within.
đại thừa đăng
831梵名 Mahāyāna-pradīpa。音譯莫訶夜那鉢地已波。唐代僧。愛州(越南東京一帶)人。幼年出家於杜羅鉢底國,通大乘經論。後隨唐使入京,於玄奘三藏處受具足戒。留住數載,又舶行至師子國(錫蘭),更歷西印度各地,凡十二年,多與義淨、無行等共行。後示寂於俱尸城般涅槃寺,世壽六十餘。〔大唐西域求法高僧傳卷上〕
; Mahāyānapradīpa (S).
; (大乘燈) Phạm: Mahàyàna-pradìpa. Dịch âm: Mạc ha dạ na bát địa dĩ ba. Vị tăng Việt nam ở đời Đường, người Ái châu (nay là Hà nội). Sư xuất gia từ nhỏ ở nước Đỗ hòa la bát để, thông suốt kinh luận Đại thừa. Sau, sư theo sứ nhà Đường về kinh đô Trường an, thụ giới Cụ túc nơi ngài Huyền trang và ở lại đây tu học mấy năm. Sau đó, sư cùng với các ngài Nghĩa tịnh, Vô hành v.v... vượt biển đến nước Sư tử (Tích lan), rồi từ đó, sư qua các xứ Tây Ấn độ, Trung Ấn độ, đi chiêm bái các Phật tích, tất cả 12 năm. Cuối cùng, sư tịch ở chùa Bát niết bàn tại thành Câu thi, thọ hơn 60 tuổi. [X. Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng].
đại thừa đại tập địa tạng thập luân kinh
Daśacakra-kṣtibarbha-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
Đại thừa đại tập Địa Tạng thập luân kinh 大乘大集地藏十輪經
[ja] ダイジョウダイシュウチゾウジュウリンキョウ Daijō daishū chizō jūrin kyō ||| This text is more commonly known by its shortened title of 地藏十輪經. => Kinh nầy rất thông dụng với nhan đề Địa Tạng thập luân kinh.
đại thừa đảnh vương kinh
Duy Ma Cật Tử Sở Vấn Kinh—Đại Phương Đẳng Đảnh Vương Kinh—Vimalakirti-Nirdesa-Sutra.
đại thừa đối câu xá sao
830凡十四卷。日僧源信撰。簡稱對俱舍抄。今收於大日本佛教全書第八十五冊惠心僧都全集內。乃針對俱舍論六百頌所闡述之教義,由大乘,特別是由性相學之諸論疏,加以比較對顯,以闡明大小二乘所立性相之異同。本書撰於寬弘二年(1004),源信時年六十四,亦即往生要集撰述後二十年。
; (大乘對俱舍抄) Gồm 14 quyển, do ngài Nguyên tín người Nhật soạn, gọi tắt là Câu xá sao, được xếp vào Huệ tâm tăng đô toàn tập trong Đại nhật bản Phật giáo toàn thư tập 85. Nội dung sách này là đối chiếu, so sánh giáo nghĩa của 600 bài tụng trong luận Câu xá với các bộ luận sớ - đặc biệt về tính tướng học - của Đại thừa để nêu rõ sự đồng dị về tính, tướng của Đại thừa và Tiểu thừa.
đại thừa đồng tánh kinh
Mahāyāna-bhisamaya-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
đại thừa đồng tính kinh
814梵名 Mahāyānābhisamaya-sūtra。凡二卷。北周闍那耶舍譯。又稱同性經、佛十地經、一切佛行入智毘盧遮那藏經。今收於大正藏第十六冊。敘述如來之十地大乘同性之法門。初,佛於大摩羅耶精妙山頂說法,楞伽城羅剎王至佛所請問眾生名義、業之種類,佛乃為彼解說聲聞、辟支佛、菩薩、如來皆有十地,一切諸法如小川入於毘盧遮那智藏之大海,同住真如清淨之法性,楞伽王因此發菩提心,得阿耨菩提之授記。唐代日照三藏所譯之證契大乘經二卷為本經之同本異譯。〔觀經玄義分卷一、法經錄卷一、歷代三寶紀卷十一、安樂集卷上、大唐內典錄卷六、開元釋教錄卷十九〕
; (大乘同性經) Phạm: Mahàyànabhisamaya-sùtra. Cũng gọi Đồng tính kinh, Phật thập địa kinh, Nhất thiết Phật hạnh nhập trí tì lô giá na tạng kinh, gồm 2 quyển, do ngài Xà na da xá dịch vào đời Bắc Chu, thu vào Đại chính tạng tập 16. Nội dung kinh này nói về pháp môn Thập địa đại thừa đồng tính của Như lai. Khi đức Phật ở núi Tinh diệu đại ma la da, vua La sát thành Lăng già đến hỏi Phật về danh nghĩa và nghiệp của chúng sinh, đức Phật bèn giảng cho vua nghe: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Như lai đều có thập địa. Tất cả các pháp như dòng sông nhỏ, hòa nhập vào biển lớn trí tạng Tì lô giá na, cùng trụ nơi pháp tính chân như thanh tịnh. Vua Lăng già nhân đó phát tâm bồ đề và được Phật thụ kí. Bản dịch khác của kinh này là: Chứng khế đại thừa kinh 2 quyển, do ngài Tam tạng Nhật chiếu dịch vào đời Đường. [X. Quán kinh huyền nghĩa phần Q.1; Pháp kinh lục Q.1; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; An lạc tập Q.thượng; Đại đường nội điển lục Q.6; Khai nguyên thích giáo lục Q.19].
Đại thừa đồng tính kinh 大乘
[ja] ダイジョウドウショウキョウ Daijō doushou kyō ||| Dasheng tongxing jing; See Tongxing jing 同性經. => C: Dasheng tongxing jing; Xem Đồng tính kinh (同性經 c: Tongxing jing).
Đại thừa 大乘
[ja] ダイジョウ daijō ||| "Great vehicle." A translation of the Sanskrit term mahāyāna, the name attached to a late Indian sectarian movement which was to become extremely influential later in East Asia. The term was developed together with the disparaging hīnayāna 小乘, which was used by the former group to distinguish the two. In the polemical sense, the concept of "great vehicle" is intended to refer to the fact that the group considered their doctrines to be more open and universalistic in terms of advocating that enlightenment was something which was attainable by all sentient beings, rather than just by monks and nuns who practiced in the pure environment of the monastery. The Mahāyāna movement produced a large body of new sutras, in which their new model practitioner, the bodhisattva 菩薩, preached the doctrine of the emptiness 空 of all things. The schools which considered themselves to be Mahāyāna (Mādhyamika 中觀派, Yogācāra 瑜伽行派, etc.) were to predominate in the transmission to East Asia, and therefore the later schools which were formed in East Asia also considered themselves as heir to the Mahāyāna teachings. => Dịch từ chữ mahāyāna trong tiếng Sanskrit, tên gọi gắn liền với cuộc vận động của các bộ phái ở Ấn Độ, và sau đó trở nên rất có uy tín ở Á Đông. Thuật ngữ trên được phát triển cùng với sự xem nhẹ Tiểu thừa, vốn được nhừng người sáng lập sử dụng nhằm phân biệt hai phái. Trong ý nghĩa tranh luận, ý niệm “Đại thừa” có dụng ý đề cập đến sự kiện mà những người chủ trương xem giáo lý của mình rộng rãi và mang tính phổ quát hơn với lời lẽ tán thành sự giác ngộ là điều mà mọi chúng sinh đều có thể chứng đạt được, hơn là chỉ có các tăng ni tu tập với môi trường thanh tịnh trong tu viện. cuộc vận động Đại thừa đưa đến một số lượng lớn kinh mới, trong đó một mô thức hành đạo mới, Bồ-tát (bodhisattva 菩薩), truyền bá giáo lý tính không ( 空; e: emptiness) của vạn pháp. Các tông phái tự nhận mình thuộc Đại thừa như: Trung quán phái (Mādhyamika 中觀派), , Du-già hành phái (Yogācāra 瑜伽行派) v.v...chiếm ưu thế trong việc truyền bá ở Á Đông, do vậy các tông phái sau nầy ra đời ở Á Đông đều tự xem như kế thừa giáo lý Đại thừa.
đại thừa, thặng
Mahàyana (S). The greater vehicle; the great conveyance, wain. It indicates Universlism, or Salvation for all.
đại thực quang
Ma Ha Ca Diếp—Mahakasyapa (skt)—He who drank in light, with is mother's milk, she having become radiant with golden-hued light through obtaining a golden-coloured pearl, a relic of Vipasyin, the first of the seven former Buddhas.
đại ti
ên viện Daisen'in (J)Tên một ngôi chùa.
đại tinh tiến bồ tát
878大精進,梵名 Śauraya,音譯輸羅野。又稱勇猛菩薩。賢劫十六尊之一。為密教金剛界曼荼羅三昧耶會、微細會、供養會、降三世羯磨會等各外院方壇南方四尊中第二位之菩薩。密號不退金剛,種子為晵(śu)或朜(vi),晵有本性寂靜之義,即涅槃寂靜之貌,朜有如來言說精進堅固之義。三昧耶形為獨鈷戟或一鈷杖,表示勇猛精進,猶如獨鈷戟之能貫徹。其真言為:唵(oṃ)秫羅野(śūrāya,勇猛)尾(vi,種子)娑縛賀(svāhā)。其形像,身呈肉色,左手作拳,置於腰際,右手執獨鈷戟,趺坐蓮華座上。〔不空羂索神變真言經卷九廣大解脫曼拏羅品、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷三、金剛頂一切如來真實攝大乘現證大教王經卷下〕
; (大精進菩薩) Đại tinh tiến, Phạm: Zauraya, dịch âm: Thâu la dã. Cũng gọi Dũng mãnh bồ tát, một trong 16 vị tôn của kiếp Hiền. Vị Bồ tát này được đặt ở ngôi thứ 2 trong 4 vị tôn ở phía nam Phương đàn các viện ngoài của những hội Tam muội da, Vi tế, Cúng dường, Hàng tam thế yết ma v.v... trong mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Mật hiệu là Bất thoái Kim cương, chủng tử là (zu) hoặc (vi). Zu nghĩa là bản tính vắng lặng, tức là Niết bàn tịch tĩnh; Vi nghĩa là lời nói của Như lai mạnh mẽ bền chắc. Hình tam muội da là cây kích một chĩa hoặc gậy một chĩa, biểu thị sự dũng mãnh tinh tiến. Chân ngôn là: Án (oô) truật la dã (sùràya, dũng mãnh) vĩ (vi, chủng tử) sa phạ hạ (svàhà). Hình tượng của vị Bồ tát này là mình mầu da người, tay trái nắm lại đặt ở chỗ thắt lưng, tay phải cầm kích một chĩa, ngồi xếp bằng trên tòa hoa sen. [X. phẩm Quảng đại giải thoát mạn nô la trong kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.9; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.3; kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp đại thừa hiện chứng đại giáo vương Q.hạ].
đại tinh tấn bồ tát
Xem Dũng Mãnh Bồ tát.
; Sura (skt)—Một trong 16 vị Bồ Tát hay Tôn giả của Hiền Kiếp ở ngoại khu phía Nam của Mạn Đồ La Kim Cang giới—A hero bodhisattva, one of the sixteen bodhisattvas of the southern external region of the Vajradhatu.
đại tiên
770梵語 maharṣi。又作大僊。即佛之敬稱。行道求長生之人,稱為仙;聲聞、辟支佛、菩薩等亦稱為仙。佛為仙中之極尊,故稱大仙,或稱金仙。又凡已達到一切諸波羅蜜功德善根彼岸之人,皆稱為大仙。北本大般涅槃經卷二(大一二‧三七五下):「大仙入涅槃,佛日墜於地。」雜阿含經卷三十六(大二‧二六○中):「當知大仙人,乃復出於世,安慰諸天人,開眼離塵冥,示悟諸眾生,令覺一切苦。」依佛祖統紀卷四十六載,宋徽宗於宣和元年(1119)詔佛號為「大覺金仙」,並服以天尊之衣。〔中阿含經卷十九梵天請佛經、般若燈論卷十、佛所行讚卷三、佛祖歷代通載卷二十九、祖庭事苑卷二、類聚名物考卷二十五〕(參閱「大覺金仙」913)
; Mahā-ṛṣi (S), Mahārishi (S)Sanh ChủNgười hành đạo cầu trường sinhMột trong những danh hiệu được dùng để chỉ đức Phật.
; Maharsi (skt)—Những vị Thánh Phật tử—Thanh Văn hay Phật—Buddhist saints as superior to ordinary immortals—Sravalas—Buddhas.
; (大仙) Phạm: Maharzi. Tiếng tôn xưng đức Phật. Vì Phật là bậc chí tôn trong hàng tiên nên gọi là Đại tiên, hay Kim tiên. Hoặc chỉ cho người đã đạt được tất cả công đức thiện căn ba la mật. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 2 (Đại 12, 375 hạ), nói: Đại tiên vào Niết bản thì mặt trời trí tuệ rơi xuống đất. Kinh Tạp a hàm quyển 36 (Đại 2, 260 trung), nói: Nên biết bậc Đại tiên nay lại ra đời, đem lại an vui cho các người, trời, chỉ bày đường giác ngộ khiến tất cả chúng sinh đều được giải thoát. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 46 chép, vào niên hiệu Tuyên hòa năm đầu (1119), vua Huy tông nhà Tống ban chiếu chỉ tôn xưng đức Phật là Đại giác kim tiên và mặc áo Thiên tôn cho Ngài. [X. kinh Phạm thiên thỉnh Phật trong Trung a hàm Q.19; luận Bát nhã đăng Q.10; Phật sở hành tán Q.3; Phật tổ lịch đại thông tải Q.29; Tổ đình sự uyển Q.2; Loại tụ danh vật khảo Q.25]. (xt. Đại Giác Kim Tiên).
đại tiên giới
Những giới luật nhà Phật—The Buddha's laws or commands.
đại tiên giới kinh
Kinh viết về giới luật nhà Phật—Sutra or scriptures on the Buddha's laws or commands.
đại tiên tự
770位於臺灣臺南縣白河鎮,為臺灣古剎。清康熙四十年(1701),由參徹創建。民國四年(1915),廖炭與德融改建大雄寶殿。臺灣光復後,開參住持,傳戒弘法,建有圓通寶殿,香火極盛,為佛教勝地之一。
; (大仙寺) Ngôi chùa cổ ở huyện Đài nam thuộc Đài loan được sáng lập vào năm Khang hi 40 (1701) đời Thanh. Năm 1915, Đại hùng bảo điện được làm lại và rất nhiều đàn giới đã được mở ra tại đây. Sự hoằng pháp và lễ bái khá thịnh. Đây là một trong những thắng tích của Phật giáo Đài loan.
đại tiêu nhiệt địa ngục
864請參閱 法眼文益禪師語錄 或金陵清涼院文益禪師語錄 請參閱 大智度論 大焦熱,梵名 Pratāpana,巴利名 Patāpana。又作大熱炙地獄、極熱地獄、釜煮地獄。為八熱地獄之一。以焦熱極劇,燒炙罪人,皮肉焦爛,苦痛辛酸,萬毒並至,故有此名。據正法念處經卷十二載,此地獄含有一切方焦熱處、大身惡吼可畏處、火髻處、雨沙火、內熱沸、吒吒吒嚌、普受一切資生苦惱、鞞多羅尼、無間闇、苦鬘處、雨縷鬘抖擻之所、髮愧烏、悲苦吼、大悲處、無非闇、木轉處等十六受苦別處。關於墮此地獄之業因,正法念處經卷十一載,樂行殺生、偷盜、邪行、飲酒、妄語、邪見者,命終之後,墮此地獄。〔大樓炭經卷二、起世因本經卷三、正法念處經卷十三、大毘婆沙論卷一七二、立世阿毘曇論卷八〕(參閱「八熱地獄」311)
; Pratapana (S)Địa tiêu nhiệt địa ngục.
; (大焦熱地獄) Đại tiêu nhiệt, Phạm: Pratàgana, Pàli: Patàpana. Cũng gọi Đại nhiệt chú địa ngục, Cực nhiệt địa ngục, Phũ chử địa ngục. Một trong tám địa ngục nóng, thiêu đốt người tội, đau đớn vô cùng. Cứ theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 12 chép, thì địa ngục này bao gồm 16 nơi chịu khổ khác nhau như: Nhất thiết phương tiêu nhiệt xứ (nơi lửa cháy ngùn ngụt khắp cả), Đại thân Ác hống khả úy xứ (chỗ thân lớn gầm thét rất đáng sợ, Hỏa kế xứ (chỗ đầu tóc bốc lửa), Vũ sa hỏa (chỗ mưa cát nóng), Nội nhiệt phí (chỗ nước sôi trào ra), Tra tra tra tê (chỗ kêu cha, cha, cha!), Phổ thụ nhất thiết tư sinh khổ não (chỗ chịu tất cả khổ não), Tì đa la ni, Vô gián ám (chỗ tối tăm triền miên), Khổ man xứ, Vũ lũ man đẩu tẩu chi sở, Phát quí ô, Bi khổ hống (chỗ gào thét đau thương), Đại bi xứ, Vô phi ám, Mộc chuyển xứ v.v... Theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 11 nói, thì những người phạm các tội giết hại, ăn trộm, gian dâm, uống rượu, nói láo, tà kiến... sau khi chết rơi vào địa ngục này. [X. kinh Đại lâu thán Q.2; kinh Khởi thế nhân bản Q.3; kinh Chính pháp niệm xứ Q.13; luận Đại tì bà sa Q.172; luận Lập thế a tì đàm Q.8]. (xt. Bát Nhiệt Địa Ngục).
đại tiến phúc tự
891位於陝西長安縣西安城南之古寺。係文明元年(684)武則天為高宗追福所建立者。初名大獻福寺。天授元年(690)大加營飾,並改為今名。景龍年中加建十五層甎塔,高四十三公尺,與大慈恩寺之大雁塔相對峙,稱為小雁塔。景龍、景雲年間,義淨於本寺翻經院先後譯出浴像功德經等二十部八十八卷、稱讚如來功德神咒經等十二部二十一卷。開元年間,金剛智亦於此譯出金剛頂經曼殊室利菩薩五字心陀羅尼品、觀自在如意輪菩薩瑜伽法要各一卷。武宗會昌元年(841),日僧圓仁曾來本寺,並登佛牙樓供養佛牙。由於明嘉靖年間兩度大地震,雁塔最上二層損毀,今僅餘十三層。〔貞元新定釋教目錄卷十三、開元釋教錄卷九、舊唐書本紀第七、入唐求法巡禮行記卷三(圓仁)〕
; (大薦福寺) Ngôi chùa cổ ở phía nam thành phố Tây an thuộc huyện Trường an tỉnh Thiểm tây Trung quốc, do Vũ tắc thiên xây dựng vào niên hiệu Văn minh năm đầu (684) để cầu phúc cho vua Cao tông. Mới đầu, chùa được đặt tên là Đại hiến phúc tự. Niên hiệu Thiên thụ năm đầu (690) chùa được mở rộng thêm và đổi tên như ngày nay. Trong năm Cảnh long, chùa có thêm tòa tháp bằng gạch 15 tầng cao 43 m, gọi là Tiểu nhạn tháp, đối lại với Đại nhạn tháp của chùa Đại từ ân. Khoảng năm Cảnh long, Cảnh vân, ngài Nghĩa tịnh ở viện Phiên kinh của chùa này lần lượt dịch các kinh như: Dục tượng công đức v.v... gồm 28 bộ 88 quyển, kinh Xưng tán Như lai công đức thần chú v.v... gồm 12 bộ 21 quyển. Khoảng năm Khai nguyên, ngài Kim cương trí cũng ở đây để dịch phẩm Mạn thù thất lợi bồ tát ngũ tự tâm đà la ni 1 quyển, Quán tự tại như ý luân bồ tát du già pháp yếu 1 quyển v.v... Khoảng năm Gia tĩnh đời Minh qua hai trận động đất lớn, 2 tầng trên của tháp Tiểu nhạn đã bị đổ, nay chỉ còn 13 tầng. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13; Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Cựu đường thư bản kỉ Q.7; Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kí Q.3 (Viên nhân)].
đại tiếu minh vương
Vajrahasa (skt)—The great laughing king (Ming-Wang).
đại tiểu
Còn gọi: Đại tiểu đại 大 小 大. ① Lớn như thế, lớn thế ấy. Theo sau cụm từ này phần lớn là danh hiệu các nhân vật nổi tiếng. Tiết Tịnh Từ Ngạn Sung Thiền sư trong NĐHN q. 12 ghi: »上 堂、 舉 雪 峰 示 眾 云: 盡 大 地 是 箇 解 脫 門、 因 甚 把 手 拽 不 入。 師 曰: 大 小 雪 峰 話 作 兩 橛、 既 盡 大 地 是 箇 解 脫 門、 用 拽 作 麼? – [i]Sư thượng đường nêu công án Tuyết Phong dạy môn đồ rằng: Khắp thế giới là cửa giải thoát, vì sao nắm tay kéo mà không vào? Sư nói: Tuyết Phong lớn như thế mà đi nói lời mâu thuẫn, đã nói khắp thế giới là cửa giải thoát còn dùng níu kéo làm gì?[/i]«. [i]Pháp Diễn ngữ lục[/i] q. thượng ghi: »上 堂 舉。 雲 門 垂 語 云。 古 佛 與 露 柱 相 交。 是 第 幾 機。 自 代 云。 南 山 起 雲 北 山 下 雨。 師 云。 大 小 大 雲 門 大 師。 元 來 小 膽。 – [i]Thiền sư Pháp Diễn thượng đường nêu công án Vân Môn có lời dạy chúng rằng: Cổ Phật cùng cây cột cái làm bạn với nhau là cơ thứ mấy? Rồi tự đáp thay: Núi nam nổi mây, núi Bắc mưa. Sư (Pháp Diễn) nói: Đại sư Vân Môn lớn như thế, té ra lá mật lại nhỏ[/i]«. ② Đặt ở cuối câu, biểu thị nghi vấn, có nghĩa là bao lớn? bao nhiêu? Tiết Huyền Sa Sư Bị Thiền sư trong NĐHN q. 7 ghi: »問: 如 何 是 無 縫 塔? 師 曰: 這 一 縫 大 小? – [i]Có người hỏi: Thế nào là tháp vô phùng (tháp không có mối nối)? Sư hỏi lại: Một mối nối này được bao lớn?[/i]«. Tiết Chiêu Khánh Tỉnh Đăng Thiền sư trong NĐHN q. 8 ghi: »問 僧: 近 離 甚 處? 曰: 報 恩。 師 曰: 僧 堂 大 小? 曰: 和 尚 試 道 看。 – [i]Sư hỏi tăng: Vừa rời chỗ nào? Tăng đáp: Báo Ân. Sư bảo: Tăng đường bao lớn? Tăng nói: Hoà thượng thử nói xem[/i]«.
đại tiểu nhị hoá thân
751請參閱 傅大士錄 據華嚴經隨疏演義鈔卷四載,化身有大小二種:(一)大化身,佛被大乘菩薩之機,或現八萬四千相好之身,或現 L塵數相好之身,滿虛空中,稱為大化身。(二)小化身,佛被小乘及人天等機,或現三十二相一丈六尺之身,稱為小化身。
; (大小二化身) Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 4 thì có hai loại hóa thân: 1. Đại hóa thân: Phật hiện thân 8 vạn 4 nghìn tướng tốt, hoặc hiện thân tướng tốt đầy khắp hư không nhiều như bụi nhỏ để độ hàng căn cơ Bồ tát Đại thừa. 2. Tiểu hóa thân: Phật hiện thân cao một trượng sáu thước có 32 tướng tốt để độ hàng căn cơ Tiểu thừa và trời, người v.v...
Đại tiểu nhị hoặc 大小二惑
[ja] ダイショウニワク daishō niwaku ||| The two categories of affliction of greater and lesser, or primary 根本煩惱 and secondary 隨煩惱. 〔攝大乘論 T 1593.31.116a〕 => Hai loại phiền não thô hoặc tế, căn bản phiền não và tuỳ phiền não.
đại tiểu nhị thừa
Hai cỗ xe, Đại và Tiểu Thừa—The two vehicles, Mahayana and Hinayana.
đại tiểu phẩm đối tỉ yếu sao tự
751全一卷。東晉僧支道林(314~366)撰。收於大正藏第五十五冊。原書已佚,僅餘序文,收於出三藏記集卷八。旨在比較大品般若經與小品般若經內容之異同,以探究般若經之本質。當時尚無鳩摩羅什之般若、中觀等經典之傳譯,故支道林所論之大品、小品,恐係指無羅叉所譯之放光般若經,及支婁迦讖所譯之道行般若經。
; (大小品對比要抄序) Có 1 quyển, do ngài Chi đạo lâm (314 - 366) soạn vào đời Đông Tấn, thu vào Đại chính tạng tập 55. Sách này đã mất, chỉ còn lời tựa được chép trong Xuất tam tạng kí tập quyển 8. Nội dung so sánh điểm dị đồng giữa kinh Đại phẩm bát nhã và kinh Tiểu phẩm bát nhã để tìm hiểu thực chất của kinh Bát nhã. Vì lúc bấy giờ kinh Bát nhã, luận Trung quán v.v... chưa được ngài Cưu ma la thập phiên dịch và lưu truyền, cho nên Đại phẩm, Tiểu phẩm mà ngài Chi đạo lâm nói đây, có lẽ là chỉ cho kinh Phóng quang bát nhã do ngài Vô la xoa dịch và kinh Đạo hành bát nhã do ngài Chi lâu ca sấm dịch.
Đại tiểu thừa 大小乘
[ja] ダイショウジョウ daishōjō ||| Greater vehicle Buddhism 大乘 and lesser vehicle Buddhism 小乘. => Đại thừa và Tiểu thừa Phật giáo.
Đại tiểu 大小
[ja] ダイショウ daishō ||| (1) Large and small (alpa-mahā). (2) A reference to greater vehicle Buddhism and lesser vehicle Buddhism 大小乘. => 1. Lớn và nhỏ (s: alpa-mahā). 2. Đề cập đến Đại thừa và Tiểu thừa Phật giáo.
đại toàn
Perfect
đại trai hội
892指廣設齋食以供養僧眾及諸佛、菩薩、人、天、神、鬼等之大法會。又作無遮會、大會齋、大施會。上至佛、菩薩,下至地獄、餓鬼、畜生等,乃至於人中,不分賢愚、凡聖、上下、道俗等,皆須以財、法二施,平等供養。
; Ngày lễ cúng dường thức ăn cho chư Tăng—A feast given to monks.
; (大齋會) Cũng gọi Vô già hội, Đại hội trai, Đại thí hội. Là Đại pháp hội đem tài thí, pháp thí bình đẳng cúng dường chư Phật, Bồ tát, chúng tăng, trời, người cho đến địa ngục, quỉ đói, súc sinh v.v...
đại trang nghiêm
Mahavyuha—Greatly adorned.
đại trang nghiêm kinh
Kinh Đại Phương Quảng, trong đó Đức Phật kể về cuộc đời của Ngài trên cung trời Đâu Suất và sự xuống thế cứu độ chúng sanh của Ngài—Vaipulya-mahayuha-sutra, in which the Buddha describes his life in the Tushita heaven and his dscent to save the world.
đại trang nghiêm kinh luận
853請參閱 大莊嚴經論 凡十五卷。馬鳴造,後秦鳩摩羅什譯。又作大莊嚴論經、大莊嚴經、大莊嚴論、莊嚴論。今收於大正藏第四冊。係廣集佛陀之本生、佛陀在世之事蹟,乃至於撰者之時代,有關諸種善惡因緣譬喻之故事,以導人入於正信為要旨之書。本論凡九十則故事,前八十則先概述故事之要義,次置「我昔曾聞」之語以入本文,即以史傳、寓言等加以喻說彰顯,終則敘述該故事之因緣。八十一則以後,體裁稍異,內容亦非一般之譬喻故事,係先揭舉喻說,再以法義合之。本論特色在顯示在家佛教之規範,特別著重布施、多聞之行持及有關念佛之種種功德。或謂本書並非馬鳴所造,而係經量部之本師鳩摩邏多之作,然此說迄無定論。一九○八年,本書有法文譯本出版。〔歷代三寶紀卷八、大唐內典錄卷三、古今譯經圖紀卷三、開元釋教錄卷四、貞元新定釋教目錄卷六〕
; Sutralankara-sastra (skt)—15 quyển được ngài Mã Minh Bồ Tát biên soạn và ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hoa ngữ vào khoảng năm 405 sau Tây Lịch—15 books composed by Asvaghosa and translated into Chinese by Kumarajiva in 405 A.D..
; (大莊嚴經論) Gồm 15 quyển, bồ tát Mã minh tạo, ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần, thu vào Đại chính tạng tập 4. Cũng gọi Đại trang nghiêm luận kinh, Đại trang nghiêm kinh, Đại trang nghiêm luận, Trang nghiêm luận. Nội dung biên tập rộng rãi về những sự tích tiền thân và cuộc đời hiện tại của đức Phật, cho đến những mẫu chuyện cổ thí dụ liên quan đến nhân duyên thiện ác ở thời đại của người biên soạn nhằm mục đích đưa người ta vào đường chính tín. Luận này có 90 truyện cổ, 80 truyện đầu thì trước hết nói qua về điểm cốt yếu của câu truyện, kế đến dùng sử truyện, ngụ ngôn làm ví dụ để hiển bày ý nghĩa, sau cùng trình bày nhân duyên của câu truyện. Từ truyện 81 trở về sau thì thể tài hơi khác. Tức là trước hết nêu thí dụ, kế đến dùng pháp nghĩa để hợp với thí dụ. Đặc sắc của bộ luận này là nêu tỏ phép tắc của người Phật tử tại gia, nhấn mạnh việc hành trì bố thí, đa văn và các công đức của hạnh niệm Phật. Có thuyết cho rằng luận này không phải tác phẩm của ngài Mã minh mà là do Tổ sư của Kinh lượng bộ là Cưu ma la đa soạn. Tuy nhiên, thuyết này đến nay vẫn chưa được xác định. Bộ luận này có bản dịch tiếng Pháp được ấn hành vào năm 1908. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Đại đường nội điển lục Q.3; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.4; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.6].
Đại Trang nghiêm kinh 大莊嚴經
[ja] ダイショウゴンキョウ Dai shōgon kyō ||| The Da zhuangyan jing; abbreviation of 方廣大莊嚴經. => (c: Da zhuangyan jing); viết tắtcủa Phương quảng đại trang nghiêm kinh (方廣大莊嚴經).
đại trang nghiêm kỳ kiếp
MahāvyŪha (S)Trong hội Pháp hoa, đức Thích Ca thọ ký cho ngài Ca Diếp thành Phật trong vị lai hiệu là Quang Minh Như Lai, thế giới của ngài là Quang đức, kỳ kiếp là Đại Trang nghiêm.
đại trang nghiêm pháp môn kinh
Xem Thắng Kim Sắc Quang Minh Đức Nữ kinh.
đại trang nghiêm thế giới
Thế giới trang nghiêm hay thế giới của Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát—The great ornate world, the universe of Akasagarbha Bodhisattva.
đại triết gia
Great philosopher.
đại triển tam bái
834大展坐具以三度禮拜。即禪僧對本尊或尊宿所行之禮式。敕修百丈清規卷上請新住持章專使特為新命煎點條(大四八‧一一二四中):「二展敘寒溫,觸禮三拜,送住持出,再歸堂燒香大展三拜,巡堂一匝。」又有大展九拜禮,即三行大展三拜,為最敬最上之禮,乃於佛祖忌日時,向導師所行之禮。其他另有大展一拜、同展三拜、兩展三拜等禮式。〔聯燈會要卷十五、禪苑清規卷二請知事條、禪林象器箋禮則門〕(參閱「觸禮」6805)
; (大展三拜) Trải tọa cụ lạy 3 lạy. Là nghi thức lễ bái Bản tôn hay bậc tôn túc trong thiền lâm. Chương Thỉnh trụ trì điều Chuyên sứ đặc vị tân mệnh điểm tòa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng (Đại 48, 1134 trung), nói: Trải tọa cụ lần thứ hai hỏi thăm sức khỏe, lạy ba lạy, tiễn Trụ trì ra về rồi trở lại Tăng đường đốt hương trải tọa cụ lễ ba lễ, đi quanh một vòng. Ngoài ra, còn có các nghi thức Đại triển cửu bái, Đại triển nhất bái, Đồng triển tam bái, Lưỡng triển tam bái v.v... Trong đó, Đại triển cửu bái là ba lần trải tọa cụ và mỗi lần lạy ba lạy, là nghi lễ cung kính nhất để lạy Tôn sư vào các ngày kị Phật, kị Tổ. [X. Liên đăng hội yếu Q.15; điều Thỉnh tri sự trong Thiền uyển thanh qui Q.2; Thiền lâm tượng khí tiên Lễ tắc môn]. (xt. Xúc Lễ).
Đại Triệt Tông Linh
大徹宗令; J: daisetsu sōrei; 1333-1408;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Tào Ðộng, một trong năm vị đại đệ tử của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (j: gasan jōseki, 1275-1365).|Sư khai sáng nhiều Thiền viện như Diệu Ứng Giáo tự (j: myō' ōkyō-ji) tại Mino, Lập Xuyên tự (j: rissen-ji) tại Etchū.
đại triệt tông lĩnh
Daitetsu Sōrei (J)Tên một vị sư.
đại triệt đầu
Triệt để tỉnh ngộ thiền pháp. Tiết Huyền Sa Sư Bị Thiền sư trong NĐHN q. 7 ghi: »識 得 即 是 大 出 脫、 大 徹 頭 人、 所 以 超 凡 越 聖、 出 生 離 死、 離 因 離 果、 超 毗 盧、 越 釋 迦、 不 被 凡 聖 因 果 所 謾、 一 切 處 無 人 識 得。 – [i]Biết được (tự tính) tức là người triệt để vượt thoát trần tục, triệt để tỉnh ngộ thiền pháp. Thế nên siêu phàm vượt thánh, thoát sinh lìa tử, lìa nhân lìa quả, siêu Tì-lô, vượt Thích-ca, chẳng bị phàm thánh nhân quả đánh lừa, mọi nơi không ai biết nổi ngươi[/i]«.
đại trung tường phù pháp bảo lục
752凡二十二卷。又稱皇宋大中祥符法寶錄、祥符錄、祥符法寶錄。乃北宋楊億等奉敕編。係錄出北宋初至大中祥符四年(1011)期間之譯經書目,總錄大小乘經律論二二二部,四一三卷。現行本今佚卷一、二、五、九、十九、二十一、二十二等七卷,殘缺卷六、十兩卷。本錄夙佚,不可得見,但近前在山西趙城廣勝寺之金藏中發現其殘本,影印刊行於宋藏遺珍下集。我國支那內學院曾自金藏本抄出,復依天聖釋教總錄、至元法寶勘同總錄、高麗藏目錄等資料補足缺脫部分,於民國二十三年(1934)刊行,題曰「大中祥符法寶錄略出」。〔佛祖統紀卷四十四、至元法寶勘同總錄卷十、參天台五臺山記卷八〕
; (大中祥符法寶錄) Gồm 22 quyển, Cũng gọi Hoàng tống đại trung tường phù pháp bảo lục, Tường phù lục, Tường phù pháp bảo lục. Do nhóm các ông Dương ức vâng mệnh vua biên soạn vào đời Bắc Tống. Bộ lục này ghi chép thư mục dịch kinh từ khoảng đầu đời Bắc Tống đến năm Đại trung tường phù thứ 4 (1011) gồm 22 bộ, 413 quyển kinh, luật, luận Tiểu thừa và Đại thừa. Bản lưu hành hiện nay đã thất lạc 7 quyển: 1, 2, 5, 9, 19, 21, 22; riêng hai quyển 6 và 10 thì bị rách. Gần đây, những quyển thiếu mất nói trên đã được tìm thấy trong Đại tạng đời Kim ở chùa Quảng thắng thuộc Triệu thành tỉnh Sơn tây, được in ảnh ra rồi xếp vào Tống tạng di trân tập hạ. Viện Chi na nội học của Trung quốc cũng sao chép bản này, rồi dựa theo các tư liệu như: Thiên thánh thích giáo tổng lục, Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục, Cao li tạng mục lục v.v... để bổ sung cho phần thiếu sót và ấn hành vào năm 1934 với nhan đề: Đại trung tường phù pháp bảo lục lược xuất. [X. Phật tổ thống kỉ Q.44; Chí nguyên phápbảo khám đồng tổng lục Q.10; Tham Thiên thai Ngũ đài sơn kí Q.8].
đại truyện pháp viện
870乃日本新義真言宗之大本山。通稱根來寺。位於和歌山縣那賀郡岩出町。大治五年(1130),覺鍐於高野山建傳法院,後並受敕兼任金剛峰寺座主,由此而引起金剛峰寺徒眾之不快,而漸與傳法院之徒眾產生衝突,覺鍐遂於弘安九年(1286),將傳法院移至現址,獨立成新義派,學僧雲集,興盛一時。
đại trí
Mahā-vibhāṣāna (S), Mahā-prajā (S), Mahā-jā (P).
; Mahàmati (S). Great wisdom; omniscience; a title of Manjusri, as the apotheosis of transcendental wisdom.
; Mahamati or Mahaprajna (skt). • Trí lớn hay trí huệ siêu việt của chư Phật: Great mind—Great wisdom—Buddha-wisdom—Omniscience. • Một danh hiệu của ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát——A title of Manjusri (Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát). • Toàn thể ngôi nhà đồ sộ của đạo Phật dựng trên hai trụ lớn là đại trí và đại bi. Trí chuyển thành bi và bi chuyển thành trí. Tuy hai mà một, mặc dù trên thế đứng của con người, ta phải nói đến như hai sự việc khác nhau, nhưng kỳ thật chúng kết hợp lại thành một; không phải kết hợp bằng toán, mà là kết hợp bằng tâm: There are two pillars supporting the great edifice of Buddhism: The Great Wisdom (Mahaprajna) and the Great Compassion (Mahakaruna). The wisdom flows from the compassion and the compassion from the wisdom, for the two are in fact one, though from the human point of view we have to speak of them as two. As the two are thus one, not mathematically united, but spiritually coalesced.
đại trí huệ
Mahā-prajā (S), Mahā-jā, Mahā-vibhāṣāna.
đại trí huệ môn
Pháp môn Đại Trí Huệ, phân biệt với Đại Huệ Môn—The Buddha-door of great wisdom, as contrasted with that of Great Compassion.
đại trí huệ nhân diện hữu tam xích ám
Trên mặt của bậc đại trí huệ cũng có chỗ tối tăm. [i]Tông Môn Võ Khố[/i] ghi: »(陳 瓘) 立 朝 骨 骾 剛 正、 有 古 人 風 烈、 留 神 內 典、 議 論 奪 席。 獨 參 禪 未 有 大 發 明、 禪 宗 因 緣 多 以 意 解。 酷 愛 南 禪 師 語 錄、 詮 釋 殆 盡、 唯 金 剛 與 泥 人 揩 背、 註 解 不 行。 嘗 語 人 曰: 此 必 有 出 處、 但 未 有 知 之 者。 諺 云: 大 智 慧 人 面 有 三 尺 暗、 果 不 誣 也。 – [i]Khi Trần Quán đang làm quan, tính tình cứng cỏi và ngay thẳng, có phong cách lẫm liệt của người xưa, để tâm nơi nội điển, luận nghị luôn dành phần thắng ở pháp toà. Riêng về việc tham thiền chưa có đại phát minh. Các cơ duyên Thiền tông phần lớn ông dùng ý thức để lãnh hội, rất thích Ngữ lục của thiền sư Huệ Nam, giải thích rõ ràng gần hết, chỉ có kinh Kim Cang là không hợp với người trệ ngại, nên ông chú giải chẳng được. Ông thường nói với mọi người: Điều này ắt có lí do, nhưng chưa có người biết đến. Tục ngữ nói: Trên mặt của bậc đại trí huệ cũng có chỗ tối tăm. Quả nhiên không sai vậy[/i]«.
đại trí quán đảnh địa
The stage of the great wisdom chrism, or anointing of a Buddha, as having attained to the Great Wisdom or omniscience.
đại trí thích luận
Xem Đại Trí độ luận.
đại trí thượng căn
Trí huệ lớn và căn khí bậc thượng. [i]Đàn Kinh bản Đôn Hoàng[/i] ghi: »此 是 最 上 乘 法、 爲 大 智 上 根 人 說。 – [i]Đây là pháp tối thượng thừa, vì người có trí huệ lớn và căn khí bậc thượng mà nói[/i]«.
đại trí tạng
Tạng Trí Tuệ của Phật—The Buddha-wisdom store.
đại trí tổ kế
Daichi sokei (J)Tên một vị sư.
Đại trí độ luận
大智度論; S: mahāprajñāpāramitā-śāstra;|Một tác phẩm luận giải của Long Thụ về bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñā-pāramitā-sūtra). Bộ luận này là một trong những bộ luận căn bản tầm cỡ nhất của Phật pháp và là một trong hai bộ luận quan trọng nhất của Long Thụ song song với luận Trung quán (s: madhyamaka-śāstra).|Luận này bao gồm 100 quyển, 90 phẩm, được Tam Tạng Pháp sư Cưu-ma-la-thập (s: kumārajīva) dịch sang Hán ngữ năm 402. Luận này giảng giải nhiều vấn đề như học thuyết, tư tưởng, truyền thuyết và đặc biệt dẫn dụng rất nhiều kinh sách.
đại trí độ luận
862請參閱 大智度論 梵名 Mahāprajñāpāramitaśastra。凡一百卷。為印度龍樹菩薩著,後秦鳩摩羅什譯。又稱大智度經論、摩訶般若釋論、大智釋論、釋論、智度論、智論、大論。今收於大正藏第二十五冊。係詮釋大品般若經之論著。「大智度」為「摩訶般若波羅蜜」之意譯。相傳本書之原文有十萬頌之多,據推測,今本百卷係鳩摩羅什縮譯而成者。羅什譯本中,最初之三十四卷,為全譯本,係大品般若初品之注釋。其後各卷所譯,則經羅什加以節略。本書若全部譯出,或有千餘卷之數。卷首之序文為僧叡所作。全書所引經典極多,為理解大乘佛教之重要論書。 本書對學說、思想、用例、傳說、歷史、地理、實踐規定、僧伽之解說甚為詳細。所引用之經典、論書包含原始佛教聖典、部派佛教諸論書,以及初期大乘之法華、華嚴等諸經典。並言及勝論派及其他印度一般之思想,可謂為當時之佛教百科全書。本書為龍樹晚年之著作。在般若思想之弘揚上,龍樹之另一大作「中論」係站在「般若皆空」之否定立場而言,然本書則是立足於「諸法實相」之積極肯定立場,並極力闡明大乘菩薩思想及六波羅蜜等宗教之實踐,故由本書即可了解龍樹以前佛教學說之大要。又龍樹以後大乘佛教等諸說,幾皆以本書為中心而開展。此即龍樹所以被譽為「八宗祖師」之理由。故本書不僅為印度唯識思想形成之重要典籍,即連「大乘起信論」所說之真如思想、空與中道思想之相即,均深受本書之影響。此外,本書中之佛身觀與法身觀,是密教思想之先驅,且為真言陀羅尼之根源。 本書譯於姚秦弘始四年(402)至七年,自譯出以來,研究風氣甚盛,與三論學派(中論、百論、十二門論)相合,則成為四論學派,為歷來各宗所依用援引之重要論典,天台之四教義卷十二即尊之為「大乘通申論」。近年來,臺灣研讀此書之風氣甚盛,故坊間流行數種版本,且有新式分段排版本。敦煌及新疆等地所發掘之古寫本,題名為「摩訶般若波羅蜜優婆提舍」。以現行本與古寫本互相校合,則知現行本中有不少脫誤之處。本書注疏極多,較重要者有大智度論抄二十卷(慧遠)、大智度論疏(曇影)、大智度論疏十四卷(僧侃)、釋論玄門一卷(慧思)、大智度論釋十卷(行賀)、大智度論疏二十四卷(慧影)等。〔出三藏記集卷二、卷八、卷十、大唐內典錄卷三、卷五、續高僧傳卷十三、大智度論の古本に就て(禿氏祐祥,龍谷大學論叢第二五七)、燉煌出土智度論に就て(本田義英,宗教研究新第六之二)〕
; Daichidoron (J), Mahā-prajāpāramitā-śāstra (S), Ta-chih tu-lun (C)Ba ha Bát nhã thích luận, Đại Trí thích luận, Thích luận, Trí luậnBộ Luận gồm 10.000 bài tụng do Bồ tát Long Thọ biên soạn.
; Mahàprajnàparamita padesa sastra (S).Treatise on the Transcendental Wisdom.
; Vì phái Tam Luận quá thiên trọng về duy tâm luận phủ định, nên thời bấy giờ nảy lên một trường phái tích cực là Tứ Luận Tông, bằng cách thêm vào một tác phẩm thứ tư của Ngài Long Thọ, đó là bộ Đại Trí Độ Luận. Bộ luận nầy gồm 100 quyển do ngài Long Thọ Bồ Tát soạn, giải thích về Đại phẩm Bát Nhã Kinh, trong đó Ngài Long Thọ thiết lập quan điểm “Nhất Nguyên” của mình một cách xác quyết hơn trong bất cứ tác phẩm nào khác. Trong luận thích nầy ngài Long Thọ chú thích về Đại Bát Nhã Kinh, có một chú giải về những nguyên lý căn bản nầy: tất cả các sự thể bị chi phối bởi điều kiện vô thường(sarva-samskara-anitya hay chư hành vô thường); mọi yếu tố đều không có tự ngã (sarva-dharma-anatman hay chư pháp vô ngã), và Niết Bàn là sự vắng lặng (nirvana-santam hay Niết Bàn tịch tĩnh). Tam pháp ấn hay ba dấu hiệu của pháp có thể được quảng diễn thành bốn bằng cách thêm vào một dấu hiệu khác: tất cả đều lệ thuộc khổ đau (sarva-duhkkam) hay thật tướng ấn. Có thể dịch chữ 'thật tướng ấn' là 'bản thể' (noumenon). Tông Thiên Thai giải thích 'thật tướng' như là 'vô tướng' hay 'vô thật,' nhưng không có nghĩa là mê vọng; vô tướng hay vô thật ở đây có nghĩa là không có một trạng thái hay tướng nào được thiết lập bằng luận chứng hay được truy nhận bởi tư tưởng; nó siêu việt cả ngôn thuyết và tâm tưởng. Lại nữa, Thiên Thai giải thích nó như là 'nhất đế' (eka-satya), nhưng 'nhất' ở đây không phải là nhất của danh số, nó chỉ cho 'tuyệt đối.' Nguyên lý của học thuyết Thiên Thai quy tụ trên thật tướng đó của vạn pháp. Tuy nhiên, vì cả Tam Luận và Tứ Luận đều từ tay Ngài Long Thọ mà ra cả nên khuynh hướng tổng quát của những luận chứng siêu hình trong hai phái nầy cũng gần giống nhau. Kinh được ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hoa ngữ vào khoảng những năm 397-415 sau Tây Lịch—As the San-Lun School is much inclined to be negativistic idealism, there arose the more positive school, called Shih-Lun or Four-Treatise School, which adds a fourth text by Nagarjuna, namely, the Prajnaparamita-Sastra. This sastra is composed of 100 books ascribed to Magarjuna on the greater Prajna-paramita sutra, in which we see that Nagarjuna established his monistic view much more affirmatively than in any other text. In Nagarhuna's commentary on the Mahaprajnaparamita there is an annotation of the fundamental principles: All conditioned things are impermanent (sarva-sanskara-anityam); all elements are selfless (sarva-dharma-anatman); and Nirvana is quiescence (nirvana-santam), in which it is said that these 'three law-seals' (signs of Buddhism) can be extended to four by adding another, all is suffering (sarva-duhkham), or can be abridged to one 'true state' seal. The 'true state' may be translated as 'noumenon.' This school interprets the 'true state' as 'no state' or 'no truth,' but it does not mean that it is false; 'no truth' or 'no state' here means that it is not a truth or a state established by argument or conceived by thought but that it transcends all speech and thought. Again, T'ien-T'ai interprets it as 'one truth' (eka-satya), but 'one' here is not a numerical 'one;' it means 'absolute.' The principle of the T'ien-T'ai doctrine centers on this true state of all elements. However, all texts from San-Lun and Shih-Lun are being from Nagarjuna's hand, the general trend of metaphysical argument is much the same. The sastra was translated into Chinese by Kumarajiva in around 397-415 A.D. ** For more information, please see Trí Độ Luận.
; (大智度論) Phạm: Mahàprajĩàpàramitazastra. Gồm 100 quyển, do bồ tát Long thụ soạn, ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần, thu vào Đại chính tạng tập 25. Cũng gọi Đại trí độ kinh luận, Ma ha bát nhã thích luận, Đại trí thích luận, Thích luận, Trí độ luận, Trí luận, Đại luận. Nội dung luận này là giải thích kinh Đại phẩm bát nhã. Đại trí độ là dịch ý của từ Ma ha bát nhã ba la mật (nghĩa là đại trí tuệ vượt qua đến bờ bên kia). Tương truyền nguyên văn của bộ luận này có hơn mười vạn bài tụng, như vậy, bản 100 quyển hiện nay là ngài Cưu ma la thập đã dịch rút gọn lại, nếu dịch toàn bộ thì số quyển sẽ tới hơn 1.000. Bài tựa đầu sách là do sư Tăng duệ soạn. Luận này viện dẫn rất nhiều kinh điển, là bộ luận rất quan trọng để lí giải Phật giáo Đại thừa. Luận này giảng giải rõ ràng về học thuyết, tư tưởng, dụng lệ, truyền thuyết, lịch sử, địa lí, qui định thực tiễn và tăng già. Những kinh luận được dẫn dụng bao gồm Thánh điển nguyên thủy, các bộ luận của Phật giáo bộ phái và các kinh điển của Phật giáo Đại thừa ở thời kì đầu, như: Pháp hoa, Hoa nghiêm v.v... Luận cũng đề cập đến học phái Thắng luận và các hệ tư tưởng khác của Ấn độ ở thời bấy giờ, có thể nói đây là bộ Bách khoa toàn thư của Phật giáo thời bấy giờ. Về phương diện hoằng dương tư tưởng Bát nhã, ngài Long thụ còn một tác phẩm lớn nữa là Trung luận, đã đứng trên lập trường phủ định mà nói Bát nhã giai không, nhưng Đại trí độ luận thì đứng trên lập trường khẳng định tích cực mà tuyên dương Chư pháp thực tướng, ra sức phát huy tư tưởng Bồ tát đại thừa và sáu ba la mật thực tiễn. Cho nên, từ luận Đại trí độ, ta có thể hiểu rõ đại cương học thuyết Phật giáo ở thời kì trước ngài Long thụ, còn các học thuyết của Phật giáo Đại thừa từ ngài Long thụ trở về sau thì hầu như đều lấy luận Đại trí độ làm trung tâm để khai triển. Đây chính là lí do cắt nghĩa tại sao ngài Long thụ đã được suy tôn là Bát tông tổ sư (Tổ sư của tám tông). Bởi vì Đại trí độ không những chỉ là bộ luận trọng yếu đã hình thành tư tưởng duy thức ở Ấn độ, mà nó còn ảnh hưởng rất lớn đối với tư tưởng Chân như trong luận Đại thừa khởi tín, tư tưởng không và trung đạo là tương tức v.v... Ngoài ra, Phật thân quan và Pháp thân quan trong luận này là mở đường cho tư tưởng Mật giáo và là nguồn gốc của chân ngôn đà la ni. Từ khi được dịch ra, một phong trào nghiên cứu luận Đại trí độ nổi lên rất rầm rộ, rồi cùng với học phái Tam luận (Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận), nó được kết hợp lại mà thành là học phái Tứ luận. Luận này được rất nhiều tông phái dẫn dụng, Tứ giáo nghĩa quyển 12 của tông Thiên thai đã tôn là Đại thừa thông thân luận. Thời gần đây, bản chép tay ngày xưa của luận này đã được đào thấy ở Đôn hoàng và Tân cương, đề tên: Ma ha bát nhã ba la mật ưu ba đề xá. Đem so sánh giữa bản hiện nay với bản chép tay này, thì thấy trong bản hiện nay có nhiều chỗ sai sót. Về sách chú sớ luận này thì rất nhiều, nhưng quan trọng hơn cả thì có: - Đại trí độ luận sao 20 quyển của ngài Tuệ viễn. - Đại trí độ luận sớ của ngài Đàm ảnh. - Đại trí độ luận sớ 14 quyển của ngài Tăng khản. - Thích luận huyền môn 1 quyển của ngài Tuệ tư. - Đại trí độ luận thích 10 quyển của ngài Hạnh hạ. - Đại trí độ luận sớ 24 quyển của ngài Tuệ ảnh. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, Q.8, Q.10; Đại đường nội điển lục Q.3, Q.5; Tục cao tăng truyện Q.13].
đại trí độ luận sao
863凡二十卷。東晉廬山慧遠(334~416)撰。原書內容已佚失,僅餘序文,收於大正藏第五十五冊出三藏記集卷十。或謂慧遠鑒於大智度論內容廣博,初學者入門不易,乃將大智度論之重要語句抄出,以利後學。慧遠專精於大智度論之研究,由本書序文及「大乘大義章」(慧遠問,鳩摩羅什答)等書,可略窺一二,故能有大智度論抄之作。
; (大智度論抄) Gồm 20 quyển, do ngài Tuệ viễn (334- 415) ở Lô sơn soạn vào thời Đông Tấn. Bộ sách này hiện đã bị thất lạc, chỉ còn bài tựa được chép vào Xuất tam tạng kí tập quyển 10 trong Đại chính tạng tập 55, cho nên nội dung bộ sách không được biết rõ.
đại trí độ luận sớ
864原為二十四卷,今僅存七卷。北周僧慧影撰。本書卷十四、卷二十一,收於卍續藏第七十四冊;卷一、卷六、卷十五、卷十七、卷二十四,收於卍續藏第八十七冊。係僅存之大智度論注釋書。慧影為智度論師道安之弟子,因輯錄道安有關大智度論之講述而作此注釋書。內容亦融和道憑之五時教判、道場法師之事跡、北地研讀智度論之盛況等。〔諸宗章疏錄卷一〕
; (大智度論疏) Gồm 24 quyển, nhưng nay chỉ còn 7 quyển, do ngài Tuệ ảnh soạn vào đời Bắc Chu. Quyển 14, 21 được thu vào Vạn tục tạng tập 74; còn các quyển 1, 6, 15, 17, 24 thì thu vào Vạn tục tạng tập 87. Đây là sách chú thích luận Đại trí độ. Tuệ ảnh là học trò của ngài Đạo an, bậc thầy chuyên nghiên cứu về luận Trí độ. Chính vì lúc biên chép những điều ngài Đạo an giảng về luận Đại trí độ mà Tuệ ảnh mới soạn bộ chú sớ này. Nội dung bộ sớ này dung hòa Ngũ thời phán giáo của ngài Đạo bằng, sự tích của pháp sư Đạo tràng và tình hình nghiên cứu luận Đại trí độ ở miền Bắc. [X. Chư tông chương sớ lục Q.1].
Đại trí độ luận 大智度論
[ja] ダイチドロン Daichido ron ||| Dazhi du lun; the Mahāprajñāpāramitā-śāstra; a commentary on the Mahāprajñāparamitā-sūtra, attributed to Nāgārjuna 龍樹; 100 fascicles, translated by Kumārajīva 鳩摩羅什. T 1509.25.57c-756b. => (c: Dazhi du lun; e: the Mahāprajñāpāramitā-śāstra; a commentary on the Mahāprajñāparamitā-sūtra), được xem là của Long Thụ (s: Nāgārjuna 龍樹); 100 quyển, Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什s:Kumārajīva) dịch.
Đại trí 大智
[ja] ダイチ daichi ||| (1) Great wisdom; vast wisdom; the wisdom of the Buddha 佛智. (2) Wisdom above the level of the eighth bhūmi. (3) Wisdom of the great vehicle 大乘. => 1. Trí tuệ rộng lớn; trí tuệ siêu việt; trí huệ Phật (Phật trí). 2. Trí tuệ của bậc trên bát địa. 3. Trí tuệ của Đại thừa.
đại trùng tông sầm
DaichŪ Sōshin (J)Tên một vị sư.
đại trưởng lão
Mahāthera (P).
đại trượng phu
A hero; virtuous man; man with a sense of dignity.
; Great man.
đại trượng phu tất hạ hữu hoàng kim
Dưới đầu gối của bậc đại trượng phu có vàng ròng, nghĩa là bậc đại trượng phu xem trọng danh dự, không dễ gì quỳ gối trước mặt mọi người. [i]Tông Môn Võ Khố[/i] ghi: »大 丈 夫 膝 下 有 黄 金、 爭 肯 禮 拜 無 眼 長 老。 – [i]Đại trượng phu xem trọng danh dự, đâu chịu lễ bái các hạng trưởng lão không mắt (không ngộ)[/i]«.
đại tu di phật
Mahāmeru Buddha (S), Great Sumeru Buddha Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Great Sumeru Buddha.
đại tu hành giả
Mahayogayogin (skt)—Người dấn thân mình vào sự tu tập lớn lao dẫn đến Phật quả—He who exerts himself in the great discipline leading up to Buddhahood.
đại tuyết sơn
Xem Ma la da.
đại tuệ tông cảo
Daie Sōkō (J), Ta-hui Tsung-kao (C), Daie Soko (J), Dahui Zonggao (C)(1089-1163) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Viên Ngộ. Ông đã ra lệnh thu hồi và đốt tất cả các bản Bích Nham Lục do thầy ông là Viên Ngộ biên soạn. May mắn là đại bộ phận của văn bản ấy, dù không toàn vẹn, vẫn còn có thể được Trương Minh Viễn khôi phục lại vào thế kỷ 14.
; Dahui Zonggao (C).
đại tuỳ cầu bồ tát
889大隨求,梵名 Mahā-pratisāraḥ,音譯作摩訶鉢羅底薩落。乃觀音菩薩之變身。略稱隨求菩薩。係密教胎藏界曼荼羅觀音院中之一尊。此菩薩常隨眾生之願求而施予,故稱大隨求。其形像,身呈深黃色,有八臂,作貢高無畏狀。其右第一手持五鈷跋折羅,其餘三手依次持鎊鉾、寶劍、鉞斧鉤;左手四臂依次持蓮華、梵筴、寶幢、索,坐於蓮華上。密號與願金剛。種子為揬(pra)或傆(hūṃ),各代表此尊之眾德及大日之分德。其隨心真言為:唵(oṃ)跋羅跋羅(bhara bhara)三跋羅三跋羅(saṃbhara saṃbhara)印捺哩野(inariya)尼戌馱
; Mahā-pratisaraḥ (S)Tên một vị Bồ tát.
; (大隨求菩薩) Phạm:Mahà-pratisàra#, âm Hán: Ma ha bát la để tát lạc. Gọi tắt: Tùy cầu bồ tát. Hóa thân của bồ tát Quan âm. Một trong các vị tôn trong viện Quan âm trên mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Vị Bồ tát này thường tùy theo những điều chúng sinh mong cầu mà ban cho, nên gọi là Đại tùy cầu. Hình tượng của Ngài thân mầu vàng sẫm, có tám tay, dáng uy nghiêm lẫm liệt. Tay thứ 1 bên phải cầm bạt chiết la5chĩa,3tay còn lại theo thứ tự cầm giáo, gươm báu, búa lớn; bốn tay bên trái lần lượt cầm hoa sen, hộp kinh, cờ báu, sợi dây, ngồi trên hoa sen. Mật hiệu là Dữ nguyện kim cương (ban cho những điều mong cầu). Chủng tử là (pra) hoặc (hùô) tượng trưng các đức của vị Tôn này và một phần đức của Đại nhật Như lai. Chân ngôn tùy tâm là: Án (oô) bạt la bạt la (bhara bhara) tam bạt la tam bạt la (saôbhara saôbhara) ấn nại lí dã (inariya)ni thú đà ninh (vizuddhane) hồng hồng (huô huô) rô rô (ru ru) tả lẽ (cale) sa phạ hạ (svàhà). Người tụng chân ngôn này tiêu trừ mọi tai nạn, diệt hết các tội chướng và tất cả điều mong cầu đều được như ý. [X. Kinh Du già đại giáo vương Q.2; kinh Tùy cầu tức đắc đại tự tại đà la ni thần chú; Bí tạng kí; Chư thuyết bất đồng kí Q.3; Thai tạng giới thất tập Q.thượng].
đại tuỳ cầu vô năng thắng đà la ni
Xem Đại Tuỳ Cầu Đà la ni.
đại tuỳ cầu đà la ni
889梵名 Mahā-pratisāravidya-dhāraṇi。又作隨求即得大自在陀羅尼、大隨求無能勝陀羅尼、隨求即得真言。略稱隨求陀羅尼。指消滅一切罪障,破除惡趣,隨所求即得福德之陀羅尼。此陀羅尼之字句,諸經所載不同,明本不空譯普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能勝大明王大隨求陀羅尼經載列二九○句,寶思惟譯隨求即得大自在陀羅尼神咒經高麗本列二五○句,明本列二五二句。內容可分三段,首段揭示歸命諸佛菩薩與三寶之理,次段敘說隨求菩薩拔濟一切眾生所有罪障、恐怖、疾病,而令身心安樂、所求圓滿。末段宣示受持此陀羅尼者可得諸天、龍、神等之守護,與一切如來之護念。關於其靈驗,據普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能勝大明王大隨求陀羅尼經所載,迦毘羅大城中,羅睺羅童子仍於其母耶輸陀羅胎內時,母曾投火坑;時,羅睺羅以憶念此陀羅尼故,火坑頓成蓮華池。又摩伽陀國王施願手無子,以此陀羅尼書帶於其夫人頸下而終償宿願。此外,於隨求菩薩感應傳卷三,更載有各種有關之靈驗,要之,聽聞、受持讀誦、書寫、傳佈大隨求陀羅尼,可得:火不能燒、毒不能中、降伏鄰敵、破無間獄、除龍魚難、產生安樂、免除王難等諸種功德。〔金剛頂瑜伽最勝祕密成佛隨求即得神變加持成就陀羅尼儀軌、貞元新定釋教目錄卷十五〕
; Mahā-pratisaravidhya-dhāraṇī (S)Tuỳ Cầu Tức Đắc Chân ngôn, Đại Tuỳ Cầu Vô Năng Thắng Đà la ni.
; (大隨求陀羅尼) Phạm:Mahà-pratisàravidya-dhàraịì. Cũng gọi Tùy cầu tức đắc đại tự tại đà la ni, Đại tùy cầu vô năng thắng đà la ni, Tùy cầu tức đắc chân ngôn. Gọi tắt: Tùy cầu đà la ni. Thần chú này có năng lực tiêu diệt tất cả tội chướng, phá trừ ác thú, tùy theo sở nguyện đều được như ý. Về số câu trong Đà la ni này, các kinh ghi chép có khác nhau: Kinh Phổ biến quang minh thanh tịnh xí thịnh như ý bảo ấn tâm vô năng thắng đại minh vương tùy cầu đà la ni, bản đời Minh, do Tam tạng Bất không dịch, có 290 câu. Kinh Tùy cầu tức đắc đại tự tại đà la ni thần chú, bản Cao li, do ngài Bảo tư duy dịch, có 250 câu, bản đời Minh, có 252 câu. Nội dung có thể chia làm ba đoạn, đoạn đầu nêu rõ lí qui mệnh chư Phật, Bồ tát và Tam bảo. Đoạn kế tiếp nói về việc Bồ tát tùy cầu cứu giúp tất cả chúng sinh bị tội chướng, sợ hãi, tật bệnh khiến thân tâm họ được yên vui, những điều mong cầu được viên mãn. Đoạn sau cùng nói rõ người trì tụng Đà la ni này được các trời, rồng, thần, quỉ v.v... che chở và được tất cả các đức Như lai hộ niệm. [X. Kim cương đính du già tối thắng bí mật thành Phật tùy cầu tức đắc thần biến gia trì thành tựu đà la ni nghi quĩ; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15].
đại tuỳ kiếp hoả
865請參閱 無量壽經 請參閱 無量壽經義疏 請參閱 西域志 禪宗公案名。大隋法真禪師以劫火起而破壞大地為因,論究了脫迷悟凡聖相對之妄執而主張人人本具靈性。碧巖錄第二十九則(大四八‧一六九上):「僧問大隋:『劫火洞然,大千俱壞,未審這箇壞不壞?』隋云:『壞。』僧云:『恁麼則隨他去也。』隋云:『隨他去。』」蓋大隋以心、境一致,壞時悉壞,不壞時悉不壞,非可執著,宜泯絕相對之妄執而了悟心地,故答以「隨他去」。雪竇重顯頌云(大四八‧一六九中):「劫火光中立問端,衲僧猶滯兩重關,可憐一句隨他語,萬里區區獨往還。」〔景德傳燈錄卷十一、從容錄第三十則、宗門統要續集卷十〕
; (大隋劫火) Tên công án trong Thiền lâm. Thiền sư Đại tùy Pháp chân dùng kiếp hỏa làm nhân duyên để phá trừ vọng chấp về phàm thánh. Bích nham lục tắc29 (Đại 48, 169 thượng) ghi: Có vị tăng hỏi Đại tùy: ‘Kiếp hỏa bốc cháy, ba nghìn thế giới tiêu hoại, chẳng hay cái ấy có tiêu hoại không?’ Tùy đáp: ‘Hoại’. Tăng nói: ‘Vậy thì đi theo người khác’. Tùy nói: ‘Đi theo người khác’. Bởi vì thiền sư Đại tùy cho rằng tâm và cảnh là một, khi hoại thì đều hoại, khi không hoại thì đều không hoại, không thể chấp trước, phải dứt trừ vọng chấp đối đãi mà hiểu rõ tâm địa, nên mới nói đi theo người khác. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.11; Thung dung lục tắc 30; Tông môn thống yếu tục tập Q.10].
đại tuỳ phiền n
ão Xem Đại Tuỳ Phiền não địa pháp.
; ão địa pháp Kleśa-MahābhŪmika-dharmah (S), KleśamahābhŪmikā-dharma (S)Có 6: Phóng dật (Pramada), Giải đãi (Kausidya), Bất tín (Asvaddhya), Hôn trầm (Styana), Trạo cử (Cuddhatya), Si (Moha).
đại tuỳ phiền não
890梵語 kleśa-mahā-bhūmikā dharmāḥ。又作大煩惱地法。指恆與染污心相應之煩惱。大毘婆沙論卷四十二(大二七‧二二○中):「若法一切染污心中可得,名大煩惱地法。」計有六種,即:(一)癡(梵 moha),為暗昧,於一切所知境障如理之解。(二)放逸(梵 pramāda),為縱蕩,不勤修各種善法。(三)懈怠(梵 kausīdya),為懶惰,心不勇悍。(四)不信(梵 āśraddhya),為不信因果之理。(五)惛沉(梵 styāna),為身心鈍重,不堪任當。(六)掉舉(梵 auddhatya),為躁動,心不靜寂。其中癡為六根本煩惱之一,其餘五法屬枝末之惑。品類足論卷二、大毘婆沙論卷四十二則列舉十種大煩惱地法,即以上述六種,除去惛沉,另加失念、心亂、不正知、非理作意、邪勝解等五種;成唯識論卷六則除去「癡」,另加失念、散亂、不正理,而稱為「八大隨惑」。〔順正理論卷十一、雜阿毘曇心論卷二、成唯識論述記卷六末〕
; (大隨煩惱) Phạm: Kleza-mahà-bhùmikàdharmà#. Cũng gọi Đại phiền não địa pháp. Loại phiền não thường tương ứng với tâm nhiễm ô. Luận Đại tì bà sa quyển 42 (Đại 27, 220 trung), nói: Tất cả pháp trong tâm nhiễm ô, gọi là Đại phiền não địa pháp. Có 6 thứ: 1. Si (Phạm:moha): Mờ tối, vì chướng sở tri ngăn che nên không hiểu biết đúng như chân lí. 2. Phóng dật (Phạm: pramàda): Buông thả, phóng túng, không chăm tu các pháp lành. 3. Giải đãi (Phạm:kausìdya): Biếng nhác, tâm không hăng hái. 4. Bất tín (Phạm:àzraddhya): Không tin đạo lí nhân quả. 5. Hôn trầm (Phạm: styàna): Thân nặng nề, tâm mờ mịt. 6. Trạo cử (Phạm: auddhatya): Xao động, tâm không tĩnh lặng. Trong đây, Si là một trong những phiền não căn bản, năm pháp còn lại thuộc phiền não chi mạt. Luận Phẩm loại túc quyển 2 và luận Đại tì bà sa quyển 42 thì nêu mười loại Đại phiền não địa pháp, tức là trong sáu loại kể trên, bỏ Hôn trầm ra, rồi thêm vào năm thứ: Thất niệm, Tâm loạn, Bất chính tri, Phi lí tác ý và Tà thắng giải. Còn luận Thành duy thức quyển 6 thì bỏ Si, rồi thêm Thất niệm, Tán loạn và Bất chính lí, gọi là Bát đại tùy hoặc. [X. luận Thuận chính lí Q.11; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.6 phần cuối].
đại tuỳ pháp chân
Ta-sui Fa-chen (C), Dasui Fazhen (C), Taizui Hōshin (J)Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Trường Khánh Đại An.
đại tuỳ ô quy
865禪宗公案名。又作大隨烏龜、大隋龜話。大隋,指唐代之大隋法真禪師。此則公案乃大隋法真藉烏龜來接化學人之機緣語句。景德傳燈錄卷十一(大五一‧二八六上):「師庵側有一龜,僧問:『一切眾生皮裹骨,遮箇眾生骨裹皮,如何?』師拈草履於龜邊著,僧無語。」蓋所有生類,其骨必在皮下,此為既成之常識概念,然以佛法立場觀之,執著於常識概念,亦屬妄見之一。故於公案中,此僧固執此一妄見,而對一切物無法直接領受,大隋遂藉「拈草履於龜邊」的不合常理之舉措,以對治此僧之偏見,此即本公案之主旨。
; (大隋烏龜) Tên công án trong Thiền lâm. Cũng gọi Đại tùy qui thoại. Đại tùy là thiền sư Đại tùy Pháp chân ở đời Đường. Công án này là cơ duyên ngữ cú của ngài Đại tùy mượn con rùa (qui) để tiếp hóa người học. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11 (Đại 51, 286 thượng), chép: Bên cạnh am của sư có con rùa, vị tăng thấy liền hỏi: Tất cả chúng sinh đều da bọc xương, mà chúng sinh này lại xương bọc da là thế nào? Sư liền cầm chiếc dép cỏ đặt ở cạnh con rùa, tăng không nói được. Xương của mọi sinh vật đều ở dưới da, điều đó đã trở thành khái niệm thường thức. Nhưng, đứng trên lập trường của Phật giáo mà nhận xét, thì cố chấp một khái niệm thường thức cũng là vọng kiến. Trong công án này, vị tăng cố chấp vào vọng kiến nên không thể trực tiếp thấy rõ chân tướng của sự vật. Cử chỉ của ngài Đại tùy là nhằm đối trị cái thiên kiến của vị tăng.
đại tài
Great talent.
đại tác phật sự
Làm Phật sự với quy mô lớn. Hoằng dương Phật pháp với quy mô lớn. Truyện Hoằng Nhẫn trong [i]Tống Cao Tăng truyện[/i] ghi: »此 非 凡 童 也、 具 體 佔 之、 止 闕 七 大 人 之 相、 不 及 佛 矣。 苟 預 法 流、 二 十 年 後 必 大 作 佛 事、 胜任 荷 寄。 – [i]Đây chẳng phải là đứa bé tầm thường! Trên thân thể của nó chỉ thua đức Phật có 7 tướng. Nếu cho nó gia nhập hàng ngũ chư tăng, 20 năm sau nhất định là nó sẽ hoằng dương Phật pháp với quy mô lớn còn hơn những gì ta gửi gắm[/i]«.
đại tán thán
Great praise.
đại tánh tự tánh
Xem Đại chủng tánh tự tánh.
đại tát gia ni kiền tử
Mahasatya-Nirgrantha (skt)—Ni Kiền là tiếng dùng để gọi chung ngoại đạo—Đại Tát Gia Ni Kiền Tử là tên của một vị ngoại đạo khổ hạnh đã về qui y và trở thành một đệ tử Phật—An ascetic who is said to have become a disciple of the Buddha.
đại tát già ni cán tử sở thuyết kinh
892梵名 Bodhisattva-gocaropāya-viṣaya-vikurvaṇa-nirdeśa。凡十卷。元魏菩提留支譯。又作大薩遮尼乾子受記經、大薩遮尼乾子經、菩薩境界奮迅法門經。今收於大正藏第九冊。內容敘述尼乾子外道論師大薩遮(梵 Mahāsatya)應文殊菩薩之發問,而宣說大乘深妙之法,佛深加讚可,並為之授記。共分十二品:(一)序品,(二)問疑品,(三)一乘品,(四)詣嚴熾王品,(五)王論品,(六)請食品,(七)問罪過品,(八)如來無過功德品,(九)詣如來品,(十)說法品,(十一)授記品,(十二)信功德品。全經旨要大抵可分世間與出世間兩方面:世間方面,揭示王道之意義、治國之要術,並舉出世間種種罪過以為警誡;出世間方面,宣說菩薩所修法門、如來所有功德,及「唯佛一乘」、「佛性普遍」、「法身常寂」之理。本經與劉宋求那跋陀羅所譯之菩薩行方便境界神通變化經三卷為同本異譯。〔法經錄卷一、歷代三寶紀卷九、開元釋教錄卷六、閱藏知津卷二十四〕
; (大薩遮尼幹子所說經) Phạm: Bodhisattva-gocaropàyaviwaya-vikurvaịa-nirdeza, gồm 10 quyển, do ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Nguyên Ngụy. Cũng gọi Đại tát già ni kiền tử thụ kí kinh, Đại tát già ni kiền tử kinh, Bồ tát cảnh giới phấn tấn pháp môn kinh, thu vào Đại chính tạng tập 9. Nội dung tường thuật việc luận sư ngoại đạo Đại tát già ni kiền tử (Phạm: Mahàsatya) trả lời bồ tát Văn thù về pháp Đại thừa sâu xa mầu nhiệm, được đức Phật khen ngợi và thụ kí. Gồm 12 phẩm: 1. Phẩm tựa. 2. Phẩm hỏi những điều còn ngờ. 3. Phẩm Nhất thừa. 4. Phẩm đến chỗ vua Nghiêm xí. 5. Phẩm Vương luận. 6. Phẩm mời ăn. 7. Phẩm hỏi tội lỗi. 8. Phẩm công đức Như lai. 9. Phẩm đến chỗ đức Như lai. 10. Phẩm nói pháp. 11. Phẩm thụ kí. 12. Phẩm công đức tin. Về yếu chỉ của toàn kinh đại để có thể chia ra hai phương diện thế gian và xuất thế gian: - Về mặt thế gian, nói rõ ý nghĩa vương đạo, yếu thuật trị nước, nêu ra những tội lỗi của cuộc đời để răn dạy chúng sinh. - Về mặt xuất thế gian, nói về pháp môn tu của Bồ tát, công đức của Như lai, và lí duy nhất Phật thừa, tính Phật trùm khắp, pháp thân thường vắng lặng. Kinh Bồ tát hành phương tiện cảnh giới thần thông biến hóa 3 quyển do ngài Cầu na bạt đà la dịch vào đời Lưu Tống là bản dịch khác của kinh này. [X. Pháp kinh lục Q.1; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Khai nguyên thích lục Q.6; Duyệt tạng tri tân Q.24].
đại tát giá ni kiền tử
Mahāsatya-nirgrantha (S).
đại tát giá ni kiền tử kinh
Xem Đại tát giá Ni kiền tử sở thuyết kinh.
; Xem Đại Tát Giá Ni Kiền tử sở thuyết kinh.
đại tát giá ni kiền tử sở thuyết kinh
Bodhisattva-gocaropayavisaya-vikurvana-nirdeśa (S)Đại Tát Giá Ni Kiền tử Thọ ký kinh, Đại Tát Giá Ni Kiền tử kinh, Bồ tát Cảnh giới Phấn tấn Pháp môn kinhTên một bộ kinh.
đại tát giá ni kiền tử thọ ký kinh
Xem Đại tát giá Ni kiền tử sở thuyết kinh.
Đại Tát-giá Ni-kiền tử sở thuyết kinh 大薩遮尼乾子所説經
[ja] ダイサツシャニカンジショセツキョウ Daisatsushanikanji shosetsu kyō ||| Dasazhe niganzi suoshuo jing; the Mahāsatya-nirgrantha-sūtra. 10 fasc., T vol. 9, 272. Translated by Bodhiruci 菩提流支 during the Northern Wei (early 6th c.). Other translations include that by Gunabhadra 求那跋陀羅 during the Liu Song (early 5th c.) as the 菩薩行方便境界神通變化經, as well as a Tibetan translation. The Buddha teaches the awakening of bodhicitta and the practice of the six pāramitās 六波羅蜜 to Mañjuśrī as well as the teaching of the Single Vehicle 一乘. The Mahāsattva Nirgrantha teaches meritorious practices such as the Ten Good Karmic Paths. Here Nirgrantha is understood to be a Response-body Buddha. => (c: Dasazhe niganzi suoshuo jing; s: Mahāsatya-nirgrantha-sūtra). 10 Bồ-đề Lưu-chi (s:Bodhiruci 菩提流支 ) dịch vào thời Bắc Nguỵ (trước thế kỷ thứ 6). Các bản dịch khác gồm của Cầu-na Bạt-đà-la ( 求那跋陀羅s: Gunabhadra) trong thời Lưu Tống tên là Bồ-tát hành phương tiện cảnh giới thần thông biến hoá kinh, cũng như một bản dịch tiếng Tây Tạng. Nội dung kinh là Đức Phật dạy phát Bồ-đề tâm và tu tập lục độ cho Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi , cũng như giáo pháp Nhất thừa. Đại Tát-giá Ni-kiền tử dạy tu tập công đức như Thập thiện nghiệp. Ở đây, Đại Tát-giá Ni-kiền tử được hiểu như là Báo thân Phật.
Đại Tát-giá Ni-kiền tử 大薩遮尼乾子
[ja] ダイサツシャニカンジ Dai satsusha nikanji ||| Mahāsatyanirgrantha. An ascetic (Jain) who became a prominent disciple of the Buddha. => (s: Mahāsatyanirgrantha) Một ngoại đạo tu khổ hạnh (Kỳ-na giáo ; s: Jain) trở thành đệ tử kiệt xuất của Đức Phật.
đại tâm
(1652-1728) Thiền tăng đời Thanh, họ Tống, người đời thường gọi »Hằng Đào Đại Tâm Thiền sư«, người xứ Cổ Điền (nay thuộc tỉnh Phúc Kiến) Trung Quốc; nối pháp Thiền sư Vi Lâm Đạo Bái, tông Tào Động. Sư có các bài tụng Niêm Cổ, Hoài Cổ lưu hành ở đời.
; 754<一>指大菩提心,乃求大菩提之廣大願心。大智度論卷四(大二五‧八六上):「菩提名諸佛道,薩埵(有情)名或眾生或大心,是人諸佛道功德,盡欲得其心,不可斷不可破,如金剛山,是名大心。」十住毘婆沙論卷五(大二六‧四一上):「儜弱怯劣,無有大心,非是丈夫志幹之言也。」 <二>指方便心。即住諸法皆空之觀,度一切眾生而起大悲之心。大智度論卷四十一(大二五‧三六三上):「初發心名菩提心,行六波羅蜜名無等等心,入方便心中,是名大心。」〔十住毘婆沙論卷五〕 <三>(1652~1728)清代曹洞宗僧。福建古田人,俗姓宋。世稱恆濤大心禪師。年十三,依上生寺德〖⿰忄劦〗老人出家,受具足戒於黃檗虛白。後參謁鼓山為霖道霈,二十餘載方證心要,得嗣其法。康熙四十一年(1702),為霖付以衣鉢,囑師繼席鼓山。師敝衣粗食,勵苦操作,主湧泉寺二十七年,頗有百丈之風。雍正六年十月示寂,世壽七十七。著有拈古、懷古等頌行世。〔增訂佛祖道影卷三(虛雲)〕
; Great or firm faith in, or surrender to Buddha, especially to Amitabha.
; (大心) I. Đại Tâm. Tâm nguyện rộng lớn cầu đại bồ đề. Luận Đại trí độ quyển 4 (Đại 25, 86 thượng) nói: Bồ đề gọi là đạo của chư Phật, Tát đỏa (hữu tình) gọi là chúng sinh hoặc là đại tâm. Vì đối với công đức Phật đạo, người này muốn được tâm ấy; vì nó cứng chắc như núi Kim cương, không thể chặt đứt, không thể phá hoại, nên gọi là Đại tâm. Luận Thập trụ tì bà sa quyển 5 (Đại 26, 41 thượng), nói: Nhút nhát sợ hãi, không có đại tâm, chẳng phải lời nói của kẻ trượng phu có chí khí. II. Đại Tâm. Chỉ cho tâm phương tiện, là tâm an trụ nơi pháp quán các pháp đều không mà khởi lòng đại bi cứu độ tất cả chúng sinh. Luận Đại trí độ quyển 41 (Đại 25, 363 thượng), nói: Phát tâm ban đầu gọi là tâm bồ đề; thực hành 6 ba la mật là vô đẳng đẳng tâm, trụ nơi tâm phương tiện thì gọi là Đại tâm. [X. luận Thập trụ tì bà sa Q.5]. III. Đại Tâm (1652 - 1728). Vị Thiền tăng tông Tào động ở đời Thanh, người Cổ điền, Phúc kiến, họ Tống. Người đời gọi là Hằng đào Đại tâm thiền sư. Năm 13 tuổi, sư theo Đức hiếp lão nhân xuất gia ở chùa Thướng sinh, thụ giới Cụ túc nơi ngài Hoàng bá Hư bạch. Sau, sư tham yết ngài Vi lâm Đạo bái ở Cổ sơn, hơn 20 năm mới chứng ngộ tâm yếu, được nối pháp thầy. Năm Khang hi 41 (1702), ngài Vi lâm truyền áo và bát cho sư, phó chúc nối dòng pháp Cổ sơn. Sư ăn mặc sơ sài, làm việc cần khổ, trụ trì chùa Dũng tuyền 27 năm, rất có phong cách của tổ Bách trượng. Tháng 10 năm Ung chính thứ 6 sư thị tịch, thọ 70 tuổi. Sư có làm các bài tụng: Niêm cổ, Hoài cổ v.v... [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.3].
đại tâm chúng sanh
Xem Ma ha tát.
đại tâm hải
Tâm rộng lớn như đại dương—Great mind ocean—Omniscience.
đại tâm lực
The great mind and power, or wisdom and activity of Buddha.
; Tâm lực rộng lớn bao la, chỉ trí huệ và những hoạt động của Phật—The great mind and power, or wisdom and activity of a Buddha.
Đại tâm 大心
[ja] ダイシン daishin ||| Great, expansive mind. Great bodhi-mind; the mind of enlightenment. Unbiased, non-partisan mind. The mind of great faith. => Tâm bao dung rộng lớn. Tâm đại bồ-đề; tâm giác ngộ. Tân không thiên vị, không phe phái. Tâm với niềm tin lớn.
đại tì lô già na kinh cung dưỡng thứ đệ pháp sớ
806請參閱 淨土盂蘭盆經 請參閱 淨土盂蘭盆經 請參閱 阿毘達磨大毘婆沙論 請參閱 大日經 請參閱 大日經 凡二卷。唐代不可思議撰。今收於大正藏第三十九冊。略稱供養次第法疏、不思議疏。隨文解釋大日經疏卷七供養念誦三昧耶法門一卷五品。初揭七言四句之歸敬頌,其次分為:述大意、說來由、釋題目、隨文解釋等四門。撰者生平不詳,依本書卷末所載,僅知其為新羅零妙寺之沙門,且曾親炙受教於善無畏三藏。〔大日經義釋演密鈔卷七、諸阿闍梨真言密教部類總錄卷上、祕密儀軌隨聞記卷二十三〕
; (大毗盧遮那經供養次第法疏) Gồm 2 quyển, do ngài Bất khả tư nghị soạn vào đời Đường, thu trong Đại chính tạng tập 39. Gọi tắt: Cúng dường thứ đệ pháp sớ, Bất tư nghị sớ. Sách này giải thích năm phẩm trong quyển Cúng dường niệm tụng tam muội da pháp môn của Đại nhật kinh sớ quyển 7. Trước hết, nêu bài tụng qui kính thể bốn câu bảy chữ, kế đến chia làm 4 môn: Thuật đại ý, nói nguyên do, giải thích đề mục, theo văn giải nghĩa. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.7; Chư a xà lê chân ngôn mật giáo bộ loại tổng lục Q.thượng; Bí mật nghi quĩ tùy văn kí Q.23].
đại tì sa môn vương
Mahā-vaisranadevarāja (S)Ma ha phệ thất la mạt na da đề bà hát la xà.
Đại Tì-bà-sa luận 大毘婆沙論
[ja] ダイビバシャロン Daibibasharon ||| Da piposha lun; An abbreviation of Api damo da piposha lun 阿毘達磨大毘婆沙論 (Abhidharma-mahāvibhāsā-śāstra). => (c: Da piposha lun); tên gọi tắt của A-tỳ-đạt-ma đại Tì-bà-sa luận (阿毘達磨大毘婆沙論c: Api damo da piposha lun; s: Abhidharma-mahāvibhāsā-śāstra).
đại tín
Dai shinkon (J), Great faith.
; Great root of faith—Đại tín là niềm tin sâu sắc, là gốc rễ lớn của niêm tin, được coi như một trong ba điều kiện căn bản của Thiền tập. Hai điều kiện kia là đại nghi và đại quyết—Great root of faith; the strong faith that is considered one of the three “pillars” pf the practice of Zen. The other two essentials are great doubt and great resolve.
Đại tín căn
大信根; J: dai-shinkon;|Một niềm tin căn bản lớn; một trong ba điều kiện cần thiết để giác ngộ theo Thiền tông Nhật Bản. Hai điều kiện khác là Ðại phấn chí (j: dai-funshi) và Ðại nghi đoàn (j: dai-gidan).|Trong tác phẩm Nhập thiền môn tu tập, Thiền sư Bạch Vân An Cốc (j: hakuun yasutani) viết như sau về Ðại tín căn: »Ðại tín căn có nghĩa là niềm tin sâu thẳm, vững chắc như một khối đá, như một cổ thụ vĩ đại. Ðó là một niềm tin không vướng mắc vào mê tín dị đoan, những hiện tượng siêu nhiên vượt khỏi tầm tay của con người.|Nhiều người cho rằng đạo Phật là một tôn giáo duy lí hoặc tôn giáo chỉ thuần tuý đặt nền tảng trên lí trí của con người. Tuy nhiên, đạo Phật là một tôn giáo (e: religion) – chính bởi vì yếu tố niềm tin nằm ở trong đó, và nếu không có niềm tin này thì đạo Phật chỉ còn là một hệ thống triết lí thuần đơn như những hệ thống triết lí khác. Với sự Giác ngộ của Phật-đà – đạt được với sự cố gắng tột cùng –, đạo Phật đã hoàn tất bước đầu. Ðại tín căn của chúng ta chính là niềm tin nơi Phật quả, kinh ngiệm giác ngộ mà Phật đã trình bày trong kinh sách. Các bài thuyết pháp của Phật không vượt ngoài những nội dung chính, đó là nhân tâm cũng như tất cả các pháp hiện hữu đều thanh tịnh từ ban đầu; rõ ràng hơn: hoàn hảo. Không có một niềm tin vững chắc nơi Phật pháp thì không ai có thể tiến xa trên đường tu học.«
đại tín căn
Dai-shinkon (J).
đại tín tâm
Lòng tin lớn và vững chắc—Về nương với Phật, đặc biệt là Phật A Di Đà—Great or firm faith—Surrender to Buddha, especially to Amitabha.
đại tín tâm hải
Tâm có lòng tin lớn như bể cả—A heart of faith great as the ocean.
đại tòng lâm
Tên của một Tòng Lâm mới xây dựng, tọa lạc bên Quốc lộ 1 đi Vũng Tàu, khoảng 45 dậm về phía đông bắc thành phố Sài Gòn. Năm 1958, Hòa Thượng Thích Thiện Hoa và Hòa Thượng Thích Thiện Hòa xin Chánh phủ thời bấy giờ cho khai phá khu đất hoang trên một trăm mẫu để lập Đại Tòng Lâm. Sau chiếc cổng lớn, xây bằng đá vào năm 1974, chùa Đại Tòng Lâm nằm bên trái được xây từ năm 1958, kiến trúc theo kiểu chữ “Công.” Khu vực rộng lớn nầy được chia làm nhiều khu: khu tượng Phật Đản Sanh nằm bên trái, khu tượng Phật thuyết pháp nằm bên phải. Chính giữa có tháp Đa Bảo Như Lai, cao ba tầng. Bên phải tháp là khu tượng Phật nhập Niết Bàn. Bên trong tháp có những tượng Phật Thích Ca, Phật Đa Bảo, và bốn tượng của các ngài A Nan, Đại Ca Diếp, Văn Thù, Thế Chí, cũng như tượng Phật Di Lặc và các tượng của các vị hộ pháp được thờ ở tầng dưới đất—Name of a newly built Great Vana located by the first highway towards Vũng Tàu, about 45 miles northeast of Saigon City. In 1958, Most Venerable Thích Thiện Hoa and Most Venerable Thích Thiện Hòa asked for the government's permission to change the one hundred hectares wild land into a construction site in Bà Rịa province to build Great Vana Pagoda. Entering the main gate made of stone in 1974, one can see the pagoda on the left hand side, being built in 1958 in the form of “Kung” word. The large area of the pagoda is divided into many partitions; one partition is where the statue of Lord Buddha in His Holy Birth, placed on the left hand side; the statue of Preaching Buddha is placed on the right hand side. In the middle of the area stands Đa Bảo stupa, three-storeyed. On the right side of the stupa is the partition of the statue of the Parinirvana Buddha. Inside the upper storey stand the sakyamuni Buddha statue, Đa Bảo Buddha statue and those of four Bodhisattvas; Ananada, Mahakasyapa, Manjusri, and samantabhadra. The statues of Maitreya Buddha and four Dharma Guardians are worshipped on the ground storey.
Đại Tông Tâm Thái
(岱宗心泰, Daisū Shintai, 1327-1415): vị tăng của phái Dương Kì và Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Đại Tông (岱宗) hay Phật Huyễn (佛幻), xuất thân vùng Thượng Ngu (上虞, Tỉnh Triết Giang), họ Tôn (孫). Năm 15 tuổi, ông theo xuất gia với Ốc Châu Đạt (沃洲達) ở Đẳng Từ Tự (等慈寺) cũng như Đồ Văn Tẩu Ái (徒聞叟愛). Sau ông đến thọ Cụ Túc giới tại Khai Nguyên Tự (開原寺) ở Quận Thành (郡城). Từ đó, ông bắt đầu đi du phương học đạo, đến an cư tại Tây Thiên Trúc Tự (西天竺寺) ở Hàng Châu (杭州), gặp được Cổ Đỉnh Tổ Minh (古鼎祖銘) ở Kính Sơn (徑山) nên theo hầu vị này suốt 10 năm. Nhân hay tin Mộng Đường Đàm Ngạc (夢堂曇噩) hiện đang ở tại Quốc Thanh Tự (國清寺) trên Thiên Thai Sơn (天台山), ông bèn đến bái yết và cuối cùng được đắc pháp. Vào năm đầu (khoảng 1368) niên hiệu Hồng Võ (洪武), ông quản lý Long Tuyền Tự (龍泉寺) ở Diêu Giang (姚江), rồi đến trú trì Đông Sơn Quốc Khánh Tự (東山國慶寺) ở Thượng Ngu, cũng như Trung Thiên Trúc Tự (中天竺寺) và Kính Sơn vào năm đầu (1403) niên hiệu Vĩnh Lạc (永樂). Đến năm thứ 4 (1406) cùng niên hiệu trên, ông nhận chiếu chỉ tu chỉnh bộ Vĩnh Lạc Đại Điển (永樂大典), năm sau thì trở về núi và lui về ẩn cư ở Tịch Chiếu Am (寂照庵). Vào năm thứ 9 cùng niên hiệu trên, theo lời thỉnh cầu ông lại trở về Vĩnh Lạc. Đến ngày 14 tháng 11 năm thứ 13 (1415), ông thị tịch, hưởng thọ 89 tuổi. Ông có viết bộ Phật Pháp Kim Thang Thiên (佛法金湯篇) 16 quyển vào năm thứ 24 (1391) niên hiệu Hồng Võ.
đại tông địa huyền văn bản luận
797凡二十卷。馬鳴菩薩造,南朝陳代真諦譯。收於大正藏第三十二冊。本書闡釋金剛地之行位等,共立四十大決擇分。其中,初二分解說十種大因緣,相當於序分;第三以下至三十六分為正宗分,以解說金剛地之五種位至阿說本王之十方塵數等;三十七分至四十分為流通分,鈙述本書之功德及馬鳴自述過去之本因等。各分之下皆先舉出偈頌,其後逐文釋之,三十七分以下之四分則僅揭舉其頌。又本論所說內容頗為怪誕,且署名「真諦三藏譯」之記載,諸經錄皆未見載,加以論中所引多數經典名稱皆不見於諸經錄,此外,本論論述之體裁與向來被視為偽撰於我國之釋摩訶衍論頗為酷似,故學者多謂本論乃後世偽造而假托馬鳴之名。又如緣山三大藏總目錄卷下所載,本論謂馬鳴所造者,蓋後世之假托,至元法寶勘同總錄卷九謂該論始見於宋大中祥符錄,知其成書年代距今不遠。現藏本唯存於高麗藏及明藏中。〔馬嗚菩薩論、閱藏知津卷三十八〕
; (大宗地玄文本論) Gồm 20 quyển, do bồ tát Mã minh tạo, ngài Chân đế dịch vào đời Trần thuộc Nam triều, thu vào Đại chính tạng tập 52. Nội dung sách này giải thích hành vị của Kim cương địa, lập ra 40 phần đại quyết trạch: - Hai phần đầu tương đương với phần tựa, giải thích về 10 đại nhân duyên. - Từ phần thứ 3 đến phần 36 là phần chính tông, giải thích rõ 5 vị của Kim cương địa cho đến mười phương trần số của A thuyết bản vương v.v... - Từ phần 37 đến 40 là phần lưu thông, nói về công đức của sách này và phần tự thuật về nhân đời quá khứ của ngài Mã minh. Trong mỗi phần, trước hết nêu kệ tụng, sau đó mới giải thích chính văn. Bốn phần, từ phần 37 trở xuống thì chỉ nêu kệ tụng. Vì những điều được bàn đến trong sách này rất quái lạ, lại đề là do ngài Chân đế dịch mà trong các bộ Kinh không thấy chép; hơn nữa, tên của các kinh điển được viện dẫn trong sách này phần nhiều cũng không thấy được ghi trong các kinh lục. Ngoài ra, thể tài của sách này rất giống với thể tài của luận Thích ma ha diễn (bộ luận trước nay bị người Trung quốc cho là ngụy tác), cho nên các học giả phần nhiều cho rằng sách này do đời sau ngụy tạo rồi mạo danh ngài Mã minh. Còn Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục quyển 9 thì cho rằng sách này mới được thấy trong Đại trung tường phù lục đời Tống, cho nên biết niên đại bộ sách cách nay không xa lắm. Trong các bản Đại tạng hiện nay, sách này chỉ còn thấy trong tạng Cao li và tạng đời Minh. [X. luận Mã minh bồ tát; Duyệt tạng tri tân Q.38].
đại tùy
Tai sui (C), Daizui (J).
Đại tùy cầu đà-la-ni kinh 大隨求陀羅尼經
[ja] ダイズイグダラニキョウ Daizuigu darani kyō ||| The Da suiqiu tuoluoni jing; an abbreviated title for the Pubian guangming qingjing chicheng ruyibao yinxin wunengsheng damingwang dasuiqiu tuoluoni jing 普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能勝大明王大隨求陀羅尼經. => (c: Da suiqiu tuoluoni jing); tên gọi tắt của Phổ biến quang minh thanh tịnh xí thạnh như ý bảo ấn tâm vô năng thắng đại minh vương đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh (普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能勝大明王大隨求陀羅尼經c: Pubian guangming qingjing chicheng ruyibao yinxin wunengsheng damingwang dasuiqiu tuoluoni jing).
Đại Tùy Pháp Chân
大隋法真; C: dàsuí fǎzhēn; J: daizui hōshin; tk. 9.;|Thiền sư Trung Quốc. Sư đạt yếu chỉ nơi Trường Khánh Ðại An, một môn đệ của Bách Trượng Hoài Hải Thiền sư. Công án 29 trong Bích nham lục có nhắc đến Sư.|Trước khi đến Ðại An, Sư đã tham vấn Ðộng Sơn Lương Giới, Quy Sơn Linh Hựu và nhiều Thiền sư khác. Sau khi đại ngộ, Sư ẩn cư tại núi Ðại Tuỳ, 10 năm không xuống núi. Tương truyền Sư cất am trong một bọng cây lớn. Dần dần học giả đến đông, Sư bắt đầu giáo hoá.
đại tùy pháp chân
Daizui Hōshin (J)Tên một vị sư.
Đại Tùy Pháp Chơn
(大隨法眞, Daizui Hōshin, 834-919): xuất thân Huyện Diêm Đình (塩亭), Tử Châu (梓州, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Vương (王). Ông xuất gia ở Huệ Nghĩa Tự (慧義寺, tức Trúc Lâm Viện [竹林院], Hộ Thánh Tự [護聖寺]), rồi đi vân du lên phương Nam, đến Dược Sơn (藥山) và tham yết một số Thiền tượng như Đạo Ngô Viên Trí (道吾圓智), Vân Nham Đàm Thịnh (雲巖曇晟), Động Sơn Lương Giới (洞山良价), Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐). Đặc biệt, ông theo hầu hạ Quy Sơn, tu hành khắc khổ, cuối cùng ngộ đạo. Sau ông lại kế thừa dòng pháp của Trường Khánh Đại An (長慶大安), và trở về nước Thục, rồi đến trú tại Đại Tùy Sơn trong vòng hơn 10 năm, thân thiết chỉ đạo cho học giả đến tham Thiền. Trước năm ông qua đời, ông được Hoàng Đế nước Thục ban tặng cho Tử Y và hiệu là Thần Chiếu Đại Sư (神照大師). Vào ngày 15 tháng 7 năm đầu (919) niên hiệu Càn Đức (乾德) nhà Thục, ông ngồi ngay ngắn thị tịch, hưởng thọ 86 tuổi đời và 66 hạ lạp. Cuốn Đại Tùy Khai Sơn Thần Chiếu Thiền Sư Ngữ Lục (大隨開山神照禪師語錄) 1 quyển, vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay.
đại túc thạch quật
794位於四川大足縣境。唐代開始鑿造,歷五代及宋代,明、清兩代亦續有開鑿。分布於該縣西南、西北與東北之山區,大小共二十三處;較集中者有寶頂山、北山等十九處。其中,寶頂山位於大足縣東北約十五公里,山腰周壁鑿出摩崖造像十三處,稱為寶頂山摩崖造像。鑿建於南宋紹興(1131~1162)年間,創始人為兩川地區傳播密宗之趙智鳳。明、清兩代續有開鑿。造像多為密宗供養像,亦有禪宗造像,係早期禪、密相結合之重要地區。此外如父母恩重經變、十王與地獄變等之雕刻,則為佛教藝術中國化與深入下層社會之具體表現。窟中亦有道教與儒教造像。 北山位於大足縣北二公里,分南、北兩區,依山摩崖雕鑿造像二九○窟。稱為北山摩崖造像。唐昭宗景福元年(892),割據東川之昌州刺史韋君靖修建永昌寨,並鑿造佛像,此後續有闢建,迄五代及宋,均為中小窟龕。另有彌陀、藥師佛、禪宗造像及各種石刻經變等,以及道、儒二教之造像。其造像多接近現實生活,富於地方色彩。
; (大足石窟) Động đá ở huyện Đại túc, tỉnh Tứ xuyên, Trung quốc. Bắt đầu được đục mở vào đời Đường và tiếp tục qua các đời Ngũ đại, Tống, Minh cho đến đời Thanh. Toàn huyện có 23 chỗ mở động và tạc tượng, rải rác ở các vùng núi phía tây nam, tây bắc và đông bắc, trong đó có 19 chỗ tập trung ở núi Bảo đính và Bắc sơn v.v... Núi Bảo đính ở cách huyện Đại túc về phía đông bắc khoảng 15km, chung quanh vách núi có 13 chỗ tạc tượng. Mười ba chỗ này do Triệu trí phượng - người truyền bá Mật tong - bắt đầu đục mở vào khoảng năm Thiệu hưng (1131 - 1162) đời Nam Tống. Đời Minh và đời Thanh tiếp tục công việc. Tượng ở đây phần nhiều là tượng cúng dường trong Mật tông, nhưng cũng có tượng Thiền tông, vì núi Bảo đính là nơi trọng yếu của sự kết hợp giữa Thiền và Mật giáo ở thời kì đầu. Ngoài ra, những bức điêu khắc miêu tả kinh Báo ân phụ mẫu, biến tướng Thập vương và Địa ngục v.v... biểu hiện một cách cụ thể nền nghệ thuật Phật giáo được Trung quốc hóa và đã thâm nhập hạ tầng xã hội. Trong hang động cũng có tạo tượng Đạo giáo và Nho giáo. Bắc sơn ở cách huyện Đại túc 2km về mạn bắc, chia làm hai khu Nam, Bắc, có 290 hang động dọc theo sườn núi được đục mở vào thời vua Chiêu tông nhà Đường, bên trong những hang động này tạc rất nhiều tượng Phật, Bồ tát. Từ đó về sau, những hang động tiếp tục được khai tạc, cho đến đời Ngũ đại và Tống thì các hang động đều là khám thờ cỡ vừa và nhỏ. Trong đó, thờ tượng Phật A di đà, Phật Dược sư, tượng tổ Thiền tông và các loại kinh biến được khắc bằng đá, các tượng của Đạo giáo và Nho giáo v.v... Những tượng ở đây phần nhiều gần với đời sống hiện thực và mang đậm sắc thái địa phương.
đại tăng
875沙彌僅受持十戒,稱為小僧;相對者,受持具足戒之比丘,則稱為大僧。又日僧最澄於顯戒論卷中「開顯大乘大僧篇」與「開顯授大乘戒為大僧篇」中亦舉出大僧之名,且謂其乃大小乘之通稱。
; A fully ordained monk.
; Một vị Tăng đã thọ giới đầy đủ và nghiêm trì giới luật—A fully ordained monk—A full monk as opposed to a novice.
; (大僧) Sa di chỉ nhận giữ 10 giới, gọi là Tiểu tăng; đối lại, tỉ khưu nhận lãnh giới Cụ túc thì gọi Đại tăng. Trong các thiên Khai hiển Đại thừa đại tăng và Khai hiển thụ Đại thừa giới vi đại tăng, ngài Tối trừng, người Nhật bản, bảo Đại tăng là từ gọi chung các vị tỉ khưu Đại thừa cũng như Tiểu thừa.
đại tăng chánh
The director of monks
đại tăng chính
876為我國古代僧官之最高位者。僧綱之最高階位分為三種,三種中最上位之職位,稱為大僧正。梁武帝普通六年(525),敕命光宅寺之法雲為大僧正,為此階位之最早設置者。日本在天平十七年(745)始授行基任大僧正,為該國設此階位之始。(參閱「僧綱」5747)
; (大僧正) Cấp bậc cao nhất trong hàng quan tăng ở Trung quốc đời xưa. Năm Phổ thông thứ 6 (525), Lương Vũ đế ban chức Đại tăng chính cho ngài Pháp vân ở chùa Quang trạch, là vị tăng đầu tiên giữ chức này. Tại Nhật bản vào năm Thiên bình 17 (745), ngài Hành cơ được cử làm Đại tăng chính lần đầu tiên. (xt. Tăng Cương).
đại tướng
Maharupa—Great form—The kalpa of Mahabhijna-jnanabhibhu, who is to appear as Buddha in a realm called Sambhava.
đại tướng quốc tự
806位於河南開封市中心。本寺於北齊天保六年(555)始建立,時稱建國寺,至唐睿宗改為相國寺。宋至道二年(996)重建,改名大相國寺,成為當時汴京第一大寺。寺內壁畫與塑像皆出自當代名家手筆。其建築結構之精巧,雖宋代建築大師俞皓,亦不解其中之奧妙。其後,本寺漸成為萬商雲集之市場,有如北平之天橋、南京之夫子廟、西安之開元寺、臺北龍山寺,熱鬧異常,已非屬寺院性質。〔佛祖統紀卷四十三至卷四十五、釋氏稽古略卷四、大清一統志卷一五○、河南通志卷五十〕
; Chùa Đại Tướng Quốc tại huyện Khai Phong tỉnh Hồ Nam, Trung quốc, chùa được xây vào năm 555 sau Tây Lịch, được xây lại vào năm 996, và được liên tục trùng tu vào những đời Nguyên Minh. Đến cuối đời nhà Minh chùa bị ngập vì cơn lũ lụt của sông Hoàng Hà, các triều vua Thuận Trị và Càng Long của Thanh triều tiếp tục trùng tu—The great aid-the-dynasty monastery at Kaifeng, Honan, China, founded in 555 A.D., rebuilt in 996, repaired by the Yuan and Ming emperors. At the end of the Ming dynasty, the monastery was swept away in a Yellow River flood, rebuilt under Shun Chih and Ch'ien Lung of the Xing dynasty.
Đại tướng 大相
[ja] ダイソウ daisō ||| A reference to the four great marks. See 四本相. => Thuật ngữ nói đến Bốn tướng căn bản. Xem Tứ bản tướng四本相.
đại tượng tạng
Great elephant or naga treasure, an incense supposed to be produced by nagas or dragons fighting.
Đại tạng
大藏|Danh từ chỉ tất cả những kinh sách, luận giải về đạo Phật trong và ngoài Tam tạng. Ðại tạng đầy đủ và bao gồm nhất hiện nay của Phật giáo Bắc truyền là Ðại tạng Trung Quốc và Tây Tạng (Cam-châu-nhĩ/Ðan-châu-nhĩ). Ðầy đủ nhất của Phật giáo Nam truyền là Ðại tạng của Thượng toạ bộ của Tích Lan, được ghi lại bằng văn hệ Pā-li (Ðại chính tân tu đại tạng kinh).
đại tạng hội duyệt
893凡四冊。民國會性著於(1978~1979)年。天華出版社印行。為經典解題書。收集自東漢至民國間之佛典及中國高僧大德之著述,撮攝提要,介紹原委,所錄書目凡數千種。分經藏(小乘經、大乘經。大乘經包括華嚴、方等、般若、法華、涅槃五部門)、律藏(小乘律、大乘律)、論藏(小乘論、大乘論)、密藏、雜藏(諸宗、史傳、事彙、目錄等部)等。
; (大藏會閱) Gồm bốn tập, do ngài Hội tính soạn vào năm 1978 - 1979 và nhà xuất bản Thiên hoa ở Đài loan ấn hành. Đây là bộ sách giải thích đề mục của kinh điển và các tác phẩm của những vị cao tăng thạc học Trung quốc từ đời Đông Hán đến thời Dân quốc. Nội dung giới thiệu nguồn gốc và tóm tắt những điểm chủ yếu của mấy nghìn thư mục, chia làm năm tạng: -Kinh tạng: Gồm các kinh Tiểu thừa, kinh Đại thừa. Kinh Đại thừa lại chia thành năm bộ: Hoa nghiêm, Phương đẳng, Bát nhã, Pháp hoa và Niết bàn. - Luật tạng: Gồm luật Tiểu thừa, luật Đại thừa. - Luận tạng: Luận Tiểu thừa, luận Đại thừa. - Mật tạng, Tạp tạng: Gồm Chư tông, Sử truyện, Sự vựng, Mục lục v.v...
đại tạng kinh
893又作一切經、一代藏經、大藏、藏經、三藏聖教。指包含三藏等之諸藏聖典。亦即以經、律、論三藏為中心之佛教典籍之總集。「大藏經」一詞,不見於印度或我國最早期之記載,於我國南北朝時代僅有「一切眾藏經典」、「一切經藏」等稱呼,直至隋唐之後,始有「大藏經」之稱,當時係指由朝廷敕命(欽定)纂集之一切經。早期之佛教經典,有九部經或十二部經之分類,此外,類編佛所說之四阿含、五部,而稱為經藏;纂輯有關諸弟子之戒儀等,稱為律藏;諸論師之撰述則稱論藏。 原始佛典如阿含及諸律等,皆以口誦相傳,經過結集、訂正、確認後,成為聖典之權威,方以文字記錄下來。大乘經典則反之,多以書寫方式流通,如佛本行集經卷五十一載用筆墨陀羅葉,大方等大集經卷三十載用紙墨,持心梵天所問經卷四、寶女所問經卷四、普曜經卷八歎佛品等載用竹帛;亦有於壁上書寫經文者。此外,正法念處經卷四十、卷四十六、大般涅槃經卷十四、梵網經卷上、大佛頂首楞嚴經卷七等,亦舉出葉紙、樺皮、貝葉、紙、素白疊等名稱。 大藏經之原典,原本有梵語、巴利語二種,梵語原典今已殘缺不全,巴利語藏經及譯自梵語之漢譯、西藏譯、自西藏譯本轉譯之蒙古語譯、滿洲語譯、西夏語譯等大藏經,大體上仍完整地留存至今。現今流傳之佛典,從語文上可分為:巴利文、梵文、藏文、漢文、日文、蒙古文、滿文、西夏文、西洋文等數種;前二種為原始型佛典,後面數種則由前二種轉譯者。 <一>巴利文:巴利文三藏又稱南傳大藏經,為南方佛教所依據之聖典。其成立年代被推定為西元前二至一世紀。另據錫蘭島史(巴 Dīpavaṃsa)記載,西元第一世紀末,錫蘭王婆他伽馬尼王(巴 Vaṭṭagāmaṇi)於無畏山(巴 Abhayagiri)精舍邀集五百聖者,書寫口傳的巴利三藏,此即今日巴利文大藏經之原型。後經多次變遷,至西元五世紀,佛音(巴 Buddhaghosa,又稱佛陀瞿沙)前往錫蘭,將當時用土語所傳之佛典全部改為印度本土之巴利文,並徹底整理有關之注釋書,巴利文三藏至此乃見完璧。其後,佛音曾至緬甸等地傳道,巴利文三藏亦隨之傳布於緬甸、泰國、越南、高棉等地,故知巴利文三藏係以錫蘭為重心,漸次流布緬甸等處。今日巴利文系三藏有錫蘭字、緬甸字、暹羅字,及柬埔寨字等之各種版本。十九世紀末期,泰王秋羅隆高五世(Chula Longkorn V)曾發起彙輯、校勘流傳南方佛典,並以暹羅字官本刊行全部藏經,裨益學界至鉅。此外,西洋佛教學者自十九世紀開始巴利文佛典之研究,故巴利文三藏之出版與傳譯情形頗有與日俱進之勢。(參閱「南傳大藏經」3748) <二>梵文:印度貴族本有一種流行之雅語,然佛陀在世時,由於主張四姓平等,故不採用雅語。佛陀入滅後百年頃,文法學家波爾尼將雅語詳為釐訂,便於通行,佛教徒亦採用之,以記錄佛典,此即梵文佛典。梵文佛典與巴利佛典,孰先孰後,已不可考,惟其流布區域有涇渭之別。據傳,於迦膩色迦王時,曾勘定三藏,凡無傳本者皆書寫之,已有傳本者則校勘之,梵文佛典乃稱完備。然現存之梵文佛典大多僅餘片斷,內容亦籠統而雜亂,不若巴利文三藏之完整分明。就教理而言,巴利三藏可說全屬小乘教義,梵文佛典則大部分屬大乘教義,其中多數早已有漢譯本,然亦有不少尚未漢譯之珍貴文獻。近代在尼泊爾、西藏、中亞等地均有梵文佛典之發現,而以尼泊爾發現者為數最多。一八二二年,英人荷吉森(B.H. Hodgson)於尼泊爾蒐集梵文聖典,共得三八○部新舊寫本。一八七三年至一八七六年間,英人萊特(D. Wright)繼續搜集,共得三百二十餘部。 梵文佛典之所以多存於尼泊爾,據學者研究,佛陀入滅後三世紀初,中印度佛教遭到空前之教難,印度佛教徒多逃入尼泊爾。又於十三世紀,回教徒侵入印度,印度佛教徒再避入尼泊爾。其地氣候苦寒,極適於梵篋之保存。除尼泊爾外,于闐、敦煌、高昌、龜茲等處,均發掘大量梵文佛典,對學界之貢獻及影響極大。現存之梵文三藏原典雖僅吉光片羽,寥寥可數,然在西元一世紀頃即流入西藏、中國,早已翻成部帙浩瀚的藏文及漢文三藏,而於全部佛教經籍中,佔著重要位置。 <三>漢文:佛教各系之傳譯經典中,以漢譯大藏經翻傳最早,部帙亦最龐大,起自後漢,迄於元代,係由梵語、巴利語、胡語等譯出。最早期之經典翻譯,以東漢桓帝建和二年(148)至洛陽之安世高為代表,主要翻譯小乘經典。桓帝末年之時,大月氏國之支婁迦讖亦至洛陽,主要翻譯大乘經典。經典翻譯之初,僅是各自書寫傳持,至苻秦道安(314?~385),始將譯經加以蒐集分類,編成目錄,此即「綜理眾經目錄」一卷,內分:撰出經律論錄、異出經錄、古異經錄、失譯經錄、涼土異經錄、關中異經錄、疑經錄、注經及雜經志錄等八部分,共收經典六三九部八八六卷,為我國第一部之佛典目錄。其後,僧祐、寶唱等亦撰各經錄以增補之。當時並書寫全部譯出之經安置宮室、諸大寺。迄隋唐,譯經事業更盛,而有單譯、重譯、別生、疑惑、偽妄等之分,我國撰述之抄集、傳記及著述等亦相繼入藏。總計歷代所編藏經目錄,多達六、七十部,現存者有二十餘部,其中以僧祐之出三藏記集、法經等之眾經目錄、費長房之歷代三寶紀、道宣之大唐內典錄、智昇之開元釋教錄、慶吉祥之至元法寶勘同總錄等為最著。又於上舉各種經錄之中,開元釋教錄以收錄完備、記述正確、分類合宜,而受到各時代學者之重視,其分類法亦為開寶藏以降大多數之藏經所沿用。 齊梁以後,抄集諸經要旨之風亦盛,計有梁朝寶唱等之經律異相五十卷、梁朝簡文帝令學士撰之法寶集二百卷、後魏曇顯等之眾經要集二十卷、梁朝虞孝敬等之內典博要三十卷、梁朝賢明之真言要集十卷、梁朝僧旻等之眾經要抄八十八卷、義林八十卷、梁朝淨靄之三寶集十一卷、作者不詳之法苑經一八九卷、唐代道世之諸經要集二十卷、法苑珠林百卷、唐代玄則等之禪林鈔記三十卷、明代陳實之大藏一覽集十卷等。 隋唐以後,就藏經中之梵語及難解字句附以音義之風亦行,有唐代玄應之一切經音義二十五卷、唐代慧琳之一切經音義百卷、遼‧希麟之一切經音義十卷、後晉可洪之新集藏經音義隨函錄三十卷、宋代處觀之紹興重雕大藏音三卷等。此外,解題大藏經亦不少,如唐代玄逸之大唐開元釋教廣品歷章三十卷、宋代惟白之大藏經綱目指要錄十三卷、宋代王古撰、元代管主八續之大藏聖教法寶標目十卷、明代寂曉之大明釋教彙目義門四十一卷、標目四卷、明代智旭之閱藏知津四十四卷、日本淨土宗僧隨天之緣山三大藏目錄三卷等均是。 漢文大藏經,在隋唐之世即有纂集,然其時未有印刷術,凡有編集,皆賴書寫,直至宋代,始有刊本。而漢文大藏經之刊印,以宋太祖於蜀之成都雕刻(木版印刷)全部大藏經為嚆矢,此即官版蜀版開寶藏。此後,藏經印刻之事業陸續興起。宋朝計有:遼版之契丹藏、金版之金藏、福州版之萬壽藏、毘盧藏、湖州版(浙版)之圓覺藏、資福藏、磧砂藏等。元代根據宋本印行藏經,有普寧藏與弘法藏兩種,然元末天下大亂,藏經燒失殆盡。明太祖洪武年間,集碩德於蔣山,點校藏經,刊刻南藏,然校勘不精,時有脫誤。南藏之外,另有北藏、楞嚴寺版、報恩寺版等。清世宗雍正十三年至高宗乾隆三年(1735~1738),以北藏為底本,復加新籍,刊刻龍藏。此外尚有頻伽藏、百衲藏,及民國四十五年(1956)開始編行的中華大藏經、民國七十二年陸續出刊的佛光大藏經等。 高麗藏亦屬漢文系統,始刻於宋真宗時代(高麗顯宗二年,1011),以宋代開寶藏為底本,加入貞元錄所收各本,此即高麗大藏初雕本。另於高麗宣宗時又開雕續藏本。高宗二十三年(1236)開雕高麗大藏再雕本,即今所傳之麗本藏經。文宗十三年(1059),倣契丹本而刊刻高麗契丹藏仿刻本,然今已全部佚矢。(參閱「中文大藏經」1001) <四>日本:日本刻印之佛典本屬漢文系統,然因日本藏經刊印事業極盛,且至近世,大藏經之編輯愈趨完整,形成後來居上而一枝獨秀之局面。日本印行大藏經,始於德川初期之天海藏,係參照宋本與元本翻刻成者。其次有德川後期之黃檗藏,為明代楞嚴寺版之翻刻。明治時代,有弘教書院刊行之縮刷藏經,係依照麗、宋、元、明四藏校對,並加入若干的日本撰述。明治三十五年至三十八年(1902~1905),藏經書院刊行卍字正藏,係以黃檗本與麗本為底本,另參照明本而成者。明治三十八年至大正元年(1912),日本藏經院蒐羅卍字藏中未收之佚本,集成卍字續藏。明治四十四年至大正十一年,東京佛書刊行會陸續印行一套以日本撰述為主之佛教全書,即大日本佛教全書。大正八年至十年,由中野達慧主編,日本大藏經編纂會刊行,稱為日本大藏經。大正十三年,高楠順次郎等人發起刊行大正新修大藏經,至昭和七年(1932)完成,內容集古來漢文藏經之大成,共收經律論萬餘卷,網羅印度、中國、日本、朝鮮一切佛教名著,為舉世佛學界最完整之一部大藏經。校勘方面,除麗、宋、元、明四藏外,並對照日本聖語藏本、宮本、敦煌寫本及各種古佚本、流通本而成。昭和十三年,影印、校訂弘教本,而有昭和再訂縮刷藏之刊行。此外,另有南傳大藏經與國譯一切經之編譯,兩者均以日文刊行,前者係南傳系統之巴利三藏與藏外佛教典籍之整編,後者則為各種藏經中唯一包含解題、注解之藏經。(參閱「中文大藏經」1001) <五>西藏:七世紀頃,西藏國王棄宗弄讚(藏 Sroṅ-btsan-sgam-po)派大臣端美三菩提(藏 Thon-mi-sam bhoṭa)留學印度,端美留印七年,攜回許多梵文經典,遂以梵字為基礎,創造西藏文字,並開始梵經之翻譯工作。八、九世紀之間,西藏譯經事業極發達。西藏僧伽於翻譯之外,並留下大量有關佛學之注釋、宗義、歷史著作等。至十四世紀,布頓(藏 Bu Ston)將一切經典分為甘珠爾(藏 Bkaḥ-ḥgyur,內含經、律)、丹珠爾(藏 Bstan-ḥgyur,內含論典)兩大類。藏文藏經歷代之版本甚多,最早有十三世紀初開雕之舊奈塘藏,其後有里塘藏、德格藏、新奈塘藏、卓尼藏、布那克藏、傑昆彭藏、卻姆陀藏、永樂藏、萬曆藏、北京藏、拉薩藏等十二種,其中以德格藏、新奈塘藏、北京藏等三種最具代表性,尤以德格藏為現存藏文大藏經中最完整之一部。(參閱「西藏大藏經」2588) <六>其他:西藏三藏流行於中亞細亞,至十三世紀頃,元世祖忽必烈侵入西藏,信仰喇嘛教,以八思巴為國師,八思巴受命創製蒙古文字,並從西藏佛典譯成蒙古文。至十四世紀初,薩迦派之喇嘛僧齊喬世魯(藏 Chos-kyi ḥod-zer),至珠泯比丘等,及無數藏、蒙、回鶻、我國學者陸續完成蒙古大藏經之傳譯。 滿洲大藏經始於十八世紀,先譯出藏、蒙大藏經之佛部,最早係清世宗時代之京城黃教領袖土觀呼圖克圖一世奉敕翻譯開版滿、蒙、藏三體對照之甘珠爾,而全藏係於乾隆五十五年(1790)完成,其間亦曾嘗試自漢文大藏經譯成滿洲文。據聞世界現存之滿文藏經唯有一部,保存於日本。 西夏譯大藏經始自宋仁宗景祐元年(1034),西夏王趙元昊自宋請得大藏經,後置蕃漢二字院,創製西夏文字,並請回鶻僧翻譯佛典,至元大德六年(1302)全藏完備,約有三千六百餘卷。後世所發現之西夏文字刻本僅有數百部。 此外,近世西洋學者研究東方學之風氣日盛,佛學亦在歐美學術界漸露曙光,佛典之翻譯愈受重視。早期多譯自巴利文佛典,及至梵文原典被發現後,則漸有取自梵典譯成歐美文字,然迄目前為止,歐美佛典之翻譯多屬一經一典之單行本,於質於量皆遠不如東方各國;但若以現代佛學在歐美一日千里之發展觀之,則歐美文字大藏經之編譯應屬指日可待之事。〔佛祖統紀卷四十七、英文大明三藏聖教目錄、大藏經の成立と傳播(禿氏祐祥,龍谷大學論叢第二八七)、大藏經に就て(高楠順次郎,大崎學報第四十二)、中國大藏經翻譯刻印史、中國大藏經雕刻史話(釋道安)〕(參閱「西夏文大藏經」2579)
; Great Collection sŪtraXem Tam tạng
; The Tripitaka—Toàn bộ kinh điển Phật giáo—The whole of Buddhist canon.
; (大藏經) Cũng gọi: Nhất thiết kinh, Nhất đại tạng kinh, Đại tạng, Tạng kinh, Tam tạng thánh giáo. Có nghĩa là kho tàng chứa đựng tất cả kinh điển của Phật giáo. Từ ngữ Đại tạng kinh không thấy được ghi chép vào thời kì đầu ở Ấn độ và Trung quốc. Ở Trung quốc, vào thời Nam Bắc triều, chỉ gọi là Nhất thiết chúng tạng kinh điển, Nhất thiết kinh tạng v.v... cho mãi đến sau đời Tùy, Đường mới có tên Đại tạng kinh chỉ cho tất cả các kinh do triều đình ra lệnh biên tập thời bấy giờ. Kinh điển Phật giáo nguyên thủy như A hàm và các luật v.v... đều do truyền miệng, sau khi kết tập, đính chính, xác nhận, trở thành kinh điển có uy tín mới được ghi chép bằng văn tự. Trái lại, kinh điển Đại thừa thì phần nhiều được viết thành sách để lưu truyền, như kinh Phật bản hạnh tập quyển 51 cho biết là dùng bút và mực viết kinh lên lá bối, kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 30 thì ghi là dùng giấy và mực, còn các kinh Trì tâm phạm vương sở vấn quyển 4, kinh Bảo nữ sở vấn quyển 4, phẩm Thán Phật trong kinh Phổ diệu quyển 4 v.v... thì nói là dùng thẻ tre và vải lụa, cũng có văn kinh được viết trên các bức vách. Ngoài ra, kinh Chính pháp niệm xứ quyển 40, quyển 46, kinh Đại bát niết bàn quyển 14, kinh Phạm võng quyển thượng, kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 7 v.v... cũng nêu ra các tài liệu dùng để viết kinh như: Vỏ cây hoa, lá bối, giấy, lụa trắng v.v... Kinh điển Phật giáo còn lưu truyền đến ngày nay, trên phương diện văn tự, có thể chia làm các loại văn: Pàli, Phạm, Tây tạng, Hán, Nhật, Mông cổ, Mãn châu, Tây hạ, Tây phương v.v... 1. Văn Pàli: Ba tạngPàli cũng gọi là Nam truyền đại tạng kinh, là những kinh điển căn bản của Phật giáo phương Nam. Niên đại thành lập tạng kinh này được suy đoán là khoảng thế kỷ thứ II đến thế kỉ thứ I trước Tây lịch. Lại theo Đảo sử (Pàli: Dìpavaôsa) của Tích lan chép, thì vào cuối thế kỉ thứ I Tây lịch, vuaVaagàmaịicủa Tích lan đã triệu thỉnh 500 vị A la hán về tinh xá Abhayagiri (ở núi Vô úy) để viết chép Tam tạngPàli mà trước kia chỉ được truyền miệng, đây chính là hình thức đầu tiên của Đại tạng kinhPàli ngày nay. Về sau, trải qua nhiều lần thay đổi, đến thế kỉ thứ V Tây lịch, ngài Buddhaghosa (Phật âm, cũng gọi Phật đà cù sa) từ Ấn độ đến Tích lan, đem toàn bộ kinh điển Phật lúc bấy giờ được truyền bằng thổ ngữ, đổi thành vănPàli gốc Ấn độ, triệt để chỉnh lí các sách chú thích tam tạngPàli, đến đây mới được coi là toàn bích. Sau, ngài Buddhaghosa đến Miến điện truyền đạo, Tam tạngPàli cũng theo đó được truyền vào Miến điện, Thái lan, Cao miên v.v... Ngày nay, Tam tạng thuộc hệ Pàli có các loại bản chữ Tích lan, chữ Miến điện, chữ Thái lan, chữ Cao miên v.v... Cuối thế kỷ XIX, vua Thái lan Chula Longkorn thứ V đã tổ chức biên tập, duyệt xét kinh điển Phật lưu truyền ở phương Nam rồi ấn hành toàn bộ tạng kinh bằng chữ Thái lan, giúp ích cho học giới rất nhiều. Ngoài ra, từ thế kỉ XIX, các học giả Phật giáo phương Tây bắt đầu nghiên cứu kinh Phật bằng tiếngPàli, cho nên sự xuất bản và truyền dịch Tam tạngPàli mỗi ngày một phát triển mạnh. (xt. Nam Truyền Đại Tạng Kinh). 2. Phạm văn: Ở thời đại đức Phật, quí tộc Ấn độ vốn lưu hành một thứ Nhã ngữ (lời nói tao nhã), nhưng đức Phật, vì chủ trương bốn giai cấp đều bình đẳng, nên Ngài không dùng Nhã ngữ. Khoảng 100 năm sau đức Phật nhập diệt, nhà văn pháp học Ba nhã ni đem Nhã ngữ sửa chữa lại cho được rõ ràng và thông dụng, thì đệ tử Phật cũng dùng Nhã ngữ để ghi chép kinh điển Phật, đây tức là kinh Phật bằng tiếng Phạm. Vấn đề kinh Phật tiếng Phạm và vănPàli, loại nào có trước, loại nào có sau, ngày nay không khảo sát được, mà chỉ có thể phân biệt theo khu vực lưu bá. Cứ theo truyền thuyết, ở thời vua Ca nị sắc ca, ba tạng kinh đã từng được giám định lại, phàm những bản kinh không lưu truyền đều được viết chép, còn những bản đã lưu truyền thì được đối chiếu để kiểm xét lại, nhờ thế mà kinh tiếng Phạm mới được hoàn bị. Nhưng, kinh tiếng Phạm hiện còn phần nhiều chỉ là những đoạn rời rạc, nội dung thiếu mạch lạc, so với Tạng kinhPàli thì kém hoàn chỉnh hơn. Đứng về phương diện giáo lí mà nhận xét, thì tạngPàli chuyên nói về giáo lí Tiểu thừa, còn tạng tiếng Phạm thì phần nhiều thuộc giáo nghĩa Đại thừa, trong đó, phần lớn đã được dịch ra Hán văn từ rất sớm, nhưng cũng còn nhiều bộ quí hiếm vẫn chưa được dịch ra chữ Hán. Gần đây, các nhà khảo cổ đã tìm được một số lớn kinh Phật tiếng Phạm ở Népal,Tây tạng và vùng Trung á, trong đó, số phát hiện ở Népal là nhiều nhất: Năm 1822, ông B.H. Hodgson sưu tầm được 380 bộ; khoảng năm 1873 - 1876, ông D. Wright tiếp tục sưu tập được hơn 320 bộ. Ngoài Népal ra, một lượng lớn kinh điển tiếng Phạm cũng được khai quật thấy ở Vu điền, Đôn hoàng, Cao xương, Cưu tư v.v... đối với học giới, đã có ảnh hưởng rất lớn. Nguyên điển Tam tạng tiếng Phạm hiện còn đến nay tuy ít ỏi, có thể đếm trên đầu ngón tay, nhưng khoảng thế kỷ thứ I Tây lịch số kinh Phạm văn đã được truyền vào Tây tạng, Trung quốc và được dịch ra tiếng Tây tạng, Hán văn với số quyển thật là đồ sộ và trong toàn bộ kinh điển Phật giáo, đã chiếm một địa vị quan trọng. 3. Hán văn: Trong việc truyền dịch kinh điển của các hệ Phật giáo, tạng Hán dịch đã được phiên truyền rất sớm: Khởi đầu từ đời Hậu Hán cho mãi đến đời Nguyên và được dịch từ tiếng Phạm,Pàli và Hồ ngữ. Những kinh điển được phiên dịch sớm nhất chủ yếu là kinh điển Tiểu thừa do ngài An thế cao dịch. Ngài An thế cao đến Lạc dương vào năm Kiến hòa thứ 2 (148) đời Hoàn đế nhà Đông Hán. Những năm cuối đời Hoàn đế, ngài Chi lâu ca sấm, người nước Đại nguyệt chi, cũng đến Lạc dương và phiên dịch các kinh điển Đại thừa. Những kinh điển phiên dịch lúc đầu chỉ được viết chép và truyền trì từng bộ một. Đến ngài Đạo an (314? - 385) đời Phù Tần mới sưu tập và phân loại các kinh mà biên thành mục lục. Đây tức là Tông lí chúng kinh mục lục 1 quyển, nội dung chia làm tám phần: Soạn xuất kinh luật luận lục, Dị xuất kinh lục, Cổ dị kinh lục, Thất dịch kinh lục, Lương thổ dị kinh lục, Quan trung dị kinh lục, Nghi kinh lục, Chú kinh và tạp kinh chí lục v.v... gồm 639 bộ 886 quyển, là bộ mục lục kinh Phật đầu tiên của Trung quốc. Về sau, các ngài Tăng hựu, Bảo xướng v.v... cũng soạn các kinh lục để bổ sung. Sang đời Tùy, Đường, sự nghiệp dịch kinh lại càng thịnh hơn, chia ra thành các loại như: Đơn dịch, trùng dịch, biệt sinh, nghi hoặc, vọng ngụy v.v... Các sách do chư tăng Trung quốc sáng tác, soạn thuật, truyện kí v.v... cũng lần lượt được đưa vào tạng. Riêng về mục lục Đại tạng, đã có từ 60 đến 70 bộ, hiện còn hơn 20 bộ, trong đó, Xuất tam tạng kí tập của ngài Tăng hựu, Chúng kinh mục lục của ngài Pháp kinh, Lịch đại tam bảo kỉ của Phí trường phòng, Đại đường nội điển lục của ngài Đạo tuyên, Khai nguyên thích giáo lục của ngài Trí thăng, Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục của ngài Khánh cát tường v.v... rất nổi tiếng. Từ đời Tề, Lương trở về sau, phong tục sao tập yếu chỉ của các kinh cũng rất thịnh, như: Kinh luật dị tướng 50 quyển của các ngài Bảo xướng v.v... đời Lương; Giản văn đế nhà Lương ban lệnh cho các học sĩ soạn Pháp bảo tập 200 quyển; Chúng kinh yếu tập 20 quyển của nhóm các ngài Đàm hiển đời Hậu Ngụy; Nội điển bác yếu 30 quyển của nhóm Ngu hiếu kính đời Lương; Chân ngôn yếu tập 10 quyển của ngài Hiền minh đời Lương; Chúng kinh yếu sao 88 quyển của nhóm các ngài Tăng mân đời Lương; Nghĩa lâm 80 quyển cũng do nhóm ngài Tăng mân soạn; Tam bảo tập 11 quyển của ngài Tịnh ái đời Lương; Pháp uyển kinh 189 quyển của khuyết danh; Chư kinh yếu tập 20 quyển của ngài Đạo thế đời Đường; Pháp uyển châu lâm 100 quyển cũng do ngài Đạo thế soạn; Thiền lâm sao kí 30 quyển của nhóm các ngài Huyền tắc đời Đường; Đại tạng nhất lãm tập 10 quyển của Trần thực đời Minh v.v... Từ đời Tùy, Đường về sau, phong tục soạn sách âm nghĩa để giải thích những chữ Phạm và các câu khó hiểu trong tạng kinh cũng thịnh hành, như: Nhất thiết kinh âm nghĩa 25 quyển của ngài Huyền ứng đời Đường; Nhất thiết kinh âm nghĩa 100 quyển của ngài Tuệ lâm đời Đường; Nhất thiết kinh âm nghĩa 10 quyển của ngài Hi lân đời Liêu; Tân tập tạng kinh âm nghĩa tùy hàm lục 30 quyển của ngài Khả hồng đời Hậu Tấn; Thiệu hưng trùng điêu Đại tạng âm 3 quyển của ngài Xử quan đời Tống v.v... Ngoài ra, các tác phẩm giải đề Đại tạng kinh cũng nhiều, như: Đại đường khai nguyên thích giáo quảng phẩm lịch chương 30 quyển của ngài Huyền dật đời Đường; Đại tạng kinh cương mục chỉ yếu lục 13 quyển của ngài Duy bạch đời Tống, Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục 10 quyển của Vương cổ đời Tống, Quản chủ bát đời Nguyên soạn tiếp; Đại minh thích giáo vựng mục nghĩa môn 41 quyển của ngài Tịch hiểu đời Minh; Tiêu mục 4 quyển cũng do ngài Tịch hiểu soạn; Duyệt tạng tri tân 44 quyển của ngài Trí húc đời Minh; Duyên sơn tam đại tạng mục lục 3 quyển của Tùy thiên người Nhật... Đại tạng kinh Hán văn ở thời Tùy, Đường mới chỉ được soạn tập chứ chưa có kĩ thuật ấn loát, tất cả đều nhờ sự viết chép, cho mãi đến đời Tống mới có bản in. Toàn bộ Đại tạng kinh Hán văn lần đầu tiên được vua Tống thái tổ cho khắc bản và in tại Thành đô, đất Thục, đây tức là bản Khai bảo tạng. Từ đó về sau, công tác khắc in tạng kinh tiếp tục được thực hiện. Đời Tống gồm có các bản: Khiết đan tạng bản Liêu, Kim tạng bản Kim, Vạn thọ tạng, Tì lô tạng bản Phúc châu, Viên giác tạng, Tư phúc tạng, Thích sa tạng bản Hồ châu v.v... Đời Nguyên có tạng Phổ ninh và tạng Hoằng pháp ấn hành theo bản đời Tống, nhưng cuối đời Nguyên, trong nước loạn lạc, tạng kinh bị thiêu hủy gần hết. Khoảng năm Hồng vũ đời vua Thái tổ nhà Minh, các bậc thạc đức được triệu tập ở Tưởng sơn, kiểm xét lại tạng kinh để khắc in Nam tạng, nhưng việc kiểm xét không được kĩ nên còn có chỗ sai lầm. Ngoài Nam tạng ra, còn có Bắc tạng bản chùa Lăng nghiêm, bản chùa Báo ân v.v... Từ năm Ung chính 13 đời vua Thế tông đến năm Càn long thứ 3 (1735 - 1738) đời vua Cao tông nhà Thanh, Long tạng được khắc in, có thêm nhiều sách mới. Ngoài ra còn có tạng Tần già, tạng Bách nạp, và năm 1956, bắt đầu ấn hành Trung hoa đại tạng kinh, và năm 1988 tiếp tục xuất bản Phật quang đại tạng kinh... Tạng Cao li cũng thuộc về hệ thống Hán văn, bắt đầu khắc vào thời vua Hiển tông năm thứ 2 (1011), lấy tạng Khai bảo đời Tống làm bản chính, đây tức là bản Đại tạng Cao li đầu tiên. Đến thời vua Tuyên tông (Cao li) lại bắt đầu khắc bản Tục tạng. Năm Cao tông 22 (1236), bắt đầu khắc lại bản Đại tạng Cao li, tức là bản lưu truyền hiện nay. (xt. Trung Văn Đại Tạng Kinh). 4. Tạng Nhật bản: Kinh điển Phật do Nhật bản khắc in vốn thuộc hệ thống Hán văn, nhưng vì sự nghiệp khắc in tạng kinh ở Nhật bản rất thịnh, cho đến thời gần đây, việc biên tập Đại tạng kinh càng tiến tới hoàn chỉnh. Nhật bản bắt đầu ấn hành tạng Thiên hải vào thời Đức xuyên. Bản tạng này được khắc in theo bản đời Tống và đời Nguyên của Trung quốc. Kế đến, có tạng Hoàng bá khắc lại bản tạng chùa Lăng nghiêm đời Minh. Thời Minh trị, Thư viện Hoằng giáo ấn hành tạng kinh Súc loát, được đối chiếu theo bốn tạng kinh: Cao li, Tống, Nguyên, Minh, đồng thời, thêm vào một số tác phẩm do người Nhật soạn. Năm Minh trị 35 đến 38 (1902 - 1905), Thư viện Tạng kinh ấn hành Vạn tự chính tạng, lấy bản Hoàng bá và bản Cao li làm chính, rồi tham chiếu bản Minh mà thành. Năm Minh trị 38 đến niên hiệu Đại chính năm đầu (1912) Viện Nhật bản tạng kinh sưu tập những kinh còn sót chưa được đưa vào Vạn tự tạng mà in thành Vạn tự tục tạng. Năm Minh trị 44 đến năm Đại chính 11 (1923) hội xuất bản sách Phật ở Tokyo, tiếp tục ấn hành bộ Phật giáo toàn thư, trong đó, lấy những tác phẩm của người Nhật làm chính, tức là bộ Nhật Bản Phật Giáo Toàn Thư. Đồng thời, hội Biên soạn Đại tạng kinh Nhật bản ấn hành Nhật Bản Đại Tạng Kinh do Trung dã Đạt tuệ chủ biên. Năm Đại chính 13 (1925), nhóm các ông Cao nam Thuận thứ lang bắt đầu ấn hành Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh, đến năm Chiêu hòa thứ 7 (1932) thì hoàn tất, tập đại thành tạng kinh Hán văn từ xưa đến nay, gồm hơn 10.000 quyển kinh, luật, luận, bao quát tất cả những tác phẩm Phật giáo trứ danh của Ấn độ, Trung quốc, Nhật bản, Triều tiên, là bộ Đại tạng kinh hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay. Ngoài ra, còn có Nam Truyền Đại Tạng Kinh và Quốc Dịch Nhất Thiết Kinh ấn hành bằng tiếng Nhật. (xt. Trung Văn Đại Tạng Kinh). 5. Tạng Tây tạng: Khoảng thế kỉ thứ VII, Quốc vương Tây tạng là Sron-btsan-sgam-po, gửi Đại thần Thon-mi-sam bhota đến Ấn độ học, khi về nước, ông mang theo rất nhiều kinh điển bằng tiếng Phạm. Sau đó lấy tiếng Phạm làm nền tảng, ông sáng tạo ra văn tự Tây tạng, đồng thời, bắt đầu công cuộc phiên dịch kinh Phạm. Khoảng thế kỉ VIII, IX, sự nghiệp phiên dịch kinh điển ở Tây tạng rất phát đạt. Ngoài việc phiên dịch, chư tăng Tây tạng còn biên soạn rất nhiều sách chú thích, tông nghĩa, lịch sử v.v... Đến thế kỉ XIV, Buston chia tất cả kinh điển làm hai loại: 1. Cam châu nhĩ (Tạng: Bka#-#gyur), gồm kinh, luật. 2. Đan châu nhĩ (Tạng: Bstan-#gyur) gồm các bộ luận. Từ trước đến nay có rất nhiều bản tạng kinh Tây tạng. Vào thế kỉ XIII, Tây tạng đã bắt đầu khắc in tạng kinh Cựu nại đường, về sau có tới mười hai loại bản như: Tạng Lí đường, tạng Đức cách, tạng Tân nại đường, tạng Trác ni, tạng Bố na khắc, tạng Kiệt côn bành, tạng Khước mẫu đà, tạng Vĩnh lạc, tạng Vạn lịch, tạng Bắc kinh và tạng Lạp tát... Trong đó, tiêu biểu nhất thì có tạng Cách đức, tạng Tân nại đường và tạng Bắc kinh, đặc biệt tạng Cách đức là bộ Đại tạng hoàn chỉnh nhất trong các bộ Đại tạng kinh Tây tạng. (xt. Tây Tạng Đại Tạng Kinh). 6. Các Tạng khác: Ba tạng kinh Tây tạng được lưu hành ở vùng Trung á, đến khoảng thế kỉ XIII, vua Thế tổ nhà Nguyên là Hốt tất liệt xâm lăng Tây tạng, tin sùng Lạt ma giáo, tôn ngài Bát tư ba làm Quốc sư, Bát tư ba sáng chế ra văn tự Mông cổ, rồi phiên dịch kinh điển Phật bằng văn Tây tạng ra tiếng Mông cổ. Đến đầu thế kỉ XIV, vị tăng Lạt ma của phái Tát ca tên là Chos-kyi hod-zer cùng với tỉ khưu Châu mân và nhiều học giả Tây tạng, Mông cổ, Hồi cốt, Trung quốc v.v... nối tiếp nhau hoàn thành sự nghiệp truyền dịch Đại tạng kinh Mông cổ. Đại tạng kinh Mãn châu bắt đầu vào thế kỉ XVIII, trước hết, dịch Phật bộ trong tạng kinh Tây tạng, Mông cổ. Thời vua Thế tông nhà Thanh, lãnh tụ Hoàng giáo ở Bắc kinh lúc đó là Thổ quán hô đồ khắc đồ đời thứ I, phụng sắc phiên dịch Cam châu nhĩ ra ba thứ tiếng Mãn châu, Mông cổ, Tây tạng đối chiếu, rồi hoàn thành phiên dịch trọn bộ Đại tạng Tây tạng vào năm Càn long 55 (1790). Được biết, trên thế giới hiện nay chỉ có một bộ tạng kinh văn Mãn châu duy nhất và được bảo tồn tại Nhật bản. Tây hạ bắt đầu dịch Đại tạng kinh vào niên hiệu Cảnh hựu năm đầu (1034) đời vua Nhân tông nhà Tống. Lúc đó, vua Tây hạ là Triệu nguyên hạo thỉnh được Đại tạng kinh từ nhà Tống, sau đó, lập viện nghiên cứu hai thứ chữ Thổ phồn và Hán, rồi sáng chế ra văn tự Tây hạ và thỉnh các vị tăng người Hồi cốt phiên dịch kinh Phật, đến năm Đại đức thứ 6 (1302) đời Nguyên thì hoàn thành toàn tạng, gồm hơn 3.600 quyển. Nhưng đời sau chỉ tìm thấy vài trăm bộ bản khắc văn Tây hạ. Ngoài ra, phong trào nghiên cứu Đông phương học của các học giả phương Tây thời cận đại mỗi ngày một thịnh, nền Phật học cũng dần dần thu hút sự chú ý của giới học thuật Âu Mĩ và sự phiên dịch kinh điển Phật giáo càng được xem trọng. Ở thời kì đầu, phần lớn kinh điển Phật giáo chỉ được phiên dịch từ tạngPàli, sau khi nguyên điển tiếng Phạm được phát hiện thì dần dần kinh điển Phạm ngữ cũng được dịch ra các thứ tiếng Âu Mĩ, nhưng đến nay không còn được tiếp tục. [X. Phật tổ thống kỉ Q.47; Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục (bản tiếng Anh); Đại tạng kinh chi thành lập dữ truyền bá; Trung quốc đại tạng kinh phiên Kinh Pháp Cú đào được ở Tây Vực Kinh thuộc Bí mật bộ chữ Mông Cổ dịch khắc ấn sử; Trung quốc đại tạng kinh điêu khắc sử thoại (Thích Đạo an)]. (xt. Tây Hạ Văn Đại Tạng Kinh).
đại tạng kinh cương mục chỉ yếu lục
902凡八卷。宋代惟白集。略稱大藏經指要錄、大藏綱目、綱目指要、綱目。內容係就大藏經所收之諸經論,闡釋其經題,並略示其綱要。本書作於宋徽宗崇寧三年(1104)。
; (大藏經綱目指要錄) Gồm 13 quyển (trong chính văn Đại tạng chỉ có 8 quyển), do ngài Duy bạch biên tập vào đời Tống. Gọi tắt: Đại tạng kinh chỉ yếu lục, Đại tạng cương mục, Cương mục chỉ yếu, Cương mục. Nội dung giải thích rõ tên kinh và trình bày sơ lược về những điểm nòng cốt của các kinh luận được đưa vào tạng. Sách này được soạn vào năm Sùng trinh thứ 3 (1104) đời vua Huy tông nhà Tống.
đại tạng kinh mục lục
893即歷來各種漢文大藏經之書目。又稱眾經目錄、一切經目錄、藏經目錄、經錄。在我國,經典之翻譯自後漢至元代,凡千餘年間,所出之經律論等多達數千卷。初時譯出之部數較少,且散於各處譯出,故尚無一定之目錄,前秦以後逐漸搜集編成,其後又次第增補,遂有數十種之多。歷代三寶紀卷十五列舉出二十四家錄,然此等諸錄至隋代皆已佚失,其中東晉道安所編綜理眾經目錄(又稱釋道安錄),出三藏記集收載其要目。歷代三寶紀卷十五除二十四家錄外,另舉出六家之經錄,然此六家經錄中,僅存出三藏記集及大隋眾經目錄。此外,梁高僧傳卷七舉出劉宋曇宗之經目,廣弘明集卷三舉出梁代阮孝緒之佛法錄三卷等,然此等經錄均已佚失。 由撰述目的之不同,經錄內容亦有各種特色,有將各時代之譯經依朝代先後記錄者(代錄之目錄),有以大小乘、經律論、單譯、重譯之分類為主者(標準入藏錄、分類整理之目錄),有將特定寺院所收經藏之現存經予以目錄化者(現藏入藏目錄),復有將上述各類加以組合,或全體總合者(總合之目錄)。現存之主要經錄如下:(一)出三藏記集,十五卷,梁代僧祐撰輯。本錄分十七篇,其中撰出經律論錄、安公古異經錄、安公失譯經錄、安公涼土異經錄、安公關中異經錄、續撰失譯雜經錄、抄經錄、安公疑經錄、疑經偽撰雜錄、安公注經及雜經志錄等十篇,計列二二一一部,四二五一卷。本錄為現存最古之經錄,可信度頗高,係繼東晉道安錄之後所撰者,故凡有關後漢、三國、西晉、東晉時代之譯經,皆以本錄為首要之參照經錄。(二)眾經目錄,七卷,又稱法經錄,隋開皇十四年(594)法經等奉詔撰輯。收二二五七部,五三一○卷。本錄不分經典之存缺,而將當時已翻譯及記載於各經錄之所有經典,全數目錄化,即所謂標準入藏錄。所載有關北朝之譯經資料,為出三藏記集所欠缺者。(三)歷代三寶紀,十五卷,隋開皇十七年費長房奉詔撰輯。入藏錄收一○七六部,三二九二卷。本錄關於北朝及隋代之譯經,有其資料價值,然對古代之譯經而言,則多混亂。(四)眾經目錄,五卷,又稱隋仁壽年內典錄、仁壽錄,仁壽二年(602)彥琮等奉詔撰輯。收二一○九部,五○五八卷。本錄係依法經錄分類整理之方法為基準,蒐羅隋代現存之經典所成,並附載缺本目錄,為現藏入藏錄中之較優者。(五)大唐內典錄,十卷,唐麟德元年(664)道宣撰。入藏錄收八○○部,三三六一卷。本錄之入藏錄為唐代之現藏入藏錄,承仁壽錄之形式,係根據長安西明寺之大藏經而作成。又本錄在「代錄」與「分類整理目錄」兩種性質之間,缺乏統籌連貫之處理,故尚非統一之總合目錄。(六)續大唐內典錄,一卷,唐麟德元年道宣撰輯。本錄僅記載後漢之譯經部分。(七)大唐東京大敬愛寺一切經論目錄,五卷,又稱眾經目錄、靜泰錄,唐麟德年中(664~665)靜泰奉詔撰輯。收二二一九部,六九九四卷。本錄為唐代之現藏入藏錄,沿用仁壽錄之形式,係根據洛陽大敬愛寺之大藏經而作成。(八)古今譯經圖紀,四卷,唐代靖邁撰輯。內無入藏錄,而於「譯人別」中,列出二○二○餘部,六一八○餘卷。本錄之「古代譯經」部分頗受歷代三寶紀之混亂所影響。(九)大周刊定眾經目錄,十五卷,武周天冊萬歲元年(695)明佺等奉詔撰輯。入藏錄收八六○部,三九二九卷。本錄不含代錄,係由刊定入藏錄(標準入藏錄)與現定入藏錄(現藏入藏錄)所成之分類整理目錄。以其廣泛採用歷代三寶紀之記載,故資料價值不高。(十)續古今譯經圖紀,一卷,唐開元十八年(730)智昇撰輯。本錄追補古今譯經圖紀以後譯出之經典一六○餘部,六四○餘卷。(十一)開元釋教錄,二十卷,唐開元十八年智昇撰輯。入藏錄收一○七六部,五○四八卷。本錄總合統一古來所有之目錄,代錄與分類整理目錄之間有嚴密之連貫性,其分類整理目錄包含標準入藏錄與現藏入藏錄。大體而言,本錄目錄完備,記載正確,分類合宜,為歷來大部分藏經所沿用,並首將中國之撰述正式入藏。又昔時常以「一切經五千餘卷」作為大藏經之代稱,亦由本錄而來。(十二)開元釋教錄略出,四卷,唐開元十八年智昇撰輯。收一○七六部,五○四八卷。本錄乃將開元釋教錄入藏錄別出而成者。(十三)大唐貞元續開元釋教錄,三卷,唐貞元十年(794)圓照撰輯。入藏錄續補開元釋教錄之遺漏者,及其後新譯之經論、古今制令碑表記等三四三卷。(十四)貞元新定釋教目錄,三十卷,唐貞元十六年圓照奉詔撰輯。入藏錄收一二五八部,五三九○卷。本錄除追加開元錄以後七十年間之譯經外,其餘皆承襲開元錄之記載。(十五)大唐保大乙巳歲續貞元釋教錄,一卷,南唐保大三年(945)恆安撰輯。本錄追補開元、貞元二錄之遺漏及其後新譯等一三七部,三四三卷。(十六)大中祥符法寶錄,二十二卷,北宋大中祥符六年(1013)楊億等奉詔撰輯。本錄收宋太平興國七年(982)至大中祥符四年等二十九年間之新譯經典二○○部,三八四卷。(十七)天聖釋教錄,三冊,北宋天聖五年(1027)惟淨等撰輯,收六一九七卷。(十八)景祐新修法寶錄,二十一卷,北宋景祐三年(1036)呂夷簡等奉詔撰輯。本錄追加由大中祥符四年至景祐四年等二十七年間所譯之經典十九部,一五○卷。(十九)至元法寶勘同總錄(即元版弘法藏之目錄),十卷,元至元二十六年(1289)慶吉祥等奉詔撰輯。收一六四四部。本錄對照漢譯及西藏譯經典,此一特點為歷來各種經錄中所無者。本錄為宋代以後所撰經錄中之重要者。 上記十九種經錄中,前十五種分別為大正藏第四十九及五十五冊所收。其次三種,「宋藏遺珍」中收之,均為殘本。最後之至元法寶勘同總錄,亦收於大正藏「法寶總目錄」第二卷。又宋代以後開版之各種大藏經頗多,均附有目錄,此等目錄皆屬現藏入藏錄。〔歷代三寶紀卷七、卷九、法苑珠林卷一○○、開元釋教錄卷十、大周刊定眾經目錄卷一、卷三、卷四、卷六、隋書經籍志第三十、唐書藝文志第四十九〕
; (大藏經目錄) Sách chuyên chia loại, sắp xếp tên các kinh, luật, luận và những tác phẩm chú sớ trong Đại tạng kinh Hán văn trải qua các đời. Cũng gọi Chúng kinh mục lục, Nhất thiết kinh mục lục, Tạng kinh mục lục, Kinh lục. Ở Trung quốc, việc phiên dịch kinh điển từ đời Hậu Hán đến đời Nguyên, khoảng hơn một nghìn năm, những kinh, luật, luận được dịch ra có tới mấy nghìn quyển. Thời kì đầu, các kinh được dịch ra rất ít, lại tản mạn ở nhiều nơi, nên chưa có mục lục nhất định. Từ đời Tiền Tần trở về sau, các kinh dần dần được sưu tập và biên soạn thành mục lục, sau lại lần lượt được bổ sung thêm, nên có tới vài chục loại. Lịch đại tam bảo kỉ quyển 15 có ghi 24 bản mục lục, nhưng đến đời Tùy, hầu hết những bản lục này đều đã thất lạc. Trong đó, có bộ Tông lí chúng kinh mục lục (cũng gọi Thích đạo an lục) do ngài Đạo an biên tập vào thời Đông Tấn mà Xuất tam tạng kí tập có thu chép những mục trọng yếu. Ngoài những bộ mục lục kể trên, Lịch đại tam bảo kỉ quyển 15 còn nêu ra những bộ kinh lục của sáu tác giả, nhưng hiện nay chỉ còn Xuất tam tạng kí tập và Đại tùy chúng kinh mục lục mà thôi. Ngoài ra, Lương cao tăng truyện quyển 7 có nêu ra Kinh mục của ngài Đàm tông đời Lưu Tống, Quảng hoằng minh tập quyển 3 có nêu Phật pháp lục 3 quyển của ông Nguyễn hiếu tự đời Lương, nhưng các bộ Kinh lục này đều không còn. Do mục đích soạn thuật bất đồng, nên nội dung kinh lục cũng có những sắc thái riêng, có loại theo các triều vua trước sau mà ghi chép thời đại dịch kinh (mục lục đại lục), có loại chú trọng việc chia loại Đại thừa, Tiểu thừa, kinh, luật, luận, đơn dịch, trùng dịch (Tiêu chuẩn nhập tạng lục, Phân loại chỉnh lí mục lục), có loại làm mục lục của các kinh hiện còn ở các chùa viện để đưa vào Đại tạng (hiện tàng nhập tạng mục lục); cũng có loại tổ hợp các loại nói trên thành nhóm, hoặc tổng hợp toàn thể (mục lục tổng hợp). Những bộ kinh lục chủ yếu hiện còn như sau: 1. Xuất tam tạng kí tập, 15 quyển, do ngài Tăng hựu biên tập vào đời Lương. Bản lục này liệt kê 2.211 bộ kinh, gồm 4.251 quyển. Đây là bộ kinh lục xưa nhất hiện còn, mức độ khả tín rất cao, được biên tập tiếp theo sau bộ lục của ngài Đạo an đời Đông Tấn; cho nên, phàm có liên quan đến các kinh được phiên dịch vào các thời đại Hậu Hán, Tam Quốc, Tây Tấn, Đông Tấn... đều lấy nó làm tư liệu tham khảo chủ yếu trước tiên. 2. Chúng kinh mục lục, 7 quyển, cũng gọi Pháp kinh lục, do ngài Pháp kinh vâng mệnh vua soạn tập vào năm Khai hoàng thứ 4 (594) đời Tùy. Nội dung thu tập 2.257 bộ, 5.310 quyển. Bản lục này có ghi chép tư liệu dịch kinh của Bắc triều mà Xuất tam tạng kí tập đã không ghi. 3. Lịch đại tam bảo kỉ, 15 quyển, do Phí trường phòng vâng mệnh vua soạn tập vào năm Khai hoàng 17 đời Tùy. Bản lục này thu tập 1.076 bộ, 3.292 quyển, đối với việc dịch kinh ở Bắc triều và ở đời Tùy, là tư liệu có giá trị, nhưng đối với các kinh dịch từ trước đó thì rất lộn xộn. 4. Chúng kinh mục lục, 5 quyển. Cũng gọi Tùy nhân thọ niên nội điển lục, Nhân thọ lục, do ngài Ngạn tông vâng mệnh vua soạn tập vào năm Nhân thọ thứ 2 (602). Nội dung thu chép 2.109 bộ, 5.058 quyển. Bản lục này chủ yếu sưu tập những kinh điển hiện còn ở đời Tùy. 5. Đại đường nội điển lục, 10 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào niên hiệu Lân đức năm đầu (664) đời Đường, gồm thu 800 bộ, 3.361 quyển. 6. Tục đại đường nội điển lục, 1 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn. Nội dung bản này chỉ ghi chép phần kinh dịch ở đời Hậu Hán. 7. Đại đường đông kinh Đại kính ái tự nhất thiết kinh luận mục lục, 5 quyển. Cũng gọi Chúng kinh mục lục, Tĩnh thái lục, do ngài Tĩnh thái vâng mệnh vua soạn tập trong năm Lân đức (664 - 665) đời Đường. Nội dung gồm 2219 bộ, 6994 quyển. Bản lục này căn cứ vào Đại tạng kinh ở chùa Đại kính ái tại Lạc dương mà soạn thành. 8. Cổ kim dịch kinh đồ kỉ, 4 quyển, do ngài Tĩnh mại soạn tập vào đời Đường, liệt kê 2020 bộ, hơn 6180 quyển. Phần Cổ đại dịch kinh chịu rất nhiều ảnh hưởng về sự lộn xộn của Lịch đại tam bảo kỉ. 9. Đại chu san định chúng sinh mục lục, 15 quyển, do ngài Minh thuyên phụng sắc soạn tập vào niên hiệu Thiên sách vạn tuế năm đầu (695) đời Vũ chu, thu chép 860 bộ, 3929 quyển. Vì bản lục này sử dụng những ghi chép trong Lịch đại tam bảo kỉ một cách rộng rãi, nên giá trị tư liệu không cao. 10. Tục cổ kim dịch kinh đồ kỉ, 1 quyển, do ngài Trí thăng soạn tập vào năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường. Nội dung thu tập 160 bộ, hơn 640 quyển kinh được phiên dịch từ Cổ kim dịch kinh đồ kỉ trở về sau để bổ túc cho nó. 11. Khai nguyên thích giáo lục, 20 quyển, do ngài Trí thăng soạn tập vào năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường. Nội dung gồm 1.076 bộ, 5.048 quyển. Nói một cách đại thể, bản mục lục này hoàn bị, ghi chép chính xác, chia loại hợp lí, đồng thời, chính thức đưa các tác phẩm Trung quốc vào tạng. Hơn nữa, thời xưa thường dùng từ ngữ Nhất thiết kinh ngũ thiên dư quyển (Tất cả có hơn 5.000 quyển kinh) để gọi thay cho Đại tạng kinh, cũng đã bắt nguồn từ bản lục này. 12. Khai nguyên thích giáo lục lược xuất, 4 quyển, do ngài Trí thăng soạn tập vào năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường. Bản lục này là do lấy riêng phần Nhập tạng lục trong Khai nguyên thích giáo lục mà thành, cũng thu 1.076 bộ, 5.048 quyển. 13. Đại đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục, 3 quyển, do ngài Viên chiếu soạn tập vào năm Trinh nguyên thứ 10 (794) đời Đường, gồm thu 34 quyển mà Khai nguyên thích giáo lục đã bỏ sót để bổ sung và những kinh luận mới dịch về sau. 14. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục, 30 quyển, do ngài Vân chiếu vâng mệnh vua soạn tập vào năm Trinh nguyên 16 đời Đường. Nội dung thu chép 1.258 bộ, 5.390 quyển. 15. Đại đường bảo đại Ất tị tuế tục trinh nguyên thích giáo lục, 1 quyển, do ngài Hằng an soạn tập vào năm Bảo đại thứ 3 (945) đời Nam đường. Nội dung ghi chép 137 bộ, 343 quyển kinh mới dịch sau mà Khai nguyên và Trinh nguyên hoặc bỏ sót, hoặc chưa thu. 16. Đại trung tường phù pháp bảo lục, 33 quyển, do nhóm các ông Dương ức vâng sắc chỉ của vua soạn tập vào năm Đại trung tường phù thứ 6 (1013) đời Bắc Tống. Bản lục này thu 200 bộ, 384 quyển kinh điển mới dịch trong khoảng 29 năm từ năm Thái bình hưng quốc thứ 7 (982) đến năm Đại trung tường phù thứ 4 đời Bắc Tống. 17. Thiên thánh thích giáo lục, 3 tập, do ngài Duy tịnh biên soạn vào năm Thiên thánh thứ 5 (1027) đời Bắc Tống, thu 6197 quyển. 18. Cảnh hựu tân tu pháp bảo lục, 21 quyển, do nhóm các ông Lữ di giản vâng mệnh vua soạn tập vào năm Cảnh hựu thứ 3 (1036) đời Bắc Tống. Bản lục này thu 19 bộ, 150 quyển được dịch trong khoảng 27 năm từ năm Đại trung tường phù thứ 4 đến năm Cảnh hựu thứ 4. 19. Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục (tức là mục lục Hoằng pháp tạng bản đời Nguyên), 10 quyển, do các ngài Khánh cát tường v.v... phụng sắc soạn tập vào năm Chí nguyên 26 (1289) đời Nguyên. Nội dung thu tập 1.644 bộ. Bản lục này đối chiếu các kinh điển giữa bản Hán dịch và Tây tạng dịch, đó là một đặc điểm mà chưa một bản kinh lục nào làm từ trước đến nay. Trong 19 bản kinh lục kể trên đây, 15 bản trước được đưa vào Đại chính tạng tập 49 và tập 55. Ba bản kế tiếp được thu vào Tống tạng di trân. Riêng Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục cũng được xếp vào Đại chính tạng Pháp bảo tổng mục lục quyển 2. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.7, Q.9; Pháp uyển châu lâm Q.100; Khai nguyên thích giáo lục Q.10; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.1, Q.3, Q.4, Q.6; Tùng thư kinh tịch chí thứ 30; Đường thư nghệ văn chí thứ 49].
đại tạng kinh sách dẫn
900請參閱 大藏經綱目指要錄 或綱目 為日本「大正新脩大藏經」之內容索引。由日本大藏經學術研究會邀請六所佛教大學負責編纂。最初之計劃以日本學者小野玄妙為中心,自一九四三年開始,刊行阿含部、目錄部、法華部各一冊,旋因小野玄妙逝世及二次世界大戰而告中輟。一九五六年,由大谷、高野山、駒澤、大正、立正、龍谷等六所佛教大學重新提議,計劃將「大正新脩大藏經」中之中、印、日等三國撰述部分八十五冊之內容編成四十八冊索引,以小野玄妙之計劃為藍本,分為分類項目別索引、音次索引、字劃索引、四角號碼索引、梵語索引。 本書中,用語之選擇以漢譯大藏經為準,採綜合研究法,每頁選出五十個學術用語,分別配於五十種分類項目。此五十種分類項目以印度撰述部分為中心,逐項再分若干細目,如:(一)教說,經典分類名目(三藏、九分教、十二分教等):(1)通說,(2)三藏,(3)九分教,(4)十二分教。 本索引之特色乃根據最新研究成果,以梵語、巴利語等音譯、固有名詞為中心,盡量附註羅馬拼音原文。其功用甚廣,可查出某一術語在某一部經書中之用例、定義、異名及在各宗派之觀點,或查五十種分類項目之所在以及佛教之人生觀、宇宙觀等各種主題之有關資料。〔簡介研讀大藏經的工具書(覺世第二十期)〕
; (大藏經索引) Sách chỉ dẫn cách tra cứu nội dung Đại chính tân tu đại tạng kinh của Nhật bản, do hội Nghiên cứu học thuật Đại tạng kinh Nhật bản mời sáu trường Đại học Phật giáo phụ trách biên soạn. Kế hoạch đầu tiên do nhà học giả Tiểu dã Huyền diệu làm cột trụ, bắt đầu từ năm 1943, ấn hành các bộ A hàm, Mục lục, Pháp hoa mỗi bộ 1 quyển sách dẫn; sau, vì Tiểu dã Huyền diệu qua đời và cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ nên công việc bị bỏ dở. Năm 1956, sáu trường Đại học Phật giáo là: Đại cốc, Cao dã sơn, Câu trạch, Đại chính, Lập chính và Long cốc đem nội dung phần soạn thuật của Ấn độ, Trung quốc, Nhật bản gồm 85 quyển trong Đại chính tân tu đại tạng kinh biên thành 48 tập sách dẫn, lấy kế hoạch của Tiểu dã Huyền diệu làm nền tảng, chia ra: Phân loại hạng mục biệt sách dẫn, Âm thứ sách dẫn, Tư hoạch sách dẫn, Tứ dác hiệu mã sách dẫn và Phạm ngữ sách dẫn. Trong sách này, lấy các dụng ngữ được dùng trong Đại tạng kinh Hán dịch làm chuẩn, ứng dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, mỗi hạng mục chọn ra 50 dụng ngữ học thuật, lần lượt phối hợp với 50 thứ phân loại hạng mục. Năm mươi thứ phân loại hạng mục này lấy phần soạn thuật của Ấn độ làm trung tâm để lại chia mỗi hạng làm những mục nhỏ, như hạng mục giáo thuyết gồm có: 1. Thông thuyết. 2. Tam tạng. 3. Chín phần giáo. 4. Mười hai phần giáo. Đặc sắc của Sách dẫn này là dựa vào phương pháp nghiên cứu mới nhất, dùng âm Phạm,Pàli và danh từ có sẵn làm trung tâm, phụ chú rõ ràng bằng âm La tinh. Công dụng của sách này rất rộng, nó giúp người học tập, nghiên cứu có thể tra ra cách dùng, định nghĩa, tên khác của một thuật ngữ trong một bộ kinh và quan điểm của mỗi tông phái, hoặc tra cứu nguồn gốc của 50 thứ phân loại hạng mục cho đến những tư liệu có liên quan đến các chủ đề nhân sinh quan, vũ trụ quan của Phật giáo. [X. Giản giới nghiên độc Đại tạng kinh đích công cụ thư (Giác thế kí 20)].
đại tạng mục lục
Ba quyển mục lục về Đại Tạng Kinh của Đại Hàn—A catalogue of the Korean cannon, written in three books.
đại tạng nhất lãm
Mười quyển tóm tắt về Đại Tạng Kinh của cư sĩ Trần Thực viết dưới thời đại nhà Minh—The tripitaka at a glance in 10 books written by Ch'en-Shih of the Ming dynasty.
đại tạng nhất lãm tập
892凡十卷,別有目錄一卷。明代陳實撰。集錄大藏經及其論釋等之要義及重要文句而成。收於大正藏第一○○冊(法寶總目錄第三冊)。全書計有一一八一則,分八門六十品,每一門之首,皆以二文句標示要旨。就其形式、內容而言,實為當代之佛教概論。八門六十品如下:第一門,標題為「首標大覺先容,俯為眾生作則」,有八品十三則。第二門,標題 陛u辨教門究竟,庶使學者知歸」,有六品二十則。第三門,標題為「果於此道可入,豈離自己本來」,有三品六十三則。第四門,標題為「良由善惡二途,故使升沈六道」,有十六品四一九則。第五門,標題為「天堂延以少歡,地獄待其劇苦」,有八品九十七則。第六門,標題為「欲超三界輪迴,是假三乘修證」,有六品一五三則。第七門,標題為「功成果登正覺,相好妙用神通」,有四品四十八則。第八門,標題為「四十九年苦口,末後一切收功」,有九品三五九則。又於各品之中,復分若干節,各節之初,均以七言二句之偈示其梗概,並列記經中重要文句,其終則註明所錄經論之出處,如大藏經卷次、函次。撰者所用之大藏經為北宋東禪等覺院板大藏經。〔明史卷九十八藝文志、四庫全書總目提要卷一四五、中國佛教史籍概論(陳垣)〕
; (大藏一覽集) Gồm 10 quyển, có riêng 1 quyển mục lục, do Trần thực soạn vào đời Minh, thu vào Đại chính tạng tập 100 (Pháp bảo tổng mục lục tập 3). Nội dung sách này chép nhặt những câu văn quan trọng và nghĩa lí chủ yếu của kinh luận trong Đại tạng kinh, tất cả có 1.181 tắc, chia làm 8 môn 60 phẩm, ở đầu mỗi môn dùng hai câu văn nêu bày yếu chỉ. Có thể nói, đây là sách khái luận về Phật giáo ở đương thời. - Môn thứ 1: Trước hết nêu hình dung của bậc Đại giác, vì thương xót chúng sinh mà làm khuôn phép. Có 8 phẩm 13 tắc. - Môn thứ 2: Biện minh cứu cánh của giáo môn, khiến cho người học biết chỗ quay về. Có 6 phẩm 20 tắc. - Môn thứ 3: Quả do đạo này có thể vào, đâu lìa bản lai tự kỉ. Có 3 phẩm 63 tắc. - Môn thứ 4: Chỉ bởi hai đường thiện ác, nên phải nổi chìm sáu ngả. Có 16 phẩm 419 tắc. - Môn thứ 5: Thiên đường vui được bao nhiêu, địa ngục đang chờ khổ lụy. Có 8 phẩm 97 tắc. - Môn thứ 6: Muốn vượt luân hồi ba cõi, phải nhờ tu chứng Tam thừa. Có 6 phẩm 153 tắc. - Môn thứ 7: Thành công lên ngôi Chính giác, tướng đẹp đủ sáu thần thông. Có 4 phẩm 48 tắc. - Môn thứ 8: Bốn mươi chín năm mỏi miệng, cuối cùng tất cả nhờ công. Có 9 phẩm 359 tắc. Trong mỗi phẩm lại chia ra các tiết, đầu mỗi tiết, đều dùng hai câu kệ bảy chữ trình bày đại cương của tiết ấy và ghi ra những câu văn trọng yếu trong kinh, cuối cùng chỉ rõ xuất xứ các kinh luận, như thứ tự quyển, pho của Đại tạng kinh. Tạng kinh mà soạn giả sử dụng là bản Đại tạng khắc vào đời Bắc Tống ở viện Đông thiền đẳng giác. [X. Minh sử Q.98 Nghệ văn chí; Tứ khố toàn thư tổng mục đề yếu Q.145; Trung quốc Phật giáo sử tịch khái luận (Trần viên)].
đại tạng pháp số
893凡七十卷(本文六十八卷,目錄兩卷)。明代寂照奉敕編集。全稱一代經律論法數。乃廣集散於大藏中之經律論釋而成。由增一法,自一開始,順序排列至八萬四千法門為止,每項皆錄出有關之出典。本書係以大明三藏法數為主要根據,兼採諸乘法數、藏乘法數、教乘法數等書,間亦載錄外典名相。共收四六八五項項目,並附加略注。卷初題有「起教佛祖」,乃揭示教祖釋迦牟尼佛之系圖。
; (大藏法數) Gồm 70 quyển (văn chính 68 quyển, mục lục 2 quyển), do ngài Tịch chiếu vâng mệnh vua biên tập vào đời Minh. Gọi đủ: Nhất đại kinh luật luận pháp số. Nội dung thu tập và giải thích những từ ngữ pháp số của kinh luật, luận gồm 4.685 hạng mục rải rác trong Đại tạng, theo thứ tự từ 1 đến 84.000 pháp môn, mỗi hạng mục đều có nói rõ xuất xứ. Căn cứ chính của sách này là Đại minh tam tạng pháp số, rồi tham khảo thêm các sách: Chư thừa pháp số, Tạng thừa pháp số, Giáo thừa pháp số v.v... Thỉnh thoảng cũng có chép danh tướng của các sách ngoài Phật giáo. Quyển đầu có đồ biểu nêu rõ phổ hệ của đức Phật Thích ca mâu ni, nhan đề Khởi giáo Phật tổ.
đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục
903凡十卷。北宋王古撰,元代管主八續集。略稱法寶標目、標目。內容係就整部之大藏經,依卷帙之順序,解說各經之大綱。本書撰於宋徽宗崇寧四年(1105),乃此類目錄書之嚆矢。第一卷至第六卷前半為大乘經律論,第六卷後半至第八卷前半為小乘經律論,第八卷後半至第九卷前半為聖賢集、傳記、經錄,第九卷後半為貞元譯經,第十卷為宋代新譯經。現行本係元代管主八之續集補訂。古今圖書集成神異典與法寶總目錄均收有本書。〔佛祖統紀卷四十六、閱藏知津卷四十四、宋史藝文志第一五八〕
; (大藏聖教法寶標目) Gồm 10 quyển, do Vương cổ soạn vào năm Sùng ninh thứ 4 (1105) thời Bắc Tống, ngài Quản chủ bát soạn tập tiếp vào đời Nguyên, được thu vào Cổ kim đồ thư tập thành thần dị điển và Pháp bảo tổng mục lục. Gọi tắt: Pháp bảo tiêu mục, Tiêu mục. Nội dung dựa theo thứ tự quyển, pho của toàn bộ Đại tạng để giải thích đại cương của các kinh. Đây là sách mở đầu cho loại sách mục lục sau này. Từ quyển 1 đến nửa phần trước của quyển 6 là kinh, luật, luận Đại thừa, từ nửa phần sau quyển 6 đến nửa phần đầu quyển 8 là kinh, luật, luận Tiểu thừa; nửa phần sau quyển 8 đến nửa phần đầu quyển 9 là Thánh hiền lục, Truyện kí, Kinh lục, nửa phần sau quyển 9 là các kinh dịch vào những năm Trinh nguyên, quyển 10 là các kinh mới được dịch vào đời Tống. [X. Phật tổ thống kỉ Q.46; Duyệt tạng tri tân Q.44; Tống sử nghệ văn chí thứ 158].
đại tạng toàn chú
892請參閱 血盆經 凡八十卷,目錄八卷。清代章嘉國師奉詔撰。全稱御製滿漢蒙古西番合璧大藏全咒。即由清雍正十三年(1735)敕板之大藏經中,抄出陀羅尼咒,以滿、漢、蒙、藏四體合之而成。共有八套,每套各十冊,總計四五一經一○四○二咒。其板式為每頁八行二列,一列之中,右第一行為滿文,依序為漢、蒙、藏文。
; (大藏全咒) Gồm 80 quyển, mục lục 8 quyển, do Quốc sư Chương gia vâng sắc chỉ soạn vào năm Ung chính 13 (1753) đời Thanh. Gọi đủ: Ngự chế Mãn Hán Mông Cổ Tây Phiên hợp bích đại tạng toàn chú. Nội dung sao chép các bài chú bằng bốn thứ chữ Mãn, Hán, Mông, Tạng từ trong Đại tạng kinh, tất cả có 8 bộ, mỗi bộ đều có 10 tập, tổng cộng là 451 kinh, 10.402 bài chú. Về hình thức bản in, mỗi tờ có tám dòng chia làm hai hàng, trong hàng một, dòng thứ nhất bên phải là chữ Mãn châu, rồi đến chữ Hán, Mông cổ, Tây tạng.
đại tần
Tên gọi khác của nước Syria, đế quốc La Mã ở phương đông—Syria, the Eastern Roman Empire.
đại tần bà la
Đơn vị đo lường tương đương với 100.000 tỷ—A measurement unit equivaletn to 100,000 billions.
đại tần cảnh giáo lưu hành trung quốc bi
838唐代基督教分支景教之碑刻。唐德宗建中二年(781)立。明天啟三年(1623)在陝西盩厔縣(東距西安約七十公里)出土,現藏於西安。高二點三六公尺,寬零點八六公尺,厚零點二五公尺。上刻十字架,碑額作「大秦景教流行中國碑頌并序」,碑文為景教教士景淨撰,呂秀嚴書,計一七八○字,概述大秦景教於唐貞觀九年(635)由波斯傳入中國後之活動與基督教教義。碑底及兩側有古敘利亞文教士題名。此碑為研究基督教在中國傳布與古代中西交通之珍貴資料。明天啟五年譯成拉丁文,後又譯成多種外文流傳於世。(參閱「大秦寺」837)
; (大秦景教流行中國碑) Bia khắc ghi việc một chi phái Cơ đốc giáo truyền bá ở Trung quốc, được dựng vào năm Kiến trung thứ 2 (781) đời Đức tông nhà Đường. Bia này được tìm thấy ở huyện Chu trất (cách thành phố Tây an về phía đông khoảng 17 km) tỉnh Thiểm tây vào năm Thiên khải thứ 3 (1623) đời Minh. Bia cao 2,36 m, rộng 0,86m, dày 0,25 m, hiện được cất giữ tại Tây an. Trên khắc chữ Thập, trán bia khắc hàng chữ: Đại Tần Cảnh Giáo Lưu Hành Trung Quốc Bi Tụng Tinh Tự. Văn bia do giáo sĩ Cảnh tịnh soạn, Lữ tú nghiêm viết, gồm 1.780 chữ, đại khái nói về những hoạt động của Đại tần Cảnh giáotừ sau khi được truyền vào Trung quốc từ nước Ba tư vào năm Trinh quán thứ 9 (635) đời Đường và trình bày sơ lược về giáo nghĩa Cơ đốc giáo. Bia này là tư liệu quí giá cho việc nghiên cứu sự truyền bá Cơ đốc giáo ở Trung quốc và sự giao thông giữa Trung quốc với phương Tây thời xưa. Văn bia được dịch ra tiếng La tinh năm 1625, sau còn được dịch ra bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài để lưu truyền.
đại tần quốc
837位於亞洲西端、地中海東岸之古國。相當於古羅馬帝國及小亞細亞一帶。又稱海西國、犁鞬國。自古即與我國有交通往來,當時有「世界極西」之稱。其地所產之金銀奇寶,如火浣布等皆是聞名珍品。高僧傳卷二鳩摩羅什傳(大五○‧三三一上):「龜茲王為造金師子座,大秦錦褥舖之。」 據舊唐書列傳第一四八、大唐西域記卷十一波剌斯國條、釋迦方志卷下波剌斯國條等所載,大秦又稱拂菻,即東羅馬帝國,位於波斯之西北。東羅馬帝國於君士坦丁堡建都後逐漸強盛,兼併小亞細亞及敘利亞等地,並與東方諸國交通往來,我國隋唐時稱其為拂菻。另據大秦景教流行中國碑頌并序之記載,則大秦乃指敘利亞。唐初,基督教中之一派景教傳入我國,而稱大秦景教,並建有大秦寺。 此外,大秦之名,屢見於佛典中,如那先比丘經卷下(大三二‧七○二上):「王言:『我本生大秦國,國名阿荔散(巴 Alasanda)。』」又佛使比丘迦旃延說法沒盡偈一二○章(大四九‧一一中):「將有三惡王,大秦在於前,撥羅在於後,安息在中央。」另如菩薩善戒經卷二菩薩地不可思議品、巴利文大史(巴 Mahāvaṃsa xxix)等所載,「大秦」一詞,均指古代安息國東北方之叟那(巴 Yona),亦即大夏。宋代之後,則「大秦」一稱,又每與波斯混同。至近代,以白鳥庫吉等為代表之日本學者則主張,大秦係指昔時隸屬於羅馬之埃及。〔佛祖統紀卷三十二、卷三十九註、大宋僧史略卷下、後漢書卷七十八大秦國條、唐會要卷四十九、唐書西域列傳第一四六、古今圖書集成邊裔典第六十〕
; (大秦國) Tên một nước xưa ở trên bờ đông Địa trung hải, cực tây châu Á, tương đương với giải đất thuộc Đế quốc Cổ la mã và vùng Tiểu á. Cũng gọi Hải tây quốc, Lê kiện quốc. Nước này từ xưa đã có giao thông liên lạc với Trung quốc, bấy giờ được gọi là Thế giới cực tây. Xứ này sản xuất vàng, bạc và những phẩm vật quí giá có tiếng. Truyện Cưu ma la thập trong Cao tăng truyện quyển 2 (Đại 50, 331 thượng), nói: Vua nước Cưu tư làm tòa sư tử bằng vàng cho ngài (Cưu la ma thập) rồi trải nệm gấm Đại tần lên trên. Cứ theo Cựu đường thư liệt truyện 148, điều Ba lạt tư quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 11 và điều Ba lạt tư quốc trong Thích ca phương chí quyển hạ ghi, Đại tần còn gọi là Phất lẫm, tức là Đế quốc Đông la mã, nằm về mạn tây bắc nước Ba tư. Từ sau ngày xây dựng kinh đô Constantinople, Đế quốc Đông la mã dần dần cường thịnh, thôn tính cả vùng Tiểu á Tế á và Syria đồng thời giao thông qua lại với các nước phương Đông, vào thời Tùy, Đường, Trung quốc gọi nước này là Phất lẫm. Cứ theo văn bia Đại tần Cảnh giáo lưu hành Trung quốc bi tụng tinh tự ghi, thì Đại tần là chỉ cho Syria. Đầu đời Đường, phái Cảnh giáo trong Cơ đốc giáo được truyền vào Trung quốc, gọi là Đại tần Cảnh giáo và có xây dựng nhà thờ Đại tần. Ngoài ra, tên gọi Đại tần thường được thấy trong kinh điển Phật, như kinh Na tiên tỉ khưu quyển hạ (Đại 32, 702 thượng), nói: Vua thưa: Tôi vốn sinh ở nước Đại tần, tên nước là A lệ tán (Pàli:Alasanda). Còn Phật sử tỉ khưu Ca chiên diên thuyết pháp một tận kệ chương 120 (Đại 49, 11 trung), nói: Sẽ có ba ông vua độc ác: Vua nước Đại tần, vua nước An tức và vua nước Bát la. Ngoài ra, phẩm Bồ tát địa bất khả tư nghị trong kinh Bồ tát giới quyển 2 và Đại sử (Pàli: Mahàvaôsa XXIX) bảo rằng Đại tần là chỉ cho nước Tẩu na (Pàli:Yona), cũng tức là nước Đại hạ (Bactria) ở phía đông bắc nước Cưu tư đời xưa. Từ đời Tống về sau, thì tên Đại tần thường hay lẫn lộn với Ba tư. Đến thời cận đại, trong số học giả, có người chủ trương Đại tần chỉ cho Ai cập thủa xưa lệ thuộc La mã. [X. Phật tổ thống kỉ Q.32, Q.39 chú thích; Đại tống tăng sử lược Q.hạ; Hậu Hán thư Q.78 Đại tần quốc điều; Đường hội yếu Q.49; Đường thư tây vực liệt truyện 146; Cổ kim đồ thư tập thành biên duệ điển thứ 60].
đại tần tự
837乃唐代之景教寺院。又稱波斯寺、景寺。唐貞觀九年(635),基督教之分支─景教之聶士托里(Nestorians)遣阿羅本(Olopon)持經像至我國傳道。唐太宗貞觀十二年(638)下詔於長安義寧坊建大秦寺。其後諸帝亦於各州興建景教寺院。初時,誤以為該教布教中心為波斯,故稱波斯寺;後知其根源地為大秦(羅馬帝國),故於玄宗天寶四年(745)改稱大秦寺。建中二年(781),德宗於長安大秦寺建立「大秦景教流行中國碑」,其上記載景教於我國之傳播情形。德宗貞元初年,波斯僧景淨至長安,住於大秦寺,並與般若三藏於寺內譯出六波羅蜜經。武宗破佛,大秦寺亦遭其厄,後改建為崇聖佛寺。明熹宗天啟五年(1625)於西安大秦寺寺跡掘出大秦景教流行中國碑頌,此係研究唐代景教史實之唯一資料。〔唐會要卷四十九大秦寺條、貞元新定釋教目錄卷十七般若三藏傳、大秦景教流行中國碑頌并序(大正藏第五十四冊)〕(參閱「大秦景教流行中國碑」838)
; (大秦寺) Nhà thờ của Cảnh giáo ở đời Đường, Trung quốc. Cũng gọi Ba tư tự, Cảnh tự. Năm Trinh quán thứ 9 (635) đời Đường, những người Cảnh giáo Nestorians - một chi phái thuộc Cơ đốc giáo - sai Olopon mang kinh tượng đến truyền đạo ở Trung quốc. Năm Trinh quán 12 (638), vua Đường Thái tông cho phép xây dựng nhà thờ Đại tần ở phường Nghĩa ninh tại Trường an. Các vua kế tiếp cũng cho phép làm nhà thờ Cảnh giáo ở mỗi châu. Lúc đầu, người ta lầm tưởng trung tâm truyền bá Cảnh giáo là nước Ba tư nên gọi là Ba tư tự. Sau mới biết cảnh giáo bắt nguồn từ Đại tần (Đế quốc La mã) nên vào năm Thiên bảo thứ 4 (745) đời Đường huyền tông mới đổi tên là Đại tần tự. Năm Kiến trung thứ 2 (781), vua Đức tông cho dựng bia Đại tần Cảnh giáo lưu hành Trung quốc ghi lại những hoạt động truyền bá Cảnh giáo ở nước Tàu. Đầu năm Trinh nguyên đời Đức tông, giáo sĩ người Ba tư tên là Cảnh tịnh đến Trường an, ở tại nhà thờ Đại tần và cùng với ngài Tam tạng Bát nhã dịch kinh Lục ba la mật ở nhà thờ này. Khi Đường Vũ tông diệt Phật, nhà thờ Đại tần cũng bị phá hủy, sau được xây dựng lại thành Sùng thánh Phật tự. Năm Thiên khải thứ 5 (1625) đời vua Hi tông nhà Minh, ở chỗ nền cũ của nhà thờ Đại tần tại Tây an, người ta đã đào được tấm bia Đại tần Cảnh giáo lưu hành Trung quốc, đây là tư liệu duy nhất cho việc nghiên cứu về lịch sử Cảnh giáo ở đời Đường tại Trung quốc. [X. Đường hội yếu Q.49 mục Đại tần tự; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.17 truyện Bát nhã tam tạng; Đại tần Cảnh giáo lưu hành Trung quốc bi tụng tinh tự (Đại chính tạng tập 54). (xt. Đại Tần Cảnh Giáo Lưu Hành Trung Quốc Bi).
đại tận
Tháng đủ theo âm lịch. [i]Mật Am ngữ lục[/i] ghi: »只 是 應 時 應 節、 不 失 其 宜、 大 盡 三 十 日、 小 盡 二 十 九、 饑 餐 渇 飲、 任 運 騰 騰。 – [i]Chỉ là tùy theo thời tiết không làm mất chỗ thích nghi, tháng đủ ba mươi ngày, tháng thiếu hai mươi chín ngày, đói ăn khát uống, mặc tình tự tại[/i]«.
đại tập bộ
867大乘經五大部之一。乃藏經之分類名。指大方等大集經及其別出之各支派經典而言。有關其部帙,開元釋教錄卷十一列出大方等大集經以下凡二十四部一四二卷;貞元新定釋教目錄卷二十則加不空所譯之地藏菩薩問法身讚、大虛空藏菩薩念誦法等三部十卷,而舉出二十七部一五二卷;大藏經綱目指要錄卷三總舉二十二部一五二卷。又於現藏之中,宋本收錄二十四部一四一卷,元本收錄二十四部一三九卷,麗本收錄二十七部一五二卷,卍正藏經收錄二十五部一五一卷,大正新脩大藏經收錄二十八部一八四卷。「大集部」之名,係開元釋教錄所定者,明代智旭於閱藏知津中改為方等部,並收寶積、大集二部。〔大明三藏聖教(北藏)目錄卷一、大藏聖教法寶標目卷二、緣山三大藏總目錄〕
; (大集部) Một trong năm bộ lớn của kinh Đại thừa được phân loại và sắp xếp trong tạng kinh, tức là kinh Đại phương đẳng đại tập và tất cả kinh điển thuộc bộ loại này. Về số bộ và quyển, Khai nguyên thích giáo lục quyển 11 liệt kê từ kinh Đại phương đẳng đại tập trở xuống gồm 24 bộ, 142 quyển; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục quyển 20 thì thêm vào Địa tạng bồ tát vấn pháp thân tán, Đại hư không tạng bồ tát niệm tụng pháp v.v... do ngài Bất không dịch gồm 3 bộ, 10 quyển nữa mà thành là 217 bộ, 152 quyển; Đại tạng kinh cương mục chỉ yếu lục quyển 3 thì liệt kê 212 bộ, 152 quyển. Còn trong Đại tạng kinh hiện nay, thì bản đời Tống thu chép 24 bộ, 141 quyển; bản đời Nguyên thu chép 24 bộ, 139 quyển; bản Cao li thu chép 27 bộ, 152 quyển; Vạn chính tạng kinh thu chép 25 bộ, 151 quyển, Đại chính tân tu đại tạng kinh thu chép 28 bộ, 184 quyển. Danh từ Đại tập bộ là do Khai nguyên thích giáo lục đặt định, nhưng, trong Duyệt tạng tri tân, ngài Trí húc đời Minh đổi lại là Phương đẳng bộ và thêm vào hai bộ nữa là Bảo tích, Đại tập. [X. Đại minh tam tạng thánh giáo (Bắc tạng) mục lục Q.1; Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục Q.2; Duyên sơn tam đại tạng tổng mục lục].
đại tập hi chánh pháp kinh
Ta-chi-hui cheng-fa ching (C)Tên một bộ kinh.
Đại tập kinh
大集經; S: mahāsaṃnipāta-sūtra;|Một trong những kinh Phương đẳng của Phật giáo Ðại thừa, thuộc Tam tạng của Trung Quốc. Bộ kinh này xuất phát từ thứ kỉ thứ 6 sau Công nguyên, nội dung không đồng đều và nói nhiều về tính Không. Kinh này chịu nhiều ảnh hưởng của Tan-tra và chứa nhiều Ðà-la-ni và Man-tra.
đại tập kinh
867凡六十卷。北涼曇無讖等譯。全稱大方等大集經(梵 Mahā-saṃnipāta-sūtra,藏 Ḥdus-pa chan-po)。乃大集部諸經之匯編。今收於大正藏第十三冊。係佛陀於成道後第十六年,集合十方佛剎諸菩薩及天龍鬼神等,為彼宣說十六大悲、三十二業等甚深法藏;以大乘六波羅蜜法與諸法性空為主要內容,兼含密教說法及陀羅尼與梵天等諸天護法之事。除「空」之思想以外,尚富濃厚之密教色彩。 全經計分十七品,其品名與內容概述如下:(一)瓔珞品,即卷一前半。敘述佛陀成道後第十六年,昇獅子寶座,為諸菩薩等宣說菩薩所行之無礙法門。(二)陀羅尼自在王菩薩品,即卷一後半至卷四。佛陀為陀羅尼自在王菩薩宣說應修戒定慧三學及陀羅尼之四種瓔珞莊嚴法等。(三)寶女品,即卷五、卷六。敘述寶女童女所成就之三十二種寶心等。(四)不眴菩薩品,為卷七。佛陀為不眴菩薩闡說八陀羅尼門、八精進、八法、八莊嚴、八發心等之要旨。(五)海慧菩薩品,即卷八至卷十一。佛陀對海慧菩薩說示淨印三昧、菩薩之發願、魔業、四天王咒、大乘之意義等。(六)無言菩薩品,即卷十二。佛陀依無言菩薩所說之無言、無聲、空等,一一解說其法性。(七)不可說菩薩品,即卷十三。敘述不可說菩薩所說發無上菩提心之十六法、增長菩提心之三十二法等。(八)虛空藏菩薩品,即卷十四至卷十八。佛陀為虛空藏菩薩說六波羅蜜及菩薩之種種德業。(九)寶幢分,即卷十九至卷二十一。分為魔苦品、往古品、魔調伏品等十三品。(十)虛空目分,即卷二十二至卷二十四。復分為聲聞品、世間目品、彌勒品等十品。(十一)寶髻菩薩品,即卷二十五、卷二十六。佛陀為寶髻菩薩等宣說菩薩之波羅蜜行、助菩提行、神通行及調眾生行等。(十二)無盡意菩薩品,即卷二十七至卷三十。闡說六波羅蜜、四無量心、六通、四攝、四無礙智、四依等之不可盡。(十三)日密分,即卷三十一至卷三十三。包括護法品、四方菩薩集品等六品。(十四)日藏分,即卷三十四至卷四十五。包括護持正法品、陀羅尼品等十三品。(十五)月藏分,即卷四十六至卷五十六。包括月幢神咒品、魔王波旬詣佛所品等二十品。(十六)須彌藏分,即卷五十七、卷五十八。包括聲聞品、菩薩禪本業品等四品。(十七)十方菩薩分,即卷五十九、卷六十。闡說五十種校計罪。 上述十七品中,(一)~(十一)係曇無讖譯。(十二)為南朝劉宋之智嚴、寶雲合譯,有別行本「無盡意菩薩經」。(十三)曇無讖譯。(十四)(十五)(十六)為那連提耶舍譯,其別行本分別為大乘大方等大集日藏經、大乘大方等大集月藏經、大乘須彌藏經。(十七)係纂輯東漢安世高所譯之明度五十校計經而成。又(一)(二)與西晉竺法護所譯之大哀經八卷為同本異譯,(三)與竺法護之寶女所問經四卷為同本異譯,(五)與北宋惟淨所譯之海意菩薩所問淨印法門經十八卷為同本異譯,(六)與竺法護之無言童子經二卷為同本異譯,(八)與唐代不空之大集大虛空藏菩薩所問經八卷為同本異譯,(九)與唐代波羅頗蜜多羅之寶星陀羅尼經十卷為同本異譯,(十)與竺法護之寶髻菩薩所問經二卷為同本異譯,(十一)與竺法護之阿差末菩薩經七卷為同本異譯。 西藏藏經中,別無大集部,僅於其他經典中散見上記所舉諸經之內容,然「月藏分」則全缺。近時,自新疆發掘之梵本斷片,內有相當於本經寶幢分往古品之部分,後由英國學者多瑪斯(F.W. Thomas)校訂出版。本經之注疏本有大集經疏十六卷(佚名)、大集經疏五卷(憬法師集)、月藏分依義立名一卷(信行)等,然今皆不傳。〔出三藏記集卷二、歷代三寶紀卷十二、開元釋教錄卷四、卷七、貞元新定釋教目錄卷六〕
; Mahā-samnipata sŪtra (S)Đại Phương đẳng Đại tập kinhTên một bộ kinh.
; Đại Phương Đẳng Đại Tập Kinh—Mahasamghata-sutra—The sutra of the great assembly of Bodhisattvas from every direction—See Đại Phương Đẳng Đại Tập Kinh.
; (大集經) Gồm 60 quyển, do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương. Gọi đủ: Đại phương đẳng đại tập kinh (Phạm: Mahà-saônipàtasùtra, Tạng: Fdus-pa-chan-po), thu vào Đại chính tạng tập 13. Nội dung tập hợp các kinh thuộc Đại tập bộ, là pháp tạng sâu xa mầu nhiệm, như 16 đại bi, 32 nghiệp v.v... mà đức Phật đã nói cho các Bồ tát và các trời, rồng, quỉ thần trong mười phương cõi Phật nghe sau khi Ngài thành đạo được 16 năm. Chủ yếu nói về sáu pháp ba la mật của Đại thừa, về tính không của các pháp, về Mật giáo và Đà la ni cùng các việc chư Thiên hộ trì chính pháp v.v... Toàn kinh chia ra 17 phẩm: 1. Phẩm Anh lạc: Nửa đầu quyển 1, tường thuật việc đức Phật lên tòa Sư tử nói về pháp môn Vô ngại. 2. Phẩm Đà la ni tự tại vương bồ tát: Từ nửa cuối quyển 1 đến quyển 4, trình bày việc đức Phật nói về Tam học giới định tuệ và 4 pháp Anh lạc trang nghiêm đà la ni cho bồ tát Đà la ni tự tại vương nghe. 3. Phẩm Bảo nữ: Quyển 5 và quyển 6, nói về 32 loại Bảo tâm mà đồng nữ Bảo nữ đã thành tựu. 4. Phẩm Bất huyến bồ tát: Tức quyển 7, đức Phật nói cho bồ tát Bất huyến nghe về ý chỉ chủ yếu của tám môn Đà la ni, tám tinh tiến, tám pháp, tám trang nghiêm, tám phát tâm v.v... 5. Phẩm bồ tát Hải tuệ: Từ quyển 8 đến quyển 10, đức Phật nói cho bồ tát Hải tuệ nghe về ý nghĩa của Đại thừa, phát nguyện của Bồ tát, tam muội Tịnh ấn, chú Tứ thiên vương, Ma nghiệp v.v... 6. Phẩm Vô ngôn bồ tát: Tức quyển 12, đức Phật căn cứ vào những điều bồ tát Vô ngôn trình bày mà giải thích rõ về pháp tính của vô ngôn, vô thanh, không v.v... 7. Phẩm Bất khả thuyết bồ tát: Tức quyển 13, trình bày việc bồ tát Bất khả thuyết nói về 16 pháp phát tâm Vô thượng bồ đề và 32 pháp tăng trưởng tâm bồ đề v.v... 8. Phẩm Hư không tạng bồ tát: Từ quyển 14 đến quyển 18, đức Phật giảng cho bồ tát Hư không tạng nghe về sáu pháp ba la mật và các đức nghiệp của Bồ tát. 9. Bảo chàng phần: Từ quyển 19 đến quyển 21, chia làm 13 phẩm là phẩm Ma khổ, phẩm Vãng cổ, phẩm Ma điều phục v.v... 10. Hư không mục phần: Từ quyển 22 đến quyển 24, chia làm 10 phẩm là phẩm Thanh văn, phẩm Thế gian mục, phẩm Di lặc v.v... 11. Phẩm Bảo kế bồ tát: Từ quyển 25 đến quyển 26, đức Phật nói cho các bồ tát Bảo kế v.v... về các hạnh ba la mật của Bồ tát, hạnh trợ bồ đề, thần thông và điều phục chúng sinh. 12. Phẩm Vô tận ý bồ tát: Từ quyển 27 đến quyển 30, đức Phật giảng rõ về sự vô tận của sáu ba la mật, bốn tâm vô lượng, sáu thần thông, bốn nhiếp pháp, bốn trí vô ngại, bốn chỗ nương tựa v.v... 13. Nhật mật phần: Từ quyển 31 đến quyển 33, gồm 6 phẩm như phẩm Hộ pháp, phẩm Tứ phương Bồ tát tập v.v... 14. Nhật tạng phần: Từ quyển 34 đến quyển 45, gồm 13 phẩm là phẩm Hộ trì chính pháp, phẩm Đà la ni v.v... 15. Nguyệt tạng phần: Quyển 46 đến quyển 56, gồm 20 phẩm như phẩm Nguyệt chàng thần chú, phẩm Ma vương Ba tuần nghệ Phật sở v.v... 16. Tu di tạng phần: Từ quyển 57 và quyển 58, gồm 4 phẩm là phẩm Thanh văn phẩm Bồ tát thiền bản nghiệp v.v... 17. Thập phương Bồ tát phần: Quyển 59 và quyển 60, nói về 50 thứ tội tính toán, so đo. Trong 17 phẩm nêu trên, từ phẩm 1 đến phẩm 11 là do ngài Đàm vô sấm dịch. Phẩm 12 do các ngài Trí nghiêm và Bảo vân dịch chung vào thời Lưu Tống thuộc Nam triều. Phẩm này có bản lưu hành riêng là kinh Vô tận ý bồ tát. Phẩm 13 do ngài Đàm vô sấm dịch. Các phẩm 14, 15, 16 do ngài Na liên đề da xá dịch, những bản lưu hành riêng của 3 phẩm này là: Kinh Đại thừa đại phương đẳng đại tập nhật tạng, kinh Đại thừa đại phương đẳng đại tập nguyệt tạng và kinh Đại thừa Tu di tụng. Phẩm 17 được soạn tập từ kinh Minh độ ngũ thập giáo kế do ngài An thế cao dịch vào thời Đông Hán mà thành. Ngoài ra, còn có các kinh là bản dịch khác của một số phẩm, như phẩm 1 và 2 là kinh Đại ai 8 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. Phẩm 3 là kinh Bảo nữ sở vấn 4 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch. Phẩm 5 là kinh Hải ý bồ tát sở vấn tịnh ấn pháp môn 18 quyển, do ngài Duy tịnh dịch vào đời Bắc Tống. Phẩm 6 là kinh Vô ngôn đồng tử 2 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch. Phẩm 8 là kinh Đại tập đại Hư không tạng bồ tát sở vấn 8 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường. Phẩm 9 là kinh Bảo tinh đà la ni 10 quyển, do ngài Ba la phả mật đa la dịch vào đời Đường. Phẩm 11 là kinh Bảo kế bồ tát sở vấn 2 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch. Phẩm 12 là kinh A sai mạt bồ tát 7 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch. Trong tạng kinh Tây tạng không có Đại tập bộ mà chỉ thấy nội dung của các kinh nêu trên đây được ghi chép rải rác trong các kinh điển khác, nhưng không có Nguyệt tạng phần. Thời gần đây, những mảnh rời rạc của nguyên bản tiếng Phạm đã được đào thấy ở Tân cương, trong đó có phần tương đương với phẩm Vãng cổ trong Bảo chàng phần của kinh này, về sau, học giả F. W. Thomas người Anh giáo đính và xuất bản. Về chú sớ của kinh này thì có Đại tập kinh sớ 16 quyển (Khuyết danh), Đại tập kinh sớ 5 quyển (Pháp sư Cảnh soạn), Nguyệt tạng phần y nghĩa lập danh 1 quyển (Tín hành soạn) v.v... nhưng nay đều đã thất truyền. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; Khai nguyên thích giáo lục Q.4, Q.7; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.6].
Đại tập kinh 大集經
[ja] ダイシュウキョウ Daishūkyō ||| Daji jing; Mahāsamnipata-sūtra. The 'Great Collection Scripture.' 60 fasc., tr. by Dharmakṣema 曇無懺 et. al. T 397.13.1-408. The full title of this text is 大方廣大集經; in this sutra the Buddha explains to other buddhas and bodhisattvas the Mahāyāna principles, such as the theory of emptiness. The sutra is also strongly characterized by esotericism. => (c: Daji jing; s: Mahāsamnipata-sūtra; e: The 'Great Collection Scripture), 60 quyển; Đàm Vô Sám (Dharmakṣema 曇無懺) và các tác giả khác dịch. Tên gọi đầy đủ là Đại phương quảng đại tập kinh; Trong kinh nầy, Đức Phật giảng giải cho các Đức Phật khác và các Bồ-tát đạo lý Đại thừa như giáo lý Tính không. Kinh nầy cũng biểu hiện đậm nét đặc điểm của Mật giáo.
đại tập nguyệt tạng kinh
867凡十卷。隋代那連提耶舍譯。即大方等大集月藏經。略稱月藏分、月藏經。收於大正藏第十三冊。為大方等大集經之後分。本經雖為大集經之一部分,然以其首尾完全,故可視為獨立之一經。其內記載佛於佉羅帝山初化比丘菩薩,並度化眾多魔王、波旬、阿修羅、天、龍、鬼神等歸佛之事蹟。本經與會之會眾有不同種類(菩薩、諸天、鬼神),數量甚多(如有學無學六百萬、諸眷屬八十億那由他百千菩薩摩訶薩),混有世俗之星宿占法等怪異記述,羅列印度十六國及西域諸國之史地,對佛法滅盡之思想並有詳細之描述。〔歷代三寶紀卷十二、大唐內典錄卷六、開元釋教錄略出卷一、貞元新定釋教目錄卷九〕(參閱「大集經」868)
; (大集月藏經) Gồm 10 quyển, do ngài Na liên đề da xá dịch vào đời Tùy. Cũng gọi Đại phương đẳng đại tập nguyệt tạng kinh, gọi tắt: Nguyệt tạng phần, Nguyệt tạng kinh, thu vào Đại chính tạng tập 13. Kinh này tuy là một bộ phận của kinh Đại tập, nhưng rất đầy đủ, cho nên có thể được xem như một kinh riêng biệt. Nội dung kinh này ghi chép sự tích đức Phật đầu tiên giáo hóa các Bồ tát tỉ khưu ở núi Khư la đế, rồi hóa độ Ma vương, Ba tuần, A tu la, Trời, Rồng, Quỉ thần v.v... khiến họ quy y Phật pháp. Chúng hội trong kinh này rất đông và đủ loại; như 600 vạn Hữu học Vô học,80 ức na do tha trăm nghìn quyến thuộc của Đại bồ tát, chư Thiên, quỉ thần v.v... Ngoài ra, còn ghi chép cả thuật chiêm tinh, lịch sử, địa lí của 16 nước ở Ấn độ và các nước Tây vực. Về tư tưởng Phật pháp diệt tận thì miêu tả rất tỉ mỉ. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; Đại đường nội điển lục Q.6; Khai nguyên thích giáo lục lược xuất Q.1; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.9]. (xt. Đại Tập Kinh).
Đại tập nguyệt tạng kinh 大集月藏經
[ja] ダイシュウゲツゾウキョウ Daishū getsuzō kyō ||| Daji yuezang jing; the Candragarbha-sūtra; ten fascicles. A section of the Mahāsamnipata-sūtra [大集經], fasc. 45-56; T 397.13.233-380. tr. by Narendrayaśas 那連提耶舎. Discusses in detail the theory of three periods of the dharma (true dharma, semblance dharma and degenerate dharma). => (c: Daji yuezang jing; e: Candragarbha-sūtra); 10 quyển. Một phẩm của Đại tập kinh (大集經s: Mahāsamnipata-sūtra ), quyển 45-56; Na-liên- đề -da-xá (s: Narendrayaśas 那連提耶舎) dịch.
Đại tập pháp môn kinh 大集法門經
[ja] ダイシュウホウモンキョウ Daishū hōmon kyō ||| Daji famen jing; 2 fasc., trans. Dānapāla 施護. T 12.1.226c-232b. => (c: Daji famen jing); 2 quyển, Thí Hộ (s:Dānapāla 施護) dịch.
đại tập thí dụ vương kinh
Ta-chi p'i-yu wang ching (C)Tên một bộ kinh.
đại tập đại hư không tạng bồ tát sở vấn kinh
Ta-chi Ta-hsu-k'ung-tsang p'u-sa so-wen ching (C)Tên một bộ kinh.
đại tật
Grave illness.
đại tỉ
796乃對婦女之稱呼。於經典中記載係對比丘尼,或出家人對在家女子之尊稱。又在日本,使用為女子戒名之稱號。相對於男子之大居士、居士。〔太子瑞應本起經卷上、四分比丘尼戒本、四分律刪繁補闕行事鈔卷下三〕
đại tỉ khâu tam thiên uy nghi
770請參閱 孔雀王雜神咒經 或 大金色孔雀王咒經 請參閱 孔雀王雜神咒經 或 大金色孔雀王咒經 凡二卷。後漢安世高譯。今收於大正藏第二十四冊。又作大比丘三千威儀經、大比丘威儀經、大僧威儀經、僧威儀經或三千威儀。揭示捨離煩惱、處於閑靜之大比丘,日常應守之威儀規矩。三千但云其多,實則總數不過一千三百八十餘條。〔眾經目錄卷五、歷代三寶紀卷十四、開元釋教錄卷一安世高條、大唐內典錄卷七、大周刊定眾經目錄卷十、開元釋教錄略出卷四〕
; (大比丘三千威儀) Gồm 2 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, thu vào Đại chính tạng tập 24. Cũng gọi Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi kinh, Đại tỉ khưu uy nghi kinh, Đại tăng uy nghi kinh, Tăng uy nghi kinh, Tam thiên uy nghi. Nghĩa là ba nghìn uy nghi, phép tắc mà vị đại tỉ khưu phải giữ gìn hàng ngày để xả bỏ phiền não. [X. Chúng kinh mục lục Q.5; Lịch đại tam bảo kỉ Q.14; Khai nguyên thích giáo lục Q.1 An thế cao điều; Đại đường nội điển lục Q.7; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.10; Khai nguyên thích giáo lục lược xuất Q.4].
đại tỉnh
888(1900~1952)江蘇東臺人,俗姓袁。法名機警。晚年別署隨緣,太虛大師賜號「大醒」,因以字行。早年畢業於東臺師範學校。讀憨山夢遊集,頓起出世之志,因從揚州天寧寺讓之和尚出家,時年二十五。同年夏天,太虛大師講維摩經於光孝寺,師始廁講席,秋,入武昌佛學院,專究內典。民國十七年(1928),應太虛之命,至廈門南普陀寺,任監院,主持閩南佛學院。時革命初奠,佛教危機彌深,而教內猶多因循,師乃創辦現代僧伽月刊(後改名現代佛教),為我國佛教有健全輿論之始。二十一年,隨太虛離廈門。翌年,小住潮汕。冬,還武昌佛學院,主編海潮音,鼓吹人間佛教。二十四年,赴日考察佛教教育,備受歡迎,翌年返國,住持淮陰覺津寺,創辦覺津佛學院、覺津月刊,主持七縣僧眾救護訓練,講學於感化院。會抗戰軍興,師乃退而自修。後嘗住持高郵善因寺,時值戰亂,隨緣而已,故師晚年自署「隨緣老人」。抗戰勝利後,出任中國佛教會整理委員會祕書長。三十五年秋,繼太虛大師住持奉化雪竇寺。三十七年,復主編海潮音,嗣以戰火南侵,攜海潮音來臺復刊,兼任善導寺導師。三十九年,移住新竹香山。四十年,發起主辦臺灣佛教講習會於新竹靈隱寺。冬,以腦溢血臥疾,纏綿及載,四十一年十二月十三日示寂,世壽五十三。著有地藏本願經講要、八指頭陀評傳、日本佛教視察記、口業集、空過日記等,海潮音社輯為大醒法師遺著行世。〔大醒法師行狀(印順)、大醒法師遺著〕
; (大醒) (1900 - 1952) Người Đông đài tỉnh Giang tô, họ Viên, pháp danh Cơ cảnh, hiệu Đại tỉnh (ngài Thái hư đặt cho). Cuối đời sư còn lấy biệt hiệu Tùy duyên. Sư tốt nghiệp trường Sư phạm Đông đài. Năm 25 tuổi, nhân đọc Mộng du tập của ngài Hám sơn, sư nảy chí xuất thế, rồi theo hòa thượng Nhượng chi xuất gia ở chùa Thiên ninh tại Dương châu. Mùa hè năm ấy, lần đầu tiên sư được nghe ngài Thái hư giảng kinh Duy ma ở chùa Quang hiếu, đến mùa thu thì sư vào viện Phật học Vũ xương chuyên nghiên cứu nội điển. Năm Dân quốc 17 (1928), sư vâng mệnh của đại sư Thái hư đến chùa Nam phổ đà ở Hạ môn làm Giám viện, chủ trì viện Phật học Mân nam. Bấy giờ sư sáng lập nguyệt san Hiện đại tăng già (sau đổi là Hiện đại Phật giáo), là tờ báo Phật giáo đầu tiên tại Trung quốc được dư luận chú ý. Năm 1933, sư làm Chủ biên tạp chí Hải triều âm, cổ xúy Phật giáo nhân gian. Năm 1935, sư sang Nhật khảo sát nền giáo dục Phật giáo, năm sau sư về nước trụ trì chùa Giác tân ở Hoài âm, sáng lập viện Phật học Giác tân và nguyệt san Giác tân. Sau, sư trụ trì chùa Thiện nhân ở Cao bưu, gặp thời chiến loạn, sư tùy duyên hóa độ, nên mới tự xưng là Tùy duyên lão nhân. Về sau, Giáo hội Phật giáo Trung quốcđược thành lập, sư làm Tổng thư kí. Mùa thu năm Dân quốc 35 (1946), sư kế thừa đại sư Thái hư trụ trì chùa Tuyết đậu ở Phụng hóa. Năm 1948, sư lại làm Chủ biên tạp chí Hải triều âm, đồng thời, chiến tranh tràn xuống miền Nam, sư bèn đưa tạp chí Hải triều âm ra Đài loan để tiếp tục phát hành và nhận làm đạo sư của chùa Thiện đạo. Năm Dân quốc 39 (1950), sư dời về chùa Hương sơn ở Tân trúc. Năm 40 (1951), sư thành lập hội Đài loan Phật giáo giảng tập ở chùa Linh ẩn tại Tân trúc. Mùa đông năm ấy sư lâm bệnh, ngày 13 tháng 2 năm sau (1952) sư tịch, hưởng dương 53 tuổi. Sư có những trứ tác: Địa tạng bản nguyện kinh giảng yếu, Bát chỉ đầu đà bình truyện, Nhật bản Phật giáo thị sát kí, Khẩu nghiệp tập, Không quá nhật kí v.v... [X. Đại tỉnh pháp sư hành trạng (Ấn thuận); Đại tỉnh pháp sư di trứ].
đại tịch diệt
Đại Niết Bàn—Parinirvana—The great nirvana—The great extinction and passing over from mortality—See Đại Bát Niết Bàn.
đại tịch pháp vương
Đại tịch tĩnh hay niết bàn của pháp vương Đại Nhựt Như Lai—The great tranquil or nirvana dharma-king (Vairocana—Đại Nhựt Như Lai).
đại tịch thất tam muội
See Đại Tịch Định.
đại tịch tính diệu tam ma địa
See Đại Tịch Định.
đại tịch tĩnh tam ma địa
See Đại Tịch Định.
đại tịch định
847又作大涅槃、大滅度。指心專注於一境而不散亂之狀態。即遠離有為、生滅等諸法,而居於究竟空寂之大寂靜。以其體量周遍虛空,故謂之大。又入此定時,能現五德之瑞相。據大寶積經無量壽如來會品所載,釋尊宣說無量壽經時,即入此定。〔無量壽經、北本涅槃經卷三十〕(參閱「五德瑞現」1195)
; Đại Tịch Định Tam Muội—Đại Tịch Tính Diệu Tam Ma Địa—Tam Ma Địa hay phép thiền định mà Như Lai đã vào với trạng thái tịnh tịch và sự tập trung hoàn toàn vắng bặc những xao xuyến loạn động (lìa mọi tán động, rốt ráo tịch tĩnh)—The samadhi which the Tathagata enters, of perfect tranquility and concentration with total absence of any perturbing element (parinirvana).
; (大寂定) Cũng gọi Đại niết bàn, Đại diệt độ. Chỉ cho trạng thái tâm chuyên chú ở một cảnh, không tán loạn. Tức là tâm xa lìa các pháp hữu vi, sinh diệt mà an trụ nơi thiền định rốt ráo rỗng lặng. Đại nghĩa là thể lượng trùm khắp hư không. Cứ theo phẩm Vô lượng thọ Như lai hội trong kinh Đại bảo tích nói, khi đức Thích tôn tuyên giảng kinh Vô lượng thọ, thì Ngài đã vào định này. [X. kinh Vô lượng thọ; kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.30]. (xt. Ngũ Đức Thụy Hiện).
đại tịch định tam muội
See Đại Tịch Định.
đại tịnh chí
Xem Lại trát hoà la.
đại tống tăng sử lược
792請參閱 宋高僧傳 凡三卷。又稱僧史略。宋代贊寧(930~1001)撰。今收於大正藏第五十四冊。係於宋太宗太平興國年間奉詔撰述者。贊寧於序文中表示不滿弘明集與高僧傳等史傳,故另以護教立場而著出此一有關佛教教團制度、儀禮、戒律、懺法等之教團史。卷上敘論佛陀誕生之年代、佛教之東傳、伽藍之創造、譯經、譯論、譯律、出家、受戒、懺悔、經論講義之沿革、僧講、都講,以及禪法傳入我國之經過等。卷中主要敘述教團制度,如僧正、僧統等之沿革,為研究我國佛教史之珍貴資料。卷下敘論紫衣、大師號、戒壇、宗教結社之歷史、齋會、結社之起源,以及度僧之方法。此外亦收錄摩尼教之記事。由此可知,贊寧撰述僧史略之目的在於中興佛教,而使正法久住。〔贊寧及其時代(牧田諦亮)、中國近世佛教史研究〕
; (大宋僧史略) Gồm ba quyển, do ngài Tán ninh (930 - 1001) soạn vào đời Tống, thu vào Đại chính tạng tập 54. Gọi tắt: Tăng sử lược. Trong bài tựa, ngài Tán ninh cho biết vì không vừa ý với Hoằng minh tập và Cao tăng truyện nên ngài mới soạn bộ sách này. Nội dung gồm trong ba quyển như sau: - Quyển thượng trình bày về niên đại đản sinh của đức Phật, sự truyền bá về phương đông của Phật giáo, sự sáng lập già lam, dịch kinh, dịch luận, dịch luật, xuất gia, thụ giới, sám hối, sự thay đổi phương thức giảng kinh luận, Tăng giảng, Đô giảng và quá trình Thiền pháp truyền vào Trung quốc v.v... - Quyển trung chủ yếu tường thuật về chế độ giáo đoàn, như sự thay đổi Tăng chính, Tăng thống v.v... là tư liệu rất quí cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Trung quốc. - Quyển hạ nói về áo đỏ, danh hiệu Đại sư, nguồn gốc trai hội, kết xã và phương pháp độ tăng. Ngoài ra, còn ghi chép các sự kiện về Ma ni giáo. [X. Tán ninh cập kì thời đại (Mục điền Đế lượng); Trung quốc cận thế Phật giáo sử nghiên cứu].
Đại Tống tăng sử lược 大宋僧史略
[ja] ダイソウソウシリャク Daisō sōshi ryaku ||| Da Song sengshi lue; 3 fasc., by Zanning 贊寧. T 2126.54.234-257. => (c: Da Song sengshi lue); 3 quyển. Người dịch Tán Ninh (贊寧c: Zanning ).
đại tổng tướng pháp môn
891指真如之實體。真如廣大,含涵一切,故稱之大;總體一味平等,無差別之相,故稱總相;為修行者之軌範,故稱之法;觀智通遊,故稱之門。大乘起信論(大三二‧五七六上):「心真如者,即是一法界大總相法門體。」
; Thực thể của chân như rộng lớn thâu tóm hết thảy—The Bhutatathata as the totality of things and Mind as the Absolute.
; (大總相法門) Chỉ cho thực thể của chân như. Chân như rộng lớn, bao hàm tất cả, nên gọi là Đại; tổng thể bình đẳng một vị, tướng không sai khác, nên gọi là Tổng tướng; là phép tắc của người tu hành nên gọi là Pháp, trí quán thông suốt nên gọi là Môn. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 576 thượng), nói: Tâm chân như là thể pháp giới đại tổng tướng pháp môn.
đại tội
Thullaccaya (S), Thulaccaya (P), Sthulatyaya (S)Thâu lan giá da, Thâu lan giá, Trọng tội.
; Grave offence.
đại tứ tướng
771大乘起信論疏卷中載,吾人從生至死之一期生命中,受報之相有四,稱大四相。即:(一)生相,指一念托胎,十月滿足,而生此身,稱為生相。(二)住相,既出胎已,住於世間,稱為住相。(三)異相,年少時顏紅體潤,年老則髮白面皺,稱為異相。(四)滅相,業盡命終,身亦壞滅,稱為滅相。
; (大四相) Theo Đại thừa khởi tín luận sớ quyển trung nói, thì cuộc đời con người từ lúc sinh ra cho đến lúc chết có bốn tướng là: 1. Sinh tướng: Chỉ cho một niệm đầu thai, đủ 10 tháng, sinh ra thân này. 2. Trụ tướng: Sau khi ra khỏi thai, trụ ở thế gian. 3. Dị tướng: Khi còn trẻ da dẻ hồng hào, lúc già nua thì tóc bạc mặt nhăn, đổi khác từng giây phút. 4. Diệt tướng: Nghiệp hết mệnh chung, thân cũng hoại diệt.
đại từ
Great loving-kindness.
; Most merciful—Great merciful—Great compassion.
Đại Từ Bi
(大慈悲): tức đại từ, đại bi, nghĩa là tâm từ bi rộng lớn. Như trong Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh (佛說觀無量壽佛經, Taishō Vol. 12, No. 365) có dạy rằng: “Chư Phật tâm giả đại từ bi thị, dĩ vô duyên từ nhiếp chư chúng sanh (諸佛心者大慈悲是、以無緣慈攝諸眾生, tâm của chư Phật là từ bi rộng lớn, lấy lòng từ vô duyên mà nhiếp hóa các chúng sanh).” Hay trong Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp (慈悲道塲懺法, Taishō Vol. 45, No. 1909) quyển 8, phần Phụng Vị Sư Trưởng Lễ Phật (奉爲師長禮佛) thứ 5, có đoạn: “Phụng vị Hòa Thượng A Xà Lê đồng đàn tôn chứng thượng trung hạ tọa các cập quyến thuộc, quy y thế gian đại từ bi phụ (奉爲和上阿闍梨同壇尊證上中下座各及眷屬、歸依世間大慈悲父, kính vì Hòa Thượng, A Xà Lê, chư vị tôn chứng thượng trung hạ tọa cùng giới đàn cùng các quyến thuộc, quy y đấng cha lành đại từ bi của thế gian).” Trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 4, Phẩm Pháp Sư (法師品) thứ 10, cho biết rằng: “Nhất thiết chúng sanh trung đại từ bi tâm thị Như Lai y giả, nhu hòa nhẫn nhục tâm thị Như Lai tòa giả (一切眾生中大慈悲心是如來衣者、柔和忍辱心是如來座者, trong tất cả chúng sanh, tâm đại từ bi là y của Như Lai, tâm nhu hòa nhẫn nhục là tòa ngồi của Như Lai).”
đại từ khoan trung
Tai tzu Huan chung (S), Kwanchu (J), Kwanchu (J)Tên một vị sư.
đại từ pháp vương
876(1354~1435)西藏名 Byams-chen chos-rje,音譯甲卿曲吉、江卿曲吉。為明成祖所賜之封號。名為釋迦智(藏 Śākya-ye-śes),乃宗喀巴之門弟。藏州(藏 Gtsaṅ)根塘(藏 Guṅ-thaṅ)人。自幼即善記憶,入佛門後修苦行以正身口意。復受教於諸多善知識,以修習諸學。皈依宗喀巴後,勤習根本中論、四百觀論、菩提道次第論、祕密集五次第論(梵 Guhyasamāja-pañcakrama),益加充滿悲心,謹行戒律,通曉祕密道。其時明成祖耳聞宗喀巴之美名,乃欲招請之。宗喀巴再三固辭,而派遣釋迦智前往。永樂十二年(1414),釋迦智取道成都至北京,奉命住法淵寺,舉行四祕密部之曼荼羅成就供養。成祖虔信之,且賜予大國師之稱號及黑金印璽。入明後凡兩年間,法王巡錫五臺山等地,其後歸返藏土,聽聞宗喀巴講說註釋明燈、五次第導論、時輪廣註無垢光明、六瑜伽、勝樂根本怛特羅等。其後奉宗喀巴之命,先後建立下部祕密學部(藏 Rgyudsmad grva-tshaṅ)及色拉寺之大乘院(藏 Theg-chen-gliṅ, 1419),色拉寺內安置攜自我國之十六羅漢像及印度經律典籍等。永樂十九年,再次蒙成祖招請,住北京。未幾,帝薨,法王主持葬禮,舉行四祕密之曼荼羅成就供養。一四二六年宣宗即位,亦篤信皈依之。法王復於我國建立寺院,修築古寺,弘法布教。明宣德十年示寂,享年八十二。於荼毘時,傳聞有諸多不可思議之徵兆出現。〔蒙古佛教史、西藏佛教研究〕
đại từ sanh bồ tát
Vị thứ năm trên viện Trừ Cái Chướng trong Mạn Đồ La Thai Tạng Giới—The director or fosterer of pity among all the living. The fifth in the court of Garbhadhatu group.
đại từ tôn
Đức Di Lặc Bồ Tát—The Honoured One with great kindness—Maitreya.
Đại Từ Tự
(大慈寺, Daiji-ji): ngôi chùa con trực thuộc vào ngôi Đại Bản Sơn Vĩnh Bình Tự của Tào Động Tông, biệt xưng là Đại Từ Thiền Tự (大慈禪寺); hiệu là Đại Lương Sơn (大梁山); hiện tọa lạc tại Noda-chō (野田町), Kumamoto-shi (熊本市), Kumamoto-ken (熊本縣). Tượng thờ chính là Thích Ca Tam Tôn. Vị Tổ khai sơn chùa là Thiền sư Hàn Nghiêm Nghĩa Duẫn (寒嚴義尹). Tương truyền Thiền sư là Hoàng Tử của Hậu Điểu Vũ Thiên Hoàng (後鳥羽天皇, Gotoba Tennō) hay Thuận Đức Thiên Hoàng (順德天皇, Juntoku Tennō). Ông đã từng đến tham yết Thiền sư Đạo Nguyên (道元, Dōgen), rồi sau sang nhà Tống cầu pháp tu hành, và được gọi là Pháp Hoàng Trưởng Lão (法皇長老). Vào năm 1278 (Hoằng An [弘安] nguyên niên), vị lãnh chúa vùng đất này là Tả Vệ Môn Tá Thái Minh (左衛門佐泰明) quy y theo Thiền sư, và xây dựng nên chùa này. Quy Sơn Thượng Hoàng (龜山上皇) rất mến mộ đức độ của vị Tổ khai sơn, mới ban tặng cho Tử Y, rồi liệt chùa này vào hạng chùa quan, chỉnh trang già lam; cho nên nhờ vậy chùa rất hưng thạnh. Chùa cũng đã gặp bao lần bị binh hỏa, rồi được Hòa Thượng Động Xuân Tông (洞春宗) tái kiến lại. Chùa được đời đời mấy vị lãnh chúa Gia Đằng Thanh Chánh (加藤清正, Katō Kiyomasa), Tế Xuyên Trung Lợi (細川忠利, Hosokawa Tadatoshi) quy y theo, đến khoảng niên hiệu Nguyên Lộc (元祿, 1688-1704) thì chùa trở thành Chùa Tăng Lục của vùng Cửu Châu (九州, Kyūshū).
đại từ tự
876位於四川成都。古稱震旦第一叢林。創建於唐代,玄宗賜額「大聖慈寺」。多次毀於兵火,今所存者為清代之建築。
; Daiji-ji (J)Tên một ngôi chùa.
đại từ ân tự
876位於西安城南之古寺。又稱慈恩寺。唐貞觀二十二年(648),太子治(高宗)為報其母文德皇后之慈恩,故於進昌無漏寺(一說淨覺寺)之舊址營築該寺。寺分十餘院,一千餘間,莊嚴雄麗。寺成,太子親幸,拜佛像幡華,敕度三百僧,別請五十大德,迎玄奘為上座。且於寺之西北,築造翻經院,安置玄奘所攜回之經像舍利等。後天竺三藏阿地瞿多請來梵筴,因玄奘擔憂經像遭火難、散佚,帝乃令採西域之制,建大雁塔(五層甎塔),安置梵筴等。玄奘所譯出瑜伽師地論一百卷,太宗親製「大唐三藏聖教序」,太子亦親撰序記,各鐫之於石碑。永徽四年(653),由中書令褚遂良書此兩碑文,亦各刻之,置於塔南之後壁。玄奘一生譯經事業大半完成於斯,先後譯有如來示教勝軍王經、佛地經論、因明正理門論本、大乘廣百論釋論、阿毘達磨順正理論等多部。顯慶元年(656),玄奘奏請建立大慈恩寺碑,帝乃親製其文,賜之與寺,仍奉迎於芳林門。三年,西明寺新成,玄奘奉敕移住。麟德元年(664),玄奘示寂於玉華宮,門人遵其遺命,將其柩遷往翻經院,並葬於滻東白鹿原。後有義福繼至,住二十餘年而入寂。德宗時,北印度三藏牟尼室利來此譯經,其後示寂於此。後歷經數代災變,本寺之故址僅存者唯大雁塔,至清康熙年間重加整修,以迄於今。〔釋氏六帖卷二十一、開元釋教錄卷八、舊唐書本紀第四、古今圖書集成職方典第五○五〕
; Chùa Đại Từ Ân được một vị hoàng thái tử (đời vua Đường Thái Tông) xây tại Kinh Đô Trường An vào đời Đại Đường năm 648 sau Tây Lịch. Nơi đây Trần Huyền Trang đã sống và làm việc trong suốt cuộc đời của ông—The moanstery of “Great Kindness and Grace,” built in Ch'ang-An by the crown prince of T'ai-T'ang in 648 A.D. It is said that Hsuan-Tsang lived and worked.
; (大慈恩寺) Ngôi chùa cổ ở phía nam thành Tây an, Trung quốc, do thái tử Trị (Cao tông) xây dựng vào năm Trinh quán 22 (648) đời Đường để báo đáp từ ân của mẹ là hoàng hậu Văn đức. Cũng gọi Từ ân tự. Chùa gồm hơn 10 viện, trên 1.000 gian, trang nghiêm hoành tráng. Khi chùa được hoàn thành, Thái tử đích thân đến dâng hoa lễ Phật, ban lệnh độ 300 người xuất gia làm tăng, thỉnh riêng 50 vị Đại đức đón ngài Huyền trang về làm Thượng tòa. Viện dịch kinh được xây dựng ở phía tây bắc của chùa để thờ kinh, tượng Phật và xá lợi mà ngài Huyền trang đã đưa từ Ấn độ về. Khi ngài Tam tạng A địa cù đa thỉnh được kinh tiếng Phạm từ Thiên trúc mang đến, ngài Huyền trang sợ bị cháy hoặc mất mát, nên vua mới cho kiến thiết tháp Đại nhạn (tháp bằng gạch năm tầng) theo kiểu Tây vực để cất giữ. Ở vách sau phía nam của tháp có hai tấm bia đá khắc bài Đại Đường Tam Tạng Thánh Giáo Tự của vua Thái tông và bài Tự Kí của Thái tử soạn, chữ do quan Trung thư lệnh là Chử toại lương viết vào năm Vĩnh huy thứ 4 (653). Sự nghiệp dịch kinh của ngài Huyền trang hầu hết được hoàn thành ở ngôi chùa này. Niên hiệu Hiển khánh năm đầu (656), ngài Huyền trang tâu vua dựng bia chùa Đại từ ân, vua chấp thuận và tự tay soạn văn bia. Bia này được dựng ở cửa Phương lâm. Về sau, qua nhiều đời gặp tai biến, chùa đã bị hủy hoại, chỉ còn lại tòa tháp Đại nhạn trên nền cũ. Khoảng năm Khang hi đời Thanh, tháp được sửa chữa và giữ gìn cho đến nay. [X. Thích thị lục thiếp Q.21; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Cựu đường thư bản kỉ 4; Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển 505].
đại từ ân tự tam tạng
Một danh hiệu của Trần Huyền Trang—Tripitaka of the “Great Kindnes and Grace” Monastery, a title of Hsuan-Tsang.
đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện
877凡十卷。唐代慧立撰,彥悰增補。收於大正藏第五十冊。全稱大唐大慈恩寺三藏法師傳。略稱慈恩寺三藏法師傳、三藏法師傳、慈恩傳。本書為唐代玄奘大師之傳記,初係慧立撰述,原為五卷,其後彥悰增補為十卷。前五卷記載玄奘出生、西域求法之事蹟;後五卷則載玄奘歸國後之譯經事業。其中有關西域之國名、遊歷之行程、西域各國及印度之風土等,均詳實記載,乃研究玄奘生平行蹟及唐代長安文化之珍貴文獻。本書前五卷,英國學者比爾(S. Beal)於一八八五年翻譯,題為 "The Life of Hiuen Tsiang" 並出版之,此外並有法國學者朱利安(S. Julien)之法譯全本。〔開元釋教錄卷九、貞元新定釋教目錄卷十二、佛典疏鈔目錄卷下〕
; (大慈恩寺三藏法師傳) Gồm 10 quyển, do ngài Tuệ lập soạn vào đời Đường, ngài Ngạn tông bổ sung, thu Đại chính tạng tập 50. Gọi đủ: Đại đường Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện. Gọi tắt: Từ ân tự tam tạng pháp sư truyện, Tam tạng pháp sư truyện, Từ ân truyện. Nội dung sách này: Năm quyển đầu ghi chép sự tích ngài Huyền trang từ lúc mới sinh ra đến khi qua Tây vực cầu pháp. Năm quyển sau chép sự nghiệp dịch kinh của ngài Huyền trang sau khi về nước. Trong đó ghi chép rõ ràng tên nước, khí hậu, thổnghi, phong tục, tập quán v.v... của các nước Tây vực và Ấn độ cũng như những điều thấy nghe trong cuộc hành trình của ngài. Bộ sách này là tư liệu rất quí báu cho việc nghiên cứu hành tích một đời ngài Huyền trang và văn hóa Trường an ở đời Đường. Sách này đã được học giả người Pháp tên là S. Julien dịch ra Pháp văn và 5 quyển đầu cũng được học giả nước Anh tên là S.Beal dịch ra tiếng Anh dưới nhan đề The Life of Hiuen Tsiang và xuất bản năm 1885. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.12; Phật điển sớ sao mục lục Q.hạ].
đại từ đại bi
876指佛菩薩濟度一切眾生之大慈悲心而言。即廣大無邊之慈悲。慈悲二字,本即含有「攝受眾生,拔苦與樂」之義,佛菩薩住於利他之心,拔除眾生無邊之苦,而予以喜樂。尤以佛更以無緣之大悲心而度化眾生,故「大慈大悲」一般多用於佛之慈悲。又大智度論卷二十七以「大慈」為「與一切眾生樂」,以「大悲」為「拔一切眾生苦」。觀無量壽經(大一二‧三四三下):「佛心者,大慈悲是。以無緣慈,攝諸眾生。」大智度論卷二十七(大二五‧二五六中):「菩薩大慈者,於佛為小,於二乘為大,此是假名為大。佛大慈大悲,真實最大。」〔佛地論卷五〕(參閱「慈悲」5805)
; Đức từ bi rộng lớn, những đặc tính của chư Phật và chư Bồ Tát; ban vui cứu khổ. Đặc biệt ám chỉ Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát—Great mercy and great pity—Great Compassionate, characteristics of Buddhas and Bodhisattvas; kindness in giving joy and saving from suffering. It especially applied to Kuan-Yin
; (大慈大悲) Tâm từ bi rộng lớn của chư Phật, Bồ tát cứu độ tất cả chúng sinh. Luận Đại trí độ quyển 27 nói: Đại từ là ban vui cho tất cả chúng sinh, Đại bi là cứu khổ cho tất cả chúng sinh. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 343 hạ), nói: Tâm Phật là đại từ bi. Phật đem tâm đại từ bi vô duyên nhiếp thụ tất cả chúng sinh. Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 256 trung), nói: Đại từ của Bồ tát đối với Phật là nhỏ, đối với Nhị thừa là lớn, nên tạm gọi là đại. Đại từ đại bi của Phật mới thực là đại. [X. luận Phật địa Q.5]. (xt. Từ Bi).
Đại từ 大慈
[ja] ダイジ daiji ||| Great kindness; great compassion; great mercy (mahā-maitrī). 〔法華經 T 262.9.23b21〕 => Lòng nhân từ, lòng thương yêu, lòng khoan dung rộng lớn (s: mahā-maitrī).
Đại tử
大死; J: daishi; là »Cái chết lớn«;|Một dụng ngữ của Thiền tông, chỉ cái chết lớn của Ngã, yếu tố chính của »một sự tái sinh lớn« mới. Con đường dẫn từ »cái chết lớn« này đến một cuộc sống mới đầy an lạc chính là con đường của Toạ thiền (j: zazen). Các Thiền gia thường sử dụng câu sau: »Các ngươi phải một lần chết trên toạ cụ« và cái chết này chính là cái chết của ảo tưởng ngã, cái chết của quan niệm cho rằng ngã là có thật.
đại tử
1) Cái chết lớn, từ ngữ của nhà Thiền ám chỉ cái chết của “cái tôi” dẫn đến sự tái sanh lớn hay đại giác thâm sâu. Đây không phải là cái chết của thân thể, mà là cái chết của ảo ảnh về cái tôi, của sự mù quáng—The great death; a Ch'an expression for the death of ego, which leads to “great rebirth” or “profound enlightenment.” This expression does not refer to physical death, but rather to the death of the illusion of ego, of delusion. 2) Theo Thiền tông thì Đại Tử Để Nhân là người đã tận diệt phiền não và vọng thức—According to the Zen Sect, great death means one who has swept away completely all illusions, or all consciousness.
đại tử nhất phan
781禪林用語。與「大死大活」、「絕後再甦」等語同義。佛教真理並非肉體之死所能得,乃是捨棄身心之一切執著(大死)而達於絲毫不掛礙之境界始能得之。碧巖錄第四十一則(大四八‧一七九上):「須是大死一番,卻活始得。」
; (大死一番) Một phen chết đi. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Đồng nghĩa với các từ ngữ Đại tử đại hoạt (chết lớn sống lớn), Tuyệt hậu tái tô (chết rồi sống lại). Người tu hành Phật đạo cần phải xả bỏ tất cả mọi sự chấp trước đối với thân tâm (đại tử) thì mới có thể đạt đến cảnh giới không một mảy may ngăn ngại. Bích nham lục tắc 41 (Đại 48, 179 thượng), nói: Cần một phen chết đi, rồi sau sống lại mới được.
đại tử ông
782指宋代曹洞宗僧智通景深。景深參訪寶峰惟照時,惟照囑以「全身放下,方有自由之分。」景深於當下體得大死一番之道理而領悟,且將徹悟之因緣告於眾,故有此稱。〔禪林口實混名集卷下〕
; (大死翁) Ông chết hẳn. Chỉ cho ngài Trí thông Cảnh thâm thuộc tông Tào động ở đời Tống. Một hôm ngài Cảnh thâm hỏi đạo thiền sư Bảo phong Duy chiếu, Thiền sư nói: Toàn thân buông bỏ mới có phần tự do. Ngài Cảnh thâm ngay lời nói ấy mà thể nhận được đạo lí Đại tử nhất phiên, rồi kể lại nhân duyên triệt ngộ này cho đại chúng nghe. Cho nên từ đó ngài có biệt hiệu là Đại tử ông. [X. Thiền lâm khẩu thực hỗn danh tập Q.hạ].
đại tử để nhân
782禪林用語。即指無念無作之人。此等之人,遠離一切見聞覺知、情識分別,不為世與出世、順與逆等之相對性見解所局囿。碧巖錄第四十一則(大四八‧一七八下):「趙州問投子:『大死底人,卻活時如何?』」
; See Đại Tử (2).
; (大死底人) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Người đã chết hẳn. Ví dụ người đã triệt ngộ, vô niệm, vô tác, xa lìa tất cả hình thức phân biệt, không còn bị hạn cuộc bởi những thấy biết đối đãi như: Thế gian, xuất thế gian, thuận và nghịch. Bích nham lục tắc 41 (Đại 48, 178 hạ), nói: Triệu châu hỏi Đầu tử: Người đã chết hẳn, khi sống lại thì thế nào?.
đại tự
780巴利名 Mahā-vihāra。音譯摩訶毘訶羅。乃錫蘭古寺院,位於舊都阿㝹羅陀補羅城(巴 Anurādhapura)之大眉伽林(巴 Mahā-meghavana)。西元前三世紀,天愛帝須王(巴 Devānaṃpiyatissa, 247 B.C.~207 B.C. 在位)時,印度阿育王之子摩哂陀(梵 Mahinda)奉阿育王之命至錫蘭弘法,於阿㝹羅陀補羅城之眉沙迦山(巴 Missaka),為王宣說象跡喻小經(巴 Cūḷahatthipadopamāsuttanta),並於七日間度化八千五百人,王乃於大眉伽林營造本寺。摩哂陀之妹僧伽蜜多(巴 Saṃghamittā)亦應王之請,由印度摩揭陀國佛陀成道處攜帶佛陀伽耶之大菩提樹枝至錫蘭,植於大眉伽林。本寺遂成為錫蘭上座部(巴 Theravāda)佛教文化及教育中心。 西元前二世紀末,木扠伽摩尼王(巴 Duṭṭhagāmanī)復於寺西建摩利遮婆提寺(巴 Maricavatti),寺北建銅殿(巴 Loha-pāsāda)等。西元前一世紀,婆他伽馬尼王(巴 Vaṭṭagāmaṇi)於阿㝹羅陀補羅城建立無畏山寺(巴 Abhayagiri)獻與大寺之長老摩訶帝須(巴 Mahātissa),後摩訶帝須被大寺擯出,其門徒遂與大寺分離而占據無畏山寺,號稱無畏山寺派。此後錫蘭佛教徒分裂為大寺派與無畏山寺派,兩派展開佛教領導權之爭。四世紀初,摩訶勝軍王(巴 Mahāsena)大肆破壞本寺,然由於宰相眉伽槃那跋耶(巴 Meghavaṇṇābhaya)舉兵勸諫,王乃謝罪,重建大寺,爾後漸次恢復繁榮。據高僧法顯傳記載,當其西遊之時(五世紀初),寺中住有比丘三千,寺運之興盛,可以想見。至第五世紀摩訶男王(巴 Mahānāma)時,佛音(巴 Buddhaghosa)獲得大寺所傳之三藏及注疏,並將之譯為巴利語。 本寺為錫蘭最初之精舍,古來即為錫蘭島佛教中心,傳下諸多經典注釋口訣等,現存巴利三藏殆皆本寺所傳。後隨國運之衰微而次第頹廢。十二世紀末波洛卡摩婆訶王(巴 Parakkamabāhu)時,亦曾興盛一時,後歸於廢墟,今僅存菩提樹及銅殿等遺跡。〔翻梵語卷八、大王統史(巴 Mahā-vaṃsa)15, 20, 25, 33, 35, 36, 37、大唐西域記卷十一僧伽羅國條〕(參閱「大寺派」781、「錫蘭佛教」6327)
; Xem Tịnh xá.
; Xem Tinh xá.
; Mahavihara (skt)—Ngôi chùa lớn, đặt biệt ngôi chùa ở Tích Lan vào thời Pháp Hiển đến viếng khoảng năm 400 sau Tây Lịch, có khoảng 3000 Tăng chúng đang tu tập—The great monastery, especially that in Ceylon visited by Fa-Hsien in about 400 A.D., when it had 3,000 inmates.
; (大寺) Pàli: Mahā-vihāra. Dịch âm: Ma ha tì ha la. Ngôi chùa cổ ở Tích lan được xây dựng trong khu rừng Đại mi già (Pàli: Mahā-meghavana) gần cố đô A nâu la đà bổ la (Pàli: Anurādhapura). Vào thế kỉ III trước Tây lịch, thời vua Thiên ái đế tu (Pàli Devānaṃpiyatissa, ở ngôi 247 B.C-207 B.C), con vua A dục của Ấn độ là ngài Ma hi đà (Phạm: Mahinda) vâng mệnh vua A dục đến Tích lan hoằng pháp, giảng kinh Tượng tích dụ tiểu (Pàli: Cūḷahatthipadopamāsuttanta) cho vua Thiên ái đế tu nghe ở núi Mi sa ca (Pàli: Missaka) gần thành A nâu la đà bổ la, trong bảy ngày, hóa độ được 8.500 người, bởi thế, nhà vua mới cho xây dựng chùa này trong khu rừng Đại mi già. Bấy giờ, em gái của ngài Ma hi đà tên là Tăng già mật đa (Pàli: Saṃghamittā) cũng nhận lời thỉnh cầu của vua Thiên ái đế tu, mang cành cây đại bồ đề ở Phật đà già da nơi đức Phật thành đạo, từ nước Ma kiệt đà, Trung Ấn độ, đến trồng ở rừng Đại mi già tại Tích lan. Từ đó chùa này đã trở thành trung tâm văn hóa và giáo dục của Phật giáo Thượng tọa bộ (Pàli:Theravàda) ở Tích lan. Vào cuối thế kỉ II trước Tây lịch, vua Mộc xoa già ma ni (Pàli: Duṭṭhagāmanī) lại xây dựng chùa Ma lợi già bà đề (Pàli: Maricavatti) ở phía tây và kiến tạo điện bằng đồng (Pàli: Loha-pàsàda) ở phía bắc chùa này. Thế kỉ I trước Tây lịch, vua Bà tha già mã ni (Pàli: Vaṭṭagāmaṇi) dựng chùa Vô úy sơn (Pàli: Abhayagiri) cũng ở gần thành A nâu la đà bổ la, rồi dâng cúng Đại tự cho trưởng lão Ma ha đế tu (Pàli: Mahàtissa). Sau, ngài Ma ha đế tu bị trục xuất khỏi Đại tự, môn đồ của ngài bèn tách rời Đại tự rồi chiếm cứ chùa Vô úy sơn, lập thành phái Vô úy sơn tự. Từ đó, Phật giáo đồ Tích lan chia làm hai phái: Đại tự và Vô úy sơn tự, tranh nhau mở rộng quyền lãnh đạo Phật giáo. Vào đầu thế kỉ IV Tây lịch, vua Ma ha thắng quân (Pàli: Mahàsena) phá hoại chùa này, nhờ có Tể tướng Mi già bàn na bạt đa (Pàli: Meghavaịịàbhaya) đem quân đến khuyên can, vua mới tạ tội và cho kiến thiết lại Đại tự, về sau rất hưng thịnh. Cao tăng Pháp hiển truyện cho biết, lúc ngài Pháp hiển đến đây (đầu thế kỉ V), trong chùa có 3.000 vị tỉ khưu. Đến thế kỉ V, thời vua Ma ha nam (Pàli: Mahànàma), ngài Phật âm (Pàli: Buddhaghosa) tìm được Tam tạng và chú sớ được cất giữ ở Đại tự, ngài mới dịch ra tiếngPàli. Chùa này là ngôi tinh xá đầu tiên ở Tích lan, từ xưa vốn đã là trung tâm của Phật giáo Tích lan, truyền lại cho đời sau rất nhiều kinh điển, chú sớ, khẩu quyết. Tam tạngPàli hiện còn đến nay hầu như đều do chùa này lưu giữ. Về sau, theo với vận nước, Đại tự suy đồi dần. Đến cuối thế kỉ XII, thời vua Ba lạc ca ma bà ha (Pàli:Parakkamabàhu), chùa được trung hưng, nhưng cũng một thời rồi trở thành hoang phế, đến nay chỉ còn các di tích như cây bồ đề và điện bằng đồng. [X. Phiên phạm ngữ Q.8; Đại vương thống sử (Pàli:Mahà-vaôsa) 15, 20, 25, 33, 35, 36, 37; Đại đường tây vực kí Q.11 Tăng già la quốc điều]. (xt. Đại Tự Phái, Tích Lan Phật giáo).
đại tự phái
780巴利名 Mahāvihāra-nikāya。又作摩訶毘訶羅住部。早期錫蘭上座部佛教之正統派。相傳西元前三世紀由阿育王之 l摩哂陀長老所創建。西元前一世紀頃,佛教僧團發生分裂,主張摩哂陀長老正統之僧團稱大寺派,另一派則稱無畏山寺派。大寺派堅持上座部教義與儀軌,傳入今之緬甸、泰國、高棉、寮國等國,被奉為上座部佛教之正統。西元一一六五年,錫蘭王波洛卡摩婆訶一世(巴 Parakkamabāhu I)定大寺派為國教,至十六世紀漸趨衰微。
; Mahāvihāravasinaḥ (P), Mahāvihāra-nikāya (S)Ma ha tỳ ha la trụ bộ.Tương truyền do ngài Ma thẩn đà trưởng lão (Mahindra) sáng lập vào thế kỷ III BC.
; (大寺派) Pàli: Mahàvihàra-nikàya. Cũng gọi Ma ha tì ha la trụ bộ. Phái chính thống của Phật giáo Thượng tọa bộ Tích lan ở thời kì đầu. Tương truyền phái này do trưởng lão Ma hi đà (Phạm: Mahinda), con vua A dục, sáng lập vào thế kỉ III trước Tây lịch. Khoảng thế kỉ I trước Tây lịch, Tăng đoàn Phật giáo Tích lan chia làm hai phái: Đại tự và Vô úy sơn tự. Phái Đại tự giữ vững giáo nghĩa và nghi quĩ của Thượng tọa bộ. Về sau, phái này truyền đến các nước: Miến điện, Thái lan, Cao miên, Lào v.v... Năm 1165, vua Tích lan là Ba lạc ca ma bà ha đời thứ 1 (Pàli:ParakkamabàhuI) quyết định lấy phái Đại tự làm Quốc giáo nhưng đến thế kỉ XVI phái này dần dần suy đồi.
đại tự phái kinh
Mahā-vihāra nikāya (S)Tên một bộ kinh.
đại tự tại
Isvara—Thường dùng để chỉ chư Phật và chư Bồ Tát—Self-existent—Independent—Absolute—Used of Buddhas and Bodhisattvas.
đại tự tại cung
(A) Cung Ma Hê Thủ La Thiên trên đỉnh của cõi sắc giới: The abode of Mahesvara at the apex of the form realm. (B) Điều kiện hay là nơi cao nhất mà Bồ Tát đạt tới để từ đó đi vào Phật quả: The condition or place from which the highest type of Bodhisattva proceeds to Buddhahood—For more information, please see Đại Tự Tại Thiên (B)-2.
đại tự tại lực sĩ
Maheśvara-narayāna (S)Ma hê Na la diênVị thiên thần hùng mãnh có ba mắt, tám tay, cỡi trâu trắng, ở cõi Sắc cứu cánh.
đại tự tại thi
ên đạo Shaivism.
Đại Tự Tại Thiên
(s: Maheśvara, p: Mahissara, 大自在天): âm dịch là Ma Hê Thủ La (摩醯首羅), Ma Hê Y Thấp Phạt La (摩醯伊濕伐羅), tên gọi khác của vị thần Thấp Bà (s: Śiva, 濕婆) trong Ấn Độ Giáo. Vị thần này ngày xưa đã cùng với thần Tỳ Nữu Noa (s: Viṣṇu, 毘紐拏) hiện hữu dưới trời Phạm Thiên (s: Braḥma, 梵天), nhưng sau đó cả ba đều có cùng ngôi vị ngang nhau. Trong Ấn Độ Giáo, Đại Tự Tại Thiên được xem như là vị thần của thế giới tối cao, sáng tạo ra vạn vật, thế giới vũ trụ. Trong Phật Giáo, vị thần này cũng được trọng thị, được xem như là vị thánh trú trên cõi Ngũ Tịnh Cư Thiên (五淨居天) trên cả sắc giới, đặc biệt là ở cõi cao nhất Sắc Cứu Cánh Thiên (s: Akaniṣṭha, 色究竟天, âm dịch là A Ca Nị Tra Thiên [阿迦膩吒天]). Ngoài ra, Đại Thừa Phật Giáo xem vị trời này là vị thánh ở cảnh giới Pháp Vân Địa (法雲地) cao nhất trong 10 Địa của vị Bồ Tát. Vị Bồ Tát ở cảnh địa thứ 10 này được xem như là sẽ thành Phật và trở thành vua của Ma Hê Thủ La Thiên. Cõi này được gọi là Tịnh Cư Ma Hê Thủ La (淨居摩醯首羅), khác với Tỳ Xá Xà Ma Hê Thủ La (s: Piśāca maheśvara, 毘舍闍摩醯首羅) do ngoại đạo lập nên. Về hình tượng, vị này thường có 3 mắt 6 cánh tay, cỡi con trâu trắng, và cũng có trường hợp 2 tay, 10 tay hay 18 tay. Vị trời này còn có những tên gọi khác như Thương Yết La (s: Śaṅkara, 商掲羅), Lô Na La (s: Rudra, 嚕捺羅), Y Xa Na (s: Īśāna, 伊賖那), Thú Chủ (s: Paśupati, 獸主), Ma Ha Đề Bà (s: Mahādeva, 摩訶提婆), v.v. Ngoài ra, trong Trí Độ Luận (智度論) cũng có trường hợp xem Tự Tại Thiên và Đại Tự Tại Thiên như nhau.
đại tự tại thiên
783梵名 Maheśvara,巴利名 Mahissara。音譯作摩醯首羅、莫醯伊濕伐羅。又作自在天、自在天王、天主。傳說為嚕捺羅天(梵 Rudra)之忿怒身,因其居住地之不同,又有商羯羅(梵 Śaṃkara)、伊舍那(梵 Īśāna)等之異名。此天原為婆羅門教之主神濕婆,信奉此天者被稱為大自在天外道,此派以天為世界之本體,謂此天乃一切萬物之主宰者,又司暴風雷電,凡人間所受之苦樂悲喜,悉與此天之苦樂悲喜相一致。故此天喜時,一切眾生均得安樂;此天瞋時,則眾魔現,國土荒亂,一切眾生均隨其受苦;若世界毀滅時,一切萬物將歸入大自在天中。此蓋為大自在天神格之表現;然除殺傷、暴惡等性格之外,此天亦具有救護、治療之性格,而以吉祥神之面貌出現。初時,此天與那羅延天同列於梵天之下,其後,其神位漸次升高,而成為最高神格,於婆羅門教中,被視為「其體常住,遍滿宇宙」,而有「以虛空為頭,以地為身」之泛神論之神格。然濕婆神進入佛教後,即成為佛教之守護神,稱為大自在天,住在第四禪天。其像為三目、八臂,騎白牛,執白拂之天人形,有大威力,能知大千世界雨滴之數,獨尊於色界。 密教將此天視同伊舍那天,為十二天之一。供養十二大威德天報恩品(大二一‧三八四上):「伊舍那天喜時,諸天亦喜,魔眾不亂也。舊名摩醯首羅也。佛言若供養摩醯首羅已,為供養一切諸天。此天瞋時,魔眾皆現,國土荒亂。」此天形像種類很多,有二臂像、四臂像、八臂像,更有十八臂像,然不多見。列位在現圖胎藏界曼荼羅外金剛部西邊之西南隅,羅剎眷屬之左外,身呈赤黑色,右手開肘豎掌,屈中、無名、小等三指,左手作拳,執三股戟向右,乘青黑水牛,左腳下垂。〔梵網經卷上、大教王經卷十一、守護大千國土經卷下、大吉義神咒經卷四、俱舍論卷七、慧琳音義卷二十六、胎藏界七集卷下〕(參閱「大自在天外道」784)
; Mahāsvara (S), Isana (S), Mahāmaheśvara (S), Maheśvara (S)(1)Tầng trời cao nhất trong cỏi sắc giới, có ngài Đại Tự tại thiên chủ cai quản (còn gọi là ngài Vi Nữu, Visnu). (2) Tên một cõi giới trong Tịnh phạm địa: Vô tưởng thiên, Vô phiền thiên, Vô nhiệt thiên, Thiện kiến thiên, Sắc cứu cánh thiên, Hoà âm thiên, Đại tự tại thiên (3) Y xá na thiên. Tên một vị thiên. Ở phương Đông Bắc (4) Đại Tự tại vương (5) Shiva (S)Vị thần thứ ba trong Tam Thiên của Ấn giáo: Phạm thiên, Tỳ nữu thiên và Đại tự tại.
; (A) Cung trời thứ sáu hay là cung trời cao nhứt trong lục dục thiên—The sixth or the highest of the six desire-heavens. (B) Mahesvara or Siva (skt)—Ma Hê Thủ La—Ma Hê Thấp Phạt La—Chúa tể của tam thiên thế giới; có hai loại—Lord of the present chiliocosm, or universe; he is described under two forms: 1) Tỳ Xá Xà Ma Hê Thủ La: Pisaca-Mahesvara (skt)—Tên của một loài quỷ được Ma Hê Thủ La luận sư thờ cúng, loài quỷ nầy có ba mắt tám tay, cưỡi bò trắng; bò trắng là biểu trưng của Tỳ Xá Xà. Mật giáo lại cho đây là Đức Đại Nhựt Như Lai ứng hiện. Họ còn cho rằng vị Tự Tại Thiên nầy hiện đủ mọi hình và có rất nhiều tên như Tỳ Nữu Thiên, Na La Diên Thiên, Phạm Thiên…Vợ của vị Thiên nầy tên là Đại Tự Tại Thiên Phụ Bhima—Head of the demons, he is represented with three eyes and eight arms, and riding on a white bull; a bull or a linga being his symbol. The esoteric school takes him for the transformation body of vairocana, and as appearing in many forms, Visnu, Narayana, Brahma…His wife is Bhima. 2) Tịnh Cư Ma Hê Thủ La: Suddhavasa (skt)—Tịnh Cư Ma Hê Thủ La Thiên, được mô tả như một vị Bồ Tát đã đạt đến thập địa, địa cao nhất trong Thập Địa Bồ Tát, nghĩa là đang ở ngưỡng cửa bước vào Phật quả—Pure dwelling deva, he is described as a bodhisattva of the tenth or the highest degree, on the point of entering the Buddhahood
; (大自在天) Phạm: Mahezvara, Pàli: Mahissara. Dịch âm: Ma hê thủ la, Mạc hê y thấp phạt la. Cũng gọi Tự tại thiên, Tự tại thiên vương, Thiên chủ. Theo truyền thuyết, trời Đại tự tại là thân phẫn nộ của trời Rô nại la (Phạm:Rudra),vị trời này còn có các tên khác như: Thương yết la (Phạm: Zaôkara), Y xá na (Phạm: Ìzàra) v.v... Vị trời này vốn là chủ thần Thấp bà của Bà la môn giáo, những người tin thờ trời này được gọi là Đại tự tại thiên ngoại đạo. Ngoại đạo này cho trời Đại tự tại là bản thể của vũ trụ, là đấng chúa tể của muôn loài. Sự khổ vui, mừng giận của chúng sinh đều có liên quan đến sự khổ vui, mừng giận của trời này. Cho nên, khi Ngài mừng thì tất cả chúng sinh đều được yên vui; còn khi Ngài giận thì ma quỉ xuất hiện, đất nước hỗn loạn, ngửa nghiêng, tất cả chúng sinh đều phải chịu khổ. Khi thế giới hủy diệt thì hết thảy muôn loài lại trở về với trời Đại tự tại. Mới đầu, trời này và trời Na la diên đều ở dưới Phạm thiên, nhưng về sau địa vị của trời này được nâng lên dần dần và, cuối cùng, trở thành vị thần tối cao. Trong Bà la môn giáo, trời Đại tự tại được xem là thể thường trụ, trùm khắp vũ trụ; lấy hư không làm đầu, lấy địa cầu làm mình. Nhưng sau khi thần Thấp bà được du nhập Phật giáo thì liền trở thành thần thủ hộ và được gọi là Đại tự tại thiên, ở tầng trời thứ 4 của cõi Tứ thiền. Hình tượng của vị thần này là hình người trời với 3 mắt, 8 tay, cầm cây bạch phất, cỡi trâu trắng, có đại uy lực, có thể biết số giọt mưa trong3.000 thế giới và là vị thần độc tôn ở cõi Sắc. Mật giáo xem vị trời này cũng giống như trời Y xá na, là một trong 12 vị trời. Phẩm Cúng dường thập nhị đại uy đức thiên báo ân (Đại 21, 384 thượng), nói: Khi trời Y xá na mừng, thì các trời cũng mừng, chúng ma không làm loạn. Tên cũ của trời Y xá na là Ma hê thủ la. Đức Phật dạy: Nếu cúng dường Ma hê thủ la rồi thì tức là đã cúng dường tất cả các trời. Khi trời này giận thì chúng ma xuất hiện, đất nước hỗn loạn. Hình tượng của trời Y xá na có nhiều loại, có các tượng 2 tay, 4 tay, 8 tay, thậm chí 18 tay, nhưng loại này ít thấy. Thân vị này mầu đen thẫm, khuỷu tay phải doãng ra và bàn tay dựng thẳng, các ngón giữa, áp út và út co lại, tay trái nắm và cầm cây kích ba chĩa hướng sang bên phải, cỡi trâu mầu xanh thẫm, chân trái thõng xuống, được đặt ở góc tây nam phía tây của Ngoại kim cương bộ trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới. [X. kinh Phạm võng Q.thượng; kinh Đại giáo vương Q.11; kinh Thủ hộ đại thiên quốc độ Q.hạ; kinh Đại cát nghĩa thần chú Q.4; luận Câu xá Q.7; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26; Thai tạng giới thất tập Q.hạ]. (xt. Đại Tự Tại Thiên Ngoại Đạo).
đại tự tại thiên giáo
ShaivismShi va giáo.
đại tự tại thiên ngoại đạo
783印度古代十六種外道之一。以大自在天(即摩醯首羅)為世界之創造神,奉祀大自在天,期得解脫之外道。又稱自在天外道、摩醯首羅論師。其教徒塗灰於身,故又稱塗灰外道。提倡三神一體之說,以摩醯首羅為本體,並謂梵天及那羅延為其所化現。 依外道小乘涅槃論載,摩醯首羅論師主張摩醯首羅常住不變,三界中一切有命與無命之物皆由摩醯首羅天而生。又以摩醯首羅之身而言,虛空是其頭,地是其身,水是其尿,山是其糞,一切眾生是其腹中蟲,風是其命,火是其煖,罪福是其業,一切生滅涅槃皆是摩醯首羅。 百論疏卷上列舉大自在天外道之十六諦義,即:(一)量諦,有現知、比知、不能知、譬喻知四種。(二)所量,如身有我乃至解脫。(三)疑,如見杌似人等。(四)用,如依此物作事。(五)譬喻,如見牛知有水牛。(六)悉檀,自對之義由異他之義。(七)語言分別,分別自他之義。(八)思擇,思惟簡擇道理如此。(九)決,義理可決定。(十)論議,由語言顯真實之道理。(十一)修諸義,以立真實之義。(十二)壞義,由立難難他立義。(十三)自證,有不定、相違、相生疑、未成、即時等五種。(十四)難難,聞山林有白象,難草頭亦有白象。(十五)諍論,有二十四種。(十六)墮負,被他所難而不能成立自義。 大自在天在印度教中為濕婆(梵 Śiva)之別名,原與那羅延天同列梵天之下位,其後成為最高神格,而成立泛神論之教旨,廣行全印度,與佛教產生相當關係。大唐西域記卷二健馱邏國條、卷七婆羅〖⿸疒尼〗斯國條等,均有關於大自在天外道之記事。現今濕婆派仍盛行於南印度及迦濕彌羅地方。佛教論書中,多破斥此外道之說,如大毘婆沙論卷一九九、瑜伽師地論卷七等均有所論破。密教之降三世明王左足踏大自在天,右足踏烏摩天后,即表示降伏彼外道之相。〔摩登伽經卷上明往緣品、顯揚聖教論卷十、三無性論卷下、俱舍論卷七、成唯識論卷一、中觀論疏卷一末、大乘法苑義林章卷一本〕(參閱「伊賒那論師」2157)
; (大自在天外道) Một trong 16 thứ ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Ngoại đạo này cho rằng Đại tự tại thiên (trời Ma hê thủ la) là thần sáng tạo ra vũ trụ. Cũng gọi Tự tại thiên ngoại đạo, Ma hê thủ la luận sư. Tín đồ của ngoại đạo này lấy tro bôi khắp mình, cho nên còn gọi là Đồ khôi ngoại đạo (Ngoại đạo bôi tro). Họ đề xướng thuyết Tam thần nhất thể (Ba vị thần chung một thể): Ma hê thủ la là bản thể, còn Phạm thiên và Na la diên là do Ma hê thủ la hóa hiện. Theo luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn nói, thì luận sư Ma hê thủ la chủ trương trời Ma hê thủ la là thường trụ bất biến, tất cả loài hữu tình, vô tình trong ba cõi đều do trời Ma hê thủ la sinh ra. Nói về thân thể của Ma hê thủ la thì hư không là đầu của Ngài, địa cầu là mình Ngài, nước là nước tiểu, núi là phân, tất cả chúng sinh là vi trùng ở trong bụng của Ngài, gió là sự sống, lửa là hơi ấm, tội phúc là nghiệp, tất cả sinh diệt, Niết bàn đều là Ma hê thủ la. Trong Ấn độ giáo, trời Đại tự tại là tên khác của thần Thấp bà (Phạm:Ziva). Phái Thấp bà hiện nay vẫn thịnh hành ở Nam Ấn độ và ở Kashmir. Trong các bộ luận của Phật giáo, như luận Đại tì bà sa quyển 199, luận Du già sư địa quyển 7 v.v... đều có nghị luận đả phá, bác bỏ học thuyết của ngoại đạo này. Còn trong Mật giáo thì hình tượng của Hàng tam thế minh vương trong tư thái: Chân trái đạp Đại tự tại thiên, chân phải đạp Ô ma thiên hậu, là biểu thị tướng hàng phục loại ngoại đạo này. [X. phẩm Minh vãng duyên trong kinh Ma đăng già Q.thượng; luận Hiển dương thánh giáo Q.10; luận Tam vô tính Q.hạ; luận Câu xá Q.7; luận Thành duy thức Q.1; Trung quán luận sớ Q.1 phần cuối, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu]. (xt. Y Xa Na Luận Sư).
Đại Tự tại thiên 大自在天
[ja] ダイジザイテン daijizaiten ||| The god who creates and controls the world--also known as Śiva. 〔法華經 T 262.9.9c10〕Transcribed as 摩醯首羅. => Vị thần tạo dựng và điều khiển thế gian–còn gọi là Śiva. Phiên âm là Ma-hê-thủ-la摩醯首羅.
Đại tự tại 大自在
[ja] ダイジザイ daijizai ||| Great freedom; great unhinderedness. (2) A reference to Maheśvara 大自在天. 〔法華經 T 262.9.9c10〕 => 1. Sự tự do tột cùng; sự tự tại vô thượng. 2. Thuật ngữ nói đến Đại Tự tại thiên (大自在天s: Maheśvara).
đại tỳ bà sa luận
Mahāvibhāṣā (S)Tên một bộ luận kinh. Xem A tỳ đạt ma Đại tỳ bà sa luận.
đại tỳ kheo
See Đại Tỳ Kheo Tăng and Đại Hòa Thượng.
đại tỳ kheo tam thiên uy nghi kinh
The Sutra of Three Thousand Dignified Forms for ordained Monks.
đại tỳ kheo tăng
Great Bhiksus, one of virtue and old age—See Đại Hòa Thượng.
đại tỳ lô giá na kinh
Xem Đại Tỳ lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia trì kinh.
đại tỳ lô giá na như lai
Mahāvairovcana-Tathāgata (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
đại tỳ lô giá na phật
Đại Nhựt Như Lai—Mahavairocana (skt)—See Vairocana.
Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì Kinh
(s: Mahāvairocanābhi-saṃbodhi-vikurvitādhiṣṭhāna-vaipulya-sūtrendra-rāja nāma dharmaparyāya, t: Rnam-par-snaṅ-mdsadche-po mṅon-par-rdsogs-par byaṅ-chub-pa rnam-par-sprul-pa byin-gyis rlob-pa çin-tu rgyas-pa mdo-sdeḥi dbaṅ-poḥirgyal-po shes-bya-baḥi chos-kyi-rnam-graṅs, c: Ta-p'i-lu-chê-na-ch'êng-fo-shên-pien-chin-ch'ih-ching, j: Daibirushanajōbutsushimpenkajikyō, 大毘盧遮那成佛神變加持經): còn gọi là Đại Nhật Kinh (大日經), Đại Tỳ Lô Giá Na Kinh (大毘盧遮那經), Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Kinh (毘盧遮那成佛經), 7 quyển, hiện còn, Taishō 18, 1, No. 848, Thiện Vô Úy (善無畏, 637-765) và Nhất Hành (一行, 683-727) nhà Đường cọng dịch.
đại tỳ lô giá na thành phật thần biến gia trì kinh
Mahā-vairocanabhisaṃbodhi-vikurvutadhi-sṭhāna-vaipulya-sutrendra-vajra-nama-dharma-paryaya Tỳ lô Giá Na Thành Phật Kinh, Đại Tỳ lô Giá Na KinhTên một bộ kinh.
đại tỳ lộ giá na kinh
Xem Đại Tỳ lô giá na Thành Phật thần biến gia trì kinh.
Đại Tỳ-lô-giá-na Phật thuyết yếu lược niệm tụng kinh 大毘盧遮那佛説要略念誦經
[ja] ダイヒロシャナブツセツヨウリャクネンショウキョウ Dai birushana bussetsu yōryaku nenju kyō ||| The Da piluzhena foshuo yaolüe niansong jing; Skt. Mahāvairocana-abhisaṃbodhi-sambaddha-pūjāvidhi; Tib. rnam par snang mdzad mngon par byang chub par gtogs pa'i mchod pa'i cho ga; (Sutra Abridged for Recitation Explained by the Buddha Mahāvairocana) [To.2664, P.3488]; 1 fasc. [T 850.18.55-65], tr. Vajrabodhi 菩提金剛, abbr. Sutra abridged for Recitation 要略念誦經. Translation of the ritual supplement to the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra 大日經 [T 848]. An alternate translation is appended as the seventh fascicle in Śubhakarasiṁha's rendition of the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra. Though no Sanskrit version is extant, a transliteration of some verses is included in a Chinese ritual text, Faquan's 法全 Gembōki 玄法軌 [T 852.18.114a2-23], and other verses are transliterated in the Tibetan version. Quotations appear in the Trisamayarājasādhana [To.3400, P.4221], and one verse appears in the Guhyasamāja 祕密集會 [T 885]. BGBT4/181 [SKIK mb 7] => (c: Da piluzhena foshuo yaolüe niansong jing; Skt. Mahāvairocana-abhisaṃbodhi-sambaddha-pūjāvidhi; Tib. rnam par snang mdzad mngon par byang chub par gtogs pa'i mchod pa'i cho ga; e: Sutra Abridged for Recitation Explained by the Buddha Mahāvairocana); 1quyển. Bồ-đề Kim Cương (Vajrabodhi 菩提金剛) dịch.Viết tắt là Yếu lược niệm tụng kinh (e: Sutra abridged for Recitation 要略念誦經). Bản dịch phần nghi lễ bổ sung trong kinh Đại Nhật (s: Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra 大日經). Một bản dịch khác được thêm vào quyển thứ 7 trong bản dịch kinh Đại Nhật của Thiện Vô Uý (s: Śubhakarasiṁha). Mặc dù không còn bản tiếng Sanskrit, nhưng còn 1 bản phiên âm gồm vài bài kệ trong nghi lễ tiếng Hán của Pháp Toàn (Faquan's 法全 ) và Huyền Pháp Quỹ (Gembōki 玄法軌), và các bài kệ khác được phiên âm sang tiếng Tây Tạng. Nhiều đoạn trích dẫn xuất hiện trong Trisamayarājasādhana và 1 bài kệ xuất hiện trong Bí mật tập hội (s:祕密集會Guhyasamāja).
Đại Tỳ-lô-giá-na thành Phật kinh sớ 大毘盧遮那成佛經疏
[ja] ダイビロシャナジョウブツキョウソ Dai birushana jōbutsu kyō sho ||| The Da piluzhena chengfo jing shu (Commentary on the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra). 20 fasc. [T 1796.39.579a-649c], abbr. Dainichikyōsho 大日經疏 or Daisho 大疏, composed by Yixing 一行 in 725 CE. Commentary on the first 31 chapters (6 fasc.) of the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra 大日經 [T 848]. The fascicle numbers of the original and the commentary correspond as follows: 1:1-8, 2:9-10, 3:19:13, 4:12-13, 5:14-17, 6:18-20. Partially based on lectures given by Śubhākarasiṁha 善無畏 at the time of its translation. A great many Sanskrit terms and their Chinese equivalents are described in detail, and Yixing supports doctrinal points with citations from a plethora of Chinese Mahāyāna texts -- occasionally adding insights from his experience with the Tattvasaṃgraha system [T 866]. These informed references to existing traditions, together with the natural authority of Śubhākarasiṁha's comments, contributed greatly to the successful adoption of the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra in East Asia. (An abridged version, the Dainichikyō gishaku 大日經義釋 [Z.36.507ff], was circulated by Yixing's associates after his death.) Kūkai 空海 frequently quotes Yixing's full commentary in his writings; he was the first to bring it to Japan, where sub-commentaries were written by Saisen 濟暹 [T 2215], Raiyu 頼瑜 [T 2217], Yūhan 宥範 [T 2213], Shōken 聖憲 [T 2539], Yūkai 宥快 [T 2218] and Donjaku 曇寂 [T 2219]; of these, the latter two are perhaps the most helpful. For an exhaustively annotated Eng. tr. of the commentary covering the first chapter of the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra, see Müller (1976). => (c: Da piluzhena chengfo jing shu; e: Commentary on the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra). 20 quyển; Viết tắt là Đại nhật kinh sớ (c: Dainichikyōsho 大日經疏) hay Đại sớ (大疏c: Daisho), do Nhất Hạnh (c: Yixing 一行) soạn năm 725. Luận giải về 31 phẩm đầu (6 quyển) của Đại nhật kinh ( 大日經s: Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra). Số quyển các bản gốc và luận giải tương đương nhau như sau: 1:1-8, 2:9-10, 3:19:13, 4:12-13, 5:14-17, 6:18-20. Một phần căn cứ vào các bài giảng của Thiện Vô Uý (s: Śubhākarasiṁha 善無畏) trong thời gian tác phẩm được phiên dịch. Nhiều thuật ngữ đối chiếu Sanskrit và tiếng Hán được trình bày chi tiết, và quan điểm tán thán giáo pháp trên qua những trích dẫn từ kinh văn Đại thừa đồ sộ–thỉnh thoảng bổ sung thêm kiến giải của ngài từ thân chứng về hệ thống Nhiếp chân thật luận (hoặc Chân chính yếu tập; s: Tattvasaṃgrāha). Những tri thức nầy đã dẫn đến những truyền thống đang tồn tại, cùng với uy tín tự nhiên từ các luận giải của Thiện Vô Úy, đã góp phần lớn lao cho sự công nhận rộng rãi Đại nhật kinh ở Đông Á. (Còn có một bản tóm tắt, tên là Đại nhật kinh nghĩa thích; Dainichikyō gishaku 大日經義釋; được các pháp hữu của Nhất Hạnh lưu truyền sau khi ngài viên tịch). Không Hải (空海s: Kūkai ) thường trích dẫn toàn văn luận giải của Nhất Hạnh trong tác phẩm của sư; sư là người đầu tiên đưa sớ giải nầy qua Nhật Bản, ở đó có thêm những sớ giải bổ sung do Trai Xiêm (j: Saisen 濟暹), Lại Du (j: Raiyu 頼瑜), Hựu Phạm (j: Yūhan 宥範) ; Thánh Hiến (j: Shōken 聖憲); Hựu Khoái (j:Yūkai 宥快); và Đàm Tịch (j: Donjaku 曇寂) biên soạn; trong các sớ giải nầy, hai tác phẩm sau có lẽ hữu dụng nhất. Về chú giải tường tận bao quát phẩm đầu tiên của Đại nhật kinh sớ bằng tiếng Anh, xin xem bản dịch của Müller (1976).
Đại Tỳ-lô-giá-na thành Phật thần biến gia trì kinh liên hoa thai tạng Bồ-đề tràng tiêu xí phổ thông chân ngôn tàng quảng đại thành tựu du-già. 大毘盧遮那成佛神變加持經蓮華胎藏菩提幢標幟普通眞言藏廣大成就瑜伽
[ja] ダイヒロシャナジョウブツジンヘンケジキョウレンケタイゾウボダイトウヒョウシフツウシンゴンゾウコウダイジョウジュウユガ Daibirushana jōbutsu shimpen kaji kyō renge taizō bodai dōhyōshi futsū shingonzō kōdai jōju yuga ||| The Dapiluzhena chengfo shenbian jiachi jing lianhua taizang puti chuangbiaozhi putong zhenyanzang guangda chengjiu yuqie (text indlevel="1" loc=""lang="eng">Yoga of Enormous Success: the Lotus-Matrix Bodhi, Symbols, Banners, and Store of Common Mantras in the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra). 3 fasc. [T 853.18.143-164], composed by Faquan 法全. Authoritative outline of rituals relating to the Vairocana-abhisaṃbodhi 大日經 [T 848]. Jpn. subcomm.: Explanation of the Lotus-Matrix Realm Ritual Procedures 蓮華胎藏界儀軌解釋 [T 2231] by Shinkō 眞興. => (c: Dapiluzhena chengfo shenbian jiachi jing lianhua taizang puti chuangbiaozhi putong zhenyanzang guangda chengjiu yuqie; e: Yoga of Enormous Success: the Lotus-Matrix Bodhi, Symbols, Banners, and Store of Common Mantras in the Vairocana-abhisaṃbodhi-tantra). 3 quyển. Pháp Toàn (c: Faquan 法全) soạn. Đề cương có giá trị đích xác về các nghi quỹ liên quan đến Đại nhật kinh. Có bản phụ chú bằng tiếng Nhật: Liên hoa thai tạng giới nghi quỹ giải thích (蓮華胎藏界儀軌解釋e: Explanation of the Lotus-Matrix Realm Ritual Procedures) của Chân Hưng (c: Shinkō 眞興).
Đại Tỳ-lô-giá-na thành Phật thần biến gia trì kinh 大毘盧遮那成佛神變加持經
[ja] ダイヒロシャナジョウブツジンヘンケジキョウ Dai biroshana jōbutsu shimpen kaji kyō ||| The Mahāvairocanābhisaṃbodhi-vikurvitādhiṣṭhāna-vaipulyasūtra-indrarājanāmadharmaparyāya, in Tibetan rNam par snang mdzad chen po mngon par rdzogs par byang chub pa rnam par sprul ba byin gyis rlob pa shin tu rgyas pa mdo sd'i dbang po rgyal po zhes bya ba'i chos gyi rnam grangs, and in English, Manifest Enlightenment of the Grand Resplendent One, His Transformations and Empowering Presence: Lord Indra of the Broader Sūtras; commonly abbreviated as 大日經. T.848.18.1-55, 7 fasc., translated by Subhākarasiṃha 善無畏 with the assistance of Yixing 一行 in 724; commonly abbreviated as Vairocanābhisaṃbodhi 大日經. The primary theme of this work, which is of utmost importance in East Asian esotericism, is the realization of the mind seeking enlightenment 菩提心. This theme is addressed in the opening dialogue between Mahāvairocana 大日如来 and an assembly led by Vajrapāṇi 執金剛秘密主, who inquires about omniscient knowledge (sarvajñājñāna 一切智智). The Bhagavan responds that "it is caused by the mind which seeks enlightenment, is founded on sympathy for others, and culminates in skilful methods" (karuṇāmūlaṃ bodhicittahetukam upāyaparyavasānam 悲爲根本。菩提心爲因。方便爲究竟). Enlightenment is defined as "knowing one's mind for what it really is" 謂如實知自心, and subsequent chapters are devoted to describing the skilful methods 方便 for its accomplishment. Foremost among these methods is entrance into the maṇḍala born from great compassion (mahākaruṇāgarbhodbhava-maṇḍala 大悲胎蔵生曼荼羅), described at length in chapter two, The Relevant Equipment 具縁品.' Later chapters deal with the entire gamut of esoteric techniques: the practice of mantras 真言, the fire ceremony (homa 護摩), the wheel of syllables (akṣāracakra 字輪), meditation on the stūpa of five cakras 五輪塔, and so on. However, unlike many previous esoteric works, in this text such techniques are almost exclusively oriented towards the accomplishment (siddhi 成就) of enlightenment rather than worldly goals. Many early sources for these esoteric practices have been established: for example, the three-family (kula 部) system can be found in the Dhāraṇīsamuccaya 陀羅尼集經, and its maṇḍala is indebted to the Vajrapāṇyabhiṣeka-tantra 金剛手潅頂續 (To.496). It is likely that the original text was composed in the mid-seventh century CE, when esotericism gained the status of legitimate "hot topic" among Buddhist monastics in India. while a Sanskrit version has never been found,fragments have been located in diverse sources: the Kriyāsaṃgraha (To.2531), the Indonesian Sang Hyang Kamahāyānan Mantranaya, the Bhāvanākrama, and the Pradīpoddyotana. The Chinese text is based on a manuscript recovered from the belongings of the pilgrim Wuxing 無行 (d.674), which, as with many tantras, is said to have been a condensed version (laghutantra 略本) abridged from a lengthy original (mūlatantra 廣本) of 100,000 verses 迦陀. An ambitious attempt at reconstructing the Sanskrit was made by Jiun 慈雲 (1718-1804), who made use of citations in the principal Chinese commentary, the Darijingshu 大日経疏 [T.1796]. This exhaustive and accessible commentary, along with a well-maintained ritual tradition, have contributed greatly to the text's continuing importance in the Japanese esoteric schools. By contrast, it seems to have attracted little attention in Tibet, where it was translated no later than the early ninth century by Śīlendrabodhi and dPal-brtegs. Lucid and generous commentaries by the eighth-century pandit Buddhaguhya 佛密 (Sangs-rgyas-gsang-ba), such as the Vairocana-abhisambodhitantrapiṇḍartha (To.2662, P.3486), were also translated into Tibetan. For scholastics such as mKhas-grub-rje 智法祖師 (1385-1438) the text's most noteworthy feature is its advocacy of a yoga without semiosis (animittayoga 無相三昧, mtshan ma med pa'i rnal byor), a practice which qualifies its preeminent rank among the cārya 行 tantras in the Tibetan classification. The sequence of chapters in the Chinese and Tibetan editions differs slightly, suggesting that in later times chapters were reordered in accordance with exegetical tradition. Correspondences between chapter numbers are as follows: 1-5:1-5, 6+7:6, 8-12:10-14, 13:16, 14:15, 15-26:17-28, 27+31:29, 28-30:7-9. The seventh fascicle of the Chinese version is a ritualisation of the entire text, apparently composed later than the preceding chapters and circulated as a separate work in India. This short ritual text, the Mahāvairocana-abhisaṃbodhisambaddhapūjāvidhi, was also translated by Vajrabodhi 金剛智 as the Abridged Recitation Sūtra 要略念誦經 [T.849]. For a preliminary English translation of the whole text, see Chikyo Yamamoto, Mahāvairocanasūtra, Satapiṭaka series 359, 1990. (s: Mahāvairocanābhisaṃbodhi-vikurvitādhiṣṭhāna-vaipulyasūtra-indrarājanāmadharmaparyāya; t: rNam par snang mdzad chen po mngon par rdzogs par byang chub pa rnam par sprul ba byin gyis rlob pa shin tu rgyas pa mdo sd'i dbang po rgyal po zhes bya ba'i chos gyi rnam grangs; e: Manifest Enlightenment of the Grand Resplendent One, His Transformations and Empowering Presence: Lord Indra of the Broader Sūtras). => Viết tắt là Đại nhật kinh. Bảy quyển. Thiện Vô Uý (善無畏s: Subhākarasiṃha) dịch với sự cộng tác của Nhất Hạnh (c: Yixing 一行) vào năm 724; Thường gọi tắt là Đại nhật kinh. Chủ đề của kinh nầy, điều tối quan trọng trong Mật tông Phật giáo Á Đông, là phát Bồ-đề tâm. Chủ đề nầy được ghi lại qua một cuộc đối thoại mở đầu giữa Đại nhật Như Lai và chúng hội do Chấp Kim cương bí mật chủ làm thượng thủ, hỏi về Nhất thiết trí. Đức Thế tôn trả lời: “do phát Bồ-đề tâm là nhân, tâm đại bi là căn gốc, và phương tiện thiện xảo là cứu cánh.”(s: karuṇāmūlaṃ bodhicittahetukam upāyaparyavasānam 悲爲根本。菩提心爲因。方便爲究竟). Giác ngộ được định nghĩa là: “biết như thật tự tâm mình” (謂如實知自心), và những phẩm sau dành để giải thích phương tiện để thành tựu giác ngộ. Hay nhất trong các phương tiện nầy là sự thể nhập Đại bi thai tạng sinh mạn-đồ-la (大悲胎蔵生曼荼羅s: mahākaruṇāgarbhodbhava-maṇḍala), được trình bày khá dài trong Cụ duyên phẩm (phẩm 2). Các phẩm sau liên quan đến toàn bộ các phương pháp nghi tiết Mật giáo như: tu tập chân ngôn, pháp hộ-ma (s: homa 護摩), tự luân (s: akṣāracakra 字輪), quán tưởng ngũ luân tháp,v.v... Tuy nhiên, không như các kinh Mật giáo trước đây, tác phẩm nầy chuyên hướng về sự thành tựu (s:siddhi 成就) giác ngộ hơn là nhắm đến mục tiêu tầm thường. Nhiều nguồn gốc trước đây của các phương pháp tu tập Mật giáo được xác minh: chẳng hạn hệ thống Tam bộ (s:kula 部) được căn cứ vào Đà-la-ni tập kinh (s: Dhāraṇīsamuccaya 陀羅尼集經), và mạn-đà-la trong kinh lại lấy ở Kim cương thủ quản đảnh tục (Vajrapāṇyabhiṣeka-tantra 金剛手潅頂續). Có vẻ dường như nguên bản được soạn vào giữa thế kỷ thứ bảy, khi Mật giáo đạt được tình trạng hợp pháp trong các tự viện ở Ấn Độ. Trong khi bản tiếng Sanskrit chưa bao giờ được tìm ra, thì các bản không hoàn chỉnh được phát hiện qua các nguồn khác nhau: Kriyāsaṃgrāha, Indonesian Sang Hyang Kamahāyānan Mantranaya, Bhāvanākrama, và Pradīpoddyotana. Bản tiếng Hán dựa vào một bản chép tay được phục hồi lại từ tư trang của nhà chiêm bái Vô Hành (c:Wuxing 無行 ; d.674), bản nầy cũng như các thần chú khác, người ta cho rằng nó là lược bản (laghutantra 略本) từ quảng bản (s: mūlatantra 廣本) gồm 100.000 bài kệ (già-đà 迦陀). Một nỗ lực nhằm phục hồi lại nguyên bản tiếng Sanskrit do Từ Vân (Jiun 慈雲 ; 1718-1804), người đã sử dụng những đoạn trích dẫn trong luận giải Đại nhật kinh sớ ( c: Darijingshu 大日経疏 ) nguyên bản tiếng Hán. Luận giải toàn diện và thiết thực nầy, cùng với truyền thống nghi lễ được khéo léo duy trì, đã góp phần lớn lao cho tầm quan trọng của sự duy trì luận văn trong Mật tông Nhật Bản. Ngược lại, dường như nó ít thu hút sự chú ý ở Tây Tạng, Nơi luận giải được phiên dịch không muộn hơn trước thế kỷ thứ chín do Śīlendrabodhi và dPal-brtegs. Những luận giải trong sáng và phong phú của Phật Mật ( 佛密s: Buddhaguhya t: Sangs-rgyas-gsang-ba), một học giả thế kỷ thứ 8, như Vairocana-abhisambodhitantrapiṇḍartha cũng được dịch sang tiếng Tây Tạng. Đối với những học giả như Trí Pháp Tổ Sư (t: mKhas-grub-rje 智法祖師 ;1385-1438); khía cạnh nổi bật nhất của luận văn là sự tán đồng Vô tướng tam muội (無相三昧s: animittayoga; t: mtshan ma med pa'i rnal byor), là một pháp tu xác định tính chất ưu việt của nó trong các hành tantra (s: cārya 行 ) trong sự phân loại của Tây Tạng. Các phẩm tiếp theo trong bản tiếng Hán và tiếng Tây Tạng hơi có chút khác nhau, có giả thuyết là về sau, các phẩm nầy được sắp xếp lại cho thích hợp với truyền thống ưa phân tích lý giải. Sự tương đương giữa các phẩm nầy như sau: 1-5:1-5, 6+7:6, 8-12:10-14, 13:16, 14:15, 15-26:17-28, 27+31:29, 28-30:7-9. Quyển thứ 7 của bản tiếng Hán là nghi quỹ của toàn luận văn, hình như được soạn muộn hơn so với những phẩm trước và được lưu hành như 1 tác phẩm riêng biệt ở Ấn Độ. Bản nghi quỹ ngắn nầy, Mahāvairocana-abhisaṃbodhisambaddhapūjāvidhi, cũng do Kim Cương Trí (s: Vajrabodhi 金剛智) dịch với tên Yếu lược niệm tụng kinh (要略念誦經e: Abridged Recitation Sūtra). Xem Mahāvairocanasūtra, Satapiṭaka bộ 359, 1990 của Chikyo Yamamoto để biết phần dẫn nhập cho toàn bản dịch tiếng Anh.
Đại Tỳ-lô-giá-na 大毘盧遮那
[ja] ダイビロシャナ Daibiroshana ||| Mahāvairocana. See 大日如來. => s: Mahāvairocana. Xem Đại nhật Như Lai (大日如來).
đại tỷ
Một tên gọi lịch sự cho các vị nữ Phật tử thuần thành, tại gia hay xuất gia—Elder sister, a courtesy title for a lay female devotee, or a nun.
đại uy đức
Mahatejas (skt)—Có khả năng phá ác là uy, có công hộ thiện thì gọi là đức—Awe-inspiring power or virtue—Able to supress evil-doers and protect the good. 1) Đại Uy Đức trong Ca Lâu La Vương: A king of Garudas. 2) Đại Uy Đức trong Minh Vương: Title of a protector of Buddhism.
đại uy đức giả
Đại Uy Đức Minh Vương, danh hiệu của vị Minh Vương hộ trì Phật giáo—Title of a protector of Buddhism.
đại uy đức minh vương
804大威德,梵名 Yamāntaka,音譯閻曼德迦。又作降閻摩尊、六足尊。乃五大明王之一,鎮守西方。其異像極多,於胎藏界曼荼羅持明院之像,全身青黑色,呈忿怒形,六面六臂六足,坐於瑟瑟座上,背負火焰,手持戟、弓、索、劍、箭、棒等武器。此外,騎乘水牛之像亦頗多。以此尊為主尊之修法稱為大威德法。〔廣大儀軌卷中、胎藏界七集卷上〕(參閱「五大明王」1058)
; See Đại Uy Đức and Đại Uy Đức Giả.
; (大威德明王) Đại uy đức, Phạm: Yamàntaka, dịch âm: Diêm mạn đức ca. Cũng gọi Hàng diêm ma tôn, Lục túc tôn. Một trong năm Đại minh vương trấn giữ phương Tây. Vị tôn này có nhiều hình tượng khác nhau. Tượng ở viện Trì minh của mạn đồ la Thai tạng giới toàn thân mầu xanh thẫm, ngồi trên tòa sắt, hình phẫn nộ, sáu mặt sáu tay sáu chân, những ngọn lửa hừng hực ở phía sau lưng, tay cầm các thứ vũ khí như: kích, cung, vòng dây, gương, tên, gậy v.v... Ngoài ra, loại tượng cỡi trâu cũng nhiều. Phép tu lấy vị tôn này làm chính gọi là Đại uy đức pháp. [X. Quảng đại nghi quĩ Q.trung; Thai tạng giới thất tập Q.thượng]. (xt. Ngũ Đại Minh Vương).
đại uy đức tôn
See Đại Uy Đức and Đại Uy Đức Giả.
đại uy đức vương
Xem Diêm Mạn Uy nộ vương.
đại vi
ên cảnh trí Adarśa-jāna (S).
đại viêm nhiệt
Pratapana or Mahatapana—Địa ngục cực nóng, là địa ngục thứ bảy trong tám ngục nóng—The hell of great heat, the seventh of the eight hot hells.
Đại Viên Cảnh Trí
(大圓境智): hay Đại Viên Kính Trí (s: ādarśa-jñāna, 大圓鏡智), một trong 4 Trí (Đại Viên Kính Trí [大圓鏡智], Bình Đẳng Tánh Trí [平等性智], Diệu Quan Sát Trí [妙觀察智] và Thành Sở Tác Trí [成所作智]) của đức Phật, chỉ trí tuệ của đức Phật có thể ánh hiện một cách như thật tất cả các pháp. Giống như cái gương tròn, lớn, loại trí tuệ này trong sạch, tròn đầy, có thể phản chiếu tất cả hình tượng; Mật Giáo gọi nó là Kim Cang Trí (金剛智). Theo Duy Thức Tông, sau khi thành Phật, phiền não chuyển biến thành trí tuệ. Trí tuệ Phật này được chia thành 4 loại, trong đó, loại thứ tư (tức A Lại Da Thức [s: ālaya-vijñāna, p: ālaya-viññāṇa, 阿賴耶識]) sẽ chuyển biến thành Thanh Tịnh Trí, tức Đại Viên Kính Trí này. Trong Bát Thức Quy Cũ Tụng (八識規矩頌) có giải thích rằng: “Nhất sát na gian, vĩnh đoạn thế gian nhị chướng chủng tử, chuyển Đệ Bát Thức thành Đại Viên Kính Trí, thử thời xả khứ Dị Thục chi danh, nhi xưng vi A Đà Na Thức (一剎那間、永斷世間二障種子、轉第八識成大圓鏡智、此時捨去異熟之名、而稱爲阿陀那識, trong khoảng sát na, mãi đoạn các hạt giống của hai chướng ngại trên đời, chuyển Thức Thứ Tám thành Đại Viên Kính Trí; lúc bấy giờ bỏ đi tên gọi Dị Thục, mà gọi là A Đà Na Thức).” Hay như trong Nhân Thiên Nhãn Mục (人天眼目) quyển 5 cũng có đoạn: “Phật chuyển Bát Thức nhi thành Tứ Trí giả, dụng bát vi Đại Viên Kính Trí, thất vi Bình Đẳng Tánh Trí, lục vi Diệu Quan Sát Trí, tiền ngũ vi Thành Sở Tác Trí (佛轉八識而成四智者、用八爲大圓鏡智、七爲平等性智、六爲妙觀察智、前五爲成所作智, Phật chuyển Tám Thức thành Bốn Trí; dùng Thức Thứ Tám làm Đại Viên Kính Trí, Thức Thứ Bảy làm Bình Đẳng Tánh Trí, Thức Thứ Sáu làm Diệu Quan Sát Trí, và năm thức trước làm Thành Sở Tác Trí).”
đại viên cảnh trí
Great perfect mirror wisdom.
; Adarsa-jnana (skt)—Trí to lớn viên mãn hay trí hiển hiện các sắc tướng trong cảnh trí của Như Lai—Great perfect mirror wisdom—Perfect all-reflecting Buddha-wisdom.
đại viên cảnh trí quán
Quán về cái trí to lớn toàn thiện của Như Lai hay pháp quán Nhập Ngã Ngã Nhập. Thân Phật và ta như nhiều tấm gương tròn đặt đối diện nhau, gương và ảnh cái nầy nhập vào cái kia—A meditation on the reflection of the perfect Buddha-wisdom in every being, that as an image may enter into any number of reflectors, so the Buddha can enter into me and I into him.
Đại viên cảnh trí 大圓鏡智
[ja] ダイエンキョウチ daienkyōchi ||| 'Great Perfect Mirror Wisdom.' As a great round mirror reflects all forms exactly as they are, so does the wisdom of the Buddha. A clear, undefiled mind. (1) In Consciousness-only theory, one of the undefiled four wisdoms [四智] that one transforms the defiled mind into upon becoming a Buddha. It is the pure wisdom gained at Buddhahood by a qualitative transformation of the eighth consciousness. In this wisdom, the workings of mind and mental functions are acting in concordance with this wisdom. => Như một tấm gương tròn lớn phán chiếu mọi hình tượng đúng như thật, cũng là trí tụệ của chư Phật. Tâm trong sáng, không ô nhiễm. 1. Theo giáo lý Duy thức, đây là một trong bốn trí thanh tịnh được chuyển hoá từ tâm ô nhiễm và thành Phật. Đó là trí tuệ thanh tịnh đạt được khi thành Phật qua sự chuyển hoá phẩm tính thức thứ tám. Trong dạng trí tuệ nầy, hoạt dụng của tâm và tâm sở đều ứng xử phù hợp với sự sáng suốt lưu xuất từ trí tuệ ấy.
đại viên giác
Great and perfect enlightenment, Buddha-wisdom.
; Sự giác ngộ to lớn viên mãn hay là Phật trí—Great and perfect enlightenment—Buddha wisdom.
đại viên giác tự
872位於韓國京城慶幸坊之古寺。創建於朝鮮世祖九年(1464)。十一年,建立十三層窣睹婆,內置佛陀分身舍利、新譯圓覺經。塔由白色大理石所成,基壇三層雕有各種羅漢神將,第四層以上則刻佛菩薩像及各種刻銘。塔側有大圓覺寺碑,亦由白色大理石製成,上刻有螭首,係建於朝鮮成宗二年(1471)。碑面文字為金守溫撰,成任書,姜希孟篆,碑陰文字為徐居正撰,鄭蘭宗書。與十三層寺塔同為李朝美術之傑作,惜碑文多已磨滅不可辨識。〔大圓覺寺碑銘並序、朝鮮佛教通史、李朝佛教〕
; (大圓覺寺) Ngôi chùa cổ ở phường Khánh hạnh, kinh đô nước Đại hàn, được sáng lập vào năm Triều tiên Thế tổ thứ 9 (1464), năm Thế tổ 11 (1466) xây tòa tháp 13 tầng để thờ xá lợi của Phật và kinh Viên giác (bản dịch mới). Tháp làm bằng đá Đại lí mầu trắng, 3 tầng nền tháp chạm trổ các vị thần tướng La hán, từ tầng thứ 14 trở lên thì khắc tượng Phật, Bồ tát và các bài minh. Bên cạnh tháp có bia chùa Đại viên giác, cũng làm bằng đá Đại lí mầu trắng, được dựng vào năm Triều tiên Thành tông thứ 2 (1471). Trên trán bia khắc đầu con li (giống con rồng). Bài văn ở mặt trước bia do Kim thủ ôn soạn, Thành nhậm viết, Khương hi mạnh đề chữ triện. Văn ở mặt sau bia do Từ cư chính soạn, Trịnh lan tông viết. Đây là kiệt tác mĩ thuật của triều Lí, nhưng rất tiếc là văn bia phần nhiều đã mòn, không còn đọc được nữa. [X. Đại viên giác tự bi minh tinh tự; Triều tiên Phật giáo thông sử, Lí triều Phật giáo].
Đại Viên Kính Trí
(大圓鏡智): xem Đại Viên Cảnh Trí ở trên.
Đại viên kính trí
大圓鏡智; S: ādarśa-jñāna;|Một trong Năm trí.
đại viên kính trí
872請參閱 溈山靈祐禪師語錄 梵語 ādarśa-jñāna。即指可如實映現一切法之佛智。此種佛智,如大圓鏡之可映現一切形像,密教稱為金剛智。依唯識宗所說,成佛以後,煩惱即轉變為智慧。此種智慧可分四種,其第四種(即第八阿賴耶識)轉變為清淨智,此即大圓鏡智。密教將此四智,加上法界體性智,合稱五智,即東方阿閦佛所成之智。(參閱「五智」1161)
; (大圓鏡智) Phạm: àdarza-jĩàna. Trí gương tròn lớn. Chỉ cho trí tuệ của Phật. Trí Phật biết hết thảy các pháp một cách như thực, giống như tấm gương tròn lớn có khả năng ánh hiện tất cả hình tượng. Mật giáo gọi là trí Kim cương. Theo tông Duy thức, sau khi thành Phật, phiền não chuyển thành trí tuệ được chia làm bốn loại, loại thứ 4 (tức là thức A lại da) chuyển biến thành trí thanh tịnh, đó là trí Đại viên kính. Mật giáo đem Pháp giới thể tính trí thêm vào bốn trí của Duy thức thành năm trí. (xt. Ngũ Trí).
đại viên mãn pháp
871西藏佛教寧瑪派之主要修行方法。寧瑪派為修行密宗之主要宗派,其根本教法主張:人之心體,其本質純潔,遠離塵垢,故若能聽其自然,隨意而往,於空虛明淨中將心安於一境,即可成佛。
; (大圓滿法) Phương pháp tu hành chủ yếu của phái Ninh mã thuộc Phật giáo Tây tạng. Phái này chủ trương bản thể của tâm người ta vốn thuần khiết, xa lìa trần cấu, nếu cứ để tự nhiên, tùy ý ở giữa hư không trong sáng, an trú nơi một cảnh thì có thể thành Phật.
đại viên trí
Great Perfect Wisdom—Đại viên trí là Phật trí. Đây là trí biết tất cả và toàn vẹn. Những bậc giác ngộ như Duyên Giác và Thanh Văn cũng có trí tuệ, nhưng trí tuệ nầy so với đại viên trí thì quá nhỏ—Great Perfect Wisdom is the wisdom of all knowing, perfection, etc. Other enlightened beings such as Pratyeke-Buddhas and Sravakas also have wisdom bu their wisdom is infinitely small compaired to the “Great Perfect Wisdom.
đại viên tịch nhập
Great entrance into perfect rest—See Đại Bát Niết Bàn.
đại vân kinh
Xem Đại phương đẳng tướng Đại vân kinh.
đại vân luân kinh
Xem Đại Van luân Thỉnh vũ Kinh.
đại vân luân thỉnh vũ kinh
869請參閱 大方等無想經 請參閱 大方等無想經 請參閱 大方等無想經 請參閱 大雲輪請雨經 梵名 Mahā-megha-sūtra。凡二卷。唐代不空譯。略稱大雲輪經、請雨經。今收於大正藏第十九冊。內容收錄請雨時所受持之陀羅尼。卷上列出十種供養雲海、降雨之利益及五十四佛名,卷下舉示大陀羅尼。佛曾於難陀鄔波難陀龍王宮大雲道場寶樓閣中對大比丘、諸菩薩、百八十餘龍王等宣說此經。本經之同本異譯有三種:北周闍那耶舍所譯之大雲請雨品第六十四、隋代闍那崛多所譯之大方等大雲經請雨品第六十四各一卷、隋代那連提耶舍所譯之大雲輪請雨經二卷。其中,那連提耶舍所譯本,於一八七一年,由英國佛教學者比爾(S. Beal)英譯出版。一八八○年,英國佛教學者賓達(C. Bendall)復刊行本經之梵本及其英譯本。晚近於新疆吐魯番所發掘回鶻文字土耳古語佛典中之 Tišastvustik,其內容與本經頗為類似。〔大唐貞元續開元釋教錄卷上、貞元新定釋教目錄卷十五〕
; Mahā-megha sŪtra (S)Đại vân luân Kinh, Thỉnh Vũ KinhTên một bộ kinh.
; (大雲輪請雨經) Phạm: Mahà-megha-sùtra. Gồm 2 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 19. Gọi tắt: Đại vân luận kinh, Thỉnh vũ kinh. Nội dung đức Phật nói cho các vị Đại tỉ khưu, Bồ tát và hơn 180 Long vương ở lầu gác báu trong cung của long vương Nan đà ưu ba nan đà, về các bài thần chú Đà la ni được trì tụng trong lúc cầu mưa, về 10 thứ cúng dường vân hải, về sự lợi ích khi trời mưa, về 54 danh hiệu Phật và Đại đà la ni. Kinh này có 3 bản dịch khác: 1. Phẩm Đại vân thỉnh vũ 64, 1 quyển, do ngài Xà na da xá dịch vào đời Bắc Chu. 2. Đại phương đẳng đại vân kinh phẩm Thỉnh vũ 64, 1 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy. 3. Đại vân luân thỉnh vũ kinh, 2 quyển, do ngài Na liên đề da xá dịch vào đời Tùy. Bản thứ 3 này được học giả người Anh là S. Beal dịch ra tiếng Anh và xuất bản vào năm 1871. Đến 1880, bản tiếng Phạm và bản dịch Anh văn của kinh này lại được ông C. Bendall người Anh ấn hành. Gần đây, ở Thổ lỗ phồn Tân cương người ta đã đào được một số kinh điển Phật, trong đó có kinh Tisastvustik bằng cổ ngữ Thổ nhĩ chữ Hồi cốt, có nội dung rất giống với kinh này. [X. Đại đường trinh nguyên tục Khai nguyên thích giáo lục Q.thượng; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15].
đại vân quang minh tự
Chùa Đại Vân Quang Minh được xây lên vào đời nhà Tống khoảng năm 765—A monastery for Uigur Manichaens, ordered to be built by the Sung dynasty in 765 A.D.
đại vân thỉnh vũ kinh
Xem Đại Phương Đẳng Vô tướng Đại vân kinh.
Đại Vân Tổ Nhạc Nguyên Ðiền
大雲祖嶽原田; J: daiun sōgaku harada, 1870-1961;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, một trong những Thiền sư quan trọng nhất của Nhật Bản hiện đại.|Sư vào chùa tu học năm lên bảy và ban đầu tu tập theo tông Tào Ðộng. Sau, Sư đến tu tập tại một Thiền viện khác theo quy tắc của tông Lâm Tế. Năm lên 40, Sư được cử làm thị giả cho Ðộc Trạm Lão sư (j: dokutan rōshi), vị trụ trì Nam Thiền tự (j: nanzen-ji) và cũng là một trong những vị Thiền sư danh tiếng nhất thời đó. |Sau khi được Ðộc Trạm Ấn khả, Sư được mời đến trụ trì Pháp Tâm tự (j: hosshin-ji) tại tỉnh Obama và dưới sự quản lí của Sư, Thiền viện này trở thành một trung tâm tu học quan trọng của Thiền tông tại Nhật.|Các bài thuyết pháp của Sư cho những người mới nhập môn tu học thiền đạo được môn đệ chính của Sư là Bạch Vân An Cốc (j: hakuun yasutani) phổ biến rộng rãi tại phương Tây.
Đại Vân Tự
(大雲寺, Daiun-ji): hiện tọa lạc trong Thành Bạch Mã (白馬城, Hoạt Đài), Huyện Hoạt (滑縣), Phủ Đại Danh (大名府, Tỉnh Hà Nam). Vào ngày 15 tháng giêng năm thứ 20 (732) niên hiệu Khai Nguyên (開元), Hà Trạch Thần Hội (荷澤神會) thiết lập Đại Hội Vô Già (無遮大會) tại chùa này, tuyên bố rõ rằng Lục Tổ Huệ Năng (慧能) là chánh thống của Nam Tông Đạt Ma, còn Bắc Tông chỉ là phương tiện thuyết mà thôi và tiến hành nêu cao vai trò của Lục Tổ, bài xích Bắc Tông.
đại vân tự
868<一>位於甘肅武威縣東北。前涼王張天賜時所建。原名弘藏寺,後改天賜庵,武則天稱帝,令全國供奉大雲經,改天賜庵為大雲寺。寺有一鐘樓,為涼州八景之一,所掛銅鐘乃前涼王張氏所鑄。寺毀於民國十六年(1927)之大地震。 <二>俗稱鐵佛寺。位於山西臨汾縣。始建於唐貞觀年間。清康熙三十四年(1695)毀於地震,五十四年重建。 <三>又稱大雲經寺、摩尼寺、祆寺。乃唐代時奉則天武后之敕願,於全國諸州所建之大寺。日本之國分寺即仿照我國之大雲寺而造者。永昌元年(689),摩尼教之法朗偽作大雲經進獻與武后,武后改國號為周之同時,乃頒佈此經於天下各地,且下令造大雲寺。相傳當時所度之僧,約有千人。自文獻可知,長安、河內、涼州、揚州、溫州、淄州、柳州、宣州等皆曾造立大雲寺。其中,長安、河內(河南懷慶)、涼州(甘肅)等,係自古時已造之寺而改稱者。其時新建之寺並不多。
; (大雲寺) I. Đại Ứng Cúng. Danh hiệu của chư Phật, bậc đã dứt hết các điều xấu ác, mọi phiền não trói buộc, hoàn toàn giác ngộ, giải thoát tự tại, xứng đáng nhận sự cúng dường của người và trời,nên gọi là Ứng cúng. Ứng cúng, Phạm: Arhat, dịch âm: A la ha, danh hiệu chung của Tam thừa. Bởi vậy, để phân biệt với Thanh văn, Duyên giác nên gọi Ứng cúng của Phật là Đại ứng cúng. II. Đại Ứng Cúng. Một trong 37 danh hiệu của đức Phật A di đà. Tán A di đà Phật kệ (Đại 47, 421 thượng), nói: Hào quang đức Phật chiếu mười phương, nên Ngài có hiệu Quang viêm vương, ba đường tối tăm được soi sáng, con xin lạy bậc Đại ứng cúng.
đại vô lượng thọ kinh
Xem Kinh Vô lượng thọ.
; Amitabha-Vyùha-Sùtra (S).
; Đại Kinh—The Great Infinite Life Sutra—See Kinh Vô Lượng Thọ.
đại võng
The main principle of Budhism, likened to the great rope of a net.
đại văn hào
Great writer.
đại văn thù tự
755又作文殊真容院、菩薩頂真容院。位於五臺山靈鷲峰。唐代法雲創建,延請名匠安生塑造大聖文殊尊像,塑像之初,二人相與懇禱,求文殊菩薩一現聖容,七日之後,光中果現菩薩德相,遂得傳寫,故稱真容院。開元以後,密教瑜伽諸師多喜來棲,宋太宗、真宗時兩度修葺,並造大閣一座,明永樂初年,再度修建,敕命改為大文殊寺,成化七年(1471)造鍍金文殊乘獅子像置於本寺。入清後,康熙年間嘗重建,皆用黃瓦金鸞,並改稱「大聖真容寺」,命札薩克喇嘛駐寺,遂成密教首寺。〔清涼山志卷二大文殊寺條〕
; (大文殊寺) Cũng gọi Văn thù chân dung viện, Bồ tát đính chân dung viện. Ngôi chùa trên ngọn Linh thứu núi Ngũ đài ở tỉnh Sơn tây Trung quốc, do ngài Pháp vân sáng lập vào đời Đường. Bấy giờ, ngài Pháp vân mời người thợ nổi tiếng tên An sinh tôn tạo Thánh tượng Văn thù. Trước khi đắp tượng, ngài Pháp vân và An sinh chí thành cầu nguyện xin Bồ tát hiển hiện Thánh dung, sau bảy ngày, trong ánh sáng quả nhiên hiện đức tướng bồ tát Vănthù, An sinh liền theo chân dung ấy mà đắp tượng, cho nên gọi là viện Chân dung. Từ sau năm Khai nguyên (713), các sư Du già Mật giáo thường hay tới chùa này. Thời vua Thái tông, Chân tông đời Tống, chùa được trùng tu hai lần và làm thêm một tòa lầu gác. Đến đầu năm Vĩnh lạc (1403) đời Minh, chùa được làm lại và vua ban sắc lệnh đổi tên là Đại văn thù tự. Năm Thành hóa thứ 7 (1471), chùa tạo pho tượng Văn thù cỡi sư tử mạ vàng để thờ. Sang đời Thanh, khoảng năm Khang hi, chùa được trùng tu, lợp ngói kim loan mầu vàng và đổi tên là Đại thánh chân dung tự. Nhà vua mời Lạt ma Trát tát khắc trụ trì, từ đó, chùa Đại văn thù trở thành ngôi chùa quan trọng của Mật giáo. [X. điều Đại văn thù tự trong Thành lương sơn chí Q.2].
đại vũ
Ta-yu (C)Người sáng lập nhà Hạ.
đại vương
Mahārāja (S), Great Emperor.
; 1) Đại Hoàng Đế: Emperor—Your Majesty. 2) Một trong Tứ Thiên Vương: Maharaja (skt)—See Tứ Thiên Vương.
đại vệ tư
887(Davids, Thomas William Rhys; 1843~1922)英國佛教學者。又常譯為瑞斯戴維斯。一八八三年以來任倫敦大學教授,講授巴利語。復執教於曼徹斯特(Manchester)大學,講授比較宗教學(1904~1915)。一八八二年設立巴利語聖典協會(Pali Text Society),組織和推動歐美佛學研究,刊行巴利文佛典與註釋之絕大部分。晚年,又與史惕德(W. Stede)合著巴利英文辭典(Pali-English Dictionary),予研究者莫大之便利。此外,另著有佛教(Buddhism, 1877)、本生經(Buddhist Birth Stories, 1880)、彌蘭王問經(The Questions of King Milinda, 1890)等書。大衛斯夫人卡珞琳(Caroline Augusta Davids)亦為佛教學者,自一八九四年結婚以來任曼徹斯特之維多利亞大學及倫敦大學東方研究學院講師,講授印度哲學、佛教學等。又從事巴利語聖典之英譯,及原始佛教、阿毘達磨之研究。除襄助其夫外,亦著有佛教(Buddhism, 1912)、早期佛教之禮讚(Psalms of the Early Buddhists, 2 vols., 1909~1913)、佛教心理學(Buddhist Psychology, 1914)、佛教之根本教義(What was the Original Gospel in Buddhism? 1938)等書。
; (大衛斯) (1843-1922) Davids, Thomas William Rhys. Học giả Phật giáo người Anh. Ông là giáo sư của các Đại học London và Manchester, giảng dạy tiếngPàli và môn Tỉ giảo tôn giáo học. Năm 1882, ông thành lậpPàli Text Society (Hiệp hội Pàli ngữ Thánh điển), tổ chức và cổ vũ phong trào nghiên cứu Phật học ở Âu Mĩ, chú thích và ấn hành phần lớn kinh điển Phật giáo bằng tiếngPàli. Ông soạn chung với W. Stede bộPàli-English Dictionary (Pàli Anh Từ Điển) rất tiện cho những nhà nghiên cứu. Ngoài ra, ông còn có các tác phẩm: Buddhism (Phật giáo, 1877). Buddhist Birth Stories (kinh Bản sinh, 1880), The Questions of King Milinda (kinh Di lan vương vấn, 1890) v.v... Vợ của ông là bà Caroline Angusta Davids cũng là học giả Phật giáo, bà từng là giảng sư tại các Đại học Victoria Manchester và viện nghiên cứu Đông phương học Đại học Luân đôn, dạy các môn Triết học Ấn độ và Phật giáo học. Ngoài ra, bà còn tham dự việc phiên dịch Thánh điển Pàli ra tiếng Anh và nghiên cứu Phật giáo nguyên thủy, A tì đạt ma v.v... Bà có các tác phẩm: Buddhism (1912), Psalms of the Early Buddhists (Lễ tán của Phật giáo ở thời kì đầu, 2 vols., 1909 - 1913), Buddhist Psychology (Tâm lí học Phật giáo, 1914), What was the Original Gospel in Buddhism? (Giáo nghĩa căn bản của Phật giáo, 1938) v.v...
đại vọng ngữ giới
xem ba-la-di.
Đại Vực Long
大域龍; S: (mahā-) dignāga, diṅnāga; tên dịch nghĩa, thường được gọi theo âm là Trần-na.|Trần-na
đại vực long
Dignaga (skt)—Maha-Dignaga—Cũng được biết dưới tên Trần Na, là vị luận sư Ấn Độ nổi tiếng về Nhân Minh Học vào thế kỷ thứ năm sau Tây Lịch. Những tác phẩm của ông chỉ được biết qua những dịch phẩm Tây Tạng mà thôi—Also known as Jina, founder of the Medieval school of Buddhist Logic about the fifth century A.D. His works are known only in Tobetan translation.
đại vực long bồ tát
Mahā-dinnāga (S)Ma ha Trần na giàTên một vị Bồ tát.
đại xa
Cỗ xe lớn mà Đức Phật đã đề cập khi nói về căn nhà lửa trong Kinh Pháp Hoa—The great bullock-cart in the parable of the burning house.
Đại Xuyên Phổ Tế
(大川普濟, Daisen Fusai, 1179-1253): vị tăng của Phái Đại Huệ (大慧派) thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Đại Xuyên (大川), xuất thân vùng Phụng Hóa (奉化), Tứ Minh (四明, Tỉnh Triết Giang), họ là Trương (張). Năm 19 tuổi, ông theo xuất gia với Văn Hiến (文憲) ở Hương Lâm Viện (香林院), rồi đến tham học với Hà Ốc Thường (荷屋常) ở Thoại Nham Tự (瑞巖寺), và cuối cùng đại ngộ qua lời dạy của Triết Ông Như Diễm (浙翁如琰). Sau khi đến tham vấn thêm một số vị tôn túc khác như Tùng Nguyên (松源), Khẳng Đường (肯堂), Si Độn (癡鈍), Tức Am (息庵), Không Tẩu (空叟), Vô Chứng (無証), ông bắt đầu xuất hiện bố giáo ở Diệu Thắng Viện (妙勝院) thuộc Phủ Khánh Nguyên (慶元府) vào năm thứ 10 (1217) niên hiệu Gia Định (嘉定). Từ đó về sau, ông đã từng sống qua các nơi như Báo Quốc Tự (報國寺), Quan Âm Viện (觀音院), Đại Trung Tự (大中寺) ở Khánh Nguyên, rồi Quang Hiếu Tự (光孝寺) ở Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Triết Giang), Thập Phương Tự (十方寺) ở Thiệu Hưng (紹興, Tỉnh Triết Giang), Tịnh Từ Tự (淨慈寺), Linh Ẩn Tự (靈隱寺) ở Lâm An (臨安, Tỉnh Triết Giang), v.v. Vào ngày 18 tháng giêng năm đầu (1253) niên hiệu Bảo Hựu (寳祐), ông thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi đời và 56 hạ lạp. Ông có để lại các trước tác như Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, 20 quyển), Đại Xuyên Hòa Thượng Ngữ Lục (大川和尚語錄, 1 quyển). Vật Sơ Đại Quán (物初大觀) thì biên soạn hành trạng của ông.
đại xá
General amnesty.
đại xí thạnh quang
Kim Luân Phật Đảnh Tôn—The Great Blazing Perfect Light (title of a Buddha).
đại xích hoa
Mahamanjusaka—Ma-ha-mạn-thù-sa—Rubia cordifolia, from which madder is made.
đại xưng bồ tát
Mahāyaśas (S)Tên một vị Bồ tát.
Đại Xả
大捨; 1120-1180|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ 10, đắc pháp nơi Thiền sư Ðạo Huệ.|Sư họ Hứa, quê ở phường Ðông Tác (nay thuộc huyện Hoàng Long, Hà Ðông), xuất gia theo học với Thiền sư Ðạo Huệ từ nhỏ. Sau khi được Ðạo Huệ Ấn khả, Sư đi đây đó hoằng hoá và tương truyền rằng, Sư chuyên trì tụng kinh Hoa nghiêm và niệm chú của Bồ Tát Phổ Hiền.|Một hôm, vua Lí Anh Tông triệu vua Sư vào cung hỏi: »Trẫm bị phiền muộn, Sư có thuật gì trị chăng?« Sư đáp: »Pháp Mười hai nhân duyên là căn bản tiếp nối sinh tử, cần lấy nó để trị, nó thật là phương thuốc hay vậy.« Vua hỏi: »Ý chỉ nó thế nào?« Sư đáp: »Vô minh là nhân duyên của hành cho đến lo buồn khổ não. Muốn cầu quả Bích-chi Phật nên nói mười hai nhân duyên. Ðem trị trong thân này thì không còn phiền não.« Vua hỏi: »Thế thì trẫm phải tĩnh tâm tu tập?« Sư đáp: »Khi ngăn chặn yên tịnh được nghiệp thức, tức là lóng trong phiền não thì không còn pháp nào khác đáng tu tập cả. Xưa kia vua Lương Vũ Ðế thường đem vấn đề này hỏi Thiền sư Bảo Chí, Bảo Chí cũng đáp như thế. Hôm nay trộm vì bệ hạ đưa ra điều tương tự ấy.«|Ngày mồng 2 tháng 5, niên hiệu Trinh Phù thứ 5, Sư gọi đệ tử dặn dò truyền kệ:|四蛇同篋本來空。五蘊山高亦不宗|真性靈明無罣礙。涅槃生死任遮籠|石馬齒狂獰。食苗日月鳴|塗中人共過。焉上人不行|Tứ xà đồng khiếp bản lai không|Ngũ uẩn sơn cao diệc bất tông|Chân tính linh minh vô quải ngại|Niết-bàn sinh tử nhậm già long|Thạch mã xỉ cuồng nanh|Thực miêu nhật nguyệt minh|Ðồ trung nhân cộng quá|Yên thượng nhân bất hành.|*Bốn rắn chung rương trước giờ không|Núi cao năm uẩn đâu chủ ông|Chân tính sáng ngời không chướng ngại|Niết-bàn sinh tử mặc che lồng|Ngựa đá nhe răng cuồng|Ăn mạ ngày tháng kêu|Ðường cái người đồng qua|Trên mây không kẻ đến.|Nói kệ xong đến canh năm Sư thị tịch, thọ 61 tuổi.
đại xả
Great abandonment.
đại xả thiền sư
Zen Master Đại Xả (1120-1180)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Hà Đông, Bắc Việt. Ngài xuất gia lúc tuổi hãy còn rất trẻ và trở thành đệ tử của Thiền sư Đạo Huệ. Ngài là pháp tử đời thứ 10 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Ngài thường ở Tuyên Minh Hỗ Nham lập chùa giáo hóa. Một hôm vua Lý Anh Tông cho triệu sư vào triều để hỏi xem sư có pháp nào trị được chứng phiền muộn của vua hay không. Sư bảo vua nên thực tập quán “Thập Nhị Nhân Duyên.” Hầu hết cuộc đời của ngài, ngài chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại Bắc Việt. Ngài thị tịch năm 1180, thọ 61 tuổi—A Vietnamese Zen master from Hà Đông, North Vietnam. He left home and became a disciple of Đạo Huệ since he was very young. He was the Dharma heir of the tenth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. He always stayed at Tuyên Minh Hỗ Nham to build temples to save people. One day, king Lý Anh Tông summoned him to the capital to ask if he had any Dharma to control the king's depression. He told the king that he should practice the contemplation of the twelve conditions of cause-and-effect (nidana). He spent most of his life to revive and expand Buddhism in North Vietnam. He passed away in 1180, at the age of 61.
đại xảo
Very skilful.
đại y
xem ba tấm pháp y.
; 795(1617~1683)明末曹洞宗僧。福建莆田人,俗姓吳。號南庵。世稱南庵大依禪師。年十二出家,首參謁竹林豫,一日見首座開示鄰僧,豁然得悟,乃北遊下相(江蘇),結茅於白鹿湖畔。偶泛舟湖中,聞十頃花香,始卸除平日之執著。復參謁嵩乳道密,並嗣其法。後受道密之囑託,出住六處道場,晚年歸養於淮(江蘇)之湖心寺。清康熙二十二年八月示寂,世壽六十七。傳法門人共三十七人。有語錄、詩文百餘卷傳世。〔五燈全書卷一一六、佛祖道影卷三〕
; Sanghāti (P)Tăng già lê.
; Saṃghāti (S), Saṅghāti (P), Ceremonial robe áo cửu điều, y cửu điều, áo tăng già lê, y đắp ngoài của chư tăngCà sa 9 đến 25 điều Được may bởi 9 mảnh vải hàng dài, mỗi hàng hai miếng dài một miếng ngắn. Chỉ được đắp khi đi đến chốn đông người, đi trì bình, nhập chúng thọ trai, khi lễ tháp, khi nghe kinh, khi lễ cao tăng. Nạp y chỉ chung la bộ y 3 cái, y đắp ngoài là y tăng già, y đáp gìữa là y uất đa la tăng và y mặc trong là y an đà hội.
; Y của chư Tăng, may bằng cách ghép vải vào nhau, từ chín đến hai mươi lăm miếng—The monk's patch-robe, made in varying grades from nine to twenty-five patches.
; (大依) (1617 - 1683) Vị Thiền tăng tông Tào động ở cuối đời Minh, người huyện Bồ điền, tỉnh Phúc kiến, họ Ngô, hiệu Nam am, người đời gọi ngài là Nam am Đại y thiền sư. Năm 12 tuổi, sư xuất gia, tham học ngài Trúc lâm dự. Một hôm, thấy Thủ tọa khai thị cho vị tăng bên cạnh, sư thình lình tỉnh ngộ, bèn đến Hạ tương (Giang tô) kết am tranh bên hồ Bạch lộc tu tập. Một ngày kia, đang thả thuyền giữa hồ, sư nghe mùi hoa thơm bát ngát, hoát nhiên đại ngộ. Sư đến tham yết ngài Tung nhũ Đạo mật và được nối pháp. Về sau, sư được ngài Đạo mật phó chúc, ra hoằng pháp tại sáu đạo tràng. Tháng 8 năm Khang hi 28 đời Thanh sư tịch, thọ 67 tuổi, đệ tử nối pháp có 37 người. Tác phẩm gồm thi văn, ngữ lục hơn trăm quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.116; Phật tổ đạo ảnh Q.3].
Đại Y chỉ
bậc có đức hạnh và trí tuệ đủ để cho tất cả mọi người nương theo.
Đại Y Thiền sư 大醫禪師
[ja] ダイイゼンシ Daii zenshi ||| A popular name for the famous Chan master Daoxin 道信. => Tên thường gọi của thiền sư nổi tiếng Đạo Tín (c: Daoxin 道信).
đại y vương
903指佛、菩薩。佛、菩薩善能分別病相、曉了藥性、治療眾病,故以「大醫王」喻稱之。雜阿含經卷十五以大醫王所具有之四法成就比喻佛菩薩之善療眾病,即:(一)善知病。(二)善知病源。(三)善知對治疾病之法。(四)善治病已,令當來更不復發。此大醫王能分別病相,曉了藥性,視眾生之病而授與藥方,使之樂服,故以大醫王廣喻佛菩薩。又為藥師如來之特稱。大乘本生心地觀經卷八(大三‧三三○中):「大醫王應病與藥,菩薩隨宜演化。」〔維摩經卷中、大智度論卷二十二〕
; Great Lord of Healing, an epithet of Buddha and bodhisattvas.
; Một danh hiệu của Phật và Bồ Tát—Great Lord of healing, an epithet of Buddhas and bodhisattvas.
; (大醫王) Người thầy thuốc giỏi được dùng để ví dụ Phật và Bồ tát. Kinh Tạp a hàm quyển 15 nói, bậc Đại y vương thành tựu bốn pháp: 1. Chẩn đoán giỏi. 2. Biết rõ nguyên nhân sinh bệnh. 3. Biết phương pháp chữa bệnh. 4. Trị dứt căn bệnh không để tái phát. Ngoài ra, danh từ Đại y vương còn đặc biệt được dùng để tôn xưng đức Dược sư Như lai. Kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 8 (Đại 3, 330 trung), nói: Đại y vương tùy bệnh cho thuốc, Bồ tát theo căn cơ của chúng sinh mà giáo hóa. [X. kinh Duy ma Q.trung; luận Đại trí độ Q.22].
đại yếu
Essential.
đại ác
Very cruel; monstruous.
; Very cruel.
đại ác tượng
Voi cực kỳ hung ác, ví với tâm cuồng loạn không thuần thục—The great wild elephant, the untamed heart.
đại ái
Tên của Thần Biển—Name for sea-god.
Đại Ái Đạo
xem Ma-ha Ba-xà-ba-đề Kiều-đàm-di.
đại ái đạo
Ma-ha-ba-xà-ba-đề—Mahaprajapati (skt). • Dì ruột, người chăm sóc và cũng là kế mẫu của Đức Phật—Gautama's aunt, nurse and foster mother. • Còn có tên là Kiều Đàm Ni, là vị Tỳ Kheo Ni đầu tiên trong Phật giáo—Also named Gotami or Gautami, the first woman received into the order (the first nun in Buddhism history). • Ni Chúng Chủ: Head of the community of nuns. • Sẽ trở thành Phật Sarvasattvapriyadarsana: She is to be reborn as Buddha named Sarvasattvapriyadarsana.
đại ái đạo tỉ khâu ni kinh
873梵名 Mahā-prajāpatī-bhikṣuṇī-sūtra。凡二卷。譯於北涼,譯者不詳。今收於大正藏第二十四冊。又作大愛道受戒經、大愛道經。內容敘述比丘尼所應受持之戒律。佛於迦維羅衛釋氏精廬時,姨母大愛道請求出家、受持佛之法律,佛不許,阿難以姨母對佛有養育之恩,多次代為懇請,佛遂聽許之,為說比丘尼種種戒律。蓋大愛道依阿難之斡旋,得出家受八敬、十戒等法,於中阿含卷二十八瞿曇彌經、中本起經卷下瞿曇彌來作比丘尼品、四分律卷四十八、五分律卷二十九等均廣說之,本經或即根據此等所說加以敷陳而成。開元釋教錄將本經編為北涼失譯經。〔出三藏記集卷三新集安公涼土異經錄、法經錄卷五、大藏聖教法寶標目卷八〕
; (大愛道比丘尼經) Phạm: Mahà-prajàpatì-bhikwuịìsùtra. Gồm 2 quyển, được dịch vào thời Bắc Lương, nhưng không rõ dịch giả, thu vào Đại chính tạng tập 24. Cũng gọi Đại ái đạo thụ giới kinh, Đại ái kinh. Nội dung nói về giới luật mà các vị tỉ khưu ni phải thụ trì. Khi đức Phật ở trong nhà họ Thích tại nước Ca duy la vệ (quê hương của Phật), Di mẫu Đại ái đạo xin Phật xuất gia, nhận giữ giới pháp, nhưng đức Phật không cho. Tôn giả A nan mới đem việc Di mẫu có ơn dưỡng dục Phật, thay bà nhiều lần cầu xin, Phật bèn chấp thuận, rồi nói pháp Bát kinh, Thập giới và các loại giới luật của Tỉ hưu ni. Sự việc trên đây đã được nói đến nhiều trong kinh Cù đàm di Trung a hàm quyển 28, phẩm Cù đàm di lai tác tỉ khưu ni trong kinh Trung bản khởi quyển hạ, luật Tứ phần Q.48; luật Ngũ phần quyển 29 v.v.. Kinh Đại Ái đạo tỉ khưu ni này có lẽ đã căn cứ vào những tư liệu nói trên, rồi diễn tả thêm mà thành. Khai nguyên thích giáo lục ghi kinh này là Bắc Lương thất dịch kinh(kinh được dịch vào thời Bắc Lương, nhưng mất tên dịch giả). [X. Xuất tam tạng kí tập Q.3 mục Tân tập An công Lương thổ dị kinh lục; Pháp kinh lục Q.5; Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục Q.8].
đại ái đạo tỳ kheo ni kinh
Mahā-prājapati-bhiksuni sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
Đại Ái Đạo tỷ-khưu ni kinh 大愛道比丘尼經
[ja] ダイアイドウヒクニキョウ Daiaidō bikuni kyō ||| Daaidao biqiuni jing; 2 fasc., translator unknown. T 1478.24.945b-955a. => (c: Daaidao biqiuni jing); 2 quyển. Dịch giả vô danh.
đại âm
807(1593~1642)明代曹洞宗僧。世稱久默大音禪師。浙西石門人,俗姓姚。家貧,以操舟為業,每於僧舍聞佛聲,輒心生歡喜。二十四歲出家,參謁雲門山湛然圓澄,忽染病幾斃,乃悟前非;復聞瑞白明雪於湖州(浙江)弁山創龍華寺,遂往參叩,得其印記,並嗣其法。後繼弁山法席,振揚禪風。崇禎十五年示寂,享年五十,法臘二十七。〔五燈全書卷一一三〕
đại ân
Great grace—Great favor.
đại ân giáo chủ
Vị giáo chủ có ân lớn với nhân loại, chỉ Đức Phật—The Lord of great grace and teacher of men—Buddha.
Đại ân 大恩
[ja] ダイオン daion ||| The great mercy, or great grace, of the Buddha. 〔法華經 T 262.9.18c23〕 => Lòng từ bi, ân đức rộng lớn của Đức Phật.
đại ân, đại đức
Great bounty, or favour; the leading virtues.
đại ý
872<一>指經論之大體綱要。即一部經論中,初分大意,談教起因由及其綱要;次有題號,解釋名題;後始入文解釋。摩訶止觀卷一上(大四六‧四上):「初釋大意,囊括始終,冠戴初後。」〔法明眼論鈔卷上〕 <二>十六開士之一。又作上慧、廣慧。係大乘佛教最初之在家菩薩之一,其族姓、事蹟今已不詳。〔大智度論卷七〕(參閱「十六開士」392)
; The general meaning, or summary of a sùtra or sastra.
; (大意) I. Đại Ý. Ý chỉ trọng yếu trong một bộ kinh luận. Ma ha chỉ quán quyển 1 phần trên (Đại 46, 4 thượng), nói: Đại ý thu tóm trước sau, bao trùm toàn bộ. [X. Pháp minh nhãn luận sao Q.thượng]. II. Đại Ý. Cũng gọi Thượng tuệ, Quảng tuệ. Vị Bồ tát tại gia đầu tiên của Phật giáo Đại thừa. Một trong 16 Khai sĩ. [X. luận Đại trí độ Q.7]. (xt. Thập Lục Khai Sĩ).
đại ý kinh
873全一卷。劉宋求那跋陀羅譯。收於大正藏第三冊。「大意」為童子之名,係佛陀過去世前身之一。本經內容敘述大意童子欲濟助其國之貧,遂入海求寶,聞海底有明珠,欲抒海水而採之。天帝感其精誠,前來助之,海神大恐慌,急忙出珠,大意童子乃得明珠,施與國人。
; Kinh viết về một vị đồng tử, tiền thân của Phật Thích Ca, được Cầu Na Bạt Đà La đời Tống dịch sang Hoa ngữ—The Sutra written about a youth, an incarnation of Sakyamuni Buddha, translated by Gunabhadra in the Sung dynasty. ** For more information, please see Đại Ý.
; (大意經) Có 1 quyển, do ngài Cầu na bạt đà la dịch vào đời Lưu Tống, thu vào Đại chính tạng tập 3. Đại ý là tên của đồng tử, một trong những tiền thân của đức Phật ở thời quá khứ. Nội dung kinh này thuật chuyện đồng tử Đại ý vì muốn cứu giúp người nghèo trong nước, nên ra biển tìm của báu. Đồng tử nghe nói dưới đáy biển có hạt minh châu, định lặn xuống để lấy. Thiên đế cảm động trước lòng chân thành của đồng tử, bèn đến giúp đỡ khiến thần biển sợ hãi, vội vàng đem ngọc đến nạp. Đồng tử Đại ý được ngọc minh châu, đem về bố thí cho mọi người trong nước.
đại ý long vương
Manasvin-nāga-rāja (S).
; Manasvin (S), Manasvin-nāga-rāja (S)Ma na tư Long vươngMột trong Bát đại Long vương, gồm: Hoan Hỷ Long vương, Hiền Hỷ Long vương, Long vương hải, Bảo Hữu Long vương, Đa Thiệt Long vương, Vô nhiệt não Long vương, Đại ý Long vương, Thanh Liên Long vương.
đại ý phật pháp
Tác dụng của Phật pháp là muốn phát minh thể dụng của tự tánh, đại ý chẳng ngoài hai chữ “lập” và “phá”. Nhân thừa, Thiên thừa thì chỉ lập mà chẳng phá; Đại thừa, Tiểu thừa thì có lập có phá; Tối thượng thừa thì chỉ phá mà chẳng lập. Lập là kiến lập tất cả giả danh, phá là phá trừ tri kiến chấp thật.
Đại ý 大意
[ja] ダイイ dai-i ||| The drift of, the scope of, outline. => Nội dung chính, mục tiêu, đường nét chính.
đại ýù
1) Ý chính của kinh điển—The general meaning (summary or idea) of a sutra. 2) Một vị đồng tử, tiền thân của Phật Thích Ca, muốn cứu giúp những người nghèo trong nước, liền xuống biển định tát cạn để tìm châu báu. Vua Trời Đế Thích cảm thông bèn giúp sức; thần biển sợ hãi phải đưa ngọc ra—The name of a youth, a former incarnation of Sakyamuni; to save his nation from their poverty, he plunged into the sea to obtain a valuable pearl from the sea-god who, alarmed by the aid rendered by Indra, gave up the pearl.
đại đa số
Great majority.
đại điên
Tên Bảo Thông, hiệu Đại Điên, một danh sư đời nhà Nguyên, tu hành đắc đạo đến cọp beo cũng qui phục. Ông mất năm 93 tuổi vào năm 824 sau Tây Lịch, ông là tác giả của Đại Tâm Kinh và Kim Cang—Ta-Tien, the appellation (hiệu) of a famous monk and writer, named Pao-T'ung, whom tigers followed; he died at 93 years of age in 824 A.D., author of the Great Heart and Diamond Sutras.
Đại Điên Bảo Thông
(大顚寳通, Daiten Hōtsū, 732-824): pháp từ của Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷), còn được gọi là Đại Điên (大顚), sống tại Linh Sơn (靈山) vùng Triều Châu (潮州, Tỉnh Quảng Đông). Ông có giao thiệp với Hàn Dũ (韓愈), người trình tấu tờ biểu Luận Phật Cốt (論佛骨) vào năm thứ 14 (819) niên hiệu Nguyên Hòa (元和), nhân vật bài xích Phật Giáo mà bị vua Hiến Tông (憲宗) lưu đày đến địa phương Triều Châu. Ông thị tịch vào năm thứ 4 (824) niên hiệu Trường Khánh (長慶), hưởng thọ 93 tuổi.
; 大顛寶通; C: dàdiān bǎotōng; J: daiten hōtsū; ?-819;|Thiền sư Trung Quốc. Sư đắc pháp nơi Thạch Ðầu Hi Thiên. Trong các đệ tử nối Pháp của Sư có Thiền sư Tam Bình Nghĩa Trung hay được nhắc đến.|Sư họ Dương, người Dĩnh Châu. Ban đầu, Sư đến tham vấn Thạch Ðầu, Thạch Ðầu hỏi: »Cái gì là tâm ngươi?« Sư thưa: »Nói năng là tâm.« Nghe vậy Thạch Ðầu đuổi ra. Hơn một tuần sau, Sư lại đến hỏi: »Trước đó chẳng phải, ngoại trừ cái này, cái gì là tâm?« Thạch Ðầu bảo: »Trừ bỏ nhướng mày chớp mắt, đem tâm lại!« Sư đáp: »Không tâm có thể đem lại.« Thạch Ðầu lại hỏi: »Nguyên lai có tâm sao nói không tâm? Không tâm trọn đồng với hư vô.« Ngay câu nói này, Sư đại ngộ.|Sau, Sư từ biệt Thạch Ðầu đến Linh Sơn, Triều Châu ở ẩn. Học chúng quy tụ về vẫn khá đông. Sư thường dạy chúng: »Chỉ trừ bỏ tất cả những vọng động tưởng niệm xét lường, tức chân tâm của ngươi. Tâm này cùng trần cảnh và khi kiềm giữ lặng lẽ hoàn toàn không dính chấp. Tức tâm là Phật không đợi tu sửa…«|Có vị tăng hỏi: »Trong kia, khi người thấy nhau thì thế nào?« Sư đáp: »Trước chẳng có trong kia.« Tăng lại hỏi: »Trong kia thế nào« Sư đáp: »Chẳng hỏi câu ấy.«|Không biết Sư tịch nơi nào.
đại điên bảo thông
905(732~824)唐代僧。穎川人,俗姓陳(一說楊)。法號寶通,自號大顛和尚。據潮州府志載,大歷年中,與藥山惟儼並師事惠照於西山。復與之遊南嶽,參謁石頭希遷,大悟宗旨,得曹溪之緒。於潮州西幽嶺下創建靈山禪院,出入有猛虎相隨,門人傳法者千餘人。韓愈被謫貶潮州時,聞大顛之名,召至,留十餘日,謂其能外形骸,以理自勝,因與師往來相交,過從甚密。長慶四年,師辭眾而逝,世壽九十三。著有般若波羅蜜多心經及金剛經釋義。又嘗自書金剛經千五百遍、法華、維摩經各三十部。其墓塔築於寺側。唐末有賊發其塔,骨髀盡化,唯舌根猶存如生,復瘞之,號瘞舌塚。宋至道年中,鄉人復挖視之,唯見舌鏡而已,乃疊石藏之,號舌鏡塔。〔景德傳燈錄卷十四、祖庭事苑卷四、五燈會元卷五〕
; Xem Đạt thiên Bảo Động.
; (大顛寶通) Vị tăng đời Đường. Người Dĩnh xuyên, họ Trần (có thuyết nói họ Dương). Pháp hiệu Bảo thông, tự hiệu Đại điên hòa thượng. Cứ theo Triều châu phủ chí chép, thì trong năm Đại lịch, sư và Dược sơn Duy nghiễm cùng thờ ngài Huệ chiếu ở Sơn tây làm thầy. Sau, hai người cùng đi đến Nam nhạc tham vấn ngài Thạch đầu Hi thiên, sư đại ngộ tông chỉ. Về sau, sư sáng lập Thiền viện Linh sơn ở dưới núi Tây u tại Triều châu, mỗi khi sư ra vào có cọp (hổ) dữ đi theo. Học trò được truyền pháp có tới hơn nghìn. Khi Hàn dũ bị đày đến Triều châu, nghe danh sư nên mời đến, giữ sư lại hơn mười ngày, thấy phong độ của sư thanh thoát, tự tại, do đó, kết bạn tương giao, qua lại rất thân mật. Năm Trường khánh thứ 4 sư tịch, thọ 93 tuổi. Tháp của sư được xây cất bên cạnh chùa. Cuối đời Đường, giặc đến mở tháp, xương cốt tan hết, chỉ có cái lưỡi còn nguyên như sống nên đem chôn lại, gọi là Ế thiệt trủng (Mộ chôn lưỡi). Trong năm Chí đạo đời Tống, người làng lại đào lên xem, chỉ thấy cái gương lưỡi,bèn lấy đá chồng lên để cất giấu, gọi là Thiệt kính tháp (Tháp gương lưỡi). Sư có trứ tác: Bát nhã ba la mật đa tâm kinh và Kim cương kinh thích nghĩa. Sư còn tự chép kinh Kim cương 1500 biến, kinh Pháp hoa và kinh Duy ma mỗi kinh 30 bộ. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.14; Tổ đình sự uyển Q.4; Ngũ đăng hội nguyên Q.5].
đại điên lương cửu cơ duyên
905禪宗公案名。乃大顛、韓愈、三平義忠三人之問答語句。大顛,指石頭希遷之法嗣大顛寶通,三平則為大顛之侍者。聯燈會要卷二十(卍續一三六‧三七七下):「侍郎文公韓愈(中略)暇日謁大顛,問:『弟子軍州事多,省要處乞師一言。』顛據坐,公罔措。時,三平義忠禪師侍立,乃敲繩床三下,顛回顧云:『作麼?』忠云:『先以定動,後以智拔。』公作禮云:『和尚門風高峻,弟子於侍者邊得箇入處。』」此公案說明「省要之處」非求於外邊他處可得,韓愈不解此理,而向大顛乞請,故大顛沉默良久,然韓愈依然不解,三平乃敲禪床三下,表示「要處」即在文公自家之腳下;即謂在自家腳下修學定慧等才是身心脫落之要處。〔三百則卷中二十六〕
; (大顛良久機緣) Tên công án trong Thiền tông. Công án này ghi lại những câu vấn đáp giữa ba nhân vật: Đại điên, Hàn dũ, Tam bình Nghĩa trung. Đại điên chỉ cho ngài Đại điên Bảo thông, là đệ tử nối pháp của thiền sư Thạch đầu Hi thiên, còn Tam bình Nghĩa trung là Thị giả của ngài Đại điên. Liên đăng hội yếu quyển 20 (Vạn tục 136, 377 hạ), chép: Thị lang Văn công Hàn dũ (...) một ngày rảnh rỗi đến yết kiến Đại điên, nói: - Đệ tử việc quân trong châu bận rộn, xin thầy chỉ dạy một lời về chỗ giác ngộ chủ yếu. Đại điên ngồi yên, Văn công mờ mịt. Lúc ấy, Tam bình Nghĩa trung đứng hầu bên cạnh, bèn gõ giường thiền ba cái, Đại điên ngoái lại, hỏi: - Cái gì thế? Nghĩa trung thưa: - Trước dùng định động, sau dùng trí nhổ. Đại Điên Bảo Thông Văn công lễ, thưa: - Môn phong Hòa thượng cao vút, đệ tử do nơi thầy Thị giả được chỗ vào. Công án này thuyết minh, chỗ giác ngộ chủ yếu không phải tìm cầu ở bên ngoài mà được, Hàn dũ không hiểu lí ấy, mới thỉnh Đại điên chỉ bảo, Đại điên im lặng hồi lâu (lương cửu), nhưng Hàn dũ vẫn không hiểu, nên Nghĩa trung mới gõ giường thiền ba cái, biểu thị chỗ chủ yếu là ở chính nơi Văn công, tức là phải tu học định tuệ thì thân tâm mới được giải thoát. [X. Tam bách tắc Q.trung Tắc 26].
đại điển
Great ceremonial charter; great code; great favour.
Đại Đà-la-ni mạt pháp trung nhất tự tâm chú kinh 大陀羅尼末法中一字心呪經
[ja] ダイダラニマツホウチュウイチジシンジュキョウ Dai darani mappō chūichiji shinju kyō ||| The Da tuoluoni mofa zhong yizi xinzhō jing (Great Dhāraṇī Incantation of One Syllable for the Age of Terminal Dharma). 1 fasc. (T 956.19.315-320), abbr. 一字心呪經, tr. Maṇicintana 寶思惟. KI (mb) 5 => (c: Da tuoluoni mofa zhong yizi xinzhō jing ; e: Great Dhāraṇī Incantation of One Syllable for the Age of Terminal Dharma). 1 quyển. Viết tắt là Nhất tự tâm chú (一字心呪經), Bảo Tư Duy (s: Maṇicintana 寶思惟) dịch .
đại đàn
884為密教道場中心之本壇。即選擇與悉地相應之地,開掘、除去穢物,埋置五寶、五藥、五穀、五香等,其上再覆以淨土造壇,稱為大壇,亦即本尊壇。又相對於正覺壇(小壇)而言,兩部大曼荼羅之供養壇亦稱大壇。此外,相對於護摩壇、聖天壇等,而特指本尊壇為大壇。壇通常又有土壇、木壇兩種。土壇又分為七日作業壇與一日事業之水壇兩種。於印度,一般多用土壇,諸經軌中詳載其造壇之法,而木壇之記載僅見於善無畏所譯之虛空藏求聞持法。〔大日經疏卷六、法曼荼羅略詮〕(參閱「修法壇」4045、「華形壇」5231、「護摩壇」6872)
; Great altar—Chief altar.
; (大壇) Là đàn chính ở giữa đạo tràng khi tu pháp trong Mật giáo. Tức là chọn chỗ đất tương ứng với Tất địa, đào lên, trừ bỏ vật dơ bẩn, rồi chôn năm thứ báu, năm thứ thuốc, năm thứ hạt, năm thứ hương v.v... rồi dùng đất sạch đắp lên để làm đàn, gọi là Đại đàn, cũng tức là Bản tôn đàn. Đối lại với đàn Chính giác (Tiểu đàn), thì đàn cúng dường của hai bộ Đại mạn đồ la cũng gọi là Đại đàn, đối lại với đàn Hộ ma, đàn Thánh thiên v.v... thì đàn Bản tôn là Đại đàn. Thông thường đàn có hai loại: Thổ đàn (đàn đắp bằng đất), Mộc đàn (đàn làm bằng gỗ). Thổ đàn lại chia làm hai: Thất nhật tác nghiệp đàn (đàn làm trong 7 ngày) và Nhất nhật sự nghiệp chi thủy đàn (đàn làm trong 1 ngày). Ở Ấn độ phần nhiều dùng Thổ đàn và cách làm đàn này được nói rất rõ trong các kinh quĩ. Còn Mộc đàn thì chỉ thấy ghi chép trong Hư không tạng cầu văn trì pháp do ngài Thiện vô úy dịch. [X. Đại Nhật kinh sớ Q.6; Pháp mạn đồ la lược thuyên]. (xt. Tu Pháp Đàn, Hoa Hình Đàn, Hộ Ma Đàn).
đại đăng khoa
To pass an exam successfully.
đại đăng lục
Daitōroku (J)Tên một bộ sưu tập.
đại đăng quốc sư
Daito (J), Daitō Kokushi (J)Tên một vị sư.
đại đăng quốc sư ngữ lục
886請參閱 大燈國師語錄 凡三卷。全稱龍寶開山特賜興禪大燈高照正燈國師語錄。又作大燈語錄、大燈錄。日本臨濟宗僧宗峰妙超(1282~1337)撰,性智等編。收 韝j正藏第八十一冊。卷上、卷中輯錄有大德寺語錄、崇福寺語錄、頌古、拈古、大燈國師行狀等,卷下題名「特賜興禪大燈國師參詳語要」二篇,內容包括雪竇語錄中事、舉古、勘辨、後錄、雪峰和尚塔銘並序等。
; (大燈國師語錄) Gồm 3 quyển. Gọi đủ: Long bảo khai sơn đặc tứ hưng thiền đại đăng cao chiếu Chính đăng quốc sư ngữ lục. Cũng gọi Đại đăng ngữ lục, Đại đăng lục. Do ngài Tông phong Diệu siêu (1282-1337) thuộc tông Lâm tế Nhật bản soạn, nhóm các sư Tính trí biên tập, thu vào Đại chính tạng tập 81. - Quyển thượng, quyển trung biên tập Đại đức tự ngữ lục, Sùng phúc tự ngữ lục, Tụng cổ, Niêm cổ, Đại đăng quốc sư hành trạng v.v... - Quyển hạ có tên là: Đặc tứ hưng thiền Đại đăng quốc sư tham tướng ngữ yếu, gồm hai thiên; nội dung bao quát các việc trong bộ Tuyết đậu ngữ lục, Cử cổ, Khám biện, Hậu lục, bài minh trên tháp hòa thượng Tuyết phong và bài tựa v.v...
đại đăng tam chuyển
886禪宗公案名。大燈即日本宗峰妙超。宗門葛藤集卷下:「大燈國師示眾云:『朝結眉,夕交肩,我何似生?露柱終日往來,我因甚麼不動?若透得這兩轉語,一生參學事畢矣!三段不同,收歸上科。』」轉語之「轉」,意指轉身、撥轉、轉機等,此處指轉動學人之心機。「結眉交肩」指朝夕生活之狀況。此則公案中,大燈禪師所欲表示者,即學人每日早上親自前來問安,晚上又來告辭,對此應如何對付呢?露柱終日往來而自己何以不動?故知此公案之轉語乃在「究竟為何」。透過此一轉語,顛倒向來主客關係之立場,而觀察佛法之真實。
; (大燈三轉) Công án trong Thiền tông. Đại đăng tức là ngài Tông phong Diệu siêu của Nhật bản. Chuyển là chuyển thân, bát chuyển, chuyển cơ (tam chuyển), ở đây có nghĩa là chuyển cái tâm cơ (tâm then máy) của học trò. Tông môn cát đằng tập quyển hạ chép: Quốc sư Đại đăng dạy mọi người rằng: Sáng đối mặt, chiều chạm vai, ta sống như thế nào? Cây cột ngoài hiên kia qua lại suốt ngày, vì sao chúng ta không động? Nếu thấu suốt được hai chuyển ngữ này thì việc tham học một đời đã xong! Ba đoạn chẳng đồng thu về khoa trên.
đại đường khai nguyên thích giáo quảng phẩm lịch chương
834請參閱 續貞元釋教錄 請參閱 續貞元釋教錄 請參閱 南海寄歸內法傳 凡三十卷。唐代玄逸編纂。又稱開元釋教廣品歷章、釋教廣品歷章、廣品歷章。本書係依據唐代智昇之開元釋教錄入藏錄之編次,列記大藏經所收諸本之概要,並加以敘說。每卷卷初揭載內容之目錄、異名、調卷之不同,並附記蒲州、供城二藏本之紙數等;其次於本文註記各本書目、卷數下異名、調卷之不同、譯次等,並逐一列出卷別、品別;終則附載譯時、譯者、譯處、揭出之目錄名等。此書完本已不存,宋藏遺珍下集收有其殘卷十五卷。〔宋高僧傳卷五玄逸傳、至元法寶勘同總錄卷十〕
; (大唐開元釋教廣品曆章) Gồm ba mươi quyển. Do ngài Huyền dật biên soạn vào đời Đường. Cũng gọi Khai nguyên thích giáo quảng phẩm lịch chương, Thích giáo quảng phẩm lịch chương, Quảng phẩm lịch chương. Sách này dựa theo thứ tự biên chép trong Khai nguyên thích giáo lục Nhập tạng lục của ngài Trí thăng đời Đường mà ghi những điểm chủ yếu của các bản kinh được thu vào Đại tạng kinh và trình bày thêm ý kiến của soạn giả. Ở đầu mỗi quyển nêu lên sự bất đồng về nội dung mục lục, tên gọi, số quyển và ghi số trang của Tạng bản Bồ châu, Tạng bản Cung thành; kế đến, ghi chú sự khác nhau về thư mục, tên gọi, số quyển của các bản, rồi liệt kê số quyển, số phẩm của các lần dịch, cuối cùng, phụ thêm thời đại dịch, dịch giả, địa điểm dịch và nêu tên mục lục v.v... Bản hoàn chỉnh của sách này đã bị thất lạc, chỉ còn lại mười lăm quyển được thu vào Tống tạng di trân tập hạ. [X. truyện Huyền dật trong Tống cao tăng truyện Q.5; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.10].
đại đường nội điển lục
832請參閱 大慈恩寺三藏法師傳 凡十卷。略稱內典錄。唐代律僧道宣(596~667)編。今收於大正藏第五十五冊。收錄東漢至唐初譯者二二○人,經典二四八七部八四七六卷。係參考歷代三寶紀、法經錄、仁壽錄等,擷長補短,檢討一切經之內容與目錄而成。麟德元年(664)成書。共分十錄。卷八(歷代眾經見入藏錄)乃根據西明寺現藏入藏目錄所著,為本書最具特色之部分。卷十(歷代所出疑偽經論錄)則根據出三藏記集、歷代三寶紀、法經錄之記載,另加上若干道宣所查定之經典,共舉出疑偽經一六二部。此外,本書另有靈驗談等。又繼本書之後,有續大唐內典錄一卷,亦收於大正藏第五十五冊,或謂亦道宣所作,或謂智昇撰,迄無定論。〔法苑珠林卷一○○、大周刊定眾經目錄序、唐書藝文志第四十九〕
; Mục lục Phật điển trong thư viện Phật giáo đời nhà Đường năm 664 sau Tây lịch—A catalogue of the Buddhist library in the T'ang dynasty 664 A.D.
; (大唐內典錄) Gồm 10 quyển. Gọi tắt: Nội điển lục. Do luật sư Đạo tuyên (596-667) biên soạn vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 55. Nội dung thu chép 2.847 bộ kinh điển gồm 8.476 quyển của 220 dịch giả từ đời Đông Hán đến đầu đời Đường. Soạn giả đã tham khảo các bộ mục lục như: Lịch đại tam bảo kỉ, Pháp kinh lục, Nhân thọ lục v.v... mà soạn thành sách này và chia làm 10 lục. Trong đó, Lịch đại chúng kinh kiến nhập tạng lục (quyển 8) được căn cứ vào Hiện tạng nhập tạng lục ở chùa Tây minh mà soạn thành là bộ phận đặc sắc nhất của sách này; Lịch đại sở xuất nghi ngụy kinh luận lục (quyển 10) thì căn cứ vào những ghi chép trong Xuất tam tạng kí tập, Lịch đại tam bảo kỉ, Pháp kinh lục, rồi thêm những kinh điển do chính soạn giả thẩm định mà nêu ra 162 bộ kinh ngờ là kinh giả. Ngoài ra, sách này còn bàn về những việc linh nghiệm. Tiếp sau sách này, có Tục đại đường nội điển lục 1 quyển, cũng được đưa vào Đại chính tạng tập 55, hoặc do ngài Đạo tuyên, hoặc do ngài Trí thăng soạn, đến nay vẫn chưa xác định được. [X. Pháp uyển châu lâm Q.100; Đại chu san định chúng kinh mục lục tự; Đường thư nghệ văn chí thứ 49].
Đại Đường nội điển lục 大唐内典録
[ja] ダイトウナイテンロク Daitō naitenrroku ||| Datang neidian lu; T 2149.55.219a-342a. 10 fasc.; completed in 664 by the vinaya master Daoxuan 道宣. The 'Catalogue of Buddhist Works in the Great T'ang.' => (c: Datang neidian lu; e: Catalogue of Buddhist Works in the Great T'ang), 10 quyển. Luật sư Đạo Tuyên (道宣c: Daoxuan ) soạn, hoàn thành năm 664.
đại đường tam tạng huyền trang pháp sư biểu khải
832全一卷。編者不詳。今收於卍續藏第一五○冊。集錄唐玄奘之上表、啟,並唐太宗之敕書等,凡十六篇。
; (大唐三藏玄奘法師表啓) Có 1 quyển, không rõ người biên soạn, thu vào Vạn tục tạng tập 150. Nội dung sách này gồm 16 thiên, thu chép những bài văn biểu, văn khải của ngài Huyền trang và những sắc thư của vua Thái tông nhà Đường.
đại đường tam tạng thủ kinh thi thoại
832請參閱 大唐三藏取經詩話 凡三卷。撰者不詳。又稱大唐三藏法師取經記。其版本有二:(一)題為「新雕大唐三藏法師取經記」,宋刊大字本,第一卷缺首,第二卷全缺。昔時藏於日本高山寺,今歸德富蘇峰成簣堂文庫,羅振玉影印入吉石庵叢書。(二)題為「大唐三藏取經詩話」,宋刊巾箱本,昔時藏於日本高山寺,今為太倉喜七郎所有,上卷缺第一則,中卷缺第八則,民國五年(1916)有羅振玉之影印本,十四年有商務印書館排印本。此二版本均殘缺不全,名稱雖異,實為一書。 唐僧取經故事發源甚早,南宋以前即甚流行。本書共十七章節,每節標題目次序,乃小說最早之分回形式,內容文字長短不一,長者千餘字,短者不滿百,或係說話人預備講說之提綱。然本書並非明代吳承恩西遊記之所本,不僅敘述方式、取經人數不同,情節亦無直接之關連。以「詩話」為名,乃因每節必以詩作結,而詩句皆出於書中人物之口 A與話本中之詩句由說話人意思表達者不同。為唯一現存宋人所作話本詩話。坊間有大字、巾箱合刊本。
; (大唐三藏取經詩話) Gồm 3 quyển. Không rõ soạn giả. Cũng gọi Đại đường tam tạng pháp sư thủ kinh kí. Sách có hai loại bản in: 1. Tân điêu đại đường tam tạng pháp sư thủ kinh kí, bản chữ lớn in vào đời Tống; thiếu mất quyển 2, còn quyển 1 thì thiếu phần đầu. Ngày xưa bản này được cất giữ ở chùa Cao sơn bên Nhật bản, nhưng nay đã đưa về văn khố Thánh quĩ ở Tô phong Đức phú. Sau, La chấn ngọc phóng ảnh và đưa vào Tùng thư cát thạch am. 2. Đại đường tam tạng thủ kinh thi thoại, là bản Cân sương in vào đời Tống, ngày xưa cũng được tàng trữ ở chùa Cao sơn tại Nhật bản, nhưng nay thuộc quyền sở hữu của Thái thượng hỉ thất lang. Quyển thượng thiếu tắc thứ 1, quyển trung thiếu tắc thứ 8. Năm Dân quốc thứ 5 (1916), La quán ngọc phóng ảnh lại; năm Dân quốc 14 (1925), Thương vụ ấn thư quán in bản xếp chữ. Hai bản in này đều thiếu, tên gọi tuy khác, nhưng thực thì là một sách. Sự tích Đường tăng đi thỉnh kinh đã xuất hiện rất sớm và đã lưu hành khá rộng từ trước thời Nam tống. Sách này gồm có 17 chương, mỗi chương gồm nhiều tiết, mỗi tiết có nêu thứ tự mục lục, là hình thức sách tiểu thuyết chia hồi sớm nhất. Nội dung văn tự dài ngắn không giống nhau, dài thì hơn nghìn chữ, ngắn thì dưới trăm chữ. Gọi là Thi thoại là vì ở cuối mỗi tiết đều kết thúc bằng mấy câu thơ, mà thơ là của những nhân vật trong truyện chứ không phải của tác giả. Đây là tác phẩm Đại Đường Tam Tạng Thủ Kinh Thi Thoại Thi thoại duy nhất của đời Tống còn sót lại. Bản phường có bản chữ lớn và Cân sương in chung.
Đại Đường Thiều Châu Song Phong Sơn Tào Hầu Khê Bảo Lâm Truyện
(大唐韶州雙峰山曹候溪寳林傳, Daitōshōshūsōhōzansōkōkeihōrinden): xem Bảo Lâm Truyện (寳林傳, Hōrinden) ở trên.
đại đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục
833凡三卷。唐代圓照撰集於德宗貞元十年(794)。略稱續開元釋教目錄。今收於大正藏第五十五冊。計收經論及念誦法一九三卷、經論疏義六十四卷、貞元新集古今制令碑表記八十六卷等,合為三四三卷,加上本書目錄二卷,共三四五卷。
; (大唐貞元續開元釋教錄) Gồm 3 quyển, do ngài Viên chiếu soạn vào năm Trinh nguyên thứ 10 (794) đời vua Đức tông nhà Đường. Gọi tắt: Tục khai nguyên thích giáo mục lục, thu vào Đại chính tạng tập 55. Nội dung, thu chép gồm: 193 quyển kinh luận và pháp niệm tụng, 64 quyển kinh luận sớ nghĩa, 86 quyển về Trinh nguyên tân tập cổ kim chế lệnh bi biểu kí và thêm 2 quyển mục lục của sách này, tổng cộng là 345 quyển.
đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện
832凡二卷。唐代義淨著。略稱西域求法高僧傳、求法高僧傳。今收於大正藏第五十一冊。天授二年(691)成書。內容記載唐初五十年間(貞觀至天授),為求法而西行至印度,甚或遠抵室利佛逝(今蘇門答臘)之六十餘僧侶之略傳,書末附有義淨之自傳。此外,書中亦載有若干新羅僧人之傳記。所記入印道路有通過西藏、尼泊爾者,為研究印度佛教與中印交通之重要史料。〔佛祖統紀卷三十九、南海寄歸內法傳卷一、開元釋教錄卷九、卷二十〕
; See Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng Truyện.
; (大唐西域求法高僧傳) Gồm 2 quyển, do ngài Nghĩa tịnh soạn vào đời Đường. Gọi tắt: Tây vực cầu pháp cao tăng truyện, Cầu pháp cao tăng truyện, thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung sách này là lược truyện của hơn sáu mươi vị tăng đi đến Ấn độ và nước Thất lợi Phật thệ (nay làSumatra) để cầu pháp trong khoảng 50 năm đầu đời Đường (từ năm Trinh quán 641 đến năm Thiên thu 691). Cuối sách có phụ thêm phần Tự truyện của ngài Nghĩa tịnh. Ngoài ra cũng có truyện kí của một số vị tăng người Tân la. Sự ghi chép về con đường thông qua Tây tạng, Népal để vào Ấn độ là một sử liệu quan trọng cho việc nghiên cứu Phật giáo Ấn độ và sự giao thông Hoa, Ấn. [X. Phật tổ thống kỉ Q.39; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.9, Q.10].
đại đường tây vực kí
833凡十二卷。唐代玄奘述,其門人辯機奉唐太宗之敕令編集而成。略稱西域記。今收於大正藏第五十一冊。本書為玄奘於十六年間,遊歷印度、西域等一百十餘國與傳聞中二十八國之見聞錄。除有關佛教大小乘諸部傳播之實情等記載外,舉凡地理、風俗、語言、傳說、產業、政治等,皆有詳細之記載。其中,有關都邑、堂塔等位置之標示,對於十九世紀以來勃興之印度、西域等地佛教遺跡之實地考證,極具指南之價值。故本書為考察當時印度、西域之重要史料。如道宣所編之釋迦方誌二卷,大部分均抄錄自本書。又本書早已收入大藏經中,卷首附有祕書著作佐郎敬播之序文;宋藏以下,則另附尚書左僕射燕國公張說之序。清代丁謙著有大唐西域記考證,日本學者堀謙德則撰有解說西域記之書。法譯本有 S. Julien "Mⅰmoires sur les contress occidentales" 2 tomes, Paris, 1857~1858. 英譯本有 S. Beal "Si-yu-ki, Buddhist Records of the Western World" 2 vols., London, 1884, 及 T. Watters "On Yuan Chwang's Travels in India" 2 vols., London, 1904~1905.,其書附有詳盡之考證。另有呂秋逸本(金陵刻經處刊,1957),及新式標點校勘本(地平線出版社刊印)。〔大慈恩寺三藏法師傳卷六、續高僧傳卷四、開元釋教錄卷八〕
; (大唐西域記) Gồm 12 quyển, ngài Huyền trang thuật vào đời Đường, do sư Biện cơ biên tập, vào Đại chính tạng tập 51. Gọi tắt: Tây vực kí. Nội dung sách này ghi lại những điều mà ngài Huyền trang thấy và nghe khi ngài đi qua hơn 110 nước từ Tây vực đến Ấn độ cũng như những lời kể về 28 nước trong khoảng 16 năm. Ngoài việc ghi chép về sự truyền bá của hai bộ phái Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa, sách còn ghi chép tường tận về địa lí, phong tục, ngôn ngữ, truyền thuyết, tài nguyên, chính trị v.v... của mỗi nước. Trong đó, về vị trí các thành ấp, chùa tháp được nêu có giá trị như sách chỉ nam cho sự khảo chứng thực địa các di tích Phật giáo ở Ấn độ và các nước Tây vực: Nó đã giúp rất nhiều cho các nhà khảo cổ học ở thế kỉ XIX. Bởi thế sách này là sử liệu rất quan trọng cho việc nghiên cứu tình hình Ấn độ cũng như các nước Tây vực đương thời. Tác phẩm kí sự này đã được xếp vào Đại tạng kinh rất sớm, đầu quyển có bài tựa của Kính bá; từ Đại tạng kinh đời Tống trở về sau thì lại phụ thêm bài tựa của quan Thượng thư tả bộc xạ là Yên quốc công Trương thuyết. Sau này thì có: Đại đường tây vực kí khảo chứng của Đinh khiêm đời Thanh và Giải thuyết tây vực kí của học giả Nhật bản Quật khiêm Đức tắc soạn. Sách này còn có bản dịch tiếng Pháp: Mémosires sur les contrées occidentales 2 tomes, Paris, 1857-1858 của S. Julien. Bản dịch tiếng Anh: Si-yu-ki, Buddhist Records of the Western World 2 vols., London, 1884 của S. Beal. Và On Yuan Chwang’s Travels in India 2 vols., London 1904-1905 của T. Watters. Ngoài ra, còn có bản Lữ thu dật (Kim lăng khắc kinh xứ ấn hành, 1957) và bản Tân thức tiêu điểm hiệu khám (nhà xuất bản Địa bình tuyến ấn hành). [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.6; Tục cao tăng truyện Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].
đại đường tây vực ký
Datang Xiyuji (C).
; Ký sự ghi lại bởi Sư Huyền Trang, kể về những nước ở Tây Vực vào đời nhà Đường—The Record of Western Countries by Hsuan-Tsang of the T'ang dynasty.
Đại Đường Tây vực ký 大唐西域記
[ja] ダイトウサイイキキ Daitōsaiikiki ||| The Datang xiyu ji T 2087.51.867-947; A travel record by Xuanzang 玄奘, of his seventeen-year long trip to India, where he went to study and gather Buddhist scriptures. Written in 646 at the behest of the Emperor, Xuanzang's his journey through over 138 states in Central Asia and India, remains one of our most valuable records of those regions in the seventh century. Includes abundant material on customs, Buddhist legends, population, etc. 'Great T'ang' signifies the T'ang Dynasty, and in a broader sense China. English translation by Beal. => (c: Datang xiyu ji). Ghi lại chuyến đi Ấn Độ suốt 17 năm để nghiến cứu Phật giáo và thỉnh kinh của Huyền Trang. Được viết vào năm 646 do chỉ dụ của Hoàng đế, ghi lại cuộc hành trình của Huyền Trang qua 138 nước trong vùng Trung Á và Ấn Độ, lưu lại 1 dữ liệu giá trị nhất về những vùng đất ấy vào thế kỷ thứ 7. Chứa đựng phong phú nhiều tài liệu về phong tục, truyền thuyết Phật giáo, dân cư v.v... 'Đại Đường' là tên gọi của triều đại nhà Đường Trung Hoa trong ý nghĩa rộng lớn. Có bản dịch tiếng Anh của Beal.
đại đạo
Xem Đại Bồ đề.
; The great way, Buddhism.
; Đạo lớn hay giáo lý vĩ đại—Con đường đi đến giác ngộ Bồ Đề—Great doctrine—Fundamental doctrine—The great way or the way for supreme enlightenment—The way of bodhisattva-mahasattva.
đại đạo sư
885<一>巴利語 mahānāyaka。音譯為摩訶那耶迦。佛菩薩之德號。以其能引導眾生超越生死之險難,故稱大導師。〔無量義經、維摩經佛國品〕 <二>禪林中,能引導人天而創立宗派者,亦稱大導師。又對脅導師而言,本導師亦稱大導師,例如三佛事中,對奠茶、奠湯師而言,秉炬師(秉拂師)即大導師。 <三>錫蘭等國各派佛教僧侶領袖之稱謂,管理本教派之全國僧務。
; Mahānayaka (S)Hiệu chư Phật hay Bồ tát dẫn dắt chúng sanh qua hiểm nạn sanh tử.
; Nāyaka (S)Từ dùng tôn xưng Phật hay Bồ tát, chỉ bậc Thánh dẫn dắt chúng sanh vào Phật đạo. Một trong những danh hiệu được dùng để chỉ đứcPhật.
; Nayaka (S). The great guide, teacher, leader, i.e Buddha or a bodhisattva.
; Vị Thầy lớn, chỉ Đức Phật hay một vị Bồ Tát—The great guide—The Buddha—Bodhisattva.
; (大導師) I. Đại đạo sư.Pàli:Mahànàyaka. Dịch âm: Ma ha na da ca. Đức hiệu của chư Phật, Bồ tát, vì các Ngài có năng lực dắt dẫn chúng sinh vượt qua hiểm nạn sinh tử, cho nên gọi Đại đạo sư. [X. kinh Vô lượng nghĩa; kinh Duy ma phẩm Phật quốc]. II. Đại đạo sư. Trong Thiền lâm, các vị Tổ sư sáng lập các tông phái cũng gọi Đại đạo sư. Còn đối với Hiếp đạo sư (đạo sư phụ), thì Bản đạo sư (đạo sư chính) cũng gọi Đại đạo sư. Chẳng hạn trong Tam Phật sự, đối với Điện trà sư, Điện thang sư thì Bỉnh cự sư (Bỉnh phất sư) là Đại đạo sư. III. Đại đạo sư. Những vị lãnh tụ Tăng lữ của các phái Phật giáo ở các nước như Tích lan v.v... được gọi là Đại đạo sư.
đại đạo tâm
One who has the mind of or for supreme enlightenment.
; Bậc có tâm hướng về giác ngộ Bồ Đề—One who has the mind of or for supreme enlightenment (Bodhisattva-mahasattva).
đại đạo tâm chúng sanh
All beings with mind for the truth.
Đại đạo 大道
[ja] ダイドウ daidō ||| The great way; great enlightenment; the great principle; the great teaching. 〔法華經 T 262.9.21b4〕 => Đạo vi diệu nhiệm mầu, sự giác ngộ tối thượng; đạo lý cao cả; giáo pháp cao quý.
đại đảm
Courageous—Brave.
đại đệ tử
Sthavira (S). A chief disciple, the Fathers of the Buddhist Church; an elder; an abbot.
; Sthavira (skt). 1) Đại đệ tử của Phật: Prominent, chief, or great disciples of the Buddha. 2) Vị sư trụ trì tự viện hay tịnh xá: The Father of the Buddhist church—An elder—An abbot—See Thượng Tọa. 3) Vị sư được phép giảng dạy giáo lý cho tứ chúng: A monk or priest licensed to preach and become an abbot—See Thượng Tọa.
đại địa
Great earth, the whole earth, everywhere, all the land.
; Prithivi (skt)—Great earth—The whole earth—Everywhere—All the land.
đại địa một nhân phùng
778禪林用語。謂大地無論如何破裂,人類皆無可奈何;引申為人類對於真如實際之實態,亦無可奈何,此即指超越知覺分別之不可得空之境界。洞上古轍卷上(卍續一二五‧三五八上):「石人衫子破,大地沒人縫。」
; (大地沒人縫) Khắp mặt đất không người vá. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Thiền gia, từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ cho cảnh giới bất khả đắc vượt ra ngoài sự thấy biết phân biệt của tình thức. Động thượng cổ triệt quyển thượng (Vạn tục 125, 358 thượng), nói: Áo của người đá rách, khắp mặt đất không ai vá được (Thạch nhân sam tử phá, đại địa một nhân phùng).
đại địa ngục nhiệt khôi than hừng
Kukkulaniraya (P).
đại địa ngục đại châm thọ lâm
Sambalivanam (P).
đại địa ngục đại kiếm diệp lâm rừng lá gươm
Asipattavanta. (P).
Đại địa pháp
xem Mười đại địa.
đại địa pháp
778梵語 mahā-bhūmika。遍大地法之略稱。指與一切心相應俱起之十種心理作用。即:(一)受(梵 vedanā),領納之義;有苦受、樂受、非苦非樂受等三種。(二)想(梵 saṃjñā),想像之義;對境而取差別之相。(三)思(梵 cetanā),造作之義;令心有所造作。(四)觸(梵 sparśa),由根、境、識三者和合而生,能有觸對。(五)欲(梵 chanda),緣外境而有所希求。(六)慧(梵 prajñā),對法能有所分別、簡擇。(七)念(梵 smṛti),對所緣之事銘記不忘。(八)作意(梵 manaskāra),警覺之義;能令心警覺。(九)勝解(梵 adhimokṣa),即殊勝之解;對境而產生印可審定之作用。(十)三摩地(梵 samādhi),又作等持、正定,即使心專注一境。此十法遍善、不善、無記等三性之心品而與之相應,故稱大法;此大法之依地為心王所有,故稱大地法。 說一切有部主張此十法遍一切心,而俱起於剎那之間,且此十法皆有別體;經量部則主張,十法之中唯有受、想、思三法有其體,餘者則無;唯識家將十法分成五遍行、五別境兩種,即:(一)作意、觸、受、想、思等五法,遍與一切之心、心所相應,故稱遍行。(二)欲、慧、念、勝解、三摩地等五法緣各別之境而生,故稱別境。〔顯揚聖教論卷一、順正理論卷十、俱舍論卷四、成唯識論卷三、大毘婆沙論卷十六、卷四十二〕
; Mahābhimika-dharmah (S), MahābhŪmika (S).
; Mahā-bhŪmika-dharmāḥ (S)Gồm: Thọ (Vedana), Tưởng (Samja), Tư (Cetana), Xúc (Sparsa), Dục (Chanda), Huệ (Praja), Niệm (Smrti), Tác ý (Manaskara), Thắng giải (Adhimoksa), Tam ma địa (Samadhi).
; Ten Bodhisattva bhumi—See Đại Thiện Địa Pháp.
; (大地法) Phạm:Mahà-bhùmika. Gọi đủ: Biến đại địa pháp. Chỉ cho mười tác dụng tâm lí tương ứng và cùng sinh khởi một lượt với tất cả tâm. Đó là: 1. Thụ (Phạm: Vedanà): Lãnh nhận, có ba loại: Khổ thụ (cảm nhận khổ), Lạc thụ (cảm nhận vui), Phi khổ phi lạc thụ (cảm nhận không khổ không vui v.v...). 2. Tưởng (Phạm: Saôjĩà): Tưởng tượng, đối cảnh mà nhận lấy tướng sai biệt. 3. Tư (Phạm:Cetanà): Tạo tác, khiến tâm có chỗ tạo tác. 4. Xúc (Phạm:Sparza): Do căn, cảnh, thức hòa hợp mà sinh ra, có khả năng xúc đối. 5. Dục (Phạm: Chanda): Duyên theo ngoại cảnh mà có chỗ mong cầu. 6. Tuệ (Phạm:Prajĩà): Đối với các pháp thường có chỗ phân biệt, chọn lựa. 7. Niệm (Phạm:Smfti): Đối với các việc sở duyên ghi nhớ không quên. 8. Tác ý (Phạm:manaskàra): Cảnh giác, hay khiến tâm chú ý. 9. Thắng giải (Phạm:Abhimokwa): Sự hiểu biết thù thắng; đối cảnh mà sinh ra tác dụng chấp nhận, thẩm định. 10. Tam ma địa (Phạm:Samàdhi); cũng gọi Đẳng trì, Chính định; tức khiến tâm chuyên chú ở một cảnh. Mười pháp trên đây trùmkhắp và tương ứng với ba tính thiện, bất thiện và vô kí, cho nên gọi là Đại pháp. Chỗ nương của Đại pháp là Tâm vương, bởi thế gọi là Đại địa pháp. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng mười pháp này trùmkhắp và cùng sinh khởi một lúc với tất cả tâm trong một sát na và mỗi pháp đều có Thể riêng biệt. Kinh lượng bộ thì chủ trương trong mười pháp chỉ có Thụ, Tưởng, Tư là có Thể, bảy pháp còn lại thì không có. Các nhà Duy thức thì chia mười pháp làm hai loại: 1. Ngũ biến hành: Xúc, Tác ý, Thụ, Tưởng, Tư; năm pháp này tương ứng khắp với tất cả Tâm, Tâm sở, cho nên gọi là Biến hành. 2. Ngũ biệt cảnh: Dục, Tuệ, Niệm, Thắng giải, Tam ma địa; năm pháp này duyên theo mỗi cảnh riêng biệt mà sinh khởi, cho nên gọi là Biệt cảnh. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Thuận chính lí Q.10; luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.3; luận Đại tì bà sa Q.16, Q.42].
Đại địa pháp 大地法
[ja] ダイジホウ daijiihō ||| The various mental function elements that operate everywhere as taught in the Abhidharmakośa-bhāsya. Operating everywhere, means that they are functioning in mental activities that are morally good, evil, as well as neutral. There are ten of this type listed: sensation 受, perception 想, thought 思, touch 觸, desire 欲, wisdom 慧, recollection 念, intention 作意, verification 勝解, and samādhi 三摩地 (mahā-bhūmika-dharmāḥ) 〔倶舎論, T 1558.29.19a26〕 => Các tâm sở pháp khác nhau tác dụng khắp mọi nơi được đề cập trong A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận. Tác dụng khắp mọi nơi có nghĩa là chúng hoạt động trong các tâm sở thiện, ác, cũng như vô ký. Có 10 loại, gồm: 1. Thọ; 2. tưởng; 3. Tư; 4. Xúc; 5. Dục; 6. Huệ; 7. Niệm; 8. Tác ý; 9. Thắng giải; 10. Tam-ma-địa (三摩地 s: mahā-bhūmika-dharmāḥ).
đại địa tứ luân
776據俱舍論分別世品載,器世間(物質世間)之形成,係以四輪所構成,即:(一)風輪,由有情之業力,先於最下依止虛空而生風輪,其廣無數,厚十六億踰繕那;其體堅密,如以金剛輪奮威擊之,則金剛碎而風輪無損。(二)水輪,又由有情之業力,起大雲雨,澍於風輪上,積水成輪,如是水輪於未凝結之位,深有十一億二萬踰繕那。(三)金輪,由有情之業力,感別風起,搏擊此水,上結成金,如熟乳之凝結為膜,厚有三億二萬踰繕那,與水、金二輪之廣相等,其直徑有十二億三千四百半踰繕那。此三輪加上其所依之虛空輪,共為四輪,稱大地四輪。〔俱舍論卷十一〕
; (大地四輪) Bốn luân cấu tạo thành thế giới vật chất. Cứ theo phẩm Phân biệt thế trong luận Câu xá nói, thì thế giới vật chất được hình thành bởi sự cấu tạo của bốn luân. Đó là: 1. Phong luân: Do sức nghiệp của loài hữu tình, trước hết nương nơi hư không mà sinh ra phong luân ở dưới cùng. Phong luân cực kì rộng lớn, dày 16 ức du thiện na; thể của nó cứng chắc, dù có dùng kim cương luân gắng sức đập vào thì kim cương vỡ nát chứ phong luân không hề bị sứt mẻ. 2. Thủy luân: Do sức nghiệp của loài hữu tình sinh ra mưa lớn trút xuống trên Phong luân, chứa nước thành thủy luân. Thủy luân này khi còn ở thể lỏng thì sâu tới 11 ức 2 vạn (1.100.020.000) du thiện na. 3. Kim luân: Do sức nghiệp của hữu tình khiến gió nổi lên, thổi mạnh vào thủy luân, làm cho bề mặt thủy luân ngưng kết thành vàng, dày tới 3 ức 2 vạn (300.020.000) du thiện na. Thủy luân và Kim luân rộng bằng nhau, đường trực kính dài 12 ức 3450 (1.200.003.450) du thiện na. 4. Hư không luân: Làm chỗ nương cho 3 luân nói trên. [X. luận Câu xá Q.11]
Đại địa 大地
[ja] ダイジ daiji ||| (1) Great bhūmi. The level of the bodhisattvas who are in darśana-mārga 見道 or above. (2) The basis upon which Buddhist practice is established. (3) The Great Earth; the whole earth; everywhere, all the land, etc. => 1. Giai vị của Bồ-tát ở giai đoạn Kiến đạo (見道s: darśana-mārga) hoặc cao hơn. 2. Nền tảng công phu tu tập Phật đạo được thiết lập. 3. Trái đất; đất liền; khắp mọi nơi, tất cả mọi quốc độ,v.v...
Đại định
xem Tam-ma-bạt-đề.
đại định
797<一>巴利語 mahaggata-samādhi。對於欲界之小定而言,色界、無色界之有漏善根本定稱為大定。〔清淨道論三〕 <二>(1823~1906)清末僧。湖北黃陂人,俗姓鄧。字密源。自幼素食,依隋州仁聖寺之本分剃度,同參大千。三十三歲,受具足戒。先後參訪終南、五臺、九華、普陀、維揚之高旻、毘陵之天寧等地,最後至金山訪觀心,令參「念佛是誰」,遂有省悟。師本名大頂,後更名大定。觀心寂後,受金山僧眾推戴,繼任方丈。光緒二十九年(1903),年八十一,應請開壇傳戒,乞戒弟子多達五百餘人。生平教人重真參實悟,金山宗風頗賴以重振。三年後示寂,享年八十四,僧臘五十五,坐夏五十二。
; Mahāggata-samādhi, Mahā-samādhi (S)Đối với tiểu định của cõi dục.
; (大定) Pàli: Mahaggata-samàdhi. Là định căn bản thuộc hữu lậu thiện của cõi Sắc và cõi Vô sắc. Đối lại với Tiểu định của cõi Dục. [X. luận Thanh tịnh đạo 3].
đại định huyền vi
Xem đại định.
đại định trí bi
797指佛之三德,即大定、大智、大悲。佛心澄明,是為大定;以澄明之故,遍照一切法界,是為大智;以遍照法界之故,遂生救濟眾生之心,是為大悲。以大定可斷除一切妄惑,故又稱大定為斷德,大智即智德,大悲即恩德。前二者為自利之德,後者為利他之德,故此三者圓具自他之萬德。
; Great insight, great wisdom, great pity, the three virtues tam đức of a Buddha.
; Đại định, đại trí, đại bi, là ba đức lớn của Phật, nhờ đó mà Ngài đạt thành giác ngộ, trí tuệ và cứu độ chúng sanh—Great insight, great wisdom, great pity—The three great virtues of a Buddha by which he achieves enlightenment and wisdom and saves all beings.
; (大定智悲) Tức là ba đức: Đại định, Đại trí, Đại bi của Phật. Tâm Phật trong sáng, đó là Đại định; vì trong sáng nên chiếu khắp tất cả pháp giới, đó là Đại trí; vì chiếu khắp pháp giới nên sinh tâm cứu độ chúng sinh, đó là Đại bi. Vì Đại định có thể đoạn trừ tất cả sự mê lầm nên cũng gọi là Đoạn đức. Đại trí tức là Trí đức, Đại bi tức là Ân đức. Hai đức trước là đức tự lợi, đức thứ ba là đức lợi tha, cho nên ba đức này tròn đủ muôn đức tự lợi và lợi tha.
đại đốn ngộ sư
875指東晉僧道生(355~434)。因道生發表頓悟成佛說,引起佛教界長期之論諍。其後,產生大頓悟義與小頓悟義之別,對後世禪宗、華嚴宗之影響極大。其主張小頓悟義者,人稱「小頓悟師」,有僧肇、支遁、真安埵、邪通、慧遠、道安等。〔法華經疏卷一、二諦義卷下、肇論疏卷上(惠達)、三論遊意義、出三藏記集卷十二、卷十五〕
; (大頓悟師) Chỉ cho ngài Đạo sinh (355-434) ở đời Đông Tấn. Vì ngài Đạo sinh nêu ra thuyết Đốn ngộ thành Phật nên đã đưa đến cuộc tranh luận trường kì trong giới Phật giáo thời bấy giờ và rồi phát sinh sự bất đồng về nghĩa Đại đốn ngộ và nghĩa Tiểu đốn ngộ. Thuyết này về sau có ảnh hưởng rất lớn đối với Thiền tông và Hoa nghiêm tông. Những người chủ trương nghĩa Tiểu đốn ngộ được gọi là Tiểu đốn ngộ sư, gồm có các ngài Tăng triệu, Chi độn, Chân an đỏa, Tà thông, Tuệ viễn, Đạo an v.v... [X. Pháp hoa kinh sớ Q.1; Nhị đế nghĩa Q.hạ; Triệu luận sớ Q.thượng (Huệ đạt); Tam luận du ý nghĩa; Xuất tam tạng kí tập Q.12, Q.15].
đại đồng
776<一>(819~914)唐代禪僧。安徽懷寧人,俗姓劉。幼年出家,初閱華嚴經,頗有啟發。其後參謁翠微,大悟玄旨。周遊諸方後,隱栖於投子山三十餘年,激發往來,請益者盈室,以無畏之辯才隨問隨答。乾化四年示微疾,隨即坐化,世壽九十六。諡號「慈濟大師」。〔祖堂集卷六、景德傳燈錄卷十五、五燈會元卷五、釋氏稽古略卷三〕 <二>(1289~1370)明初僧。上虞人,俗姓王。字一雲。號別峰。少習儒業,能文章,後投會稽崇勝寺出家。受具足戒後,從紹興寶林寺春谷法師學清涼教觀,復參晦機熙公學禪法。留住六載,後往參中峰求益。至元年間,繼主寶林寺,學者從遊者甚多。洪武年間,召赴京師,賜宴禁中,尋求放歸。三年春入寂,世壽八十二。有寶林類編、天柱詩稿等行世。〔大明高僧傳卷三、宋學士集卷五十八〕 <三>位於山西大同西北武周山山腹之岩石洞窟。又稱雲岡石窟。窟內刻有龕、塔、石佛等,著稱於世。與龍門同為南北朝佛教藝術之代表。我國原本即有開鑿於前秦建元二年(366)之敦煌鳴沙山與北涼王所造之甘州三危山等著名石窟,後因曇曜以北魏太武帝毀佛造孽為由,遊說文成帝,勸其造五尊大佛於大同石窟內,作為懺悔、追弔與供養四位先帝之用,且為後世紀念文成帝之憑藉,遂於和平元年(460)動工,至太和十七年(493)遷都洛陽時,工程亦未曾稍歇。其構造則各窟殊異,本尊佛置於中央雙塔內,壁面與樓閣面均刻有佛龕與四尊諸佛菩薩像。於武周山山麓較狹處一公里長之四十二處石窟,皆造有約五公尺至六公尺高之石像,其樣式多為經由西域傳入之犍陀羅樣式與笈多樣式,後因年代漸久而逐漸中國化。其中第十六至二十石窟,內為橢圓形,規模最壯觀,凌駕其它各窟,被推定為最早之五窟。〔續高僧傳卷一曇曜條、歷代三寶紀卷九、魏書卷六、卷七上、卷一一四、山西通志卷二十九大同條、支那佛教史蹟評解第二〕(參閱「石窟」2118)
; Universal concord.
; (大同) Hang động đá nham nằm ở lưng chừng núi Vũ chu về mạn tây bắc Đại đồng thuộc tỉnh Sơn tây. Cũng gọi Vân cương thạch quật. Trong hang có khắc khám, tháp và tượng Phật bằng đá rất nổi tiếng. Cùng với hang động ở Long môn đều là tiêu biểu cho nghệ thuật Phật giáo ở thời Nam Bắc triều. Trung quốc vốn đã có những hang động nổi tiếng, như hang đá ở núi Minh sa tại huyện Đôn hoàng được mở vào năm Kiến nguyên thứ 2 (366) đời Tiền Tần và hang động ở núi Tam nguy tại Cam châu do Bắc Lương vương kiến tạo. Sau, vì Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy hủy hoại Phật giáo, gây nhiều tội ác, nên ngài Đàm diệu mới đến thuyết phục Văn thành đế tạo năm pho tượng Phật lớn trong hang đá Đại đồng để sám hối, truy điệu và cúng dường bốn vị Tiên đế, vả lại, cũng là bằng chứng để đời sau ghi nhớ công đức của vua. Bởi vậy, vào niên hiệu Hòa bình năm đầu (460) khởi công, đến năm Thái hòa 17 (493), khi dời đô về Lạc dương, công trình vẫn chưa hoàn thành. Về cách cấu trúc, các hang động đều khác nhau. Tượng đức Phật bản tôn được thờ trong tòa Song tháp ở chính giữa, trên mặt các vách và lầu gác đều có khắc khám thờ Phật và bốn pho tượng chư Phật, Bồ tát. Dưới chân núi Vũ chu, ở một chỗ tương đối hẹp, dài chừng 1 km, có 42 hang động, đều có khắc tượng đá cao khoảng năm đến sáu mét, phần nhiều theo kiểu tượng Kiện đà la (Phạm:Gandhàra) và Cấp đa (Phạm: Gupta) bên Ấn độ. Về sau, vì lâu đời nên dần dần đã làm theo kiểu Trung quốc. Trong đó, hang động thứ16 đến20, bên trong là hình bầu dục, qui mô rất hoành tráng, so với các hang động khác, năm hang động này được coi là có sớm nhất. [X. Tục cao tăng truyện Q.1 Đàm diệu điều; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Ngụy thư Q.6, Q.7 phần trên, Q.114; Sơn tây thông chí Q.29 Đại đồng điều; Chi na Phật giáo sử tích bình giải đệ nhị]. (xt. Thạch Quật).
đại đồng thiền sư
Zen Master T'a-T'ong—Thiền sư Đại Đồng sanh năm 819. Thuở nhỏ sư xuất gia theo Thiền sư Mãn Bảo Đường, sau đó ít lâu sư đọc Kinh Hoa Nghiêm và bắt đầu theo làm đệ tử của Thiền sư Thúy Vi Vô Học—Zen master T'a-T'ong was born in 819. As a young man he left home to study under a Zen master named Man-Bao-T'ang. Sometime later he read the Flower Garland Sutra and proceeded to study under Shui-Wei-Wu-Xue. • Một hôm Triệu Châu Tùng Thẩm đến huyện Đồng Thành gần núi Đầu Tử, sư cũng có việc xuống núi, giữa đường hai người gặp nhau mà không biết nhau. Triệu Châu hỏi thăm những người cư sĩ mới biết là Đại Đồng Đầu Tử, liền nghịch rằng: “Phải chủ núi Đầu Tử chăng?” Sư đáp: “Cho tôi xin tiền trà muối.” Triệu Châu đi thẳng đến am trước, ngồi chờ. Sư mang một bình dầu về am. Triệu Châu hỏi: “Nghe danh Đầu Tử đã lâu, đến đây chỉ thấy ông già bán dầu.” Sư đáp: “Thầy chỉ thấy ông già bán dầu, là không biết Đầu Tử.” Triệu Châu hỏi: “Thế nào là Đầu Tử?” Sư đưa bình dầu lên đáp: “Dầu! Dầu!”—One day Zhao-Chou cam to T'ong-Cheng County near Mount T'ou-Tzi. T'ou-Tzi left the mountain. They met each other on the road. Zhao-Chou asked him: “Aren't you the host of Mount T'ou-Tzi?” T'ou-Tzi said (like a beggar): “Tea, salt, a coin, please help me!” Zhao-Chou then proceeded to T'ou-Tzi's hut on the mountain and sat down inside. Later T'ou-Tzi returned to the hut carrying a jug of oil. Zhao-Chou said: “Long have I heard of T'ou-Tzi, but since coming here all I've seen is an old-timer selling oil.” T'ou-Tzi said: “You've only seen an old-timer seling oil. But you haven't recognized T'ou-Tzi.” Zhao-Chou said: “What is T'ou-Tzi?” T'ou-Tzi lifted up the jug of oil and yelled: “Oil! Oil!” • Triệu Châu hỏi: “Khi ở trong chết được sống là thế nào?” Sư đáp: “Chẳng cho đi đêm, đợi đến sáng sẽ đến.” Triệu Châu nói: “Ta sớm là trắng, y lại là đen.”—Zhao-Chou asked: “What do you say about the one who undergoes the great death, and thus attains life?” T'ou-Tzi said: “He can't make the journey at night. He must arrive in the daylight.” Zhao-Chou said: “I've long committed thievery, but you've worse than me.” • Một hôm Sư thượng đường bảo chúng: “Các ngươi đến đây tìm ngôn ngữ hay đẹp, góp lời văn vẻ, trong miệng quý có nói ra, lão già nầy khí lực yếu kém, môi lưỡi chậm lụt. Nếu các ngươi hỏi ta, ta tùy câu hỏi mà đáp. Đối đáp không có gì huyền diệu có thể kịp được ngươi, cũng không dính gì đến tai ngươi. Trọn không nói hướng thượng hướng hạ, có Phật có Pháp, có phàm có Thánh. Trong chỗ các ngươi sanh hiểu rồi tự mang gánh lấy, sau nầy tự làm tự chịu. Trong ấy không có gì cho các ngươi, chẳng dám lừa dối các ngươi, không ngoài không trong, có thể nói được na ná. Các ngươi lại biết chăng?”—One day Zen master T'ou-Tzi-T'a-T'ong entered the hall and addressed the monks, saying: “All of you come here searching for some new words and phrases, colecting brilliant things which you intend to stick in your own mouth and repeat. But this old monk's energy is failing and my lips and tongue are blundering. I don't have any idle talk to give you. If you ask me then I will answer you directly. But there is no mystery that can be compared to you, yourself. I won't teach you some method to collect wisdom. I will never say that above or below there's a Buddha, a Dharma, something ordinary or something sacred, or that you will find it by sitting with your legs crossed. You all manifest a thousand things. It is the understandings that arise from your own life that you must carry into the future, raping what you sow. I have nothing to give you here, neither overtly nor by inference. I can only speak to all of you in this manner. If you have doubts then question me.” • Sư ở núi Đầu Tử hơn ba mươi năm, những thiền khách qua lại tham vấn thường đầy cả thất. Sư dùng biện tài vô úy tùy hỏi liền đáp, ứng cơ đối đáp lời lẽ tinh vi rất nhiều—Zen master T'a-T'ong resided on Mount T'ou-Tzi for more than thirty years, provoking and advancing Dharma in all directions. Those who came for his instruction often overflowed the hall. The master spoke in an unimposing manner, answering all questions, aiding each person's development, and expressing great meaning with few words. • Đời Đường niên hiệu Trung Hòa (881), giặc cướp nổi dậy, dân chúng ly tán. Một lần, có bọn cuồng đồ cầm đao lên núi hỏi sư: “Ở đây làm gì?” Sư tùy nghi thuyết pháp, bọn chúng nghe đều bái phục, cởi y phục cúng dường rồi giải tán—The Huang-Chao bandit uprising broke out during the Zhong-He era (around the year 881). At that time every place experienced disaster and chaos. Once, a crazed bandit brandished a knife at the master and said: “What are you doing living here?” T'ou-Tzi calmly continued to espouse Dharma. When T'ou-Tzi finished speaking the bandit bowed and took off their own clothes to leave as an offering. • Ngày sáu tháng tư năm 914, sư hơi nhuốm bệnh. Tăng chúng rước thầy thuốc, sư bảo chúng: “Tứ đại hợp tan là phép thường, các ngươi chớ lo, ta tự giữ lấy.” Nói xong, sư thị tịch trong tư thế kiết già, được vua ban hiệu là “Từ Tế Đại Sư”—On the sixth day of the fourth month in the year 914, the master became slightly ill. The monks called for a doctor. T'ou-Tzi said to the congregation: “The four great activities of life ebb and flow unceasingly. You mustn't be concerned. I can take care of myself.” After saying these words the master sat in a cross-legged position and passed away. He received the posthumous name “Great Teacher Compassionate Succor.”
đại độ
Generous—Magnanimous.
đại độ sư
Great leader across mortality to nirvana, i.e. Buddha or a bodhisattva.
; Bậc thầy lớn dẫn chúng sanh qua bờ sanh tử để đi đến Niết Bàn, chỉ Phật hay một vị Bồ Tát—The great leader across mortality to nirvana—Buddha—Bodhisattva.
đại động chân kinh
Ta-tung Chen-ching (C), Dadong Zhenjing (C), True Book of Great SecretTên một bộ kinh.
Đại Động Viện
(大洞院, Daitō-in): ngôi chùa con trực thuộc vào Tổng Trì Tự của Tào Động Tông, hiệu là Quất Cốc Sơn (橘谷山); hiện tọa lạc tại số 249 Toizume (橘), Morimachi (森町), Shūchi-gun (周智郡), Shizuoka-ken (靜岡縣). Chùa do Thiền sư Thứ Trọng Thiên Ngân (恕仲天誾) sáng lập, nhưng ông lại mời thầy ông là Mai Sơn Văn Bổn (梅山聞本) làm Tổ khai sơn chùa, còn ông thì làm vị Tổ thứ 2. Tương truyền rằng trước đây khi Thứ Trọng đi hành cước thì bị lạc đường trong núi, may thay gặp được một lão ông đang trồng hạt vừng, nhân đó ông lão mới chỉ đường cho Thiền sư đi; sau này Thiền sư biết được rằng ông lão ấy chính là hóa thân của Địa Tạng Bồ Tát vốn hiện đang thờ trong chùa, nên từ đó Thiền sư mới đặt cho tượng này là Ma Thì Địa Tạng (麻蒔地藏, Địa Tạng Trồng Vừng).
Đại đức
(大德): (1) Công đức lớn, đại ân. Như trong Hệ Từ (繫辭) của Dịch Kinh (易經) có câu: “Thiên địa chi đại đức viết sinh (天地之大德曰生, đức lớn của trời đất là sinh).” Hay trong Thi Kinh, phần Tiểu Nhã (小雅), Cốc Phong (谷風) có câu: “Vong ngã đại đức, tư ngã tiểu oán (忘我大德、思我小怨, quên đức lớn của ta, nhớ oán hận nhỏ quả ta).” (2) Phẩm đức cao thượng. Như trong chương Lập Chính (立政) của Quản Tử (管子) có câu: “Quân chi sở thận giả tứ, nhất viết đại đức bất chí nhân, bất khả dĩ thọ quốc bính (君之所愼者四、一曰大德不至仁、不可以授國柄, có bốn điều người quân tử phải thận trọng, một là phẩm đức cao thượng không bằng lòng nhân, không thể lấy vậy mà ban cho quyền lực quốc gia được).” Quan Đại Thần Duẫn Tri Chương (尹知章, 669-718) nhà Đường chú thích rằng: “Đức tuy đại nhi nhân bất chí, hoặc bao tàng họa tâm, cố bất khả thọ quốc bính (德雖大而仁不至、或包藏禍心、故不可授國柄, đức tuy lớn mà lòng nhân vẫn không thấu đáo, hoặc có thể ẩn tàng tâm gây hiểm họa, nên không thể ban cho quyền lực quốc gia được).” (3) Chỉ cho người có đức hạnh cao thượng. Như trong Lễ Ký (禮記), chương Trung Dung (中庸) có câu: “Cố đại đức tất đắc kỳ vị (故大德必得其位, cho nên người có đức hạnh cao thượng tất đạt được vị trí ấy).” Hay trong chương Ly Lâu (離婁) của Mạnh Tử (孟子) có đoạn: “Thiên hạ hữu đạo, tiểu đức dịch đại đức, tiểu hiền dịch đại hiền (天下有道、小德役大德、小賢役大賢, thiên hạ có đạo rằng người đức ít thì phục dịch người đức lớn, người hiền nhỏ thì phục vụ người hiền lớn).” (4) Đại Đức (s, p: bhadanta, 大德), âm dịch là Bà Đàn Đà (婆檀陀). Tại Ấn Độ, đây là tiếng kính xưng đối với Phật, Bồ Tát hay cao tăng; hoặc trong hàng ngũ chư vị Tỳ Kheo, bậc Trưởng Lão cũng được gọi là Đại Đức. Như trong Phật Thuyết Văn Thù Sư Lợi Tuần Hành Kinh (佛說文殊師利巡行經, Taishō Vol. 14, No. 470) quyển 57 có đoạn: “Nhĩ thời Văn Thù Sư Lợi đồng tử, ký kiến Trưởng Lão Xá Lợi Phất dĩ, nhi ngữ chi ngôn: 'Đại Đức Xá Lợi Phất ! Nhữ nhập Thiền da ?' (爾時文殊師利童子、既見長老舍利弗已、而語之言、大德舍利弗、汝入禪耶, lúc bấy giờ đồng tử Văn Thù Sư Lợi, đã thấy Trưởng Lão Xá Lợi Phất rồi, mà nói lời rằng: 'Đại Đức Xá Lợi Phất ! Có phải người nhập vào Thiền định không ?').” Trong các bộ Luật, khi đối trước đại chúng hiện tiền, chỉ cho chúng Tỳ Kheo, người ta thường dùng từ “Đại Đức Tăng (大德僧)”; với chúng Tỳ Kheo Ni là “Đại Tỷ Tăng (大姊僧)”. Tỷ dụ như trong Luật Uyển Sự Quy (律苑事規, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1113) có đoạn: “Đại Đức nhất tâm niệm ngã [mỗ giáp] kim thỉnh Đại Đức vi lạc phát Hòa Thượng, nguyện Đại Đức vi ngã lạc phát Hòa Thượng, ngã y Đại Đức cố đắc thế phát xuất gia, từ mẫn cố [tam thỉnh] (大德一心念、我[某甲]今請大德爲落髮和尚、願大德爲我落髮和尚、我依大德故得剃髮出家、慈愍故[三請], Đại Đức một lòng nghĩ nhớ, con […] nay cung thỉnh Đại Đức làm Hòa Thượng xuống tóc, ngưỡng mong Đại Đức làm Hòa Thượng xuống tóc của con, vì con nương Đại Đức nên được xuống tóc xuất gia, xin thương xót cho [ba lần thưa như vậy]).” Tại Trung Quốc cũng như Việt Nam, từ Đại Đức không dùng để tôn xưng chư Phật, Bồ Tát; mà chỉ dùng cho chư vị cao tăng mà thôi. Tuy nhiên, dưới thời Tùy Đường, những người tham gia dịch kinh đều được gọi là Đại Đức. Như trong Đại Đường Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện (大唐大慈恩寺三藏法師傳, Taishō Vol. 50, No. 2053) quyển 6 cho biết rằng vào tháng 6 năm Trinh Quán (貞觀) thứ 19 (645), khi Huyền Trang (玄奘, 602-664) dịch kinh tại Hoằng Phước (弘福), có 12 vị Chứng Nghĩa Đại Đức (證義大德), 9 vị Chuyết Văn Đại Đức (綴文大德), 1 vị Tự Học Đại Đức (字學大德), 1 vị Chứng Phạn Ngữ Phạn Văn Đại Đức (證梵語梵文大德), v.v. Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục (貞元新定釋敎目錄, Taishō Vol. 55, No. 2157) quyển 16 cũng có nêu lên một số danh xưng khác như Lâm Đàn Đại Đức (臨壇大德), Bách Tòa Đại Đức (百座大德), Tam Học Đại Đức (三學大德), Giảng Luận Đại Đức (講論大德), Nghĩa Học Đại Đức (義學大德), Phiên Kinh Đại Đức (翻經大德), Dịch Ngữ Đại Đức (譯語大德), v.v. Ngoài ra, người thống lãnh Tăng Ni cũng gọi là Đại Đức. Như trong Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2060) quyển 11, Đường Kinh Sư Diên Hưng Tự Thích Cát Tạng Truyện (唐京師延興寺釋吉藏傳) có đề cập sự việc vào năm đầu (618) niên hiệu Võ Đức (武德) nhà Đường, vì số lượng tăng chúng quá đông, chức Thập Đại Đức (十大德) được thiết trí để quản lý tăng chúng. Ngoài những ý nghĩa nêu trên, hiện nay tại Việt Nam, danh xưng Đại Đức được dùng cho những vị mới thọ giới cũng như có Hạ lạp thấp, sau Thượng Tọa và Hòa Thượng.
; (大德): có 4 nghĩa chính: (1) Công đức lớn, đại ân. Như trong Hệ Từ (繫辭) của Dịch Kinh (易經) có câu: “Thiên địa chi đại đức viết sinh (天地之大德曰生, đức lớn của trời đất là sinh).” Hay trong Thi Kinh, phần Tiểu Nhã (小雅), Cốc Phong (谷風) có câu: “Vong ngã đại đức, tư ngã tiểu oán (忘我大德、思我小怨, quên đức lớn của ta, nhớ oán hận nhỏ quả ta).” (2) Phẩm đức cao thượng. Như trong chương Lập Chính (立政) của Quản Tử (管子) có câu: “Quân chi sở thận giả tứ, nhất viết đại đức bất chí nhân, bất khả dĩ thọ quốc bính (君之所愼者四、一曰大德不至仁、不可以授國柄, có bốn điều người quân tử phải thận trọng, một là phẩm đức cao thượng không bằng lòng nhân, không thể lấy vậy mà ban cho quyền lực quốc gia được).” Quan Đại Thần Duẫn Tri Chương (尹知章, 669-718) nhà Đường chú thích rằng: “Đức tuy đại nhi nhân bất chí, hoặc bao tàng họa tâm, cố bất khả thọ quốc bính (德雖大而仁不至、或包藏禍心、故不可授國柄, đức tuy lớn mà lòng nhân vẫn không thấu đáo, hoặc có thể ẩn tàng tâm gây hiểm họa, nên không thể ban cho quyền lực quốc gia được).” (3) Chỉ cho người có đức hạnh cao thượng. Như trong Lễ Ký (禮記), chương Trung Dung (中庸) có câu: “Cố đại đức tất đắc kỳ vị (故大德必得其位, cho nên người có đức hạnh cao thượng tất đạt được vị trí ấy).” Hay trong chương Ly Lâu (離婁) của Mạnh Tử (孟子) có đoạn: “Thiên hạ hữu đạo, tiểu đức dịch đại đức, tiểu hiền dịch đại hiền (天下有道、小德役大德、小賢役大賢, thiên hạ có đạo rằng người đức ít thì phục dịch người đức lớn, người hiền nhỏ thì phục vụ người hiền lớn).” (4) Đại Đức(s, p: bhadanta, 大德), âm dịch là Bà Đàn Đà (婆檀陀). Tại Ấn Độ, đây là tiếng kính xưng đối với Phật, Bồ Tát hay cao tăng; hoặc trong hàng ngũ chư vị Tỳ Kheo, bậc Trưởng Lão cũng được gọi là Đại Đức. Như trong Phật Thuyết Văn Thù Sư Lợi Tuần Hành Kinh (佛說文殊師利巡行經, Taishō Vol. 14, No. 470) quyển 57 có đoạn: “Nhĩ thời Văn Thù Sư Lợi đồng tử, ký kiến Trưởng Lão Xá Lợi Phất dĩ, nhi ngữ chi ngôn: 'Đại Đức Xá Lợi Phất ! Nhữ nhập Thiền da ?' (爾時文殊師利童子、旣見長老舍利弗已、而語之言、大德舍利弗、汝入禪耶, lúc bấy giờ đồng tử Văn Thù Sư Lợi, đã thấy Trưởng Lão Xá Lợi Phất rồi, mà nói lời rằng: 'Đại Đức Xá Lợi Phất ! Có phải người nhập vào Thiền định không ?').” Trong các bộ Luật, khi đối trước đại chúng hiện tiền, chỉ cho chúng Tỳ Kheo, người ta thường dùng từ “Đại Đức Tăng (大德僧)”; với chúng Tỳ Kheo Ni là “Đại Tỷ Tăng (大姊僧)”. Tỷ dụ như trong Luật Uyển Sự Quy (律苑事規, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1113) có đoạn: “Đại Đức nhất tâm niệm ngã [mỗ giáp] kim thỉnh Đại Đức vi lạc phát Hòa Thượng, nguyện Đại Đức vi ngã lạc phát Hòa Thượng, ngã y Đại Đức cố đắc thế phát xuất gia, từ mẫn cố [tam thỉnh] (大德一心念、我[某甲]今請大德爲落髮和尚、願大德爲我落髮和尚、我依大德故得剃髮出家、慈愍故[三請], Đại Đức một lòng nghĩ nhớ, con […] nay cung thỉnh Đại Đức làm Hòa Thượng xuống tóc, ngưỡng mong Đại Đức làm Hòa Thượng xuống tóc của con, vì con nương Đại Đức nên được xuống tóc xuất gia, xin thương xót cho [ba lần thưa như vậy]).” Tại Trung Quốc cũng như Việt Nam, từ Đại Đức không dùng để tôn xưng chư Phật, Bồ Tát; mà chỉ dùng cho chư vị cao tăng mà thôi. Tuy nhiên, dưới thời Tùy Đường, những người tham gia dịch kinh đều được gọi là Đại Đức. Như trong Đại Đường Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện (大唐大慈恩寺三藏法師傳, Taishō Vol. 50, No. 2053) quyển 6 cho biết rằng vào tháng 6 năm Trinh Quán (貞觀) thứ 19 (645), khi Huyền Trang (玄奘, 602-664) dịch kinh tại Hoằng Phước (弘福), có 12 vị Chứng Nghĩa Đại Đức (證義大德), 9 vị Chuyết Văn Đại Đức (綴文大德), 1 vị Tự Học Đại Đức (字學大德), 1 vị Chứng Phạn Ngữ Phạn Văn Đại Đức (證梵語梵文大德), v.v. Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục (貞元新定釋敎目錄, Taishō Vol. 55, No. 2157) quyển 16 cũng có nêu lên một số danh xưng khác như Lâm Đàn Đại Đức (臨壇大德), Bách Tòa Đại Đức (百座大德), Tam Học Đại Đức (三學大德), Giảng Luận Đại Đức (講論大德), Nghĩa Học Đại Đức (義學大德), Phiên Kinh Đại Đức (翻經大德), Dịch Ngữ Đại Đức (譯語大德), v.v. Ngoài ra, người thống lãnh Tăng Ni cũng gọi là Đại Đức. Như trong Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2060) quyển 11, Đường Kinh Sư Diên Hưng Tự Thích Cát Tạng Truyện (唐京師延興寺釋吉藏傳) có đề cập sự việc vào năm đầu (618) niên hiệu Võ Đức (武德) nhà Đường, vì số lượng tăng chúng quá đông, chức Thập Đại Đức (十大德) được thiết trí để quản lý tăng chúng. Ngoài những ý nghĩa nêu trên, hiện nay tại Việt Nam, danh xưng Đại Đức được dùng cho những vị mới thọ giới cũng như có Hạ lạp thấp, sau Thượng Tọa và Hòa Thượng.
đại đức
879梵語 bhadanta,巴利語同。音譯婆壇陀。於印度時,為對佛菩薩或高僧之敬稱。又比丘中之長老,亦稱大德。另於諸部律中,對現前之大眾,凡指比丘眾,稱「大德僧」,比丘尼眾則稱「大姊僧」。於我國,不以「大德」一詞稱佛菩薩,而為對高僧之敬稱。然於隋唐時代,凡從事譯經事業者,特稱大德,大慈恩寺三藏法師傳卷六即記載:貞觀十九年(645)六月玄奘於弘福譯經時,另有證義大德十二人、綴文大德九人、字學大德一人、證梵語梵文大德一人等。貞元釋教目錄卷十六亦舉出臨壇大德、百座大德、三學大德、講論大德、義學大德、翻經大德、譯語大德等名稱。 此外,統領僧尼之僧官,亦稱大德。據續高僧傳卷十一吉藏傳載,唐朝武德初年,以僧眾過繁,乃置十大德以綱維法務;大宋僧史略卷下德號條亦列出臨壇大德、引駕大德等名稱。然至近代以來,「大德」一詞已廣泛使用,凡對有德有行之人,不論其出家、在家,均以「大德」尊稱之;或不限於具足德行與否,而成為佛教界一般性之禮稱。〔別譯雜阿含經卷一、有部毘奈耶雜事卷十九、卷三十八、大智度論卷二、大毘婆沙論卷六、釋氏要覽卷上〕
; Yannadatta (S)Cha của Kim Tịch Phật lúc chưa xuất gia.
; Bhante (P), Bhadanta (P), Daitoku (J), Gelong (T), Bhandanta (S).
; Bhandanta (S). Daitoku (J). Most virtuous, reverend, title of honour applied to monks.
; Tiếng xưng hô người tu hành có đức hạnh cao siêu.
; Bà Đàn Đà. 1) Bhadanta (skt)—Most virtuous—Most Viruous Ones (chư Đại Đức—members of the Great Assembly including the Monks, the Nuns, Upasakas and Upasikas). 2) Danh hiệu của Phật: A title of honor of a Buddha. 3) Một vị Tăng trẻ mới lên từ Sa Di: Reverend (REV)—A junior monk. 4) Trong Luật Tạng, chỉ chư Tăng: In the Vinaya applied to monks.
; (大德) Đức lớn. Phạm,Pàli:Bhadanta. Dịch âm: Bà đàn đà. Tiếng tôn xưng Phật, Bồ tát hoặc Cao tăng ở Ấn độ. Các bậc Trưởng lão trong hàng tỉ khưu cũng được gọi là Đại đức. Trong các bộ luật, đối với đại chúng hiện tiền, thì tỉ khưu được gọi là Đại đức tăng, còn tỉ khưu ni thì gọi là Đại tỉ tăng. Ở Trung quốc, từ Đại đức không được dùng để gọi Phật và Bồ tát, mà chỉ dùng để kính xưng bậc cao tăng. Nhưng ở thời đại Tùy, Đường, những vị làm việc phiên dịch kinh điển thì đặc biệt được gọi là Đại đức. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện quyển 6 ghi: Tháng 6 năm Trinh quán 19 (645), khi ngài Huyền trang dịch kinh ở Hoằng phúc, trong ban của ngài có mười hai vị Đại đức chứng nghĩa, chín vị Đại đức nhuận văn, một vị Đại đức xem xét văn tự, một vị Đại đức chứng Phạm ngữ, Phạm văn v.v... Trinh nguyên thích giáo mục lục quyển 16 cũng nêu các danh xưng: Lâm đàn đại đức, Bách tọa đại đức, Tam học đại đức, Giảng luận đại đức, Nghĩa học đại đức, Phiên kinh đại đức, Dịch ngữ đại đức v.v... Ngoài ra, vị quan tăng thống lĩnh tăng ni cũng gọi Đại đức. Cứ theo truyện Cát tạng trong Tục cao tăng truyện quyển 11 ghi, thì vào đầu Vách Phía Đông Gian Trước Động thứ 10 Vách Bắc, Vách Tây Gian Trước Động thứ 10 năm Vũ đức đời Đường, vì chúng tăng quá đông nên cử ra mười vị Đại đức để trông coi pháp vụ. Nhưng thời gần đây, danh từ Đại đức đã được dùng một cách rộng rãi (nếu không nói là bừa bãi!). Đối với người có đức hạnh, bất luận xuất gia, tại gia, đều được tôn xưng Đại đức; hoặc chẳng cần giới hạn ở chỗ đầy đủ đức hạnh hay không, từ đại đức đã trở thành lối xưng hô phổ thông trong giới Phật giáo. [X. kinh Biệt dịch tạp a hàm Q.1; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.19; Q.38; luận Đại trí độ Q.2; luận Đại tì bà sa Q.6; Thích thị yếu lãm Q.hạ].
đại đức thế tôn
World-Honored Great Virtuous One.
Đại Đức Tự
(大德寺, Daitoku-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Đại Đức Tự (大德寺派) thuộc Lâm Tế Tông, hiệu núi là Long Bảo Sơn (龍寶山), hiện tọa lạc tại số 53 Daitokuji-cho (大德寺町), Murasakino (紫野), Kita-ku (北區), Kyoto-shi (京都市), Kyoto-fu (京都府). Người đời thường gọi là Tử Dã Đại ĐứcTự (紫野大德寺, Murasakunodaitoku-ji), tên gọi chính thức là Long Bảo Sơn Đại Đức Thiền Tự (龍寶山大德禪寺). Chùa được sáng lập vào năm đầu (1319) niên hiệu Nguyên Ứng (元應), và vị Tổ khai sơn chùa là Tông Phong Diệu Siêu (宗峰妙超). Diệu Siêu là người vùng Bá Ma (播磨, Harima, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]), ban đầu ông làm đệ tử của vị Luật Sư Giới Tín (戒信), nhưng sau đó thì lại theo học đạo với Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明), rồi được vị này thọ ký cho. Đến năm 1308, khi Nam Phố Thiệu Minh qua đời, thì ông đến sống ở Vân Cư Am (雲居庵). Khi ấy vị trấn thủ vùng Bá Ma là Hộ Tắc Thôn (護則村) nghe như vậy, bèn kiến lập một tòa Pháp Đường ở vùng Tử Dã (紫野, Murasakino), rồi cung thỉnh Diệu Siêu đến ở đó. Sau Hậu Đế Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō) nghe được uy đức của ông, bèn thỉnh vào cung cấm mà tham vấn yếu chỉ của Thiền, rồi ban cho đất đai mà xây dựng ngôi già lam, lấy tên gọi là Long Bảo Sơn Đại Đức Tự (龍寶山大德寺). Kế đến Hoa Viên Thượng Hoàng (花園上皇) lại sắc phong cho chùa là Đạo Tràng Kỳ Nguyện, và xếp vào một trong năm ngôi chùa nổi tiếng vùng Kyoto. Vào năm thứ 2 (1453) niên hiệu Hưởng Đức (享德), do bị hỏa hoạn lớn nên hơn phân nữa chùa bị cháy tan, rồi sau đó gặp phải binh hỏa của vụ Loạn Ứng Nhân (應仁). Về sau, vào năm thứ 6 (1474) niên hiệu Văn Minh (文明), Nhất Hưu Tông Thuần (一休宗純) mới nỗ lực tái hưng lại ngôi chùa này. Đến trong khoảng niên hiệu Khoan Văn (寛文) thì ngôi già lam hầu như đã được phục hồi lại y như cũ. Trong khuôn viên chùa hiện có 24 ngôi tháp, gồm những ngôi mộ của những bậc danh tướng đương thời, ngoài ra còn có rất nhiều bia tháp, mộ phần khác nữa. Quần thể kiến trúc chùa gồm Sắc Sứ Môn (勅使門), Tam Môn (三門), Phật Điện (佛殿), Pháp Đường (法堂) và khá nhiều ngôi viện nhỏ như Dưỡng Đức Viện (養德院), Long Nguyên Viện (龍源院), Hoàng Mai Viện (黃梅院), Đại Từ Viện (大慈院), Thoại Phong Viện (瑞峰院), Hưng Lâm Viện (興臨院), Chánh Thọ Viện (正受院), Tam Huyền Viện (三玄院), Chân Châu Viện (眞珠院), Đại Tiên Viện (大仙院), Phương Xuân Viện (芳春院), Tụ Quang Viện (聚光院), Tổng Kiến Viện (總見院), Cao Đồng Viện (高桐院), Ngọc Lâm Viện (玉林院), Long Quang Viện (龍光院), Tùng Nguyên Viện (松源院), v.v. Hiện chùa còn lưu giữ khá nhiều bảo vật thuộc hạng quốc bảo cũng như tài sản văn hóa quan trọng như Đường Môn, Phương Trượng, đồ hình Quan Âm Vượn Hạc vẽ trên lụa với ngòi bút tài tình của họa sĩ Mục Khê (牧谿), tượng Đại Đăng Quốc Sư (大燈國師) màu trên lụa, v.v.
Đại Đức tự
大德寺; J: daitoku-ji;|Một ngôi chùa nổi danh thuộc tông Lâm Tế tại Nhật Bản. Chùa này được Thiền sư Tông Phong Diệu Siêu (j: shūhō myōchō) sáng lập.|Năm 1315, Thiền sư Diệu Siêu tự lập cho mình một cái am nhỏ mang tên Ðại Ðức, nằm ở hướng Tây bắc của Kinh Ðô (j: kyōto). Sau một thời gian, danh tiếng của Sư lan truyền khắp nơi và Hậu Ðề Hồ (j: go-daigo) Thiên hoàng mời Sư vào cung tham hỏi Phật pháp. Nhân dịp này, Sư được Thiên hoàng ban cho một khoảnh đất rất lớn để xây dựng một ngôi chùa to (1324). Dưới sự hướng dẫn của một vị tăng thuộc tông Thiên Thai, công trình xây dựng ngôi chùa lớn này được xúc tiến. Tháng ba năm 1327, ngôi chùa này – mang tên am cũ của Sư là Ðại Ðức – được khánh thành dưới sự hiện diện của hai Thiên hoàng, Cựu Thiên hoàng Hoa Viên (j: hanazono) và Thiên hoàng Hậu Ðề Hồ.|Ngay từ sau khi thành lập, chùa Ðại Ðức là một trung tâm văn hoá quan trọng của Nhật. Với thời gian, ngôi chùa này trở thành một công trình với nhiều chùa nhỏ xung quanh với những vị trụ trì riêng biệt. Một hệ phái thiền quan trọng cũng mang tên của ngôi chùa này, đó là Ðại Ðức tự phái (j: daitokuji-ha).
đại đức tự
879為日本京都佛教名勝之一。山號龍寶山。乃日本臨濟宗大德寺派之大本山。正中元年(1324),宗峰妙超(大燈國師)所創。自後醍醐天皇賜予「本朝無雙禪苑」之號後,遂被推為五山之一。足利義滿許之為十剎之一。數次遭遇大火。應仁之亂後,一休宗純入住該寺,由於豪商大力接助,遂得再興。然開祖時之純粹禪風,至今已漸趨式微,而以茶道聞名於世。 此處伽藍大多為桃山、江戶初期之建築。由於有力檀護之布施,茶道甚盛,遺留至今之茶室、茶庭甚多,另藏有室町末期王公貴族所珍藏之宋畫。法堂、佛殿、鐘樓、庫裡、方丈等並列。唐門是「聚樂第」之遺構,為華麗之桃山建築。方丈之庭園為江戶初期之樣式。除方丈室之八十四面障壁畫外,另有大燈國師像等頂相,及牧溪所畫中觀音左右猿鶴圖、龍虎圖、南宋之五百羅漢八十二幅、墨蹟、佛畫等。
; Daitoku-ji (J)Tên một ngôi chùa.
; (大德寺) Chùa này là một trong những danh lam của Phật giáo ở Kyoto Nhật bản. Hiệu núi là Long bảo, đại bản sơn của phái chùa Đại đức thuộc tông Lâm tế Nhật bản, do ngài Tông phong Diệu siêu (Quốc sư Đại đăng) sáng lập vào niên hiệu Chính trung năm đầu (1324). Từ sau ngày Thiên hoàng Hậu đề hồ ban hiệu Bản triều vô song Thiền uyển thì chùa được liệt vào một trong Ngũ sơn; Túc lợi Nghĩa mãn thì xếp làm một trong Thập sát. Chùa đã bị cháy nhiều lần. Sau loạn Ưng nhân, ngài Nhất hưu Tông thuần về ở chùa này và, nhờ sự giúp đỡ của các thương gia, hào phú, ngài đã kiến thiết lại. Nhưng, Thiền phong thuần túy của Tổ sư khai sáng đến nay đã suy vi, chỉ còn nổi tiếng về trà đạo. Các kiến trúc ở đây phần nhiều thuộc thời đại Đào sơn và đầu đời Giang hộ. Nhờ sự giúp đỡ của đàn việt, trà đạo rất thịnh, đến nay còn lại rất nhiều trà thất, trà đình và các bức họa đời Tống rất quí của các vương công quí tộc ở cuối thời Thất đinh. Ngoài ra, nhà pháp, điện Phật, lầu chuông, nhà Tăng, nhà kho v.v... đứng san sát.
đại đức tự phái
Daitoku-ji-ha (J)Tên một tông phái.
đại ảo
Xem Đại huyễn.
đại ảo sư
Great magician, a title given to a Buddha. Four fundamentals, i.e tứ đại, ngũ ấm, thập bát giới, thập nhị nhập.
đại ấm giới nhập
1) Tứ Đại: Four fundamentals—See Tứ Đại. 2) Ngũ Ấm: Five aggregates—See Ngũ Uẩn. 3) Thập Bát Giới: Eighteen spheres—See Thập Bát Giới. 4) Thập Nhị Nhập: The twelve entrances—See Thập Nhị Nhập.
đại ẩn sĩ
Vị Tăng ở ẩn trong rừng sâu núi thẳm—Great hermit who lives in the deep forests and mountains.
đại ốc đức thành
805請參閱 熾盛光大威德消災吉祥陀羅尼經 (1882~1950)日本佛教學者。福岡縣人。早稻田大學哲學科畢業,後至我國、韓國,以考察佛教文獻史料。著有高麗經藏雕造考、石山寫經選、寧樂刊經史、金澤遺文、寧樂佛教史論等書。
đại ứng cung
890請參閱 景川和尚語錄 <一>佛之通號。斷一切之惡,應受人天之供養,故稱應供。應供,梵語 arhat,音譯阿羅訶,通於三乘。故為與聲聞、緣覺之應供區別,特稱佛乘之應供為大應供。 <二>阿彌陀三十七號之一。蓋取諸佛之通號,而為彌陀之別號,以彌陀獨能滿足救濟一切眾生,使之平等之故。讚阿彌陀佛偈(大四七‧四二一上):「佛光照耀最第一,故佛又號光炎王;三塗黑闇蒙光啟,是故頂禮大應供。」
đại ứng cúng
Mahā-arhat (S).
; Một trong mười danh hiệu của Như Lai—The Great worshipful—One of the ten titles of a Buddha.
đại ứng quốc sư
Daiō Kokushi (J)Tên một vị sư.
đạm bạc
Simple.
đạm hư
4021(1875~1963)河北寧河人,俗姓王,名福庭。法號隆銜。字倓虛。年十七奉父命婚娶,生子五人。先務農,兼營小販為生,後又習醫術。庚子事變,走避營口,懸壺濟世。年四十,聽法華經,即有出塵之志。民國六年(1917),年四十三,因天津清修院清池法師引導,依淶水高明寺印魁法師出家。次年南遊,於寧波觀宗寺依諦閑大師受戒,並於諦閑大師座下學習天台教觀。民國十年,出任瀋陽萬壽寺佛學院講席,十四年獲諦閑大師付法為天台第四十四代,賜名「金銜」。此後,於東北各地講經弘法。並創建道場,其中以哈爾濱極樂寺、長春般若寺、營口楞嚴寺規模最大。其後嘗主青島湛山寺,自號湛山老人。晚年弘法於香港,並創設中華佛教圖書館、華南佛學院。五十二年示寂,世壽八十九。師曾口述生平事蹟,由弟子大光筆記成「影塵回憶錄」出版。主要著作有:心經疏義、心經講義、起信論講義、天台傳佛心印記釋要、金剛經講義等。
; (倓虛) (1875 - 1963) Vị tăng Trung quốc thời hiện đại, người huyện Ninh hà tỉnh Hà bắc, họ Vương, tên Phúc đình, pháp hiệu Long hàm, tự Đàm hư. Năm 17 tuổi, sư vâng mệnh cha kết hôn, sinh được năm người con. Trước sư sống bằng nghề làm ruộng và buôn bán nhỏ, sau học nghề thuốc chữa bệnh giúp đời. Năm 40 tuổi sư nghe kinh Pháp hoa liền nuôi chí xuất gia. Năm 43 tuổi (1917) nhờ sự hướng dẫn của pháp sư Thanh trì ở viện Thanh tu tại Thiên tân, sư theo ngài Ấn khôi ở chùa Cao minh tại Lai thủy xuất gia. Năm sau, sư xuống miền Nam y vào đại sư Đế nhàn thụ giới và tu tập giáo quán Thiên thai ở chùa Quán tông tại Ninh ba (Chiết giang). Năm Dân quốc thứ 10 (1921), sư làm giảng sư ở Phật học viện chùa Vạn thọ tại Thẩm dương tỉnh Liêu ninh. Năm Dân quốc 14 (1925) sư được đại sư Đế nhàn phó pháp, là đời thứ 44 của tông Thiên thai, ban cho hiệu Kim hàm. Từ đó trở đi, sư giảng kinh hoằng pháp ở các vùng đông bắc, sáng lập nhiều đạo tràng, trong đó, chùa Cực lạc ở Cáp nhĩ tân, chùa Bát nhã ở Trường xuân và chùa Lăng nghiêm ở Doanh khẩu là qui mô lớn hơn cả. Về sau sư từng trụ trì chùa Trạm sơn ở Thanh đảo, lấy hiệu là Trạm sơn lão nhân. Cuối đời, sư hoằng pháp ở Hồng kông, sáng lập Thư viện Phật giáo Trung hoa và viện Phật học Hoa nam. Năm Dân quốc 52 (1963) sư tịch, thọ 89 tuổi. Sư có các tác phẩm: Tâm kinh sớ nghĩa, Tâm kinh giảng nghĩa, Khởi tín luận giảng nghĩa, Thiên thai truyền Phật tâm ấn kí thích yếu, Kim cương kinh giảng nghĩa. Ngoài ra còn có Ảnh trần hồi ức lục nói về cuộc đời của sư do đệ tử Đại quang biên soạn.
đạm thủy
Fresh color.
đạm tinh khí quỷ
Pisaca (skt)—See Pisaca in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Quỷ Vương Đạm Tinh Khí in Vietnamese-English Section.
đạm tinh quỉ
Pisatcha (S), Piśāca (S), Pisāca (P)Tỳ xá cà, Tỳ xá xàMột loại chúng sanh, một trong 8 loại quỉ: Càn thát bà, Đảm tinh quỉ, Cưu bàn trà, Ngạ quỉ, Chư long, Phú đơn na, Dạ xoa, La sát. Tỳ xá cà và Cưu bàn trà là hai loại quỷ vương trong bát bộ quỉ thần.
; Pisāca (P).
đạm tinh quỉ (cái)
Piśāci (S), Pisāci (P).
đạm tình
Indifference.
Đạm 淡
[ja] タン tan ||| (1) Light (color, flavor); faint (light, hope); passing, fleeting. (2) Tasteless, insipid. Tastelessness; insipidness (kaṣāya). (4) Used for 104-8 痰: sputum; phlegm (ślesman). => Nhạt (màu sắc, hương vị); yếu ớt (ánh sáng, hy vọng); thoáng qua, lướt nhanh. Nhạt nhẽo, vô vị. Sự nhạt nhẽo, sự vô vị (s: kaṣāya). Dùng thế cho chữ Đàm 痰: nước dãi, đờm dãi (s: ślesman).
đạn
Viên đạn—A bullet—Shot.
đạn chỉ
Búng móng tay. Một khoảng thời gian tương đương với 20 cái khảy móng tay—To snap the fingers, in assent, in joy, in warning; a measure of time equal to twenty winks. .
đạn trạch ca
Dandaka (skt)—Tên của một vị vua—Name of a king.
đạn trạch ca lâm
Khu rừng Đạn Trạch Ca, nơi đã bị một vị Tiên tàn phá vì bị quốc vương Đạn Trạch Ca cướp vợ—The forest of Dandaka, destroyed by a rsi because the king had carried off the rsi's wife, saying a rsi had no need for one.
đạn đa
Danta (skt)—Răng—Tooth.
đạn đa lạc ca
Dantalokagiri (skt)—Một ngọn núi gần thành Varusa, có hang động nơi Sudana đã từng trú ngụ. Bây giờ được gọi là Kashmiri-Ghar—A mountain (the montes Daedali of Justinian) near Varusa with its cavern, where Sudana lived. Now called Kashmiri-Ghar.
đạo
5620<一>梵語 mārga,巴利語 magga。音譯作末伽。即至目的地之通路,或指踏行之道(軌路)。據俱舍論卷二十五謂,道即通往涅槃(菩提)之路,爲求涅槃果之所依。準此,道乃意謂達成佛教終極目的之修行法則。廣義而言,亦指趣向果之通路,例如大智度論卷八十四謂,有人天、聲聞、緣覺、菩薩等四種道,人、天以十善、布施爲道,而求世間之福樂;二乘以三十七道品爲道,而求涅槃;菩薩以三十七道品、六波羅蜜爲道,而求佛果。此外,惑、業、苦,稱爲三道;惑爲業之通路(通入、能通),業爲苦之通路,苦爲惑之通路,三者如輪,循環不止(輪轉)。復次,所謂三惡道、五道、六道等,即是依善惡業通入天、人、地獄等果,而產生個別之果報(道別)、循環(輪轉)。然欲別於菩提之譯爲道者,乃特稱菩提爲果道,而稱此道爲因道。 爲至涅槃,須制伏煩惱,而在斷此之道中,有「有漏道」與「無漏道」兩種。(一)有漏道亦稱世間道、世俗道,係同於上記的人天之道。又在三界九地中,除有頂地外,爲斷以下八地之修惑,在見道前之加行位(又作加行道)以有漏智實踐六行觀,即是屬此。據俱舍宗之說,如此依有漏道而斷除煩惱,是爲有漏斷,故主張有漏道爲斷道之一。然唯識宗主張,有漏道祇能制伏煩惱現行(顯勢位),並未能斷煩惱之種子(潛勢位),故稱之爲伏道(能伏道)。(二)無漏道亦稱出世間道、聖道,係以未至、中間、四根本、下三無色之九地爲所依,而依無漏智斷煩惱(無漏斷)之道;唯識宗稱之爲斷道,亦稱爲伏道。基於此,斷道意即「能斷除煩惱之道」,故又稱「對治道」或「能治道」。若以有漏道、無漏道配於見、修、無學等三道來說明,則見道與無學道必是無漏道;修道既爲無漏道,亦爲有漏道。 有關斷除煩惱,證得真理之過程,俱舍宗、唯識宗分爲四種道(四道)加以說明:(一)加行道,又稱方便道,即爲斷除煩惱的準備之實踐,然異於加行位稱爲加行道之義。(二)無間道,又稱無礙道,即正斷煩惱之道,同於前言之斷道。此道之後(即無間)即可斷除煩惱;基於無間隔之義,稱作無間。(三)解脫道,即斷除煩惱,證得解脫真理之道。(四)勝進道,又稱勝道,即於解脫道,將進而斷除後品煩惱(此時勝進道成爲將斷後品煩惱之加行道);或滿足於已斷之煩惱,不再斷後品煩惱;或觀察思惟已斷之法。 道之分類,除上舉之外,另有大乘阿毘達磨雜集論卷九所載之十一種道:觀察事道、勤功用道、修治定道、現觀方便道、親近現觀道、現觀道、清淨出離道、依根差別道、淨修三學道、發諸功德道、遍攝諸道道。大智度論卷二十七舉出:「善道、惡道」、「世間道、出世間道」、「定道、慧道」、「學道、無學道」、「向道、果道」等二種道,「聲聞道、緣覺道、菩薩道」、「波羅蜜道、方便道、淨世界道」、「初發意道、行菩薩道、成就眾生道」等三種道,「天道、梵道、聖道、佛道」等四種道,六神通道、六波羅蜜道等六種道,七覺道、七想道等七種道,八正道、八背捨道等八種道,九次第道、九阿羅漢道等九種道,十無學道、十智道等十種道。 此外,教道、證道、難行道、易行道等皆爲一般所熟知之用語。同時,得聖道或無上道(佛之覺)者,稱爲得道。禪宗亦以道爲辨明之意,由之,並稱參禪、徹悟、開心眼爲辨道或辦道。〔大智度論卷二十六、卷八十六、三無性論卷上、梁譯攝大乘論釋卷十二、卷十四、法華玄義釋籤卷九、大乘義章卷十八〕(參閱「定」3171) <二>菩提之異譯。
; Màrga (S).A way, road; the right path; principle; Truth, Reason, Logos, Cosmic energy; to lead; to say. Religion.
; 道; C: dào; J: dō; nguyên nghĩa là »Con đường«; |Một biểu thị quan trọng của Ðạo giáo, một giáo phái vốn bắt nguồn từ chữ Ðạo này. Ðạo được nêu ra và trình bày cặn kẽ trong hai quyển sách trứ danh của triết học Trung Quốc: Ðạo đức kinh của Lão Tử và Trang Tử nam hoa chân kinh của Trang Tử.|Mặc dù theo nguyên nghĩa thì Ðạo là con đường đi, nhưng Ðạo cũng được hiểu là »giáo lí«, »chân lí.« Danh từ này được sử dụng rất sớm theo ý nghĩa »nhân đạo«, con đường mà nhân loại phải đi, nên đi. Các triết gia theo Nho giáo đều hiểu Ðạo dưới nghĩa này. Trong Ðạo đức kinh, từ này lần đầu tiên mang một đặc tính siêu nhiên, là cái thâu nhiếp tất cả, là cơ sở của vạn vật hiện hữu, là nguyên lí tuyệt đối. Ðạo là sự thật duy nhất, là nơi xuất phát của thế giới hiện hữu. »Sự thật cuối cùng« này được Lão Tử – vì không thể tìm được một tên tương ưng – tạm gọi là Ðạo:|道可道非常道。名可名非常名|Ðạo khả đạo – phi thường đạo|Danh khả danh – phi thường danh|*Ðạo mà ta có thể gọi được không phải là đạo thường còn; cái Danh mà ta có thể gọi được không phải là Danh thường còn.|Ðạo là »Mẹ nhiệm mầu« (玄牝; huyền tẫn) của vạn vật, là nguồn gốc của tất cả hiện hữu (ÐÐK VI). Nhưng Ðạo cũng là nơi vạn vật quy tụ. Ðây là một nguyên lí cố định. Theo Ðạo giáo thì tỉnh thức, Giác ngộ chính là trực chứng được sự trở về Ðạo của vạn vật. Trong chương thứ 14 của Ðạo đức kinh, Ðạo cũng được mô tả là không thể xem bằng mắt, nghe bằng tai …, là hình trạng của cái không hình trạng (Nguyễn Duy Cần dịch):|Xem mà không thấy, nên tên gọi là »Di« (夷); Lóng mà không nghe, nên tên gọi là »Hi« (希); Bắt mà không nắm bắt được, nên gọi là »Vi« (微); Ba cái ấy không thể phân ra được, vì nó hỗn hợp làm Một. Trên nó thì không sáng, dưới nó thì không tối. Dài dằng dặc mà không có tên, rồi lại trở về chỗ không có. Ấy gọi là cái hình trạng không hình trạng, cái hình trạng của cái không có vật…. Giữ cái đạo xưa để mà trị cái có của hiện nay. Biết được cái đầu mối của xưa, ấy gọi là nắm được giềng mối của Ðạo.|Ðạo hiện hành một cách tự nhiên, hành động của Ðạo được diễn tả bằng »vô vi«, là không làm nhưng cũng vì thế mà không có một việc gì bị bỏ qua (Bất hành nhi hành). Trong thế giới hiện hữu này thì người ta có thể suy ra được cái »thể« (體) của Ðạo qua cái »dụng« (用), cái »lực« (力) của nó, được gọi là Ðức (德).|Ðạt được sự thống nhất với Ðạo là mục đích tối cao của các Ðạo gia. Trí hiểu biết thông thường không đủ để tiếp cận được Ðạo; hành giả phải tự trở thành một đơn vị với Ðạo, phải đạt được sự giản đơn, sự trống rỗng diệu dụng của Ðạo. »Ðắc Ðạo« chỉ có thể là một bước nhảy vượt qua mọi kinh nghiệm nhận thức thông thường, là một sự trực nhận siêu phàm.|Trong thời kì Phật giáo được truyền qua Trung Quốc lần đầu, các Cao tăng tại đây chưa tìm được những thuật ngữ tương ưng nên thường sử dụng thuật ngữ của Ðạo giáo để trình bày Phật pháp và Ðạo được xem là đồng nghĩa với Phật pháp, là con đường đưa chúng sinh đến Niết-bàn.|Tại Nhật, chữ Ðạo thường được hiểu là việc kế thừa đức Phật trên con đường tu tập đạt Niết-bàn, giải thoát và Thiền tông tại đây cũng hiểu chữ Ðạo dưới nghĩa này. Nương theo ý nghĩa này, người cũng gọi tất cả những phương pháp tu tập, thực hành thấm nhuần vị Thiền là Ðạo, như Kiếm đạo (劍道; j: kendō), Trà đạo (荼道; j: chadō), Hoa đạo …|Dần dần, chữ Ðạo được tín đồ của tất cả các tôn giáo tại Ðông, Ðông nam á hiểu như là chân lí tuyệt đối, là »nguyên lí cuối cùng« của vũ trụ. »Ðắc Ðạo«, »Ðạt Ðạo« là những danh từ đồng nghĩa với Giải thoát, chứng Niết-bàn, Giác ngộ của Phật giáo.
; (I) Trộm đạo: To rob—A robber—Bandit—Pirate—Stealing—See Trộm Cắp. (II) Trồng lúa: Growing rice. (III) Marga (skt)—Con đường—Có hai con đường—The way—There are two ways: 1) Dòng sanh tử: The way of transmigration by which one arrives at a good or bad existence. 2) Đường Bồ đề hoặc giác ngộ dẫn đến Niết bàn: The way of bodhi or enlightenment leading to nirvana through spiritual stages. ** For more information, please see Mạt Già, and Bát Chánh Đạo.
; (道) I. Đạo. Phạm: Màrga, Pàli: Magga. Dịch âm: Mạt già. Con đường thông suốt đưa đến mục đích, hoặc chỉ cho đường đi. Cứ theo luận Câu xá quyển 25 nói, thì Đạo là con đường đưa suốt đến Niết bàn, là chỗ nương tựa để cầu quả Bồ đề. Theo đó thì Đạo là cái phép tắc tu hành để đạt đến mục đích cuối cùng của Phật giáo. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 84 nói, thì có bốn con đường là: Nhân thiên, Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Nhân thiên dùng pháp Thập thiện, Bố thí để cầu phúc lạc ở thế gian; hàng Nhị thừa dùng 37 phẩm trợ đạo để cầu Niết bàn; hàng Bồ tát cũng dùng 37 phẩm trợ đạo và sáu pháp Ba la mật để cầu Phật quả. Ngoài ra, hoặc, nghiệp, khổ gọi là ba đường; hoặc là đường đưa đến nghiệp; nghiệp là đường đưa đến khổ, khổ lại đưa đến hoặc: ba đường vòng quanh như bánh xe quay không dứt. Lại nữa, ba đường, năm đường, sáu đường v.v... tùy theo nghiệp thiện, ác mà đưa đến quả báo ở cõi trời, cõi người, địa ngục v.v... tuần hoàn, luân chuyển. Nhưng, muốn dịch Bồ đề là đạo (đường) thì phải gọi riêng Bồ đề là Quả đạo (đường quả), còn gọi những đường trên đây là Nhân đạo (đường nhân). Con đường chế phục phiền não để đến Niết bàn thì có 2 loại là: Hữu lậu đạo và Vô lậu đạo. 1. Hữu lậu đạo (cũng gọi Thế gian đạo, Thế tục đạo), là Nhân thiên đạo đã nói ở trên. Lại ở trong ba cõi... chín cõi, thì ngoại trừ Hữu đính địa, còn tất cả là dứt trừ Tu hoặc của tám địa dưới, còn giai vị Gia hạnh (cũng gọi đạo Gia hạnh) trước giai vị Kiến đạo dùng trí hữu lậu tu sáu Hành quán, thì thuộc Hữu lậu đạo Cứ theo tông Câu xá, nương theo trí hữu lậu để đoạn trừ phiền não thì gọi là Hữu lậu đoạn, cho nên chủ trương Hữu lậu đạo là một trong các Đoạn đạo. Nhưng tông Duy thức cho rằng Hữu lậu đạo chỉ có thể chế phục phiền não hiện hành (Hiển thế vị: ở vị thế rõ ràng), chứ không thể đoạn trừ phiền não chủng tử (Tiềm thế vị: ở vị thế ẩn kín), vì thế gọi Hữu lậu đạo là Phục đạo (năng phục đạo). 2. Vô lậu đạo(cũng gọi Xuất thế gian đạo, Thánh đạo): Dùng định của chín địa (tức là Vị chí định, Trung gian định, Tứ căn bản định, Hạ tam vô sắc định) làm chỗ nương, rồi nhờ trí vô lậu mà đoạn trừ phiền não (Vô lậu đoạn). Tông Duy thức gọi là Đoạn đạo, Phục đạo, hàm ý là đạo có thể đoạn trừ phiền não, vì thế cũng gọi là Đối trị đạo, Năng trị đạo. Nếu đem Hữu lậu đạo, Vô lậu đạo phối hợp với Kiến đạo, Tu đạo, Vô học đạo thì Kiến đạo và Vô học đạo thuộc về Vô lậu đạo, còn Tu đạo thì vừa là Vô lậu đạo cũng vừa là Hữu lậu đạo. Về quá trình dứt trừ phiền não, chứng được chân lí thì tông Câu xá và tông Duy thức chia làm 4 loại (4 đạo): 1. Gia hạnh đạo(cũng gọi Phương tiện đạo): Giai đoạn chuẩn bị đoạn trừ phiền não, nhưng khác với nghĩa Gia hạnh đạo của Gia hạnh vị. 2. Vô gián đạo (cũng gọi Vô ngại đạo): Tức là đạo đoạn trừ phiền não giống như Đoạn đạo (Vô lậu đạo) nói ở trên. Sau Vô gián đạo này mới có thể đoạn trừ phiền não. Vì có nghĩa không gián cách nên gọi là vô gián. 3. Giải thoát đạo: Đạo đoạn trừ phiền não, chứng được chân lí giải thoát. 4. Thắng tiến đạo(cũng gọi Thắng đạo): Tức là Giải thoát đạo sẽ tiến lên đoạn trừ phiền não phẩm sau cùng (lúc này Thắng tiến đạo trở thành là Gia hạnh đạo sẽ đoạn phiền não phẩm sau cùng); hoặc đã đoạn hết phiền não rồi, không còn phải đoạn phiền não phần sau cùng nữa; hoặc quán xét tư duy về pháp đã đoạn. Ngoài 4 loại nêu ở trên, còn có 11 loại đạo được chép trong luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 9 là: Quán sát sự đạo, Cần công dụng đạo, Tu trị định đạo, Hiện quán phương tiện đạo, Thân cận hiện quán đạo, Hiện quán đạo, Thanh tịnh xuất lí đạo, Y căn sai biệt đạo, Tịnh tu tam học đạo, Phát chư công đức đạo và Biến nhiếp chư đạo đạo. Luận Đại trí độ quyển 27 thì nêu ra: - Hai loại đạo: Thiện đạo, Ác đạo, Thế gian đạo, Xuất thế gian đạo, Định đạo, Tuệ đạo, Học đạo, Vô học đạo, Hướng đạo, Quả đạo. - Ba loại đạo: Thanh văn đạo, Duyên giác đạo, Bồ tát đạo, Ba la mật đạo, Phương tiện đạo, Tịnh thế giới đạo, Sơ phát ý đạo, Hành bồ tát đạo, Thành tựu chúng sinh đạo. - Bốn loại đạo: Thiên đạo, Phạm đạo, Thánh đạo, Phật đạo. - Sáu loại đạo: Lục thần thông đạo, Lục ba la mật đạo. - Bảy loại đạo: Thất giác đạo, Thất tưởng đạo. - Tám loại đạo: Bát chính đạo, Bát bối xả. - Chín loại đạo: Cửu thứ đệ đạo, Cửu a la hán đạo. - Mười loại đạo: Thập vô học đạo, Thập trí đạo. Ngoài ra, còn có những dụng ngữ rất quen thuộc là: Giáo đạo, Chứng đạo, Nan hành đạo, Dị hành đạo v.v... Đồng thời, những người được Thánh đạo hoặc Vô thượng đạo gọi là Đắc đạo. Thiền tông thì dùng danh từ Đạo với ý nghĩa là biện minh, cho nên gọi tham thiền, triệt ngộ, khai tâm nhãn (mở con mắt tâm) là Biện đạo. [X. luận Đại trí độ Q.26, Q.86; luận Tam vô tính Q.thượng; Nhiếp đại thừa luận thích Q.12, Q.14 (bản dịch đời Lương); Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.9; Đại thừa nghĩa chương Q.18]. (xt. Định). II. Đạo: Danh từ dịch khác của Bồ đề.
Đạo An
(道安, Dōan, 312[314]-385): nhân vật trung tâm của Phật Giáo thời Đông Tấn (thời kỳ đầu của Phật Giáo Trung Quốc), người vùng Phù Liễu (扶柳), Thường Sơn (常山, tức Chánh Định [正定], Hà Bắc [河北]), họ Vệ (衛), sanh năm thứ 6 (312) niên hiệu Vĩnh Gia (永嘉) nhà Đông Tấn, có thuyết cho là năm thứ 2 (314) niên hiệu Kiến Hưng (建興). Năm lên 12 tuổi, ông xuất gia, thông minh xuất chúng, chuyên nghiên cứu kinh luận, ý chí siêu phàm. Sau đó, ông theo làm môn hạ của Phật Đồ Trừng (佛圖澄), nhưng về sau do đại loạn ở phương Bắc, nên ông đã cùng với thầy chạy tị nạn khắp các nơi, và từng giảng thuyết giáo hóa ở Tương Dương (襄陽) trong vòng 15 năm. Vua Phù Kiên (苻堅) nhà Tiền Tần nghe danh ông, đem binh vây hãm Tương Dương, đón ông về Trường An (長安), cho sống ở Ngũ Trùng Tự (五重寺) và lấy lễ tôn ông làm thầy. Chính Đạo An thường khuyên vua Phù Kiên cung thỉnh Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什) ở Tây Vức sang để cùng thâu tập các trước tác cũng như chỉnh lý những kinh luận Hán dịch, biên tập thành bộ Tông Lý Chúng Kinh Mục Lục (綜理眾經目錄). Ngoài ra, ông còn tập trung vào việc phiên dịch kinh điển, viết các chú thích và lời tựa cho các kinh, tổng cọng có 22 bộ. Ông chia việc giải thích kinh thành 3 phần: lời tựa, chánh tông và lưu thông; phương pháp này vẫn còn thông dụng cho đến ngày nay. Nghiên cứu của ông chủ yếu tập trung vào Kinh Bát Nhã, nhưng ông còn tinh thông cả A Hàm, A Tỳ Đạt Ma. Suốt cả đời ông đã cống hiến cho sự nghiệp Phật Giáo rất to lớn. Vào năm thứ 10 (385) niên hiệu Thái Nguyên (太元), ông thị tịch. Chính Đạo An là người đề xướng các tăng sĩ dùng họ Thích.
; 道安; C: dàoān; 312-385;|Cao tăng Trung Quốc. Công lớn của Sư là nối kết hai cách tu học Phật giáo: Thiền (s: dhyāna) và Trí huệ (s: prajñā). Sư là người sáng lập một tông phái lấy kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa làm cơ sở. Ngoài ra Sư cũng là là người tổng kết kinh điển thành thư mục, đề nghị các tăng sĩ xuất gia nên mang họ Thích (s: śākya), và soạn ra những nguyên lí sống chung dựa trên Luật tạng. Sư cũng là người đề xuất việc thờ phụng Di-lặc Bồ Tát. Sư được xem là người sáng lập và đề cao việc tu tập thiền định trong đạo Phật – thậm chí có người xem Sư là Tổ sư đích thật của Thiền tông Trung Quốc.|Ðạo An được sinh tại Bắc Trung Quốc trong một Nho gia, nhập Tăng-già từ lúc 12 tuổi. Dưới sự hướng dẫn của Phật Ðồ Trừng, một Cao tăng Ấn Ðộ, Sư học kinh sách Bát-nhã về phép tu Thiền và đã viết luận giải rất sớm. Sư thành lập một tông phái với quan niệm rằng, không có gì thật sự đứng sau mọi hiện tượng. Con người có thể đắc đạo nếu để tâm thức lưu lại trong thể »không thật sự« đó. Sư có công trong việc sắp xếp cách thờ cúng, cách trình bày kinh điển, các cách khác trong đời sống hàng ngày của tăng ni. Sư đề xuất việc thờ Di-lặc bằng cách đứng trước tượng Di-lặc cầu xin được tái sinh về cõi Ðâu-suất, nơi giáo hoá hiện nay của Ngài.
đạo an
5625<一>爲東晉佛教(我國初期佛教急遽發展之時代)之中心人物。常山扶柳(河北正定)人,俗姓衛。生於東晉永嘉六年(312),一說建興二年(314)。十二歲出家,敏睿逸倫,研習經論,識志超卓。嗣入佛圖澄之門,其後北方大亂,與其師輾轉避於諸方,而於湖北襄陽講說教化十五年。前秦苻堅聞其名,率兵攻陷襄陽,迎至長安,居五重寺,事之以師禮。道安嘗勸苻堅招請西域之鳩摩羅什,並著手整理漢譯經論,編成綜理眾經目錄一書,所作目錄等雖不存於今,然「出三藏記集」係根據其著作而編成者。此外,復致力於經典翻譯,及諸經序文、注釋之作。共注序二十二部。將經典解釋分爲序分、正宗分、流通分等三科,此法亦沿用至今世。另於僧團儀式、行規、禮懺等,多所制立,且定釋氏爲僧姓,悉爲後世所準。其研究以般若經典爲主,另又精通阿含、阿毘達磨,開拓經文批判之先河。一生功業,於佛教史上貢獻至鉅。太元十年(385)示寂,或說太元元年、太元十四年。 又道安手上有肉瘤隆起,世人每稱爲印手菩薩。其與習鑿齒二人復嘗以「四海習鑿齒」、「彌天釋道安」之語對答,甚爲著名,後世遂以「彌天釋道安」呼之。〔梁高僧傳卷一、卷二、卷五、出三藏記集卷十五、歷代三寶紀卷八、續高僧傳卷九、卷二十九、集神州三寶感通錄卷中、卷下、法苑珠林卷十三〕 <二>北周僧。馮翊胡城(陝西)人,俗姓姚。年少即慕道修禪,後隱於太白山研習定慧,傍通子史。受具足戒後,於渭濱之地宣揚涅槃經及大智度論,爲朝野儒道士子所崇。後奉北周武帝之命,駐錫大中興寺,聲名蜚然。其時世風多崇道謗佛,武帝亦奉道教,師乃書二教論一卷呈上,而後遁於林澤。帝勅令尋訪,既得,賜牙笏綵帛,位列朝廷,辭而不就。後入寂,世壽不詳。門弟子有慧影、寶貴等人。〔廣弘明集卷八、歷代三寶紀卷十一、續高僧傳卷二十三〕 <三>(1617~1688)明末清初僧。福建晉江人,俗姓胡。出家於福建德化之戴雲山。初禮古杭,無大省發,後參學於永覺處,得悟。初住鼓山,復移金陵攝山,大揚教風。康熙二十七年示寂,世壽七十二。有語錄行世。〔增訂佛祖道影卷三(虛雲)〕 <四>(1907~1977)湖南祁陽人。少通經史詞章,嘗以理學家自命,後讀釋迦傳及張商英護法論,始皈依佛教。年二十,披剃於衡陽佛國寺,受具足戒於衡陽大羅漢寺。曾住仁瑞寺參禪三年。後入衡山南嶽龍池岩苦修十八月,禪定功夫日深。又從遊於常悟、禪靜、靈濤、善因諸師,禪教並修。抗戰期間,曾組織僧侶救護隊,救人無數。民國四十二年(1953)來臺,致力於講經宏法。先於汐止彌勒內院講授俱舍論,其後,主持靜修佛學研究班,舉辦大專院校佛學講座,興建松山寺,創立慈航中學,發行獅子吼月刊、文庫,接辦臺灣印經處,並經常出席世界佛教會議。曾任南嶽佛學院院長、國立南嶽師範學院教授、中國文化學院(即今文化大學)教授,及南嶽祝聖寺、臺北松山寺、善導寺、日月潭玄奘寺住持等職。師精研大藏,佛理淵深,復賅通中西哲學,平生最推崇玄奘大師。其著作有中國大藏經翻譯刻印史、中國大藏經彫刻史話、中觀史論及其哲學、乾坤萬古一完人、二力室文集等。民國六十六年示寂,世壽七十一,僧臘五十。〔道安法師七十歲紀念論文集〕
; Tao An—Học giả Phật giáo quan trọng nhất của Trung quốc vào thế kỷ thứ IV sau Tây lịch (312-385). Đạo An sanh ra tại đất Phù Liễu, thuộc xứ Thường Sơn, ở miền bắc Trung Hoa, trong gia đình theo Khổng giáo, nhưng ông xuất gia tu Phật năm 12 tuổi. Vì tướng mạo xấu nên ông không được người trong chùa nể trọng cho mấy. Về sau ông du phương học đạo, gặp Ngài Phật Đồ Trừng ông liền xin theo làm đệ tử nương học. Mỗi khi Phật Đồ Trừng giảng kinh thì ông trùng thuật lại, lời giảng và ý nghĩa đều diễn đạt đến mức siêu quần, làm cho thính chúng thảy đều kinh hãi. Ông đã nghiên cứu nhiều văn bản khác nhau của Kinh Bát Nhã và thực hành thiền định. Ông đã bình giải những kinh văn nầy ngay trong những năm đầu trong đời tu tập của ông, và ông cũng chính là học giả Phật giáo đầu tiên phối hợp giữa Bát Nhã và Thiền Na, là người khai sáng một trong những trường phái Phật giáo Trung quốc đầu tiên, trường phái nầy được triển khai từ Kinh Bát Nhã Ba La Mật mà ông đã dày công nghiên cứu. Học thuyết về “Không tồn tại căn bản,” trường phái nầy tin rằng cách duy nhất để giải thoát khỏi những ràng buộc của mình là bằng cách giữ cho tinh thần trong “không tồn tại.” Ông cũng là người đầu tiên lập ra bản danh mục kinh điển bằng Hoa ngữ thời bấy giờ. Ông được coi là người đầu tiên khởi xướng việc thờ Phật Di Lặc. Thời bấy giờ, vì chưa có Luật Tạng đầy đủ nên ông đã quy định những quy tắc chính về sinh hoạt chung cho các đệ tử của mình. Những sinh hoạt nầy bao gồm những nghi lễ tôn vinh Đức Phật như đi vòng quanh các tượng, phương pháp giải thích kinh điển, ăn uôáng trong tự viện, và nghi lễ bố tát. Vì bao giờ ông cũng xem trọng thiền định, nên nhiều người coi ông như một trong những cha đẻ của Thiền Tông Trung Hoa, trong khi nhiều người khác xem ông như là người thật sự sáng lập ra Thiền tông Trung Hoa. Người ta nói rằng Đạo An Pháp Sư có một tướng lạ là nơi cánh tay trái của ngài nổi lên một cục thịt u, giống như hình cái ấn, nên người đương thời cũng gọi ngài là “Thủ Ấn Hòa Thượng.”—The most important Chinese Buddhist scholar of the 4th century AD (312-385). He was born in Fu-Lieu area of Tsang-Shan region in northern China into a Confucianist family; however, by the age of twelve he became a novice in the Buddhist monastic order. Because he was so physically unattractive, not many people at the temple respected him greatly. Later, he traveled abroad to learn Buddhism. He met a great venerable Fu-Tu-Tzeng. He immediately asked to follow to learn from this great master. Each time Fu-Tu-Tzeng explained the Sutra he repeated the teachings. The words and meanings were explained and clarified to the highest level, leading the listeners to feel overwhelmed in astonishment at his extraordinary penetration and knowledge of the Dharma he had leanred. He studied various prajnaparamita texts and the sutras dealing with the practice of dhyana. He composed commentaries on these texts very early on in his life, and he was also the first scholar who joined the Prajna and Dhyana. He was considered the first founder of one of the early schools of Chinese Buddhism, which developed out of his engagement with the Prajnaparamita Sutra. This was the school of fundamental nonbeing, which believed that liberation from all spiritual fetters can only be attained through the mind's dwelling in nonbeing. He was also the first one who compiled catalogue of sutras, listing those already available in Chinese translation. He is considered the originator of the cult of Maitreya. At his time, due to lack of a complete Vinaya-pitaka, he established guidelines for the communal life of his followers. These guidelines included rites for veneration of the Buddha, such as circumabulation of statues, methods of expounding the sutras, communal meals, and the uposatha ceremonies. Because of his emphasis on the importance of meditation practice, many people regarded him as one of the fathers of Dhyana Buddhism in China, while many others considered him as the actual founder of Chinese Ch'an. It is said that Dharma Master Tao-An had a unique characteristic in that his left arm had a great protrusion of flesh, resembling a seal; thus, many people of the day called him “Seal-Holding Great Master.”
; (道安) I. Đạo An. Vị tăng đời Đông Tấn. Sư sinh năm Nguyên gia thứ 6 (312), có thuyết nói năm Kiến hưng thứ 2 (314) đời Đông Tấn, người Phù liễu, Thường sơn (Chính định, tỉnh Hà bắc). Sư xuất gia năm 12 tuổi, rất thông minh, học tập và nghiên cứu các kinh luận, kiến thức siêu việt, nối pháp ngài Phật đồ trừng. Về sau, miền Bắc loạn lạc, sư cùng với thầy đi lánh nạn các nơi, khi đến Tương dương tỉnh Hồ bắc thì ở lại giảng diễn giáo hóa 15 năm. Vua Phù kiên nhà Tiền Tần nghe danh sư, đem binh vây đánh Tương dương, thỉnh sư về ở chùa Ngũ trùng tại Trường an, tôn thờ làm thầy. Sư từng đề nghị với vua Phù kiên đi Tây vực thỉnh ngài Cưu ma la thập đến Trung quốc. Sư chỉnh lí các kinh luận đã được dịch ra chữ Hán rồi biên soạn thành bộ Chúng kinh mục lục. Bộ sách này hiện nay không còn, nhưng bộ Xuất tam tạng kí tập được biên soạn thành là căn cứ theo bộ mục lục này của sư. Ngoài ra, sư còn dốc sức vào việc phiên dịch kinh điển, viết lời tựa và chú thích các kinh, gồm tất cả 22 bộ. Khi giải thích, sư chia các kinh điển làm ba phần: Tựa, Chính tông và Lưu thông. Phương pháp phân chia này đến nay vẫn còn được dùng theo. Sư cũng đặt ra nghi thức Tăng đoàn, hành qui, lễ sám v.v... và qui định lấy họ Thích làm họ Tăng và qui định này đã được đời sau làm theo. Trong việc nghiên cứu, sư dùng kinh Bát nhã làm chính, nhưng sư cũng tinh thông A hàm, A tì đạt ma và là người đầu tiên áp dụng phương pháp phê bình văn kinh. Trong lịch sử Phật giáo, sư đã có những cống hiến rất lớn lao. Sư tịch vào năm Thái nguyên thứ 10 (385). Có thuyết nói Thái nguyên năm đầu, Thái nguyên năm 14. Lại vì trên tay của sư có một cái bướu thịt nổi lên, nên người đời thường gọi sư là Bồ tát Ấn thủ. Sư cùng với Tập tạc xỉ hay dùng các từ ngữ Tứ hải Tập tạc xỉ, Di thiên Thích đạo an để đối đáp qua lại, cho nên người đời sau bèn gọi sư là Di thiên Thích đạo an. [X. Lương cao tăng truyện Q.1, Q.2, Q.5; Xuất tam tạng kí tập Q.15; Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Tục cao tăng truyện Q.9, Q.29; Tập thần châu tam bảo cảm thông lục Q.trung, Q.hạ; Pháp uyển châu lâm Q.13]. II. Đạo An. Vị tăng đời Bắc Chu, người Hồ thành, Phùng dực (Thiểm tây) họ Diêu. Năm sinh năm mất không rõ. Thủa nhỏ, sư đã mến đạo tu thiền. Sau, sư ở ẩn trên núi Thái bạch để nghiên cứu và tu tập định, tuệ. Sư cũng thông suốt các sử truyện và Bách gia chư tử. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư tuyên giảng kinh Niết bàn và luận Đại trí độ ở vùng Vị tân, được các nhân sĩ Nho, Đạo trong triều ngoài nội tôn sùng. Sau đó, sư phụng mệnh Vũ đế nhà Bắc Chu đến ở chùa Đại trung hưng, tiếng tăm lừng lẫy. Thời ấy, người đời phần nhiều trọng đạo Lão mà gièm chê Phật, vua cũng thế, nên sư viết Nhị giáo luận 1 quyển dâng vua, rồi lánh vào rừng sâu ẩn tu. Vũ đế hạ lệnh cho người đi tìm, sau khi tìm được, vua ban cho sư cái hốt bằng ngà, cùng với lụa là châu báu và chức vị trong triều đình, nhưng sư đều từ chối, không nhận. Đệ tử của sư có các vị: Tuệ ảnh, Bảo quí v.v... [X. Quảng hoằng minh tập Q.8; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; Tục cao tăng truyện Q.23]. III. Đạo An (1617 - 1688). Vị tăng ở cuối đời Minh đầu đời Thanh, người huyện Tấn giang tỉnh Phúc kiến, họ Hồ. Sư xuất gia ở núi Đới vân. Lúc đầu, sư tham lễ ngài Cổ hàng, không khế hợp, sau sư đến học nơi ngài Vĩnh giác, lãnh ngộ huyền chỉ. Sư lần lượt ở Cổ sơn và Nhiếp sơn tại Kim lăng, xiển dương tông phong. Năm Khang hi 27 sư tịch, thọ 72 tuổi. [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.3 (Hư vân)]. IV. Đạo An (1907 - 1977). Vị cao tăng Trung quốc thời hiện đại, người Kì dương, tỉnh Hồ nam. Thủa nhỏ sư đã thông kinh sử từ chương, từng tự cho mình là nhà Lí học. Sau đọc truyện Thích ca và luận Hộ pháp của ông Trương thương anh, sư mới qui y Phật pháp. Năm 20 tuổi, sư xuất gia ở chùa Phật quốc và thụ giới Cụ túc tại chùa Đại la hán ở Hành dương, rồi tham thiền ở chùa Nhân thụy 3 năm. Sau đó, sư vào hang Long trì núi Nam nhạc ở Hành sơn tu hành khổ hạnh trong 18 tháng, công phu thiền định ngày thêm sâu. Sư còn kiêm tu cả Thiền và Giáo với các ngài Thường ngộ, Thiền tĩnh, Linh đào, Thiện nhân v.v... Ngoài ra, sư nghiên cứu cả triết học Trung quốc và phương Tây. Năm 1953, sư đến Đài loan giảng kinh hoằng pháp. Đầu tiên, sư giảng dạy luận Câu xá ở Di lặc nội viện tại Tịch chỉ, sau đó, chủ trì Ban nghiên cứu Phật học tĩnh tu, tổ chức khóa giảng Phật học tại các viện Đại học chuyên khoa, xây cất chùa Tùng sơn, sáng lập trường Trung học Từ hàng, phát hành nguyệt san Sư tử hống, Văn khố, kế tiếp, mở nhà in kinh tại Đài loan và thường đi dự các hội nghị Phật giáo thế giới. Sư từng đảm nhiệm các chức vụ: Viện trưởng viện Phật học Nam nhạc, Giáo sư các Học viện Sư phạm quốc lập Nam nhạc, Học viện Văn hóa Trung quốc (nay là Đại học Văn hóa) và Trụ trì các chùa: Chúc thánh ở Nam nhạc, Tùng sơn, Thiện đạo ở Đài bắc, Huyền trang ở Nhật nguyệt đàm. Các trứ tác của sư gồm có: Trung quốc Đại tạng kinh phiên dịch khắc ấn sử, Trung quốc Đại tạng kinh điêu khắc sử thoại, Trung quán sử luận cập kì triết học, Càn khôn vạn cổ nhất hoàn nhân, Nhị lực thất văn tập v.v... Năm 1977 sư tịch, hưởng thọ 71 tuổi, 50 tuổi hạ. [X. Đạo an pháp sư thất thập tuế kỉ niệm luận văn tập].
đạo biện
5665後魏僧。范陽人,俗姓田。天性疏朗,才術高世。時有「大法尊王經」,盛行於世。師知其偽,蒐集而焚化之。注解維摩詰經、勝鬘經、金剛般若經等,並著大、小乘義章及申玄照等。世壽不詳。〔續高僧傳卷六〕
đạo bình
5624(?~1127)宋代臨濟宗僧。仙都(廣東)人,俗姓許。號普融。參大溈慕喆,徹悟得旨。後住東京智海等六座道場,四度受詔。靖康元年(1126),歸隱黃州(湖北)柏子山。建炎元年示寂,世壽不詳。〔嘉泰普燈錄卷八、五燈會元卷十二〕
đạo bính
5638(365~435)東晉僧。廬山十八賢之一。穎川人,俗姓陳。幼時出家,入慧遠之門。廣通經律,通達老莊,志節高潔,言行相合。以念佛三昧爲念,常恆不絕。義熙十四年(418),豫章太守王虔曾入山謁之,奉爲山中之主,繼慧遠之席。元嘉十二年入寂,世壽七十一。〔佛祖統紀卷七〕
đạo bả
5630梵語 dohā 之音譯。係以中期印度雅利安語系之「阿帕伯朗沙語」(梵 Apabhraṃśa)所記述,具有獨特韻律之文學作品的總稱。通常由富於變化之調子及對句組成,其韻律於北印度之現代語中多有承襲。其文法規則較特殊,如綴字時用j不用y,硬吹氣音(sibilant)統一用s,b與v混用,亦有語頭用b,語間、語尾用 v之說。又與近代印度之雅利安語同,無最後之母音,單語爲二音節以上之情形,中間之母音脫落。[1] 道把作品之主題大多爲民間傳說故事與宗教性作品,前者爲描述人間悲歡喜樂、恩怨情愛之詩句所構成,大多爲吟遊詩人之作品;後者之代表爲耆那教與佛教聖者之著作,此類作品極多。佛教之道把中,最著名者爲行句(梵 Caryā-pada)。哈拉帕拉沙得薩斯特立(梵 Haraprasāda Śāstrī)出版佛教歌曲與佛教道把(梵 Bauddha Gāna O Bauddha Dohā)之道把集(梵 Dohākośa),其中列舉三十三位著名的道把作者之名。另於西藏大藏經中,亦有不可勝計之道把翻譯,其代表者有莎拉訶(梵 Saraha)所作道把藏中之行歌(梵 Doha-kośa-nāma-caryā-gīti),與無盡寶藏優波提舍歌(梵 Doha-kośa-upadeśa-gīti-nāma),前者爲王者之道把,後者爲王妃之道把。[1] 近代,薛希德拉(M. Shahidullah)曾出版梵文原典,附有西藏譯、法文譯之道把集、行句,英國學者史內爾葛羅維(D.L. Snellgrove)亦曾出版莎拉訶道把集之英譯。〔近世印度仏教におけゐ密語文裇と空富爛那(木村苈寬,日本仏教裇袅年報第三年)、P.C. Bagchi: A note on the language of the Buddhist Dohās, Calcutta Oriental Journal I〕
Đạo Bằng
(道憑, Dōhyō, 488-559): vị tăng sống dưới thời Bắc Tề, người vùng Bình Ân (平恩, thuộc Huyện Khâu [丘縣], Sơn Đông [山東]), họ Hàn (韓). Năm lên 12 tuổi, ông xuất gia, chuyên nghiên cứu Kinh Duy Ma (維摩經), Kinh Niết Bàn (涅槃經), Thành Thật Luận (成實論), v.v., rồi vào Thiếu Lâm Tự (少林寺) tu Thiền. Sau ông theo Luật Sư Huệ Quang (慧光) học Tứ Phần Luật, hầu thầy được 10 năm thì ngộ được chân ý của Đại Thừa. Sau khi từ giã thầy mình, ông chuyên tâm giảng thuyết Thập Địa Kinh Luận (十地經論), Niết Bàn Kinh (涅槃經), Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經), Tứ Phần Luật (四分律), v.v., từ đó tiếng tăm ông vang khắp kinh đô nhà Nghiệp. Hơn nữa, do tài biện luận xuất chúng của ông, người ta ví ông giống như Xá Lợi Phất, đệ tử của Phật. Ông cùng với đệ tử Linh Dụ (靈裕) tiếp tục nhau cùng tuyên xướng tông phong của thầy mình Huệ Quang. Vào năm thứ 10 (559) niên hiệu Thiên Bảo (天保) nhà Bắc Tề, ông thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi.
đạo bằng
5658<一>南朝劉宋僧。生卒年不詳。因多居於關中,世稱關內憑。師事鳩摩羅什,爲羅什八大弟子之一。善長般若經與中、百、十二門等三論之學。於羅什示寂(413)後,東向彭城(江蘇銅山),開席講學,弘揚師說,譽聞遐邇。據傳,南齊上定林寺僧遠(414~484)曾從師受學。 <二>南朝劉宋僧。生卒年不詳。元嘉末年至泰始初年(453~465)期間居於會稽。據梁高僧傳卷八超進傳之附錄記載,師爲當世法匠,而秉性剛忤,故未廣爲人知。 <三>(488~559)北齊僧。平恩(山東丘縣)人,俗姓韓。十二歲出家,研習維摩經、涅槃經、成實論等,復入少林寺修禪。後從慧光律師受學四分律,隨侍十年,證悟大乘之真意。辭慧光後,從事於講說十地經論、涅槃經、華嚴經、四分律等。因講說內容精湛,譽滿鄴都,時人乃將其講法相學媲美於法上(495~580)講法華文句。又因其辯才巧妙,故被比爲佛弟子舍利弗。與弟子靈裕先後發揚其師慧光行解相應之宗風。北齊天保十年示寂,世壽七十二。〔續高僧傳卷八〕
Đạo can kinh
稻稈經; S: śālistamba-sūtra; »Ðạo can« có nghĩa là cọng lúa, cây lúa non mới nẩy mầm.|Một bộ kinh Ðại thừa, thuật lại việc Bồ Tát Di-lặc ứng đáp Xá-lị-phất, giải thích thuyết Nhân duyên sinh qua ví dụ lúa sinh từ hạt mầm, từ mầm sinh lá… Kinh này thường được nêu ra làm dẫn chứng trong những bài luận giải Tây Tạng.|Kinh này có nhiều bản dịch: Chi Khiêm dịch thời Tam quốc dưới tên Liễu bản sinh tử kinh, Bất Không Kim Cương dịch đời Ðường dưới tên Từ Thị Bồ Tát sở thuyết đại thừa duyên sinh đạo can dụ kinh, Thí Hộ dịch đời Bắc Tống là Ðại thừa xá-lê sa-đảm-ma kinh.
đạo chi
Magganga (P).
Đạo Chiêu
(道昭, Dōshō, 629-700): vị tăng ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji, tức Pháp Hưng Tự [法興寺, Hōkō-ji]) thuộc thời đại Phi Điểu, tổ sư khai sáng ra Pháp Tướng Tông Nhật Bản, xuất thân vùng Đơn Tỷ (丹比, Tajihi), Hà Nội (河內, Kawachi); con của Thuyền Liên Huệ Thích (船連惠釋). Năm 653, ông nhập Đường cầu pháp, học Pháp Tướng, Duy Thức với Huyền Trang (玄奘), rồi học Thiền yếu với Huệ Mãn (慧滿). Khoảng năm 660, ông trở về nước, kiến lập Thiền viện ở Nguyên Hưng Tự, an trí các kinh luận thỉnh từ Trung Quốc về và bắt đầu hoằng truyền giáo nghĩa Pháp Tướng Tông. Đến cuối đời, ông đi tuần du khắp các nơi, làm những việc xã hội như bắt cầu đường, v.v. Vào năm 698, ông làm Chủ Sám buổi Lễ Khai Nhãn tượng Phật ở Dược Sư Tự (藥師寺, Yakushi-ji) và được bổ nhiệm làm chức Đại Tăng Đô (大僧都). Theo di mệnh của ông để lại, sau khi chết thi hài của ông được hỏa táng. Đây là trường hợp hỏa táng đầu tiên trong lịch sử Nhật.
; 道昭; J: dōshō; 629-700;|Tổ thứ nhất của Pháp tướng tông (j: hossū-shū) tại Nhật Bản. Sư đến Trung Quốc học với Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang và cũng có mối liên hệ với Nam phương Thiền tông. Trở về Nhật, Sư lập một thiền viện ở phía Ðông nam chùa Nguyên Hưng, một ngôi chùa của Pháp tướng tông Nhật Bản và thu thập rất nhiều kinh, luận. Sư dốc sức cho sự nghiệp công ích xã hội, đặt thuyền bắc cầu ở bến sông, đào giếng cạnh đường, chu du khắp Nhật Bản giáo hoá quần chúng.
đạo chiêu
5638(629~700)日本法相宗僧。河內(大阪府)人。入住元興寺,以持戒堅固著名。渡海來唐後遇玄奘,與窺基交往密切,研學法相,又從慧珊受禪學。八年後返日本,初傳法相宗,稱飛鳥傳、南寺傳。後於元興寺創建禪院,又至諸國弘傳教化。文武天皇四年入寂,世壽七十二。依其遺命行火葬,是爲日本最早行火葬者。〔元亨釋書卷一、續日本紀卷一〕
; T'ao-Chiao (628-700)—Một Tăng sĩ Nhật Bản được gửi sang Trung Hoa năm 653; ông thọ pháp với Huyền Trang hơn 10 năm. Huyền Trang đặc biệt dạy ông về pháp Thiền Quán và khiến ông truyền bá phương đông, tức Nhật Bản. Trước khi khởi hành trở về Nhật Bản, ông được thầy cho nhiều bộ kinh, luận và sớ viết về Duy Thức Luận. Hồi hương, Đạo Chiêu khởi sự truyền bá Duy Thức tại chùa Nguyên Hưng—T'ao-Chiao (628-700), a Japanese priest, was sent to China in 653. He studied under Hsuan-Tsang for more than ten years. Hsuan-Tsangespecially instructed him in Meditation or Zen and recommended that he propagate its practice to the East (Japan). Before his departue, he received from his teacher several sutras, treatises and commentaries on the works of Idealism. On his return home, he at once set out to transmit the Idealist doctrine in the monastery of Gwangoji.
đạo chân
5646(1056~?)遼道宗時之僧。雲中(山西)人,俗姓杜。號法幢。初習儒學,兼學老莊。壯年出家,偏好禪寂,精研華嚴學。住五臺山金河寺,鑽研秘密瑜伽之法。著有顯密圓通成佛心要集二卷,該書係依據一行之大日經義釋、覺苑之演密鈔,而主張顯教與密教一致。於天慶(1111~1120)末年示寂,世壽不詳。
; Thiền Sư Đạo Chân (1579-1638)—Zen Master Đạo Chân—Thiền sư Việt Nam vào đầu và giữa thế kỷ thứ 17, quê ở Phúc Khê, Bắc Việt. Tục danh là Vũ Khắc Minh. Ngài là đệ tử của Thiền sư Đạo Long. Sau khi Thầy của ngài thị tịch, ngài tiếp tục trụ tại chùa Pháp Vũ tu hành và thị tịch khoảng năm 1638. Lúc trước khi viên tịch, ngài đã cho biết nhục thân sẽ không bị hư thối. Sự việc quả đúng như thế, nhưng về sau nầy, người ta cũng ướp vào nhục thân của ngài một số chất liệu để hạn chế sức tàn phá của thời gian—A Vietnamese Zen master from Phúc Khê, Bắc Việt, in the early and middle of the seventeenth century. His secular name was Vũ Khắc Minh. He was a disciple of Zen Master Đạo Long. After his master passed away, he stayed at Pháp Vũ Temple to cultivate. He passed away in about 1638. Before his death, he told his disciples that his body would not be decayed. It happened as he said. However, recently, some new techniques have been applied to reduce the decomposition to the body.
; (道延) (1056 - ?] Vị tăng ở thời vua Đạo tông nhà Liêu, người Vân trung (Sơn tây), họ Đỗ, hiệu Pháp chàng. Ban đầu, sư học Nho và Lão Trang. Đến tuổi tráng niên sư xuất gia, nghiên cứu Thiền học và Hoa nghiêm. Sau sư ở chùa Kim hà trên núi Ngũ đài, tu tập pháp Du già bí mật. Sư soạn bộ Hiển Mật viên thông thành Phật tâm yếu tập 2 quyển, trong đó, căn cứ theo Đại nhật kinh nghĩa thích của ngài Nhất hạnh và Diễn mật sao của ngài Giác uyển, sư chủ trương Hiển giáo và Mật giáo là một. Vào khoảng cuối năm Thiên khánh (1111-1120) sư tịch, không rõ tuổi thọ.
đạo chúng
Those who practise religion, the body of monks.
; 1) Tăng chúng: The body of monks. 2) Những người tu tập: Those who practice religion.
đạo chương
5647(1655~1734)明末清初黃檗宗僧。錢塘(浙江)人,俗姓顧。字悅峰,初名法賢。十歲出家,初學華嚴,後學禪。日本貞享三年(1686,即康熙二十五年),渡海至日本長崎。元祿七年(1694),嗣獨湛性瑩之法。十二年,棲居黃檗山,共歷二十二年,復興諸堂。寶永四年(1707),任黃檗山第八代住持。於享保十九年示寂,世壽八十。著有悅峰禪師語錄三卷。〔黃檗東渡僧寶傳卷上〕
; (道章) (1655 - 1734) Vị Thiền tăng thuộc tông Hoàng bá ở cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Tiền đường (Chiết giang), họ Cố, tự là Duyệt phong, vốn tên là Pháp hiền. Sư xuất gia năm 10 tuổi, lúc đầu học kinh Hoa nghiêm, về sau chuyển sang học Thiền. Năm 1686, sư vượt biển sang Nhật bản; năm 1694, sư nối pháp ngài Độc trạm Tính oanh ở Nagasaki. Năm 1699, sư đến ở lại núi Hoàng bá 22 năm, làm lại các Thiền đường; năm 1707, sư nhận chức Trụ trì đời thứ 8 ở núi Hoàng bá. Năm 1734 sư tịch, thọ 80 tuổi. Sư có tác phẩm: Duyệt phong thiền sư ngữ lục ba quyển. [X. Hoàng bá đông bộ tăng bảo truyện Q.thượng].
Đạo Chấn
(道振, Dōshin, 1773-1824): học Tăng của Phái Bổn Nguyện Tự thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ; húy là Đạo Chấn (道振); tự Tung Sơn (嵩山); hiệu Phong Thủy (豐水); xuất thân vùng Tiểu Cốc (小谷, Kotani), An Nghệ (安芸, Aki, thuộc Hiroshima-ken [廣島縣]). Sau khi tu học ở Học Lâm của Tây Bổn Nguyện Tự, ông theo hầu Đại Doanh (大瀛) ở Thắng Viên Tự (勝圓寺) trong vùng; đến năm 1811 thì đến trú tại Tịch Tĩnh Tự (寂靜寺) cùng địa phương. Năm 1815, ông phụ giảng về Nhập Xuất Nhị Môn Kệ (入出二門偈), rồi năm 1819 thì giảng về Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集) trong mấy mùa An Cư. Năm sau, ông tiếp tục giảng nghĩa về tập Ngu Ngốc Sao (愚禿抄) ở Đại Quang Tự (大光寺), Trường Khi (長崎, Nagasaki). Bên cạnh đó, ông còn khai mở các đạo tràng thuyết giảng ở Phật Hộ Tự (佛護寺), Quảng Đảo (廣島, Hiroshima), Chiếu Lâm Phường (照林寺) thuộc Bị Hậu (僃後, Bingo), v.v., để giáo hóa chúng đạo tục. Trước tác của ông có Hành Tín Tang Danh Ký (行信桑名記) 1 quyển, Chơn Tông Phật Tánh Biện Giảng Thuật (眞宗佛性辨講述) 1 quyển, Quán Niệm Pháp Môn Lược Giải (觀念法門略解) 2 quyển, Nhập Xuất Nhị Môn Kệ Lược Giải (入出二門偈略解) 1 quyển, v.v.
đạo chủng trí
5655爲三智之一。即遍知世間、出世間一切道門差別之智慧,此種智慧乃屬菩薩之「不共智」。又稱一切道種智、道種慧、道智、道相智。據大智度論卷二十七之說,於六波羅蜜中,能行分別思惟之智,稱爲道種智,又指廣學一切道法以濟度眾生之菩薩智。天台宗以之配於空、假、中三觀中之假觀,而謂其乃破除塵沙惑所成的化道之智。〔大品般若經卷一序品、摩訶止觀卷三上、觀音玄義卷下〕(參閱「一切智」14)
; Một trong ba trí, Bồ Tát trí dùng tất cả phương tiện để cứu độ chúng sanh—The wisdom which adopts all means to save all the living, one of the three wisdom. ** For more information, please see Tam Trí (A) (2).
; (道種智) Cũng gọi Nhất thiết đạo chủng trí, Đạo chủng tuệ, Đạo trí, Đạo tướng trí. Trí tuệ biết khắp tất cả các pháp môn sai biệt của thế gian và xuất thế gian, là Bất cộng trí của Bồ tát; một trong ba trí. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 27 nói, thì trí có khả năng tư duy phân biệt gọi là Đạo chủng trí, tức là trí Bồ tát học rộng tất cả đạo pháp để cứu độ chúng sinh. Tông Thiên thai lấy trí này phối với Giả quán trong ba quán: Không, Giả, Trung và cho đó là trí hóa đạo do phá trừ hoặc Trần sa mà thành tựu được. [X. phẩm Tựa trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; Ma ha chỉ quán Q.3 phần trên; Quan âm huyền nghĩa Q.hạ]. (xt. Nhất Thiết Trí).
đạo chủng tính
The nature possessing the seed of Buddhahood. The stage in which the middle way is realized.
; Một trong sáu chủng tính trong tiến trình từ Bồ Tát lên Phật, đạo chủng tính là từ chủng tánh Phật tiến tu chứng đắc “Trung Đạo”—One of the six germ-natures or roots of Bodhisattva development, the nature possessing the seed of Buddhahood. The stage in which the “middle” way is realized.
đạo chứng
5664新羅僧。曾來唐,居止於長安,投西明寺圓測之門下,窮究瑜伽唯識之學。唐中宗嗣聖九年(692)歸國,世壽不詳。著般若理趣分一卷、辯中邊論疏三卷、成唯識論要集十四卷、因明正理門論疏二卷等。〔三國史記卷八、東域傳燈目錄卷下〕
; (道證) Vị cao tăng người Tân la (Triều tiên), đến Trung quốc vào đời Đường, theo ngài Viên trắc ở chùa Tây minh tại Trường an học Du già duy thức. Sư trở về nước vào năm 692. Sư có các tác phẩm: Bát nhã lí thú phần 1 quyển, Biện trung biên luận sớ 3 quyển, Thành duy thức luận yếu tập 14 quyển, Nhân minh chính lí môn luận sớ 2 quyển. [X. Tam quốc sử kí Q.8; Đông vực truyền đăng mục lục Q.hạ].
đạo cán
Cọng rơm—Rice straw.
đạo cán kinh
6118請參閱 稻稈經 [1]梵名 Śālistamba。全一卷。譯者不詳。又作稻芊經、稻
; (稻稈經) Phạm: Zàlistamba. Có 1 quyển, không rõ dịch giả, thu vào Đại chính tạng tập 16. Nội dung kinh này tường thuật việc bồ tát Di lặc đáp lời thỉnh cầu của tôn giả Xá lợi phất, nói về nội duyên và ngoại duyên của các pháp do nhân duyên sinh, như cây lúa (đạo cán) từ giống sinh mầm, từ mầm sinh lá cho đến từ bông sinh hạt, để ví dụ cho thứ tự sinh khởi của 12 nhân duyên. Về những bản dịch khác của kinh này thì có: Kinh Liễu bản sinh tử do ngài Chi khiêm dịch ở nước Ngô đời Tam quốc, kinh Từ thị bồ tát sở thuyết Đại thừa duyên sinh đạo cán dụ do ngài Bất không dịch vào đời Đường, kinh Đại thừa xá lê sa đảm ma do ngài Thí hộ dịch vào đời Bắc Tống.
đạo công
5665北涼譯經僧。籍貫、姓氏、世壽均不詳。北涼永安(401~410)年中,於張掖爲沮渠蒙遜譯出寶梁經二卷,收於唐代菩提流志所編譯之大寶積經中。又出三藏記集卷二曇摩讖(曇無讖)條,有「龔上出悲華經十卷」之記載,「龔上」恐爲「道龔和上(尚)」之意。然現存悲華經爲曇無讖所譯,此經之異譯本大乘悲分陀利經八卷,譯者佚名,或爲師所譯。〔歷代三寶紀卷九、開元釋教錄卷四〕
; (道龔) Vị tăng dịch kinh ở thời Bắc Lương. Quê quán, họ và năm sinh năm mất đều không được biết. Khoảng năm 401 - 410, Tây hà vương là Thư cừ Mông tốn ở Trương dịch thỉnh cầu sư dịch kinh Bảo lương 2 quyển, được đưa vào trong kinh Đại bảo tích do ngài Bồ đề lưu chi biên dịch vào đời Đường. Ngoài ra, điều Đàm ma sấm (Đàm vô sấm) trong Xuất tam tạng kí tập quyển 2 có câu: Cung thượng xuất Bi hoa thập quyển(ngài Cung thượng dịch kinh Bi hoa 10 quyển). Trong đó, chữ Cung thượng có lẽ là chỉ cho hòa thượng Đạo cung. Nhưng, kinh Bi hoa hiện còn là do ngài Đàm vô sấm dịch. Kinh này còn có bản dịch khác tên là kinh Đại thừa bi phân đà lợi 8 quyển, không rõ tên người dịch, hoặc đây là bản dịch của sư? [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.4].
đạo công tự
6218位於安徽壽縣。即指南朝宋武帝劉裕為酬報鳩摩羅什門下僧導所建之寺。又稱東山寺。寺域廣大,有五層塔一座。劉裕即位(420),其少子義真,遭受赫連勃勃之襲擊,僧導率數百弟子守護義真,並將之安全送回。劉裕為酬報僧導等救子之恩,遂建立本寺。僧導以此為根據地,講說成實論、三論等,遂成為江南研究佛教之中心地。
đạo căn
5640佛道之根芽。與「道元」、「佛緣」同義。以過去世所發之菩提心爲緣,至今世而得開發宿善,稱爲道根。憬興之無量壽經連義述文贊卷中(大三七‧一四五下):「宿無道根,現無信樂,不知感聖。」
; The fundamentals of morality; predisposition to virtue, to a religious life.
; (道根) Cùng nghĩa với Đạo nguyên, Phật duyên. Căn duyên đời trước đối với Phật đạo. Tức là nhờ đã phát tâm bồ đề ở đời quá khứ làm duyên nên đến đời này được đạo căn. Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán quyển trung của ngài Cảnh hưng nói (Đại 37, 145 hạ): Đời trước không có đạo căn, nên đời nay không tin ưa Phật pháp, không cảm ngộ được Thánh đạo.
đạo cơ
5642 請參閱 淨除罪蓋娛樂佛法經(?~637)唐代僧。河南東平人,俗姓呂。隋尚書令楊素重其佛學之深博,請於東都講揚心論。大業年中(605~616),召入慧日道場,及登法座,眾推爲玄宰。至唐,住於益州福感寺。著有雜心玄章并抄、大乘章抄。貞觀十一年入寂,世壽六十餘。〔續高僧傳卷十四、六學僧傳卷二十三〕
; (道基) (? - 637) Vị tăng ở đời Đường, người Đông bình, Hà nam, họ Lã. Vào đời Tùy, quan Thượng thư lệnh là Dương tố kính trọng kiến thức sâu rộng về Phật học của sư, nên thỉnh sư giảng diễn Tâm luận ở Đông đô. Khoảng năm 605 - 616, sư được mời đến thuyết pháp tại đạo tràng Tuệ nhật, đại chúng suy tôn là Huyền tể. Đến đời Đường, sư trụ ở chùa Phúc cảm tại Ích châu. Sư tịch vào năm 637, thọ hơn 60 tuổi. Tác phẩm: Tạp tâm huyền chương tinh sao, Đại thừa chương sao. [X. Tục cao tăng truyện Q.14; Lục học tăng truyện Q.23].
đạo cấm
5653佛道之禁戒。指大乘、小乘之諸戒律,係用以禁止諸惡者。即戒波羅蜜。無量壽經卷下(大一二‧二七七下):「廣植德本,布恩施慧,勿犯道禁。」
; Whatever is prohibited by the religion, or the religious life.
; 1) Bất cứ thứ gì cấm kỵ trong đạo giáo hay trong đời sống tu hành: Whatever is prohibited by the religion or the religious life. 2) Giới Thanh Tịnh, Ba La Mật thứ nhì trong Lục Ba La Mật: sila, the second paramita, moral purity.
; (道禁) Những điều răn cấm trong đạo Phật, chỉ cho các giới luật của Đại thừa, Tiểu thừa dùng để ngăn cấm các điều ác. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 277 hạ) nói: Vun trồng gốc phúc đức, ban bố những ân huệ, chớ phạm các đạo cấm.
đạo cụ
5631指修行佛道所必備之資具。通常有三衣六物、十八物、百一物等,亦即僧尼攜於身邊之物。我國自古於諸書中設有道具之篇目,其種類與數量未有定規。翻譯名義集卷十八犍椎道具篇舉出:犍椎、舍羅(籌)、隙棄羅(錫杖)、刺竭節(杖)、軍遲(瓶)、鉢里薩羅伐拏(濾水器)、鉢塞莫(數珠)、鉢多羅(應器)、鍵
; The implements of the faith, such as garments, begging-bowl, and other accessories which aid one in the way.
; Những món cần thiết trên đường tu hành như y áo, bát khất thực, và những đồ phụ tùng khác—The implements of the faith, such as garments, begging-bowl, and other accessories which aid one in the Way—See Tám Món Cần Dùng Của Phật.
; (道具) Những đồ dùng cá nhân của tăng ni. Thông thường gồm có3tấm áo,6vật, 18 vật,101 vật v.v... Ở Trung quốc, từ xưa, trong các sách đã đặt ra các thiên, mục nói về Đạo cụ, nhưng về chủng loại cũng như số lượng thì chưa có qui định. Thiên Kiền trùy đạo cụ trong Phiên dịch danh nghĩa tập nêu ra 11 vật là: Kiền trùy, Xá la (thẻ), Khích khí la (tích trượng), Thích kiệt tiết (gậy), Quân trì (bình), Bát lí tát la phạt noa (đồ lọc nước), Bát tắc mạc (tràng hạt), Bát đa la (ứng khí), Kiền tư (cái bát nhỏ), Câu dạ la (tùy bát khí), Phù nang (phao nổi). Điều Biện đạo cụ của chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển hạ nêu ra 13 món đạo cụ là: Ba áo, tọa cụ, áo lót, quần, áo trực xuyết, bát, tích trượng, gậy, phất trần, tràng hạt, tịnh bình, túi lọc nước, dao cạo tóc. Trong Mật giáo thì Đạo cụ lại là dụng cụ cần thiết của người tu pháp, như chày kim cương, mâm kim cương, gương, bánh xe và những khí cụ khác. Người đời sau, đối với những vật dụng thường dùng hàng ngày hay các dụng cụ dùng trên sân khấu cũng gọi là Đạo cụ! Đó là lầm. [X. Lâm kinh trong Trung a hàm Q.27; Thiền uyển thanh qui Q.1; điều Đạo cụ trong Thích thị yếu lãm Q.trung].
đạo cựu
5663道友。指久續道交之友。以道相交,故稱道;舊者,舊識。勅修百丈清規卷六病僧念誦條(大四八‧一一四七中):「凡有病僧,鄉人、道舊對病者榻前排列香燭、佛像,念誦贊佛。」又新住持晉山時,舊識道友爲其製入寺之疏,稱爲道舊疏。〔禪林象器箋稱呼門、文疏門〕
; (道舊) Bạn đạo quen biết đã lâu. Tức là bạn bè kết giao với nhau để cùng học đạo, tu hành. Điều Bệnh tăng niệm tụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6 (Đại 48, 1147 trung), nói: Nếu có vị tăng nào lâm bệnh thì đồng hương, đạo cựu nên bày tượng Phật, hương đèn trước giường người bệnh để tụng kinh, niệm Phật. Ngoài ra, nhân dịp vị tân Trụ trì nhập tự, các đạo cựu viết tờ sớ đọc trong buổi lễ, gọi là Đạo cựu sớ. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Xưng hô môn, Văn sớ môn].
Đạo Diên
(道延, Dōen, ?-922): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, xuất thân Huyện Trường Lạc (長樂縣), Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), họ Lưu (劉), pháp từ của Tào Sơn Bổn Tịch (曹山本寂). Ban đầu, ông sống tại Lộc Đầu (鹿頭), rồi đến năm thứ 2 niên hiệu Võ Nghĩa (武義) nhà Ngô, ông chuyển đến Động Sơn (洞山) và làm vị tổ thứ 4 nơi đây. Sống nơi đây được 3 năm thì ông thị tịch và được ban cho thụy hiệu là Hồng Quả Đại Sư (洪果大師).
đạo diên
5630(?~922?)五代曹洞宗僧。福建長樂人,俗姓劉。曹山本寂之法嗣。止住鹿頭。於吳武義二年(920)住持洞山,爲第四世。世壽不詳。諡號「洪果大師」。〔景德傳燈錄卷二十、武溪集卷九筠州洞山普利禪院傳法記〕
đạo diễn
5639(1335~1418)明初禪僧。長洲(江蘇吳縣)人,俗姓姚,名廣孝。號獨庵。十四歲出家,初習天台,後從徑山智及參禪得旨。先後住持臨安普慶寺、杭州天龍寺、嘉定留光寺。能詩文,擅長陰陽術數,尤能詩畫。燕王與之談論甚洽,偕至北平,恆居府中,共王密謀,建文時遂有靖難之變。及成祖踐祚,錄其功第一,勅復俗姓,拜太子少師,時稱姚少師。帝又命蓄髮服冠,辭謝不受,賜宅第宮人,亦不受。曾監修太祖實錄、永樂大典等。平日居城西佛寺,法服禮誦,養一侄爲侍者。永樂十六年入寂,世壽八十四。諡號「恭靖」。曾著道餘錄、佛法不可滅論,係針對宋朝儒家攻擊佛教之謬誤而作者。另著有淨土簡要錄等淨土教論書多種。〔增集續傳燈錄卷五、續燈存稾卷四〕
; Stage-manager.
; (道衍) (1335 - 1418) Vị Thiền tăng đầu đời Minh, người Trường châu (huyện Ngô, tỉnh Giang tô), họ Diêu, tên Quảng hiếu, hiệu là Độc am. Năm 14 tuổi sư xuất gia, ban đầu học Thiên thai, về sau theo ngài Trí cập ở Kính sơn tham thiền và ngộ huyền chỉ. Sư lần lượt trụ trì các chùa Phổ khánh tại Lâm an, Thiên long ở Hàng châu, Lưu quang ở Gia định. Sư có năng khiếu về văn chương, đặc biệt về thi họa, giỏi cả âm dương thuật số. Yên vương cùng sư đàm luận rất tâm đầu ý hợp nên đưa sư về Bắc bình ở luôn trong phủ để bàn việc cơ mật, giúp Yên vương dẹp loạn Tĩnh nan. Đến khi Thành tổ lên nối ngôi, xét công của sư là bậc nhất, mới phong chức Thiếu sư Thái tử, nên thời ấy gọi sư là Diêu thiếu sư. Vua lại buộc sư phải để tóc đội mũ, ban cho nhà cửa, cung nhân, nhưng sư đều tạ từ không nhận. Hàng ngày, sư ở trong một ngôi chùa về phía tây thành, mặc áo pháp lễ bái tụng niệm, nuôi một người cháu làm thị giả. Ở đây, sư từng xem xét và sửa lại các bộ Thái tổ thực lục và Vĩnh lạc đại điển. Năm Vĩnh lạc 16 sư tịch, thọ 84 tuổi, thụy hiệu là Cung Tĩnh. Sư có các trứ tác: Đạo dư lục, Luận Phật pháp bất khả diệt, Tịnh độ giản yếu lục. [X. Tăng tập tục truyền đăng lục Q.5; Tục đăng tồn cảo Q.4].
đạo diệp chính tựu
6118(1915~ )日本佛教學者。早年畢業於九州帝國大學。曾任大谷大學教職多年。主要研究東洋佛教史、西藏語文學等。著有西藏年代記等書。
đạo doãn
5622(798~868)新羅僧。朝鮮佛教禪門九山師子山派之祖。又稱道均、道雲。漢州(京畿道)人,俗姓朴。出身豪族,十八歲出家,於鬼神寺研學華嚴經。憲德王十七年(825)來唐,投南泉普願之會下。文聖王九年(847)歸國,止於雙峰寺,學者雲集。門人折中於江原道原州郡師子山創建法興寺,蔚成師子山派。景文王八年示寂,世壽七十一,法臘四十四。〔祖堂集卷十七、景德傳燈錄卷十〕
đạo dung
5659<一>魏晉時代僧。汲郡林慮(河南汲縣)人。鳩摩羅什之門人。十二歲出家,初學外典。及三十歲,才解英絕,窮究內外經書。羅什入關後,師前往諮稟,羅什甚奇之。受姚興之命,住於逍遙園,參與羅什之譯場。後還彭城,講說中論、法華等經,門徒甚多。後寂於彭城,世壽七十四。著有法華、大品般若、金光明、十地、維摩等經之義疏。師講說法華經之際,每將經文分科爲九轍,故時人譽之爲九轍法師。〔梁高僧傳卷六、法華傳記卷二、大唐內典錄卷三〕(參閱「九轍」156) <二>宋代臨濟宗黃龍派僧。字古月。爲塗毒智策之法嗣。偶讀羅湖野錄,深有所感,遂以三十年間於叢林之見聞,編集一部近古之名僧善行錄,即叢林盛事二卷。其餘事蹟不詳。〔叢林盛事序〕
; (道融) I. Đạo Dung. Vị tăng ở thời Ngụy Tấn, người Lâm lự, huyện Cấp tỉnh Hà nam. Sư xuất gia năm 12 tuổi, mới đầu học ngoại điển, đến năm 30 tuổi thì tài học siêu tuyệt, thấu suốt các kinh điển nội ngoại. Khi ngài Cưu ma la thập vào Quan trung, sư đến thăm hỏi. Qua cuộc đối thoại, ngài La thập rất thán phục kiến thức uyên bác của sư, vua Diêu hưng mời sư đến ở trong vườn Tiêu dao tham dự công tác dịch kinh với ngài La thập. Sau, sư trở về Bành thành, giảng thuyết Trung luận, Pháp hoa v.v... môn đồ rất đông. Trong khi sư giảng kinh Pháp hoa, sư chia văn kinh làm chín khoa (mà sư gọi là Cửu triệt), rất được người thời bấy giờ khen ngợi và gọi sư là Cửu triệt pháp sư. Sư có soạn Nghĩa sớ các kinh: Pháp hoa, Đại phẩm bát nhã, Kim quang minh, Thập địa và Duy ma. Sư tịch ở Bành thành, thọ 74 tuổi. [X. Lương cao tăng truyện Q.6; Pháp hoa truyện kí Q.2; Đại đường nội điển lục Q.3]. (xt. Cửu Triệt). II. Đạo Dung. Vị Thiền tăng thuộc phái Hoàng long tông Lâm tế ở đời Tống, tự là Cổ nguyệt, đệ tử nối pháp của ngài Đồ độc Trí sách. Sư tình cờ đọc La hồ dã lục, lòng rất cảm khái, bèn ghi chép lại những việc thấy nghe ở chốn tùng lâm trong khoảng 30 năm thành bộ sách Cận cổ chi danh tăng thiện hành lục, tức là bộ Tùng lâm thịnh sự 2 quyển. Những sự tích khác về sư không rõ. [X. Tùng lâm thịnh sự tự].
Đạo Dư Lục
(道余錄, Dōyoroku): 1 quyển, do Độc Am Đạo Diễn (獨菴道衍, tục danh là Diêu Quảng Hiếu [姚廣孝]), san hành vào năm thứ 7 (1619) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Sau khi Diêu Quảng Hiếu xuất gia, ông lấy tên là Độc Am Đạo Diễn, theo hầu hạ Ngu Am Trí Cập (愚庵智及), học thông tất cả nội ngoại điển; nhưng sau đó ông lại hoàn tục, lấy lại tục danh, làm việc cho Vĩnh Lạc Đế (永樂帝) và đã lập nhiều công lao to lớn. Trong di thư của Nhị Trình Tử (二程子) ở Hà Nam (河南), do vì Ngữ Lục của Chu Hối Am (朱晦庵) ở Tân An (新安) có khá nhiều ngôn từ bài xích Phật và Lão theo tư ý, nên cảm thấy bất bình trước việc đó, Đạo Diễn nêu ra từng đoạn văn, dùng lý lẽ để biện bác và hình thành nên tác phẩm này. Ông tự ghi lời tựa vào năm thứ 10 (1412) niên hiệu Vĩnh Lạc (永樂) nhà Minh, nhờ Lý Chí (李贄, tức Trác Ngô [卓吾]) đọc qua hiệu đính và cho san hành. Trong bản san hành vào năm thứ 6 (1666) niên hiệu Khoan Văn (寬文), có lời bạt của Hoàng Bá Nam Nguyên Tánh Phái (黃檗南源性派).
đạo dư lục
5660全一卷。明代姚廣孝(1335~1418)撰。姚廣孝,僧名道衍獨庵,精研內外典籍,自我國古典文學,乃至佛教之禪、華嚴、天台、淨土,悉皆博通。本書旨在反駁宋代儒者之排佛論,而謂「不探佛書,不知佛之底蘊」,並立於華嚴及禪之立場,對二程(程頤、程顥)及朱子(朱熹)展開批判。〔禪籍志卷下〕
; (道餘錄) Có 1 quyển, do Diêu quảng hiếu, tức là ngài Đạo diễn Độc am (1335 - 1418) soạn vào đời Minh. Ngài Đạo diễn nghiên cứu các điển tịch nội ngoại rất sâu rộng, từ văn học cổ điển Trung quốc, cho đến Thiền, Hoa nghiêm, Đạo Diễn Thiên thai, Tịnh độ v.v... của Phật giáo, tất thảy đều thông suốt. Nội dung sách này nhằm bác bỏ luận điệu bài Phật của các Nho gia đời Tống và nói: Nếu không tìm hiểu sách Phật thì không thể biết được đáy nguồn sâu thẳm của Phật pháp. Đồng thời, ngài đứng trên lập trường Hoa nghiêm và Thiền học để phê phán các học thuyết của Trình di, Trình hạo và Chu hi. [X. Thiền tịch chí Q.hạ].
đạo dẫn
To lead, to guide
; Dẫn đạo—To lead.
đạo gia tô
Catholicism.
đạo giai
5651(1866~1932)湖南衡山人,俗姓許。名常踐。號曉鐘,又號八不頭陀。年十九,依衡陽智勝寺真際和尚出家。翌年,受具足戒於耒陽報恩寺。嘗掩關峽山二端寺三年,專志參禪。又從南嶽祝聖寺默庵和尚學教,閱覽大藏經。其後講經於西禪、天童等寺,並先後住持西禪、清涼、海會、祝聖等寺。光緒三十二年(1906),南遊星、馬、緬、印等地。返國後,住持法源寺,任「中華佛教總會」機關部部長。同時,倡修「新續高僧傳」四集,是書採錄自北宋迄清宣統年間之碩德耆宿,計五十餘萬言,凡六十六卷。爲我國近代佛教史之重要史料。後以法源寺發生住持風波,遂率其徒德玉遠遊印度,重建鹿野苑之中華寺。民國二十一年(1932)春遊檳榔嶼、怡保、吉隆坡等地,常卓錫普陀寺。是年三月,示寂於怡保之三寶洞,世壽六十七,僧臘四十八。〔中國佛教近代史下冊(東初)〕
; (道階) (1866 - 1932) Vị tăng Trung quốc thời cận đại, người Hành sơn, tỉnh Hồ nam, họ Hứa, tên Thường tiễn, hiệu Hiểu chung, Bát bất đầu đà. Năm 19 tuổi, sư y vào hòa thượng Chân đế xuất gia ở chùa Trí thắng tại Hành châu; năm sau, thụ giới Cụ túc ở chùa Báo ân tại Lỗi dương. Sư nhập thất ba năm chuyên tâm tham thiền ở chùa Nhị đoan tại Giáp sơn, lại theo hòa thượng Mặc am chùa Chúc thánh tại Nam nhạc học giáo lí và xem Đại tạng kinh. Về sau, sư giảng kinh ở các chùa Tây thiền, Thiên đồng và lần lượt trụ trì các chùa Tây thiền, Thanh lương, Hải hội, Chúc thánh v.v... Năm 1906, sư đi sang các nước Tân gia ba, Mã lai, Miến điện, Ấn độ. Sau khi về nước, sư trụ trì chùa Pháp nguyên và giữ chức Tổng thư kí của Tổng hội Phật giáo Trung quốc, đồng thời, sư đề nghị sửa lại bộ Tân tục cao tăng truyện bốn tập, gồm 66 quyển. Đây là sử liệu trọng yếu của lịch sử Phật giáo Trung quốc thời cận đại. Sau, sư cùng với đệ tử là Đức ngọc sang Ấn độ sửa lại chùa Trung hoa ở vườn Lộc dã. Năm 1932, sư về Mã lai á, thường ở chùa Phổ đà. Tháng 3 năm ấy sư tịch, thọ 67 tuổi. [X. Trung quốc Phật giáo cận đại sử Q.hạ (Đông sơ)].
đạo giai phù dung thiền sư
Zen master T'ao-jia-Fu-Rong—See Phù Dung Đạo Giai Thiền Sư.
đạo giao
5624眾生善根發動,謂之機;大悲爲之感動,謂之應。機應相稱,稱爲道交。法華文句記卷一上(大三四‧一五五上):「諸佛不來,眾生不往;機應相稱,故曰道交。」
; Mutual interaction between the individual seeking the truth and Buddha who responds to his aspiration; mutual intercourse through religion.
; Tác động hổ tương giữa hành giả và Phật, đấng đáp ứng lại ước vọng của hành giả—Mutual interaction between the individual seeking the truth and the Buddha who responds to his aspirations; mutual intercourse through religion.
; (道交) Thiện căn của chúng sinh khởi động gọi là Cơ; tâm đại bi của chư Phật cảm động gọi là Ứng. Cơ và Ứng tương xứng gọi là Đạo giao. Pháp hoa văn cú kí quyển 1 phần trên (Đại 34, 155 thượng), nói: Chư Phật không đến, chúng sinh không đi mà cơ ứng tương xứng, nên gọi là đạo giao.
đạo giáo
5642<一>佛陀所說之教,謂之道教。指佛道、佛教而言。[1] <二>Taoism。以老莊思想爲中心,加上神仙信仰、通俗之民間信仰,復受儒家與佛教影響而形成之宗教。道教始自東漢之張陵,至其子張衡、其孫張魯乃集大成。其教義係以道家對儒家之反動思想(即「無」之世界觀思想)爲基礎,此外又由於不滿東漢王朝之政治,轉而以宗教表現其志向。道教具有強烈之民間色彩,除各種行事外,復於各地建立義舍,以便利信徒,遂逐漸成爲龐大的反儒家、反佛教之宗教。然不可否認者,其對儒家、佛教之義理又多所吸收。至北魏寇謙之(365~448),完成道教豐富而組織化之教理體系,信徒亦擴展至上階層。經隋、唐、宋三代,儒、佛、道三教之間,互有離合;其間,道教在理論、實際兩方面皆得均衡發展。有宋一代,道教與佛教予儒家哲學以極大之影響。 關於道教之發展,最早係淵源於古代之巫術,及秦漢時之神仙方術,復融合陰陽五行、讖緯、咒術等,成立道教思想系統,並導入佛教思想而發展之。東漢順帝(125~144 在位)時,張陵倡導五斗米道,尊奉老子爲教主,以「老子五千文」爲主要經典,至此道教已逐漸形成。「道教」一詞,則始見於「老子想爾注」一書,其書亦成於東漢之世。漢靈帝(167~189 在位)時,張角之太平道爲早期道教另一重要派別,奉「太平清領書」爲主要經典,以「善道」教化徒眾,並以符水爲人治病,徒眾數十萬,遍布青、徐等八州,與張衡、張魯之五斗米道成爲當時農民起義之基礎。 其後有「老子化胡經」出現,鼓吹老子西遊化胡成佛、佛爲道教弟子之「老子化胡說」,考其內容,其書乃西晉時之偽經。至東晉建武元年(317),葛洪撰「抱朴子」內篇,整理並闡述戰國以來之神仙方術理論,將道教之思想內容體系化,成爲道教之基本典籍。東晉末年,孫恩、盧循等人亦曾利用五斗米道組織農民起義。南北朝時,北魏太平真君年間(440~450),嵩山道士寇謙之於魏太武帝(423~451 在位)支持下,自稱奉「太上老君」意旨,清整道教,除去「三張偽法」,參考佛教之儀禮而制訂樂章,誦誡新法,確立道教之國教化,稱爲「北天師道」,或「新天師道」。未久,南朝宋之廬山道士陸修靜(406~477)與梁之陶弘景(456~536)等人整理經書,編著齋戒儀範,道教之理論與組織形式因之愈臻完備,稱爲「南天師道」。 至唐代,道教之發展愈加隆盛。陶弘景之法孫王遠知融合南北天師道,成爲唐代道教興盛之重要基礎。唐代之歷代君主,廣建老子廟、道觀,並於科舉考試中加入「道德經」一科。貞觀十一年(637),太宗下詔將道教置於佛教之上,此種「道先佛後」之政策乃成爲唐代一貫之方針。唐高宗(650~683 在位)以老子爲唐代王室之祖先,並封以「太上玄元皇帝」之尊號,令諸州各建道觀一所。玄宗(712~756 在位)之時,更進一步令士庶每家皆藏老子一本,推崇玄學,並以老子、莊子、列子等諸典爲「真經」。至唐末五代,杜光庭致力於整理道教典籍,而集道教儀禮之大成。呂洞賓以「慈悲度世」爲成道途徑,又以斷除貪、瞋、癡取代對劍術之研習,對北宋道教教理之發展影響頗大。宋真宗(998~1022 在位)時,勅令王欽若、張君房等人編輯道藏,其中以「雲笈七籤」一二二卷爲代表作,此外亦大建道觀。宋徽宗(1101~1125 在位)曾自命「教主道君皇帝」,詔令天下訪求道教仙經,校定鏤板,刊行全藏,又於太學置道德經、莊子、列子等科之博士,一時道教大盛。 唐宋以後,南北天師道與上清、靈寶、淨明各宗派逐漸合流,至元代歸併於以符籙爲主之「正一派」中。金代大定七年(1167),王重陽於山東寧海創立「全真教」,金元之際又有劉德仁創立「大道教」(後稱真大道教),蕭抱珍創立「太一道」,均行於河北,然歷時不久,唯有全真教仍盛極一時。於當時,全真教與天師道同爲道教之二大主流。王重陽極力調和儒、釋、道三教之說,去除咒術、迷信之要素,而強調佛教(尤以禪宗)之教理與出家主義。其七大弟子稱爲「七真人」,其中以丘處機尤見重於元太祖(1206~1227 在位)。元世祖(1260~1293 在位)時,由老子化胡經而引起一場激烈的佛道論爭,道教失敗,遂於至元十八年(1281)詔令禁斷道教。由是,道教發展大受打擊,教團勢力亦逐漸衰微。此後,道教正式分爲正一、全真兩大教派,明代仍繼續流傳,至清代則漸次式微。在早期,道教勢力興盛時,教團組織每與國家權力相互結合,遂形成特殊階層及專事修道者之宗教;至道教逐漸衰微時,則轉而注重民眾之宗教欲求,處處以民眾生活與日常倫理爲基礎,乃有「民眾道教」之稱,同時大量之善書與寶卷等亦應運而出,即所謂民眾道教之經典。 道教主張人類之根本希望在於獲得現世之幸運、幸福、長壽、繁榮,爲達此一理想,乃積極勸人爲善,舉行除災招福、祈禱咒術等之儀式,故道教信仰特含通俗色彩。由是,不僅其順應性、適應性之幅度擴展,即其信徒階級亦因之增廣。道教之派別雖多,然一般而言,其基本信仰與教義仍在「道」,認爲道乃「虛無之系,造化之根,神明之本,天地之元」,並謂宇宙、陰陽、萬物皆由「道」化生。所崇拜之最高神係由「道」人格化之三清尊神,其中「道德天尊」即老子。然宋代以後之民眾道教則或爲自然星宿之神格化,或爲歷史人物之神格化,如文昌帝君(學問之神)、呂祖(呂洞賓之神格化)、關聖帝君(關羽之神格化)、北斗神君(北斗七星之神格化)、玄天上帝(北極星之神格化)等。又道教修煉之具體方法有:服餌(服用仙藥)、導引(一種柔軟體操)、胎息(又稱服氣、行氣,係將宇宙之元氣吸入體內,以期不老不死之呼吸法)、符籙(符咒等之秘文)、房中(採陰補陽之法)、辟穀(避食由不純之氣所長成之穀類)、內丹、外丹等。宗教儀式有齋醮、祈禱、誦經、禮懺等。現存之道藏共有五四八五卷,係由明正統年間(1436~1449)刊行「正統道藏」五三○五卷之後所追加補成者。此外,另有萬曆續道藏、道藏輯要等均爲現存之道藏總集。(參閱「三教論衡」612、「佛道之爭」2736)
; Taoism. The teaching of the right way, i.e. of Buddhism.
; 1) Lão Giáo: Taoism. 2) Chánh đạo hay đạo Phật: The teaching of the right way, i.e. Buddhism.
; (道教) I. Đạo Giáo. Giáo pháp do đức Phật nói gọi là Đạo giáo, tức là đạo Phật, hoặc Phật giáo. II. Đạo Giáo (Taoism). Tông giáo lấy tư tưởng Lão trang làm trung tâm kết hợp với tín ngưỡng thần tiên và tín ngưỡng dân gian, đồng thời chịu ảnh hưởng của Nho gia và Phật giáo mà được hình thành. Đạo giáo bắt đầu từ Trương lăng đời Đông Hán, đến đời con Trương lăng là Trương hoành và cháu là Trương lỗ thì tập đại thành. Giáo nghĩa Đạo giáo lấy tư tưởng vô vi làm nền tảng và hấp thu rất nhiều giáo lí của Phật giáo và tư tưởng Nho gia. Sự phát triển của Đạo giáo bắt nguồn từ pháp thuật của thầy cúng thời cổ đại và phương thuật thần tiên ở thời Tần, Hán, lại dung hợp âm dương, ngũ hành, sấm vĩ, chú thuật v.v... mà thành lập hệ thống tư tưởng Đạo giáo, đồng thời, pha trộn với tư tưởng Phật giáo để mở rộng. Khoảng năm 125-144 (đời vua Thuận đế) thời Đông Hán, Trương lăng đề xướng Ngũ đẩu mễ đạo (đạo năm đấu gạo), tôn thờ Lão tử làm Giáo chủ, dùng Lão tử ngũ thiên văn làm kinh điển chủ yếu, thế là Đạo giáo bắt đầu hình thành và như đã nói ở trên, đến đời con là Trương hoành và cháu là Trương lỗ thì đại thành. Khoảng năm 167-189 đời Linh đế nhà Hậu Hán, Trương dác lập ra Thái bình đạo là một phái trọng yếu của Đạo giáo ở thời kì đầu. Phái này dùng sách Thái bình thanh lãnh làm kinh điển chủ yếu, dùng Thiện đạo giáo hóa đồ chúng và dùng bùa chú để trị bệnh. Tín đồ có tới vài mươi vạn, ở rải rác khắp 8 châu: Thanh, Từ v.v... cùng với pháp Ngũ đẩu mễ đạo của Trương hoành, Trương lỗ đều trở thành cơ sở cho các cuộc khởi nghĩa của nông dân thời bấy giờ. Về sau, có kinh Lão tử hóa Hồ cổ xúy cho thuyết Lão tử sang Ấn độ giáo hóa người Ấn và đức Phật là đệ tử của Đạo giáo! Xét về nội dung thì sách này là kinh giả được ngụy tạo vào thời Tây Tấn. Đến đời Đông Tấn, năm 317, Cát hồng soạn thiên Bão phác tử chỉnh lí và trình bày rõ về lí luận phương thuật thần tiên, đồng thời, hệ thống hóa nội dung tư tưởng của Đạo giáo mà trở thành cuốn sách cơ bản. Đến khoảng năm 440 - 450 đời Bắc Ngụy, đạo sĩ Khấu khiêm chi ở Tung sơn tự xưng vâng mệnh Thái thượng lão quân chấn chỉnh lại Đạo giáo, loại bỏ Tam Trương Ngụy Pháp (Pháp giả dối của ba người họ Trương), tham khảo nghi lễ của Phật giáo mà chế định chương nhạc, xác lập cơ sở quốc giáo hóa Đạo giáo, gọi là Bắc Thiên Sư Đạo, hoặc Tân Thiên Sư Đạo. Không bao lâu, vào đời Tống thuộc Nam triều, có đạo sĩ Lục tu tĩnh (406 - 477) ở Lô sơn và vào đời Lương, có đạo sĩ Đào hoằng cảnh (456 - 477) sửa lại kinh sách, biên soạn phép tắc về trai giới và giáo nghĩa. Từ đó, lí luận cũng như hình thức tổ chức của Đạo giáo dần dần được hoàn bị, gọi là Nam Thiên Sư Đạo. Đến đời Đường, Đạo giáo phát triển càng thêm mạnh. Pháp tôn của Đào hoằng cảnh là đạo sĩ Vương viễn tri dung hợp Nam thiên sư đạo với Bắc thiên sư đạo để làm thành cơ sở của Đạo giáo. Thời đại nhà Đường, các vua chúa xây dựng nhiều đền thờ Lão tử, Đạo quán, và trong các kì thi lại thêm vào môn Đạo đức kinh. Năm 637, vua Thái tông ra lệnh đặt Đạo giáo trên Phật giáo; chính sách Đạo trước Phật sau này đã trở thành phương châm nhất quán của đời Đường. Vua Đường Cao tông (ở ngôi 650 - 683) nhận Lão tử là tổ tiên của Vương thất nhà Đường và phong hiệu là Thái Thượng Huyền Nguyên Hoàng Đế, hạ lệnh cho mỗi châu phải xây cất một Đạo quan. Đến vua Huyền tông (ở ngôi 712 - 756) thì lại càng tôn sùng huyền học và xếp các sách của Lão tử, Trang tử, Liệt tử vào hàng Chân kinh. Đến cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, Đỗ quang đình dốc sức vào công tác chỉnh lí các kinh điển và hoàn thành việc biên tập các nghi lễ của Đạo giáo. Lã động tân cho từ bi độ thế là con đường thành đạo và lấy việc diệt trừ tham, sân, si thay cho việc học tập kiếm thuật. Chủ trương này của họ Lã đã có ảnh hưởng rất lớn đối với việc phát triển giáo lí Đạo giáo ở thời Bắc Tống. Vua Tống chân tông (ở ngôi 998-1022) sai các ông Vương khâm nhược và Trương quân phòng biên tập tạng kinh của Đạo giáo, trong đó, lấy Vân Cấp Thất Tiêm 122 quyển làm tác phẩm tiêu biểu. Chân tông còn cho xây cất nhiều Đạo quan. Vua Tống huy tông (ở ngôi 1101 - 1125) từng tự cho mình là Giáo chủ đạo quân hoàng đế, hạ lệnh tìm kiếm Đạo giáo tiên kinh ở khắp nơi trong nước, sửa chữa bản khắc ấn hành toàn bộ Đạo tạng; lại đặt chức Bác sĩ ở nhà Thái học để coi về các môn Đạo đức kinh, Trang tử, Liệt tử v.v... Đây là thời kì hoàng kim của Đạo giáo. Từ cuối đời Ngũ đại và đầu đời Tống trở về sau, Nam thiên sư đạo và Bắc thiên sư đạo cùng với các phái Thượng thanh, Linh bảo, Tịnh minh dần dần dung hợp, để đến đời Nguyên thì tất cả gồm về một phái Chính Nhất lấy bùa chú làm chủ yếu. Khoảng năm 1167 đời Kim, Vương trùng dương sáng lập Toàn chân giáo ở Hải ninh, Sơn đông. Đồng thời, Lưu đức nhân cũng sáng lập Đại đạo giáo (Sau gọi là Chân đại đạo giáo), Tiêu bão trân sáng lập Thái nhất đạo v.v... đều lưu hành ở Hà bắc, nhưng không bao lâu thì tàn lụi, duy có Toàn chân giáo vẫn hưng thịnh. Vào thời ấy, Toàn chân giáo và Thiên sư đạo là hai dòng chủ yếu của Đạo giáo. Vương trùng dương cố gắng dung hòa Tam giáo (Nho, Đạo, Thích), loại bỏ những yếu tố bùa chú, mê tín, tiếp thu giáo lí của Phật giáo (đặc biệt là Thiền tông) và chủ nghĩa xuất gia. Vào thời vua Thế tổ (ở ngôi 1260 - 1293)nhà Nguyên, do kinh Lão tử hóa Hồ mà phát sinh ra cuộc tranh luận gay gắt giữa Phật giáo và Đạo giáo. Đạo giáo thua cuộc. Vua ra lệnh cấm Đạo giáo lưu hành. Do đó, sự phát triển của Đạo giáo bị ngưng lại và thế lực cũng suy vi dần. Từ đấy về sau, Đạo giáo bị chia làm hai phái lớn là Chính nhất và Toàn chân, tiếp tục lưu truyền ở đời Minh, nhưng đến đời Thanh thì tàn lụi dần. Ở thời kì đầu, lúc thế lực của Đạo giáo cường thịnh, thì tổ chức giáo đoàn thường kết hợp với quyền lực của quốc gia, nên Đạo giáo đã trở thành một tông giáo dành riêng cho hàng vua quan và những người chuyên tu. Đến khi Đạo giáo suy vi thì lại chuyển thành tông giáo dân gian, lấy sự sinh hoạt và luân lí thường ngày của dân chúng làm cơ sở, nên mới gọi là Dân Chúng Đạo Giáo, đồng thời, một số lượng lớn các kinh sách Đạo giáo cũng theo đó mà xuất hiện. Đạo giáo cho rằng ước vọng căn bản của loài người là mong được may mắn, hạnh phúc, giầu sang, sống lâu, vinh hiển v.v... Để đạt được lí tưởng ấy, Đạo giáo tích cực khuyên người làm việc thiện, cử hành các nghi thức cầu đảo, bùa chú để trừ tai họa, được phúc lợi. Nhờ mang đậm sắc thái dân gian thông tục dễ thích ứng ấy, nên số tín đồ của Đạo giáo tăng lên rất nhanh. Nói chung, Đạo giáo tuy có nhiều chi phái, nhưng tín ngưỡng và giáo nghĩa cơ bản thì vẫn không ngoài Đạo, cho rằng Đạo chính là đầu mối của hư vô, gốc rễ của tạo hóa, ngọn nguồn của thần minh, bản nguyên của thiên địa, cũng như vũ trụ, âm dương, vạn vật đều do Đạo biến hóa mà sinh ra. Thần tối cao mà Đạo giáo tôn thờ là Tam thanh tôn thần được nhân cách hóa từ Đạo, trong đó, Đạo Đức Thiên Tôn tức là Lão tử. Nhưng từ đời Tống trở về sau thì Đạo giáo dân chúng hoặc thần cách hóa các tinh tú tự nhiên như: Bắc đẩu thần quân (thần cách hóa của 7 vì sao Bắc đẩu), Huyền thiên thượng đế(thần cách hóa của sao Bắc cực), hoặc thần cách hóa các nhân vật lịch sử như: Văn xương đế quân(thần của sự học vấn), Lã tổ(thần cách hóa của Lã động tân), Quan thánh đế quân(thần cách hóa của Quan vũ) v.v... để tôn thờ. Còn về phương pháp tu luyện cụ thể của Đạo giáo thì có: Phục nhĩ (dùng thuốc tiên), Đạo dẫn (một loại thể dục nhẹ nhàng), Thai tức (....... cũng gọi Phục khí, Hành khí, là phương pháp hít thở, hút lấy nguyên khí của vũ trụ vào trong cơ thể để được trường sinh bất tử), Phù lục (văn bí mật của bùa, chú), Phòng trung (phép lấy âm bổ dương), Tịch cốc (...... Không ăn những loại hạt do tạp khí dưỡng thành), Nội đơn (.......), Ngoại đơn (.......) v.v... Về nghi thức tôn giáo thì có: Lập đàn cúng tế, cầu đảo, tụng kinh, lễ sám v.v... Về kinh điển của Đạo giáo thì ngoài Đạo tạng hiện còn gồm 5.485 quyển, còn có Vạn lịch tục đạo tạng, Đạo tạng tập yếu v.v... (xt. Tam Giáo Luận Hành, Phật Đạo Chi Tranh).
đạo giáo nghĩa xu
5643凡十卷。青溪道士孟安排集。收於道藏太平部第七六二冊。初唐時,佛道二教相互論爭,本書爲當時道教教理之集大成。本書內容:卷一論道德義、法身義、三寶義、位業義。卷二論三洞義、七部義、十二部義。卷三論兩半義、道意義、十善義、因果義。卷四論五廕義、六情義、三業義、十惡義。卷五論三一義、二觀義、三乘義。卷六論六通義、四達義、六度義、四等義。卷七論三界義、五道義、混元義。卷八論理教義、境智義、自然義、道性義。卷九論福田義、淨土義、三世義、五濁義。卷十論動寂義、感應義、有無義、假實義。 本書撰者雖署名「青溪道士孟安排」,然據研究,並非梁代之大孟法師孟安排所撰,而係後人偽作,冒用孟安排之名;此可以書中常引隋志之道教敘錄與隋代偽經(例如海空經與本際經等)爲證明,而推知本書實爲初唐以後所撰述者。然對中唐以降道教與佛教之發展,本書仍極具影響力。
; (道教義樞) Gồm 10 quyển, do đạo sĩ Thanh khê Mạnh an bài biên soạn, thu trong Đạo tạng Thái bình bộ, tập 762. Đây là bộ sách tập đại thành giáo lí của Đạo giáo. Nội dung: - Quyển 1: Nói về nghĩa đạo đức, pháp thân, Tam bảo, các nghiệp. - Quyển 2: Nói về nghĩa 3 động, 7 bộ, 12 bộ. - Quyển 3: Nói về nghĩa lưỡng bán, đạo ý, thập thiện, nhân quả. - Quyển 4: Nói về nghĩa ngũ ấm, lục tình, tam nghiệp, thập ác. - Quyển 5: Nói về nghĩa tam nhất, nhị quán, tam thừa. - Quyển 6: Nói về nghĩa lục thông, tứ đạt, lục độ, tứ đẳng. - Quyển 7: Nói về nghĩa tam giới, ngũ đạo, hỗn nguyên. - Quyển 8: Nói về nghĩa giáo lí, cảnh trí, tự nhiên, đạo tính. - Quyển 9: Nói về nghĩa phúc điền, Tịnh độ, tam thế, ngũ trược. - Quyển 10: Nói về nghĩa động tịch, cảm ứng, hữu vô, giả thực. Về người soạn bộ sách này, có thuyết cho là do người đời sau ngụy soạn rồi mạo danh soạn giả là Mạnh an bài thôi. Người ta biết được điều này là vì trong sách thường trích dẫn các kinh giả ở đời Tùy (ví dụ như kinh Hải không, kinh Bản tế v.v...) để chứng minh. Tuy nhiên, sách này đã có ảnh hưởng rất lớn đối với việc phát triển của Đạo giáo và Phật giáo từ đời Trung Đường trở về sau.
đạo giả
5638謂修行佛道者,後指禪林之行者,或投佛寺求出家尚未得度者。大智度論卷三十六(大二五‧三二四中):「得道者,名爲道人,餘出家未得道者,亦名爲道人。」〔佛祖統紀卷二十八、禪林象器箋職位門〕(參閱「道人」5621)
; Người hành trì Phật pháp—One who practises Budhism.
; (道者) Vốn chỉ cho người tu sĩ Phật giáo nói chung, sau chỉ riêng những hành giả tu Thiền, hoặc người vào chùa xin xuất gia nhưng vẫn chưa được phép cạo tóc. Luận Đại trí độ quyển 36 (Đại 25, 324 trung), nói: Người xuất gia đã đắc đạo hoặc chưa đắc đạo đều gọi là Đạo nhân. [X. Phật tổ thống kỉ Q.28; Thiền lâm tượng khí tiên Chức vị môn]. (xt. Đạo Nhân).
đạo hi
5630<一>即菩提流支。北魏譯經僧。北天竺人。魏宣武帝永平元年(508)至洛陽,譯經甚多。(參閱「菩提流支」5204) <二>五代僧。生卒年不詳。福建閩縣人。嗣玄沙師備之法,住持福州升山白龍院。〔景德傳燈錄卷二十一、五燈會元卷八〕
; (道希) I. Đạo Hi. Tên khác của ngài Bồ đề lưu chi, người Bắc thiên trúc. Năm 508 đời Bắc Ngụy, ngài đến Lạc dương, Trung quốc, dịch rất nhiều kinh. (xt. Bồ Đề Lưu Chi). II. Đạo Hi. Vị Thiền tăng đời Ngũ đại, năm sinh năm mất không rõ. Sư là người huyện Mân tỉnh Phúc kiến, đệ tử nối pháp của thiền sư Huyền sa Sư bị, trụ trì viện Bạch long tại Thăng sơn thuộc Phúc châu. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.21; Ngũ đăng hội nguyên Q.8].
đạo hiền luận
5658晉代孫綽撰。現已不存。內容散見於「梁書」等。本書將西晉至東晉初年之高僧竺法護、竺法乘、于法蘭、于道邃、帛法祖、竺道潛、支遁等七人,依次比爲山濤、王戎、阮籍、阮咸、嵇康、劉伶、向秀等竹林七賢。七高僧皆爲般若經系統經典之弘傳者,其中竺道潛及支遁等爲精通老莊、善巧清談之玄學僧。本書作者孫綽可代表當時江南之知識分子;藉本書可顯示當時江南知識分子對佛教探求之一斑。
; (道賢論) Do Tôn xước soạn vào đời Tấn, hiện nay không còn, nội dung chỉ thấy rải rác trong các sách đời Lương. Luận này đem bảy vị cao tăng hoằng truyền kinh điển hệ thống kinh Bát nhã từ đời Tây Tấn đến đầu đời Đông Tấn là: Trúc pháp hộ, Trúc pháp thừa, Vu pháp lan, Vu đạo thúy, Bạch pháp tổ, Trúc đạo tiềm và Chi độn, theo thứ tự so sánh với bảy nhà Hiền sĩ Trúc lâm là: Sơn đào, Vương nhung, Nguyễn tịch, Nguyễn hàm, Kê khang, Lưu linh và Hướng tú. Trong bảy vị cao tăng trên đây, các ngài Đạo tiềm và Chi độn rất tinh thông Lão trang và giỏi về huyền học. Còn tác giả Tôn xước thì có thể tiêu biểu cho giới trí thức vùng Giang nam đương thời đối với việc tìm hiểu Phật giáo.
đạo hiệu
5653僧爲表示其自身之願望,或自身悟道之機緣,或以所居之地名、所住之庵堂,或徒孫輩爲避免直呼祖師輩名號之諱,遂另取一道號。又稱「表德號」。主要通行於禪宗,其餘如天台、法相、華嚴等諸宗亦採用之。例如智顗又稱天台,湛然又稱荊溪,窺基又稱慈恩,慧沼又稱淄州,澄觀又稱清涼,宗密又稱圭峰。宋代以後,道號常爲字號所取代。日本淨土宗使用「譽號」、「阿號」,西山派用「空號」,皆受我國道號之影響。〔釋氏通鑑卷五梁武帝普通四年條、佛祖統紀卷七湛然傳、叢林盛事(道融)、禪林象器箋稱呼門〕
; The literary name of a monk.
; Tên đạo của một vị Tăng—The literary name of a monk.
; (道號) Cũng gọi Biểu đức hiệu. Tên hiệu của người xuất gia tu đạo được đặt theo nguyện vọng cơ duyên ngộ đạo, hoặc theo địa danh, am thất mình ở, hoặc dùng để gọi thay cho tên húy của các bậc Tổ sư trong Thiền tông. Nhưng các tông khác như: Thiên thai, Pháp tướng, Hoa nghiêm v.v... cũng sử dụng. Chẳng hạn như ngài Trí khải còn gọi là Thiên thai, ngài Trạm nhiên còn gọi là Kinh khê, ngài Khuy cơ còn gọi là Từ ân, ngài Tuệ chiểu còn gọi là Tuy châu, ngài Trừng quán còn gọi là Thanh lương, ngài Tông mật còn gọi là Khuê phong. Từ đời Tống trở về sau thì danh từ Đạo hiệu được thay thế bằng từ Tự hiệu. Tại Nhật bản, tông Tịnh độ dùng từ ngữ Dự hiệu, A hiệu. Phái Tây sơn thì dùng Không hiệu đều là chịu ảnh hưởng của Đạo hiệu tại Trung quốc. [X. điều Lương vũ đế Phổ thông tứ niên trong Thích thị thông giám Q.5; truyện Trạm nhiên trong Phật tổ thống kỉ Q.7; Tùng lâm thịnh sự (Đạo dung); Thiền lâm tượng khí tiên Xưng hô môn].
đạo hoa
5651謂佛正覺之智,清淨如蓮華,故稱道華。道,佛果之名。又指佛正覺所成就住持淨土之眾寶蓮華,與「正覺華」同。
; (道華) Trí của Phật trong sạch như hoa sen nên gọi Đạo hoa. Đạo chỉ cho quả Phật, hoặc chỉ cho hoa sen báu ở cõi Tịnh độ của chư Phật, cùng nghĩa với hoa chính giác.
đạo hoà
5632<一>(1057~1124)宋代雲門宗僧。福建興化仙遊人,俗姓潘。賜號「祖照禪師」。禮天清德璋爲師而出家受戒,又參謁淨因道臻、圓通法秀。法秀入寂後,參隨善本,受印可,住持江蘇真州長蘆寺,廣揚宗風。宣和六年示寂,世壽六十八。另劫外錄載爲宣和五年入寂。〔嘉泰普燈錄卷八、五燈會元卷十六〕 <二>(1634~1707)明末清初黃檗宗僧。福建海澄人,俗姓方。字喝禪,初號在恬。依非有出家,後參隨木菴性瑫。永曆九年(1655,即日本明曆元年)隨師東渡日本,住於長崎福濟寺。參訪黃檗山萬福寺,寬文三年(1663),受具足戒。九年,於黃檗山中創建法林院。延寶五年(1677),嗣木菴性瑫之法。元祿十年(1697),開創善福寺。寶永四年(即清康熙四十六年)示寂,世壽七十四。立塔於法林院,爲紫雲派法林下之祖。〔黃檗東渡僧寶傳卷上、黃檗宗系譜〕
đạo hoá
6218即導引教化眾生。無量壽經卷上(大一二‧二六六中):「如來導化,各能宣布。」
Đạo Huệ
道慧; ?-1173|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái thiền Vô Ngôn Thông đời thứ 9, nối pháp Thiền sư Thông Biện. Sư có nhiều đệ tử ngộ yếu chỉ thiền như Ðại Xả, Tịnh Không, Tín Học, Trường Nguyên, Tĩnh Lực, Trí Bảo và Minh Trí.|Sư họ Âu, quê ở Chân Hộ, làng Như Nguyệt, xuất gia tu học với Quốc sư Thông Biện tại chùa Phổ Minh năm 25 tuổi. Nơi đây, Sư ngộ được huyền chỉ của Thiền.|Sau, Sư đến chùa Quang Minh núi Thiên Phúc trong huyện Tiên Du trụ trì. Ðạo hạnh của Sư vang xa và cảm hoá được cả thú rừng. Niên hiệu Ðại Ðịnh thứ 20 (1161), Hoàng Cô Thuỵ Minh mắc bệnh, vua sai sứ thỉnh Sư vào xem bệnh. Sư vừa đến cửa ngoài thì Hoàng Cô lành bệnh. Vua Lí Anh Tông rất mừng mời Sư ở lại chùa Báo Thiên hoằng pháp. Học chúng và đạo hữu khắp nơi đua nhau đến yết kiến. Sư vì vậy không trở về núi mà ở lại khai đường giáo hoá.|Ðến niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ 10 (1173), ngày mồng 1 tháng 8, Sư có chút bệnh tự than rằng: »Loạn li lan rộng, ái chừ, từ đó mà đến.« Sư nói kệ:|地水火風識。原來一切空|如雲還聚散。佛日照無窮|色身與妙體。不合不分離|若人要甄別。爐中花一枝|Ðịa thuỷ hoả phong thức|Nguyên lai nhất thiết không|Như vân hoàn tụ tán|Phật nhật chiếu vô cùng|Sắc thân dữ diệu thể|Bất hiệp bất phân li|Nhược nhân yếu chân biệt|Lô trung hoa nhất chi|*Ðất nước lửa gió thức|Nguyên lai thảy đều không|Như mây lại tan họp|Phật nhật chiếu không cùng|Sắc thân cùng diệu thể|Chẳng họp chẳng chia lìa|Nếu người cần phân biệt|Trong lò một cành hoa.|Ðến canh ba, Sư im lặng thị tịch.
đạo huệ thiền sư
Zen Master Đạo Huệ (?-1172)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Như Nguyệt, Bắc Việt. Năm 25 tuổi ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Thông Biện. Ngài là pháp tử đời thứ 9 cùa dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Năm 1159, vua Lý Anh Tông gửi chiếu chỉ triệu ngài về kinh trị bệnh cho Hoàng Cô Thụy Minh. Khi ngài vừa đến nơi thì Hoàng Cô Thụy Minh cũng vừa lành bệnh. Từ đó danh tiếng ngài lan rộng đến nổi rất nhiều người tìm tới cầu pháp với ngài. Nhân đó ngài quyết định không trở về núi, mà làm du Tăng độ người. Ngài thị tịch năm 1172—A Vietnamese Zen master from Như Nguyệt, North Vietnam. He left home at the age of 25 and became a disciple of Zen master Thông Biện. He was the dharma heir of the ninth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. In 1159, king Lý Anh Tông sent an Imperial Order to summon him to the royal palace to treat a disease of Hoàng Cô Thụy Minh. When he just arrived at the great citadel, Hoàng Cô Thụy Minh was just cured too. Since then, his reputation spread so quickly that so many people arrived to study Dharma with him. At that time, he decided not to return to the mountain any more. He became a wandering monk traveling along the country to save people. He passed away in 1172.
đạo hành
5627<一>又作道業。意爲佛道之修行。維摩經卷下囑累品(大一四‧五五七上):「如說修行,當知是爲久修道行。」 <二>(752~820)唐代僧。桂陽(湖南)人,俗姓楊。十二歲學於南嶽般若道場,又參謁馬祖道一,徹悟生死大事。住於澧陽西南,後以太守召請,住持茗溪開元寺。元和十五年示寂,世壽六十九。〔宋高僧傳卷二十〕 <三>(1089~1151)宋代臨濟宗楊岐派僧。世稱雪堂。虔州(江西)人,俗姓葉。幼萌出家之志,後從天寧微禪師,決心益加堅固。十九歲從覺印子英出家,參謁指源潤,機緣不契。又參禮龍門寺之佛眼清遠,得其玄旨,並嗣其法。建炎二年(1128),受徐康國之請,開法於壽寧。歷住法海、天寧、烏巨等諸剎。紹興二十一年示寂,世壽六十三。著有雪堂行和尚語要一卷、雪堂行和尚拾遺錄一卷。〔聯燈會要卷十七、大明高僧傳卷六〕
; Thực hành chân lý—To practice the Buddha-truth.
; (道行) I. Đạo Hạnh. Cũng gọi Đạo nghiệp. Hàm ý là tu hành đạo Phật. Phẩm Chúc lụy trong kinh Duy ma quyển hạ (Đại 14, 557 thượng) nói: Đúng như lời dạy mà tu tập, nên biết người ấy tu đạo hạnh đã lâu. II. Đạo Hạnh (752 - 820). Vị Thiền tăng ở đời Đường, người Quế dương (Hồ nam) họ Dương. Năm 12 tuổi, sư tu học ở đạo tràng Bát nhã tại Nam nhạc. Sau, sư tham yết ngài Mã tổ Đạo nhất, triệt ngộ việc lớn sinh tử. Mới đầu sư ở phía tây nam huyện Lễ dương, sau quan Thái thú thỉnh sư về trụ trì chùa Khai nguyên ở Mính khê. Năm Nguyên hòa 15 (820) sư tịch, thọ 69 tuổi. [X. Tống cao tăng truyện Q.20]. III. Đạo Hạnh(1089-1151). Vị Thiền tăng thuộc phái Dương kì tông Lâm tế ở đời Tống, người Kiền châu (tỉnh Giang tây), họ Diệp, đời gọi sư là Tuyết đường. Thủa nhỏ sư đã quyết chí học Phật và theo thiền sư Vi ở Thiên ninh. Năm 19 tuổi, sư y vào ngài Giác ấn Tử anh xuất gia, tham học ngài Chỉ nguyên nhuận, nhưng cơ duyên không khế hợp. Sư lại tham lễ ngài Phật nhãn Thanh viễn ở chùa Long môn, tỏ ngộ được huyền chỉ và nối pháp của ngài. Năm Kiến viên thứ 2 (1128), nhận lời thỉnh cầu của Từ khang quốc, sư giảng pháp ở Thọ ninh, sau đó, sư lần lượt trụ trì các chùa Pháp hải, Thiên ninh, Ô cự v.v... Năm Thiệu hưng 21 (1151) sư tịch, thọ 63 tuổi. Sư có các trứ tác: Tuyết đường Hạnh hòa thượng ngữ lục 1 quyển, Tuyết đường Hạnh hòa thượng thập di lục 1 quyển. [X. Liên đăng hội yếu Q.17; Đại minh cao tăng truyện Q.6].
đạo hành bát nhã kinh
5627請參閱 道行般若經凡十卷。又稱道行般若波羅蜜經、摩訶般若波羅蜜道行經、般若道行品經、摩訶般若波羅蜜經。後漢支婁迦讖譯。收於大正藏第八冊。爲現存般若經譯本之最古者,共三十品。內容闡明般若波羅蜜之法,並敘及其受持之功德。據出三藏記集卷七所收本經後記,知本經係於東漢靈帝光和二年(179)十月譯出,其梵本爲竺朔佛所攜來。 本經之同本異譯有:吳‧支謙之大明度經(六卷)、前秦曇摩蜱與竺佛念共譯之摩訶鉢羅波羅蜜經抄(五卷)、後秦鳩摩羅什之小品般若波羅蜜經(十卷)、唐玄奘之大般若經第四分、宋代施護之佛母出生三法藏般若波羅蜜多經(二十五卷),其中以支謙之譯本與本經最近似,施護之譯本則與現存梵文八千頌般若(梵 Aṣṭasāhasrikā-prajñāpāramitā)及西藏譯本,其分品完全相同。本經於晉代以後頗爲盛行,其注疏有東晉支遁之道行指歸、東晉道安之道行品集異注、道行指歸、竺僧敷之道行義疏,然今皆不傳。〔開元釋教錄卷十一、法經錄卷一、出三藏記集卷二、卷十二、卷十三、歷代三寶紀卷四〕
đạo hóa
To transform others through the truth of Buddhism; converted by the Truth.
; Chuyển hóa chúng sanh bằng Phật pháp hay bằng chân lý—To transform or convert others through the truth of Buddhism; converted by the truth.
Đạo Hạnh
道行; ?-1115|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái thiền Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 12, kế thừa Thiền sư Sùng Phạm.|Sư tên tục là Từ Lộ, con của Viên tăng quan Ðô Án Từ Vinh, quê tại làng Yên Lãng. Sư tính tình hào hiệp, chí cao, ban ngày thì chơi cờ thổi sáo nhưng ban đêm cần cù đọc sách. Sau Sư đi thi đỗ Tăng quan.|Nhân khi cha của Sư là Từ Vinh bị người dùng bùa chú ám hại, Sư quyết tâm tu học huyền thuật để rửa hận cho cha. Sau khi trả thù xong, duyên nợ đã rửa sạch, Sư phát tâm cầu giải thoát và chu du đây đó tầm đạo.|Ban đầu, Sư đến Thiền sư Kiều Trí Huyền ở Thái Bình tham học nhưng không có sở đắc. Ðến Thiền sư Sùng Phạm tại chùa Pháp Vân, Sư hỏi: »Thế nào là chân tâm?« Sùng Phạm đáp: »Cái gì chẳng phải chân tâm?« Sư nhân đây tỉnh ngộ, hỏi thêm: »Làm sao gìn giữ?« Sùng Phạm bảo: »Ðói ăn khát uống.«|Rời Sùng Phạm, Sư đến chùa Thiên Phúc ở núi Phật Tích trụ trì hoằng hoá chúng. Một vị tăng hỏi: »Ði đứng ngồi nằm (Hành trụ toạ ngọa) cả thảy đều là Phật tâm, thế nào là Phật tâm?« Sư trả lời bằng kệ:|作有塵沙有。爲空一切空|有空如水月。勿著有空空|Tác hữu trần sa hữu|Vi không nhất thiết không|Hữu không như thuỷ nguyệt|Vật trước hữu không không|*Có thì muôn sự có|Không thì tất cả không|Có, không trăng đáy nước|Ðừng mắc có cùng không.|Sư lại bảo:|日月在巖頭。人人盡失朱|富人有駒子。步行不騎駒|Nhật nguyệt tại nham đầu|Nhân nhân tận thất chu|Phú nhân hữu câu tử|Bộ hành bất kị câu|*Nhật nguyệt tại non đầu|người người tự mất châu|Kẻ giàu sẵn ngựa mạnh|Bộ hành chẳng ngồi xe.|Sắp tịch, Sư gọi đệ tử đến dạy: »Túc nhân của ta chưa hết phải còn sinh lại thế gian này tạm làm vị quốc vương. Sau khi mệnh chung ta lại lên cõi trời Tam thập tam làm Thiên chủ. Nếu thấy thân ta bị hư hoại thì ta mới thật vào Niết-bàn, chẳng trụ trong vòng sinh diệt này nữa.« Sư nói kệ phó chúc:|秋來不報雁來歸。冷笑人間暫發悲|爲報門人休戀著。古師幾度作今師|Thu lai bất báo nhạn lai quy|Lãnh tiếu nhân gian tạm phát bi|Vị báo môn nhân hưu luyến trước|Cổ sư kỉ độ tác kim sư.|*Thu về chẳng hẹn nhạn cùng bay|Cười lạt người đời luống xót vay|Thôi! Hỡi môn đồ đừng lưu luyến|Thầy xưa mấy lượt hoá thầy nay.|Nói xong, Sư an nhiên thị tịch. Nhục thân Sư mãi sau này vẫn còn.
đạo hạnh
Conduct according to Buddha-truth; great virtue; righteous, chaste.
; Hành vi đạo đức—Virtuous—Conduct according to Buddha-truth—The discipline of religion.
đạo hạnh thiền sư
Zen Master Đạo Hạnh (?-1115)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Bắc Việt. Ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Kiều Trí Huyền, nhưng không thể khế ngộ được. Về sau ngài đến pháp hội của Thiền sư Sùng Phạm và trở thành một trong những đệ tử nổi tiếng nhất của Sùng Phạm tại chùa Pháp Vân. Ngài là Pháp tử đời thứ 12 dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Về sau ngài trụ tại chùa Thiên Phúc để hoằng pháp cho đến khi ngài thị tịch vào năm 1115. Ngài đã để lại toàn thân xá lợi. Đến khi triều đại nhà Minh xăm lăng nước Việt, thì họ đem toàn thân xá lợi của ngài mà đốt đi—A Vietnamese Zen master from North Vietnam. He left home and became a disciple of Zen Master Kiều Trí Huyền, but could not achieve his enlightenment. Later, he came to the Dharma assembly of Zen Master Sùng Phạm at Pháp Vân Temple and became one of the latter's one of the most outstanding disciples. He was the Dharma heir of the twelfth generation of the Vinitaruci Zen Sect. Later, he stayed at Thiên Phúc Temple to expand Buddhism until he passed away in 1115. He left his whole body relics. Later, when the Ming Dynasty invaded Vietnam, they burnt his body relics.
đạo hậu
5636指證悟實道以後之階位。未契實道爲道前,正證實理爲道中,自證以後爲道後。據梁譯攝大乘論釋卷十四之說,道前指地前;道中指初地以上、十地之中,修習無分別智者;道後則指金剛心以上。法華玄義釋籤卷九(大三三‧八八一上):「道,謂自行真實之道。未契實道,真如在纏,故名爲理,故以地前名爲道前。初地已上已證實理,復由此理成於後行,初證已後,究竟已前,並名道中。由此地行,理究竟顯,已顯之理,名爲道後;自行證後,故名道後。」金光明玄義卷上(大三九‧二中):「當知道前圓性德,道中圓分德,道後圓究竟德。」〔大智度論卷二十六、卷二十七、大毘婆沙論卷一四一、梁譯攝大乘論釋卷十五〕(參閱「道」5620)
; (道後) Chỉ cho giai vị sau khi đã chứng ngộ Thực đạo. Chưa khế hợp Thực đạo là Đạo tiền, chứng ngay Thực lí là Đạo trung, từ lúc chứng trở về sau là Đạo hậu. Cứ theo Nhiếp đại thừa luận thích quyển 14 (bản dịch đời Lương), thì Đạo tiền là chỉ cho hàng Bồ tát trước Thập địa; Đạo trung là chỉ hàng Bồ tát từ Sơ địa trở lên đến Thập địa, tu tập trí Vô phân biệt; còn Đạo hậu thì chỉ cho Bồ tát từ Kim cương tâm trở lên. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 9 (Đại 33, 881 thượng), nói: Đạo nghĩa là đạo chân thực tự hành. Chưa khế hợp với Thực đạo, Chân như tại triền, nên gọi là Lí, bởi vậy gọi Địa tiền là Đạo tiền. Từ bậc Sơ địa trở lên đã chứng được thực lí, lại do lí này mà thành tựu hậu hành, gọi là Đạo trung. Từ các địa này tu hành mà hiển bày lí rốt ráo, nghĩa là sau khi đã tu hành chứng ngộ, thì gọi là Đạo hậu. Kim quang minh huyền nghĩa quyển thượng (Đại 39, 2 trung), nói: Nên biết Đạo tiền tròn đầy tính đức, Đạo trung tròn đầy phần đức, Đạo hậu tròn đầy cứu cánh đức. [X. luận Đai trí độ Q.26, Q.27; luận Đại tì bà sa Q.141; Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Lương) Q.15]. (xt. Đạo).
đạo hằng
5638<一>(346~417)東晉僧。鳩摩羅什之門人。陝西藍田人。年二十出家,研習內外諸典,多所通達。鳩摩羅什入關後,師即投其門下,並參與譯事。後秦之主姚興嘗勸師與同學道標還俗,共理國政。師與道標均不從,師且遁居山中。主張觀心空無之「心無義」,受到竺法汰、曇壹、慧遠等人之排斥。著有釋駁論、百行箴。義熙十三年示寂,世壽七十二。〔梁高僧傳卷六、六學僧傳卷十一〕 <二>(?~991)宋代法眼宗僧。又稱道常。出家於洪州(江西)百丈山,禮照明剃度。復參謁清涼文益而悟入,並嗣其法。後住持百丈山大智院,爲第十一世,接化學人,大振宗風。於淳化二年入寂,世壽不詳。〔景德傳燈錄卷二十五、聯燈會要卷二十七、五燈會元卷十〕
; (道恒) (346 - 417) Vị tăng sống vào đời Đông Tấn, người huyện Lam điền, tỉnh Thiểm tây. Năm 20 tuổi, sư xuất gia, học tập, nghiêncứu thông suốt cả nội điển ngoại điển. Khi ngài Cưu ma la thập vào Trường an, sư liền đến theo làm đệ tử và tham dự việc dịch kinh. Vua Diêu hưng nhà Hậu Tần từng khuyên sư hoàn tục để cùng sửa sang việc nước, nhưng sư không chịu và vào núi ẩn tu. Sư chủ trương quán Tâm vô nghĩa của tâm không vô, nên bị các ngài Pháp thải, Đàm nhất, Tuệ viễn bài xích. Năm Nghĩa hi 13 (417) sư tịch, thọ 72 tuổi. Sư có các tác phẩm: Thích bác luận, Bách hạnh châm. [X. Lương cao tăng truyện Q.6; Lục học tăng truyện Q.11].
đạo học
Religious study or religious education.
đạo hồng
5639(574~649?)唐代僧。河東(山西)人,俗姓尹。十三歲出家,從學於曇延法師,致力於涅槃經之研究,復從淨願學十地經論。後奉隋煬帝之詔,入大禪定道場。唐貞觀年間(627~649),爲律藏寺上座,且住大總持寺。貞觀十四年,應寶昌寺之請,講說涅槃經。玄奘始譯經之時,即參與譯場,任「證義」之職。後受召入住大慈恩寺。貞觀末年示寂。〔續高僧傳卷十五〕
đạo hữu
Avuso (P). Brethen. Co-religion.
; Co-religionist.
đạo khiêm
Thiền sư Đạo Khiêm—Zen master Tao-Ch'ien—Một Thiền sư đời nhà Tống, đệ tử của Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo. Sau khi học thiền nhiều năm nhưng không nhập lý, nên sau đó sư được phái đi hành cước ở phương xa, ngài tỏ vẻ thất vọng. Một cuộc viễn du kéo dài đến sáu tháng trời chắc chắn rằng sẽ là mối chướng đạo hơn là trợ duyên cho ông. Một ông bạn đồng hành tên là Tông Nguyên thương hại ông nên nói: “Tôi sẽ theo ông trên đường hành cước, sẽ làm những gì có thể làm được để giúp ông. Không có lý do nào khiến ông phải bỏ dở việc tham thiền, cả đến lý do xê dịch.” Thế rồi cả hai cùng lên đường. Một đêm kia, Đạo Khiêm tuyệt vọng nài nĩ người bạn giúp ông vén màn bí mật của vũ trụ và nhân sinh. Người bạn đáp: “Tôi sẵn sàng giúp ông bất cứ thứ gì, nhưng có năm điều tôi không thể giúp ông. Những điều ấy tự ông phải đảm đương lấy.” Đạo Khiêm xin cho biết là những điều gì. Ông bạn đáp: “Chẳng hạn như khi ông mặc áo hay ăn cơm, tôi có thể mang áo hay thức ăn thức uống đến cho ông, nhưng tôi không thể mặc hay ăn dùm ông được, vì tôi ăn tôi uống không làm no bao tử ông được. Ông phải tự mình mặc hay ăn lấy. Khi ông đại tiểu tiện, thì ông phải tự mình đại tiểu tiện lấy, chứ tôi không thể đại tiểu tiện thay ông được. Rốt hết chính là ông, không thể ai khác, phải mang cái thây chết nầy của ông suốt khoảng đường trường nầy.” Lời nhận xét phút chốc mở tâm người cầu đạo; Đạo Khiêm mừng quá với điều khám phá đến không còn biết nói gì để tỏ niềm vui. Bấy giờ Tông Nguyên mới nói rằng công quả ông đã tròn, từ nay sự đi chung không còn ý nghĩa nữa. Thế rồi hai người chia tay nhau. Đạo Khiêm tiếp tục cuộc hành trình một mình. Sáu tháng sau, Đạo Khiêm trở về chùa cũ. Sư Phụ là Đại Huệ Tông Cảo xuống núi tình cờ gặp ông đang lên chùa, bèn cười nói: “Bây giờ thì đệ tử đã biết như thế nào rồi chứ?”—Zen master Tao-Ch'ien flourished during the Sung dynasty. He spent so many years to study Zen without success with his master. He was disappointed when he was sent on an errand to a distant city. A trip requiring half a year to finish would be a hindrance rather than a help to his cultivation. Tsung-Yuan, one of his fellow-monks, took pity on him and said: “I will accompany you on this trip and do all that I can for you. There is no reason why you cannot go on with your meditation even while travelling.” They stayed together. One evening, Tao-Ch'ien despairingly implored his friend to assist him in the solution of the mystery of life. Tsung-Yuan said: “I am willing to help you in every way, but there are five things in which I cannot be of any help to you. These you must look after yourself.” Tao-Ch'ien expressed the desire to know what they were. Tsung-Yuan said: “For instance, when you are hungry or thirsty, I can bring drinks and foods to you, but I cannot eat for you, for my eating of food or drinking does not fill your stomach. You must drink and eat yourself. Neither can I move my bowels for you. When you want to respond to the calls of nature, you must take care of them yourself, for I cannot be of any use to you. And then it will be nobody else but yourself that will carry this corpse of yours along this highway.” This remark at once opened the mind of the truth-seeking monk, who, transported with his discovery, did not know how to express his joy. Tsung-Yuan now told Tao-Ch'ien that his work was done and that his further companionship would have no meaning after this. So they parted company and Tao-Ch'ien was left alone to continue the trip. After the half year, Tao-Ch'ien came back to his own monastery. Ta-Hui-Zong-Kao, his master, happened to meet him on his way down the mountain, and made the following remark: “This time you know it all.”—For more information, please see Đại Huệ Tông Cảo.
đạo khuông
5625五代僧。潮州(廣東)人,俗姓李。長慶慧稜主泉州招慶院時,師入室追隨,嗣其法。慧稜住長樂府西院時,師住持招慶院,繼慧稜之後,宏揚教法。賜號「法因大師」。生卒年不詳。〔祖堂集卷十三、景德傳燈錄卷二十一〕
đạo khâm
5649(714~792)唐代牛頭宗徑山派初祖。蘇州昆山人,俗姓朱。又作法欽。初學儒教,於赴京途中遇鶴林玄素禪師,遂剃度受戒,修習禪法。後住杭州徑山,參學者甚眾,蔚爲徑山派。代宗大曆三年(768)詔入京,賜號「國一禪師」。後復受德宗敬重,於貞元五年(789)賜予璽書及寶物。朝野名士歸依信受者甚多,世人敬稱「功德山」。貞元六年,移住龍興寺淨土院。八年示寂,世壽七十九。德宗諡號「大覺禪師」,世稱徑山道欽。門弟子有道林、崇惠、廣敷等人。〔宋高僧傳卷九、景德傳燈錄卷四、釋氏稽古略卷三〕
; (道欽) (714 - 792) Vị Thiền tăng ở đời Đường, người Côn sơn, Tô châu, họ Chu, cũng gọi Pháp khâm, là Sơ tổ của phái Kính sơn tông Ngưu đầu. Sư vốn học Nho giáo, nhưng, một hôm, trên đường đi đến kinh đô, sư gặp thiền sư Hạc lâm Huyền tố, bèn xin xuất gia thụ giới, tu tập pháp Thiền. Sau, sư đến ở Kính sơn tại Hàng châu, người về tham học rất đông và dần dần phát triển thành phái Kính sơn. Năm Đại lịch thứ 3 (768), vua Đại tông thỉnh sư vào Kinh đô và ban cho danh hiệu Quốc nhất thiền sư. Đến năm Trinh nguyên thứ 5 (789), sư lại được vua Đức tông ban cho con dấu và bảo vật. Sư cũng được rất nhiều danh sĩ trong triều ngoài nội qui y tín thuận, từ đó, người đời tôn xưng sư là Công Đức Sơn. Năm Trinh nguyên thứ 6 (790), sư dời đến ở viện Tịnh độ chùa Long hưng. Năm Trinh nguyên thứ 8 (792), sư tịch, thọ 79 tuổi. Vua Đức tông ban thụy hiệu là Đại Giác Thiền Sư. Người đời gọi sư là Kính sơn Đạo khâm. [X. Tống cao tăng truyện Q.9; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Thích thị kê cổ lược Q.3]. (xt. Đạo Khâm).
đạo khí
5658指堪修佛道之根機,或能擔任道業之人才。梵網經菩薩戒本疏卷一(大四○‧六○五上):「此國人等,性多狡猾,又無剛節,豈有堪爲菩薩道器?」
; A vessel of religion, the capacity for Buddhism.
; The breath, or vital energy, of the Way, i.e. of Buddhism religion.
; 1) Pháp Khí hay bậc nhân tài có căn cơ tu hành Phật đạo hay có khả năng gánh vác đạo nghiệp—A vessel of religion, the capacity for Buddhism. 2) Hơi thở, năng lực thiết yếu, trong việc tu hành Phật đạo: The breath, a vital energy in practising the Buddhist religion.
; (道器) Chỉ cho hàng căn cơ có thể tu hành đạo Phật, hoặc là những người tài đức có khả năng gánh vác sự nghiệp đạo pháp lớn lao. Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ quyển 1 (Đại 40, 605 thượng), nói: Những người nước ấy tính tình nhiều giảo hoạt, lại không có khí tiết, làm sao có thể là đạo khí của Bồ tát?.
Đạo Khải
道楷|Phù Dung Ðạo Khải
đạo khải
5652(1043~1118)宋代禪僧。世人尊爲曹洞宗第八世。沂州沂水(山東沂水)人,俗姓崔。初學道術於伊陽山中,得辟穀之術,後悟其非,棄而習佛,於京師術臺寺出家,後參投子義青禪師得法。元豐五年(1082),弘法於沂州仙洞山,並先後住持洛陽之招提、郢州之大陽山、隨州之大洪山崇寧保壽禪院等剎,大揚洞上之風,從者如雲。崇寧三年(1104),徽宗聞其名,召住京師十方淨因禪院,賜紫衣及「定照禪師」之號。師以衣非佛制,卻而不受,帝怒,黥而流放淄州,師終不屈。後帝悟,聽其自便,師遂於芙蓉湖上建寺,大揚禪風,學者風從,政和七年(1117),徽宗賜以「華嚴禪寺」一額,後又賜名「興化寺」。於翌年五月入寂,世壽七十六。世稱芙蓉道楷。法嗣中較著名者有丹霞子淳、淨因法成、闡提惟照、大智齊璉、石門元易、鹿門自覺。有芙蓉道楷禪師語要一卷(又作定照禪師語要)行世。〔禪林僧寶傳卷十七、聯燈會要卷二十八、五燈會元卷十四、湖北金石志卷十〕
; (道楷) (1043 - 1118) Vị Thiền tăng ở đời Tống, người Nghi thủy Nghi châu (huyện Nghi thủy tỉnh Sơn đông), họ Thôi, người đời tôn làm tổ thứ 8 của tông Tào động. Mới đầu, sư theo Đạo thuật (phép tu của Đạo giáo) trong núi Y dương, học được phép tịch cốc (không ăn cơm), sau biết là sai lầm, sư liền bỏ mà học Phật rồi xuất gia ở chùa Thuật đài tại kinh đô, sau sư tham học thiền sư Đầu tử Nghĩa thanh và được pháp của ngài. Năm 1080, sư hoằng pháp ở núi Tiên động tại Nghi châu, rồi lần lượt trụ trì các chùa: Chiêu đề ở Lạc dương, Đại dương sơn ởDĩnh châu, Thiền viện Sùng ninh bảo thọ ở núi Đại hồng... thuộc Tùy châu, xiển dương tông phong Tào động, người về theo học rất đông. Năm 1104, vua Huy tông nghe tiếng Sư, triệu sư về trụ trì Thiền viện Thập phương tịnh nhân, ban cho sư áo đỏ và danh hiệu Định chiếu thiền sư. Nhưng sư cho rằng áo ấy không phải do Phật chế, nên sư khước từ, vua nổi giận, hạ lệnh thích chữ vào mặt và đày đi Tuy châu, sư vẫn quyết không chịu khuất phục. Sau, vua tỉnh ngộ, trả tự do cho sư, sư bèn làm chùa trên bờ hồ Phù dung, hoằng dương Thiền pháp. Năm 1117, vua Huy tông ban ngạch chùa là Hoa nghiêm thiền tự, về sau lại ban tên là Hưng hóa tự. Tháng 5 năm sau (1118) sư tịch, thọ 76 tuổi. Người đời gọi sư là Phù dung Đạo khải. Sư có trứ tác: Phù dung Đạo khải thiền sư ngữ lục 1 quyển (cũng gọi Định chiếu thiền sư ngữ yếu). [X. Thiền lâm tăng bảo truyện Q.7; Liên đăng hội yếu Q.28; Ngũ đăng hội nguyên Q.14; Hồ bắc kim thạch chí Q.10].
đạo khổng (nho)
Confucianism.
đạo kiểm
sống trong sự kiểm thúc theo đạo pháp, nghĩa là thường tự kiểm đạo hạnh của mình, tự xem xét đạo đức của mình, lấy đạo đức làm khuôn phép, không bao giờ vượt ra khỏi đó.
; The restraints, or control, of religion.
; Sự kềm chế kiểm soát giới hạnh—The restraints, or control, of religion.
Đạo Kính
(道鏡, Dōkyō, ?-772): chính trị gia, vị tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nại Lương, húy là Đạo Kính (道鏡), xuất thân Cung Tước (弓削), Hà Nội (河內, Kawachi, thuộc Ōsaka [大阪]), họ Cung Tước (弓削). Có thuyết cho rằng ông là con của Hoàng Tử Thí Cơ (施基, Shiki). Lúc còn trẻ, ông theo làm đệ tử của Nghĩa Uyên (義淵, Gien) ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), học về Pháp Tướng cũng như Duy Thức với vị này và học Phạn ngữ với Lương Biện (良辨, Rōben). Sau ông đến ẩn cư tại Cát Mộc Sơn (葛木山) trong vùng và chuyên tu pháp Như Ý Luân (如意輪). Về sau, ông vào cung nội làm việc với tư cách là Đại Thần Thiền Sư (大臣禪師). Vào năm 762 (niên hiệu Thiên Bình Bảo Tự [天平寳字] thứ 6), tại Bảo Lương Cung (保良宮), ông dùng Tú Diệu Bí Pháp (宿曜秘法) chữa lành bệnh cho Hiếu Khiêm Thượng Hoàng (孝謙上皇, Kōken Jōkō, tức Xưng Đức Thiên Hoàng [稱德天皇, Shōtoku Tennō] sau này), cho nên được Thượng Hoàng kính trọng. Sau vụ loạn của Đằng Nguyên Trọng Ma Lữ (藤原仲麻呂, Fujiwara-no-Nakamaro), vào năm 763, ông được phong làm chức Thiếu Tăng Đô (少僧都) và bắt đầu tham gia vào chính giới. Đến năm 764, ông được thăng lên chức Đại Thần Thiền Sư, rồi năm sau thì làm Thái Chính Đại Thần Thiền Sư (太政大臣禪師) và nắm chính quyền trong tay. Từ đó, ông bắt đầu nền chính trị xem trọng Phật Giáo, đến năm 766 thì lên làm Pháp Vương (法王) và âm mưu cưỡng quyền. Vào năm 769, ông bịa đặt ra câu chuyện vị Thần của Vũ Tá Thần Cung (宇佐神宮, Usa Jingū) ở tiểu quốc Phong Tiền (豐前, Buzen, thuộc Ōita-ken [大分縣]) giáng lệnh buộc Thiên Hoàng phải nhường ngôi vị cho Đạo Kính; nhưng trong khi đến tham bái nơi đó cũng có mặt của Hòa Khí Thanh Ma Lữ (和氣清麻呂, Waki-no-Kiyomaro), vị này phủ nhận câu chuyện trên là không có thật, nên đã cùng với Đằng Nguyên Bách Xuyên (藤原百川, Fujiwara-no-Momokawa) ngăn chận âm mưu cướp ngôi vua của Đạo Kính. Năm sau, khi Xưng Đức Thiên Hoàng qua đời, ông bị đày đến Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) ở vùng Hạ Dã (下野, Shimotsuke) với chức Biệt Đương (別當) và qua đời tại đó.
Đạo Kính Huệ Đoan
(道鏡慧端, Dōkyō Etan, 1642-1721): tức Lão Nhân Chánh Thọ (正受, Shōju), vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, tự là Đạo Kính (道鏡), sinh ra trong gia đình họ Tùng Bình (松平) ở Phạn Sơn (飯山, Iiyama), Tín Nùng (信濃, Shinano), Giang Hộ (江戸, Edo). Năm lên 19 tuổi, ông đến tham học với Chí Đạo Vô Nan (至道無難) ở Đông Bắc Am (東北庵) vùng Ma Bố, Giang Hộ, và chuyên tham cứu về tông phong Lâm Tế. Ông theo hầu thầy trong suốt hơn 10 năm. Về sau, ông lại đến tham yết Hổ Tai (虎哉), Nhất Nguyên (一元) ở vùng Áo Vũ (奥羽, Ōu), nhưng vài năm sau ông lại quay trở về với thầy ngày xưa Vô Nan. Cuối cùng ông ngộ được huyền chỉ và kế thừa dòng pháp của vị này. Có người khuyên ông nên kế thừa ngôi vị của thầy, nhưng ông không nghe lời, mà đến Phạn Sơn, Tín Nùng kết thảo am, lấy hiệu là Chánh Thọ Am, và ẩn cư tu hành. Ông được gọi là Chánh Thọ Lão Nhân (正受老人). Vào ngày mồng 6 tháng 10 năm thứ 6 (1721) niên hiệu Hưởng Bảo (享保), ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi đời và 62 hạ lạp.
đạo kỉ
5639北齊高僧。居於鄴下,宣講成實論三十載。又曾出鄴郊講所著金藏論,每七日一遍,往必荷擔,身甘勞苦,以勵道俗。後不知所終。〔續高僧傳卷三十〕
; (道紀) Vị cao tăng đời Bắc Tề, năm sinh năm mất không rõ. Sư thuyết giảng luận Thành thực 30 năm tại Nghiệp hạ. Sư từng soạn luận Kim tạng và cứ bảy ngày giảng luận này một lần, đi đâu sư cũng mang theo, dấn thân nhọc nhằn để khuyên tăng tục tiến tu. [X. Tục cao tăng truyện Q.30].
đạo long
5651(1213~1278)南宋臨濟宗楊岐派僧。日本臨濟宗大覺派之祖。西蜀涪江(四川涪陵)人,俗姓冉。字蘭溪。年十三,於成都大慈寺出家,遍遊講席。後赴浙江,謁見無準師範、癡絕道冲、北磵居簡等,問禪不契。未久,禮謁陽山之無明慧性,大有所悟,於是寄寓天童山。時日本佛教雖盛,然未聞禪法,師乃立志渡海弘揚禪旨。淳祐六年(1246)至日本九州,初寓筑前圓覺寺,後移居上洛泉涌寺來迎院,既而掛錫鎌倉壽福寺大歇了心之席下。北條時賴聞其道譽,延居常樂寺,軍務之暇,問道歸仰。建長五年(1253),北條氏創建建長興國禪寺,請師爲開山第一世。居止十三年,法道大興。不久奉勅遷至京都建仁寺,嵯峨上皇屢召入宮問禪要。後歸鎌倉,再住建長寺。弘安元年七月示寂,世壽六十六。諡號「大覺禪師」。乃日本賜禪師號之始例。有語錄三卷(圓顯智光、覺慧圓範、了禪從琛、無弘德韶等編)行世。其門流稱大覺派,或稱建長寺門徒,爲日本禪宗二十四流之一。〔元亨釋書卷六、本朝高僧傳卷十九〕
; (道隆) (1213 - 1278) Vị Thiền tăng phái Dương kì tông Lâm tế ở đời Nam Tống, người Phù giang, Tây thục (huyện Phù lăng tỉnh Tứ xuyên), họ Nhiễm, tự Lan khê, là Tổ của phái Đại giác, tông Lâm tế, Nhật bản. Năm 13 tuổi, sư xuất gia ở chùa Đại từ tại Thành đô, rồi đi tham học khắp nơi. Sau, sư đến Chiết giang, lần lượt tham kiến các ngài Vô chuẩn Sư phạm. Si tuyệt Đạo xung, Bắc giản Cư giản v.v... hỏi về pháp Thiền, nhưng chưa khế hợp. Không bao lâu, sư tham yết ngài Vô minh Tuệ tính ở Dương sơn, tỏ ngộ huyền chỉ, từ đó sư đến ở núi Thiên đồng. Lúc bấy giờ, Phật giáo ở Nhật bản tuy hưng thịnh, nhưng chưa ai biết đến đạo Thiền, nên sư lập chí vượt biển sang Nhật hoằng dương Thiền pháp. Vào năm Thuần hựu thứ 6 (1246), sư đến Cửu châu, Nhật bản; lúc đầu sư ở chùa Viên giác tại Trúc tiền, sau dời sang viện Lai nghinh chùa Tuyền dũng ở Thượng lạc; sau lại đến ở chỗ ngài Đại hiết Liễu tâm chùa Thọ phúc tại Liêm thương. Tướng Bắc điều thời lại nghe đạo hạnh của sư, thỉnh sư về ở chùa Thường lạc; khi rảnh rỗi việc quân, ông thường đến thăm viếng hỏi đạo và rất kính ngưỡng sư. Năm 1253, Bắc điều sáng lập chùa Kiến trường hưng quốc thiền, thỉnh sư làm vị Tổ khai sơn đời thứ nhất. Sư ở chùa này được 13 năm, đạo pháp rất hưng thịnh. Sau, sư vâng sắc chỉ dời đến chùa Kiến nhân ở Kinh đô (Kyoto). Thượng hoàng Tha nga thường triệu sư vào cung để hỏi về yếu chỉ của Thiền pháp. Không bao lâu, sư lại trở về trụ trì chùa Kiến trường tại Liêm thương (Kamakura). Niên hiệu Hoằng an năm đầu (1278), sư tịch, thọ 66 tuổi, thụy hiệu là Đại giác thiền sư. Sư là người đầu tiên ở Nhật bản được ban danh hiệu Thiền sư. Sư có tác phẩm: Ngữ lục 3 quyển. Dòng của sư được gọi là Đại giác phái, hoặc là Kiến tường tự môn đồ, một trong 24 dòng Thiền tông Nhật bản. [X. Nguyên hanh thích thư Q.6; Bản triều cao tăng truyện Q.19].
đạo loại trí
5665梵語 mārga-anvaya-jñāna。八智之一,十六心之一。觀色界、無色界之道諦所得之無漏智。此智類似於觀欲界之道諦所得之法智,故稱爲類。唯識宗以之爲見道之智,俱舍宗則以之屬於修道。
; Một trong tám trí, là trí huệ nhờ quan sát đạo đế của sắc giới và vô sắc giới mà có được—The wisdom obtain through insight into the way of release in the upper relams of form and formlessness, one of the eight kinds of wisdom.
; (道類智) Phạm: Màrga-anvaya-jĩàna. Trí vô lậu do quán Đạo đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc mà đạt được. Là một trong 8 trí, một trong 16 tâm. Trí này giống với pháp trí do quán Đạo đế ở cõi Dục mà đạt được, cho nên gọi là Loại. Tông Duy thức cho trí này là trí Kiến đạo, nhưng tông Câu xá thì cho trí này thuộc về trí Tu đạo.
đạo luật
Law.
đạo làm người
Moral philosophy, the right way to be human.
Đạo Lâm
道林; ?-1203|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 16, nối pháp của Thiền sư Pháp Dung. Môn đệ đắc pháp còn được nhắc đến của Sư là Tịnh Thiền.|Sư họ Tăng, quê ở Cửu Cao, Chu Diên, thuở nhỏ đã mộ cửa Phật, ý chí cao cả. Sư xuất gia theo học với Thiền sư Pháp Dung và được vị này truyền tâm ấn.|Sau, Sư trụ trì chùa Long Vân, làng Siêu Thoại, Long Phúc. Nơi đây, Sư tuỳ duyên giáo hoá, xiển dương tông môn.|Niên hiệu Thiên Gia Bảo Hựu thứ hai, năm Quý Hợi, khoảng tháng năm, Sư ngồi kết già viên tịch.
đạo lâm
5634<一>(314~366)東晉僧。陳留(河南開封)人,俗姓關。又稱支道林、支道人、支遁。(參閱「支遁」1419) <二>(?~624)隋唐時代僧。郃陽(陝西)人,俗姓李。曾住同州大興國寺。三十五 釧l學佛法,於終南山結茅修禪,澗飲草食,奮進不已。隋文帝數度徵召而不出,避於梁山之南,精勤行道,持戒嚴謹。唐武德七年示寂,世壽不詳。〔續高僧傳卷十九〕 <三>(741~824)唐代牛頭宗僧。杭州富陽人,俗姓潘。又稱鳥窠道林、鵲巢和尚。諡號「圓修禪師」。(參閱「鳥窠道林」4844)
; Một thiền sư nổi tiếng của Trung Hoa vào đời nhà Đường. Ông cũng được gọi là Điểu Sào vì ông hay tọa thiền trên các cành cây—A well-known Chinese Zen master during the T'ang dynasty. He was also called Bird's Net from his habit of doing meditation on the branches of trees. ** For more information, please see Bạch Lạc Thiên.
; (道林) I. Đạo Lâm (314 - 366). Vị tăng đời Đông Tấn, người Trần lưu (huyện Khai phong, tỉnh Hà nam), họ Quan. Cũng gọi Chi đạo lâm, Chi đạo nhân, Chi độn. (xt. Chi Độn). II. Đạo Lâm (? - 624). Vị tăng ở thời Tùy, Đường, người huyện Cáp dương (tỉnh Thiểm tây), họ Lí. Năm 35 tuổi sư mới bắt đầu học Phật pháp, cất am tranh tu Thiền ở núi Chung nam, ăn rau trái, uống nước suối. Vua Văn đế nhà Tùy mời sư nhiều lần, nhưng sư đều từ chối, rồi lánh về phía nam núi Lương sơn, hàng ngày siêng năng hành đạo, nghiêm trì giới luật. Năm Vũ đức thứ 7 (624) đời Đường, sư tịch, không rõ tuổi thọ. [X. Tục cao tăng truyện Q.19]. III. Đạo Lâm (741 - 824). Vị Thiền tăng thuộc tông Ngưu đầu ở đời Đường, người Phú dương Hàng châu, họ Phan. Cũng gọi Điểu khòa Đạo lâm, Thước khòa Hòa thượng. Thụy hiệu là Viên tu thiền sư. (xt. Điểu Khòa Đạo Lâm).
đạo lâm thiền sư
Zen Master Đạo Lâm (?-1203)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Chu Diên, Bắc Việt. Ngài xuất gia và trở thành đệ tử của Thiền sư Pháp Dung tại chùa Hương Nghiêm. Ngài là pháp tử đời thứ 16 của dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Về sau ngài trụ tại chùa Long Vân ở Long Phúc để tiếp tục hoằng pháp cho đến khi ngài thị tịch vào năm 1203—A Vietnamese Zen master from Chu Diên, North Vietnam. He left home and became a disciple of Zen master Pháp Dung at Hương Nghiêm Temple. He was the dharma heir of the sixteenth generation of the Vinitaruci Zen Sect. Later, he stayed at Long Vân Temple at Long Phúc to expand Buddhism until he passed away in 1203.
đạo lâm tự
5634位於南京城外之鍾山。又稱蔣山寺。劉宋元嘉(424~453)初年,畺良耶舍自西域來中土,受文帝歸仰,勅住本寺。僧含亦曾住此,請譯藥王藥上菩薩經、觀無量壽經,自任筆受之職,梁代僧寶誌亦曾於此受禪業。宋、齊年間,爲講肆道場,名僧來住者頗多。梁武帝天監十三年(514),寶誌示寂,勅葬於鍾山,興建墓塔,勅改「開善寺」。
; (道林寺) Chùa ở núi Chung sơn, ngoài thành Nam kinh, cũng gọi Tưởng sơn tự. Đầu năm Nguyên gia (424 - 453) đời Lưu Tống, ngài Cương lương da xá từ Tây vực đến Trung quốc, được vua Văn đế kính ngưỡng, mời ngài ở chùa này. Lúc đó, ngài Tăng hàm cũng ở đây và thỉnh ngài Da xá phiên dịch các kinh Dược vương, Dược thượng bồ tát, kinh Vô lượng thọ và tự mình giữ chức Bút thụ. Khoảng đời Tống, đời Tề, chùa này là đạo tràng diễn giảng kinh pháp là nơi qui tụ rất nhiều các vị danh tăng. Vào đời Lương, ngài Bảo chí cũng từng ở đây tu tập pháp Thiền. Năm Thiên giám 13 (514) đời Lương Vũ đế ngài tịch, vua ra sắc chỉ xây tháp của ngài ở Chung sơn và đổi tên chùa là Khai thiện.
đạo lãng
5645東晉僧。初與以義學知名之慧嵩共在河西享有盛名。曾助曇無讖翻譯涅槃經,亦造經序,撰義疏,致力於弘法,其後講涅槃經者多宗之。又製中論之序,參與佛陀跋摩所譯阿毘曇毘婆沙等之文義考正。寂年不詳。後世每以師與致力弘揚三論之遼東僧朗混同爲一人。〔大乘玄論卷三、梁高僧傳卷二〕
; (道朗) Vị tăng ở đời Đông Tấn, cùng với ngài Tuệ tung, rất nổi tiếng về nghĩa học ở Hà tây. Sư từng giúp ngài Đàm vô sấm phiên dịch kinh Niết bàn, viết lời tựa và soạn nghĩa sớ; về sau, những nhà giảng kinh Niết bàn phần nhiều đều căn cứ theo bản sớ này. Ngoài ra, sư còn soạn bài tựa Trung luận, tham gia khảo chứng văn nghĩa luận A tì đàm tì bà sa do ngài Phật đà bạt ma dịch. Người đời sau thường lầm sư là ngài Tăng lãng truyền bá Tam luận ở Liêu đông. [X. Đại thừa huyền luận Q.3; Lương cao tăng truyện Q.2].
đạo lão
Đạo giáo—Taoism.
đạo lí
5646梵語 yukti。簡稱爲「理」。指正確之理,即事物之存在、變化必須準據之法則。瑜伽師地論卷三十中舉出四種道理:(一)觀待道理(梵 apekṣā-yukti),又作相待道理,即真(勝義)與俗(俗諦)相待之道理。(二)作用道理(梵 kārya-kāraṇa-yukti),有因果關係之作用的道理。(三)證成道理(梵 upapatti-sādhana-yukti),又作成就道理,即確認方法之道理。(四)法爾道理(梵 dharmatā-yukti),又作法然道理,如火有熱性,水有溼性,有其本來不變本性之道理。〔解深密經卷五、大乘莊嚴經論卷十二、成唯識論卷八〕
; (道理) Phạm: Yukti. Gọi tắt: Lí. Chỉ cho lẽ chính xác, tức là phép tắc làm chuẩn cứ cho sự tồn tại và biến hóa của sự vật. Luận Du già sư địa quyển 13 nêu ra 4 loại đạo lí: 1. Quan đãi đạo lí (Phạm: apekwàyukti), cũng gọi Tương đãi đạo lí, tức là đạo lí chân đế và tục đế đối đãi nhau. 2. Tác dụng đạo lí (Phạm: kàryakàraịa-yukti): Đạo lí có tác dụng quan hệ nhân quả. 3. Chứng thành đạo lí (Phạm: upapattisàddhana-yukti), cũng gọi Thành tựu đạo lí, tức là đạo lí xác nhận phương pháp. 4. Pháp nhĩ đạo lí (Phạm: dharmatàyukti), cũng gọi Pháp nhiên đạo lí, là đạo lí có bản tính xưa nay vốn không thay đổi, như lửa có tính nóng, nước có tính ướt. [X. kinh Giải thâm mật Q.5; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.12; luận Thành duy thức Q.8].
đạo lí chân lí
5646日本唯識宗之用語。「別體真理」之對稱。相對於有爲之諸法而說無爲之真如,稱爲別體真理;有爲緣生之道理即真如,非別有其堅實之別體,稱爲道理真理。
; (道理真理) Từ ngữ được dùng trong tông Duy thức Nhật bản. Đôi lại với Biệt thể chân lí. Chỉ cho đạo lí hữu vi duyên sinh tức chân như, không có thể tính chắc thực riêng. Còn Biệt thể chân lí là chỉ cho chân như vô vi đối lại với các pháp hữu vi.
đạo lý
Truth, doctrine, principle; the principles of Buddhism, Taoism etc.
; Nguyên tắc đạo lý của Phật và Lão—Ethical codes, dogma, doctrine, truth, principles of Buddhism, Taoism, ect.
đạo lý vô vi
The unconditioned—Tinh yếu của đạo lý vô vi là làm tất cả mọi việc (hữu vi) mà không thấy việc làm cũng không thấy ai làm—The essence of the unconditioned is to do or practise all conditioned dharmas without seeing no subjective nor objective marks of practice.
đạo lĩnh
5655(1634~?)明末清初臨濟宗僧。潼川(四川)人,俗姓韓。號赤松。六歲時遇亂入黔,十五歲時,厭俗世,入南望山齋戒念佛。數年後,參禮九峰靈藥,受業於白雲西識。又參謁滇同峰五華寺之九峰,嗣遵城(四川)敏樹如相之法,後歸返白雲座下,隨侍受業師。康熙六年(1667),住持貴州壽世院。世壽不詳。著有黔靈赤松領禪師語錄五卷。
; (道領) (1634 - ?) Vị Thiền tăng tông Lâm tế ở vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người huyện Đồng xuyên, tỉnh Tứ xuyên, họ Hàn, hiệu Xích tùng. Lên 6 tuổi gặp loạn lạc, sư lánh nạn vào đất Kiềm (Quí châu). Năm 15 tuổi, sư vào núi Nam vọng trai giới niệm Phật. Vài năm sau, sư tham lễ ngài Cửu phong Linh dược, thụ nghiệp nơi ngài Bạch vân Tây thức và nối pháp ngài Mẫn thụ Như tướng ở Tuân thành (Tứ xuyên). Sau sư lại trở về hầu ngài Bạch vân Tây thức. Năm Khang hi thứ 6 (1667), sư trụ trì viện Thọ thế ở Quí châu. Không rõ năm tịch và tuổi thọ của sư. Sư để lại tác phẩm: Kiềm linh xích tùng Lãnh thiền sư ngữ lục 5 quyển.
đạo lưu
The stream of Truth; the flow or progress of Buddha-truth; the spread of a particular movement, e.g. Thiền tông.
; Dòng chân lý, hay dòng tiến đến chân lý Phật, hay Thiền Tông—The stream of truth; the flow or progress of Buddha-truth; the spread of a particular movement, e.g. the Ch'an school.
đạo lương
5635(1608~1691)明末清初黃檗宗僧。杭州錢塘人,俗姓陳。字澄一。爲木菴性瑫之法嗣,永曆九年(1655,即日本明曆元年)東渡日本,住於長崎東明山興福寺,次年繼主逸然性融之席,爲第四世之住持。又創建永福庵,招請心越興儔渡日。元祿四年示寂,世壽八十四。師通達醫術、本草學。門下有上野玄貞、石原鼎菴、今井弘濟等。〔黃檗東渡僧寶傳卷下、黃檗宗系譜卷二〕
đạo lạc
5657(1640~?)明末清初臨濟宗僧。貴州思南印江人,俗姓楊。字不厭。三十一歲參禮敏樹如相,得度受具足戒,一年後敏樹入寂,師乃參謁華嚴聖可德玉。康熙十五年(1676),歸黔省母,受請住持貴州興隆衛龍山寺三年。後遇兵亂,退居高腾山一年。二十三年出蜀,駐錫遵義府玉泉寺。翌年,聞聖可德玉寓瀘州(四川)方山,省覲得法。二十八年,住重慶華岩寺。世壽不詳。著有華岩不厭樂禪師語錄三卷。
; The joy of religion.
; Niềm vui tôn giáo (tu hành)—The joy of religion.
; (道樂) (1640 - ?) Vị Thiền tăng tông Lâm tế ở cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Ấn giang, Tư nam, tỉnh Quí châu, họ Dương, tự Bất yếm. Năm 31 tuổi, sư lễ ngài Mẫn thụ Như tướng xin xuất gia và được thụ giới Cụ túc. Một năm sau, ngài Mẫn thụ nhập tịch, sư bèn tham học ngài Thánh khả Đức ngọc ở viện Hoa nghiêm. Năm Khang hi 15 (1676), sư về quê thăm mẹ, được thỉnh làm Trụ trì chùa Vệ long sơn ở Hưng long, Quí châu, trong ba năm. Sau vì loạn lạc, sư về ẩn ở núi Cao đồn một năm. Năm Khang hi 23 (1684), sư ra đất Thục ở chùa Ngọc tuyền phủ Tuân nghĩa. Năm sau, nghe ngài Thánh khả Đức ngọc đang ở Phương sơn Lô châu (tỉnh Tứ xuyên), sư liền đến viếng thăm, nhờ đó được tỏ ngộ. Năm Khang hi 28 (1689), sư ở chùa Hoa nham tại Trùng khánh. Không rõ tuổi thọ. Sư có tác phẩm: Hoa nham bất yếm Lạc thiền sư ngữ lục 3 quyển.
đạo lực
5621由道體所發出無畏之力用,稱爲道力。楞嚴經卷一(大一九‧一○六下):「阿難見佛,頂禮悲泣,恨無始來一向多聞,未全道力。」大智度論卷二(大二五‧六六下):「阿難聞是事,悶心小醒,得念道力助。」
; The power which comes from enlightenment, or the right doctrine.
; Năng lực đến từ sự giác ngộ—The power which comes from enlightenment or the right doctrine.
; (道力) Từ đạo thể phát sinh ra lực dụng vô úy gọi là Đạo lực. Kinh Lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 106 hạ), nói: A nan thấy Phật, đính lễ buồn khóc, giận mình từ vô thủy đến nay chỉ chuyên nghe nhiều, chưa tròn đạo lực. Luận Đại trí độ (Đại 25, 66 hạ), nói: A nan nghe việc ấy, tâm liền tỉnh ngộ, nên được niệm đạo lực trợ giúp.
đạo minh
5634<一>唐代僧。乃五祖弘忍之弟子蒙山慧(惠)明。(參閱「慧明」6032)[1] <二>唐代僧。爲黃檗希運之法嗣,有陳蒲鞋、陳尊宿之稱。(參閱「睦州道明」5537)
đạo minh thiền sư
Zen Master T'ao-Ming—See Trần Tôn Túc Đạo Minh Thiền Sư.
đạo mân
5633(1596~1674)清初臨濟宗僧。廣東潮陽人,俗姓林。字木陳,號山翁、夢隱。始修儒學,仕宦後,讀佛典,遂依廬山開先寺若昧智明剃髮。後以父母執意,還俗成婚,舉一子,二十七歲再度剃髮,從憨山德清受具足戒。遊諸方,於四明山天童寺嗣密雲圓悟之法,崇禎十五年(1642)圓悟示寂,師乃繼之主天童寺。順治三年(1646)退居慈谿五磊山,不久移住廣潤寺,十四年復返天童寺。十六年,世祖召師說法,賜號「弘覺禪師」。晚年隱棲於會稽化鹿山。康熙十三年示寂,世壽七十九。嗣法者爲天嶽本畫。著有弘覺忞禪師語錄二十卷,入於清朝之龍藏。此外另有弘覺忞禪師北遊集六卷、奏對錄、山翁忞禪師隨年自譜、詩文集等。其中,北遊集一書被清世宗視爲不敬乖謬之書而銷燬;隨年自譜則收載於新加坡馬來亞大學東方學報一之一。〔天童寺續志、澉水志卷六、湖州府志卷九十一、宗統編年卷三十二〕
; 5633(1047~1114)宋代臨濟宗黃龍派僧。興化(福建)仙遊人,俗姓蔡。世稱古佛。從景德寺德祥出家得度,參學諸方,於溈山慕喆處依止最久。晚年,師事泐潭應乾,嗣其法。後於灌溪宏法,教導眾生。賜號「圓機禪師」。政和四年示寂,世壽六十八。〔五燈會元卷十八、大明高僧傳卷七〕
; (道忞) (1596 - 1674) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở đầu đời Thanh, người huyện Triều dương, tỉnh Quảng đông, họ Lâm, tự Mộc trần, hiệu Sơn ông, Mộng ẩn. Lúc đầu, sư theo Nho học và ra làm quan, sau sư đọc kinh Phật, hiểu lẽ vô thường, sư bèn xin từ quan và theo ngài Nhược muội Trí minh xuất gia ở chùa Khai tiên tại Lô sơn. Sau vì cha mẹ bắt buộc, sư phải hoàn tục để lập gia đình và sinh được một con. Năm 27 tuổi, sư lại xuất gia theo ngài Hám sơn Đức thanh thụ giới Cụ túc. Sư đi tham học các nơi, sau nối pháp ngài Mật vân Viên ngộ ở chùa Thiên đồng, núi Tứ minh. Năm Sùng trinh 15 (1642), ngài Viên ngộ thị tịch, sư được thừa kế làm Trụ trì chùa Thiên đồng. Năm Thuận trị thứ 3 (1646), sư lui về ở núi Ngũ lỗi tại Từ khê, không bao lâu, sư dời đến chùa Quảng nhuận. Năm Thuận trị 14 (1657), sư lại trở về chùa Thiên đồng. Năm Thuận trị 16 (1659), vua Thế tổ thỉnh sư thuyết pháp, ban hiệu là Hoằng giác Thiền sư. Cuối đời, sư ẩn tu ở núi Hóa lộc tại Cối kê. Năm Khang hi 13 (1674) sư tịch, thọ 79 tuổi. Sư có các tác phẩm: Hoằng giác Mân thiền sư ngữ lục 20 quyển được thu vào Long tạng của triều Thanh, Hoằng giác Mân thiền sư Bắc du tập 6 quyển, Tấu đối lục, Sơn ông Mân thiền sư tuỳ niên tự phổ, Thi văn tập v.v... Trong đó, bộ Bắc du tập bị Thanh thế tổ xem như sai lầm và bị thiêu hủy. [X. Thiên đồng tự tục chí; Hồ châu phủ chí Q.91; Tông thống biên niên Q.32].
đạo môn
The gate of the Way, or the truth, religion etc.; the various schools of Buddhism.
; 1) Cổng vào đạo: The gate of the Way or of truth, religion, etc. 2) Những tông phái khác nhau trong đạo Phật: The various schools of Buddhism.
Đạo Mạng
(道命, Dōmyō, 1771-1812): học Tăng của Phái Bổn Nguyện Tự thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ; húy là Đạo Mạng (道命); xuất thân vùng Cảnh Cố Ốc (警固屋, Kegoya), An Nghệ (安芸, Aki, thuộc Hiroshima-ken [廣島縣]); họ Hà Dã (河野, Kawano). Năm 1791, ông kế thừa Hiển Đạo (顯道) ở Đức Chánh Tự (德正寺), An Nghệ, làm Trú Trì chùa này và theo học với Đại Doanh (大瀛) ở Thắng Viên Tự (勝圓寺) trong vùng. Khi Tăng Duệ (僧叡) tuyên xướng thuyết Hoằng Nguyện Trợ Chánh (弘願助正), ông viết cuốn Hành Tín Nghĩa Trợ Chánh Tiên (行信義助正箋) để phê phán và nổ lực hiển dương thuyết của Đại Doanh. Năm 1883, ông được truy tặng chức Ty Giáo. Trước tác của ông có Hành Tín Nghĩa Trợ Chánh Tiên (行信義助正箋) 1 quyển, Nhập Xuất Nhị Môn Kệ Tương Vọng Biên (入出二門偈相忘編) 4 quyển, Đại Kinh Tàm Quý Biên (大經慚愧編) 1 quyển, Hành Tín Nghĩa (行信義) 1 quyển, v.v.
đạo mật
5642(1588~1658)明代曹洞宗僧。泗州(安徽)人,俗姓唐。號嵩乳,世稱嵩乳道密禪師。年十四,投景會出家,遍歷講肆,博覽經論。偶閱楞嚴,深有所感,遂發心參究。歷參壽昌寺無明慧經、雲門山湛然圓澄、金粟寺費隱通容後,復師事博山無異元來。一日,隨眾採茶時,忽睹澗底白雲飛起而有省。歸後,呈所悟於來公,得蒙印可,並爲其命名受戒。師於是辭山,結茅於郁洲山,潛修數年,始開法於淮安(安徽)古檀度寺。後歷住於安東能仁寺、徐州龍雲寺、青峰之菩提社等諸剎。清順治十五年三月示寂,世壽七十一,僧臘五十八。〔五燈全書卷六十三、正源略集卷三、續燈正統卷四十〕
đạo nghiệp
5652又作道行。學道修行之意,特指佛道之修行,或成就佛果之因行。此外,「道」之一詞亦含二義:(一)果道,與「菩提」同義,即指得菩提之行業。(二)因道,即指能通達至佛果之行業。故知「道」與「業」概爲同義之詞。〔安樂集卷下(道綽)〕
; The karma of religion which leads to Buddhahood.
; Những thiện nghiệp dẫn tới Phật quả như tu trì, giữ giới, thực tập thiền định (đối lại với phúc nghiệp như bố thí, cúng dường): The karma of religion which leads to Buddhahood, i.e to observe moral precepts, and to practise meditation.
; (道業) Cũng gọi Đạo hạnh. Hàm ý tu hành Phật đạo, hoặc là nhân hạnh thành tựu Phật quả. Đạo cũng còn có hai nghĩa: 1. Quả đạo, đồng nghĩa với Bồ đề, chỉ cho hạnh nghiệp đạt được Bồ đề. 2. Nhân đạo: Chỉ cho hạnh nghiệp thông suốt đến Phật quả. Chữ Đạo ở đây đại khái cũng đồng nghĩa với chữ Nghiệp. [X. An lạc tập Q.hạ (Đạo xước)].
đạo nghĩa
5653新羅僧。朝鮮佛教禪門九山迦智山派之祖。北漢郡人。號明寂。宣德王五年(784)來唐,於廣府之寶壇寺受具足戒,其後師事洪州(江西)開元寺西堂智藏,又參謁百丈懷海。憲德王十三年(821)歸國,於全羅南道長興郡迦智山寶林寺弘揚南頓之旨,蔚成迦智山派。生卒年不詳。〔祖堂集卷十七、景德傳燈錄卷九〕
; Moral principle.
Đạo Nguyên
(道元, Dōgen, 1200-1253): vị tăng sống vào đầu thời kỳ Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), tổ sư khai sáng ra Tào Động Tông Nhật Bản, húy là Hy Huyền (希玄), xuất thân vùng Kyoto (京都), họ là Nguyên (源), con của vị Nội Đại Thần Cửu Ngã Thông Thân (內大臣久我通親), mẹ là con gái của Cửu Điều Cơ Phòng (九條基房). Năm lên 3 tuổi, ông mất cha, rồi đến 8 tuổi thì mất mẹ. Năm lên 13 tuổi, ông theo xuất gia với Lương Quán (良觀) trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), ở tại Bát Nhã Cốc Thiên Quang Phòng (般若谷千光房) thuộc Thủ Lăng Nghiêm Viện (首楞嚴院) vùng Hoành Xuyên (横川, Yokogawa), đến năm sau ông thọ giới với vị Tọa Chủ Công Viên (公圓). Sau đó, ông đến tham học với Trường Lại Công Dận (長吏公胤) ở Viên Thành Tự (圓城寺), và thể theo lời dạy của vị này, ông đến Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji), theo hầu môn hạ của Vinh Tây (榮西, Eisai) là Minh Toàn (明全, Myōzen). Vào năm thứ 2 (1223) niên hiệu Trinh Ứng (貞應), ông cùng với Minh Toàn sang nhà Tống cầu pháp, dừng chân ở Thiên Đồng Sơn Cảnh Đức Tự (天童山景德寺), rồi lại đi tham bái các chùa khác như Dục Vương Sơn Quảng Lợi Tự (育王山廣利寺), nhưng cuối cùng rồi cũng quay về Thiên Đồng Sơn. Chính nơi đây ông gặp được Trưởng Ông Như Tịnh (長翁如淨) và được vị này ấn khả cho. Vào năm đầu (1227) niên hiệu An Trinh (安貞), ông trở về nước. Sau khi trở về, ông tạm thời lưu trú tại Kiến Nhân Tự một thời gian, rồi đến năm đầu (1229) niên hiệu Khoan Hỷ (寬喜), ông đến trú tại An Dưỡng Viện (安養院) ở vùng Thâm Thảo (深草, Fukakusa) ở kinh đô Kyoto. Vào năm đầu (1233) niên hiệu Thiên Phước (天福), thể theo lời thỉnh cầu của Đằng Nguyên Giáo Gia (藤原敎家) và vị ni Chánh Giác (正覺), ông khai sáng Quan Âm Đạo Lợi Viện Hưng Thánh Bảo Lâm Tự (觀音道利院興聖寳林寺) ở vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro) và sống tại đây hơn 10 năm. Đến năm đầu (1243) niên hiệu Khoan Nguyên (寬元), đáp ứng lời thỉnh cầu của Ba Đa Dã Nghĩa Trọng (波多野義重), ông lên Chí Tỉ Trang (志比莊) ở vùng Việt Tiền (越前, Echizen, thuộc Fukui-ken [福井縣]), dừng chân ở tại thảo am Cát Phong Cổ Tự (吉峰古寺). Năm sau ông phát triển nơi đây thành Đại Phật Tự (大佛寺, Daibutsu-ji) và bắt đầu khai đường thuyết pháp giáo hóa, và hai năm sau nữa ông đổi tên chùa thành Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji). Hậu Tha Nga Pháp Hoàng (後嵯峨法皇) có ban tặng Tử Y cho ông, nhưng ông cố từ không nhận. Vào mùa hè năm thứ 4 niên hiệu Kiến Trường (建長), ông nhuốm bệnh, rồi đến tháng 7 năm sau ông giao hết mọi chuyện lại cho đệ tử Cô Vân Hoài Trang (孤雲懷奘), và vào ngày 28 tháng 8 năm này (1253), ông thị tịch trên kinh đô, hưởng thọ 54 tuổi. Trước tác của ông có bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏) 95 quyển, Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi (普勸坐禪儀) 1 quyển, Học Đạo Dụng Tâm Tập (學道用心集) 1 quyển, Vĩnh Bình Thanh Quy (永平清規) 2 quyển, Vĩnh Bình Quảng Lục (永平廣錄) 10 quyển, Tản Tùng Đạo Vịnh (傘松道詠), v.v. Vào năm thứ 7 (1854) niên hiệu Gia Vĩnh (嘉永), ông được Hiếu Minh Thiên Hoàng (孝明天皇) ban cho thụy hiệu là Phật Tánh Truyền Đông Quốc Sư (佛性傳東國師), rồi đến năm thứ 11 niên hiệu Minh Trị (明治), ông lại được ban cho thụy hiệu là Thừa Dương Đại Sư (承陽大師). Trong Tào Động Tông Nhật Bản, ông được gọi là Cao Tổ.
đạo nguyên
5622<一>謂正道之根元。唐譯華嚴經卷十四(大一○‧七二中):「信爲道元功德母,長養一切諸善法。」 <二>宋代臨濟宗楊岐派僧。號徹庵,原名五斗。綿州(四川)人,俗姓鄧。幼歲入於降寂寺出家,先後參謁大別心道、佛鑑佛眼。後隨圓悟克勤,並嗣其法,繼師席,主持昭覺寺。生卒年不詳。〔嘉泰普燈錄卷十四、五燈會元卷十九〕 <三>(1200~1253)日本曹洞禪之開祖。諱希玄。俗姓源。又稱永平道元。十三歲,投比叡山之良顯出家,習天台教義。建保二年(1214),至京都建仁寺謁見榮西。建保五年,師事榮西之門人明全,深究顯密奧旨,兼習律藏威儀。貞應二年(1223),與明全相偕來宋,直上四明天童山,時爲寧宗嘉定十六年。先後參禮無際了派、浙翁如琰、盤山思卓等,歷訪天台雁山、平田萬年、慶元護聖等諸剎,終以因緣不契而返天童山。後與長翁如淨相見,豁然大悟,抖落從來所疑,得如淨之印可,如淨且授予芙蓉道楷傳來之袈裟、竹篦、白拂、寶鏡三昧、五位顯訣,及自贊之頂相。歸返日本後,凡十五年,居止於京都一帶,然因受到比叡山舊佛教之迫害,遂移居越前之山奧,創建永平寺,大揚曹洞禪,提倡「只管打坐」之實踐法門,後人稱其禪風爲默照禪。並撰著正法眼藏九十五卷、永平清規二卷、學道用心集、永平廣錄十卷、普勸坐禪儀、隨聞記等。建長五年八月示寂,世壽五十四。諡號「佛性傳東國師」、「承陽大師」。嗣法弟子有懷奘、僧海、詮慧、法明等。〔傳光錄卷下、延寶傳燈錄卷一、日本洞上聯燈錄卷一〕
; 5639宋代法眼宗僧。嗣天台德韶國師之法,爲南嶽第十世,住蘇州(江蘇)承天永安院。撰景德傳燈錄一書,於宋真宗景德元年(1004)奉進,帝勅入藏。或謂該書本爲湖州鐵觀音院僧拱辰所撰,既成,將遊京師投進,途中與一僧同舟,出示之。一夕,其僧負之去。及拱辰至京都,則道原者已將書上進而被賞。故世傳景德傳燈錄一書爲沙門道原纂,確否莫辨。生卒年不詳。〔廣燈錄卷二十七、五燈會元卷十、佛祖統紀卷四十四、佛祖歷代通載卷二十六〕
; 5653(1900~1988)河南商水人,俗姓王。法名能信,別號中輪。二十歲依周口鎮普靜堂隆品法師剃度。二十四歲,赴湖北漢陽歸元寺,依覺清律師受具足戒。後隨侍慈舟法師赴蘇州靈巖山,創建淨土宗道場。歷參太虛、印光、圓瑛等大德。曾在大陸、臺灣各地佛學院宣講佛學,且擔任十數次傳戒阿闍黎,以弘法講經馳名。歷任中國佛教會察哈爾分會理事長、屏東東山佛學院院長、中國佛教會理事長及臺灣八堵海會寺開山住持。嘗創辦能仁佛學院,作育僧才。民國七十七年示寂,世壽八十九。
; The beginning of right doctrine, i.e. faith.
; 1) Bắt đầu chánh pháp—The beginning of the right doctrine. 2) Dogen—Tên người sáng lập ra Thiền Tào Động của Nhật Bản. Ngài nổi tiếng không phải chỉ vì đạo hạnh nghiêm túc của ông là một trong những triết gia xuất chúng của Nhật Bản. Ông đặt ra các qui định về giới luật của các tu viện Thiền tông và đã được tất cả các tín đồ của Phật giáo Thiền tông Nhật Bản chấp nhận. Trong số các bài thuyết pháp của ông thì bài “Chánh Pháp Nhãn Tạng” được xem là một trong những cuốn sách triết lý xuất sắc của Nhật Bản—Name of the founder of the Soto Zen sect in Japan. He is known not only for his religious character but also as one of the most prominent philosophers of Japan. He laid down rules of conduct in Zen monasteries which were accepted by all followers of Zen Buddhism in Japan. Among his discourses, the most important is called “The Essence of the True Doctrine,” which is considered to be one of the most eminent philosophical works in Japan.
; (道原) Vị Thiền sư thuộc tông Pháp nhãn ở đời Tống, nối pháp Quốc sư Thiên thai Đức thiều, là đời thứ 10 thuộc pháp hệ Nam nhạc. Sư soạn bộ Cảnh đức truyền đăng lục ở viện Vĩnh an tại Thừa thiên thuộc Tô châu (Giang tô) dâng lên vua Chân tông và, vào niên hiệu Cảnh đức năm đầu (1004), vua ban sắc chỉ nhập tạng. Lại có thuyết cho rằng sách này do ngài Củng thần soạn ở viện Thiết Quan âm tại Hồ châu. Khi soạn xong, ngài mang lên kinh đô dâng vua. Lúc đi đường, có đưa cho một vị tăng cùng đi xem, đêm lại, vị tăng ấy mang đi mất. Khi ngài Củng thần đến kinh đô thì ngài Đạo nguyên đã dâng sách và được thưởng. Bởi thế, bộ Cảnh đức truyền đăng lục có phải là do ngài Đạo nguyên biên soạn hay không vẫn chưa thể xác minh được. [X. Quảng đăng lục Q.27; Ngũ đăng hội nguyên Q.10; Phật tổ thống kỉ Q.44; Phật tổ lịch đại thông tải Q.26].
; (道元) I. Đạo Nguyên. Nguồn gốc của chính đạo. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch đời Đường) quyển 14 (Đại 10, 72 trung), nói: Tín là nguồn gốc của đạo, là mẹ của các công đức, có thể nuôi lớn tất cả các pháp lành. II. Đạo Nguyên (1200 - 1253). Tổ khai sáng của tông Tào động Nhật bản, họ Nguyên, tên Hihuyền, cũng gọiVĩnh bình Đạo nguyên. Năm 13 tuổi, sư y vào ngài Lương hiển xuất gia ở núi Tỉ duệ, học giáo nghĩa Thiên thai. Năm 1214, sư đến Kinh đô (Kyoto) yết kiến ngài Vinh tây. Năm 1217, sư theo ngài Đạo Mân Minh toàn là đệ tửcủa ngài Vinh tây, nghiên cứu ý chỉ sâu xa của Hiển Mật và Luật tạng. Năm 1223, sư cùng với ngài Minh toàn đến Trung quốc lên núi Thiên đồng ở Tứ minh, lần lượt tham lễ các ngài Vô tế Liễu phái, Triết ông Như diễm, Bàn sơn Tư trác v.v... và tham học ở các đạo tràng Thiên thai nhạn sơn, Bình điền vạn niên, Khánh nguyên hộ thánh, nhưng không khế hợp, sư lại trở về núi Thiên đồng. Sau, sư yết kiến ngài Trường ông Như tịnh, bỗng nhiên đại ngộ, dứt sạch mối ngờ, được ngài Như tịnh ấn khả và trao cho ca sa, trúc bề, bạch phất, sách Bảo kính tam muội, Ngũ vị hiển quyết mà ngài Phù dung Đạo khải đã truyền lại. Sau khi trở về Nhật bản, sư ở tại Kinh đô (Kyoto) 15 năm, nhưng vì chướng duyên nên sư dời đến Sơn áo tại Việt tiền, sáng lập chùa Vĩnh bình, hoằng dương pháp Thiền Tào động, đề xướng pháp môn Chỉ quản đả tọa, do đó, người đời sau gọi Thiền phong của sư là Mặc chiếu thiền. Năm Kiến trường thứ 5 (1253) sư tịch, thọ 54 tuổi, thụy hiệu là Phật tính truyền đông quốc sư, Thừa dương đại sư. Tác phẩm có: Chính pháp nhãn tạng 95 quyển, Vĩnh bình thanh qui 2 quyển, Học đạo dụng tâm tập, Vĩnh bình quảng lục 10 quyển, Phổ khuyến tọa thiền nghi, Tùy văn kí. [X. Truyền quang lục Q.hạ; Diên bảo truyền đăng lục Q.1; Nhật bản động thượng liên đăng lục Q.1].
Đạo Nguyên Hi Huyền
道元希玄; J: dōgen kigen; 1200-1253, cũng được gọi là Vĩnh Bình Ðạo Nguyên (j: eihei dō-gen) vì Sư có công khai sáng Vĩnh Bình tự;|Một trong những Thiền sư quan trọng nhất của Nhật Bản, người đưa dòng Thiền Tào Ðộng (j: sōtō) qua đây. Sư được Phật tử của tất cả các tông thờ phụng như một Ðại Bồ Tát.|Sư thường bị hiểu lầm là một triết gia với quan điểm »thâm sâu và quái dị nhất« Nhưng những gì Sư viết không xuất phát từ những suy luận về thật tại mà từ sự trực chứng thật tại đó.|Năm 1233 Sư sang Trung Quốc và được Trường Ông Như Tịnh Thiền sư ở Thiên Ðồng sơn, Minh Châu hướng dẫn đạt diệu tâm của dòng Tào Ðộng. Năm 1227 trở lại Nhật, Sư sống 10 năm ở Kinh Ðô (j: kyōto). Nhằm tránh ảnh hưởng của triều đình Nhật, Sư rút về sống viễn li trên núi. Tác phẩm chính và nổi tiếng nhất của Sư là Chính pháp nhãn tạng (j: shōbōgenzō) – được xem là một kiệt tác của Thiền tông Nhật Bản. Theo quan điểm của dòng Tào Ðộng, Ðạo Nguyên cho rằng phép im lặng Toạ thiền (Mặc chiếu thiền) rất quan trọng. Mặt khác Sư cũng không hề từ chối phép tham quán Công án được truyền dạy trong dòng Lâm Tế (j: rinzai). Bản thân Sư cũng góp nhặt khoảng 300 công án Thiền, luận giải cho từng công án đó trong tác phẩm Niêm bình tam bách tắc (j: nempyo sambyaku-soku). Các tác phẩm khác của Sư – khác với Chính pháp nhãn tạng – chỉ mang tính chất nhập môn. Môn đệ kế thừa Sư là Cô Vân Hoài Trang (j: koun ejō).|Sư sinh ra trong một gia đình quý phái, thời thơ ấu đã chứng tỏ có một đầu óc xuất sắc. Lên bốn Sư đã đọc thơ Ðường và lên chín đã đọc được một bài luận về A-tì-đạt-ma. Cha mẹ mất sớm làm Sư ngộ lẽ vô thường và trở thành tăng sĩ. Mới đầu, Sư học giáo pháp của Thiên Thai tông. Năm mười lăm tuổi, Sư bị câu hỏi sau đây dày vị: »Nếu quả thật, như kinh dạy, thể tính của ta đã là Bồ-đề, thì sao Chư Phật còn phải tu học để giác ngộ?« Sư tìm học với Minh Am Vinh Tây Thiền sư, là người đã đưa dòng Thiền Lâm Tế từ Trung Quốc qua Nhật Bản. Vinh Tây trả lời câu hỏi của Sư: »Chư Phật không ai biết mình có Phật tính, chỉ có súc sinh mới biết mình có Phật tính.« Sư nghe đây có tỉnh và sau đó học đạo với Vinh Tây, nhưng quá trình tu học này không kéo dài được lâu vì Vinh Tây tịch ngay trong năm đó. |Dù đã tiến xa, Sư vẫn khắc khoải và cuối cùng cất bước lên đường sang Trung Quốc bằng đường biển, một chuyến đi đầy hiểm nguy thời đó. Sư tham vấn nhiều Thiền sư, học hỏi nhiều phép tu nhưng cuối cùng, tại chùa Thiên Ðồng, Sư mới đại ngộ qua câu nói của Thiên Ðồng Như Tịnh: »Ngươi hãy xả bỏ thân tâm.«|Hai năm sau ngày đại ngộ, Sư mới trở về Nhật và thành lập dòng Tào Ðộng ở đây. Trong buổi lễ khánh thành thiền viện đầu tiên tại Nhật – Hưng Thánh Pháp Lâm tự (j: kōshōhárin-ji) – Sư thượng đường với những câu sau: »Ta chẳng tu học tại nhiều thiền viện. Nhưng khi ta yết kiến Ðại sư Như Tịnh thì ta thông hiểu tường tận, trực nhận rằng: lỗ mũi đứng thẳng và hai con mắt nằm ngang. Từ bấy giờ ta chẳng còn bị ai lừa bịp. Với hai bàn tay trắng ta trở về cố hương và vì vậy ta chẳng có chút gì có thể gọi là Phật pháp cả. Ta sống theo nhịp điệu của thời gian: buổi sáng mặt trời mọc ở hướng Ðông và buổi tối trăng lặn ở phía Tây. Mây tan núi hiện, sau cơn mưa thì núi có vẻ thấp hơn bình thường – là thế nào?… Hễ bốn năm thì có một năm nhuận, gà gáy buổi sáng.« Sư đứng im một lúc rồi bước xuống.|Năm 1243, Sư rời Hưng Thánh tự và đến vùng Ichizen để một năm sau đó thành lập Vĩnh Bình tự. Năm 1253, Sư viên tịch.|Các tác phẩm quan trọng của Sư còn được lưu lại: 1. Phổ khuyến toạ thiền nghi (fukanzanzengi), 2. Học đạo dụng tâm tập (gakudōyōjinshū), 3. Ðiển toạ giáo huấn (tenzōkyōkun), 4. Vĩnh Bình quảng lục (eihei kōroku), cũng được gọi là Ðạo Nguyên Hoà thượng quảng lục (dōgen ōshō kōroku), 5. Chính pháp nhãn tạng tuỳ văn kí (shōbōgenzō-zuimonki), 6. Chính pháp nhãn tạng tam bách tắc (shōbōgenzō-sambyakusoku), 7. Chính pháp nhãn tạng (shōbōgenzō), 95 quyển.
đạo ngân
5657<一>唐代淨土宗僧。籍貫、生卒年均不詳。爲道綽之弟子。於道綽入寂後,在玄中寺之石壁畫阿彌陀、觀音、勢至三尊像,晝夜禮拜,遶道綽之墳,祈求示現往生靈驗,臨終時,正念端坐,合掌向西,遂成就往生淨土之素懷。此後,山西并州一帶禮拜西方變相,祈求往生淨土者甚多。師之事蹟,於觀無量壽經疏、東域傳燈目錄(義天)、淨土依憑經論章疏目錄(長西)等書多有引用。〔淨土宗全書卷二、卷三〕 <二>(1585~1637)明代曹洞宗僧。上饒(江西)人,俗姓傅。號雪關。閱六祖壇經起疑情,禮博山無異元來爲師,掩關六年後,受元來之法。崇禎二年(1629)住瀛山(四川),五年住信州(江西)博山、福州鼓山湧泉寺,九年住杭州武林虎跑定慧寺,重興妙行寺。十年十一月示寂,世壽五十三。建塔於博山蓮花峰之西。〔五燈全書卷六十三、佛祖道影卷三〕
đạo ngô
5628<一>(769~835)唐代僧。豫章(江西)海昏人,俗姓張。世稱道吾圓智,五燈會元卷五稱之爲宗智。幼時依涅槃和尚出家,後投藥山惟儼門下,得其心印而嗣其法。歷訪諸山,至潭州(今湖南長沙)道吾山,大振禪風。唐太和九年示寂,世壽六十七。諡號「修一大師」。〔祖堂集卷五、聯燈會要卷十九、景德傳燈錄卷十四〕 <二>五代僧。福州閩縣人。號從盛。爲羅山道閑之法嗣。出家於長生山,受戒後遊方,參見羅山而頓契玄機。初於高安(江西)龍回寺舉揚宗風,後於潭州道吾山接化眾生。世壽不詳。〔祖堂集卷十二、景德傳燈錄卷二十三〕 <三>宋代僧。籍貫不詳。號悟真。爲石霜楚圓之法嗣。住於潭州道吾山興化寺。著有潭州道吾真禪師語要一卷,收於古尊宿語要卷三、古尊宿語錄卷十九。〔建中靖國續燈錄卷七〕
đạo ngô khán bệnh
5629禪宗公案名。爲百丈懷海之法嗣溈山靈祐與道吾圓智之問答。從容錄第八十三則(大四八‧二八○中):「溈山問道吾:『什麼處來?』吾云:『看病來。』山云:『有幾人病?』吾云:『有病者、不病者。』山云:『不病者莫是智頭陀麼?』吾云:『病與不病,總不干他事。速道!速道!』山云:『道得也沒交涉。』」此則公案之重點在「病與不病,總不干他事」一語,此即本來面目之意。溈山問道吾從何處來,道吾知其要求本來面目,遂答以如上之語,意謂「本來面目非求而能得,若欲求得本來面目,即是病根」。
đạo ngô khởi bái
5629禪宗公案名。爲道吾圓智表示其禪旨真髓之公案。景德傳燈錄卷十四(大五一‧三一四下):「問:『如何是和尚家風?』師下禪床,作女人拜曰:『謝子遠來,都無祇待。』」家風即指道吾禪旨之真髓。作女人拜,即尊重之禮拜。無祇待,即無言可說。道吾作女人拜而謂都無祇待,此係表示道吾之禪旨不能以言語分別來表現,唯於現實生活中如法生活以外,別無一物可言。
đạo ngô ngũ phong
5628禪宗公案名。爲道吾圓智與百丈懷海之法嗣五峰常觀問答之公案。五燈會元卷五道吾圓智章(卍續一三八‧八七上):「師到五峰,峰問:『還識藥山老宿否?』師曰:『不識。』峰曰:『爲什麼不識?』師曰:『不識!不識!』」此公案重點在「不識」一語。不識非不知之意,乃是顯現言詮不及、非思量之本體;此「非思量」即藥山之本來面目。
đạo ngô nhất gia điếu uỷ
5628禪宗公案名。又作道吾不道不道。爲道吾圓智禪師與其弟子漸源仲興問答之公案。碧巖錄第五十五則(大四八‧一八九上):「道吾與漸源至一家弔慰,源拍棺云:『生邪?死邪?』吾云:『生也不道,死也不道。』源云:『爲什麼不道?』吾云:『不道!不道!』回至中路,源云:『和尚快與某甲道,若不道,打和尚去也。』吾云:『打即任打,道即不道。』源便打。後,道吾遷化,源到石霜,舉似前話,霜云:『生也不道,死也不道。』源云:『爲什麼不道?』霜云:『不道!不道!』源於言下有省。」蓋真如之實際,生時即已現成,死時亦已現成;生時,生之全機現;死時,死之全機現。而當漸源拍棺木問時,則真如實際之全機已現,漸源不解,直至石霜處,始痛切思知道吾之親切爲人。
đạo ngô trang quỷ
5630禪宗公案名。禪苑蒙求卷上(卍續一四八‧一○四下):「三聖到道吾,吾預知,以緋抹額,持神杖於門下立,聖曰:『小心祇候!』吾應喏。聖參堂了,再上人事,吾具威儀方丈內坐。聖纔近前,吾曰:『有事相借問,得麼?』聖曰:『也是適來野狐精,出去!』」鬼,指山門之守護神。道吾因預知素以機鋒俊敏而聞名之三聖慧然將上山來,故裝扮成山門之守護神(鬼)在門前應對,因三聖態度謹慎,故允許其入門。三聖參堂之後,入方丈拜見道吾,道吾本欲詢問其所悟之旨,反被三聖識破,而被戲稱爲「野狐精」,機鋒頓失。
đạo ngô tương kiến
5629禪宗公案名。爲道吾圓智與雲巖曇晟之問答。景德傳燈錄卷十四(大五一‧三一四中):「師見雲巖不安,乃謂曰:『離此殼漏子,向什麼處相見?』巖云:『不生不滅處相見。』師曰:『何不道非不生不滅處亦不求相見?』」道吾探雲巖之病時問其「死後變什麼」,雲巖告以「死就是隨順不生不滅之道理而已」。此答過於直實,故道吾反問其「何不說不生不滅之道理以外,無論如何亦不能隨順」。
Đạo Ngô Viên Trí
(道吾圓智, Dōgo Enchi, 769-835): xuất thân vùng Hải Hôn (海昏), Dự Chương (豫章, Tỉnh Giang Tây), họ là Trương (張). Lúc còn nhỏ, ông xuất gia với Hòa Thượng Niết Bàn (涅槃), rồi đến Dược Sơn (藥山), theo học với Duy Nghiễm (惟儼), được tâm ấn của thầy và kế thừa dòng pháp của vị này. Về sau, ông đi tham vấn khắp chốn thiền lâm, đến Đạo Ngô Sơn (道吾山) và nỗ lực cử xướng Thiền phong của mình. Vào ngày 11 tháng 9 năm thứ 9 (835) niên hiệu Thái Hòa (太和), ông thị tịch, hưởng thọ 67 tuổi, được ban cho thụy hiệu là Tu Nhất Đại Sư (修一大師).
; 道吾圓智; C: dàowú yuánzhi; J: dōgo enchi; 768/69-835;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm, bạn đồng học với Thuyền Tử Ðức Thành và Vân Nham Ðàm Thạnh. Môn đệ xuất sắc của Sư là Thạch Sương Khánh Chư. Tắc 55. và 89 trong Bích nham lục nhắc đến Sư.|Sư họ Trương, quê ở Hải Hôn, Dự Chương. Lúc nhỏ, Sư theo Hoà thượng Bàn xuất gia. Sau Sư đến tham vấn Dược Sơn và được ấn khả.|Một hôm Dược Sơn hỏi Sư: »Ngươi đi đâu về?« Sư thưa: »Ði dạo núi về.« Dược Sơn bảo: »Chẳng rời thất này, đem gì về, nói mau!« Sư thưa: »Trên núi chim con đầu tựa tuyết, đáy khe cá lội lo chẳng cùng.«|Vân Nham Ðàm Thạnh hỏi Sư: »Bồ Tát Ðại Bi (Quán Thế Âm) dùng tay mắt nhiều lắm để làm gì?« Sư nói: »Như người giữa đêm vói tay lại sau mò chiếc gối.« Vân Nham nói: »Tôi hiểu.« Sư hỏi: »Ông hiểu thế nào?« Vân Nham: »Toàn thân là tay mắt.« Sư nói: »Nói đến tột cùng chỉ nói được tám phần.« Vân Nham hỏi lại: »Sư huynh thế nào?« Sư đáp: »Khắp thân là tay mắt« (Bích nham lục, 89).|Sư mắc bệnh, tăng chúng đến thăm hỏi. Sư bảo: »Có nhận chẳng đến, các ngươi có biết nó chăng?« Ðại chúng buồn thảm. Sư bảo: »Ta sẽ đi bên Tây, lí không rời bên Ðông.« Mùng mười tháng chín niên hiệu Thái Hoà năm thứ chín đời Ðường, Sư quy tịch. Vua sắc ban là Tu Nhất Ðại sư.
đạo ngô đắc côn
5630禪宗公案名。南泉普願某日以裩(腰卷)示眾僧言:「無色無相之法身,具備萬有之元素(地、水、火、風等四大)否?能解明此問題者,將此裩與之。」道吾答:「地大之性,異於空性,其他水火風亦如是。」南泉即將裩予以道吾。蓋法身與四大,立於平等門則同,立於差別門則異,此語乃立於差別門而言者。景德傳燈錄卷十四(大五一‧三一四中):「南泉示眾云:『法身具四大否?有人道得,與他一腰裩。』師云:『性地非空,空非性地,此是地大,三大亦然。』南泉不違前言,乃與師裩。」另禪苑蒙求卷下謂此公案乃藥山惟儼與道吾問答之公案。
đạo ngô đồng đạo giả phương tri
5629禪宗公案名。爲道吾圓智與某僧就無神通菩薩之蹤跡而往來問答之公案。聯燈會要卷十九(卍續一三六‧三七四上):「僧問:『無神通菩薩爲甚麼足跡難尋?』師云:『同道者方知。』云:『和尚還知麼?』師云:『不知。』云:『爲甚麼不知?』師云:『去!汝不會我語。』」僧問無神通菩薩之蹤跡,道吾答以「同道者方知」,意即親自爲無神通菩薩始能知其蹤跡。僧又問「和尚知否」,答「不知」。再追問「爲何不知」,道吾乃斥責之。蓋無神通菩薩之蹤跡乃非思量分別所能了知之對象,除非親自成爲無神通菩薩,否則分毫無從得知。
đạo ngưu
5166謂盜他人之牛,因不知使用方法,故不能得醍醐之味;以此譬喻僅知剽竊佛教文句者,不能獲得解脫之益。〔三論玄義〕
; (盜牛) Lấy trộm bò. Ví dụ người chỉ biết lấy trộm những câu văn trong kinh điển rồi học thuộc lòng để khoe khoang kiến thức, chứ không thực tu theo ý nghĩa trong kinh, nên không được lợi ích giải thoát. Cũng giống như người chỉ biết lấy trộm bò chứ không biết cách lấy sữa để làm ra đề hồ (fromage). [X. Tam luận huyền nghĩa].
đạo ngạn
5632(654~717)唐代僧。穎川(河南許昌)人,俗姓唐。年少好學,從文綱出家,堅修律義,深入禪慧,後常居會稽龍興寺,時號大和尚。中宗徵至京,入內道場,爲菩薩戒師,歷任白馬寺、中興寺、莊嚴寺、薦福寺、罔極寺等綱維總務,並與工部尚書張錫監造薦福寺。初江南一帶多行十誦律,罔知四分,師請帝詔勅執行南山律宗,於是四分律始行於江淮間。唐開元五年入寂,世壽六十四。〔宋高僧傳卷十四〕
Đạo Ngộ
道悟|Thiên Hoàng Ðạo Ngộ
đạo ngộ
5640<一>(738~819)唐代禪師。渚宮(湖北江陵)人,俗姓崔。十五歲出家,二十三歲參謁嵩山律德,其後又謁石頭希遷,參竅二年辭去,又入長安參禮南陽慧忠,後復謁見馬祖道一,於言下大悟。因馬祖之勸言,還至渚宮。寂於元和十三年四月,世壽八十二,僧臘六十三。後世稱爲「天王道悟」,以別於當世之「天皇道悟」。其法統,經龍潭、德山、雪峰,而出雲門、法眼二宗。以上係出自祖庭事苑卷一、佛祖歷代通載卷二十等所載。蓋有關天皇道悟與天王道悟之法統,諸禪籍史傳之記載,出入頗大,迄今未有定論,僅知諸種異說之由來,概源自雲門、臨濟二宗互爭曹溪之正統而起。〔禪林僧寶傳卷四、佛祖統紀卷二十九、教外別傳卷七〕(參閱「五家七宗」1128) <二>(748~807)唐代禪師。婺州東陽(浙江金華東陽)人,俗姓張。自幼神秀,長而謹愿,十四歲出家,二十五歲受具足戒。未久遊餘杭,參謁徑山國一,從問禪要,服勤五年而蒙印可。後又參訪馬祖道一、石頭希遷,盡得玄旨,乃棲止荊州當陽紫雲山。未久,應荊州天皇寺之請,駐錫而振復之,法席愈盛,世稱「天皇門風」。後寂於憲宗元和二年四月,世壽六十,僧臘三十五。後世稱爲「天皇道悟」,以別於同時代之禪師「天王道悟」。其法嗣爲龍潭崇信,崇信門下爲德山宣鑒;我國雲門、法眼二宗即出自宣鑒之法系。以上係出自宋高僧傳卷十、景德傳燈錄卷十四、傳法正宗記卷七等所載,然自景德傳燈錄以下之諸傳,均認爲天王道悟爲馬祖道一之嫡流,而雲門、法眼二宗則源自師之法系。〔林間錄卷上〕(參閱「五家七宗」1128) <三>(?~1107)宋代僧。三山秦溪人,俗姓祖。寂於徽宗大觀元年,世壽不詳。〔建州弘釋錄卷下〕 <四>(1151~1205)宋代僧。陝右蘭州人,俗姓寇。號佛光。出家於熊耳山,相傳爲郭子儀後身。時群盜盤踞劫民,道悟率眾盡破其穴,爲說偈,懓髮而釋之,由是數十里間,路不拾遺。大定(1161~1189)年中出主鄭州普照寺,又遷三鄉竹閣庵。寂於寧宗開禧元年,世壽五十五,僧臘三十九。〔補續高僧傳卷十二〕 <五>(1602~1682)清代僧。湖南長沙人,俗姓劉。寂於康熙二十一年,世壽八十一。〔旅泊菴稿卷二〕
đạo ngộ viên trí thiền sư
Zen master T'ao-Wu-Yuan-Zhi—See Viên Trí Đạo Ngô Thiền Sư.
đạo nha
The sprouts, or seddlings, of Buddha-truth.
; Những mầm nẩy Chân Lý—The sprouts or seedlings of Buddha-truth.
đạo nhan
5664(1094~1164)宋代臨濟宗大慧派僧。號卍庵。潼川(四川)飛鳥人,俗姓鮮于,乃名儒家系。幼年從淨安之諫律師試經得度,歷參名宿,受圓悟克勤之啟發,於徑山大慧宗杲處開悟。後歸雲頂,歷住薦福、報恩、白楊等寺,晚年移至江州(江西)東林寺。隆興二年示寂,世壽七十一。〔嘉泰普燈錄卷十八、宗門統要續集卷二十二〕
đạo nho
Confucianism.
đạo nhàn
5651五代僧。福建長谿人,俗姓陳。爲巖頭全
đạo nhâm
5623日本臨濟宗僧。籍貫、生卒年均不詳。號虎溪。早歲參謁大德寺宗峰妙超,發明心地,作偈頌轟動叢林。元時來我國,遍參一時之尊宿,受心印。至元年中(1335~1340)接宗峰之訃音,作一偈報之。後因日本徹翁義亨遣使招請,遂歸國任大德寺第四世住持。〔大德寺世譜、紫巖譜略〕
đạo nhân
5625(1090~1167)北宋天台宗僧。四明(浙江鄞縣)人,俗姓薛。字德固,又稱亦宗。號草菴、安住。少投太平興國寺出家,十七歲受具足戒。曾結夏於延慶寺。後往寶雲寺投祖韶門下,學天台教觀,遍歷講肆,屢參禪堂。適讀知禮之十不二門指要鈔而省悟,遙禮知禮,習其學風。歷住永明、寶雲、廣壽、治平諸寺,晚年遷延慶寺,學徒雲集。曾著關政論,矯正禪人宿弊。宣和年中在延慶寺,著「觀經輔正解」,駁難元照律師之觀經疏。紹興十六年(1146),退居城南草菴,將平生所悟著成草菴錄十卷。乾道三年四月示寂,享年七十八。著作除上記外,尚有收於樂邦文類之淨土餘說、念佛心要頌、慶讚禮佛會疏、遺文等作。〔佛祖統紀卷二十一、卷二十六、釋門正統卷六、釋氏稽古略卷四〕
; 5620修行佛道者之謂。又稱道者、道士。在禪宗則特指童行(有志入寺出家,而尚未得度者)而言。有時則指神社佛閣之參詣者。出家人即專門求道、修道者,故稱「道」;而在家人即從事世俗生活者,故稱「俗」;二者合稱爲「道俗」。至於修道之友,稱爲道友、道侶;舊道友,稱爲道舊。此外,修行佛道之志,稱爲道心(道念)。體驗佛道,而在身、口、意三業上之表現,稱爲道業。至北魏太武帝之後,道士、道人之號漸成爲道教者流所專用。〔大智度論卷三十六、法苑珠林卷五十五、續高僧傳卷二十三〕
; 5641(668~740)唐代僧。長安高陵人,俗姓長孫。初舉進士第,後出家。善屬文。任供奉之職。隨玄宗至雒時,一行禪師奏請召集天下英髦學兼內外者,大建論場;道氤被推登首座,諸師皆爲屈伏。開元十八年(730),與道士伊謙辯論釋、道二教之優劣,師雄論奮發,伊謙爲之折伏,玄宗倍加讚歎,並賞賜絹等物。開元二十八年入寂,世壽七十三。著有對御論衡、大乘法寶五門名教、信法儀、唯識疏、法華經疏、御注金剛經疏宣演等書,其中以御注金剛經疏宣演爲唐玄宗所著御注金剛經之複注本,此書於歷代經籍目錄中僅見其名,內容不明,直至敦煌本出,方得盡悉其奧。〔宋高僧傳卷五〕
; One who has entered the way, one who seeks enlightenment, a general name for early Buddhists and also for Taoists.
; 1) Bậc dự lưu: One who has entered the way, or stream-enterer—See Tứ Thánh Quả (B) (a) (1). 2) Bậc cầu tu giác ngộ, như Bồ Tát: One who seeks enlightenment, or Bodhisattva—See Bồ Tát. 3) Tu Sĩ Lão Giáo hay Đạo Giáo: Taoist priest.
; (道氤) (668 - 740) Vị tăng đời Đường, người Cao lăng, Trường an, họ Trường tôn. Thủa nhỏ, sư theo Nho học, giỏi văn chương, thi đỗ Tiến sĩ. Sau, sư xuất gia, giữ chức Cung phụng, Khi vua Huyền tông đến sông Lạc, sư đi theo. Lúc ấy, thiền sư Nhất hạnh tâu vua cho triệu tập các vị tăng trẻ có tài năng, thông suốt nội ngoại điển đến mở trường biện luận, sư Đạo nhân được suy tôn làm Thủ tọa. Năm Khai nguyên 18 (730), sư biện luậnvới đạo sĩ Y khiêm về sự hơn kém của Phật giáo và Đạo giáo. Với tài biện luận hùng hồn và lí lẽ vững chắc, sư đã làm cho đạo sĩ Y khiêm phải khuất phục, vua Huyền tông nhiệt liệt khen ngợi và ban thưởng. Năm Khai nguyên 28 sư tịch, thọ 73 tuổi. Sư có các trứ tác: Đối ngự luận hành, Đại thừa pháp bảo ngũ môn danh giáo, Tín pháp nghi, Duy thức sớ, Hàm chú Kim cương kinh sớ tuyên diễn. [X. Tống cao tăng truyện Q.5].
; (道因) (1090 - 1167) Vị tăng thuộc tông Thiên thai ở đời Bắc Tống, người Tứ minh (huyện Ngân, tỉnh Chiết giang), họ Tiết,tự Đức cố, hiệu Thảo am, An trụ. Thủa nhỏ, sư xuất gia ở chùa Thái bình hưng quốc, 17 tuổi thụ giới Cụ túc. Sau, sư theo ngài Tổ thiều ở chùa Bảo vân học giáo quán Thiên thai, rồi sư đi tham học khắp các đạo tràng và Thiền đường. Một ngày nọ, nhân đọc cuốn Thập bất nhị môn chỉ yếu sao của ngài Tri lễ mà tỉnh ngộ, sư liền hướng về nơi ngài Tri lễ mà lạy và tu tập theo pháp môn này. Về sau, sư lần lượt ở các chùa Vĩnh minh, Bảo vân, Quảng thọ, Trị bình. Cuối đời, sư dời về chùa Diên khánh, người đến theo học rất đông. Năm Càn đạo thứ 3 (1167) sư tịch, thọ 78 tuổi. Tác phẩm có: Thảo am lục 10 quyển, Tịnh độ du thuyết, Niệm Phật tâm yếu tụng, Khánh tán lễ Phật hội sớ, Di văn v.v... tất cả được thu vào Lạc bang văn loại. [X. Phật tổ thống kỉ Q.21, Q.26; Thích môn chính thống Q.6; Thích thị kê cổ lược Q.4].
; (道人) Cũng gọi Đạo giả, Đạo sĩ. Người tu hành Phật đạo. Trong Thiền tông, danh từ này chỉ riêng cho người đồng hành (người có chí xuất gia vào ở chùa nhưng chưa được độ). Có khi từ ngữ này được dùng để chỉ cho người tham lễ các nơi Thần xã và chùa viện. Người xuất gia chuyên cầu đạo, tu đạo, nên gọi là Đạo, còn người tại gia thì sống cuộc đời thế tục, nên gọi là Tục, hợp chung lại, gọi là Đạo tục. Những người bạn tu đạo với nhau gọi là Đạo hữu, Đạo lữ; bạn đạo cũ gọi là Đạo cựu. Ngoài ra chí tu hành Phật đạo gọi là Đạo tâm (Đạo niệm), thể nghiệm Phật đạo biểu hiện qua ba nghiệp thân, khẩu, ý gọi là Đạo nghiệp. Sau thời Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy thì danh hiệu Đạo sĩ, Đạo nhân dần dần trở thành danh từ chuyên dùng của Đạo giáo. [X. luận Đại trí độ Q.36; Pháp uyển châu lâm Q.55; Tục cao tăng truyện Q.23].
đạo nhãn
5646<一>修道而得之眼通(力)。又作天眼通。宗密之盂蘭盆經疏卷下注釋目連以道眼觀母之生處一文中,道眼即作天眼通解,謂由證道而得,故稱道眼。 <二>指觀道之眼。圓覺經(大一七‧九一六上):「分別邪正,能施末世一切眾生無畏道眼。」
; The eye attained through the cultivation of Buddha-truth; insight into truth; keen vision of right.
; 1) Con mắt nhờ tu hành đắc đạo mà có: Sức nhìn của “Đạo Nhãn” không còn bị chướng ngại che lấp, thấy được thông suốt qua không gian và thời gian—The eye attained through the cultivation of Buddha-truth. 2) Con mắt nhìn hay quan sát đạo pháp: Con mắt thấy được các giáo pháp, phân biệt được chánh tà chơn vọng—The eye which sees all the truth.
; (道眼) I. Đạo Nhãn. Cũng gọi Thiên nhãn thông. Mắt có năng lực nhìn thấy suốt mọi nơi do chứng đạo mà đạt được. [X. Vu lan bồn kinh sớ Q.hạ]. II. Đạo Nhãn. Chỉ cho mắt quán xét đạo. Kinh Viên giác (Đại 17, 916 thượng), nói: Phân biệt tà chính, có thể đem lại cho tất cả chúng sanh đời mạt pháp đạo nhãn vô úy.
đạo nhạc
5633(568~636)唐代僧。洛陽人,俗姓孟。十五歲從僧粲法師出家,後從志念、智通二師學成實論、雜阿毘曇心論,並從九江之道尼學攝大乘論及俱舍論。隋代大業八年(612),受召住於大禪定道場。專精於俱舍論之研究,著俱舍論疏二十卷。另據續高僧傳卷十三載,師曾整理真諦口述、慧愷筆受之俱舍論注疏,成書二十二卷。另著有「十八部論疏」。示寂於貞觀十年,世壽六十九。其兄弟六人,共三人出家,兄明曠(?~632)精於大智度論,弟明略(572~638)特善涅槃經。
; (道岳) (568 - 636) Vị tăng sống vào đời Tùy, Đường, người Lạc dương, họ Mạnh. Năm 15 tuổi, sư y vào ngài Tăng xán xuất gia, sau sư theo các ngài Chí niệm và Trí thông học luận Thành thực, luận Tạp a tì đàm tâm, rồi lại theo ngài Đạo ni ở Cửu giang học luận Nhiếp đại thừa và luận Câu xá. Năm Đại nghiệp thứ 8 (612) đời Tùy, sư được mời về ở đạo tràng Đại thiền định, chuyên tâm nghiên cứu luận Câu xá và soạn Câu xá luận sớ 20 quyển. Ngoài ra, theo Tục cao tăng truyện quyển 13, sư từng chỉnh lí bộ Câu xá luận chú sớ do ngài Chân đế giảng và ngài Tuệ khải ghi chép mà soạn thành bộ sách 22 quyển. Sư cũng còn soạn Thập bút bộ luận sớ. Năm Trinh quán thứ 10 (636) sư tịch, thọ 69 tuổi.
Đạo Nhất
道一|Mã Tổ Ðạo Nhất
đạo nhất mã tổ thiền sư
See Ma-Tzu.
đạo ni
5623隋代僧。生卒年不詳。曾與法泰、慧愷、智敫等隨侍真諦三藏,致力於譯經。尤精勤於攝大乘論、俱舍論之研究講說。當慧愷講說俱舍論之時,師與智敫即從事筆錄。其後慧愷病故,二人誓願繼續弘揚攝大乘論及俱舍論。又以師曾住於九江,故時人多稱九江道尼。開皇十年( 590),勅住大興善寺,與曇遷等盛弘攝大乘論。弟子有道岳、慧休、智光等。
đạo ninh
5654<一>(?~1113)宋代臨濟宗楊岐派僧。徽州(安徽)婺源人,俗姓汪。於蔣山出家,嗣五祖法演之法,任天寧寺第一座。大觀三年(1109),駐錫潭州(湖南)開福禪寺,爲第十九世。政和三年示寂,世壽不詳。著有開福寧禪師語錄二卷。〔聯燈會要卷十六、五燈會元卷十九〕 <二>(1598~?)明末臨濟宗僧。瀘州(四川)人,俗姓李。號體宗。十五歲出家,二十五歲遊歷諸方,三十五歲於雙桂參禮破山海明,爲其法嗣。順治九年(1652),住持瀘州方山雲峰寺,時年五十五。後又住持江安(四川)蟠龍寺、南溪(四川)開元寺。寂年不詳。著有雲峰體宗寧禪師語錄一卷。
đạo phi
5623<一>(889~955)唐末五代僧。長安貴冑里人,唐之宗室,俗姓李。母許氏爲求子嗣,常持誦觀世音菩薩普門品,一日,夢神光燭身而有妊。師既誕,容貌端雅。七歲絕葷羶,每遊精舍,輒怡然忘返,遂往保壽寺,禮繼能爲師。二十七歲時,曜州牧婁繼英招請師住洛陽福先寺彌勒院。天祐三年(906),濟陰王賜紫衣,後唐莊宗賜號「廣智」。凡大內建香壇應制談論,師多居首席。後晉天福三年(938),入梁苑爲左街僧錄,又任傳法阿闍梨昭信大師。後周世宗時,沙汰僧尼、毀僧寺、化銅佛,蒙師之力,幸未成大難。顯德二年示寂,世壽六十七。〔宋高僧傳卷十七〕 <二>唐代曹洞宗僧。洪州(江西)人。嗣雲居道膺之法,開法於洪州鳳棲山之同安院,弘揚曹洞宗風。生卒年不詳。〔景德傳燈錄卷二十、五燈會元卷十三、聯燈會要卷二十五〕
; (道丕) I. Đạo Phi (889 - 955). Vi tăng ở thời Ngũ đại, người làng Quí trụ, huyện Trường an, họ Lí, là tôn thất nhà Đường. Thân mẫu của sư họ Hứa, vì cầu con nối dõi nên bà thường trì tụng phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa. Một đêm, bà nằm mộng thấy ánh sáng thần soi khắp mình, rồimang thai, sinh ra sư. Lúc mới sinh, sư đã có dung mạo đoan nghiêm, năm 7 tuổi sư ăn chay, mỗi khi đến tinh xá của các sư thì vui thích không muốn về. Sau, sư đến chùa Bảo thọ lễ ngài Kế năng xin xuất gia. Năm 27 tuổi, sư được quan châu Diệu tên là Lâu kế anh mời về ở viện Di lặc thuộc chùa Phúc tiên tại Lạc dương. Năm Thiên hựu thứ 3 (906), Tế âm vương ban cho sư áo đỏ, đến thời vua Trang tông nhà Hậu Đường, sư được ban danh hiệu Quảng Trí. Năm Thiên phúc thứ 3 (938) đời Hậu Tấn, sư vào Lương uyển làm Tả nhai tăng lục và làm Truyền pháp A xà lê chiêu tín đại sư. Khi vua Thế tông nhà Hậu Chu giải tán tăng ni, phá hủy chùa viện, tượng Phật, nhưng may nhờ đạo lực của sư mà chưa trở thành pháp nạn lớn. Năm Hiển đức thứ 2 (955) sư tịch, thọ 67 tuổi. [X. Tống cao tăng truyện Q.17]. II. Đạo Phi. Vị Thiền tăng thuộc tông Tào động ở đời Đường, người Hồng châu (tỉnh Giang tây), nối pháp ngài Vân cư Đạo ưng. Về sau, sư ở viện Đồng an núi Phượng thê tại Hồng châu hoằng dương tông phong Tào động. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.20; Ngũ đăng hội nguyên Q.13; Liên đăng hội yếu Q.25].
đạo phong
5639道之化人如風之靡草者,稱爲道風。無量義經德行品第一(大九‧三八五上):「道風德香熏一切。」釋氏要覽卷中(大五四‧二九四上):「寶林傳云,祖師難提至摩提國。一日,有風西來,占曰:『此道風也,必有道人至。』果得伽耶舍多至。」
; Đạo phong hay lực chuyển hóa trong đạo Phật, cũng là sự ức đoán về những gì sẽ xãy ra trong tương lai—The wind of Buddha-truth, as a transforming power; also as a prognosis of future events.
; (道風) Gió đạo. Đạo giáo hóa chúng sinh như gió mát thổi làm cho cây cỏ xanh tươi, gọi là Đạo phong. Kinh Vô lượng nghĩa phẩm Đức hạnh thứ 1 (Đại 9, 385 thượng), nói: Hương phúc đức, gió đạo hạnh ngào ngạt khắp nơi. Thích thị yếu lãm quyển trung (Đại 54, 294 thượng), nói: Bảo lâm truyện ghi: Tổ sư Nan đề đến nước Ma đề. Một hôm, có ngọn gió từ phía tây thổi tới, Ngài đoán rằng: Đây là Đạo phong, ắt có Đạo nhân tới. Quả nhiên có ngài Già da xá đa đến.
đạo phán
5628(532~615)隋代僧。曹州(山東)人,俗姓郭。初習儒學,十九歲出家。仰慕東晉高僧法顯之風範,遂誓志西行求法,然行至突厥,即被遣送回京,乃從靜藹學經論。北齊乾明元年(560),師與二十一人同行,由北齊鄴都至北周,保定二年(562)至長安,受北周武帝之禮遇,攜國書出使高昌國。歸長安後,住於乾宗寺。逢北周武帝毀佛,乃與靜藹同隱於太白山,致力於中、百、十二門、大智度等四論之研究。北周宣帝(578~579 在位)時,受勅爲一二○位菩薩僧之一,住於陟岵寺。開皇七年(587),文帝爲師勅建龍池寺,受四事供養。大業十一年示寂,世壽八十四。〔續高僧傳卷十二〕
; (道判) (532 - 615) Vị tăng ở đời Tùy, người Tào châu (tỉnh Sơn đông), họ Quách. Thủa nhỏ, sư theo Nho học, 19 tuổi xuất gia. Vì ngưỡng mộ nhân cách của cao tăng Pháp hiển, nên sư phát nguyện sang Ấn độ cầu pháp, nhưng đi đến nước Đột quyết thì bị trả lại về kinh đô. Từ đó, sư theo ngài Tĩnh ái học kinh luận. Niên hiệu Càn minh năm đầu (560), sư cùng với 21 người khác đi từ Nghiệp đô của Bắc Tề đến Bắc Chu. Năm Bảo định thứ 2 (562), sư đến Trường an, được Vũ đế nhà Bắc Chu trọng đãi và giao cho sứ mệnh mang quốc thư đến nước Cao xương. Sau khi trở về Trường an sư ở chùa Càn tông. Khi Vũ đế nhà Bắc Chu hủy diệt Phật pháp, sư cùng với ngài Tĩnh ái ở ẩn trong núi Thái bạch, dốc sức vào việc nghiên cứu 4 bộ Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận và Đại trí độ luận. Khi Tuyên đế nhà Bắc Chu lên ngôi (578 - 579), sư được sắc phong là một trong 120 vị Bồ tát tăng ở chùa Trắc hỗ. Năm Khai hoàng thứ 7 (587), vua Văn đế nhà Tùy sắc lệnh cất chùa Long trì để sư ở và cúng dường tứ sự. Năm Đại nghiệp 11 (615) sư tịch, thọ 84 tuổi. [X. Tục cao tăng truyện Q.12].
đạo pháp
Màrga-dharma (S). Teachings, dogma, tenet.
; Con đường hay phương pháp dẫn đến niết bàn—The way or method to attain nirvana
đạo pháp trí
5635梵語 mārga dharma-jñāna。八智之一,十六心之一。即觀欲界之道諦而證得之無漏智。又斷除迷於道諦之見惑之智,亦稱道法智。〔俱舍論卷二十三〕
; Màrga-dharma jnàna (S). The wisdom which rids one of false views in regard to màrga.
; Trí tuệ diệt trừ tà kiến mê hoặc do quán “Đạo Đế” mà có được—The wisdom which rids one of false views in regard to marga, or the eight fold noble path.
; (道法智) Phạm: Màrga dharma-jĩàna. Trí vô lậu do quán Đạo đế ở cõi Dục mà đạt được, hoặc là trí đoạn trừ Kiến hoặc của Đạo đế. Cũng gọi Đạo pháp trí, là một trong 8 trí, một trong 16 tâm. [X. luận Câu xá Q.23].
đạo phó
5637(868~937)五代吳越僧。溫州(浙江)永嘉人,俗姓陳。幼年出家,後入閩,參謁雪峰義存,後嗣其法。在越州(浙江)與皮光業常相辯難。歷住鏡清寺(浙江)、天龍寺。錢鏐私署「順德大師」,錢元瓘創建杭州龍冊寺,請師居之,吳越禪學之興即始於此,後晉天福二年示寂,世壽七十。〔宋高僧傳卷十三、景德傳燈錄卷十八、六學僧傳卷八〕
; (道怤) (868 - 937) Vị Thiền tăng ở đời Ngũ đại, người Vĩnh gia, Ôn châu (tỉnh Chiết giang), họ Trần. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, sau sư đến tỉnh Phúc kiến tham học ngài Tuyết phong Nghĩa tồn và được nối pháp. Khi sư ở Việt châu, sư thường biện luận với Bì quang nghiệp. Sư từng trụ trì các chùa Kính thanh (tỉnh Chiết giang), Thiên long v.v... Tiền mậu tư tặng sư danh hiệu Thuận đức đại sư. Tiền nguyên quán thì cất chùa Long sách ở Hàng châu, thỉnh sư về trụ trì. Từ đó, Thiền học ở đất Ngô Việt bắt đầu hưng thịnh. Năm Thiên phúc thứ 2 (937) đời Hậu Tấn sư tịch, thọ 70 tuổi. [X. Tống cao tăng truyện Q.13; Cảnh đức truyền đăng lục Q.18; Lục học tăng truyện Q.8].
đạo phó súc thủ
5637禪宗公案名。爲鏡清道怤勘驗好問法之童子之公案。禪苑蒙求卷下(卍續一四八‧一三一下):「有僧引童子到,曰:『此兒子常愛問僧佛法,請和尚驗看!』師乃令點茶。童子點茶來,師啜訖,過盞托與童子,童子近前接,師卻縮手曰:『還道得麼?』童子曰:『問將來!』(中略)師云:『也只是一兩生持戒僧。』」此公案之重點在「還道得麼」一語,即道怤雖以點茶、喫茶、與盞托之處問童子,實則問其是否會得佛法。童子不能領會,僅以爲論究研討問題始爲佛法,故猶道:「問將來!」遂被道怤勘破。
; (道怤縮手) Đạo phó rút tay lại. Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về cơ duyên ngài Kính thanh Đạo phó trắc nghiệm đồng tử thích hỏi pháp. Thiền uyển mông cầu quyển hạ (Vạn tục 148, 131 hạ) ghi: Có vị tăng dẫn một đồng tử đến thưa rằng: Cậu bé này hay hỏi chư tăng về Phật pháp, xin Hòa thượng trắc nghiệm xem! Sư liền sai đồng tử rót trà, đồng tử rót trà đem đến. Sư uống xong trao chén lại cho đồng tử. Đồng tử bước tới lấy, sư liền rút tay lại và hỏi: Có nói được không? Đồng tử đáp: Xin ngài cứ hỏi (...).Sư nói: Cũng chỉ là vị tăng giữ giới được một vài đời ở kiếp trước.
Đạo Phạm
(道範, Dōhan, 1184-1252): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng đầu và giữa thời Liêm Thương, húy là Đạo Phạm (道範), hiệu Giác Bổn Phòng (覺本房), xuất thân vùng Thuyền Vĩ (船尾), Hòa Tuyền (和泉, Izumi, thuộc Osaka). Năm 14 tuổi, ông theo xuất gia với Minh Nhiệm (明任) ở Chánh Trí Viện (正智院) trên Cao Dã Sơn; vào năm 1202 thì kế thừa Bảo Quang Viện (寶光院), và đến năm 1216 thì thọ phép Quán Đảnh với Minh Nhiệm. Ông theo học giáo nghĩa Mật Giáo với Giác Hải (覺海) của Hoa Vương Viện (華王院) và được liệt vào một trong Tứ Triết. Sau ông lên kinh đô, thọ pháp với Tĩnh Biến (靜遍) của Thiền Lâm Tự (禪林寺, Zenrin-ji) cũng như với Thật Hiền (實賢) của Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji); và kế thừa Dòng Quảng Trạch (廣澤流) của Thủ Giác (守覺) ở Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji). Sau khi trở về lại sơn môn, ông lại được Minh Nhiệm truyền thừa cho Dòng Trung Viện (中院流); vào năm 1234, ông chuyển về Chánh Trí Viện và bắt đầu khai mở pháp diên hóa đạo. Thế nhưng, do vì có liên quan đến cuộc phân tranh với Đại Truyền Pháp Viện (大傳法院) vào năm 1243, ông bị lưu đày đến vùng Tán Kì (讚岐, Sanuki). Năm 1249, ông được tha tội và trở về sống tại Bảo Quang Viện. Ông là bậc học tượng của Cao Dã Sơn, đại diện cho thời đại Liêm Thương; hàng đệ tử của có Năng Biến (能遍), Thanh Viên (清圓), Long Biện (隆辯), Hựu Nhân (祐仁), v.v. Trước tác của ông để lại có rất nhiều như Đại Nhật Kinh Sớ Biến Minh Sao (大日經疏遍明鈔) 21 quyển, Bí Mật Niệm Phật Sao (秘密念佛抄) 3 quyển, Bồ Đề Tâm Luận Sao (菩提心論抄) 1 quyển, Trinh Ứng Sao (貞應抄) 3 quyển, Nam Hải Lưu Lãng Ký (南海流浪記), v.v.
đạo phẩm
5636道,通往涅槃之道法;品,品類差別。據諸經所載,通往涅槃之道法,其品類凡有三十七科,是即三十七道品。〔增一阿含經卷三、大毘婆沙論卷九十六〕(參閱「三十七道品」506)
; Religious or monastic grade, or grades.
; Phẩm loại của đạo pháp—Religious or monastic grade, or grades.
; (道品) Đạo là đạo pháp đưa đến Niết bàn; Phẩm là các phẩm loại sai khác, tức là 37 phẩm trợ đạo. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3; luận Đại tì bà sa Q.96]. (xt.Tam Thập Thất Đạo Phẩm).
đạo Phật
Là con đường Phật hướng dẫn đến Niết-bàn, một cách gọi khác của Phật pháp, Phật giáo.
đạo phật
Buddhism—Đạo Phật là con đường duy nhất đưa con người từ hung ác đến thiện lành, từ phàm đến Thánh, từ mê sang giác—Buddhism is the only way that leads people from the evil to the virtuous, from deluded to fully enlightened sagehood—See Buddha in English-Vietnamese Section, and Phật Giáo in Vietnamese-English Section.
đạo phật chết
Dead Buddhism—Đạo Phật chết là đạo Phật qua những hình thức tổ chức rườm rà, nghi lễ cổ điển, cúng kiến, kinh kệ bằng những ngôn ngữ xa lạ làm cho giới trẻ hoang mang. Từ đó giới trẻ nhìn về những ngôi chùa như một viện dưỡng lão của ông già bà cả, cho những người thiếu tự tin, hoặc cho những thành phần mê tín dị đoan—Dead Buddhism is a kind of Buddhism with its superfluous organizations, classical rituals, multi-level offerings, dangling and incomprehensible sutras written in strange languages which puzzle the young people. In their view the Buddhist pagoda is a nursing home, a place especially reserved for the elderly, those who lack self-confidence or who are superstituous.
đạo phục
5634經我國改革之法衣(直綴),近世日本又加以簡略化,稱爲略法服。即著於和服之上的短袖無裳黑衣,爲直綴之別名。
; (道服) Một loại áo pháp (trực xuyết) đã được Trung quốc sửa đổi. Gần đây, tại Nhật bản, loại áo này được đơn giản hóa thêm nữa gọi là Lược phápphục, tức là áo đen, tay ngắn, mặc bên ngoài Hòa phục (áo theo kiểu Nhật bản).
Đạo Quang
(道光, Dōkō, 1243-1330), học tăng của Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương, vị Tổ của Phái Tam Điều (三條派), Dòng Trấn Tây (鎭西流); húy là Đạo Quang (道光), tự Liễu Huệ (了慧), Sướng Giác (暢角); hiệu là Vọng Tây Lâu (望西樓), Liên Hoa Đường (蓮華堂); thụy hiệu là Quảng Tế Hòa Thượng (廣濟和尚); xuất thân vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), Tương Mô (相模, Sagami, thuộc Kanagawa-ken [神奈川縣]); con của Lục Hộ Thường Trọng (宍戸常重). Năm 1253, ông theo hầu Tôn Huệ (尊惠) trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), tu học cả giáo học Hiển Mật và thông đạt Kinh Pháp Hoa. Về sau, ông cải tông sang Tịnh Độ Tông, chuyên thâu tập các Ngữ Lục của Nguyên Không (源空, Genkū) và biên tập bản Hắc Cốc Thượng Nhân Ngữ Đăng Lục (黑谷上人語燈錄). Đến năm 1276, ông theo học Tịnh Độ Giáo với Lương Trung (良忠), kế thừa Giới Viên Đốn, khai sáng Ngộ Chơn Tự (悟眞寺, tức Đàn Vương Pháp Lâm Tự [檀王法林寺]) ở kinh đô Kyoto; tận lực bố giáo và được tầng lớp quý tộc quy ngưỡng. Dòng pháp của ông được gọi là Phái Tam Điều. Trước tác của ông để lại có rất nhiều như Hắc Cốc Thượng Nhân Ngữ Đăng Lục (黑谷上人語燈錄) 18 quyển, Tân Phù Tuyển Trạch Báo Ân Tập (新扶選擇報恩集) 2 quyển, Thánh Quang Thượng Nhân Truyện (聖光上人傳) 1 quyển, Nhiên A Thượng Nhân Truyện (然阿上人傳) 1 quyển, Viên Giới Phổ (圓戒譜) 1 quyển, v.v.
đạo quang
5624道之光明。由佛之果德而放光明,即謂佛之果智圓通自在。又道體清淨,離一切過垢,照破無明之幽闇,故稱道光。讚阿彌陀佛偈(大四七‧四二一上):「道光明朗色超絕,故佛又號清淨光。」
; The light of Buddha-truth.
; Ánh đạo vàng của Phật Tổ—The light of Buddha-truth.
; (道光) Ánh sáng đạo phóng ra từ quả đức của Phật, cũng là quả trí viên thông tự tại của Ngài. Lại nữa, đạo thể thanh tịnh, lìa tất cả tội lỗi nhơ nhớp, phá tan vô minh đen tối nên gọi là Đạo quang. Tán A di đà Phật kệ (Đại 47, 421 thượng), nói: Đạo quang trong sáng sắc tuyệt vời, Vì thế Phật hiệu Thanh tịnh quang.
đạo quán
1) Đạo: Thực hành Bồ Tát đạo cứu độ chúng sanh—Religious practices or external influence, i.e. Bodhisattva's way to save sentient beings. 2) Quán: Quán không lý để đạt được nội tuệ—Meditative practices on the reality to obtain internal vision.
đạo quán song lưu
5665爲天台宗所立通教十地之中第九地菩薩所修行之相。道,指教化他人之化道;觀,乃自觀空理之觀法。利他之化道與自利之觀法同時並行,稱爲道觀雙流。通教十地之中,於八地或八地以前之菩薩尚無法行「自行化他」之法,自第九地以上始得自在無礙,成就空觀,破除見、思二惑,我、法二執俱忘,以假觀而洞照緣生之差別,並達於化他無礙之境。法華經玄義卷四下(大三三‧七三○上):「九菩薩地位者,從空入假,道觀雙流,深觀二諦,進斷習氣,色、心無知,得法眼、道種智,遊戲神通,淨佛國土,成就眾生。學佛十力、四無所畏,斷習氣將盡也。」〔天台四教儀、法華玄義釋籤卷四上〕
; (道觀雙流) Đạo chỉ cho sự hóa đạo để giáo hóa người khác, còn Quán là chỉ cho quán pháp tự mình quán xét lí không. Đồng thời thực hành 2 pháp là hóa đạo lợi tha và quán pháp tự lợi thì gọi là Đạo quán song lưu. Đây là tướng tu hành của các Bồ tát địa thứ 9 trong 10 địa của Thông giáo do tông Thiên thai lập ra. Trong 10 địa của Thông giáo, Bồ tát địa thứ 8 trở xuống vẫn không thể nào thực hiện được pháp Tự hành hóa tha, chỉ từ địa thứ 9 trở lên mới được tự tại vô ngại, thành tựu Không quán, phá trừ Kiến hoặc, Tư hoặc, Ngã chấp, Pháp chấp đều tiêu vong; rồi dùng Giả quán soi suốt duyên sinh sai biệt mà đạt đến cảnh hóa tha vô ngại. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 4 phần dưới (Đại 33, 730 thượng), nói: Bồ tát ở địa thứ 9, từ Không quán vào Giả quán, Đạo và Quán cùng thực hành một lúc, quán xét sâu vào lí Nhị đế, dứt trừ tập khí, sắc, tâm vô tri, được pháp nhãn, đại chủng trí, du hí thần thông, thanh tịnh hóa cõi Phật, thành tựu chúng sinh, tu học 10 lực và 4 vô úy của Phật, đoạn trừ gần hết tập khí. [X. Thiên thai tứ giáo nghi; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.4 phần trên].
đạo quả
5635道,菩提;果,涅槃。由菩提之道而證涅槃之果,故稱道果。法華經藥草喻品(大九‧二○中):「漸次修行,皆得道果。」
; The result of the Buddha-way, i.e. nirvàna.
; Nirvana (skt)—Niết bàn nhờ đạo quả Bồ Đề mà chứng đắc—The result of the Buddha-way, i.e. nirvana.
; (道果) Đạo là Bồ đề; Quả là Niết bàn. Nhờ tu đạo Bồ đề mà chứng được quả Niết bàn nên gọi là Đạo quả. Phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 20 trung), nói: Theo thứ lớp tu hành, đều chứng được đạo quả.
đạo quả luận
5635請參閱 道果論 西藏佛教薩迦派之主要教義。又作道果法。認爲修法者若斷除一切煩惱,即可證得一切智,而達於涅槃境界之果。其修行之次第,修法者先拋除非福(即惡業、壞事)專心於善業,如此來世即可進入三善趣(天、人、阿修羅)。如升入三善趣而仍未脫離輪迴者,尚須斷除我執,方可超脫。爲此,故須苦修,以體悟人身與宇宙皆非實有,一切皆空,斷除一切見,方能真正領悟佛法,獲得解脫之果。
; (道果論) Giáo nghĩa chủ yếu của phái Tát ca thuộc Phật giáo Tây tạng. Cũng gọi Đạo quả pháp. Giáo nghĩa này chủ trương người tu hành nếu dứt trừ được tất cả phiền não thì có thể chứng được Nhất thiết trí mà đạt đến quả vị Niết bàn. Về thứ tự tu hành thì trước hết phải đoạn trừ các nghiệp ác, chuyên tâm tạo các nghiệp thiện, như thế thì đời sau mới có thể được hưởng phúc báo trong ba đường thiện (cõi trời, cõi người, cõi A tu la). Nhưng ba đường vẫn chưa thoát khỏi luân hồi, còn cần phải tiếp tục gắng sức tu hành, dứt trừ các kiến chấp, thể ngộ thân tâm và vũ trụ đều chẳng phải thực có, tất cả đều là không, mới có thể chứng được quả giải thoát.
Đạo Sinh
道生; C: dàoshēng; 355-434;|Cao tăng và là người thành lập Niết-bàn tông của Phật giáo Trung Quốc. Sư là người cùng Cưu-ma-la-thập dịch kinh Diệu pháp liên hoa (s: saddharmapuṇḍarīka-sūtra) và Duy-ma-cật sở thuyết (s: vimalakīrtinirdeśa-sūtra). Ðạo Sinh có nhiều quan điểm cách mạng so với thời bấy giờ, góp công rất lớn thúc đẩy sự phát triển của nền Phật giáo Trung Quốc. Sư quan niệm rằng, bất cứ ai cũng có Phật tính, bất cứ ai cũng có thể thành Phật tức khắc. Sư có công tổng hợp hai bộ kinh Ðại bát-niết-bàn và Bát-nhã ba-la-mật-đa. Ngày nay các tác phẩm của Sư đã thất lạc, người ta chỉ tìm thấy quan điểm của Sư rải rác trong các bộ luận.|Ðạo Sinh là người có biệt tài, lúc gia nhập Tăng-già Sư đã là một người tinh thông đạo pháp. Từ năm 397 đến 401 Sư tu học tại Lư Sơn, một trung tâm Phật giáo quan trọng thời đó. Năm 405 Sư về Trường An, cùng với Cưu-ma-la-thập soạn kinh sách. Vì những quan điểm mới, Sư bị loại ra khỏi Tăng-già. Ðó là những quan điểm phù hợp với Ðại bát-niết-bàn kinh (s: mahāparinirvāṇa-sūtra) – nhưng kinh này lúc đó chưa được dịch ra Hán văn. Sau khi kinh này dịch xong, thuyết của Sư được phục hồi.|Sư cho rằng, ngay cả Nhất-xiển-đề cũng có Phật tính và có thể đạt Phật quả, đó là quan điểm Ðại thừa, tất cả mọi chúng sinh, không chừa ai, đều có Phật tính, chỉ vì bị vô minh che phủ. Ðạt giác ngộ chính là trực nhận được Phật tính đó và tất nhiên – hành giả phải qua nhiều bước đường chuẩn bị. Sư quan niệm rằng giác ngộ là giác ngộ tức khắc (đốn ngộ), là tình trạng hợp nhất với Chân như. Vì vậy giác ngộ không thể là một quá trình từ từ. Khi giác ngộ thì Luân hồi hay Niết-bàn không khác và Chân như của chư Phật không khác với thế giới hiện hữu. Ðối với Ðạo Sinh thì Phật tính trong Ðại bát-niết-bàn kinh và tính Không trong kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa chỉ là một: cả hai đều vô tướng, vô tính. Phật tính và tính Không chính là Niết-bàn, là trạng thái không còn phân biệt giữa chủ thể và khách thể. Ðối với Sư, không có một Tịnh độ ngoài thế giới này vì chư Phật không hề rời chúng ta, luôn luôn ở trong ta.|Cuối đời, Sư lại sống trên núi Lư Sơn. Một ngày trong năm 434 Sư giảng pháp. Khi sắp rời toà giảng, Sư giô gậy trúc lên cao, ngồi mà nhập Niết-bàn.
đạo sinh
5624<一>(355~434)又稱竺道生。東晉時之涅槃經學者。鉅鹿(河北平鄉)人,寓居彭城(江蘇銅山),俗姓魏。師事竺法汰,故改姓竺。十五歲,即登講座,雖宿學名士莫能抗敵。二十歲,受具足戒,講演之聲譽遍天下。初住建業龍光寺,後入廬山幽棲七年,師事慧遠,博研經論。復至長安受鳩摩羅什之教,時稱羅什門下四傑之一。義熙五年(409)歸返建業,主張「闡提成佛」、「頓悟成佛」說,教界爲之譁然,其他之涅槃學者亦排斥之,遂再度棲隱廬山。直至曇無讖譯之大般涅槃經流傳至建業,眾人始歎師之卓識。著有二諦論、佛性當有論、法身無色論、佛無淨土論、應有緣論、辯佛性義、法華經義疏等,又僧肇所著 妒`維摩詰經、寶亮等所著之大般涅槃經集解等,皆常引用師之說法。此外提倡四種法輪說,予後世之影響極大。宋元嘉十一年入寂,世壽八十。弟子僧瑾、道猷等繼續唱導頓悟之義。〔東林十八高賢傳、梁高僧傳卷二、卷三、卷七、出三藏記集卷十二、卷十五〕 <二>南宋臨濟宗虎丘派僧。號曹源。南劍(福建)人。爲密庵咸傑之法嗣,出世於饒州(江西)妙果寺,其後歷住信州(江西)龜峰寺、饒州薦福寺。著有曹源和尚語錄、曹源生禪師語要各一卷。生卒年不詳。〔五燈會元續略卷五、續傳燈錄卷三十五〕
; Nhà sư nổi tiếng của Trung quốc (355-434), người sáng lập ra phái Niết Bàn. Ông đã cộng tác với Ngài Cưu Ma La Thập để dịch Kinh Liên Hoa. Ông không để lại tác phẩm nào; tuy nhiên, luận điểm của ông đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển Phật giáo Trung quốc. Ông cho rằng mọi thực thể, ngay cả những Xiển đề, đều có bản tánh Phật và có thể hiểu được ngay bằng một đại giác bất thần—An important Chinese monk (355-434), the founder of the Nirvana schol of early Chinese Buddhism. He cooperated with Kumarajiva to translate the Lotus Sutra. He did not hand down any work; however, his commentaries played an important role in the development of Chinese Buddhism. He believed that “everybody including ichchantikas possess Buddha-nature and can realize in a sudden enlightenment.”
; (道生) I. Đạo Sinh (355 - 434). Cũng gọi Trúc đạo sinh. Vị cao tăng thời Đông Tấn, người Cự lộc (Bình hương, Hà bắc) đến ở tại Bành thành (Động sơn, tỉnh Giang tô), họ Ngụy, vì làm đệ tử của ngài Trúc pháp thải nên đổi thành họ Trúc. Năm 15 tuổi, sư đã lên tòa giảng, những danh sĩ thời bấy giờ không ai đối địch nổi. Năm 20 tuổi, sư thụ giới Cụ túc, tiếng tăm lừng lẫy. Lúc đầu, sư ở chùa Long quang tại Kiến nghiệp, sau vào Lô sơn thờ ngài Tuệ viễn làm thầy, nghiên cứu sâu rộng các kinh luận trong 7 năm, rồi đến Trường an thụ giáo nơi ngài Cưu ma la thập, người thời ấy tôn sư là một trong bốn vị đệ tử xuất sắc của ngài Cưu ma la thập. Năm Nghĩa hi thứ 5 (409), sư trở về Kiến nghiệp, đề xướng thuyết Xiển đề thành Phật, Đốn ngộ thành Phật, giới Phật giáo xôn xao, các nhà nghiên cứu kinh Niết bàn cũng phản đối, nên sư trở lại Lô sơn. Đến khi kinh Đại niết bàn do ngài Đàm vô sấm dịch được truyền đến Kiến nghiệp, thì mọi người mới khen kiến thức sâu rộng của sư. Sư còn đề xướng thuyết Tứ chủng pháp luân và có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sau. Duy ma cật kinh chú của ngài Tăng triệu, Đại niết bàn kinh tập giải của ngài Bảo lượng v.v... thường dẫn dụng học thuyết của sư. Năm Nguyên gia 11 (434) đời Tống sư tịch, thọ 80 tuổi. Sư có các tác phẩm: Luận Nhị đế, luận Phật tính đương hữu, luận Pháp thân vô sắc, luận Phật vô tịnh độ, luận Ưng hữu duyên, Biện Phật tính nghĩa, Pháp hoa kinh nghĩa sớ. II. Đạo Sinh. Vị Thiền tăng thuộc phái Hổ khâu, tông Lâm tế ở đời Nam Tống, hiệu là Tào nguyên, người Nam kiếm (tỉnh Phúc kiến), đệ tử nối pháp của ngài Mật am Hàm kiệt. Sư xuất gia ở chùa Diệu quả tại Nhiêu châu (tỉnh Giang tây), về sau, sư lần lượt ở các chùa Qui phong ở Tín châu (Giang tây), chùa Tiến phúc ở Nhiêu châu. Sư có các trứ tác: Tào nguyên hòa thượng ngữ lục 1 quyển, Tào nguyên sinh thiền sư ngữ yếu 1 quyển. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.5; Tục truyền đăng lục Q.35].
đạo sâm
5649<一>(1086~1153)南宋僧。溫州樂清人,俗姓彭。字元常。賜號「圓辯」。十八歲,受具足戒。初學律儀,不久入法明寺,投道淵,領妙旨,頗受器重。後至四明延慶寺,入梵光之門下。既而歸鄉主持廣濟寺,更遷廣慈寺。建炎三年(1129),高宗幸臨永嘉,勅建林靈素故宅爲資福院,命師主之,屢現靈異。專修念佛三昧,提倡「唯心淨土」說。紹興十二年(1142),代梵光主持延慶寺。大興淨土繫念會,每月二十三日集道俗念佛。嘗與雪竇大圓禪師道交。紹興二十三年十二月集眾誦觀無量壽經,書遺偈,更諷安樂行品,未終而入寂,世壽六十八,僧臘五十一。著有指南集二卷。〔釋門正統卷七、佛祖統紀卷十六、卷二十七〕 <二>(1632~1689)明末黃檗宗僧。又稱定琛。(參閱「定琛」3181)
; (道琛) I. Đạo Sâm (1086 - 1153). Vị tăng ở đời Nam Tống, người Lạc thanh, Ôn châu, họ Bành, tự Nguyên thường, hiệu là Viên thông. Năm 18 tuổi, sư thụ giới Cụ túc. Mới đầu, sư học luật nghi, không bao lâu, sư đến chùa Pháp minh học ngài Đạo uyên, hiểu thấu huyền chỉ, rất được coi trọng. Sau, sư đến chùa Diên khánh làm đệ tử ngài Phạm quang. Sư chuyên tu tam muội Niệm Phật, đề xướng thuyết Duy tâm tịnh độ. Năm 1142, sư thay ngài Phạm quang trụ trì chùa Diên khánh. Sư thành lập hội Tịnh độ hệ niệm, hàng tháng vào ngày 23 qui tụ tăng tục niệm Phật. Năm Thiệu hưng 23 (1153), tháng 12, sư tập chúng tụng kinh Quán vô lượng thọ, viết kệ di chúc, rồi tiếp tục tụng phẩm An lạc hạnh, chưa hết phẩm thì sư tịch, thọ 68 tuổi, 51 tuổi hạ. Trứ tác có: Chỉ nam tập 2 quyển. [X. Thích môn chính thống Q.7; Phật tổ thống kỉ Q.16, Q.27]. II. Đạo Sâm(1632 - 1689). Vị Thiền tăng thuộc tông Hoàng bá ở cuối đời Minh. Cũng gọi Định sâm. (xt. Định Sâm).
đạo săn
5653(827~898)新羅(朝鮮)禪僧。靈巖(朝鮮全羅南道)人,俗姓金。十五歲出家,二十三歲受具足戒。後周遊諸方,適至全羅南道玉龍寺,愛其幽勝,乃止住之,坐禪忘言三十五年,世稱玉龍子。修持陰陽五行之術,能占屋宅之方位與墳墓之位置,另又弘揚風水圖讖之說,此類修法至後世仍流行於朝鮮。師所提倡者頗受當時王室貴族之信受,乃大力護持其教法,於全國各地廣建禪院。太祖、顯宗、肅宗、仁宗、毅宗等歷代帝王並先後封之以「大禪師」、「王師」、「先覺國師」等號。〔高麗史卷二、東國通鑑卷十三〕
đạo săn tự
5654位於韓國漢城道峰區。爲新羅景文王二年(862)道詵國師於三角山所創建護國祈願之道場。此一護國祈願之傳統代代相傳,至李朝李太王光武八年(1904),因社會群情之反映,本寺遂正式成爲國家祈願之本剎。
đạo sĩ
A Taoist (hermit), also applied to Buddhists, and to Sàkyamuni.
; 1) Ẩn sĩ: A hermit (Taoist hermit). 2) Tăng sĩ ẩn tu: Buddhist monks. 3) Phật Thích Ca Mâu Ni: Sakyamuni Buddha.
Đạo sư
導師; S: guru; T: lama; cũng có khi được dịch theo âm Hán Việt là Cổ-lỗ, nghĩa là Sư phụ, vị thầy dạy đạo. Theo một ý nghĩa riêng biệt – như trong trường hợp của các vị Ma-ha Tất-đạt – thì người ta nên dịch chữ »guru« là Chân sư (真師), nếu hiểu chữ »Chân sư« ở đây đồng nghĩa với một vị thầy có đầy đủ những khả năng, thích hợp cho những môn đệ khác nhau, có thể nói là tuỳ cơ ứng biến, tuỳ chứng phát dược.|Là vị thầy dạy Ðạo. Truyền thống của Ấn Ðộ giáo phân biệt bốn vị Ðạo sư: |1. Cha mẹ, là người sinh thành thân thể, hiến tặng đời sống và giúp làm quen với các vấn đề trong cuộc đời; Thầy giáo dạy các môn học của thế gian, hướng dẫn nghề nghiệp;|2. Ðạo sư giúp tìm ra con đường đạo, tiến đến giải thoát;|3. »Ðạo sư vũ trụ« (s: avatāra, dịch sát nghĩa là »Ðấng Giáng thế«) là bậc giác ngộ, là hiện thân của sự Giác ngộ, của Chân như.|Về Ðạo sư người ta thường đặt hai câu hỏi là: 1. Trên con đường tu học giác ngộ, liệu có thật cần một Ðạo sư hay không; 2. Ðối với một Ðạo sư, hành giả phải tuân lời đến mức nào. Về câu hỏi thứ nhất, các Ðạo sư Ấn Ðộ hay dùng một thí dụ giản đơn: một người khách lạ tìm đường trong một thành phố. Người đó có hai cách, một là cứ lần lượt xem từng con đường, thế nào rồi cũng tìm ra, nhưng mất thì giờ và nếu không may, có thể con đường cuối cùng chính là con đường mình kiếm. Cách thứ hai là hỏi một người sống trong thành phố đó, người đó sẽ chỉ cách đi ngắn nhất đến đó. Ðạo sư được xem là người sống tại »địa phương« của các phương pháp tu học. Mặt khác, trong kinh sách thường nói, một khi hành giả tiến tới một mức nhất định thì nội tâm sẽ biến thành Ðạo sư, dẫn đường cho mình. Vì vậy trong kinh có dùng chữ Phạn antaryāmin, nghĩa là »người hướng đạo nội tại.« Nói về sự nghe lời Ðạo sư thì quan niệm chung cho thấy rằng không bao giờ một Ðạo sư chân thật lại ép chế học trò. Ngược lại học trò phải có một mối liên hệ thân thiết và tin tưởng nơi Ðạo sư thì các vị đó mới có thể giúp đỡ được. Người Ðạo sư vĩ đại nhất chính là đức Phật thì lại khuyên mọi đệ tử nên nghe rồi tự mình trắc nghiệm các chân lí, không nên nhắm mắt tin vào ai, kể cả vào lời nói của Ngài (xem thêm A-xà-lê).
đạo sư
6219<一>梵語 nāyaka,巴利語同。又作導首。即教化引導眾生入於佛道之聖者。特指釋尊,或為佛、菩薩之通稱。釋氏要覽卷上引十住斷結經謂,令眾生類示其正道,故稱導師;又引華首經謂,能為人說無生死之道,故稱導師。法華經卷五從地踊出品舉出菩薩眾中有上行、無邊行、淨行、安立行等四導師,謂此四菩薩為眾中最上首唱導之師。上記皆以諸佛、大菩薩等名為導師。後世對於在法會中,敘述願文、表白,而引導一座之大眾者,亦稱導師,為法會儀式之中心人物。大宋僧史略卷中之注文(大五四‧二四四下):「導師之名而含二義,若法華經中商人白導師言,此即引路指迷也;若唱導之師,此即表白也。」〔別譯雜阿含經卷十二、中阿含卷三十五算數目揵連經、法華經卷一方便品、卷三化城喻品、首楞嚴三昧經卷上、維摩經卷上佛國品、智度論卷七、卷十、維摩經文疏卷四、法華經文句卷五上〕(參閱「唱導」4418) <二>梵名 Sarvamitra,巴利名 Sabbamitta。音譯作薩里嚩蜜怛囉、薩波蜜。又作善友、一切友。為過去七佛中第六佛迦葉如之侍者。增一阿含經卷四十五「不善品」(大二‧七九一上):「迦葉如來侍者,名曰導師。我今侍者,名曰阿難。」〔長阿含卷一大本經、七佛經、七佛父母姓字經〕 <三>又名難勝、墮夷陀先那。為過去七佛中第五佛拘那含佛之子。長阿含卷一大本經(大一‧三上):「拘那含佛有子,名曰導師。(中略)今我有子,名曰羅睺羅。」〔七佛父母姓字經、佛名經卷八〕
; Master, leader, guide.
; Nakaya (skt). 1) Chư Phật và chư Bồ Tát: Buddhas and Bodhisattvas. 2) Bậc Thầy hướng dẫn đưa người đến với những lời Phật dạy: Master, leader or guide, one who guides men to Buddha's teaching. 3) Những vị Thầy hay lãnh đạo trong nghi lễ Phật giáo: The leaders of the ritual in Buddhist services.
; (導師) I. Đạo Sư. Phạm, Pàli: Nàyaka. Cũng gọi Đạo thủ. Bậc Thánh giáo hóa và dắt dẫn chúng sinh vào Phật đạo. Chỉ riêng đức Thích ca, hoặc là tiếng dùng tôn xưng Phật và Bồ tát. Thích thị yếu lãm quyển thượng dẫn lời kinh Thập trụ đoạn kết nói: Người chỉ dạy chính đạo cho chúng sinh gọi là Đạo sư. Kinh Hoa thủ thì nói: Người có thể giảng thuyết đạo giải thoát sinh tử cho chúng sinh gọi là Đạo sư. Phẩm Tòng địa dũng xuất trong kinh Pháp hoa quyển 5 thì nêu 4 vị Đạo sư trong chúng Bồ tát là Thượng hạnh, Vô biên hạnh, Tịnh hạnh và An lập hạnh. Bốn vị Bồ tát này là bậc xướng đạo (dạy bảo, dẫn dắt) tối thượng thủ trong hàng Bồ tát. Danh từ Đạo sư thời xưa chỉ được dùng để tôn xưng chư Phật và các vị Đại bồ tát, nhưng về sau, nhân vật chủ yếu trong pháp hội, là người đọc nguyện văn hoặc biểu bạch và là người hướng dẫn nghi thức lễ bái cho đại chúng cũng gọi là Đạo sư. [X. kinh Tạp a hàm Q.12 (bản biệt dịch); kinh Toán số mục kiền liên trong Trung a hàm Q.35; kinh Pháp hoa Q.1 phẩm Phương tiện, Q.3 phẩm Hóa thành dụ; kinh Thủ lăng nghiêm Q.thượng; kinh Duy ma phẩm Phật quốc; luận Đại trí độ Q.7, Q.10; Duy ma kinh văn sớ Q.4; Pháp hoa kinh văn cú Q.5 phần trên]. (xt. Xướng Đạo). II. Đạo Sư. Phạm:Sarvamitra,Pàli: Sabbamitta. Dịch âm: Tát lí phạ mật đát la, Tát ba mật. Cũng gọi Thiện hữu, Nhất thiết hữu. Là Thị giả của đức Ca diếp Như lai, vị Phật thứ 6 trong 7 vị Phật đời quá khứ. Phẩm Bất thiện trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 15 (Đại 2, 791 thượng), nói: Thị giả của đức Ca diếp Như lai tên là Đạo sư, thị giả của ta tên là A nan. [X. kinh Đại bản trong Trường a hàm Q.1; kinh Thất Phật; kinh Thất Phật phụ mẫu tính tự]. III. Đạo Sư. Cũng gọi Nan thắng, Đọa di đà tiên na. Là con của đức Phật Câu na hàm, vị Phật thứ 5 trong 7 vị Phật đời quá khứ. Kinh Đại bản trong Trường a hàm quyển 1 (Đại 1, 3 thượng), nói: Con của đức Phật Câu na hàm ở quá khứ tên là Đạo sư, nay con ta tên là La hầu la. [X. kinh Thất Phật phụ mẫu tính tự; kinh Phật danh Q.8].
đạo sư thực tiển
Practical teacher.
đạo sư vô song
An unequaled teacher.
Đạo sư 導師
[ja] ドウシ dōshi ||| (1) A (spiritual) guide; a teacher who leads one along the path to liberation (nāyaka, nara-nāyaka,loka-nāyaka). (2) A special figure among the sangha who possesses superior insight and energy. (3) The name of a bodhisattva. 〔法華經 T 262.9.2a13〕 => 1. Người hướng dẫn tinh thần; bậc thầy dẫn dắt người tu tập giải thoát (s: nāyaka, nara-nāyaka, loka-nāyaka). 2. Người kiệt xuất trong tăng chúng có nội chứng và năng lực cao siêu. 3. Danh hiệu của một vị Bồ-tát.
đạo sủng
5664北魏僧。俗姓張,名賓。少有才藝,與李範共投國學大儒雄安生之門。壯年時,領徒眾千餘,偶過趙州元氏縣,覺渴,入路傍堰角寺索水,沙彌持之,以水中含幾塵問之,師罔然無對,沙彌乃以水澆面。師大慚,散徒眾,即日受具足戒。既而入西山研究經典,自嘆入道之晚。時魏宣武帝崇信佛法,菩提流支及勒那摩提各譯出十地經論。師聞之,訪流支,受十地經論,服其教誨,居止三年。後廣宣佛法,聲譽聞於鄴下,學徒參集。寂年、世壽皆不詳。門人弟子頗多,以僧休、法繼、誕禮、牢宜、儒果等最著。師唱法於道北(鄴都之北方),故其法系稱爲北道地論派;相對於此,慧光一派則稱南道地論派。〔續高僧傳卷七、釋氏六帖卷十、高僧摘要卷一〕
; (道寵) Vị tăng ở thời Bắc Ngụy, họ Trương, tên Tân. Sư học giỏi từ thủa nhỏ, cùng với Lí phạm là học trò của bậc Đại nho Hùng an sinh. Đến tuổi tráng niên, sư lãnh đạo hơn một nghìn môn đồ. Một lần đi qua huyện Nguyên thị thuộc Triệu châu, sư cảm thấy khát nước, liền vào chùa Yển dác ở bên đường để xin nước uống, một vị sa di mang nước ra và hỏi sư trong nước có bao nhiêu bụi. Sư mờ mịt không trả lời được, vị sa di bèn hắt nước vào mặt. Sư quá hổ thẹn và ngay ngày hôm ấy xuất gia thụ giới Cụ túc, rồi vào Tây sơn nghiên cứu kinh điển, thường tự than thở là mình vào đạo quá muộn. Lúc bấy giờ vua Tuyên đế nhà Ngụy sùng kính Phật pháp thỉnh ngài Bồ đề lưu chi và Lặc na ma đề dịch Thập địa kinh luận, sư nghe được tin ấy liền đến tham học ngài Bồ đề lưu chi và ở lại đây 3 năm. Về sau, sư tuyên giảng Phật pháp, tiếng khen đồn đến Nghiệp hạ, người đến theo học rất đông. Sư hoằng pháp ở Bắc đạo (phía bắc Nghiệp đô), cho nên pháp hệ của sư gọi là phái Bắc đạo địa luận. Đối lại với phái này là phái Nam đạo địa luận của sư Tuệ quang. [X. Tục cao tăng truyện Q.7; Thích thị lục thiếp Q.10; Cao tăng trích yếu Q.1].
đạo thiên chúa
Catholicism.
đạo thiền
Thích Đạo Thiền vào khoảng thế kỷ thứ năm sau Tây Lịch, người Giao Chỉ, sớm xuất gia sống đời tịnh hạnh của một nhà sư. Ngài có khả năng thuyết giảng kinh Tam Tạng kinh điển một cách thông suốt. Ngài thích sống nơi rừng sâu núi thẳm và không giao thiệp với kẻ cao sang, mà ngược lại luôn sống đời của một nhà du Tăng khổ hạnh. Ngài thị tịch năm 527 lúc đó ngài được 70 tuổi—Thích Đạo Thiền, a Vietnamese monk in the fifth century A.D. He left home in his young age to live a pure life of a monk. He was able to preach the Tripitaka without any problems. He liked to live in the deep forest with high mountains and did not like to associate with the rich. He always lived an ascetic life of a wandering monk. He passed away in around 527 at the age of seventy.
Đạo Thuyên
(道詮, Dōsen, 797-876): vị tăng của Tam Luận Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, húy là Đạo Thuyên (道詮), xuất thân Võ Tàng (武藏, Musashi). Ông xuất gia với Thọ Nhân (壽仁, Junin) ở Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji), học về Tam Luận với Huyền Diệu (玄耀, Genyō) của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) và chuyên tu cả Mật Giáo. Vào năm 850, ông truyền giới Không Sát Sanh cho Nhân Minh Thiên Hoàng (仁明天皇, Nimmyō Tennō). Năm 854, ông làm giảng sư cho Tối Thắng Hội (最勝會), và đến năm 857 thì tiến hành luận nghị trước mặt Văn Đức Thiên Hoàng (文德天皇, Montoku Tennō) với tư cách là Tọa Chủ. Ông rất kính ngưỡng Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi), đến năm 859 thì nhận sắc chỉ trùng tu Đông Viện (東院, tức Mộng Điện [夢院]) của Pháp Long Tự. Năm sau, ông kiến lập Phước Quý Tự (福貴寺, Fukki-ji, tức Phú Quý Tự [富貴寺, Fūki-ji]) và lui về ẩn cư tại đây. Đến năm 864, ông được cử làm chức Quyền Luật Sư và trước khi qua đời thì được bổ nhiệm làm Luật Sư. Trước tác của ông có Châm Hối Mê Phương Ký (箴誨迷方記), Nhân Minh Tứ Chủng Tương Vi Nghĩa (因明四種相違義) 1 quyển, Quần Gia Tránh Luận Toát Yếu (群家諍論撮要), v.v., nhưng tất cả đều bị tán thất.
đạo thuý
5663唐代天台宗僧。爲我國天台宗第七祖(一說九祖)。長安人,俗姓王。早歲仕宦,官至監察御史,後出家,二十四歲受具足戒,專學戒律。大曆年中,入荊溪湛然門下。貞元十二年(796)登天台山,居止九年,專講法華、止觀等,後繼天台山座主之職。永貞元年(805),授天台之教予日僧最澄,並授予大乘菩薩戒。曾繼其師講說三大部。後於國清寺入寂,世壽不詳。追諡「興道尊者」。世稱止觀和尚。門人有守素、廣修、乾淑等。著有大般涅槃經疏私記十卷、維摩經疏私記三卷、摩訶止觀記中異義一卷。〔宋高僧傳卷二十九、釋門正統卷二、佛祖統紀卷八〕
; (道邃) Vị cao tăng ở đời Đường, người Trường an, họ Vương, là Tổ thứ 7 (có thuyết nói Tổ thứ 9) của tông Thiên thai Trung quốc. Thủa nhỏ, sư học Nho, lớn lên làm quan đến chức Giám sát ngự sử. Năm 24 tuổi, sư từ quan và xuất gia thụ giới Cụ túc, chuyên học về giới luật. Khoảng năm Đại lịch, sư đến Kinh khê làm đệ tử ngài Trạm nhiên. Năm Trinh nguyên 12 (796), sư lên núi Thiên thai chuyên giảng Pháp hoa, Chỉ quán trong 9 năm, sau nhận chức Tọa chủ núi Thiên thai nối chí thầy giảng thuyết 3 bộ sách lớn: Pháp hoa kinh huyền nghĩa, Pháp hoa kinh văn cú và Ma ha chỉ quán của tông Thiên thai. Niên hiệu Vĩnh trinh năm đầu (805), sư trao truyền giáo pháp Thiên thai và giới Bồ tát Đại thừa cho vị tăng Nhật bản tên là Tối trừng. Sau, sư nhập tịch ở chùa Quốc thanh, không rõ tuổi thọ, thụy hiệu là Hưng đạo tôn giả, người đời gọi sư là Hòa thượng Chỉ quán. Sư có các trứ tác: Đại bát niết bàn kinh sớ tư kí 10 quyển, Duy ma kinh sớ tư kí 3 quyển, Ma ha chỉ quán kí trung dị nghĩa 1 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.29; Thích môn chính thống Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.8].
đạo thuật
5646<一>謂道法技術;通於內、外、世、出世之法。無量壽經卷上(大一二‧二六六上):「博綜道術,貫練群籍。」無量壽經義疏(大三七‧一一八下):「廣習五明道術。」 <二>指道教爲求祈福、降魔、鎮災等,所行之法術。
; The methods, or arts, of the Buddhist religion.
; Phương pháp hay nghệ thuật tu hành của đạo Phật—The methods, or arts, of the Buddhist religion.
; (道術) I. Đạo Thuật. Phương thuật của đạo, gồm chung các pháp nội ngoại, thế gian và xuất thế gian. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 thượng), nói: Tinh thông đạo thuật, thấu suốt các sách. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Đại 37, 118 hạ), nói: Học rộng đạo thuật ngũ minh. II. Đạo Thuật. Chỉ cho pháp thuật cầu phúc, trừ tà, tiêu tai của Đạo giáo.
đạo thái
5641東晉譯經僧。涼州人。其時漢土方等諸經大多譯出,而三藏九部尚未完備,師乃策杖冒險出葱西,歷遊西域,綜攬梵文,得毘婆沙論梵本十萬餘偈,還歸涼境。河西王沮渠蒙遜宣譯之,值天竺沙門浮陀跋摩至涼地,乃共譯之,於玄始十六年(427)譯出阿毘曇毘婆沙論一百卷。時北魏攻伐涼城,譯本散失,後又收集爲六十卷。其餘事蹟不詳。〔阿毘曇毘婆沙論序〕
; (道泰) Vị tăng ở đời Đông Tấn, người Lương châu, chuyên dịch kinh. Thời bấy giờ ở Trung quốc những kinh Phương đẳng phần nhiều đã được dịch ra chữ Hán, nhưng vẫn chưa đầy đủ 9 bộ (9 thể tài), sư bèn đi Tây vực thỉnh được hơn 10 vạn kệ tụng của luận Tì bà sa bằng tiếng Phạm rồi đưa về Lương châu. Hà tây vương là Thư cừ Mông tốn thỉnh sư cùng với sa môn Phù đà bạt ma người Thiên trúc phiên dịch bộ luận này. Đến năm Huyền thủy 16 (427) thì các vị dịch được 100 quyển gọi là luận A tì đàm tì bà sa. Khi Bắc Ngụy đánh phá thành Lương châu thì bản dịch ấy bị thất lạc. Nay chỉ còn 60 quyển. Các sự tích về sư không được rõ. [X. A tì đàm tì bà sa luận tự].
đạo thâu
5625請參閱 綜理眾經目錄 (1634~1666)明末清初黃檗宗僧。興化(福建)吉陽人,俗姓林。字弢玄,號曉堂。能詩書。二十六歲出家,參侍慧門如沛。永曆十五年(1661),嗣慧門之法,同年與法兄高泉性潡共渡日本,參謁長崎崇福寺之即非如一(1606~1671),又登黃檗山萬福寺,爲隱元隆琦之丈室侍者。寬文五年(1665),任三壇戒之尊證阿闍梨。次年示寂,世壽三十三。〔黃檗東渡僧寶傳卷上〕
đạo thích hoạch
5665又作道釋人物、佛道人物。即與佛道有關之畫(大多爲人物畫)。道即道教,釋即佛教,通常亦加上儒教。一般畫題有三酸圖、三教圖、虎溪三笑圖、四睡圖。另有出山釋迦、白衣觀音、維摩、羅漢、拾得、寒山、布袋和尚、老子、張果等。歷代描繪道釋人物較著名之畫家有:唐代之張贊、王耐兒、杜庭睦,五代之胡翼、趙裔、王仁壽、董從誨、王喬士,宋代之盧象先、蘇堅、崔友諒、高元亨、王拙、王用之、李元濟、趙光輔、魏道士,元代之顏暉、王景昇、張靖、許俊,清代之王國材等。〔歷代畫史彙傳卷二、卷九(彭蘊璨)〕(參閱「禪宗藝術」6461)
; (道釋畫) Cũng gọi Đạo Thích nhân vật, Phật Đạo nhân vật. Bức tranh vẽ những nhân vật Phật giáo và Đạo giáo, đôi khi cũng thêm cả nhân vật Nho giáo. Những đề tài thường thấy là: Tam toan đồ, Tam giáo đồ, Hổ khê tam tiếu đồ, Tứ thụy đồ v.v... Ngoài ra, còn có: Xuất sơn Thích ca, Bạch y Quan âm, Duy ma, La hán, Thập đắc, Hàn sơn, Bố đại hòa thượng, Lão tử, Trương quả v.v... Những nhà danh họa chuyên vẽ nhân vật Đạo giáo và Phật giáo qua các đời gồm có: - Đời Đường: Trương tán, Vương nại nhi, Đỗ đình mục. - Thời Ngũđại: Hồdực, Triệu duệ,Vương nhân thọ, Đổng tòng hối, Vương kiều sĩ. - Đời Tống: Lư tượng tiên, Tô kiên, Thôi hữu lượng, Cao nguyên hanh, Vương chuyết, Vương dụng chi, Lí nguyên tế, Triệu quang phu, Ngụy đạo sĩ. - Đời Nguyên: Nhan huy, Vương cảnh thăng, Trương tĩnh, Hứa tuấn. - Đời Thanh: Vương quốc tài. [X. Lịch đại họa sử vựng truyện Q.2, Q.9 (Bành uẩn xán)]. (xt. Thiền Tông Nghệ Thuật).
đạo thông
5647<一>(731~813)唐代僧。廬江(安徽)人,俗姓何。幼年出家,從學於馬祖道一。馬祖示寂後,往謁石頭希遷,並與伏牛自在(741~821)遊歷京師,至唐州(河南)紫玉山,結菴而居,譽聞遐邇,僧眾雲集,遂成禪居。元和八年(813),傳法予金藏,避居襄陽。同年示寂,世壽八十三。〔宋高僧傳卷十〕 <二>爲南宋時代之華嚴學者。生卒年不詳。著有法界觀披雲集一卷,乃注釋唐代杜順所著之法界觀門一書。另著有華嚴法相槃節一卷,內容綜述華嚴宗與法相宗之教義。二書現皆存。 <三>明代僧。生卒年不詳。四川人。字白齋。幼年即入道學佛,戒行嚴謹。遊歷參學至沙市,創建白齋菴以接化行腳僧。奉持稱名念佛之淨土法門,五十年間朝夕不懈。
Đạo Thúy
(道邃, Dōsui, ?-?): vị tăng và là tổ thứ 7 (có thuyết cho là tổ thứ 8) của Thiên Thai Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, xuất thân Trường An (長安), họ Vương (王). Lúc trẻ ông đã làm quan, đến chức Giám Sát Ngự Sử (監察御史); sau xuất gia, đến năm 24 tuổi thì thọ Cụ Túc giới và chuyên tâm học giới luật. Trong khoảng niên hiệu Đại Lịch (大曆, 766-779), ông theo làm môn hạ của Kinh Khê Trạm Nhiên (荆溪湛然). Đến năm thứ 12 (796) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), ông lên Thiên Thai Sơn, sống tại đó trong vòng 10 năm, chuyên giảng Kinh Pháp Hoa, Chỉ Quán, v.v.; sau đó ông kế thừa chức Thiên Thai Tọa Chủ. Vào năm đầu (805) niên hiệu Vĩnh Trinh (永貞), ông truyền thọ giáo nghĩa Thiên Thai cũng như Đại Thừa Bồ Tát Giới cho vị tăng Nhật Bản là Tối Trừng (最澄, Saichō). Sau ông thị tịch tại Quốc Thanh Tự (國清寺), không rõ tuổi thọ bao nhiêu, và được ban thụy hiệu là Hưng Đạo Tôn Giả (興道尊者). Người đời vẫn thường gọi ông là Chỉ Quán Hòa Thượng (止觀和尚). Môn nhân của ông có những nhân vật xuất chúng như Thủ Tố (守素), Quảng Tu (廣修), Càn Thục (乾淑), v.v. Trước tác của ông có Đại Bát Niết Bàn Kinh Sớ Tư Ký (大般涅槃經疏私記) 10 quyển, Duy Ma Kinh Sớ Tư Ký (維摩經疏私記) 3 quyển, Ma Ha Chỉ Quán Ký Trung Dị Nghĩa (摩訶止觀記中異義) 1 quyển.
đạo thạnh
5650(1592~1659)明末曹洞宗僧。福建浦城人,俗姓張。號覺浪,別號杖人。十九歲,從瑞巖出家,參壽昌寺之無明慧經,爲其法嗣,又師事東苑之晦臺元鏡,得其堂奧。萬曆四十七年(1619)開法於福州國觀寺,其後歷住江蘇靈谷寺、湖北龍湖寺、江西壽昌寺、圓通寺。於順治三年(1646),住持江蘇天界寺,大振禪風。十六年示寂,世壽六十八。法嗣二十九人。師說法四十餘年,有五十餘座道場之語錄,如天界覺浪禪師全錄三十三卷、天界覺浪禪師嘉禾語錄一卷等,別有著作如稟山忠公傳、佛祖道流贊、傳燈正宗、尊正規、洞宗標正等。〔五燈全書卷六十三、正源略集卷三、續燈正統卷四十、攝山志卷三〕
; (道盛) (1592 - 1659) Vị Thiền tăng thuộc tông Tào động ở cuối đời Minh, người huyện Phố thành, tỉnh Phúc kiến, họ Trương, hiệu Giác lãng, biệt hiệu Trượng nhân. Năm 19 tuổi, sư y vào ngài Thụy nham xuất gia, tham học ngài Vô minh Tuệ kinh ở chùa Thọ xương và nối pháp của ngài. Sau sư tham yết ngài Hối đài Nguyên kính ở Đông uyển và liễu ngộ được huyền chỉ. Năm Vạn lịch 47 (1619), sư thuyết pháp lần đầu tiên ở chùa Quốc quán tại Phúc châu. Về sau, sư lần lượt ở các chùa Linh cốc tại Giang tô, Long hồ ở Hồ bắc, Thọ xương ở Giang tây. Năm Thuận trị thứ 3 (1646), sư trụ trì chùa Thiên giới ở Giang tô, nêu cao Thiền phong. Sư hoằng pháp hơn 40 năm, đệ tử nối pháp có 29 vị. Năm Thuận trị 16 (1659) sư tịch, thọ 68 tuổi. Trứ tác của sư gồm có: Thiên giới Giác lãng thiền sư toàn lục 33 quyển, Thiên giới Giác lãng thiền sư gia hòa ngữ lục 1 quyển, Bẩm sơn trung công truyện, Phật tổ đạo lưu tán, Truyền đăng chính tông, Tôn chính qui, Động tông tiêu chính. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.63; Chính nguyên lược tập Q.3; Tục đăng chính thống Q.40; Nhiếp sơn chí Q.3].
đạo thật
5654(1620~1692)明末黃檗宗僧。福建侯官人,俗姓鄭。字惟一。初禮黃檗山隱元隆琦剃髮,爲其法嗣,住持鎮海寺。明永曆八年(1654),隨隱元東渡日本,翌年歸國。日本寬文元年(1661),再與高泉性潡東渡,至大阪普門寺省覲隱元,次登黃檗山,閑居雙鶴亭,日瀝十指精血,書寫華嚴經,今仍存於黃檗山,世稱華嚴菩薩。元祿五年示寂,世壽七十三。有語錄幻居艸一卷。〔黃檗東渡僧寶傳卷下〕
đạo thế
5623(?~683)唐代僧。京兆(西安)人,俗姓韓。字玄惲,因避太宗諱,以字行世。十二歲,入青龍寺出家,深研律學,博通敏記,尤善辭章。高宗顯慶年中(656~660),皇太子詔住京師西明寺。師學識博洽,與道宣共揚律學,移風化俗,嚴持淨戒,著述是務。著有法苑珠林百二十卷、諸經要集二十卷、信福論、大小乘禪門觀十卷、四分律討要六卷、四分律尼鈔五卷、金剛經集註等。後寂於弘道元年,世壽不詳。〔宋高僧傳卷四、律苑僧寶傳卷五、大唐內典錄卷五〕
; (道世) (? - 638) Vị tăng sống vào đời Đường, người Kinh triệu (Tây an), họ Hàn, tự Huyền uẩn, vì tránh tên húy của vua Thái tông nên lấy tự là Hành thế. Năm 12 tuổi, sư xuất gia ở chùa Thanh long, nghiên cứu Luật học, giỏi văn chương. Trong năm Hiển khánh (656 - 660), Hoàng thái tử thỉnh sư vào ở chùa Tây minh tại Kinh đô. Sư cùng với ngài Đạo tuyên hoằng dương Luật học, thay đổi phong tục, nghiêm trì tịnh giới, lấy việc soạn thuật làm nhiệm vụ. Niên hiệu Hoằng đạo năm đầu sư tịch, không rõ tuổi thọ. Sư có các tác phẩm: Pháp uyển châu lâm 120 quyển, Chư kinh yếu tập 20 quyển, Đại tiểu thừa thiền môn quán 10 quyển, Tứ phần luật thảo yếu 6 quyển, Tứ phần luật ni sao 5 quyển, Tín phúc luận, Kim cương kinh tập chú. [X. Tống cao tăng truyện Q.4; Luật uyển tăng bảo truyện Q.5; Đại đường nội điển lục Q.5].
đạo thể
5665謂聖道之體。指自己之本心,以一切之聖道由之而生故。大乘義章卷十八(大四四‧八二九下):「就心法分別,真識之心正是道體。」
; The embodiment of truth, the fundament of religion.
; Đạo thể hay chân như là nền của đạo, như tự tâm thanh tịnh—The embodiment of truth, the fundament of religion, i.e. the natural heart or mind, the pure nature, the universal mind, the bhutatathata.
; (道體) Có nghĩa là thể của Thánh đạo. Chỉ cho bản tâm của chính mình, vì tất cả Thánh đạo đều từ đó sinh ra. Đại thừa nghĩa chương quyển 18 (Đại 44, 829 hạ), nói: Theo tâm pháp mà phân biệt thì tâm của chân thức chính là đạo thể.
đạo thụ
The bodhi-tree, under which Buddha attained enlightenment; also as a synonym of Buddhism with its power of growth and fruitfulness.
; 1) Cây Bồ Đề nơi mà Phật thành đạo—The bodhi-tree, under which the Buddha attained enlightenment—For more information, please see Nguyên Cát Thụ and Bồ Đề Thọ. 2) Do đạo làm tăng trưởng thiện căn nên ví với cây: Buddhism with its powers of growth and fruitfulness.
đạo thụ kinh
5658 請參閱 道樹經 [1]全一卷。三國時代吳,支謙譯。又作私呵昧經、私阿末經、私阿昧經、私訶三昧經、私末經、菩薩道樹經、道樹三昧經。收於大正藏第十四冊。本經敘述佛陀於王舍國(即王舍城)竹園中爲長者子私呵昧宣說菩薩之法。經名「菩薩道樹」,係依經之內容而稱之;意謂佛道之修行由初發意菩薩至具足一切智、轉法輪,乃至滅度,猶如種樹之發芽至開花、結果。
; (道樹經) Có 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch ở nước Ngô thời Tam quốc. Cũng gọi Tư ha muội kinh, Tư a mạt kinh, Tư a muội kinh, Tư ha tam muội kinh, Tư mạt kinh, Bồ tát đạo thụ kinh, Đạo thụ tam muội kinh, thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật ở Trúc viên gần thành Vương xá, nước Ma yết đà tuyên thuyết pháp Bồ tát cho trưởng giả Tư ha muội nghe. Vì kinh này nói sự tu hành Phật đạo từ lúc mới phát tâm Bồ tát đến khi đầy đủ Nhất thiết trí, chuyển pháp luân và diệt độ cũng giống như trồng cây nảy mầm rồi đơm bông, kết trái v.v... cho nên gọi là Bồ tát đạo thụ.
Đạo thủ 導首
[ja] ドウシュ dōshu ||| (1) The guide, the leader--as wisdom is the guide for all practices. 〔瑜伽論 T 1579.30.〕(2) In Chan, a head monk. Same as 首座. 〔臨濟録 T 1985.47.505c〕 1. Người hướng dẫn, bậc đạo sư--như trí tuệ, là người dẫn dắt cho tất cả các pháp tu.
đạo thủy
The water of Truth which washes away defilement.
; Nước Chân Lý rửa sạch mọi uế nhiễm—The water of Truth which washes away defilement.
đạo thứ
Thứ vị giác ngộ—The stages of enlightenment, or attainment.
đạo thức
1) Kiến thức về tôn giáo: The knowledge of religion 2) Trí tuệ đạt được qua tiến trình tu tập Phật pháp: The wisdom, or insight, attained through Buddhism.
đạo tin lành
Protestantism.
đạo tiên
Taoism.
đạo tiềm
5657<一>(?~961)五代法眼宗僧。河中府(山西)人,俗姓武。幼年出家,參謁法眼文益,參究多年,遂開悟,受印可。後離法眼座下,遍訪諸方,止住衢州古寺閱藏。時受五代忠懿王錢氏之命,入府中授王菩薩戒,賜號「慈化定慧禪師」,王又建慧日永明寺,延師住持,加賜「應真」,僧眾不下五百。建隆二年示寂,世壽不詳。〔景德傳燈錄卷二十五、聯燈會要卷二十七〕 <二>宋代雲門宗僧。號參寥子。大覺懷璉之法嗣。以詩與蘇軾成知交,紹聖元年(1094),蘇軾流放南方,師連坐被罰,一時還俗。建中靖國元年(1101)蒙赦,復僧籍。世壽不詳,一說崇寧五年(1106)入寂。生前哲宗賜「妙總禪師」之號。著有參寥子詩集十二卷。〔釋氏稽古略卷四、東坡先生詩〕
; (道潜) Vị Thiền tăng thuộc tông Vân môn ở đời Tống, hiệu Tham liêu tử, đệ tử nối pháp của ngài Đại giác Hoài liễn. Sư có tài làm thơ và từng kết bạn tri giao với Tô thức. Niên hiệu Thiệu thánh năm đầu (1094), khi Tô thức bị đày đi phương nam, sư cũng bị liên lụy và buộc phải hoàn tục. Đến niên hiệu Kiến trung tĩnh quốc năm đầu (1101), sư được ân xá và làm tăng trở lại. Có thuyết nói sư tịch vào năm Sùng ninh thứ 5 (1106). Lúc còn sống, sư được vua Triết tông ban hiệu Diệu tổng thiền sư. Sư có tác phẩm: Tham liêu tử thi tập 12 quyển. [X. Thích thị kê cổ lược Q.4; Đông pha tiên sinh thi].
đạo tiền
5636指證悟實道以前之階位,與「地前」同義。梁譯攝大乘論釋卷十四將修道之過程分爲道前、道中、道後三階位,其中唯有道後之階位始得無垢清淨之真如。(參閱「道後」5637)
; (道前) Giai vị trước khi chứng ngộ thực đạo, đồng nghĩa với Địa tiền. Nhiếp đại thừa luận thích quyển 14 (bản dịch đời Lương) chia quá trình tu đạo làm 3 giai vị: Đạo tiền, Đạo trung, Đạo hậu, trong đó, chỉ có giai vị Đạo hậu mới đạt được chân như thanh tịnh vô cấu. (xt. Đạo Hậu).
Đạo Toàn
(道全, Dōzen, ?-894): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, họ Tuyên (宣), pháp từ của Động Sơn Lương Giới (洞山良价), trú tại Trung Sơn (中山), Tuyển Thủy (雋水, Tỉnh Hồ Bắc), cho nên có hiệu là Trung Sơn Hòa Thượng (中山和尚). Vào năm thứ 2 (882) niên hiệu Trung Hòa (中和), vâng chiếu của vị Tiết Độ Sứ Trấn Nam (鎭南) là Chung Truyền (鍾傳), ông đến sống tại Động Sơn (洞山), làm vị tổ thứ 2 và được gọi là Trung Động Sơn (中洞山). Đến năm thứ 2 (893) niên hiệu Cảnh Phước (景福), ông được Đới Thượng Thư (戴尚書) nghênh đón về sống ở Long An Viện (龍安院) và năm sau thì ông thị tịch.
đạo toàn
5624(?~894)唐代曹洞宗僧。常州(江蘇)人,俗姓宣。洞山良价之法嗣。嘗居於雋水(湖北)中山,故稱中山和尚。中和二年(882),受鎮南節度使鍾傳之召請,住洞山,爲第二世,又稱中洞山。景福二年(893),戴尚書迎住龍安院。次年示寂,世壽不詳。〔武溪集卷九筠州洞山普利禪院傳法記、景德傳燈錄卷十七〕
đạo trang
5646(525~605)隋代僧。建業(南京)人。初從彭城寺寶瓊學成實論,繼從興皇寺法朗研習中、百、十二門、大智度等四論。入住東都內慧日道場,後入京師日嚴寺講說法華經。煬帝親臨其講座,並賜以施物。著有「集數」十卷,另又注解法華經,共成三卷。示寂於大業元年,世壽八十一。〔續高僧傳卷九〕
; (道莊) (525 - 605) Vị tăng ở đời Tùy, người Kiến nghiệp (Nam kinh). Lúc đầu, sư theo ngài Bảo quỳnh ở chùa Bành thành học luận Thành thực, về sau, sư theo ngài Pháp lãng ở chùa Hưng hoàng nghiên cứu Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận và Đại trí độ luận. Sư từng ở đạo tràng Tuệ nhật tại Đông đô, sau sư đến chùa Nhật nghiêm thuyết giảng kinh Pháp hoa, Tùy Dượng đế đích thân đến tòa giảng của sư ban cho phẩm vật. Niên hiệu Đại nghiệp năm đầu (605) sư tịch, thọ 81 tuổi. Trứ tác: Tập số 10 quyển, Chú giải kinh Pháp hoa 3 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.9].
đạo triết
5639(564~635)唐代僧。臨邑(山東)人,俗姓唐。初從穎川之明及法師學十地經、地持論,繼從魏郡(河南)之希律師學四分律、河內之詢禪師受禪法,復從曇遷學攝大乘論。一度隱於終南山潛修坐禪。後受召住於長安大莊嚴寺,開設禪堂,指導徒眾。著有百識觀門、智照自體論、大乘聞思論等書,可窺其獨特之禪風。貞觀九年示寂,世壽七十二。弟子有靜安、道誠,皆繼承師之禪風。〔續高僧傳卷二十〕
; (道哲) (564 - 635) Vị tăng sống vào đời Đường, người Lâm ấp (tỉnh Sơn đông), họ Đường. Lúc đầu, sư theo ngài Minh cập ở Dĩnh xuyên học kinh Thập địa, luận Địa trì, sau theo luật sư Hi ở Ngụy đô (tỉnh Hà nam) học luật Tứ phần, theo thiền sư Tuân ở Hà nội học Thiền pháp, rồi theo ngài Đàm thiên học luận Nhiếp đại thừa. Sau đó, sư ở ẩn trong núi Chung nam tu Thiền. Cuối cùng, sư lãnh chiếu chỉ của vua về trụ trì chùa Đại trang nghiêm ở Trường an, mở Thiền đường, hướng dẫn đồ chúng. Năm Trinh quán thứ 9 (635) sư tịch, thọ 72 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Bách thức quán môn, luận Trí chiếu tự thể, luận Đại thừa văn tư.
đạo trung
5633(1653~1744)日本臨濟宗僧。但馬(兵庫)人。號無著。又稱照冰堂、葆雨堂。幼入出石(兵庫)如來寺,後投龍華院竺印,其後歷參諸方。二十五歲,竺印示寂,乃繼其席。寶永四年(1707),時五十五歲,住持妙心寺,後退隱龍華院,遂埋頭著述,共有三七四種、九一一卷,注解有關禪門之經典、祖錄,並作清規法式之整理注釋,復以妙心寺爲中心作史傳考證,爲江戶時期臨濟宗之代表學僧。延享元年示寂,世壽九十二。著有禪林象器箋二十卷、小叢林略清規三卷、葛藤語箋十卷等。〔照冰紀年錄、續禪林僧寶傳卷中〕
; (道忠) (1653 - 1744) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế Nhật bản, người Đãn mã (huyện Binh khố), hiệu là Vô trước. Cũng gọi Chiếu băng đường, Bảo vũ đường. Thủa nhỏ, sư xuất gia ở chùa Như lai, huyện Binh khố, sau theo ngài Trúc ấn ở viện Long hoa, rồi đi tham vấn các nơi. Năm 25 tuổi, sau khi ngài Trúc ấn viên tịch, sư kế vị trụ trì. Năm Bảo vĩnh thứ 4 (1707), sư lại giữ chức Trụ trì chùa Diệu tâm và lấy đây làm trung tâm khảo chứng sử truyện. Sư chuyên việc soạn thuật và chú giải các kinh điển, Tổ lục có liên quan đến Thiền và chỉnh lí các pháp tắc thanh qui v.v... tất cả gồm 374 loại, 911 quyển. Niên hiệu Diên hưởng năm đầu (1744) sư tịch, thọ 92 tuổi. Trứ tác có: Thiền lâm tượng khí tiên 20 quyển, Tiểu tùng lâm lược thanh qui 3 quyển, Cát đằng ngữ tiên 10 quyển. [X. Chiếu băng kỉ niên lục; Tục thiền lâm tăng bảo truyện Q.trung].
đạo trung thiện hiếu
Zen Master Đạo trung Thiện Hiếu—Thiền sư Việt Nam, đời 38 dòng Lâm Tế. Không ai biết ngài quê quán ở đâu. Ngài khai sơn chùa Long Hưng tại tỉnh Sông Bé và chùa Linh Sơn tại tỉnh Tây Ninh, Nam Việt. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài hoằng hóa tại miền Nam nước Việt—A Vietnamese Zen Master. His origin was unknown. He was the Dharma heir of the 38th generation of the Linn-Chih Zen Sect. He was the founder of Long Hưng temple in Sông Bé province and Linh Sơn temple in Tây Ninh province in South Vietnam. He spent most of his life to expand and revive Buddhism in South Vietnam.
Đạo tràng
(道塲, dōjō): nguyên nghĩa là nơi đức Thích Tôn ngồi trên tòa Kim Cang thành đạo, bên bờ sông Ni Liên Thuyền (s: Nairañjanā, p: Nerañjarā, 尼連禪河, hiện tại là sông Phalgu thuộc bang Bihar) thuộc nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀) ở Trung Ấn Độ. Từ đó, nó có nghĩa là nơi tu tập Phật đạo, hay tên gọi khác của tự viện.
đạo tràng
Bodhi-mandala (skt)—Bồ Đề Mạn Đà La. 1) Nơi hay chỗ Phật thành đạo: A place, or seat where Buddha attained enlightenment. 2) Nơi chúng ta tu hành tìm cầu chân lý: A place of truth where we strive in pursuit of the truth. 3) Nơi cúng dường Phật: An object or place for religious offerings. 4) Nơi dạy đạo, học đạo, hay tu tập: A place for teaching, learning, or practising religion. 5) Pháp hành đề đắc đạo: A place, or method, for attaining to Buddha-truth. 6) Theo Kinh Duy Ma Cật, Phật bảo Bồ Tát Quang Nghiêm đến thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật dùm Phật. Quang Nghiêm bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh đến thăm bệnh ông. Vì sao? Nhớ lại ngày trước con ở trong thành Tỳ Xá Ly vừa ra, lúc đó ông Duy Ma Cật mới vào thành, con liền chào và hỏi rằng: “Cư sĩ từ đâu đến đây?”—According to the Vimalakirti Sutra, the Buddha asked Glorious Light Bodhisattva to visit Vimalakirti to enquire his health on the Buddha's behalf. Glorious Light replied: “World Honoured One, I am not qualified to call on him to enquire after his health. The reason is that once while I was leaving Vaisali I met Vimalakirti who was entering it. I saluted and asked him 'Where does the Venerable Upasaka come form? • Duy Ma Cật đáp: “Tôi từ Đạo tràng đến.”—Vimalakirti replied: “From a bodhimandala (a holy site).” • Quang Nghiêm hỏi: “Đạo tràng là gì?”—Glorious Light asked him: 'Where is this bodhimandala?' • Duy Ma Cật đáp: “Trực tâm là Đạo tràng, vì không hư dối; phát hạnh là Đạo tràng, vì làm xong các việc; thâm tâm là đạo tràng, vì thêm nhiều công đức; Bồ Đề tâm là đạo tràng, vì không sai lầm; bố thí là đạo tràng, vì không mong phước báu; trì giới là đạo tràng, vì được nguyện đầy đủ; nhẫn nhục là đạo tràng, vì đối chúng sanh tâm không chướng ngại; tinh tấn là đạo tràng, vì không biếng trễ; thiền định là đạo tràng, vì tâm điều nhu; trí huệ là đạo tràng, vì thấy rõ các Pháp; từ là đạo tràng, vì đồng với chúng sanh; bi là đạo tràng, vì nhẫn chịu sự khổ nhọc; hỷ là đạo tràng, vì ưa vui Chánh Pháp; xả là đạo tràng, vì trừ lòng thương ghét; thần thông là đạo tràng, vì thành tựu Pháp lục thông; giải thoát là đạo tràng, vì giáo hóa chúng sanh; tứ nhiếp là đạo tràng, vì nhiếp độ chúng sanh đa văn là đạo tràng, vì đúng theo chỗ nghe mà thực hành; phục tâm là đạo tràng, vì chánh quán các Pháp; ba mươi bảy phẩm trợ đạo là đạo tràng, vì bỏ Pháp hữu vi; tứ đế là đạo tràng, vì chẳng dối lầm thế gian; duyên khởi là đạo tràng, vì từ vô minh cho đến lão tử đều không hết; các phiền não là đạo tràng, vì biết là vô ngã; tất cả các Pháp là đạo tràng, vì biết các Pháp vốn không; hàng ma là đạo tràng, vì không lay động; tam giới là đạo tràng, vì không chỗ đến; sư tử hống là đạo tràng, vì không sợ sệt; thập lực, vô úy, bất cộng pháp là đạo tràng, vì không các lỗi; tam minh là đạo tràng, vì không còn ngại; một niệm biết tất cả các Pháp là đạo tràng, thành tựu nhứt thiết chủng trí. Như vậy Thiện nam tử! Nếu Bồ Tát đúng theo các Pháp Ba la mật mà giáo hóa chúng sanh, thời bao nhiêu việc làm, hoặc nhứt cử nhứt động, phải biết đều là từ nơi đạo tràng mà ra, ở nơi Phật Pháp vậy—Vimalakirti replied: 'The straightforward mind is the bodhimandala, for it is free from fasehood. The initiated mind is the bodhimandala, for it can keep discipline. The profound mind is the bodhimandala, for it accumulates merits. The enlightened mind is the bodhimandala for it is infallible. Charity (dana) is the bodhimandala, for it does not expect reward. Discipline (sila) is the bodhimandala, for it fulfills all vows. Patience (ksanti) is the bodhimandala for it has access to the minds of all living beings. Zeal (virya) is the bodhimandala, for it is free from remissness. Serenity (dhyana) is the bodhimandala, because of its harmonious mind. Wisdom (prajna) is the bodhimandala, for it discerns all things. Kindness (maitri) is the bodhimandala, for it treats all living beings on an equal footing. Compassion (karuna) is the bodhimandala, because of its great forbearance. Joy (mudita) is the bodhimandala, for it is pleasant. Indifference (upeksa) is the bodhimandala, for it wipes out both love and hate. Transcendental efficiency is the bodhimandala, for it perfects all the six supernatural powers (sadabhijna). Liberation is the bodhimandala, for it turns its back to all phenomenal conditions. Expedient devices (upaya) are the bodhimandala, for they teach and convert living beings. The four winning actions of a Bodhisattva are the bodhimandala, for they benefit all living beings. Wide knowledge through hearing the Dharma is the bodhimandala, for its practice leads to enlightenment. Control of the mind is the Bodhimandala, because of its correct perception of all things. The thirty-seven contributory stages to enlightenment are the bodhimandala, for they keep from all worldly activities. The four noble truths are the bodhimandala, because they do not deceive. The twelve links in the chain of existence are the bodhimandala, because of their underlying nature which is infinite. Troubles (klesa) are the bodhimandala, for their underlying nature is reality. Living beings are the bodhimandala, because they are (basically) egoless. All things are the bodhimandala, for they are empty. The defeat of demons is the bodhimandala, for it is imperturbable. The three realms (of desire, form and beyond form) are the bodhimandala, for fundamentally they lead to no real destination. The lion's roar is the bodhimandala, because of its fearlessness. The ten powers (dasabla), the four kinds of fearlessness and the eighteen unsurpassed characteristics of the Buddha are the bodhimandala, for they are faultless. The three insights are the bodhimandala, for they are free from all remaining hindrances. The knowledge of all things in the time of a thought is the bodhimandala, for it brings omniscience (sarvajna) to perfection. Thus, son of good family, a Bodhisattva should convert living beings according to the various modes of perfection (paramitas) and all his acts, including the raising or lowering of a foot, should be interpreted as coming from the seat of learning (bodhimandala); he should thus stay within the Buddha Dharma.' • Khi ông Duy Ma Cật nói Pháp ấy, năm trăm vị Thiên nhơn đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác—While Vimalakirti was thus expounding the Dharma, five hundred devas developed their minds set on supreme enlightenment.
đạo tràng thanh tịnh
State of purity.
đạo tràng thần
Những vị thần bảo vệ đạo tràng—Tutelary deities of Buddhist religious places, etc.
đạo tràng thụ
The bodhidruma, or tree under which the Buddha attained enlightenment—See Bồ Đề Thọ.
đạo trí
5649梵語 mārga-jñāna,巴利語 magga-ñāṇa。緣道諦之智。十智之一。即緣道諦作道、如、行、出等四種行相,而斷除迷惑之無漏智。入於見道,成就滅類智之無間道時,緣欲界之道諦,作道、如、行、出等四種行相,生起無漏之法智忍,稱爲道法智忍;而於無間道所生之無漏法智,稱爲道法智,此爲道智之初成就。又修道所攝之道類智雖無兼治下界之惑,然道法智與滅法智既可共同對治欲界修所斷之惑,亦可兼治上界之修所斷之惑。〔俱舍論卷二十六、大毘婆沙論卷一○六、雜阿毘曇心論卷六〕
; Trí hiểu đạo hay hiểu Bát Thánh đạo. Trí huệ đạt được qua hiểu thông con đường giải thoát để đi vào cõi trên—Religious wisdom; the wisdom which understands the principles of marga, the eightfold path—The wisdom obtained through insight into the way of release in the upper realms of form and formlessness.
; (道智) Phạm: Màrga-jĩàna, Pàli: Maggaĩàịa. Trí vô lậu duyên với Đạo đế, tạo ra 4 hành tướng: Đạo, Như, Hành, Xuất để đoạn trừ mê hoặc. Là 1 trong 10 trí. Khi vào giai vị Kiến đạo, thành tựu Diệt loại trí của đạo Vô gián, duyên với Đạo đế tạo ra 4 hành tướng nói ở trên, sinh khởi Pháp trí nhẫn vô lậu, gọi là Đạo pháp trí nhẫn. Còn Pháp trí vô lậu do đạo Vô gián phát sinh thì gọi là Đạo pháp trí, đây là giai đoạn mới thành tựu của Đạo trí. [X. luận Câu xá Q.26; luận Đại tì bà sa Q.106; luận Tạp a tì đàm tâm Q.6].
đạo trăn
5659(1014~1093)宋代臨濟宗僧。福建古田人,俗姓戴。字伯祥。十四歲行頭陀行,於六年之間廣學大小經論。復遍參善知識,後於浮山法遠處大悟得旨。住持江蘇因聖寺,後遷東京(開封)淨因寺。英宗賜紫袍,神宗時嘗入宮說法,並主持慧林、智海二寺,賜號「淨照禪師」。元祐八年示寂,世壽八十,法臘六十一。〔建中靖國續燈錄卷八、禪林僧寶傳卷二十六、佛祖歷代通載卷十九、釋氏稽古略卷四〕
đạo trường
5647<一>梵名 Bodhi-maṇḍa。又作菩提道場、菩提場。指中印度菩提伽耶的菩提樹下之金剛座上佛陀成道之處。〔舊華嚴經卷一世間淨眼品、悲華經卷三諸菩薩本授記品〕 <二>指修行佛道之區域;不論堂宇之有無,凡修行佛道之所在,均稱道場。法華經卷六如來神力品(大九‧五二上):「所在國土,若有受持、讀誦、解說、書寫、如說修行,若經卷所住之處,若於園中,若於林中,若於樹下,若於僧坊,若白衣舍,若在殿堂,若山谷曠野,是中皆應起塔供養,所以者何?當知是處即是道場。」〔維摩義記卷二末〕 <三>指成就菩提動機之發心、修行等。如維摩經卷上菩薩品所說,直心是道場,深心是道場,菩提心是道場,布施是道場,三明是道場,於一念間知一切法是道場。〔華嚴經探玄記卷二、華嚴經疏卷四〕 <四>在密教,修瑜伽妙行時,須先行結界,次則建立本尊道場,以修道場觀。其目的在觀他方世界佛之身土,作爲表示本尊之建立,或即觀自心本來具有的本尊身土,迎他方世界本尊,使其與自心融爲一體。(參閱「道場觀」5649) <五>一般所謂之道場,係指修習佛法之場所,故道場可作爲寺院之別名。隋煬帝即嘗下詔,明令天下之寺改稱道場。此外,宮中行佛事之場所,稱內道場,或稱內寺。臨濟宗專指供雲水僧修行之場所爲道場。日本天台宗之安然,稱受戒之場所爲道場。〔佛祖統紀卷三十九、續高僧傳卷十一吉藏傳、貞元新定釋教目錄卷十五〕 <六>指某些法會,如慈悲道場、水陸道場等。 <七>北魏僧。籍貫不詳。又作道長。初從慧光出家。北魏永平元年(508),菩提流支來華,譯出十地經論等,師投其門下,後因故觸怒流支,遂遁入嵩山,十年之間精研大智度論,窮盡其旨。不久出洛陽,專講智論。復於鄴都大集寺大張講筵,緇素雲集,時人尊爲「學者之宗」。師平素奉置天竺雞頭摩寺五通菩薩所畫之阿彌陀五十菩薩像,後且以之轉寫於世。生卒年不詳,僅知北齊後主隆化元年(576)時,師尚健在。另據安樂集卷下所載六大德相承之說,依次有道場、曇鸞之記載,準之,曇鸞或爲師之門人。〔大智度論疏卷二十四、續高僧傳卷二十四明瞻傳、廣弘明集卷二〕
; (道場) I. Đạo tràng. Phạm: Bodhi-maịđa. Cũng gọi Bồ đề đạo tràng, Bồ đề tràng. Nơi đức Phật thành đạo dưới gốc cây Bồ đề ở Bồ đề già da thuộc Trung Ấn độ. [X. phẩm Thế gian tịnh nhãn trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.1; phẩm Chư bồ tát bản thụ kí trong kinh Bi hoa Q.3]. II. Đạo Tràng. Nơi tu hành Phật đạo. Bất luận có nhà cửa hay không, phàm chỗ dùng để tu hành Phật đạo đều gọi là Đạo tràng. Phẩm Như lai thần lực trong kinh Pháp hoa quyển 6 (Đại 9, 52 thượng), nói: Nơi đất nước đang ở, nếu có người thụ trì, đọc tụng, giải nói, viết chép, như lời dạy tu hành; nơi trong vườn trong rừng, dưới gốc cây, nơi tăng phường, nhà bạch y, điện đường, trong núi hang, đồng trống v.v... nếu có quyển kinh thì nên xây tháp cúng dường. Vì sao? Vì chỗ ấy tức là Đạo tràng. [X. Duy ma nghĩa kí Q.2 phần cuối]. III. Đạo Tràng. Chỉ cho sự phát tâm và tu hành thành tựu Bồ đề. PhẩmBồ tát trong kinh Duy ma quyển thượng nói: Trực tâm là đạo tràng, thâm tâm là đạo tràng, Bồ đề tâm là đạo tràng, bố thí là đạo tràng, tam minh là đạo tràng, trong khoảng một niệm biết tất cả pháp là đạo tràng. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2; Hoa nghiêm kinh sớ Q.4]. IV. Đạo Tràng. Trong Mật giáo, khi tu diệu hạnh Du già thì trước hết phải kết giới trong một khu vực nào đó, kế đến kiến lập đạo tràng Bản tôn để tu Đạo tràng quán. Mục đích là quán tưởng thân Phật ở các thế giới khác chính là Bản tôn; hoặc quán tâm mình và Bản tôn dung hợp làm một. (xt. Đạo Tràng Quán). V. Đạo Tràng. Tên gọi khác của chùa viện. Vua Dượng đế nhà Tùy từng ban lệnh đổi tên chùa là Đạo tràng. Ngoài ra, nơi làm các việc Phật trong cung vua gọi là Nội đạo tràng, hoặc gọi là Nội tự. Tông Lâm tế chuyên gọi nơi dành cho các vị tăng Vân thủy (du phương, hành cước) tu hành là đạo tràng. Ngài An nhiên của tông Thiên thai Nhật bản gọi chỗ thụ giới là đạo tràng. [X. Phật tổ thống kỉ Q.39; Tục cao tăng truyện Q.11 Cát tạng truyện; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15]. VI. Đạo Tràng. Chỉ cho các pháp hội, như: Từ bi đạo tràng, Thủy lục đạo tràng. VII. Đạo Tràng. Cũng gọi Đạo trường. Vị tăng ở đời Bắc Ngụy, không rõ quê quán. Mới đầu, sư y vào ngài Tuệ quang xuất gia, sau theo ngài Bồ đề lưu chi (đến Trung quốc vào năm 508) làm đệ tử, nhưng vì làm phật ý ngài Lưu chi nên sư vào Tung sơn ở ẩn, trong 10 năm, chuyên nghiên cứu luận Đại trí độ, hiểu hết ý chỉ sâu kín. Không bao lâu, sư xuống núi, về Lạc dương, chuyên giảng luận Đại trí độ. Sư lại đến Nghiệp đô, mở trường giảng ở chùa Đại tập, tăng tục theo học rất đông và tôn sư là Học giả. Sư thường thờ bức tranh đức Phật A di đà cùng với 50 vị Bồ tát do bồ tát Ngũ thông ở chùa Kê đầu ma bên Thiên trúc vẽ. Sau bức tranh này được vẽ lại để lưu hành ở đời. Không rõ sư tịch năm nào, chỉ biết vào niên hiệu Long hóa năm đầu (576) đời Hậu chủ nhà Bắc Tề thì sư vẫn còn mạnh khỏe. Ngoài ra, trong An lạc tập quyển hạ có ghi thuyết Lục đại đức tương thừa, trong đó, theo thứ tự là: Đạo tràng, Đàm loan v.v... Như vậy, Đàm loan là đệ tử của sư chăng? [X. Đại trí độ luận sớ Q.24; Tục cao tăng truyện Q.24 Minh chiêm truyện; Quảng hoằng minh tập Q.2].
đạo trường quán
5649密家於行法時,先作結界,其次爲建立本尊之道場而修觀法,稱爲道場觀、密教道場觀。即真言行者修瑜伽妙行時,先觀想風、水、地三輪(胎藏界法),或空、風、火、水、地五輪(金剛界法),其次觀想寶樓閣與曼荼羅,以建立本尊所居之道場,復於心前之壇上觀想自身本具之淨菩提心,至此始迎請所念之本尊自其本土至自身之淨菩提心,而與本有之佛相冥會。 道場觀有廣、中、略三種觀法:(一)廣觀,即觀想完整的器界、寶樓閣與曼荼羅。行此觀法時,結羯磨印。(二)中觀,即略作器界觀而詳觀寶樓閣、曼荼羅。(三)略觀,於器界與寶樓閣略作觀想,而直觀曼荼羅。行中觀與略觀時,均結如來拳印。〔金剛頂瑜伽千手千眼觀自在菩薩修行儀軌經卷上、大日經疏卷十四〕
; (道場觀) Cũng gọi Mật giáo đạo tràng quán. Khi tu hạnh Du già, trước hết, hành giả Mật giáo kết giới, kế đến kiến lập Đạo tràng bản tôn để tu pháp quán, gọi là Đạo tràng quán. Tức là, trước quán tưởng 3 luân: Gió, nước, đất (pháp tu của Thai tạng giới), hoặc 5 luân: Không, gió, lửa, nước, đất (pháp tu thuộc Kim cương giới), kế đến quán tưởng lầu gác báu và mạn đồ la để kiến lập đạo tràng của Bản tôn, rồi ở trên đàn trước mặt, quán tưởng thân mình vốn có đầy đủ tâm bồ đề thanh tịnh, lại quán tưởng hình tượng Bản tôn ở trên đàn thầm khế hợp với đức Phật sẵn có trong tâm mình. Đạo tràng quán có 3 pháp quán: 1. Quảng quán: Kết ấn Yết ma, quán tưởng toàn bộ khí thế giới, lầu gác báu và mạn đồ la. 2. Trung quán: Kết ấn Như lai quyền, quán tưởng sơ qua khí thế giới, quán kĩ lầu gác báu và mạn đồ la. 3. Lược quán: Kết ấn Như lai quyền, quán tưởng sơ qua khí thế giới và lầu gác báu, quán kĩ mạn đồ la. [X. kinh Kim cương đính du già thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại bồ tát tu hành nghi quĩ Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.14].
đạo trường thụ
5648<一>指菩提樹。又作覺樹、道樹、思惟樹。釋尊於菩提樹下之金剛座成佛,故稱道場樹。又阿彌陀佛之淨土亦有道場樹,即無量壽經卷上所載極樂世界之菩提樹,其樹高四百萬里,周圍五十由旬,枝葉四布二十萬里,一切眾寶自然合成,條間周匝,垂以瓔珞,珍妙寶網羅覆其上,微風吹枝葉,演出無量妙法聲。另據大寶積經無量壽如來會所載,樹僅高百千由旬,莊嚴經卷下載一千六百由旬。(參閱「菩提樹」5208) <二>爲阿彌陀佛三十七號之一。曇鸞之讚阿彌陀偈(大四七‧四二三上):「稽首頂禮道場樹。」
; (道場樹) I. Đạo Tràng Thụ. Cũng gọi Giác thụ, Đạo thụ, Tư duy thụ. Tức là cây bồ đề, nơi đức Phật thành đạo. Ngoài ra, Tịnh độ của đức Phật A di đà cũng có Đạo tràng thụ, tức là cây Bồ đề ở thế giới Cực lạc. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển thượng nói, thì cây này cao 400 vạn dặm, cành lá tỏa ra 4 phía chu vi 20 vạn dặm, do tất cả các thứ báu tự nhiên hợp thành, chung quanh những nhánh cây có các chuỗi ngọc anh lạc rủ xuống, những tấm lưới châu báu che phủ ở phía trên, khi làn gió nhẹ thổi qua thì từ những cành lá phát ra vô lượng tiếng pháp nhiệm mầu. Nhưng, theo hội Vô lượng thọ Như lai trong kinh Đại bảo tích thì cây này chỉ cao 100 nghìn do tuần, còn kinh Trang nghiêm quyển hạ thì ghi 1.600 do tuần. (xt. Bồ Đề Thụ). II. Đạo Tràng Thụ. Một trong 37 danh hiệu của đức Phật A di đà. Trong bài kệ tán thán đức Phật A di đà do ngài Đàm loan soạn có câu (Đại 47, 423 thượng): Cúi đầu đính lễ Đạotràng thụ.
đạo trường tự
5647<一>位於建康(今之南京)。晉太寧(323~325)初年,司空謝石所建,故又稱謝司空寺、謝寺。於東晉末葉,與廬山共爲南方佛教之中心。自安帝義熙至恭帝元熙年間,佛陀跋陀羅自長安來至本寺,與法顯共譯出摩訶僧祇律、大般泥洹經,又獨譯出華嚴經、大方等如來藏經、僧祇比丘戒本、文殊師利發願經等。其中華嚴經之翻譯,有法業、慧嚴等百餘沙門參與之,且於寺內別設華嚴堂。譯成之後,改寺名爲興嚴寺。法顯亦於本寺譯出雜阿毘曇心論。此外,另有義學沙門寶雲、僧複、慧詢、法莊等率眾住本寺。劉宋之初,慧觀居之,聲勢大振,譯經講說,殆無虛日,一時成爲江南首剎。陳代時,曇遷亦住於本寺。 <二>位於浙江吳興西南七公里之道場山(舊稱雲峰)中。唐中和年間(881~885),如訥所開創。又稱真正禪院、妙覺寺、護聖萬壽寺。〔大明一統志卷十二、卷四十、大清一統志卷二二二〕 <三>日本讚岐道場寺。日人爲供奉弘法大師空海,遂於全國設立八十八個供奉場所,讚岐道場寺即其中之一。
; (道場寺) Chùa ở Kiến khang (thành phố Nam kinh hiện nay) do quan Tư không tên Tạ thạch sáng lập vào đầu năm Thái ninh (323 - 325) đời Tấn, vì thế còn gọi là Tạ tư không tự, Tạ tự. Vào cuối đời Đông Tấn, chùa này và Lô sơn đều là trung tâm của Phật giáo phương nam. Từ năm Nghĩa hi đời An đế đến khoảng năm Nguyên hi đời Cung đế (405- 419), chùa này có nhiều vị cao tăng đến ở để dịch kinh: -Ngài Phật đà bạt đà la dịch kinh Hoa nghiêm, kinh Đại phương đẳng Như lai tạng, kinh Văn thù sư lợi phát nguyện và Tăng kì tỉ khưu giới bản. Trong đó, việc phiên dịch kinh Hoa nghiêm còn có hơn 100 vị sa môn tham dự như các ngài Pháp nghiệp, Tuệ nghiêm v.v... - Ngài Phật đà bạt đà la còn dịch chung với ngài Pháp hiển các bộ kinh Đại bát niết bàn và luật Ma ha tăng kì. - Ngài Pháp hiển cũng dịch bộ luận Tạp a tì đàm tâm. Trong chùa có thiết lập riêng Hoa nghiêm đường. Sau khi công việc phiên dịch hoàn thành, chùa được đổi tên là Hưng nghiêm tự. Ngoài ra, chùa này còn là đạo tràng giảng kinh thuyết pháp, bồi dưỡng chúng tăng dưới sự chỉ dạy của các ngài Bảo vân, Tăng phức, Tuệ tuân, Pháp trang (cuối đời Đông Tấn), Tuệ quán (đầu đời Lưu Tống) và Đàm thiên (đời Trần) v.v... thành là ngôi chùa nổi tiếng nhất ở vùng Giang nam thời bấy giờ.
đạo trường, tràng
Truth-plot. Bodhimandala (S). Magical circle, place of enlightenment. Bồ đề đạo tràng: the place where Buddha attained enlightenment. A place, or method, for attaining to Buddha-truth. An object of or place for religious offerings. A place for teaching, learning or practising religion.
đạo trừng
5657(1616~?)明末清初臨濟宗僧。忠南(四川)人,俗姓楊。號空谷。二十六歲,投四川熊家寺靜主悟修出家,於酆都(四川)十方堂鐵受沙彌戒,於梁山龍潭雪受具足戒。歷參訪墊江(四川)木頭灘月竹、大竹萬峰、廣安龍臺寺象崖性珽。後遇蜀之兵亂,隱於七星山八年,歸大竹,遇敏樹如相來山,機緣契合,受印證。歷住成都內江縣三聖寺等諸剎。康熙三十一年(1692)時,師七十七歲,寂年不詳。著有空谷道澄禪師語錄二十卷。〔五燈全書卷八十八〕
; (道澄) (1616 - ?) Vị Thiền tăng thuộc tông lâm tế ở cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Trung nam (tỉnh Tứ xuyên), họ Dương, hiệu là Không cốc. Năm 26 tuổi, sư theo ngài Tĩnh chủ Ngộ tu xuất gia ở chùa Hùng gia, tỉnh Tứ xuyên, thụ giới Sa di với ngài Thập phương Đường thiết ở Phong đô (Tứ xuyên), rồi y vào ngài Long đàm tuyết thụ giới Cụ túc ở Lương sơn. Sau đó, sư đi tham vấn các ngài: Mộc đầu than Nguyệt trúc và Đại trúc Vạn phong ở Điếm giang (Tứ xuyên), Tượng nhai Tính đĩnh ở chùa Long đài tại Quảng phương. Sau gặp nạn chiến loạn ở đất Thục, sư ẩn ở núi Thất tinh 8 năm, rồi trở về Đại trúc, gặp ngài Mẫn thụ Như tướng, cơ duyên khế hợp, sư được ấn chứng. Sư từng trụ trì chùa Tam thánh ở huyện Nội giang tại Thành đô. Năm Khang hi 31 (1692), sư được 77 tuổi, sư tịch năm nào, không rõ. Trứ tác có: Không cốc Đạo trừng thiền sư ngữ lục 20 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.88].
Đạo Tuyên
(道宣, Dōsen, 596-667): vị tăng Luật Tông dưới thời nhà Đường, còn được gọi là Nam Sơn Luật Sư (南山律師), Nam Sơn Đại Sư (南山大師), tổ sáng lập ra Nam Sơn Luật Tông, người Ngô Hưng (呉興), Triết Giang (浙江), có thuyết cho là vùng Đơn Đồ (丹徒), Nhuận Châu (潤州), Giang Tô (江蘇), họ Tiền (錢), tự là Pháp Biến (法遍). Năm 16 tuổi, ông xuất gia, theo Huệ Quân (慧頵) ở Nhật Nghiêm Tự (日嚴寺) và Trí Thủ (智首) ở Đại Thiền Tự (大禪寺) học Luật; sau ông đến trú tại Phỏng Chưởng Cốc (倣掌谷, phía Nam Trường An), tạo dựng Bạch Tuyền Tự (白泉寺) và chuyên tâm nghiên cứu, hoằng truyền Tứ Phần Luật, cho nên tôn phái của ông được gọi là Nam Sơn Luật Tông. Ông đã từng đi khắp nơi thuyết giảng Luật học và cùng tham gia phiên dịch với Huyền Trang (玄奘). Ông đã từng sống qua vài nơi như Sùng Nghĩa Tự (崇義寺), Phong Đức Tự (豐德寺) và Tịnh Nghiệp Tự (淨業寺). Vào năm thứ 3 (658) niên hiệu Hiển Khánh (顯慶), ông vâng sắc chỉ đến trú trì Tây Minh Tự (西明寺) ở Trường An. Không bao lâu sau, ông soạn ra Thích Môn Chương Phục Nghi (釋門章服儀), Thích Môn Quy Kính Nghi (釋門歸敬儀), v.v. Vào năm thứ 2 (662) niên hiệu Long Sóc (龍朔), vua Cao Tông ra sắc lệnh các tăng ni phải lễ bái nhà vua, ông cùng với Huyền Trang dâng thư kháng tranh, nên việc này được đình chỉ. Đến tháng 2 năm thứ 2 (667) niên hiệu Càn Phong (乾封), ông sáng lập giới đàn tại Tịnh Nghiệp Tự, các nơi đến cầu giới hơn 20 người. Cũng vào tháng 10 năm này ông thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi đời và 52 hạ lạp. Ông được ban cho thụy hiệu Trừng Chiếu (澄照). Trước tác của ông có Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao (四分律刪繁補闕行事鈔) 12 quyển, Yết Ma Sớ (羯磨疏) 3 quyển, Giới Bổn Sớ (戒本疏) 6 quyển, Thập Tỳ Ni Nghĩa Sao (拾毘尼義鈔) 6 quyển, Tỳ Kheo Ni Nghĩa Sao (比丘尼義鈔) 6 quyển, được gọi là 5 bộ trọng yếu của Luật học. Trong đó, Hành Sự Sao là bộ sách không thể thiếu khi nghiên cứu về Tứ Phần Luật. Ngoài ra ông còn soạn ra bộ Đại Đường Nội Điển Lục (大唐內典錄) 10 quyển, là sách mục lục chỉnh lý toàn bộ kinh điển đang hiện hành. Ngoài ra, ông còn biên tập Cổ Kim Phật Đạo Luận Hành (古今佛道論行) 4 quyển, Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集) 30 quyển, v.v., để tuyên dương Phật Giáo. Hơn nữa, ông còn trước tác Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳) 10 quyển, Thích Thị Lược Phổ (釋氏略譜), Thích Ca Phương Chí (釋迦方志), Tam Bảo Cảm Thông Lục (三寳感通錄), v.v.
; 道宣; C: dàoxuān; J: dōsen;|1. Vị Khai tổ (596-667) của Luật tông Trung Quốc, cũng được gọi là Nam Sơn Luật sư, Nam Sơn Ðại sư. Sư xuất gia năm 16 tuổi, nghiêm túc tu hành trì giới. Nhân lúc Pháp sư Huyền Trang từ Ấn Ðộ trở về, Sư phụng chiếu sung vào ban phiên dịch kinh. Vì có công truyền bá giới luật nên Sư được các vị sau này tôn là Sơ tổ của Luật tông Trung Quốc. Tác phẩm quan trọng nhất của Sư còn được lưu lại có lẽ là bộ Tục cao tăng truyện, một bộ truyện gồm 30 quyển, ghi lại nhiều tiểu sử của các Cao tăng từ đầu thế kỉ thứ 6 đến năm 645. Sư tịch ngày 3 tháng 10 năm Càn Phong thứ 2 đời Ðường, thọ 72 tuổi. Vua sắc thuỵ là Trừng Chiếu, tháp hiệu Tịnh Quang. Vì ở lâu tại Chung Nam sơn nên Sư cũng được biết dưới tên Nam Sơn Ðại sư, Luật sư.|2. Luật sư Trung Quốc (702-760), sang Nhật Bản năm 732 truyền bá giáo pháp của Luật tông (j: ritsu-shū), Hoa nghiêm tông (j: kegon-shū) và Bắc phương Thiền tông. Sư là môn đệ đời thứ ba của Thiền sư Thần Tú.
đạo tuyên
5636(596~667)唐代律僧。又稱南山律師、南山大師。爲南山律宗之祖。浙江吳興人,一說江蘇潤州丹徒人,俗姓錢。字法遍。十六歲出家,先後隨日嚴寺慧頵、大禪定寺智首學律。後住於終南山倣掌谷(長安之南),營建白泉寺,研究弘宣四分律,其宗派稱南山律宗。曾至各地講說律學,亦參與玄奘之譯場。嚴守戒品,深好禪那。歷住崇義寺、豐德寺、淨業寺。顯慶三年(658),奉勅任長安西明寺上座。未久,撰釋門章服儀、釋門歸敬儀等。龍朔二年(662),高宗勅令僧尼須禮拜君親,師與玄奘等上書力爭,此事乃止。乾封二年二月,於淨業寺創立戒壇,諸方前來求戒者二十餘人,爲後世建築戒壇之法式。於是年十月入寂,世壽七十二,法臘五十二。諡號「澄照」。 生平獎掖後進,不遺餘力,德行淳厚,緇素共仰。所著之四分律刪繁補闕行事鈔十二卷、羯磨疏三卷、戒本疏六卷、拾毘尼義鈔六卷、比丘尼義鈔六卷,稱爲律學五大部。其中行事鈔爲研究四分律所不可或缺之書。另撰有大唐內典錄十卷,係一部整理經典之目錄書。又針對道教之說,編集古今佛道論衡四卷、廣弘明集三十卷等,以宣揚佛教。此外尚著有續高僧傳十卷、釋氏略譜、釋迦方志、三寶感通錄等諸書,皆爲後世治學者之指南。〔宋高僧傳卷十四、佛祖歷代通載卷十五、大唐內典錄卷五〕
; Nam Sơn Luật Sư, hay Nam Sơn Đại Sư, một nhà sư thuộc phái Luật tông tại Trung quốc (702-760) vào đời nhà Đường. Ông là hậu duệ thuộc thế hệ thứ ba của dòng Thiền Thần Tú. Vào năm 732, ông chẳng những là người đã đưa sang Nhật Bản trường phái Luật Tông, mà ông còn đưa sang đó Hoa Nghiêm và phái Thiền Bắc Tông. Người ta nói rằng Đạo Tuyên cũng là người trợ giúp Huyền Trang trong công việc phiên dịch kinh điển—T'ao-Hsuan, a celebrated Chinese master of Vinaya school (702-760), during the T'ang dynasty, the third generation dharma successor of Shen-hsiu. He was the one who brought to Japan in 732 he was not only the doctrine of Vinaya, but also the Avatamsaka and the Northern school of Zen. It is said that T'ao-Hsuan also assisted Hsuan-Tsang in his translations.
; (道宣) (596 - 667) Vị cao tăng ở đời Đường. Cũng gọi Nam sơn luật sư, Nam sơn đại sư, người huyện Ngô hưng, tỉnh Chiết giang (có thuyết nói là người Đan đồ, Nhuận châu, tỉnh Giang tô) họ Tiền, tự Pháp biến, là Sơ tổ của Nam sơn luật tông. Năm 16 tuổi, sư xuất gia, lần lượt theo các ngài Tuệ quân ở chùa Nhật nghiêm, Trí thủ ở chùa Đại thiền định học luật. Sau, sư cất chùa Bạch tuyền ở Phỏng chưởng cốc tại núi Chung nam, nghiên cứu, hoằng truyền luật Tứ phần. Sư từng đi các nơi để giảng dạy Luật học, sư cũng tham dự dịch trường của ngài Huyền trang. Sư từng ở các chùa Sùng nghĩa, Phong đức, Tịnh nghiệp. Năm Hiển khánh thứ 3 (658), sư vâng sắc chỉ nhận chức Thượng tọa của chùa Tây minh ở Trường an. Năm Long sóc thứ 2 (662), vua Cao tông ra lệnh cho tăng ni phải lễ bái vua chúa, nhờ sư và ngài Huyền trang dâng biểu hết sức can ngăn, lệnh ấy mới được bãi bỏ. Bình sinh, sư nghiêm trì giới luật, tu tập Thiền quán, hết lòng tưởng lệ lớp hậu tiến, đức hạnh thuần hậu của sư khiến kẻ tăng người tục đều kính ngưỡng. Tháng 2 năm Càn phong thứ 2 (667) sư mở đàn giới ở chùa Tịnh nghiệp, có hơn 20 giới tử các nơi về xin thụ giới. Đây là đàn giới mẫu mực được hậu thế noi theo. Năm Càn phong thứ 2 (667) sư tịch, thọ 72 tuổi, 52 tuổi hạ, thụy hiệu là Trừng chiếu. Những tác phẩm của sư gồm có: Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao 12 quyển, Yết ma sớ 3 quyển, Giới bản sớ 6 quyển, Thập tì ni nghĩa sao 6 quyển, Tỉ khưu ni nghĩa sao 6 quyển, Đại đường nội điển lục 10 quyển, Cổ kim Phật đạo luận hành 4 quyển, Quảng hoằng minh tập 30 quyển, Thích thị lược phổ, Thích ca phương chí, Tam bảo cảm thông lục. [X. Tống cao tăng truyện Q.14; Phật tổ lịch đại thông tải Q.15; Đại đường nội điển lục Q.5].
Đạo Tuyền
(道璿, Dōsen, 702-760): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, một trong những người đem Thiền, Luật và Hoa Nghiêm truyền sang Nhật Bản, vị tổ thứ 2 của Thiền Tông Nhật Bản và cũng là sơ tổ của Hoa Nghiêm Tông Nhật Bản, sang Nhật dưới thời đại Nại Lương, húy là Đạo Tuyền (道璿), xuất thân Hứa Châu (許州, Tỉnh Hà Nam), hậu duệ của Vệ Linh Công (衛靈公). Ông thọ giới với Định Tân (定賓), theo học Luật với vị này, học Thiền và Hoa Nghiêm với Phổ Tịch (普寂), sau đó đến giáo hóa cho chúng tăng ở Đại Phước Tiên Tự (大福先寺). Khi Phổ Chiếu (普照, Fushō), Vinh Duệ (榮叡, Yōei) của Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) sang nhà Đường cầu sư truyền giới luật, ông được hai vị này cung thỉnh sang Nhật. Vào năm 734, ông cùng với nhóm Bồ Đề Tiên Na (菩提僊那, Bodaisenna) và Phật Triết (佛哲, Buttetsu) lên thuyền sang Nhật; nhưng giữa đường gặp gió bão, đến năm 736 họ mới lên đất liền được và trú tại Đại An Tự (大安寺, Daian-ji). Năm 751, ông làm Luật Sư, năm sau thì làm Chú Nguyện Sư cho Lễ Cúng Dường Khai Nhãn Tượng Đại Phật tại Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Năm 754, ông đến vấn an Giám Chơn (鑑眞, Ganjin) khi vị này vừa sang Nhật và năm sau thì lui về ẩn cư tại Tỉ Tô Tự (比蘇寺) vùng Cát Dã (吉野, Yoshino). Đạo Tuyền là người rất tinh thông về Hoa Nghiêm lẫn Thiên Thai, và thông qua người đệ tử Hành Biểu (行表, Gyōhyō) của ông đã tạo ảnh hưởng lớn cho Tối Trừng (最澄, Saichō)—tổ khai sáng Thiên Thai Tông Nhật Bản. Vào năm đầu (760) niên hiệu Thượng Nguyên (上元), ông thị tịch, hưởng thọ 59 tuổi.
đạo tuyền
5662(702~760)唐代僧。係將禪、律、華嚴傳至日本之第一人。亦爲日本禪宗第二祖、華嚴宗初祖。河南許州人,俗姓衛。幼年出家,後入洛陽大福先寺,從定賓受具足戒,研學律藏。又師事華嚴寺之普寂,兼習禪學、華嚴。於日本天平八年(736)被迎請至日本。十五年日僧最澄正式受戒,入其門下。常至各地講說戒律,曾任東大寺大佛開眼法要之重要職務,對於初期奈良佛教之貢獻至鉅。於上元元年入寂,世壽五十九。〔八宗綱要卷下、日本佛教史講話、扶桑略記拔萃〕
; (道璇) (702 - 760) Vị tăng ở đời Đường, người Hứa châu, tỉnh Hà nam, họ Vệ. Sư là người đầu tiên truyền Thiền tông, Luật tông và Hoa nghiêm tông đến Nhật bản, là tổ thứ 2 của Thiền tông và Sơ tổ tông Hoa nghiêm Nhật bản. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, sau vào chùa Đại phúc tiên ở Lạc dương theo ngài Định tân thụ giới Cụ túc, nghiên cứu Luật tạng. Sau, sư lại theo ngài Phổ tịch ở chùa Hoa nghiêm học Thiền và Hoa nghiêm. Năm 736, sư được thỉnh sang Nhật bản, mấy năm sau, vị tăng Nhật bản là Tối trừng chính thức thụ giới làm đệ tử của sư. Sư thường đi các nơi để giảng dạy giới luật và từng giữ chức vụ trọng yếu của chùa Đông đại. Sư đã có những cống hiến rất lớn đối với Phật giáo Nhật bản ở thời kì đầu của thời đại Nại lương (Nara). Niên hiệu Thượng nguyên năm đầu (760) sư tịch, hưởng thọ 59 tuổi. [X. Bát tông cương yếu Q.hạ; Nhật bản Phật giáo sử giảng thoại; Phù tang lược kí bạt tụy].
đạo tâm
5623又作道念。立志修行佛道之心,稱爲道心。與「菩提心」同義。十三歲或十五歲以上,初入佛道的新參者之心,稱爲今道心。
; Xem bồ đề tâm.
; Xem bồ đề tâm.
; Màrga-citta (S). The mind which is bent on the right way, which seeks enlightenment. The path of the heart; religious faith.
; 道心; C: dàoxīn; J: dōshin; nghĩa là »tâm hướng về Ðạo«;|1. Chỉ tâm đầy nguyện vọng và quyết định thực hiện Bồ-đề; 2. Một Sa-di trong một thiền viện (xem thêm dưới Vân thuỷ; j: unsui).
; 1) Tín Tâm: Religious faith. 2) Bồ Đề Tâm: Bodhi mind. 3) Tâm tu tập chánh đạo tìm cầu giác ngộ: The mind which bent on the right way, which seeks enlightenment.
; (道心) Cũng gọi Đạo niệm. Tâm quyết định tu hành Phật đạo gọi là Đạo tâm, đồng nghĩa với Bồ đề tâm. Tâm của người mới tham học Phật đạo từ 13 tuổi hoặc 15 tuổi trở lên gọi là Kim đạo tâm.
đạo tâm thiền sư
Thiền Sư Đạo Tâm—Zen Master Đạo Tâm—Thiền sư Việt Nam vào đầu và giữa thế kỷ thứ 17, quê ở Phúc Khê, Bắc Việt. Tục danh là Vũ Khắc Trường (cháu kêu bằng chú của Thiền Sư Đạo Chân Vũ Khắc Minh). Ngài là đệ tử của Thiền sư Đạo Chân. Sau khi Thầy của ngài thị tịch, ngài tiếp tục trụ tại chùa Pháp Vũ tu hành cho đến khi thị tịch, không rõ năm nào. Lúc trước khi viên tịch, ngài đã cho biết nhục thân sẽ không bị hư thối. Sự việc quả đúng như thế, nhưng về sau nầy, người ta cũng ướp vào nhục thân của ngài một số chất liệu để hạn chế sức tàn phá của thời gian—A Vietnamese Zen master from Phúc Khê, Bắc Việt, in the early and middle of the seventeenth century. His secular name was Vũ Khắc Trường. He was a disciple of Zen Master Đạo Chân (his uncle). After his master passed away, he stayed at Pháp Vũ Temple to cultivate until he passed away, the year of his passing away was unknown. Before his death, he told his disciples that his body would not be decayed. It happened as he said. However, recently, some new techniques have been applied to reduce the decomposition to the body.
đạo tâm tăng tiến
Advancing (reinforcing) the bodhi mind.
Đạo Tín
道信; C: dàoxìn; J: dōshin; 580-651;|Tổ thứ tư của Thiền tông Trung Quốc. Dưới pháp môn của Sư, Thiền được chia thành hai nhánh, đó là nhánh Ngưu Ðầu thiền do Pháp Dung thành lập và nhánh thứ hai là Thiền tông do Ngũ tổ Hoằng Nhẫn nối tiếp. Các sử gia sau này không xếp Ngưu Ðầu thiền vào Thiền chính tông của Trung Quốc.|Sư Ðại ngộ sau khi tham vấn nơi Tam tổ Tăng Xán. Gặp Tổ, Sư quì lạy cầu cứu: »Xin Hoà thượng chỉ dạy con pháp môn giải thoát« Tổ bảo: »Ai trói ngươi?« Sư đáp: »Chẳng thấy ai.« Tổ bảo: »Sao ngươi lại tìm giải thoát?« Nghe câu này, Sư đạt yếu chỉ. Tổ khuyên Sư hướng dẫn môn đệ tham thiền theo kinh Nhập Lăng-già.|Học giả đến Sư rất đông. Từ đây Thiền tông bắt đầu tiến lên giai đoạn mới, tăng sĩ không còn nay đây mai đó khất thực mà tu học định cư tại các thiền viện. Ngoài ra, sự nghiên cứu học hỏi kinh sách không còn giữ giá trị tuyệt đối nữa mà thay vào đó là sự ứng dụng. Thực hành Phật pháp được coi trọng hơn hết và đó cũng là một trong những đặc điểm cơ bản đưa Thiền tông lên cao trong đời Ðường.
đạo tín
5635(580~651)爲我國禪宗第四祖。嗣法於僧璨,傳於弘忍。蘄州廣濟(湖北廣濟)人,俗姓司馬。據景德傳燈錄卷三載,師於幼時即慕空宗諸解脫門而出家,隋開皇十二年(592),入舒州皖公山參謁僧璨,言下大悟,奉侍九年(一說十年),得其衣鉢。大業十三年(617),領徒眾至吉州廬陵,遇群盜圍城七旬,其時泉井枯涸,眾皆憂懼,師乃勸城中道俗念摩訶般若;盜賊遙望城,如有神兵守之,相謂曰(大五一‧二二二中):「城內必有異人,不可攻矣!」遂解圍而去。 後師欲往衡岳,路出江州,道俗請留廬山大林寺。唐武德七年(624),歸蘄州, 住破頭山三十餘年,傳法於弘忍,另有弟子法融別立「牛頭禪」。又破頭山後改稱雙峰山,故世人又稱師爲「雙峰道信」。貞觀十七年(643),太宗聞其道風,三詔入京,師均上表辭謝,帝乃遣使,謂若不起,命取首級,師伸頸就刃,神色儼然,使者異之,還入奏,帝愈歎慕,賜珍繒。永徽二年閏九月(一說永徽元年)垂誡門人,安坐而寂,世壽七十二。建塔於東山黃梅寺。因弟子弘忍居於黃梅東山弘傳禪法,故世人並稱師與弘忍之道法爲東山法門,並遙尊師爲東山法門之初祖。大曆(766~779)年中,代宗勅諡「大醫禪師」,塔銘號「慈雲」。著有入道安心要方便法門、菩薩戒作法等書。〔續高僧傳卷二十六、五燈會元卷一、佛祖統紀卷二十九〕
; Tổ thứ tư của dòng Thiền Trung quốc (580-651), là người kế vị tổ Tăng Xán và là thầy của Hoằng Nhẫn. Khác với các tổ Thiền đời trước vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề của Kinh điển, Đạo Tín đã cho thấy một xu hướng đặc trưng về Thiền. Một đoạn trong các trước tác của ông ông đã viết: “Hãy ngồi thiền định với lòng hăng hái, vì Thiền là căn bản là nền tảng phát triển giác ngộ. Hãy đóng cửa lại và ngồi xuống! Đừng tiếp tục đọc kinh mà không chịu hành trì nữa.” Một hôm trên đường đi gặp Tổ Tăng Xán, Đạo Tín liền thưa: “Xin Hòa Thượng dạy con pháp môn giải thoát.” Tổ trố mắt nhìn bảo: “Ai trói buộc ngươi?” Đạo Tín thưa: “Không ai trói buộc.” Tổ bảo: “Vậy thì cầu giải thoát để làm gì?” Câu trả lời như sấm sét ấy đã đánh động tâm của vị sư trẻ, khiến ngài liền đại ngộ. Đạo Tín liền sụp lạy Tổ. Về sau ngài được truyền y bát làm Tổ thứ tư của dòng Thiền Trung Quốc. Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, dưới trào Tứ Tổ Đạo Tín, Thiền chia ra làm hai ngành. Ngành đầu gọi là 'Ngưu Đầu Thiền' ở núi Ngưu Đầu và không được coi như Thiền chánh tông. Tuy nhiên, ngành nầy đã sớm mai một sau khi vị tổ khai sáng ra nó là Pháp Dung viên tịch. Ngành sau do Hoằng Nhẫn thống quản; đó là ngành Thiền còn tồn tại đến ngày hôm nay—Tao-Hsin (580-651), the fourth patriarch of Zen in China, the student and dharma successor of Seng-Ts'an and the master of Hung-Jen. Tao Hsin was different from other patriarchs preceeding him who were still strongly influenced by the orthodox Mahayana tradition and sutras. We can find in his works paragraphs encouraged disciples to meditate: “Let's sit in meditation, Sitting is the basis, the fundamental development of enlightenment. Shut the door and sit! Don't continue to read sutras without practicing.” One day Tao Hsin stopped the Third Patriarch Seng-Ts'an on the road and asked: “Honorable Master! Please be compassionate to show me the door to liberate.” The Patriarch stared at him and earnestly said: “Who has restrained you, tell me.” Tao-Hsin replied: “No Sir, no one has.” The Patriarch then retorted: “So, what do you wish to be liberated from now?” This sharp reply thundered in the young monk's head. As a result, Tao-Hsin awaked instantaneously, and prostrated the Patriarch in appreciation. Thereafter, he was bestowed with robe and bowl to become the Fourth Patriarch of the Zen Sect in China. According to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book I, under Tao-Hsin, the fourth patriarch, Zen in China was divided into two branchesThe one known as 'Niu-T'ou-Ch'an' at Mount Niu-T'ou, and was considered not belonging to the orthodox line of Zen. However, this branch did not survive long after the passing of its founder, Fa-Jung. The other branch was headed by Hung-Jen, and it is his school that has survived till today.
; (道信) (580 - 651) Vị Tổ thứ 4 của Thiền tông Trung quốc sống vào đời Tùy, Đường, người huyện Quảng tế, Kì châu (tỉnh Hồ bắc), họ Tư mã. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 chép, thì thủa nhỏ sư đã ngưỡng mộ các pháp môn giải thoát của Không tông mà xuất gia. Năm Khai hoàng 12 (592) đời Tùy, sư vào núi Hoàn công ở Thư châu tham yết Tổ Tăng xán, được đại ngộ, sư ở lại hầu Tổ 9 năm (có thuyết nói 10 năm), sau được Tổ truyền áo bát. Năm Đại nghiệp 13 (617), sư thống lĩnh đồ chúng đến Lư lăng, Cát châu, gặp bọn cướp bao vây thành đã 70 ngày. Bấy giờ suối, giếng khô cạn, mọi người đều lo sợ, sư khuyên tăng tục trong thành niệm Ma ha bát nhã. Bọn cướp nhìn từ xa như có thần binh giữ thành nên bảo nhau: Trong thành ắt có dị nhân, không đánh được, rồi giải vây và rút lui. Sau đó, sư muốn đi Hoành nhạc, nhưng trên đường ra Giang châu tăng ni và Phật tử đều thỉnh sư ở lại chùa Đại lâm tại Lô sơn. Năm Vũ đức thứ 7 (624) đời Đường, sư trở về Kì châu, ở trên núi Phá đầu hơn 30 năm, sau sư truyền pháp cho đệ tử tên là Hoằng nhẫn. Núi Phá đầu sau đổi tên là núi Song phong, nên người đời cũng gọi sư là Song phong Đạo tín. Năm Trinh quán 17 (643), vua Thái tông nhà Đường nghe đạo hạnh của sư, 3 lần ban chiếu chỉ thỉnh sư về kinh đô, nhưng sư đều dâng biểu từ tạ. Sau, bèn sai sứ đi đón sư và ra lệnh nếu sư không chịu đi thì phải mang thủ cấp sư về. Khi sứ giả đến truyền lệnh ấy thì sư thản nhiên ngửa cổ chịu chém, sứ giả rất kinh ngạc và trở về tâu vua, vua càng cảm phục và ban cho lụa là. Năm Vĩnh huy thứ 2 (có thuyết nói năm đầu), sau khi dạy bảo các đệ tử, sư an nhiên thị tịch, thọ 72 tuổi, nhập tháp ở chùa Hoàng mai tại Đông sơn. Vì đệ tử Hoằng nhẫn hoằng truyền Thiền pháp của sư ở Hoàng mai tại Đông sơn, cho nên người đời gọi pháp hệ của sư là pháp môn Đông sơn và tôn sư là Sơ tổ. Khoảng năm Đại lịch (766 - 779), vua Đường Đại tông ban thụy hiệu là Đại y thiền sư, hiệu tháp là Từ vân. Sư có các tác phẩm: Nhập đạo an tâm yếu phương tiện pháp môn, Bồ tát giới tác pháp. [X. Tục cao tăng truyện Q.26; Ngũ đăng hội nguyên Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.29].
đạo tông
5632(1629~1709)明末清初黃檗宗僧。福建晉江人。號悅山。二十三歲出家,二十九歲東渡日本,參謁木菴性瑫於長崎福濟寺,三十二歲參禮隱元隆琦。其後隱元開創黃檗山萬福寺時,延師任庶務。七十七歲晉住黃檗山,大振宗風。寶永六年示寂,世壽八十一。嗣法門人有四十八人。著有南岳悅山禪師語錄、黃檗悅山禪師語錄。〔黃檗東渡僧寶傳卷上〕
; (道宗) (1629 - 1709) Vị Thiền tăng thuộc tông Hoàng bá ở cuối đời Minh đầu đời Thanh, người huyện Tấn giang, tỉnh Phúc kiến, hiệu Duyệt sơn. Năm 23 tuổi, sư xuất gia, 29 tuổi sang Nhật bản tham yết ngài Mộc am Tính thao ở chùa Phúc tế tại Trường kì. Năm 32 tuổi, sư tham lễ ngài Ẩn nguyên Long kì. Về sau, khi ngài Ẩn nguyên sáng lập chùa Vạn phúc ở núi Hoàng bá, sư được giao trách nhiệm trông nom việc xây dựng. Năm 77 tuổi, sư được tấn phong trụ trì núi Hoàng bá phát huy tông phong. Năm Bảo vĩnh thứ 6 (1709) sư tịch, thọ 81 tuổi. Đệ tử nối pháp có 48 người. Trứ tác: Nam nhạc Duyệt thiền sư ngữ lục, Hoàng bá Duyệt thiền sư ngữ lục. [X. Hoàng bá Đông độ tăng bảo truyện Q.thượng].
đạo tạng
5663爲道教經書之總集。道教經書之正式匯輯成藏,爲唐玄宗勅命輯成之三洞瓊綱,後經唐末五代之亂,經籍大多亡逸。宋代真宗大中祥符三年(1010),詔命王欽若主編道教經典,歷經六年編成寶文統錄。大中祥符五年,張君房奉詔領修道藏,依「三洞四輔」分類,採用「千字文」編號,於天禧三年(1019)繕寫七部,稱大宋天宮寶藏,凡四五六五卷。奠定以後道藏之編纂體制。宋代徽宗崇寧(1102~1106)年中,重加校補,稱崇寧重校道藏。政和(1111~1118)年中,設立經局,增修雕板印行,稱政和萬壽道藏。至此,道藏始有印本。此後金、元各藏皆以此爲藍本,金代輯成大金玄都寶藏,元代輯成玄都寶藏。上述繕刻之道藏歷經兵火及元代佛道之爭,皆已散軼。現存者爲北平白雲觀所藏明代正統十年(1445)刊成之正統道藏五三○五卷,及神宗萬曆三十五年(1607)輯印之萬曆續道藏一八一卷,合爲五四八六卷。又清代彭定求編道藏輯要,閔一得編道藏續編第一集,近世守一子編道藏精華錄,均續有增補。 道藏廣集道教各道派之一切經典,內容十分龐雜,其纂修係依據三洞四輔十二類之分類原則。三洞,指第一洞真部、第二洞玄部、第三洞神部,各爲不同之神君所說。於南北朝初期,道教開始產生統一意識時,陸修靜將其整理,形成三洞之觀念。四輔,則有輔助、依輔三洞之意,太玄部、太平部、太清部分別輔助三洞,正一部則兼輔三洞。三洞之下各分十二類,即本文、神符、玉訣、靈圖、譜錄、戒律、威儀、方法、眾術、記傳、讚頌、章表,共三十六部,四輔則不分部。道藏內容包含社會、道德、科學等,略可分爲四大部門:(一)教義,爲宇宙生成、萬物根元之道、天界、地獄等。(二)方術,爲符咒等法術與驅邪祛厄之齋醮,乃道藏最實用之部分。(三)醫術,分內、外丹系統,爲煉丹、養氣調息等,爲古代衛生學、化學之寶庫。(四)倫理,爲道教戒規與通俗性倫理道德等,對民間社會有深入影響,爲研究古代社會之史料。
; (道藏) Kho kinh sách của Đạo Giáo. Vua Đường Huyền tông ban lệnh chính thức biên tập toàn bộ kinh sách của Đạo giáo thành Tam động quỳnh cương, đây tức là Đạo tạng. Sau, trải qua các cuộc biến loạn ở cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, những kinh sách này phần lớn đã bị thất lạc. Năm Đại trung tường phù thứ 3 (1010) đời Tống, vua Chân tông ra lệnh cho Vương khâm nhược làm chủ biên tập kinh điển Đạo giáo, sau 6 năm mới xong và đặt tên Bảo văn thống lục. Năm Đại trung tường phù thứ 5 (1012), Trương quân phòng vâng mệnh vua sửa chữa Đạo tạng, phân loại theo Tam động tứ phụ và sắp xếp thứ tự theo Thiên tự văn, đến năm Thiên hi thứ 3 (1019) thì biên chép thành 7 bộ gọi là Đại tống thiên cung bảo tạng, gồm 4565 quyển, đặt nền tảng cho thể chế biên soạn Đạo tạng về sau. Trong năm Sùng ninh (1102 - 1106) đời Tống Huy tông, Đạo tạng lại được kiểm xét và bổ túc thêm rồi đặt tên là: Sùng ninh trùng giáo Đạo tạng. Khoảng năm Chính hòa (1111 - 1118), cục Kinh tạng được thiết lập, sửa chữa Đạo tạng, khắc bản và ấn hành, gọi là Chính hòa vạn thọ Đạo tạng. Đến đây Đạo tạng mới có bản in. Từ đó về sau, các đời Kim, Nguyên đều lấy bộ Đạo tạng Chính hòa vạn thọ này làm gốc mà biên soạn các bộ: Đại kim huyền đô bảo tạng (đời Kim) và Huyền đô bảo tạng (đời Tống). Nhưng, qua các cuộc binh lửa và sự tranh chấp giữa Phật giáo và Đạo giáo ở đời Nguyên, những bộ Đạo tạng kể trên đều đã thất lạc. Bộ Đạo tạng hiện còn là bộ Chính thống đạo tạng gồm 5.305 quyển, khắc in vào năm Chính thống thứ 10 (1445) đời Minh, được cất giữ ở Bạch vân quán tại Bắc bình, và bộ Vạn lịch tục Đạo tạng gồm 181 quyển, ấn hành vào năm Vạn lịch 35 (1607) đời vua Thần tông nhà Minh, tổng cộng 2 bộ là 5.486 quyển. Đến đời nhà Thanh, có Bành định cầu biên tập Đạo tạng tập yếu, Mẫn nhất đắc biên soạn Đạo tạng tục biên tập 1, và thời gần đây, Thủ nhất tử biên soạn Đạo tạng tinh hoa lục, đều có bổ sung thêm. Đạo tạng thu tập rộng rãi tất cả kinh sách của các phái thuộc Đạo giáo, cho nên nội dung rất là phức tạp; sự biên soạn được dựa theo nguyên tắc phân loại về Tam động, Tứ phụ, Thập nhị loại. - Tam động: Động thứ 1 là Chân bộ, động thứ 2 là Huyền bộ, động thứ 3 là Thần bộ, đều do các Thần quân khác nhau nói ra. - Tứ phụ: Nghĩa là giúp đỡ Tam động, trong đó, Thái huyền bộ, Thái bình bộ và Thái thanh bộ thì mỗi bộ giúp đỡ mỗi động, riêng có Chính nhất bộ thì giúp đỡcả Tam động. - Thập nhị loại: Trong Tam động mỗi động đều chia ra 12 loại là: Bản văn, Thần phù, Ngọc quyết, Linh đồ, Phổ lục, Giới luật, Uy nghi, Phương pháp, Chúng thuật, Kí truyện, Tán tụng, Chương biểu, cộng tất cả là 36 bộ. Trong Tứ phụ thì không chia bộ. Nội dung của Đạo tạng bao hàm cả xã hội, đạo đức, khoa học v.v... đại khái có thể chia làm 4 bộ môn chính: 1. Giáo nghĩa: Chủ trương Đạo sinh thành ra vũ trụ, là nguồn gốc của muôn vật, kể cả các cõi trời và địa ngục v.v... 2. Phương thuật: Các pháp thuật bùa chú và lập đàn tràng cúng tế xua đuổi tà ma, trừ diệt ách nạn, là bộ phận rất thực dụng trong Đạo tạng. 3. Y thuật: Chia ra hệ thống nội đơn, ngoại đơn, tức là luyện đơn, dưỡng khí, điều hòa hơi thở, là kho báu về hóa học và vệ sinh học đời xưa. 4. Luân lí: Qui luật của Đạo giáo và luân lí, đạo đức của thế tục v.v... Đạo tạng có ảnh hưởng rất sâu đối với xã hội dân gian, là nguồn sử liệu giá trị đối với việc nghiên cứu xã hội cổ đại.
đạo tặc
Burglars and bandits—Thieves and felons.
đạo tế
5661<一>(1150~1209)宋代臨濟宗楊岐派僧。臨海(浙江)人,俗姓李。名心遠,字湖隱,號方員叟。年十八,落髮於靈隱寺,性狂顛,嗜酒肉,人號濟顛。先後參訪國清寺之法空一本、祇園寺道清、觀音寺道淨,後投虎丘山瞎堂慧遠門下,嗣其法。又依淨慈寺,寺燬,行化嚴陵。瀕湖居民食螺斷尾,師每乞放水中,螺多活而無尾。嘉定二年,坐逝,世壽六十,葬於虎跑塔中。〔北膑集卷十、淨慈寺志卷十、金史卷八十〕 <二>(1487~1560)明代臨濟宗僧。嘉興(浙江)秀水人,俗姓張。字法舟。二十歲入天寧寺任行者,隨侍默堂宣。後又參謁吉庵祚,契悟,嗣其法。遊歷諸方後,先後住持覺王、景德、雙髻、安隱等諸剎。嘉靖三十九年秋示寂,世壽七十四,法臘五十二。遺有天寧法舟濟禪師語錄行世。〔南宋元明僧寶傳卷十四、補續高僧傳卷十六〕 <三>(1630?~1708)明末清初之畫僧。亦署原濟。字石濤,號瞎尊者、苦瓜和尚。其別號甚多,以仰慕宋代湖隱禪師,故亦號道濟、顛僧。或作濟道人、濟樵人、濟山僧、粵西濟山僧、粵山石濤等,每因時因地而異。桂林人,俗姓朱,明靖江王亨嘉之子,或稱楚王子。世傳崇禎三年生。隆武元年(1645),國傾家破,竄在草莽,於全州剃落入道,或謂投南海深度出家。參旅菴本月,得別傳之旨,後繼其法。初住宣州敬亭山,於康熙四十一年(1702)八月遷金陵一枝寺。博通世學,工詩善畫,精於草隸,江上士夫莫不欽敬,而澹然自守,不樂送迎。康熙四十四年秋,渡江至揚州,住大滌堂,因號大滌子。世傳其異蹟甚夥,疑爲大菩薩乘願再來者。或傳康熙帝聞其名,與之結交,召至北京,小住即返,寓於廣陵,遂不復出。著有苦瓜和尚畫語錄,以畫法闡明佛理,融禪法於宣染之繪畫技巧中,識者譽爲得未曾有之佳作,各國均有譯本,爲畫家所必讀。其書畫,人爭藏之,有寸紙尺璧之譽。〔清史稿列傳第二九○、國朝畫徵續錄卷下〕(參閱「石濤」2140) <四>(?~1723)日本臨濟宗僧。號松州、北禪。參謁古月禪材,徹然大悟。住於常陸(茨城)高乾院。享保八年十一月示寂。〔續禪林僧寶傳卷一上〕
; (道濟) I. Đạo Tế (1150 - 1209). Vị Thiền tăng thuộc phái Dương kì tông Lâm tế ở đời Tống. Người Lâm hải (Chiết giang), họ Lí, tên Tâm viễn, tự Hồ ẩn, hiệu Phương viên tẩu. Năm 18 tuổi, sư xuất gia ở chùa Linh ẩn, lần lượt tham học các ngài Pháp không Nhất bản ở chùa Quốc thanh, Đạo thanh ở chùaKì viên, Đạo tịnh ở chùa Quan âm. Sau, sư vào núi Hổ khâu làm đệ tử ngài Hạt đường Tuệ viễn và nối pháp của ngài. Sư lại đến ở chùa Tịnh từ, chùa bịthiêu hủy, sư đi hành hóa ở Nghiêm lăng. Cư dân ở vùng Tần hồ ăn ốc thường chặt đuôi, sư liền xin đem thả xuống sông, ốc sống lại nhưng cụt đuôi. Bình sinh tính sư điên khùng, buông thả, thích rượu thịt, nên người đời gọi sư là Tế điên. Năm Gia định thứ 2 (1209) sư ngồi mà hóa, thọ 60 tuổi; nhục thân để vào tháp Hổ bào. [X. Bắc giản tập Q.10; Tịnh từ tự chí Q.10; Kim sử Q.80]. II. Đạo Tế(1487 - 1560). Vị Thiền tăng tông Lâm tế đời Minh, người Tú thủy, Gia hưng (Chiết giang), họ Trương, tự là Pháp chu. Năm 20 tuổi, sư xuất gia ở chùa Thiên ninh, theo hầu ngài Mặc đường tuyên. Sau, sư tham yết ngài Cát am tộ, được tỏ ngộ và nối pháp của ngài. Sư đi du phương nhiều nơi, rồi lần lượt trụ trì các chùa Giác vương, Cảnh đức, Song kế, An ẩn v.v... Năm Gia tĩnh 39 (1560) sư tịch, thọ 74 tuổi, 52 tuổi hạ. Sư có tác phẩm: Thiên ninh Pháp chu Tế thiền sư ngữ lục. [X. Nam Tống Nguyên Minh tăng bảo truyện Q.14; Bổ tục cao tăng truyện Q.16]. III. Đạo Tế(1630? - 1708). Vị tăng họa sĩ ở cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Quế lâm, họ Chu, tự Thạch đào, hiệu Hạt tôn giả, Khổ qua hòa thượng. Biệt hiệu của sư rất nhiều, vì ngưỡng mộ thiền sư Hồ ẩn ở đời Tống, cho nên sư cũng lấy hiệu là Đạo tế, hoặc Điên tăng, hoặc Tế đạo nhân, Tế tiều nhân, Tế sơn tăng, Việt tây Tế sơn tăng, Việt sơn Thạch đào v.v... Sư là con của Tĩnh giang vương Hanh Gia đời Minh, hoặc gọi là Sở vương tử. Người đời truyền là sư sinh vào năm Sùng trinh thứ 3. Niên hiệu Long vũ năm đầu (1645), nước mất nhà tan, sư trốn vào rừng rồi sau xuất gia ở Toàn châu. Có thuyết nói sư xuống tóc nơi ngài Nam hải Thâm độ. Sư tham học ngài Lữ am Bản nguyệt, lãnh hội ý chỉ biệt truyền, sau được nối pháp của ngài. Lúc đầu, sư ở núi Kính đình tại Tuyên châu, năm Khang hi 41 (1702), sư dời về chùa Nhất chi ở Kim lăng. Sư thông suốt thế học, giỏi thi họa thư pháp, đặc biệt viết chữ thảo, chữ lệ, các bậc sĩ phu ở Giang thượng ai cũng kính trọng, nhưng sư an nhiên tự tại, không ưa sự đón rước. Mùa thu năm Khang hi 44 (1705), sư đến ở Đại địch đường tại Dương châu, nhân đó lấy hiệu là Đại địch tử. Người đời truyền nhau nhiều sự tích kì lạ về sư và ngờ có lẽ sư là vị Đại bồ tát theo nguyện thị hiện. Có thuyết nói, vua Khang hi nghe danh của sư nên kết bạn với sư, triệu sư đến Bắc kinh, nhưng sư chỉ ở đó ít lâu rồi trở về Quảng lăng. Từ đó, không thấy sư xuất hiện nữa. Trong tác phẩm Khổ qua hòa thượng ngữ lục, sư dùng hội họa để diễn đạt chân lí đạo Phật, thể hiện Thiền pháp bằng những nét vẽ tinh xảo, khiến cho hàng thức giả khen là tác phẩm đẹp chưa từng có. Các nước đều có bản dịch của bộ ngữ lục này, mọi người tranh nhau cất giữ và khen ngợi: Một tấc giấy, một thước ngọc. [X. Thanh sử cảo liệt truyện 290; Quốc triều họa trưng tục lục Q.hạ]. (xt. ThạchĐào).
đạo tề
5656<一>(929~997)宋初法眼宗僧。洪州(江西)人,俗姓金。(參閱「雲居」5329) <二>宋代雲門宗僧。爲金山善寧之法嗣。駐錫秀州(浙江)鹿苑寺,舉揚宗風。籍貫、生卒年均不詳。〔建中靖國續燈錄卷二十五〕
đạo tốn
5654(556~630)唐代僧。河東虞鄉(山西)人,俗姓張。博通群籍,尤精於涅槃經及攝大乘論。與其弟道謙皆爲曇延法師之弟子。住於蒲州仁壽寺,接化學人。本性仁讓,器度宏大。貞觀四年(一說貞觀二年)冬,眾請講說涅槃經,以感悟死期將至,固辭。同年十二月示寂,世壽七十五。〔續高僧傳卷十四、法苑珠林卷三十三、大唐內典錄卷十〕
đạo tổ
5641(347~419)東晉僧。吳(江蘇吳縣)人,俗姓竺,故又稱竺道祖。年少出家,爲臺寺支法齊之弟子。幼有才思,精勤務學。後與僧遷、道流等同入廬山,師事慧遠,並於山中受戒,同爲遠公所重。僧遷、道流皆年二十八而寂。道流曾撰寫諸經目錄,未完而寂,師繼之完成,凡四部:魏世經錄目、吳世經錄目、晉世雜錄、河西經錄目,各一卷,今已佚失。師後還京師建康瓦官寺,受桓玄敬信,及桓玄擬令沙門致敬於王者,師乃辭還吳之臺寺。桓玄篡位後,召師進京,師稱疾不行,遂摒絕人事,講道終日,於東晉元熙元年入寂,世壽七十三。〔梁高僧傳卷六、大唐內典錄卷十、歷代三寶紀卷七、釋氏六帖卷十〕
; (道祖) (347 - 419) Vị tăng ở thời Đông Tấn, người huyện Ngô, tỉnh Giang tô, họ Trúc, vì thế nên còn gọi là Trúc đạo tổ. Sư xuất gia từ nhỏ, là đệ tử của ngài Chi pháp tề ở Đài tự, học rất chăm chỉ và có trí nhớ giỏi. Về sau, cùng với các sư Tăng thiên, Đạo lưu, sư vào Lô sơn thờ ngài Tuệ viễn làm thầy và thụ giới tại đây, rất được ngài Tuệ viễn quí trọng. Sau, sư về ở chùa Ngõa quan tại kinh đô Kiến khang, được Hoàn huyền tôn kính. Nhưng, khi Hoàn huyền ra lệnh sa môn phải cung phụng hàng Vương giả thì sư cự tuyệt và trở về Đài tự ở huyện Ngô. Sau khi soán ngôi, Hoàn huyền triệu sư về kinh đô, sư cáo bệnh không đi, từ đó, sư bỏ hết các việc khác, chỉ giảng đạo suốt ngày. Niên hiệu Nguyên hi năm đầu (419) đời Đông Tấn sư tịch, thọ 73 tuổi. Về tác phẩm, thì khi còn ở Lô sơn, sư Đạo lưu từng soạn Chư kinh mục lục, nhưng còn dở dang thì Đạo lưu thị tịch, Đạo tổ tiếp nối hoàn thành gồm 4 bộ: Ngụy thế kinh mục lục 1 quyển, Ngô thế kinh mục lục 1 quyển, Tấn thế tạp lục 1 quyển và Hà tây kinh mục lục 1 quyển, hiện nay đã thất lạc. [X. Lương cao tăng truyện Q.6; Đại đường nội điển lục Q.10; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7; Thích thị lục thiếp Q.10].
đạo tục
5635<一>佛道與世俗之並稱。僧叡之中論序(大三○‧一上):「大覺在乎曠照,小智纏乎隘心,照之不曠,則不足以夷有無、一道俗;知之不盡,則未可以涉中途、泯二際。道俗之不夷,二際之不泯,菩薩之憂也。」中論疏卷一(大四二‧三中):「道則涅槃,俗則生死」。 <二>出家眾(道)與在家眾(俗)之並稱。又稱僧俗、緇素、緇白。洛陽伽藍記卷五宋雲入烏場國條(大五一‧一○二○上):「土饒異花,冬夏相接,道俗採之,上佛供養。」〔演道俗業經、南史卷四十四、魏書卷三十六李同軌傳〕
; Monks and laymen.
; Tăng và tục—Monks and laymen.
; (道俗) I. Đạo Tục. Gọi chung Phật đạo và thế tục. Bài tựa Trung luận của ngài Tăng duệ (Đại 30, 1 thượng), nói: Đại giác thì tự tại chiếu soi rộng rãi, còn tiểu trí thì ràng buộc nơi tâm hẹp hòi. Chiếu soi mà không cùng khắp thì không đủ để dứt hữu vô, đạo tục; biết mà không suốt hết thì chưa thể hợp với Trung đạo, dứt bặt hai bên. Đạo tục không dứt, hai bên không diệt, là nỗi lo của Bồ tát. Trung luận sớ quyển 1 (Đại 42, 3 trung), nói: Đạo là Niết bàn, tục là sinh tử. II. Đạo Tục. Cũng gọi Tăng tục, Truy tố, Truy bạch. Là danh từ gọi chung người xuất gia và tại gia. Điều Tống vân nhập Ô trường quốc trong Lạc dương già lam kí quyển 5 (Đại 51, 1020 thượng), nói: Đất đai phì nhiêu, nhiều loại hoa thơm lạ, mùa đông cũng như mùa hạ, hoa nở liên tiếp, đạo tục hái về, dâng cúng dường Phật. [X. kinh Diễn đạo tục nghiệp; Nam sử Q.44; Ngụy thư Q.36 Lí đồng quĩ truyện].
đạo tục thất chúng
5636即指比丘、比丘尼、式叉摩那、沙彌、沙彌尼、優婆塞、優婆夷等佛弟子之七種類別。(參閱「七眾」105)
; (道俗七衆) Bảy chúng đạo tục. Tức là 7 hạng đệ tử của đức Phật là tỉ khưu, tỉ khưu ni, thức xoa ma na, sa di, sa di ni, ưu bà tắc, ưu bà di. (xt. Thất Chúng).
Đạo Từ
(道慈, Dōji, ?-744): vị tăng của Tam Luận Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nại Lương, húy là Đạo Từ (道慈), xuất thân vùng Đại Hòa (大和, Yamato, thuộc Nara [奈良]), họ Ngạch Điền (額田, Nukata). Ông theo học Tam Luận với Trí Tạng (智藏, Chizō) ở Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji), Pháp Tướng và Duy Thức với Nghĩa Uyên (義淵, Gien). Vào năm 701, ông sang nhà Đường cầu pháp, được tuyển chọn giảng nghĩa Nhân Vương Bát Nhã Kinh (仁王般若經) tại cung nội số 100 vị cao tăng. Đến năm 718, ông trở về nước và tận lực truyền bá Tam Luận Tông tại Đại An Tự (大安寺, Daian-ji). Năm 729, ông làm chức Luật Sư, tham gia vào việc xúc tiến chính sách cải cách Phật Giáo, vạch kế hoạch cung thỉnh Giới Sư, dời chuyển Đại An Tự, biên tập bộ Nhật Bản Thư Kỷ (日本書紀, Nihonshoki), v.v.
đạo từ
5655(?~744)日本三論宗大安寺流之祖。大和(奈良縣)人,俗姓額田。先後隨侍智藏、義淵,研學三論、法相。後渡海來唐,兼學密教、三論。歸返日本後,住於大安寺,嚴謹持戒而終老。天平十六年示寂,世壽不詳。〔三論祖師傳集卷下、元亨釋書卷二、卷二十一、卷二十二〕
đạo uyên
5646南朝宋僧。籍貫、生卒年不詳。俗姓寇,出家止住於建康東安寺。少年學律,長習義宗,雖通達經論,然潛光隱德,未爲世人所知。後於東安寺開講經論,剖析玄微,遂爲世人所推崇,並見重於宋文帝,未久移住彭城寺,後寂於所住,世壽七十八。弟子有慧琳等。〔梁高僧傳卷七〕
đạo viện tập yếu
5641請參閱 道院集要凡三卷。宋代晁迥(明道)著。乃有關佛教教理之隨筆集。原名爲「道院集」,有十五卷,至元祐年中(1086~1093)王古編纂爲三卷,而改名爲道院集要。內容係編集有關修行法之短文、詩,共有一○九項目。末尾有潘佑之贈別詩,並附有李淑之澶淵晁公別錄五事。內容多歧而無系統,但其趣旨均以佛教教理之最中心妙理爲要點,並敘說可令人至究極境地之修行方法。如說心、無念、三昧與禪之境地,復引用般若、華嚴、圓覺、楞伽與禪宗常用之經典,書中並屢屢引用唐代圭峰宗密之著述,據其說法而主張教禪一致。 本書特別強調教禪一致、佛道融合之思想,並受唐末以來禪宗興隆、道教抬頭趨勢之影響,可謂宋初思想界之代表。其後,禪僧及隱逸之士,均爭誦之。〔郡齋讀書志卷十九、宋史卷三○五、四庫全書總目卷一四五、中國佛教史籍概論(陳垣)〕
; (道院集要) Gồm 3 quyển, do ngài Triều quýnh soạn vào đời Tống, là tập tùy bút có liên quan đến giáo lí Phật giáo. Tác phẩm này vốn tên là Đạo viện tập, 15 quyển, đến khoảng năm Nguyên hựu (1086 - 1093), Vương cổ biên soạn lại làm 3 quyển và đổi tên là Đạo viện tập yếu. Nội dung gồm 109 điều mục biên tập các pháp tu hành được trình bày bằng những đoạn văn ngắn và các bài thơ. Phần cuối có thơ của Phan hựu và Thiền uyên Triều công biệt lục của Lí thục. Sách tuy có nhiều điều mục và sắp xếp không có hệ thống, nhưng đã nêu rõ được những điểm then chốt của giáo lí mầu nhiệm trong đạo Phật, đồng thời, trình bày phương pháp tu hành có thể giúp người ta đạt đến cảnh giới cứu cánh. Như nói cảnh giới của tâm, vô niệm, tam muội và Thiền; lại còn dẫn dụng các kinh Bát nhã, Hoa nghiêm, Viên giác, Lăng già cũng như căn cứ vào quan điểm của ngài Khuê phong Tông mật đời Đường mà chủ trương Giáo, Thiền một mối. Không những thế, vì chịu ảnh hưởng sự hưng thịnh của Thiền tông và xu thế phát triển của Đạo giáo ở cuối đời Đường đầu đời Tống, cho nên tác giả sách này còn nhấn mạnh đến tư tưởng dung hợp giữa Phật giáo và Đạo giáo. Do đó, có thể nói, sách này là tiêu biểu cho tư tưởng giới ở đời Tống. Về sau, Thiền tăng và Đạo sĩ đều ham đọc sách này. [X. Quận trai độc thư chí Q.10; Tống sử Q.305; Tứ khố toàn thư tổng mục Q.145; Trung quốc Phật giáo sử tịch khái luận (Trần viên)].
đạo vị
5627指修道之階位,如大乘菩薩之十信、十住、十行、十迴向、十地、等覺、妙覺,稱爲五十二位。又如聲聞於「見道」以前之五停心、別相念住、總相念住、煖法、頂法、忍法、世第一法,稱爲七方便位或七賢位。〔大乘義章卷十二、卷十七本、卷十七末〕
; The flavour of religion.
; The stages in the attainment of Buddha-truth.
; The stages in the attainment of Buddha-truth.
; (道位) Chỉ cho các giai vị tu đạo, như 52 giai vị của Bồ tát (Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác, Diệu giác), Thất phương tiện vị hay Thất hiền vị (Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm trụ, Tổng tướng niệm trụ, Noãn pháp, Đính pháp, Nhẫn pháp, Thế đệ nhất pháp) của hàng Thanh văn trước vị Kiến đạo. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.12, Q.17 phần đầu, phần cuối].
đạo xung
5631(1169~1250)宋代臨濟宗僧。武信長江(四川蓬溪)人,俗姓荀。字癡絕。幼即絕群,長應進士不第,乃就梓州妙音院修證落髮,遊學成都,修習經論。後至饒州薦福寺參謁松源崇岳,又參禮曹源道生,遂悟玄旨。慶元三年(1197)六月崇岳主持杭州靈隱寺,往依之。嘉定十二年(1219),師乃住持嘉興天寧寺,未久,又遷嘉禾光孝寺。時師名聞於朝廷,忠獻衛王迎請主持蔣山,住十三年。後遷明州天童山,又兼主持同州之育王山,海眾輻湊,道化冠一世。淳祐四年(1244)復勅主持杭州靈隱寺,不久退歸金陵。八年勅住臨安徑山。十年五月示寂,世壽八十二。遺骨葬金陵山中。法嗣有淨慈簡翁、頑極行彌、月潭智圓等。〔佛祖歷代通載卷三十一、釋氏稽古略卷四、大明高僧傳卷八〕
đạo xuyên
5622宋代臨濟宗僧。姑蘇(江蘇)玉峰人,俗姓狄。初參東齋謙,豁然大悟。建炎(1127~1130)初年,至天峰,投淨因寺蹣庵繼成門下,蒙其認可,並嗣其法。後復歸東齋座下,爲道俗所仰。有以金剛經質問者,師以頌答之,此即著名之「川老金剛經註」。於淮西遇殿撰鄭公喬年,請任無爲軍(安徽)冶父山實際禪院住持。生卒年不詳。〔嘉泰普燈錄卷十七、五燈會元卷十二、續傳燈錄卷三十〕
đạo xán
5661(?~1271)宋代臨濟宗大慧派僧。又作道璨。吉安(江西)泰和人。號無文。爲笑翁妙堪之法嗣。寶祐二年(1254),受請任饒州(江西)薦福禪寺開堂。後任廬山開先華藏禪寺住持,又住薦福禪寺。至元八年示寂,世壽不詳。師擅長詩偈,著有詩文集無文印二十卷、無文和尚語錄一卷。〔五燈全書卷五十三〕
; (道燦) (? - 1271) Vị Thiền tăng thuộc phái Đại tuệ tông Lâm tế ở đời Tống, người Thái hòa, Cát an (tỉnh Giang tây), hiệu là Vô văn, nối pháp ngài Tiếu ông Diệu kham. Sư giỏi về thơ và kệ. Năm Bảo hựu thứ 2 (1254), sư được thỉnh đến giảng pháp, tiếp hóa người học ở Tiến phúc thiền tự tại Nhiêu châu (tỉnh Giang tây). Sau, sư trụ trì Hoa tạng thiền tự ở Lô sơn. Năm Chí nguyên thứ 8 (1271) sư tịch, không rõ tuổi thọ. Các trứ tác của sư gồm có: Thi văn tập Vô văn ấn 20 quyển, Vô văn hòa thượng ngữ lục 1 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.53].
đạo xương
5634(1089~1171)宋代雲門宗僧。浙江寶溪人,俗姓吳。號月堂。六歲投鹿苑證門下,十三歲剃髮,參謁道場山之妙湛思慧。遊歷參訪後,從學於淨慈寺妙湛。紹興初年入閩,住持大吉寺、龜山,又主金陵之蔣山、徑山、靈隱等名剎。乾道二年(1166),入淨慈寺。七年示寂,世壽八十三。賜號「佛行禪師」。〔聯燈會要卷二十九、五燈會元卷十六〕
Đạo Xước
(道綽, Dōshaku, 562-645): vị tăng của Tịnh Độ Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, vị tổ thứ 2 của Tịnh Độ Tông, người vùng Vấn Thủy (汶水), Tinh Châu (幷州, thuộc Thái Nguyên, Sơn Tây), có thuyết khác cho là xuất thân Tấn Dương (晉陽), Tinh Châu, họ Vệ (衛), còn đuợc gọi là Tây Hà Thiền Sư (西河禪師). Kế thừa tư tưởng của Đàm Loan (曇鸞), ông là người khai sáng Tịnh Độ Tông vào thời kỳ đầu nhà Đường. Chơn Tông Nhật Bản tôn xưng ông đứng hàng thứ tư trong 7 vị cao tăng. Năm 14 tuổi, ông xuất gia, học các kinh luận, tinh thông Đại Niết Bàn Kinh (大涅槃經) và thường thuyết giảng kinh này đến 24 lần. Sau ông đến trú tại Huyền Trung Tự (玄中寺), ngôi chùa do Đàm Loan sáng lập nên, cảm khái khi đọc bia văn ghi chép về Đàm Loan, bèn chuyển sang tín ngưỡng Tịnh Độ. Lúc bấy giờ là năm thứ 5 (609) niên hiệu Đại Nghiệp (大業), ông 48 tuổi. Từ đó cho đến năm 83 tuổi, mỗi ngày ông niệm Phật 70.000 biến. Suốt đời ông chuyên giảng Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經) trên 200 lần, chủ trương bất luận xuất gia hay tại gia đều lấy pháp môn niệm Phật làm căn bản. Đến năm thứ 3 (629) niên hiệu Trinh Quán (貞觀), biết trước giờ khắc ra đi, ông thông báo cho đại chúng vân tập, chợt thấy Đàm Loan hiện thân, cho ông biết dư báo của ông chưa hết. Mãi cho đến tháng 4 năm thứ 19 cùng niên hiệu trên, ông mới thị tịch, hưởng thọ 84 tuổi. Môn đệ của ông có Thiện Đạo (善導), Đạo Phủ (道撫), Tăng Diễn (僧衍), v.v. Trước tác của ông để lại có Tịnh Độ Luận (淨土論) 2 quyển, An Lạc Tập (安樂集) 2 quyển, v.v.
đạo xước
5655(562~645)唐代淨土宗僧。爲我國淨土宗第二祖。并州汶水(山西太原)人,一說并州晉陽人,俗姓衛。又稱西河禪師。上承曇鸞之思想,爲唐代初期淨土教開拓者。日本真宗尊爲七高僧中之第四位。爲一涅槃經學者。十四歲出家,廣習經論,尤精大涅槃經,嘗開講涅槃經凡二十四遍。後住於曇鸞所創建之玄中寺中,受寺內曇鸞和尚碑文所感,遂轉入淨土信仰,時爲大業五年(609),師年四十八。直至八十三歲爲止,每日念佛七萬遍。 師一生講說觀無量壽經二百回以上,主張不論出家在家,均以念佛爲要。其於念佛時,必數小豆粒,稱爲「小豆念佛」,此係我國念佛數珠之濫觴。貞觀三年(629),預知化期,通告四眾,四眾咸集,忽見曇鸞現身,告以餘報未盡。及至七十歲,猶生新齒,太宗曾至太原見之,施以眾寶名珍。年屆八十,容色盛發,神氣尤爽,暢談淨業,每每理味奔流,吐詞包蘊。貞觀十九年四月示寂,世壽八十四。門弟子有善導、道撫、僧衍、道誾等。著有淨土論兩卷,並依觀無量壽經,著安樂集二卷,以傳述念佛之教,爲專弘淨土教旨之書。〔淨土往生傳卷中、佛祖統紀卷二十八、續高僧傳卷二十、淨土論卷下(迦才)〕
; (道綽) (562 - 645) Vị tăng thuộc tông Tịnh độ đời Đường, người Vấn thủy, Tinh châu (huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây), có thuyết nói là người Tấn dương, Tinh châu, họ Vệ. Cũng gọi Tây hà thiền sư. Là tổ thứ 2 của tông Tịnh độ, vị thứ 4 trong 7 vị cao tăng của Chân tông Nhật bản. Năm 14 tuổi, sư xuất gia, học khắp các kinh luận, đặc biệt tinh thông kinh Niết bàn và từng giảng dạy kinh này tất cả 24 lần. Sau, sư ở tại chùa Huyền trung do ngài Đàm loan sáng lập, nhân đọc văn bia của ngài Đàm loan mà chuyển sang tín ngưỡng Tịnh độ, lúc ấy sư được 48 tuổi, từ đó mỗi ngày sư đều niệm Phật 7 vạn biến. Suốt một đời, sư giảng kinh Quán vô lượng thọ tới hơn 200 lần chủ trương bất luận là người xuất gia hay tại gia đều nên lấy việc niệm Phật làm cốt yếu. Trong lúc niệm Phật phải đếm những hạt đậu nhỏ gọi là Tiểu đậu niệm Phật, đây là khởi đầu của việc lần tràng hạt niệm Phật ở Trung quốc. Năm Trinh quán thứ 3 (629), sư biết trước ngày tịch nên họp chúng từ biệt. Khi bốn chúng đông đủ, bỗng thấy ngài Đàm loan hiện thân bảo cho biết là dư báo chưa hết, nên sư lại tiếp tục sinh hoạt như thường. Vua Thái tông từng đến Thái nguyên thăm sư và ban cho nhiều báu vật. Đến năm 80 tuổi, sắc diện sư vẫn hồng hào, thần khí sảng khoái, giảng giải về tịnh nghiệp, lí nghĩa thông suốt. Tháng 4 năm Trinh quán 19 (645) sư tịch, thọ 84 tuổi. Sư có các vị đệ tử: Thiện đạo, Đạo phủ, Tăng diễn, Đạo ngân. Trứ tác: Luận Tịnh độ 2 quyển, An lạc tập 2 quyển. [X. Tịnh độ vãng sinh truyện Q.trung; Phật tổ thống kỉ Q.28; Tục cao tăng truyện Q.20, luận Tịnh độ Q.hạ (Ca tài)].
đạo yếu
Những yếu lý của đạo Phật—The fundamentals of Buddhism.
đạo ý
5651猶言道心,求無上道之心。即無上道心、無上道意,亦即菩提心。無量壽經卷上(大一二‧二六六上):「顯現道意無量功德。」(參閱「菩提心」5200)
; Xem bồ đề tâm.
; See Đạo Tâm.
; (道意) Cũng gọi Đạo tâm, Vô thượng đạo tâm, Vô thượng đạo ý, Bồ đề tâm. Tâm cầu đạo vô thượng. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 thượng), nói: Hiển hiện đạo ý vô lượng công đức. (xt. Bồ Đề Tâm).
đạo điền y
6117指袈裟。又作水田衣。因袈裟之紋飾如方塊之稻田而得名。王維之六祖能禪師碑銘:「多絕羶腥,效桑門之食;悉棄罟網,襲稻田之衣。」
; (稻田衣) Áo ruộng lúa. Cũng gọi Thủy điền y. Chỉ cho áo ca sa. Vì ca sa có những ô giống như thửa ruộng cấy lúa, nên gọi là Đạo điền y. Trong bài văn bia củaThiền sư Lục tổ Tuệ năng do Vương duy soạn có những câu: Dứt tuyệt mùi cá thịt, dùng thức ăn cửa thiền; Dẹp tất cả bẫy, lưỡi, mặc tấm áo đạo điền.
đạo đoan lương tú
5655(1903~ )日本佛教學者。北海道人。西元一九二八年自大谷大學東洋史學科畢業後,復在母校研究科結業。歷任大谷大學教授、比叡山學院講師。曾爲調查佛教史蹟而來中國留學,回國後任大谷專修院院長、光華女子大學教授。著有:唐代寺院之經濟史研究、中國佛教史、中國之淨土教與玄中寺、唐代佛教史研究、儒教與儒教倫理─中國佛教中的「孝」、中國佛教與社會福祉事業、中國之石佛‧石經、佛教之見解與思維等書。
đạo đăng
5650<一>(412~496)北魏僧。東莞(山東沂水)人,俗姓芮。初從徐州之僧藥法師學涅槃、法華、勝鬘等諸經。繼從白塔僧淵學成實論。譽聞魏國,並得高祖孝文帝之信任。於洛陽弘法講學,普受僧俗尊崇。太和二十年,於恆州報恩寺示寂,世壽八十五。一說於景明年間(500~503)示寂。〔續高僧傳卷六、魏書釋老志〕 <二>南朝時代僧。生卒年不詳。曾住耆闍寺,深研經法,宣唱玄旨,開導眾心。南朝梁武帝天監十年(511,一說十四年),與光宅寺法雲、瓦官寺慧明等,奉詔於華林殿宣講涅槃經四相品斷肉篇,高韻華言,傾動眾聽,名震一時。 <三>(1620~1679)清代僧。四川墊江人,俗姓倪。弘法二十餘年。因痛感時風不古,遂隱遁於錦官文殊寺,將生平文稿付之一炬,僅留傳十二時歌一首。康熙十八年示寂,世壽六十。〔五燈全書卷八十八〕
; (道登) I. Đạo Đăng (412 - 496). Vị tăng ở thời Bắc Ngụy, người Đông hoàn (Nghi thủy, Sơn đông), họ Nhuế. Mới đầu, sư theo ngài Tăng dược ở Từ châu học các kinh Niết bàn, Pháp hoa, Thắng man v.v... về sau, theo ngài Tăng uyên ở Bạch tháp học luận Thành thực, tiếng tăm của sư lan truyền đến nước Ngụy và được vua Cao tổ Hiếu văn đế ngưỡng mộ. Sư ở Lạc dương hoằng pháp giảng dạy, được mọi người tôn kính. Năm Thái hòa thứ 2 (496) sư tịch ở chùa Báo ân tại Hằng châu, thọ 85 tuổi (có thuyết nói sư tịch khoảng năm 500 - 503). [X. Tục cao tăng truyện Q.6; Ngụy thư Thích Lão chí]. II. Đạo Đăng. Vị tăng ở thời đại Nam triều, năm sinh năm mất không rõ. Sư trụ ở chùa Kì xà, nghiên cứu các kinh rất sâu, hiểu thấu ý chỉ huyền diệu. Năm 511 đời vua Vũ đế nhà Lương thuộc Nam triều, sư cùng với các ngài Pháp vân chùa Quang trạch và Tuệ minh chùa Ngõa quan vâng sắc chỉ vào điện Hoa lâm tuyên giảng thiên Đoạn nhục của phẩm Tứ tướng trong kinh Niết bàn, được thính chúng rất khâm phục, vang tiếng một thời. III. Đạo Đăng (1620 - 1679). Vị tăng sống vào đời Thanh, người Điếm giang, tỉnh Tứ xuyên, họ Nghê. Sư hoằng pháp hơn 20 năm. Vì xót xa môn phong thời đại không còn như xưa, nên sư ẩn tu ở chùa Văn thù tại Cẩm quan và đem đốt hết văn cảo của đời mình, chỉ để lại một bài Thập nhị thời ca. Năm Khang hi 18 (1679) sư tịch, thọ 60 tuổi. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.88].
đạo đạt
To express one's opinion.
đạo đế
5660梵語 mārga-satya,巴利語 magga-sacca。又作道聖諦(梵 mārgārya-satya)、趣苦滅道聖諦、苦滅道聖諦、苦出要諦。爲佛教基本教義「四聖諦」之一。道諦,即指欲達苦滅之境而依之修行的八正道。據中阿含卷七分別聖諦經載,所謂苦滅道聖諦,即正見、正志、正語、正業、正命、正方便、正念、正定等八正道。 有關道諦之內容,諸經論所述不一,於原始佛教之根本聖典阿含經中,係以八正道爲道諦,一般亦多採用此說;另如大智度論卷十九、成實論卷二「四諦品」、四諦論卷四分別道諦品之說,則爲廣義之看法,包括三十七覺支,即:四念住、四正斷、四神足、五根、五力、七覺支、八聖道支等。 關於道諦之自性,各論書與諸部派之間頗有異說,據大毘婆沙論卷七十七之說:(一)阿毘達磨諸論師多以有學法與無學法爲道諦。(二)譬喻論師以奢摩他(梵 samatha,止)與毘鉢舍那(梵 vipaśyanā)爲道諦。(三)分別論者以有學法之八正道爲道,亦爲道諦,其餘之有學法及一切無學法僅爲道,而非道諦。(四)說一切有部之大論師妙音(梵 Ghoṣa)及如是說者認爲用以對治墮於自相續或他相續的五蘊之法,或用以對治有情數及無情數的諸蘊之法,皆爲道,亦爲道諦。 此外,唯識家以道諦配於七真如中之正行真如,並以遍、依、圓等「唯識三性」來解說道諦之相:(一)知道,又作遍知道,即能了知遍計所執之無體。(二)除道,又作永斷道,即能斷盡由各種外在因緣而生起(依他起)之假法。(三)證得道,又作證道,即能體證人空、法空二空之理。〔增一阿含經卷十七、法蘊足論卷六聖諦品、三無性論卷上、成唯識論卷八、大乘義章卷三本〕(參閱「四諦」1840)
; Màrga-àrya-satya (S). The noble path of the liberation.
; Chân lý thứ tư trong Tứ Diệu Đế, là chân lý diệt khổ, là Bát Thánh Đạo—The path leading to the end (extinction) of suffering, the fourth of the four axioms, i.e. the eightfold noble path . ** For more information, please see Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, and Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo.
; (道諦) Phạm: Màrga-satya,Pàli: Magga-sacca. Cũng gọi Đạo thánh đế (Phạm: Margàryasatya), Thú khổ diệt đạo thánh đế, Khổ diệt đạo thánh đế, Khổ xuất thánh đế. Con đường chân chính đưa đến cảnh giới diệt khổ, một trong 4 Thánh đế, là giáo nghĩa cơ bản của Phật giáo. Về nội dung của Đạo đế, các kinh luận nói không giống nhau, phổ thông có hai thuyết: 1. Kinh A hàm - Thánh điển căn bản của Phật giáo nguyên thủy - cho rằng Đạo đế tức là Bát chính đạo: Chính kiến, Chính chí, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính phương tiện, Chính niệm và Chính đạo. 2. Luận Đại trí độ quyển 19, luận Thành thực quyển 2 phẩm Tứ đế và luận Tứ đế quyển 4 phẩm Phân biệt đạo đế thì cho rằng Đạo đế bao gồm cả 37 giác chi: Tứ niệm trụ, Tứ chính đoạn, Tứ thần túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi và Bát thánh đạo chi. Về tự tính của Đạo đế, giữa các luận và các bộ phái cũng có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 77, thì: 1. Các luận sư A tì đạt ma phần nhiều cho hữu học pháp và vô học pháp là Đạo đế. 2. Các luận sư Thí dụ cho Xa ma tha (Phạm: samatha, dịch là Chỉ) và Tì bát xá na (Phạm: vipazyanà, dịch là Quán) là Đạo đế. 3. Các luận sư Phân biệt cho Bát chính đạo thuộc pháp hữu học là Đạo, cũng là Đạođế, còn pháp hữu học khác và tất cả pháp vô học chỉ là Đạo, chứ không phải Đạo đế. 4. Đại luận sư Diệu âm (Phạm: Ghowa) của Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng pháp ngũ uẩn dùng để đối trị tự tương tục và tha tương tục, hoặc đối trị hữu tình số và vô tình số đều là Đạo mà cũng là Đạo đế. Ngoài ra, các nhà Duy thức đem Đạo đế phối với Chính hạnh chân như trong 7 chân như và dùng 3 tính Duy thức là Biến kế sở chấp, Y tha khởi, Viên thành thực để giải thích tướng của Đạo đế: 1. Tri đạo, cũng gọi Biến tri đạo: Biết rõ Biến kế sở chấp không có tự thể. 2. Trừ đạo, cũng gọi Vĩnh đoạn đạo: Dứt hết các pháp giả tạm do các thứ nhân duyên bên ngoài sinh khởi (Y tha khởi). 3. Chứng đắc đạo, cũng gọi Chứng đạo: Tức có thể chứng lí Nhân không và Pháp không. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.17; phẩm Thánh đế trong luận Pháp uẩn túc Q.6; luận Tam vô tính Q.thượng; luận Thành duy thức Q.8; Đại thừa nghĩa chương Q.3 phần đầu]. (xt. Tứ Đế).
đạo độc
5659(1600~1661)明末曹洞宗僧。南海(廣東)人,俗姓陸。號宗寶,別名空隱。世稱空隱宗寶、宗寶道獨禪師。六歲喪父,隨母近寺而居,聞鄰嫗「發願來生童真出家」、「見性成佛」等語,乃立定出世之志。稍長,得六祖壇經,初不識字,乃禮請大德誦讀,竟能成誦。年十六,禮十方佛後自行執刀剃髮。歸隱龍山,結廬而居,侍母盡孝十餘年。二十九歲,往謁博山無異元來,受具足戒而得法。出住廬山,其後歷主廣州羅浮山、福州長慶、閩之雁湖、南臺山之西禪寺、粵(廣西)之芥菴、海幢等諸剎。清順治十八年七月示寂,世壽六十二,法臘三十三。有長慶宗寶獨禪師語錄六卷行世。〔五燈全書卷六十三、續燈正統卷四十、正源略集卷三〕
; (道獨) (1600 - 1661) Vị Thiền tăng thuộc tông Tào động sống vào đời Minh, người Nam hải (Quảng đông), họ Lục, hiệu là Tông bảo, biệt danh Không ẩn, người đời gọi là Không ẩn tông bảo, Tông bảo đạo độc thiền sư. Năm lên 6 tuổi, cha mất, sư theo mẹ đến ở gần chùa, nghe bà già hàng xóm tụng: Phát nguyện lai sinh đồng chânxuất gia, kiến tính thành Phật (Phát nguyện kiếp sau xuất gia từ nhỏ, thấy tính thành Phật), sư liền lập chí xuất gia. Lớn lên, sư thỉnh được Lục tổ đàn kinh, nhưng vì chưa biết chữ nên sư lễ thỉnh các vị đại đức dạy cho đọc tụng. Năm 16 tuổi, sau khi lễ chư Phật mười phương, sư tự cầm dao cạo tóc, rồi dựng lều tranh ẩn tu tại Long sơn, hầu hạ thân mẫu hơn mười năm hết lòng hiếu thảo. Năm 29 tuổi sư đến lễ ngài Vô dị Nguyên lai ở Bác sơn xin thụ giới Cụ túc và được ngài truyền pháp. Sư về ở tại Lô sơn, sau sư lần lượt ở các chùa: La phù sơn tại Quảng châu, Trường khánh ở Phúc châu, Nhạn hồ ở Phúc kiến, Tây thiền tự ở Nam đài sơn, Giới am, Hải chàng v.v... ở Quảng tây. Năm Thuận trị 18 (1661) đời Thanh sư tịch, thọ 61 tuổi, 33 tuổi hạ. Sư có trứ tác: Trường khánh bảo tông độc thiền sư ngữ lục 6 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.63; Tục đăng chính thống Q.40; Chính nguyên lược tập Q.3].
đạo đời
Dharma and life—Religion and life.
đạo đức
5656有關人類行爲善惡、正邪之原理。其原語爲拉丁語之 mors,係與 êthos(習俗)同義;蓋習俗乃道德與法律之基礎,其中,法律爲社會活動中之規範,道德則爲人類社會生活規範中必要的個人規制。孔子提倡以仁、德爲中心之人倫關係,基督教、佛教等諸宗教亦極重視道德力量。基督教強調以神愛之中的博愛精神而愛鄰人,從而展開其倫理思想。佛教則誡惡勸善,並禁止殺生、偷盜等十惡業(十不善業)。於佛教之基本精神中,所謂德,自獲其利之意;所謂道,利益他人之意。又如七佛通戒偈云(大二‧五五一上):「諸惡莫作,諸善奉行;自淨其意,是諸佛教。」由之,即可理解佛教之人倫道德觀。〔超日明三昧經卷下、無量壽經卷下、大智度論卷十五、辯正論卷五(法琳)、集古今佛道論衡卷丙文帝詔令玄奘法師翻老子爲梵文事(道宣)〕
; Religion and virtue; the power of religion.
; 1) Đạo và đức hạnh: Religion and virtue—Morality—Virtue—Morals—Ethical. 2) Đức Phật là một nhà đạo đức vĩ đại kỳ tài chưa từng thấy trên hoàn vũ: Buddha is a the greatest ethical man of genius ever bestowed upon the world.
; (道德) Nguyên lí thiện ác, chính tà có liên quan đến hành vi của nhân loại. Đạo đức, chữ La tinh là mors, cùng nghĩa với chữ êthos (tập tục), bởi vì tập tục là nền tảng của đạo đức và pháp luật, trong đó, pháp luật là phép tắc trong hoạt động xã hội, còn đạo đức thì là mẫu mực tất yếu của cá nhân trong phép tắc sinh hoạt xã hội loài người. Ngài Khổng tử đề cao Nhân, Đức là trung tâm của quan hệ nhân luân. Còn các tông giáo như Cơ đốc giáo, Phật giáo v.v... cũng rất coi trọng sức mạnh đạo đức. Cơ đốc giáo chủ trương thương yêu mọi người bằng tinh thần bác ái của Chúa, từ đó mở rộng tư tưởng luân lí. Phật giáo thì răn ác, khuyến thiện, cấm chỉ mười điều ác (Thập bất thiện nghiệp) như giết hại, trộm cướp v.v... Trong tinh thần căn bản của Phật giáo, thì Đức là tự mình được lợi ích; Đạo là làm lợi ích cho người khác. Bài kệ trong Thất Phật thông giới nói (Đại 2, 551 thượng): Chư ác mạc tác, Chư thiện phụng hành Tự tịnh kì ý, Thị chư Phật giáo. (Đừng làm các điều ác, Nên làm các việc thiện, Giữ tâm ý trong sạch, Đó là lời Phật dạy). Xem bài kệ trên có thể lí giải được quan niệm đạo đức nhân luân của Phật giáo. [X. kinh Siêu nhật minh tam muội Q.hạ; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Đại trí độ Q.15; luận Biện chính Q.5 (Pháp lâm); Tập cổ kim Phật đạo luận hành Q. bính Văn đế chiếu lệnh Huyền trang pháp sư phiên Lão tử vi Phạm văn sự (Đạo tuyên)].
đạo đức giả
A fake.
Đạo đức kinh
道德經|Lão Tử.
đạo đức kinh
5656分上、下篇,凡八十一章。爲先秦時道家之重要著作,乃道教主要經典。相傳爲春秋時代楚國人老聃所撰。又稱老子、老子五千文、道德真經。書名「道德」二字係取上篇首句「道可道」及下篇首句「上德不德」而來。本書行文簡潔,僅五千餘言,然其中思想精湛深邃,故有謂老子之學爲我國形而上學之始。老子主張宇宙萬物皆效法於「道」,道則取法於自然;大道運行不息,但必返本復始。老子於政治上主張無爲而治,謂道常無爲而無不爲,君王若能守之,萬物將自化。即以消極「無爲」之手段,達積極「無不爲」之目標。 又本書歷來爲道教所重視,道教自稱源出於老聃,尊其爲老君,以之爲教主。以「道」爲根本信仰與理論基礎。道藏中收有道德經之注釋書五十餘種,由哲學理論、陰陽變化、內丹外丹、修身治國、易象術數等多方面闡釋道教教義。
; (道德經) Có 2 thiên Thượng, Hạ gồm 81 chương, tác phẩm quan trọng của Đạo gia thời Tiên Tần, kinh điển chủ yếu của Đạo giáo. Tương truyền do Lão đam, người nước Sở, soạn vào thời Xuân Thu. Chữ Đạo ở đây được lấy từ câu Đạo khả đạo (Thượng thiên) và chữ Đức rút từ câu Thượng đức bất đức (Hạ thiên). Văn kinh ngắn gọn trong sáng, chỉ có hơn 5.000 lời, nhưng chứa đựng tư tưởng cao siêu thâm thúy, nên có người cho học thuyết của Lão tử là bắt đầu của Hình nhi thượng học của Trung quốc. Lão tử cho rằng muôn vật trong vũ trụ đều bắt nguồn từ Đạo, mà Đạo thì vốn tự nhiên. Đại đạo vận hành không ngừng, nhưng chắc chắn sẽ lại trở về chỗ ban đầu. Về phương diện chính trị, Lão tử chủ trương vô vi, cho rằng Đạo thường không làm mà làm tất cả, ông vua mà giữ được Đạo thì muôn vật sẽ tự hóa. Tức là ứng dụng chính sách vô vi tiêu cực để đạt đến mục đích vô bất vi tích cực. Như trên đã nói, Đạo giáo rất xem trọng Đạo đức kinh, tôn Lão đam là Giáo chủ, lấy Đạo làm tín ngưỡng căn bản và là cơ sở lí luận. Trong tạng kinh của Đạo giáo có tới hơn 50 loại sách chú thích về Đạo đức kinh, đã đứng về nhiều phương diện như triết học lí luận, âm dương biến hóa, nội đan ngoại đan, tu thân trị quốc, dịch tượng thuật số v.v... để thuyết minh giáo nghĩa của Đạo giáo.
đạo đức lần lần suy vi
Morality and virtue gradually decline.
đạo đức suy vi
Morals and virtues have broken down.
đạo đức uyên thâm
High moral.
Đạo Ưng
道膺|Vân Cư Ðạo Ưng
đạo ưng
5662(835~902)唐代曹洞宗僧。薊門玉田(河北)人,俗姓王。二十五歲,於范陽延壽寺受具足戒。學小乘戒律,復從學於終南山翠微寺之無學。後參學於筠州(江西)之洞山良价座下,並嗣其法。初住於三峰山(江西宜豐)。其後,於雲居山(江西建昌西南)開創真如寺(又稱飛白寺、龍昌寺),講學三十年,大振曹洞宗風。得南平王鍾傳之護持。天復二年示寂(佛祖通載作天復元年示寂),世壽六十八。師之語錄現已不存。〔宋高僧傳卷十二、景德傳燈錄卷十七〕
đạo ưng thiền sư
Thiền Sư Vân Cư Đạo Ưng là một đệ tử nổi tiếng và Pháp Tử của Thiền Sư Động Sơn Lương Giới. Năm sanh của Ngài không ai biết—Zen master Yun-Ju-T'ao-Ying was a noted disciple and Dharma heir of Zen Master T'ong-Shan-Liang-Jie. His year of birth was unknown. • Một hôm Động Sơn hỏi: “Từ đâu đến?” Sư thưa: “Từ Thúy Vi đến.” Động Sơn lại hỏi: “Thúy Vi có lời gì dạy đồ chúng?” Sư thưa: “Thúy Vi cúng dường La Hán, con hỏi 'Cúng dường La Hán, La Hán có đến chăng?'Thúy Vi bèn hỏi con: 'Mỗi ngày ông ăn gì?'” Động Sơn hỏi: “Thật có lời nầy chăng?” Sư thưa: “Có.” Động Sơn nói: “Chẳng uổng tham kiến bậc đạt đạo.” Đoạn Động Sơn hỏi: Xà Lê tên gì?” Sư thưa: “Tên Đạo Ưng.” Động Sơn nói: “Hãy nhìn lên rồi nói lại.” Sư thưa: “Nói lên trên tức chẳng tên Đạo Ưng.” Động Sơn nói: “Ngươi đáp tương tợ với ta lúc đến Vân Nham.”—One day T'ong-Shan asked Yun-Ju: “Where have you come from?” Yun-Ju said: “From Shui-Wei.” T'ong-Shan said: “What teaching does Shui-Wei convey to his disciples?” Yun-Ju said: “Once, when Shui-Wei was making offerings to the sacred images, I asked him: 'If you make offerings to the arhats, will they come or not?' Shui-Wei: 'Aren't you able to every day?'” T'ong-Shan said: “Did he really say that or not?” Yun-Ju said: “Yes.” T'ong-Shan said: “Don't dimiss it when a great man appears!” Then T'ong-Shan asked Yun-Ju: “What is your name?” Yun-Ju said: “T'ao-Ying.” T'ong-Shan said: “Look up and then say it.” Yun-Ju said: “If I look up, then there's nothing named 'T'ao-Ying'” T'ong-Shan said: “You talk just like I did when I spoke with T'ao-Wu.” • Vân Cư hỏi Động Sơn: “Thế nào là ý Tổ Sư?” Động Sơn đáp: “Sau này Xà Lê có nơi chốn ở yên, chợt có người đến hỏi như thế, phải đáp làm sao?”—Yun-Ju asked T'ong-Shan: “What was the First Ancestor's intention?” T'ong-Sha answered: “Behind him as a reed hat.” Yun-Ju said: My fault.” • Động Sơn hỏi: “Ta nghe Hòa Thượng Tư Đại sanh làm vua nước Nhật là thật giả?” Sư thưa: “Nếu là Tư Đại, Phật còn chẳng làm, huống là làm vua.” Động Sơn gật đầu. Một hôm, Động Sơn hỏi: “Từ đâu đến?” Sư thưa: “Đạp núi đến.” Động Sơn hỏi: “Quả núi nào nên ở?” Vân Cư thưa: “Có quả núi nào chẳng nên ở.” Động Sơn nói: “Thế ấy là cả nước đều bị Xà Lê chiếm hết.” Vân Cư nói: “Chẳng phải.” Động Sơn nói: “Thế ấy là ngươi đã được đường vào?” Vân Cư nói: “Không đường.” Động Sơn nói: “Nếu không đường làm sao được cùng lão Tăng gặp nhau?” Vân Cư nói: “Nếu có đường thì cùng Hòa Thượng cách núi vậy.” Động Sơn nói: “Kẻ nầy về sau ngàn muôn người nắm chẳng đứng.”—Once, T'ong-Shan said to Yun-Ju: “I heard that a monk named 'Great Thought' was born in the Kingdom of Wie and became the king. Is this true or not?” “If his name was 'Great Thought,' then even the Buddha couldn't do it.” T'ong-Shan agreed. One day T'ong-Shan asked: “Where are you going?” Yun-Ju said: “Tramping on the mountain.” T'ong-Shan said: “How can the mountain endure?” Yun-Ju said: “How can it not endure?” T'ong-Shan said: “If you go on like this, then you'll eventually teach the whole country.” Yun-Ju said: “No, I won't.” T'ong-Shan said: “If you go like this, then your disciples will gain a way of entrance.” Yun-Ju said: “No such way.” T'ong-Shan said: “No such way? I challenge you to show me.” Yun-Ju said: “If there's such a path, then I'll leave you immediately to go on it.” T'ong-Shan said: “In the future, a thousand or ten thousand people won't be able to grab this disciple.” • Sư theo Động Sơn lội qua suối. Động Sơn hỏi: “Nước cạn sâu?” Sư thưa: “Chẳng ướt.” Động Sơn bảo: “Kẻ thô.” Sư thưa: “Thỉnh thầy nói.” Động Sơn nói: “Chẳng khô.”—Yun-Ju was crossing a river with T'ong-Shan. T'ong-Shan asked: “How deep is it?” Yun-Ju said: “It's not wet.” T'ong-Shan said: “You rustic!” Yun-Ju said: “What would you say Master?” T'ong-Shan said: “Not dry.” • Sư cất thảo am nơi Tam Phong, trải qua tuần nhật không xuống trai đường. Động Sơn thấy lạ hỏi: “Mấy ngày nay sao ngươi không đến thọ trai?” Sư thưa: “Mỗi ngày có Thiên Thần cúng dường.” Động Sơn bảo: “Ta bảo ngươi là kẻ vẫn còn kiến giải. Ngươi rảnh chiều lại.” Chiều, sư đến. Động Sơn gọi: “Ưng am chủ!” Sư lên tiếng: “Dạ!” Động Sơn bảo: “Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác là cái gì?” Sư trở về am ngồi yên lặng lẽ, Thiên Thần tìm mãi không thấy, trải ba ngày như thế mới thôi đến cúng dường.”—Yun-Ju built a cottage on nearby San-Feng peak. For ten days thereafter he didn't return to the monk' hall. T'ong-Shan asked him: “Why haven' you come to meals lately?” Yun-Ju said: “Everyday a heavenly spirit brings me food.” T'ong-Shan said: “I say you're a person. Why do you still have such an understanding? Come see me tonight!” That evening when Yun-Ju came to see T'ong-Shan, T'ong-Shan called out to him: “Hermit-Ying!” Yun-Ju answered: “Yes?” T'ong-Shan said: “Nothing of good and not thinking of evil, what is it?” Yun-Ju went back to his cottage and sat in Zen meditation. Because of this the god couldn't fins him, and after three days did not come again.” • Thiền sư Đạo Ưng Vân Cư thị tịch năm 901—He died in 901 A.D.
đạo ẩn
5662(1255~1325)元代臨濟宗楊岐派僧。杭州人。號靈山。幼即出家,依仰山之雪巖祖欽,看「狗子無佛性」之公案而契悟,受其印可。未久遊江湖,禮謁名衲,後閱經藏多年,名聞一時。延祐六年(1319),東渡日本,主持鎌倉建長寺。師叢規嚴整,受七眾之崇信。正中二年三月入寂,世壽七十一。勅諡「佛慧禪師」。其門流稱佛慧派,爲日本禪宗二十四流之一。〔延寶傳燈錄卷四、本朝高僧傳卷二十四〕
Đạo 導
[ja] ドウ dō ||| To guide, lead, teach, instruct, serve as a master to. Guidance, instruction. => Hướng dẫn, dẫn dắt, dạy dỗ, chỉ dẫn, đóng vai trò như một người thông thạo. Sự hướng dẫn, lời chỉ dẫn.
đạo, du đạo
Robber, thief, burglar; pirate, bandit, brigand.
đạp
3328爲古代日本人於朝儀或法會時所穿用之履。以其所用材料及形狀之別,可分爲烏皮沓(鼻高沓)、草鞋、絲鞋、錦鞋、麻鞋、深沓、淺沓等多種。又因沓之前頭隆起,故又稱鼻高履、高鼻履、突子、高履、舄履。在古代,沓係皮製,後則衍爲木製,且塗以黑漆,多在屋外穿用。草鞋又作捽鞋,本爲草編,後則爲絲編,鞋面復以錦、金襴裝飾,多於室內穿用。有時亦稱木製之鞋爲草鞋。
đạp sàng
6184指設於座席之前可供放置雙足之小臺。又作踏床、踏子、承足床、腳踏、腳凳、凳子、击子。踏床,在經、律中多有述及,如法華經卷二信解品,稱之為寶几(梵 pāda-piṭha)。摩訶僧祇律卷二十,稱之為承足机。謂比丘入檀越家坐時,遇床(此處指座席)腳太高,不得懸足而坐。若該檀越係舊識,可索承足机;若非舊識,則索甎或木塊承足而坐。 有部毘奈耶雜事卷十四記載踏床之起源,謂佛陀應允誦經師可昇高座,然其人坐於獅子座上而懸垂雙足,易致勞倦,故佛陀指示應作承足床,供置雙足。又居於林中之比丘,於此物難得;佛陀為免彼等垂足勞倦,即指示可代以石塊支撐雙足。至後世,禪林中多使用此物。禪苑清規卷一赴粥飯條,規定上踏床之法(卍續一一一‧四四一上):「兩手提面前袈裟,次併以左手提之,即踏床近裏而坐,然後棄鞋。」〔四分律卷五十一、有部尼陀那卷四、禪林象器箋器物門、宋史卷一五○后妃車輿〕
; (踏床) Cũng gọi Đạp tử, Thừa túc sàng, Cước sàng, Cước đẳng, Đẳng tử. Cái bệ nhỏ đặt ở trước chỗ ngồi để kê chân. Đạp sàng, trong kinh luật có nhiều tên gọi khác nhau. Như phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa quyển 2 gọi là Bảo kỉ (Phạm: Pàda-pìỉha, ghế báu). Luật Ma ha tăng kì quyển 20 gọi là Thừa túc kỉ (ghế để chân). Nghĩa là khi vị tỉ khưu vào nhà đàn việt (thí chủ), gặp chỗ ngồi quá cao (chân giường cao quá) thì không được ngồi thõng chân và đung đưa. Nếu người đàn việt ấy là cựu thức (người quen biết đã lâu), thì có thể tìm một thừa túc kỉ; nếu không là cựu thức thì tìm viên gạch hay khúc gỗ để kê chân. Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 14 ghi chép về nguồn gốc của Đạp sàng, nói rằng đức Phật cho phép vị tỉ khưu khi tụng kinh được ngồi trên tòa Sư tử cao, nhưng vì ngồi thõng chân xuống thì dễ mỏi nênPhật cho phép làm cái ghế nhỏ để kê hai chân. Nếu ở trong rừng hoặc những nơi khó tìm được ghế thì đức Phật dạy có thể dùng hòn đá để thay thế. Đến đời sau, trong Thiền lâm phần nhiều sử dụng Đạp sàng. [X. luật Tứ phần Q.51; Hữu bộ ni đà na Q.4; Thiền lâm tượng khí tiên Khí vật môn; Tống sử Q.150 Hậu phi xa dư].
đạp đổ
To destroy.
đạt
1) Đạt đến: To reach to—To transfer. 2) Đi Đến mọi nơi: Reaching everywhere. 3) Cái chuông có quả lắc ở giữa: A bell with a clapper.
đạt bà
See Gandharva in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đạt bảo cáp giải
5667(1077~1152)西藏名 Dwag-po lha-rje。西藏佛教迦爾居派兩大傳承之一達布派之創始人。幼年習醫,初習迦當派教法,後拜密勒日巴爲師,融合迦當派之教義與密勒日巴之密法,稱爲俱生大印,而以之傳法授徒。宋宣和三年(1121),於前藏達波拉崗波創建崗波寺,創立該派。著有菩提道次第隨破宗莊嚴,即以阿提沙之菩提道燈論爲基礎,糅和密勒日巴之大手印法,其思想大抵係以佛護之中觀說爲解釋之依據。後由於迦爾居派流布漸廣,傳習之觀法亦次第差殊,遂又有諸小支系之分出,有所謂之九派(達布、迦爾瑪、潑結、新吒兒、地康、路結、大隆、勃隆迦、杜普),亦有所謂四大八小(四大指達保四大弟子所創之迦爾瑪派、潑結派、勃隆迦派、蔡巴派;八小指潑結派之分支,包括葉巴、修色、綽浦、雅桑、主巴、止貢、瑪倉、大隆),使迦爾居派傳播遍及全藏。其各系傳承,至今未絕。(參閱「迦爾居派」3971、「達布迦爾居」5666)
đạt bố ca nhĩ cư
5666西藏佛教迦爾居派兩大傳承之一,屬密勒日巴所傳之一系。又稱達布派。爲密勒日巴之弟子達保哈解(藏 Dwag-po lha-rje, 1077~1152)所創,融合迦當派教義(修菩提心教授)與密勒日巴之密法(大印教授),稱之爲俱生大印,以之傳授門徒,強調實修,而自成一系。宋宣和三年(1121),達保哈解於前藏達波拉崗波地方創建崗波寺,並以此爲主寺。後其四大弟子分別於前後藏建寺收徒,形成四大支系,其中潑結派一系又分出八支系(即葉巴、修色、綽浦、雅桑、主巴、止貢、瑪倉、大隆),總稱四大八小。
đạt cương
5668(1609~1669)明代臨濟宗僧。茶陵(湖南)人,俗姓蕭。號密巖。初從南嶽玄印出家,後禮山茨通際爲師,且嗣其法。一度隱居於江西大雲山,順治八年(1651)於湖南寶慶開創紫雲寺。康熙八年四月示寂,世壽六十一,法臘三十四。〔五燈全書卷八十一〕
đạt hoà
5666(1932~ )臺灣苗栗人,俗姓黃。號今如。民國四十二年(1953)於大甲永光寺,依止妙然法師披剃出家。四十四年受具足戒於基隆月眉山靈泉寺。後負笈日本駒澤大學深造十載,榮獲該校文學碩士學位,並修畢博士課程。歷任臺中佛教會館附設佛教研究社、壽山佛學院、法雲佛學院講師、華梵佛學研究所副教授,現任佛光山福山佛學院講師、臺中佛教會館住持,並參與佛光大藏經、佛光大辭典之編纂。譯有印度佛教史概說一書,並有原始佛教的業報思想等論文散見於各佛教刊物。
đạt hạt la
Dahara (skt)—Vị Tăng còn trẻ, thọ cụ túc giới chưa đầy 10 năm—Small, young monk, ordained less than ten years.
đạt la tì đồ quốc
5677達羅毘荼,梵名 Drāviḍa,巴利名 Damiḷa。南印度之古國名。又作達羅弭荼國、達羅比吒國、陀彌國、達彌拏國、陀眉羅國。其都城爲建志補羅城(梵 Kāñcīpura)。大唐西域記卷十(大五一‧九三一下):「達羅毘荼國,周六千餘里。國大都城號建志補羅,周三十餘里。土地沃壤,稼穡豐盛,多花菓,出寶物,氣序溫暑,風俗勇烈,深篤信義,高尚博識,而語言文字少異中印度。伽藍百餘所,僧徒萬餘人,皆遵學上座部法。天祠八十餘所,多露形外道也。如來在世,數遊此國,說法度人。」另據巴利文大史(巴 Mahāvaṃsa, ch. xxi)所載,達羅毘荼國昔曾屢次遠征錫蘭,並一度統治之,時爲西元前三世紀後半至西元一世紀之初。該國素奉佛教,歷來論師輩出,如陳那、護法、菩提達磨等。〔佛本行集經卷十一、解說西域記、東南印度諸國の研究〕
; (達羅毗荼國) Đạt la tì đồ, Phạm: Dràviđa,Pàli: Damiơa. Cũng gọi Đạt la nhĩ đồ quốc, Đạt la tỉ tra quốc, Đà di quốc, Đạt di noa quốc, Đà mi la quốc. Tên một nước xưa ở miền Nam Ấn độ. Đô thành gọi là Kiến chí bổ la (Phạm: Kàĩcìpura). Đại đường tây vực kí quyển 10 (Đại 51, 931 hạ), chép: Nước Đạt la tì đồ chu vi hơn 6.000 dặm; đô thành tên là Chí bổ la, rộng hơn 30 dặm. Nước này đất đai phì nhiêu, lúa mạ xanh tốt, hoa quả rất nhiều, giầu khoáng sản, khí hậu ấm áp, tính người dũng cảm, trình độ dân trí cao và đầy lòng tín nghĩa, ngôn ngữ văn tự gần giống như Trung Ấn độ. Cả nước có hơn 100 ngôi già lam, tăng chúng hơn 1 vạn người, đều tu học theo pháp của Thượng tọa bộ. Ngoài ra, còn có hơn 80 ngôi đền thờ trời, phần nhiều theo ngoại đạo lộ hình. Khi còn tại thế, đức Như lai đã đến đây thuyết pháp nhiều lần. Lại cứ theo Đại sử (Pàli:Mahàvaôsa, ch. XXI) chép, thì nước Đạt la tì đồ từng mấy lần đem quân đi đánh Tích lan và đã thiết lập nền thống trị trên hòn đảo này từ nửa sau của thế kỉ III trước Tây lịch đến đầu thế kỉ I Tây lịch. Nước Đạt la tì đồ vốn tin thờ Phật giáo và là nơi đã sản sinh ra nhiều vị luận sư nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo như các ngài: Trần na, Hộ pháp, Bồ đề đạt ma v.v... [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.11; Giải thuyết tây vực kí; Đông nam Ấn độ chư quốc chi nghiên cứu].
đạt la tỳ đồ
Dravida (skt)—Một khu vực về phía bờ biển đông của Đề Căng—A district on the east coast of the Deccan.
đạt lai lạt ma
Dalia-Lama (skt)—Vị lãnh đạo phái Phật Giáo Tây Tạng áo vàng, cũng là vị lãnh đạo của Tây Tạng—The head of the Yellow-robe sect of Tibetan Buddhism, and chief of the nation. ** For more information, please see Dalai Lama in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đạt lê xá na
Darsana (skt)—See Đạt Lợi Sắc Trí.
đạt lại lạt ma
5675(Dalai-lama)復興西藏佛教的黃帽派開祖宗喀巴之後繼者皆稱達賴喇嘛,爲兩大活佛轉世系統之一,另一系統則爲班禪額爾德尼。達賴喇嘛之稱號爲蒙藏語之併稱,dalai(達賴),爲蒙古語「海」之 N;lama(喇嘛),爲西藏語 bla-ma 之訛略,乃「上人」之意,原係佛弟子中內有智德,外有勝行者之尊稱。達賴喇嘛即統治西藏的法王之意,然在西藏,達賴喇嘛之稱號多用於外交上,藏人另有數種尊稱,如:(一)嘉穆根仁波切(藏 Sky-abs-mgon-rim-po-che),意爲救護尊者。(二)噶巴仁波切(藏 Rgyal-ba-rim-po-che),意爲得勝尊者。(三)達穆欽堪巴(藏 T'ams-cad-mk'yen-pa),意爲一切智者。達賴之近側人員則稱爲「布格」(藏 Sbugs),意爲大內。又歷代之達賴喇嘛多冠有「嘉穆錯」(藏 rgyomtsho)名號,即藏語「海」之意。 有關達賴喇嘛稱號之來源有二說:(一)厄魯特蒙古和碩特部之固始汗(藏 Gu-śri Khan,顧實汗)於清世祖順治七年(1650)頃,贈予宗喀巴之第五代弟子阿旺羅卜藏嘉穆錯(藏 ṅag-dbaṅ blo-bzaṅ rgya-mtsho, 1617~1682)達賴之尊號,意爲廣德如海。固始汗曾助羅卜藏嘉穆錯統一全藏,宏揚黃教。其後,歷代傳人即有達賴喇嘛之稱。(二)宗喀巴之第三代弟子瑣朗嘉穆錯於明神宗萬曆六年(1578)頃,至蒙古宏法,蒙古俺答汗(Altan Khan)贈予「達賴喇嘛金剛持」之尊稱,此後即成爲達賴喇嘛全體系譜之稱號;然於第一說中則謂,俺答汗贈予之尊號爲金剛持(梵 Vajra-dhāra),而非「達賴」。 西藏佛教於佛、法、僧等三寶中,最尊崇喇嘛僧,故主張於精神、物質方面,供奉喇嘛僧即可成佛。達賴喇嘛自第一世以來,即被視爲觀世音菩薩之化身,更受到全藏士庶之無上尊崇。又歷代達賴喇嘛持守嚴格之獨身主義,並以轉生(活佛)之法決定其後繼者。所謂轉生,即相信肉體死滅之後,靈魂不滅,得以再現於世。此外,彙集歷世喇嘛所著之各類著作,稱喇嘛歷世全書(藏 Skyabs-mgon-rim-ḥbyuṅ gsuṅ ḥbum)。其中,第五世達賴所著之論叢,廣攝顯、密二教之文獻外,並涵括西藏歷史、經錄等,爲最重要之著作。 自第五代達賴喇嘛從蒙古接受西藏全土政權後,歷代達賴遂成爲掌握政治、宗教之最高權力者。迄今爲止,達賴喇嘛仍爲黃帽派之首長,統率三千數百寺院,及三、四十萬喇嘛僧。玆略述歷世達賴之傳承:第一世達賴爲根敦珠巴(藏 Dge-gdun-grub, 1391~1475),第二世爲根敦嘉穆錯(藏 Dge-gdun-rgya-mtsho, 1476~1543),第三世瑣朗嘉穆錯(藏 Bsod-nams-rgya-mtsho, 1543~1588),第四世榮丹嘉穆錯(藏 Yon-tan-rgya-mtsho, 1589~1616),第五世爲阿旺羅卜藏嘉穆錯,第六世爲倉央嘉穆錯(藏 Tshaṅs-dbyaṅs-rgya-mtsho, 1683~1706),第七世爲格桑嘉穆錯(藏 Skal-bzaṅ-rgya-mtsho, 1708~1758),第八世爲姜白嘉穆錯(藏 Ḥjam-dpal-rgya-mtsho, 1758~1805),第九世爲隆多嘉穆錯(藏 Luṅ-rtogs-rgya-mtsho, 1805~1816),第十世爲楚稱嘉穆錯(藏 Tshul-khrim-rgya-mtsho, 1816~1837),第十一世凱珠嘉穆錯(藏 Mkhas-sgrub-rgya-mtsho, 1837~1855),第十二世爲稱勒嘉穆錯(藏 Sprin-las-rgya-mtsho, 1856~1875),第十三世爲土丹嘉穆錯(藏 Thub-bstan-rgya-mtsho, 1876~1933)。今爲第十四世之拉木登珠(藏Ṅag-dbaṅ blo-bzaṅ bstan-ḥdsin-rgya-mtsho, 1935~ ),民國四十八年(1959)因西藏抗暴事件,潛逃流亡至印度。西藏佛教今後之發展、興衰,頗值世人重視。〔A. Waddell: The Buddhism of Tibet;W.W. Rockill: The Dalai Lamas of Lhasa their relation with the Manchu Emperors of China〕
; (達賴喇嘛) Dalai-lama. Vốn là tiếng tôn xưng những vị đệ tử Phật vừa có trí đức, vừa có thắng hạnh. Dalai là tiếng Mông cổ, có nghĩa là biển; Lamalà tiếng Tây tạng, có nghĩa là Thượng nhân. Đạt lại lạt ma là chỉ cho vị Pháp vương thống trị Tây tạng, tức là những vị nối tiếp sự nghiệp ngài Tông khách ba, người phục hưng nền Phật giáo Tây tạng và là khai tổ của phái Hoàng mạo (phái đội mũ vàng). Đạt lại lạt ma cũng chỉ cho một trong hai hệ thống Hoạt Phật chuyển sinh, hệ thống kia là Ban thiền lạt ma. Nhưng ở Tây tạng danh hiệu Đạt lại lạt ma phần nhiều được dùng về mặt ngoại giao. Người Tây tạng còn có nhiều tiếng tôn xưng khác, như: 1. Gia mục căn nhân ba thiết (Tạng:Skyabs-mgon-rim-po-che) nghĩa là Cứu hộ tôn giả. 2. Cát ba nhân ba thiết (Tạng: Rgyalba-rim-po-che), nghĩa là Đắc thắng tôn giả. 3. Đạt mục khâm kham ba (Tạng: T’ams-cad-mk’yen-pa) nghĩa là Nhất thiết trí giả. Nhân viên cận vệ Đạt lại lạt ma thì gọi là Bố cách (Tạng:Sbugs), nghĩa là Đại nội. Ngoài ra, Đạt lại lạt ma các đời phần nhiều dùng danh hiệu Gia mục thố (Tạng: Rgyo mtsho), nghĩa là biển đặt ở sau tên. Về nguồn gốc của danh từ Đạt lại lạt ma thì có 2 thuyết: 1. Khoảng năm Vạn lịch thứ 6 (1578) đời vua Thần tông nhà Minh, vị đệ tử đời thứ 3 của ngài Tông khách ba là Tỏa lãng gia mục thố đến Mông cổ hoằng pháp, được Am đáp hãn (Altam khan, vua) của Mông cổ phong tặng tôn hiệu Đạt lại Lạt ma Kim cương trì. Từ đó về sau tôn hiệu này trở thành tên gọi của toàn thể hệ phổ Đạt lại lạt ma. Nhưng, có chỗ nói Am đáp hãn phong tặng tôn hiệu là Kim cương trì (Phạm: Vajradhàra) chứ không phải là Đạt lại. 2. Khoảng năm Thuận trị thứ 7 (1650) đời vua Thế tổ nhà Thanh, vị đệ tử đời thứ 5 của ngài Tông khách ba là A vượng la bốc tạng gia mục thố (Tạng: Íag-dbaí blobzaí rgya-mtsho, 1617 - 1682) được Cố thủy hãn (Tạng: Gu-zri Khan, Cố thực hãn) của Ách lỗ đặc mông cổ hòa thạc đặc bộ phong tặng tôn hiệu Đạt lại. Cố thủy hãn từng giúp La bốc tạng gia mục thố thống nhất toàn cõi Tây tạng, hoằng dương Hoàng giáo. Từ đó, những người truyền nối về sau đều có tên gọi Đạt lại lạt ma. Phật tử Tây tạng rất tôn sùng Lạt ma, nên cho rằng nếu cúng dường Lạt ma về vật chất và tinh thần thì có thể thành Phật. Đạt lại lạt ma từ đời thứ 1 đến nay được coi là hóa thân của bồ tát Quán thế âm, được toàn thể dân chúng Tây tạng tôn sùng là bậc vô thượng. Trải qua các đời, những vị Đạt lại lạt ma giữ gìn nghiêm khắc chủ nghĩa độc thân và dùng pháp Chuyển sinh (Phật sống) để quyết định người thừa kế. Ngoài ra, bộ sách thu gom những tác phẩm của các đời Lạt ma được gọi là Lạt Ma Lịch Thế Toàn Thư (Tạng: Skyabsmgon-rim-#bhyuí gsuí #bum). Trong đó, bộ Luận Tùng của vị Đạt lại đời thứ 5 là một tác phẩm rất quan trọng, nó hàm nhiếp cả giáo lí Hiển, Mật và bao gồm lịch sử, kinh lục v.v... của Tây tạng. Từ đời Đạt lại lạt ma thứ 5 trở về sau, khi Tây tạng tiếp nhận chính quyền toàn lãnh thổ của mình từ Mông cổ, thì Đạt lại lạt ma trở thành người nắm quyền lực cao nhất cả về tôn giáo lẫn chính trị cũng như người đứng đầu phái Hoàng mạo, cai quản hơn 3.000 ngôi chùa viện, bốn trăm nghìn Lạt ma. Nay tường thuật sơ qua về sự truyền thừa các đời Đạt lại như sau: - Đời thứ 1: Đạt lại Căn đôn châu ba (Tạng: Dge-gdun-grub, 1391 - 1475). - Đời thứ 2: Đạt lại Căn đôn gia mục thố (Tạng: Dge-gdun-rgya-mtsho, 1476 - 1543). - Đời thứ 3: Đạt lại Tỏa lãng gia mục thố (Tạng: Bsod-nams-rgya-mtsho, 1543 - 1588). - Đời thứ 4: Đạt lại Vinh đan gia mục thố (Tạng: Yon-tan-rgya-mtsho, 1589 - 1616). - Đời thứ 5: Đạt lại A vượng la bốc tạng gia mục thố (Tạng: Íag-dbaí blo-bzaí rgya-mtsho, 1617 - 1682). - Đời thứ 6: Đạt lại Thương ương gia mục thố (Tạng: Tshaís-dbyaís rgya mtsho, 1683 - 1706). - Đời thứ 7: Đạt lại Cách tang gia mục thố (Tạng: Skal-bzaí-rgya-mtsho, 1708 - 1758). - Đời thứ 8: Đạt lại Khương bạch gia mục thố (Tạng: Fjam-dpal-rgya-mtsho, 1758 - 1805). - Đời thứ 9: Đạt lại Long đa gia mục thố (Tạng: Luí-rtogs-rgya-mtsho, 1805 - 1816). - Đời thứ 10: Đạt lại Sở xưng gia mục thố (Tạng: Tshul-khrim-rgya-mtsho, 1816 - 1837). - Đời thứ 11: Đạt lại Khải châu gia mục thố (Tạng: Mkhas-sgrub-rgya-mtsho, 1837 - 1855). - Đời thứ 12: Đạt lại Xưng lặc gia mục thố (Tạng: Sprin-lasrgya-mtsho, 1856 - 1875). - Đời thứ 13:Đạt lạiThổ đan gia mục thố (Tạng: Thub-bstanrgya-mtsho, 1876 - 1933). - Đời thứ 14: Đạt lại lạt ma hiện nay là Lạp mộc đăng châu (Tạng: Ṅag-dbaṅ blo-bzaṅ bstan-ḥdsin-rgya-mtsho, 1935-). Năm 1959, sau cuộc nổi dậy của nhân dân Tây tạng chống lại sự thống trị của cộng sản Trung quốc thất bại, đức Đạt lại lạt ma phải lưu vong sang Ấn độ. Từ đây, sự hưng suy của Phật giáo Tây tạng rất được thế giới quan tâm. [X. A. Waddell: The Buddhism of Tibet; W. W. Rockhill: The Dalai Lamas of Lhasa their relation with the Manchu Emperors of China].
đạt lợi sắc trí
Drsti (skt)—Đạt Lê Xá Na. 1) Kiến trong tà kiến: Seeing, viewing, views, ideas, opinion; especially seeing the seeming as if real, therefore, incorrect views, false opinions. 2) Ngã Kiến: Cho rằng có một cái ngã hằng hữu—The false idea of a permanent self.
đạt ma
5670<一>梵語 dharma,巴利語 dhamma 之音譯。又作達摩、馱摩、陀摩、曇摩、曇謨、曇無、曇。意譯法。即保持自性而不改變之意。於佛典中,其語意有多種,或指佛陀所說之教示,或指彙集佛陀之教示而成的聖典,或指道德之法則,或爲一切萬法之代稱,如俱舍宗將一切萬法分類爲五位七十五法,唯識宗則分爲五位百法。要之,其用法極多,不一而足。惟漢文經典一般多用意譯之「法」字,而於人名之翻譯,則較常採用達磨、曇摩等音譯,如 Bodhidharma,譯爲菩提達磨(我國禪宗初祖);Dharmatrāta,譯爲達磨多羅(爲說一切有部四大論師之一);Dharmagupta,譯爲達摩笈多(爲隋代時來華之中印度高僧)。(參閱「法」3336) <二>指禪宗初祖菩提達磨。(參閱「菩提達磨」5207) <三>難陀之弟子。此難陀與其弟跋難陀均爲六群比丘之一,而非指佛陀之弟子孫陀羅難陀。據諸部律記載,難陀有一共住弟子,名達磨,常懷慚愧、追悔之心,於諸學處愛樂尊重。彼未知難陀之惡行,與之共住;既知其行蹟,便棄之而與善比丘同住。
; Dharma (S), Dhamma (P)
; See Dharma in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (達磨) I. Đạt Ma. Phạm: Dharma, Pàli: Dhamma. Cũng gọi Đà ma, Đàm ma, Đàm mô, Đàm vô, Đàm. Hán dịch: Pháp. Nghĩa là giữ gìn tự tính không thay đổi. Danh từ này có nhiều nghĩa, hoặc chỉ cho những lời chỉ dạy của đức Phật, hoặc chỉ Thánh điển chứa đựng giáo pháp do đức Phật nói, hoặc chỉ cho pháp tắc đạo đức, hoặc chỉ cho muôn pháp v.v... Như tông Câu xá chia muôn pháp làm 5 vị 75 pháp, tông Duy thức thì chia làm 5 vị 100 pháp. Trong các nghĩa trên, nghĩa Pháp là thông dụng nhất. II. Đạt Ma. Chỉ cho ngài Bồ đề đạt ma, Sơ tổ của Thiền tông Trung quốc. (xt. Bồ Đề Đạt Ma). III. Đạt Ma. Đệ tử của Nan đà. Nan đà vốn là một trong nhóm Lục quần tỉ khưu, những kẻ có nhiều hành vi xấu ác. Sau khi biết được những việc làm trái đạo lí của thầy mình, Đạt ma liền bỏ Nan đà mà đi theo những tỉ khưu hiền thiện khác.
đạt ma ba la
5673又作達摩波羅。<一>梵名 Dharmapāla。意譯作護法。唯識十大論師之一。佛陀入滅後一千年頃,出生於南印度達羅毘荼國之建志補羅城,爲大臣之長子。〔大唐西域記卷五、卷九、卷十、佛祖歷代通載卷十二〕(參閱「護法」6867) <二>巴利名 Dhammapāla。西元第五世紀末之注釋家。被尊稱爲阿闍梨(巴 ācāriya)。又稱達磨多羅。(參閱「達磨多羅」5671) <三>(Dhammapāla, Sri Devamitta; 1864~1933)又譯作達磨多羅。摩訶菩提會(Mahābodhi Society)創始人。生於錫蘭貴族家庭,原名棟大衛赫瓦韋塔拉納(Don David Hevavitharaṇa)。自幼受基督教會學校教育。後受十九世紀末錫蘭民族主義運動與佛教復興運動之影響,從事復興印度佛教之活動。主張經由批判西方文化、復興佛教來提高錫蘭人之民族意識。一八九一年初詣印度菩提伽耶,五月,於可倫坡創建摩訶菩提會,並於印度與國外傳播佛教。曾訪問緬、英、美、中、日、泰、法、義等國。一九三三年正式受戒,同年卒於印度。(參閱「達磨多羅」5671)
; (達磨波羅) I. Đạt Ma Ba La. Phạm: Dharmapàla. Dịch ý: Hộ pháp. Một trong 10 vị Luận sư lớn của Duy thức học, con trưởng của một vị Đại thần ở thành Kiến chí bổ la của nước Đạt la tì đồ thuộc Nam Ấn độ, ra đời khoảng 1.000 năm sau đức Phật nhập diệt. [X. Đại đường tây vực kí Q.5, Q.9, Q.10; Phật tổ lịch đại thông tải Q.12]. (xt. Hộ Pháp). II. Đạt Ma Ba La (1864 - 1933). Pàli: Dhammapàla. Cũng gọi Đạt ma đa la. Nhà chú thích kinh luận ở cuối thế kỉ thứ V, được tôn là A xà lê (Pàli: Àcàriya). III. Đạt Ma Ba La. Pàli: Dhammapàla, Sri, Devamitta. Cũng gọi Đạt ma đa la. Học giả Phật giáo người Tích lan, sáng lập hội Ma ha bồ đề (MahàbodhiSociety). (xt. Đạt Ma Đa La).
đạt ma cấp đa
5670請參閱 絕觀論 (?~619)梵名 Dharmagupta。又作達摩崛多、笈多、法密、法藏。隋代譯經僧。南印度羅囉國人。剎帝利種姓。二十三歲於中印度究牟地僧伽藍出家,二十五歲受具足戒。後與同伴六人東行,歷遊沙勒、龜玆、烏耆、高昌、伊吾、瓜州等地,於開皇十年(590)抵達長安,同伴或歿或留中途,入京時僅師一人,奉勅住於大興善寺。大業二年(606),與闍那崛多(梵 Jñānagupta)於洛陽創設翻經院(官立譯經機構),譯有大集念佛三昧經、攝大乘論釋等九部四十六卷。師生性柔和,威容祥正,端居寡欲,居止三十年,學者風從。唐高祖武德二年入寂於洛汭,世壽不詳。〔續高僧傳卷二、開元釋教錄卷七〕
; (達摩笈多) (? - 619) Phạm: Dharmagupta. Vị tăng dịch kinh ở đời Tùy, Đường. Cũng gọi Đạt ma quật đa, Cấp đa, Pháp mật, Pháp tạng. Sư người nước La la thuộc Nam Ấn độ, dòng Sát đế lợi. Năm 23 tuổi, sư xuất gia ở chùa Cứu mâu địa tại Trung Ấn độ, 25 tuổi thụ giới Cụ túc. Sau, sư cùng với sáu người bạn đi sang phương Đông qua các xứ: Sa lặc, Cưu tư, Ô kì, Cao xương, Y ngô, Qua châu v.v... Vào năm Khai hoàng thứ 10 (590) chỉ còn một mình sư đến kinh đô Trường an, Trung quốc, vâng sắc chỉ ở tại chùa Đại hưng thiện. Năm Đại nghiệp thứ 2 (606), sư cùng với ngài Xà na quật đa (Phạm:Jĩànagupta) sáng lập viện Dịch kinh ở Lạc dương, dịch được 9 bộ 46 quyển như: kinh Đại tập niệm Phật tam muội, Nhiếp đại thừa luận thích v.v... Tính tình sư dịu dàng, dung mạo đoan chính, nghiêm trang, thiểu dục tri túc. Sư ở chùa Đại hưng thiện 30 năm, người về theo học rất đông. Năm Vũ đức đời Cao tông nhà Đường sư tịch, không rõ tuổi thọ. [X. Tục cao tăng truyện Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].
đạt ma diện bích thạch
5674存於河南少林寺。石形酷似禪宗初祖達磨面壁之像。據姚元之竹葉亭雜記載,河南少林寺後殿西壁前設一供桌,上供一石,高二丈餘,上下寬五、六寸不等,乍看之,若一粗石,了無異處;向後退至五、六尺外,漸有人形,至丈餘,則儼然一活達磨坐於鏡中,腮邊短髭,若有動意。
; (達磨面壁石) Phiến đá có hình dáng rất giống tượng Sơ tổ Thiền tông Bồ đề đạt ma ngồi quay mặt vào vách, hiện còn ở chùa Thiếu lâm tỉnh Hà nam, Trung quốc. Cứ theo sách Trúc diệp đình tạp kí của Diêu nguyên ghi, thì trước vách tường phía tây trong hậu điện chùa Thiếu lâm ở tỉnh Hà nam có đặt một bàn thờ, trên bàn thờ một phiến đá cao hơn 2 trượng, trên dưới rộng 5, 6 tấc không đều nhau, mới nhìn qua thì chỉ là một khối đá thô kệch, chẳng có gì khác lạ. Nhưng nếu đứng lui về phía sau cách khoảng 5, 6 thước thì dần dần thấy có hình người, lại đứng cách xa ra khoảng hơn một trượng thì thấy nghiễm nhiên một ngài Đạt ma sống động đang ngồi trong gương, chòm râu ngắn hai bên má như muốn lay động!
đạt ma khuếch nhiên
5675禪宗公案名。又作達磨廓然無聖、聖諦第一義、廓然無聖。係有關梁武帝與達磨之問答。碧巖錄第一則(大四八‧一四○上):「梁武帝問達磨大師:『如何是聖諦第一義?』磨云:『廓然無聖。』帝曰:『對朕者誰?』磨云:『不識。』帝不契。達磨遂渡江至魏。帝後舉問志公,志公云:『陛下還識此人否?』帝云:『不識。』志公云:『此是觀音大士,傳佛心印。』帝悔,遂遣使去請,志公云:『莫道陛下發使去取,闔國人去,他亦不回。』」「廓然無聖」四字爲此則公案之重點,廓然,表示斷絕一對立之狀態;無聖,表示超越凡聖之絕對空之立場。故可謂此則公案乃以泯絕一切之相對,爲達磨佛法之最佳詮釋。〔從容錄第二則〕
; (達磨廓然) Tên công án trong Thiền tông. Cũng gọi Đạt ma khuếch nhiên vô thánh, Thánh đế đệ nhất nghĩa, Khuếch nhiên vô thánh. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Tổ Đạt ma và vua Lương Vũ đế. Bích nham lục tắc 1 (48, 140 thượng), chép: Vua Lương Vũ đế hỏi Đại sư Đạt ma: Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa? Ngài Đạt ma đáp: Khuếch nhiên vô thánh (rỗng không không có gì là Thánh)! Vua hỏi: Trước mặt trẫm là ai đây? Ngài Đạt ma nói: Không biết! Vua không khế hội. Thấy thế, ngài Đạt ma bỏ qua nước Ngụy. Sau đó, nhà vua đem câu chuyện trên hỏi Chí công. Chí công nói: Bệ hạ biết người ấy không? Vua đáp: Không biết! Chí công nói: Đó là Quan âm đại sĩ truyền tâm ấn Phật. Vua hối tiếc liền sai sứ đi thỉnh. Ngài Chí công nói: Cho dù người của cả nước đi thỉnh ông ấy cũng không trở lại đâu, huống chi là Bệ hạ sai sứ đi thỉnh. Khuếch nhiên vô thánh là biểu thị chân lí tuyệt đối, vượt ra ngoài tất cả phân biệt tương đối: phàm, thánh, chúng sinh, chư Phật v.v... đó là điểm cốt tủy của công án này. [X. Thung dung lục tắc 2].
đạt ma kị
5671於禪宗初祖菩提達磨忌日所修之法會。達磨於北魏孝莊帝永安元年(528)十月五日示寂,我國遂於此日嚴修法會。據黃檗清規尊祖章所載達磨忌,前一日於法堂上掛像,嚴設香、花、燈、燭、茶、果等。是日晚,鳴鼓集眾,誦大悲咒,堂頭和尚拈香。至日鳴鐘,大眾整威儀,雁行側立,候堂頭和尚至,大展三拜,坐具不收,進座前拈香,復位三拜。再進上茶、上食,復退身三拜,而後起具,大眾誦楞嚴咒畢,維那迴向。又於此法會中所宣頌之表白文,稱爲達磨忌疏。〔勅修百丈清規卷上尊祖章達磨忌條、虛堂智愚禪師語錄卷三、幻住庵清規〕
; (達磨忌) Pháp hội được cử hành vào ngày giỗ của Sơ tổ Thiền tông Bồ đề đạt ma. Tổ Bồ đề đạt ma thị tịch vào ngày mùng 5 tháng 10 niên hiệu Vĩnh an năm đầu (528) đời Hiếu trang đế nhà Bắc Ngụy, cho nên hàng năm đến ngày này, các chùa viện ở Trung quốc đều cử hành pháp hội rất trang nghiêm long trọng để kỉ niệm Ngài. Theo chương Tôn tổ trong Hoàng bá thanh qui, thì trước hôm giỗ Tổ Đạt ma một ngày, đặt tượng Tổ trong Pháp đường, bày biện các thứ: Hương, hoa, đèn, nến, trà, quả v.v... thật trang nghiêm; chiều hôm ấy, đánh trống tập họp chúng tăng, tụng chú Đại bi, Hòa thượng Trụ trì dâng hương. Sáng ngày chính kị đánh chuông, đại chúng uy nghi chỉnh tề, sắp hàng ngay ngắn đứng về một bên, đợi Hòa thượng Trụ trì đến hành lễ. Đầu tiên, Hòa thượng lạy 3 lạy, không thu tọa cụ, đến trước tòa niệm hương, xong, trở về chỗ tọa cụ, lạy 3 lạy rồi lại đến trước tòa dâng trà, dâng cơm xong lui về chỗ, lạy 3 lạy, xếp tọa cụ. Sau đó, đại chúng tụng chú Lăng nghiêm, xong rồi, vị Duy na hồi hướng. Văn bạch được đọc trong pháp hội này gọi là Đạt ma kị sớ. [X. điều Đạt ma kị của chương Tôn tổ trong Sắc tu bách trượng Q.thượng; Hư đường Trí ngu thiền sư ngữ lục Q.3; Huyễn trụ am thanh qui].
đạt ma kỵ
Kỷ niệm ngày thị tịch của Tổ Bồ Đề Đạt Ma, ngày 5 tháng mười âm lịch—The anniversary of Bodhidharma's death, fifth of the tenth month.
đạt ma lưu chi
5674北周譯經僧。摩勒國人。明帝(557~560 在位)初年至長安,奉勅爲大脏宰宇文護譯婆羅門天文二十卷,而於武帝天和年間(566~571)譯成。其餘事蹟不詳。〔歷代三寶紀卷十一〕
; (達磨流支) Vị tăng ở đời Bắc Chu, người nước Ma lặc. Sư đến Trường an, Trung quốc vào khoảng năm 557 - 560 và vâng sắc chỉ phiên dịch sách Thiên văn Bà la môn 20 quyển. Sự tích khác về sư không rõ. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.11].
đạt ma ma đề
5670梵名 Dharmamati。意譯作法意。南齊僧。天竺人,生卒年不詳。南齊武帝永明年中(483~493),與僧祐之師法獻,於瓦官寺共同譯出觀世音懺悔除咒罪經、妙法蓮華經之提婆達多品等經。
; (達摩摩提) Phạm: Dharmamati. Hán dịch: Pháp ý. Vị tăng ở thời Nam Tề, người Thiên trúc, năm sinh năm mất không rõ. Trong năm Vĩnh minh (483 - 493) đời Vũ đế nhà Nam Tề, sư ở chùa Ngõa quan cùng với ngài Pháp hiến, thầy của sư Tăng hựu, dịch kinh Quán thế âm sám hối trừ chú tội và phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Diệu pháp liên hoa.
đạt ma môn hạ tứ thần túc
5673指道副、尼總持、道育、慧可四人。據景德傳燈錄卷三菩提達磨章載,達磨一日令門人各述說心得,道副謂(大五一‧二一九中):「如我所見,不執文字,不離文字,而爲道用。」尼總持謂:「我今所解,如慶喜見阿閦佛國,一見更不再見。」道育謂:「四大本空,五陰非有,而我見處,無一法可得。」慧可唯默然禮拜,依位而立。達磨分別以「皮、肉、骨、髓」評述四人得道之深淺,此爲禪宗著名之公案,而此四人亦因之被稱爲達磨門下四大神足,其中慧可即後來之禪宗二祖。
; (達磨門下四神足) Chỉ cho bốn vị đệ tử của Tổ Đạt ma: Đạo phó, Ni sư Tổng trì, Đạo dục và Tuệ khả. Cứ theo chương Bồ đề đạt ma trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 chép, thì một hôm ngài Đạt ma bảo các môn đồ trình bày chỗ tâm đắc của mình, bấy giờ, sư Đạo phó thưa (Đại 51, 215 trung): Như chỗ thấy của con là không chấp văn tự, không lìa văn tự, đó chính là đạo. Tổ nói: Ông được phần da của ta. Ni sư Tổng trì thưa: Chỗ con hiểu ngày nay, như ngài Khánh hỉ thấy cõi nước của đức Phật A súc, chỉ thấy một lần, không thấy lại nữa. Tổ nói: Người được phần thịt của ta. Sư Đạo dục thưa: Bốn đại vốn không, năm ấm chẳng có, chỗ thấy của con là một pháp cũng không thể được. Tổ nói: Ông được phần xương của ta. Đến lượt sư Tuệ khả thì chỉ lặng yên đính lễ Tổ rồi trở về chỗ của mình. Tổ bảo: Ông đã được cốt tủy của ta! Trên đây là công án nổi tiếng của Thiền tông và cũng nhân đó mà 4 vị đệ tử của ngài Đạt ma được gọi là Tứ đại thần túc. Riêng sư Tuệ khả về sau trở thành vị Tổ thứ 2 của Thiền tông Trung quốc.
đạt ma phật
Dharma Buddha.
đạt ma truyện pháp kệ
5674禪宗初祖菩提達磨傳法予二祖慧可時所說之偈。寶林傳、祖堂集、景德傳燈錄、六祖壇經等均載有此偈(大四八‧三六一上):「吾本來玆土,傳法救迷情;一華開五葉,結果自然成。」
; (達磨傳法偈) Bài kệ của Sơ tổ Thiền tông Bồ đề đạt ma nói lúc truyền pháp cho Nhị tổ Tuệ khả. Cảnh đức truyền đăng lục, Bảo lâm truyện, Tổ đường tập, Lục tổ đàn kinh đều có ghi bài kệ này (Đại 48, 361 thượng): Ngô bản lai tư thổ. Truyền pháp độ mê tình; Nhất hoa khai ngũ diệp. Kết quả tự nhiên thành. (Ta vốn đến xứ này. Truyền pháp cứu tình mê; Một hoa nở năm cánh, Kết quả tự nhiên thành).
đạt ma tông
The Tamo or Dharma sect (Meditation or Intuitional School)—See Thiền Tông.
đạt ma tượng
5674並非專指禪宗祖師之肖像,而係由空想所產生之達磨像,爲流行於宋元以後之禪宗美術之一,亦爲道釋人物畫之一。通常爲單獨像。一般以達磨爲主題之畫題有蘆葉達磨(又稱一葦渡江。即達磨乘一蘆葉,自梁境渡長江至魏之洛陽)、祖師問答(達磨與梁武帝對談圖)、面壁達磨(達磨面壁九年之坐禪狀)、隻履達磨(又稱隻履西歸,即達磨手攜隻履回歸西天之故事)、慧可斷臂(二祖向面壁中之達磨表示決心之圖)。
; (達磨像) Đây không phải chỉ riêng cho tượng Tổ sư Thiền tông mà là tượng ngài Đạt ma do trí tưởng tượng của người đời sau mà được vẽ ra, là một loại mĩ thuật Thiền lưu hành ở đời Tống, Nguyên trở đi, cũng là một trong các nhân vật Phật giáo, Đạo giáo được dùng làm đề tài hội họa. Thông thường tượng ngài Đạt ma được vẽ theo các chủ đề: Lô diệp đạt ma(cũng gọi Nhất vi độ giang. Nghĩa là Tổ Bồ đề đạt ma ngồi trên một cọng lá lau vượt sông Trường giang sang nước Ngụy), Tổ sư vấn đáp(tranh vẽ Tổ Đạt ma đàm đạo với Lương Vũ đế), Diện bích Đạt ma (tranh Tổ Đạt ma xoay mặt vào vách ngồi thiền trong 9 năm), Chích lí Đạt ma, cũng gọi Chích lí Tây qui (tranh vẽ sự tích Tổ Đạt ma tay mang một chiếc giày trở về Ấn độ), Tuệ khả đoạn tí (Tuệ khả chặt tay, tranh vẽ Nhị tổ Tuệ khả biểu thị quyết tâm cầu pháp nơi Tổ Đạt ma) v.v...
đạt ma đa la
5671又作達摩多羅。<一>梵名 Dharmatrāta。又作曇摩多羅、達磨怛邏多。意譯作法救。爲說一切有部之論師,繼婆須蜜(世友)、瞿沙(妙音)之後出世。大毘婆沙論卷七十七稱之爲說一切有部四大論師之一,或謂師爲婆沙會四大論師之一。另於俱舍論、尊者婆須蜜菩薩所集論、大毘婆沙論等中,多處以「大德法救」、「尊者法救」、「尊者曇摩多羅」、「大德」,或「大德說」而引用其論說。此外,法句經之編者亦名爲「大德法救」,然難以推知是否爲同一人。其餘事蹟不詳。〔俱舍論光記卷二、出三藏記集卷十二〕 <二>梵名 Dharmatrāta。又作達摩呾邏多。意譯作法救。法華玄義釋籤卷六譯之爲達磨鬱多羅,意譯法尚。健馱邏國布路沙布邏城人,爲說一切有部之論師。居於布色羯邏伐底城北四、五里之伽藍,因撰述雜阿毘曇心論十一卷,以解釋法勝之阿毘曇心論而著稱,屬於法勝之門派。關於其出生年代,三論玄義謂於佛陀入滅後千年頃,俱舍論光記卷一謂於佛陀入滅後六百年頃,法華玄義謂於佛陀入滅後八百年頃。蓋雜阿毘曇心論於苻秦建元(365~384)末年由僧伽提婆譯出,故師之年代應在苻秦以前。〔俱舍論寶疏卷一、出三藏記集卷十〕 <三>梵名 Dharmatrāta。又作曇摩多羅。屬說一切有部之師,爲禪法之傳持者。據出三藏記集卷九載,師於富若密羅之後出世,與佛陀斯那(佛大先)共於罽賓地方弘宣大乘禪法,並共著達磨多羅禪經。又依梁高僧傳卷三智嚴傳,智嚴至罽賓,於摩天陀羅精舍親受禪法,由此推知東晉隆安年間(397~401)師仍健在。〔達磨多羅禪經卷上、出三藏記集卷十二〕(參閱「達摩多羅禪經」5670) <四>巴利名 Dhammapāla。又稱達磨波羅。爲五世紀末之注釋家。被尊稱阿闍梨(巴Ācariya)。南印度建志補羅(梵 Kāñcīpura)人。嘗學於錫蘭大寺(巴 Mahā-vihāra),其後,定居於南印度達糜拉國(巴 Damiḷa)之巴多羅底陀寺(巴 Padaratittha-vihāra)專事著作。其年代不詳,推測爲大注釋家佛音(巴 Buddhaghosa)之同代後輩,將佛音未完成之巴利三藏注釋完成,爲注釋佛音之注釋書之最力者。或謂師與大唐西域記卷十所出之達磨波羅(護法)菩薩爲同一人,然此一推定後爲蓋伊卡(W. Geiger)等所否定。 據聖典史(巴 Gandha-vaṃsa)所載,師之著作有真諦燈(巴 Paramattha-dīpanī),內容包括屬小部經(巴 Khuddaka-nikāya)之如是語(巴 Itivuttaka)、自說(巴 Udāna)、所行藏(巴 Cariyāpiṭaka)、長老偈(巴 Thera-gāthā)、長老尼偈(巴 Therī-gāthā)、天宮事(巴 Vimāna-vatthu)及餓鬼事(巴 Peta-vatthu)等七部之注(佛音之注現已散軼)。另有真諦筐(巴 Paramattha-mañjūsā),又作大注(巴 Mahā-ṭīkā),包括指導論(巴 Nettipakaraṇa)及清淨道論(巴 Visuddhimagga)等二部之注。此外又著有佛音之長部經(巴 Dīgha-nikāya)、中部經(巴 Majjhima-nikāya)、相應部經(巴 Saṃyutta-nikāya)及增支部經(巴 Aṅguttara- nikāya)等注之疏(再注釋),稱爲祕義解明(巴 Līnattha-vaṇṇanā)。又有本生經注疏(巴 Jātakaṭṭhakathā-ṭīkā)、指導論注疏(巴 Nettiṭṭhakathā-ṭīkā)、佛種姓注疏(巴 Buddhavaṃsaṭṭhakathā-ṭīkā)及釋阿毘達磨注疏(巴 Abhidhammaṭṭhakathā-ṭīkā-anuṭīkā)等十四部,然有謂釋阿毘達磨注疏非師所作。〔B.C. Law: A History of Pāli Literature;G.P. Malalasekera: Dictionary of Pāli proper Names〕 <五>(Dhammapāla, Sri Devamitta; 1864~1933)近代錫蘭之護法家。又譯作達磨波羅。十九世紀之錫蘭佛教頗衰頹,一般幼兒皆有受基督教洗禮之習,師自不例外。但後受波拉瓦斯基夫人(Mrs. Blavatsky)之教導,決意獻身人類救濟事業。後又受雙親影響,得聞佛典章句,大受啟發。一八九一年,詣佛陀證道之聖蹟菩提伽耶,見大塔荒廢,知其爲濕婆教主所有,爲收復之計,乃在當地籌組摩訶菩提會(Mahābodhi Society),後於錫蘭可倫坡正式成立總部,該組織之宗旨在於向外國宣傳佛教,尤重視復興印度佛教及增進錫蘭人之教育。翌年五月,創辦摩訶菩提雜誌。一九○六年在錫蘭建佛教學舍,發刊錫蘭文「佛教徒」週刊,並發起禁酒運動。一九○八年建摩訶菩提會會館。一九二○年完成法王塔院寺之建造。其間摩訶菩提會之基金大多來自福斯特夫人(Mrs. Mary Elizabeth Foster),此於推動復興佛教之運動,確有功不可沒之處。一九三二年爲沙彌,翌年剃髮於根本香積寺,委付摩訶菩提會之職務後即告退隱。一九三三年四月因肺炎去世,享年七十。其英文著作有:What did Lord Buddha teach?1922; Psychology of Progress; Repenting God of Horeb; Relation between Hinduism and Buddhism;Life and Teaching of Buddha; World's Debt to Buddha; Ethics of Buddha;History of the Maha Bodhi Temple at Bodha-Gaya; The Arya Dharma of Sakya Muni,此外孟加拉語有 Buddhadever Upadesh,印度語有 Buddhaki Siksha 等。〔The Maha-bodhi,1925;1933(Sri Devamitta Dhammapala Number); A.C. March:A Buddhist Bibliography〕
; (達磨多羅) I. Đạt Ma Đa La. Phạm: Dharmatràta. Cũng gọi Đàm ma đa la, Đạt ma đát la đa, dịch ý: Pháp cứu. Luận sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ, ra đời kế tiếp các ngài Bà tu mật (Thế hữu), Cù sa (Diệu âm). Luận Đại tì bà sa quyển 77 nói ngài là một trong 4 vị luận sư lớn của Thuyết nhất thiết hữu bộ; có thuyết cho rằng ngài là một trong 4 vị luận sư lớn của hội Bà sa. Còn trong luận Câu xá, luận Tôn giả bà tu mật bồ tát sở tập, luận Đại tì bà sa v.v... nhiều chỗ gọi ngài là Đại đức Pháp cứu, Tôn giả Pháp cứu, Tôn giả Đàm ma đa la, Đại đức, hoặc Đại đức thuyết và có trích dẫn luận thuyết của ngài. Ngoài ra, người biên chép kinh Pháp cú cũng có tên là Đại đức Pháp cứu, nhưng khó mà suy đoán có phải cùng là một người hay không. [X. Câu xá luận quang kí Q.2; Xuất tam tạng kí tập Q.12]. II. Đạt Ma Đa La. Phạm: Dharmatràta. Cũng gọi Đạt ma đát la đa. Dịch ý: Pháp cứu, Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 6 phiên âm là Đạt ma uất đa la và dịch ý là Pháp thượng. Ngài là người ở thành Bố lộ sa bố la nước Kiện đà la, luận sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ, thuộc môn phái ngài Pháp thắng. Ngài ở ngôi chùa cách thành phố Bố sắc yết la phạt để khoảng 5 dặm về phía bắc, nổi tiếng nhờ soạn thuật bộ luận Tạp a tì đàm tâm 11 quyển để giải thích luận A tì đàm tâm của ngài Pháp thắng. Về năm sinh của ngài thì Tam luận huyền nghĩa cho rằng ngài ra đời khoảng 600 năm sau đức Phật nhập diệt, Pháp hoa huyền nghĩa thì chủ trương khoảng 800 năm sau Phật nhập diệt. Bởi vì luận Tạp a tì đàm tâm được ngài Tăng già đề bà phiên dịch vào cuối năm Kiến nguyên (365 - 384) đời Phù Tần, cho nên niên đại của sư phải là trước khoảng thời gian này. [X. Câu xá luận bảo sớ Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.10]. III. Đạt Ma Đa La. Phạm: Dharmatràta. Cũng gọi Đàm ma đa la. Luận sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ và là người truyền trì pháp Thiền. Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 9, thì sư ra đời sau ngài Phú nhã mật la, cùng với ngài Phật đà tư na (Phật đà tư tiên) hoằng dương pháp thiền Đại thừa ở nước Kế tân và cùng biên soạn Đạt ma đa la thiền kinh. Lại theo Trí nghiêm truyện trong Lương cao tăng truyện quyển 3, thì ngài Trí nghiêm đến nước Kế tân học pháp Thiền nơi ngài Đạt ma đa la tại tinh xá Ma thiên đà la. Căn cứ vào đó mà suy đoán thì vào khoảng năm Long an (397 - 401) đời Đông Tấn ngài vẫn còn tại thế. [X. Đạt ma đa la thiền kinh Q.thượng; Xuất tam tạng kí tập Q.12]. (xt. Đạt Ma Đa La Thiền Kinh). IV. Đạt Ma Đa La. Pàli: Dhammapàla. Cũng gọi Đạt ma ba la. Nhà chú thích kinh điển ở cuối thế kỉ thứ V, được tôn là A xà lê (Pàli: Àcàriya). Sư là người ở thành phố Kiến chí bổ la (Phạm: Kàĩcìpura) miền Nam Ấn độ. Sư từng học ở Đại tự (Pàli: Mahà-vihàra), về sau, sư ở tại chùa Ba đa la để đà (Pàli: Padaratittha-vihàra), nước Đạt mi lạp (Pàli: Damiơa) miền Nam Ấn độ, chuyên lo việc trứ tác. Về niên đại, sư thuộc hàng hậu bối của ngài Phật âm (Pàli: Buddhaghosa), tiếp nối ngài Phật âm hoàn thành việc chú thích Tam tạng bằng tiếngPàli mà ngài Phật âm còn bỏ dở. Có thuyết cho rằng sư là Bồ tát Đạt ma ba la (Hộ pháp) được nêu trong Đại đường tây vực kí quyển 10, nhưng thuyết này sau bị các ông như W. Geiger bác bỏ. Cứ theo Thánh điển sử (Pàli: Gandhavaôsa) chép, thì sư có những tác phẩm sau đây: - Chân đế đăng (Pàli: Paramatthadìpanì): Nội dung chú thích 7 bộ thuộc Tiểu bộ kinh (Pàli: Khuddhaka-nikàya) là: 1. Như thị ngữ (Pàli: Itivuttaka). 2. Tự thuyết (Pàli: Udàna). 3. Sở hành tàng (Pàli: Cariyàpiỉaka). 4. Trưởng lão kệ (Pàli: Thera-gàthà). 5. Trưởng lão ni kệ (Pàli: Therì-gàthà). 6. Thiên cung sự (Pàli:Vimàna-vatthu). 7. Ngã quỉ sự (Pàli: Peta-vatthu). -Chân đế khuông (Pàli: Paramatthamaĩjùsà), cũng gọi Đại chú (Pàli: Mahàỉìkà): Nội dung chú thích luận Chỉ đạo (Pàli: Nettipakaraịa) và luận Thanh tịnh đạo (Pàli: Visuddhimagga). -Bí nghĩa giải minh (Pàli: Lìnatthavaịịanà): Nội dung chú thích Trường bộ kinh (Pàli: Dìgha-nikàya), Trung bộ kinh (Pàli: Majjhima-nikàya), Tương ứng bộ kinh (Pàli: Saôyutta-nikàya) và Tăng chi bộ kinh (Pàli: Aíguttara-nikàya) v.v... - Bản sinh kinh chú sớ (Pàli: Jàtakaỉỉhakathà-ỉìkà). - Chỉ đạo luận chú sớ (Pàli: Neỉỉitthakathà-ỉìkà). - Phật chủng tính chú sớ (Pàli: Buddhavaôsaỉỉhakathà-ỉìka). - Thích A tì đạt ma chú sớ (Pàli: Abhidhammaỉỉhakathà-ỉìkà-anutìkà). Nhưng có thuyết cho rằng bộ Thích A tì đạt ma chú sớ này không phải là tác phẩm của sư. [X. B.C. Law: A History of Pàli Literature; G.P. Malalasekera: Dictionary of Pàli Proper Names]. V. Đạt Ma Đa La (1864 - 1933). Phạm: Dhammapàla, Sir Devamitta. Cũng gọi Đạt ma ba la. Nhà ngoại hộ Phật pháp, người Tích lan ở thời cận đại. Vào thế kỉ XIX, Phật giáo Tích lan rất suy đồi, tất cả trẻ em đều phải chịu lễ rửa tội của Cơ đốc giáo, Đạt ma đa la cũng nằm trong số người này. Nhưng, về sau, nhờ sự dắt dẫn của bà Ba lạp ngõa tư cơ (Mrs. Blavatsky) và ảnh hưởng của cha mẹ, được nghe giáo pháp của đức Phật, tâm trí bèn mở tỏ, nên ông quyết định hiến thân cho sự nghiệp cứu giúp nhân loại. Năm 1891, ông đến chiêm bái Thánh tích Bồ đề già da nơi đức Phật thành đạo, thấy ngôi Đại tháp hoang phế và thuộc quyền sở hữu của giáo chủ Thấp bà, ông liền đặt kế hoạch tổ chức Hội Ma ha bồ đề (Mahabodhi Society) ngay ở đây nhằm khôi phục Thánh tích này cho Phật giáo. Sau đó, Tổng bộ của hội chính thức được thành lập tại Colombo Tích lan. Mục đích của tổ chức này là truyền bá Phật giáo ra nước ngoài, đặt nặng việc phục hưng Phật giáo ở Ấn độ và xúc tiến phong trào giáo dục tại Tích lan. Tháng 5 năm sau ông sáng lập tạp chí Ma ha bồ đề. Năm 1906, ông xây dựng Học xá Phật giáo ở Tích lan, phát hành tuần san Phật giáo đồ bằng tiếng Tích lan và khởi xướng cuộc vận động cấm rượu. Năm 1908, ông kiến thiết Hội quán hội Ma ha bồ đề, ngân quĩ của Hội này phần lớn do bà Phúc tư đặc (Mrs. Mary Elizabeth Foster) ủng hộ. Năm 1920, ông hoàn thành việc xây cất chùa Pháp vương tháp viện, việc này xác định công lao của ông đối với việc đẩy mạnh cuộc vận động phục hưng Phật giáo. Năm 1932, ông xuất gia thụ giới Sa di ở chùa Căn bản Hương tích và sau khi giao phó chức vụ lãnh đạo hội Ma ha bồ đề, ông liền lui về ở ẩn. Tháng 4 năm 1933, ông qua đời vì bệnh viêm phổi, thọ 70 tuổi. Những tác phẩm tiếng Anh của ông gồm có: What did Lord Buddha teach? 1922; Psychology of Progress; Repenting God of Horeb; Relation between Hinduism and Buddhism, Life and Teaching of Buddha; Word’s Debt to Buddha; Ethics of Buddha; History of the Maha Bodhi Temple at Bodha Gaya; The Arya Dharma of Sakya Muni. Tác phẩm tiếng Bengal: Buddhadever Upadesh. Tiếng Ấn độ: Buddhaki Siksha v.v... [X. The Maha-bodhi, 1925; 1933 (Sri Devamitta Dhammapàla Number); A. C. March: A Buddhist Bibliography].
đạt ma đa la thiền kinh
5669請參閱 達摩多羅禪經 梵名 Dharmatara dhyāna-sūtra。凡二卷。東晉佛陀(馱)跋陀羅(梵 Buddhabhadra,意譯覺賢)譯。又作達磨多羅禪經、禪經修行方便、修行地不淨觀經、修行道地經、修行方便禪經、不淨觀經。收於大正藏第十五冊。係五世紀初,西域僧達摩多羅與佛大先兩人共著,共分十七品,內容闡說修習數息、不淨等禪觀之法。據近人研究,本經欠缺達摩多羅所說之大乘禪,而以佛大先所提倡之小乘禪爲主。 佛陀跋陀羅與鳩摩羅什約爲同時代人,因受廬山慧遠之請而將本經譯出。鳩摩羅什譯之坐禪三昧經稱「關中禪經」,本經則稱「廬山禪經」;此二禪經總合大小二乘禪觀。本經對禪觀實修之心理尤有詳論,故爲實修者實際上之指導書。本經冠「達摩多羅」之名,因之後世誤認爲係禪宗祖師達磨大師所說,而對之珍視並加以論究。〔出三藏記集卷二、卷四、開元釋教錄卷三、達磨多羅禪經(佐藤泰舜)〕
; (達摩多羅禪經) Phạm: Dharmatara-dhyàna-sùtra. Gồm 2 quyển, do ngài Phật đà bạt đà la (Phạm:Buddhabhadra, Giác hiền) dịch vào đời Đông Tấn. Cũng gọi Thiền kinh tu hành phương tiện, Tu hành địa bất tịnh quán kinh, Tu hành đạo địa kinh, Tu hành phương tiện thiền kinh, Bất tịnh quán kinh, thu vào Đại chính tạng tập 15. Kinh này do hai ngài Đạt ma đa la và Phật đại tiên người Tây vực cùng soạn vào đầu thế kỉ thứ V, nội dung gồm 17 phẩm nói về các pháp thiền quán như: Sổ tức, Bất tịnh v.v... Cứ theo sự nghiên cứu của giới học giả thời cận đại, thì kinh này thiếu phần Thiền Đại thừa do ngài Đạt ma đa la nói, mà lấy Thiền Tiểu thừa do ngài Phật đại tiên đề xướng làm chủ yếu. Do nhận lời thỉnh của ngài Lô sơn Tuệ viễn mà ngài Phật đà bạt đà la phiên dịch bộ kinh này, nên cũng gọi là Lô sơn thiền kinh. Kinh này rất cần thiết cho những người thực tu Thiền quán. Ngoài ra, vì đề kinh có ghi Đạt ma đa la, nên người đời sau lầm cho là kinh này do Sơ tổ Đạt ma của Thiền tông nói, nên rất coi trọng và càng lưu tâm nghiên cứu. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.3; kinh Đạt ma đa la thiền (Tá đằng Thái thuấn)].
đạt ma đà đô
5674(731~?)唐代譯經僧。又作達摩馱都。京兆雲陽(陝西涇陽縣北)人,俗姓車。名法界,字悟空。爲元魏拓跋氏之裔,生於唐開元十九年。二十七歲出家,曾多次遊歷西域、天竺等地,足跡所至遍及迦溼彌羅、烏仗那、覩貨羅、惹瑟知、拘密支、疏勒、龜玆、烏耆、于闐、回鶻、北庭等十餘國。後於貞元六年(790)抵長安,居於章敬寺,次年即返雲陽,其後不知所終,所譯之三部十一卷被收入大唐新定貞元釋教錄中。此外,大正藏第五十一冊收載圓照所作之「悟空入竺記」一文,係師一生出家、得道、遊歷、譯經之行誼德業。〔宋高僧傳卷三〕
; Dharmadhatu (skt)—See Pháp Giới, and Ngũ Pháp Giới in Vietnamese-English Section.
; (達磨馱都) (731 - ?) Vị tăng dịch kinh ở đời Đường, người Vân dương, Kinh triệu (tỉnh Thiểm tây), họ Xa, tên Pháp giới, tự là Ngộ không, con cháu họ Thác bạt đời Nguyên Ngụy, sinh vào năm Khai nguyên 19 (731) đời Đường. Năm 27 tuổi, sư xuất gia, đã từng nhiều lần đến các xứ Tây vực, Thiên trúc, đi qua hơn 10 nước như: Ca thấp di la, Ô trượng na, Đổ hóa la, Nhạ sắt tri, Câu mật chi, Sớ lặc, Cưu tư, Ô kì, Vu điền, Hồi cốt, Bắc đình v.v... Năm Trinh nguyên thứ 6 (790) đời Đường, sư đến Trường an, ở chùa Chương kính, năm sau trở về Vân dương và tịch ở đâu không rõ. Sư dịch được 3 bộ 11 quyển kinh, được đưa vào Đại đường tân định trinh nguyên thích giáo mục lục. Ngoài ra, trong tập Ngộ không nhập trúc kí của ngài Viên chiếu trong Đại chính tạng tập 11 có nói đến hành trạng đức nghiệp về một đời xuất gia, cầu pháp, dịch kinh, đắc đạo của sư. [X. Tống cao tăng truyện Q.3].
đạt ma đại sư trụ thế lưu hình nội chân diệu dụng quyết
5670作者不詳。收於道教經典「雲笈七籤」卷五十七(道藏第六七七至七○二冊)。係假託我國禪宗初祖菩提達磨之名,論說呼吸法之作。今有其他版本刊行於世。
; (達磨大師住世留形內真妙用訣) Sách của Đạo giáo, không rõ tác giả, được thu vào Vân cấp thất tiêm quyển 57 (Đạo tạng tập 677 đến 702). Sách này mượn tên ngài Bồ đề đạt ma, Sơ tổ của Thiền tông Trung quốc, để bàn về phép luyện khí của Đạo gia. Hiện nay có bản in lưu hành ở đời.
đạt ngạn
5667(918~978)宋代僧。韶州(廣東)曲江人,俗姓梁。諱志靖。十二歲出家。二十歲從雲門文偃受具足戒。南漢主劉晟敬仰其德,尊寵甚隆。一日,偶過大通之蒉口,因風所阻而登岸,見一古剎,甚爲幽勝,久久不忍離去,遂請命劉晟,重建此剎,並賜名爲「寶光」,說法其中。宋太平興國三年示寂,世壽六十一。〔增訂佛祖道影卷四(虛雲)〕
đạt nhĩ khắc
5669(Dahlke, Paul Wilhelm; 1865~1928)德國佛教學學者。曾於柏林大學學醫。早年即對佛教發生興趣,故與葛利姆(G. Grimm)、塞登修吐克(Seidenstücker)等人共同致力於德國新佛教(Neubuddhismus)之弘傳,而成爲此中心之領導者。部分學者視涅槃論爲虛無者,然達氏立於相反之立場,主張涅槃乃最高之實在者。一生著作極多,有:Das Buch Pubbenivāsa, Vier Buddhistische Wiedergeburtsgeschichten, 1919(宿命之書);Buddhismus als Weltanschauung, 1912(世界觀之佛教);Neu-Buddhistischer Katechismus, 1921(新佛教要理);Was ist Buddhismus und was will er?1928(佛教之現在與將來)等。〔西洋人の觀たる印度(矢吹慶輝,東洋思潮九)〕
; (達爾克) (1865 - 1928) Dahlke, Paul Wilhelm. Học giả Phật giáo người Đức. Ông từng học ngành thuốc tại Đại học Berlin. Từ lúc còn ít tuổi, ông đã ngưỡng mộ Phật giáo, nên ông cùng với các ông G. Grimm, Seidenstücker v.v... ra sức truyền bá Tân Phật giáo (Neubuddhismus) và trở thành người lãnh đạo của trung tâm này. Một số học giả cho Niết bàn là hư vô, nhưng Dahlke lại chủ trương Niết bàn là thực tại tối cao. Ông có những tác phẩm: Das Buch Pubbenivàsa, Vier Buddhistische Wiedergeburtsgeschichten, 1919 (Túc mệnh chi thư), Buddhismus als Weltanschauung, 1912 (Thế giới quan chi Phật giáo), Neu-Buddhistischer Katechismus 1912 (Tân Phật giáo yếu lí), Was ist Buddhismus und was will er? 1928 (Phật giáo chi hiện tại dữ tương lai) v.v...
đạt nhĩ ma nhân khâm
5669(1364~1432)西藏名 Darma rin-chen。法寶之意。又譯嘉曹傑。有尊者法王子、寶王子、寶幢等尊稱。爲宗喀巴之門人,亦爲甘丹寺第一代之坐床者(座主)。生於西藏之藏州(藏 Gtasṅ)。出家後,從霖特魯(藏 Rin-rdor)等諸師聽聞佛法。受具足戒後,廣習顯、密二教,其後成爲宗喀巴之大弟子。西元一四一九年,時師年已五十六,宗喀巴臨終時招至榻前,將帽子與毛皮外套、衣鉢等,均付予之,並囑其承繼黃教之祖。西元一四三二年示寂,世壽六十九。著作極多,有究竟一乘寶性論、大乘阿毘達磨集論、入菩提行論、六十頌如理論、量決擇論等注釋,及有關文殊金剛儀軌與時輪之解說書等。其中,最重要者爲藏莊嚴(藏 Sñiṅ-paḥi rgyan),乃現觀莊嚴論之注釋。〔西藏佛教研究(長尾雅人)、西藏撰述佛典目錄〕
; (達爾麻仁欽) (1364 - 1432) Tạng: Darma rin-chen. Cũng gọi Gia tào kiệt. Cao tăng Tây tạng, người Gtsaí (Tạng châu), đệ tử của ngài Tông khách ba, Trụ trì đời thứ 1 chùa Cam đan, được tôn xưng là Pháp vương tử, Bảo vương tử, Bảo chàng. Mới xuất gia, sư học Phật pháp nơi các sư Lâm đặc lỗ (Tạng: Rin rdor) v.v... Sau khi thụ giới Cụ túc, sư học cả Hiển giáo và Mật giáo. Về sau, sư trở thành vị đệ tử lớn của ngài Tông khách ba. Năm 1419, lúc ấy sư đã 56 tuổi, khi ngài Tông khách ba sắp thị tịch, gọi sư đến trao cho y bát, mũ, áo choàng bằng da thú và phó chúc kế thừa Tổ vị Hoàng giáo. Năm 1432 sư tịch, thọ 69 tuổi. Sư soạn các sách chú thích về những bộ luận như: Cứu cánh nhất thừa bảo tính luận, Đại thừa a tì đạt ma tập luận, Nhập bồ đề hành luận, Lục thập tụng như lí luận, Lượng quyết trạch luận, Văn thù kim cương nghi quĩ, Thời luân v.v... Quan trọng hơn cả là bộ Tạng trang nghiêm (Tạng: Sĩií-pa#i rgyan), là sách chú thích luận Hiện quán trang nghiêm. [X. Tây tạng Phật giáo nghiên cứu (Trường vĩ Nhã nhân); Tây tạng soạn thuật Phật điển mục lục].
đạt nhĩ mã đằng
5669西藏名 Dharma-bdaṅ-phyug。西藏佛教迦爾居派分支勃隆迦爾居開祖。達保哈解之弟子。約十二世紀時,生於西藏拉薩北方答哇家族,後於絳地興建勃隆寺,創立該派,以密教之大印修法與顯教之大印境界爲主。入滅以後,勃隆寺堪布(住持)一職由其家族世代相承。其後族中紛爭頻起,遂漸趨衰微。
đạt nã
See Đạt Thấn.
đạt quán
5678<一>(1138~1212)宋代臨濟宗楊岐派僧。婺州(浙江)義烏人,俗姓趙。號息庵。十二歲,從法慧寺之正覺出家。先後參謁天童山之應菴曇華、道場寺之無庵法全、淨慈寺之水庵師一,其後乃嗣水庵之法。於嚴州(浙江)靈巖寺開法,歷主天童山諸剎,後住杭州靈隱寺。嘉定元年示寂,世壽七十五。〔北磵集卷五、增續傳燈錄卷一〕 <二>(1543~1603)明代僧。吳江人,俗姓沈。諱真可,號紫柏老人。少負俠氣,十七歲遇虎丘慧輪而出家。後遊方時,聞誦張拙偈,至「斷除妄想重增病,趨向真如亦是邪」時而大疑。一日,於用膳時,忽然有悟,乃曰(卍續一四二‧一○一下):「使我在臨濟德山座下,一掌便醒。」未久赴清涼、燕京大豎法幢。萬曆三十一年(1603),受誣被逮,法司定罪論死,師神色自若,偈曰:「一笑由來別有因,那知大塊不容塵;從玆收拾孃生足,鐵橛花開不待春。」端坐而逝,世壽六十一,法臘四十一。嘗與密藏協力創刻方冊藏經。著有般若心經說、般若心經要論、般若心經直談各一卷、紫柏老人集十五卷、紫柏老人別集四卷等。〔續釋氏稽古略卷三、五燈嚴統卷十六、五燈全書卷一二○〕
; (達觀) (1543 - 1603) Vị tăng sống ở đời Minh, người Ngô giang, họ Trầm, tên Chân khả, hiệu là Tử bá lão nhân. Lúc trẻ tính hào hiệp, năm 17 tuổi sư theo ngài Tuệ luân ở núi Hổ khâu xuất gia. Sau, nhân khi vân du, nghe người tụng kệ của ngài Trương chuyết đến câu: Dứt trừ vọng tưởng càng thêm bịnh, tìm tới chân như cũng là tà, sư liền khởi lòng ngờ. Một hôm đang ăn cơm, bỗng nhiên sư tỉnh ngộ, liền nói (Vạn tục 142, 101 hạ): Giá như ta ở bên Lâm tế, Đức sơn thì ngay một cái tát liền tỉnh. Không bao lâu, sư đến Thanh lương, Yên kinh hoằng pháp. Năm Vạn lịch 31 (1603), vì người vu khống nên sư bị bắt và khép vào tội chết, nhưng sư vẫn thản nhiên, làm bài kệ rằng: Một tiếng cười vang hẳn có nhân, Hay đâu khối đất chẳng vương trần; Từ nay trời rộng thênh thang bước, Cây sắt trổ hoa chẳng đợi xuân! Nói kệ xong, sư ngồi yên mà tịch, thọ 61 tuổi, 41 tuổi hạ. Sư có các tác phẩm: Bát nhã tâm kinh thuyết, Bát nhã tâm kinh yếu luận, Bát nhã tâm kinh trực đàm mỗi thứ 1 quyển, Tử bá lão nhân tập 15 quyển. Ngoài ra, sư từng cùng với ngài Mật tạng hợp sức khắc bản Phương sách đại tạng. [X. Tục thích thị kê cổ lược Q.3; Ngũ đăng nghiêm thống Q.16; Ngũ đăng toàn thư Q.120].
Đạt Quán Đàm Dĩnh
(達觀曇頴, Takkan Donei, 989-1060): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Đạt Quán (達觀), người vùng Tiền Đường (錢塘), Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), họ là Kheo (丘). Ông theo Đại Dương Cảnh Huyền (大陽警玄) học tông phong của Tào Động, sau đó đến tham vấn Cốc Ẩn Uẩn Thông (谷隱蘊聰) và kế thừa dòng pháp của vị này. Về sau, ông đến trú tại Kim Sơn (金山) thuộc Nhuận Châu (潤州, Tỉnh Giang Tô). Ông thị tịch vào năm thứ 5 (1060) niên hiệu Gia Hựu (嘉祐), hưởng thọ 72 tuổi.
đạt sát
5667梵名 Dakṣa。印度教之神,受到濕婆教及毘濕奴教之崇拜。其出身與家世,各書說法不一。據印度兩大史詩摩訶婆羅多(梵 Mahābhārata)、羅摩耶那(梵 Rāmāyaṇa)中之天地創造說,謂達剎乃梵天之子、生主之首。生於梵天之右拇指,其妻鉢羅蘇底(梵 Prasūti)生於梵天之左拇指,有五十個女兒(或謂二十四或六十個),曾將十個嫁予達磨(梵 Dharma),十三個嫁予迦葉波(梵 Kaśyapa),成爲天神、惡魔、飛鳥、蚊及一切生物之母,其餘二十七個女兒嫁予月亮,而變成二十七個星座。
; (達刹) Phạm: Dakwa. Thần của Ấn độ giáo được phái Thấp bà và phái Tì thấp nô sùng bái. Về nguồn gốc và gia thế của thần này, các sách ghi chép khác nhau. Cứ theo thuyết Thiên địa sáng tạo trong 2 bộ Đại sử thi của Ấn độ Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata) và La ma da na (Phạm: Ràmàyaịa), thì Đạt sát là con của Phạm thiên, sinh ra từ nơi ngón tay cái bên phải của Phạm thiên, vợ ông là Bát la tô để (Phạm:Prasùti) thì sinh ra từ nơi ngón tay cái bên trái của Phạm thiên. Hai vợ chồng có 50 người con gái (có thuyết nói 24 hoặc 60), họ gả 10 con gái cho Đạt ma (Phạm: Dharma), 13 cho Ca diếp ba (Phạm: Kazyapa). Họ trở thành mẹ của các Thiên thần, ác ma, chim bay, ruồi muỗi và tất cả các sinh vật, 27 người con còn lại được gả cho thần Mặt trăng và biến thành 27 vì sao.
đạt sấn
5677<一>梵語 dakṣiṇā,巴利語 dakkhiṇā。又作達䞋、達親、噠嚫、達儭、重嚫、供嚫、檀櫬、大櫬、嚫、達拏、特欹拏。意譯爲財施、施頌。主要指布施之金銀財物等。又指受施主布食(布施)之後,爲施主說法。前者稱爲財施,後者稱爲法施,二者皆可稱達嚫。梵漢合稱則爲「䞋施」、「嚫錢」。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷下三、華嚴經探玄記卷十八、勅修百丈清規卷二住持日用條、翻譯名義集卷十一〕(參閱「布施」1901,「?」6919) <二>古代南印度之地名。依法顯之佛國記所載,位於南印度中央高原地方,相當於今之德干高原(Dekkan)之處,亦即大唐西域記卷十所載之南憍薩羅國。〔慧琳音義卷六、卷十、解說西域記〕
; (達嚫) I. Đạt Thấn. Phạm: Dakwiịà, Pàli: Dakkhiịà. Cũng gọi Đạt thân, Trọng thấn, Cung thấn, Đàn thấn, Đại thấn, Thấn, Đạt noa, Đặc kì noa. Tiền tài, thực vật thí chủ cúng dường chúng tăng, hoặc chỉ cho thời pháp do chư tăng thuyết sau khi nhận sự cúng dường. Khi dùng cả tiếng Phạm và chữ Hán ghép chung lại thì gọi là Thấn thí, Thấn tiền. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ phần 3; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.18; điều Trụ trì nhật dụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.12]. (xt. Thấn). II. Đạt Thấn. Tên đất thời xưa ở Nam Ấn độ. Cứ theo Phật quốc kí của ngài Pháp hiển, thì vùng đất này ở trung ương cao nguyên Nam Ấn độ, tương đương với cao nguyên Đức can (Dekkan) hiện nay, cũng chính là nước Nam Kiêu tát la nói trong Đại đường tây vực kí quyển 10. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.6, Q.10; Giải thuyết tây vực kí].
đạt thiên thông lí
5665(1701~1782)清代僧。河北新河人,俗姓趙。博通律、淨土、楞嚴、法華等,尤精於華嚴。曾於諸方講經弘戒。後於五臺山感見文殊。乾隆十八年(1753)任僧錄司,蒙賜紫衣。乾隆四十五年班禪喇嘛入京時,曾與之議論佛教大義,後受封爲「闡教禪師」。乾隆四十七年示寂,世壽八十二。著有楞嚴指掌疏十一卷、法華指掌疏十卷、圓覺新義疏四卷、金剛新眼二卷、五教儀增注五卷等。〔新續高僧傳卷十〕
; (達天通理) (1701 - 1782) Vị tăng ở đời nhà Thanh, người huyện Tân hà tỉnh Hà bắc, họ Triệu. Sư học rộng, thông suốt về Luật, Tịnh độ, Lăng nghiêm, Pháp hoa, Hoa nghiêm v.v... Sư từng giảng dạy kinh luật ở nhiều nơi. Sau, sư lên ở núi Ngũ đài và cảm ứng thấy bồ tát Văn thù. Năm Càn long 18 (1753), sư giữ chức Tăng lục ti, được vua ban áo đỏ. Năm Càn long 45 (1780), khi Ban thiền lạt ma từ Tây tạng đến Bắc kinh, sư từng đàm luận với Ngài về đại nghĩa Phật giáo. Về sau, sư được phong danh hiệu là Xiển giáo Thiền sư. Năm Càn long 47 (1782) sư tịch, thọ 82 tuổi. Trứ tác của sư gồm có: Lăng nghiêm chỉ chưởng sớ 11 quyển, Pháp hoa chỉ chưởng sớ 10 quyển, Viên giác tâm nghĩa sớ 4 quyển, Kim cương tân nhãn 2 quyển, Ngũ giáo nghi tăng chú 5 quyển. [X. Tân tục cao tăng truyện Q.10].
đạt thấn
Daksina (skt). 1) Của bố thí: A gift. 2) Nhận của cúng dường: The acknowledgement of a gift. 3) Cánh tay phải mà chư Tăng Ni luôn dùng để nhận đồ bố thí từ thí chủ, sau đó đáp lại bằng một thời thuyết pháp: The right hand which receives the gift. 4) Phía Nam: The south. 5) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Đạt Thấn là tên một vùng đất ở phía Nam Ấn Độ bây giờ là cao nguyên Đề Căng, nam Behar, thường hay lẫn lộn với Đại Tần Quốc—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Daksina is an ancient name for Deccan, situated south of behar, and that is often confounded with the eastern Roman empire.
đạt thấu
To comprhend—To penetrate.
đạt thụ
5666清代僧。號六舟,又號秋檝、南屏退叟、小綠天庵僧。居於海寧白馬寺。擅長翰墨,行腳半天下,精於鑑定古器碑版之類,摩拓金石,堪稱一絕,阮元譽爲金石僧。其畫室稱寶素室。〔歷代畫史彙傳補編卷四〕
đạt thủy
See Anavatapta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đạt truyền
To transmit.
đạt trí
See Anavatapta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; Enlightened mind.
đạt tu
5668梵語 dasyu,巴利語 dassu。又作達首。即無賴之徒,指淺薄之佛教徒,或猥賤惡鄙之蠻族而言。在印度,貶稱葱嶺以東之人爲達須。〔瑜伽師地論卷二十、慧琳音義卷四十八〕
; Dasyu (skt)—Đạt Thủ. 1) Người Phật tử với hiểu biết thiển bạc và tu hành cạn cợt, chỉ nói mà không tu: A Buddhist who has little knowledge of Buddhism, who only speaks of Buddhism without any real cultivation. 2) Loại người man rợ: Barbarians. 3) Quỷ: Demons.
; (達須) Phạm: Dasyu, Pàli: Dassu. Cũng gọi Đạt thủ. Chỉ cho những tín đồ Phật giáo kém phúc đức, hoặc chỉ những dân tộc man rợ, ti tiện. Tại Ấn độ, Đạt tu là tiếng gọi khinh bỉ những người ở dẫy Thông lãnh trở về phía đông. [X. luận Du già sư địa Q20; Tuệ lâm âm nghĩa Q.48].
đạt tát mẫu cách lan đặc
5675興第語 Daśam Granth。印度錫克教經典之一。係錫克教第十代祖師哥賓德辛格(Govind Singh)與其他五十二位詩人所寫之讚歌、散文、故事、書信等之匯集。一七三四年,由巴伊摩尼辛格(Bhai Mani Singh)編纂。主要敘述哥賓德辛格之生平、戰鬥事迹,與致蒙兀兒皇帝奧朗則布之信件及對神之讚美,另雜有部分印度教之神話等。
đạt tôn
5668(1609~1664)明代臨濟宗僧。又稱爾瞻。浙江四明鄞縣人,俗姓唐。從福泉山之圜明出家,三年後,參謁密雲圓悟。二十八歲受具足戒,歷參石車通乘、瑞白明雪、山茨通際等諸尊宿,而爲通際之法嗣。後住於南嶽之綠蘿庵,順治三年(1646)於石霜開堂說法,重修圜明之塔,盡力整備伽藍。康熙三年九月示寂,世壽五十六,法臘三十一。遺有爾瞻尊禪師語錄二卷行世。〔五燈全書卷八十一〕
; (達尊) (1609 - 1646) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở đời Minh, người huyện Ngân, Tứ minh, tỉnh Chiết giang, họ Đường. Cũng gọi Nhĩ chiêm. Sư theo ngài Viên minh xuất gia ở núi Phúc tuyền. Ba năm sau, sư tham yết ngài Mật vân Viên ngộ. Năm 28 tuổi, sư thụ giới Cụ túc và lần lượt tham học các bậc tôn túc như: Thạch xa Thông thừa, Thụy bạch Minh tuyết và nối pháp ngài Sơn tì Thông tế. Về sau, sư trụ tại am Lục la núi Nam nhạc. Năm Thuận trị thứ 3 (1646), sư thuyết pháp ở Thạch sương, trùng tu tháp của ngài Viên minh, sửa sang lại chùa cảnh. Năm Khang hi thứ 3 (1664) sư tịch, thọ 56 tuổi, 31 tuổi hạ. Sư có tác phẩm: Nhĩ chiêm Tôn thiền sư ngữ lục 2 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.81].
đạt tư
5668(Das, Babh Sarat Chandra; 1849~1917)又譯戴斯。印度之梵、藏文學者。孟加拉人。一八八二年奉英國政府之命,由北平入西藏拉薩,鑽研薩迦(藏 Sa-skya)、密勒日巴(藏 Mi-la-ras-pa)、宗喀巴(藏 Tsoṅ-kha-pa)諸師之傳記。歸國後即從事梵、藏原文資料之蒐集。一八八九年得印度政府援助,編纂藏英辭典,於一九○二年出版「同義梵語附藏英辭典」。一八九三年復創設「印度佛教聖典及人類學會」(Buddhist Text and Anthropological Society of India),發刊「印度佛教聖典協會雜誌」,刊行中觀釋、金光明經、入楞伽經、月燈三昧經、悲華經等之部分或全部。著作除上述外,尚有印度學僧、拉薩及中央西藏之旅等,所發表之論文亦頗多。〔歐美の佛教(渡邊海旭)、A.C. March: A Buddhist Bibliography〕
đạt tổ
5668<一>指禪宗初祖菩提達磨。(參閱「菩提達磨」5207)[1] <二>清代臨濟宗僧。四川人,俗姓丁。號劍端。嗣月幢徹了之法。初住持玉泉寺,後遷廣東龍山,並於此示寂,生卒年不詳。〔黔南會燈錄卷六〕
; (達祖) I. Đạt Tổ. Chỉ cho ngài Bồ đề đạt ma, Sơ tổ Thiền tông. (xt. Bồ Đề Đạt Ma). II. Đạt Tổ. Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở đời Thanh, người tỉnh Tứ xuyên, họ Liễu, hiệu là Kiếm đoan, nối pháp ngài Nguyệt chàng Triệt liễu. Lúc đầu, sư trụ trì chùa Ngọc tuyền, sau dời đến Long sơn thuộc tỉnh Quảng đông và tịch ở đây. Năm sinh năm mất không rõ. [X. Kiêm nam hội đăng lục Q.6].
đạt vị
5666(1618~1684)明代臨濟宗僧。楚北人,俗姓瞿。字善權。十三歲喪父母,從安順府(貴州)觀音硐之太虛出家,數年後,參禮含光和尚,受具足戒。後受月幢徹了之印可,歷住安南萬壽寺、普安松巋寺等。康熙二十三年八月示寂,世壽六十七,法臘四十五。蕭登崇爲撰塔銘。遺有善權位禪師語錄二卷,爲弟子太闡等所編,刊於清康熙四十六年(1707)。〔黔南會燈錄卷六〕
đạt đa
Devadatta (skt)—See Đề Bà Đạt Đa in Vietnamese-English Section, and Devadatta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đạt được
• Đạt tới: Labhati (p)—To obtain—To attain. • Có thể đạt được: Labbho (p)—Attainable—Obtainable.
đạt được giải thoát cho riêng mình
To achieve self-liberation.
đạt được trí huệ
Jnanam-labhati (p)—To acquire wisdom—To attain knowledge or wisdom.
đạt được tánh giác
Buddhi-labhati (p)—To attain awareness.
đạt đến
To attain—To reach to.
đạt đến toàn hảo
Achievement of perfection.
đạt đến đỉnh
To be towering.
Đạt-bảo Cáp-giải
達保哈解; T: dvags-po lha-rje; 1079-1153, là tên dịch theo âm Hán Việt, cũng được biết dưới tên Gam-pô-pa (t: sgam-po-pa);|Một trong những Ðại sư của dòng Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa) tại Tây Tạng. Năm 26 tuổi, sau khi vợ mất, Sư trở thành tăng sĩ và theo học giáo pháp của phái Cam-đan (t: kadampa). Trong quá trình tu học, Sư được gặp Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa), một đạo sư tiếng tăm lừng lẫy và được Mật-lặc Nhật-ba truyền cho pháp môn Ðại thủ ấn (s: mahāmu-drā).|Sau khi xuất gia – được thúc đẩy bởi sự bất lực trước cái chết của vợ và con trong một cơn dịch, mặc dù là một y sĩ – Ðạt-bảo Cáp-giải được hướng dẫn vào giáo lí của dòng Cam-đan, một dòng được A-đề-sa (s: atīśa) Ðại sư sáng lập. Sư chăm chỉ tu tập, giữ giới luật nghiêm túc. Nhưng lí luận khô khan của tông này không dẹp hết những hồ nghi và vì vậy Sư quyết định xuống áo cà sa và trở thành một du sĩ tham đạo. |Một ngày kia, Sư nằm mộng thấy linh ảnh của một vị tăng sĩ màu xanh, tóc tai rối bù. Trong ảnh đó, vị tăng sĩ nhìn Sư cười, mắt sáng long lanh và nhổ nước bọt vào mặt Sư. Không bao lâu sau đó, Sư bắt đầu du phương – là một điều mà các vị Lạt-ma thỉnh thoảng vẫn làm. Trên đường đi, Sư bị lạc vào một vùng hẻo lánh của Hi-mã-lạp sơn và quả nhiên gặp một người có màu da xanh, trông rất ốm yếu và người đó không là ai khác hơn là Mật-lặc-nhật-ba. Mật-lặc-nhật-ba nhếch mép cười khi thấy Sư ngần ngừ bước vào. Không nói gì cả, ông đưa cho Sư một cái sọ người đựng đầy Chang (một loại bia) và ép uống hết – theo cách của Mật giáo bày tỏ phép tâm truyền tâm giữa thầy với trò. Sư từ chối không uống vì giới luật không cho phép. Mật-lặc-nhật-ba cười lớn – giống như trong linh ảnh đã hiện và nói ngay rằng, học theo một vị Phật đang hiện tiền tốt hơn bám giữ vào một giới luật hẹp hòi. Ông chế ngạo cách tu hành theo khuôn khổ, không có tính cách quảng đại của dòng Cam-đan. Ðối với ông, cách tu luyện như thế không giúp được một người thượng căn ham học. Ngay tại chỗ, Sư uống cạn một hơi, nhìn thẳng vào mắt Mật-lặc-nhật-ba và nhận ra rằng, linh ảnh đã biến thành sự thật: vị tăng sĩ giác ngộ này xem như đã nhổ nước bọt vào mặt ông và đã trao truyền năng lực cho kẻ thông thái nhưng chưa thật sự thức tỉnh đó. Cũng trong phút đó, Mật-lặc-nhật-ba biết đã tìm ra truyền nhân của mình. Sau đó, Sư ở lại với thầy tu tập thiền định và nghe giảng pháp.|Một ngày kia, Mật-lặc-nhật-ba báo cho Sư hay rằng đã tới lúc phải rời thầy ra đi. Tới ngày từ giã thầy và xa thầy mãi mãi, Sư quì dưới chân Mật-lặc-nhật-ba, để cho vị đạo sư để hai chân lên đầu mình và nhận một luồng chân khí để nhờ đó đạt được tâm thức đại viên kính trí của Phật. Sau buổi lễ này, Sư xin thầy cho một lời nhắn nhủ cuối cùng. Mật-lặc-nhật-ba nhún vai và nói: »Ngồi thiền thì ngươi còn phải ngồi nhiều và thường xuyên, còn học thì tuyệt đối không còn gì để học nữa.« Sau đó, Mật-lặc-nhật-ba không nói gì nữa. Sư xuống núi, vừa đi qua khỏi một con suối thì nghe phía sau Mật-lặc-nhật-ba kêu réo: »Ta còn một lời dạy cuối cùng« tiếng kêu lẫn trong tiếng suối reo, »Và lời này thật sự là bí mật và thâm sâu, chỉ dành chỉ dạy cho các bậc xuất sắc nhất trong giới thượng căn.« Sư yên lặng nín thở quay đầu lại, tim đập thình thình. Mật-lặc-nhật-ba bèn quay lưng, vén váy lên và cho Sư thấy mông đít trần truồng đã đóng thành sẹo sau nhiều nằm ngồi trên đá thiền định. »Lời dạy cuối cùng của ta đây, hãy nhớ!« Mật-lặc-nhật-ba kêu to.|Ðúng như lời tiên đoán của Mật-lặc-nhật-ba, mặc dù tu tập mười ba tháng với thầy nhưng sau ba năm tu tập, Toạ thiền cực khổ kế tiếp Sư mới chứng ngộ yếu chỉ Ðại thủ ấn.|Sau khi Mật-lặc Nhật-ba nhập diệt, Sư thành lập tông Ca-nhĩ-cư (đúng hơn: môn đệ của Sư). Sư soạn bộ Bồ-đề đạo thứ đệ tuỳ phá tông trang nghiêm (Bồ-đề đạo thứ đệ) và tác phẩm này đã hợp nhất hai trường phái Ca-nhĩ-cư và Cam-đan »như hai dòng nước hoà vào nhau.«
Đạt-lại Lạt-ma
達賴喇嘛; T: dalai lama [da lai bla ma]; nghĩa là »Ðạo sư với trí huệ như biển cả«; |Danh hiệu do nhà vua Mông Cổ Altan Khan phong cho phương trượng của trường phái Cách-lỗ (t: gelugpa, Hoàng giáo) năm 1578. Kể từ 1617, Ðạt-lại Lạt-ma thứ 5 trở thành người lĩnh đạo chính trị và tinh thần của Tây tạng. Kể từ đây, người ta xem Ðạt-lại Lạt-ma là hiện thân của Quán Thế Âm và Ban-thiền Lạt-ma là người phụ chính. Mỗi một Ðạt-lại Lạt-ma được xem là tái sinh của vị Lạt-ma trước. Ðạt-lại Lạt-ma thứ 6 là vị có trình độ học thuật rất cao thâm và cũng là một nhà thơ. Vị Ðạt-lại Lạt-ma hiện nay là vị thứ 14, sống lưu vong tại Ấn Ðộ từ 1959 đến nay. Sư là người lãnh giải Nobel Hoà bình, đồng thời là người đại diện Phật giáo xuất sắc nhất hiện nay trên thế giới. Các tác phẩm Sư viết trình bày Phật giáo Tây Tạng và Phật pháp nói chung là những quyển sách mà mỗi người Phật tử phải nghiên cứu kĩ.|Danh sách các vị Ðạt-lại Lạt-ma: 1. Ðạt-lại Lạt-ma Căn-đôn Châu-ba (t: gendun drub, 1391-1475); 2. Ðạt-lại Lạt-ma Căn-đôn Gia-mục-thố (gendun gyatso, 1475-1542); 3. Ðạt-lại Lạt-ma Toả-lãng Gia-mục-thố (sonam gyatso, 1543-1588); 4. Ðạt-lại Lạt-ma Vinh-đan Gia-mục-thố (yonten gyatso, 1589-1617); 5. Ðạt-lại Lạt-ma La-bốc-tạng Gia-mục-thố (losang gyatso, 1617-1682); 6. Ðạt-lại Lạt-ma Thương-ưng Gia-mục-thố (jamyang gyatso, 1683-1706); 7. Ðạt-lại Lạt-ma Cách-tang Gia-mục-thố (kelsang gyatso, 1708-1757); 8. Ðạt-lại Lạt-ma Khương-bạch Gia-mục-thố (jampel gyatso, 1758-1804); 9. Ðạt-lại Lạt-ma Long-đa Gia-mục-thố (lungtog gyatso, 1806-1815); 10. Ðạt-lại Lạt-ma Sở-xưng Gia-mục-thố (tsultrim gyatso, 1816-1837); 11. Ðạt-lại Lạt-ma Khải-châu Gia-mục-thố (kedrub gyatso, 1638-1856); 12. Ðạt-lại Lạt-ma Xưng-lặc Gia-mục-thố (trinle gyatso, 1856-1875); 13. Ðạt-lại Lạt-ma Thổ-đan Gia-mục-thố (tubten gyatso, 1876-1933); 14. Ðạt-lại Lạt-ma Ðăng-châu Gia-mục-thố (tenzin gyatso, 1933-).
Đạt-ma
達摩; S: dharma; P: dhamma;|Danh từ dịch âm, nghĩa là: 1. Pháp; 2. Tên gọi ngắn của Bồ-đề Ðạt-ma
Đạt-ma tông
達摩宗; J: daruma-shū; gọi đủ là Bồ-đề Ðạt-ma tông;|Một tên gọi khác của Thiền tông.
Đạt-ma-pa
S: dharmapa hoặc dhamapa, damapa; »Kẻ tu học triền miên«;|Một trong 84 vị Ma-ha Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem như sống đầu thế kỉ thứ 11.|Ðạt-ma-pa là người dòng Bà-la-môn, siêng năng học hỏi, nhưng ông thiếu khả năng phân tích và thiền định nên không tiến bộ gì cả. Ngoài ra ông còn có thêm tính hay quên. Ngày nọ ông gặp một vị Du-già sư (s: yogin), thú nhận yếu kém của mình và cầu xin giúp đỡ. Vị Du-già sư truyền bí mật cho ông bằng bài kệ nói về cái nhất thể trong mọi hiện tượng:|Ví như người thợ rèn,|đốt cháy mọi kim loại,|rèn thành thỏi duy nhất.|Hãy hoà mọi hiểu biết,|vào Tâm thức mênh mông.|Vị Du-già sư đã dạy cho ông thoát khỏi loại tri kiến của nhà học giả, tức là biết rất nhiều nhưng không hiểu cái biết đó từ đâu mà ra. Nhờ tri kiến này, Ðạt-ma-pa chứng rằng, nguồn gốc tất cả hiểu biết của mình chính là tự tính của tâm thức. Ông đạt được sức mạnh và chứng ngộ được Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi) giúp vô số người tìm đường giải thoát. Bài ca chứng đạo của Ðạt-ma-pa như sau:|Tâm trí người trí thức,|bị óc quen phân tích, |bị tư duy nhị nguyên,|đầu độc quá nặng nề.|Phép lành của Ðạo sư, |biểu hiện bằng lời nói,|chữa căn bịnh phát xuất,|từ cái nhìn lầm lạc.
Đạt-ma-pa / Gạt-ba-ri
S: dharmapa/gharbari; »Nhà bác học hối cải«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ. Có hai vị Tất-đạt đều mang tên là Ðạt-ma-pa, một vị được ghi số 36, vị này có số 48. Có lẽ vị này là Ðạt-ma-pa/Gạt-ba-ri và sống cuối thế kỉ thứ 9.|Ðạt-ma-pa là một học giả tại Bồ-đề Na-già (s: bo-dhinagar), suốt ngày đọc sách, nhưng ít tu tập. Ðến lúc già và gần như mù ông mới hối tiếc thì một vị Không hành nữ (s: ḍākinī) hiện ra chỉ dạy diệu pháp:|Hãy tưởng tượng ra rằng,|mọi hiện tượng thế gian,|như bình đất đựng đèn;|mọi tư duy đầu óc,|như dầu để thắp đèn;|mọi cảm thụ trên đời,|như sợi bấc nhúng dầu;|mọi tri kiến phải trái,|như ngọn đèn đang cháy.|Châm dầu của khái niệm,|vào bình của chứng thật,|thắp bấc cháy tri kiến,|nhìn viên ngọc tâm thức.|Sau năm năm thiền định, ông chuyển hoá được khái niệm thông thường thành sự tỉnh giác thanh tịnh, thân thể già cỗi của ông trở thành thân một đứa trẻ tám tuổi. Ông đáp lại sự ngạc nhiên của mọi người bằng các câu kệ:|Khi nguyên nhân sắc trắng,|thì kết quả không đen.|Với đầu óc sáng sủa,|chỉ cần tinh tiến tu.
đả
1) Đánh: To beat—To strike. 2) Làm: To make—To do.
đả bao
1931為行腳時裝納三衣之袋子。即僧尼行乞或行腳時,垂掛於頸前,裝置隨身物品之袋囊。又稱三衣袋、衣袋、衣囊、盛衣袋、袈裟袋、頭陀袋。蓋跋涉山野時,恐為塵土污染三衣,故作袋納之,此係本於佛制者。衣袋之中,常用之衣多放在上面,不常用者則置於下。禪苑清規卷七尊宿入院(卍續一一一‧四五八下):「新住持人,打包在前,參隨在後。」〔五分律卷二十一、祖庭事苑卷八打包條、禪林象器箋服章門〕(參閱「衣囊」2571)
; Khăn gói chuẩn bị lên đường của du Tăng—To wrap up or carry a bundle for a wandering monk.
; (打包) Túi đựng ba tấm ca sa. Cũng gọi Tam y đại, Y đại, Y nang, Thịnh y đại, Ca sa đại, Đầu đà đại. Khi tăng, ni đi xa (hành cước), dùng túi này để đựng ba tấm áo ca sa và các vật tùy thân khác. Đây là do đức Phật cho phép. Trong túi, áo nào thường dùng thì để ở trên, áo nào ít dùng đến thì để ở dưới. Thiền uyển thanh qui quyển 7 Tôn túc nhập viện (Vạn tục 111, 458 hạ), nói: Người mới đến xin ở, để túi đựng áo (đả bao) xuống phía trước mặt, sau đó mới thăm hỏi. [X. luật Ngũ phần Q.21; Tổ đình sự uyển Q.8 Đả bao điều; Thiền lâm tượng khí tiên Phục chương môn].
đả bản
1932禪林用語。又作打版。叢林中,於齋食、開浴、普請、上堂等集會時,敲擊木板,發出聲響,以告示眾人,稱為打板。禪苑清規卷四浴主條(卍續一一一‧四四八下):「鋪設諸聖浴位,及淨巾、香花、澄(疑作燈)燭等,並眾僧風藥、茶器,齋後打版。」〔僧堂清規行法鈔卷三鳴法器法〕
; Đánh vào miếng ván để thông báo sự việc gì—To beat the board, or a wooden block as an announcement or intimation.
; (打板) Đánh bảng. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong tùng lâm, vào những giờ ăn cơm, tắm gội, tập họp, nghe pháp v.v... đánh tấm Tượng Phật Thích Ca ngồi ở động thứ 3 bảng gỗ để báo hiệu cho đại chúng biết, gọi là Đả bản. [X. Tăng đường thanh qui hành pháp ao Q.3 Minh pháp khí pháp].
đả cúng
Cúng dường—To make offering.
đả cấp
1933禪林用語。給與、支給、供給之義。「打」字,為動詞,語意與打坐、打齋等之「打」字相同。禪門中,供給大眾粥飯等,均稱打給。禪苑清規卷四庫頭(卍續一一一‧四四八上):「如遇打給,即時應副。」又寺院中,登記所支付之各種物件,及支付對象(僧名)之簿冊,稱為打給牒。
; (打給) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Đả cấp nghĩa là cấp cho, chi cho, cung cấp. Chữ đả ở đây là động từ, cũng giống như nghĩa chữ đả trong đả tọa(ngồi), đả trai(ăn cơm) v.v... Trong Thiền môn, cung cấp cháo, cơm v.v... cho đại chúng đều gọi là Đả cấp. Thiền uyển thanh qui quyển 4 khố đầu (Vạn tục 111, 448 thượng), nói: Nếu được cung cấp (đả cấp) thì nên nhận liền. Ngoài ra, trong các chùa viện, cuốn sổ ghi các vật dụng chi xuất và tên những vị tăng được cung cấp, gọi là Đả cấp điệp.
đả dã trai
1932禪林用語。榸,枯木之根。打野榸,即叩枯木根之意。原作打野堆,意指聚集眾人,成堆打饂,係福州之諺語。碧巖錄第四十八則(大四八‧一八三下):「明招云:『朗上座喫卻招慶飯了,卻去江外打野榸。』」聯燈會要卷二十一悟明章卍續一三六‧三九五上):「如福州諺曰:『打野榸』者,成堆打饂也。今明招錄中作打野榸。後來圓悟碧巖集中解云:『野榸,乃山上燒不過底火柴頭。』」
; (打野榸) Tiếng dùng trong Thiền Lâm. Mai là gốc cây khô. Đả dã mai nghĩa là gõ vào gốc cây khô. Đả dã mai vốn nói là Đả dã đôi, nghĩa là tụ tập đông người, tranh cãi ồn ào, là ngạn ngữ vùng Phúc châu. Bích nham lục tắc 48 (Đại 48, 183 hạ) ghi: Minh chiêu nói: Thượng tọa Lãng ăn cơm của Chiêu khánh xong rồi, đi ra ngoài gõ vào gốc cây khô.
đả kích
To criticize—To attack.
đả miên y
1932指禪僧之寢衣。打眠,睡眠之意。「打」字,為動詞,語意與打坐、打齋、打飯等之「打」字相同。古時僧人多著五條衣(袈裟)就寢,其後乃代以直綴,稱為打眠衣。(參閱「直綴」3460)
; Y của chư Tăng Ni mặc trong lúc ngủ—A monk's or nun's sleeping garment.
; (打眠衣) Áo ngủ của Thiền tăng. Thời xưa, chư tăng phần nhiều đắp áo năm điều để ngủ, về sau mới thay bằng áo trực xuyết, gọi là Đả miên y. (xt. Trực Xuyết).
đả phu
1934指桌布,乃覆蓋於佛前之桌上者。又稱打布、內布、桌圍、卓布。其起源不詳,或由裝飾佛座或莊嚴佛之通路之寶衣變化而來;一說係由懸繒變化而來。據過去現在因果經卷一載,過去世時,普光如來前往提播婆底城,其時,該城之燈照王以歡喜之故,遂令全國懸掛各種繒綵、寶幢、幡蓋,散置名花,布滿普光如來所將行經之道路。據此記載推知,可能即是以繒綵、幡蓋供養或莊嚴之作用,轉而成為裝飾佛前供桌之物。〔菩提場莊嚴陀羅尼經、無量壽經卷上、卷下〕
; (打敷) Chỉ cho mảnh vải trải trên mặt bàn đặt ở trước đức Phật. Cũng gọi Đả bố, Nội bố, Trác vi, Trác bố. Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1 chép, vào thời quá khứ, đức Phổ quang Như lai đi đến thành Đề bá bà để, bấy giờ, vua của thành ấy là Đăng chiếu, vì tâm vui mừng nên truyền lệnh cho cả nước treo các thứ tơ lụa có tua rủ xuống, cờ, lọng quí báu, rải các thứ hoa thơm trên khắp mặt đường, mà đức Phổ quang Như lai sẽ đi qua. Cứ theo sự ghi chép trong kinh này mà suy ra, thì biết đây có thể là nguồn gốc của việc dùng tơ lụa, phan cái cúng dường hoặc trang nghiêm bàn thờ Phật ngày nay. [X. kinh Bồ đề tràng trang nghiêm đà la ni; kinh Vô lượng thọ Q.thượng, Q.hạ].
đả phá tất dũng
1932禪林用語。表示徹悟之狀態。漆桶,指盛裝漆物之桶,或指黑色之桶;由於使用日久,桶身及桶內之顏色皆渾濁不堪,既難以識別其最初之顏色,亦無從區別與其他顏色之差異。於禪林之中,多轉指吾人由於無始以來所累積之無明煩惱而隱覆本具之真如佛性。由是,則若一旦解脫煩惱,泯滅妄想,而得全面大悟之情形,即稱打破漆桶,為禪宗典籍所常用來表示豁然開悟之用語。碧巖錄第九十七則(大四八‧二二○下):「全無伎倆(展轉沒交涉,向什麼處摸索?打破漆桶來相見)」此外,漆桶一詞既轉指迷妄煩惱,久之,禪林亦以「漆桶輩」一稱,貶指無法了悟佛法真理之愚昧僧徒。〔碧巖錄第五則、大慧普覺禪師書卷上〕
; (打破漆桶) Đập bể thùng sơn. Tiếng dùng trong Thiền lâm, biểu thị trạng thái triệt ngộ. Tất dũng, chỉ cho cái thùng đựng sơn, hoặc là cái thùng mầu đen; vì đã được sử dụng lâu ngày nên mầu sắc bên ngoài cũng như bên trong thùng đều đen ngòm, khó phân biệt được với các mầu sắc khác. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được chuyển dụng với hàm nghĩa là: Người ta từ vô thủy đến nay đã chất chứa quá nhiều vô minh phiền não làm cho chân như Phật tính bị khuất lấp. Nếu một lúc nào đó, trút bỏ hết phiền não, tiêu trừ các vọng tưởng mà được đại ngộ toàn diện, thì gọi là Đả phá tất dũng(đập vỡ thùng sơn), là từ ngữ Thiền tông thường dùng để miêu tả cái trạng thái hoát nhiên khai ngộ (thình lình nổ bung ra). Bích nham lục tắc 97 (Đại 48, 220 hạ), nói: Hoàn toàn không kĩ năng (chẳng đắp đổi giao thiệp. Đi tìm kiếm ở đâu? Hãy đập bể thùng sơn để thấy nhau). [X. Bích nham lục tắc 5; Đại tuệ Phổ giác thiền sư thư Q.thượng].
đả phạn
1933禪林用語。「打」字,為動詞,含有成辦、調做之意。打飯即做飯之意。禪林象器箋飲啖門:「鶴林玉露云:『陸象山家人,計口打飯。』」或謂打飯一詞,含有喫飯之意。
; To eat rice or a meal.
; (打飯) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hàm ý ăn cơm, nấu cơm. Thiền lâm tượng khí tiên Ẩm đạm môn ghi: Hạc lâm Ngọc lộ nói: Người nhà của Lục tượng sơn tính số người ăn để nấu cơm (đả phạn).
đả quỷ
1932為喇嘛教禮儀之一種。乃清代北京之黃寺、黑寺、雍和宮等寺院之喇嘛所舉行驅逐疫鬼之儀式。燕京歲時記之打鬼條:「本西域佛法,並非怪異,即古者九門觀儺之遺風,亦所以禳除不祥也。」 每至打鬼,掌教喇嘛披黃錦衣,乘車托鉢,從者則持儀仗、法器擁護而出。另有喇嘛僧等扮演諸天神將,戴黑白頭盔(俗稱鬼臉),繞於寺院,執棒舞蹈,以驅逐邪魔。觀者甚眾,有萬人空巷之盛況。清皇室重視佛法,特遣一散秩大臣親臨之。打鬼日期各寺不同,大都舉行三天,黃寺從正月十五日起,黑寺從二十三日起,雍和宮從三十日起。〔北京指南禮俗條〕
; (打鬼) Đánh quỉ. Một trong những lễ nghi của Lạt ma giáo. Là nghi thức xua đuổi ma quỉ ôn dịch của các Lạt ma cử hành trong các tự viện như: Hoàng tự, Hắc tự, Ung hòa cung v.v... ở Bắc kinh vào đời nhà Thanh, Trung quốc. Điều Đả quỉ trong Yên kinh tuế thời kí nói: Phật pháp Tây vực vốn không có những việc quái dị, cho dù phong tục Cửu môn quán na thời xưa còn sót lại thì cũng chỉ là cúng tế cầu tiêu trừ những điều chẳng lành mà thôi. Mỗi khi đến ngày đánh quỉ, vị Chưởng giáo Lạt ma mặc áo gấm mầu vàng, ngồi xe cầm bút, những người theo hầu thì cầm nghi trượng, pháp khí hộ vệ đi ra. Lại có các vị tăng Lạt ma hóa trang làm các tướng nhà trời, đầu đội mũ trụ đen trắng (tục gọi là mặt quỉ), đi quanh chùa viện, cầm gậy nhảy múa để xua đuổi tà ma, có đến cả vạn người xem. Hoàng gia nhà Thanh tôn sùng Phật pháp, đặc biệt vào dịp này sai một vị Tán trật đại thần đến tham dự. Thời gian đánh quỉ ở các chùa không giống nhau, nhưng phần nhiều đều cử hành trong ba ngày. Hoàng tự bắt đầu từ ngày rằm tháng giêng, Hắc tự từ ngày 23, còn cung Ung hòa thì bắt đầu từ ngày 30. [X. Bắc kinh chỉ nam lễ tục điều].
đả thành nhất phiến
1931禪林用語。指融合一體。即去除一切之情量、計較,而將千差萬別之事物融通一片,不再有你我、彼此、主客等之差別情想。禪宗典籍中,常用此語來表示泯絕二元對立之觀念,或融合眾多紛亂的現象、見解等之情況境界。碧巖錄第六則頌評曰(大四八‧一四六下):「長短好惡,打成一片;一一拈來,更無異見。」第十七則評唱(大四八‧一五七中):「(香林)嘗云:『我四十年方打成一片。』」無門關第一則評曰(大四八‧二九三上):「久久純熟,自然內外打成一片,如啞子得夢,只許自知。」
; (打成一片) Dung hợp vào một thể duy nhất. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tức là loại bỏ tất cả sự tính toán, suy lường, so đo, phân biệt mà đem dung hợp các sự vật thiên sai vạn biệt vào làm một, dứt hết vọng tưởng phân biệt, mình người, đây kia, chủ khách v.v... Thiền tông thường dùng từ ngữ này để biểu thị sự dứt bặt quan niệm nhị nguyên đối lập, hoặc dung hợp những hiện tượng sai biệt. Phần bình tụng của tắc 6 trong Bích nham lục (Đại 48, 146 hạ), nói:Dài ngắn tốt xấu, dung hợp làm một (đả thành nhất phiến), mỗi mỗi nêu ra, không còn kiến giải sai khác. Phần bình xướng tắc 17 trong Bích nham lục (Đại 48, 157 trung) chép: Hương lâm từng nói: Trong 40 năm ta mới dung hợp thành một thể. Phần bình của tắc 1 trong Vô môn quan (Đại 48, 293 thượng), nói: Lâu ngày nhuần nhuyễn, tự nhiên trong ngoài dung hợp làm một, như người câm nằm mộng, chỉ mình tự biết mà thôi.
đả thành nhứt phiến
1) Làm thành một mối: Làm cho các sự vật khác biệt thành ra giống nhau—To knock all into one. 2) Hòa hợp làm một: To bring things together, or into order.
đả thính
To make inquiries.
đả thất
1930指於七日中剋期求證之修行。修行者為求在短期內得到較佳之修行成果,常作限期之修行,通常多以七日為期,稱為打七,又稱結七。如於七日中,專修念佛法門者,稱為打佛七,略稱佛七;專修禪宗法門者,稱為打禪七,略稱禪七。 信庵之「修西輯要」剋期取證條(卍續一一○‧二○六下):「欲得一心,必須結七。近今七期念佛,多成散善因緣。」此蓋專就「佛七」而言。打佛七,一天六支香外,「大回向」任何人均可參加,所謂三根普利,九界咸收,無論男女老幼,皆可共念阿彌陀佛,此名為念佛七,亦有專念觀世音之「觀音七」。 戒顯「禪門鍛鍊說」入室搜括第三(卍續一一二‧四九五上):「欲期剋日成功,則非立限打七不可。立限起七,不獨健武英靈,奮迅百倍。即懦夫弱人,一求入保社而心必死,亦肯捐身而捨命矣!故七不可以不限也。」此蓋專就「禪七」而言。禪七有限定時期者,如金山高旻禪堂每至冬期,自陰曆十月十五日起至臘月八日止所進行之七七四十九日之參禪活動。又每一禪七之起、解,稱為起七、解七,各有其規定儀式。〔起一心精進念佛七期規式(行策,淨土叢書第八冊)、佛教儀式須知(慧舟)〕
; (打七) Hạn kì tu hành trong vòng bảy ngày để cầu chứng ngộ. Người tu hành mong cầu trong một thời gian ngắn có thể đạt được thành quả tốt đẹp bằng cách đặt ra thời hạn tu hành mà thông thường lấy bảy ngày làm một kì, gọi là Đả thất, cũng gọi là kết thất. Như người trong bảy ngày chuyên tu pháp môn niệm Phật, thì gọi là Đả Phật thất, gọi tắt là Phật thất; người chuyên pháp môn tu thiền, gọi là Đả thiền thất, gọi tắt là Thiền thất. Điều khắc kì thủ chứng trong Tu tây tập yếu của ngài Tín am (Vạn tục 110, 206 hạ), nói: Muốn được nhất tâm, phải nên kết thất. Gần đây, kì hạn niệm Phật bảy ngày phần nhiều thành nhân duyên tán thiện. Đây chuyên nói về kết thất niệm Phật. Đả Phật thất cũng gọi là niệm Phật thất, ngoài thời khóa một ngày sáu nén hương ra, còn có thời khóa Đại hồi hướng thì vô luận gái trai già trẻ, các căn lợi độn đều có thể cùng niệm Phật A di đà. Ngoài ra cũng có Quan âm thất chuyên niệm Quan thế âm. Còn Thiền thất có hạn định thời kì thì như Thiền đường Cao môn ở Kim sơn cứ đến mùa đông thì mở khóa tham thiền trong 49 ngày, bắt đầu từ ngày rằm tháng 10 âm lịch đến ngày mồng 8 tháng chạp thì kết thúc, gồm có bảy thất. Mỗi khi bắt đầu một Thiền thất thì gọi là Khởi thất, còn khi kết thúc thì gọi là Giải thất và đều có nghi thức được qui định rõ ràng. [X. Khởi nhất tâm tinh tiến niệm Phật thất kì qui thức (Tịnh độ tùng thư tập 8 Hành sách); Phật giáo nghi thức tu tri (Tuệ chu)].
đả toạ
1931指跏趺而坐,使心入定。即指坐禪。「打」,動作行為之意。為僧侶或道人為收心斂神而端坐思惟之法;或如天台宗之修觀、密宗之瑜伽觀法等實際修行時所須採行之坐法。圓悟佛果禪師語錄卷十四(大四七‧七七九下):「金色頭陀論劫打坐,達磨少林面壁九年。」(參閱「坐禪」2838、「結跏趺坐」5186)
; (打坐) Ngồi kết già (xếp bằng) nhiếp tâm vào định, gọi là Đả tọa, tức là ngồi thiền. Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục quyển 14 (Đại 47, 779 hạ), nói: Đầu đà Kim sắc (Ca diếp) suốt đời tọa thiền (đả tọa), Đạt ma ngồi quay mặt vào vách ở chùa Thiếu lâm chín năm. (xt. Tọa Thiền, Kết Già Phu Tọa).
đả trai phạn
1934僧侶或道人遊方時沿門乞食,稱為打齋飯。宋代之時已有此語,如夷堅志之阿徐入冥條:「將打回齋飯歸家,所以受罪未脫。」或訛為打盞飯,以其每至人家僅取飯一盞之故。又時下之風習,於寺院舉辦法會之際,信徒每出資齋請與會大眾,藉之廣結眾緣,稱為打齋。〔曲園雜纂〕
; (打齋飯) Khi tăng sĩ hoặc đạo nhân du phương khất thực, gọi là Đả trai phạn. Vào đời Tống đã có từ ngữ này rồi, như điều A từ nhập minh trong Di kiên chí nói: Đem trai phạn về nhà riêng, cho nên mắc tội chưa thoát được. Hoặc có chỗ viết lầm là Đả trản phạn, lấy nghĩa là khi đến nhà người ta chỉ xin một chén (trản) cơm thôi. Về sau, cúng trai phạn đã trở thành tập tục: Các chùa viện, mỗi khi cử hành pháp hội, tín đồ sắm sửa thức ăn, thí vật cúng dường chúng tăng để kết duyên lành, gọi là Đả trai. [X. Khúc viên tạp toản).
đả tĩnh
1934<一>佛教舉行法事前,維那打椎,使僧眾安靜,故稱打靜。四分律行事鈔資持記卷下四(大四○‧四一四上):「打椎止為白告靜眾,不同鐘磬打為事用也。」或謂「靜」字係指所擊打之物,即指砧;概謂「打砧以靜眾」之意。 <二>禪林用語。指開始入睡或坐禪。與「開靜」相對稱。禪苑清規卷九訓童行(卍續一一一‧四六四上):「打靜已後,未開靜已前,除常住事,不得於堂內及近童行堂說話。」(參閱「開靜」5314)
; Khi chúng hội bắt đầu ồn ào thì vị sư giám chúng “đả tĩnh” để cho chúng hội im lặng trở lại—To beat the silencer, or beat for silence.
; (打靜) I. Đả tĩnh. Trong Thiền lâm trước khi cử hành pháp sự, vị Duy na đánh kiền chùy (kiểng) khiến chư tăng yên lặng, gọi là Đả tĩnh. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển hạ phần 4 (Đại 40, 414 thượng), nói: Đánh kiền chùy báo cho chúng tăng im lặng, khác với đánh chuông, khánh là để báo chư tăng làm việc. Hoặc có thuyết cho chữ tĩnh ở đây là chỉ cho cái vật dùng để đánh, tức là chỉ cái châm, hàm ý đánh châm khiến mọi người yên lặng. II. Đả tĩnh. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tức là bắt đầu đi ngủ hoặc ngồi thiền. Đối lại với Khai tĩnh. Mục Huấn đồng hành trong Thiền uyển thanh qui quyển 9 (Vạn tục 111, 464 thượng), nói: Sau khi đả tĩnh và trước khi khai tĩnh, ngoại trừ công việc của thường trụ, còn không ai được nói chuyện ở trong nhà Tăng hay ở gần nhà liêu của các chú tiểu (điệu). (xt. Khai Tĩnh).
đả tọa
Ngồi kiết già hay bán già—To squat—To sit down crosslegged.
đả văn tập
1933全一卷。殘本。為日本平安時代末期之佛教故事集。由山口光圓發現於滋賀縣之古剎。昭和二年(1927),古典保存會複製照相版刊行。該集在封頁內有目錄,自「達磨和尚事」以下共舉出二十七則故事,其中「唐僧入穴事」係取材於大唐西域記。又二十七則中,內容與「今昔物語」一致者有二十一則,與「宇治拾遺物語」一致者有八則。若與今昔物語比較,則本書之重點在於佛教之靈驗譚。據傳,當時有一僧侶聽聞說教,遂筆錄而成,或即本書成立之由來。
; (打聞集) Có 1 quyển, đã rách. Là tập truyện cổ Phật giáo ở cuối thời đại Bình an của Nhật bản, do Sơn khẩu Quang viên phát hiện trong một ngôi chùa cổ ở huyện Tư hạ, được hội Bảo tồn cổ điển phục chế và ấn hành vào năm Chiêu hòa thứ 2 (1927). Cứ theo truyền thuyết, thời bấy giờ có một vị tăng nghe các buổi thuyết pháp rồi ghi chép mà thành sách này. Nội dung gồm 27 tắc từ tổ Đạt ma trở về sau, trong đó, tắc Đường tăng nhập huyệt sự lấy tư liệu trong Đại đường tây vực kí. Còn 21 tắc có nội dung giống với Kim tích vật ngữ và 8 tắc giống với Vũ trị thập di vật ngữ.
Đả Địa
(打地, Tachi, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Đường, pháp từ của Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一). Sau khi đắc pháp, ông đến ẩn cư tại Hân Châu (忻州, Tỉnh Sơn Đông). Mỗi khi có người tu hành đến hỏi chuyện liên quan đến Phật pháp, ông thường lấy cây gậy đánh xuống đất, nên sau này người đời mới gọi ông là Hòa Thượng Đả Địa.
đả động
To touch on—To mention.
đảm
Gánh vác—To carry—To undertake.
đảm bản hán
6226禪林用語。本指背扛木板之人力伕,以其僅能見前方,而不能見左右,故禪宗用以比喻見解偏執而不能融通全體之人。景德傳燈錄卷十趙州觀音院條(大五一‧二七七中):「新到僧參,師問:『什麽處來?』僧云:『南方來。』師云:『佛法盡在南方,汝來遮裏作什麽?』僧云:『佛法豈有南北邪?』師云:『饒汝從雲峰雲居來,只是箇擔板漢。』」〔景德傳燈錄卷十二睦州龍興寺陳尊宿條、碧巖錄第四則著語、禪宗頌古聯珠通集卷二十二、虛堂智愚禪師語錄卷三〕
; (擔板漢) Người vác tấm ván gỗ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Người vác tấm ván gỗ trên lưng chỉ nhìn được phía trước, chứ không thể thấy các phía khác. Thiền tông dùng từ ngữ này để ví dụ người có kiến giải cố chấp một bên, không dung thông được toàn thể. Điều Triệu châu Quan âm viện trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 10 (Đại 51, 277 trung), nói: Có vị tăng mới đến tham vấn, sư hỏi: Từ đâu đến?. Tăng thưa: Từ phương nam đến. Sư nói: Phật pháp ở hết phương nam, ông đến đây làm gì? Tăng thưa: Phật pháp còn có Nam Bắc ư?. Sư nói: Cho dù ông có từ núi Vân phong, Vân cư đến thì cũng chỉ là đảm bản hán mà thôi. [X. điều Mục châu long hưng tự Trần tôn túc trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.12; Trứ ngữ trong Bích nham lục tắc 4; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.22; Hư đường trí ngu thiền sư Q.3].
đảm bảo
Khema (S), Secure.
; To guarantee—To warrant.
đảm bộ la
Tambula or Djambala (skt)—Đam Bổ La—Tên một loại quả dùng như thuốc—Piper Betel, name of a fruit used as medicine.
đảm bộ la thụ
6226梵語 tāmbūla。即檳榔樹。屬棕櫚科。學名 Areca catechu L.。產於印度、中南半島、臺灣等地。其幹修長,無分枝,葉簇生於梢頭。果實呈球形,大如雞卵,稱檳榔子,於未熟之時採之,拌以蒟醬、石灰,咀嚼之,味澀而甘,具有興奮作用。據慈恩寺三藏傳卷三所載,玄奘大師初至中印度那爛陀寺時,日得擔步羅果百二十顆、檳榔子二十顆、豆蔻二十顆、龍腦香一兩、大人米一升等物之供養;由以上之記載,則擔步羅果又異於檳榔子。〔集異門足論卷四〕
; (擔步羅樹) Phạm: Tàmbùla. Cây cau, thuộc họ cây cọ. Tên khoa học: Areca catechu L. Sinh sản ở Ấn độ, bán đảo Trung nam và ở nhiều vùng khác... Thân cây thon, cao, không có cành, lá mọc tủa lên và nhọn ở đầu; quả hình cầu, nhỏ hơn quả trứng gà, hái lúc còn xanh, nhai lẫn với lá trầu và vôi, vị vừa chát vừa ngọt, có tác dụng hưng phấn. Cứ theo Từ ân tự Tam tạng truyện quyển 3 nói, thì khi ngài Huyền trang mới đến hùa Na lan đà ở Trung Ấn độ, mỗi ngày ngài được cúng dường 20 hạt quả cau, 20 hạt đậu khấu, 1 lạng hương long não, 10 lẻ gạo v.v... [X. luận Tập dị môn túc Q.4].
đảm nhận
To assume—To undertake.
đảm phạ
6221即恬靜寡欲。又作澹泊。說文解字解釋憺為安,憺然安樂之義;怕又作泊,無為之義。廣雅解釋憺怕為寂寞或恬靜之義。景德傳燈錄卷五之六祖慧能章(大五一‧二三六中):「若於一切處而不住相,彼相中不生憎愛,亦無取捨,不念利益、成壞等事,安閑恬靜,虛融澹泊,此名一相三昧。」其中「虛融澹泊」一語,即表示遠離一切偏見妄執、自由自在之狀態,亦即指悟之境地。
; (憺怕) Trạng thái tâm vắng lặng, vô vi. Cũng gọi Đạm bạc. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 chương Lục tổ Tuệ năng (Đại 51, 236 trung), nói: Đối với tất cả tướng không dính mắc không ưa ghét, không lấy bỏ; chẳng nghĩ đến các việc lợi hại, thành bại, an nhàn điềm tĩnh, hư dung đạm bạc: Đây gọi là Nhất tướng tam muội. Từ ngữ Hư dung đạm bạc ở đây biểu thị trạng thái xa lìa tất cả thiên kiến vọng chấp, tự do tự tại, tức là cảnh giới giác ngộ.
đảm tinh quỉ
Xem Ty xá xà.
đảm đang
To bear—To take on—To undertake.
đảm đương
6226(1593~1673)明末清初臨濟宗僧。雲南晉寧人,俗姓唐。名泰,字大來。國變後,禮無住老人出家,遍參吳越諸名宿,於湛然處得悟。出世弘法,住於雞足山石鐘寺,滇南學子僧衲爭相趨附,極一時之盛。康熙十二年冬示寂,世壽八十一。示寂前書偈:「天也破,地也破,認著擔當便錯過,舌頭已斷誰敢坐?」著有翛園集、橛庵集、拈花頌百韻等行世。〔增訂佛祖道影卷二(虛雲)〕
; (擔當) (1593 - 1673) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế sống ở cuối đời Minh đầu đời Thanh Trung quốc. Người Tấn ninh tỉnh Vân nam, họ Đường, tên Thái, tự Đại lai. Sau cuộc biến loạn trong nước, sư đến lễ ngài Vô trụ Lão nhân xin xuất gia, tham học khắp các bậc danh đức Đảm Đươngở đất Ngô Việt, đắc pháp nơi ngài Trạm nhiên. Sư ra hoằng pháp tại chùa Thạch chung núi Kê túc, học tăng ở Điền nam đua nhau theo về, cực thịnh một thời. Năm Khang hi 12 (1673) sư thị tịch, hưởng thọ 81 tuổi. Trước khi tịch, sư có viết kệ như sau: Trời cũng phá Đất cũng phá Nhận có Đảm đương liền sai lầm Đầu lưỡi đã đứt ai dám ngồi? Sư để lại các tác phẩm: Tiêu viên tập, Quyết am tập, Niêm hoa tụng bách vận. [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư vân)].
đản
Duy chỉ—Only.
; See Đản Nhật.
đản không
Chỉ là không, một từ được tông Thiên Thai dùng để chỉ hệ thống Tiểu Thừa chính thống (Tiểu thừa phân tích chư pháp, chỉ thấy cái không mà không thấy cái bất không, nên gọi là “Đản Không.” Hàng Bồ Tát Đại Thừa phân tích chư pháp như huyễn như mộng, cái thể của nó tức là không, bất không, nên gọi là “Bất Đản Không.”)—Only non-existence, or immateriality, a term used by T'ien-T'ai to denote the orthodox Hinayana system.
đản nhựt
Birthday.
Đản Sanh Tự
(誕生寺, Tanjō-ji): ngôi chùa của Tịnh Độ Tông, hiện tọa lạc tại Kumeminami-cho (久米南町), Kume-gun (久米郡), Okayama-ken (岡山県), là linh địa đầu tiên trong 25 linh địa của Pháp Nhiên Thượng Nhân, còn gọi là Đản Sanh Luật Tự (誕生律寺). Tượng thờ chính của chùa là Viên Quang Đại Sư (圓光大師, hiệu của Pháp Nhiên được triều đình truy tặng sau khi qua đời). Đây là nơi Pháp Nhiên ra đời, và chùa do Pháp Lực Phòng Liên Sanh (法力房蓮生), người mến mộ đạo phong của Pháp Nhiên nên xuất gia làm đệ tử của vị này, kiến lập ngay trên ngôi nhà cũ của thân sinh Pháp Nhiên là Tất Gian Thời Quốc (漆間時國, Uruma Tokikuni) vào năm thứ 4 (1193) niên hiệu Kiến Cửu (建久). Đến thời Giang Hộ thì chùa được tái kiến lại và được xép vào hạng tài sản văn hóa quan trọng của quốc gia.
đản sinh hội
Ngày lễ Phật Đản Sinh, vào ngày mồng 8 tháng 4—An assembly to celebrate a birthday, e.g. the Buddha's on the 8th of the 4th month.
đản sinh kệ
5918指釋尊誕生時,右手指天、左手指地所說之四句偈。蘊含宇宙以我爲最殊勝之意。經典中有關誕生偈之偈文,記載多非一致,長阿含經卷一所記爲(大一‧四下):「天上天下,唯我爲尊;要度眾生,生、老、病、死。」修行本起經卷上爲(大三‧四六三下):「天上天下,唯我爲尊;三界皆苦,吾當安之。」大唐西域記卷六所記爲(大五一‧九○二上):「天上天下,唯我獨尊;今玆而往,生分已盡。」另如過去現在因果經卷一、普曜經卷二等,雖有與誕生偈意思相當之文句,但非偈頌體。現今一般常用之誕生偈爲:「天上天下,唯我獨尊;三界皆苦,我當安之。」〔太子瑞應本起經卷上、佛本行集經卷八、毘奈耶雜事卷二十、善見律毘婆沙卷四〕
; (誕生偈) Khi đức Thích tôn đản sinh, tay phải chỉ trời, tay trái chỉ đất, nói bốn câu kệ. Các kinh điển ghi chép không giống nhau. Kinh Trường a hàm quyển 1 (Đại 1, 4 hạ) ghi: Trên trời và dưới trời, chỉ có ta tôn quí; Sẽ cứu độ chúng sinh, qua sống già bệnh chết. Kinh Tu hành bản khởi quyển thượng (Đại 3, 463 hạ) ghi: Trên trời và dưới trời, duy có ta tôn quí; Ba cõi đầy khổ đau, ta sẽ được yên ổn. Đại đường tây vực kí quyển 6 (Đại 51, 902 thượng) ghi: Trên trời và dưới trời, một mình ta tôn quí; Từ đời này trở đi, không còn sinh ra nữa. Ngoài ra, trong kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1, kinh Phổ diệu quyển 2 v.v... tuy có những câu văn mà ý nghĩa tương đương với kệ Đản sinh, nhưng không phải thể tài kệ tụng. Kệ đản sinh được dùng một cách phổ biến hiện nay là: Trên trời và dưới trời, duy có ta tôn quí; Ba cõi đều khổ đau, ta sẽ được yên ổn(Thiên thượng thiên hạ, Duy ngã độc tôn; Tam giới giai khổ, Ngã đương an chi). [X. kinh Thái tử thụy ứng bản khởi Q.thượng; kinh Phật bản hạnh tập Q.8; Tì nại da tạp sự Q.20; Thiện kiến luật tì bà sa Q.4].
đản sinh phật
5918即釋尊誕生之像。又作誕生像、誕佛像、佛降生像、灌佛像。爲四月八日浴佛節之本尊,一般多爲銅造。據經典記載,釋迦自摩耶夫人右脅而生,初生時即前行七步,右手指天,左手指地,口宣偈云(大一‧四下):「天上天下,唯我爲尊。」故誕生佛之像即右手指天,左手指地,表「天上天下,唯我爲尊」之意。 各佛傳中,有關誕生佛之形像並非一致,如太子瑞應本起經卷上、過去現在因果經卷一等,謂釋尊生時舉其右手;修行本起經卷上降身品則僅記其舉手。〔長阿含經卷一、異出菩薩本起經、普曜經卷二〕(參閱「灌佛會」6852)
; (誕生佛) Cũng gọi Đản sinh tượng, Đản Phật tượng, Phật giáng sinh tượng, Quán Phật tượng. Tượng đức Bản tôn Thích ca bằng đồng được tắm gội trong ngày Phật đản mồng 8 tháng 4 âm lịch (nay được cử hành chính thức vào ngày rằm tháng 4). Hình tượng là tượng đứng, tay phải chỉ trời, tay trái chỉ đất, phần nhiều cao khoảng 25 cm. [X. kinh Trường a hàm Q.1; kinh Dị xuất bồ tát bản khởi; kinh Phổ diệu Q.2]. (xt. Quán Phật Hội).
Đản-đồ 但荼
[ja] ダンダ danda ||| Transcription of the Sanskrit/Pali daṇḍa. See 檀拏. (j: danda). => Phiên âm từ chữ daṇḍa trong tiếng Sanskrit và Pali. Xem Đàn-noa.
đảng lí bất đảng tình
6842禪林用語。原謂基於道理,而不從人情;引申為依法而忘卻人情。碧巖錄第六十七則(大四八‧一九七上):「梁武帝請傅大士講金剛經,大士便於座上揮案一下,便下座。武帝愕然,誌公問:『陛下還會麼?(黨理不黨情,肐膊不向外,也好與三十棒)』帝云:『不會!』誌公云:『大士講經竟。』」
; (黨理不黨情) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên ý là căn cứ vào đạo lí chứ không theo tình cảm cá nhân. Từ đó dẫn đến ý là theo pháp chứ không theo người. Bích nham lục tắc 67 (Đại 48, 197 thượng) ghi: Lương Vũ đế thỉnh Phó đại sĩ giảng kinh Kim cương, Đại sĩ liền lên tòa ngồi rung bàn một cái rồi đi xuống. Vũ đế ngơ ngác. Ngài Chí công hỏi: Bệ hạ có hiểu không? (Căn cứ vào đạo lí chứ không theo tình cảm; niềm riêng chẳng tỏ ra ngoài, cũng đáng cho 30 gậy)! Vũ đế nói: Không hiểu! Ngài Chí công thưa: Đại sĩ giảng kinh rồi!
Đảnh Diệu Tự
(頂妙寺, Chōmyō-ji): ngôi chùa liên quan đến Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại Ninōmondōri (仁王門通), Sakyō-ku (左京區), Kyoto-shi (京都市); hiệu là Văn Pháp Sơn (聞法山). Vào năm 1473 (Văn Minh [文明] 5), Tiểu Phụ Thắng Ích (小輔勝益) cúng dường cho Diệu Quốc Viện Nhật Chúc Thượng Nhân (妙國院日祝上人) của Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) thuộc vùng Trung Sơn (中山, Nakayama); Nhật Chúc mới sáng lập ra chùa này và trở thành Tổ khai sơn. Từ đó, Viện Hiệu của Thắng Ích được lấy làm hiệu của chùa luôn. Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Cao (足利義高) quy y theo Thượng Nhân, và biến nơi đây thành đạo tràng cầu nguyện cho dòng họ ông. Chùa đã bao lần được dời đi dời lại cho đến vị trí hiện tại, và cũng biết lần bị đồ chúng Tăng binh của Tỷ Duệ Sơn đốt cháy tan tành. Tuy nhiên, vào năm 1552 (Thiên Văn [天文] 21), vị Tổ đời thứ 3 của chùa là Phật Tâm Viện Nhật Quang Thượng Nhân (佛心院日珖上人) lại được Tỷ Duệ Sơn mời lên thuyết giảng về ba bộ Kinh Pháp Hoa. Khi ấy, Tọa Chủ Duệ Sơn là Nhị Phẩm Thân Vương (二品親王) vô cùng cảm kích đức độ cao dày của Thượng Nhân, bèn ban tặng Tử Y cho. Đây là một trường hợp hiếm có kể từ thời Truyền Giáo Đại Sư trở đi. Trong khuôn viên chùa có một kiến trúc quan trọng như Chánh Điện, Lâu Môn, Tổ Sư Đường, Đại Hắc Thiên Đường, v.v.
đảnh kế
Sikhandi (S)Con vua Tiên Đạo.
Đảnh lễ
(s: śirasā'bhivandate, 頂禮): tức hai đầu gối, hai cùi chỏ và đầu chạm đất, lấy đỉnh đầu lạy xuống, tiếp xúc với hai chân của đối tượng mình đảnh lễ. Khi hướng tượng Phật hành lễ thì nâng hai tay quá đầu, để khoảng trống, biểu hiện tiếp xúc với bàn chân đức Phật. Hình thức đảnh lễ này còn gọi là Đầu Đảnh Kính Lễ (頭頂禮敬, đỉnh đầu kính lạy), Đầu Diện Lễ Túc (頭面禮足, đầu mặt lạy dưới chân), Đầu Diện Lễ (頭面禮, đầu mặt lạy); đồng nghĩa với Ngũ Thể Đầu Địa (五體投地, năm vóc gieo xuống đất), Tiếp Túc Lễ (接足禮, lạy chạm chân). Hình thức này thể hiện sự sùng kính tối cao của Ấn Độ, lấy cái cao nhất của mình là đỉnh đầu, kính trọng cái thấp nhất của người khác là chân. Như trong Tán A Di Đà Phật Kệ (讚阿彌陀佛偈, Taishō Vol. 47, No. 1978) có đoạn: “Phật quang chiếu diệu tối đệ nhất, cố Phật hựu hiệu Quang Viêm Vương, Tam Đồ hắc ám mông quang khải, thị cố đảnh lễ Đại Ứng Cúng (佛光照耀最第一、故佛又號光炎王、三塗黑闇蒙光啟、是故頂禮大應供, hào quang Phật tỏa sáng bậc nhất, nên Phật có hiệu Quang Viêm Vương, Ba Đường tăm tối mong soi tỏ, cho nên kính lễ Đại Ứng Cúng).” Hay trong bài Thơ Thu Nhật Du Đông Sơn Tự Tầm Thù Đàm Nhị Pháp Sư (秋日游東山寺尋殊曇二法師) của Huệ Tuyên (慧宣, ?-?) nhà Đường lại có câu: “Tâm hoan tức đảnh lễ, đạo tồn nhưng mục kích (心歡卽頂禮、道存仍目擊, tâm vui tức kính lễ, đạo còn như mắt thấy).” Hoặc trong Thủy Hử Truyện (水滸傳), hồi thứ 42 có đoạn: “Tống Giang tại mã thượng dĩ thủ gia ngạch, vọng không đảnh lễ, xưng tạ thần minh tỉ hựu chi lực (宋江在馬上以手加額、望空頂禮、稱謝神明庇祐之力, Tống Giang ở trên ngựa lấy tay đưa lên trán, hướng giữa trời vái lạy, cảm tạ sức trợ giúp của thần minh).” Ngoài ra, đảnh lễ cũng thể hiện sự sùng bái, kính phục. Như trong bộ tiểu thuyết Khách Song Nhàn Thoại (客窗閒話) của Ngô Xí Xương (吳熾昌, ?-?) nhà Thanh có câu: “Sĩ đại phu thiên đảnh lễ bội phục, đại chúng vô bất thế khấp tán hoan (士大夫僉頂禮佩服、大眾無不涕泣贊歎, hàng sĩ đại phu đều sùng bái bội phục, đại chúng chẳng ai mà không rơi lệ khen ngợi vui mừng).”
đảnh lễ
Vandāna (S), Vandanā (P), Veneration, Kính lễLối đảnh lễ toàn thân đụng đất.
; Đảnh lễ bằng cách nằm mọp, đầu đụng chân vị mà ta muốn đảnh lễ—To prostrate oneself with the head at the feet of the one reverenced.
đảnh sanh vương
Mandhata (S).
; Mandhātṛ (S), MŪrdhagata (S), Mandhata (S)Vị Chuyển Luân Thánh vương thời Thái cổ Ấn độ.
Đảnh tướng, đỉnh tướng
(頂相): trên đỉnh đầu của đức Phật có nhục kế (s: uṣṇīṣa, 肉髻, khối u bằng thịt như búi tóc), hết thảy trời người đều không thể thấy được, nên có tên là vô kiến đảnh tướng (無見頂相); một trong 32 tướng tốt. Như trong Đại Pháp Cự Đà La Ni Kinh (大法炬陀羅尼經, Taishō Vol. 21, No. 1340) quyển 4, Phẩm Tướng Hảo (相好品), giải thích rằng: “Như Lai đảnh tướng, nhục kế viên mãn, nhất thiết nhân thiên sở bất năng kiến (如來頂相、肉髻圓滿、一切人天所不能見, đảnh tướng của Như Lai, nhục kế tròn đầy, tất cả trời người không thể thấy được).” Trong Thủy Kinh Chú (水經注), phần Hà Thủy (河水) 2, có đoạn: “Tháp tích, Phật nha, Ca Sa, đảnh tướng Xá Lợi, tất tại Phất Lâu Sa quốc (塔跡、佛牙、袈裟、頂相舍利、悉在弗樓沙國, di tích tháp, răng Phật, y Ca Sa, Xá Lợi của đảnh tướng, đều ở tại nước Phất Lâu Sa [Purusapura, hiện tại ở phái Tây Bắc Peshawar]).” Hay trong Pháp Hoa Kinh Thông Nghĩa (法華經通義, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 31, No. 611) lại có đoạn rằng: “Phật hữu cửu thập thất chủng đại nhân tướng, nhục kế đảnh tướng vi đệ nhất, thị vi vô kiến đảnh tướng, tùng thử phóng quang (佛有九十七種大人相、肉髻頂相爲第一、是爲無見頂相、從此放光, đức Phật có 97 loại tướng của đại nhân, đảnh tướng nhục kế là số một, đó là vô kiến đảnh tướng, từ đây phóng ra ánh sáng).” Ngoài ra, các Thiền gia gọi tiêu tượng bán thân, hay tượng toàn thân của Tổ sư ngồi trên ghế dựa Khúc Lục (曲彔), là đảnh tướng, tôn kính như vô kiến đảnh tướng của đức Như Lai. Sự lưu hành hình vẽ đảnh tướng khởi đầu từ Trung Quốc, nhưng thịnh hành nhất dưới hai thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) và Thất Đinh (室町, Muromachi) của Nhật Bản. Vẽ mặt nhân vật phần nhiều là bút pháp tả thật, ở giữa có bài từ tự nhân vật được vẽ làm ra. Đây được xem như là tín vật phú pháp, truyền cho đệ tử đắc pháp. Như trong Gia Thái Phổ Đăng Lục (嘉泰普燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1559) quyển 29 có bài Đề Vĩnh Minh Trí Giác Thọ Thiền Sư Đảnh Tướng (題永明智覺壽禪師頂相) của Trường Lô Tổ Chiếu Hòa Thiền Sư (長蘆祖照和禪師), rằng: “Tuệ nhật phong cao thu sắc lãnh, Tiền Đường giang tĩnh nguyệt hoa minh, hàn quang nhất thước châu sa giới, bút hạ khan lai vị thập thành (慧日峰高秋色冷、錢塘江靜月華明、寒光一爍周沙界、筆下看來未十成, trời tuệ đỉnh cao thu sắc lạnh, Tiền Đường sông lặng trăng sáng trong, hào quang tỏ rực khắp muôn cõi, dưới bút xem ra chữa vẹn toàn).”
đảnh vị
MŪrdhana (S)Giai vị thứ hai trong tứ thiện căn.
đảo
To turn over; to fall, lie down; to pour; upside down; inverted, perverted; on the contrary.
; 倒; C: dào; J: tō, dō;|1. Lộn ngược, lầm lạc, hư hỏng, xoay ngược, trái ngược, sai lầm. Đồng nghĩa Điên đảo (s: viparyāsa, viparyaya, paryasta, viparita); 2. Nhưng mà, tuy nhiên.
; 1) Té ngã: To fall—To lie down—To pour. 2) Điên đảo: Upside down—On the contrary. 3) Tà vạy: Inverted—Perverted.
đảo bản
倒本; C: dàoběn; J: tōhon;|Sai lầm về phần quan trọng nhất của vấn đề, Căn bản vô minh (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Đảo bản 倒本
[ja] トウホン tōhon ||| To be in error in regard to the fundamentals--original ignorance (無明). 〔二障義HPC 1.798b〕 => Sai lầm về phần Căn bản vô minh.
đảo chấp
倒執; C: dàozhí; J: tōshū;|Cố chấp sai lầm (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Đảo chấp 倒執
[ja] トウシュウ tōshū ||| Mistaken attachment. 〔二障義HPC 1.792a〕 => Cố chấp sai lầm.
đảo huyền
4025梵語 ullambana 之意譯。音譯盂蘭盆。人死之後,沈於闇道,有倒懸之苦。為救亡靈脫離倒懸之苦,可盛設供具奉施三寶。〔玄應音義卷十三〕(參閱「盂蘭盆」3454)
; Xem Vu lan bồn.
; Hanging upside down.
; Ullambana (skt)—Vu Lan Bồn—Người chết bị đọa vào địa ngục và bị treo ngược. Muốn cứu họ thoát khỏi cảnh treo ngược nầy thân quyến phải cúng giải đảo huyền và trai Tăng (để nhờ thần lực cầu nguyện của nhiều người nhờ đó mà vong linh được siêu thoát)—Hanging upside down; the condition of certain condemned souls, especially for whom the Ullambana or Lambana festival is held in seventh month.
; (倒懸) Phạm: Ullambana, âm dịch: Vu lan bồn. Nỗi khổ bị treo ngược. Những người lúc còn sống phạm nhiều tội ác, sau khi chết phải rơi vào địa ngục và chịu nỗi khổ bị treo ngược. Để cứu các vong linh thoát khỏi nỗi khổ này, thân nhân quyến thuộc cần phải làm những việc phúcthiện, như bố thí, phóng sinh, cúng dường Tam bảo v.v... [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.13]. (xt. Vu Lan Bồn.
đảo hợp
A fallacious comparison in syllogism.
đảo hợp quá
4024因明用語。倒合,梵語 viparītānvaya。因明三十三過中,似同喻五過之第五。即於因明論證之「合作法」時,顛倒「先因後宗」之順序。蓋同法喻體之任務,在於順成,以能立法(能詮之言詞)助成所立法(所詮之義理),故必須先舉示因(理由)而後證實宗(命題),即「因同品」在前,「宗同品」在後,以示因同品之後必有宗同品之隨逐。若顛倒其法,先宗後因,其順成結果,則為以所立法助成能立法,成其所不欲成,不成其所欲成,故成過失。例如佛弟子對聲論師立「聲是無常(宗),所作性故(因)」之論式,此一比量之同法喻體,依先因後宗之規定,應作「諸所作者皆是無常」,方能順成「聲是無常」之宗。今若倒合,先宗後因,作「諸無常者皆是所作」,則其所順成將為「聲是所作」,而非「聲是無常」。聲音具有所作性,乃立者(立論者)與敵者(問難者)所共同認可,無待證明之必要。故倒合之結果,必造成證所不必證而不證所待證之過失。〔因明入正理論疏卷下末〕(參閱「先因後宗」2187、「先宗後因」2188、「合作法」2266)
; (倒合過) Đảo hợp, Phạm: Viparìtànvaya. Tiếng dùng trong Nhân minh. Đây là lỗi đảo ngược thứ tự Nhân trước Tông sau khi dùng Hợp tác pháp trong luận chứng Nhân minh, là lỗi thứ 5 trong 5 lỗi Tự đồng dụ thuộc 33 lỗi của Nhân minh. Bởi vì nhiệm vụ của Đồng pháp dụ thể là thành lập theo chiều thuận, tức là dùng pháp năng lập (lời nói giải thích rõ ràng) để giúp cho pháp sở lập (nghĩa lí được giải thích rõ ràng) được thành tựu, cho nên cần phải nêu Nhân (lí do) ra trước, rồi sau mới chứng thực Tông (mệnh đề), nghĩa là Nhân đồng phẩm ở trước, Tông đồng phẩm ở sau. Nếu đảo lộn thứ tự này mà đặt Tông trước Nhân sau thì là dùng pháp sở lập giúp cho pháp năng lập được thành tựu. Như vậy, kết quả sẽ là chứng minh cái không muốn chứng minh, còn điều muốn chứng minh thì lại không chứng minh. Như đối với Thanh luận sư mà đệ tử Phật lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì do sự động tác mà có ra. Trong luận thức này, theo qui định Nhân trước Tông sau thì Đồng pháp dụ thể phải là: Phàm những cái do sự động tác mà có ra đều là vô thường mới đúng với Tông Âm thanh là vô thường. Nay nếu đảo lộn Tông trước Nhân sau mà nói: Phàm những cái vô thường đều là do sự động tác mà có ra thì kết quả sẽ là: Âm thanh là cái được tạo ra chứ không phải Âm thanh là vô thường. Âm thanh có tính chất do sự động tác mà có ra, điều này thì người lập luận cũng như địch luận đều thừa nhận, không cần phải chứng minh, mà điều cần chứng minh ở đây là âm thanh là vô thường hay không vô thường? Cho nên, kết quả của sự đảo hợp đã tạo thành lỗi như đã nói ở trên. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.hạ phần cuối]. (xt. Tiên Nhân Hậu Tông, Tiên Tông Hậu Nhân, Hợp Tác Pháp).
đảo kiến
4024顛倒事理真相之妄見。眾生以無常為常,以苦為樂,以無我為我,以不淨為淨,皆為倒見。〔大乘義章卷五末〕
; Upside down or inverted views, seeing things as they seem, not as they are, e.g. the impermanent as permanent, misery as joy, non ego as ego, and impurity as purity.
; 倒見; S: viparyāsa; P: vipallāsa;|Chỉ kiến giải điên đảo, ngược ngạo về sự lí, ví dụ như cho Vô ngã là Ngã, cho Khổ là vui, cho Vô thường là trường tồn… Ðối nghĩa của đảo kiến là Như thật tri kiến.
; Vọng kiến điên đảo hay cái hiểu thấy sai ngược với sự thật, cho vô thường là thường, cho khổ là lạc, cho vô ngã là ngã, và cho bất tịnh là tịnh—Upside down or inverted views, seeing things as they seem not as they are, e.g. the impermanent as permanent, misery as joy, non-ego as ego, and impurity as purity.
; (倒見) Thấy biết chân tướng của sự lí một cách điên đảo. Như chúng sinh cho vô thường là thường, cho khổ là vui, cho vô ngã là ngã, cho bất tịnh là tịnh, như thế đều là đảo kiến.
đảo li quá
4024因明用語。倒離,梵語 viparīta-vyatireka。因明三十三過中,似異喻五過之第五。即於因明論證之「離作法」時,顛倒「先宗後因」之順序。因明論式於「異喻」使用離作法時,必以「先宗後因」為定則。如聲論師對勝論師立「聲是常(宗,命題),無質礙故(因,理由)」之論式,其離作法應為「諸無常者,見彼質礙」,如是則符合先宗後因之定則,稱為「順離」。今若先因後宗,則成「諸質礙者,皆是無常」,自以「質礙」之因,助成「無常」之宗,不曾返顯「常」之宗,此即為倒離之過。「異法喻體」之任務,在於返顯「同法喻體」,先宗後因,始能返顯先因後宗之同法喻體。倒離之結果,其返顯所得,非該比量所具之同法喻體,返顯亦無意義可言。〔因明入正理論、因明論疏瑞源記卷七、因明入正理論悟他門淺釋〕(參閱「先因後宗」2187、「先宗後因」2188、「離作法」6713)
; (倒離過) Phạm: Viparìta-vyatireka. Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi đảo ngược thứ tự Tông trước Nhân sau khi sử dụng Li tác pháp trong luận chứng Nhân minh. Là lỗi thứ 5 trong 5 lỗi Tự dị dụ thuộc 33 lỗi của Nhân minh. Trong luận thức của Nhân minh, khi sử dụng Li tác pháp ở phần Dị dụ thì phải đặt Tông trước Nhân sau, đó là nguyên tắc nhất định. Như Thanh luận sư đối với Thắng luận sư mà lập luận thức: Tông: Âm thanh là thường còn Nhân: Vì không có tính ngăn ngại thì thứ tự của Li tác pháp phải là: Những cái vô thường đều có tính ngăn ngại, như vậy mới đúng với qui định Tông trước Nhân sau, gọi là Thuận li. Nay, nếu đặt Nhân trước Tông sau thì thành là những cái có tính ngăn ngại đều là vô thường, kết quả sẽ là Nhân giúp cho việc chứng minh Tông vô thường chứ không phải bênh vực cho Tông thường còn: Đây tức là lỗi Đảo li. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.7; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích]. (xt. Tiên Nhân Hậu Tông, Tiên Tông Hậu Nhân, Li Tác Pháp).
đảo ly
The fallacy of using a comparison in a syllogism which does not apply.
đảo lộn
To turn upside down.
đảo ngã
4024四顛倒之一。我乃四大、五蘊假合而成,無實體可得;若認為有實我者,即為顛倒妄見,稱為倒我。〔釋門歸敬儀卷中〕
; The conventional ego, the reverse of reality.
; Cái ngã không có thực tế vì cái ngã do vọng kiến điên đảo, một trong bốn thứ điên đảo—The conventional ego, the reverse of reality.
; (倒我) Một trong 4 điên đảo. Ngã là 4 đại 5 uẩn giả hợp tạo thành, không có thực thể. Nếu cho là có thực ngã thì đó là vọng kiến điên đảo gọi là Đảo. [X. Thích môn qui kính nghi Q.trung].
đảo ngược
To reverse.
đảo phàm
4024即指顛倒之凡夫。凡夫隨情妄執,顛倒黑白,不知涅槃至理,流轉三界,永無止期。〔釋門歸敬儀卷中〕
; Perverted folk, the unenlightened who see things upside down.
; Phàm phu hay người chưa giác ngộ, nhìn sự vật một cách điên đảo—Perverted folks, the unenlightened who see things upside down.
; (倒凡) Phàm phu điên đảo chấp bậy theo ý riêng mình, không phân biệt được chính tà, phải quấy, không biết rõ lí rốt ráo của Niết bàn, phải trôi lăn trong 3 cõi, không bao giờ dừng nghỉ. [X. Thích môn qui kính nghi Q.trung].
đảo sử
4087巴利名 Dīpavaṃsa。又稱島王統史、洲史。約編於四、五世紀,著者不詳。為錫蘭現存最古編年史之史詩,係用巴利語記述,與「大史」(巴 Mahāvaṃsa)同為錫蘭編年史書之雙璧,且為錫蘭佛教史研究不可欠缺之文獻。本書分二十二章,自簡單敘述佛陀之生涯,及其至錫蘭弘法之事蹟與佛典之三次結集、部派史、阿育王之歸佛等。主要資料取自較早之錫蘭文著作「義疏」,對第二次結集之記載較詳細。書中記載之某些歷史事實與印度之史料一致。體裁為敘事詩,內容重覆及缺乏連貫性,由其結構上之不統一,可推知本書作者非僅一人,乃多數錫蘭詩人所集體編寫成者。
; Xem Nam Truyền Phật giáo sử thư Đảo sử.
; 島史; P: dīpavaṃsa;|Một bộ sử kí được lưu lại bằng văn hệ Pā-li, xuất hiện thế kỉ thứ 4 ở Tích Lan. Tác giả của bộ này không rõ. Bộ sử này ghi lại những bài thuật về thời đức Phật Thích-ca còn giáo hoá, sự thuộc địa hoá của Tích Lan đến thời cai trị của vua Ma-ha Tu-na (p: mahāsena) giữa thế kỉ thứ 4. Ðây là những tài liệu rất quý giá cho sự nghiên cứu Phật giáo trong khoảng thời gian này.
; (島史) Pàli: Dīpavaṃsa. Cũng gọi Đảo vương thống sử, Châu sử. Bộ sử được biên soạn vào thế kỉ thứ IV, V, không rõ tác giả. Đây là bộ sử thi biên niên xưa nhất hiện còn của Tích lan được ghi chép bằng tiếng Pàli, cùng với bộ Đại sử (Pàli: Mahàvaôsa) đều là những tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Tích lan. Sách chia làm 22 chương, theo thể thơ tự sự, trình bày ngắn gọn về cuộc đời của đức Phật, sự tích hoằng pháp ở Tích lan, 3 lần kết tập kinh điển, lịch sử các bộ phái và việc qui y của vua A dục v.v... Sách này chủ yếu dùng bộ Nghĩa sớ bằng tiếng Tích lan được soạn sớm hơn làm sách tham khảo, cho nên đã ghi chép khá rõ ràng về cuộc kết tập kinh điển lần thứ 2. Hơn nữa, một số sự thực lịch sử được ghi chép trong sách này cũng rất phù hợp với sử liệu Ấn độ. Vì nội dung trùng lập, thiếu tính liên quán, sự kết cấu không được thống nhất, cho nên có thể suy ra mà biết rằng sách này không phải do một người mà là do nhiều thi nhân Tích lan soạn tập.
đảo thoái tam thiên
4024禪林用語。又作退倒三千。以戰爭敗北遁走三千里,轉喻為宗師家之機鋒銳不可當,使人畏之而退。〔碧巖錄第二則〕
; (倒退三千) Cũng gọi Thoái đảo tam thiên. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Có nghĩa là đánh giặc bị thua bỏ chạy 3.000 dặm. Thiền lâm mượn dụng ngữ này để ví dụ cơ phong sắc bén của bậc Tông sư khiến người học không thể đương nổi, sợ hãi rút lui. [X. Bích nham lục tắc 2].
đảo thuyết
Upside down preaching.
đảo thể
倒體; C: dàotǐ; J: tōtai;|Sai lầm trong quan niệm về thân (hoặc bản ngã). Sai lầm khi tin vao sự hiện hữu của bản ngã trên cơ sở tự tướng. Tương đương với Tát-ca-da kiến (薩迦耶見; theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Đảo thể 倒體
[ja] トウタイ tōtai ||| To err in regard to the body (or self). To erroneously believe in the existence of an inherent ego. Equivalent to . 〔二障義HPC 1.798b〕 => Sai lầm trong quan niệm về thân ( Bản ngã). Sai lầm khi tin vao sự hiện hữu của bản ngã trên cơ sở tự tướng. Tương đương với Tát-ca-da kiến薩迦耶見.
đảo tưởng
To think on the wrong side.
đảo vũ
To pray for rain.
đảo điên
On the wrong side. Làm đảo điên, to upset; to throw into confusion.
; Upside down.
đảo điền phiên căn
4088(1827~1907)日本之佛教外護者。出身於周防之儒家,後入天台宗習修驗道,廣學百科,尤博通佛教一般性之知識。明治維新時還俗,在地方致力於教育,旋至東京,歷任內務省社寺局、修史局,更完成縮刷大藏經之偉大事業。明治四十年逝世,世壽八十一。有佛教年表等遺稿。〔島田蕃根先生誄辭〕
đảo đẳng lưu
倒等流; C: dàoděngliú; J: tōdōru;|Sai lầm khi gây nên nghiệp tham dục (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Đảo đẳng lưu 倒等流
[ja] トウドウル tōdōru ||| To err by producing the karma of desire. 〔二障義HPC 1.798b〕 => Sai lầm khi gây nên nghiệp tham.
đảo địa mặc lôi
4088(1838~1911)日本淨土真宗本願寺派學者。周防人。遊學各地,師事熊本之原口針水。慶應二年(1866),與大洲鐵然在萩開創學校,且任本山之參政。在明治維新時,建議新政府開設教部省,發行新聞。後又倡神佛分離之說,廢止大教院制,致力於各宗獨立。並為本山之宗政與育才而盡力,且創立日本赤十字社。明治四十四年入寂,享年七十四。門弟子集其遺稿,共成五十三卷。〔島地默雷上人略傳、日本佛教史綱卷下〕
Đảo 倒
[ja] トウ tō, dō ||| (1) Upside down, perverted, inverted, contrary, mistaken. Same as 顛倒. (viparyāsa, viparyaya, paryasta, viparita). (2) But, nevertheless, and yet. => 1. Lộn ngược; lầm lạc, hư hỏng; xoay ngược; trái ngược; sai lầm. Đồng nghĩa Điên đảo (s: viparyāsa, viparyaya, paryasta, viparita). 2. Nhưng mà, tuy nhiên, song le.
đấng
Xem Đức.
đấng cao cả
Exalted beings
đấng chí tôn
The Supreme.
đấng giác ngộ
The All-Knowing One—A Full Enlightened—Buddha is an All-Knowing One.
đấng pháp vương
The King of Dharma.
đấng pháp vương vô thượng
The Supreme King of Dharma.
đấng siêu nhân
Supreme Being.
đấng sáng tạo
Creator
đấng thế tôn
Bhagava
đấng tỉnh ngộ
An awakened one.
đấng tối thượng
The Supreme.
đấng tự sinh
Svayambhu (S).
đất
Paṭhavī (P), Pṛthivī (S), Prithin (S), Earth element. Xem Địa.
đất liền
Continents.
đấu
1432<一>計物量之容器。法華經卷七(大九‧五九中):「亦如壓油殃,斗秤欺誑人,調達破僧罪,犯此法師者,當獲如是殃。」 <二>量之單位。即十升。漢書律曆志卷上:「十升為斗。斗者,聚升之量也。」〔天尊說阿育王譬喻經、十誦律卷二十六、阿毘曇毘婆沙卷二十二、禪苑清規卷四〕
; Cái đấu dùng để đong thóc—A bushel.
; (鬥) I. Đẩu. Cái đấu để đong lường. Kinh Pháp hoa quyển 7 (Đại 9, 59 trung), nói: Giống như các tội ép dầu, lường cân tráo đấu, lừa dối người ta, phá hoại tăng già v.v... những kẻ như thế sẽ đọa địa ngục. II. Đấu. Đơn vị đo lường, tức là 10 thăng. Hán thư luật lịch chí quyển thượng nói: Mười thăng là một đấu. [X. kinh Thiên tôn thuyết A dục vương thí dụ; luật Thập tụng Q.26; A tì đàm tì bà sa Q.22; Thiền uyển thanh qui Q.4].
đấu mụ
Marici (skt)—Ma Lợi Chi—Thiên hậu—Queen of heaven.
đấu phụ thiên tôn
The husband of Marici (Thiên hậu).
đấu tránh kiên cố
4365佛陀入滅後二千五百年間,佛教之實踐修行漸次形式化,乃至於隱沒不彰,大集經卷五十五、安樂集卷上等,將此二千五百年分為五個五百年,以表示佛教之消長,稱為五五百年,其中第五個五百年即為「鬥諍堅固時代」。此一時代,宗派間互相爭鬥,宣稱自身所說法為殊勝,他人之說法較劣,彼此鬥諍之風極盛。大方等大集經卷五十五(大一三‧三六三中):「次五百年,於我法中鬥諍言頌,白法隱沒損減堅固。」(參閱「五五百年」1065)
; (鬥諍堅固) Kinh Đại tập quyển 55 và An lạc tập quyển thượng chia khoảng thời gian 2.500 năm sau đức Phật nhập diệt làm 5 lần 500 năm để biểu thị sự hưng suy của Phật giáo. Trong đó, 500 năm cuối cùng là thời kỳ Đấu tránh kiên cố. Thời kì này, các tông phái đấu tranh với nhau, phái nào cũng cho giáo pháp của mình là hơn hết và chê bai giáo pháp của các tông phái khác là kém cỏi. Kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 55 (Đại 13, 363 trung), nói: Trong 500 năm kế tiếp, trong giáo pháp của ta xảy ra cuộc luận tụng đấu tranh, khiến cho bạch pháp mất đi, sự kiên cố giảm tổn. (xt. Ngũ Ngũ Bách Niên).
đấu tránh kiếp trung hữu quá thất
瑜伽六十卷十六頁云:復次闘諍劫中,有四過失。謂壽量衰退、安樂衰退、功德衰退、一切世間盛事衰退。二十五畫
đấu trướng
1432又作戶帳。為遮覆佛像、死骸等,覆掛於前面之斗形帷帳。在日本,則主要作為覆蓋佛像之用。〔佛本行集經卷十五、起世經卷四、般泥洹經卷下、南海寄歸內法傳卷三臥息方法〕
; (鬥帳) Cũng gọi Hộ trướng. Bức màn nhỏ hình cái đấu che phía trước tượng Phật hoặc thi hài. Ở Nhật bản thì chủ yếu dùng để che tượng Phật. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.15; kinh Khởi thế Q.14; kinh Bát nê hoàn Q.hạ; Ngọa tức phương pháp trong Nam hải kí quy nội pháp truyện Q.3].
đần độn
Dull.
đần độn ngu xuẫn
Dull and foolish.
đầu
6361首領之意。禪林中司掌特定事務之職稱,其種類於敕修百丈清規卷四列職雜務條中舉出寮元、延壽堂主、化主、園主、磨主、莊主、諸莊監收、淨頭、水頭、炭頭等。永平元禪師清規卷下監院條則舉出街坊化主、莊主、炭頭、醬頭、粥頭、街坊、般若頭、華嚴頭、浴主、水頭、園頭、磨頭、燈頭等。 禪林象器箋卷八職位門關於諸頭之職名有:粥頭,相當於後世之飯頭;穀頭,掌管米穀者;湯頭,負責點湯之職者;茶頭,於諸寮中負責煎點茶之職者;園頭,掌管菜園之職者;涅槃頭,司掌涅槃堂(延壽堂)之職者;經頭,管理圖書經卷,或因一切經之修補而須至街坊募化之職者;般若頭,掌管般若經者;燈頭,掌管燈燭者;鐘頭,司掌晨、昏齋鐘與定鐘等四時之鳴鐘者;參頭,熟諳禮樂,且能指導四方雲衲之叢林舊參;華嚴頭,書寫供養華嚴經,說檀越之功德及勸募金錢之職者。此等職事名稱大多類於前所述之敕修百丈清規所舉之內容。〔緇門警訓卷六、黃檗清規禮法章朔望雲集唱禮〕
; 1) Chủ chốt: Chief. 2) Đứng đầu: First. 3) Ném—To cast—To throw into. 4) Thủ lãnh: The head.
; (頭) Người đứng đầu trông coi về một việc gì đó ở trong Thiền lâm. Như Thán đầu (người trông coi việc than củi), Thủy đầu (việc gánh nước), Bát nhã đầu, Hoa nghiêm đầu v.v... Môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên quyển 8 có nêu các chức Đầu như: Chúc đầu, tương đương với chức Phạn đầu, là người trông coi về các bữa ăn cơm, cháo; Cốc đầu, người trông coi về lúa gạo; Thang đầu, người phụ trách việc đun nước; Trà đầu, người trông coi việc pha trà; Viên đầu, người phụ trách việc vườn tược; Niết bàn đầu, người trông coi nhà Niết bàn (nhà Diên thọ); Kinh đầu, người quản lý thư viện, kinh điển; Bát nhã đầu, người chịu trách nhiệm về kinh Bát nhã; Đăng đầu, người trông nom việc đèn đuốc; Chung đầu, người chuyên trách việc đánh chuông; Tham đầu, vị cựu tham trong tùng lâm am hiểu lễ nhạc và có khả năng hướng dẫn chư tăng bốn phương về tham học; Hoa nghiêm đầu, người viết chép, cúng dường kinh Hoa nghiêm v.v... [X. Truy môn cảnh huấn Q.6; Hoàng bá thanh qui lễ pháp chương sóc vọng vân tập xướng lễ].
đầu bôn
(頭奔) Bôn tức Bôn tử, là cái bát nông đựng canh trong Thiền lâm. Bát có 3 cỡ: lớn, vừa và nhỏ. trong đó, bát lớn gọi là Đầu bôn. Điều Phó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 441 hạ), nói: Đặt 3 cái bát, kế đến mở túi vải lấy đũa, thìa đặt ngang phía sau Đầu bôn. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7; Thiền lâm tượng khí tiên Khí vật môn]. (xt. Bôn Tử).
đầu bắc diện tây
6361指頭向北,面朝西,右脅向下而雙足相疊之橫臥姿勢。釋尊即以此姿勢入涅槃。大毘婆沙論卷一九一謂,釋尊行北首而臥之理由有數種,例如釋尊預知般涅槃後,無上法炬將熾燃於北方,故北首而臥;又如釋尊欲顯示三無數劫以來所起善根,漸漸增勝而無有萎歇,故令首趨勝方而臥,此勝方即是北方。然南傳長部經未載北方久住之說,故大毘婆沙論所列舉者,或係後世北方迦溼彌羅國之信眾所附會。於我國、日本,特別是願生西方淨土之淨土宗,諸高僧於臨終時,均採頭北面西之姿勢。此外,對一般之死者,亦有所謂北枕而臥之習俗。〔長阿含卷三遊行經、大般涅槃經後分卷上應盡還源品、釋迦譜卷四、續高僧傳卷二十〕
; Theo Kinh Niết Bàn: “Đầu quay về phương bắc, mặt ngoảnh sang phương tây, nằm nghiêng về bên phải, đó là tướng Niết Bàn của Như Lai.” (Bấy giờ Đức Thế Tôn , ba lần nhập thiền định, ba lần dạy bảo tứ chúng xong, người bèn nằm nghiêng trên giường thất bảo, đầu quay về phương bắc, chân chỉ phương nam, mặt ngoảnh sang phương tây, lưng quay về phương đông. Tới nửa đêm, người chứng đệ tứ thiền, tịch nhiên lặng lẽ. Vào lúc ấy trong khoảnh khắc, Ngài chứng Đại Bát Niết Bàn.)—According to The Nirvana Sutra: “Head north face west, lying on the right side, the proper attitude in which to sleep, the position of the dying Buddha.”
; (頭北面西) Tư thế nằm nghiêng hông bên phải sát chiếu, đầu hướng về phương bắc, mặt quay về phương tây, hai chân chồng lên nhau. Đây là tư thế nhập Niết bàn của đức Thích tôn. Luận Đại tì bà sa quyển 191 nói, đức Thích tôn nằm xoay đầu về hướng bắc vì Ngài dự biết sau khi Ngài vào Niết bàn, đuốc pháp vô thượng sẽ cháy rực rỡ ở phương bắc. Lại nữa, Ngài nằm xoay đầu về hướng bắc là muốn tỏ cho thấy rằng căn lành mà Ngài đã phát khởi từ 3 A tăng kì kiếp nay đã tăng trưởng. Nhưng trong Trường bộ kinh Nam truyền không thấy ghi chép những điều trên đây, cho nên những điều mà luận Đại tì ba sa nói, có thể đã do tín chúng đời sau ở nước Ca thấp di la đặt ra. Tại Trung quốc, Nhật bản, các cao tăng, nhất là những vị tu theo tông Tịnh độ, khi lâm chung, đều theo tư thế đầu xoay hướng bắc, mặt nhìn phương Tây. [X. kinh Du hành trong Trường a hàm Q.3; phẩm Ứng tận hoàn nguyên trong kinh Đại bát niết bàn hậu phần Q.thượng; Thích ca phổ Q.4; Tục cao tăng truyện Q.20].
đầu cơ
2951禪林用語。又作逗機。即機機投合之意,指禪師與學人之機,彼此相契;又謂學人徹底大悟而契合佛祖之要機。碧巖錄第二十六則(大四八‧一六七上):「賴值百丈頂門有眼,肘後有符,照破四天下,深辨來風,所以便打,若是別人,無奈他何。這僧以機投機,以意遣意。」 又經由師家之啟發,學人因而開悟,其後將當時所契悟之觀感以偈表示者,稱為投機偈;學人之徹底大悟恰好契當佛祖之要機,而將當時之心境以頌表示者,稱為投機頌。古來禪林間,有關此類之投機偈、投機頌,為數極多,於祖堂集、指月錄、諸傳燈錄等禪籍中隨處可見,堪稱我國禪文學之一大特色。 此外,宋代臨濟宗汾陽善昭禪師將學人對於自己的境界如實提出請示之問法,稱為投機問,為汾陽十八問之一。準此而言,「投機」一語之本義,原為契合、契機等義,然後世多轉指以追求利益為目標而進行具有風險之商業行為,如投機心、投機事業等,已成為現代日常用語。〔人天眼目卷二〕(參閱「汾陽十八問」2980)
; 1) Chụp lấy thời cơ: To avail oneself of an opportunity. 2) Quy-y Phật pháp để tìm cầu giác ngộ: To surrender onself to the principles of the Buddha in search of perfect enlightenment. 3) Những điều cảm nghĩ trong giây phút mở con mắt huệ của các Thiền sinh—This is what a Zen practitioners perceive or feel at the time when their mental eye opened.
; (投機) Cũng gọi Đậu cơ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho cơ của Thiền sư và của người học khế hợp nhau, cũng có nghĩa người học đã triệt ngộ mà khế hợp với yếu cơ của Phật tổ. Bích nham lục tắc 26 (Đại 48, 167 thượng), nói: Nhờ gặp được Bách trượng có con mắt trên đính môn, sau khuỷu tay có bùa, chiếu phá bốn phương thiên hạ, biện biệt tông phong sâu sắc, cho nên mới bị đánh. Nếu là người khác thì không làm gì được y. Vị tăng ấy dùng cơ đầu cơ, dùng ý khiến ý. Ngoài ra, nhờ sự mở bày của Thầy mà người học được tỏ ngộ rồi ngay đó dùng kệ để trình bày sự khế ngộ của mình, gọi là Đầu cơ kệ; khi khế hợp với yếu cơ của Phật tổ mà dùng bài tụng tỏ bày tâm cảnh lúc ấy thì gọi là Đầu cơ tụng. Loại kệ, tụng này được thấy rất nhiều trong các sách Thiền tông như: Tổ đường tập, Chỉ nguyệt lục, các Truyền đăng lục v.v... đó là đặc sắc lớn của văn học Thiền Trung quốc. Lại nữa, Đầu cơ vấn là một trong 18 câu hỏi của thiền sư Phần dương Thiện Chiêu thuộc tông Lâm tế ở đời Tống. Theo như sự trình bày ở trên thì nghĩa gốc của danh từ đầu cơ vốn là khế hợp, khế cơ, nhưng sau này nó được dùng để chỉ cho việc buôn bán có tính cách trục lợi ích kỉ như: Đầu cơ tâm, Đầu cơ sự nghiệp v.v... (xt. Phần Dương Thập Bát Vấn).
đầu cơ kệ
Gatha of enlightenment—Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, rất nhiều thiền sư còn lưu lại những bài thơ gọi là kệ ghi lại những điều cảm nghĩ trong phút giây mở con mắt huệ. Những bài kệ nầy có tên riêng là 'Đầu Cơ Kệ,' ngụ ý giữa thầy và trò có sự tinh ý hợp nhau—According to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book I, some masters have left in the form of verse known as 'gatha' what they perceived or felt at the time when their mental eye was opened. The verse the special name of 'Enlightenment Gatha' which shows the agreement between the master and his followers in enlightenment.
Đầu cơ 投機
[ja] トウキ tōki ||| (1) To seize the opportunity; to get the clue. To see the point. (2) The practitioner's finding the true spirit of Zen. The convergence of the predilections of teacher and student. => Bắt được cơ hội; hiểu được chủ ý. Nhận ra mục đích. Nhận ra được chân tinh thần Thiền của hành giả. Sự khế hợp nhau tâm ý của thầy và trò.
đầu cưu la
Dukula (skt)—Loại vải mịn làm từ vỏ cây Đầu Cưu La—A species of plant, fine cloth made of the inner bark of this plant, silken cloth.
đầu diện tác lễ
Cúi đầu đảnh lễ dưới chân vị tôn giả (theo Trí Độ Luận, trên cơ thể người ta chỗ quý nhất là cái đầu, vì nó ở trên hết, và có năm tình bày tỏ; trong khi chân là bộ phận hạ tiện nhất, vì nó ở dưới cùng và luôn dẫm lên những chỗ bất tịnh. Vì thế để tỏ lòng tôn quý, ta nên lấy cái cao quý nhất của mình để lễ lạy cái hạ tiện nhất của người)—To bow the head and face in worship or reverence, to fall prostrate in reverence.
đầu giác
6362禪林用語。指煩惱之念。又凡夫起有所得之心,稱為頭角生。碧巖錄第九十五則(大四八‧二一八上):「垂示云:『有佛處不得住,住著頭角生;無佛處急走過,不走過,草深一丈。』」〔景德傳燈錄卷二十二〕
; (頭角) Đầu và sừng. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho ý niệm phiền não. Khi phàm phu khởi tâm có chỗ được(có cái để được), gọi là Đầu dác sinh. Bích nham lục tắc 95 (Đại 48, 218 thượng) ghi: Sư dạy rằng: Chỗ nào có Phật thì không được dừng, nếu dừng lại thì đầu dác sinh; chỗ không Phật thì đi qua cho mau, nếu không qua mau thì cỏ cao một trượng. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.22].
đầu hoa
Dâng hoa cúng dường—To cast or offer flowers in worship.
đầu hoa tam muội da
Tam muội thứ nhì trong Ngũ Chủng Tam Muội—The second of the five samadhi—See Ngũ Chủng Tam Muội.
đầu hoa đắc phật
2951又作投花得佛。密教灌頂之時,弟子以帛覆面,投花於曼荼羅上,花所落處之佛,即作為自己之本尊,稱為投華得佛。得彼有緣之佛後,阿闍梨(授戒師)即取花置弟子頂上,象徵大力薩埵攝受其身,令速得成就,教其堅持三摩耶戒,勤誦真言法。 依花之落處,悉地成就亦有不同。如墮於佛頂上,則成就佛頂真言及佛之毫相等諸尊真言;若墮於佛面,則成就佛眼等尊之諸明真言;若墮於佛身之中間部分,即成就諸心真言;若墮於界道上及行道院,即表示此人無決定心,不獲成就。〔金剛頂經卷下、蕤呬耶經卷下分別相品、金剛頂瑜伽中略出念誦經卷四、陀羅尼集經卷四、大日經卷二具緣品、大日經疏卷八、卷十三〕
; (投華得佛) Phép tung hoa để chọn đức Phật Bản tôn. Trong Mật giáo, khi tu pháp Quán đính, hành giả lấy vải che mặt, rồi tung hoa lên những vị Phật trên mạn đồ la, hễ trúng vị Phật nào thì Phật đó là Bản tôn của mình. Nghi thức này gọi là Đầu hoa đắc Phật (tung hoa được Phật). Sau đó, vị A xà lê (Thầy truyền giới) đặt hoa lên đỉnh đầu của đệ tử tượng trưng cho Đại lực Tát đỏa nhiếp thụ thân đệ tử khiến mau thành tựu Tất địa. Cuối cùng vị A xà lê khuyên dạy đệ tử giữ gìn Tam ma da giới và siêng năng trì tụng chân ngôn. Căn cứ vào chỗ hoa rơi mà Tất địa thành tựu cũng có khác nhau. Nếu rơi trên đỉnh đầu đức Phật thì thành tựu chân ngôn Phật đính và chân ngôn hào tướng; nếu rơi trên mặt Phật thì thành tựu chân ngôn của các tôn vị Phật nhãn v.v...; nếu rơi ở khoảng giữa thân Phật thì thành tựu chân ngôn Tâm, nếu rơi trên giới đạo và hành đạo viện thì biểu thị người ấy không có quyết tâm, không được thành tựu. [X. kinh Kim cương đính Q.hạ; phẩm Phân biệt tướng trong kinh Nhuy hi da Q.hạ; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.4; kinh Đà la ni tập Q.4; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.8, Q.13].
đầu hàng
To surrender.
đầu khâm
6364為日本修驗道所用之冠帽。又作頭腙、頭巾、兜巾。其形有二種:(一)大日如來之五智寶冠,表彰五智圓滿之總體,其形為寶珠形之冠帽,稱為頭襟,又稱小頭襟、三瓣冠。其直徑二寸五分,六角形,塗黑漆,以長一尺八寸之布紐,繫縛於頭上約八分。(二)不動明王頂上之八葉蓮華寶冠,其形有螺髮形與滿字形二種。又稱長頭襟、裹頭襟。此外,尚有折頭襟,略稱折襟,分為捲頭襟與下頭襟二種。此類長頭襟沿自印度,為避炎熱,故有以長布捲頭之風習。
đầu kỳ kiếp
Kalpadi (S), Beginning of a kalpa.
đầu mạt hồng phiến
6361日本禪林所用之金面「中啟扇子」。啟,開之意;即兩側之大扇骨自扇子之上半部起各向外側展開。於中啟扇子上頭描繪深紅色之雲形,稱為頭末紅扇。〔禪林象器箋器物門〕
đầu nhiên
6363謂頭髮為火所燃。又作頭然。比喻事情之急迫。經中常借此語比喻不顧他事,一心勤行精進之情態。摩訶止觀卷七上(大四六‧九四上):「眠不安席,食不甘哺,如救頭然,白駒烏兔,日夜奔競,以求出要。豈復貪著世財,結構諸有,作無益事,造生死業耶?」〔佛藏經卷下淨見品、大乘本生心地觀經卷五、觀經疏定善義卷三、敕修百丈清規卷六龜鏡文〕
; (頭燃) Đầu tóc bị cháy. Ví dụ tình huống cấp bách. Ma ha chỉ quán quyển 7 phần trên (Đại 46, 94 thượng), nói: Ngủ không yên giấc, ăn không ngon miệng, như cứu đầu cháy, thời gian trôi qua mau, vì cầu xuất li, há lại tham đắm tài lợi thế gian, gây nhân trong 3 cõi, làm các việc vô ích, tạo nghiệp sinh tử ư? [X. phẩm Tịnh kiến trong kinh Phật tạng Q.hạ; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.5; Quán kinh sớ định thiện nghĩa Q.3; Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.6 Qui kính văn].
đầu phá thất phần
6363謂受鬼神責打,頭破作七分。據法華經陀羅尼品載,藍婆、華齒等羅剎女,於佛陀之前誓願擁護誦讀受持法華經者,並不令惱亂者得逞,即說偈言(大九‧五九中):「若不順我咒,惱亂說法者,頭破作七分,如阿梨樹枝。」
; (頭破七分) Đầu vỡ làm 7 phần. Cứ theo phẩm Đà la ni trong kinh Pháp hoa nói, thì các La sát nữ tên Lam bà, Hoa xỉ v.v... ở trước đức Phật phát nguyện ủng hộ những người đọc tụng, thụ trì kinh Pháp hoa và không để cho kẻ não loạn đạt được mục đích, liền nói kệ rằng (Đại 9, 59 trung): Nếu không thuận thần chú. Quấy nhiễu người nói pháp. Đầu vỡ làm bảy phần. Như cành cây A lê.
đầu phần
6364鐼,即鐼子,為禪林進食盛羹之淺鉢,分為大、中、小三個,其中之大者,即稱頭鐼。禪苑清規卷一赴粥飯(卍續一一一‧四四一下):「只展三鉢,次開袋,取匙筯,安橫於頭鐼之後。」〔翻譯名義集卷七、禪林象器箋器物門〕(參閱「鐼子」6881)
đầu phục
To surrender—To submit.
đầu quang
6362指佛菩薩頭頂上所放之圓輪光相。為光背之一種。又稱圓光。最古老形式僅以圓輪顯光相,後以蓮花、連弧紋等配飾,更複雜者有中央作蓮花,周圍浮雕層層之忍冬紋、寶繩紋等。此於印度阿旃多石窟第十九號窟殿之壁畫、秣菟羅博物館所藏之釋迦石像等皆可見之。(參閱「後光」3803)
; Ánh sáng trên đỉnh đầu Đức Phật và các vị La Hán (cũa một bức tượng)—The halo or nimbus on or round the head of the Buddha and Arhats (of an image).
; (頭光) Vòng tròn sáng tượng trưng cho hào quang phát ra từ đỉnh đầu của chư Phật, Bồ tát. Cũng gọi Viên quang. Hình thức xưa nhất chỉ dùng vòng tròn làm tướng ánh sáng, về sau dùng hoa sen và những hoa văn hình vòng cung nối tiếp nhau để trang sức; còn những hình tướng phức tạp thì ở giữa làm hoa sen, chung quanh khắc nổi những lớp hoa văn bảo thằng... Loại hoa văn này được thấy trên các bức bích họa trong hang 19 của động đá A chiên đa tại Ấn độ và tượng đá Thích ca tàng trữ ở viện Bảo tàng nước Mạt nâu la (Phạm: Mathùra). (xt. Hậu Quang).
đầu thai
Thân nầy chết, thân kia sanh. Chúng sanh sanh tử vì nghiệp lực—Transmigation—Reincarnation—The passing away from one body to be reborn in another body. Where the being will be reborn depends on his accumulated good or bad karma.
đầu thân
Tự ném mình hay tự chế mình (trong tu tập)—To cast away, or surrender one's body or oneself.
đầu thượng an đầu
6361禪林用語。比喻事之重複多遍而無必要。與「雪上加霜」、「錦上鋪花」同義。碧巖錄第三十四則(大四八‧一七三上):「白雲重重(千重百匝,頭上安頭)。」
; (頭上安頭) Trên đầu thêm đầu. Đồng nghĩa với Tuyết thượng gia sương (trên tuyết thêm sương), Cẩm thượng phô hoa (trên gấm thêu hoa). Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trên đầu lại chồng thêm đầu là ví dụ việc làm thừa thãi không cần thiết. Bích nham lục tắc 34 (Đại 48, 173 thượng), nói: Mây trắng trùng trùng, trăm tầng nghìn lớp, đầu lại thêm đầu.
đầu thủ
6363禪林中,列於西序之主要職位,其職權在於統理大眾。相對於東序之知事而言,西序之首座、書記、藏主、知客、浴主、庫頭統稱六頭首。其後,庫頭升為副寺知事位,而由知殿代之。上記之六頭首為二種六頭首職稱之一。〔敕修百丈清規卷四西序頭首、禪苑清規卷三請頭首〕(參閱「六頭首」1311)
; Nhà chùa chia các dịch Tăng ra làm hai ban, “Đầu Thủ” là vị sư trông coi công việc trong chùa, văn phòng nằm về phía tây của tự viện, ngang hàng với “Tri Sự” (tri sự là vị Tăng trông coi Đông Ban), chỉ dưới quyền trụ trì (các vị Tiền Đường Thủ Tọa, và Hậu Đường Thủ Tọa đều là Đầu Thủ)—The chief monk or director of affairs in a monastery, next below the abbot, whose office locates on the west side or western band of the monastery.
; (頭首) Chức vị chủ yếu của Tây tự trong Thiền lâm,quyền của vị này là thống lãnh đại chúng. [X. điều Tây tự đầu thủ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4; Thỉnh đầu thủ trong Thiền uyển thanh qui Q.3].
đầu thủ tri sự
1) See Đầu Thủ. 2) See Tri Sự.
đầu tụ
6363指比丘用以禦寒之帽子。又作頭巾、帽子、禪巾、菩薩巾。廣為禪家所用。據大比丘三千威儀所載,於入室、禮他、事師時,須除下頭巾。以頭巾之形狀似衣袖,故稱頭袖。據徑山無準和尚入內引對陞座語錄載,唐代宗曾宣召徑山國一禪師,適遇天寒,帝以銷金龍袖覆其頂,後遂以龍袖為帽。禪苑清規卷二上堂(卍續一一一‧四四三下):「大眾赴參,不得戴帽子頭袖。」〔四分律卷四十、景德傳燈錄卷十七疎山光仁、敕修百丈清規卷一聖節、卷六大坐參〕
; Đầu tay áo—Head-sleeve.
; (頭袖) Cũng gọi Đầu cân, Mạo tử, Thiền cân, Bồ tát cân. Chiếc mũ tỉ khưu đội để tránh rét. Cứ theo Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi chép, thì tỉ khưu khi vào nhà, lễ người khác hoặc hầu thầy phải giở Đầu cân (mũ đội đầu). Vì hình dáng Đầu cân giống như tay áo nên cũng gọi Đầu tụ. Cứ theo Kính sơn Vô chuẩn hòa thượng nhập nội dẫn đối thăng tòa ngữ lục chép, thì một hôm vua Đại tông nhà Đường thỉnh thiền sư Kính sơn Quốc nhất vào cung, gặp lúc trời lạnh, vua dùng tay áo long bào trùm lên đầu sư, về sau, theo tích ấy, mũ mới có hình dáng tay áo mà gọi là Đầu trụ. Điều Thướng đường trong Thiền uyển thanh qui quyển 2 (Vạn tục 111, 443 hạ), nói: Đại chúng đến tham lễ, không được đội Đầu tụ. [X. luật Tứ phần Q.40; Sơ sơn quang nhân trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.17; điều Thánh tiết trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1; điều Đại tọa tham Q.6].
đầu tử
T'ou-Tzu. 1) Tên của một ngọn đồi và tự viện: Name of a hill and monastery. 2) Tên của Thiền Sư nổi tiếng Nghĩa Thanh tại núi Thư Châu: Nam of a famous monk I-Ch'ing at Shu-Chou mountain—See Nghĩa Thanh Thiền Sư.
Đầu Tử Hòa Thượng Ngữ Lục
(投子和尚語錄, Tōsuoshōgoroku): 1 quyển, do Đầu Tử Đại Đồng (投子大同) soạn, được san định vào năm thứ 2 (961) niên hiệu Kiến Long (建隆). Với tư cách là Ngữ Lục của Đầu Tử Đại Đồng, tác phẩm này thâu lục những lời thị chúng và vấn đáp, v.v. Nó được thâu lục vào trong Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu (古尊宿語要) 1 và Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄) 36.
Đầu Tử Nghĩa Thanh
(投子義清, Tōsu Gisei, 1032-1083): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Thanh Châu (青州, Tỉnh Sơn Đông). Năm lên 7 tuổi, ông xuất gia ở Diệu Tướng Tự (妙相寺), đến năm 15 tuổi thì thọ giới. Trong khoảng thời gian này, ông học Bách Pháp Luận (百法論) và thông hiểu Kinh Hoa Nghiêm. Sau ông đến tham vấn Phù Sơn Pháp Viễn (浮山法遠, tức Viên Giám) ở Thánh Nham Tự (聖巖寺), trở thành nhân vật nổi tiếng trong số môn hạ của Viên Giám, nên được gọi là Thanh Hoa Nghiêm (清華嚴). Sau đó, ông khế ngộ yếu chỉ của Pháp Viễn, được trao truyền cho tấm y của Đại Dương Cảnh Huyền (大陽警玄) và kế thừa dòng pháp của vị này. Từ đó ông trở thành môn hạ của Tào Động Tông. Về sau, ông đến Lô Sơn (廬山), duyệt đọc các kinh luận, rồi đến năm thứ 6 (1073) niên hiệu Hy Ninh (熙寧) thì trở về Thư Châu (舒州) và sống tại Hải Hội Thiền Viện (海會禪院) trên Bạch Vân Sơn (白雲山). Trãi qua nơi đây được 8 năm, ông lại chuyển đến Đầu Tử Sơn (投子山). Vào ngày mồng 4 tháng 5 năm thứ 6 (1083) niên hiệu Nguyên Phong (元豐), ông thị tịch, hưởng thọ 52 tuổi đời và 32 hạ lạp. Trước tác của ông có Thư Châu Đầu Tử Thanh Hòa Thượng Ngữ Lục (舒州投子清和尚語錄) 2 quyển, Đầu Tử Thanh Hòa Thượng Ngữ Yếu (投子清和尚語要) 1 quyển.
; 頭子義青; C: tóuzǐ yìqīng; J: tōsu gisei; ?-1083;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Tào Ðộng, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Phù Sơn Pháp Viễn (Thánh Nham Viên Giám, thuộc tông Lâm Tế) nhưng lại được xem là người nối pháp Thiền sư Thái Dương Cảnh Huyền. Môn đệ xuất sắc của Sư là Phù Dung Ðạo Khải.|Sư họ Lí, quê ở Thanh Ðỗ, xuất gia tại chùa Diệu Tướng. Học luận Bách pháp chẳng bao lâu, Sư tự than: »Con đường ba a-tăng-kì xa xôi, tự giam hãm nào có ích gì!« và du phương, tham vấn các vị Thiền sư.|Sư đến hội Thánh Nham của Thiền sư Phù Sơn Pháp Viễn (Viên Giám, Thiền sư thuộc tông Lâm Tế, nối pháp Diệp Huyện Quy Tỉnh). Ðêm trước khi Sư đến, Thiền sư Viễn đã nằm mộng thấy có nuôi một con chim ưng sắc xanh, cho đấy là một điềm lành và sáng hôm sau, Sư đến yết kiến. Thiền sư Viễn cho Sư lấy câu »Ngoại đạo hỏi Phật: Chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi không lời.« Sư khán thoại đầu này qua ba năm, một hôm, Viễn hỏi: »Ngươi ghi được thoại đầu chăng? Thử nêu ra xem!« Sư suy nghĩ đáp lại liền bị Viễn bụm miệng, hoát nhiên có ngộ nhập. Viễn bảo Sư: »Ngươi diệu ngộ huyền cơ chăng?« Sư thưa: »Nếu có cũng phải mửa bỏ.« Thị giả đứng cạnh thấy vậy nói: »Hoa Nghiêm Thanh ngày nay như bệnh được ra mồ hôi.« Sư ngó lại bảo: »Ngậm lấy miệng chó! Nếu còn lải nhải lăng xăng, ta buồn nôn.«|Sau đó ba năm, Sư được Viễn đem tông chỉ của tông Tào Ðộng giao phó. Sau khi trao giày và y của Thái Dương Cảnh Huyền cho Sư, Pháp Viễn dặn dò: »Ngươi thay ta nối dòng tông Tào Ðộng không nên ở đây lâu, phải khéo hộ trì« và khuyên đến Thiền sư Viên Thông Pháp Tú – một vị thuộc Vân Môn tông – nương tựa.|Ðến Viên Thông, Sư không thưa hỏi gì, chỉ ăn xong rồi ngủ. Thị giả thấy vậy liền trình cho Viên Thông hay. Viên Thông thấy vậy bảo Sư: »Trong đây tôi không có cơm dư cho Thượng toạ.« Sư thưa: »Vậy Hoà thượng dạy tôi phải làm gì?« Viên thông bảo: »Sao chẳng tham thiền?« Sư bảo: »Món ăn ngon không cần đối với người bụng no.« Viên Thông lại bảo: »Tại sao có nhiều người không chấp nhận Thượng toạ?« Sư thưa: »Ðợi họ chấp nhận để làm gì?« Viên Thông hỏi: »Thượng toạ gặp ai rồi đến đây?« Sư thưa: »Phù Sơn.« Viên Thông bèn nói: »Lạ! Ðược cái gì mà lười biếng?« rồi cười, trở về phương trượng.|Sư ban đầu trụ tại Bạch Vân, sau dời đến Ðầu Tử. Sư thượng đường dạy: »Nếu luận việc này như loan phụng bay giữa hư không chẳng để dấu vết, như con linh dương treo sừng ai tìm được dấu chân. Rồng vàng chẳng giữ đầm lạnh, thỏ ngọc đâu gá bóng trăng. Nếu lập chủ khách thì phải ngoài cõi Uy Âm lay đầu, hỏi đáp nói bày vẫn là bên lề huyền lộ đề xướng. Nếu hay như thế vẫn còn ở giữa đường. Nếu đứng nhìn sững chẳng nhọc nhìn thấy nhau.«|Ngày mùng bốn tháng năm, năm thứ sáu niên hiệu Nguyên Phong, Sư tắm rửa từ biệt chúng và viết kệ:|兩處住持。無可助道。珍重諸人。不須尋討|Lưỡng xứ trụ trì, vô khả trợ đạo|Trân trọng chư nhân, bất tu tầm thảo.|*Trụ trì hai nơi, không thể trợ đạo|Trân trọng các ngươi, chẳng cần tìm kiếm.|Viết xong, Sư ném bút thị tịch.
đầu tử nghĩa thanh
Tōsu gisei (J)Tên một vị sư.
đầu tử nghĩa thanh thiền sư ngữ lục
2951請參閱 投子大同禪師語錄 請參閱 投子義青禪師語錄 凡二卷。又作舒州投子青禪師語錄、投子青和尚錄、妙續大師語錄。宋代投子義青禪師撰,自覺重編。收於卍續藏第一二四冊。編集白雲山海會禪院語錄、投子山勝因禪院語錄、師答同霖十問、五位頌並序、五位偏正謠、四賓主、偈、頌古公案一百則等。 卍續藏第一二四冊另收有道楷所編之舒州投子山妙續大師語錄一卷,亦作投子義青禪師語錄。僅集錄上堂示眾語要二十五條,及丹霞子淳所撰之義青略傳一篇。
; (投子義青禪師語錄) Gồm 2 quyển. Cũng gọi Thư châu Đầu tử Thanh thiền sư ngữ lục. Đầu tử Thanh hòa thượng lục, Diệu tục đại sư ngữ lục, do thiền sư Đầu tử Nghĩa thanh soạn vào đời Tống, ngài Tự giác biên lại, thu vào Vạn tục tạng tập 124. Nôi dung thu chép: - Ngữ lục ở Thiền viện Hải nội núi Bạch vân. - Ngữ lục ở Thiền viện Thắng nhân núi Đầu tử. - Trả lời 10 câu hỏi của sư Đồng lâm. - Ngũ vị tụng và lời tựa. - Ngũ vị thiên chính dao. - Tứ tân chủ, kệ, 100 tắc cổ tụng công án. Ngoài ra, trong Vạn tục tạng tập 124 còn có bộ Thư châu Đầu tử sơn Diệu tục đại sư ngữ lục 1 quyển, cũng gọi Đầu tử Nghĩa thanh thiền sư ngữ lục do ngài Đạo khải biên soạn. Nội dung chỉ có 25 điều ngữ yếu dạy chúng và phụ thêm phần lược truyện của ngài Nghĩa thanh do thiền sư Đan hà Tử thuần viết.
đầu tử ngưu tại
2951禪宗公案名。為唐代舒州投子大同禪師與一婆子之機緣問答。禪苑蒙求卷中(卍續一四八‧一二四下):「舒州投子山大同禪師,因一婆上山云:『家中失卻牛,請師一卜。』師召婆,婆應諾。師云:『牛在!』婆乃歡喜而去。」 此則公案旨在揭示人人本具之面目非外求所可得者。公案中之「牛」即喻指本來之面目、眾生本具之佛性。婆子「失卻牛」,請投子占卜;投子則藉一聲叫喚點醒婆子「牛在」,概謂本來之面目何曾走失,佛性本即存於吾人自心之中,故無須再往外去覓尋問求。
; (投子牛在) Đầu tử trâu đây. Công án trong Thiền tông. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa một bà lão và thiền sư Đại đồng ở núi Đầu tử tại Thư châu vào đời Đường. Thiền uyển mông cầu quyển trung (Vạn tục 148, 124 hạ) chép: Có một bà lão hỏi thiền sư Đại đồng ở núi Đầu tử rằng: - Nhà tôi vừa mất con trâu, xin sư bói cho một quẻ. Sư gọi: Bà lão! Bà lão liền dạ. Sư nói: - Trâu đây này! Bà lão vui mừng xuống núi. Trong công án này, trâu dụ cho bản lai diện mục, chúng sinh vốn đủ tính Phật, thường ở trong tự tâm, không đi đâu mà mất, không thể tìm cầu bên ngoài mà được, cho nên không cần phải hỏi ai, hễ tỉnh thức sẽ thấy.
đầu tử nhất thiết phật thanh
2949禪宗公案名。又作投子一切聲、投子佛聲、麤言細語,粗言細語。乃投子大同禪師寄一切佛聲之問,打破文字執著之一切計較分別。碧巖錄第七十九則(大四八‧二○五中):「僧問投子:『一切聲是佛聲,是否?』投子云:『是。』僧云:『和尚莫蕲沸、碗鳴聲!』投子便打。又問:『麤言及細語皆歸第一義,是否?』投子云:『是。』僧云:『喚和尚作一頭驢得麼?』投子便打。」 蓋僧舉出「一切聲皆是佛聲」及南本大般涅槃經卷十八梵行品所載「粗語及軟語皆歸第一義」二句,問其義之對錯,投子均予以肯定之答覆,拈提「即文字之平等一味之禪」之旨,但僧執著文句,墮於惡平等之見,乃以蕲沸、碗鳴聲亦是佛聲,呼和尚為一頭驢亦歸第一義來反問投子,投子為使僧放下偏執,遂予一打。〔禪宗頌古聯珠通集卷二十五、聯燈會要卷二十一、五燈會元卷五〕
; (投子一切佛聲) Công án trong Thiền tông. Cũng gọi Đầu tử nhất thiết thanh, Đầu tử Phật thanh, Thô ngôn tế ngữ. Bích nham lục tắc 79 (Đại 48, 205 trung), chép: Tăng hỏi thiền sư Đầu tử: - Tất cả âm thanh là Phật thanh, phải không Đầu tử đáp: Phải! Tăng nói: Hòa thượng đừng làm tiếng hạ phong, tiếng bát khua nhé! Đầu tử liền đánh. Tăng lại hỏi: Tiếng tục và lời thanh đều qui về đệ nhất nghĩa, phải không? Đầu tử đáp: Phải! Tăng hỏi: Vậy gọi Hòa thượng là con lừa được không? Đầu tử liền đánh. Vị tăng trong công án này còn cố chấp vào chữ nghĩa, câu văn nên bị thiền sư Đầu tử đánh để cảnh giác.
đầu tử sơn
2950位於安徽省西南部揚子江沿岸。山中有投子寺。唐宋之際,此地稱為舒州,大同禪師曾居此山,舉揚宗風三十餘年。宋神宗熙寧八年(1075),義青禪師至此山,大揚曹洞宗風,元豐六年(1083)於此遷化。(參閱「義青」5569)
; (投子山) Núi nằm dọc theo bờ sông Dương tử phía tây nam tỉnh An huy, Trung quốc. Trong núi có chùa Đầu tử, là đạo tràng hoằng dương Thiền pháp của thiền sư Đại đồng đời Đường và thiền sư Nghĩa thanh đời Tống. Ngài Nghĩa thanh thị tịch ở núi này vào năm 1083. (xt. Nghĩa Thanh).
đầu tử thiền sư
1) Zen master T'ou-Tzi—See Đại Đồng Thiền Sư. 2) Zen Master T'ou-Tzi-Yi-Qing—See Nghĩa Thanh Thiền Sư.
đầu tử thập thân điều ngự
2950禪宗公案名。為唐代舒州投子大同禪師與一僧論及佛身之機緣問答。聯燈會要卷二十一(卍續一三六‧三八八上):「僧問:『如何是十身調御?』師下繩床立。又問:『凡聖相去多少?』師亦下繩床立。」 上引之中,十身調御,即指佛身;繩床,即指禪床。於公案中,僧問投子何謂佛身,投子下禪床叉手而立,僧以為叉手而立所顯現者應屬凡夫之境地,如此則不知凡與聖(佛身)究竟有何差距,遂又問以「凡聖相去多少」,然投子仍是下禪床叉手而立,既不多言其他,所答之方式與前一問題亦無二致。蓋投子之意,乃在顯示凡聖之究竟等同一致,若謂凡聖應有距離、殊異,而生起種種分別思量之心,則徒增透脫了達之障礙,故知悟道之關鍵實在於自己之一心而已。
; (投子十身調禦) Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa một vị tăng và thiền sư Đại đồng về thân Phật. Liên đăng hội yếu quyển 21 (Vạn tục 136, 388 thượng) chép: Thế nào là 10 thân điều ngự? Sư xuống võng đứng. Tăng lại hỏi: Phàm thánh cách nhau bao xa? Sư cũng xuống võng đứng. Cử chỉ của thiền sư Đầu tử xuống võng đứng hai lần là biểu thị phàm Thánh rốt ráo là bình đẳng. Nếu còn thấy phàm Thánh cách xa, sai khác thì đó là tâm so đo phân biệt, chướng ngại cho sự ngộ đạo.
Đầu Tử Ðại Ðồng
投子大同; C: tóuzǐ dàtóng; J: tōsu daidō; 819-914;|Thiền sư Trung Quốc, đắc pháp nơi Thuý Vi Vô Học. Sư được nhắc lại trong Công án 41, 79, 80 và 91 của Bích nham lục.|Sư họ Lưu, quê ở Hoài Ninh, Thư Châu. Thuở nhỏ, Sư xuất gia với Thiền sư Mãn ở Bảo Ðường. Sư xem kinh Hoa nghiêm bỗng dưng có tỉnh và sau đó đến pháp hội của Thiền sư Vô Học. Một hôm, Sư hỏi Thuý Vi: »Thầy làm sao chỉ mật ý của Tổ sư từ phương Tây sang?« Thuý Vi yên lặng giây lát. Sư nói: »Thỉnh Thầy vì con nói!« Thuý Vi bảo: »Ngươi muốn ta đổ một gáo nước bẩn thứ hai lên đầu ư?« Sư nhân đây Ðại ngộ, quì làm lễ rồi lui. Sau nhiều năm du phương và đọ sức với các vị Thiền sư khác, Sư dừng chân tại núi Ðầu Tử lập một cái am tên là Tịch Trụ. Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm có đến đây và sau khi tin này lan ra, học chúng đua nhau đến.|Sư bảo chúng: »Các ngươi đến đây nghĩ tìm ngôn ngữ hay đẹp, góp lời văn vẻ, trong miệng quý có nói ra. Lão già này khí lực yếu kém, môi lưỡi chậm lụt. Nếu các ngươi hỏi ta, ta tuỳ câu hỏi mà đáp. Ðối đáp không có gì huyền diệu có thể kịp cùng ngươi, cũng không dính gì đến tai ngươi. Trọn không nói hướng thượng hướng hạ, có Phật có Pháp, có phàm có thánh. Trong chỗ các ngươi bị trói buộc, biến hiện ngàn thứ, thảy đều khiến các ngươi sinh hiểu rồi tự mang gánh lấy, sau này tự làm tự chịu. Trong ấy không có gì cho các ngươi, chẳng dám lừa dối các ngươi, không ngoài, không trong, có thể nói được na ná. Các ngươi lại biết chăng?« |Có vị tăng hỏi Triệu Châu: »Trẻ con mới sinh có đủ sáu Thức chăng?« Triệu Châu trả lời: »Trên dòng nước chảy xiết, đá bóng.« Vị tăng này đến hỏi Sư: »Trên dòng nước chảy xiết, đá bóng, nghĩa là sao?« Sư đáp: »Niệm niệm chẳng tạm dừng.« (Bích nham lục 80).|Một vị tăng hỏi Sư: »Tất cả tiếng đều là tiếng Phật phải chăng?« Sư đáp: »Phải.« Tăng thưa: »Hoà thượng chớ cho tiếng hạ phong, tiếng khua bát.« Sư liền đánh. Tăng lại hỏi: »Lời thô tiếng tế đều là đệ nhất nghĩa phải chăng?« Sư đáp: »Phải.« Tăng thưa: »Gọi Hoà thượng là con lừa được chăng?« Sư liền đánh (Bích nham lục 79).|Sư trụ ở Ðầu Tử hơn ba mươi năm, khách đến học hỏi đầy thất. Sư dùng biện tài tuỳ cơ ứng đáp, giặc nghe còn phải gác đao kiếm hàng phục giải tán|Thời Ngũ Ðại, niên hiệu Càn Hoá năm thứ tư, Sư có chút bệnh. Chúng muốn rước thầy thuốc, Sư cản nói: »Ðộng tác của Tứ đại chủng hợp tan là phép thường, các ngươi chớ lo, ta tự giữ lấy.« Nói xong Sư an nhiên ngồi kết già thị tịch, thọ 96 tuổi. Vua ban hiệu là Từ Tế Ðại sư, tháp hiệu Chân Tịch.
Đầu Tử Đại Đồng
(投子大同, Tōsu Daidō, 819-914): pháp từ của Thúy Vi Vô Học (翠微無學), con nhà họ Lưu (劉) ở Hoài Ninh (懷寧), Thư Châu (舒州, Tỉnh An Huy). Ông xuất gia hồi còn nhỏ, ban đầu đọc Kinh Hoa Nghiêm, nhân đó thấy rõ tánh hải, sau đến tham yết Thúy Vi và ngộ được huyền chỉ. Về sau, ông đi châu du đó đây, rồi trở về quê cũ và ẩn cư ở Đầu Tử Sơn (投子山). Ông có gặp Triệu Châu (趙州) ở Huyện Đồng Thành (桐城縣) và cùng nhau hàn huyên Phật pháp. Ông trú tại Đầu Tử Sơn hơn 30 năm trường. Đến ngày mồng 6 tháng 4 năm thứ 4 (914) niên hiệu Càn Hóa (乾化), ông ngồi an nhiên mà thoát hóa, hưởng thọ 96 tuổi, và được ban thụy hiệu là Từ Tế Đại Sư (慈濟大師).
đầu tử đại đồng
Touzi Datung (C).
; Tou-tzu Tai-tung (S), Tosu Daido, Touzi Datung (C), Tōsu Daidō (J)(819-914). Đệ tử của Thúy-vi Vô-họcĐệ tử và truyền nhân giáo pháp của Thuý Vi Vô Học.
đầu tử đại đồng thiền sư ngữ lục
2950全一卷。又作慈濟禪師語錄、投子和尚語錄。唐代投子大同禪師撰,宋太祖建隆二年(961)刊定。收於卍續藏第一一八冊古尊宿語錄卷三十六。內容有大同於舒州桐城縣投子山寂住院上堂、示眾語要,參問其師翠微之語要,與雪峰、趙州、太守尹建峰等之機緣問答,以及向黃巢亂黨諄諄說法,致使賊人脫衣布施之逸話等。大同之提撕極嚴峻,直指學道之機要。
; (投子大同禪師語錄) Có 1 quyển. Cũng gọi Từ tế thiền sư ngữ lục, Đầu tử hòa thượng ngữ lục, do thiền sư Đầu tử Đại đồng soạn vào đời Đường, ấn hành vào năm 961 đời Tống, được đưa vào phần Cổ tôn túc ngữ lục quyển 36 trong Vạn tục tạng tập 118. Nội dung ghi chép các bài giảng pháp, lời dạy chúng của thiền sư Đại đồng ở viện Tịch trụ, núi Đầu tử, huyện Đồng thành, Thư châu, những ngữ yếu của sư phụ ngài là thiền sư Thúy vi, cùng với cơ duyên vấn đáp giữa các ngài Tuyết phong, Triệu châu v.v... và những lời thuyết pháp cảm hóa đồ đảng Hoàng sào khiến họ bỏ áo bố thí. Trong bộ lục này, thiền sư Đại đồng đã chỉ thẳng cái cơ yếu cho người học đạo.
đầu uyên
Một trong sáu khổ hạnh ngoại đạo, tự ném mình xuống vực sâu với hy vọng vãng sanh cõi trời—To cast oneself into an abyss, hoping for eternal life, one of the six duskara-carya (ascetic practices) of the externalists.
đầu uyên ngoại đạo
2951為古代印度六種苦行外道之一。此類外道於凍寒中投身於深淵而作苦行,以為生天之因。
; See Đầu Uyên.
; (投淵外道) Ngoại đạo gieo mình xuống vực sâu. Một trong 6 phái ngoại đạo khổ hạnh ở Ấn độ đời xưa. Ngoại đạo này cho rằng vào mùa đông giá rét trầm mình xuống vực sâu là nhân được sinh lên cõi trời.
đầu đà
6362梵語 dhūta,巴利語同。謂去除塵垢煩惱。苦行之一。又作杜荼、杜多、投多、偷多、塵吼多。意譯為抖擻、抖腖、斗藪、修治、棄除、沙汰、浣洗、紛彈、搖振。意即對衣、食、住等棄其貪著,以修鍊身心。亦稱頭陀行、頭陀事、頭陀功德(梵 dhūta-guṇa)。 對日常生活所立如下之十二種修行規定,即稱十二頭陀行:(一)在阿蘭若處,離世人居處而住於安靜之所。(二)常行乞食。(三)次第乞食,乞食時不分貧富之家,而沿門托鉢。(四)受一食法,一日一食。(五)節量食,指不過食,即鉢中只受一團飯。(六)中後不得飲漿,中食之後,不再飲漿。(七)著弊衲衣,穿著廢棄布所作之襤褸衣。(八)但三衣,除三衣外,無多餘之衣。(九)塚間住,住於墓地。(十)樹下止。(十一)露地坐,坐於露天之地。(十二)但坐不臥,即常坐。 行頭陀,或遊歷諸方時,大乘比丘所常攜帶之十八種道具,稱為頭陀十八物,簡稱十八物。至後世,頭陀行則轉為巡歷山野而能耐艱苦之行腳修行之意,或特指乞食之行法而言。行腳時,為防所用衣物染污而攜帶之盛物袋,稱為頭陀袋。後來埋葬死者時,掛其胸前,裝盛死者旅途用具之袋,亦稱為頭陀袋。〔十二頭陀經、善見律毘婆沙卷六、顯揚聖教論卷十三、大乘義章卷十五、慧琳音義卷四十七〕
; Dhudaṅga (P), DhŪta (S, P)Đào thải, Tu trịPhủi bỏ trần cấu của phiền não khiến cầu Phật đạo. Hạnh đầu đà có 13 mục: - Tỳ kheo mặc y bằng vải đo lượm được - Tỳ kheo chỉ mặc Tam y mà thôôi. - Tỳ kheo chỉ ăn vật thực mà mình đi xin. - Tỳ kheo phải khất thực từng nhà. - Tỳ kheo phải ngồi một chỗ mà ăn, đứng dậy thì hết ăn. - Tỳ kheo chỉ được ăn vật thực trong bát xin được. - Tỳ kheo không được ăn ngoài giờ ngọ. - Tỳ kheo phải ở nơi rừng vắng. - Tỳ kheo phải ở nơi cội cây. - Tỳ kheo phải đứng và ngôi nơi chỗ trống chứ không được ở trong chỗ có bóng mát. - Tỳ kheo ở nơi mồ mả. - Tỳ kheo ở nơi có giáo hội định. - Tỳ kheo đứng và ngôi từ mặt trời lặn đến mặt trời mọc chứ không được nằm.
; Dhudanga (P).
; Dhutanga or Dhuto (p)—Dhuta (skt)—Mendicant conducts—Đỗ Đa—Đỗ Trà—An ascetic—A monk engaged in austerities—Tu hành khổ hạnh hay phép tu tẩy rửa, rũ sạch ba loại tham trước về quần áo, đồ ăn, và nơi ở. Hạnh Đầu Đà bao gồm 12 hạnh và luật cho người tu theo pháp “Khất Thực”—Hard practice or discipline to shake off or cleanse sins. To get rid of the trials of life; discipline to remove them and attain nirvana. To practise or to cultivate to release from ties to clothing, food, and dwelling. Mendicant conducts include twelve conducts and precepts which those who practice the Dharma of “Food Begging” must accord to. ** For more information, please see Thập Nhị Đầu Đà.
; (頭陀) Phạm, Pàli: Dhùta. Dịch âm: Đỗ đồ, Đỗ đa, Đầu đa, Thâu đa, Trần hống đa. Dịch ý: Sửa trị, trừ khử, rũ bỏ, đãi lọc, rửa tẩy... nghĩa là tẩy sạch phiền não nhớp nhúa, trừ diệt tham sân si, một trong những hạnh khổ tu. Cũng gọi Đầu đà hạnh, Đầu đà sự, Đầu đà công đức (Phạm:dhùta-guịa). Người tu hạnh đầu đà phải tuân thủ 12 hạnh sau đây: 1. Ở A lan nhã: Tránh xa chỗ đông người não nhiệt, chọn nơi yên tĩnh, vắng vẻ. 2. Thường hành khất thực: Thường đi xin ăn. 3. Thứ đệ khất thực: Theo thứ tự đi từng nhà mà xin, không phân biệt nghèo giầu. 4. Thụ nhất thực pháp: Ngày ăn một bữa. 5. Tiết lượng thực: Không ăn quá nhiều, chỉ ăn một nắm cơm trong bát. 6. Trung hậu bất đắc ẩm tương: Sau bữa ăn chính ngọ, không được uống nước trái cây. 7. Trước tệ nạp y: Mặc ca sa chắp vá bằng những mụn giẻ bỏ đi. 8. Đãn tam y: Chỉ giữ 3 tấm áo, không được có thừa. 9. Trủng gian trụ: Ở nơi nghĩa địa. 10. Thụ hạ chỉ: Ngủ nghỉ dưới gốc cây. 11. Lộ địa tọa: Ngồi chỗ đất trống. 12. Đãn tọa bất ngọa: Thường ngồi không nằm. [X. kinh Thập nhị đầu đà; Thiện kiến luật tì bà sa Q.6; luận Hiển dương thánh giáo Q.13; Đại thừa nghĩa chương Q.15; Tuệ lâm âm nghĩa Q.47].
đầu đà giới hạnh
Dhutaguṇa (S), Dhuta rules Mười hai hạnh đầu đà.
; dhutanga (S), Dhutaguṇa.
; Dhuta rules.
đầu đà thập bát vật
6362指比丘於修行生活中所使用之十八種道具。即楊柳枝、澡豆(洗粉)、三衣(僧伽梨、鬱多羅僧、安陀會)、水瓶、鉢、坐具、錫杖、香爐、奩(香匣)、漉水囊、手巾、刀子(小刀)、火燧、鑷子、繩床、經律、佛像、菩薩像等十八種頭陀使用之物。與律中所列舉比丘用之十三資具衣有別。〔梵網經卷下〕(參閱「十三資具衣」367)
; (頭陀十八物) Mười tám vật dụng mà tỉ khưu dùng trong đời sống tu hành hàng ngày. Đó là: Cành dương liễu (tăm xỉa răng), tháo đậu (xà phòng), ba áo (Tăng già lê, Uất đa la tăng, An đà hội), bình đựng nước, bát, tọa cụ, tích trượng, lư hương, hộp đựng hương, túi lọc nước, khăn tay, dao cạo tóc, đá lửa, cái nhíp, chiếc võng, kinh luật, tượng Phật, tượng Bồ tát v.v... Mười tám vật kể trên khác với 13 tư cụ ycủa tỉ khưu được liệt kê trong luật Tứ phần. (xt. Thập Tam Tư Cụ Y).
đầu đà viên kị
6363又作冷照忌、阿圓忌、本然忌、清淨忌、本然清淨忌。指亡者之遺族於亡者死後第三十三年之忌辰,所行追薦修福之法事。〔諸回向清規卷四追忌名數之次第〕(參閱「年忌」2420)
; (頭陀圓忌) Cũng gọi Lãnh chiếu kị, A viên kị, Bản nhiên kị, Thanh tịnh kị, Bản nhiên thanh tịnh kị. Pháp sự truy tiến tu phúc cho người chết do thân nhân cử hành vào ngày giỗ năm thứ 33. [X. Trung kị danh số chi thứ đệ trong Chư hồi hướng thanh qui Q.4]. (xt. Niên Kị).
đầu đà đệ nhất
6363頭陀,梵語 dhūta 之音譯,意指修治身心,捨棄貪欲。於佛陀十大弟子之中,以大迦葉為頭陀行第一。增一阿含經卷三(大二‧五五七中):「十二頭陀難得之行,所謂大迦葉比丘是。」〔十二頭陀經、法華文句卷一下〕
; (頭陀第一) Phạm: Dhùta. Người tu hạnh đầu đà vào bậc nhất. Chỉ cho ngài Đại ca diếp, một trong 10 vị đệ tử lớn của đức Phật. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 3 (Đại 3, 557 trung), nói: Người tu 12 hạnh đầu đà khó làm, đó là tỉ khưu Đại ca diếp. [X. kinh Thập nhị đầu đà; Pháp hoa văn cú Q.1 phần cuối].
Đầu địa
(投地): gieo mình xuống đất, ném vật gì xuống đất, gieo toàn thân năm vóc xuống đất để lễ bái, bày tỏ sự cung kính tối thượng. Trong Ngoại Thích Truyện (外戚傳) của Hán Thư (漢書) có đoạn rằng: “Dĩ thủ tự đảo, dĩ đầu kích bích hộ trụ, tùng sàng thượng tự đầu địa, đề khấp bất khẳng thực (以手自擣、以頭擊壁戶柱、從牀上自投地,啼泣不肯食, lấy tay tự đâm, lấy đầu đập vào tường, trụ nhà, từ trên giường tự gieo mình xuống đất, khóc la chẳng chịu ăn).” Trong Phật Thuyết Phụ Mẫu Ân Trọng Nan Báo Kinh (佛說父母恩重難報經) có đoạn rằng: “Nhĩ thời, Như Lai hướng bỉ khô cốt, ngũ thể đầu địa, cung kính lễ bái (爾時、如來向彼枯骨、五體投地、恭敬禮拜, lúc bấy giờ, đức Như Lai hướng về đống xương khô kia, năm vóc gieo xuống đất, cung kính lễ bái).” Cho nên, Ngũ Thể Đầu Địa (五體投地) được xem như là hình thức lễ bái cung kính nhất trong Phật Giáo, xuất hiện trong một số kinh điển như trong Phật Bát Nê Hoàn Kinh (佛般泥洹經) quyển hạ có câu: “Thái Tử ngũ thể đầu địa, khể thủ Phật túc (太子五體投地、稽首佛足, Thái Tử năm vóc gieo xuống đất, cúi lạy chân Phật)”; hay trong Phẩm Nhập Tự (入寺品) của Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận (十住毘婆沙論) có đoạn: “Thị tại gia Bồ Tát nhược nhập Phật tự, sơ dục nhập thời, ư tự môn ngoại ngũ thể đầu địa (是在家菩薩若入佛寺、初欲入時、於寺門外五體投地, vị Bồ Tát tại gia ấy nếu muốn vào chùa Phật, đầu tiên khi muốn vào thì phải năm vóc gieo xuống đất ở ngoài cửa chùa)”; hoặc như trong Thỉnh Quán Thế Âm Bồ Tát Tiêu Phục Độc Hại Đà La Ni Kinh (請觀世音菩薩消伏毒害陀羅尼經) cũng có đề cập rằng: “Như thị tam xưng Tam Bảo, tam xưng Quán Thế Âm Bồ Tát danh, ngũ thể đầu địa, hướng ư Tây phương (如是三稱三寶、三稱觀世音菩薩名、五體投地、向於西方, xưng danh hiệu Tam Bảo ba lần như vậy, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát ba lần, năm vóc gieo xuống đất, hướng về phương Tây).” Câu “Phật cư liên tọa, cảm vong đầu địa chi cung (佛居蓮座、敢忘投地之恭)” có nghĩa là đức Phật ngự trên tòa sen, đâu dám quên cung kính gieo mình xuống đất đảnh lễ.
Đầu-đà
頭陀; S, P: dhūta, dhutaṅga; nguyên nghĩa là »rũ sạch«;|Phương tiện tu khổ hạnh được Phật Thích-ca cho phép. Phép tu này giúp hành giả giảm tối đa những nhu cầu, tăng triển ý chí và rũ sạch những Ô nhiễm.|Ðại sư Phật Âm kể 13 hạnh đầu-đà trong Thanh tịnh đạo:|1. Mặc y phục rách vá (phấn tảo y, p: pamsukūlika-aṅga); 2. Mặc y phục ba phần (p: tecivarika-aṅga); 3. Khất thực để sống (p: piṇḍātika-aṅga); 4. Không bỏ nhà nào (thứ đệ khất; p: sapadānacārika-aṅga); 5. Ăn một lần trong ngày (nhất toạ thực; p: ekāsa-nika-aṅga); 6. Ăn chỉ một phần (p: pattapiṇḍika-aṅga); 7. Không ăn tàn thực (không ăn giữa bữa; p: khalupacchābhattika-aṅga); 8. Ở rừng (lâm cư, p: araññika-aṅga); 9. Ở gốc cây (p: rukkhamūlika-aṅga); 10. Ở giữa trời (p: abbhokāsika-aṅga); 11. Ở nghĩa địa (p: sosānika-aṅga); 12. Ngủ đâu cũng được (p: yathāsanthatika-aṅga); 13. Ngồi không nằm (p: nesajjika-aṅga).|Tương truyền vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia đã tu theo hạnh đầu-đà và vì vậy, Sư cũng mang danh hiệu Trúc Lâm Ðầu-đà.
đầy lòng từ bi
To be full of compassion.
đẩu
Lắc—To shake.
đẩu củng
3309爲建築上之一種木材結構。又作斗栱。於立柱與橫樑交接處之弓形承重結構,稱爲栱;墊在栱與栱間之斗形木塊,稱爲枓。藥師如來本願經(大一四‧四○二上):「彼佛國土一向清淨,(中略)城闕、垣墻、門窗、堂閣、柱樑、斗栱、周匝羅網,皆七寶成,如極樂國。」我國現存最古之枓栱結構,爲山西五臺山佛光寺大殿之枓栱,爲唐代之建築。〔有部毘奈耶雜事卷十三、卷三十七〕
; (枓栱) Một kiểu kiến trúc bằng gỗ ở Trung quốc đời xưa. Những khúc gỗ hình vòng cung đặt trên đầu cột để đỡ cây xà ngang gọi là Củng; còn thỏi gỗ kê giữa 2 củng gọi là Đẩu. Kinh Dược sư Như lai bản nguyện (Đại 14, 402 thượng), nói: Cõi nước của đức Phật kia hoàn toàn thanh tịnh (...) thành quách, tường vách, lầu gác, rường cột, đẩu củng, lưới giăng chung quanh... đều bằng thất bảo, hệt như nước Cực lạc. Lối cấu trúc đẩu củng xưa nhất hiện còn tại Trung quốc là đại điện chùa Phật quang trên núi Ngũ đài thuộc tỉnh Sơn tây được kiến tạo vào đời Đường. [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.13, Q.37].
đẩu tẩu
Dhuta (skt)—Đầu Đà—Lắc hay phủi. Ai thực hành được phép nầy tức là có thể phủi bỏ phiền não, lìa tham dục, như giơ chiếc áo lên mà giũ hết bụi bặm—Stirring up to duty—Discipline. ** For more information, please see Đầu Đà.
Đẩu tẩu 斗擻
[ja] トソウ tosō ||| Transliteration of the Sanskrit dhūta. See 抖擻. To leave home; to leave the defilement of the secular world. Same as 頭多. => Phiên âm chữ dhūta trong tiếng Sanskrit. Xem Đẩu tẩu 抖擻. Nghĩa là xuất gia, xa lìa phiền não thế gian. Đồng nghĩa với Đầu đa 頭多.
Đẩu-tẩu 抖擻
[ja] トソウ tosō ||| Transliteration of the Sanskrit dhūta. Also written 斗擻 and 頭多. 抖 means to "raise up" and 擻 means to shake off. To get up and shake the dirt off of oneself the way a dog does--thus to shake off the defilements of the world and practice the buddha-path. => Phiên âm chữ dhūta từ tiếng Sanskrit. Còn viết là đẩu-tẩu斗擻 và đầu-đa頭多. Đẩu抖 nghĩa là nâng lên; Tẩu 擻 nghĩa là giũ sạch. Vươn mình lên mà giũ sạch cấu bẩn như cách loài chó thường làm--rũ sạch phiền não thế gian và tu tập Phật đạo. Đầu thai 投胎 [ja] トウタイ tōtai ||| To enter a mother's womb in preparation for rebirth into this world (pratisaṃdhi). => Nhập vào thai mẹ để chuẩn bị sinh rs đời (pratisaṃdhi).
đẩy lui
To push back.
đậm đà
Warm—Friendly.
đậu
1) Đậu: Beans—Peas. 2) Trì hoãn: Delay.
đậu cơ
4809與對手之機根相應。逗,投合之義。即師家之機與學人之機相契合,為大悟徹底、契合佛祖之要機。禪林多用「投機」一語。又為度化鈍根之權巧方便。〔法華玄義卷一下、辨顯密二教論卷上〕(參閱「投機」2952)
; Giáo pháp Tiểu Đại Đốn Tiệm chỉ là những phương tiện, đều dừng lại ở từng căn cơ nhất định—Adaptation of the teaching to the taught.
; (逗機) Đậu nghĩa là khế hợp, tức là cơ của học trò và cơ của thầy khế hợp nhau, cũng như khi triệt ngộ thì khế hợp với yếu cơ của Phật tổ. Thiền lâm thường dùng từ ngữ đầu cơ. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.1 phần dưới; luận Biện Hiển Mật nhị giáo Q.thượng]. (xt. Đầu Cơ).
đậu già lam
Masura Sangharama (skt)—Một tự viện cổ, chừng 200 dậm đông nam Mongali—An ancient vihara about 200 miles southeast of Mongali.
đậu khư
Duhkha (skt)—Bách Bức—Phiền não—Khổ, đế thứ nhất trong tứ diệu đế (tất cả mọi hành vi đều do cái tâm hữu vi gây ra thường bị vô thường hoại giới bức bách khiến cho phải phiền não)—Suffering—Pain—Trouble—Distressed, the first of the four dogmas or Noble Truth, is that all life is involved, through impermanence, in distress.
đắc
4547梵語 prāpti。為俱舍七十五法之一,唯識百法之一。一切法造作成就而不失,稱為得;反之,一切法不能成就,稱為非得。得、非得有表裏之關係,得僅與攝於有情自身中之有為法(即「自相續」之有情法),及擇滅、非擇滅兩種無為法有關,與「他相續」、「虛空」無關。就「自相續」而言,若與之呈現積極關係,即令之(法)合、令之持,稱為得;若與之呈現消極關係,即令之離、令之失,則稱為非得。得有「獲」(梵 pratilambha)與「成就」(梵 samanvāgama),非得有「不獲」與「不成就」等之別。獲,即指未得或已失而今得;得,則是「未來生相位」將入「現在位」作用之別名;成就,即指得而至今相續不失;得,則是入現在位之際的別名。以此類推,不獲與不成就亦具同義。 凡有為法之得可分三種,即:(一)法前得,又作前生得,即在法之前而起之得,譬如牛拉車,故又稱牛王引前得。(二)法後得,又作隨後得,即在法之後而起之得,譬如小牛跟隨在母牛後,故又稱犢子隨後得。(三)法俱得,又作俱生得,即得、法兩者俱起之得,譬如形與影相隨不離,故又稱如影隨形得。 又擇滅、非擇滅等無為法,乃非前、後、俱得,即所得之法與時間無關,為非前、非後、非俱,而與上記有為法之三種得合為四種得。此外,使有為法之得能獲得成就,稱為得得,亦即由得中復得之意。得得又稱小得、隨得;與之相對者,得稱為大得。 另據成唯識論卷一載,得係一種假有之存在,可分三種成就,即:(一)種子成就,即一切見惑、修惑之煩惱、任運而起之諸無記法,及生得善等所有之種子,其未被損害者。(二)自在成就,即由加行所生之善法,及工巧處、變化心、威儀路無記等之部分加行力所成者。(三)現行成就,即善、不善、無記等三種法之現行者。〔俱舍論卷四、卷二十一、入阿毘達磨論卷下、大毘婆沙論卷一五七、卷一五八、卷一五九、品類足論卷一辯五事品〕(參閱「成就」2928、「非得」3711)
; Pràp; pràpta (S). To get, obtain, attain to.
; • Được, nhận được: Patilabhati (p)—Prapta (skt)—Đạt được—Thu được—To get—To obtain—To attain—To get—To receive—To gain—To regain. • Đang đắc: Patilabha (p)—Acquisition—Attainment—Gaining—Obtaining.
; (得) Phạm: Pràpti. Một trong 75 pháp của tông Câu xá, một trong 100 pháp của tông Duy thức. Tất cả các pháp tạo tác thành tựu mà không mất thì gọi là Đắc; trái lại, tất cả các pháp không thành tựu được thì gọi là Phi đắc. Đắc và Phi đắc có quan hệ trong, ngoài. Đắc chỉ quan hệ với pháp hữu vi (tức pháp hữu tình Tự tương tục) nhiếp trong tự thân hữu tình và với 2 pháp vô vi: Trạch diệt, Phi trạch diệt, chứ không quan hệ với pháp Tha tương tục và Hư không. Nói về Tự tương tục, nếu có quan hệ tích cực làm cho pháp hợp và tồn tại, thì gọi là Đắc; nếu có quan hệ tiêu cực làm cho pháp lìa, làm cho pháp mất, thì gọi là Phi đắc. Đắc có hoạch (Phạm: Pratilambha) và thành tựu (Phạm: Samanvàgama), Phi đắc có bất hoạch và bất thành tựu. Hoạch chỉ cho sự chưa được hoặc đã được rồi mà nay mất; Đắc là tên khác của tác dụng từ Tương lai sinh tướng vị đi vào Hiện tại vị. Thành tựu thì chỉ sự được mà cho đến nay vẫn còn tiếp tục không mất. Đắc còn là tên khác của khoảng thời gian đi vào Hiện tại vị. Cứ đó mà suy thì Bất hoạch và Bất thành tựu cũng đồng nghĩa như thế. Về Đắc của pháp hữu vi có thể chia làm 3 loại: 1. Pháp tiền đắc, cũng gọi Tiền sinh đắc: Đắc sinh khởi trước pháp, ví như bò kéo xe, nên còn gọi Ngưu vương dẫn tiền đắc. 2. Pháp hậu đắc, cũng gọi Tùy hậu đắc: Đắc sinh khởi sau pháp, ví như con bê theo sau bò mẹ, nên cũng gọi là Độc tử tùy hậu đắc. 3. Pháp câu đắc, cũng gọi Câu sinh đắc: Cái Đắc do đắc và pháp đồng thời sinh khởi, hệt như hình và bóng theo nhau không rời, nên cũng gọi Như ảnh tùy hình đắc. Còn các pháp Trạch diệt vô vi, Phi trạch diệt vô vi thì đều chẳng phải tiền đắc, hậu đắc, câu đắc, tức là cái pháp sở đắc không liên quan gì với thời gian. Nó phi tiền, phi hậu, phi câu, cùng với 3 loại Đắc của pháp hữu vi nêu trên hợp thành 4 loại Đắc. Ngoài ra, làm cho Đắc của pháp hữu vi được thành tựu gọi là Đắc đắc, nghĩa là được trong cái được. Đắc đắc cũng gọi là Tiểu đắc, Tùy đắc, trái lại là Đại đắc. Lại cứ theo luận Thành duy thức quyển 1 nói, thì Đắc là một thứ tồn tại có giả, có thể chia làm 3 loại thành tựu: 1. Chủng tử thành tựu: Tất cả các hạt giống của phiền não Kiến hoặc, Tu hoặc, các pháp vô kí tùy duyên sinh khởi như Sinh, Đắc, Thiện v.v... chưa bị tổn hại. 2. Tự tại thành tựu: Các pháp thiện nhờ gia hạnh sinh ra và thành tựu công xáo xứ, biến hóa tâm, uy nghi lộ vô kí v.v... 3. Hiện hành thành tựu: Sự hiện hành của 3 thứ pháp: thiện, bất thiện, vô kí v.v... [X. luận Câu xá Q.4, Q.21; luận Nhập a tì đạt ma Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.157, Q.158, Q.159; luận Phẩm loại túc Q.1 Biện ngũ sự phẩm]. (xt. Thành Tựu, Phi Đắc).
đắc bất thối chuyển a nậu đa la tam miệu tam bồ đề
To attain Annuttara-samyak-sambodhi.
đắc bệnh thập duyên
4553即得病之十種因緣。據佛醫經載,即:(一)久坐不食,(二)飲食無節制,(三)多憂愁,(四)過度疲勞,(五)淫欲,(六)瞋恚,(七)忍大便,(八)忍小便,(九)制上風(忍呼吸),(十)制下風(忍放屁)。
; (得病十緣) Mười nguyên nhân sinh ra bệnh tật. Theo kinh Phật y chép, thì 10 nguyên nhân ấy là: 1. Ngồi lâu không ăn. 2. Ăn uống không điều độ. 3. Lo buồn nhiều. 4. Mệt nhọc quá độ. 5. Dâm dục. 6. Nóng giận. 7. Nín đại tiện. 8. Nín tiểu tiện. 9. Nín thở. 10. Nín hạ phong (nín đánh rắm).
đắc bồ tát nhẫn đà la ni
4554為四種陀羅尼之一。又作能得菩薩忍陀羅尼、忍陀羅尼。即依無義之咒,安住於諸法離言之實相而忍持不失。大乘義章卷十一謂得忍陀羅尼之方法有二種,即:(一)先世之久習力,(二)現在之修習力。另據瑜伽師地論卷四十五載,菩薩之得忍陀羅尼,乃成就自然堅固之因行,具足妙慧,獨處空閑,常極靜慮,少眠多寤,於佛所說得菩薩忍之諸咒章句能審諦思惟,並了知通達此章句之義為圓成實性而無有餘義。(參閱「陀羅尼」3607)
; (得菩薩忍陀羅尼) Cũng gọi Năng đắc nhẫn bồ tát đà la ni, Nhẫn đà la ni. Nương vào mật chú để an trụ nơi thực tướng li ngôn của các pháp mà gìn giữ không mất. Là 1 trong 4 loại Đà la ni. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 11 nói, thì có hai phương pháp Đắc nhẫn đà la ni: 1. Sức huân tập nhiều đời trước. 2. Sức tu tập ở hiện tại. Còn theo luận Du già sư địa quyển 45 nói, thì Đắc nhẫn đà la ni của Bồ tát là nhân hạnh thành tựu tự nhiên kiên cố, đầy đủ diệu tuệ, ở nơi vắng lặng, thường vào Thiền định, ngủ ít thức nhiều. Đối với các câu chú Đắc bồ tát nhẫn mà đức Phật đã nói, cần suy xét cặn kẽ, thấu đáo, đồng thời, hiểu rõ thông suốt nghĩa của các câu chú này chính là tính Viên thành thực chứ không có nghĩa nào khác. (xt. Đà La Ni).
đắc chí
To realize one's wishes; to attain one's aim.
; Pleased—Content—Satisfied.
đắc cách ba cáp đô nhĩ
4553(Tegh Bahadur, 1621~1675)印度錫克教第九代祖師。原名蒂格馬爾(Tyag Mal),因於反對蒙兀兒王朝之戰鬥中屢建奇功,而得「得格巴哈都爾」(意為勇敢之劍)之稱號,後蒙兀兒王朝皇帝奧朗則布收買該教之上層人物,在戰鬥中遭慘敗並被俘殺,祖師一職由其子哥賓德辛格(Govind Singh)繼承。
đắc dụng
To be useful.
đắc giới
To obtain precepts; to attain to the understanding and performance of the moral law.
; Được trao truyền giới pháp, hiểu và hành trì giới pháp một cách tinh chuyên—To obtain the commandments; to attain to the understanding and performance of the moral law.
đắc giới sa di
Một vị Tỳ Kheo phạm giới, liền phát lồ sám hối trước chúng Tăng, tâm không che dấu, được chúng Tăng bạch tứ yết ma và trao cho pháp học giới. Mặc dù vị nầy không còn là Tỳ Kheo nữa, nhưng vẫn được mặc áo cà sa như một vị Sa Di đang học giới, chứ không bị loại khỏi giáo đoàn—A monk who is restored, or not unfrocked, on confession of his sin.
đắc giới xá giới
4550即得戒與捨戒之並稱。又作發戒失戒。發得律儀、不律儀及非律儀非不律儀三種之無表色,稱為得戒;反之,捨失所得之戒體則稱為捨戒。無表色,指於身中相續恆轉,有招致樂果及防非止惡,或招致苦果及防善止善之功能的無見無對之色法。 律儀之無表色有三種,即:(一)靜慮律儀,即定共戒,乃得有漏之四根本及四近分靜慮地之心時所得之無表色,屬於色界之戒。(二)無漏律儀,即道共戒,乃得無漏根本近分靜慮地之心時所得之無表色。(三)別解脫律儀,即所謂七眾所持之戒,乃依他人教導之力而得之無表色,屬欲界之戒。又依他人教導者有從僧伽得及從補特伽羅得二種,從僧伽而得者有比丘、比丘尼及正學律儀;從補特伽羅而得者為其餘之五種戒,即勤策、勤策女、近事、近事女,近住等五種律儀。又比丘、比丘尼之得具足戒又分自然得、見諦得、善來得、信佛得、問答得、敬重得、遣使得、邊五得、十眾得、三歸得等十種得戒之緣;對此,四分律、摩訶僧祇律、五分律、毘尼母論等諸典所說各不相同,大乘法苑義林章卷三末一一詳載之。 不律儀,即非律儀之惡戒,得此無表色之原因有二:(一)生於以殺生等為業之家,依初所現行殺等之加行而得。(二)雖非生於不律儀之家,初起意願從事殺等之業以為活命時,即得此無表色之惡戒。 非律儀非不律儀,即處中之善戒惡戒,得此無表色有三因:(一)依因而得,即初施園林而種下諸福田時所得。(二)依受而得,例如自誓未禮佛不先食、常於六齋日施食等。(三)依重行而得,即由殷重之「作意」而行惡行善所發得之無表色。作意,係指內心警覺之精神作用。 捨戒者,亦分律儀、不律儀、非律儀非不律儀三種,且其捨戒之緣,依諸部及大乘之說亦各不相同。據俱舍論卷十五載,三種律儀的捨戒之緣分別為:(一)靜慮律儀依二緣而捨:(1)易地,即由下地生於上地或由上地來生下地時。(2)退失,即由已獲勝定之功德而退失時。(二)無漏律儀依三緣而捨:(1)得果之時,捨先前之向道及果道,故亦捨先前之律義。(2)於練根之位,得利道而捨鈍道,故亦捨諸律儀。(3)以退失果道、勝果道之故。(三)於八種別解脫律儀中,除近住律儀外,比丘、比丘尼等七種律儀皆依四緣而捨,即:(1)以意樂之故。(2)以命終之故。(3)以生為二形之故,即兼具男女二根者。(4)以斷善根之故。近住律儀則有五種捨戒之緣,即於前述之因緣,另加「夜盡」而為五緣。 不律儀之惡戒,依三緣而捨戒,即命終、得戒、生為二形。非律儀非不律儀之處中戒,依受心斷壞(棄前所受)、勢力斷壞(淨信或煩惱之勢力)、作業斷壞(不復作)、事物斷壞(如捨施之事物)、壽命斷壞(所依止轉易)、善根斷壞等六緣而捨其戒。 除上記各類之捨戒外,瑜伽師地論特別論述大乘菩薩之捨戒。瑜伽師地論卷四十舉出二種捨戒之緣:(一)退菩提心,(二)犯重捨。並謂大乘菩薩若起此二緣,轉受餘生,忘失本念,如是則他日雖有機會重受菩薩戒,然已非新受,亦非新得。此外,同論卷七十五另又舉出大乘菩薩四種捨戒之緣。大抵而言,瑜伽師地論認為菩薩戒之捨戒因緣,若非由於退失菩提心或犯上品之重罪而捨戒,即可盡未來際永不退失;此係異於聲聞律儀戒之由於命終而捨戒。然若據菩薩瓔珞本業經卷下大眾受學品之說,則謂菩薩一旦受十無盡戒(即圓頓妙戒)即可永不退失。對瑜伽論與瓔珞經兩說之出入,唐代之新羅學僧義寂於梵網經菩薩戒本疏卷上加以闡論,以「種子之薰習功能」之說會通此一經一論之說法。〔四分律卷五十七、十誦律卷一、卷五十六、五分律卷一、大毘婆沙論卷一二○、俱舍論卷十四、卷十五、大乘義章卷十〕(參閱「戒」2896、「無表色」5097)
; (得戒舍戒) Được giới, bỏ giới. Cũng gọi Phát giới thất giới (phát giới mất giới). Tức là Đắc giới và Xả giới nói chung lại. I. Đắc Giới: Phát được 3 thứ Vô biểu sắc: Luật nghi, Bất luật nghi, Phi luật nghi phi bất luật nghi, gọi là Đắc giới. Vô biểu sắc chỉ cho sắc pháp vô kiến vô đối tương tục hằng chuyển trong thân, có công năng mang lại quả vui và ngăn ngừa điều xấu ác, hoặc dẫn đến quả khổ và chặn đứng việc tốt lành. A. Vô biểu sắc của Luật nghi có ba loại: 1. Tĩnh lự luật nghi: Tức là Định cộng giới, thuộc về giới của cõi Sắc, là Vô biểu sắc phát được khi tâm an trụ trong bốn Căn bản hữu lậu và bốn Cận phần tĩnh lự địa của cõi Sắc. 2. Vô lậu luật nghi: Tức là Đạo cộng giới, là Vô biểu sắc phát được khi tâm an trụ nơi Căn bản cận phần tĩnh lự địa vô lậu. 3. Biệt giải thoát luật nghi: Tức giới của 7 chúng thụ trì, thuộc về giới của cõi Dục, là Vô biểu sắc nhờ vào sức chỉ dẫn của người khác mà phát được. Nhờ vào sức chỉ dẫn của người khác có hai loại: Từ Tăng già mà được và từ Bổ đặc già la mà được. - Từ Tăng già mà được giới tỉ khưu, tỉ khưu ni và chính học luật nghi. - Từ Bổ đặc già la mà được 5 thứ giới còn lại, tức là 5 loại luật nghi của Cần sách, Cần sách nữ, Cận sự, Cận sự nữ và Cận trụ. Ngoài ra, sự đắc giới Cụ túc của tỉ khưu, tỉ khưu ni lại chia làm 10 duyên đắc giới: Tự nhiên đắc, Kiến đế đắc, Thiện lai đắc, Tín Phật đắc, Vấn đáp đắc, Kính trọng đắc, Khiển sứ đắc, Ngũ biên đắc, Thập chúng đắc và Tam qui đắc. Về vấn đề này, luật Tứ phần, luật Ma ha tăng kì, luật Ngũ phần, luận Tì ni mẫu v.v... đều nói khác nhau. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 3 phần cuối nói rất rõ về sự khác nhau ấy. B. Vô biểu sắc bất luật nghi: Bất luật nghi tức là ác giới phi luật nghi, có 2 trường hợp phát ra Vô biểu sắc này: 1. Sinh vào trong gia đình làm nghề đồ tể... do gia hạnh sát sinh hiện hành lúc ban đầu mà được. 2. Tuy không sinh vào trong nhà tạo các nghiệp bất luật nghi, nhưng lúc ban đầu có ý muốn làm nghề giết hại để mưu sinh thì được ác giới Vô biểu sắc này. C. Vô biểu sắc của Phi luật nghi phi bất luật nghi: Phi luật nghi phi bất luật nghi tức ở khoảng giữa thiện giới và ác giới, có 3 nguyên nhân được Vô biểu sắc này: 1. Do nhân mà được: Tức là nhờ lúc trước bố thí vườn rừng và gieo trồng các phúc điền mà được. 2. Do thụ mà được: Như tự nguyện chưa lễ Phật thì không ăn trước và thường thí thực vào 6 ngày trai v.v... 3. Do trọng hành mà được: Tức là vô biểu sắc phát ra khi chú trọng mạnh vào các hành vi thiện và ác. II. Xả giới: Xả bỏ giới mà mình đã lãnh nhận, cũng chia làm 3 loại: Luật nghi, Bất luật nghi, Phi luật nghi phi bất luật nghi. Về duyên xả giới, các bộ phái và Đại thừa đều nói khác nhau. Cứ theo luận Câu xá quyển 15 thì: A. Xả giới luật nghi do 3 duyên: 1. Xả Tĩnh lự luật nghi do 2 duyên: a) Dời chỗ: Khi từ hạ địa (cõi người) sinh lên thượng địa (cõi trời) hoặc ngược lại từ thượng địa sinh xuống hạ địa. b) Lui mất: Khi đã được công đức thắng định rồi mà lui mất. 2. Xả Vô lậu luật nghi do 3 duyên: a) Khi đắc quả: Xả Hướng đạo và Quả đạo trước kia, cho nên cũng xả bỏ luật nghi trước kia. b) Ở vị luyện căn: Đắc lợi đạo mà xả Độn đạo, nên cũng xả bỏ các luật nghi. c) Do lui mất Quả đạo, Thắng quả đạo. 3. Trong 8 thứ Biệt giải thoát luật nghi, ngoại trừ Cận trụ luật nghi, còn 7 luật nghi như: Tỉ khưu, tỉ khưu ni v.v... đều do 4 duyên mà xả: a) Do ý muốn. b) Do mệnh chung. c) Do sinh ra làm người có cả nam căn, nữ căn. d) Do dứt hết căn lành. Còn Cận trụ luật nghi thì có 5 duyên xả giới, tức là 4 duyên như vừa nói ở trên và thêm Hết đêm là 5 duyên. B. Xả giới Bất luật nghi do 3 duyên: Mệnh chung, đắc giới, người sinh ra có 2 căn. C. Xả giới Phi luật nghi phi bất luật nghi do 6 duyên: Thụ tâm đoạn hoại(xả bỏ giới đã thụ lúc trước), Thế lực đoạn hoại(thế lực của lòng tin trong sạch hoặc của phiền não), Tác nghiệp đoạn hoại(khônglàm nữa), Sự vật đoạn hoại(như bố thí tài vật), Thọ mệnh đoạn hoại (chỗ nương chuyển đổi)và Thiện căn đoạn hoại. Ngoài các loại xả giới được trình bày ở trên, luận Du già sư địa quyển 40 có nêu ra 2 duyên xả giới của Bồ tát Đại thừa: 1. Thoái tâm bồ đề. 2. Phạm trọng giới. Đồng thời cho rằng nếu Bồ tát Đại thừa mắc 2 duyên này, khi chuyển sinh qua đờin khác thì quên mất bản niệm, như thế, ngày sau tuy có cơ hội được thụ lại, nhưng chẳng phải mới thụ, cũng chẳng phải mới được. Về nhân duyên xả giới Bồ tát, luận Du già sư địa nói rằng, nếu chẳng phải do lui mất tâm bồ đề hoặc phạm trọng tội thượng phẩm mà xả giới, thì trong vị lai vĩnh viễn không trở lui. Điều này khác với luật nghi giới Thanh văn xả giới do mệnh chung. Nhưng, cứ theo phẩm Đại chúng thụ học trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển hạ nói, thì một khi Bồ tát đã thụ 10 giới Vô tận rồi (tức diệu giới Viện đốn) thì không bao giờ còn trở lui nữa. Trong Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ quyển thượng, ngài Nghĩa tịch, người Tân la (Triều tiên) sống vào đời Đường, đã bàn rõ thêm về chỗ khác nhau giữa 2 quan điểm của luận Du già và kinh Anh lạc, rồi dung hợp cả 2 bằng thuyết Công năng huân tập của chủng tử. [X. luật Tứ phần Q.57; luật Thập tụng Q.1, Q.56; luật Ngũ phần Q.1; luật Đại tì bà sa Q.120; luận Câu xá Q.14, Q,15; Đại thừa nghĩa chương Q.10]. (xt. Giới, Vô Biểu Sắc).
đắc huệ
Pannaya-patilabha (p)—Attainment of wisdom.
đắc kế
Successful scheme—Good scheme.
đắc la lư ca
Trailokya (skt)—See Triloka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đắc lợi
Profitable—Advantageous.
đắc lực
To try one's best.
đắc ngư vong thuyên
4553筌,又作荃。指既釣得魚,便忘其魚具。比喻既已成功即忘其憑藉;或已達成目的,即捨棄工具方法。莊子外物篇:「荃者所以在魚,得魚而忘荃;蹄者所以在兔,得兔而忘蹄;言者所以在意,得意而忘言。」故有得魚忘筌、得兔忘蹄、得意忘言之比喻。其中「得意忘言」一語,意謂語言乃表達道理之工具,既已得其理意於心,則名言可忘絕;或表示不拘泥於文句以領納體味其中真意。於道家、禪宗,皆認為最高深之道理絕非言語所可傳示,故主張以心證道,離絕言詮。〔般若心經註(八淨覺)〕
; 1) Được cá quên nơm—Having caught the fish, the trap may be forgotten, i.e. it is of secondary importance. 2) Vong ân bội nghĩa: Ingratitude.
; (得魚忘筌) Được cá quên nơm. Ví dụ khi đạt được mục đích rồi thì không cần đến phương tiện nữa, do đó không nên chấp trước. Thiên Ngoại vật trong sách Trang tử nói: Cái nơm dùng để bắt cá, được cá rồi nên quên nơm; cái bẫy dùng để bắt thỏ, được thỏ rồi nên quên bẫy; lời nói là để diễn ý, được ý rồi nên quên lời. Trong đó, câu Được ý quên lời (Đắc ý vong ngôn) nghĩa là ngôn ngữ chỉ là phương tiện dùng để biểu đạt đạo lí, khi tâm đã thấu suốt đạo lí rồi thì nên quên hẳn danh ngôn. Nói cách khác, không nên chấp nê câu văn, mà cần thấu hiểu ý nghĩa chân thực trong đó. Đạo giáo và Thiền tông đều cho rằng đạo lí cao sâu nhất không thể dùng lời nói để truyền đạt, chỉ bày, cho nên chủ trương chứng đạo bằng tâm, dứt tuyệt ngôn ngữ. [X. Bát nhã tâm kinh chú].
đắc nhân tâm
To win the heart of the people.
đắc nhân tăng xứ
4549禪林用語。指得悟者之境地。因得悟者具有異於常人之氣勢,他人視之易生憎厭,故有此稱。與「一向把住處」意同。應菴曇華禪師語錄卷十(卍續一二○‧四四七上):「三十三州七十僧,驢腮馬頷得人憎;諸方若具羅籠手,因日無因到淨明。」
đắc nhãn lâm
Aptanetravana (skt)—Khu rừng mà nơi đó những người ẩn tu sẽ lấy lại được nhãn tạng—The forest of recovered eyes.
đắc nhất thiết bí mật pháp tính vô hí luận như lai
4548梵名 Vairocanaḥ sarva-tathāgata-guhya-dharmatā-prāpta-sarva-dharmāprapañcaḥ。大日如來之異稱。此如來得一切祕密之法性,而遠離戲論,故別稱得一切祕密法性無戲論如來。所謂一切祕密,即於見、聞、觸、知之諸法當相如如不動,而為解脫之要門,其義趣甚深,非凡夫情想所可測知者,或以五祕密三摩地為一切諸尊之祕密內證,故稱一切祕密;又建立於金剛薩埵、慾菩薩、觸菩薩,愛菩薩、慢菩薩等五祕密金剛同一法性上,故稱法性;若住此三摩地,則轉慾、觸、愛,慢四煩惱為果德,故稱無戲論;此即為大日如來五祕密之三摩地,故稱得一切祕密法性如來。〔大樂金剛不空真實三麼耶經、理趣釋卷下〕
; (得一切秘密法性無戲論如來) Phạm: Vairocanaḥ sarva-tathāgata-guhya-dharmatā-prāpta-sarva-dharmāprapañcaḥ. Là tên khác của đức Đại nhật Như lai. Vì đức Như lai này chứng được tất cả pháp tính bí mật mà xa lìa các hí luận, cho nên có danh hiệu như vậy. Cái gọi là Nhất thiết bí mật tức là ở ngay nơi hiện tướng của các pháp thấy, nghe, chạm, biết mà đạt được như như bất động, đây là yếu môn giải thoát, có nghĩa thú rất sâu xa, trí hiểu biết của phàm phu không thể suy lường được; hoặc dùng 5 bí mật tam ma địa làm nội chứng bí mật của tất cả chư tôn, cho nên gọi là Nhất thiết bí mật. Lại nữa, vì kiến lập trên cùng một pháp tính của 5 vị Kim cương bí mật: Kim cương tát đỏa, Dục bồ tát, Xúc bồ tát, Ái bồ tát và Mạn bồ tát, nên gọi là Pháp tính. Nếu trụ nơi Tam ma địa này thì chuyển 4 phiền não: dục, xúc, ái, mạn thành quả đức, cho nên gọi là Vô hí luận. Đây là Tam ma địa của Đại nhật Như lai ngũ bí mật, cho nên gọi là Đắc nhất thiết bí mật pháp tính Như lai. [X. kinh Đại lạc kim cương bất không chân thực tam ma da; Lí thú thích Q.hạ].
đắc nhất thiết như lai trí ấn như lai
4548梵名 Śāśvata-sarva-tathāgata-jñāna-mudrā'prāpta-sarva-tathāgata-muṣṭi-dhara。其梵名之原義為「於常住中,得照見一切如來三密業用之智印,並保持一切如來之拳(祕密),而精進於其事業之如來」。為般若理趣經所舉之如來名,乃不空成就佛之異稱。又此事業之因德為金剛拳菩薩,故稱此菩薩為得一切如來智印如來。〔大樂金剛不空真實三麼耶經、理趣釋卷下〕
; (得一切如來智印如來) Phạm: Śāśvata-sarva-tathāgata-jñāna-mudrāprāpta-sarva-tathāgata-muṣṭi-dhara. Nghĩa là: Đức Như lai ở trong thường trụ đạt được trí ấn soi thấy nghiệp dụng tam mật và giữ gìn sự bí mật (quyền) của tất cả các đức Như lai mà tinh tiến trongsự nghiệp của mình. Đây là danh hiệu của đức Như lai được nêu trong kinh Bát nhã lí thú, đồng thời, cũng là tên khác của đức Phật Bất không thành tựu. Lại nữa, nhân đức (trái với quả đức) của sự nghiệp này là bồ tát Kim cương quyền, cho nên vị Bồ tát này được gọi là Đắc nhất thiết Như lai trí ấn Như lai. [X. kinh Đại lạc kim cương bất không chân thực tam ma da; Lí thú thích Q.hạ]
đắc nhất vọng nhị
4549禪林用語。得一,謂得道精純;得一望二,即雖已得一,仍期望得二。雖已徹底究明一事,然卻不能安住於其中,而更求他事;禪林中用以比喻凡夫貪得無厭之迷情。從容錄第九十三則(大四八‧二八七中):「魯祖問南泉:『摩尼珠,人不識,如來藏裏親收得。如何是藏?』泉云:『王老師與汝往來者是。』祖云:『不往來者?』泉云:『亦是藏。』祖云:『如何是珠?(得一望二)』」
; (得一望二) Được một, mong hai. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thiền lâm dùng từ ngữ này để ví dụ phàm phu tham lam không biết chán. Thung dung lục tắc 93 (Đại 48, 287 trung), ghi: Lỗ tổ hỏi Nam tuyền: Hạt ngọc ma ni người không biết, trong Như lai tàng thì tự thu được, vậy thế nào là tàng? Tuyền đáp: Chính Vương lão sư qua lại với ông. Tổ hỏi: Không qua lại thì sao? Tuyền đáp: Cũng là tàng! Tổ hỏi: Thế nào là hạt ngọc? (đắc nhất vọng nhị).
đắc nhẫm nhuyễn ngoan
4552禪林用語。貶指不靈活、暮氣沈沈之修行者。為責罵修行僧缺乏氣魄之語。從容錄第八十則(大四八,二七八中):「牙云:『打即任打,要且無祖師意。(得恁軟頑)』」
; (得恁軟頑) Bướng bỉnh trơ lì. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Từ ngữ này được dùng để chê trách người tu hành không có khí phách. Thung dung lục tắc 80 (Đại 48, 378 trung), ghi: Nha nói: Đánh thì cứ đánh, nhưng vẫn không phải ý của Tổ sư (bướng bỉnh trơ lì).
đắc nhập
4549<一>即證得悟入佛道。維摩經卷中(大一四‧五四四上):「諸佛祕藏無不得入。」法華經卷五(大九‧四四上):「每自作是意;以何令眾生,得入無上慧,速成就佛身?」 <二>能了知一切法雖說而不能說、不可說,雖念而不能念、不可念,而更離此說與念,即稱得入。出自釋摩訶衍論卷二。為「隨順」之對稱。有二種,即:(一)生滅得入,又可分為向上、向下二種:(1)向上得入,為「始覺上轉」之順次,故以佛果為得入之位。即諸行人依其言教、三慧、行德為「能得入」,以「金金剛地」之妙覺如來為「所得入」。又金金剛地,係指菩薩修行最高之階位,即「妙覺位」之佛果;蓋以佛果乃金剛中之金剛,故稱金金剛地。(2)向下得入,為「本覺下轉」之次第,故以「邪邪地」為得入之位。即依行人本有之行德,與聞、思、修等三慧及其言教為「能得入」,以邪邪地為「所得入」。又邪邪地,係指「邪定聚」之位,即菩薩階位中最初的「十信位」以前之名。以此階位之人未具善根且未能正信業果報應,故謂之邪;又以邪定不一,故稱邪邪地。(二)真如得入,指所入之果,即真如所入之法體為能入之門,故為自所依。於正證之位已泯絕能、所之別。又真如門俱非言說及俱非說念,故以遠離「隨順門」之說與念,即為真如得入。〔釋摩訶衍論卷一、釋摩訶衍論勘注卷六〕
; To attain entry, e.g. to Buddha-truth.
; Nhập vào Phật đạo (trừ được vọng niệm tức là đắc nhập)—To attain entry, e.g. to Buddha-truth.
; (得入) I. Đắc Nhập. Chứng đắc ngộ nhập Phật đạo. Kinh Duy ma quyển trung (Đại 14, 544 thượng), nói: Bí tạng của chư Phật đều có thể đắc nhập. Kinh Pháp hoa quyển 5 (Đại 9, 44 thượng), nói: Hàng ngày thường tự nghĩ: Làm sao cho chúng sinh đắc nhập vô thượng tuệ để mau thành Phật thân. II. Đắc Nhập. Đối lại: Tùy thuận. Biết rõ tất cả pháp tuy nói mà không nói được, không thể nói, tuy nghĩ mà không nghĩ được, không thể nghĩ, rồi lại lìa luôn cả nói và nghĩ, thế gọi là Đắc nhập. Cứ theo luận Thích ma ha diễn quyển 2, thì Đắc nhập có 2 loại: 1. Sinh diệt đắc nhập, lại chia làm 2: a) Hướng thượng đắc nhập: Theo thứ tự Thủy giác chuyển lên, nên lấy quả Phật làm giai vị Đắc nhập. Tức là những hành giả nương vào ngôn giáo của Phật, tam tuệ, đức hạnh làm Năng đắc nhập, lấy Như lai diệu giác kim kim cương địa làm Sở đắc nhập. Kim kim cương địa là giai vị tu hành cao nhất của Bồ tát, tức là Phật quả diệu giác vị. Vì Phật quả là kim cương trong kim cương, nên gọi là Kim kim cương địa. b) Hướng hạ đắc nhập: Theo thứ tự Bản giác chuyển xuống, nên lấy Tà tà địa làm vị Đắc nhập. Tức là những hành giả nương vào đức hạnh vốn có, cùng với 3 tuệ văn, tư, tu và ngôn giáo của Phật làm Năng đắc nhập, lấy Tà tà địa làm Sở đắc nhập. Tà tà địa chỉ cho giai vị Tà định tụ trước Thập tín, là những người chưa đủ căn lành, chưa có lòng tin chân chính về nghiệp quả, nên gọi là Tà, vì Tà định có nhiều nên gọi Tà tà địa. 2. Chân như đắc nhập: Chỉ cho quả sở nhập, tức pháp thể của chân như sở nhập là cửa năng nhập, cho nên là Tự sở y. Đối với giai vị chính chứng thì không còn năng, sở sai biệt. Chân như môn dứt bặt lời nói, ý nghĩ, cho nên xa lìa ngôn thuyết, suy tư của Tùy thuận môn, đó chính là Chân như đắc nhập. [X. luận Thích ma ha diễn Q.1; Thích ma ha diễn luận khám chú Q.6].
đắc pháp
To have got the way of doing (sth)
Đắc pháp 得法
[ja] トクホウ tokuhō ||| To attain the dharma; to awaken to the Buddhist reality. 〔法華經 T 262.9.56c1〕 => Nhận thức được giáo pháp; giác ngộ được Phật pháp chân thực.
đắc quả
4550指三乘之聖者各達成自乘之果法。如聲聞乘觀四聖諦,得入涅槃之果;緣覺乘觀十二因緣,以證入辟支佛果;菩薩乘則修六波羅蜜行,以求無上菩提、度一切眾生。華嚴經探玄記卷一,將三乘之修法與得果情形,分為三種,即:(一)始別終同,始別,謂三乘所修有四諦、緣生、六度之別;終同,謂就得果而言,三乘之人同滅身智。(二)始同終別,始同,謂三乘之始同為聞般若、觀無性;終別,謂三乘所得之果各自不同。又若據聖諦、緣生、六度不同之修行,亦可稱為「始終各別」。(三)近異遠同,近異,謂三乘初以方便誘導;遠同,謂最後三乘同以大乘得度。〔大寶積經卷九十四、梁譯攝大乘論卷一〕
; To obtain the fruit of deeds or life.
; Đạt được quả vị—To obtain the fruit of deeds or life.
; (得果) Quả pháp của các bậc Thánh Tam thừa đạt được khi hoàn thành pháp tu của mình. Như Thanh văn thừa quán Tứ thánh đế, được quả Niết bàn; Duyên giác thừa quán Thập nhị nhân duyên, chứng được quả Bích chi phật; Bồ tát thừa thì tu 6 hạnh Ba la mật, để cầu vô thượng bồ đề, độ tất cả chúng sinh. Hoa nghiêm kinh Thám huyền kí quyển 1 chia pháp tu và sự đắc quả của Tam thừa làm 3 loại: 1. Thủy biệt chung đồng: Thủy biệt nghĩa là pháp tu của Tam thừa như: Tứ đế, Duyên sinh, Lục độ khác nhau; Chung đồng nghĩa là về mặt đắc quả thì Tam thừa cùng diệt thân trí như nhau. 2. Thủy đồng chung biệt: Thủy đồng nghĩa là Tam thừa bắt đầu cùng nghe Bát nhã, nhưng quả chứng được thì mỗi hạng đều khác nhau. Nếu theo sự tu hành Thánh đế, Duyên sinh, Lục độ khác nhau, thì cũng có thể gọi là Thủy chung các biệt (trước sau đều khác). 3. Cận dị viễn đồng: Cận dị nghĩa là hàng Tam thừa lúc đầu dùng các phương tiện để dẫn dụ; Viễn đồng nghĩa là hàng Tam thừa rốt cuộc cùng được vào Đại thừa. [X. kinh Đại bảo tích Q.94; luận Nhiếp đại thừa (bản dịch đời Lương) Q.1].
đắc quả giác ngộ
To attain Enlightenment—To achieve awakening—To become a Buddha—To become an Enlightened One.
đắc quả vô thượng bồ đề
To obtain the highest perfect bodhi (wisdom or knowledge).
đắc sanh cực lạc quốc độ
To attain birth in the Ultimate Bliss Land.
đắc thoát
4553得解脫之略稱。即了脫生死之苦,獲得涅槃之妙樂。或斷除一切煩惱,證得菩提。如法華經卷二信解品載(大九‧一八下):「得脫三界苦惱之患。」遺教經(大一二‧一一一二上):「若種種戲論,其心則亂,雖復出家,猶未得脫。」
; Thuất khỏi khổ đau của sanh tử—To attain deliverance from the misery of reincarnation.
; (得脫) Gọi đủ: Đắc giải thoát. Tức là thoát khỏi cái khổ sống chết, đạt được Niết bàn yên vui. Hoặc dứt trừ tất cả phiền não, chứng được bồ đề. Phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa quyển 2 (Đại 9, 18 hạ), nói: Đắc thoát tai họa khổ não trong 3 cõi. Kinh Di giáo (Đại 12, 1112 thượng), nói: Nếu sinh các hí luận thì tâm rối loạn, dẫu có xuất gia mà chưa đắc thoát.
đắc thất
Success and failure; gain and loss.
; Gain and loss—Đức Phật dạy: “Phật tử nên can đảm chấp nhận sự thua thiệt. Ta phải trực diện với sự thua lỗ một cách bình thản và lấy nó làm một cơ hội để trau dồi những đức hạnh cao siêu.”—The Buddha taught: Buddhists should courageously accept losses. One must face these losses with equanimity and take them as an opportunity to cultivate our sublime virtues. • Trong thời Đức Phật còn tại thế, một lần ngài đi khất thực tại một làng. Do sự can thiệp của Ma vương, Đức Phật không nhận được chút đồ ăn nào cả. Khi Ma vương hỏi châm biếm, “Ngài có đói không?” Đức Phật vui vẻ giải nghĩa thái độ tinh thần của những ai thoát khỏi mọi chướng ngại, Ngài đáp: “Sung sướng thay, chúng ta sống không bị điều gì chướng ngại. Ta thường sống an vui như các vị thần ở cõi Trời Quang Âm—At the time of the Buddha, once the Buddha went seeking alms in a village. Owing to the intervention of Mara, the Buddha did not obtain any food. When the Mara questioned the Buddha rather sarcastically whether he was hungry or not, the Buddha solemnly explained the mental attitude of those who were free from impediments, and replied: “Ah, happily do we live, we who have no impediments. Feeders of joy shall wee be even as the gods of the Radiant Realm.” • Một dịp khác, Đức Phật và các đệ tử của Ngài an cư vào mùa mưa tại một ngôi làng theo lời mời của một người Bà La Môn. Người nầy quên hẳn việc tiếp tế thực vật cho Đức Phật và Tăng Già. Trong suốt ba tháng, ngài Mục Kiền Liên đã phải xung phong dùng thần thông đi xin đồ ăn, thế màĐức Phật không hề có một lời phàn nàn và chịu dùng cỏ khô của ngựa do một ông lái ngựa cúng dường—On another occasion, the Buddha and his disciples observed the rainy season in a village at the invitation of a brahmin who, however, completely fogot to attend the needs of the Buddha and the Sangha. Throughout the period of three months, although Venerable Moggallana volunteered to obtain food by his psychic powers, the Buddha making no complaint, was contented with the fodder of horses offered by a horse dealer.
đắc thắng
4554(1327~1387)日本臨濟宗法燈派僧。號拔隊。相模(神奈川縣)中村人,俗姓藤原。四歲喪父。稍長,進入當地之治福寺,受業於應衡禪師。二十九歲從應衡落髮出家。即跟隨得瓊侍者練行,偶聞溪水聲,有所省悟。先後參見肯山聞悟、復菴宗己等僧,並遊歷關東,參謁諸名宿。後入出雲(島根縣)雲樹寺孤峰覺明禪師之室,嗣其法。孤峰授以「拔隊」之號。其後行腳各國,二年後歸相模,菴居於甲斐。當地寶珠寺昌秀慕師德風,國守武田信成捐獻鹽田寺地,開創向嶽寺,請師任開山第一世。師戒律甚嚴,頒三十三條厲禁,特禁飲酒。嘉慶元年二月示寂,世壽六十一,法臘三十二。天文十六年(1547)賜諡「慧光大圓禪師」。為日本臨濟宗向嶽寺派之祖。嗣法者有峻翁令山。師著有語錄六卷及拔隊假名法語、鹽山和泥合水集各一卷等。〔延寶傳燈錄卷十五,扶桑禪林僧寶傳卷九〕
; To obtain the victory; to win.
; Chiến thắng—To be victorious—To obtain the victory.
; (得勝) (1327 - 1387) Vị Thiền tăng thuộc phái Pháp đăng tông Lâm tế Nhật bản, người Trung thôn, huyện Tương mô, hiệu Bạt đội, họ Đằng nguyên. Năm 4 tuổi, sư đã mồ côi cha. Lớn lên, sư theo học thiền sư Ứng hành ở chùa Trị phúc tại quê nhà. Năm 29 tuổi, sư xuất gia và theo thị giả ngài Đắc quỳnh. Một hôm tình cờ nghe tiếng nước chảy dưới khe mà sư tỉnh ngộ. Từ đó, sư lần lượt đi tham kiến các ngài Khẳng sơn Văn ngộ, Phục am Tông kỉ, rồi đến tham yết các bậc tôn túc ở Quan đông. Sau, sư đến chùa Vân thụ ở huyện Đảo căn, tham học thiền sư Cô phong Giác minh và được nối pháp của ngài. Sau đó, sư đi các nước, 2 năm sau trở về quê dựng am ở Giáp phỉ. Ngài Xương tú ở chùa Bảo châu tại địa phương rất hâm mộ phong cách và đức hạnh của sư. Vị Quốc thủ là Vũ điền Tín thành quyên góp tiền mua ruộng để xây cất chùa Hướng nhạc, thỉnh sư làm Tổ khai sơn đời thứ nhất. Sư giữ giới luật nghiêm minh, đặt ra 33 điều răn cấm, trong đó cấm ngặt uống rượu. Niên hiệu Gia khánh năm đầu (1387) sư tịch, thọ 61 tuổi, 32 tuổi hạ. Năm Thiên văn 16 (1547) sư được ban thụy hiệu Tuệ quang đại viên thiền sư. Là Tổ của phái chùa Hướng nhạc thuộc tông Lâm tế Nhật bản. Sư có các tác phẩm: Ngữ lục 6 quyển, Bạt đội giả danh pháp ngữ 1 quyển, Diêm sơn hòa nê hợp thủy tập 1 quyển. [X. Diên bảo truyền đăng lục Q.15; Phù tang Thiền lâm tăng bảo truyện Q.9].
đắc thắng đường
4554天帝(帝釋天)與阿修羅交戰得勝,令毘首羯磨建造最為殊勝之堂殿,稱為得勝堂。又稱最勝堂。帝釋天為守護佛法之善神,乃諸天之主。阿修羅為惱害佛法之鬼神類,好瞋恨,專以戰鬥為能事。經典中常記載帝釋天與阿修羅交戰之故事,兩方各有勝敗,若世間之人孝養父母、恭敬沙門婆羅門,則帝釋天勝利,反之則阿修羅勝利。毘首羯磨為司掌建築彫刻之神匠,其工藝最為巧妙。據止觀輔行傳弘決卷五之二載,帝釋天戰勝修羅,遂令巧匠毘首羯磨造一堂殿,名為最勝,東西百由旬,南北六十由旬,堂有百間,每間有七支露臺,每一臺上各有七玉女,每一玉女各有七使人,皆由帝釋天優給衣食、莊嚴之具,此堂於千世界中無可媲美者,故稱最勝;又因其係交戰得勝而造,故稱得勝。摩訶止觀卷五上(大四六‧五二中):「譬如毘首羯磨造得勝堂,不疎不密,間隙容綖,巍巍蓣蓣,峙於上天。」
; (得勝堂) Cũng gọi Tối thắng đường. Là tòa điện đường đồ sộ nguy nga do trời Đế thích sai thần Tì thủ yết ma xây dựng để kỉ niệm cuộc chiến thắng A tu la. Trời Đế thích là vị thiện thần bảo vệ Phật pháp, A tu la là loài quỉ não hại Phật pháp, hay tức giận, thích đánh nhau. Trong các kinh điển thường ghi chép sự tích trời Đế thích và A tu la giao chiến với nhau, cả 2 bên đều có thắng, bại. Nếu người thế gian hiếu dưỡng cha mẹ, kính trọng sa môn, thì trời Đế thích thắng trận, trái lại thì A tu la thắng. Thần Tì yết ma huyên về việc kiến trúc điêu khắc, kĩ thuật rất tinh xảo. Cứ theo Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 5 phần 2 chép, thì sau khi chiến thắng A tu la, trời Đế thích liền sai thần Tì thủ yết ma xây cất một tòa điện đường đặt tên là Tối thắng, chiều đông tây rộng 100 do tuần, chiều nam bắc 60 do tuần, có 100 gian, mỗi gian có 7 cái đài, trên mỗi đài có 7 ngọc nữ, mỗi ngọc nữ có 7 người hầu, đều do trời Đế thích ban phát áo cơm và đồ trang sức. Tòa điện đường này đẹp nhất trong các cung điện của nghìn thế giới nên gọi là Tối thắng, lại vì giao chiến thắng trận mà tạo dựng nên gọi là Đắc thắng. Ma ha chỉ quán quyển 5 phần trên (Đại 46, 52 trung), nói: Ví như Tì thủ yết ma kiến tạo Đắc thắng đường, không thưa không dày, khoảng cách đều đặn, nguy nga cao đẹp, sừng sững trên trời.
đắc thằng
4555即說一切有部所立十四不相應法中之「得」。謂一切有情法繫於人身而不離,故喻為繩,稱為得繩。例如造善惡諸業,一旦所造之業既成過去,然「得」將諸業繫於身,令於未來受其果報。摩訶止觀卷七上(大四六‧九三下):「如繫鳥在籠,欲去不得,心識亦爾。籠以四大,繫以得繩,心在色籠,無處不至。業繩未斷,去已復還,籠破繫斷,即去不反。」(參閱「得」4548)
; Sợi dây trói buộc chúng sanh vào của cải tài sản (tất cả các pháp của hữu tình chúng đều không ngoài thân, hay trói buộc nơi thân, nên ví đó như sợi dây. Như các nghiệp thiện ác mà mình tạo ra đã thuộc về quá khứ, nhưng quả của chúng vẫn còn trói buộc lấy chúng ta)—The cord, or bond, of attaining the bondage of possession (past deeds, good or bad, happened in the past; however, they are still binding us in the present with their results).
; (得繩) Tức là Đắc trong 14 pháp Bất tương ứng do Thuyết nhất thiết hữu bộ lập ra. Nghĩa là tất cả pháp hữu tình ví như những sợi dây (thằng) trói buộc thân chúng sinh, nên gọi là Đắc thằng. Như tạo các nghiệp thiện, ác, dù đã trở thành quá khứ, nhưng do Đắc ràng buộc, khiến cho đời sau phải chịu quả báo. Ma ha chỉ quán quyển 7 phần trên (Đại 46, 93 hạ), nói: Như chim bị nhốt trong lồng, muốn bay đi không được, tâm thức cũng thế. Lồng ví dụ thân tứ đại, trói buộc ví dụ Đắc thằng; tâm ở trong sắc thân nhưng duyên cùng khắp. Dây nghiệp chưa đứt thì bỏ thân sinh thân, sinh tử tiếp nối, nhưng khi sắc thân tan hoại, dây nghiệp đứt hết thì không sinh tử lại nữa. (xt. Đắc).
đắc thế
To have the advantage.
đắc thời
To have the opportunity.
; To have the opportunity.
đắc tuỷ
4555謂得玄理之極致。與「得證」同義。即內心洞徹明晰而證悟佛法大道之真意。原為我國禪宗初祖菩提達磨印證慧可之語。據景德傳燈錄卷三菩提達磨章載,一日,達磨見付法時機成熟,遂令道副、尼總持、道育、慧司等四位門人各呈所解。道副以下三人各呈所解,達磨分別以「汝得吾皮」、「汝得吾肉」、「汝得吾骨」等答之,表示三人皆有所證,然所證未徹。唯慧可行至達磨前禮拜,未言一語,而後依位而立,達磨遂向慧可謂:「汝得吾髓。」後並將法衣傳與慧可。慧可即我國禪宗第二祖。
đắc tạng
Srgarbha (skt)—See Tịnh Nhãn, and Ngũ Nhãn in Vietnamese-English Section.
đắc tội
To be guilty.
đắc tủy
Đắc được cốt tủy hay chỗ cùng cực của lý nhiệm mầu (theo Truyền Đăng Lục, tổ Bồ Đề Đạt Ma nói với Huệ Khả, ta đã trải qua chín năm muốn trở về Thiên Trúc. Huệ Khả đảnh lễ thầy, rồi lui lại hầu phía sau. Tổ Đạt Ma dạy: “Ông đã đạt được chỗ cốt yếu của ta.” Liền quay lại bảo Huệ Khả: “Ngày xưa Đức Như Lai đem chính pháp nhãn tạng giao phó cho ngài Ca Diếp, và truyền thừa mãi đến ta. Nay ta giao phó cho ông, ông hãy giữ gìn. Ta trao áo Cà sa cho ông để làm tín.”)—To obtain the marow, the secret, the essence.
đắc tự tính thanh tịnh pháp tính như lai
4550梵名 Sva-bhāva-śuddha。為觀自在王如來之異名,亦即阿彌陀佛之密號。略稱得自性清淨如來。係出自般若理趣經之如來名,然理趣經之梵本並無「得(梵 prāpta)」字。理趣釋卷下載,此佛名無量壽如來,若於淨妙佛國土,則現成佛身;住於雜染五濁世界,則為觀自在菩薩。觀自在菩薩,依觀照諸法平等、自性清淨之理,而得自在,亦以此開示眾生,故稱得自性清淨。得,為能證之妙觀察智;自性清淨法性,為所證之理。〔大樂金剛不空真實三麼耶經〕
; (得自性清淨法性如來) Phạm: Sva-bhàva-zuddha. Gọi tắt: Đắc tự tính thanh tịnh Như lai. Tên khác của đức Quán tự tại Như lai, cũng tức là mật hiệu của đức Phật A di đà. Đây là tên đức Như lai được ghi trong kinh Bát nhã lí thú, nhưng trong bản tiếng Phạm của kinh Lí thú thì không có chữ Đắc (Phạm: pràpta). Lí thú thích quyển hạ nói: Đức Phật này tên là Vô lượng thọ Như lai, nếu ở trong cõi Phật trong sạch mầu nhiệm thì Ngài hiện thành thân Phật; còn nếu ở trong thế giới trọc ác, nhơ nhớp thì là Quán tự tại bồ tát. Bồ tát Quán tự tại nhờ trí quán chiếu thấy rõ lí các pháp bình đẳng mà được tự tại, lại đem lí ấy chỉ bày cho chúng sinh, vì thế gọi là Đắc tự tính thanh tịnh. Đắc là Diệu quán sát trí năng chứng; Tự tính thanh tịnh pháp tính là lí sở chứng. [X. kinh Đại lạc kim cương bất không chân thực tam ma da].
đắc ích phần
4553即唐代善導於觀無量壽佛經疏中,將觀無量壽經(略稱觀經)王宮會之經文重新分科所分出之一科。觀經共有王宮會與靈山會(耆闍會)二會,王宮會占全部經文之大半。歷來科判經文多分為序分、正宗分、流通分三部分,即所謂「三分科經」,然善導將觀經王宮會原有的三科分為四科,即自正宗分旁分出得益分。其經文係自「說是語時」至「諸天發心」為止,依善導之分類,內分總牒、能聞法人、韋提得益、侍女得益、諸天得益等五項目。
; (得益分) Trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ, ngài Thiện đạo đời Đường chia thêm một khoa mới gọi là Đắc ích phần trong hội Vương cung của kinh Quán vô lượng thọ. Kinh Quán vô lượng thọ (gọi tắt: Quán kinh) có 2 hội là hội Vương cung và hội Linh sơn, trong đó, hội Vương cung chiếm quá nửa của toàn bộ kinh. Thông thường văn kinh được chia làm 3 phần: Phần Tựa, phần Chính tông và phần Lưu thông, tức là Tam phần khoa kinh. Nhưng ngài Thiện đạo đem 3 khoa vốn có trong hội Vương cung của Quán kinh chia làm 4khoa, tức là sau phần Chính tông chia thêm phần Đắc ích nữa. Phần này bắt đầu từ câu Thuyết thị ngữ thời đến chư thiên phát tâm thì hết và được chia ra 5 hạng mục: Nội phần tổng điệp, Năng văn pháp nhân, Vi đề đắc ích, Thị nữ đắc ích, Chư thiên đắc ích v.v...
đắc ý
To obtain one's desires, or aims; to obtain the meaning (of a sùtra).
; 1) Được như ý nguyện, hay đạt được mục đích: Satisfied—Content—To obtain one's desires or aims. 2) Hiểu được nghĩa của kinh điển: To obtain the meaning of a sutra.
đắc đại thế
Mahasthamaprapta (skt)—Tên của Đại Thế Chí Bồ Tát, còn gọi là Đắc Thế Chí Bồ Tát. Tiếng Phạn là Ma Ha Na Bát, vị có đại lực, ngồi bên phải của Đức A Di Đà, tiêu biểu cho trí tuệ lớn lao của chư Bồ Tát (Ngài là một ngôi trong A Di Đà Tam Tôn, tiêu biểu cho trí tuệ, trong khi Đức Quán Thế Âm tiêu biểu cho từ bi. Từ bi và trí tuệ kết hợp lại thành ngôi chánh giác, tức là ngôi vị của Đức Phật A Di Đà)—Name of Mahasthamaprapta, he who has obtained great power, or stability, who sits on the right of Amitabha, controlling all wisdom—See Mahasthama in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đắc đại thế (đại thế chí)
Mahàsthamàpràpta (S). He who has obtained great power, or stability, who sits on the right of Amitàbha, controlling all wisdom.
đắc đại thế minh vương
4549指大勢至菩薩(梵名 Mahā-sthāma-prāpta)。大勢至又譯為得大勢。阿彌陀三尊之一,侍於阿彌陀之右脅。主佛之智門。菩薩之大智至一切處,故稱大勢至。密教中,其三昧耶形為未開敷之蓮花,為蓮華部之持明王,故有此稱。大日經疏卷五載,所以持未開敷之蓮花者,如毘盧遮那佛之實智花臺,既已成果,復持如是種子,普散一切眾生之心中,更生未開敷之蓮花;此明王亦同,亦能普護一切眾生潛萌之善,使不敗傷而念念增長。〔大日經疏卷十三〕
; (得大勢明王) Chỉ cho bồ tát Đại thế chí (Phạm: Mahàsthàma-pràpta). Cũng gọi Đắc đại thế. Một trong A di đà tam tôn, đứng hầu ở bên phải đức Phật A di đà, đứng đầu về trí môn của Phật. Vì trí tuệ của vị Bồ tát này trùm khắp nên gọi là Đại thế chí. Trong Mật giáo, hình tam muội da của Ngài là hoa sen chưa nở, là Trì minh vương của Liên hoa bộ, nên mới có tên là Đắc đại thế minh vương. Đại nhật kinh sớ quyển 5 nói, vị Minh vương này cầm hoa sen chưa nở, như đài sen thực trí của đức Phật Tì lô giá na đã có hạt rồi, lại đem hạt giống ấy gieo vào tâm của tất cả chúng sinh, và sẽ lại sinh ra búp sen. Vị Minh vương này cũng vậy, cũng có thể giữ gìn mầm lành của hết thảy chúng sinh, không để hư nát và luôn luôn tăng trưởng. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13].
Đắc Đại Thế 得大勢
[ja] トクダイセイ tokudaisei ||| Possessing Great Strength--the name of bodhisattva. 〔法華經 T 262.9.2a9〕 => Danh hiệu của một vị Bồ-tát (Bồ-tát Đại Thế Chí).
đắc đạo
4555又作得度。道,指三乘各斷惑證理之智慧;得道,即三乘行戒、定、慧而證得道果。亦即得無漏之聖道,或菩薩之無生法忍、無上菩提佛果,故通常又與「成佛」一詞並用,而稱「成佛得道」。大智度論卷二十七,謂入此法位,不復墮凡夫之數,稱為得道人,一切世間事欲壞其心,然不能令其動,閉三惡趣門,入諸菩薩數中。 得道之因緣有多種,據大智度論卷三十四所說,或依佛說法得道,或遇佛放無量光明得道,或由佛遍身毛孔散發出眾妙香,使眾生聞之而得道等,概皆依眾生因緣不同而得道方式有別。又得道必依欲界之身,故於三界之中,欲界眾生自然印有得道之因緣;無色界以無身之故,不得聽聞正法;色界之眾生執著勝定之樂,無苦受,無厭心,故亦難得道。〔中阿含卷二十九請請經、大智度論卷三、卷八、俱舍論卷二十四、雜阿毘曇心論卷五〕
; To obtain the way, or the religion; to reach perfection, enlightenment.
; Nhập Niết bàn hay đạt đến Niết bàn nhờ vào giới, định, huệ và đạt được giác ngộ (trí tuệ đoạn trừ lậu hoặc, chứng được đế lý gọi là đạo, nhờ thực hành tam học mà phát sinh ra trí tuệ đó thì gọi là “đắc đạo”)—To enter into Nirvana—To attain Nirvana—To obtain the way, or religion; by obedience to the commandments, practice of meditation, and knowledge, to attain enlightenment.
; (得道) Cũng gọi Đắc độ. Đắc đạo là chứng đắc đạo quả, như hàng Thanh văn chứng đắc thánh đạo vô lậu, Bồ tát chứng đắc vô sinh pháp nhẫn, Phật chứng đắc vô thượng bồ đề. Bởi thế, đắc đạo thường được dùng chung với từ thành Phật mà gọi là đắc đạo thành Phật. Luận Đại trí độ quyển 27 nói rằng, ở pháp vị này rồi thì không còn rơi vào hàng phàm phu, gọi là người đắc đạo, các pháp thế gian muốn phá hoại tâm người này, nhưng không làm cho họ lay động được, vì họ đã đóng cửa 3 đường ác, vào trong hàng Bồ tát. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 34 nói, thì có nhiều nhân duyên đắc đạo, hoặc nhờ Phật nói pháp mà đắc đạo, hoặc thấy Phật phóng ra vô lượng ánh sáng mà đắc đạo, hoặc từ các lỗ chân lông trên khắp thân Phật tỏa ra các diệu hương khiến chúng sinh nghe mùi mà đắc đạo. Nói tóm lại, do nhân duyên chúng sinh bất đồng mà phương thức đắc đạo có khác. Vả lại, phải nhờ vào sắc thân mới có thể đắc đạo, cho nên trong 3 cõi thì chúng sinh ở cõi Dục có đầy đủ nhân duyên đắc đạo; cõi Vô sắc vì không có sắc thân nên không được nghe chính pháp; còn chúng sinh ở cõi Sắc thì đắm trước cái vui thắng định, không có khổ thụ, không có tâm nhàm chán, cho nên cũng khó đắc đạo. [X. kinh Thỉnh thỉnh trong Trung a hàm Q.29; luận Đại trí độ Q.3, Q.8; luận Câu xá Q.24; luận Tạp a tì đàm tâm Q.5].
đắc đạo thê tranh tích trượng kinh
4555 請參閱 得道梯橙錫杖經 全一卷。又作錫杖經、得道梯橙經。收於大正藏第十七冊。譯於東晉,譯者不詳。本經內容為佛陀告示諸比丘皆應受持錫杖,其理由為錫杖可彰顯聖智之意,故稱智杖;錫杖亦為行功德之本,故稱德杖。此既為聖人、賢士之表徵,亦為趣向道法之標幟。其次列記持杖威儀之二十五事。
; (得道梯橙錫杖經) Cũng gọi Tích trượng kinh, Đắc đạo thê đặng kinh, 1 quyển, thu vào Đại chính tạng tập 17, được dịch vào thời Đông Tấn, không rõ dịch giả. Nội dung kinh này nói về việc đức Phật dạy bảo các tỉ khưu nên thụ trì tích trượng, vì tích trượng tượng trưng cho Thánh trí, nên gọi là Trí trượng. Tích trượng cũng là gốc của các công đức nên gọi là Đức trượng. Đây là vật tiêu biểu của Thánh nhân, hiền sĩ, cũng là cây cờ để hướng về đạo pháp. Kế tiếp, nói về 25 uy nghi thụ trì tích trượng.
đắc độ
4552<一>蒙受教化,渡越生死之海,而達於涅槃之彼岸。引申為剃髮出家;以出家入道為到達彼岸最初階梯之故。印度原有不滿十二歲未得父母允許,或諸種疾病者不得出家之限制。摩訶僧祇律卷二十三、二十四更列舉壞比丘尼淨行、賊盜住、越濟人、五逆、六種不男、太小、太老、截手、截腳、截鼻、盲、聾、瘂、躄、鞭瘢、印瘢、拔筋、剋筋、曲脊、王臣、負債、病、外道、兒,奴、身不具、陋色等各種不得出家之規定。 我國古來出家原無限制,其後因僧數遽增,又庶民常藉出家來逃避徵課,乃設僧籍以登錄之,正式得度者授予度牒,而嚴禁私度。佛祖統紀卷五十一載,梁末帝時(913~923 在位)敕令天下僧尼入京比試經業。大慈恩寺三藏法師傳卷一亦載隋、唐、宋、元、明代,皆曾行試經度僧。然亦有於一時度多數量之僧或依進納「香水錢」而特下附度牒。又隋煬帝時(604~616 在位)詔七日間度千僧,後世稱「特恩度牒」。又唐肅宗至德年間(756~758)依宰相裴冕之奏請,賣度牒,稱之為「進納度僧」。得度有一定規則、儀式,稱得度式。宋元時代禪林沙彌得度之儀式,據敕修百丈清規卷下大眾章載,行者選定受度牒之日,屆時設置供物,禮請三師,入僧堂剃髮,著袈裟,受三歸五戒、沙彌十戒,出堂後,拜詣方丈,最後巡寮禮謝。 日本亦甚早即有試經得度之制,平安朝時代更定年分度者之制,每年各宗總計十二人,且有年齡等之規定。〔四分律卷三十二、四分律刪繁補闕行事鈔卷下四、佛祖統紀卷四十五、釋氏稽古略卷三、續日本紀卷七〕(參閱「出家」1558、「度牒」3779、「試經」5607) <二>又作得道。得無漏聖道或菩薩之無生法忍、無上菩提。(參閱「得道」4555)
; To obtain transport across the river of transmigration, to obtain salvation; to enter the monastic life.
; 1) Được đưa sang bờ giải thoát (sinh tử ví như biển lớn, Niết Bàn ví như bờ bên kia). Vượt qua được biển sinh tử đến bên kia bờ Niết Bàn gọi là đắc độ (trong kinh Di Giáo, Đức Phật đã dạy: “Những người đáng được độ, dù là trời hay người đều đã được độ. Những người chưa được độ cũng đã tạo nhân duyên được độ)—To obtain transport across the river of transmigration; to obtain salvation. 2) Nghi thức Sa Di cắt tóc xuất gia cũng được gọi là “Đắc Độ: A Sramanera enters the monastic life.
; (得度) Nhờ được giáo hóa vượt qua biển sinh tử để đạt đến Niết bàn. Tức chỉ cho việc xuất gia vào đạo là bước đầu để đạt đến giải thoát. Đắc độ có một qui tắc, nghi thức nhất định gọi là Đắc độ thức. Về nghi thức sa di đắc độ trong Thiền lâm vào thời đại Tống, Nguyên, theo chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển hạ, thì đến ngày đã định để nhận độ điệp, hành giả bày biện phẩm vật cúng dường, lễ thỉnh Tam sư, vào Tăng đường xuống tóc, mặc áo cà sa, nhận Tam qui ngũ giới, Sa di thập giới, sau đó, đến phương trượng lễ bái, xong rồi, đi tới các liêu lễ tạ. [X. luật Tứ phần Q.32; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 4; Phật tổ thống kỉ Q.45; Thích thị kê cổ lược Q.3]. (xt. Xuất Gia, Độ Điệp, Thí Kinh).
Đắc độ 得度
[ja] トクド tokudo ||| (1) To save; to be able to save. The character 度 is originally synonymous with its graphic relative 渡, which means to "cross over" esp. from "this shore" of delusion to the "other shore" of enlightenment--to cross over the flow of saṃsāra. => 1. Cứu giúp; có thể cứu giúp. Chữ độ (度) thường đồng nghĩa với chữ độ (渡), có nghĩa là “ vượt qua” đặc biệt là từ “bờ bên nầy” của vô minh phiền não sang “bờ bên kia” giải thoát -- vượt qua dòng luân hồi.
Đắc 得
[ja] トク toku ||| (1) To obtain, get, acquire, gain. (2) To effect, to attain. (3) To go well. (4) Able, can, may. [Buddhism] 'Acquisition,' 'possession.' (1) In Abhidharma theory, one of the fourteen elements not concomitant with mind. A real dharma. (2) In Consciousness-only theory, one of the twenty-four elements not concomitant with mind. A term describing the reception of defilements and karma by the continuing body of sentient beings. It is said to be related to the ālaya-vijñāna as well as the manifestation of the two hindrances 二章. The condition of receiving defilements despite the fact that they are not actually arisen, but because of their existence in the ālaya-vijñāna 阿頼耶識. Included within this is the acquisition of habits. => 1. Đạt được, có được, thu được, kiếm được. 2. Đem lại, đạt đến. 3. Chạy tốt, vận hành tốt. 4. Có thể, có khả năng, có lẽ. [Phật học] Theo giáo lý A-tỳ-đạt-ma, là một trong 14 Tâm bất tương ưng hành pháp. Là một thực pháp. 2. Theo giáo lý Duy thức, là một trong 24 Tâm bất tương ưng hành pháp. Là thuật ngữ mô tả sự thọ nhận các phiền não nhiễm ô và nghiệp do chúng sinh tương tục thọ thân. Nó có liên hệ với A-lại-da thức cũng như sự biểu hiện của Nhị chướng. Tình trạng bị nhiễm phiền não mặc dù thực tế là chúng không sinh khởi, nhưng vì chúng đã hiện hữu trong A-lại-da thức, trong đó bao gồm cả tập khí.
đắm đuối
Distractedly—Passionately.
đắn đo
To deliberate—To consider carefully.
đắng tử
6568指置於椅前用以承腳之小几。又作凳子、承足床、腳击、腳踏、踏床。法華經卷二則稱為寶几,摩訶僧祇律卷二十則謂為承足机。此係佛應允誦經者,可昇高座,唯因坐獅子座上雙足懸垂,易生勞倦,佛乃指示應做承足床。而其座若不移動,則可以甎代之,或用版製做,或於版之四角各安鐵環,以方便提舉移動。〔有部毘奈耶雜事卷十四、禪苑清規卷一赴粥飯條、禪林象器箋器物門〕(參閱「踏床」6185)
đắng đắng
Rather bitter.
đắp y
Donning a dharma robe.
đắp đổi
To live from day to day (from hand to mouth).
đắt
Expensive—Dear.
đằm thắm
Profound.
đằng
Dây leo—Creepers—Canes.
Đằng Nguyên Kiêm Thật
(藤原兼實, Fujiwara Kanezane, 1149-1207): còn gọi là Cửu Điều Kiêm Thật (九條兼實, Kujō Kanezane), vị cao quan sống từ cuối thời Bình An cho đến đầu thời Liêm Thương, ông tổ của dòng họ Cửu Điều (九條, Kujō), là bậc thượng thủ của hàng công khanh nghị tấu, sau trở thành Nhiếp Chính rồi làm đến chức Quan Bạch (關白, Kampaku). Ông rất giỏi về Hòa Ca, Thư Đạo, tự xưng là Nguyệt Luân Quan Bạch (月輪關白).
Đằng Nguyên Lương Phòng
(藤原良房, Fujiwara-no-Yoshifusa, 804-972): nhà quý tộc, sống dưới thời đại Bình An, thứ nam của Đằng Nguyên Đông Từ (藤原冬嗣, Fujiwara-no-Fuyutsugu, 775-826); mẫu thân là Đằng Nguyên Mỹ Đô Tử (藤原美都子, Fujiwara-no-Mitsuko). Sau khi Văn Đức Thiên Hoàng (文武天皇, Montoku Tennō, tại vị 850-858) tức vị, ông rất có thế lực, được cử làm Thái Chính Đại Thần (太政大臣); rồi sau khi Thanh Hòa Thiên Hoàng (清和天皇, Seiwa Tennō, tại vị 858-876) tức vị, ông được cử làm Nhiếp Chính. Chính ông là người soạn ra bộ Tục Nhật Bản Hậu Kỷ (續日本後紀, Zokunihonkōki). Người đời thường gọi ông là Ngài Bạch Hà (白河殿), Nhiễm Điện Đại Thần (染殿大臣), thụy hiệu là Trung Nhân Công (忠仁公).
Đằng Nguyên Lại Thông
(藤原賴通, Fujiwara-no-Yorimichi, 992-1074): nhà quý tộc và quan lại sống giữa thời Bình An, trưởng tử của Đạo Trưởng (道長), Quan Bạch vùng Vũ Trị (宇治, Uji). Ông từng làm chức Nhiếp Chính và Quan Bạch trong suốt 52 năm trường dưới thời 3 vị Thiên Hoàng là Hậu Nhất Điều (後一條, Goichijō), Hậu Châu Tước (後朱雀, Gosuzaku) và Hậu Lãnh Tuyền (後冷泉, Goreisen). Sau đó, ông làm Thái Chính Đại Thần (太政大臣). Đến cuối đời, ông xây dựng Bình Đẳng Viện (平等院, Byōdō-in) ở Vũ Trị và sống nhàn cư tại đây.
Đằng Nguyên Sư Phụ
(藤原師輔, Fujiwara-no-Morosuke, 908-960): nhà quý tộc và quan lại sống giữa thời Bình An, con của Trung Bình (忠平), thông xưng là Cửu Điều Điện (九條殿). Con của ông là Kiêm Thông (兼通), Kiêm Gia (兼家) và cháu ông là Đạo Trưởng (道長) kế thừa dòng Quan Bạch (關白, Kampaku), trở thành vị tổ của nhà Nhiếp Chính (攝政). Trước tác của ông có Cửu Điều Niên Trung Hành Sự Nhật Ký (九條年中行事日記), Cửu Lịch (九曆), v.v.
Đằng Nguyên Thuần Hữu
(藤原純友, Fujiwara-no-Sumitomo, ?-941): quan lại sống khoảng giữa thời kỳ Bình An. Ông thường làm hải tặc hoành hành ở khu vực vùng biển Lại Hộ (瀨戸, Seto), cướp đoạt, phóng hỏa, gây nhiễu loạn trật tự trị an, cuối cùng bị quân truy phạt giết chết.
Đằng Nguyên Tinh Oa
(藤原惺窩, Fujiwara Seika, 1561-1619): Nho gia sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; tên là Túc (, Shuku); tự Liễm Phu (, Rempu); biệt hiệu là Sài Lập Tử (柴立子), Bắc Nhục Sơn Nhân (北肉山人), Quảng Bàn Oa (廣胖窩); thân phụ là Lãnh Tuyền Vi Thuần (冷泉爲純, Reizei Tamezumi); sinh ra tại Quận Tam Mộc (三木郡, Miki-gun), tiểu quốc Bá Ma (播磨, Harima, nay thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]), trong một gia đình danh vọng của dòng họ Lãnh Tuyền (冷泉, Reizei). Sau khi phụ thân và anh bị tử trận trong chiến loạn, ông lên kinh đô, xuất gia ở Tướng Quốc Tự (相國寺, Sōkoku-ji), học về Nho và Phật. Vào năm 1590 (Thiên Chánh [天正] 18), sau cuộc hội đàm với sứ thần nước Triều Tiên, ông có khuynh hướng nghiêng về phía Nho học hơn. Đến năm 1596 (Khánh Trường [慶長] nguyên niên), ông quyết chí sang nhà Minh cầu học, nhưng không thành. Sau đó, trong khoảng thời gian 1598-1600, ông giao lưu với Khương Hãng (姜沆), Nho gia của Triều Tiên đang bị giam lỏng tại Nhật Bản với tư cách là tù binh và có ảnh hưởng rất lớn tư tưởng của vị này. Trong khoảng thời gian này, ông được sự bảo trợ của Xích Tùng Quảng Thông (赤松廣通, Akamatsu Hiromichi), Thành chủ của Long Dã Thành (龍野城, Tsuno-jō) ở Bá Ma; nhưng do vì Quảng Thông bị chết trong chiến trận Sekigahara (關ヶ原), ông lui về ẩn cư ở Lạc Bắc (洛北), kinh đô Kyoto. Lấy Chu Tử Học làm chủ yếu, ông dung hòa Dương Minh Học và Phật Giáo, chủ trương “giống nhau trong cái khác biệt”. Ông đưa ra học thuyết luân lý mang tính lý luận gọi là “tu thân trị thế”; và trở thành Tổ của Nho học thời Cận Đại. Đệ tử của ông có Khuất Hạnh Am (堀杏庵), Lâm La Sơn (林羅山), Na Ba Hoạt Sở (那波活所), Tùng Vĩnh Xích Ngũ (松永尺五), v.v.
Đằng Nguyên Trung Bình
(藤原忠平, Fujiwara-no-Tadahira, 880-949): nhà quý tộc và quan lại sống giữa thời Bình An, con của Cơ Kinh (基經). Dưới thời Đề Hồ Thiên Hoàng (醍醐天皇, Daigo Tennō), ông làm Tả Đại Thần (左大臣); sau khi thay thế người anh là Thời Bình (時平), ông soạn bộ Diên Hỷ Cách Thức (延喜格式) và dâng lên cho triều đình. Dưới thời Châu Tước Thiên Hoàng (朱雀天皇, Suzaku Tennō), ông làm Thái Chính Quan Bạch (太政關白), Thái Chính Đại Thần (太政大臣). Cùng với Thời Bình và Trọng Bình (仲平), cả ba được gọi là Tam Bình (三平). Ông được ban tặng thụy hiệu là Trinh Tín Công (貞信公) và để lại tác phẩm Trinh Tín Công Ký (貞信公記).
Đằng Nguyên Trọng Ma Lữ
(藤原仲麻呂, Fujiwara-no-Nakamaro, 706-764): nhà quý tộc sống dưới thời đại Nại Lương, con của Võ Trí Ma Lữ (武智麻呂, Muchimaro). Ông được Quang Minh Hoàng Hậu (光明皇后) và Hiếu Khiêm Thiên Hoàng (孝謙天皇, Kōken Tennō, tại vị 749-758) tín nhiệm, giao cho làm chức Tử Vi Nội Tướng (紫微內相), lật đỗ phe phản đối của nhóm Quất Nại Lương Ma Lữ (橘奈良麻呂) và chấp chưởng chính quyền. Khi Thuần Hòa Thiên Hoàng (淳和天皇, Junna Tennō, tại vị 823-833) lên ngôi vua, ông được ban cho tên họ là Huệ Mỹ Áp Thắng (惠美押勝, Emi-no-Oshikatsu) và cuối cùng được thăng cử đến chức Thái Sư Chánh Nhất Vị (太師正一位, tức Thái Chính Đại Thần [太政大臣]). Đến khi vị tăng Đạo Kính (道鏡, Dōkyō) được Hiếu Khiêm Thiên Hoàng trong dụng, ông cử binh để dẹp trừ Đạo Kính, nhưng bị bại trận và bị giết ở vùng Cận Giang (近江, Ōmi).
Đằng Nguyên Võ Trí Ma Lữ
(藤原武智麻呂, Fujiwara-no-Muchimaro, 680-737): nhà quý tộc sống dưới thời đại Nại Lương, làm quan đến chức Tả Đại Thần, Chánh Nhất Vị, con của Bất Tỷ Đẳng (不比等, Fuhito), vị tổ của nhà Nam Gia (南家). Trọng Ma Lữ (仲麻呂, Nakamaro) là con trai của ông.
Đằng Nguyên Đạo Gia
(藤原道家, Fujiwara-no-Michiie, 1193-1252): tức Cửu Điều Đạo Gia (九條道家, Kujō Michiie); hiệu là Quang Minh Phong Tự Điện (光明峯寺殿), Phong Điện (峯殿); là nhà công khanh dưới thời đại Liêm Thương, trưởng nam của Cửu Điều Lương Kinh (九條良經), cha của Tướng Quân Đằng Nguyên Lại Kinh (藤原賴經), ông nội của Đằng Nguyên Lại Từ (藤原賴嗣). Ông đã từng làm các chức quan như Tùng Nhất Vị (從一位), Chuẩn Tam Cung (准三宮), Nhiếp Chính (攝政), Quan Bạch (關白), Tả Đại Thần (左大臣). Ông kết cấu với chính quyền Mạc Phủ, nắm phần lớn quyền hành; nhưng sau bị chính quyền Mạc Phủ ghét bỏ, tước mất quyền lực và cuối cùng qua đời. Vào năm thứ 4 (1238) niên hiệu (嘉禎), ông có xuất gia với pháp danh là Hành Huệ (行惠).
Đằng Nguyên Đạo Trưởng
(藤原道長, Fujiwara-no-Michinaga, 966-1027): nhà quý tộc và quan lại sống giữa thời Bình An, con thứ 5 của Kiêm Gia (兼家), thường gọi là Ngự Đường Quan Bạch (御堂關白), Quan Bạch Thái Chính Đại Thần (關白太政大臣) trước khi xuất gia ở Pháp Thành Tự (法成寺), hay còn gọi là Pháp Thành Tự Nhiếp Chính (法成寺攝政). Dưới thời kỳ cực thịnh của dòng họ Đằng Nguyên, ông là người đứng đầu dòng họ. Chương Tử (彰子), con gái đầu của ông, là Hoàng Hậu của Nhất Điều Thiên Hoàng (一條天皇, Ichijō Tennō), sanh ra hai vị Thiên Hoàng Hậu Nhất Điều (後一條, Goichijō) và Hậu Châu Tước (後朱雀, Gosuzaku). Thứ nữ Nghiên Tử (妍子) là Hoàng Hậu của Tam Điều Thiên Hoàng (三條天皇, Sanjō Tennō); con gái thứ 3 Uy Tử (威子) là Hoàng Hậu của Hậu Nhất Điều Thiên Hoàng, con gái thứ 4 Hy Tử (嬉子) là vợ của Hậu Châu Tước Thiên Hoàng. Ông là người có công xây dựng Pháp Thành Tự. Tác phẩm của ông có nhật ký Ngự Đường Quan Bạch Ký (御堂關白記) do tự tay ông viết.
Đằng Sum Hoằng An
(藤森弘安, Fujimori Hiroyasu, 1799-1862): Phiên sĩ của Phiên Tiểu Dã (小野藩, Ono-han) và Phiên Thổ Phố (土浦藩, Tsuchiura-han); húy là Đại Nhã (大雅); tự Thuần Phong (淳風); thông xưng là Cung Trợ (恭助), Thiên Sơn (天山); hiệu là Như Bất Cập Trai (如不及斎); con của Đằng Sum Nghĩa Chánh (藤森義正); xuất thân Giang Hộ. Ông từng theo hầu Sài Dã Bích Hải (柴野碧海), Trường Dã Phong Sơn (長野豐山), Cổ Hạ Cốc Đường (古賀穀堂), Cổ Hạ Đồng Am (古賀侗庵). Sau khi trở về cố hương, ông kế thừa sự nghiệp cha, làm Thị Giảng cho Nhất Liễu Mạt Diên (一柳末延). Sau ông dâng lời khuyên vị Phiên chủ Nhất Liễu Mạt Châu (一柳末周) về thời thế; nhưng người này không nghe, nên ông từ chức, về mở trường dạy học tư ở Giang Hộ. Không bao lâu sau, nhờ Sác Tỉnh Tả Trung (確井左中), Phiên sĩ của Phiên Cửu Bảo Điền (久保田藩, Kubota-han), giới thiệu, ông đến làm việc cho Thổ Ốc Ngạn Trực (土屋彥直) cũng như Thổ Ốc Dần Trực (土屋虎直), Phiên chủ của Phiên Thổ Phố và làm cho Chu Tử Học được phổ cập. vào năm 1839 (Thiên Bảo [天保] 10), ông cống hiến công sức sáng lập Úc Văn Quán (郁文館), trường học của Phiên, làm Đốc Học và tận lực giáo dưỡng con em các Phiên sĩ. Năm 1843 (Thiên Bảo 14), ông được cử làm quan Phụng Hành, chủ yếu giải quyết những sự việc kiện tụng. Tuy nhiên, vào năm 1846 (Hoằng Hóa [弘化] 3), vì có liên lụy đến hàng bộ hạ, ông từ chức quan Phụng Hành, rồi bị dính líu trong vụ đấu tranh giành quyền lực; nên vào năm sau thì rời khỏi Phiên và trở về lại Giang Hộ. về sau, ông mở trường Tư Thục ở Hạ Cốc (下谷), giang hộ; đến năm 1853 (Gia Vĩnh [嘉永] 6), ông viết cuốn Hải Phòng Bị Luận (海防僃論), Sô Ngôn (芻言). Năm 1857 (An Chính [安政] 4), ông lên kinh đô, giao lưu với nhóm Lương Xuyên Tinh Nham (梁川星巖), Lại Tam Thọ Tam Lang (賴三樹三郎), Mai Điền Vân Banh (梅田雲浜), Nguyệt Tánh (月性), v.v. Do vì ông có liên quan đến vụ Đại Ngục An Chính (安政の大獄) năm 1858, nên bị bắt ở Giang Hộ. Đến năm 1859 (An Chính 6), ông bị xử hình phạt đuổi ra khỏi phiên, nên chuyển đến vùng Hành Đức (行德) thuộc tiểu quốc Hạ Tổng (下總, Shimōsa). Cho đến năm 1862 (Văn Cửu [文久] 2), ông mới được miễn tội, trở về ở nơi tư dinh của người con trai kế là Quang Cát (光吉), và qua đời tại đây. Ông có để lại khá nhiều trước tác về dân chính và hải phòng; hơn nữa, ông cũng đã phát huy tài năng ưu tú về Đường Tống Văn cũng như Hán Thi.
đằng xà
Thấy dây mà cho là rắn (chỉ tâm mê mờ của chúng sanh)—Seeing a cane and thinking it a snake.
đằng điền hoằng đạt
6688(1928~ )日本北海道人。東京大學文學部畢業,專修印度哲學,並獲得文學博士。現任北海道大學文學部教授。著作有原始淨土思想之研究、生活之創造(佛教之倫理觀)、梵文無量壽經試譯等。
Đằng Điền Phong Bát
(藤田豐八, Fujita Toyohachi, 1869-1929): hiệu là Kiếm Phong (劍峯), là nhà Đông Dương Sử Học dưới hai thời Minh Trị (明治, Meiji) và Đại Chánh (大正, Taishō); xuất thân Quận Lí Thôn (郡里村), Mỹ Mã Quận (美馬郡, Mima-gun), tiểu quốc A Ba (阿波, Awa, hiện tại thuộc Tokushima-ken [德島懸]). Sau khi tốt nghiệp Tiến Sĩ trường Đế Quốc Đại Học (帝國大學, Teikoku Daigaku), ông làm Giáo Sư dạy môn Trung Quốc Văn Học Sử (中國文學史) tại Tảo Đạo Điền Đại Học (早稻田大學, Waseda Daigaku), Đông Dương Đại Học (東洋大學, Tōyō Daigaku). Đến năm 1896, ông cùng với nhóm Tiểu Liễu Ty Khí Thái (小柳司氣太, Oyanagi Shigeta), Điền Cương Lãnh Vân (田岡嶺雲) sáng lập Đông Á Học Viện (東亞學院); bắt đầu san hành tập Giang Hồ Văn Học (江湖文學). Sau đó, ông sang Thượng Hải (上海), đến năm 1898 thì thiết lập Đông Văn Học Xã (東文學社); năm 1908 thì được Bắc Kinh Đại Học (北京大學) mời sang giảng dạy và tận lực đóng góp cho sự nghiệp giáo dục của Trung Quốc. Trước tác của ông có Trung Dẳng Giáo Dục Đông Dương Sử (中等敎育東洋史), Nghiên Cứu Về Đông Tây Giao Bộ Sử (東西交渉史の研究), v.v. Ông có hơn 1700 thư tịch Hán ngữ, trong đó có bộ Hải Ngoại Kỷ Sự (海外紀事); sau khi qua đời thì hiến tặng cho Đông Dương Văn Khố (東洋文庫, Tōyōbunko), và trở thành tư liệu vô cùng quý báu.
Đằng Điền Đông Hồ
(藤田東湖, Fujita Tōko, 1806-1855): học giả Thủy Hộ Học sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ; sĩ phu của Phiên Thủy Hộ (水戸藩, Mito-han); tên là Bưu (彪); thông xưng Hổ Chi Trợ (虎之助); con của Đằng Điền U Cốc (藤田幽谷). Năm 1827 (Văn Chính [文政] 10), ông tu sửa Chương Khảo Quán (彰考館), sau đó là Tổng Tài Đại Lý (總裁代理). Nhân vấn đề của Phiên chủ kế thừa nảy sinh, ông thành công trong việc ủng lập Đức Xuyên Tề Chiêu (德川齊昭, Tokugawa Nariaki). Từ đó, ông được suy cử làm người hầu cận phụ tá bên cạnh Tướng Quân và đưa ra phương pháp cải cách nền chính trị của Phiên qua cuộc Cải Tân Thiên Bảo (天保の改新). Tuy nhiên, vào năm 1844 (Hoằng Hóa [弘化] nguyên niên), Tề Chiêu được chính quyền Mạc Phủ hạ lệnh cần phải thận trọng, nên Đông Hồ bị phạt cấm túc, không được ra ngoài. Ông là một trong những nhân vật trung tâm xác lập nền Thủy Hộ Học hậu kỳ. Ông từng kết giao với nhóm Kiều Bổn Tả Nội (橋本左內), Hoành Tỉnh Tiểu Nam (橫井小楠); và chiếm vị trí chỉ đạo cho Phái Tôn Nhương (尊攘派). Thế nhưng, trong cuộc động đất lớn xảy ra vào niên hiệu An Chính (安政), ông xả thân cứu mẹ và bị đè chết. Trước tác của ông có Chánh Khí Ca (正氣歌), Hồi Thiên Thi Sử (回天詩史), Hoằng Đạo Quán Ký Thuật Nghĩa (弘道館記述義), v.v.
đằng đường cung tuấn
6688(1918~ )日本佛教學者。畢業於大正大學。任佛教大學教授。著作有淨土三部經の解說,及十住毘婆沙論漢譯考、世親の淨土觀—無量壽經論の瑜伽派的理解、無量壽經論序觀等論文。
đằng đẳng
For a long time.
đẳng
5170有平等、等級、等類之義。等類之等有二種:(一)向內等,即已列之物件,於盡列之後置「等」字者,如眼、耳、鼻、舌、 身等,向內而示等類,他無所取,故稱向內等。(二)向外等,即於應列之數種中,僅舉二、三類而於後置「等」字者,如眼等,於外等取耳、鼻、舌、身,故稱向外等。又雜阿毘曇心論卷六謂,等者,眾事聚會之義。〔瑜伽論記卷二下、成唯識論述記卷四本、卷六本、成唯識論演祕卷一本、因明大疏瑞源記卷六〕
; To pair; parallel, equal, of like order; a class, grade, rank; common. In Buddhist writings it is also used for "equal everywhere","universal".
; 1) Bình đẳng: Equal. 2) Song song: Parallel. 3) Đẳng cấp: A class, grade, rank. 4) Nơi nơi bình đẳng: Equal everywhere—Equivalence—Equality—Balance. 5) Phổ quát: Universal.
; (等) Có các nghĩa bình đẳng, đẳng cấp, đẳng loại (các sự kiện được liệt kê). Chữ đẳng trong đẳng loại có 2 nghĩa: 1. Hướng nội đẳng: Chữ đẳng đặt ở sau cùng những sự kiện đã nêu ra. Như nói: Nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân đẳng. Sau đẳng là chấm dứt, không kể thêm một sự kiện nào nữa, nên gọi là Hướng nội đẳng. 2. Hướng ngoại đẳng: Chữ đẳng đặt sau vài ba sự kiện trong nhiều sự kiện phải kể hết. Như nói: Nhãn đẳng, nghĩa là ngoài nhãn còn phải kể thêm nhĩ, tị, thiệt, thân, nên gọi là Hướng ngoại đẳng. Ngoài ra, luận Tạp a tì đàm tâm quyển 6 nói, đẳng có nghĩa là nhiều sự kiện được gom lại. [X. Du già luận kí Q.2 phần dưới; Thành duy thức luận thuật kí Q.4 phần đầu, Q.6 phần đầu; Thành duy thức luận diễn bí Q.1 phần đầu; Nhân minh đại sớ thụy nguyên kí Q.6].
đẳng chánh giác
Samyak-sambodhi (skt)—Tam Miệu Ta Bồ Đề—Tam Miệu Tam Phật Đà. 1) Chánh Biến Tri: Complete perfect knowledge. 2) Phật Trí: Buddha-knowledge. 3) Chánh Đẳng Chánh Giác: Omniscience; the bodhi of all Buddhas. 4) Một trong mười danh hiệu của Phật: One of the ten titles of the Buddha—See Thập Hiệu in Vietnamese-English Section, and Samyak-sambuddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Đẳng chí 等至
[ja] トウシ tōshi ||| Chinese translation of the Sanskrit samāpatti, at term for meditation that refers to a condition of equanimity of body and mind. Transliterated as 三摩鉢底. => Hán dịch chữ samāpatti từ tiếng Sanskrit, trong thuật ngữ của thiền, tư nầy chỉ cho sự thanh thản của thân và tâm. Phiên âm là Tam-ma-bát-để 三摩鉢底.
đẳng chính giác
Samyak-sambodhi (S). Complete perfect knowledge; Buddha knowledge omniscience; the bodhi of all Buddhas.
Đẳng chính giác 等正覺
[ja] トウショウカク tōshōkaku ||| (1) Perfect supreme enlightenment; the level of buddhahood, transcribed into Chinese as 三藐三菩提 (saṃyak-saṃbodhi); also written 正等覺. (2) The perfectly enlightened one; a buddha (saṃyak-saṃbuddha). (3) One of the ten epithets of the Buddha. (4) In the Shin sect, a person who has entered the level of certainty in attaining enlightenment 正定聚. => 1. Giác ngộ viên mãn tối thượng , quả vị Phật, phiên âm sang tiếng Hán là Tam miệu tam bồ-đề (三藐三菩提 s: saṃyak-saṃbodhi); còn gọi là Chính đẳng giác 正等覺. 2. Đấng giác ngộ viên mãn, Đức Phật. 3. Một trong 10 danh hiệu của Đức Phật. 4. Theo Chân tông (Shin), chỉ cho hành giả đã thể nhập chắc chắn vào quả vị giác ngộ (chính đẳng tụ 正定聚).
đẳng chúng sanh giới
Phổ giới chúng sanh (gọi chung cho hết thảy chúng sanh)—The universal realm of living beings.
đẳng cung
5171又作等得。為僧眾之食法,食前由上座至下末待食物分配平均,維那唱等供後,始得食之,以表施主之平等布施。又等供亦為解毒之祕密語。〔十誦律卷六十一、四分律刪繁補闕行事鈔卷下三、四分律行事鈔資持記卷下三之三、卷下四之一〕
; (等供) Cũng gọi Đẳng đắc. Phép dùng cơm của chúng tăng. Sau khi thức ăn đã được dâng cúng đồng đều, từ bậcThượng tọa đến hàng hạ tọa phải đợi sau khi vị Duy na xướng Đẳng cúng rồi mới được ăn, đó là biểu tỏ sự bố thí bình đẳng của thí chủ. Ngoài ra, Đẳng cúng còn là mật ngữ giải độc. [X. luật Thập tụng Q.61; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 3; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 3 đoạn 3, phần 4 đoạn 1].
đẳng cúng
Đẳng Đắc hay nghi thức ăn của chư Tăng. Sau khi thức ăn được phân phối bằng nhau thì vị Duy Na hay vị sư chủ lễ xướng câu “Đẳng Cúng” rồi thì chư Tăng mới bắt đầu ăn—Synchronous offering, i.e. the simultaneous beginning of a meal when the master of ceremonies cries that the meal is served.
đẳng diệu
The two supreme forms of Buddha enlightenment đẳng giác and diệu giác. A Buddha is known as Đẳng diệu giác vương king of universal and supernatural illumination.
đẳng diệu giác vương
King of Universal and Supernatural Illumination.
đẳng dẫn
Samahita (skt)—Tam Ma Hê Đa—Tên của một loại định, mà khi nhập vào thì cả thân lẫn tâm đều chuyên chú tạo nên sự an hòa bình đẳng của thân tâm—Body and mind both fixed or concentrated in samadhi.
Đẳng Giác
(等覺): tên gọi khác của đức Phật, còn gọi là Đẳng Chánh Giác (等正覺), một trong 10 đức hiệu của Phật. Đẳng (等) nghĩa là bình đẳng; giác (覺) tức là giác ngộ; sự giác ngộ của chư Phật là bình đẳng, nhất như, nên được gọi là Đẳng Giác. Như trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 10 có cho biết rằng: “Chư Phật đẳng cố, danh vi Đẳng Giác (諸佛等故、名爲等覺, các đức Phật bình đẳng nên có tên là Đẳng Giác).” Hay như trong Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá Nguyện Sanh Kệ Bà Tẩu Bàn Đầu Bồ Tát Tạo Tinh Chú (無量壽經優婆提舍願生偈婆藪槃頭菩薩造幷註, tức Tịnh Độ Luận Chú [淨土論註], Vãng Sanh Luận Chú [往生論註], Taishō Vol. 40, No. 1819) quyển Thượng cũng giải thích rằng: “Dĩ chư pháp đẳng cố, chư Như Lai đẳng, thị cố chư Phật Như Lai danh vi Đẳng Giác (以諸法等故、諸如來等、是故諸佛如來名爲等覺, vì các pháp bình đẳng, nên các Như Lai bình đẳng, vì vậy các đức Phật Như Lai có tên gọi là Đẳng Giác).” Trong 52 vị của giai vị Đại Thừa, vị Bồ Tát ở giai vị thứ 51 được gọi là Đẳng Giác, là địa vị tối cao của Bồ Tát. Nghĩa là khi đầy đủ ba kỳ trăm kiếp tu hành, Bồ Tát của Biệt Giáo thì đoạn tận 11 phẩm vô minh, Bồ Tát của Viên Giáo thì đoạn tận 41 phẩm vô minh, sẽ chứng đắc Phật quả Diệu Giác; công đức trí tuệ của vị ấy ngang hàng với Diệu Giác; nên được có tên là Đẳng Giác, hay gọi là Nhất Sanh Bổ Xứ (一生補處, ý chỉ một kiếp kế tiếp sẽ thành Phật), Kim Cang Tâm (金剛心, tâm kiên cố như kim cương, có thể phá tan phiền não), Hữu Thượng Sĩ (有上士, đức Phật Diệu Giác thì được gọi là Vô Thượng Sĩ, bậc Đẳng Giác thì có tên như vậy), Vô Cấu Địa (無垢地, đạt đến cảnh giới không cấu nhiễm), v.v. Như trong Tứ Giáo Nghi (四敎儀, Taishō Vol. 46, No. 1929) quyển 10 có đoạn rằng: “Nhược vọng Pháp Vân danh chi vi Phật, vọng Diệu Giác danh Kim Cang Tâm Bồ Tát, diệc danh Vô Cấu Địa Bồ Tát (若望法雲名之爲佛、望妙覺名金剛心菩薩、亦名無垢地菩薩, nếu hướng về quả vị Pháp Vân Địa thì gọi đó là Phật, hướng về Diệu Giác thì gọi là Bồ Tát Kim Cang Tâm, cũng có tên là Bồ Tát Vô Cấu Địa).” Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀, Taishō Vol. 46, No. 1911) quyển 1 khẳng định rằng: “Cứu cánh tức Bồ Đề giả, Đẳng Giác nhất chuyển nhập ư Diệu Giác (究竟卽菩提者、等覺一轉入於妙覺, cứu cánh tức Bồ Đề nghĩa là Đẳng Giác một lần chuyển nhập vào Diệu Giác).”
đẳng giác
5174<一>又作等正覺。佛十號之一。即指佛。為菩薩修行至極位之稱。等覺,意為等正之覺;即所遍悟之真理,與諸佛所悟菩提內容相等。(參閱「阿耨多羅三藐三菩提」3674) <二>在內容上與佛相等,而實際上修行比佛略遜一籌者,稱為等覺。故位於菩薩修行階位五十二位中之第五十一位,六種性之第五。等覺又稱等正覺(意為與正覺相等之覺)、有上士(妙覺佛陀稱為無上士,對此,等覺則稱有上士)、一生補處(意謂次一生將成佛)、金剛心(如金剛堅固之心,能摧破煩惱)、鄰極。等覺菩薩成佛之前,在凡夫位時比照真理修行,此謂「入重玄門」。〔仁王般若波羅蜜經卷下受持品、菩薩瓔珞本業經卷上賢聖學觀品、華嚴經探玄記卷十四「十明品」、四教義卷六、大乘義章卷十七末〕 <三>在日本真宗,以為得他力信心者必獲往生成佛,故以此信心比擬於彌勒菩薩所起之等覺金剛心,而稱為橫超金剛心,並謂於此世即可入於與彌勒同等之等覺位。
; bình đẳng, giác ngộ.
; Samyak-sambodhi (S). Absolute universal enlightenment.
; Giác ngộ cái bản thể, về lý thì bằng Phật, còn về sự thì chưa bằng Phật.
; Samyak-sambodhi (skt). 1) Sự giác ngộ của chư Phật bình đẳng nhất như: Absolute universal enlightenment, omniscience, a quality of a term for a Buddha. 2) Quả vị thứ 51 trong 52 quả vị mà Bồ Tát phải trải qua trên đường đi đến quả vị Phật—The balanced state of truth—The fifty-first of the fifty-two stages through which a bodhisattva is supposed to pass on the road to Buddhahood. 3) Đẳng Giác đi trước Diệu Giác hay Phật Quả Giác Ngộ: The attainment of the Buddha-enlightenment which precedes the final stage of truth.
; (等覺) I. Đẳng Giác. Cũng gọi Đẳng chính giác. Một trong 10 tôn hiệu của Phật. Đẳng giác nghĩa là sự giác ngộ chân chính bình đẳng, tức giác ngộ chân lý hoàn toàn. Chỉ cho sự giác ngộ của chư Phật. (xt. A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề). II. Đẳng Giác. Cũng gọi Đẳng chính giác, Hữu thượng sĩ, Nhất sinh bổ xứ, Kim cương tâm, Lân cực. Về nội dung thì đã ngang bằng với Phật, nhưng về mặt tu hành thực tế thì còn kém Phật một bậc, gọi là Đẳng giác. Trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát, Đẳng giác ở giai vị thứ 51, trong 6 chủng tính thì thuộc chủng tính thứ 5. Đây là giai vị tu hành cùng tột của Bồ tát. Bồ tát Đẳng giác khi chưa thành Phật, còn ở địa vị phàm phu y theo chân lí mà tu hành, thì gọi là Nhập trùng huyền môn. [X. phẩm Thụ trì trong kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.hạ; phẩm Hiền thánh học quán trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; phẩm Thập minh trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.14; Tứ giáo nghi Q.6; Đại thừa nghĩa chương Q.17 phần cuối]. III. Đẳng giác. Giai vị ngang hàng với Đẳng giác kim cương tâm (tâm kim cương của Bồ tát Đẳng giác) của bồ tát Di lặc. Tịnh độ chân tông của Nhật bản cho rằng người có tín tâm đối với tha lực chắc chắn được vãng sinh thành Phật, cho nên so sánh tín tâm này với Đẳng giác kim cương tâm của bồ tát Di lặc, mà gọi là Hoành siêu kim cương tâm, đồng thời, cho rằng ngay trong đời hiện tại cũng có thể lên ngôi Đẳng giác ngang hàng với bồ tát Di lặc.
đẳng giác huệ
The wisdom of understanding of nirvana.
đẳng giác vị
Bodhisattva-stage.
Đẳng giác 等覺
[ja] トウガク tōgaku ||| "Equal enlightenment" The rank of bodhisattvahood where the practitioner has enlightenment equal to that of a buddha, but is yet a bodhisattva. Following this stage the practitioner enters the stage of 'marvelous enlightenment' (妙覺). => Giai vị tu tập của Bồ-tát đạo, khi hành giả đã đạt giác ngộ như chư Phật, nhưng vẫn còn ở địa vị Bồ-tát. Tiếp theo giai vị nầy, hành giả sẽ nhập vào Diệu giác (妙覺).
Đẳng hoạt
(等活): dịch từ Phạn ngữ là Saṃjỵva, một trong 8 cảnh địa ngục nóng (Nhiệt địa ngục). Trong địa ngục ấy, các tội nhân đánh đập, tàn hại lẫn nhau, xâu xé thân thể nhau nhưng chẳng bao giờ chết. Mỗi khi họ đau đớn quá mà chết đi thì lập tức sống lại, tiếp tục chịu khổ, nên gọi là đẳng hoạt.
đẳng hoạt
Samjiv (S). Revive, re-animate; ressurection.
; Samjiv (skt)—Phục hoạt lại hay sống lại—Revive—Re-animate—Resurrection.
đẳng hoạt địa ngục
5172梵名 Saṃjīva,巴利名同。又稱更活地獄、又活地獄、更生地獄、想地獄。為八熱地獄之第一。因罪人於此地獄中受苦而死,後還復活受苦,故稱等活地獄。此地獄之罪人,互懷害心,相遇如獵者逢鹿,以鐵爪摑裂擘割,破截而死。若經涼風吹過,須臾還活,復更受苦。正法念處經卷五載,造殺生之惡業者墮此地獄,且此地獄有屎泥處、刀輪處、瓮熟處、多苦處、闇冥處、不喜處、極苦處、眾病處、兩鐵處、惡杖處、黑色鼠狼處、異異迴轉處、苦逼處、鉢頭摩鬚處、陂池處、空中受苦處等十六受苦別處。〔雜阿含經卷四十八、長阿含經卷十九地獄品、大樓炭經卷二、起世經卷二地獄品、大毘婆沙論卷一七二、大智度論卷十六、瑜伽師地論卷四〕
; Xem hoạt địa ngục.
; The first of the eight hot hells, in which the denizens are chopped, stabbed, ground, and pounded, but by a cool wind are brought back to life, to undergo renewed torment.
; Địa ngục đầu tiên trong tám địa ngục nóng—The first of the eight hot hells—See Địa Ngục (A) (a) (1).
; (等活地獄) Phạm, Pàli: Saṃjīva. Cũng gọi Cánh hoạt địa ngục, Hựu hoạt địa ngục,Cánh sinh địa ngục, Tưởng địa ngục. Tội nhân trong địa ngục này mang lòng ác hại, hễ gặp nhau là cấu xé nhau bằng móng sắt, cho đến khi thân thể rách nát thì chết, gặp cơn gió mát thổi qua, phút chốc sống lại, rồi tiếp tục chịu khổ, nên gọi là Đẳng hoạt địa ngục, một trong tám địa ngục nóng. Cứ theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 5, người gây nghiệp sát sinh, sau khi chết, phải đọa vào địa ngục Đẳng hoạt. Trong địa ngục này có 16 chỗ chịu khổ khác nhau: Chỗ phân lỏng, chỗ vòng dao sắc, chỗ nung nấu, chỗ nhiều khổ, chỗ tối tăm, chỗ không vui, chỗ cực khổ, chỗ nhiều bệnh, chỗ cặp tội nhân bằng hai thanh sắt, chỗ đánh tội nhân bằng gậy sắt, chỗ chó sói chuột đen cắn xé tội nhân, chỗ xoay chuyển lúc nào cũng thấy khác lạ, chỗ khổ bức bách, chỗ hành hình tội nhân khiến toàn thân đỏ như hoa sen hồng, chỗ ao hồ, chỗ chịu khổ giữa hư không. [X. kinh Tạp a hàm Q.48; phẩm Địa ngục trong kinh Trường a hàm Q.19; kinh Đại lâu thán Q.2; phẩm Địa ngục trong kinh Khởi thế Q.2; luận Đại tì bà sa Q.172; luận Đại trí độ Q.16; luận Du già sư địa Q.4].
Đẳng hoạt địa ngục 等活地獄
[ja]トウカツジゴク tōkatsujigoku ||| Saṃjīva-naraka, the hell of the repetition of painful life, in which beings are tortured, killed, and reborn again into the same conditions. The first of the eight burning hells 八熱地獄. => Saṃjīva-naraka (s); Địa ngục tái diễn lại cuộc sống đau khổ. trong đó tội nhân bị khảo tra, giết chết, rồi tái sinh lại trong hoàn cảnh y như trước. Là địa ngục đầu tiên trong Bát nhiệt địa ngục 八熱地獄.
đẳng khởi
5173梵語 samutthānaṃ,巴利語 samutthāna。可分兩種:(一)能等起,謂「思之心所」為生起一切之因;以其能引生身語二業,並於第二剎那以後即與彼身語業同時俱存。又可細分為因等起與剎那等起兩種:(1)因等起(梵 hetu-samutthāna),謂造業時,意業在前為因;以能引生業,又以對應於其後所生之果,故稱之為因。(2)剎那等起(梵 tat-kṣaṇa-samutthāna),謂造業時之心、心所與業同一剎那而起。此外,或稱因等起為「轉心」,稱剎那等起為「隨轉心」。而舊譯如大毘婆沙論卷十七、卷一七○、俱舍論卷十三等,則多譯為生因緣起、俱剎那緣起。大乘經典多用轉與隨轉之名稱而不用等起之譯名,然自瑜伽師地論卷一、卷五等採用「等起」一稱後,後世之注釋家亦普遍沿用之。 (二)所等起,指由某一法而引生之另一法。如「等起善」係由自性善、相應善等而引生身語之善業,「等起不善」則由相應不善、自性不善而引生身語之不善業。〔大毘婆沙論卷一一三、顯揚聖教論卷十二、順正理論卷三十六〕
; (等起) Phạm: Samutthànaô, Pàli: Samutthàna. Các pháp sinh khởi cùng một lúc. Có thể chia làm hai loại: 1. Năng đẳng khởi: Tâm sở Tư là nhân dấy sinh tất cả pháp, nó có khả năng sinh ra thân nghiệp, ngữ nghiệp và sau sát na thứ 2 nó đồng thời tồn tại với thân nghiệp, ngữ nghiệp. Năng đẳng khởi này lại có thể chia làmhai loại là Nhân đẳng khởi và Sát na đẳng khởi: a) Nhân đẳng khởi (Phạm: Hetusamutthàna): Khi gây nghiệp, thì ý nghiệp là nhân đầu tiên sinh ra nghiệp đối ứng với quả nên gọi là Nhân. b) Sát na đẳng khởi (Phạm:Tat-kwaịasamutthàna): Tâm, tâm sở và nghiệp khởi lên trong cùng một sát na khi tạo nghiệp. Ngoài ra, có thuyết gọi Nhân đẳng khởi là Chuyển tâm, gọi Sát na đẳng khởi là Tùy chuyển tâm. Còn các bản dịch cũ như luận Đại tì bà sa quyển 17, quyển 170, luận Câu xá quyển 13, thì đều dịch là Sinh nhân đẳng khởi, Câu sát na duyên khởi. Các kinh Đại thừa thì thường gọi là Chuyển và Tùy chuyển chứ không dùng Đẳng khởi, nhưng từ khi luận Du già sư địa quyển 1, quyển 5 sử dụng danh từ Đẳng khởi thì các nhà chú thích đời sau đều dùng theo danh từ này. 2. Sở đẳng khởi: Từ một pháp nào đó mà sinh ra một pháp khác. Như Đẳng khởi thiện là từ nơi Tự tính thiện, Tương ứng thiện, v.v... mà sinh ra Thân thiện nghiệp, Ngữ thiện nghiệp. Còn Đẳng khởi bất thiện thì từ Tương ứng bất thiện, Tự tính bất thiện mà sinh ra Thân bất thiện nghiệp, Ngữ bất thiện nghiệp... [X. luận Đại tì bà sa Q.113; luận Hiển dương thánh giáo Q.12; luận Thuận chính lí Q.36].
đẳng khởi bất thiện
5173為俱舍論卷十三所說四種不善之一。不善法可分為勝義、自性、相應、等起四種不善,其中,等起不善為由惡之心作用所生起之身體動作及言語表現。係與自性不善、相應不善所等起的身語之表業、無表業,及不相應行法。(參閱「四種不善」1795)
; (等起不善) Một trong 4 loại bất thiện được nói trong luận Câu xá quyển 13. Pháp bất thiện có thể chia làm bốn loại: Thắng nghĩa, Tự tính, Tương ứng và Đẳng khởi. Trong đó, Đẳng khởi bất thiện được biểu hiện ra động tác và lời nói của thân thể là do nơi tâm ác sinh ra. Đây là Biểu nghiệp, Vô biểu nghiệp và Bất tương ứng hành pháp cùng sinh khởi một lúc với Tự tính bất thiện và Tương ứng bất thiện. (xt. Tứ Chủng Bất Thiện).
đẳng khởi thiện
5174梵語 samutthāneṇa kuśalāḥ。為俱舍論卷十三所說四種善之一。即將善法分為勝義、自性、相應、等起四種,其中,等起善為由善之心作用所生起之身體動作及言語表現。係與自性善及相應善所等起的身語之表業、無表業及不相應行法。(參閱「善」4873)
; (等起善) Phạm: samutthāneṇa kuśalāḥMột trong 4 loại thiện nói trong luận Câu xá quyển 13. Thiện pháp được chia làm bốn loại: Thắng nghĩa, Tự tính, Tương ứng, Đẳng khởi, trong đó, Đẳng khởi thiện được biểu hiện là động tác và lời nói của thân thể do nơi tâm thiện sinh ra. Đây là Biểu nghiệp, Vô biểu nghiệp của thân ngữ và Bất tương ứng hành pháp sinh khởi cùng một lúc với tự tính thiện và tương ứng thiện. (xt. Thiện).
Đẳng khởi thiện 等起善
[ja] トウキゼン tōkizen ||| Manifest physical activities and verbal expressions that are based on virtuous mental functions (samutthāneṇa-kuśalāḥ). 〔瑜伽論 T 1579.30.292a15〕 => Sự biểu hiện các hành vi và ngôn thuyết dựa trên tâm sở thiện (s: samutthāneṇa-kuśalāḥ).
Đẳng khởi 等起
[ja] トウキ tōki ||| To appear; to be manifest (samutthāna). => Xuất hiện; hiện hành (s: samutthāna).
đẳng lưu
5171梵語 niṣyanda,巴利語 nissanda。等,等同之義;流,流類之義。等流,即同一流類之義。俱舍論卷二十一(大二九‧一○九下):「無慚、慳、掉舉,是貪之等流。」即謂無慚等係由貪所流出,以無慚等皆為具有同於「貪」之法,故稱等流。 又若就時間之先後而論,對於前者而稱後者為等流果;反之,前者即稱為同類因或遍行因。又同類相續之法稱為「等流相續」。於瑜伽師地論卷五十四列舉出色蘊之相續流轉有等流流、異熟生流、長養流等三類,其中之等流流又分為四種,即:異熟等流、長養等流、變異等流、本性等流(又稱自性等流)等。 在密教,稱佛九界隨類之身為等流身;此即以其平等流演而九界等同之故。〔大毘婆沙論卷一二七、俱舍論光記卷二十一、大乘法苑義林章卷一本、成唯識論述記卷二末〕
; Nisyanda (S) Flowing down, flowing out.
; Nishyanda (skt). 1) Dòng trôi chảy không phân biệt: Flowing-out or down—Outflow, regular flow, equal current. 2) Do nhân mà trôi chảy tới quả, do gốc mà trôi chảy tới ngọn tương tự giống nhau: Like producing like; the equality of cause and effect; like causes produce like effects; of the same order.
; (等流) Phạm: Niwyanda, Pàli: Nissanda. Đẳng là đồng đẳng (cùng), lưu là lưu loại (dòng), đẳng lưu nghĩa là cùng một dòng. Luận Câu xá quyển 21 (Đại 29, 109 hạ), nói: Vô tàm, khan, trạo cử là đẳng lưu của tham. Nghĩa là Vô tàm v.v... chảy ra từ dòng nước tham, có cùng tính chất với tham, cho nên gọi là Đẳng lưu. Nếu nói về thời gian thì cái trước là Đồng loại nhân hoặc Biến hành nhân, mà cái sau thì gọi là Đẳng lưu quả. Còn pháp đồng loại nối nhau sinh khởi thì gọi là Đẳng lưu tương tục. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 54, thì sự lưu chuyển tương tục của sắc uẩn có ba loại: Đẳng lưu lưu, Dị thục sinh lưu và Trưởng dưỡng lưu. Trong đó, Đẳng lưu lưu lại được chia làm 4 loại là: Dị thục đẳng lưu, Trưởng dưỡng đẳng lưu, Biến dị đẳng lưu và Bản tính đẳng lưu (cũng gọi Tự tính đẳng lưu). Mật giáo gọi thân Phật tùy theo loại mà thị hiện trong 9 cõi là Đẳng lưu thân. Đó là vì lòng từ bi mà Ngài thị hiện một cách bình đẳng giữa mọi loài trong 9 cõi. [X. luận Đại tì bà sa Q.127; Câu xá luận quang kí Q.22; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối].
đẳng lưu quả
5172梵語 niṣyandaphala。又作依果、習果。為五果之一。即從等同之因所流出之果。從善因生善果,從惡因生惡果,從無記因生無記果;例如從前念之不善心生後念之不善心或不善業。蓋等流一詞,即指等同流類之意;以因與果之性質同類,故稱等流。據俱舍論卷六載,等流果係自「六因」中之同類因、遍行因而來。〔大毘婆沙論卷一一三、俱舍論卷十七、雜阿毘曇心論卷三、入阿毘達磨論卷下、成唯識論卷八、大乘義章卷三本〕(參閱「五果」1112)
; Fruit of the development of germ.
; Nisyanda-phala (skt). 1) Một trong năm quả, từ thiện nhân sinh ra thiện quả, từ ác nhân sinh ra ác quả, từ vô ký nhân sinh ra vô ký quả (từ cái thiện tâm của ý nghĩ trước, mà chuyển thành thiện tâm sau; hoặc từ cái bất thiện tâm của ý nghĩ trước, mà sinh ra cái bất thiện tâm sau, hay bất thiện nghiệp của ý nghĩ sau), tính quả giống tính nhân mà trôi chảy ra nên gọi là Đẳng Lưu Quả—One of the five fruits, uniformly continuous effect, like effetcs arise from like causes, e.g. good from good, evil from evil; present condition in life from conduct in previous existence; hearing from sound, etc. 2) Loại nào sanh ra loại đó: Like producing like; The equality of cause and effect; like causes produce like effects.
; (等流果) Phạm: Niwyandaphala. Cũng gọi Y quả, Tập quả. Một trong 5 quả. Quả có cùng một tính chất với nhân, tức là quả của Đồng loại nhân. Như nhân lành sinh quả lành, nhân ác sinh quả ác, nhân vô kí sinh quả vô kí v.v... Chẳng hạn như tâm bất thiện ở niệm trước sinh ra tâm bất thiện hoặc nghiệp bất thiện ở niệm sau v.v... [X. luận Đại tì bà sa Q.113; luận Câu xá Q.17; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Nhập a tì đạt ma Q.hạ; luận Thành duy thức Q.8; Đại thừa nghĩa chương Q.3 phần đầu]. (xt. Ngũ Quả).
đẳng lưu thân
5171又作等流法身。為密教「四種法身」之一。密教將大日如來之法身分為自性、受用、變化、等流四種,等流身指佛身變化所示現,與九界(即十界中除佛界外之地獄、餓鬼、畜生、修羅、人間、天上、聲聞、緣覺、菩薩等界)眾生相等同之化身。據真言名目記載,等流身乃九界隨流之身,非佛體。或其雖有佛形,然為無而忽有,暫現速隱之佛,故攝於等流身。平等流演,等同九界,故稱等流;亦是法爾作業,故立法身之名。 若以四身攝曼荼羅界會之諸尊時,毘盧遮那佛為自性身,四方之佛為受用身,金剛蓮華等菩薩為變化身,至於等流身則指外金剛部之諸眾。此外,另有四身說,係指自性身(或法性身)、受用身(或報身)、變化身(或應身、化身)等三身說,其中受用身復分自受用與他受用二種身,合為四身說。但今之四身說與此有異,即將變化身認為是佛形,或等同於九界之形,故二分之。〔金剛頂經瑜伽十八會指歸、菩提心論、五輪九字祕密釋、四種法身義〕(參閱「四種法身」1808)
; (等流身) Cũng gọi Đẳng lưu pháp thân. Một trong 4 loại pháp thân của Mật giáo. Mật giáo chia pháp thân của đức Đại nhật Như lai làm 4 loại là: Tự tính, Thụ dụng, Biến hóa và Đẳng lưu. Thân Đẳng lưu là Hóa thân của Phật giống với thân chúng sinh trong chín cõi (tức là trong 10 cõi thì trừ cõi Phật ra còn lại chín cõi là: địa ngục, ngã qủi, súc sinh, Tu la, cõi người, cõi trời, Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát). Cứ theo Chân ngôn danh mục kí thì thân Đẳng lưu là thân tùy theo loài mà biến hiện trongchíncõi, chứ không phải thể của Phật. Vì thân này bình đẳng và giống hệt như thân tướng chúng sinh trong 9 cõi nên gọi là Đẳng lưu. Còn chỗ tạo tác hạnh nghiệp thì cũng tự nhiên như thế nên gọi là Pháp thân. Nếu khi nhiếp 4 thứ Pháp thân với các vị Tôn trong hội Mạn đồ la thì đức Phật Tì lô giá na là Tự tính thân, các đức Phật ở bốn phương là Thụ dụng thân, các bồ tát Kim cương, Liên hoa v.v... là Biến hóa thân, còn Đẳng lưu thân thì chỉ cho các chúng Kim cương bộ ngoài. [X. Kim cương đính kinh Du già thập bát hội chỉ qui; luận Bồ đề tâm; Ngũ luân cửu tự bí mật thích; Tứ chủng pháp thân nghĩa]. (xt. Tứ Chủng Pháp Thân).
đẳng lưu tương tục
Mỗi loại đều không thay đổi tính chất của mình trong vòng luân chuyển liên tục—Of the same nature, or character; connected as cause and effect.
đẳng lưu tập khí
5172為「異熟習氣」之對稱。又作名言習氣、名言種子。即瑜伽行派與法相宗所說,由「七轉識」之善、惡、無記等三性為同類因,而薰成第八識中之名言種子。等流,謂流類相等或相似;習氣,為種子之異稱。由前六識所招感異熟果之習氣,稱為異熟習氣;由七轉識所引生等流果之習氣,稱為等流習氣。此習氣乃第八識所藏之生果功能,故謂之種子;此習氣與由其所生之果(即現行法)流類相似,例如由善因則生善果,由惡因則生惡果,由無記因則生無記果,故謂之等流。如是依善、惡、無記等各種性質而薰成與之流類相似之種子者,即是具有「能薰」作用之七轉識,故成唯識論卷八謂,等流習氣係由七識中之善、惡、無記三性所薰而生之種子。〔成唯識論述記卷二末、唯識論掌中樞要卷上末〕(參閱「名言種子」2258、「異熟習氣」5159)
; (等流習氣) Đối lại: Dị thục tập khí. Cũng gọi Danh ngôn tập khí, Danh ngôn chủng tử. Thuyết của hành phái Du già và tông Duy thức cho rằng chủng tử trong thức A lại da thứ 8 là do ba tính thiện, ác, vô kí của bảy chuyển thức huân tập (xông ướp) mà thành. Đẳng lưu nghĩa là dòng loại giống nhau; Tập khí là tên khác của chủng tử. Tập khí do sáu thức trước chiêu cảm qủa Dị thục, gọi là Dị thục tập khí; Tập khí do 7 chuyển thức sinh ra quả Đẳng lưu, gọi là Đẳng lưu tập khí. Tập khí này là công năng sinh ra quả được cất giữ trong thức thứ 8 nên gọi là Chủng tử. Tập khí này cùng với quả (tức pháp hiện hành) do nó sinh ra là cùng một tính chất như nhau; chẳng hạn nhân thiện sinh quả thiện, nhân ác sinh quả ác, nhân vô kí sinh quả vô kí, cho nên gọi là Đẳng lưu. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 8 thì Đẳng lưu tập khí là chủng tử do ba tính thiện, ác, vô kí trong bảy thức huân tập mà thành. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối; Duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng phần cuối]. (xt. Danh Ngôn Chủng Tử, Dị Thục Tập Khí).
Đẳng lưu 等流
[ja] トウル tōru ||| The flow of sameness; the tendency toward continuity--the fact that during the process of unfolding from cause to effect, there remains a situation of sameness, or analogousness, to the between the two. The fact that what is produced later has something in common with what preceded. 〔二障義、 HPC 1.790c〕Often seen contrasted with 異熟. => Khuynh hướng tương tục- thực tế trong tiến trình hiển bày nhân quả, vẫn còn có tình trạng không thay đổi, hoặc tình trạng tương tự đối với giữa nhân và quả. Thực ra những gì sinh trưởng về sau đều có tính chất chung với những cái trước.
đẳng lượng cảnh
5174謂鼻、舌、身等三根與所取之對境分量相等。若所取之境僅有極微之分量,則能取之根亦僅用相等之極微分量即可產生作用。據俱舍論卷二記載,香、味、觸三境各被鼻、舌、身三根所取時,少分之境則用少分之根,等分之境則起全根之用。若所取之境,其境體較根大時,如以手掌捫摸大樹,則於前念中,其根量先取相等之幾分,復於後念取其所殘之境;此因根能速疾發識取境,故似於同時取等量之境。至於眼、耳二根,則所取之境不限於等量。以眼而言,有時取小於眼根之境,如見毫毛;有時取大於眼根之境,如見高山;有時取等量之境,如見葡萄、棗果等。然鼻、舌、身等三根,則僅能取分量相等之對境。俱舍論疏卷二(大四一‧八三一下):「應知鼻等三,唯取等量境。」〔順正理論卷八、顯宗論卷四〕
; (等量境) Phần lượng của ba căn mũi, lưỡi, thân ngang bằng với phần lượng của đối cảnh mà chúng duyên theo. Nghĩa là phần lượng của cảnh sở thủ (đối tượng bị nắm bắt) phải tương đương với phần lượng của căn năng thủ (cái nắm bắt) thì mới có thể phát sinh tác dụng. Cứ theo luận Câu xá quyển 2 , khi 3 căn mũi, lưỡi, thân duyên theo 3 cảnh hương, vị, xúc, thì có 3 cách căn tiếp thu cảnh: Nếu cảnh có phần lượng nhỏ hơn căn thì căn dùng một phần nhỏ để tiếp thu; nếu cảnh có phần lượng bằng với căn thì dùng toàn căn. Khi cảnh ấy lớn hơn căn, như đưa bàn tay sờ mó cây đại thụ, thì trong niệm trước bàn tay duyên lấy một phần nhỏ bằng với căn rồi ở niệm sau thì duyên lấy cảnh còn lại. Đó là vì căn có khả năng phát ra thức một cách mau lẹ để duyên lấy cảnh, cho nên dường như đồng thời duyên lấy cảnh có phần lượng bằng với nó. Còn đối với mắt và tai thì cảnh sở duyên không bị giới hạn ở phần lượng. Như mắt, có lúc nó duyên cảnh nhỏ hơn nó, như thấy sợi lông; lại có lúc nó duyên lấy cảnh lớn hơn nó gấp bội, như thấy núi cao; có khi nó duyên lấy cảnh có phần lượng bằng với nó, như thấy trái nho, trái táo v.v... Nhưng mũi, lưỡi, thân thì chỉ có thể duyên lấy cảnh có phần lượng bằng với nó. Câu xá luận sớ quyển 2 (Đại 41, 831 hạ), nói: Nên biết mũi, lưỡi, thân, chỉ duyên cảnh đẳng lượng (cảnh có phần lượng bằng với chúng). [X. luận Thuận chính lí Q.8; luận Hiển tông Q.4].
đẳng lữ
Chư Tăng Ni cùng một đẳng cấp (hay cùng niên lạp)—Of the same class, company or fellow.
đẳng nguyện
The universal vows common to Buddhas.
; Phổ nguyện của chư Phật đều giống nhau—The universal vows common to Buddhas.
Đẳng nhất thiết Phật 等一切佛
[ja] トウイッサイブツ tō issai butsu ||| The third rank of the 'ten dedications of merit' (十廻向) in the path of bodhisattvahood. According to Yogācāra 瑜伽行派 doctrine, the stage where the bodhisattva continually and broadly penetrates the teachings of all the buddhas of the three worlds. => Giai vị thứ ba trong Thập hồi hướng của Bồ-tát đạo. Theo Du-già hành tông, đây là giai vị mà Bồ-tát không ngừng thâm nhập giáo lý của chư Phật trong tam giới.
đẳng nhất đại xa
The highest class great cart, i.e. universal salvation.
đẳng nhứt thiết phật hồi hướng
(The Flower Adornment Sutra—Chapter 25—Ten Dedications) Great enlightening beings' dedication equal to all Buddhas or the third dedication in the ten dedications (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 25—Thập Hồi Hướng)—Đại Bồ Tát Đẳng nhứt thiết Phật hồi hướng hay là đệ tam hồi hướng trong thập hồi hướng. 1) Đại Bồ Tát tùy thuận tu học đạo hồi hướng của tam thế chư Phật: Enlightening beings follow and cultivate the path of dedication of the Buddhas of past, future and present. 2) Lúc tu học đạo hồi hướng nầy Bồ Tát thấy—When they practice and learn the path of dedication in this way: a. Bồ Tát thấy tất cả lục trần sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, hoặc tốt hoặc xấu cũng chẳng sanh lòng ưa hay ghét: When they perceive any objects of sense, whether pleasant or unpleasant, they do not conceive like or dislike. b. Tâm được tự tại, không lỗi lầm, rộng lớn, thanh tịnh, hoan hỷ, vui thích: Their minds are free, without faults, broad, pure, joyful, blissful. c. Lìa những ưu não: Free from all sorrows and troubles. d. Tâm ý nhu nhuyễn: Their minds are flexible. e. Các căn thanh lương: Their senss are pure and cool. 3) Bồ Tát tu tập Thiện Căn hồi hướng—Enlightening beings cultivate dedication of roots of goodness: a. Đại Bồ Tát được an lạc như vậy, lại phát tâm hồi hướng chư Phật, tự nghĩ rằng—When great enlightening beings gain such peace and bliss, they become even more determined, dedicating their determination to the Buddhas with these thoughts: • Nguyện đem thiện căn của mình vun trồng hôm nay làm cho sự vui của chư Phật càng thêm—With the roots of goodness, they are planting, they vow to cause the bliss of the Buddhas to increase more and more: • Sự vui nơi an trụ bất tư nghì của Phật: The bliss of the unconceivable abode of Buddhas. • Sự vui nơi tam muội vô tỉ của chư Phật: The bliss of the peerless concentration of Buddhas. • Sự vui đại từ bi vô hạn lượng: The bliss of unlimited compassion. • Sự vui giải thoát của tất cả chư Phật: The bliss of liberation of all Buddhas. • Sự vui đại thần thông không ngằn mé: The bliss of unlimited spiritual power. • Sự vui vô lượng lực rốt ráo rộng lớn: The bliss of vast, ultimate, immeasurable power. • Sự vui tịch tịnh lìa những tri giác: The bliss of tranquility detached from all cognition. • Sự vui thường chánh định trụ nơi vô ngại trụ: The bliss of abiding in the state of nonobstruction, always rightly concentrated. • Sự vui thực hành hạnh vô nhị không đổi khác: The bliss of carrying out the practice of nondualism without change. b. Đại Bồ Tát đem những thiện căn hồi hướng Phật xong, lại đem thiện căn hồi hướng Bồ Tát—Once great enlightening beings have ddicated their roots of goodness to the Buddhas, they also dedicate these virtues to the enlightening beings: • Làm cho người chưa viên mãn được viên mãn: To cause those who have not fulfilled their vows to fulfill them. • Làm cho người tâm chưa thanh tịnh được thanh tịnh:To cause those whose minds are not yet pure to attain purity. • Làm cho người chưa tròn đủ Ba-La-Mật được tròn đủ: To cause those who have not fulfilled the ways of transcendence to fulfill them. • Làm cho chúng sanh được an trụ nơi tâm kim cang Bồ Đề: To cause sentient beings to settle in the indestructible will for enlightenment. • Nơi nhứt thiết trí được bất thối chuyển: They do not regress on the way to omniscience. • Chẳng bỏ đại tinh tấn: They do not give up great effort. • Thủ hộ môn Bồ Đề: They preserve all the foundations of goodness of the gates of enlightenment. • Tất cả thiện căn có thể khiến chúng sanh lìa bỏ ngã mạn, phát Bồ Đề tâm, chí nguyện được thành tựu viên mãn: They are able to cause sentient beings to give up conceit, set their minds on enlightenment, and fulfill their aspiration. • An trụ nơi chỗ trụ của Bồ Tát: Abide in the abode of all Enlightening Beings. • Được các căn minh lợi của Bồ Tát: Attain the clear, sharp senses of Enlightening Beings. • Tu tập thiện căn, chứng Phật chủng trí: Cultivate roots of goodness, and realize omniscience. c. Đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng Bồ Tát như thế rồi, lại đem hồi hướng tất cả chúng sanh—Having thus dedicated their roots of goodness to Enlightening Beings, they then dedicate them to all sentient beings: • Nguyện cho tất cả chúng sanh có bao nhiêu thiện căn nhẫn đến rất ít chừng khảy móng tay, đều được thấy Phật, nghe pháp, kính Tăng: Wishing that the roots of goodness of all sentient beings, even the slightest, even seeing a Budha, hearing teaching, or respecting holy mendicants, but for the time of a fingersnap. • Nguyện những thiện căn kia đều lìa chướng ngại: Wishing all be free from obstruction. • Nguyện niệm Phật viên mãn: Wishing they reflect on the completeness of Buddhas. • Nguyện niệm Pháp phương tiện: Wishing they reflect on the techniques of the teaching. • Nguyện niệm Tăng tôn trọng: Wishing they reflect on the nobility and importance of the community. • Nguyện chẳng lìa thấy Phật: Wishing that they not be separated from vision of the Buddha. • Nguyện tâm được thanh tịnh: Wishing their minds become pure. • Nguyện được các Phật pháp: Wishing that they attain the qualities of Buddhahood. • Nguyện xây vô lượng công đức: Wishing that they build up immeasurable virtue. • Nguyện thanh tịnh những thần thông: Wishing that they purify spiritual powers. • Nguyện bỏ niệm nghi pháp: Wishing that they give up doubts about the truth. • Nguyện an trụ đúng Phật giáo: Wishing that they live according to the teaching. d. Bồ Tát vì Thanh Văn, Duyên Giác lại cũng hồi hướng như vậy: As they make such dedication to sentient beings, they also make such dedication for the Buddhist disciples and the individual illuminates. 4) Chư Bồ Tát lại nguyện—Enlightening beings also vow: a. Nguyện tất cả chúng sanh lìa hẳn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Diêm-La-vương, vân vân: They also pray that all sentient beings forever leave all miserable places like hells, hungry ghosts, and animality, an so on. b. Nguyện tăng trưởng tâm Bồ Đề: Wishing that they further develop the supreme will for enlightenment. c. Nguyện chuyên ý siêng cầu nhứt thiết chủng trí: Wishing that they concentrate their minds on the earnest search for knowledge of all means of liberation. d. Nguyện lìa hẳn sự hủy báng chánh pháp của chư Phật: Wishing that they never repudiate the true teaching of the Buddhas. e. Nguyện được sự an lạc của chư Phật: Wishing to attain the peace of the Buddhas. f. Nguyện thân tâm thanh tịnh: Wishing to be pure in body and mind. g. Nguyện chứng nhứt thiết trí: Wishing to realize omniscience. 5) Đại Bồ Tát có bao nhiêu thiện căn đều do đại nguyện phát khởi, chánh phát khởi, tích tập, chánh tích tập, tăng trưởng, chánh tăng trưởng, đều khiến rộng lớn đầy đủ: The foundations of goodness of great Enlightening Beings are all corectly initiated, built up, and developed by great vows, causing them to expand and to be completely fulfilled. 6) Lúc đại Bồ Tát sống tại gia—When great Enlightening Beings live at home: a. Tuy cùng vợ con ở chung nhưng chưa từng tạm bỏ tâm Bồ Đề: Though live at home with spouses and children, Enlightening Beings never for a moment give up the determination for enlightenment. b. Luôn tư duy cảnh nhứt thiết chủng trí: With correct mindfulness, they always meditate on the realm of all knowledge. c. Luôn tự độ, độ tha khiến được rốt ráo: They always liberate themselves and others, enable them to reach the ultimate. d. Luôn dùng phương tiện giáo hóa quyến thuộc của mình, khiến ai cũng vào trí Bồ Tát và thành thục giải thoát: They always use appropriate means to transform the members of their own households, causing them to enter the knowledge of Enlightening Beings and causing them to develop to maturity and attain liberation. e. Dầu tại gia, ở chung cùng quyến thuộc mà không sanh lòng chấp trước: Though they live at home with relatives, their minds have no attachments. f. Vì bổn nguyện đại bi mà hiện ở nhà, vì từ tâm mà tùy thuận vợ con, nơi đạo thanh tịnh Bồ Tát vẫn không chướng ngại: By their basic great great compassion they remain in home life, and because of their kindness they harmonize with their spouses and children, with no hindrance to the pure Way of Enlightening Beings. g. Dầu Bồ Tát ở nhà tạo lập sự nghiệp, nhưng chưa từng tạm bỏ tâm nhứt thiết trí: Though great enlightening beings be in home life and work at various occupations, they never for a moment give up the will for omniscience. h. Trong những mặc y phục, ăn thực phẩm, uống thuốc men, tắm rửa, xoay ngó, đi, đứng, ngồi, nằm, thân, ngữ, ý hoặc ngủ hoặc thức, vân vân, lòng Bồ Tát luôn hướng đến đạo vô thượng giác, chuyên nhiếp niệm tư duy nơi đây không lúc nào tạm bỏ: Whether they are dressing, eating, taking medicine, washing, looking around, walking, standing still, sitting, reclining, speaking, thinking, asleep or awake, whatever they are doing their minds always dedicate it to the path of omniscience. They concentrate and contemplate unremittingly, because they want to aid all sentient beings and settle them in enlightenment. i. Vì muốn lợi ích tất cả chúng sanh—For the sake of all sentient beings: • Bồ Tát an trụ vô lượng đại nguyện Bồ Đề: With imeasurable great vows. • Nhiếp thủ vô số thiện căn: They embody countless great roots of goodness. • Siêng thực hành những điều lành: Diligently cultivating virtues. • Cứu độ khắp tất cả mọi loài: To save everyone. • Xa lìa tất cả kiêu mạn phóng dật: They forever divorce arrogance and indulgence. • Quyết định đến bực nhứt thiết trí: Proceed surely toward the state of omniscience. • Trọn chẳng để tâm đến những đạo khác: Never conceiving any intention of turning to another path. • Thường quán sát chư Phật Bồ Đề: Always contemplating the enlightenment of all Buddhas. • Bỏ hẳn tất cả những pháp tạp nhiễm: They forever abandon all impure ways. • Tu hành tất cả chỗ sở học của Bồ Tát: Cultivating practice of what all Enlightening Beings learn. • Nơi đạo nhứt thiết trí không bị chướng ngại: They encounter no obstruction on the path of omniscience. • Trụ nơi trí địa: Stand on the ground of knowledge. • Ưa thích tụng tập: They are devoted to recitation and learning. • Dùng vô lượng trí huệ chứa nhóm những thiện căn: Collect roots of goodness by means of immeasurable knowledge. • Tâm chẳng luyến thích tất cả thế gian: Their minds have no affection for any mundane realm. • Chẳng nhiễm trước nơi công hạnh thực hành của mình: They are not obsessed with what they practice. • Chuyên tâm thọ trì giáo pháp của chư Phật: They wholeheartely accept and hold the principles of the Buddhas' teachings. • Bồ Tát tại gia nhiếp khắp những thiện căn khiến được tăng trưởng mà hồi hướng chư Phật vô thượng Bồ Đề: Though they are living at home, they cultivate and internalize roots of goodness in every way, cause them to grow, and dedicate them to the unsurpassed enlightenment, which is the essence of the Buddhas. 7) Bồ Tát lúc thí cho súc sanh ăn một nắm một hột đều nguyện rằng: At such a time, Enlightening Beings, even when they are feeding domestic animals, all make this vow: a. Nguyện sẽ làm cho các loài nầy thoát khỏi thọ báo súc sanh mà được lợi ích an vui rốt ráo giải thoát: They vow to cause these creatures to leave the realm of animality, to be helped and comforted and ultimately be liberated. b. Ra khỏi hẳn biển khổ: Having forever crossed over the ocean of suffering. c. Dứt hẳn khổ thọ: Eternally annihilating painful sensations. d. Trừ hẳn khổ uẩn hành uẩn: Forever removing suffering physical and mental elements. e. Dứt hẳn khổ giác, khổ tự, khổ hạnh, khổ nhơn, khổ bổn và các khổ xứ: Eternally cutting off painful feeling, accumulation of pain, painful actions, the cause of pain, the root of suffering, and painful situations. 8) Bồ Tát chuyên tâm tưởng nhớ tất cả chúng sanh, dùng thiện căn nầy mà hồi hướng nhứt thiết chủng trí: With their roots of goodness in the forefront, Enlightening Beings dedicate them to knowledge of ways of liberation for all beings. 9) Bồ Tát sơ phát tâm—Enlightening Beings forst engender the determination for enlightenment: a. Nhiếp khắp chúng sanh: They include all sentient beings. b. Tu những thiện căn đem hồi hướng tất cả chúng sanh: Cultivating the foundations of goodness and dedicating them to all sentient beings: • Khiến họ được thoát ly sanh tử: To cause all sentient beings to leave the plain of birth and death. • Khiến họ được sự khoái lạc vô ngại của các Như Lai: To cause them to attain the unhindered bliss of the enlightened. • Khiến họ ra khỏi biển phiền não: To cause them to emerge from the ocean of afflictions. • Khiến họ tu đạo Phật: To cause them to practice the path of the Buddha teachings. • Khiến chúng sanh từ tâm cùng khắp: To fill everywhere with kindness. • Khiến chúng sanh bi lực cùng khắp: To cause sentient beings to have vast powers of compassion. • Khiến tất cả được vui thanh tịnh: To cause them all to attain pure bliss. • Khiến chúng sanh gìn giữ thiện căn: To cause snetient beings to preserve foundations of goodness. • Khiến chúng sanh gần gủi Phật pháp: To cause sentient beings to draw near to the qualities of Buddhahood. • Khiến chúng sanh ra khỏi cảnh ma để vào cảnh Phật: To cause sentient beings to leave the realms of demons and enter the realm of Buddhas. • Khiến chúng sanh dứt giống thế gian mà gieo giống Phật: To cause sentient beings to cut off the seeds of mundanity and plant the seeds of enlightenment. *** Khiến chúng sanh trụ trong pháp tam thế bình đẳng: To cause sentient beings to abide in the truth which is equal in all times. 10) Bao nhiêu thiện căn đã, sẽ và đang tập họp đều đem hồi hướng—Enlightening Beings dedicate all roots of goodness they have collected, will collect and are collecting: a. Bồ Tát lại nghĩ rằng: “Như chư Phật và Bồ Tát quá khứ thực hành những sự cung kính cúng dường chư Phật: Enlightening beings form this thought: “As the Buddhas and Enlightening Beings of the past have practiced and respectfully serving all enlightening ones. b. Độ chúng sanh khiến được giải thoát: Liberating sentient beings so that they be forever emanicipated. c. Siêng năng tu tập tất cả thiện căn đều đem hồi hướng: Diligently cultivating and practicing all roots of goodness and dedicating them all. • Không chấp trước: Without attachment. • Không tựa nơi sắc: Without depending on form. • Không nhiễm nơi thọ: Without attachment to sensation. • Không tưởng điên đảo: Without erroneous conceptions. • Chẳng khởi hành: Without creating fixed patterns. • Chẳng theo thức: Without grasping consciousness. • Bỏ rời sáu trần: Detached from the senses. • Chẳng trụ thế pháp: Not dwelling on things of the world. • Thích đạo xuất thế: Delighting in transcendence. • Biết tất cả pháp đều như hư không, không từ đâu đến, bất sanh bất diệt, không chơn thật, không nhiễm trước: Knowing that all things are empty as space, come from nowhere, are unborn and not perishing, and have no true reality, they have no attachments. 11) Chư Bồ Tát đều xa lìa những kiến chấp phân biệt, chẳng động, chẳng chuyển, chẳng mất chẳng hoại: Enlightening Beings avoided all discrinminatory views; they were imperturbable and unaffected by anything; they never lost awareness or calm. 12) Chư Bồ Tát trụ nơi thực tế, không tướng, lìa tướng, mà chỉ là nhứt tướng: They abide in reality without form, detached from all appearances, all being one. 13) Bồ Tát thâm nhập tất cả pháp tánh như vậy, thường thích tu tập thiện căn phổ môn, đều thấy tất cả chúng hội chư Phật: Enlightening Beings entered deeply into the nature of all things; they always happily practiced all-sided virtues, and saw the congregation of all Buddhas. 14) Như tất cả sự hồi hướng thiện căn của chư Phật thời quá khứ, Bồ Tát cũng—Just as all those Enlightening Beings of the past dedicated roots of goodness, Enlightening Beings also: a. Tu tập Hồi Hướng như vậy: Practice dedication in this way. b. Hiểu pháp như vậy: Undestand these principles in this way. c. Y pháp như vậy mà phát tâm tu tập chẳng trái tướng: Based on these principles determine to learn and act, not violating the specifics of the teachings. d. Biết chỗ tu như huyễn, như ảnh, như trăng đáy nước, như ảnh trong gương, nhơn duyên hòa hiệp mà hiển hiện nhẫn đến bực Như Lai rốt ráo: They know that what is practiced is like illusions, like shadows, like the moon's image in the water, like reflections in a mirror, manifested by the combination of causes and conditions, proceeding thus up to the ultimate stage of enlightenment. 15) Bồ Tát lại nghĩ rằng: “Như chư Phật thời quá khứ lúc tu hạnh Bồ Tát đem những thiện căn hồi hướng như vậy, chư Phật hiện tại và vị lai đều cũng như vậy—Great Enlightening Beings also form this thought: “Just as the Buddhas of the past, when cultivating enlightening practice, dedicated roots of goodness in this way, and so do and will the Buddhas of the present and future: a. Nay tôi cũng nên phát tâm như chỗ phát tâm của chư Phật, đem những thiện căn mà dùng hồi hướng—So too should I arouse my will and dedicate roots of goodness like those Buddhas: • Hồi hướng đệ nhứt: With foremost dedication. • Hồi hướng thắng: Excellent dedication. • Hồi hướng tối thắng: Supreme dedication. • Hồi hướng thượng: Superior dedication. • Hồi hướng vô thượng: Unexcelled dedication. • Hồi hướng vô đẳng: Peerless dedication. • Hồi hướng vô đẳng đẳng: Unequalled dedication. • Hồi hướng vô tỉ: Incomparable dedication. • Hồi hướng tôn: Honorable dedication. • Hồi hướng diệu: Sublime dedication. • Hồi hướng bình đẳng: Impartial dedication. • Hồi hướng chánh trực: Straightforward dedication. • Hồi hướng đại công đức: Virtuous dedication. • Hồi hướng quảng đại: Far-reaching dedication. • Hồi hướng thiện: Good dedication. • Hồi hướng thanh tịnh: Pure dedication. • Hồi hướng ly ác: Dedication free from evil. • Hồi hướng bất tùy ác: Dedication not going wrong. 16) Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vậy—Once enlightening beings have dedicated roots of goodness in this way: a. Thành tựu thân, ngữ, ý thanh tịnh: They accomplish pure action of body, speech and mind. b. Trụ nơi an trụ của Bồ Tát, không có lỗi lầm: They abide in the abode of enlightening beings without any faults. c. Tu tập nghiệp lành: They practice good works. d. Lìa các sự ác nơi thân và ngữ: They get rid of evils of action and speech. e. Tâm ý không tội lỗi: Their minds are without flaw or defilement. f. Tu nhứt thiết trí: They cultivate omniscience. g. Trụ nơi tâm quảng đại: They abide in an immeasurably broad mind. h. Biết tất cả pháp không sở tác: They know all phenomena create nothing. i. Trụ pháp xuất thế: They abide in transmundane states. j. Chẳng nhiễm thế pháp: They are not influenced by things of the world. k. Phân biệt rõ vô lượng các nghiệp: They analyze and comprehend innumerable actions. l. Thành tựu hồi hướng phương tiện khéo léo: They fully develop skill in means of dedication. m. Nhổ hẳn tất cả cội gốc chấp trước: They extirpate the roots of grasping and attachment forever.
đẳng nhứt đại xa
Theo Kinh Pháp Hoa (Phẩm Thí Dụ), đây là chiếc xe Trâu Trắng mà vị trưởng giả dùng để dẫn dụ các con trong nhà lửa tam giới, vì như phương tiện để phổ cứu chúng sanh—According to the Lotus Sutra, this is the highest class great cart, i.e. universal salvation.
đẳng quán
The beholding of all things as equal, e.g. as không unreal or immaterial; or all beings without distinction.
; Quán niệm sự lý bình đẳng, xem tam giới là như nhau, là không, không là vô sở hữu, xem chúng sanh là bình đẳng đều như con của chính mình—The beholding of all things as equal, e.g. as unreal, or immaterial; or of all beings without distinction, as one beholds one's child, i.e. without respect of person.
đẳng sinh gia gia
5170為「不等生家家」之對稱。指往返於人、天二界受生,其受生於二界之回數均等之聖者。反之,受生於二界之回數不均等之聖者,則稱為不等生家家。家家,原為由一家至另一家之意;小乘聲聞中,如「一來向」之聖者,已斷除欲界三、四品之修惑,而於命終後仍須二、三度往返受生於人界、天界,始能般涅槃,即由人界之甲家或乙家生至天界之甲家或乙家,故有「家家聖者」之稱,略稱家家。 家家聖者又有多種類別,於天界、人界各受生三次者,稱為三生家家;各受生兩次者,稱為二生家家。其中又有「人家家」與「天家家」之別。以三生家家而言,所謂天家家,即最初於人界得道之人,命終後須往生天界,然後再經歷人界、天界各二生,最後於天界而得涅槃果;反之,「人家家」則係最初於天界得道,共經歷人界、天界各三生,最後得果於人界之情形。(見圖表) 上記聖者皆為受生於人天二界之回數均等者,故皆屬等生家家。準此,上舉之三生人家家與三生天家家皆可稱為「三生等生家家」,前者亦稱「三生等生人家家」,後者亦稱「三生等生天家家」。另如在天中得道之聖者,一度受生於人間,再生至天上,最後還生人間而般涅槃。此類聖者各在天上、人間二度受生,故稱為「二生等生人家家」。故知等生家家之所以稱為天家家或人家家,皆視其最後證得涅槃果所在之界處而決定。至於不等生家家,則不僅依證果之界處,亦視其受生回數較多之界處而定其名稱,如生於天中得道之聖者,一度下生人間,其後於再度生天時即般涅槃,則共為天上二度受生、人間一度受生,故稱「二生不等生天家家」;反之,在人間二度受生,在天上一度受生,則稱「二生不等生人家家」。三生不等生之天家家或人家家亦皆準此而別。上述說法係自印度以來,如眾賢論師、難陀論師所主張,而亦為我國窺基、普光、法寶等諸師所認可之定說。近世亦有依據印度戒賢論師之說而提出不同之解釋者。〔大毘婆沙論卷五十三、雜心論卷五、阿毘達磨雜集論卷十三、瑜伽師地論卷二十六、俱舍論賢聖品、俱舍論寶疏卷二十四、大乘法苑義林章卷五本〕
; (等生家家) Đối lại: Bất đẳng sinh gia gia. Chỉ cho bậc Thánh có số lần sinh xuống cõi người, sinh lên cõi trời bằng nhau. Trái lại, nếu số lần thụ sinh không bằng nhau thì gọi Bất đẳng sinh gia gia. Trong hàng Thanh văn, bậc Thánh Nhất lai hướng đã đoạn trừ ba phẩm hay bốn phẩm tu hoặc ở cõi Dục thì gọi là Thánh giả gia gia, gọi tắt là Gia gia, có nghĩa là từ nhà này đến nhà kia, tức là từ cõi người sinh lên cõi trời hoặc ngược lại, từ cõi trời sinh xuống cõi người, phải qua lại 2 hay 3 lần như thế rồi mới có thể vào Niết bàn. Bậc Thánh gia gia cũng có nhiều loại khác nhau: Người ba lần sinh lên cõi trời, ba lần sinh xuống cõi người gọi là Tam sinh gia gia; người sinh hai lần như thế gọi là Nhị sinh gia gia. Trong đó lại có Nhân gia gia và Thiên gia gia khác nhau. Trong trường hợp Tam sinh gia gia, thì Thiên sinh gia gia đầu tiên đắc đạo ở cõi người, mệnh chung rồi phải sinh lên cõi trời, sau đó mới lại sinh xuống cõi người hai lần và sinh lên cõi trời hai lần, cuối cùng, được quả Niết bàn ở cõi trời. Ngược lại, Nhân gia gia thì đầu tiên đắc đạo ở cõi trời, rồi phải sinh xuống cõi người 3 lần và sinh lên cõi trời 3 lần, cuối cùng, đắc quả ở cõi người. Các bậc Thánh nói trên, đều có số lần sinh ở cõi người, cõi trời bằng nhau, nên đều thuộc về Đẳng sinh gia gia. Theo đó, thì Tam sinh nhân gia gia và Tam sinh thiên gia gia đều có thể được gọi là Tam sinh đẳng sinh gia gia, tức là Tam sinh nhân gia gia cũng gọi là Tam sinh đẳng sinh nhân gia gia và Tam sinh thiên gia gia cũng gọi là Tam sinh đẳng sinh thiên gia gia. Lại còn bậc Thánh đắc đạo ở cõi trời, một lần sinh xuống cõi người, lại một lần nữa sinh lên cõi trời, cuối cùng, sinh trở lại cõi người mà vàoNiết bàn. Loại Thánh giả này sinh lên cõi trời 2 lần, sinh xuống cõi người 2 lần, cho nên gọi là Nhị sinh đẳng sinh nhân gia gia. Do đó nên biết Đẳng sinh gia gia được gọi là Thiên gia gia hoặc Nhân gia gia đều là căn cứ vào nơi chỗ cuối cùng (cõi người hay cõi trời) trong đó các ngài đã chứng được quả Niết bàn mà quyết định. Còn về Bất đẳng sinh gia gia thì không những chỉ y cứ vào cõi chứng quả, mà còn phải xem số lần thụ sinh của các Ngài vào nơi nào và bao nhiêu lần để xác định tên gọi. Như bậc Thánh đắc đạo ở cõi trời rồi sinh xuống nhân gian một lần, sau đó lại sinh lên cõi trời và chứng Niết bàn, đó là sinh lên cõi trời 2 lần, sinh xuống cõi người 1 lần, cho nên gọi là Nhị sinh bất đẳng sinh thiên gia gia. Trái lại, sinh ở nhân gian hai lần, sinh lên cõi trời một lần, thì gọi là Nhị sinh bất đẳng sinh nhân gia gia. Tam sinh bất đẳng sinh thiên gia gia hoặc Tam sinh bất đẳng sinh nhân gia gia cũng đều căn cứ theo đây mà suy ra. Cách tính toán được trình bày trên đây đã bắt nguồn từ Ấn độ và được các vị Luận sư như: Chúng hiền, Nan đà chủ trương. Sau, truyền sang Trung quốc cũng được các ngài Khuy cơ, Phổ quang, Pháp bảo v.v... đón nhận. Gần đây, cũng có người căn cứ vào thuyết của luận sư Giới hiền của Ấn độ mà đưa ra cách giải thích khác. [X. luận Đại tì bà sa Q.53, luận Tạp tâm Q.5; luận A tì đạt ma tạp tập Q.13; luận Du già sư địa Q.26; phẩm Hiền thánh trong luận Câu xá; Câu xá luận bảo sớ Q.24; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5 phần đầu].
đẳng thân
Tạo lập hình tượng của chư tôn, giống như thân tượng của người thường—A life-size image or portrait.
đẳng trì
Một loại định, giữ mình buông xả không vướng mắc—Holding oneself in equanimity, a samadhi.
đẳng trí
Common knowledge, which only knows phenomena.
; 1) Một trong mười trí, trí hiểu biết thế tục—Common knowledge, which only knows phenomena. 2) Tên của một loại thiền định—A name for fixation of the mind, or concentration in dhyana; an equivalent of samapatti—See Samapatti in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ** For more information, please see Thập Trí.
Đẳng trí 等智
[ja] トウチ tōchi ||| "worldly wisdom." Equivalent to 世俗智 (Skt. samvṛti-jñāna; Tib. kun rdsob śes pa). One of the three wisdoms 三智. 〔阿毘曇毘婆沙論 T 1546.28〕 => Đồng nghĩa với Thế tục trí 世俗智 (Skt. samvṛti-jñāna; Tib. kun rdsob śes pa). Là một trong Tam trí 三智.
đẳng trụ trung thật
5170指萬法一如,平等無別之中道真實義諦。為「別住中實」之對稱。中實,中道真實之意,即指第一義諦。釋摩訶衍論卷二闡釋真如、生滅二法二門時,共列舉十名,其第九名即為「中實」,中實又分為等住中實與別住中實兩種,兩者依次為真如所入、生滅所入之別名,並分別以獨明珠、順明珠比喻之。等住,即住於平等之意。等住中實,即指住於平等之中道第一義諦;萬法平等,無有差別,猶如諸種異物置於「獨明珠」前,皆會映現出與此珠相同之色,而其原先各自紛華殊異之色皆一一消逝不存。(參閱「別住中實」2795、「獨明珠」6266)
; (等住中實) Đối lại: Biệt trụ trung thực. Đẳng trụ là trụ ở nơi bình đẳng, Trung thực là Trung đạo chân thực, tức chỉ cho Đệ nhất nghĩa đế. Luận Thích ma ha diễn quyển 2, khi giải thích về 2 môn Chân như và Sinh diệt, có nêu ra 10 tên mà tên thứ 9 là Trung thực. Trung thực lại được chia làm Đẳng trụ trung thực và Biệt trụ trung thực; Đẳng trụ trung thực cũng gọi Chân như sở nhập, Biệt trụ trung thực cũng gọi Sinh diệt sở nhập và dùng ví dụ Độc minh châu và Thuận minh châu để phân biệt. Muôn pháp bình đẳng vốn không sai khác, giống như đặt các vật khác nhau trước viên Độc minh châu thì chúng đều ánh hiện ra mầu sắc giống như hạt châu ấy, mầu sắc khác nhau của chúng thì đều biến mất. (xt. Biệt Trụ Trung Thực, Độc Minh Châu).
đẳng tâm
Equal mind; of the same mental characteristics; the universal mind common to all.
; Cái tâm bình đẳng đối với hết thảy chúng sanh, không có kẻ oán người thân, coi tất cả đều như nhau: Equal mind; of the same mental characteristics; the universal mind common to all.
đẳng từ
Universal or equal mercy toward all beings without distinction.
; Từ bi bình đẳng đối với hết thảy chúng sanh, không phân biệt—Universal or equal mercy toward all beings without distinction.
đẳng vô gián duyên
5174梵語 samanantara-pratyaya。又作次第緣。指由前念之心法開路、避讓而引生後念心法之作用。四緣之一。等,同等之義。前念與後念的心與心所之數,雖有增減,而各自之體用同等一樣,並無一法而二體並起者。前念、後念各為一而相等者,即稱為等;前後二念之間,念念生滅,剎那不停,無有間隔,稱為無間。無間緣者,前心與後心之間,無有間隔,縱經若干時,前念之心法直與後念之心法為生起之緣。此緣唯局限於心法。又除阿羅漢臨涅槃最後心之心、心所外,一切之心法皆有此緣之作用,蓋因阿羅漢入於涅槃,畢竟不再起心法,故其最後心已失此緣之作用。〔大毘婆沙論卷一○七、俱舍論卷七、成唯識論卷七、順正理論卷十九〕(參閱「四緣」1832)
; Uninterrupted continuity, especially of thought or time.
; Sự liên tục không gián đoạn của dòng tư tưởng (tâm niệm trước diệt thì tâm niệm sau liền sinh, niệm trước niệm sau mỗi niệm đều ngang nhau)—Uninterrupted continuity, especially of thought, or time.
; (等無間緣) Phạm: Samanantara-pratyaya. Cũng gọi Thứ đệ duyên. Chỉ cho tác dụng của tâm pháp ở niệm trước mở đường, nhường chỗ cho tâm pháp ở niệm sau sinh ra. Là một trong 4 duyên. Đẳng nghĩa là đồng đẳng (cùng nhau, giống nhau). Số tâm và tâm sở của niệm trước và niệm sau tuy có thêm bớt, nhưng thể dụng của chúng thì đều như nhau và không một pháp nào có hai thể cùng khởi lên một lượt. Tuy có trước, có sau, nhưng các niệm đều giống nhau, như nhau, nên gọi là Đẳng. Niệm trước, niệm sau, niệm niệm sinh diệt, sát na không dừng, không có xen hở, gọi là vô gián. Vô gián duyên là giữa tâm trước, tâm sau không có gián cách, dù trong thời gian bao lâu thì tâm pháp của niệm trước vẫn làm duyên cho tâm pháp của niệm sau sinh khởi. Đẳng vô gián duyên chỉ giới hạn ở tâm pháp. Tất cả tâm pháp đều có tác dụng của duyên này, chỉ trừ tâm và tâm sở thuộc niệm sau cùng của bậc A la hán sắp nhập Niết bàn, vì bậc A la hán vào Niết bàn hoàn toàn không còn khởi tâm pháp nữa, cho nên tâm sau cùng của vị ấy mất tác dụng của duyên này. [X. luận Đại tì bà sa Q.107; luận Câu xá Q.7; luận Thành duy thức Q.7; luận Thuận chính lí Q.19]. (xt. Tứ Duyên).
Đẳng vô gián duyên 等無間縁
[ja] トウムケンエン tō muken'en ||| (samanantarah-pratyaya); 'incessant causation', 'cause equally without gap.' One of the 'four causes' 四縁 (siyuan) in Yogācāra 瑜伽行派 theory. Also called 次第縁. The condition of one existence directly producing the next with no interruption. In the continuing mind, the subsequent mind and mental functions are inherited from the prior moment's mind and mental functions. The prior thought-moment as condition for the next thought-moment. This is Xuanzang's translation of the term; Paramārtha translated it as 次第縁. (s: samanantarah-pratyaya); => Một trong Tứ duyên (c: siyuan四縁) theo giáo lý Duy thức. Còn gọi là Thứ đệ duyên 次第縁. Là điều kiện một hiện hữu trực tiếp làm phát sinh hiện hữu khác tiếp theo sau khuynh hướng chút gián đoạn. Trong tâm tương tục, tuỳ tướng tâm và tâm sở là thừa kế từ niệm tưởng và tâm sở trước. Niệm tưởng trước là nhân duyên cho niệm tưởng sau phát sinh. Đẳng vô gián duyên là do ngài Huyền Trang dịch thuật ngữ nầy. Ngài Chân Đế (Paramārtha) dịch là Thứ đệ duyên 次第縁.
đẳng vị
Tính đức duy nhất một ý vị bình đẳng của Niết Bàn—Of equal flavour, of the same character (nirvana).
đẳng đế
Tên gọi khác của tục đế—Ordinary rules of life; common morality.
Đẳng đồng 等同
[ja] トウドウ tōdō ||| To be the same; to be included in the same category. 〔十地經論 T 1522.26.132a26〕 => Giống nhau; cùng chung phẩm loại.
Đẳng 等
[ja] トウ tō ||| (1) And so forth, et cetera, and, the like. (2) Fellows; a group, a set; a class, a rank, a sort. (3) Equal, similar, alike, equivalent. To grade, to classify, to arrange. => 1. Vân vân; v.v.... ; và; giống như những cái đó, thuộc loại đó. 2. Bạn; băng nhóm, bè đảng, một bộ, loại, tầng lớp. 3. Giống nhau, tương tự, đều nhau, tương đương. Phân loại, xếp loại, sắp xếp, dàn xếp.
đặc
1) Bò đực: A Bull. 2) Đặc biệt: Outstanding—Special.
đặc biệt
Special—Distinctive.
đặc bằng đặc lạp thái qua nhĩ tự truyện
4183印度大文豪泰戈爾之父特朋特拉(1817~1905),以孟加拉語撰於一八五八年間,敘述其冥思與宗教體驗。內容包括:(一)十八歲時,於祖母去世前夜,悟及世上一切皆非真實,唯有神之神祕歡悅存在。(二)有關藍姆漢羅伊之宗教改革、組織梵教會等之記載。(三)因信仰無形無像之唯一真神,而生活上卻無法避開傳統之祭祀、崇拜偶像等,以致內心產生極大之矛盾。(四)以「無所有」之生活態度,處理家庭債務與財產等問題。作者為行冥想與修行,曾至瓦拉那西、阿薩密、喜馬拉雅山諸聖地旅遊,世稱大仙 (梵 Mahāṛṣi),乃孟加拉近代思潮之領袖。本書不僅為梵教會之重要文獻,亦為文學家泰戈爾精神上之重要指導。
đặc kỳ noa già đà
Daksinagatha (skt)—Bài Già Đà cầu phúc cho thí chủ (bài kệ tụng cầu phúc cho thí chủ cúng dường Tam Bảo)—A song offering, or expression of gratitude by a monk for food or gift.
đặc lưu thử kinh
4183請參閱 西源特芳和尚語錄 又作獨留斯經、特留念佛。為淨土家特為揭出之主張,即謂法滅後,為化益眾生,佛特於百歲間留無量壽經流布於世。無量壽經卷下(大一二‧二七九上):「當來之世,經道滅盡,我以慈悲哀愍,特留此經,止住百歲。其有眾生值斯經者,隨其所願皆可得度。」依慧遠無量壽經義疏卷下之解,釋迦正法有五百年,像法千年,末法萬年,一切皆過,故為滅盡。佛以慈悲憐憫眾生,於法滅後獨留此經百歲濟度,藉以開示淨土,令人求生。而涅槃經顯示佛性,教示聖中之深旨,聖人先隱,是故先滅;此經則教人厭苦求樂,濟度凡中之要法,是故後滅。有關止住百歲之期限,道綽、善導等諸師以為在末法萬年之後;憬興之無量壽經連義述文贊卷下,則依大阿羅漢難提蜜多羅所說法住記,指於增劫人壽七萬歲時之法滅後之百歲。〔選擇傳弘決疑鈔卷三、釋淨土群疑論卷三〕
; (特留此經) Cũng gọi Độc lưu tư kinh, Đặc lưu niệm Phật. Các nhà Tịnh độ cho rằng sau khi Chính pháp, Tượng pháp và Mạt pháp diệt hết thì chỉ còn lại kinh Vô lượng thọ được lưu truyền ở đời trong khoảng 100 năm nữa để giáo hóa và làm lợi ích chúng sinh. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 279 thượng), nói: Trong đời vị lai, kinh pháp diệt hết, vì lòng thương xót, ta chỉ để lại kinh này trong 100 năm, nếu có chúng sinh được gặp kinh này thì đều được cứu độ như lòng sở nguyện. Trong Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ, ngài Tuệ viễn giải thích đoạn kinh văn trên như sau: Chính pháp của đức Thích ca có 500 năm, Tượng pháp 1.000 năm, Mạt pháp 10.000 năm, tất cả đều qua đi gọi là diệt hết. Sau khi pháp diệt hết, vì lòng từ bi thương xót chúng sinh, đức Phật lưu lại kinh này trong 100 năm để hiển bày Tịnh độ cực lạc khiến người cầu vãng sinh. Kinh Niết bàn hiển bày tính Phật, chỉ dạy ý chỉ sâu xa của bậc Thánh; bậc Thánh vào Niết bàn trước, cho nên kinh Niết bàn diệt trước; còn kinh Vô lượng thọ này thì dạy người chán khổ cầu vui, là pháp trọng yếu cứu độ kẻ phàm phu, cho nên diệt sau. Về kì hạn 100 năm, các ngài Đạo xước, Thiện đạo, v.v...… cho là ở vào thời gian sau 10.000 năm của thời Mạt pháp. Trong Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán quyển hạ, thì ngài Cảnh hưng căn cứ vào Đại a la hán nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí mà cho rằng đó là 100 năm sau khi pháp diệt hết, tức là ở vào kiếp tăng khi loài người sống 7 vạn tuổi. [X. Tuyển trạch truyền hoằng quyết nghi sao Q.3; luận Thích tịnh độ quần nghi Q.3].
đặc ngưu sinh nhi
4183禪林用語。特牛即犢牛,為牛之幼小者。犢牛本即不能生子牛,故禪林中每以「我有一句子,待特牛生子即向你道」之語比喻禪旨不落言詮之機要。
; (特牛生兒) Cũng gọi Độc ngưu sinh nhi. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Độc ngưu là con trâu nghé. Độc ngưu sinh nhi nghĩa là trâu nghé đẻ con là việc không bao giờ có đươc. Cho nên, Thiền tông thường dùng câu: Ta có một câu, đợi khi nào Độc ngưu sinh nhi thì ta sẽ nói cho ngươi nghe để ví dụ yếu chỉ quan trọng của Thiền không thể dùng lời nói mà giải bày được.
đặc nhiệm
Special mission.
đặc phái
To send on a special mission.
đặc quyền
Special right—Privilege.
đặc sắc
Outstanding.
đặc thắng
Special—Extraordinary.
đặc tính
Nature—Characteristic.
đặc tôn
4184謂三界中唯佛特為尊貴之意。佛智德具足,為三界所特尊者。〔大智度論卷一〕
; The oustanding honoured one.
; (特尊) Bậc đầy đủ trí và đức, là bậc tôn quí nhất trong ba cõi, tức chỉ cho đức Phật. [X. luận Đại trí độ Q.1].
đặc vi bài
4184禪林用語。又稱特為照牌。禪林中,特別招待客人用茶水時,於每位列席者之座前,置一名牌,並於上書寫姓名。敕修百丈清規卷五方丈特為新掛搭茶條(大四八‧一一四二中):「方丈客頭先持狀請僉名,侍者令客頭依戒列名寫特為牌。」
; (特爲牌) Cũng gọi Đặc vị chiếu bài. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Là tấm thẻ trên có viết tên họ của vị khách tăng và được đặt ở trước chỗ ngồi của khách khi chiêu đãi trà. Điều Phương trượng đặc vị tân quải đáp trà trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1142 thượng), ghi: Trước hết, vị Tri khách trong Phương trượng cầm giấy đến xin vị khách tăng ghi tên, sau đó, vị Thị giả thỉnh khách tăng y theo giới lạp (tuổi hạ) viết tên vào Đặc vị bài.
đặc vi trà
4184禪林用語。禪林中,特為住持、首座、知事等特定之人供應茶水;或於每年一月一日、五月十五日、十一月十五日等日之飯後,特為大眾供應茶水,稱作特為茶。若於夏安居之初,為新來修行之僧侶或新到任之職事特備茶水,其所安排之座位,依人數及性質而有所定規,據叢林校定清規所載,有特為茶八出座、特為茶六出座、特為湯四出座等數種。〔敕修百丈清規卷四堂司特為新舊侍者茶湯條、方丈特為新舊兩序湯條〕
; (特爲茶) Tiệc trà đặc biệt. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Thiền lâm, thời uống trà đặc biệt dành cho các vị Trụ trì, Thủ tọa, Tri sự, v.v... hoặc thời trà mời cả đại chúng dùng sau bữa ngọ trai vào các ngày mồng 1 tháng giêng, rằm tháng 5 và rằm tháng 11 hàng năm thì gọi là Đặc vị trà. Nếu vào đầu mùa hạ an cư, chuẩn bị trà nước cho chư tăng mới đến tu học hoặc mới đến nhận các chức sự trong Trường hạ, thì khi sắp đặt chỗ ngồi phải theo nhân số và tính chất đã được qui định. Cứ theo Tùng lâm hiệu định thanh qui, thì có loại Đặc vị trà 8 vị, Đặc vị trà 6 vị, Đặc vị thang thì 4 vị, v.v... [X. điều Đường tư đặc vị tân cựu thị giả trà thang trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4 và điều Phương trượng đặc vị tân cựu lưỡng tự thang].
đặc ân
Special favor.
đặc điểm
Special mark—Characteristics.
đặng uý sơn thánh ân tự chí
6195凡十八卷。明代周永年撰。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。鄧尉山位於江蘇吳縣西山,以漢代鄧尉隱居於此,故有此稱。其西南有玄墓山,兩山相連,本為一山。其南麓有聖恩寺,臨鄧尉山而俯瞰太湖,備增山湖之壯觀。唐天寶(742~755)年間創建天壽禪寺,宋寶祐(1253~1258)年間又建聖恩禪庵。元末寺毀庵存。明初有萬峰禪師在此開山說法,從此古德相望,皆衍臨濟之傳,為禪門作後起龍象。明嘉靖(1522~1566)年間,沈潤卿撰鄧尉山志;崇禎(1628~1644)年間,周永年取沈志增益纂為鄧尉山聖恩寺志十八卷,共分二十二門,蓋以人物、藝文為主。後屢有增輯,內有清順治、康熙年間之事。康熙後未聞續志,民國十九年(1930),聖恩寺住持中恕乃據明崇禎至清康熙年間之刊本影印行世。
Đặng Ẩn Phong
鄧隱峰; C: dèng yǐnfēng; J: to impo; ?-?; cũng được gọi là Ngũ Ðài Ẩn Phong (五臺隱峰; c: wǔtái yǐnfēng);|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của hai vị Thiền sư Thạch Ðầu Hi Thiên và Mã Tổ Ðạo Nhất. Sư có những hành động rất quái dị, dùng lí trí phân biệt không hội nổi.|Sư họ Ðặng, quê ở Thượng Vũ, Phúc Kiến. Trước, Sư đến tham vấn Mã Tổ nhưng chưa ngộ, Sư lại đến Thạch Ðầu đôi ba phen vẫn không thấy đạo. Sau đến Mã Tổ nghe một câu nắm được yếu chỉ. Một hôm Sư đẩy xe đất, Mã Tổ ngồi duỗi chân trên đường. Sư thưa: »Xin thầy rút chân.« Mã Tổ bảo: »Ðã duỗi thì không rút, đã tiến thì không lui.« Sư đáp: »Cũng vậy, đã tới không bao giờ lui.« và đẩy xe cán chân Mã Tổ. Sau đó Mã Tổ đến pháp đường, tay cầm búa, nói: »Ông nào hồi nãy đẩy xe cán cẳng lão tăng bước ra đây mau.« Sư liền bước thẳng ra ngửa cổ lên đón nhát búa. Mã Tổ im lặng đặt búa xuống.|Sư đến Nam Tuyền Phổ Nguyện, thấy chúng tăng đang tham vấn. Nam Tuyền chỉ tịnh bình bảo: »Bình đồng là cảnh, trong bình có nước, chẳng được động đến cảnh, đem nước đến cho Lão tăng.« Sư bèn nắm tịnh bình đem đến trước mặt Nam Tuyền đổ nước. Nam Tuyền bèn thôi.|Trước khi tịch Sư hỏi chúng: »Tôi thường thấy các vị Tiền bối khi tịch hoặc ngồi, hoặc nằm, có vị nào đứng tịch chăng?« Chúng thưa: »Có.« Sư hỏi: »Có vị nào lộn ngược tịch chăng?« Chúng thưa: »Chưa từng thấy.« Sư bèn lộn ngược mà tịch.
đặt chuyện
To fabricate (make up a story.
đẹp duyên
To marry.
đẹp lòng
Satisfied—Content.
đẹp mắt
Pleasant to the eye.
đẹp mặt
To do honor to
đẹp tuyệt
Very beautiful.
đẹp đẽ
Beautiful—Fine.
đế
6293梵語 satya,巴利語 sacca。審實不虛之義。指真實無誤、永遠不變之事實,即真理。增一阿含經卷十七載,如來所說之理法,真實不虛,稱為諦。 諸經論關於諦之種別,有諸多異說,如唯一之真理,稱為一諦;此外又有真俗二諦、空假中三諦、苦集滅道四諦,及七諦、十諦、十六諦、二十五諦等。 據瑜伽師地論卷四十六,開展四諦而為七諦、十諦,依此闡明迷悟、因果之理。其中,七諦與四諦之關係如下:愛味諦(集)、過患諦(苦)、出離諦(道)、法性諦(滅)、勝解諦(道)、聖諦(滅)、非聖諦(苦集)。十諦與四諦之關係如下:起初之逼切苦諦等五者,係顯示八苦,表苦諦;其次,業諦與煩惱諦係表集諦;聽聞正法如理作意諦與正見諦係表道諦;最後,正見果諦則相當於滅諦。 據舊譯華嚴經卷二十五載,第五地之菩薩教化眾生,為令其明了真理,故說十諦,即:世諦、第一義諦、相諦、差別諦、說成諦、事諦、生諦、盡無生智諦、令入道智諦、一切菩薩次第成就諸地起如來智諦等。菩薩瓔珞本業經卷上則將此開立為十六諦。 古代印度六派哲學中之正理學派所立十六諦,係將認識及推理論證之方式分為十六種,亦稱作十六句義。即:量(得真智之方法)、所量(知識之對象)、疑、用(指動機、解疑之作用)、喻(實例、例證)、悉壇(立論者之主張)、支分(論證之形式,即五支作法)、思擇(熟慮推理)、決(斷定)、論議、紛議、壞議、似因(立論之根據含有誤謬之性質)、難難(故意曲解對方之非難攻擊而作之非難)、諍論(相當於十四過類)、墮負(論諍敗北)等。〔中阿含卷八眾集經、大毘婆沙論卷七十七、成實論卷十一、二諦義卷上、摩訶止觀卷三上、法華經玄義卷二下、中觀論疏卷十本、金七十論〕
; Satya (S). A truth, a dogma, an axiom. True, real.
; 1) Chân ngôn: Sacca (p)—Satya (skt)—A truth—A dogma—An axiom—See Nhị Đế, and Tứ Diệu Đế. 2) Đế vương: Ruler—Sovereign. 3) Ngạt mũi: Stuffed nose. 4) Phán xét: To judge—To examine into—To investigate.
; (諦) Phạm: Satya, Pàli: Sacca. Chân lí bất biến. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 17 nói, giáo pháp của Như lai chân thực nên gọi là Đế. Về các loại Đế, trong kinh luận có nhiều thuyết khác nhau, như: Nhất đế, Nhị đế, Tam đế, Tứ đế, cho đến Thất đế, Thập đế, Thập lục đế, Nhị thập ngũ đế v.v... Luận Du già sư địa quyển 46 mở rộng Tứ đế thành Thất đế và Thập đế, rồi dựa theo đó mà thuyết minh lí mê - ngộ và nhân - quả. Trong đó, mối quan hệ giữa Thất đế (7 đế) và Tứ đế (4 đế) là: Ái vị đế (Tập), Quá hoạn đế (Khổ), Xuất li đế (Đạo), Pháp tính đế (Diệt), Thắng giải đế (Đạo), Thánh đế (Diệt), Phi thánh đế (Khổ, Tập). Mối quan hệ giữa Thập đế (10 đế) và Tứ đế là: Năm đế đầu hiển bày 8 khổ, biểu thị Khổ đế; kế đến, Nghiệp đế và Phiền não đế biểu thị Tập đế; kế nữa, Thính văn chính pháp như lí tác ý và Chính kiến đế biểu thị Đạo đế; cuối cùng, Chính kiến quả đế thì tương đương với Diệt đế. Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 25 (bản dịch cũ) nói, thì Bồ tát đệ ngũ địa giáo hóa chúng sinh, vì muốn chúng sinh hiểu rõ chân lí nên nói 10 đế là: Thế đế, Đệ nhất nghĩa đế, Tướng đế, Sai biệt đế, Thuyết thành đế, Sự đế, Sinh đế, Tận vô sinh trí đế, Linh nhập đạo trí đế và Nhất thiết bồ tát thứ đệ thành tựu chư địa khởi Như lai trí đế. Kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng thì triển khai 10 đế thành 16 đế. Học phái Chính lí trong 6 phái triết học của Ấn độ đời xưa lập 16 đế, tức là chia phương pháp luận chứng nhận thức và suy lí làm 16 loại, cũng gọi là Thập lục cú nghĩa. [X. kinh Chúng tập trong Trung a hàm Q.8; luận Đại tì bà sa Q.77; luận Thành thực Q.11; Nhị đế nghĩa Q.thượng; Ma ha chỉ quán Q.3 phần trên; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.3 phần cuối; Trung quán luận sớ Q.10 phần đầu; luận Kim thất thập].
đế cung
3775天帝之弓。又作天弓。虹之異名。往生要集卷中(大八四‧五三下):「雙眉皎淨,似天帝弓。」
; Indradhanus (skt)—Còn gọi là Đế Thích Cung hay Đế Thiên Cung. 1) Cầu vồng: The rainbow. 2) Cây cung của Thiên Đế: Indra's bow.
; (帝弓) Cũng gọi Thiên cung. Cái cung của vua Trời. Tên khác của cầu vồng. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 84, 53 hạ), nói: Đôi mày sáng sạch, giống như đế cung.
đế cư
Nơi cư ngụ của Trời Đế Thích—The abode of Indra.
đế duyên độ
6296合併四諦、十二因緣、六度而稱諦緣度。天台宗以此三者為三藏教中聲聞、緣覺、菩薩之所觀所修。〔八宗綱要〕
; (諦緣度) Chỉ cho Tứ đế, Thập nhị nhân duyên và Lục độ. Tông Thiên thai dùng 3 pháp này làm pháp tu quán cho hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát trong Tam tạng giáo. [X. Bát tông cương yếu].
Đế lý tam muội da bất động tôn thánh giả niệm tụng bí mật pháp 哩三昧耶不動尊聖者念誦祕密法
[ja] テイリサンマイヤフドウソンショウジャネンジュヒミツホウ Teirisammaya fudōson shōja nenju himitsu hō ||| The Dilisanmeiye budong zunshengzhe niansong mimi fa; Skt. Trisamayavyūharāja-nāma-tantra; Trisamaya: Esoteric Recitation Method of Immovable, the Sacred One. 3 fasc. (T 1201.21.13-23), abbreviated as Trisamayarāja 底哩三昧耶經, trans. Amoghavajra 不空. Discusses the three kinds of samaya 三昧耶 and methods for making images and maṇḍalas. Quoted in Amoghavajra's Prime Category Dhāraṇīs 都部陀羅尼目. See Sakai (1939) for a study of Chinese and Tibetan texts. KIK (mb) 4. => (c: Dilisanmeiye budong zunshengzhe niansong mimi fa; s: Trisamayavyūharāja-nāma-tantra; e: Trisamaya: Esoteric Recitation Method of Immovable, the Sacred One). 3 quyển. Viết tắt là Đế lý tam muội da kinh (s: Trisamayarāja 底哩三昧耶經), Bất Không dịch (s: Amoghavajra 不空). Đề cập về 3 loại Tam muội da (s: samaya 三昧耶) và phương pháp tạo đồ hình và mạn-đà-la. Trích dẫn từ Đô bộ đà la ni mục (都部陀羅尼目e: Amoghavajra's Prime Category Dhāraṇīs). Để nghiên cứu về kinh văn tiếng Hán và Tây Tạng, xin xem Sakai (1939).
Đế lý tam muội da kinh 底哩三昧耶經
[ja] テイリサンマイヤキョウ Teiri sanmaiya kyō ||| The Dili sanmeiye jing; an abbreviated translation of the title Dilisanmeiye budong zunshengzhe niansong mimi fa 底哩三昧耶不動尊聖者念誦祕密法. => (s: Trisamayarāja; c:Dili sanmeiye jing). Viết tắt của đề kinh Đế lý tam muội da bất động tôn thánh giả niệm tụng bí mật pháp (底哩三昧耶不動尊聖者念誦祕密法).
đế lợi da cù du nê già
Tiryagyoni-gati (skt)—Súc sanh đạo—The animal path of reincarnation.
đế nham
Indrasilaguha (skt)—Còn gọi là Đế Nham Quật, hang của Đế Thích ở Na Lan Đà, thuộc xứ Ma Kiệt Đà, nơi mà vua Trời Đế Thích được Đức Phật Thích Ca giải thích thỏa đáng những nghi vấn của mình—Indra's cave at Nalanda in Magadha, where Indra is supposed to have sought relief for his doubts from the Buddha.
đế nhàn
6295(1858~1932)清末民初天台宗名僧。浙江黃巖人,俗姓朱。名古虛,號卓三。幼見沙門即喜。少時習醫,二十歲,懸壺邑中,屢為貧者施藥。未久,以妻亡子死、慈母見背,遂遁入白雲山,依成道法師出家。二十四歲,於天台山國清寺受具足戒。先後親炙敏曦、曉柔、大海等諸師研習法華、楞嚴等經。光緒十二年(1886),受迹瑞融祖之法,傳持天台教觀第四十三世。先後掩關三次,專修禪觀。歷任永嘉頭陀寺、紹興戒珠寺、上海龍華寺、鄞縣觀宗寺等住持;其間應各地僧俗之請,講經四十餘年。 宣統二年(1910),於南京設立佛教師範學校,並任校長;民國八年(1919),於觀宗寺開創觀宗學舍,並講經弘法。後又主講於觀宗學舍,羅致學僧,授以台宗大小諸部,於是人才蔚起,其僧俗弟子有常惺、仁山、顯蔭、倓虛、戒塵、持松、妙真、蔣維喬、黃少希等,對於天台義學之弘揚,貢獻殊大。民國二十一年七月入寂於觀宗寺,世壽七十五。著有大佛頂首楞嚴經指昧疏、圓覺經講義、金剛經新疏、始終心要解、觀經疏鈔演義、教觀綱宗講記等書,後人合輯為「諦閑大師遺集」行世。
; (諦閑) (1858 - 1932) Vị danh tăng tông Thiên thai ở cuối đời Thanh đầu đời Dân quốc. Người huyện Hoàng nham, tỉnh Chiết giang, họ Chu tên Cổ hư, hiệu Trác tam. Thủa nhỏ, mỗi khi thấy vị sa môn, sư rất vui mừng. Lớn lên, sư theo học nghề thuốc. Năm 20 tuổi, sư thường đi chữa bệnh miễn phí cho những người nghèo khổ trong làng. Không bao lâu, vợ con đều mất, tiếp đến, mẹ cũng qua đời, sư liền vào núi Bạch vân, rồi y vào pháp sư Thành đạo xuất gia. Năm 24 tuổi, sư thụ giới Cụ túc ở chùa Quốc thanh trên núi Thiên thai và theo các ngài Mẫn hi, Hiểu nhu, Đại hải... học tập các kinh Pháp hoa, Lăng nghiêm v.v... Năm Quang tự 12 (1886), sư được Tổ Thụy dung truyền pháp kế thừa Tổ vị đời thứ 43 của Thiên thai giáo quán. Sư từng nhập thất 3 lần chuyên tu Thiền quán và lần lượt trụ trì các chùa như chùa Đầu đà ở Vĩnh gia, chùa Giới châu ở Thiệu hưng, chùa Long hoa ở Thượng hải, chùa Quán tông ở huyện Ngân v.v... và giảng dạy kinh điển hơn 40 năm. Năm 1910, sư mở trường Sư phạm Phật giáo tại Nam kinh và giữ chức Hiệu trưởng. Năm 1919, sư sáng lập Học xá Quán tông ở chùa Quán tông để giảng kinh hoằng pháp. Sau, sư lại làm chủ giảng của Học xá Quán tông, đem tất cả các tác phẩm lớn, nhỏ của tông Thiên thai dạy cho học trò, nhờ đó mà đã đào tạo được một số đông nhân tài, trong đó có: Thường tỉnh, Nhân sơn, Hiển ấm, Đàm hư, Giới trần, Trì tùng, Diệu chân, Tưởng duy kiều, Hoàng thiếu hi v.v... Đối với nền nghĩa học Thiên thai, sư đã có những cống hiến rất lớn. Tháng 7 năm Dân quốc 21 (1932) sư tịch, thọ 75 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Đại Phật đính thủ lăng nghiêm kinh chỉ muội sớ, Viên giác kinh giảng nghĩa, Kim cương kinh tân sớ, Thủy chung tâm yếu giải, Quán kinh sớ sao diễn nghĩa; Giáo quán cương tông giảng kí. Người sau thu tập các tác phẩm của sư lại làm thành một bộ nhan đề là Đế Nhàn Đại Sư Di Tập để lưu hành.
đế quán
6296<一>朝鮮高麗僧。生卒年不詳。精通天台教觀,道譽極盛,頗受高麗國王之禮遇。其時在我國,由於唐末五代之戰亂,天台宗之典籍大多散失;吳越王錢弘俶欲復興天台教法,遂遣使至高麗,求天台典籍。師乃於北宋太祖建隆年間]960~962),奉高麗王之命,攜天台論疏諸部來華。至天台山螺溪傳教院禮謁當代天台宗大師義寂,一語傾心,遂禮之為師,於螺溪居止十年而入寂。所著天台四教儀,係天台學之入門書。〔佛祖統紀卷十、卷二十三、卷三十四、天台四教儀集註卷三、朝鮮佛教通史下編〕 <二>(1916~ )即民國之演培法師。江蘇江都人,俗姓李。諦觀為其號。精研天台、中觀之學,致力於教學、弘法、著述。有諦觀全集行世。(參閱「演培」5824)
; (諦觀) I. Đế Quán. Vị cao tăng người Triều tiên Cao li, năm sinh năm mất không rõ. Sư tinh thông pháp giáo quán của tông Thiên thai, rất có đạo hạnh, được Quốc vương Cao li quí trọng. Vào cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, Trung quốc bị loạn lạc liên miên, hầu hết sách vở của tông Thiên thai đã bị mất mát. Ngô Việt vương là Tiền hoằng thục muốn phục hưng giáo pháp Thiên thai, mới sai sứ đến Cao li cầu thỉnh. Khoảng năm Kiến long (960 - 962) đời vua Thái tổ nhà Bắc Tống, sư phụng mệnh Quốc vương Cao li đem các bộ Thiên thai đến Trung quốc. Sư tới viện Truyền giáo ở Loa khê trên núi Thiên thai, tham lễ đại sư Nghĩa tịch của tông Thiên thai đương thời, ngay lời nói của ngài Nghĩa tịch, sư có chỗ tỉnh ngộ, liền lễ ngài làm thầy. Sau đó, sư ở lại Loa khê được 10 năm thì viên tịch. Sư có tác phẩm: Thiên thai tứ giáo nghi. [X. Phật tổ thống kỉ Q.10, Q.23, Q.34; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.3; Triều tiên Phật giáo thông sử hạ biên]. II. Đế Quán (1916-?) Tức là pháp sư Diễn bồi. Người huyện Giang đô, tỉnh Giang tô, họ Lí, hiệu Đế quán. Sư chuyên nghiên cứu giáo lí Thiên thai và Trung quán, chú trọng việc hoằng pháp, soạn thuật. (xt. Diễn Bồi).
đế quán toàn tập
6296凡二十八冊。演培著。為作者歷年之著述,及其弘法之講稿所彙集而成。作者號諦觀,故命書名為諦觀全集。全書採用語體文,由新加坡靈峰般若講堂印行,民國六十七年(1978)出版。 全集分為經釋、律釋、論釋、譯述、雜說等五編,凡七百餘萬言。其中對於玄奘所譯之經典,如解深密經、俱舍論、成唯識論、異部宗輪論等諸書,皆廣釋之,篇幅約佔全集三分之一,可見其對玄奘所譯經典用力之深。又所譯小乘佛教思想論、大乘佛教思想論,為關於日本近代佛學研究之作。其他另有天台性具思想論、南天遊化、泰國佛教的簡史等文。
; (諦觀全集) Sách, 28 tập, do pháp sư Diễn bồi, hiệu Đế quán soạn và Giảng đường Bát nhã ở Singapore xuất bản vào năm 1978. Nội dung chia làm 5 thiên, trong đó giải thích các bộ: kinh Giải thâm mật, luận Câu xá, luận Thành duy thức, luận Dị bộ tông luân do ngài Huyền trang dịch. Phần dịch thuật thì có: Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận và Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận, nguyên tác của Kimura Taiken, do chính tác giả dịch. Phần Tạp thuyết thì có: Thiên thai tính cụ tư tưởng luận, Nam thiên du hóa, Thái quốc Phật giáo đích giản sử v.v...
Đế quốc Khổng Tước
(s: Maurya, 孔雀, 322-185 trước công nguyên): do vương triều Khổng Tước cai trị, là đế quốc lớn và hùng mạnh nhất về chính trị lẫn quân sự thời cổ Ấn Độ. Bắt đầu từ vương quốc Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀) ở bình nguyên Ấn-Hằng (Indo-Gangetic) thuộc phía đông của tiểu lục địa Ấn Độ, đế quốc này có thủ đô ở Pāṭaliputra (tức Hoa Thị Thành [華氏城], gần Patna ngày nay). Đế quốc Khổng Tước do Chandragupta Maurya sáng lập vào năm 322 trước công nguyên. Ông lật đỗ triều đại Nanda và bắt đầu bành trướng thế lực về phía Tây qua miền Trung và Tây Ấn, lợi dụng cơ hội tình trạng đỗ vỡ thế lực địa phương và quân đội Macedonia, Ba Tư của Alexander Đại Đế rút lui về phương Tây. Cho đến năm 316 trước công nguyên, đế quốc này đã hoàn toàn chiếm cứ Tây Bắc Ấn Độ, đánh bại các vị thống đốc của Alexander. Ở tột đỉnh vinh quang nhất, đế quốc Khổng Tước bành trướng về phương Bắc dọc theo biên giới tự nhiên của dãy Hi Mã Lạp Sơn (Himalaya), về phương Đông trãi dài đến tận địa phương ngày nay gọi là Assam. Về phương Tây, đế quốc này vượt qua Pakistan, gồm cả Baluchistan ở Ba Tư và những phần quan trọng của Afghanistan ngày nay. Ngoài ra, nhờ Hoàng đế Tân Đầu Sa La (s: Bindusāra, 賓頭沙羅), đế quốc này bành trướng vào các miền Trung và Nam Ấn. Đế quốc Khổng Tước có lẽ là đế quốc vĩ đại nhất cai trị tiểu lục địa Ấn Độ cho đến khi người Anh đặt chân đến. Đế quốc này bắt đầu suy tàn 50 năm sau khi vương triều A Dục Vương (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育王) chấm dứt. Đến năm 185 trước công nguyên, đế quốc này đã sụp đỗ với sự hình thành của triều đại Sunga ở Ma Kiệt Đà.
đế sa
Tisya (skt). 1) Tên của một vị cổ Phật: An ancient Buddha. 2) Tên của cha ngài Xá Lợi Phất: Name of father of Sariputra.
đế sát pháp nhẫn
6295三種忍辱波羅蜜之一。又作察法忍、法思惟解忍、法思勝解忍、通達忍、觀法忍、觀察法忍。忍,謂忍耐違逆之境,而不起瞋心。諦察法忍,即諦觀諸法不生不滅之真理,心無妄動,而安住於無生之理。〔解深密經卷四、成唯識論卷九〕(參閱「三法忍」571)
; (諦察法忍) Cũng gọi Sát pháp nhẫn, Pháp tư duy giải nhẫn, Pháp tư thắng giải nhẫn, Thông đạt nhẫn, Quán pháp nhẫn, Quán sát pháp nhẫn. Nhẫn nghĩa là chịu đựng được cảnh trái nghịch, không khởi tâm sân hận. Đế sát pháp nhẫn nghĩa là quán xét thấu suốt chân lí bất sinh bất diệt của các pháp, tâm không vọng động mà an trụ nơi lí vô sinh. Là một trong 3 loại Nhẫn nhục ba la mật. [X. kinh Giải thâm mật Q.4; luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Tam Pháp Nhẫn).
đế sư
3775意爲帝王之師。爲元代統領天下僧尼之僧官名。元世祖至元元年(1264),命西藏佛教薩迦派(藏 Sa-skya-pa)高僧八思巴以國師之尊,統領總制院(後改爲宣政院)事,至元七年(一說中統元年,1260)升號帝師,統理西藏政教兩大權。此後凡嗣爲帝師者,例領宣政院事,秩從一品,賜玉印。至元朝末年,始廢絕此職。〔佛祖統紀卷四十八、佛祖歷代通載卷二十一、釋氏稽古略續集卷一、元史列傳第八十九、明史列傳第二一九〕
; (帝師) Thầy của bậc Đế vương. Chức quan Tăng cao nhất ở đời Nguyên, Trung quốc, thống lãnh toàn thể tăng ni trong nước. Niên hiệu Chí nguyên năm đầu (1264), vua Thế tổ nhà Nguyên phong cho ngài Bát tư ba thuộc phái Tát ca (Tạng: Sa-skya-pa) của Phật giáo Tây tạng làm Quốc sư lãnh đạo Viện Tổng chế (sau đổi làm Viện Tuyên chính), đến năm Chí nguyên thứ 7 (1271) được thăng lên Đế sư, nắm quyền tối cao về tôn giáo và chính trị ở Tây tạng. Từ đó về sau, người lên kế vị Đế sư đều lãnh đạo viện Tuyên chính và mang hàm Nhất phẩm được ban ấn ngọc. Nhưng đến cuối đời Nguyên thì chức này bị bãi bỏ. [X. Phật tổ thống kỉ Q.48; Phật tổ lịch đại thông tải Q.21; Thích thị kê cổ lược tục tập Q.1; Nguyên sử liệt truyện 89; Minh sử liệt truyện 219].
đế thanh
Indranila (skt)—An emerald.
đế thiên cung
Indradhanus (skt)—See Đế Cung.
đế thiện xảo
6295為三乘所修所觀之法門「十善巧」之一。即觀苦諦、集諦、滅諦、道諦等四諦,及世間、出世間之因果。〔辯中邊論卷中〕(參閱「十善巧」469)
; (諦善巧) Một trong mười Thiện xảo. Pháp môn tu quán của hàng Tam thừa. Tức là quán Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế và nhân quả thế gian, xuất thế gian. [X. luận Biện trung biên Q.trung). (xt. Thập Thiện Xảo).
đế thích
Indra, Sakra (S). Mighty lord of deva. Vedic god.
; Indra (skt)—Còn gọi là Thích Ca Đề Hoàn Nhân Đà La, gọi tắt là Thích Đề Hoàn Nhân, cách dịch mới là Thích Ca Đề Bà Nhân Đạt La hay Năng Thiên Đế—Vua Trời Đế Thích, vị chủ của cõi Trời Đao Lợi hay là ba mươi ba tầng trời (Ngài ở thành Hỷ Kiến trên đỉnh núi Tu Di, thống lĩnh ba mươi ba cõi trời, thuộc thượng tầng cõi trung giới, cao hơn trời Tứ thiên, nhưng thấp hơn trời Dạ Ma. Tên tiếng Phạn của Ngài là Thích Ca Đề Hoàn Nhơn Đà La, gọi tắt là Thích Đề Hoàn Nhơn. Khi Đức Thích Ca đản sanh, ngài có ngự xuống đón mừng. Ngài khuyến khích Đức Thích Ca xuất gia. Khi Đức Thích Ca sắp nhập diệt, Ngài cùng với bốn vị Thiên vương ngự đến và nguyện với Phật rằng ngài sẽ thường xuyên hỗ trợ Tam Bảo. Trong nhiều tiền kiếp của Đức Phật, ngài vẫn thường thị hiện để thử hạnh Bồ Tát của Phật)—Sovereign Sakra; mighty lord of devas; Lord of the Trayastrimsas, i.e. the thirty-three heavens. He is also styled Sakradevanam Indra.
đế thích bát nhã ba la mật đa tâm kinh
3776全一卷。略稱帝釋心經。收於大正藏第八冊。內容係佛陀在王舍城鷲峰山,對帝釋天等宣說般若波羅蜜,及其真言。
; (帝釋般若波羅蜜多心經) Gọi tắt: Đế thích tâm kinh. Có 1 quyển, được đưa vào Đại chính tạng tập 8. Nội dung tường thuật việc đức Phật ở trên núi Linh thứu, gần thành Vương xá, nói cho trời Đế thích nghe về kinh Bát nhã ba la mật và Chân ngôn.
đế thích bình
3777又作賢瓶、德瓶、天瓶、吉祥瓶。即帝釋天所用之寶瓶,此瓶可隨心所欲,變現各種東西。〔觀無量壽經、大智度論卷十三〕(參閱「賢瓶」6180)
; The vase of Indra from which came all things he needed.
; Chiếc bình của vua Trời Đế Thích, chứa tất cả những gì Ngài cần. Cũng gọi là bình công đức hay bình thiện tài—The vase of Indra, from which came all things he needed; also called vase of virtue, or of worth, or of good fortune.
; (帝釋瓶) Cũng gọi Hiền bình, Đức bình, Thiên bình, Cát tường bình. Bình báu của trời Đế thích, bình này tùy theo sự ưa thích mà biến ra các món đồ dùng. [X. kinh Quán vô lượng thọ; luận Đại trí độ Q.13]. (xt. Hiền Bình).
đế thích cung
Indradhanus (skt)—See Đế Cung.
đế thích nham bí mật thành tựu nghi quỹ
3777全一卷。施護譯。收於大正藏第十九冊。內容敘述佛入於帝釋巖,爲金剛手講說禮拜彌勒菩薩之作法及根本大明。
; (帝釋岩秘密成就儀軌) Có 1 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống, thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung tường thuật việc đức Phật, khi ở trên núi Đế thích, giảng cho ngài Kim cương thủ nghe về phép lễ bái bồ tát Di lặc và các thần chú căn bản.
Đế Thích Thiên
(s: Indra, p: Inda, 帝釋天, Trời Đế Thích): xem Thích Đề Hoàn Nhân (s: Śakra Devānāmindra, 釋提桓因).
đế thích thiên
3776梵名 Śakra Devānām-indra。音譯釋迦提桓因陀羅。略稱釋提桓因、釋迦提婆。又作天帝釋、天主。並有因陀羅、憍尸迦、娑婆婆、千眼等異稱。本爲印度教之神,於古印度時,稱因陀羅;入佛教後,稱爲帝釋天。據諸經論所載,帝釋天原爲摩伽陀國之婆羅門,由於修布施等福德,遂生忉利天,且成爲三十三天之天主。此類記載係印度自吠陀以來,至佛教時代,將其因陀羅之神格具象化而成者。其於佛教中之地位,與梵天同爲佛教之護法主神,乃十二天之一。鎭護東方,居於須彌山頂之忉利天,其城稱善見城。左右有十大天子侍衛其側。於每半月之三齋日下令四天王、太子、侍者等,探察天下萬民之善惡邪正,若聞世間眾生惡多,不孝父母,不敬師長,不修齋戒,不施貧乏,則愁諸天眾減損,阿修羅眾增益。若聞多孝順父母,敬事師長,勤修齋戒,布施貧乏,則皆大歡喜諸天眾增益,阿修羅眾減損。又若多修德精進不怠者,則勅伺命增壽益算,反之,則不復營護之,或奪其命。 釋尊成道後,帝釋天成爲釋尊之守護神。佛陀升於忉利天爲母說法時,帝釋天手持寶蓋,任佛陀之侍從。其形像,通常呈天人形,乘白象,右手執三鈷杵、左手置於胯上。於密教胎藏界外金剛院中,另有神王形等各種造像。〔雜阿含經卷四十、長阿含經卷二十忉利天品、四天王經、北本大般涅槃經卷三十三、大日經卷二具緣品、大日經疏卷五〕(參閱「因陀羅」2296、「梵天」4627、「憍尸迦」6062)
; See Thiên Đế Thích.
; (帝釋天) Phạm: Zkra Devànàm-indra. Hán âm: Thích ca đề hoàn nhân đà la. Gọi tắt: Thích đề hoàn nhân, Thích ca đề bà. Cũng gọi Thiên đế thích, Thiên chủ, Nhân đà la, Kiều thi ca, Sa bà bà, Thiên nhãn. Đây vốn là một vị thần của Ấn độ giáo. Ở Ấn độ đời xưa, thần này được gọi là Nhân đà la, sau khi du nhập Phật giáo, được gọi là trời Đế thích. Cứ theo các kinh luận nói, thì trời Đế thích vốn là người Bà la môn ở nước Ma già đà, nhờ phúc đức bố thí mà được sinh lên cõi Đao lợi, làm chủ 33 tầng trời. Truyền thuyết này đã có từ thời Phệ đà ở Ấn độ, đến thời đại Phật giáo thì thần cách Nhân đà la được cụ thể hóa mà thành. Trong Phật giáo, thần này là 1 trong 12 vị trời, ở trong thành Thiện kiến trên đỉnh núi Tu di, trấn thủ phương đông, chuyên hộ trì Phật pháp. Ở hai bên vị trời này có 10 Đại thiên tử đứng hầu. Vào 6 ngày trai mỗi tháng, vị trời này ra lệnh cho Tứ thiên vương, Thái tử, Thị giả v.v... xem xét những điều tà chính, thiện ác trong cõi người. Nếu nghe chúng sinh ở nhân gian làm nhiều điều ác, như bất hiếu với cha mẹ, không kính sư trưởng, không tu trai giới, không giúp đỡ người nghèo khổ v.v... thì vị trời này lo buồn vì như thế thì thiên chúng sẽ bị giảm tổn mà chúng A tu la tăng thêm. Còn nếu xét thấy có nhiều người siêng năng tu phúc, giữ gìn giới đức, thì trời này ra lệnh cho quan Tư mệnh tăng thêm tuổi thọ cho họ, nếu ngược lại thì sẽ chẳng giúp đỡ hộ trì mà còn có thể làm cho giảm thọ. Sau khi đức Thế tôn thành Phật, trời Đế thích trở thành thần thủ hộ của Ngài. Trong thời gian Ngài lên cung trời Đao lợi nói pháp cho thân mẫu nghe thì trời Đế thích cầm lọng báu theo hầu đức Phật. Hình tượng Đế thích thông thường là hình người trời cỡi voi trắng, tay phải cầm chày 3 chĩa, tay trái chống vào cạnh sườn ngang chỗ thắt lưng. Trong viện Ngoại kim cương trên Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo thì hình Đế thích được tạo theo hình tượng các Thần vương. [X. kinh Tạp a hàm Q.40; phẩm Đao lợi thiên trong kinh Trường a hàm Q.20; kinh Tứ thiên vương; kinh Đại bát niết bàn Q.33 (bản Bắc); phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.5]. (xt. Nhân Đà La, Phạm Thiên, Kiều Thi Ca).
Đế Thích thiên 帝釋天
[ja]タイシャクテン taishakuten ||| Śakra Devānām-indra, also transcribed as 釋迦提桓因陀羅, 釋提桓因, 釋迦提婆, 憍尸迦, 娑婆婆, and translated as 天帝釋, 天主, and 千眼. One of the two tutelary gods of Buddhism. He dwells in the Palace of Correct Views at the summit of Mt. Sumeru 須彌山, in the Tuṣita Heaven 兜率天, where he inquires into the moral state of the world based on the reports of the kings of the four quarters. Also see Indra 因陀羅. => (s: Śakra Devānām-indra), còn Phiên âm là Thích-ca Đề-hoàn nhân-đà-la (釋迦提桓因陀羅), Thích- đề-hoàn nhân(釋提桓因), Thích-ca Đề-bà (釋迦提婆), Kiều Thi Ca (憍尸迦), Bà-bà-bà(娑婆婆), và được dịch là Đế thích thiên, Thiên chủ, và Thiên nhãn. Là một trong 2 dạng thiện thần Hộ pháp của Phật giáo. Cư ngụ ở điệnThiện Kiến (e: Correct Views) nơi cung trời Đâu suất, nơi ngài thẩm tra hành vi đạo đức của chúng sinh ở thế gian qua sự tường trình của 4 vị thiên tướng cai quản bốn phương. Xem Nhân-đà-la.
đế thích tứ uyển
3776請參閱 帝釋般若波羅蜜多心經 據大毘婆沙論卷一三四載,帝釋天居於須彌山頂之善見城,城外之四面各有一苑,形皆正方,於各苑之中央皆有一如意池,池中八功德水盈滿,爲帝釋諸天遊戲之處。四苑指:(一)眾車苑,謂帝釋諸天若欲遊玩時,隨其福德之力,於此苑中自現種種寶車。(二)粗惡苑,謂帝釋諸天若欲戰鬥之時,隨其所須之甲杖等器,於此苑中自然出現。(四)雜林苑,謂帝釋諸天若遊此苑,則於諸種眾妙之境,所玩皆同,而俱生勝喜。(五)喜林苑,謂帝釋諸天若遊此苑,則極妙之境種種皆集,歷觀遍覽而喜樂無窮,不生厭離。
; (帝釋四苑) Bốn khu vườn của trời Đế thích ở chung quanh thành Thiện kiến. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 134 nói, thì trời Đế thích ở trong thành Thiện kiến trên đỉnh núi Tu di, chung quanh bốn thành đều có một khu vườn hình vuông, ở giữa mỗi vườn đều có một cái ao như ý, trong ao đầy nước 8 công đức, là nơi trời Đế thích và Chư thiên du ngoạn. Bốn khu vườn ấy là: 1. Chúng xa uyển: Khi Đế thích và chư thiên muốn đi du ngoạn thì trong vườn ấy tự hiện ra các loại xe quí. 2. Thô ác uyển: Khi Đế thích và chư thiên muốn chiến đấu thì trong vườn ấy tự nhiên hiện ra các thứ vũ khí như áo giáp, dao gậy v.v... 3. Tạp lâm uyển: Khi Đế thích và chư thiên đến dạo chơi thì trong vườn này có đủ thứ cảnh đẹp vi diệu để thưởng ngoạn. 4. Hỉ lâm uyển: Khi Đế thích và chư thiên đến đây dạo chơi thì các cảnh đẹp tuyệt vời từ khắp nơi đều tập trung về vườn này, muốn xem gì cũng có, nên thú vui vô cùng.
đế thích võng
Indra-jàla (S). The net of Indra, hanging in Indra's hall, out of which all things can be produced.
; Indra-jala (skt)—See Bảo Võng.
Đế thích võng 帝釋網
[ja] タイシャクモウ taishakumō ||| (1) Indra's Net. See 因陀羅網. (2) The name of a type of mantra spoken by a magician in India. => 1. Xem Nhân-đà-la võng. 2. Tên một loại thần chú do một pháp sư Ấn Độ nói ra.
đế thính
6296梵語 śravaṇa。受持經典之十種法行之一。即從心中明白地聽聞佛法。〔長阿含經卷二、勝天王般若波羅蜜經卷七付囑品、顯揚聖教論卷二〕
; (諦聽) Phạm: Zravaịa. Định tâm chuyên chú lắng nghe Phật pháp. Là1trong10 hạnh thụ trì kinh điển. [X. kinh Trường a hàm Q.2; phẩm Phó chúc trong kinh Thắng thiên vương bát nhã ba la mật Q.7; luận Hiển dương thánh giáo Q.2].
đế thù la thí
6294梵名 Tejorāśi。為具有如來無見頂相功德之「五佛頂」之一。意譯作火聚佛頂、光聚佛頂、放光佛頂、火光佛頂,於「祕藏記」作高佛頂。此尊身呈黃色,左手執蓮花,上有如意寶;主以光明攝聚眾生之德。〔大日經疏卷五、大日經義釋卷七、祕藏記卷末〕
; (諦殊羅施) Phạm: Tejoràzi. Hán dịch: Hỏa tụ Phật đính, Quang tụ Phật đính, Phóng quang Phật đính, Hỏa quang Phật đính, Cao Phật đính. Vị tôn này có đầy đủ công đức Vô kiến đính tướng của Như lai. Là một trong năm vị Phật đính. Hình tượng vị tôn này mầu vàng, tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen có viên ngọc như ý, dùng ánh sáng công đức thu nhiếp, thành tựu chúng sinh. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7; Bí tạng kí Q.cuối].
đế thất la xoa
Tisya-raksita (skt)—Một thứ thiếp của vua A Dục, kẻ thù và cũng là người bị Kunala phụ tình—A concubine of Asoka, the rejected lover and enemy of Kunala. She is said to be Asoka's second wife.
đế tu
3775梵名 Tiṣya。印度阿育王時,有二位比丘同此名:(一)第三次經典結集之上座,稱爲目犍連子帝須。(二)阿育王之弟,即七日王。得罪於王後乃觀無常而出家,名爲帝須比丘。〔善見律毘婆沙卷二〕(參閱「目犍連子帝須」2109)
; (帝須) Phạm: Tiwya. Ở thời vua A dục bên Ấn độ, có 2 vị tỉ khưu cùng mang tên Đế tu. I. Đế Tu. Mục kiền liên tử đế tu, vị Thượng tọa trong Đại hội kết tập kinh điển lần thứ 3. II. Đế Tu. Thất nhật vương, em ruột của A dục. Sau khi bị vua xử tội, ông quán xét lí vô thường mà phát tâm xuất gia, nên được gọi là tỉ khưu Đế tu. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.2]. (xt. Mục Kiền Liên Tử Đế Tu).
đế tâm
Danh hiệu mà vua Đường Thái Tông ban cho Pháp Sư Đỗ Thuận, sơ tổ tông Hoa Nghiêm—Title given to Tu-Shun, founder of the Hua-Yen school, by T'ang-T'ai-Tsung.
Đế Tâm Ðỗ Thuận
帝心杜順; 557-640, còn được gọi là Pháp Thuận (法順);|Sơ tổ của Hoa nghiêm tông. Sau khi Sư bắt đầu giảng pháp, môn đệ của Ðịa luận tông sát nhập và thành hình tông Hoa nghiêm.|Thời trẻ tuổi, Sư gia nhập quân đội, nhưng sau đó sớm đi tu năm 18 tuổi. Sư bắt đầu tu tập thiền định và chuyên tu học Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh (s: buddhāvataṃsaka-sūtra). Sư là người đầu tiên lập thuyết Thập huyền môn (mười cửa bí mật), trình bày cơ sở của Hoa nghiêm, về sau được Hiền Thủ Pháp Tạng bổ túc. Hiền Thủ được xem là tổ đích thật của Hoa nghiêm tông.|Người ta kể lại rằng Sư có nhiều phép lạ và được gọi là Bồ Tát Ðôn Hoàng. Sư được nhà vua tặng danh hiệu Ðế Tâm Tôn giả và phụng dưỡng rất hậu.
đế tướng
Indra-dhvaja (skt)—Vị Phật trì vì phía tây nam vũ trụ của chúng ta, người ta nói vị Phật nầy cùng thời với Phật Thích Ca. Ngài là con trai thứ bảy của Phật Đại Thông Trí Thắng—A Buddha, said to have been a contemporary of Sakyamuni, living south-west of our universe, an incarnation of the seventh son of Mahabhijnajnana-bhibhu.
đế võng
Indra-jala (skt)—See Bảo Võng.
Đế võng 帝網
[ja] タイモウ taimō ||| Indra's Net. See 因陀羅網. => Lưới của vua trời Đế Thích. Xem Nhân-đà-la võng.
Đế-bà đạt-đa 禘婆達多
[ja] テイバダツタ Teibadatta ||| Devadatta; see 提婆達多. => j: Teibadatta; s: Devadatta. Xem Đề-bà đạt-đa提婆達多.
đếm xỉa
To pay attention to—To take notice.
đến bờ bên kia
xem bờ bên kia.
đến gần
To approach—To come close (near) to.
đến gần chỗ như lai thành chánh giác
To approach the entries into enlightenment of all Buddhas.
đến nay
Till now—Up to now—Up until now.
đề
1) Chất dầu hay bơ: Oil or butter. 2) Đề cao: To praise—To extol. 3) Đề cập: To mention (touch upon) a subject. 4) Đề cương: Thesis. 5) Đề đạt (ý kiến): To present (recommend) opinion or suggestion. 6) Đề mục: Subject—text—A heading—A theme, etc. 7) Đề huề: Harmony—Concord. 8) Đề nghị: Proposal—To state—To mention. 9) Đề phòng: To take precautions. 10) Đề ra (câu hỏi): To raise a question. 11) Đề tài: Subject (of a sutra). 12) Đề xuất: To bring forward (views). 13) Đề xướng: To take initiative.
đề bà
4958<一>梵語 deva。譯作天。為五趣之一,六道之一。指天人所住之勝妙世界。翻譯名義集卷二引法華疏謂,天,即天然、自然勝、樂勝、身勝之意。(參閱「天」1330) <二>提婆達多(梵 Devadatta)之略稱。即佛世時,觸犯五逆罪,破壞僧團,而與佛陀敵對之惡比丘。(參閱「提婆達多」4960) <三>迦那提婆(梵 Kāṇa-deva)之略稱。三世紀時南印度人。因係獨眼,人稱獨眼提婆。居薩羅國龍樹之弟子,深解空之理法,屢次摧破外道邪說,著有百論二卷、四百論、廣百論、百字論等。後至波吒梨城傳道,然因遭忌,遂被狙擊而死。〔百論序、南海寄歸內法傳卷四〕(參閱「迦那提婆」3961)
; Dèva, Dèvi (S). Heavenly being, god.
; Deva (skt)—Đề Hòa—Chư Thiên nơi cõi trời Phạm Thiên, hay chư Thiên nói chung, là những chúng sanh vẫn còn luân hồi sanh tử—General designation of the gods of Brahmanism, and of all the inhabitants of Devalokas who are still subject to metempsychosis. 1) Thiên: Celestial. 2) Đại Thiên: Mahadeva. 3) Phạm Thiên Nhân: Inhabitants of the Brahmalokas. 4) Thiên Thần: Celestial spirits
; (提婆) I. Đề Bà. Phạm: Deva. Hán dịch: Thiên. Chỉ cho thế giới thắng diệu của người trời cư ngụ. Là một trong 5 đường, một trong 6 đường. Theo Pháp hoa sớ thì Thiên có nghĩa là thiên nhiên, tự nhiên thắng, lạc thắng, thân thắng... (xt. Thiên). II. Đề Bà. Gọi đủ: Đề bà đạt đa (Phạm: Devadatta). Vị tỉ khưu xấu ác ở thời đức Phật đã phạm tội ngũ nghịch, phá hoại tăng đoàn và đối nghịch với Phật. (xt. Đề Bà Đạt Đa). III. Đề Bà. Gọi đủ: Ca na đề bà (Phạm: Kàịa-deva). Vị cao tăng người Nam Ấn độ sống vào thế kỉ thứ III. Vì ngài có một mắt nên người đời gọi ngài là Độc nhãn đề bà. Ngài là đệ tử của bồ tát Long thụ ở nước Tát la, hiểu thấu lí không của các pháp, nhiều lần phá dẹp tà thuyết của ngoại đạo. Sau, ngài đến thành Ba tra lê truyền đạo, nhưng vì sự ganh ghét mà bị đánh chết. Ngài có để lại các tác phẩm: Bách luận 2 quyển, Tứ bách luận, Quảng bách luận, Bách tự luận. [X. Bách luận tự; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4]. (xt. Ca Na Đề Bà).
đề bà bồ tát
Devabodhisattva (skt)—Đề Bà Bồ Tát, Độc Nhãn Đề Bà (chỉ có một mắt vì ngài đã bố thí cho Thiên Thần con mắt kia), sanh trưởng tại vùng Pataliputra, đệ tử của ngài Long Thọ. Ngài là vị tổ thứ 14 tại Ấn Độ. Đề Bà Bồ Tát đã cùng với Ngài Long Thọ lập ra Tam Luận Tông—The one-eyed deva (Aryadeva or Kanadeva), a monk of Pataliputra, a disciple of Nagarjuna, fourteenth patriarch; along with Nagarjuna he is counted as founder of the Madhyamika School.
đề bà ma la bá bại
Deva-mara-papiyan (skt)—Ma Vương—Mara—The evil one, king of demons.
đề bà ngũ pháp
4958又作提婆五邪法。即佛世時,提婆達多所說之五種邪法。提婆以此五種邪法破和合僧,在五逆罪中為最重罪。此五法諸書記載不一,據毘尼母論卷四,五法為:(一)盡形壽乞食,(二)糞掃衣,(三)不食酥鹽,(四)不食肉魚,(五)露坐。又據順正理論卷四十三所舉,五法為:(一)不應受用乳等,(二)斷肉,(三)斷鹽,(四)應被不截衣服,(五)應居聚落邊寺。另據大毘婆沙論卷一一六所舉,五法為:(一)盡壽著糞掃衣,(二)盡壽常乞食,(三)盡壽唯一坐食,(四)盡壽常居迴露,(五)盡壽不食一切魚肉血味、鹽、酥、乳等。律典中多引大毘婆沙論所說之五法。 佛陀本制四依之行法,即:(一)盡形壽樹下坐,(二)盡形壽著糞掃衣,(三)盡形壽乞食,(四)盡形壽病時服陳棄之藥。提婆所立之五邪法雖與四依之正法相似,而違反佛意,欺佛弟子,破和合僧。蓋佛雖有糞掃衣之制,而裁縫為袈裟,提婆之法則不許裁縫。佛弟子乞食嚴守一定之時間,提婆之法則不分晝夜,以滿為限。佛弟子日中以後不食,提婆之法則不定時。佛雖聽許露地坐,亦許住於房舍,提婆之法則不然。佛雖不許食不淨肉,於淨肉則許之,提婆則斷然不許食肉。如是妄立五法而惑眾,以非法為法,以法為非法,以非律為律,以律為非律,以重為輕,以輕為重,故為邪法。提婆即因貪愛名聞,對佛陀起妬嫉之心,故毀三寶而建立邪道,犯破和合僧之大重罪。又非謂此五法皆是邪法,因立此五法,遂使和合之僧團一分為二,故為大重罪。〔十誦律卷三十六、大乘義章卷七、止觀輔行傳弘決卷一之三〕
; Đề Bà Ngũ Tà Pháp—Năm tà pháp của Đề Bà Đạt Đa nêu ra khi Đức Phật còn tại thế (Đề Bà Đạt Đa đã dùng năm tà pháp nầy để phá sự hòa hợp trong Tăng đoàn. Đó là tội nặng nhất trong ngũ nghịch tội, năm tà pháp ấy tuy có vẻ giống với tứ y pháp, nhưng kỳ thật là trái ý Phật—The five obnoxious rules of Devadatta: (A) 1) Chẳng nên thụ dụng sữa: Not to take milk in any forms. 2) Kiêng ăn thịt: Not to eat meat. 3) Kiêng ăn muối: Not to take salt. 4) Nên mặc áo chẳng may cắt (trong khi Phật cho mặc vải vụn may thành cà sa): To wear unshaped garments. 5) Không nên ở chùa cận kề bên thôn xóm: To live apart from hamlets. (B) 1) Suốt đời mặc phấn tảo y: To wear only cast-off rags at all times. 2) Trọn đời khất thực: Khất thực bất cứ lúc nào chẳng kể ngày đêm, trong khi Phật chỉ cho đi khất thực vào buổi sáng—To beg for food at all times, while the Buddha only allows begging for food in the morning (before noon time). 3) Ăn bất cứ lúc nào, trong khi Phật chỉ cho phép ăn ngày một ngọ: To have meals any time during the day, while the Buddha only allows one set of meal a day at noon time. 4) Trọn đời thường ở chỗ trống vắng, trong khi Đức Phật cho phép các đệ tử của Ngài có thể ở nơi trống vắng hay ở trong tịnh xá: To dwell in the open at all times, while the Buddha allows his disciples to dwell both in the open air and in the monastery. 5) Trọn đời chẳng ăn thịt cá, sữa, bơ: Not to take flesh, milk, or butter.
; (提婆五法) Cũng gọi Đề bà ngũ tà pháp. Năm tà pháp do Đề bà đạt đa đặt ra. Khi đức Phật còn tại thế, Đề bà dùng năm tà pháp này để phá hòa hợp tăng, là tội nặng nhất trong năm tội nghịch. Năm pháp này các kinh luận ghi chép không giống nhau. Cứ theo luận Tì ni mẫu quyển 4, thì năm pháp ấy là: 1. Trọn đời đi xin ăn. 2. Mặc áo phẩn tảo. 3. Không ăn bơ, muối. 4. Không ăn thịt cá. 5. Ngồi ngoài trời. Cứ theo luận Thuận chí lí quyển 43, thì 5 pháp là: 1. Không được uống sữa. 2. Không ăn thịt. 3. Không ăn muối. 4. Mặc ca sa không chia điều tướng. 5. Ở gần bên làng xóm. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 116, thì 5 pháp là: 1. Trọn đời mặc áo phẩn tảo. 2. Trọn đời đi xin ăn. 3. Trọn đời ăn một bữa. 4. Trọn đời ở ngoài trời. 5. Trọn đời không ăn thịt cá, muối, bơ, sữa... Trong luậtt phần nhiều dẫn năm pháp của luận Đại tì bà sa. Năm tà pháp của Đề bà đạt đa tuy tương tự như Chính pháp tứ y (ngồi dưới gốc cây, mặc áo phẩn tảo, đi xin ăn, uống thuốc dư thừa) do đức Phật chế định, nhưng thực ra là trái với ý Phật, lừa dối đệ tử Phật, phá hòa hợp tăng. Bởi vì, Phật tuy có chế y phẩn tảo, nhưng phải cắt may thành ca sa có điều tướng, còn pháp của Đề bà thì không cho cắt may. Đệ tử Phật đi xin ăn giữ đúng thời gian nhất định, còn pháp của Đề bà đạt đa thì không giới hạn. Đệ tử Phật sau giờ ngọ không ăn, pháp của Đề bà đạt đa thì không có giờ nào nhất định. Phật tuy dạy ngồi ngoài trời, nhưng cũng cho phép ở trong phòng xá, còn pháp của Đề bà thì không như thế. Phật tuy không cho ăn bất tịnh nhục, nhưng tịnh nhục thì được ăn, còn Đề bà thì dứt khoát không cho ăn. Đề bà lập 5 pháp như thế để mê hoặc chúng tăng, lấy phi pháp làm pháp, cho pháp là phi pháp; lấy phi luật làm luật, lấy luật làm phi luật, cho trọng là khinh, lấy khinh làm trọng, nên gọi là Tà pháp. Đề bà vì tham đắm danh lợi, đối với đức Phật sinh tâm ghen ghét, nên hủy hoại Tam bảo mà dựng nên tà đạo, phạm tội phá hòa hợp tăng. Cũng có thuyết cho rằng 5 pháp này tự chúng không phải tà pháp, nhưng vì lập 5 pháp mà sự đoàn kết hòa hợp của Tăng đoàn bị rạn nứt mà chia làm hai, nên gọi là Đại trọng tội. [X. luật Thập tụng Q.36; Đại thừa nghĩa chương Q.7; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1 phần 3].
đề bà thiết ma
4959請參閱 外道小乘四宗論 請參閱 外道小乘涅槃論 請參閱 提謂波利經 請參閱 提謂波利經梵名 Devaśarman。意譯作天寂、賢寂。為小乘說一切有部論師之一。中印度鞞索迦國(梵 Viśaka,巴同)人,約於佛陀入滅後一百年間出世,曾撰述阿毘達磨識身足論十六卷,為六足論之一。西藏藏經所收錄之般若燈論疏(藏 Śes-rab sgron-maḥi rgya-cher ḥgrel-pa)中,言及中論之八大註釋家,其中有提婆設摩者,與此非指同一人。〔大唐西域記卷五鞞索迦國條、俱舍論光記卷一、大慈恩寺三藏法師傳卷三、俱合論寶疏卷一、Bu-ston: The Jewelry of Scripture(Jahrbuch des Instituts für Buddhismus-Kunde, vol. II)〕
; Devaksema or Devasarman (skt)—Tên theo chữ Hán là Hiền Tịch. Ngài là vị A La Hán đã soạn bộ A Tỳ Đạt Ma Thức Thân Túc Luận, trong đó ông phủ nhận cái “ngã.” Sách được ngài Huyền Trang dịch sang Hoa ngữ khoảng năm 649 sau Tây Lịch—An Arhat who wrote the Abhidharma Vijnana Kaya Pada, in which he denied the ego. It was translated into Chinese by Hsuan-Tsang around 649 A.D.
; (提婆設摩) Phạm: Devazarman. Hán dịch: Thiên tịch, Hiền tịch. Một trong sáu vị Luận sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ thuộc Tiểu thừa, người nước Tì sách ca (Phạm, Pàli:Vaizaka), Trung Ấn độ, ra đời khoảng 100 năm sau đức Phật nhập diệt. Sư có tác phẩm: A tì đạt ma thức thân túc luận 16 quyển. [X. điều Tì sách ca quốc trong Đại đường tây vực kí Q.5; Câu xá luận quang kí Q.1; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.3; Câu xá luận bảo sớ Q.1].
đề bà tê na
Devasena (skt). 1) Thiên Chúng: Celestial host. 2) Tên của một vị A La Hán: Name of an Arhat.
đề bà tông
4959即三論宗。又稱龍樹宗。係依龍樹所著中論、十二門論及其弟子迦那提婆所著百論所建立之宗派,為我國大乘宗派之一。以般若空義為本宗思想根幹,故又稱為中觀宗、空宗、無相宗、無相大乘宗、無得正觀宗。本宗在印度,由開祖龍樹而提婆、羅睺羅、青目等人,次第發展(一說由釋尊、文殊、馬鳴,而迄龍樹等)。姚秦時代,三論乃由鳩摩羅什傳至中國,並譯為中文。三論義理,自道生、曇濟、道朗、僧詮、法朗而至吉藏(嘉祥大師)集其大成,前此稱為古三論。其後法藏就日照三藏所傳印度智光論師之三時教判,撰十二門論宗致義記二卷,此一系統則稱為新三論。吉藏之後,三論之學即不盛行。民國以來,印順法師精研斯學,所見頗深,有中觀今論、中觀論頌講記等書行世。 吉藏之弟子高麗僧慧灌,於推古天皇三十三年(625)將本宗傳入日本(第一傳,又稱元興寺流),法孫智藏入唐求法,返日後在法隆寺大力弘通(第二傳)。智藏之弟子道慈來唐十八年後歸日,傳大安寺流(第三傳)。此宗為日本南都六宗之一,弘講者頗多。〔三論宗之發展及其思想(現代佛教學術叢刊(47))〕(參閱「三論宗」676)
; Còn gọi là Long Thọ Tông (do hai vị đại sĩ Long Thọ và Đề Bà sáng lập). Còn gọi là Tam Luận Tông—The school of Nagarjuna, so called after Aryadeva. Also called Madhyamika.
; (提婆宗) Cũng gọi Tam luận tông, Long thụ tông, Trung quán tông, Không tông, Vô tướng tông, Vô tướng đại thừa tông, Vô sắc chính quán tông. Một trong các tông phái Đại thừa. Tông này được kiến lập trên nền tảng 3 bộ luận: Trung luận, Thập nhị môn luận của ngài Long thụ và Bách luận của ngài Ca na đề bà. Tông này lấy nghĩa Không của Bát nhã làm tư tưởng căn bản. [X. Tam luận tông chi phát triển cập kì tư tưởng (Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 47)]. (xt. Tam Luận Tông).
Đề Bà Đạt Đa
(s, p: Devadatta, 提婆達多): gọi tắt là Đề Bà (提婆), âm dịch là Đề Bà Đạt Đâu (提婆達兜), Địa Bà Đạt Đa (地婆達多), Đề Bà Đạt (提婆達), Điều Đạt (調達); dịch là Thiên Thọ (天壽), Thiên Nhiệt (天熱), Thiên Dữ (天與). Ông là người em họ của đức Thế Tôn, anh của A Nan (s, p: Ānanda, 阿難), con của trưởng giả Thiện Giác (善覺) và là em của công chúa Da Du Đà La (s: Yaśodharā, p: Yasodharā, 耶輸陀羅). Khi đức Thế Tôn về thăm cố hương của mình, ông đã cùng với những người thanh niên của dòng họ Thích Ca như A Nan, A Na Luật (s: Aniruddha, p: Anuruddha, 阿那律), Ưu Ba Ly (s, p: Upāli, 優波離), v.v., đã xuất gia và theo làm đệ tử của đức Phật. Trong suốt 12 năm trường, ông thường có thiện tâm và nỗ lực tu tập, nhưng không chứng được thánh quả nên dần dần tâm ấy thối chuyển và sanh ra ác niệm. Ông càng ganh tỵ với thanh danh của Thế Tôn khi ấy càng lúc càng lên cao, nên đã kết hợp với Thái Tử A Xà Thế (s: Ajātaśatru, p: Ajātasattu, 阿闍世) nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), tìm cách chiếm đoạt ngôi vị quốc vương và pháp vương. Riêng A Xà Thế thì đã chiếm được ngôi vị quốc vương thay cho vua cha Tần Bà Sa La (s, p: Bimbisāra, 頻婆娑羅), nhưng Đề Bà Đạt Đa thì không đạt được nguyện vọng lãnh đạo giáo đoàn thay thế đức Thế Tôn. Hơn nữa, chính ông đã chủ trương thanh lọc hóa giáo đoàn và yêu cầu quy định về nếp sống sinh hoạt nghiêm túc của các Tỳ Kheo, nhưng rồi vẫn không được tán đồng, cho nên ông đã thống lãnh 500 vị Tỳ Kheo phụ họa theo ý kiến của ông để tiến hành ý định muốn biệt lập giáo đoàn, nhưng cuối cùng vẫn không đạt được mục đích của mình. Ông đã rắp tâm lăn đá từ trên Linh Thứu Sơn (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 靈鷲山) xuống để giết hại đức Thế Tôn, nhưng may thay những mảnh vụn đá chỉ làm tổn thương nhẹ ngón chân của đức Phật mà thôi. Bằng tất cả các phương kế của mình, Đề Bà Đạt Đa lại thả con voi say với ý đồ muốn sát hại đức Phật, nhưng con voi kia lại quy phục theo Phật. Với những việc làm như vậy, ông đã phạm vào các nghịch tội như phá hòa hợp tăng, làm cho thân Phật chảy máu, giết hại Tỳ Kheo Ni, v.v., cho nên khi qua đời, ông bị đọa xuống địa ngục Vô Gián.
đề bà đạt đa
4960梵名 Devadatta,巴利名同。又作提婆達兜、揥婆達多、地婆達多。或作調達。略稱提婆、達多。意譯作天熱、天授、天與。為佛世時犯五逆罪,破壞僧團,與佛陀敵對之惡比丘。為釋尊叔父斛飯王之子,阿難之兄弟(另有為甘露飯王、白飯王或善覺長者之子等異說)。幼時與釋尊、難陀共習諸藝,其技優異,常與釋尊競爭。佛陀成道後,隨佛陀出家,於十二年間善心修行,精勤不懈。後因未能得聖果而退轉其心,漸生惡念,欲學神通而得利養,佛陀不許,遂至十力迦葉處習得神通力,受摩揭陀國阿闍世太子之供養。由是,提婆愈加憍慢,欲代佛陀領導僧團,亦未得佛陀允許。此後提婆率五百徒眾脫離僧團,自稱大師,制定五法,以此為速得涅槃之道,遂破僧伽之和合。其所立之五法,諸書記載不一,據有部毘奈耶破僧事卷十載,五法為不食乳酪、不食魚肉、不食鹽、受用衣時不截其縷績(即用長布)、住村舍而不住阿蘭若處。又據十誦律卷四、卷三十六載,五法為盡形壽受著衲衣、盡形壽受乞食之法、盡形壽受一食之法、盡形壽受露地坐法、盡形壽受斷肉法。其他有關法義解釋等,提婆亦倡其異說。 提婆於摩揭陀國王舍城擁有獨立教團,受阿闍世之禮遇,勢力漸大,佛陀曾屢次告誡比丘眾,勿貪提婆之利養。後提婆教唆阿闍世弒父,並謀藉新王之威勢,為教法之王,阿闍世遂幽禁其父頻婆沙羅王,而自登王位。提婆亦欲迫害佛陀,以五百人投石器擊殺佛陀而未果。又於耆闍崛山投下大石,雖為金毘羅神接阻,然碎片傷佛足而出血。又趁佛陀入王舍城時,放狂象加害之,然象遇佛陀即歸服,事亦不成。其時,舍利弗及目犍連勸諭提婆之徒眾復歸佛陀之僧團,阿闍世王亦受佛陀之教化,懺悔歸依。提婆仍不捨惡念,撲打蓮華色比丘尼至死,又於十指爪中置毒,欲由禮佛足而傷佛陀,但佛足堅固如巖,提婆反自破手指,乃於其地命終。古來以破和合僧、出佛身血、放狂象、殺蓮華色比丘尼、十爪毒手等五事為提婆之五逆,又特稱破僧、傷佛、殺比丘尼三事為三逆。 經典中多載提婆所為,謂提婆於命終之後墮地獄中。據大唐西域記卷六室羅伐悉底國條載,玄奘曾於祇園精舍廢址之東,得見提婆生身墮於地獄之大坑。又據大唐西域記卷十羯羅拏蘇伐剌那國條、高僧法顯傳所載,法顯、玄奘遊學印度之時,印度尚有遵行提婆達多之遺訓者。另據增一阿含經卷四十七載,提婆墮地獄後,佛陀謂其將歷經一劫地獄之苦,並為授辟支佛記莂。後世對提婆與釋尊之關係,產生許多本生談,如薩曇分陀利經及法華經卷四提婆達多品等,即記載提婆過去世為善知識,曾為釋尊宣說大乘經典,釋尊遂因而得以成佛;經中又載,提婆將於當來無量劫後成佛,號曰天王如來。〔雜阿含經卷十六、卷十八、卷三十八、卷四十八、中阿含卷二十七阿奴波經、增一阿含經卷五、卷九、卷十一、卷十二、卷二十三、卷三十八、卷四十八、卷四十九、起世因本經卷十、十二遊經、修行本起經卷上、過去現在因果經卷二、出曜經卷十四、卷十五,卷十六、卷二十五、大方便佛報恩經卷三、佛本行集經卷十三、菩薩本行經卷上、撰集百緣經卷四、賢愚經卷六、卷九、卷十三、大莊嚴論經卷十三、毘尼母經卷四、薩婆多部律攝卷四、有部毘奈耶卷十四、卷十五、摩訶僧祇律卷七、大毘婆沙論卷八十三、法華經文句卷八之四〕
; Devadatta (skt)—Đề Bà Đạt Đa, con trai của Hộc Phạn Vương, anh em họ với Phật Thích Ca. Thoạt đầu, ông là đệ tử của Phật, nhưng về sau ông trở thành kẻ luôn thù hiềm ganh ghét với Phật. Ông thường phạm nhiều tội phỉ báng giáo pháp Phật. Hai lần Đề Bà Đạt Đa mưu ám hại Đức Phật. Lần thứ nhất, ông đứng trên đồi lăn đá xuống làm Đức Phật bị thương, nhưng nhờ y sĩ Kỳ Bà chữa trị Đức Phật không hề hấn gì. Lần thứ hai Đề Bà xúi dục những người quản tượng thành Vương Xá thả voi say Nalagiri chạy ra đường để giết Phật, nhưng khi voi đến gần Phật voi quỳ xuống dưới chân Ngài. Theo truyền thống Đại thừa, Đề Bà được coi như là vị Bồ tát nghịch, người đã dùng phương tiện thiện xảo giúp Phật đạt được đại giác. Vào cuối đời, Đề Bà Đạt Đa nhận biết lỗi lầm của mình. Ngày nọ, ông đang trên đường đến gặp Đức Phật để sám hối, nhưng chưa kịp tới gặp Phật thì ông đã bị lửa địa ngục đốt cháy. Trong Kinh Hoa Nghiêm, Phật đã khẳng định rằng chính Đề Bà đã mang lại những lợi ích không tưởng tượng được cho Phật giáo, và Ngài đã thọ ký rằng sau nầy Đề Bà sẽ thành Phật. Đề Bà là một đại Bồ Tát mà hành vi và cử chỉ của ông chỉ có Phật mới hiểu được. Ông được Phật thọ ký thành Phật hiệu là Thiên Vương Như Lai—Devadatta, son of Dronodana raja, and cousin of Sakyamuni Buddha. At first, he was a follower of the Buddha, but later he became his most persistent enemy. He often committed many offenses against the Buddha and His Teachings. Devadatta tried twice to kill the Buddha. The first time, from the hill, he flung a stone at the Buddha; the Buddha was injured but soon recovered after treatment by Jivaka physician. The second time, he incited the elephant keepers in Rajagaha of the ancient kingdom of Magadha to release a drunken elephant Nalagiri and let him loose on the street to kill the Buddha. But when the elephant came close to the Buddha, he bowed down at his feet. According to Mahayana Tradition, Devadatta is considered to be a bodhisattva in disguised who thought his constant needling of the Buddha help the Buddha perfect his enlightenment (who only committed these offenses as a skillful method for the Buddha to make more good laws and precepts for the Order). Near the end of his life, Devadatta realized his mistakes. One day, he was coming to the Buddha to ask for his forgiveness, but before he reached the Buddha, he was consumed by hell-fire. In the Dharma Flower Sutra, the Buddha says he has brought unimaginable advantages to Buddhism (with regard to Buddha's precepts) and even gave him the prophecy to attain Buddhahood. He is a Maha-Bodhisattva whose conduct and actions can only be understood by the Buddha. Nevertheless, he is predicted to become a Buddha as Devaraja.
; (提婆達多) Phạm, Pàli: Devadatta. Cũng gọi Đề bà đạt đâu, Đế bà đạt đa, Địa bà đạt đa. Hoặc gọi là Điều đạt. Gọi tắt: Đề bà, Đạt đa. Hán dịch: Thiên nhiệt, Thiên thụ, Thiên dữ. Vị tỉ khưu xấu ác, phạm tội ngũ nghịch, phá hoại tăng đoàn, đối địch với Phật. Đề bà đạt đa là con vua Hộc phạn-chú của Phật (cũng có thuyết cho là con của Cam lộ phạn vương, Bạch phạn vương hoặc là con của trưởng giả Thiện giác). Thủa nhỏ, ông học tập cùng thái tử Tất đạt đa, Nan đà, tài năng ông xuất sắc nên thường tranh đua với thái tử Tất đạt đa. Sau khi thái tử Tất đạt đa thành Phật, ông theo Phật xuất gia, trong khoảng 12 năm đầu, ông dốc lòng tu đạo, siêng năng tinh tiến. Sau vì không được Thánh quả nên ông thoái tâm và muốn học thần thông để cầu lợi dưỡng, đức Phật không cho, Đề bà liền đến chỗ Thập lực ca diếp học thần thông, được thái tử A xà thế của nước Ma yết đà cúng dường. Do đó, Đề bà càng kiêu mạn hơn, muốn thay Phật lãnh đạo Tăng đoàn. Sau đó, Đề bà cầm đầu 500 đồ chúng thoát li Tăng đoàn, tự xưng Đại sư, đặt ra năm pháp và cho đó là con đường tới Niết bàn mau chóng. Đây là việc phá hòa hợp tăng. Về 5 pháp do Đề bà lập ra, các bộ luận ghi chép không giống nhau. Cứ theo Hữu bộ tì nại da Phá tăng sự quyển 10 chép, thì 5 pháp ấy là: Không ăn váng sữa, không ăn thịt cá, không ăn muối, khi may ca sa để nguyên tấm vải không cắt nhỏ ra, ở nơi xóm làng chứ không ở chỗ vắng vẻ. Còn theo luật Thập tụng quyển 4, quyển 36, thì 5 pháp là: - Trọn đời mặc áo vá. - Trọn đời đi xin ăn. - Trọn đời ngồi nơi đất trống. - Trọn đời không ăn thịt cá. - Trọn đời chỉ ăn một bữa. Ngoài ra, về việc giải thích các pháp nghĩa, Đề bà cũng nêu ra những dị thuyết. Từ đó, ở thành Vương xá, nước Ma yết đà, Đề bà có giáo đoàn độc lập, được thái tử A xà thế ủng hộ nên thế lực mỗi ngày một lớn mạnh, Phật đã thường răn bảo các tỉ khưu chớ tham lợi dưỡng của Đề bà. Về sau, Đề bà xúi giục A xà thế giết cha, để cướp ngôi, A xà thế bèn bắt cha giam trong ngục tối rồi lên làm vua. Đồng thời, Đề bà cũng âm mưu ám hại Phật để lên làm Phật, nên ông ta lên núi Kì xà lăn tảng đá lớn xuống nhằm giết Phật, nhưng việc không thành và Phật chỉ bị thương ở chân. Lại thừa lúc Phật vào thành Vương xá, Đề bà cho thả voi điên ra để hại Phật, nhưng voi vừa gặp Phật liền qui phục nên âm mưu cũng bị thất bại. Bấy giờ, ngài Xá lợi phất và Mục kiền liên khuyên nhủ đồ chúng Đề bà trở về với Tăng đoàn của đức Phật, vua A xà thế cũng được đức Phật giáo hóa, bèn sám hối qui y. Đề bà vẫn không bỏ tâm ác, đánh đập tỉ khưu ni Liên hoa sắc đến chết; lại bôi thuốc độc vào 10 móng tay mình định nhân lúc lễ lạy Phật để hại Phật, nhưng chân Ngài khi ấy cứng chắc như đá, còn 10 đầu ngón tay của Đề bà thì bị xây xát, chất độc thấm vào máu khiến Đề bà bỏ mạng. Trong kinh gọi 5 việc: Phá hòa hợp tăng, làm thân Phật chảy máu, thả voi điên, giết tỉ khưu ni Hoa sắc, 10 móng tay bôi chất độc là Đề bà ngũ nghịch và gọi riêng 3 việc: Phá tăng, hại Phật, giết tỉ khưu ni là Tam nghịch. Trong các kinh điển phần nhiều có nói vì những việc làm trái với đạo lí trên đây nên sau khi chết, Đề bà bị rơi vào địa ngục. Cứ theo điều Thất la phạt tất để quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 6, thì về phía đông chỗ nền cũ của tinh xá Kì viên, ngài Huyền trang còn thấy cái hố sâu nơi mà Đề bà rơi xuống khi còn sống. Lại cứ theo điều Yết la noa tô phạt thích na quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 10 và Cao tăng Pháp hiển truyện chép, thì khi các ngài Pháp hiển, Huyền trang du học Ấn độ, lúc đó, ở Ấn độ vẫn còn có người tuân hành theo lời di huấn của Đề bà đạt đa. Ngoài ra, cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 47 chép, thì đức Phật bảo Đề bà đạt đa sẽ phải chịu khổ địa ngục trong một kiếp và được thụ kí thành Bích chi phật. Kinh Tát đàm phân đà lợi và phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa quyển 4 nói, ở đời quá khứ Đề bà là thiện tri thức, từng thuyết giảng kinh điển Đại thừa cho đức Thích tôn nghe, nhờ thế mà đức Thích tôn được thành Phật. Trong kinh còn nói, sau vô lượng kiếp ở đời vị lai, Đề bà đạt đa sẽ thành Phật hiệu là Thiên vương Như lai. [X. kinh Tạp a hàm Q.16, Q.18, Q.38, Q.48; kinh A nô ba trong Trung a hàm Q.27; kinh Tăng nhất a hàm Q.5, Q.9, Q.11, Q.12, Q.23, Q.38, Q.48, Q.49; kinh Khởi thế nhân bản Q.10; kinh Thập nhị du; kinh Tu hành bản khởi Q.thượng; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.2; kinh Xuất diệu Q.14, Q.15, Q.16, Q.25; kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.3; kinh Phật bản hạnh tập Q.13; kinh Bồ tát bản hạnh Q.thượng; kinh Soạn tập bách duyên Q.4; kinh Hiền ngu Q.6, Q.9, Q.13; Đại trang nghiêm kinh luận Q.13; kinh Tì ni mẫu Q.4; Tát bà đa bộ luật nhiếp Q.4; Hữu bộ tì nại da Q.14, Q.15; luật Ma ha tăng kì Q.7; luận Đại tì bà sa Q.83; Pháp hoa kinh văn cú Q.8 phần 4].
đề bà địa đề bà
Devatideva (skt). 1) Thiên Thượng Thiên: The god of gods. 2) Tên của Đức Phật trước khi Ngài xuất gia: Name of the Buddha before he left home.
Đề chuyết (xuyết) 提綴
[ja] テイセツ teisetsu ||| To pick up and compose. The raising of the proper problem by the teacher for the instruction of the student. A Chan teaching term. See also 提撕. => Đưa ra và giải quyết. Việc các Thiền sư đề ra một đề tài đặc biệt để khai thị cho đệ tử. Là một thuật ngữ Thiền. Còn gọi là Đề ty (提撕).
Đề cung
(禔躬): an thân, tu thân; đồng nghĩa với đề thân (禔身). Như trong Minh Sử (明史), chương Ẩn Dật Truyện (隱逸傳), Lưu Mẫn (劉閔), có câu: “Cầu cổ thánh hiền đề cung huấn gia chi pháp, suất nhi hành chi (求古聖賢禔躬訓家之法、率而行之, cầu thánh hiền xưa pháp tu thân dạy nhà, dẫn dắt mà thực hành pháp đó).”
đề danh tăng
6650於法會中,除導師及七僧之外,其他眾僧稱為題名僧,數額不定。此外,於法會儀式中,負責誦讀經之題號者,亦稱題名僧。
; (題名僧) Từ ngữ gọi chung chúng tăng trong pháp hội, ngoại trừ vị Đạo sư và 7 vị tăng có chức vụ quan trọng. Ngoài ra, trong nghi thức pháp hội, vị tăng phụ trách việc đọc tụng tựa đề kinh cũng gọi là Đề danh tăng.
đề ha
Deha (skt)—Thân—The body. ** For more information,please see Bát trung Châu (2).
đề hiệu
6650明顯標示經、論、釋等內容之題目。書於卷首者為首題,書於卷末者為尾題,書於封面者為外題,書於開卷之初者為內題;亦有首尾內外之題號相異者。 釋經時,首釋題目,此謂釋名;天台大師智顗立釋名為五重玄義之第一。智顗復依人、法、喻組合一切經題,立七種立題,即:單人立題(阿彌陀經)、單法立題(大般涅槃經)、單譬立題(梵網經)、人法立題(文殊問般若經)、法譬立題(妙法蓮華經)、人譬立題(如來師子吼經)、具足立題(大方廣佛華嚴經)。
; (題號) Đề mục nêu rõ nội dung của Kinh, Luận, Sớ v.v... Đề hiệu có những tên gọi như: Thủ đề viết ở đầu quyển; Vĩ đề viết ở cuối quyển; Ngoại đề viết bên ngoài bìa sách; Nội đề viết ở ngay trang đầu.
đề hoàn
Deva (skt)—See Đề Bà.
đề hòa
Deva (skt)—See Đề Bà.
Đề Hồ
(s: maṇḍa, sarpir-maṇḍa, p: maṇḍa, sappi-maṇḍa, 醍醐): (1) chỉ loại dầu tinh chất được chế thành từ ván sữa; màu vàng trắng, đem làm bánh, rất ngọt và béo; (2) chỉ cho một loại rượu ngon; (3) là một trong 5 vị, tức sữa, cạo sữa, ván sữa sống, ván sữa chín và đề hồ; nên có tên gọi là Đề Hồ Vị (醍醐味); (4) vì Đề Hồ là vị ngon nhất trong các loại sữa, nên Phật Giáo dùng để chỉ Niết Bàn, Phật tánh, giáo lý chân thật. Trong kinh điển Hán dịch của Phật Giáo Trung Quốc thời kỳ đầu, Đề Hồ có nghĩa là “bản chất, tinh túy.” Ngoài ra, Đề Hồ còn được dùng như là một phương thuốc chữa bệnh; như trong chương Tây Vức (西域) của Ngụy Thư (魏書) có đoạn: “Tục tiễn phát tề mi, dĩ Đề Hồ đồ chi, dục dục nhiên quang trạch, nhật tam tháo thấu, nhiên hậu ẩm thực (俗剪髮齊眉、以醍醐塗之、昱昱然光澤、日三澡漱、然後飲食, có tục lệ cắt tóc xén lông mày, lấy đề hồ thoa lên, hong nắng ánh sáng, một ngày tắm giặt ba lần, sau đó mới ăn uống).” Quyển 596 của Toàn Đường Văn (全唐文), bài Tống Thái Chiểu Hiếu Liêm Cập Đệ Hậu Quy Mân Cận Tỉnh Tự (送蔡沼孝廉及第後歸閩覲省序) của Âu Dương Chiêm (歐陽詹, 756-798) lại có đoạn rằng: “Phanh nhũ vi đề hồ, đoán kim vi càn tương, dự kỳ phanh đoán dĩ biến hóa (烹乳爲醍醐、鍛金爲乾將、予期烹鍛以變化, nấu sữa thành Đề Hồ, nung vàng làm kiếm tốt, chờ đợi lúc nấu và rèn biến hóa).” Đại Thừa Lý Thú Lục Ba La Mật Đa Kinh (大乘理趣六波羅蜜多經) quyển 1 có giải thích rằng: “Khế Kinh như nhũ, điều phục như lạc, Đối Pháp Giáo giả như bỉ sanh tô, Đại Thừa Bát Nhã do như thục tô, Tổng Trì Môn giả thí như Đề Hồ. Đề Hồ chi vị, nhũ, lạc, tô trung vi diệu đệ nhất, năng trừ chư bệnh, linh chư hữu tình thân tâm an lạc. Tổng Trì Môn giả, Khế Kinh đẳng trung tối vi đệ nhất, năng trừ trọng tội, linh chư chúng sanh giải thoát sanh tử, tốc chứng Niết Bàn an lạc pháp thân (契經如乳、調伏如酪、對法敎者如彼生酥、大乘般若猶如熟酥、總持門者譬如醍醐。醍醐之味、乳、酪、酥中微妙第一、能除諸病、令諸有情身心安樂。總持門者、契經等中最爲第一、能除重罪、令諸眾生解脫生死、速證涅槃安樂法身, Khế Kinh như sữa, điều phục như cạo sữa, giáo lý Đối Pháp giống như ván sữa sống, Bát Nhã Đại Thừa như ván sữa chín, Tổng Trì Môn ví như Đề Hồ. Vị của Đề Hồ vi diệu số một trong các loại sữa, cạo sữa, ván sữa; có thể trừ các bệnh, khiến cho thân tâm chúng hữu tình được an lạc. Tổng Trì Môn là số một trong Khế Kinh, v.v., có thể trừ các tội nặng, khiến các chúng sanh giải thoát sanh tử, mau chứng Niết Bàn, pháp thân an lạc).” Do vì Đề Hồ được xem như là giáo lý tối thượng, Phật tánh, v.v.; cho nên xuất hiện thuật ngữ “Đề Hồ Quán Đảnh (醍醐灌頂)” để ví dụ cho việc lấy giáo pháp tối thượng giúp người hành trì để chuyển hóa vô minh, phiền não và đạt được mát mẻ, an lạc. Như trong bài thơ Hành Lộ Nan (行路難) của Cố Huống (顧況, 725-814) có câu: “Khởi tri quán đảnh hữu Đề Hồ, năng sử thanh lương đầu bất nhiệt (豈知灌頂有醍醐、能使清涼頭不熱, sao biết quán đảnh có Đề Hồ, thể khiến mát trong không nóng).” Hay trong bài Ta Lạc Phát (嗟落髮) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) cũng có câu: “Hữu như Đề Hồ quán, tọa thọ thanh lương lạc (有如醍醐灌、坐受清涼樂, lại như rưới Đề Hồ, ngồi thọ vui mát mẻ).” Lại như trong bài Đại Thừa Bản Sanh Tâm Địa Quán Kinh Tự (大乘本生心地觀經序) của vua Hiến Tông (憲宗, tại vị 805-820) nhà Đường có đoạn: “Tỉ phi duyệt chi giả Cam Lồ sái ư tâm điền, hiểu ngộ chi giả Đề Hồ lưu ư tánh cảnh (俾披閱之者甘露灑於心田、曉悟之者醍醐流於性境, người đọc kỹ nó như Cam Lồ rưới nơi ruộng tâm, người hiểu ngộ được nó như Đề Hồ chảy vào cảnh giới tánh).” Bên cạnh đó, trong bài Thật Tế Tự Cố Tự Chủ Hoài Uẩn Phụng Sắc Tặng Long Xiển Đại Pháp Sư Bi Minh (實際寺故寺主懷惲奉敕贈隆闡大法師碑銘) của Đổng Hạo (董浩) nhà Thanh cũng có đoạn: “Tri dữ bất tri, ngưỡng Đề Hồ ư cú kệ, thức dữ bất thức, tuân pháp nhũ ư ba lan (知與不知、仰醍醐於句偈、識與不識、詢法乳於波瀾, biết và không biết, kính Đề Hồ từng câu kệ, hiểu và không hiểu, tin sữa pháp nơi sóng cả).” Ngay như trong Tây Du Ký (西遊記), hồi thứ 31 có câu: “Na Sa Tăng nhất văn Tôn Ngộ Không tam cá tự, tiện hảo tợ Đề Hồ quán đảnh, Cam Lồ tư tâm (那沙僧一聞孫悟空三個字、便好似醒醐灌頂、甘露滋心, Sa Tăng một khi nghe được ba chữ Tôn Ngộ Không, tức thì giống như nước Đề Hồ rưới đầu, Cam Lồ rửa tâm).” Trong bài tán Kinh Pháp Hoa cũng có đề cập đến Đề Hồ như: “Hầu trung Cam Lồ quyên quyên nhuận, khẩu nội đề hồ đích đích lương (喉中甘露涓涓潤、口內醍醐滴滴涼, dưới cổ Cam Lồ rả rích nhỏ, trong miệng Đề Hồ giọt giọt tươi).”
đề hồ
6321請參閱 遺教經 [1]梵語 maṇḍa,巴利語同;或梵語 sarpir-maṇḍa,巴利語 sappi-maṇḍa。指由牛乳精製而成最精純之酥酪。乃五味之一,即乳、酪、生酥、熟酥、醍醐等五味中之第五種味,故亦稱醍醐味。為牛乳中最上之美味,故經典中每以醍醐比喻涅槃、佛性、真實教。 大乘理趣六波羅蜜多經卷一(大八‧八六八下):「契經如乳,調伏如酪,對法教者如彼生酥,大乘般若猶如熟酥,總持門者譬如醍醐。醍醐之味,乳、酪、酥中微妙第一,能除諸病,令諸有情身心安樂。總持門者,契經等中最為第一,能除重罪,令諸眾生解脫生死,速證涅槃安樂法身。」上引係以五味之相生比喻如來所說教法之深淺。如天台家即以醍醐比喻彼所立五時教判中之第五法華涅槃時所說一乘真實之教法。〔長阿含卷十七布吒婆樓經、增一阿含經卷十三、北本大般涅槃經卷十四聖行品、維摩經玄疏卷六〕
; A milk product.
; Đề hồ thượng vị là thức ăn người đời rất quý, dụ cho diệu pháp cao tột không gì hơn. Nhưng nếu gặp những kẻ tà kiến điên đảo chẳng rõ cái thượng vị đó, mà đem dùng bậy thì lại trở thành thuốc độc hại người.
; Một trong năm thức ăn chế ra từ sữa, là món bổ dưỡng nhất, được tông Thiên Thai ví với giáo pháp của Phật trong kinh Niết Bàn và Pháp Hoa—One of the five main products from milk, a rich liquor skimmed from boiled butter; clarified butter; ghee; used for the perfect Buddha-truth, as found according to T'ien-T'ai, in Nirvana and Lotus sutras.
; (醍醐) Phạm, Pàli: Maịđa, hoặc Phạm:Sarpirmaịđa, Pàli: Sappi-maịđa. Chất dinh dưỡng tinh chế từ sữa bò, mùi vị rất thơm ngon. Là một trong năm món bổ dưỡng nhất: sữa, lạc (váng sữa), sinh tô (bơ), thục tô (kem) và đề hồ (phó mát). Trong kinh thường dùng đề hồ để ví dụ Niết bàn, Phật tính, Chân thực giáo. Kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa quyển 1 (Đại 8, 886 hạ), nói: Khế kinh như sữa, Luật như lạc, Luận như sinh tô, Đại thừa bát nhã như thục tô, môn Tổng trì như đề hồ. Vị đề hồ thơm ngon quí báu nhất trong các vị sữa, lạc, tô, trừ được các bệnh, khiến cho thân tâm của hữu tình được yên vui. Còn môn Tổng trì thì đứng đầu các kinh, có năng lực tiêu trừ trọng tội, làm cho chúng sinh thoát khỏi sinh tử, chứng được Niết bàn. [X. Kinh Bố tra bà lâu trong Trường a hàm Q.17; kinh Tăng nhất a hàm Q.13; phẩm Thánh hạnh trong kinh Đại bát niết bàn Q.14 (bản Bắc); Duy ma kinh huyền sớ Q.6].
đề hồ dụ
6322即以醍醐比作最上正法之譬喻。醍醐乃由牛乳煉製而成之酥酪,為牛乳中最高之美味;經典中每以醍醐比喻涅槃、佛性、真實教。如天台宗,依涅槃經以醍醐比喻五時教判中之法華涅槃時。密宗則依六波羅蜜經以醍醐比喻陀羅尼藏。其他諸宗亦均以醍醐比喻自宗之最上至極之教法。〔北本大般涅槃經卷十四聖行品、大乘理趣六波羅蜜多經卷一〕
; (醍醐喻) Dùng đề hồ để ví dụ chính pháp vô thượng. Tông Thiên thai dùng năm vị được biến chế từ sữa bò là: nhũ (sữa), lạc (váng sữa), sinh tô (bơ), thục tô (kem) và đề hồ (phó mát) để ví dụ với năm thời giáo là: Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã và Pháp hoa niết bàn. Trong đó đề hồ được ví với thời Pháp hoa niết bàn. Ngoài ra, các tông phái cũng dùng đề hồ để ví dụ giáo pháp tối cao của tông mình, Như Mạt tông căn cứ vào kinh Lục ba la mật dùng đề hồ dụ cho tạng Đà la ni. [X. phẩm Thánh hạnh trong kinh Đại bát niết bàn Q.14 (bản Bắc); kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.1].
đề hồ kinh
6322為天台宗對法華、涅槃二經之稱謂。醍醐,係由牛乳精煉而成之酥酪,味勝於乳、酪、生酥、熟酥,為乳中之最上品。天台宗即以醍醐配於五時教判中之法華涅槃時,意謂法華、涅槃二經之真實殊勝,猶如醍醐之勝於其他諸味,故有醍醐經之喻稱。法華玄義卷二上(大三三‧六九二下):「醍醐經,一種因果廣高長,但妙無麁。又醍醐經,妙因妙果,與諸經妙因妙果不異。」
; (醍醐經) Chỉ cho kinh Pháp hoa và kinh Niết bàn. Đề hồ là vị ngon quí nhất trong 5 vị được tinh chế từ sữa bò, cũng như kinh Pháp hoa và kinh Niết bàn là 2 bộ kinh chứa đựng các giáo pháp thù thắng nhất trong các kinh. Bởi thế, tông Thiên thai dùng đề hồ để ví dụ mà gọi 2 bộ kinh này là Đề hồ kinh. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 2 phần trên (Đại 33, 692 hạ) nói: Kinh Đề hồ là một thứ nhân quả rộng lớn cao xa mầu nhiệm không gì hơn.
đề hồ quán đỉnh
6322醍醐,係由牛乳煉製成之酥酪,為世間之無上味。以「醍醐灌頂」一語比喻以智慧輸入於人,則能消滅無明煩惱,令得清涼;故今又引申為使人茅塞頓開,或令人舒適之意。
; (醍醐灌頂) Đề hồ rưới lên đỉnh đầu. Từ ngữ này được dùng để ví dụ một khi trí tuệ khơi mở thì con người có thể trừ phiền não vô minh, được thanh tịnh sáng suốt. Bởi thế nó còn có nghĩa là giúp cho người học khai ngộ một cách mau chóng.
đề hồ sát nhân
6322天台宗智顗將釋尊一生說法之順序判為華嚴、鹿苑、方等、般若、法華涅槃等五時,而分別以乳、酪、生酥、熟酥、醍醐等五味配之,醍醐味即配於法華涅槃時。以醍醐比喻大乘實相之教,謂鈍根之聲聞、緣覺、菩薩,於過去佛所,嘗聞大乘實相之教法,猶若中毒;後值釋尊之說醍醐經(指法華、涅槃等經),其毒即發,斷滅結惑之生,稱為醍醐殺人。法華玄義卷十上(大三三‧八○六中):「醍醐殺人者,如涅槃教中,鈍根聲聞開發慧眼,得見佛性,乃至鈍根緣覺、菩薩七種方便,皆入究竟涅槃,即其義也。」
; (醍醐殺人) Đề hồ giết người. Ngài Trí khải thuộc tông Thiên thai chia giáo pháp của đức Phật làm năm thời: Hoa nghiêm, Lộc uyển (A hàm), Phương đẳng, Bát nhã và Pháp hoa niết bàn, rồi theo thứ tự phối hợp với năm vị: nhũ, lạc, sinh tô, thục tô và Đề hồ. Trong đó, Đề hồ được ví dụ với giáo pháp Đại thừa thực tướng (Pháp hoa, Niết bàn). Đức Phật nói kinh Đề hồ khiến hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát độn căn đoạn diệt (sát) hết các phiền não kết sử (Nhân) để được giải thoát Niết bàn. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10 phần trên (Đại 33, 806 trung), nói: Đề hồ sát nhân ví như giáo lí trong kinh Niết bàn giúp hàng Thanh văn độn căn khai phát tuệ nhãn, thấy được Phật tính, cho đến Duyên giác độn căn và Bồ tát giai vị 7 phương tiện đều vào Niết bàn rốt ráo: đó là ý nghĩa Đề hồ sát nhân.
Đề Hồ Thiên Hoàng
(醍醐天皇, Daigo Tennō, tại vị 897-930): vị Thiên Hoàng sống vào đầu thời kỳ Bình An, Hoàng Tử thứ nhất của Vũ Đa Thiên Hoàng (宇多天皇, Uta Tennō), tên là Đôn Nhân (敦仁, Atsugimi), còn gọi là Hậu Sơn Khoa Đế (後山科帝), Tiểu Dã Đế (小野帝). Ông trị nước với sự phụ tá của nhóm Đằng Nguyên Thời Bình (藤原時平, Fujiwara-no-Tokihira) và Quản Nguyên Đạo Chơn (菅原道眞, Sugawara-no-Michizane), cho nên hậu thế gọi là thời trị thế Diên Hỷ (延喜). Ông là người ban sắc lệnh soạn bộ Cổ Kim Hòa Ca Tập (古今和歌集).
Đề Hồ Tự
(醍醐寺, Daigo-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Đề Hồ (醍醐派) thuộc Chơn Ngôn Tông, hiệu núi là Thâm Tuyết Sơn (深雪山), hiện tọa lạc tại Daigo (醍醐), Fushimi-ku (伏見區), Kyoto-shi (京都市). Theo truyền ký của chùa cho biết, Thánh Bảo (聖寶) là người khai sáng chùa vào năm 874 (niên hiệu Trinh Quán [貞觀] thứ 16). Ban đầu ông trú tại Tây Nam Viện của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), vùng đất chùa này là khoảng giữa của Thạch Sơn Tự (石山寺) và Đông Đại Tự. Ông điêu khắc hai bức tượng Chuẩn Đề và Quan Âm, rồi an trí trên núi. Người con gái của nhà hào tộc vùng Sơn Khoa (山科, Yamashina) là Dận Tử (胤子) theo làm cung phi của Vũ Đa Thiên Hoàng (宇多天皇, Uda Tennō, tại vị 887-897) và hạ sanh Đề Hồ Thiên Hoàng (醍醐天皇, Daigo Tennō, tại vị 897-930). Hay đời sau Châu Tước Thiên Hoàng (朱雀天皇, Suzaku Tennō, tại vị 930-946) hạ sanh cũng nhờ cầu nguyện đức Chuẩn Đề. Với mối quan hệ dó, chùa được tầng lớp Hoàng Thất quy y theo. Vì thế, năm 904 (niên hiệu Diên Hỷ [延喜] thứ 4), Thích Ca Đường; rồi đến năm 907 thì Dược Sư Đường, Ngũ Đại Dường lần lượt được kiến lập, và đến năm 913 thì nơi đây trở thành chùa được cấp định ngạch của Hoàng triều. Vào năm 949 (niên hiệu Thiên Lịch [天曆] thứ 3), Pháp Hoa Tam Muội Đường được kiến lập dưới chân núi; đến năm 952, ngôi tháp 5 tầng hiện tồn được tạo dựng và coi như ngôi già lam được hoàn bị. Đối với các công trình kiến trúc này, hệ thống của Đề Hồ Thiên Hoàng đã có nỗ lực rất lớn; nhưng đến khi dòng họ Đằng Nguyên (藤原, Fujiwara) nắm chính quyền thì sự ngoại hộ từ phía Hoàng Thất trở nên thưa thớt dần, song đến thời Viện Chính thì chùa lại được phục hưng nhờ vị Tọa Chủ xuất thân dòng họ Nguyên (源, Minamoto). Tức là các vị Tọa Chủ đời thứ 13 là Giác Nguyên (覺源, con thứ 4 của Hoa Sơn Thiên Hoàng [花山天皇, Kazan Tennō, tại vị 984-986]), đời thứ 14 là Định Hiền (定賢, con của Nguyên Long Quốc [源隆國]), đời thứ 15 là Thắng Giác (勝覺) cũng như đời thứ 18 là Thật Vận (實運, con của Nguyên Tuấn Phòng [源俊房]), đời thứ 16 là Định Hải (定海, con của Nguyên Hiển Phòng Tử [源顯房子]), đời thứ 17 là Nguyên Hải (元海, con của Nguyên Nhã Tuấn [源雅俊]), v.v. Thêm vào đó, nhờ có các danh tăng xuất hiện nên mọi người đều quy ngưỡng về chùa này. Vốn là con cháu đích truyền của Dòng Tiểu Dã (小野流), là trung tâm nghiên cứu dòng pháp, hiện tại Đề Hồ Tự vẫn bảo quản khá nhiều sách khẩu truyền, nghiên cứu, đặc biệt là các đồ hình, tượng, v.v. Vào năm 1115 (niên hiệu Vĩnh Cửu [永久] thứ 3), tiếp theo việc kiến lập Tam Bảo Viện của Thắng Giác, Kim Cang Vương Viện của Thánh Hiền (聖賢), Lý Tánh Viện của Hiền Giác (賢覺), Vô Lượng Thọ Viện của Nguyên Hải, Báo Ân Viện của Thành Hiền (成賢), Địa Tạng Viện của Đạo Giáo (道敎) lần lượt xuất hiện, hình thành nên 6 dòng phái Đề Hồ. Về mặt chính trị, dưới thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) thì không có can hệ gì, chùa trở thành trung tâm nghiên cứu sự tướng, đồ tượng cho các tông phái. Về sau, chùa bị cháy hơn phân nữa trong vụ loạn Ứng Nhân (應仁). Đến thời Nghĩa Diễn (義演) làm Tọa Chủ nơi đây, nhờ sự hỗ trợ của dòng họ Phong Thần (豐臣, Toyotomi), ông tiến hành phục hưng chùa. Đến thời đại Giang Hộ (江戸, Edo), nhờ sự bảo hộ phái Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông (新義眞言宗), nên chùa không bị dao động gì cả. Chùa hiện tồn rất nhiều quần thể kiến trúc cũng như bảo vật có giá trị cấp quốc bảo như Dược Sư Đường, Khai Sơn Đường, Như Ý Luân Đường, Kim Đường, 5 bức Ngũ Đại Tôn Tượng, Diêm Ma Thiên Tượng, Đại Nhật Kim Luân, A Di Đà Tam Tôn, v.v.
đề hồ tự
6321為日本真言宗醍醐派總本山。位於日本京都市伏見區山科醍醐。山號深雪山。貞觀年間(859~876)聖寶於山上建草庵,未久又建准胝堂、如意輪堂、藥師堂、五大堂。延喜七年(907),醍醐天皇行幸該寺,捐贈山下之釋迦堂,後成為御願寺。文明二年(1470),一度燬於兵火,後因座主義演獲得豐臣秀吉之皈依,遂得再興。寺寶有滿濟准后日記三十八冊、義演准后日記六十二冊、聖觀音立像等佛像,及五大尊、五祕密像等佛畫,其中以密教圖像類最具特色。〔醍醐寺雜事記、醍醐寺座主讓補次第、密宗血脈鈔卷中〕
Đề khởi 提起
[ja] テイキ eiki ||| (1) To present, submit, hold out, offer. (2) Cause, bring about. => Hiện đang giải quyết, đưa ra để xem xét, đề ra, đưa ra đề nghị. Căn nguyên, dẫn đến, gây ra.
đề la
Tên gọi tắt của Phiến Đề La, tên gọi của một người không đầy đủ nam căn nữ căn (Xưa có 5 vị Tỳ Kheo muốn được lợi lộc, nên ăn bận trá hình là bậc Thánh giả. Có một người đàn bà tin tưởng bèn cúng dường. Vì thế người đàn bà được phước lớn, còn 5 vị Tỳ Kheo kia khi chết bị đọa xuống địa ngục. Sau đó tái sanh làm người bán nam bán nữ)—An abbreviation of Sandhila, one with abnormal sexual organs.
đề mục
6649<一>經之題號。諸大乘經載,讀誦受持經之題號,即有莫大功德。故自古中國及日本均盛行唱誦經題之風。(參閱「題號」6650) <二>日本日蓮宗特取法華經之題號「妙法蓮華經」五字,冠以「南無」二字,而成「南無妙法蓮華經」七字,稱為題目、首題、玄題,乃三大祕法之一;並主張唱誦其題目,末法眾生即可成佛。然並不限於唱誦題目,亦有將本尊之名刻寫於碑上者;其字跡筆端細長銳利,恰如放出光明,故俗稱「鬚題目」。又日蓮宗於法會之時,以大鼓及鉦配合唱踊法華之題目,稱為題目踊。而於題目之外,雜和讚而歌者,稱為歌題目。〔祖書綱要刪略卷一〕
; See Đề (5).
; (題目) I. Đề Mục. Tên kinh. Theo các kinh điển Đại thừa, người đọc tụng thụ trì tên kinh được rất nhiều công đức. Cho nên từ xưa ở Trung quốc và Nhật bản, phong tục xướng tụng đề kinh rất thịnh hành. II. Đề Mục. Cũng gọi Thủ đề, Huyền đề. Pháp tu niệm đề hiệu Nam mô Diệu pháp Liên hoa kinh của tông Nhật liên, Nhật bản, là 1 trong 3 pháp đại bí mật. Tông Nhật liên chủ trương, chúng sinh đời mạt pháp nếu ai xướng tụng đề kinh Pháp hoa thì người ấy sẽ được thành Phật Còn có những từ ngữ như: Tu đề mục nghĩa là khắc danh hiệu Bản tôn trên tấm bia bằng nét bút nhỏ nhắn, sắc sảo, trông như Bản tôn phóng hào quang; Đề mục dũng là nghi thức xướng tụng đề mục kinh Pháp hoa hòa với tiếng chuông, trống; Ca đề mục là xướng tụng đề kinh lẫn với tán và ca hát. [X. Tổ thư cương yếu san lược Q.1]
đề na bà
Dinabha or Dinesvara (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Dinabha là Thần Mặt Trời, được ngoại đạo thờ tại Persia—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Dinabha, the sun-god, worshipped by “heretics in Pesia.”
đề phòng
To prevent—To take precautions.
đề ra
To enunciate.
đề thọ
Cây Bồ Đề Cổ—The bodhidruma tree.
Đề thụ 提樹
[ja] ダイジュ taiju ||| See 菩提樹 pudishu. => Xem Bồ-đề thụ菩提樹.
đề trì
4957為禪林中師家引導學人之方法。即師家接化學人時,破除學人原有之見解,而示予向上之契機,以「把住」之手法,否定學人之我見。為「平展」之對稱。碧巖錄第七十五則垂示(大四八‧二○二中):「若要提持,一任提持;若要平展,一任平展。」(參閱「平展」1913)
; (提持) Đối lại với Bình triển. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Phương pháp các Thiền sư hướng dẫn người học, tức là khi thầy chỉ dẫn người học thì dùng phương pháp đề trì (nắm giữ) phá trừ kiến giải cố chấp của người học để chỉ bày cho họ con đường hướng thượng. Bích nham lục tắc 75 (Đại 48, 202 trung), nói: Nếu cần đề trì, thì cứ đề trì; nếu cần bình triển, thì cứ bình triển. (xt. Bình Triển).
đề tê
4961提挈之意。即導引後進之人。據大唐西域記卷七載,阿難陀在摩揭陀國林中經行時,見一沙門諷誦佛經,章句錯謬,文字紛亂,遂前往提撕指授。在禪宗指師家指導學人(被指導者);或指行住坐臥間,對古則公案專心參究之工夫。無門關第一則(大四八‧二九三上):「將三百六十骨節,八萬四千毫竅,通身起個疑團,參箇無字,晝夜提撕。」〔玄沙廣錄卷上、大慧普覺禪師普說語錄第十七、禪苑清規卷二小參條〕
; Khơi dậy hay khuấy động tâm thức của đệ tử—To arouse or stimulate a student.
; (提撕) Hàm ý là hướng dẫn kẻ hậu học. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 7 chép, thì một hôm, khi đang đi kinh hành trong rừng ở nước Ma yết đà, tôn giả A nan thấy một sa môn đọc tụng kinh Phật, chương cú lầm lẫn, văn tự lộn xộn, liền đến hướng dẫn, chỉ bảo (đề tê). Trong Thiền tông thì đề tê có nghĩa là đề khởi chuyên tâm tham cứu công án thoại đầu. Vô môn quan (Đại 48, 293 thượng), nói: Dùng 360 đốt xương, 8 vạn 4 nghìn lỗ chân lông của toàn thân để tham cứu một chữ Vô ấy, ngày đêm chuyên tâm (đề tê), chớ hiểu như hư vô, cũng đừng hiểu như hữu vô. [X. Huyền sa quảng lục Q.thượng; Đại tuệ Phổ giác thiền sư phổ thuyết ngữ lục 17; điều Tiểu tham trong Thiền uyển thanh qui Q.2].
đề tặng
To dedicate.
đề vân bát nhã
4960梵名 Devaprajñā。又作提雲陀若那。意譯作天智。于闐國人。通大小二乘之學,並熟咒術、禪法。武周天后永昌元年(689)來華,奉詔於魏國東寺從事譯經工作。至天授二年(691)譯出華嚴經不思議佛境界分一卷、華嚴經脩慈分一卷、造像功德經二卷、智炬陀羅尼經一卷、諸佛集會陀羅尼經一卷、大乘法界無差別論一卷等。其時,沙門戰陀、慧智等任譯語,處一等任筆受,復禮等任綴文,德感、慧儼、法明、弘景等任證義之職。其餘事蹟及生卒年等不詳。〔大周刊定眾經目錄卷一、卷二、開元釋教錄卷九、宋高僧傳卷二〕
; Devaprajna (skt)—Thiên Trí Tỳ Kheo hay Đề Vân Bát Nhã Sa Môn, người đã dịch sáu tác phẩm Phật Giáo sang Hoa ngữ khoảng những năm 689-691 sau Tây Lịch vào đời nhà Đường—A sramana of Kustana (Khotan) who translated six works around 689-691 A.D. during the T'ang dynasty.
; (提雲般若) Phạm:Devaprajĩà. Cũng gọi Đề vân đà nhã na. Hán dịch: Thiên trí, người nước Vu điền. Sư học thông suốt cả Đại thừa và Tiểu thừa, giỏi chú thuật và Thiền pháp. Niên hiệu Vĩnh xương năm đầu (689) đời Vũ chu sư đến Trung quốc, vâng mệnh vua dịch kinh ở chùa Đông tại nước Ngụy. Đến năm Thiên thụ thứ 2 (691), sư đã dịch được các kinh luận như: Hoa nghiêm kinh bất tư nghị Phật cảnh giới phần 1 quyển, Hoa nghiêm kinh Tu từ phần 1 quyển; Tạo tượng công đức kinh 2 quyển, Trí cự đà la ni kinh 1 quyển, Chư Phật tập hội đà la ni kinh 1 quyển, Đại thừa pháp giới vô sai biệt luận 1 quyển. [X. Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.1, Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Tống cao tăng truyện Q.2].
đề vị ba lợi
4962提謂(梵 Trapuṣa,巴 Tapussa)、波利(梵 Bhallika,巴 Bhalluka)之並稱。為佛陀成道後,最初供養、歸依之二商人。提謂,全稱帝梨富娑、帝履富娑,又作布薩、離謂,意譯作黃瓜、胡瓜、瓜。波利,全稱跋梨迦、婆梨迦,又作跋梨、婆履,意譯作金挺、村落。據方廣大莊嚴經卷十商人蒙記品載,世尊成道第四十九日,於多演林樹下端坐;時有北天竺提謂、波利兄弟二人,為眾商主,載五百乘之珍寶將返本國,相遇於此,共供養世尊,聽講人天之法,並歸依世尊,為佛弟子。此即佛門有優婆塞之始。大唐西域記卷一縛喝國條載,大城西北五十餘里有提謂城,又城北四十餘里有波利城,城中各有高三丈餘之窣堵波,是二長者受如來之髮爪,返其本國所建,為釋迦法中最初之窣堵波。 據佛本行集經卷三十二「二商主奉食品」卷下載,提謂、波利二人為北天竺之日種甘蔗族。又據巴利文長老及長老尼偈註(Paramatthadīpanī)所載,為布色羯邏伐底(梵 Puṣkarāvatī)人。上記之大唐西域記卷一則謂彼等為縛喝(Bokhara)人。另據巴利文律藏大品(Mahāvagga)及本生談(Jātaka)所載,為烏卡拉(梵 Utkala,巴 Ukkala 或 Ukkalāta),即今奧利薩(Orissa)地方之人。緬甸佛傳載為 Ukkalava 人,其地有佛之毛髮塔;畢岡迭(Bigandet)以此地即今孟加拉灣沿岸之特運泰伊村(Twaintay)。北魏曇靖撰有提謂波利經二卷,敘述佛陀為二人所宣說之教法。〔太子瑞應本起經卷下、中本起經卷上轉法輪品、普曜經卷七商人奉麨品、過去現在因果經卷三、眾許摩訶帝經卷七、四分律卷三十一、五分律卷十五、有部毘奈耶破僧事卷五、大唐西域記卷八、P. Bigandet:The Life or Legend of Gautama; W.W. Rockhill: The Life of the Buddha〕
; Đế Lê Phú Ta và Qua Ly Vị, tên hai người lái buôn đã dâng lên Đức Phật lúa mạch và mật sau khi Ngài giác ngộ (hai ông đã được Đức Phật ban cho móng tay và tóc để đưa về dựng tháp thờ)—Trapusa and Bhallika, the two merchants who offered Sakyamuni barley and honey after his enlightenment.
; (提謂波利) Đề vị, Phạm: Trapuwa, Pàli: Tapussa. Ba lợi, Phạm: Bhallika, Pàli: Bhalluka. Đề vị, cũng gọi Bố tát, Li vị, gọi đủ: Đế lê phú sa, Đế lí phú sa. Hán dịch: Hoàng qua (dưa vàng), Hồ qua (bí đỏ). Ba lợi, cũng gọi Bạt lê, Bà lí, gọi đủ: Bạt lê ca, Bà lê ca. Hán dịch: Kim đĩnh (ngay thẳng), Thôn lạc (thôn làng). Tên của hai nhà buôn đầu tiên cúng dường và qui y đức Phật. Cứ theo phẩm Thương nhân mông kí trong kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 10 ghi chép, vào ngày thứ 49 sau khi thành đạo, đức Phật ngồi dưới gốc cây trong rừng Đa diễn. Bấy giờ có hai anh em Đề vị và Ba lợi người Bắc Thiên trúc là các nhà buôn chở 500 xe của báu về nước, đến đây gặp đức Phật, họ liền cúng dường Ngài, nghe giảng pháp nhân thiên và qui y làm đệ tử Phật. Đây là 2 người Ưu bà tắc đầu tiên của Phật. Điều Phược hát quốc (thành phố Bokhara, nay thuộc Liên xô) trong Đại đường tây vực kí quyển 1 ghi rằng, cách đô thành nước Phược hát hơn 40 dặm về phía tây bắc có thành Đề vị và cách đô thành về phía bắc hơn 40 dặm có thành Ba lợi, trong mỗi thành này đều có tháp cao hơn ba trượng do hai vị trưởng giả Đề vị và Ba lợi xây cất sau khi trở về nước để thờ tóc và móng của đức Như lai. Đây là những ngôi tháp đầu tiên trong Phật giáo. Cứ theo phẩm Nhị thương chủ phụng thực trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 32 nói, thì Đề vị và Ba lợi là người thuộc dòng họ Cam giá Nhật chủng ở Bắc Thiên trúc. Theo Paramatthadìpanì (sách chú thích Trưởng lão và Trưởng lão ni kệ bằng tiếngPàli) thì hai vị này là người nước Bố sắc yết la phạt để (Phạm: Puwkaràvatì). Theo Luật tạng đại phẩm (Mahàvagga) và Bản sinh đàm (Jàtaka) tiếng Pàli thì họ là người nước Ô ca lạp (Phạm: Utkala, Pàli: Ukkala hoặc Ukkalàta), tức nay là tiểu bang Orissa, Ấn độ. Còn Miến điện Phật truyện thì cho là người Ukkalava, nơi có tháp thờ lông và tóc của Phật. Nhưng ông Bigandet thì cho đất này hiện nay là thôn Twaintay ven bờ vịnh Bengal. Ngài Đàm tĩnh vào thời Bắc Ngụy, Trung quốc, có soạn kinh Đề vị ba lợi 2 quyển thuật lại giáo pháp mà đức Phật đã nói cho 2 người này nghe. [X. kinh Thái tử thụy ứng bản khởi Q.hạ; phẩm Chuyển pháp luân trong kinh Trung bản khởi Q.thượng; phẩm Thương nhân phụng sao trong kinh Phổ diệu Q.7; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; kinh Chúng hứa ma ha đế Q.7; luật Tứ phần Q.31; luật Ngũ phần Q.15; Hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.5; Đại đường tây vực kí Q.8; P. Bigandet: The Life or Legend of Gautama; W.W. Rockhill: The life of the Buddha].
đề vị ba lợi kinh
4962凡二卷。北魏曇靖撰。又稱提謂五戒經、提謂經。記述佛陀成道後至鹿野苑,於途中為提謂、波利等五百商賈說人天之五戒、十善法,提謂得不起法忍,二百商人得柔順忍,三百商人得須陀洹果。本經佚失不傳,然諸書引用頗多,可窺其大意。本世紀初敦煌發現抄本,其內容為勸人信仰佛法,持戒行齋,並於夏曆(即陰曆)正月、五月、九月之初一至十五奉行三長齋,八王日(立春、春分、立夏、夏至、立秋、秋分、立冬、冬至)持戒念佛,即能延年益壽,往生天上。其中雜有中國陰陽五行思想。 據出三藏記集卷五新集疑經偽撰雜錄、續高僧傳卷一曇曜傳所載,因北魏太武帝滅佛,舊譯諸經焚蕩,曇靖為重興佛教而作本經;原有真本提謂經一卷,現藏經中亦不存。古來諸師對本經之教判有各種異說,以南齊劉虬之五時判為始,北朝諸師以本經為人天教;法藏在十宗判中,配屬為第一我法俱有宗;窺基則破劉虬之說,以此時名為轉法輪;智顗亦破人天教之說,但天台學者對本經之教判,說法不一,或攝於華嚴,或攝於方等、阿含。〔法華經玄義卷十上、法華經玄贊卷一本、仁王護國般若波羅蜜經疏卷上(智顗)、歷代三寶紀卷九、大乘法苑義林章卷一本、大乘義章卷一、華嚴五教章卷一、四教義卷一、摩訶止觀卷六上、止觀輔行傳弘決卷六之二、佛祖統紀卷三上、法苑珠林卷八十八、法經錄卷四、開元釋教錄卷十八、釋氏要覽卷上〕
; (提謂波利經) Cũng gọi Đề vị ngũ giới kinh, Đề vị kinh. Gồm 2 quyển, do ngài Đàm tĩnh soạn vào đời Bắc Ngụy. Nội dung kinh này tường thuật việc sau khi thành đạo, đức Phật đến vườn Lộc dã; giữa đường Ngài nói về ngũ giới, thập thiện cho 500 thương gia gồm Đề vị, Ba lợi v.v… nghe. Trong đó, Đề vị được Bất khởi pháp nhẫn, 200 thương gia được Nhu thuận nhẫn, 300 thương gia được quả Tu đà hoàn. Kinh này đã thất truyền, nhưng các sách trích dẫn rất nhiều nhờ đó mà có thể biết được đại ý của bộ kinh. Đầu thế kỉ này, một bản sao của nó được tìm thấy ở Đôn hoàng, nội dung khuyên người tin theo Phật pháp, giữ giới, ăn chay từ ngày mồng 1 đến ngày rằm các tháng 1, 5, 9 âm lịch. Vào ngày Bát vương (Lập xuân, Xuân phân, Lập hạ, Hạ chí, Lập thu, Thu phân, Lập đông, Đông chí) trì giới niệm Phật, thì được thêm tuổi thọ, sau khi chết được sinh lên cõi trời. Thuyết này chịu ảnh hưởng tư tưởng âm dương ngũ hành của Trung quốc. Cứ theo mục Tân tập nghi kinh ngụy soạn tạp lục trong Xuất tạng kí tập quyển 5 và Đàm diệu truyện trong Tục cao tăng truyện quyển 1 nói, thì sự kiện Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy diệt Phật, hầu hết các kinh điển cựu dịch đều bị đốt, nên ngài Đàm tĩnh mới soạn kinh này nhằm mục đích phục hưng Phật giáo. Nguyên có Đề vị kinh bản chính 1 quyển, nhưng hiện nay trong Đại tạng cũng không còn. Xưa nay sự phán giáo của các bậc Đại sư đối với kinh này có nhiều thuyết khác nhau: Ngài Lưu cầu đời Nam Tề phán kinh này là Thủy giáo, các sư Bắc triều thì cho kinh này là Nhân thiên giáo. Trong 10 tông, ngài Pháp tạng cho kinh này thuộc Ngã pháp Câu hữu tông; ngài Khuy cơ thì cho rằng kinh này thuộc thời Chuyển pháp luân. Còn các Đại sư tông Thiên thai đối với kinh này nêu ra mấy thuyết: hoặc nhiếp vào thời Hoa nghiêm, hoặc thời Phương đẳng, A hàm v.v... [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10 phần trên; Pháp hoa kinh huyền tán Q.1 phần đầu; Nhân vương hộ quốc Bát nhã ba la mật kinh sớ Q.thượng (Trí khải); Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu; Đại thừa nghĩa chương Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Tứ giáo nghĩa Q.1; Ma ha chỉ quán Q.6 phần trên; Ma ha chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6 phần 2; Phật tổ thống kỉ Q.3 phần trên; Pháp uyển châu lâm Q.88; Pháp kinh lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.18; Thích thị yếu lãm Q.thượng].
Đề vị ba-lợi kinh 提謂波利經
[ja] ダイイハリキョウ Daii harikyō ||| Tiwei boli jing; (Sutra of Trapusa and Ballika). Peking shuang 15). See 提謂經. => (c: Tiwei boli jing; e: Sutra of Trapusa and Ballika). Xem Đề vị kinh 提謂經.
Đề vị kinh 提謂經, 提胃經
[ja] タイキョウ Daiikyō ||| Diwei jing Also written 提胃經 Diweijing. Full title is 提謂波利經. Not extant, but is cited in many old texts. It apparently discussed Buddhism together with various Taoist and other Chinese native religious topics, and was not a purely Buddhist text. Such scholars as Zhiyi included it in their doctrinal classification systems as a text exemplifying the "teaching of men and gods." Stein #2051; Pelliot #3732; See for comparison Z 243.9.327c. => Tên gọi đầy đủ là Đề vị ba-lợi kinh提謂波利經. Không còn lưu hành, nhưng được trích dẫn trong nhiều kinh văn cũ. Nội dung kinh tranh luận về Phật học cùng với các Đạo gia và các đề tài tôn giáo ở Trung Hoa, và dường như đó không phải là kinh văn thuần tuý Phật giáo. Các học giả như Trí Khải (Zhiyi) xếp kinh nầy theo hệ thống phán giáo như là một tiêu biểu cho “giáo lý nhân thiên”. Xem thêm Stein #2051; Pelliot #3732 để đối chiếu.
đề xuất
To propose—To suggest.
đề xá
Để Sa. 1) Ngôi sao thứ 23 trong 28 sao của chòm sao Quỷ Tú, có liên hệ với chòm Siva: The twenty-third of the twenty-eight constellations in Cancer; it has connection with Siva. 2) Thuyết pháp cứu độ cho mọi người—Interpreted as preaching and ferrying people over the stream of transmigration. 3) Tên của Đức Phật Để Sa, vị đã từng dạy Đức Phật Thích Ca và Di Lặc trong tiền kiếp: Name of Tisya Buddha who taught Sakyamuni and Maitreya in a former incarnation.
đề xá na
Desaniya (skt)—Phát lồ sám hối (tự nêu tội hay tự thú tội mà bản thân mắc phải trước chúng)—Confession.
đề xá ni
Pratidesaniya (skt)—See Ba La Đề Xá Ni.
đề xướng
4958又作提倡、提綱、提要。提綱唱要之意。即禪林向學徒拈提宗門之綱要。一般多就古德之語要而唱說之,故又稱為拈古、拈弄。蓋禪宗之宗旨為教外別傳不立文字,故雖講說語錄,亦唯提示宗門之綱要,學人欲明個事,更須勤學勵參。其他宗派則稱為講釋、講義。大鑑禪師小清規秉拂提綱法(大八一‧六二三中):「衲僧以參學為主,頭首以秉拂為主,秉拂以提綱為主,提綱以宗眼為主。宗眼既正,則舉揚箇一段大事。胸襟浩浩地,蓋天蓋地,縱橫得妙,左右逢原。」〔元叟行端禪師語錄卷五答慈雲玨長老嗣法書、古尊宿語錄卷六睦州和尚語錄、敕修百丈清規卷上住持章、禪苑清規卷二小參條〕
; 提唱; J: teishō;|Có thể hiểu là sự trình bày kinh nghiệm Thiền, một vấn đề thiền của một vị Thiền sư, Lão sư trong một chu kì Tiếp tâm (j: sesshin). Trong một buổi đề xướng, Lão sư trình bày một Công án hoặc một vấn đề, một đoạn văn nào đó quan trọng trong thiền ngữ. Không nên hiểu đề xướng này là một buổi giảng nghĩa, bình luận thông thường vì trong buổi này, chẳng ai được giảng nghĩa, chỉ dạy và cũng chẳng có một sự hiểu biết nào được truyền trao. Cách thuyết trình của một Lão sư không liên hệ gì đến phương diện tri thức thông thường; nó chính là một biểu hiện của mức độ chứng ngộ trực tiếp chủ đề đang được trình bày của chính vị Lão sư này và vì thế có thể gây ấn tượng đến tận đáy lòng của thính giả.
; Các vị tông tượng của thiền gia nêu ra cương yếu của tông môn cho môn đồ tu tập, tuy có giảng ngữ lục, cũng chỉ nêu ra cương yếu của tông môn, chứ không thuyết giảng (các tông phái khác thì thuyết giảng, còn Thiền môn thì bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật)—To initiate—To mention, to deliver oral instruction, or the gist of a subject as done in the Intuitional School. .
; (提唱) Cũng gọi Đề cương, Đề yếu. Nêu lên cương yếu của tông môn cho người học, phần nhiều là những lời nói của các bậc cổ đức trong Thiền lâm, cho nên còn gọi là Niêm cổ, Niêm lộng. Tôn chỉ của Thiền tông là Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự (Truyền riêng ngoài giáo, không hợp văn tự), cho nên dù có giảng nói ngữ lục, thì cũng chỉ nêu ra cương yếu của tông môn mà thôi. Người học muốn sáng việc mình thì cần phải siêng năng tham cứu. Đề cương bỉnh phất pháp trong Đại giám thiền sư tiểu thanh qui (Đại 81, 623 trung), nói: Nạp tăng lấy tham học làm chính, Đầu thủ lấy bỉnh phất làm chủ; bỉnh phất lấy đề cương làm chính, đề cương lấy tông nhãn làm chủ. Ngoài ra, các tông phái không phải là Thiền tông thì gọi danh từ Đề xướng này là giải thích hay giảng nghĩa. [X. Đáp Từ vân Giác trưởng lão tự pháp thư trong Nguyên tẩu Hành đoan thiền sư ngữ lục Q.5; Mục châu hòa thượng ngữ lục trong Cổ tôn túc ngữ lục Q.6; Trụ trì chương trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; điều Tiểu tham trong Thiền uyển thanh qui Q.2].
đề đa ca
4957梵名 Dhītika。又作提知迦、地底迦。意譯作有愧。乃付法藏第五祖。為印度摩突羅國(一說摩迦陀國)人。依阿育王傳卷六載,師從優波毱多出家,二 十歲受具足戒,於初日即得須陀洹果,第一羯磨時得斯陀含果,第二羯磨時得阿那含果,第三羯磨時證得阿羅漢果,後得優波毱多付法。又據大悲經卷二持正法品、付法藏因緣傳卷五所載,師具大神通、大威力,說法不倦,後因化緣盡,付法於彌遮迦而入涅槃,人天悲感,乃收其舍利,起七寶塔供奉之。另據多羅那他印度佛教史載,師生於阿里亞迦亞(梵 Ārya-jaya),行化遍及吐貨羅國(梵 Tukhāra)、迦摩縷波國(梵 Kāma-rūpa)、摩臘婆國(梵 Mālava),後於摩臘婆國鄔闍衍那城(梵 Ujjayanī)示寂。〔有部毘奈耶雜事卷四十、阿育王傳卷五、傳法正宗記卷二、景德傳燈錄卷一、寶林傳卷二、五燈會元卷一、佛祖統紀卷五、W.W. Rockhill:The Life of Buddha〕
; Dhrtaka (skt)—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (5).
; (提多迦) Phạm: Dhìtika. Cũng gọi Đề tri ca, Địa để ca. Hán dịch: Hữu quí. Vị tổ thứ 5 của Thiền tông Ấn độ, người nước Ma đột la (có thuyết nói là nước Ma ca đà). Cứ theo A dục vương truyện quyển 6 chép, thì sư y vào ngài Ưu ba cúc đa xuất gia, 20 tuổi thụ giới Cụ túc, vào ngày đầu tiên, vừa nghe giới, sư liền được quả Tu đà hoàn; lúc yết ma lần thứ 1 được quả Tư đà hàm, lúc yết ma lần thứ 2 được quả A na hàm, lúc yết ma lần thứ 3 thì chứng quả A la hán. Sau, sư được ngài Ưu ba cúc đa phó pháp. Cứ theo phẩm Trì chính pháp trong kinh Đại bi quyển 2 và Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 5 chép, thì sư có đại thần thông, đại uy lực, nói pháp không mệt mỏi, sau vì hóa duyên đã hết, sư phó pháp cho Di già ca rồi vào Niết bàn, mọi người đều thương cảm, thu nhặt xá lợi của sư rồi xây tháp 7 báu để cúng dường. Ngoài ra, cứ theo Ấn độ Phật giáo sử của Đa la na tha, thì sư sinh ở nước A lí á ca á (Phạm: Àrya-jaya) giáo hóa khắp các nước Thổ hóa la (Phạm:Tukhàra), Ca ma lũ ba (Phạm: Kàma-rùpa) và Ma lạp bà (Phạm: Màlava). Sau sư thị tịch ở thành Ô xà diễn na (Phạm: Ujjayani), nước Ma lạp bà. [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.40; A dục vương truyện Q.5; Truyền pháp chính tông kí Q.2; Cảnh đức truyền đăng lục Q.1; Bảo lâm truyện Q.2; Ngũ đăng hội nguyên Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.5; W.W. Rockhill: The Life of Buddha].
đề đa la tra
Dhrtarastra (skt)—Trì Quốc Thiên Vương, Hoàng Hộ Pháp ở bên phía đông của núi Tu Di, một trong Tứ Thiên Vương—One of the four maharajas, the yellow guardian eastward of Sumeru. ** For more information, please see Tứ Thiên Vương (1).
đề điểm
4963提舉點檢之意。為禪林掌理常住金穀之職稱。即庫司知事之外,司會計之職務。原為宋朝官職之名。〔劫修百丈清規卷三遷化條、禪林象器箋職位門〕
; (提點) Đề cử kiểm điểm. Chức vụ của vị tăng trông coi về tiền bạc, thóc gạo của thường trụ trong Thiền lâm. Tức là nhân viên kế toán, vốn là tên một chức quan ở triều Tống. [X. điều Thiên hóa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3; Chức vị môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Đề 提
[ja] テイ、タイ、ダイ tei, tai, dai ||| (1) To carry in the hand. (2) Quiet, peaceful. (3) Transliteration of Sanskrit di sound. => 1. Cầm trên tay. 2. Yên lặng, yên tĩnh. 3. Dùng để chú âm Di trong tiếng Sanskrit.
Đề-bà
提婆; S, P: deva;|Có hai nghĩa: 1. Ðề-bà này tức tức là »Ðơn nhãn Ðề-bà«, tên đầy đủ là Ca-na Ðề-bà (s: kāṇadeva); tên dịch nghĩa là Thánh Thiên; 2. Tên dịch âm của chư Thiên.
Đề-bà Ðạt-đa
提婆達多; S, P: devadatta;|Em họ của Phật Thích-ca, đã vào Tăng-già sau khi nghe một bài giảng của Phật và trở thành một thành viên quan trọng. Tám năm trước khi Phật nhập diệt, Ðề-bà Ðạt-đa trở thành Tăng thống và âm mưu giết Phật nhưng không thành. Ông là người gây chia rẽ lớn trong Tăng-già tại Vệ-xá-li (s: vaiśālī).|Ông cùng với vua A-xà-thế tổ chức ba lần giết hại: lần đầu với một nhóm cướp, nhưng nhóm đó được Phật cảm hoá và bỏ ý định sát hại. Lần thứ hai, họ âm mưu xô một tảng đá, nhưng tảng đá dừng lại trước chân Phât. Lần thứ ba, họ cho một con voi điên dẫm Phật nhưng khi đối diện Phật, con voi này voi trở nên hiền lành. Ðề-bà Ðạt-đa chủ trương một phép tu tuyệt đối khổ hạnh và kéo theo 500 tỉ khâu ra khỏi Tăng-già. Trước khi chết, Ðề-ba Ðạt-đa xin quy y Phật. Theo truyền thuyết, ông chịu khổ rất lâu trong Ðịa ngục.
Đề-bà 提婆
[ja] ダイバ daiba ||| (1) A transliteration of the Sanskrit deva, which means "god." (2) Used in Buddhism as an abbreviated indicator of longer names such as: (a) 提婆達多Devadatta, Śākyamuni's cousin; (b) 聖提婆Āryadeva, the third century Indian monk who was a disciple of Nāgārjuna and author of such works as the Bailun 百論 and the Guangbailun 廣百論. He is usually regarded as de facto founder of the Mādhyamika school 中觀派. (c) 大天 Mahādeva. => 1. Phiên âm chữ Deva trong tiếng Sanskrit, nghĩa là “ chư thiên”. 2. Được dùng trong Phật học như là chữ viết tắt cho những tên dài như : (a) Đề-bà-đạt-đa (提婆達多s: Devadatta), em họ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni; (b) Thánh Đề-bà (聖提婆s: Āryadeva), Tăng sĩ Ấn Độ, sống vào thế kỷ thứ 3, là đệ tử của Long Thụ (s: Nāgārjuna) vah là tác giả của các tác phẩm Bách luận (Bailun 百論 ) và Quảng bách luận (Guangbailun 廣百論). Sư thường được công nhận trên thực tế là người sáng lập trường phái Trung quán (中觀派e: Mādhyamika school ); (c) Đại Thiên ( 大天s: Mahādeva).
Đề-bà-thiết-ma 提婆設摩
[ja] ダイバセツマ Dibasetsuma ||| Devakṣema; an Indian scholar monk accredited with the composition of the Abhidharma vijñāna-kāya pāda śāstra 識身足論, as recorded in Xuanzang's record of his travel to the West 西域記. His name is also translated into Chinese as 賢寂 and 天寂. => (s: Devakṣema). Tăng sĩ học giả Ấn Độ, được chính thức công nhận là người đã biên soạn bộ Thức thân túc luận (識身足論s: Abhidharma vijñāna-kāya pāda śāstra), như được đề cập trong Tây Vực ký (西域記) của Huyền Trang. Được dịch sang tiếng Hán là Hiền Tịch (賢寂) và Thiên Tịch (天寂).
Đề-bà-đạt
xem Đề-bà-đạt-đa.
Đề-bà-đạt-đa
phiên âm từ Phạn ngữ là Devadatta, cũng gọi là Đề-bà-đạt, Điều-đạt, là một người thuộc dòng tộc Thích-ca, anh em chú bác với đức Phật và ngài A-nan. Ông này cũng xuất gia theo Phật, nhưng có tâm ác nghịch muốn thay Phật lãnh đạo cả tăng đoàn. Rất nhiều lần Đề-bà-đạt-đa đã dùng mưu kế hại Phật nhưng đều thất bại.
Đề-bà-đạt-đa 提婆達多
[ja] ダイバダッタ Daibadatta ||| Devadatta, Śākyamuni's cousin, who joined the sangha after hearing a discourse of the Buddha; also transcribed as 提婆達兜, 禘婆達多, 地婆達多, 地婆達兜, 調婆達多, 調達, 達兜, and translated as天熱 and 天授. Eight years before the death of the Buddha, he plotted his cousin's death with the intent of taking control of the Buddhist movement. One result of his plot was the opening up of a schism among the monks of Vaiśāli, because of his advocacy of a stricter asceticism and a critical attitude toward Śākyamuni's softer . => (s: Devadatta), em họ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, xuất gia sau khi nghe một thời pháp của Đức Phật; còn được phiên âm là Đề-bà-đạt-đâu, Đề-bà-đạt-đa, Đế-bà-đạt-đa, Địa-bà-đạt-đâu, Điều-bà-đạt-đa , Điều-đạt, Đạt-đâu; được dịch là Thiên nhiệt (天熱) và Thiên thụ (天授). Trước khi Đức Phật nhập niết-bàn tám năm, ông âm mưu sát hại anh mình với tham vọng thay Đức Phật điều khiển Tăng đoàn. Kết quả âm mưu nầy là tạo nên sự chia rẽ của Tăng sĩ ở thành Vaiśāli, vì ông tán thành lối sống khổ hạnh và có thái độ phê phán lối tu tập ôn hoà của Đức Phật.
Đề-bà-đạt-đâu 提婆達兜
[ja] ダイバダツト Daibadatsuto ||| Devadatta; see 提婆達多. => (s: Devadatta); Xem Đề-bà-đạt-đa 提婆達多.
đề-hồ
món ăn ngon được làm ra từ sữa. Trong các món được làm từ sữa thì đề-hồ được xem là quý giá nhất, ngon và bổ dưỡng nhất. Xem thêm năm món chế biến từ sữa.
Đề-xá-na 提舎那
[ja] ダイシャナ daishana ||| (deśanā) According to Nāgārjuna 龍樹, words which uncover reality, which reveal things as they are. Disclosive language; living words (ant.→ prapañca). Indicated in Chinese by such terms as 演説, 懺悔, 説法 and 辯. (s: deśanā) => Theo Long Thụ (s: Nāgārjuna), đó là những ngôn từ diễn đạt thực tế, hiển bày thực tế như chúng đang là. Là ngôn ngữ hiển thị, ngôn ngữ sống (phản nghĩa với prapañca). Trong tiếng Hán, những từ biểu thị cho ngôn ngữ nầy như: diễn thuyết (演説) , sám hối (懺悔), thuyết pháp (説法) và biện (辯) .
đề-xá-ni
xem ba-la-đề đề-xá-ni.
Đề-đa-ca
提多迦; S: dhītika;|Tổ thứ 5 của Thiền tông Ấn Ðộ.
đền bù
To pay someone compensation in cash—To compensate for—To make up for.
đền trả túc nghiệp
To repay one's previous karmic debts.
đền tội
To pay for one's sin.
đền ơn
To render thanks—To repay.
đều đặn
Đều đều—Regular.
để
1) Đáy: Bottom—Basis. 2) Húc: Trâu bò húc khi giận dữ—To butt against, as an angry bull.
để dành
To save—To economize.
để hạ
3196一般以極其下賤,稱爲底下。於佛教中,爲罪業深重、多障礙之意,如底下凡夫,指最下之凡夫,即十信位以下之凡夫,而十信位係菩薩五十二修行階位中最初之階段。據唐代道宣之四分律刪補隨機羯磨疏卷四下載,底下諸凡,其福業不淨。又據宋代元照之濟錄記卷四、卷五載,未入外凡者稱爲底下,或稱薄地。蓋元照以修善根之三賢位屬內凡,十信位屬外凡,十信以下者即爲底下。
; 1) Bên dưới: Below. 2) Dưới đáy: At the bottom. 3) Giai cấp thấp nhất: The lowest classe of men.
; (底下) Thông thường những cái thấp hèn được gọi là để hạ. Trong Phật giáo, Để hạ là chỉ cho hàng phàm phu nghiệp chướng sâu nặng dưới giai vị Thập tín. Cứ theo Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ quyển 4 phần dưới của ngài Đạo tuyên đời Đường, thì phúc nghiệp của hàng phàm phu để hạ không thanh tịnh. Còn theo Tế lục kí quyển 4, quyển 5 của ngài Nguyên chiếu đời Tống, thì người chưa vào Ngoại phàm gọi là Để hạ hoặc gọi Bạc địa. Vì ngài Nguyên chiếu cho rằng giai vị Tam hiền thuộc Nội phàm, giai vị Thập tín thuộc Ngoại phàm, dưới Thập tín tức là Để hạ.
để lí
3197請參閱 底哩三昧耶不動尊威怒王使者念誦法 請參閱 底哩三昧耶不動尊威怒王使者念誦法 禪林用語。指道理之究竟。碧巖錄普照序(大四八‧一三九上):「剔抉淵源,剖析底理。」
; (底理) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho chỗ rốt ráo của đạo lí. Bích nham lục Phổ chiếu tự (Đại 48, 139 thượng), nói: Khảo xét đến tận nguồn, mổ xẻ đến chỗ cùng cực (để lí).
để lí tam muội da bất động tôn uy nộ vương sứ giả niệm tụng pháp
3197全一卷。唐代不空譯。略稱底哩三昧耶法、底哩三昧耶經。收於大正藏第二十一冊。全卷記述不動尊之念誦法,有:(一)明示入道場前之護身法。(二)列舉結界法、香花之供養法、念誦之印契與真言等。(三)說不動尊之三種像法,即執劍索、四面四臂、執寶棒金剛杵,及句律迦劍之畫法。(四)明示種種除障之護摩法等。〔貞元新定釋教目錄卷十五〕
; (底哩三昧耶不動尊威怒王使者念誦法) Gọi tắt: Để lí tam muội da pháp, Để lí tam muội da kinh. Có 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung ghi chép pháp niệm tụng của Bất động tôn, gồm: 1. Chỉ rõ pháp hộ thân trước khi vào đàn tràng. 2. Liệt kê pháp kết giới, pháp cúng dường hương hoa, các ấn khế và chân ngôn... 3. Nói về 3 loại hình tượng của Bất động tôn (cầm gươm và dây, 4 mặt 4 tay, cầm gậy báu và chày kim cương) và cách vẽ gươm Cú luật ca. 4. Chỉ rõ các pháp Hộ ma để tiêu trừ các chướng ngại. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15].
để lý
1) Ba: Three—Tri. 2) Luật căn bản: The fundamental principle or law.
để lý tam muội da
Ba thứ tam muội da gồm kim cương, liên hoa, Phật bộ Tam muội da—Trisamaya.
để lật xa
Xem Súc sinh.
; Tiryagyoni (skt)—Chủng loại súc sanh, đặc biệt nói về lục súc—The animal species, animals, especially the six domestic animals.
để một bên
To put aside—To put on one side.
để ngạn đa
Tinanta or Tryanta (skt)—Described as the singular dual, and plural endings in verbs.
để sa
See Đề Xá.
để sa phật
3197底沙,梵名 Tiṣya,巴利名 Tissa。釋尊於過去世修百劫相好業時所遇之佛。又作底砂佛、帝沙佛、提沙佛、補砂佛、弗沙佛。據俱舍論卷十八所載,釋尊於過去世三阿僧祇劫修行成滿後,更勇猛精進修行百劫相好業之際,適逢底沙佛坐於寶龕中,入火界定,威光赫奕,特異於常,遂專誠瞻仰,翹足而立,經七日七夜而不倦怠,淨心以妙伽他讚彼佛(大二九‧九五中):「天地此界多聞室,逝宮天處十方無,丈夫牛王大沙門,尋地山林遍無等。」由此,乃超越九劫,而以九十一劫成正覺。〔佛本行集經卷四、大智度論卷四、金光明最勝王經疏卷九、玄應音義卷二十五〕
; Phất Sa Phật—Tên một vị cổ Phật—Name of an ancient Buddha.
; (底沙佛) Để sa, Phạm: Tiwya, Pàli: Tissa. Cũng gọi Đế sa Phật, Đề sa Phật, Bổ sa Phật, Phất sa Phật. Tên hiệu của đức Phật ở đời quá khứ. Cứ theo luận Câu xá quyển 18 chép, thì sau khi trải qua ba a tăng kì kiếp đã tu hành thành tựu ở đời quá khứ, đức Thích tôn lại tinh tiến dũng mãnh tu tập trăm kiếp tướng hảo thì gặp Phật Để sa đang ngồi trong bảo khám, vào định hỏa giới, uy quang sáng rực, đặc biệt khác thường, Ngài chí thành chiêm ngưỡng, đứng một chân suốt bảy ngày đêm mà không biết mỏi mệt, tịnh tâm dùng kệ khen ngợi đức Phật Để sa rằng (Đại 29, 95 trung): Những bậc đa tài ở cõi này Chư thiên Thệ cung trong mười phương Trượng phu ngưu vương đại sa môn Tìm khắp mọi nơi chẳng ai bằng. Nhờ đó mà đức Thích tôn vượt qua đuợc 9 kiếp, chỉ còn 91 kiếp nữa là thành chính giác. [X.kinh Phật bản hạnh tập Q.4; luận Đại trí độ Q.4; Kim quang minh tối thắng vương kinh sớ Q.9; Huyền ứng âm nghĩa Q.25].
để tâm
To hold in the mind.
để tâm ghi nhớ
To take heed and bear something in mind.
để yên
To leave someone or something alone.
để ý
To pay attention—To take notice of.
Đễ 悌
[ja] テイ tei ||| (1) Obedient, tame, docile, compliant. (2) Peaceful, tranquil, calm. => 1. Biết vâng lời, dễ bảo, ngoan ngoãn, phục tùng . 2. Thanh thản, yên tĩnh, tĩnh lặng.
đệ
Number, degree, sign of the ordinals; only.
; 1) Đệ tử: Disciple. 2) Em trai: Younger brother. 3) Thứ đệ: Number—Degree—Sign of the ordinals.
đệ bát hữu
4762「極七返有」之對稱。又作第八生。即預流果之聖者,受生至欲界,最多為七次,而不受第八生。然就此七生而言,小乘諸部中,彌沙塞部主張受生於人趣與受生於天趣共合為七生說;說一切有部則主張人趣與天趣各立七生說。據中阿含卷四十七多界經載,見道圓滿之聖者,不受第八有。故若如說一切有部所主張,人趣與天趣各受生七次,則共有十四生,而應不僅第八有;關於此點,有部為會通之,則謂經之意乃就人趣而言。(參閱「四向四果」1683)
; (第八有) Cũng gọi Đệ bát sinh. Đối lại với Cực thất phản hữu. Bậc Thánh của quả Dự lưu thụ sinh đến cõi Dục nhiều nhất là bảy lần, không thụ sinh đến lần thứ 8. Tuy nhiên, trong các bộ phái Tiểu thừa, Di sa tắc bộ chủ trương thụ sinh cả ở cõi người và cõi trời mới là 7 lần; còn Thuyết nhất thiết hữu bộ thì cho rằng cõi người và cõi trời mỗi cõi thụ sinh 7 lần, như vậy thì tất cả có 14 lần sinh, chứ không phải chỉ có 8 lần. Về điểm này, Hữu bộ giải thích là ý kinh chỉ nói về cõi người thôi. Kinh Đa giới trong Trung a hàm quyển 47 nói, bậc Thánh kiến đạo viên mãn không thụ sinh lần thứ 8 (Đệ bát hữu). (xt. Tứ Hướng Tứ Quả).
đệ bát ngoại hải
4762指九山八海中之第八海。於佛教宇宙論中,一世界由九山八海所成,地形為團圓,似銅燭盤,以須彌山為中心。若依一山一海相間隔之順序排列,其中之第七海第七山,稱為七內海七寶山,第七寶山之外即第八外海。據俱舍論卷十一載,前七內海皆具八功德水,第八外海之水量為三億二萬二千由旬,鹹水盈滿,閻浮提等四洲在此中。鐵圍山則圍繞此第八外海之外。(參閱「九山八海」127)
; (第八外海) Biển thứ 8 trong tám biển chín núi. Theo vũ trụ luận của Phật giáo, thì một thế giới do chín núi tám biển cấu thành, mặt đất hình tròn giống cái mâm đồng, ở chính giữa là núi Tu di. Theo thứ tự khoảng cách một núi một biển thì biển thứ 7 núi thứ 7 gọi là Thất nội hải Thất bảo sơn, ngoài Đệ thất bảo sơn là Đệ bát ngoại hải. Cứ theo luận Câu xá quyển 11 nói, thì nước của biển thứ 8 mặn và dào dạt, rộng chừng ba ức hai vạn hai nghìn do tuần, trong đó có bốn châu như Diêm phù đề v.v... và có núi Thiết vi bao bọc. (xt. Cửu Sơn Bát Hải).
đệ bát thức
Xem A lại da thức.
; Tên khác của A Lại Da Thức, thức thứ 8 trong tám thức (đây là thức căn bản của mọi thức khác)—The eighth vijnana, another name for Alaya-vijnana. This is the mind-essence, the root and essence of all things—See A Lại da Thức.
đệ da na
Dhyana (skt)—See Thiền Định in Vietnamese-English Section, and Dhyana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đệ lục thiên
xem cõi trời thứ sáu.
đệ lục thiên bảo
4764指欲界中最殊勝之寶物。第六天即他化自在天,乃欲界諸天中最上之天,故其寶亦為最殊勝之物。諸經中,常用於顯示佛土寶物殊勝,或用作比較、譬喻之語。無量壽經卷上(大一二‧二七○上):「其佛國土,自然七寶,(中略)清淨莊嚴,超踰十方一切世界,眾寶中精,其寶猶如第六天寶。」
; (第六天寶) Vật báu ở cõi trời thứ 6, là trời Tha hóa tự tại. Đây là tầng trời cao nhất trong cõi Dục, cho nên vật báu ở đây cũng quí giá hơn vật báu của các cõi khác. Trong kinh điển thường dùng vật báu của cõi trời này để ví dụ các vật báu thù thắng ở cõi Phật. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 270 thượng), nói: Cõi nước của đức Phật ấy, bảy báu tự nhiên đầy đủ (...) thanh tịnh trang nghiêm hơn so với các vật báu của tất cả thế giới trong mười phương, là vật báu quí nhất trong các vật báu, giống như vật báu của cõi trời thứ 6.
đệ lục ấm
A sixth skandha—Ngoài ngũ ấm ra, không có ấm thứ sáu, ý nói sự vật không có như lông rùa sừng thỏ vậy—A sixth skandha: as there are only five skandhas it means the non-existent, i.e. the tutle's hairs and rabbit horns.
Đệ ngũ giải lực
xem Giải lực thứ năm.
đệ ngũ đại
4763比喻有名無實者。顯教各宗認為地、水、火、風等四大能生一切色法,而無有第五大,故以第五大喻龜毛兔角之虛無。同類比喻用語尚有第六陰、第七情、第十三入、第十九界等。維摩經觀眾生品(大一四‧五四七中):「如第五大,如第六陰,如第七情,如十三入,如十九界,菩薩觀眾生為若此。」然於密教,則雖亦以地、水、火、風等四大能造一切色法,惟密教強調四大不離「心大」,心色不異,其性為一,故有五大(加上空大)、六大(再加上識大)之說,如是則以「第五大」比喻有名無實之假法者,並不適用於密教。〔大佛頂首楞嚴經卷三、尊勝佛頂修瑜伽法軌儀卷上〕(參閱「五大」1056、「四大」1649)
; Mọi sắc pháp chỉ có tứ đại (đất, nước, lửa, gió), chứ không có đại thứ năm, ý nói sự vật không hiện hữu như lông rùa sừng thỏ vậy—The fifth element, or the non-existent, i.e. the turtoise's hairs and rabbit horns (no such things really exist).
; (第五大) Đại thứ 5. Ví dụ các pháp giả, chỉ có tên gọi chứ không có thực. Hiển giáo chỉ nói 4 đại: Đất, nước, lửa, gió tạo ra tất cả sắc pháp, chứ không có đại thứ 5, cho nên dùng đại thứ 5 để ví dụ cho lông rùa sừng thỏ là những vật không có thực. Còn có những tiếng thí dụ cùng loại như: Đệ lục ấm, Đệ thất tình, Đệ thập tam nhập, Đệ thập cửu giới v.v... Phẩm Quán chúng sinh trong kinh Duy ma (Đại 14, 547 trung), nói: Như đệ ngũ đại, như đệ lục ấm, như đệ thất tình, như Thập tam nhập, như Thập cửu giới, Bồ tát quán chúng sinh cũng như thế. Nhưng Mật giáo tuy cũng cho 4 đại: Đất, nước, lửa gió có khả năng tạo ra tất cả sắc pháp, nhưng lại nhấn mạnh 4 đại chẳng lìa Tâm đại. Tâm, sắc không khác nhau, tính của chúng là 1, cho nên có 5 đại (thêm không đại), 6 đại (thêm thức đại). Như vậy, đối với Mật giáo mà dùng đại thứ 5 để ví dụ cho pháp giả, chỉ có tên chứ không có thực thì không thích hợp. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.3; Tôn thắng Phật đính tu du già pháp quĩ nghi Q.thượng]. (xt. Ngũ Đại, Tứ Đại).
đệ nhất cú
The first and supreme letter, a, the alpha of all wisdom.
Đệ nhất kết tập 第一結集
[ja] ダイイチケツジュウ daiichi ketsujū ||| The First Council, convened at Rājagṛha 王舍城 in Magadha 摩揭陀 subsequent to the passing away of Śākyamuni; also known as the Council of the Five Hundred (arhats) 五百結集, 五百集法, the Council of Rājagṛha 王舍城結集, the Council of Kāśyapa 迦葉結集法藏, etc. The accounts of this council vary, but the most standardized version states that the council was convened by Mahākāśyapa, with the intent of establishing a defined written canon for the Buddha's teachings. The two leading monks who are said to have assisted in coordinating this compilation were Upāli 優婆離, who supervised the compilation of the vinaya collection, and Ānanda 阿難, who compiled the sutra collection. For a detailed article on this event, see the Encyclopedia of Religion, Buddhist Councils, Vol.4, p.120 (Charles Prebish). => Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ nhất họp tại thành Vương Xá (Rājagṛha 王舍城 ),xứ Ma-kiệt-đà (Magadha 摩揭陀), sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết-bàn. Còn gọi là Nguc bách kết tập, Vương Xá thành kết tập, Ca-diếp kết tập pháp tạng v.v...Sự tường thuật về hội nghi kết tập nầy có nhiều điểm khác nhau, nhưng hầu hết những kinh điển chuẩn xác đều cho biết hội nghị được ngài Ma-ha Ca-diếp triệu tập, với ý định lập nên một tạng kinh ghi đầy đủ và rõ ràng những lời Phật dạy. Hai vị tăng thượng thủ cùng tham dự trong hội nghi kết tập nầy là Ưu-ba-ly (Upāli 優婆離), là người được chịu trách nhiệm trùng tuyên lại tạng Luật, và A-nan, kết tập tạng kinh. Chi tiết về sự kiện nầy, xin đọc ở Encyclopedia of Religion, Buddhist Councils, Vol.4, p.120 (Charles Prebish).
Đệ nhất nghĩa
hay Đệ nhất nghĩa đế, cũng gọi là Thắng nghĩa, Chân thật nghĩa, là chân lý rốt ráo, dựa vào trí tuệ viên mãn của bậc giác ngộ, phân biệt với Đệ nhị nghĩa hay Thế đế, Tục đế, là chân lý tương đối. Khi ta nhìn thấy và mô tả sự vật theo hiện trạng của nó như được nhìn thấy, đó là sự thật tương đối, bị giới hạn trong phạm vi nhận biết, suy diễn, dựa vào các giác quan. Bồ Tát quán xét thấy được bản thể tuyệt đối, rốt ráo của sự vật, đó là Đệ nhất nghĩa hay Đệ nhất nghĩa đế. Chân lý tuyệt đối này không chịu ảnh hưởng bởi những thay đổi, biến cải của thời gian và không gian.
đệ nhất nghĩa
The supreme or fundamental meaning, the supreme reality. i.e. enlightenment.
đệ nhất nghĩa hoà hợp
4759即涅槃經所說之菩薩僧。為「世和合」之對稱。和合,指和合僧、僧團、教團。世和合則指聲聞僧。涅槃經主張「佛性常住」,而謂第一義僧為常,猶如佛性之常,世僧則無常。北本大般涅槃經卷二十八(大一二‧五三三中):「僧名和合,和合有二:一者世和合,二者第一義和合。世和合者名聲聞僧,義和合者名菩薩僧。」
; (第一義和合) Đối lại với Thế hòa hợp. Là Bồ tát tăng được nói trong kinh Niết bàn. Hòa hợp, chỉ cho Hòa hợp tăng, Tăng đoàn, Giáo đoàn. Còn Thế hòa hợp thì chỉ cho Thanh văn tăng. Kinh Niết bàn chủ trương Phật tính thường trụ và cho Đệ nhất nghĩa tăng là thường trụ, Thế tăng thì là vô thường. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 28 (Đại 12, 533 trung), nói: Tăng gọi là hòa hợp. Hòa hợp có hai: Một là Thế hòa hợp, tức là chúng tăng Thanh văn; hai là Đệ nhất nghĩa hòa hợp, tức là chúng tăng Bồ tát.
đệ nhất nghĩa không
4759梵語 paramārtha-śūnyatā。十八空之一。指大乘至極之涅槃、諸法實相為空。又作勝義空、真實空。涅槃、諸法實相為第一義無上法,非常非滅,不受不著,其性自爾,本無今有,今有還無,故為空,稱為「第一義空」。小乘之涅槃雖亦謂之空,然小乘之涅槃乃「偏真但空」之涅槃,大乘之涅槃則為中道實相之空,故為第一義之空,亦為真言阿字本不生之實義。此第一義空之妙理,則稱第一空法。 雜阿含經卷十三(大二‧九二下):「我今當為汝等說法,初中後善,善義善味,純一滿淨,梵行清白,所謂第一義空經。」大智度論卷三十一(大二五‧二八八中):「涅槃中亦無涅槃相,涅槃空是第一義空。(中略)能使諸法實相空,是名為第一義空。」此外,相對於世諦以「諸法為有」之情形,亦說第一義諦即是空。〔大品般若經卷五、北本大般涅槃經卷十六、中論卷四觀四諦品、成實論卷十二滅法心品、十八空論、大乘義章卷二〕(參閱「十八空」353)
; The highest Void, or reality, the Mahàyàna nirvàna.
; (第一義空) Phạm: Paramàrtha-zùnyatà. Cũng gọi Thắng nghĩa không, Chân thực không. Một trong 18 không. Niết bàn Đại thừa và thực tướng các pháp là đệ nhất nghĩa cùng tột, chẳng thường chẳng diệt, không nhận không chấp, tính nó tự nhiên, xưa không nay có, có rồi lại không, cho nên là không và được gọi là Đệ nhất nghĩa không. Niết bàn của Tiểu thừa tuy cũng nói là không, nhưng là Niết bàn Thiên chân đãn không. Niết bàn của Đại thừa là cái Không của Thực tướng trung đạo, là cái Không của Đệ nhất nghĩa, cũng là thực nghĩa của chân ngôn chữ A vốn chẳng sinh. Diệu lí của Đệ nhất nghĩa này được gọi là Đệ nhất không pháp. Kinh Tạp a hàm quyển 13 (Đại 2, 93 hạ), nói: Nay ta sẽ nói pháp cho các ông, đầu, giữa, cuối đều cùng tột, thiện nghĩa thiện vị, thuần nhất viên mãn, phạm hạnh thanh tịnh: Đó là Đệ nhất nghĩa không. Luận Đại trí độ quyển 31 (Đại 25, 288 trung) nói: Trong Niết bàn cũng không có tướng Niết bàn, ấy là Đệ nhất nghĩa không (...) hay khiến thực tướng các pháp đều không, đó là Đệ nhất nghĩa không. Ngoài ra, khi đối với Thế đế cho các pháp là có, thì cũng nói Đệ nhất nghĩa đế tức là không. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.5; kinh Đại bát niết bàn Q.16 (bản Bắc); phẩm Quán tứ đế trong Trung luận Q.4; phẩm Diệt pháp tâm trong luận Thành thực Q.12; luận Thập bát không; Đại thừa nghĩa chương Q.2]. (xt. Thập Bát Không).
đệ nhất nghĩa lạc
4760指涅槃之妙樂。第一義,即究竟、窮極、最高之真理、最高之境地。涅槃為一切煩惱災患永盡之境地,超脫生死之苦難而住於寂靜之大樂,此種妙樂為究竟而無可比擬者,故稱第一義樂。大乘起信論(大三二‧五八二下):「以無量方便,救拔一切苦惱眾生,令得涅槃第一義樂。」
; The highest bliss. i.e. nirvàna.
; (第一義樂) Niềm vui vi diệu của Niết bàn. Đệ nhất nghĩa là chân lí rốt ráo cùng tột. Niết bàn là cảnh giới tịch tĩnh diệu lạc, không có gì so sánh được, cho nên gọi là Đệ nhất nghĩa lạc. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 582 hạ), nói: Dùng vô lượng phương tiện, cứu giúp tất cả chúng sinh khổ não, khiến được Niết bàn đệ nhất nghĩa lạc.
đệ nhất nghĩa môn
4759指第一義諦、向上門。於禪籍中,常用以表示超越言語思惟之究極境地。反之,如離脫第一義門之根本宗旨,則為向下門,稱第二義門、第三義門,或稱第二、第三。
; (第一義門) Tức là Đệ nhất nghĩa đế, Hướng thượng môn, Đối lại với Đệ nhị nghĩa môn, Đệ tam nghĩa môn, hướng hạ môn. Là cảnh giới tuyệt đối vượt ra ngoài ngôn ngữ tư duy.
đệ nhất nghĩa pháp thắng kinh
4759全一卷。元魏般若流支譯。收於大正藏第十七冊。本經係世尊以佛教之觀點,為光明炬仙人解說眾生自何處生、有關劫燒之火焰、眾生前世與今世之關係、眾生之意義等四項問題。〔開元釋教錄卷六〕
; (第一義法勝經) Có 1 quyển, do ngài Bát nhã lưu chi dịch vào đời Nguyên Ngụy, thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này ghi lại việc đức Phật giải thích cho tiên nhân Quang minh cự về 4 vấn đề: Chúng sinh từ đâu sinh ra, lửa đốt trong kiếp thiêu, quan hệ đời trước và đời này của chúng sinh, ý nghĩa chúng sinh. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.6].
đệ nhất nghĩa quán
The highest meditation of Thiên Thai Tông that on trung the Mean.
đệ nhất nghĩa trí
4760指究極絕對之智慧。即於「金剛喻定」斷盡一切煩惱之究竟佛智。金剛喻定,係指猶如金剛一般堅固不動,而能斷破一切煩惱之禪定,乃等覺菩薩所證之禪定。勝鬘經(大一二‧二二一上):「金剛喻者,第一義智。(中略)若壞一切煩惱藏究竟智,是名第一義智。」
; The highest knowledge orwisdom.
; (第一義智) Trí tuệ cùng tột tuyệt đối. Tức là trí tuệ Phật trong Kim cương dụ định đã diệt trừ tất cả phiền não. Kim cương dụ định là Thiền định do Bồ tát Đẳng giác chứng được. Kinh Thắng man (Đại 12. 221 thượng), nói: Kim cương dụ là đệ nhất nghĩa trí (...) Trí rốt ráo đoạn trừ tất cả phiền não là Đệ nhất nghĩa trí.
đệ nhất nghĩa tất đàn
4760大智度論卷一所說四悉檀之第四。又作入理悉檀。佛以善巧,依第一義來詮明一實中道之理,令眾生斷惑證理,稱為第一義悉檀。即諸佛化導眾生之法,計有四種範疇,各成就其義,互不違背。其中第一義悉檀,即一切論議語言悉可破散,諸佛及辟支佛、阿羅漢等所行之法則真實而不可破散,超過語言之道,心行處滅。第一義悉檀又分為可說、不可說二種:(一)以諸佛等所得之法為不可說。(二)以「一切實、一切非實、一切實亦非實、一切非實非不實」等四句闡說諸法實相,是為可說。若配天台宗化法四教之四諦,第一義悉檀可配於圓教之無作四諦。〔法華經玄義卷一下〕(參閱「四悉檀」1758)
; The highest Siddhànta, or Truth, the highest universal gift of Buddha, his teaching which awakens the highest capacity in all beings to attain salvation.
; (第一義悉檀) Cũng gọi Nhập lí tất đàn. Một trong 4 Tất đàn. Pháp dùng để phá trừ tất cả sự biện luận, vượt ra ngoài lời nói. Đây là phương tiện khéo léo dùng để thuyết minh lí trung đạo khiến chúng sinh chứng ngộ chân lí. Đệ nhất nghĩa tất đàn được chia làm 2 loại: 1. Bất khả thuyết: Pháp sở đắc của chư Phật. 2. Khả thuyết: Dùng 4 câu: Tất cả thật, tất cả chẳng thật, tất cả thật cũng chẳng thật, tất cả chẳng thật chẳng không thật để nói rõ thực tướng của các pháp. Nếu đem phối hợp với Tứ đế của 4 giáo hóa pháp trong tông Thiên thai, thì Đệ nhất nghĩa tất đàn có thể phối hợp với Vô tác tứ đế của Viên giáo. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1 phần dưới]. (xt. Tứ Tất Đàn).
Đệ nhất nghĩa đế
xem Đệ nhất nghĩa.
; 第一義諦; S: paramārtha-satya; cũng được gọi là Thánh đế đệ nhất nghĩa, Chân đế, Chân lí cao nhất, Chân lí tuyệt đối;|Các thiền sinh thời xưa thường đặt câu hỏi »Thế nào là chân lí tuyệt đối« (»Như hà thị Thánh đế đệ nhất nghĩa?«; 如何是聖諦第一義) nơi chư vị Thiền sư và các câu trả lời của các vị cũng rất thú vị.
đệ nhất nghĩa đế
4760梵語 paramārtha-satya,巴利語 paramattha-sacca。二諦之一。即最殊勝之第一真理。為「世俗諦」之對稱。略稱第一義。又稱勝義諦、真諦、聖諦、涅槃、真如、實相、中道、法界。總括其名,即指深妙無上之真理,為諸法中之第一,故稱第一義諦。 佛教各宗派對第一義諦所下之定義不盡相同,如小乘說一切有部將單一而不可分解之對象視為真實存在之認識,稱為勝義諦;中觀學派則認為諸聖賢了解緣起性空之理,洞徹世俗認識之顛倒,以此道理為真實,稱為真諦;小乘經部及瑜伽行派等則將佛教智慧及依此智慧為對象之理解,稱為勝義諦。就大乘而言,則主要藉真諦與俗諦二者調和世間與出世間之對立,將此二諦聯繫起來觀察現象,稱為中觀、中道,為大乘最基本的原則之一。此外,禪林多用第一義,相對於第二義之相待差別,特以第一義來詮顯絕對不可思議之境界。第一義復稱向上門、正位等;第二義則稱向下門、偏位等。〔俱舍論卷二十二、中論卷四觀四諦品、顯揚聖教論卷二、卷六〕(參閱「二諦」244)
; The supreme truth, or reality, in contrast with the seeming; also called Veritable truth, sage-truth, surpassing truth, nirvàna; bhùtatathatà, madhya, sùnyatà etc.
; (第一義諦) Phạm: Paramàrtha-satya, Pàli: Paramattha-sacca. Gọi tắt: Đệ nhất nghĩa. Cũng gọi Thắng nghĩa đế, Chân đế, Thánh đế, Niết bàn, Chân như, Thực tướng, Trung đạo, Pháp giới. Đối lại với Thế tục đế. Chân lí sâu xa mầu nhiệm vượt trên tất cả pháp. Là một trong hai đế. Các tông phái Phật giáo định nghĩa Đệ nhất nghĩa đế không giống nhau. Như Thuyết nhất thiết hữu bộ của Tiểu thừa coi sự nhận thức về đối tượng đơn nhất không còn phân giải được nữa là cái tồn tại chân thực, gọi là Thắng nghĩa đế. Học phái Trung quán thì cho rằng các bậc Thánh hiền hiểu rõ lí duyên khởi tính không và thấu suốt sự nhận thức điên đảo của thế tục, cái thấu suốt ấy là đạo lí chân thực, gọi là Chân đế. Kinh bộ Tiểu thừa và Du già hành phái lấy trí tuệ làm đối tượng để lí giải, gọi là Thắng nghĩa đế. Đại thừa thì chủ yếu dựa vào Chân đế và Tục đế để điều hòa sự đối lập thế gian và xuất thế gian, rồi dung hợp 2 đế mà quán xét hiện tượng, gọi là Trung quán, Trung đạo, là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của Đại thừa. Ngoài ra, Thiền lâm thường dùng Đệ nhất nghĩa đế để diễn tả cảnh giới tuyệt đối không thể nghĩ bàn. Đệ nhất nghĩa còn được gọi là Hướng thượng môn, Chính vị đẳng. [X. luận Câu xá Q.32; phẩm Quán tứ đế trong Trung luận Q.4; luận Hiển dương thánh giáo Q.2, Q.6]. (xt. Nhị Đế).
Đệ nhất nghĩa đế 第一義諦
[ja] ダイイチギタイ daiichi gitai The highest truth; the absolute truth. True reality, as opposed to any kind of relative or worldly truth (世俗諦). (s: paramārtha-satya) => Chân lý cao tột nhất. Chân lý tuyệt đối. Thực tại chân thực, ngược với mọi chân lý tương đối hoặc chân lý thế tục (thế tục đế世俗諦).
đệ nhất ngã thân
4758密教經典用以喻指密教之教祖毘盧遮那佛(即大日如來)。我,大自在之意。毘盧遮那為第一無比之大自在身,故有此稱。〔大日經卷一具緣品、大日經疏卷四〕
; (第一我身) Thân tự tại bậc nhất, dùng để ví dụ Giáo tổ Tì lô giá na (đức Đại nhật Như lai) trong kinh điển Mật giáo. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.4].
Đệ nhất niệm xứ
xem Ba chỗ niệm.
đệ nhất năng biến
The first power of change, Àlaya-vijnàna, A lại da thức.
đệ nhất phạm giáo hội
4758梵名 Ādi Brahma Samāj。印度教近代革新之分派。為特朋特拉泰戈爾(Tagore, Debendranarthe, 1815~1905)於一八六六年所創立者。特朋特拉於一八四二年加入梵教會,繼承藍姆漢羅伊(Rām Mohan Roy,梵教會創始者)之理念,主張保守性之民族復歸主義,以恢復純粹印度教及重建民族宗教為目標。直至一八五七年,克夏勃強特拉聖(Keshab Chandra Sen)加入梵教會,帶進濃厚之基督教色彩,主張廢除種姓制度(caste),倡導寬容之世界宗教。特朋特拉不滿其反印度教之急進改革,遂於一八六六年與之分裂而創立第一梵教會。 此組織除其子,有「詩聖」之稱的泰戈爾(Tagore, Rabindranath)較出色外,其他有力之領導者及少壯學者大都支持克夏勃強特拉聖,故無顯著發展。然於保守性之護教運動仍有很大貢獻,於印度民族主義發展史上亦有特殊之意義。 此派信條大略如次:(一)神具有崇高至德之全能人格。(二)神並非以權化而出現。(三)神能感應人類之歸禮祈禱。(四)神僅接受以精神所行之禮拜,其他苦行隱遁、寺院、禮拜形式等規則皆屬無用。(五)悔改與斷絕罪過方是得到神寬恕與解救之唯一道路。(六)對神之認識須經由自然與直觀,其餘任何教典皆無法權證。〔Sivanath Sastri: History of the Brahmo Samaj, 2 vols., 1911~1912〕(參閱「梵教會」4637)
đệ nhất thiền
The first dhyàna.
đệ nhất thức
Xem A lại da thức.
đệ nhất thừa
The supreme vehicle, Mahàyàna.
đệ nhất tịch diệt
4758<一>指實相妙理、涅槃寂靜。實相之妙理本為諸法中之第一義,故稱第一;遠離一切言辭之相,故稱寂滅。法華經卷一方便品(大九‧九中):「知第一寂滅,以方便力故,雖示種種道,其實為佛乘。」 <二>於密教中,指???(a,阿)字本不生、六大體大。此???字乃諸法能生之本源,故稱第一;泯滅差別之相,亦即遠離一切相,然亦無離相之相,故稱寂滅。又「阿字本不生」,係謂萬法由眾緣而生,若輾轉推究眾因緣之本源起始,則諸法之根本,於最初之際,乃屬「無自性」之新生創造,亦即「本不生」之義。密教即藉梵語五十字之第一字「阿」字來詮釋諸法之體性、萬法能生之根源,並謂若能體得阿字本不生之理,即能了知自心本源,而得如來之一切智。又「六大體大」,係謂地、水、火、風、空、識等六法能周遍法界中之諸法萬有,並為諸法體性之本源;此乃密教解釋宇宙本體之基本學說。大日經疏卷一(大三九‧五八○下):「然此第一寂滅之相,以如來加持神力,令應度者隨諸法門表像。若可見聞觸知,即以此為門而入法界。」
; (第一寂滅) I. Đệ Nhất Tịch Diệt. Diệu lí thực tướng, Niết bàn tịch tĩnh. Thực tướng của các pháp là đệ nhất. Xa lìa tất cả danh tướng, ngữ ngôn, gọi là Tịch diệt. Phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 9 trung), nói: Biết được đệ nhất tịch diệt là nhờ sức phương tiện, tuy Phật dạy nhiều thừa nhưng thực thì chỉ có một Phật thừa. II. Đệ Nhất Tịch Diệt. Chỉ chữ (A) vốn chẳng sinh, là lục đại thể đại trong Mật giáo. Chữ A này của Mật giáo là nguồn gốc sinh ra các pháp nên gọi là Đệ nhất; dứt bặt các tướng sai biệt, tức là xa lìa tất cả tướng, nhưng cũng là tướng không lìa tướng, cho nên gọi là Tịch diệt. Còn Lục đại thể đại là 6 pháp đất, nước, lửa, gió, không, thức bao trùm vạn hữu trong pháp giới và là nguồn gốc của thể tính các pháp. Đây là học thuyết cơ bản của Mật giáo dùng để giải thích bản thể vũ trụ. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 580 hạ), nói: ... Nhưng, tướng đệ nhất tịch diệt này, nhờ thần lực gia trì của Như lai khiến người đáng độ tùy theo các pháp môn mà thể nhập, như là lấy sự thấy nghe chạm biết làm cửa mà vào pháp giới vậy.
đệ nhất tối thắng tam muội da ấn
4758為密教所說阿彌陀如來定印之一。略稱最勝三昧耶印。又稱法界定印、除散亂心印。據守護國界主經卷二載,此印之印相,係以左手掌上仰,置於臍上,右手掌亦上仰,重疊在左掌上,大拇指與食指相拄;結此印能息滅狂亂及一切妄念,而令心止於一境。
; (第一最勝三昧耶印) Gọi tắt: Tối thắng tam muội da ấn. Cũng gọi Pháp giới định ấn, Trừ tán loạn tâm ấn. Định ấn của đức A di đà Như lai. Cứ theo kinh Thủ hộ quốc giới chủ quyển 2, thì ấn tướng này là 2 tay ngửa ra đặt ở ngang rốn, bàn tay phải đặt chồng lên bàn tay trái, ngón cái và ngón trỏ giáp nhau. Kết ấn này có thể dứt hết vọng niệm lăng xăng, khiến tâm an trụ ở một cảnh.
Đệ nhất 第一
[ja] ダイイチ daiichi ||| (1) Best, greatest, first, most (agra, agrya, agratā). (2) Excellent, superior (vara). => 1. Thứ nhất, lớn nhất, quan trọng nhất, nhiều nhất (s: agra, agrya, agratā). 2. Xuất sắc, ưu tú; cao cấp (vara).
Đệ nhị chấp thức 第二執識
[ja] ダイニ シュウシキ dainishūshiki ||| The second attached consciousness--a reference to the sixth (mano) consciousness 意識. 〔二障義 HPC 1.809b5〕 => Chỉ cho thức thứ 6, ý thức (s: mano意識).
Đệ nhị kết tập 第二結集
[ja]ダイニケツジュウ daini ketsujū ||| The Second Buddhist Council, held at Vaiśālī 毘舍離城 about one hundred years after the passing away of Śākyamuni, attended by seven hundred monks. The second council is considerably better documented in the texts than the first and is generally recognized as a historical event. The cause of the council lay in the accusations made by the Sthavira 上座 monk Yaśas 耶舍 against the Vrjiputraka 跋耆族 monks, who were engaged in ten kinds of practices that were not in accord with his understanding of the vinaya, most obvious of which was the reception of gold and silver from lay practitioners. The Vrjiputraka side rejected these claims, and a conflict resulted. The conflict was resolved in the course of this council, led by Revata, following the authority of the elder monk Sarvagamin, who ruled against the Vrjiputrakas on all ten counts, which are called the ten practices not in accord with the dharma 十事非法. Records of this council are found in both the Pali and Sanskrit versions of the Vinaya-pitaka. The Singhalese tradition (Theravāda) explains the schism between the Sthaviras and Mahāsāṃghikas 大衆部 on the basis of the conflict that led to the convocation of this council. According to their version, the monks of Vaiśālī convoked a counter council in which they established themselves as Mahāsāṃghikas. For a more detailed explanation, see Charles Prebish's article on "Buddhist Councils" in the Encyclopedia of Religion (vol. 4, p. 121). => Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ hai được cử hành ở thành Ty-xá-li (Vaiśālī 毘舍離城) vào khoảng 100 năm sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết-bàn, gồm 700 vị tăng tham dự. Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ hai được ghi nhận chính xác trong các kinh văn hơn là hội nghị đầu tiên và được công nhận chung là sự kiện lịch sử. Nguyên do của hội nghị là lời tố cáo của Thượng toạ (Sthavira 上座) Da-xá (Yaśas 耶舍) về phía các tăng sĩ thuộc dòng họ Bạt-kỳ (Vrjiputraka 跋耆族), là những vị đã phạm phải 10 điều không phù hợp với giới luật, hầu như họ đã nhận vàng bạc do cư sĩ cúng dường. Các tăng sĩ thuộc dòng họ Bạt-kỳ bác bỏ lời cáo buộc nầy, và dẫn đến kết quả mâu thuẫn nhau trong giáo đoàn. Sự mâu thuẫn được đưa ra giải quyết trong chương trình nghị sự của phiên họp nầy dưới sự hướng dẫn của ngài Revata, với sự chứng minh của Thượng toạ Trưởng lão Sarvagamin, đã ra điều luật phủ nhận 10 điểm của tăng sĩ thuộc dòng họ Bạt-kỳ, được gọi là 10 việc phi pháp (Thập sự phi pháp 十事非法). Tường thuật về hội nghị nầy đều được ghi lại trong cả hai tạng luật thuộc văn hệ Pali và Sanskrit. Thượng toạ bộ (Singhalese, Theravāda) giải thích sự phân ly giữa Thượng toạ bộ và Đại chúng bộ (Mahāsāṃghikas 大衆部) trên cơ sở những mâu thuẫn đưa đến sự triệu tập hội nghị nầy. Theo kinh văn của Thượng toạ bộ, tăng sĩ thuộc dòng họ Bạt-kỳ được triệu tập đến trước hội nghị, và ở đó họ đã tự xưng là thuộc Đại chúng bộ (s: Mahāsāṃghikas). Để có chi tiết hơn, xin xem mục Buddhist Councils của Charles Prebish trong Encyclopedia of Religion (vol. 4, p. 121).
Đệ nhị nghĩa
xem Đệ nhất nghĩa.
đệ nhị nghĩa môn
4761即由向上之平等處,迴入向下差別門之教理法門。於宗門中,第一義門(向上門)多指真實絕對悟境的佛道究極之旨,或不執於世緣的上求菩提之修行道法;相對於此,方便權巧,假借名言而設立之教義法門,或隨順世情以教化眾生之菩薩行,則屬第二義門(向下門)。亦即以種種方法截斷眾生之惑障,以破除迷妄,導引趣向成佛得悟之道。其所用之教義、機法往往相對於第一義門之入理深談,而與「第二機」、「第二頭」同義,皆指捨離向上大機、第一義門,而迴入方便道之法門。同類用語尚有門庭施設、落草、老婆心切等。碧巖錄第五則(大四八‧一四四下):「理事不二,權實並行,放過一著,建立第二義門,直下截斷葛藤,後學初機難為湊泊。」
; (第二義門) Pháp môn giáo nghĩa từ nơi bình đẳng hướng thượng trở lại cửa sai biệt hướng hạ, áp dụng mọi phương tiện quyền xảo, tạm mượn danh ngôn bày đặt ra, hoặc dùng hạnh Bồ tát thuận theo tình đời để giáo hóa chúng sinh, đoạn diệt hoặc chướng, phá trừ mê vọng, dắt dẫn chúng sinh hướng đến con đường giác ngộ thành Phật. Đồng nghĩa với Đệ nhị cơ, Đệ nhị đầu. Bích nham lục tắc 5 (Đại 48, 144 hạ), nói: Lí sự không hai, quyền thực song hành, vượt lên một bậc, kiến lập Đệ nhị nghĩa môn, ngay đó chặt đứt sắn bìm, kẻ hậu học sơ cơ khó thấu đáo.
đệ nhị nguyệt
4761泛指似有非有之事物。猶如眼翳之人,望真月時,幻見二月,即以為天上有二個月。與「空中花」等為同類用語。於佛教教理中,諸法皆無實體,而迷執之眾生每每妄認地、水等四大為「自身相」,復以相續相、執取相等六粗之相為「自心相」,如是則猶如眼翳之人誤認有空中花、第二月等。楞嚴經卷二(大一九‧一一一上):「此見雖非妙精明心,如第二月,非是月影。」〔圓覺經、新譯仁王經卷中〕
; Người có tật nháy mắt nên thấy vầng trăng thứ hai, đây là điều không có thật mà chỉ là ảo tưởng của thị giác—A double or second moon, which is an optical illusion, unreal.
; (第二月) Mặt trăng thứ hai. Chỉ chung các sự vật tựa hồ như có mà chẳng phải có. Như người đau mắt, khi nhìn mặt trăng thật, hoa mắt thấy có mặt trăng thứ hai. Đồng nghĩa với Không trung hoa (hoa đốm giữa hư không). Theo giáo lí Phật giáo, các pháp đều không có thực thể, nhưng vì chúng sinh chấp mê nên nhận Tứ đại là Tướng tự thân; cho tướng của Lục thô (Tương tục tướng, Chấp thủ tướng v.v...…) là Tướng tự tâm, cũng như người nhặm mắt nhận lầm có hoa đốm giữa hư không, hay có mặt trăng thứ hai v.v... Kinh Lăng nghiêm quyển 2 (Đại 19, 111 thượng), nói: Cái thấy này tuy chẳng phải tâm diệu tinh minh, nhưng mà như mặt trăng thứ hai, chứ chẳng phải bóng của mặt trăng. [X. kinh Viên giác; kinh Nhân vương (bản dịch mới) Q.trung].
Đệ nhị niệm xứ
xem Ba chỗ niệm.
đệ nhị năng biến
The second power of change, the klistamano-vijnàna, disturbed-mind, consciousness or self-consciousness which gives form to the universe.
; Đệ nhị năng biến hay tên gọi khác của Mạt Na Thức, hay tâm thức biến động vì những cảnh giới bên ngoài—The second power of change, the klistamano-vijnana, disturbed-mind, consciousness, or self-consciousness which gives form to the universe—See Mạt Na Thức.
Đệ nhị quả 第二果
[ja] ダイニカ dainika ||| The second attainment of the śrāvaka path, that of 'once returner.' See 一來果. => Quả vị thứ hai của hàng Thanh văn, gọi là Nhất lai. Xem Nhất lai quả 一來果.
Đệ nhị thiên
Cõi trời thứ nhì. Các cõi trời trong Tam giới được kể từ dưới lên là: 1. Đệ nhất thiên: Tứ thiên vương thiên 2. Đệ nhị thiên: Đao-lợi thiên hay Tam thập tam thiên 3. Đệ tam thiên: Hàng chư thiên hầu hạ quanh vua trời Đế Thích.
đệ nhị thiền
xem cảnh thiền thứ hai.
; 4762梵語 dvitīya-dhyāna,巴利語 dutiya-jhāna。新譯作第二靜慮。為四禪之第二。具有內等淨、喜、樂、心一境性等四支。於此禪定,遠離初禪的尋、伺心理活動,於內心信相明淨,故稱「內等淨」;由於禪定之故,住於喜與樂之情態,故稱「定生喜樂」。又於此禪定之中,可對治初禪之貪、尋伺、苦、掉舉、定下劣性等五種修道之障礙。又於初禪定之時,仍會起語行(尋、伺),而自此禪定以上,則不再有語行。此外,修習第二禪定,可得生於第二禪天之果報,此天有少光、無量光、極光淨三天,即:(一)少光天,此天天眾於二禪天諸天中,光明最少,故稱少光。(二)無量光天,此天天眾之光明漸次轉增,難以測量,故稱無量光。(三)極光淨天,此天天眾之光明勝於上記二天,遍照自地。又以光為語音之故,亦稱為光音天。此外,有關第二禪諸天之依處、身量及壽量等果報,於長阿含卷二十世記經、大毘婆沙論卷一三六、俱舍論卷十一、立世阿毘曇論卷三、卷七等皆詳加記載。又如上記所述,此天天眾以安住於禪定而生起喜、樂之感受,故此天又稱「定生喜樂地」。又於劫末之時,三災之大水災浸壞第二禪天以下之器世間。〔長阿含卷八眾集經、俱舍論卷二十八、顯揚聖教論卷二、卷十九〕(參閱「四禪」1843、「四禪天」1846)
; The second dhyàna, a degree of contemplation where reasoning gives way to intuition.
; Còn gọi là đệ nhị tĩnh lự hay cõi thiền thứ hai trong tứ thiền thiên của cõi Sắc giới (cuộc đại thủy tai thời kiếp mạt, nước chỉ dâng được đến cõi trời nầy mà thôi)—The second dhyana, a degree of contemplation where reasoning gives way to intuition. The second three rupa heavens.
; (第二禪) Phạm: Dvitìya-dhyàna, Pàli: Dutiyajhàna. Tân dịch: Đệ nhị tĩnh lự. Thiền thứ 2 trong Tứ thiền, gồm có 4 tính cách: Nội đẳng tịnh, Hỉ, Lạc, Tâm nhất cảnh tính. Hành giả ở trong Thiền định này đã xa lìa hoạt động tâm lí Tầm (tìm tòi), Tứ (rình xét) của Sơ thiền, trong tâm có niềm tin trong sáng nên gọi là Nội đẳng tịnh; nhờ Thiền định, hành giả ở trong trạng thái hỉ (mừng) và lạc (vui) nên gọi là Định sinh hỉ lạc. Tu tập thiền định này, hành giả có thể đối trị 5 thứ chướng ngại của sự tu đạo ở Sơ thiền là:tham, tầm tứ, khổ, trạo cử và định hạ liệt tính. Lại nữa, tu tập Thiền định này, hành giả sẽ được quả báo sinh lên cõi trời Đệ nhị thiền. Cõi thiền này có 3 tầng trời: 1. Thiểu quang thiên: Trong các tầng trời của cõi Nhị thiền, tầng trời này ít ánh sáng nhất nên gọi là Thiểu quang thiên. 2. Vô lượng quang thiên: Ánh sáng ở tầng trời này dần dần tăng thêm tới mức khó đo lường được, nên gọi là Vô lượng quang thiên. 3. Cực quang tịnh thiên: Ánh sáng ở tầng trời này sáng hơn 2 tầng trời nói trên, chiếu khắp cõi mình. Lại vì thiên chúng của tầng trời này dùng ánh sáng làm tiếng nói nên còn gọi là Quang âm thiên. Ngoài ra, kinh Thế kí trong Trường a hàm quyển 20, luận Đại tì bà sa quyển 136, luận Câu xá quyển 11, luận Lập thế a tì đàm quyển 3, quyển 7 v.v... đều có nói đến quả báo về chỗ ở, về thân lượng và thọ lượng của các vị trời Đệ nhị thiền. Ngoài ra, như đã trình bày ở trên, nhờ an trụ nơi Thiền định mà các vị trời ở cõi này sinh khởi cảm thụ hỉ, lạc, cho nên cõi trời này còn được gọi là Định sinh hỉ lạc địa. Sau hết, vào thời mạt kiếp, khí thế gian từ cõi trời Đệ nhị thiền trở xuống, sẽ bị nạn đại hồng thủy xâm nhập hủy hoại. [X. kinh Chúng tập trong Trường a hàm Q.8; luận Câu xá Q.28; luận Hiển dương thánh giáo Q.2, Q.19]. (xt. Tứ Thiền, Tứ Thiền Thiên).
đệ nhị thất nhật thuyết
4761為佛陀講說華嚴經之時。華嚴宗依十地經論卷一所舉(大二六‧一二三中)「如是我聞:一時,婆伽婆成道未久,第二七日,在他化自在天中自在天王宮摩尼寶藏殿,與大菩薩眾俱」之經文,定華嚴經乃佛陀成道後第二個七日所說。然天台宗依法華經方便品所載(大九‧九下)「我始坐道場,觀樹亦經行;於三七日中,思惟如是事」之經文,判定為成道後之第三個七日所說。(參閱「華嚴時」5250)
đệ nhị đàn
4761指密教修法之護摩壇、正覺壇等。「大壇」之對稱。一般而言,兩部大曼荼羅之供養壇稱為大壇;相對於此,灌頂時之正覺壇(小壇)等稱為第二壇。又修其他大法之本尊壇稱為大壇;相對於此,護摩壇、聖天壇等稱為第二壇。大日經疏卷八(大三九‧六六五中):「阿闍梨作第二漫荼羅,當與中漫荼羅相對,去大漫荼羅二肘。第二是次小之義,即是相待言之也。」(參閱「大壇」 885)
; (第二壇) Đối lại với Đại đàn. Nói chung, đàn cúng dường của 2 bộ Đại mạn đồ la gọi là Đại đàn, ngược lại là Chính giác đàn (Tiểu đàn) khi làm lễ Quán đính gọi là Đệ nhị đàn. Còn bản tôn đàn tu các đại pháp khác thì gọi là Đại đàn; đối lại, Hộ ma đàn, Thánh thiên đàn v.v... gọi là Đệ nhị đàn. Đại nhật kinh sớ quyển 8 (Đại 39, 665 trung), nói: A xà lê làm Đệ nhị mạn đồ la, ngang với Trung mạn đồ la, cách Đại mạn đồ la hai khuỷu tay. Đệ nhị nghĩa là bậc nhỏ. (xt. Đại Đàn).
Đệ nhị đầu 第二頭
[ja] ダイニトウ dainitō ||| A second head--something that is impossible or superfluous. A metaphor seen often in Abhidharma texts, such as T 1546, along with "third hand" 第三手 "sixth skandha," 第六陰 etc. 〔二障義HPC 1.814a〕 => Chỉ cho cái gì đó không có thực hoặc là vô lý. Là ẩn dụ thường ghi trong kinh văn A-tỳ-đạt-ma, như trong T 1546, nhóm từ cùng ý nghĩa trên là 'cái đầu thứ hai'; 'ấm thứ sáu' v.v...
đệ nhứt
The first—Supreme—Prime—Chief.
đệ nhứt cú
Mẫu tự đầu tiên “a” hay là chữ đầu tiên của trí tuệ—The first and supreme letter, a, or the alpha of all wisdom.
đệ nhứt nghĩa
Nghĩa căn bản tối thượng của sự lý hay chân lý tối thượng, hay sự giác ngộ—The supreme or fundamental meaning, the supreme reality, i.e. enlightenment.
đệ nhứt nghĩa không
Cái không tuyệt đối hay Niết Bàn của Đại Thừa, dù từ nầy cũng dùng cho Niết Bàn Tiểu Thừa, như cái không của Tiểu thừa chỉ thiên về cái “đãn không” mà thôi—The highest Void or reality, the Mahayana nirvana, though it is also applied to Hinayana nirvana—See Bất Tư Nghì Không.
đệ nhứt nghĩa lạc
Hỷ lạc tối thượng hay Niết Bàn—The highest bliss—Nirvana.
đệ nhứt nghĩa quán
Phép quán tối thượng của tông Thiên Thai hay Trung Quán—The highest meditation of T'ien-T'ai, the meditation on the Mean. ** For more information, please see Tam Quán.
đệ nhứt nghĩa trí
Trí tuệ tối thượng—The highest knowledge, or wisdom.
đệ nhứt nghĩa tất đàn
Một trong tứ tất đàn, chân lý cao nhất của Phật làm thức tỉnh khả năng cao tột của chúng sanh để đạt được giải thoát—One of the four types of siddhanta, the highest Siddhanta or Truth, the highest universal gift of Buddha, his teaching which awakens the highest capacity in all beings to attain salvation. ** For more information, please see Tứ Tất Đàn in Vietnamese-English Section.
đệ nhứt nghĩa đế
Một trong hai đế, chân lý thâm diệu, tên gọi đối lại với tục đế. Đệ nhứt nghĩa đế còn gọi là chân đế, Thắng nghĩa đế, Niết bàn, chân như, thực tướng, trung đạo, pháp giới, chân không, vân vân (theo Đại Thừa Nghĩa Chương, đệ nhứt nghĩa đế còn gọi là chân đế, đối lại với tục đế hay vọng đế)—One of the two truths, the highest truth, the supreme truth or reality, the ultimate meaning, the paramount truth in contrast with the seeming; also called Veritable truth, sage-truth, surpassing truth, nirvana, bhutatathata, madhya, sunyata, etc.
đệ nhứt thức
tên khác của A Lại Da Thức (thức thứ nhứt trong tám thức tính về tầm quan trọng hay từ gốc lên ngọn)—The first vijnana, another name for Alaya-vijnana—See A Lại Da Thức.
đệ nhứt thừa
Tên khác của Đại Thừa (theo Kinh Hoa nghiêm, đệ Nhứt Thừa hay Đại Thừa, hay Thắng Thừa vượt trên Nhị Thừa của hàng Thanh Văn, Duyên Giác, vì đây là Tối Thượng Thừa làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh)—The supreme vehicle—Another name for Mahayana.
đệ nhứt tịch diệt
Chân lý tối thượng, niết bàn—The supreme reality, nirvana.
Đệ tam kết tập 第三結集
[ja]ダイサンケケツジュウ daisan ketsujū ||| The Third Buddhist Council. (1) Said to have been held in Pāṭaliputra 波吒釐 about 250 years after the passing of Śākyamuni. Some scholars have doubts about the historicity of this event, but Prebish tends to accept the fact that it at least took place (see Encyclopedia of Religion, vol 4, p. 121). A monk from Pāṭaliputra, Mahādeva, questioned the notion of the absolute perfection of the arhat, pointing out the fact that he can have nocturnal emissions, that he is not yet free from ignorance, and that he still has room for progress on the path to enlightenment. Differing views on these points led to division of the monks into two camps. The council, which was intended to reconcile these differences, could only confirm the division. Those who affirmed these points, and who believed themselves to be in the majority, called themselves Mahāsāṃghikas (Great Community 大衆部). Their opponents, represented by the "elders," who were distinguished by outstanding wisdom and virtue, called themselves Sthavira 上座部. (2) The Pali school of Sri Lanka does not recognize this council. For them third council refers to the so-called synod of the Pali school of Pāṭaliputra that took place around 244 B.C.E., during the reign of King Aśoka 阿育王. The occasion for this council was a conflict between the "authentic" Buddhist monks and those who insisted that the sangha be allowed to enjoy certain privileges. At the urging of Aśoka, Moggaliputta Tissa convoked the synod, in which those monks who rejected his position were excluded from the sangha. In his work Kathavatthu 論事, which is included in the Abhidharma of the Theravada school, he refuted the heretical views. At this synod also, the entire canon was read out. Prebish also considers that this was definitely an historical event. => 1. Được cử hành ở Ba-tra-lỵ (Pāṭaliputra 波吒釐) vào khoảng chừng 250 năm sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết-bàn. Nhiều học giả còn tồn nghi về sự kiện lịch sử nầy, nhưng Prebish có xu hướng công nhận sự kiện nầy đã xảy ra ( Xem Encyclopedia of Religion, vol 4, p. 121). Một vị tăng của thành Hoa Thị (Pāṭaliputra) tên là Đại Thiên (Mahādeva), đã hỏi về ý niệm viên mãn tuyệt đối của A-la-hán, chỉ ra thực tế rằng ông ta vẫn còn xuất tinh ban đêm, vẫn chưa hết sạch hẳn vô minh, vẫn còn nhiều vấn đề trên tiến trình giác ngộ giải thoát. Những quan điểm khác nhau về vấn đề nầy dẫn đến sự phân chia chư tăng thành hai phái. Hội nghị, dự định để kết tập lại những ý kiến bất đồng nầy, thành ra chỉ xác nhận sự phân chia. Những ai khẳng định những quan điểm trên của Đại Thiên là đúng, và cho rằng họ thuộc về đại đa số, tự gọi mình là Đại chúng bộ (s: Mahāsāṃghikas; s: Great Community 大衆部). Phái kia, đại biểu bởi những 'trưởng lão', có trí tuệ và đức hạnh ưu tú, tự gọi mình là Thượng toạ bộ (s: Sthavira 上座部). 2. Các trường phái thuộc hệ kinh văn Pali ở Sri Lanka không công nhận hội nghị kết tập nầy. Đối với họ, hội nghị kết tập lần thứ ba có liên quan đến cái gọi là hội nghị tôn giáo của các trường phái thuộc hệ kinh văn Pali diễn ra ở Pāṭaliputra vào khoảng năm 244 trước Công nguyên, vào thời A Dục vương (King Aśoka 阿育王). Nguyên do của hội nghị nầy là sự mâu thuẫn giữa những vị tăng 'nghiêm túc' và những người đòi hỏi tăng đoàn phải thừa nhận cho họ được hưởng những quyền lợi riêng tư. Với sự thúc dục của A Dục vương, ngài Mục-kiền-liên-tử Đế-tu (Moggaliputta Tissa ) triệu tập hội nghị. Trong đó, các vị tăng từ bỏ quan điểm của mình đều bị tẩn xuất khỏi tăng đoàn. Trong tác phẩm Luận sự (Kathavatthu 論事), nằm trong kinh văn A-tỳ-đạt-ma của Thượng toạ bộ, Mục-kiền-liên-tử Đế-tu đã bác bỏ những luận điểm của ngoại đạo. Cũng trong hội nghị này, toàn bộ tam tạng đã được trùng tuyên lại. Prebish cũng xem đây dứt khoát là một sự kiện lịch sử.
Đệ tam niệm xứ
xem Ba chỗ niệm.
đệ tam năng biến
The third power of change, i.e. the sixth senses. Năng biến nghĩa giống như thức vijnànas.
; Khả năng biến hiện theo cảnh bên ngoài của lục thức, còn gọi là lục thức—The third power of change, i.e. the six senses or vijnana. ** For more information, please see Lục Thức.
đệ tam phần
4763<一>為「四分」之一。即唯識宗所說之心、心所法四種認識作用中之自證分。心、心所法之認識作用分為相分、見分、自證分、證自證分四種,自證分為識之自體,具有證知見分及證自證分之作用。(參閱「四分」1663) <二>為佛陀所捨棄之歲壽。據大集月藏經卷十法滅盡品載,佛陀出世於人壽百歲之時,以佛陀之果報勝於世人而言,壽命原本可至百二十歲,但為悲愍眾生,使能分其福分,乃捨壽第三分之四十歲,而於八十歲時入滅。
; (第三分) I. Đệ Tam Phần. Chỉ cho tự chứng phần trong 4 loại tác dụng nhận thức của Tâm, Tâm sở hữu pháp do tông Duy thức đề xướng. Một trong Tứ phần. Tác dụng nhận thức của Tâm và Tâm sở pháp được chia làm 4 loại là: Tướng phần, Kiến phần, Tự chứng phần, Chứng tự chứng phần. Trong đó, Tự chứng phần là tự thể của thức, có đầy đủ tác dụng chứng biết Kiến phần và Chứng tự chứng phần. II. Đệ Tam Phần. Tuổi thọ mà đức Phật xả bỏ. Cứ theo phẩm Pháp diệt tận trong kinh Đại tập nguyệt tạng, quyển 10 nói, thì khi đức Phật ra đời lúc đó con người thọ 100 tuổi, vì quả báo của đức Phật hơn người đời, nên tuổi thọ của Ngài vốn có thể lên đến 120 tuổi, nhưng vì thương xót chúng sinh, Phật chia phần phúc báo đó cho họ, nên Ngài bỏ bớt 40 năm tuổi thọ của phần thứ 3 mà nhập Niết bàn lúc 80 tuổi.
đệ tam thiền
xem cảnh thiền thứ ba.
; 4763梵語 tṛtīya dhyāna,巴利語 tatiya-jjhāna。新譯作第三靜慮。為四禪之第三。具有行捨、正念、正慧(又作正知)、受樂、心一境性等五支。於此禪定中,已離脫二禪之喜樂,住於正念正知,進一步欣求更高境界的勝法而精進修習;因已遠離二禪定之喜樂,然猶存有自地之妙樂,故稱「離喜妙樂」。又於此禪定中,可對治第二禪定之貪、喜、踊躍、定下劣性等四種修道之障難。修習此禪定,可得生於第三禪天之果報,此天屬色界四禪天之第三。於色界十八天中,包括少淨、無量淨、遍淨三天,即:(一)少淨天,此天天眾以感受意地之樂,故謂之「淨」;然其樂受於第三禪天中最少,故謂之「少」。(二)無量淨天,此天天眾之樂受漸次轉增,難以測量,故稱無量淨。(三)遍淨天,此天天眾之樂受最為殊勝,且普周遍滿,故稱遍淨。此外,有關第三禪諸天之依處、身量及壽量等之果報,詳載於長阿含卷二十世記經、大毘婆沙論卷一三六、俱舍論卷十一、立世阿毘曇論卷三、卷七等中。又如上記所述,此天天眾以遠離二禪之喜受而住於三禪之樂受,故此天又稱為「離喜妙樂地」。又於壞劫時,第三禪天以下遭受風災之吹毀。〔長阿含卷八眾集經、俱舍論卷二十八、顯揚聖教論卷二、卷十九〕(參閱「四禪」1843、「四禪天」1846)
; The third dhyàna, a degree of contemplation in which ectasy gives way to serenity.
; Cõi thiền thứ ba trong tứ thiền thiên của cõi Sắc giới (trong đó có 3 cõi trời là Thiểu Tịnh, Vô Lượng, và Biến Tịnh)—The third dhyana, a degree of contemplation in which ecstasy gives way to serenity; also a state, or heaven, corresponding to this degree of contemplation, including the third three of the rupa heavens (minor purity, infinite purity, and universal purity heavens). ** For more information, please see Tứ Thiền Thiên in Vietnamese-English Section.
; (第三禪) Phạm: Tftìya-dhyàna, Pàli: Tatiyajjhàna. Tân dịch: Đệ tam tĩnh lự. Thiền thứ 3 trong Tứ thiền, gồm có 5 tính cách: Hành xả, Chính niệm, Chính tuệ (Chính tri), Thụ lạc và Tâm nhất cảnh tính. Ở trong thiền định này, hành giả đã thoát li hỉ lạc của Nhị thiền, trụ nơi chính niệm chính tri, rồi tinh tiến tu tập để đạt đến cảnh giới cao hơn. Mặc dầu đã xa lìa hỉ lạc của Nhị thiền, nhưng vẫn còn có cảm giác diệu lạc ở cảnh giới của mình, cho nên gọi là Li hỉ diệu lạc. Ở trong định này, hành giả có thể đối trị được 4 loại chướng nạn của sự tu đạo ở Nhị thiền là: Tham, hỉ, dũng dược và định hạ liệt tính. Tu tập định này, hành giả có thể được quả báo sinh lên cõi trời Tam thiền. Cõi này gồm 3 tầng trời thuộc trong 18 tầng trời của cõi Sắc là: 1. Thiểu tịnh thiên: Chư thiên cõi này cảm nhận niềm vui thanh tịnh ít nhất trong cõi trời Tam thiền nên gọi là Thiểu tịnh thiên. 2. Vô lượng tịnh thiên: Sự cảm nhận niềm vui thanh tịnh của chư thiên cõi trời này dần dần tăng thêm đến mức không thể đo lường được, cho nên gọi là Vô lượng tịnh thiên. 3. Biến tịnh thiên: Chư thiên cõi này cảm nhận niềm vui thanh tịnh thù thắng nhất và tràn lan khắp, nên gọi là Biến tịnh. Ngoài ra, kinh Thế kí trong Trường a hàm quyển 20, luận Đại tì bà sa quyển 136, luận Câu xá quyển 11, luận Lập thế a tì đàm quyển 3, quyển 7... đều có nói rõ quả báo về chỗ ở, về thân lượng và thọ lượng của các vị trời Tam thiền. Lại nữa, như trên đã nói, vì các vị trời cõi này đã xa lìa hỉ thụ mà trụ nơi lạc thụ của Tam thiền nên cõi này cũng được gọi là Li hỉ diệu lạc địa. Và, vào thời kiếp hoại, cõi trời Đệ tam thiền trở xuống sẽ bị đại phong tai phá hủy. [X. kinh Chúng tập trong Trường a hàm Q.8; luận Câu xá Q.28; luận Hiển dương thánh giáo Q.2; Q.19]. (xt. Tứ Thiền Thiên).
Đệ tam thủ 第三手
[ja] ダイサンシュ daisanshu ||| A third hand, something impossible or superfluous. This metaphor is seen in many Abhidharma texts, such as T 1546, along with similar tropes, such as "second head," 第二等 "sixth skandha," 第六陰 etc. 〔二障義HPC 1.814a〕 => Bàn tay thứ ba, chỉ cho điều gì không thể có hoặc không cần thiết. Ẩn dụ nầy thấy trong nhiều kinh văn A-tỳ-đạt-ma, như trong T 1546, nhóm từ cùng ý nghĩa trên là 'cái đầu thứ hai'; 'ấm thứ sáu' v.v...
Đệ tam tâm 第三心
[ja] ダイサンシン daisanshin ||| The third of three progressive contemplations of emptiness. The first two are observances of emptiness of self and elements [dharmas]; the third mind is the observation of both simultaneously. Also see 三心 〔瑜伽論 T 1579.30.605c19-24; 二障義 HPC 1.803a6-9〕. => Tiến trình thứ ba trong ba giai đoạn quán chiếu tính không. Hai tâm đầu là Quán ngã không và quán pháp không. tâm thứ ba là quán ngã pháp đều không. Xem Tam tâm 三心.
đệ tam địa bồ tát
The Third Ground Bodhisattva.
Đệ thất thức 第七識
[ja] ダイシチシキ daishichishiki ||| The seventh (manas) consciousness in the doctrine of the Consciousness-only school. See 末那識. => Thức thứ bảy (Mạt-na thức; s: manas) theo giáo lý Duy thức. Xem Mạt-na thức 末那識.
đệ thất tiên
4760為釋迦如來的別號之一。釋迦為過去七佛之第七,又以具長生不老之德,故稱第七仙。八十華嚴經卷十二(大一○‧五八下):「如來於此四天下中,或名一切義成,或名圓滿月,或名師子吼,或名釋迦牟尼,或名第七仙。」〔增一阿含經卷一〕
; Vị Tiên thứ bảy trong bảy vị Tiên, tên khác của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (vị Phật thứ bảy trong bảy vị cổ Phật)—The seventh “immortal,” the last of the seven Buddhas, sakyamuni.
; (第七仙) Vị tiên thứ 7. Một trong những biệt hiệu của Phật Thích ca. Đức Thích ca là vị Phật thứ 7 trong 7 đức Phật quá khứ. Vì Ngài có đức sống lâu không già nên được tọi là Đệ thất tiên. Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển 12 (Đại 10, 58 hạ), nói: Đức Như lai ở trong 4 thiên hạ hoặc được gọi là Nhất thiết thành, là Viên mãn nguyệt, là Sư tử hống, là Thích ca mâu ni, là Đệ thất tiên. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q,1].
đệ thất tình
Cái căn thứ bảy, tức là cái không có (vì chỉ có sáu căn mà thôi). Cách nói nầy cũng giống như nói 13 nhập hay 19 giới (trong khi trên thực tế chỉ có 12 nhập và 18 giới mà thôi)—A seventh sense, non-existent, like a thirteenth base of perception, or a nineteenth dhatu.
đệ thập bát nguyện
4762即阿彌陀佛所發四十八願中之第十八願。為四十八願中之最重要者,故又稱王本願。其內容以念佛往生為主,眾生修習念佛以求往生淨土,即依此願,故又稱念佛往生願。無量壽經卷上(大一二‧二六八上):「設我得佛,十方眾生至心信樂,欲生我國,乃至十念;若不生者,不取正覺。唯除五逆、誹謗正法。」(參閱「本願」1976、「念佛往生願」3212)
; Nguyện thứ 48 trong 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà, nguyện cứu độ hết thảy chúng sanh—The eighteenth of Amitabha's forty-eight vows, the one vowing salvation to all believers. ** For more information, please see Tứ Thập Bát Nguyện.
; (第十八願) Cũng gọi Vương bản nguyện. Nguyện thứ 18, là nguyện trọng yếu nhất trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Nội dung lấy việc niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh độ làm chính, vì vậy cũng gọi là Niệm Phật vãng sinh nguyện. KinhVô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng), nói: Khi ta thành Phật, chúng sinh trong 10 phương muốn sinh về cõi nước của ta, dốc lòng tin tưởng, ít nhất niệm đủ 10 niệm, nếu không được vãng sinh thì ta không ở ngôi vị Chính giác. Chỉ trừ kẻ phạm tội ngũ nghịch và phỉ báng chính pháp. (xt. Bản Nguyện, Niệm Phật Vãng Sinh Nguyện).
đệ thập lục vương tử
4763為釋尊過去世前身之一。於過去三千塵點劫之時,演說法華經之大通智勝佛未出家前為國王,有十六王子,父王成道後,諸子皆隨從出家學道,聞法華經歡喜信受,亦各自昇法座演說此經,後盡成佛,於十方國土說法度生。其第十六王子即於娑婆世界成正等正覺之釋尊。釋尊成佛後亦常教化過去大通智勝佛之諸王子所化之眾生。〔法華經卷三化城喻品〕
; (第十六王子) Vị vương tử thứ 16, là tiền thân của đức Phật Thích ca. Vào thời quá khứ vô lượng vô biên vô số kiếp, có đức Phật Đại thông trí thắng giảng thuyết kinh Pháp hoa. Khi chưa xuất gia, Ngài là một vị quốc vương có 16 người con. Sau khi vua cha thành Phật Đại thông trí thắng, các người con đều theo cha xuất gia học đạo, nghe kinh Pháp hoa, hoan hỉ tín thụ; mỗi người con cũng giảng nói kinh này. Về sau, tất cả đều thành Phật, ở trong 10 phương cõi nước thuyết pháp độ sinh. Vị vương tử thứ 16 tức là đức Thích tôn thành bậc Chính đẳng chính giác ở thế giới Sa bà. Sau khi đức Thích tôn thành Phật, Ngài cũng thường giáo hóa các chúng sinh mà đã được các Vương tử của đức Phật Đại thông trí thắng giáo hóa ở thời quá khứ. [X. phẩm Hóa thành dụ trong kinh Pháp hoa Q.3].
đệ tứ bát giới trai pháp
chỉ pháp tu Bát quan trai, hay Bát trai giới, tức là thọ trì Tám giới. Ngoài ra, người thọ giới còn phải giữ không ăn quá giờ ngọ, nghĩa là chỉ ăn một lần trong ngày vào trước giờ ngọ (giữa trưa). Người thọ Bát quan trai thường là trong một khoảng thời gian một ngày một đêm, từ lúc được truyền giới cho đến lúc xả giới. Rất nhiều chùa hiện nay có tổ chức việc tu tập Bát quan trai giới mỗi tháng một hoặc hai lần, nhưng thường không trọn một ngày một đêm mà chỉ giới hạn trong một ngày thôi. Sở dĩ gọi là “đệ tứ bát giới trai pháp” vì giới luật có hai hình thức là tận hình thọ (thọ giới suốt đời) và nhật dạ thọ (thọ giới trong thời gian một ngày một đêm); giới tận hình thọ có Ngũ giới, Thập giới và Cụ túc giới là 3 loại, nên giới nhật dạ thọ là Bát giới được xem là thứ tư.
Đệ tứ kết tập 第四結集
[ja]ダイシケチシュウ daishi ketsujū ||| The Fourth Buddhist Council, held in Kaśmīra 迦濕彌羅國 during the first century BCE. This council seems to have been the conference of a particular school, the Sarvāstivādins 説一切有部, rather than a general council. It is thought to have been initiated from the interests of the Buddhist king Kaniṣka 迦膩色迦王, for the purpose of clarifying the Sarvāstivādin Abhidharma. Following the suggestion of the Sarvāstivādin scholar Pārśva 脅尊者, invitations were sent to all the learned Buddhists of the time, from whom 499 were finally chosen to attend the conference. Great debates were held on various aspects of Buddhist doctrine, and especially on the Abhidharma. The conference chairperson was Vasumitra 世友 (said to be assisted by Aśvaghoṣa 馬鳴), who is said to have supervised the writing of the Mahāvibhāṣā, a commentary on the Abhidharma. => Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ hai được cử hành ở nước Ca-thấp-di-la (Kaśmīra 迦濕彌羅國 ) vào thế kỷ thứ I tcn. Hội nghị nầy như thể là hội nghị riêng của một bộ phái, đó là Thuyết Nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivādins 説一切有部) hơn là của toàn thể tăng chúng thuộc các bộ phái. Xuất phát từ sự quan tâm của vua Ca-nị-sắc-ca (s: Kaniṣka 迦膩色迦王), với mục đích là gạn lọc cho trong sáng thêm A-tỳ-đạt-ma của Thuyết Nhất thiết hữu bộ. Theo đề nghị của Học giả Trưởng lão Nhất thiết hữu bộ Hiếp Tôn giả (s: Pārśva 脅尊者),ặp triệu thỉnh được gởi đến các học giả Phật giáo đương thời, tất cả có 499 vị được chọn để dự hội nghị. Những cuộc thảo luận lớn về nhiều phương diện khác nhau của giáo lý Phật giáo được mở ra, nhất là về A-tỳ-đạt-ma. Thượng thủ của hiịu nghị là Thế Hữu (s: Vasumitra 世友) (được biết còn có sự tham gia của ngài Mã Minh, s: Aśvaghoṣa 馬鳴), là vị đã giám sát để viết Đại Tỳ-bà-sa luận, là bộ luận giải về A-tỳ-đạt-ma.
đệ tứ thiên
Một tên khác của cõi trời Đâu Suất, cõi trời thứ tư trong sáu cõi trời dục giới—Another name for Tusita, which was regarded as the fourth of the six heavens in the world of desire. ** For more information, please see Tusita in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Đâu Suất in Vietnamese-English Section.
đệ tứ thiền
4764梵語 caturtha-dhyāna,巴利語 catuttha-jhāna。新譯作第四靜慮。為四禪之第四。據大乘阿毘達磨雜集論卷九載,此禪定具有捨清淨、念清淨、不苦不樂受、心一境性等四支。於此禪定,離脫第三禪定之妙樂,故稱「捨清淨」;僅憶念修養功德,故稱「念清淨」;由此之故,住於不苦不樂之感受中。又於此禪定中,可對治出入息、第三禪定之貪、樂、樂作意、定下劣性等五種修道之障難。修習此禪定,可得生於第四禪天之果報,此天屬色界四禪天之最高處。其中有無雲、福生、廣果、無煩、無熱、善現、善見、色究竟等八天,即:(一)無雲天,此天位於雲層密合處之上,故自此天開始,雲地輕薄,猶如星散。(二)福生天,具有異生凡夫之勝福,方得往生此天。(三)廣果天,於色界諸天中,此天乃異生凡夫所往生最為殊勝之處。(四)無煩天,於此天中,無有繁雜紛亂之事物或現象。又以此天天眾不求趣入無色界之故,此天又稱為無求天。(五)無熱天,此天之人已能伏除上中品之障,意樂調柔,離諸熱惱,故稱無熱。(六)善現天,此天之人已得雜修善品之定,以果德彰現之故,稱為善現。(七)善見天,此天之人已離修定之障,至微細之餘品中,凡有所見,皆極清澈,故稱善見。(八)色究竟天,此天已到眾苦所依身之最後邊,亦即有色天中之最後,過此天則為無色界。此外,有關第四禪諸天之依處、身量及壽量等之果報,詳載於長阿含經卷二十、大毘婆沙論卷一三六、俱舍論卷十一、立世阿毘曇論卷三、卷七等中。又如上記所述,第四禪天天眾已脫離第三禪天之妙樂而僅憶念修養功德,故此天又稱為「捨念清淨地」。又此第四禪天於劫末之時,不受火、水、風之三災。〔俱舍論卷八、阿毘達磨順正理論卷二十一、大智度論卷七〕(參閱「四禪」1843、「四禪天」1846)
; The fourth dhyàna, a degree of contemplation when the mind becomes indifferent to pleasure and pain.
; Cõi thiền thứ tư trong tứ thiền thiên của cõi Sắc giới, còn gọi là đệ tứ tĩnh lự hay chốn lắng suy thứ tư. Đây là cảnh giới cao nhất—The fourth dhyana, a degree of contemplation when the mind becomes indifferent to pleasure and pain; also the last eight rupa heavens. ** For more information, please see Tứ Thiền Thiên in Vietnamese-English Section.
; (第四禪) Phạm: Caturtha-dhyàna, Pàli: Cattutha-jhàna. Tân dịch: Đệ tứ Tĩnh lực. Thiền thứ 4 trong 4 thiền. Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 9 nói, thì Thiền này gồm có 4 tính cách: Xả thanh tịnh, Niệm thanh tịnh, Bất khổ bất lạc thụ và Tâm nhất cảnh tính. Ở trong định này, hành giả đã thoát li diệu lạc của Tam thiền nên gọi là Xả thanh tịnh; chỉ còn nhớ nghĩ đến công đức tu dưỡng, nên gọi là Niệm thanh tịnh, do đó, hành giả an trụ nơi cảm thụ không khổ không vui. Ở trong định này, hành giả có thể đối trị được 5 chướng nạn của việc tu đạo là hơi thở ra vào, tham, lạc, lạc tác ý và Định hạ liệt tính của Đệ tam thiền định. Tu tập định này được quả báo sinh lên cõi Tứ thiền. Cõi này gồm có 8 tầng trời: 1. Vô vân thiên: Tầng trời này ở trên chỗ các tầng mây dày đặc, cho nên bắt đầu từ đây, chỉ có những làn mây mỏng như ánh sao. 2. Phúc sinh thiên: Kẻ phàm phu phải có phúc đức thù thắng mới được sinh lên tầng trời này. 3. Quảng quả thiên: Nơi thù thắng nhất trong các tầng trời cõi Sắc mà phàm phu được sinh đến. 4. Vô phiền thiên: Ở tầng trời này không có những sự vật hoặc hiện tượng tạp nhạp lộn xộn gây ra buồn phiền. Lại vì chúng sinh ở đây không cầu sinh vào cõi Vô sắc nên còn gọi là Vô cầu thiên. 5. Vô nhiệt thiên: Người ở tầng trời này đã diệt hết các hoặc chướng thượng, trung phẩm, tâm ý nhu hòa, không còn nhiệt não nên gọi là Vô nhiệt thiên. 6. Thiện hiện thiên: Người ở tầng trời này đã được định tu các thiện phẩm, quả đức hiện rõ nên gọi là Thiện hiện. 7. Thiện kiến thiên: Người ở tầng trời này đã lìa các chướng tu định, những chỗ trông thấy đều rất rõ suốt nên gọi là Thiện kiến. 8. Sắc cứu kính thiên: Đây là tầng trời sau cùng trong các cõi còn có hình sắc, bên trên tầng trời này là cõi Vô sắc. Tất cả 8 tầng trời trên đây đều ở trong đệ tứ Thiền thuộc cõi Sắc. Ngoài ra, kinh Trường a hàm quyển 20, luận Đại tì bà sa quyển 136, luận Câu xá quyển 11, luận Lập thế a tì đàm quyển 3, quyển 7 v.v... đều có nói rõ về quả báo chỗ ở, thân lượng và thọ lượng của các vị trời Đệ tứ thiền. Sau hết, như đã được trình bày ở trên, các vị trời Tứ thiền đã thoát li cảm thụ diệu lạc của Tam thiền chỉ còn nhớ nghĩ công đức tu dưỡng thôi, cho nên Tứ thiền còn được gọi là Xả niệm thanh tịnh địa và đến mạt kiếp sẽ không bị hỏa tai, đại hồng thủy và bão tố phá hủy. [X. luận Câu xá Q.8; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.21; luận Đại trí độ Q.7]. (xt. Tứ Thiền, Tứ Thiền Thiên).
đệ tử
2884梵語 śiṣya 或 antevāsin,巴利語 sissa 或 antevāsika。音譯室灑。意譯所教。即從師受教者。佛陀在世時之聲聞等,乃至佛陀入滅後之比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷等,皆稱為佛弟子。「弟子」之語義,據慧遠維摩經義記卷二本載,學於佛陀之後,故稱弟;聞佛法之教化而生解,故稱子。就佛而言,聲聞、菩薩雖皆為弟子,但因聲聞人之形儀最親順於佛,故特稱為弟子。 蓋經典中「弟子」一語,多由梵語 śiṣya 譯來,但亦有將聲聞等譯作弟子者。如阿彌陀經中所說之聲聞弟子,梵文作聲聞僧(śrāvaka saṃgha);又鳩摩羅什所譯之法華經中,其譯作弟子處,在梵文法華經中,或為 śiṣya(所教之義),或為 antevāsin(側住之義),或作 bhikṣu(意譯比丘)、śrāvaka(意譯聲聞)。此外,一般稱門人為門弟、徒弟;附法之弟子稱附弟;本師示寂後之遺法弟子稱遺弟;授戒之弟子稱戒弟、戒子、戒徒;同門中,年長者稱法兄,年幼者則稱法弟。〔中阿含卷十一頻鞞娑羅王迎佛經、長阿含卷一大本經、法華經卷一方便品、過去現在因果經卷四、大智度論卷十、卷三十八、四分律刪繁補闕行事鈔卷上、維摩經義疏卷三、大唐西域求法高僧傳卷上玄會法師條〕
; Disciple.
; Disciples.
; (弟子) Phạm: Ziwya hoặc Antevàsin; Pàli: Sissa hoặc Antevàsika. Hán âm: Thất sái, Hán dịch: Sở giáo. Người theo thầy học đạo. Tức là từ các vị Thanh văn thời đức Phật còn tại thế cho đến các hàng tỉ khưu, tỉ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di v.v... sau khi đức Phật nhập diệt đều gọi là đệ tử. Về ý nghĩa của danh từ Đệ tử, theo Duy ma kinh nghĩa kí quyển 2 phần đầu của ngài Tuệ viễn, thì theo học với Phật nên gọi là Đệ, nghe lời Phật dạy mà sinh hiểu biết nên gọi là Tử. Đối với đức Phật thì Thanh văn, Bồ tát tuy đều là đệ tử, nhưng vì hình tướng và uy nghi của hàng Thanh văn rất giống đức Phật, vả lại, thường gần gũi Ngài, nên đặc biệt được gọi là đệ tử. Danh từ Đệ tử trong các kinh điển phần nhiều được dịch từ tiếng Phạm Ziwya, nhưng cũng có chỗ Thanh văn, được dịch là Đệ tử. Nhưng đệ tử Thanh văn nói trong kinh A di đà thì tiếng Phạm là Sràvaka saôgha (Thanh văn tăng). Còn trong kinh Pháp hoa thì ngài Cưu ma la thập dịch là Đệ tử xứ; trong kinh Pháp hoa bản tiếng Phạm thì hoặc là ziwya (dịch nghĩa: Sở giáo), hoặc là antevàsin (dịch nghĩa: đứng bên cạnh), hoặc làbhikwu (dịch âm: tỉ khưu), hoặc là zràvaka (dịch ý: Thanh văn). Ngoài ra, môn nhân thường gọi là Môn đệ, Đồ đệ; đệ tử nối pháp sau khi thầy tổ thị tịch, gọi là Di đệ; đệ tử thụ giới gọi là Giới đệ, Giới tử, Giới đồ; trong cùng sơn môn, người lớn tuổi tu trước gọi là Pháp huynh, người nhỏ tuổi tu sau gọi là Pháp đệ. [X. kinh Tần tì sa la vương nghinh Phật trong Trung a hàm Q.11; kinh Đại bản trong Trường a hàm Q.1; phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa Q.1; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.4; luận Đại trí độ Q.10, Q.38; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng; Duy ma kinh nghĩa sớ Q.3; điều Huyền hội pháp sư trong Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng].
đệ tử cuối cùng của phật
Tu Bạt Đà La, vị đệ tử cuối cùng của Đức Phật tại thành Câu Thi Na (lúc ấy Tu Bạt La đã trên 100 tuổi)—Subhadra, the Buddha's last disciple in Kusinagara (Subhadra was over 100 years old when he became the Buddha's disciple).
đệ tử vị
2884請參閱 死亡更生經 為「師位」之對稱。密教五種三昧耶中第三之具壇三昧耶受明灌頂等前三者,稱為弟子位;相對於此,第四傳教三昧耶傳法灌頂等後二者,稱為阿闍梨位。(參閱「三摩耶」672)
; (弟子位) Đối lại với Sư vị. Trong quá trình tu hành của Mật giáo, có năm giai đoạn gọi là Năm loại tam muội da, năm loại quán đính. Đó là: 1. Sơ kiến tam muội da. 2. Nhập đổ tam muội da. 3. Cụ đàn tam muội da. 4. Truyền giáo tam muội da. 5. Bí mật tam muội da. Trong năm giai đoạn trên, ba giai đoạn trước gọi là Đệ tử vị, còn hai giai đoạn sau gọi là A xà lê vị (tức là Sư vị). (xt. Tam Ma Da).
Đệ tử 弟子
[ja] デシ deshi ||| A student; a disciple; a follower. => Học trò, môn đệ, môn đồ.
đỉnh
1) Điểm cao nhất: Highest—Summit—Apex—Zenith. 2) Đỉnh đầu: Top of the head—Crown.
đỉnh châu
4841<一>又作髻珠。即頭頂髮髻中之明珠。法華七喻之一。即如立有大功者,王以髻中之明珠賞賜之。比喻法華之甚深祕藏,開顯一乘之妙旨,為佛最高恩寵,如王髻中明珠。〔法華經卷四安樂行品〕(參閱「髻珠喻」6371) <二>佛頭頂之肉髻圓而如珠之相。祖庭事苑卷四(卍續一一三‧四八上):「佛頂珠,即世尊頂圓如珠,常放光明。」
; Tướng cục thịt tròn như viên ngọc trên đỉnh đầu của Đức Phật—The gem in the head-dress, or coiffure; the protubereance on the Buddha' brow.
; (頂珠) I. Đính châu. Cũng gọi Kế châu. Tức là hạt minh châu ở trong búi tóc trên chỏm đầu. Một trong 7 thí dụ trong kinh Pháp hoa. Nghĩa là đối với người lập được công trạng lớn lao, thì nhà vua lấy hạt châu trong búi tóc của mình để ban thưởng cho họ. Ví dụ kho tàng sâu kín của kinh Pháp hoa mở bày diệu pháp Nhất thừa, đó là ân huệ cao nhất mà đức Phật đã ban cho chúng sinh, cũng như viên minh châu trong búi tóc của nhà vua được ban cho vị Đại công thần. [X. phẩm An lạc hạnh trong kinh Pháp hoa Q.4]. (xt. Kế Châu Dụ). II. Đính châu. Tướng nhục kế trên đỉnh đầu của đức Phật tròn sáng như viên ngọc minh châu. Tổ đình sự uyển quyển 4 (Vạn tục 113, 48 thượng), nói: Phật đính châu nghĩa là đỉnh đầu của đức Phật tròn đầy như viên ngọc minh châu, thường phóng ra ánh sáng.
đỉnh hồ sơn chí
5710凡八卷。清朝成鷲撰。收於中國佛寺史志彙刊第一輯。鼎湖山位於廣東高要縣境,爲端州之名山,山深泉美,其巔有湖,四時不絕。峰巒環抱中有慶雲寺,梵宇幽邃,世稱梵修淨土,昔爲曹溪六祖高弟智常禪師隱跡之所。明天啟、崇禎年間(1621~1644),雲頂和尚始行開山,主法於慶雲寺,禪、淨、律三學並行。其後高僧輩出,成爲粵東之名剎。 康熙年間,慶雲寺第六代住持成鷲,始纂山志,前有當世名儒碩學之序凡十一篇。首卷載山中名勝輿圖,次分八卷十四門:總論、星野疆域、山川形勝、殿閣堂寮、創造緣起、新舊沿革、開山主法、繼席宏化、清規軌範、耆碩人物、檀信外護、登臨題詠、藝文碑碣、山事雜志。全書體例嚴謹,爲志書善本,雖名鼎湖山志,實亦慶雲寺之寺志。
đỉnh luân
Vòng bánh xe trên đỉnh tháp, hay đỉnh đầu—A wheel or disc at the top of a temple, or on the head.
đỉnh lễ
4842梵語 śirasā'bhivandate。即兩膝、兩肘及頭著地,以頭頂敬禮,承接所禮者雙足。向佛像行禮,舒二掌過額、承空,以示接佛足。又作頭頂禮敬、頭面禮足、頭面禮。其義同於五體投地、接足禮。及印度最上之敬禮,以我所高者為頂,彼所卑者為足;以我所尊,敬彼所卑者,即禮之極。〔大佛頂首楞嚴經卷六、釋門歸敬儀卷下〕
; To prostrate oneself with the head at the feet of the one reverenced.
; See Đảnh Lễ.
; (頂禮) Phạm: Zirasà ’bhivandate. Cũng gọi Đầu đính lễ kính, Đầu diện lễ túc (đầu mặt lễ chân), Đầu diện lễ. Khi lễ Phật, 2 đầu gối, 2 khuỷu tay và đầu đặt sát đất. Đồng nghĩa với Ngũ thể đầu địa (năm vóc gieo xuống đất), Tiếp túc lễ (lễ nơi chân). Đây là phép kính lễ cao nhất của người Ấn độ. Vì trong thân ta, chỗ cao nhất là đầu, còn chỗ thấp nhất của người mình lễ là chân. Đem chỗ cao nhất của mình mà lễ chỗ thấp nhất của người là bày tỏ lòng quí kính tột độ vậy. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.6; Thích môn qui kính nghi Q.hạ].
đỉnh môn nhãn
4840摩醯首羅天(梵 Maheśvara)具有三眼;其中,頂門豎立一眼,超於常人兩眼,具有以智慧徹照一切事理之特殊眼力,故稱頂門眼。後用來比喻卓越之見解。禪林用語中「頂門有眼」、「頂門具一隻眼」,皆作此意。依碧巖錄第三十五則載,若不是頂門上有眼,肘臂下有符,往往當頭蹉過。
; Trời Ma Hê Thủ La có ba mắt, mắt nằm dọc trên trán được gọi là “đỉnh môn nhãn”—One of the three eyes of Mahesvara, the middle upstanding eye in Mahesvara's forehead.
; (頂門眼) Mắt trên trán. Trời Ma hê thủ la (Phạm: Mahezvara) có 3 mắt, trong đó, con mắt trên trán có thị lực phi thường, có thể thấy rõ suốt tất cả sự lí. Sau nó được dùng để ví dụ sự thấy biết siêu việt. Trong Thiền lâm có các dụng ngữ như Đính môn hữu nhãn (trên trán có mắt), Đính môn cụ nhất chích nhãn (trên trán có một con mắt) v.v... Bích nham lục tắc 35 nói: Nếu trên trán không có mắt, dưới khuỷu tay không có bùa, thì luôn luôn phải đương đầu với lầm lỗi.
Đỉnh pháp
pháp thứ hai của Thanh văn thừa, sau Noãn pháp. Do các căn lành được sanh ra nên gọi là Đỉnh pháp. Pháp này giúp các căn lành được tăng trưởng đầy đủ.
đỉnh pháp
The level of the summit—See Tứ Gia Hạnh (2) (d).
đỉnh quang
4840即佛菩薩頂上之圓光。又稱後光。據大阿彌陀經卷上載,諸佛頂光,不及彌陀頂中光明。〔觀無量壽經〕
; Ánh hào quang trên đỉnh đầu của hình tượng Phật hay Bồ Tát—The halo round the head of an image of a Buddha or a Bodhisattva.
; (頂光) Vòng hào quang trên đầu chư Phật và Bồ tát. Cũng gọi là Hậu quang (vòng hào quang sau lưng). Cứ theo kinh A di đà quyển thượng nói, thì đính quang của chư Phật không sáng bằng đính quang của Phật A di đà. [X. kinh Quán vô lượng thọ].
đỉnh sinh vương
4837頂生,梵名 Mūrdhagata,音譯文陀竭,略稱頂;梵名又作 Māndhātṛ, Mandhātṛ, Māndhāta,音譯曼馱多、摩陀多,略作曼多,意譯我持、持戒、持養、樂養、最勝。乃印度太古之轉輪聖王。據起世經卷十載,頂生王為轉輪王烏逋沙他(梵 Uposatha,齋戒、長淨)之子,由彼頂上之肉皰而生,端正特殊,具三十二相,誕生時,自發聲唱「摩陀多」(梵 māndhāta,持我)。又生後,六萬夫人見之俱生愛念,皆謂我養,故稱持養。及長,具神通,統治四大洲,其壽無量,由後右髀之皰生一童子,稱為髀生。 中阿含卷十一四洲經、長阿含經卷二十二世本緣品、大樓炭經卷六等皆有關於此王之記載。中阿含經卷十一載,王昇三十三天,帝釋曾分半座與王,後王思奪另外半座,忽失如意足,墜閻浮洲,生極重病。其雖得閻浮等四洲,享五欲之樂,然皆不滿足,故取命終。爾時,王即釋尊之前身。彰所知論卷上謂,成劫之初,閻浮提有五王,由初代至靜齋名為成劫之五王,頂生王為第六世,即轉輪王之第一世。大寶積經卷七十六菩薩見實會四轉輪王品則謂,王所住都城為阿踰闍(梵 Ayodhyā)。〔有部毘奈耶藥事卷十一、善見律毘婆沙卷八、大毘婆沙論卷一二○、俱舍論卷八〕
; Murdhaja-raja (skt). 1) Vị thiên vương sanh ra từ vương miện trên đỉnh đầu: The king born from the crown of the head. 2) Tên của vị Chuyển Luân Thánh Vương là tằng tổ của bộ tộc Thích Ca: Name of the first cakravarti ancestors of the Sakya clan. 3) Tên của tiền thân Đức Phật Thích Ca: The name is also applied to a former incarnation of Sakyamuni.
; (頂生王) Đính sinh, Phạm: Mùrdhagata, dịch âm: Văn đà kiệt, gọi tắt: Đính; Màndhàtf, Mandhàtf, Màndhàta, dịch âm: Mạn đà đa, Ma đà đa, gọi tắt: Mạn đa. Hán dịch: Ngã trì, Trì giới, Trì dưỡng, Lạc dưỡng, Tối thắng. Chuyển luân thánh vương thời thái cổ tại Ấn độ. Cứ theo kinh Khởi thế quyển 10 chép, thì Đính sinh vương là con của vua Chuyển luân Ô bô sa tha (Phạm: Uposatha, Trai giới, Trường tịnh), từ trong cục thịt nơi đỉnh đầu của vua cha sinh ra, có 32 tướng đẹp đẽ, vừa sinh ra đã cất tiếng nói Ma đà đa (Phạm: Màndhàta, Trì ngã). Sau đó, 6 vạn phu nhân đều yêu quí và giành nhau nuôi nấng, cho nên gọi là Trì dưỡng. Lớn lên có đủ thần thông, cai trị 4 thiên hạ, sống lâu vô lượng. Cứ theo kinh Trung a hàm quyển 11, thì Đính sinh vương từng lên cõi trời 33, được Đế thích nhường cho nửa tòa ngồi, sau vua nghĩ giành luôn nửa còn lại, liền mất thần túc như ý, rơi xuống châu Diêm phù và lâm bệnh nặng. Tuy vua cai trị bốn thiên hạ, hưởng năm dục lạc, nhưng lòng vẫn không thỏa mãn, nên cuối cùng đã chết. Đính sinh vương thời đó tức là tiền thân của đức Thích tôn. Luận Chương sở tri quyển thượng nói, vào đầu kiếp thành, cõi Diêm phù đề có 5 vị vua, Đính sinh vương là vua thứ 6, tức là Chuyển luân vương đời thứ nhất. [X. Hữu bộ tì nại da Dược sự Q.11; Thiện kiến luận tì bà sa Q.8; luận Đại tì bà sa Q.120; luận Câu xá Q.8].
đỉnh sào
4841指入禪定而身體久不移動,以致鳥誤以為木,築巢於其頂上。觀音玄義記卷三(大三四‧九○九下):「如尚闍梨得第四禪出入息斷,鳥謂為木,於髻生卵。定起欲行,恐鳥母不來,即更入禪。鳥飛方起,是禪滿相。」
; Ngồi tọa thiền sâu đến độ thân thể không động đậy khiến chim chóc đến làm tổ ở trên đỉnh đầu—Contemplation so profound that a bird may build its nest on the individual's head.
; (頂巢) Làm tổ trên đầu. Người vào Thiền định lâu ngày, thân thể bất động, đến nỗi chim chóc tưởng lầm là cái cây rồi làm tổ trên đầu Thiền giả. Quan âm đại nghĩa kí quyển 3 (Đại 34, 909 hạ), nói: Như Thượng xà lê được Thiền định thứ 4 dứt hơi thở ra vào, chim tưởng đó là cái cây, liền làm tổ và đẻ trứng. Khi xà lê ra định muốn đi, nhưng sợ chim mẹ không đến nuôi con, nên lại vào định, khi chim con bay hết mới đứng dậy.
Đỉnh tam-muội
phép tam-muội cao trổi nhất của hàng Bồ Tát Thập địa, thâu nhiếp tất cả các phép tam-muội khác.
đỉnh thiền
4841最高至極之禪。出自大智度論卷十七,天台宗以之為「超越三昧」之異稱。大智度論卷十七(大二五‧一八七中):「諸禪中有頂禪。何以故名頂?有二種,阿羅漢壞法、不壞法。不壞法阿羅漢,於一切深禪定得自在,能起頂禪。得是頂禪,能轉壽為富,轉富為壽。」可知大智度論對禪究極狀態之異名,即稱「頂禪」。智顗之釋禪波羅蜜次第法門卷十言及超越三昧亦載(大四六‧五四八中):「亦名頂禪。於諸禪中最為高極,則能轉壽為福,轉福為壽。故復名佛智三昧。」 另外或以頂禪為大毘婆沙論卷一七八、俱舍論卷二十七、顯揚聖教論卷二所說之「邊際定」,即第四靜慮分為九品,其上上品之定。或謂頂禪為大毘婆沙論卷一六五、俱舍論卷二十八所說之「超定」,即超離有漏、無漏之禪定階次,能自由轉移之定。〔法華玄義復真鈔卷三、法華玄義私記卷四本〕
; (頂禪) Thiền định cao nhất. Có xuất xứ từ luận Đại trí độ quyển 17. Tông Thiên thai thì cho là tên khác của Siêu việt tam muội. Luận Đại trí độ quyển 17 (Đại 25, 187 trung), nói: Trong các Thiền có Đính thiền. Tại sao gọi là đính? Có hai loại: Hoại pháp a la hán và Bất hoại pháp a la hán. Bất hoại pháp a la hán, đối với tất cả Thiền định sâu xa đều được tự tại, có thể khởi Đính thiền. Được Đính thiền thì có thể chuyển sống lâu thành giầu có, chuyển giầu có làm sống lâu. Do đó biết đối với trạng thái Thiền cao tột, luận Đại trí độ gọi bằng một tên khác là Đính thiền. Trong Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 10, khi đề cập đến tam muội siêu việt, ngài Trí khải cũng nói (Đại 46, 548 trung): ... cũng gọi Đình thiền, Thiền cao nhất trong các Thiền. Được thiền này thì có thể chuyển sống lâu làm giầu có, chuyển giầu có làm sống lâu, cho nên gọi là Phật trí tam muội. Ngoài ra, hoặc có thuyết cho Đính thiền tức là định Biên tế được nói trong luận Đại tì bà sa quyển 178, luận Câu xá quyển 27 và luận Hiển dương thánh giáo quyển 2, tức là định Thượng thượng phẩm trong 9 phẩm của Đệ tứ thiền (Tĩnh lự). Hoặc có thuyết cho Đính thiền tức là Siêu định được nói trong luận Đại tì bà sa quyển 165 và luận Câu xá quyển 28, tức là Thiền định vượt ra ngoài thứ bậc hữu lậu, vô lậu mà có thể di chuyển một cách tự do tự tại. [X. Pháp hoa huyền nghĩa phục chân sao Q.3; Pháp hoa huyền nghĩa tư kí Q.4 phần đầu].
đỉnh thạch
4840謂頂上磐石。以速除頂石,比喻生死危急,當速求解脫。心地觀經卷五(大三‧三一三上):「精勤修習,未嘗暫捨,如去頂石,如救頭然。」
; Like a heavy stone on the head, to be got rid of with speed, e.g. transmigration.
; Luân hồi sanh tử được ví như hòn đá nặng để trên đỉnh đầu cần phải loại bỏ càng sớm càng tốt—Like a heavy stone on the head, to be got rid of with speed, e.g. transmigration.
; (頂石) Tảng đá trên đầu. Dùng sự trút bỏ gấp tảng đá đang đè nặng trên đầu để ví dụ sự nguy cấp của sống chết mà mau mau cầu giải thoát. Kinh Tâm địa quán quyển 5 (Đại 3, 313 thượng), nói: Siêng năng tu tập, không chút lơ là, như trừ đính thạch, như cứu đầu cháy.
đỉnh triệt
5711清代曹洞宗僧。號了堂。江南甘泉(位於江蘇)人,俗姓韓,爲韓愈五十三世孫。參謁鼓山道源和尚,得其印可,繼遊圭峰(陝西膥縣東南),研習華嚴。師於洞山之五位宗旨、三玄三要等頗有獨到之見解。世稱鼓山了堂鼎徹。生卒年不詳。
Đỉnh tân
(鼎新): cách tân, đổi mới. Như trong bài Thỉnh Cải Quan Chế Tiền Dự Tuyển Quan Tập Hành Trục Ty Sự Vụ Trát Tử (請改官制前預選官習行逐司事務劄子) của Tằng Củng (曾鞏, 1019-1083) nhà Tống có câu: “Quan hiệu pháp chế, đỉnh tân ư thượng (官號法制、鼎新於上, pháp chế về quan hiệu, đổi mới từ bên trên).” Trong Thanh Châu Bách Vấn (青州百問, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1313) có câu: “Cung duy Thanh Châu Pháp Tổ Đại Sư đề cương chấn lĩnh, đỉnh tân Tào Động chi tông, vận trí hưng bi, di phú nhi tôn chi ấn (恭惟青州法祖大師提綱振領、鼎新曹洞之宗、運智興悲、彌覆兒孫之癊, cúi mong Pháp Tổ Đại Sư ở Thanh Châu đề xướng cương lĩnh, đổi mới Tào Động Tông phong, vận trí tuệ hưng khởi từ bi, che khắp tâm bệnh của con cháu).” Hay trong Nam Tống Nguyên Minh Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (南宋元明禪林僧寶傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1562) quyển 14 cũng có đoạn: “Công tam tọa đạo tràng, điện vũ Thiền phường, hoán nhiên đỉnh tân, biệt kiến Lan Nhã, nhị thập dư sở (公三坐道塲、殿宇禪坊、煥然鼎新、別建蘭若、二十餘所, ông ba lần ngồi đạo tràng, nhà cửa Thiền phòng, đổi mới sáng sủa, dựng thêm ngôi chùa khác, hơn hai mươi chỗ).”
Đỉnh tướng
(Phạn ngữ: sahasrra), gọi đủ là Vô kiến đỉnh tướng (無見頂相). Từ điển Phật Quang gọi tướng này là: Đỉnh tướng vô năng kiến giả (頂相無能見者- Tướng đỉnh đầu không ai có thể thấy được.) Đây là tướng phụ (vẻ đẹp) thứ 66 trong tám mươi tướng phụ của Phật (Bát thập chủng hảo).
đỉnh tướng
4841即頂髻之相。如來頂上有肉髻,一切人天不能得見,故有「無見頂相」之稱。其後轉用為禪宗祖師及先德之肖像畫。多半為半身像,亦有坐於曲彔(佛事時僧侶所坐之圓靠椅)之全身像,另附加讚語。自古即有高祖像,此類圖像較文字、學說更能直接傳達全人格。頂相之流行始自我國,而盛行於日本鎌倉、室町時代。畫面人物多為寫實筆法,間或有自作讚詞,以作付法之信物,而傳予弟子者。〔竺僊和尚天柱集雜著跋頂相朝向所宜條、禪林象器箋靈像門〕
; The protuberance on the Buddha's brow, one of the thirty two marks of a Buddha.
; 1) Cục thịt trên đỉnh đầu Đức Như Lai, còn gọi là vô kiến đỉnh vì hết thảy trời người không thể thấy được, đây một trong 32 tướng hảo của Phật: The protuberance on the Buddha's brow, one of the thirty-two marks of a Buddha. 2) Pho tượng bán thân của một vị tổ trong chùa cũng được gọi là “đỉnh tướng”: An image or portrait of the upper half of the body.
; (頂相) Cũng gọi Đính kế. Trên đỉnh đầu của đức Như lai có nhục kế mà tất cả người và trời đều không trông thấy được, vì thế còn gọi là Vô kiến đính tướng. Về sau, Đính tướng được dùng để chỉ cho bức tranh vẽ hình tượng của các bậc Tổ sư và Tiên đức Thiền tông. Phần nhiều là tượng bán thân, nhưng cũng có khi là tượng toàn thân ngồi trên chiếc ghế dựa tròn và có phụ thêm lời tán. Từ xưa đã có tượng Cao tổ; so với văn tự, học thuyết, thì các bức tranh loại này có khả năng truyền đạt trực tiếp và đầy đủ nhân cách của các Ngài hơn. Đính tướng được lưu hành đầu tiên ở Trung quốc, về sau truyền đến Nhật bản và rất phổ biến vào các thời đại Liêm thương, Thất đinh. Chân dung nhân vật được vẽ theo lối tả thực, đôi khi có vị tự soạn lấy lời tán để làm tín vật phó pháp truyền cho đệ tử. [X. mục Tạp trứ bạt đính tướng triều hướng sở nghi trong Thiên trụ tập của hòa thượng Trúc tiên; Linh tượng môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].
đỉnh vị
4840梵語 mūrdhāna。又作頂法。四善根位之第二。四善根中,煖、頂二者為動善根,有墮惡道之可能,忍、世第一法二者為不動善根,永不墮惡道。頂法介乎煖法、忍法之間,乃煖法善根漸次增長,至成滿之時所生之善根。動善根中,此法最勝,猶如人之頂,故稱頂法。或此位介於進退之間,猶在山頂,故稱頂位。(參閱「四善根位」1767)
; (頂位) Phạm: Mùrdhàna. Cũng gọi Đính pháp. Giai vị thứ 2 trong 4 thiện căn. Trong 4 thiện căn, Noãn, Đính là thiện căn động có thể bị rơi vào đường ác; còn Nhẫn và Thế đệ nhất là thiện căn bất động không bị rơi vào đường ác. Trong thiện căn động thì giai vị này cao hơn hết, cũng như đỉnh đầu người ta, nên cũng gọi là Đính pháp. Hoặc giai vị này ở khoảng giữa tiến và lui, giống như ở đỉnh núi, cho nên gọi là Đính vị. (xt. Tứ Thiện Căn Vị).
đỉnh đoạ
4841自頂位墮落。又作頂退。指聲聞四善根位之中,自第二頂善根位退墮而生於惡道。蓋四善根中之煖、頂二位,為動善根故,若住散亂心,親近惡友,不聽聞正法,或自邪解,則必退失已得之位,而墮惡道。若忍位及世第一法,則以不動善根故,永不退墮於惡道。 然智顗以頂墮解為墮在頂位,不進不退之境地。即在圓教十信位而愛著相似之法,無法進入初住之位,又十信已斷見思之惑,故不退墮。以其不退不進猶如住山頂;或謂已離三界之惑,故稱為頂,於此頂位不進,是為頂墮。 又大般若波羅蜜多經則以菩薩退墮二乘為頂墮,據卷三九五載,由能入菩薩正性離生之故,即住菩薩種姓地中;既住菩薩種姓地中,即能決定不從頂墮;若從頂墮,應墮聲聞或獨覺地。〔大般若波羅蜜多經卷三十六、發智論卷一、大毘婆沙論卷六、大智度論卷八十六、法華經玄義卷九上、止觀輔行傳弘決卷七之四〕
; (頂墮) Từ giai vị Đính rơi xuống. Cũng gọi Đính thoái. Chỉ cho hàng Thanh văn từ giai vị Đính thiện căn tụt xuống mà sinh vào đường ác. Bởi vì, giai vị Noãn và Đính trong bốn thiện căn là thuộc về thiện căn động, cho nên, nếu hành giả trụ nơi tâm tán loạn, lại gần bạn xấu, không nghe chính pháp, hoặc tự mình hiểu sai lạc, thì ắt sẽ tụt khỏi giai vị đã chứng được mà rơi vào đường ác. Còn giai vị Nhẫn và Thế đệ nhất pháp thì thuộc về thiện căn bất động, cho nên vĩnh viễn không bị rơi vào đường ác nữa. Nhưng ngài Trí khải lại giải thích Đính đọa là ở lì nơi giai vị Đính, không tiến, không lui. Tức là hàng Thập tín thuộc Viên giáo đắm trước pháp, không chịu tiến vào giai vị Sơ trụ. Mặt khác, hàng Thập tín đã dứt hết kiến hoặc và tư hoặc nên không bị tụt lùi; không tiến, không lui giống như ở trên đỉnh núi; hoặc có thuyết cho là vì đã xa lìa phiền não trong 3 cõi, cho nên gọi là Đính, ở mãi giai vị Đính này, không chịu tiến lên nữa thì là Đính đọa. Ngoài ra, kinh Đại bát nhã ba la mật đa thì cho rằng Bồ tát tụt xuống hàng Nhị thừa là Đính đọa. [X. kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.36; luận Đại trí độ Q.86; luận Đại tì bà sa Q.6; luận Phát trí Q.1; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.9 phần trên; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.7 phần 4].
đỉnh đái
4842將佛像、經典等乘戴頭頂上,表示極為尊敬之意。與頂禮、頂受等同表尊敬之極。五體中以頭為最尊,為表示尊敬之故,以頭禮戴。觀音菩薩為示禮敬本師阿彌陀佛,故於頭上之寶冠中安置此尊佛像。十二禮(卍續二‧一九五上):「觀音頂戴冠中住,種種妙相寶莊嚴。」般舟讚(大四七‧四五三下):「現見耳聞心內事,尋聲救苦剎那間;天冠化佛高千里,念報慈恩常頂戴。」
; (頂戴) Đội trên đầu. Đội tượng Phật, kinh điển v.v... lên đầu là biểu thị ý tôn kính tột độ. Đầu là phần cao quí nhất trong thân thể, khi đê đầu lạy Phật là bày tỏ niềm trí kính. Để biểu thị lòng tôn kính đức Phật A di đà, bồ tát Quan âm đặt tượng Ngài trong mũ báu mà đội lên đầu. Thập nhị lễ (Vạn tục 2, 195 thượng), ghi: Nơi mũ Quan âm đội trên đầu Vô số tướng báu diệu trang nghiêm. Ban chu tán (Đại 47, 453 hạ), nói: Mắt thấy tai nghe việc trong tâm, Tìm tiếng cứu khổ trong giây lát; Mũ trời Phật hóa cao nghìn dặm, Mong báo ơn từ thường đính đới.
đỉnh, đảnh
Top of the head, crown, summit, apex, zenith; highest; to rise;
địa
Bhùmi (S). Earth, place, situation; spiritual rank, position, or character attained by a Bodhisattva.
; 地; C: dì; J: chi, ji; |Có các nghĩa sau: 1. Đất, quả đất, mặt đất (đặc biệt phản nghĩa với Trời); 2. Một xứ, quốc gia, lãnh thổ; 3. Một địa phương, cảnh tượng, vị trí, địa thế, tư thế; 4. Một trong Thập địa (十地, s: daśabhūmi), công hạnh tu hành của Bồ Tát; 5. Thần đất.
; 1) Prthivi (skt)—The earth—Ground. 2) Bhumi (skt)—Place—Situation.
địa ba la mật
2309即菩薩於「十地」階位所修波羅蜜行之檀、戒、忍辱、精進、禪那、般若、方便、願、力、智等十波羅蜜。凡修行圓滿此地波羅蜜,即證佛果。〔大日經疏卷一〕
; (地波羅蜜) Tức là mười hạnh ba la mật của Bồ tát Thập địa tu hành: Bố thí, giữ giới, nhịn nhục, tinh tiến, thiền định, bát nhã, phương tiện, nguyện, lực, trí. Tu hành viên mãn Địa ba la mật này thì chứng quả Phật. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].
địa bà ha la
2309(613~687)梵名 Divākara。意譯日照。唐代譯經僧。中印度人,婆羅門種。幼年出家,居於摩訶菩提寺、那蘭陀寺。風儀溫雅,神機朗俊,通達三藏,博曉五明,尤精於咒術。知悉玄奘已學成歸國,遂有遠遊之志,於唐高宗儀鳳(676~678)初年入長安,時年六十餘。永隆元年(680),帝敕令依準玄奘之例,安置別院,命「十大德」助師,於兩京之東西太原寺及西京弘福寺從事譯經,自永隆元年至垂拱元年(685),六年間共譯出大乘顯識經等凡十八部三十四卷。睿宗文明元年(684),法藏參謁師於西太原寺,得華嚴經入法界品之文,以補華嚴經之闕。師恆思報答母恩,欲還本土,屢次上表請辭,終得敕許,惜以罹疾,示寂於垂拱三年,遂不得歸,世壽七十五。武后敕葬於洛陽龍門香山寺。〔宋高僧傳卷二、開元釋教錄卷九、貞元新定釋教目錄卷十二、佛頂最勝陀羅尼經序(彥悰)〕
; Divakara (skt)—Tên của một nhà sư người miền Trung Ấn (vào khoảng 676-688 sau tây Lịch). Người Trung Hoa gọi là sư Nhật Chiếu—Name of an Indian monk (sramana) from central India (676-688 A.D.). The Chinese call him Jih-Zhao.
; (地婆呵羅) (613 - 687) Phạm: Divàkara. Hán dịch: Nhật chiếu. Vị tăng dịch kinh ở đời Đường, người Trung Ấn độ, dòng Bà la môn. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, từng ở các chùa Ma ha bồ đề, Na lan đà. Tính người hòa nhã, thần khí rạng rỡ, học thông ba tạng, am tường Ngũ minh, đặc biệt giỏi chú thuật. Biết tin ngài Huyền trang học xong đã trở về Trung quốc, sư bèn có chí viễn du. Vào đầu năm Nghi phụng (676 - 678) đời vua Cao tông nhà Đường, sư đến kinh đô Trường an, lúc đó sư đã được hơn 60 tuổi. Niên hiệu Vĩnh long năm đầu (680), vua ban chiếu chỉ thỉnh sư ở Biệt viện và mời 10 vị Đại đức giúp sư dịch kinh ở chùa Thái nguyên tại Đông kinh và ở chùa Hoằng phúc tại Tây kinh. Từ niên hiệu Vĩnh long năm đầu (680) đến niên hiệu Thùy củng năm đầu (685), trong khoảng 6 năm, sư và 10 vị Đại đức cùng dịch được các kinh như Đại thừa hiển thức v.v... gồm 18 bộ 34 quyển. Niên hiệu Văn minh năm đầu (684), ngài Pháp tạng đến yết kiến sư ở chùa Tây thái nguyên, sư trao cho ngài Pháp tạng phẩm Nhập pháp giới của kinh Hoa nghiêm, nhờ đó mà kinh Hoa nghiêm ở Trung quốc được đầy đủ. Sư thường nghĩ đến việc báo đáp công ơn từ mẫu, muốn trở về quê, đã nhiều lần dâng biểu xin từ qui, cuối cùng được vua chấp thuận, nhưng tiếc rằng sư bị bệnh, không về được. Năm Thùy củng thứ 3 (687) sư tịch, thọ 75 tuổi. Vũ hậu ban sắc an táng sư ở chùa Hương sơn tại Long môn, kinh đô Lạc dương. [X. Tống cao tăng truyện Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.12; Phật đính tối thắng đà la ni kinh tự (Ngạn tông)].
địa bính
2317梵語 pṛthivī-parpaṭaka。又作地薄餅、地皮餅、地皮、地味、地肥。指劫初之際,自然生於地上之薄餅。據俱舍論卷十二載,劫初(世界成立之初)之人類,本以識食為主,後漸至食地餅之時代,其次方以林藤、香稻等物為食。〔中阿含經卷三十九、起世經卷十、起世因本經卷十、立世阿毘曇論卷十、俱舍論光記卷十二〕
; (地餅) Phạm: Pfthivì-parpaỉaka. Cũng gọi Địa bạc bính, Địa bì bính, Địa bì, Địa vị, Địa phì. Lớp bánh mỏng tự nhiên sinh trên mặt đất vào kiếp sơ. Cứ theo luận Câu xá quyển 12 nói, thì loài người ở kiếp sơ (lúc thế giới mới hình thành) vốn lấy thức thực làm chính, về sau, dần dần ăn địa bính (bánh đất), kế đó mới lấy các loại dây leo ở rừng, lúa gạo v.v... làm thức ăn. [X. kinh Trung a hàm Q.39; kinh Khởi thế Q.10; kinh Khởi thế nhân bản Q.10; luận Lập thế a tì đàm Q.10; Câu xá luận quang kí Q.12].
địa ca bàn phược na tăng già lam
Dirghabhavana-samgharama (skt)—Một tự viện gần Khotan, nơi có một tượng Phật mặc áo lụa—A monastery near Khotan, with a statue dressed in silk.
địa chí
2313指地方誌書。在正法念處經卷六十八、華嚴經菩薩住處品、大悲經持正法品、大孔雀咒王經卷中、大悲空智金剛大教王儀軌經卷二等經中,多揭示地名而無地誌。然我國北魏楊衒之的洛陽伽藍記、唐代玄奘之大唐西域記、宋代陳舜俞之廬山記、元代盛熙明之補陀落迦山傳、明代葛寅亮之金陵梵剎志等著作,皆屬於地誌之類。日本自奈良朝以來有許多寺院緣起等著作,惟屬於地誌之類者,僅存南都七大寺巡禮記、叡岳要記、山城法華靈場記等。
; (地志) Sách ghi chép các sự kiện, nhân vật, sản phẩm... ở một địa phương. Tại Ấn độ, trong các kinh như kinh Chính pháp niệm xứ, kinh Hoa nghiêm, kinh Đại bi, kinh Đại khổng tước chú vương v.v... phần nhiều nêu địa danh chứ không có địa chí. Nhưng ở Trung quốc thì có những tác phẩm địa chí Phật giáo như: Lạc dương già lam kí của Dương huyễn chi đời Bắc Ngụy, Đại đường tây vực kí của ngài Huyền trang đời ường, Lư sơn kí của Trần thuấn du đời Tống, Bổ đà lạc ca sơn truyện của Thịnh hi minh đời guyên, Kim lăng phạm sát chí của Cát dần lượng đời Minh v.v... Tại Nhật bản, từ thời Nại lương (Nara) về sau có rất nhiều tác phẩm về các chùa viện, nhưng thuộc loại địa chí thì nay chỉ còn có ba bộ: Nam đô thất đại tự tuần lễ kí, Duệ nhạc yếu kí và Sơn thành pháp hoa linh trường kí.
địa chủ vương
2308地主,梵名 Diśāṃ-pati,巴利名 Disām-pati,音譯作儞扇波帝。又作方主、域主、地自在。為印度太古之王。據增一阿含經卷十三地主品載,釋尊為告誡波斯匿王,廣作功德,誠然稱善,然不應以此功德,僅求在生死獲得福祐而不求解脫,故以自己本生之事蹟為例而訓誡之,謂過去久遠世有大王名地主,將其所統領之閻浮提半分予大臣善明,善明有子出家成道,是為燈光如來。其後,地主王曾聽聞如來妙法而誓願盡形壽供養如來及八十億比丘眾,遂於七萬歲間供養不懈;復於如來及八十億比丘眾漸次涅槃後,七萬歲間供養舍利,廣修功德,直至如來遺法滅盡後,王乃自取滅度。釋尊並謂昔時之地主王即其過去世之身,蓋以昔時不求解脫,所作福德,至於後世,無有毫釐許在。 另於長阿含卷五典尊經所載略異,謂地主王以國事託付大臣典尊,典尊死後,其子焰鬘繼之為相,世人稱之為大典尊,後王崩,其子慈悲繼位,仍將國事託付焰鬘,後焰鬘剃髮出家,同時有八萬四千人亦隨其出家,此大典尊即是釋尊之過去身。蓋增一阿含經以地主王為釋尊,長阿含經則以地主王之臣為釋尊。此外,諸經論對地主王之稱呼不一,有稱方主王,或稱儞扇波帝王。〔長阿含經卷二十、起世因本經卷十、佛本行集經卷三、卷四、四分律卷三十一〕(參閱「定光如來」3176)
; (地主王) Địa chủ, Phạm: Dizàô-pati. Pàli: Disàm-pati. Hán âm: Nễ phiến ba đế. Cũng gọi Phương chủ, Thành chủ, Địa tự tại. Vua nước Ấn độ thời thái cổ, là tiền thân của Phật Thích ca. Cứ theo phẩm Địa chủ trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 13 chép, thì ở thời quá khứ xa xưa có một vị Đại vương tên là Địa chủ, đã chia phân nửa châu Diêm phù đề dưới quyền thống trị của mình cho quan Đại thần Thiện minh. Đại thần Thiện minh có người con xuất gia thành đạo, đó là đức Đăng quang Như lai. Về sau Đại vương nhờ nghe diệu pháp mà thề nguyền suốt đời cúng dường Như lai và 80 ức vị tỉ khưu. Sau khi Như lai và 80 ức vị tỉ khưu lần lượt vào Niết bàn, thì Đại vương lại cúng dường xá lợi trong bảy vạn năm, làm tất cả công đức, mãi đến khi di pháp của Như lai hoàn toàn mất hẳn, Đại vương mới diệt độ. Địa chủ vương ấy chính là tiền thân của đức Thích tôn. Nhưng, kinh Điển tôn trong Trường a hàm quyển 5 ghi chép hơi khác. Cứ theo kinh này thì Địa chủ vương đem việc nước giao phó cho quan Đại thần Điển tôn. Sau khi Điển tôn chết, con là Diệm man lên làm tướng, người đời gọi là Đại điển tôn. Sau khi Địa chủ vương băng hà, con là Từ bi lên nối ngôi, không bao lâu, Từ bi cũng giao phó quốc sự cho Diệm man. Về sau, Diệm man xuống tóc xuất gia, đồng thời, có 8 vạn 4 nghìn người cũng theo Diệm man xuất gia. Đại điển tôn này chính là tiền thân của Phật Thích ca. [X. kinh Trường a hàm Q.20; kinh Khởi thế nhân bản Q.10; kinh Phật bản hạnh tập Q.3, Q.4; luật Tứ phần Q.31]. (xt. Định Quang Như Lai).
địa chủng
Một trong tứ đại chủng—Earth-seed—Atoms of the element earth, one of the four elements.
địa cư
Bhauma (S). Living on earth. (Hư không cư Antarikravavasina, living in the air)
địa cư thiên
2308梵名 Bhūmy-avacara-deva。為「空居天」之對稱。指欲界六天中之四天王天、忉利天。此二天依止須彌山中,故對夜摩、兜率、化樂、他化自在等四天之居於空中而言,此二天稱為地居天。此說係出自俱舍論等。此外,密教將金剛界曼荼羅外金剛部之諸天分為五類,於第四類置地居天。據大教王經卷十載,地居天之主藏、風、火、俱尾囉等四天及其后皆住地上,故稱地居天;此係取印度教之諸天以配於外金剛部,並以此天為神人間之媒介,係傳達神之教命、願望之天使(梵 dūta)。然此說異於俱舍論等之世界建立說。〔理趣釋卷下、俱舍論卷十一、大毘婆沙論卷一三四、金剛頂經瑜伽十八會指歸〕(參閱「五類天」1210)
; Indra's heaven on the top of Sumeru, below the Không cư thiên heavens in space.
; Bhumy-avacara-deva (skt)—Trời Đế Thích ở trên đỉnh núi Tu Di, nhưng nằm bên dưới Không Cư Thiên—Indra's heaven on the top of Sumeru, and below the heaven in space.
; (地居天) Phạm: Bhùmy-avacara-deva. Đối lại với Không cư thiên. Chỉ cho trời Tứ thiên vương và trời Đao lợi trong sáu tầng trời cõi Dục. Cứ theo thuyết của luận Câu xá, thì hai tầng trời này ở trong núi Tu di nên gọi là Địa cư thiên. Còn bốn tầng trời ở trong hư không là Dạ ma, Đâu suất, Hóa lạc và Tha hóa tự tại thì gọi là Không cư thiên. Ngoài ra, Mật giáo chia chư thiên của Kim cương bộ ngoài trên mạn đồ la Kim cương giới làm năm loại và xếp Địa cư thiên vào loại thứ 4. Cứ theo kinh Đại giáo vương quyển 10, thì các vị trời Chủ tạng, Phong, Hỏa, Câu vĩ la và vợ của họ đều ở trên mặt đất, nên gọi là Địa cư thiên. Thuyết này lấy chư thiên của Ấn độ giáo phối hợp với Kim cương bộ ngoài và lấy vị trời này làm Thiên sứ (Phạm: Dùta) có nhiệm vụ truyền mệnh lệnh của thần xuống loài người, đồng thời, đề đạt nguyện vọng của loài người lên chư thiên. Nhưng thuyết này khác với thuyết kiến lập thế giới của luận Câu xá. [X. Lí thú thích Q.hạ; luận Câu xá Q.11; luận Đại tì bà sa Q.134; Kim cương đính kinh du già thập bát hội chỉ qui]. (xt. Ngũ Loại Thiên).
địa dõng
To spring forth or burst from the earth—See Tùng Địa Dõng Xuất and Tùng Địa Dõng Xuất Bồ Tát.
địa giới
Địa Đại, một trong tứ đại. Địa giới có những tánh sau—The realm of earth, one of the four elements. The ground or realm of earth has the following characteristics: 1) Năng Trì: Capable of maintaining. 2) Năng Sinh: Capable of producing. 3) Sở Y: On which things rely.
địa hoa
2310(1844~1905)清代僧。福建歸化人,俗姓馮。字妙蓮,號雲池。清光緒四年(1878),受父親書泰之鼓勵,依鼓山奇量出家,翌年,依本山懷忠受具足戒。其志願深閎,威儀簡正,歸化淨土。後為修復鼓山之大殿,渡海來臺苦心接化,得䞋施歸而修築殿堂。光緒十年繼承奇量之法席。翌年南遊,重建福建龜山崇熙寺,光緒十七年創建極樂寺於馬來半島西岸之彼南島,成為該寺之開山祖,係我國佛寺在南洋肇建之嚆矢。後還福建,重修白塔寺,築迴龍閣,並住持漳州崇福寺。未幾,赴極樂寺建普同塔,光緒三十年至北京請大藏經二部,收藏於極樂寺及崇福寺。時年六十一歲,將寺事付予本忠,復還鼓山重修天王殿,並主掌南山寺鼎新之事。光緒三十一年以微疾示寂於崇熙寺,世壽六十二。臺灣之臺北凌雲寺、臺南開元寺、高雄超峰寺等皆屬於師之法系。〔新續高僧傳卷五十九〕
địa huệ đồng tử
2314地慧,梵名 Vasumati,音譯作縛蘇摩底。又作財慧童子、持慧童子、智幢童子、地慧幢童子。為文殊五使者之一,八大童子之一。胎藏界曼荼羅文殊院中,列於文殊菩薩左方第四位。三昧耶形為幢幡,密號為般若金剛。形像為身呈黃色之童女形,有三髻,右手伸向右方持幢幡,左拳豎胸前,持細葉青蓮,趺坐赤蓮華。〔大日經卷一、大日經疏卷五、卷十、卷十六、祕藏記〕
địa hành tiên
Earth-immortals, or genii, one of the classes of rsis; i.e. bhudeva or Brahman.
địa hạ thiên
2307為密教金剛界曼荼羅外金剛部之五類諸天之一。乃一專為達成神的使命之神僕。據祕藏記所舉之五類諸天,其中地下天係指龍、阿修羅、閻摩王等。於諸經軌中此天有不同名稱,例如:陀羅尼門諸部要目,稱為居地底天;教王經卷十中,稱為水居天。據金剛界曼荼羅所描繪,及教王經等所說,此天係指金剛面天、燄摩天、歡喜天、水天等。(參閱「五類天」1210)
; (地下天) Các thần sứ giả chuyên thi hành mệnh lệnh của thần Đạt thành. Một trong 5 loại chư thiên thuộc Kim cương bộ ngoài trên mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Cứ theo Bí tạng kí thì có 5 loại chư thiên, trong đó, Địa hạ thiên là chỉ cho rồng, a tu la và vua Diêm ma. Trong các kinh và nghi quĩ, vị trời này có những tên gọi khác nhau. Như Đà la ni môn chư bộ yếu mục gọi là Cư địa để thiên; kinh Giáo vương quyển 10 thì gọi là Thủ cư thiên. Theo hình vẽ trên mạn đồ la Kim cương giới và trong kinh Giáo vương, thì trời này là chỉ cho Kim cương diện thiên, Diệm ma thiên, Hoan hỉ thiên, Thủy thiên v.v... (xt. Ngũ Loại Thiên).
địa khang tự
2310西藏名 ⅵbri-guṅ, ḥbri-khuṅ, ḥbri-goṇ。係位於拉薩東北索峽谷(藏Gsho roṅ-phu)上部峰頂之僧院。屬於喀爾修派之分派地康派。潑結莫迦(藏 Phag-mo-gru)之弟子地康法主(藏 ⅵbri-guṅchos-rje, 1143~1217)創立地康派,並擴建此寺。一二九○年,蒙古軍與薩迦派之僧兵聯合攻擊此派,史稱「地康寺顛覆事件」(藏 ⅵbri-khuṅgliṅ-log)。一三一五年重建大塔。地康寺之最高精神領袖稱為座主;而擁有司法權、軍事權者則為肯巴(藏 Sgom-pa)。
địa khách
2309禪林用語。又作莊佃、莊客。指於寺院從事耕作之農夫。〔敕修百丈清規卷下兩序章列職雜務之莊主條〕
; (地客) Cũng gọi Trang điền, Trang khách. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Người làm ruộng trong các chùa viện. [X. điều Trang chủ trong Liệt chức tạp vụ ở chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ].
địa luân
2314為五輪之一。密教於依報(器世界)中,以地輪(金剛輪)為最上,其下依次為水、火、風、空四輪;於正報(有情身)中,則地輪為最下。若配以眾生之肉身,則地輪為膝輪。其顯、形二色為黃、方,種子為???(a,阿)。(參閱「五輪」1199)
; Một trong ngũ luân (năm vòng tròn); ngũ luân thường được đặt trên đỉnh các tháp hay chùa—The earth-wheel, one of the five circles, i.e. space, wind, water, earth and above them fire; the five wheels or umbrellas shown on the top of certain stupas or pagodas.
; (地輪) Tầng trên cùng của y báo (khí thế gian) và tầng cuối cùng của chính báo (thân hữu tình). Một trong 5 luân. Nếu đem phối hợp với nhục thân của chúng sinh thì địa luân là Tất luân (từ đầu gối trở xuống). Về hiển sắc, Địa luân là mầu vàng, về hình sắc, Địa luân có hình vuông, chủng tử là (A). (xt. Ngũ Luân).
Địa luận
地論; C: dìlùn; J: jiron; |Thập địa kinh luận.
địa luận
“Phái Địa Luận Trung quốc bàn về các xứ sở.” Một trường phái sớm của Trung Quốc dựa trên căn bản luận cứ của Ngài Thế Thân về Dashabhumika, được dịch ra tiếng Hoa năm 508. Một trong những chi nhánh của phái nầy về sau là trường phái Hoa Nghiêm. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, trước Hoa Nghiêm tông, ở Trung Hoa đã có một phái mang tên là Địa Luận Tông, y cứ trên bản luận giải của ngài Thế Thân về Thập Địa Kinh (Dasa-bhumi Sutra). Tác phẩm nầy được phiên dịch sang Hán văn trong những năm 508-512 sau Tây Lịch do công trình của ngài Bồ Đề Lưu Chi, Bửu Huệ, và Phật Đà Phiến Đa, tất cả đều từ Ấn Độ. Về sau một cuộc phân chia trong Địa Luận Tông xãy ra. Đạo Sủng, một môn đệ của Bồ Đề Lưu Chi, trú ở phía bắc thành Lạc Dương và gây được ảnh hưởng lớn trong quần chúng, trong khi Tuệ Quang, đồ đệ của Bửu Huệ, trú ở phía nam hoàng thành và cũng có ảnh hưởng không kém trong những hoạt động tôn giáo của ông. Dòng thứ nhất được gọi là “Bắc Đạo Phái” và dòng thứ hai là “Nam Đạo Phái.”—School of treatise on the Bhumis, an early Chinese Buddhist school based on a commentary by Vasubandhu on the Dashabhumika which translated into Chinese in 508. A branch of this school became the predecessor of the Avatamsaka school (Hua-Yen). According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, prior to the Avatamsaka School there was in China a school named Ti-Lun which was founded on Vasubandhu's commentary on the Dasa-bhumi-Sutra. The text was translated into Chinese in 508-512 A.D. by Bodhiruci, Ratnamati, and Buddhasanta, all from India. There appeared in time a split in the Ti-Lun School. Tao-Ch'ung, a pupil of Bodhiruci, lived in the north district of Lo-Yang and exercised a great influence on the people, while Hui-Kuang, a pupil of Ratnamati, lived in the south district of the capital and was equally influential in his religious activities. The line of tehthermer was called 'the Branch of the Northern Path. The line of the former was called “The Branch of Northern Path,” and that of the latter “the branch of the Southern Path.”
Địa Luận Tông
(地論宗, Jiron-shū): tên gọi của học phái lấy bộ Thập Địa Kinh Luận (十地經論) của Thế Thân hay Thiên Thân (Vasubandhu, 世親 hay 天親) làm đối tượng nghiên cứu. Bộ luận này do Bồ Đề Lưu Chi (Bodhiruci, 菩提流支) dịch vào năm 511. Đây là một trong 13 tông phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc, được thành lập trên cơ sở bộ Thập Địa Kinh Luận do Lặc Na Ma Đề (Ratnamati, 勒那摩提), Bồ Đề Lưu Chi (Bodhiruci, 菩提流支) và Phật Đà Phiến Đa (Buddhaśānta, 佛陀扇多) cọng dịch, nhưng do vì kiến giải của Bồ Đề Lưu Chi và Lặc Na Ma Đề có phần khác nhau nên tông này chia thành 2 phái. Sau khi phân thành 2 ngã, hệ thống của Đạo Sủng (道寵), đệ tử của Bồ Đề Lưu Chi, phát triển ở địa phương phía Bắc nên gọi là Bắc Đạo Phái. Còn hệ thống của Huệ Quang (慧光), đệ tử của Lặc Na Ma Đề, thì phát triển ở vùng phía Nam nên được gọi là Nam Đạo Phái. Trong Bắc Đạo Phái có môn hạ của Đạo Sủng là Tăng Hưu (僧休), Pháp Kế (法繼), v.v.; còn trong Nam Đạo Phái thì có môn hạ của Huệ Quang là Pháp Thượng (法上), Tăng Phạm (僧範), Đạo Bằng (道憑), Huệ Thuận (慧順), v.v., với rất nhiều nhân tài xuất chúng. Giáo học của Nam Đạo Phái được thành lập do PhápThượng và đệ tử ông là Huệ Viễn (慧遠). Tông này lấy thuyết Như Lai Tạng Duyên Khởi (如來藏緣起) trong Lăng Già Kinh (楞伽經) và Đại Thừa Khởi Tín Luận (大乘起信論) làm tiêu chỉ. Riêng Bắc Đạo Phái thì lấy A Lại Da Thức như là Chơn Vọng Hòa Hợp Thức làm ra thuyết Thức Thứ Chín; trong lúc đó Nam Đạo Phái thì lấy A Lại Da Thức như là Tịnh Thức mà đưa ra thuyết Thức Thứ Tám. Vào đầu thời nhà Tùy, Bắc Đạo Phái đã phát triển mạnh ở phương Bắc và hợp nhất với Nhiếp Luận Tông (攝論宗) trên chủ thuyết Thức Thứ Chín nhưng sau đó tiêu diệt luôn. Trường hợp của Nam Đạo Phái cũng chịu chung số phận như Bắc Đạo Phái.
địa luận tông
2314我國十三宗之一。又作地論家、地論學派。係依十地經論之說,主張如來藏緣起義之大乘宗派。弘揚此宗思想者,稱為地論師、地人。北魏永平元年(508),菩提流支、勒那摩提、佛陀扇多及義學縉儒十餘人奉宣武帝之命,於洛陽翻譯十地經論,至永平四年完成。其後,因菩提流支及勒那摩提之弟子間,見解有異,本宗遂分為相州南道、相州北道二派,即:慧光承勒那摩提之說,於相州(河南安陽)南部弘法,稱相州南道派,又稱南道,係地論宗之正統;道寵嗣菩提流支之法,宣講於相州北部,是為相州北道派,又稱北道。 慧光初就佛陀扇多出家,曾參與十地經論譯場。後撰疏闡述十地經論之奧旨,又注解華嚴、涅槃、維摩、地持、勝鬘、遺教等諸經,及著作四分律疏,住於鄴都大覺寺,大振法化。門人有法上、僧範、道憑、惠順、靈詢、僧達、道慎、安廩、曇衍、曇隱、道雲、曇遵等。其中,僧達極受粱武帝崇敬,曾住洪谷、定冠二寺講華嚴、十地;安廩入陳地,住鐘山耆闍寺,宣講大集經;而法上之慧業最勝,年十五即開講法華,曾長期任東魏、北齊之僧統。法上門下有法存、融智、慧遠等;融智講涅槃及地論;慧遠住長安淨影寺,注解地論、地持、華嚴、涅槃、維摩、勝鬘等經,又造大乘義章、十地義記等,盛揚所承,其門下有靈璨、惠遷、善冑、智徽、辨相等十餘人。其中,靈璨繼住淨影寺,專講十地及涅槃。此外,道憑之門人靈裕,住大慈、演空二寺,精於華嚴、地論,著有十地論疏。曇遵之門人曇遷,原精研華嚴、十地、楞伽諸經,後遇周武帝毀佛,避難於南方,獲「攝大乘論」一書,遂以攝論為宗,而成為北地攝論宗之始祖。上述為南道派傳承之概況,北道派則不如南道派之隆盛,道寵有門人僧休、法繼、誕禮、牢宜、儒果、志念等,惟事蹟多不明,其中,志念曾住晉陽開義寺、大興國寺,著雜心論疏、廣鈔等。 關於本宗之教判,略綜為四:(一)據澄觀之華嚴玄談卷四載,慧光將佛陀一代時教判為漸、頓、圓三教。華嚴二祖智儼、三祖法藏等承襲此說。(一)據法華玄義卷十上載,慧光判為四宗:(1)因緣宗,指毘曇之六因四緣。(2)假名宗,指成實論之三假。(3)誑相宗,指大品、三論。(4)常宗,指涅槃、華嚴等之常住佛性本有湛然。慧光之弟子曇隱等,判為:(1)因緣宗,指小乘薩婆多部。(2)假名宗,指成實論、經部等。(3)不真宗,指諸部般若。(4)真宗,指涅槃、華嚴。慧遠判為:(1)立性宗,即因緣宗。(2)破性宗,即假名宗。(3)破相宗,即不真宗。(4)顯實宗,即真宗。曇隱與慧遠各立之四宗,實與慧光之四宗同義。(三)據華嚴經探玄記卷一載,真諦三藏等判立漸教(化儀)、頓教(化法)二教,而慧光所判立之三教中,漸教、頓教僅在化儀,唯圓教為化法,故二者有異。(四)慧遠於所著大乘義章卷一判立聲聞藏、菩薩藏二藏,係與半滿二教、大小二乘同義。此外,慧光之門人安廩,尚有六宗教之說。 蓋十地經論一書,乃世親為解釋華嚴經十地品而作,內中廣明菩薩十地之義,並述及八識、無明、三身、三聚淨戒、因分果分、總別同異等六相。八識為眼、耳、鼻、舌、身五識,及第六意識、第七阿陀那識、第八阿梨耶識。其中,第八阿梨耶識之真妄論點,係地論宗分為南、北二道之主要因素。南道派將第八阿梨耶識,與楞伽經所謂之如來藏心,及涅槃經所謂之佛性同視,而稱為真常淨識,乃主張佛性本有;並以阿陀那識以下七識皆為有為之妄識,而特稱阿陀那識為無明識。據南道派慧遠之大乘義章卷三末,及十地義記卷一末載,阿陀那識為無明癡闇之妄識,阿梨耶識則為如來藏自性清淨心。然妄識本無體,必依真識而立,故前七識之妄法以第八識為其本體。又真識之本體,雖平等一味,非因非果,但其用卻能隨緣起滅,具有染淨之別,故能開展出一切萬法;亦即妄法非真如之外另有別體,乃係真如不守自性,隨緣而成為妄法,故諸法依隨真如,如影隨形,同時存在。由此,佛性雖本有,仍需精勤修習,離染顯淨,方可成佛。然北道派之說法與南道派有異,北道認為阿梨耶識為無明之妄心,而非不生不滅之真如,即主張佛性後有,須累世修行,始得成佛。有謂護身寺沙門自軌之五宗教判屬於北道派,其五宗為:(一)因緣宗,指毘曇。(二)假名宗,指成實。(三)不真宗,指般若、法華等。(四)真宗,指涅槃。(五)法界宗,指華嚴。 關於南北二道之差異,可歸納為下列二說:一說北道派為「梨耶依持說」,南道派為「真如依持說」。即北道派計執阿梨耶為妄識以為依持,主張一切諸法皆由梨耶緣起;南道派則視阿梨耶為真如淨識,而計執於真如以為依持,並主張一切諸法皆由真如之緣起所生。一說南道派為梨耶淨識之八識建立說;北道派則為真妄和合之九識建立說,即立第八梨耶為妄識,第九識為淨識,惟雖立有第九識,然尚無菴摩羅之名。及後,真諦之攝論宗起,立第八阿梨耶識為虛妄,第九菴摩羅識為淨識之說,此說與地論北道派之主張相近,故北道派與攝論宗漸同化相合,而唯南道派獨存。 南道派至慧遠晚年時,因感本宗所論之第七識尚未徹底,而欲以攝論宗之阿陀那識再予補充,乃有攝論化之論釋。弟子靈璨之門人靈潤等地論學者,即先後轉習攝論。隨著攝論宗之日益興盛,南道派亦漸趨於衰落。然地論宗對日後華嚴宗之成立極具貢獻,因本宗除精研華嚴經之十地品外,對華嚴整部經典之旨趣亦廣作理解,其成果頗值得推崇;如慧光將華嚴經之詮釋,判為因果理實,成為華嚴宗法藏之因果緣起、理實法界說之基礎;又慧遠闡釋華嚴經要義,所說之因果二分、教證二道、六相圓融等,亦多為法藏所修正採用,故有謂華嚴宗之宗說,僅係擴大地論宗對華嚴經之研究而已。〔金剛仙論卷二、卷四、十地經論序、華嚴五教章卷一、涅槃經義記卷一、大乘義章卷十九、法華玄論卷一、卷二、卷九、法華玄義釋籤卷十八、四教義卷一、中觀論疏卷七本、歷代三寶紀卷七、卷九、卷十一、卷十二、續高僧傳卷一、卷七至卷十二、卷十四至卷十六、開元釋教錄卷九〕(參閱「阿賴耶識」3676、「華嚴宗」5245、「攝論宗」6850)
; Ti-Lun School. (A) Lịch sử thành lập Địa Luận Tông—History of formation of the Ti-Lun School: See Địa Luận. (B) Chi phái Địa Luận Tông—Branches of the Ti-Lun School: Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, sau thời Bồ Đề Lưu Chi, Bửu Huệ và Phật Đà Phiến Đa, phái Địa Luận chia làm hai phái—According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, after the time of Bodhiruci, Ratnamati, and Buddhasanta, Ti-Lun School was divided into two branches: 1) Bắc Đạo Phái—Northern Path: • Do Đạo Sủng, một đồ đệ của Bồ Đề Lưu Chi, sáng lập—The Northern Path was founded by Tao-Ch'ung, a pupil of Bodhiruci. • Trường phái nầy chủ trương A Lại Da phi thực và biệt lập với Chân Như—This branch believes that Alaya-consciousness is unreal (false) and separate from Thusness. • Khởi đầu dường như Bắc Đạo Phái thịnh hơn, vì nghe Đạo Sủng có hơn mười ngàn đồ đệ và chính ông được tán dương như là một trong sáu bậc đại Thánh của triều nhà Trần, và về sau như là một trong mười đại hiền của triều đại nhà Tùy. Nhưng vì một vài lý do nào đó mà truyền nhân của ông đã không thành công như ông—At the outset the Northern Path seemed to have flourished as the founder Tao-Ch'ung is said to have had more than ten thousand pupils, he himself having been honored as one of the six Great Virtuous Men of the Ch'ên Dynasty and later as one of the ten Great Virtuous Men of the Sui Dynasty. But for some reason his successors did not succeed so well. 2) Nam Đạo Phái—The Southern Path: • Do Tuệ Quang, một đồ đệ của Bửu Huệ sáng lập—The Southern Path as founded by Hui-Kuang, a pupil of Ratnamati. • Trường phái nầy chủ trương A Lại Da thực hữu và đồng nhất với Chân Như—This school believes that Alaya-consciousness is real and identical with Thusness. • Ở Nam Đạo, Tuệ Quang có vẻ là một học giả hơn là một nhà truyền giáo. Ông thâm hiểu Phạn ngữ, đã từng theo học với Giác Hiền (Buddhabhadra) và Bửu Huệ (Ratnamati)và thông hiểu những điểm tranh luận chung quanh Kinh Thập Địa. Ông có mười đệ tử tái năng, trong số đó, Pháp Thượng (495-580) là lỗi lạc nhất. Hoạt động văn học của các đồ đệ của ông cũng đáng thán phục. Tuy nhiên, khi Đỗ Thuận, khai tổ chính thúc của tông Hoa Nghiêm xuất hiện, thì những vị hoạt động tích cực cho phái nầy đều bị thu hút bởi ông ta. Vậy chúng ta có thể nói rằng Địa Luận tông sau cùng đã được hợp nhất với một tông phài hưng khởi, đó là triết học Hoa Nghiêm—In the Southern Path, Hui-Kuang seemed to have been more a scholar than a propagandist. He was well versed in Sanskrit, having studied under Buddhabhadra and Ratnamati and understoof the points of dispute as to the Dasa-bhumi text. He had ten able pupils among them Fa-Shang (495-580) was the most prominent. The literary activity of his pupils also was worthy of admiration. However, when Tu-Shun, the nominal founder of the Hua-Yen School, made his appearance on the scene, the best workers of this line were all attracted around him. Or, we can say at best the Ti-Lun School was finally united with the new rising school of the Hua-Yen philosophy.
; (地論宗) Cũng gọi Địa luận gia, Địa luận học phái. Một tông phái của Phật giáo Đại thừa, y cứ vào Thập địa kinh luận mà chủ trương thuyết Như lai tạng duyên khởi. Là một trong 13 tông ở Trung quốc. Người hoằng dương tư tưởng của tông này gọi là Địa luận sư, Địa nhân. Vào niên hiệu Vĩnh bình năm đầu (508) đời Bắc Ngụy, các ngài Bồ đề lưu chi, Lặc na ma đề, Phật đà phiến đa và hơn 10 nhà nghĩa học vâng mệnh vua Tuyên vũ, dịch Thập địa kinh luận ở Lạc dương, từ đó tông Địa luận được hình thành. Về sau, vì kiến giải bất đồng nên tông này chia làm 2 phái: Tương châu nam đạo của sư Tuệ quang theo thuyết của ngài Lặc na ma đề và Tương châu bắc đạo của sư Đạo sủng nối pháp của ngài Bồ đề lưu chi. I. Phái Tương châu nam đạo của ngài Tuệ quang cho rằng: Thức A lại da thứ 8 chính là tâm Như lai tạng nói trong kinh Lăng già và cũng là Phật tính nói trong kinh Niết bàn, nên gọi là Chân thường tịnh thức. Phái này chủ trương Phật tính vốn sẵn có và các pháp đều do chân như duyên khởi sinh ra, đồng thời, cũng cho bảy thức đều là vọng thức hữu vi và đặc biệt gọi thức A đà na là Vô minh thức. Sư Tuệ quang mới đầu xuất gia theo ngài Phật đà phiến đa, có tham dự việc phiên dịch Thập địa kinh luận. Sư trụ trì chùa Đại giác ở Nghiệp đô, giáo hóa rất rộng. Sau, sư soạn sớ để nói rõ ý chỉ sâu kín của bộ Thập địa kinh luận và chú giải các kinh: Hoa nghiêm, Niết bàn, Duy ma, Địa trì, Thắng man, Di giáo v.v... đồng thời, soạn Tứ phần luật sớ. Đệ tử của ngài Tuệ quang có các vị Pháp thượng, Tăng phạm, Đạo bằng, Huệ thuận, Linh tuân, Tăng đạt, Đạo thận, An lẫm, Đàm diễn, Đàm ẩn, Đạo vân, Đàm tuân v.v... trong đó, Tăng đạt rất được Lương Vũ đế tôn kính. Tăng đạt từng giảng kinh Hoa nghiêm, Thập địa ở các chùa Hồng cốc, Định quan; sư An lẫm thì ở chùa Kì xà núi Chung sơn, tuyên giảng kinh Đại tập. Riêng sư Pháp thượng thì trí tuệ vượt trội, 15 tuổi đã bắt đầu giảng kinh Pháp hoa, từng làm Tăng thống thời Đông Ngụy và Bắc Tề. Đệ tử của sư Pháp thượng có các vị Pháp tồn, Dung trí, Tuệ viễn... Sư Dung trí giảng kinh Niết bàn và Địa luận; sư Tuệ viễn ở chùa Tịnh ảnh tại Trường an, chú thích các kinh Địa luận. Địa trì, Hoa nghiêm, Niết bàn, Duy ma, Thắng man v.v... đồng thời, soạn Đại thừa nghĩa chương, Thập địa nghĩa kí v.v... để phát huy những điều học được ở thầy. Đệ tử của sư Tuệ viễn gồm có: Linh xán, Huệ thiên, Thiện trụ, Trí huy, Biện tướng v.v... Trong đó, sư Linh xán kế vị thầy trụ trì chùa Tịnh ảnh, chuyên giảng Thập địa và Niết bàn. Ngoài ra, đệ tử của sư Đạo bằng là Linh dụ ở chùa Đại từ và chùa Diễn không, tinh thông Hoa nghiêm, Địa luận, soạn Thập địa luận sớ. Đệ tử sư Đàm tuân là Đàm thiên chuyên nghiên cứu các kinh Hoa nghiêm, Thập địa, Lăng già, sau vì Chu vũ đế hủy diệt Phật giáo nên lánh nạn xuống phương nam, gặp được luận Nhiếp đại thừa, bèn lấy luận này làm tông chỉ và trở thành Thủy tổ của tông Nhiếp luận. Trên đây là trình bày sơ lược về sự truyền thừa của phái Nam đạo. Còn về giáo nghĩa của phái Nam đạo thì có các thuyết sau đây: 1. Theo Hoa nghiêm huyền đàm quyển 4 của ngài Trừng quán thì ngài Tuệ quang chia giáo pháp đức Phật nói trong một đời ra làm3giáo: Tiệm giáo, Đốn giáo và Viên giáo. 2. Cứ theo Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10 phần trên, thì ngài Tuệ quang chia làm 4 tông: a) Tông Nhân duyên: Chỉ cho Lục nhân tứ duyên của A tì đàm. b) Tông Giả danh: Chỉ cho Tam giả của luận Thành thực. c) Tông Cuống tướng: Chỉ cho Đại phẩm, Tam luận. d) Thường tông: Chỉ cho Phật tính thường trụ, lặng lẽ, vốn có, nói trong các kinh Niết bàn, Hoa nghiêm. 3. Cứ theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1, thì ngài Chân đế lập Tiệm giáo (Hóa nghi), Đốn giáo (Hóa pháp), nhưng trong ba giáo do ngài Tuệ quang phán lập, thì Tiệm giáo, Đốn giáo chỉ là Hóa nghi, duy có Viên giáo mới là Hóa pháp. 4. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 1, thì sư Tuệ viễn phán lập Thanh văn tạng, Bồ tát tạng, đồng nghĩa với Bán tự giáo, Mãn tự giáo, Đại thừa và Tiểu thừa. II. Phái Tương châu Bắc đạocủa ngài Đạo sủng cho rằng: Thức A lê da là vọng tâm vô minh, chứ chẳng phải là chân như bất sinh bất diệt. Phái này chủ trương Phật tính có sau, phải tu hành trải qua nhiều kiếp mới được thành Phật. Phái Bắc đạo không được thịnh hành bằng phái Nam đạo, do đó, sự truyền thừa cũng không có hệ thống rõ ràng. Người ta chỉ biết rằng, ngài Đạo sủng có các vị đệ tử như: Tăng hưu, Pháp kế, Đản lễ, Lao nghi, Nho quả, Chí niệm v.v... trong đó, sư Chí niệm từng ở các chùa Khai nghĩa, Đại hưng quốc tại Tấn dương và biên soạn Tạp tân luận sớ, Quảng sao v.v... Có thuyết nói, sa môn Tự quĩ chùa Hộ thân thuộc phái Bắc đạo phán giáo làm 5 tông: 1. Tông Nhân duyên: Chỉ cho A tì đàm. 2. Tông Giả danh: Chỉ cho luận Thành thực. 3. Tông Bất chân: Chỉ cho Bát nhã, Pháp hoa. 4. Chân tông: Chỉ cho kinh Niết bàn. 5. Tông pháp giới: Chỉ cho kinh Hoa nghiêm. Sau hết, về sự sai khác giữa Nam đạo và Bắc đạo có thể tóm tắt thànhhai thuyết như sau: 1. Phái Bắc đạo theo thuyết A lê da y trì, chấp A lại da là vọng thức để làm chỗ nương tựa, cho rằng tất cả các pháp đều do A lại da duyên khởi; còn phái Nam đạo thì chủ trương A lại da là chân như tịnh thức và chấp lấy chân như để làm chỗ nương tựa mà cho rằng tất cả các pháp đều do chân như duyên khởi sinh ra. 2. Phái Nam đạo theo thuyết Chân như y trì, dựa trên thức thứ 8 mà lập ra chân như tịnh thức; còn phái Bắc đạo thì dựa trên thức thứ 9 để lập chân vọng hòa hợp, tức lập thức thứ 8 làm vọng thức, thức thứ 9 làm tịnh thức, có điều là tuy lập thức thứ 9 nhưng vẫn chưa có tên gọi Am ma la. Về sau, Nhiếp luận tông của ngài Chân đế hưng khởi, lập thuyết gần giống chủ trương của phái Bắc đạo, cho nên phái này dần dần đồng hóa với tông Nhiếp luận. Còn phái Nam đạo về sau cũng có khuynh hướng theo Nhiếp luận nên dần dần cũng suy vi. Tuy nhiên, đối với sự thành lập tông Hoa nghiêm sau này, tông Địa luận đã có ảnh hưởng rất lớn. [X. luận Kim cương tiên Q.2, Q,4; Thập địa kinh luận tự; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Niết bàn kinh nghĩa kí Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.19; Pháp hoa huyền luận Q.1, Q.2, Q.9; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.18; Tứ giáo nghi Q.1; Trung quán luận sớ Q.7 phần đầu: Lịch đại tam bảo kỉ Q.7; Q.9, Q.11, Q.12; Tục cao tăng truyện Q.1, Q.7 đến Q.12, Q.14 đến Q.16; Khai nguyên thích giáo lục Q.9]. (xt. A Lại Da Thức, Hoa Nghiêm Tông, Nhiếp Luận Tông).
Địa luận tông 地論宗
[ja] チロンシュウ Jiron shū ||| The Dilun zong: in English, the Stages Sect, or School of the Treatise on the Bhūmis. One of the earlier schools of Chinese Buddhism, which was based on the commentary written by Vasubandhu 世親 on the Daśabhūmika-śāstra (Shidijing lun 十地經論), which also forms the commentary on one chapter of the Huayan jing 華嚴經. Ratnamati 勒那摩提 and Bodhiruci 菩提流支 brought the manuscript of the Daśabhūmi-vyākhyāna and translated it into Chinese during the Northern Wei dynasty. The Dilun school was based primarily on Yogācāra philosophy 瑜伽行派, particularly theories of the ālayavijñāna 阿頼耶識. The northern branch of the school, represented by Bodhiruci's student Daochong 道寵, took the position that the storehouse consciousness is not real, and that buddha-nature is first acquired on attaining buddhahood, thus it is not inborn. The southern school, represented by Ratnamati's student Huiguang 慧光, saw the ālayavijñāna as real and identical with the inborn buddha-nature 佛性. The Huayan school 華嚴宗 is said to have developed out of the southern branch, while Faxiang 法相宗 absorbed the northern branch. => c: Dilun zong; e: Stages Sect; School of the Treatise on the Bhūmis. Một trong nhứng tông phái sớm nhất của Phật giáo Trung Hoa, căn cứ vào luận giải về Thập địa kinh luận (十地經論s: Daśabhūmika-śāstra; e: Shidijing lun) của Thế Thân, và cũng căn cứ vào luận giải chương 1 trong kinh Hoa Nghiêm. Lặc-na-ma-đề (勒那摩提s: Ratnamati) và Bồ-đề Lưu-chi (菩提流支s: Bodhiruci) mang Thập địa kinh luận bản chép tay dịch sang tiếng Hán vào thời Bắc Nguỵ. Địa luận tông chủ yếu căn cứ vào triết học Du-già hành phái, đặc biệt là giáo lý về A-lại-da thức. Nhánh phía Bắc của tông nầy, đại biểu là Đạo Sủng (道寵c: Daochong ), đệ tử của Bồ-đề Lưu-chi đưa ra luận điểm tạng thức không thực có, và Phật tính đạt được trước hết khi thành Phật, thế nên nó không phải là bẩm sinh. Nhánh phía Nam, đại biểu là Huệ Quang (), đệ tử của Lặc-na-ma-đề, cho rằng A-lại-da thức là thực và đồng nhầt A-lại-da thức với Phật bản hữu. Tông Hoa Nghiêm được xem là phát triển từ nhánh phía Nam, còn Pháp tướng tông tiếp thu tinh thần nhánh phía Bắc.
Địa luận 地論
[ja] チロン Jiron ||| Dilun See 十地經論. => Xem Thập địa kinh luận.
địa lô
2323指僧堂內所設置之爐。用於取煖,依僧堂之大小,而設置一個或數個地爐。鎮州臨濟慧照禪師語錄(大四七‧五○三中):「師一日,與河陽木塔長老同在僧堂地爐內坐。」〔禪林象器箋殿堂門〕
; (地爐) Lò sưởi dùng trong nhà Tăng. Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục (Đại 47, 503 trung), nói: Một hôm, sư và trưởng lão Hà dương Mộc tháp ngồi trong nhà Tăng có lò sưởi (địa lô). [X. Điện đường môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].
địa mặc
2314為經典中常用以表示劫數長遠、難以計數之譬喻。如法華經化城喻品載(大九‧二二中:「有佛兩足尊,名大通智勝,如人以力磨,三千大千土,盡此諸地種,皆悉以為墨,過於千國土,乃下一塵點;如是展轉點,盡此諸塵墨。」上引經文,即以地墨之譬喻來表示大通智勝佛之成道久遠、不可量計。
; (地墨) Trong các kinh thường dùng từ ngữ này để biểu thị số kiếp lâu xa không thể đếm được. Phẩm Hóa thành dụ trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 22 trung), nói: Đức Thế tôn Đại thông trí thắng đã thành Phật từ vô lượng kiếp trước; ví như có người lấy đất trong 3.000 thế giới mà mài làm mực, rồi cứ đi qua 1.000 cõi nước chấm xuống một chấm, như thế cho đến khi hết mực cũng không thể đếm được số kiếp Ngài đã thành Phật.
Địa Ngục
(s: naraka, niraya, p: niraya, 地獄): âm dịch là Nại Lạc Ca (捺落迦), Na Lạc Ca (那落迦), Nại Lạc (奈落), Nê Lê Da (泥犁耶), Nê Lê (泥犁); ý dịch là Bất Lạc (不樂), Khả Yếm (可厭), Khổ Cụ (苦具), Khổ Khí (苦器), Vô Hữu (無有); là một trong Ngũ Thú (五趣), Lục Thú (六趣), Ngũ Đạo (五道), Lục Đạo (六道), Thất Hữu (七有), Thập Giới (十界); cho nên có tên gọi là Địa Ngục Đạo (地獄道), Địa Ngục Thú (地獄趣), Địa Ngục Hữu (地獄有), Địa Ngục Giới (地獄界). Địa Ngục hay Âm Gian (陰間) được con người xem như là địa phương nơi linh hồn người chết sẽ trở về sau khi từ giã cõi đời này. Quan niệm về Địa Ngục phân bố thế giới rộng hay hẹp tùy theo quan niệm tín ngưỡng của mỗi tôn giác khác nhau. Theo Phật Giáo, Địa Ngục được chia thành như sau: (1) Tám Địa Ngục Lớn, còn gọi là Tám Địa Ngục Nóng (八熱地獄, Bát Nhiệt Địa Ngục), gồm: Đẳng Hoạt (s: sañjīva, 等活), Hắc Thằng (s: kālasūtra, 黒繩), Chúng Hợp (s: saṅghāta, 眾合), Khiếu Hoán (s: raurava, 叫喚, hay Hiệu Khiếu [號叫]), Địa Khiếu Hoán (s: mahāraurava, 大叫喚, hay Đại Khiếu [大叫]), Tiêu Nhiệt (s: tapana, 焦熱, hay Viêm Nhiệt [炎熱]), Đại Tiêu Nhiệt (s: pratapana, 大焦熱), A Tỳ (s: avīci, 阿鼻, hay Vô Gián [無間], A Tỳ Chỉ [阿鼻旨], Bát Vạn [八萬]). (2) Tám Địa Ngục Lạnh (八寒地獄, Bát Hàn Địa Ngục), gồm: Át Bộ Đà (s: arbuda, 頞部陀), Ni Lạt Bộ Đà (s: nirarbuda, 尼剌部陀), Át Chiết Tra (s: aṭaṭa, 頞哳吒, hay A Tra Tra [阿吒吒]), Hoắc Hoắc Bà (s: hahava, 臛臛婆, hay A Ba Ba [阿波波]), Hổ Hổ Bà (s: huhuva, 虎虎婆), Miệt Bát La (s: utpala, 嗢鉢羅), Bát Đặc Ma (s: padma, 鉢特摩), Ma Ha Bát Đặc Ma (s: mahāpadma, 摩訶鉢特摩). Ngoài ra, trong Tám Địa Ngục Lớn ấy, mỗi Địa Ngục đều có 16 Địa Ngục quyến thuộc (tức 16 Địa Ngục nhỏ), hợp cả Địa Ngục lớn và nhỏ lại, tổng cọng có 136 Địa Ngục. Quán Phật Tam Muội Hải Kinh (觀佛三昧海經) quyển 5 có nêu rõ 18 loại Địa Ngục nhỏ như 18 Địa Ngục Lạnh (十八寒地獄, Thập Bát Hàn Địa Ngục), 18 Địa Ngục Tối Tăm (十八黑闇地獄, Thập Bát Hắc Ám Địa Ngục), 18 Địa Ngục Nóng Ít (十八小熱地獄, Thập Bát Tiểu Nhiệt Địa Ngục), 18 Địa Ngục Vòng Tròn Đao (十八刀輪地獄, Thập Bát Đao Luân Địa Ngục), 18 Địa Ngục Vòng Tròn Kiếm (十八劍輪地獄, Thập Bát Kiếm Luân Địa Ngục), 18 Địa Ngục Xe Lửa (十八火車地獄, Thập Bát Hỏa Xa Địa Ngục), 18 Địa Ngục Phân Sôi (十八沸屎地獄, Thập Bát Phí Thỉ Địa Ngục), 18 Địa Ngục Vạc Nước Sôi (十八鑊湯地獄, Thập Bát Hoạch Thang Địa Ngục), 18 Địa Ngục Sông Tro (十八灰河地獄, Thập Bát Hôi Hà Địa Ngục), 18 Địa Ngục Đá Nhọn (十八尖石地獄, Thập Bát Tiêm Thạch Địa Ngục), 18 Địa Ngục Hang Thép (十八鐵窟地獄, Thập Bát Thiết Quật Địa Ngục), 18 Địa Ngục Uống Nước Đồng (十八飲銅地獄, Thập Bát Ẩm Đồng Địa Ngục), v.v. Có 5 ý nghĩa về từ Vô Gián: (1) Thú Quả Vô Gián (趣果無間, chiêu thọ nghiệp quả không qua đời khác, tức báo ứng ngay đời này); (2) Thọ Khổ Vô Gián (受苦無間, chịu khổ không gián đoạn); (3) Thời Vô Gián (時無間, trong một kiếp, chịu khổ báo không gián đoạn); (4) Mạng Vô Gián (命無間, thọ mạng chịu khổ liên tục, không gián đoạn); (5) Hình Vô Gián (形無間, thân hình của chúng sanh và sự lớn nhỏ của Địa Ngục tương đồng mà không có kẻ hở). Do chúng sanh tạo các loại nghiệp nhân bất đồng, mỗi loại Địa Ngục chiêu cảm quả báo bất đồng. Về vị trí của Địa Ngục, có 3 thuyết khác nhau: (1) Theo Trường A Hàm Kinh (長阿含經) quyển 19, Đại Lâu Thán Kinh (大樓炭經) quyển 2, Phẩm Nê Lê (泥犁品), Địa Ngục nằm chung quanh biển lớn, trong khoảng giữa của Đại Kim Cang Sơn và Đại Kim Cang Sơn thứ hai. (2) Theo Lập Thế A Tỳ Đàm Luận (立世阿毘曇論) quyển 1, Địa Động Phẩm (地動品), Địa Ngục nằm ngoài Thiết Vi Sơn (s: Cakravāḍa-parvata, p: Cakkavāḷa-pabbata, 鐵圍山), chỗ hẹp nhất là 80.000 do tuần; chỗ rộng nhất là 160.000 do tuần. (3) Theo Đại Tỳ Bà Sa Luận (大毘婆沙論) quyển 172, Câu Xá Luận (具舍論) quyển 11, v.v., Vô Gián Địa Ngục nằm cách khoảng 20.000 do tuần dưới Nam Thiệm Bộ Châu (s: Jampudīpa, 南贍部洲); các Địa Ngục khác nằm chồng chất lên nhau theo thứ tự, hay nằm một bên. Hơn nữa, còn có Cô Địa Ngục (孤地獄), Biên Địa Ngục (邊地獄), không lệ thuộc vào các Địa Ngục lớn nhỏ bên trên, hoặc nằm trong Tứ Châu (s: catvāro dvīpāḥ, p: cattāro dīpā, 四洲), bên sông núi, hay dưới lòng đất, trên không, v.v. Trong Di Sơn Nhiên Thiền Sư Phát Nguyện Văn (怡山然禪師發願文) của Truy Môn Cảnh Huấn (緇門警訓, Taishō No. 2023) quyển 6 có đoạn rằng: “Nê Lê khổ thú, Ngạ Quỷ đạo trung; hoặc phóng đại quang minh, hoặc kiến chư thần biến, kỳ hữu kiến ngã tướng, nãi chí văn ngã danh, giai phát Bồ Đề tâm, vĩnh xuất luân hồi khổ (泥犁苦趣餓鬼道中、或放大光明、或見諸神變、其有見我相、乃至聞我名、皆發菩提心、永出輪迴苦, Địa Ngục nẻo khổ, Quỷ Đói đường trong; hoặc phóng ánh quang minh, hoặc thấy các thần biến, nếu có thấy tướng ta, cho đến nghe tên ta, đều phát Bồ Đề tâm, mãi ra luân hồi khổ).” Hay trong Thiện Huệ Đại Sĩ Lục (善慧大士錄, CBETA No. 1335) quyển 3, phần Đệ Tứ Chương Minh Tướng Hư Dung (第四章明無相虛融) lại có câu: “Như Lai Pháp Thân vô biệt xứ, phổ thông Tam Giới khổ Nê Lê, Tam Giới Nê Lê bổn phi hữu, vi diệu thùy phục đắc tri hề (如來法身無別處。普通三界苦泥犁。三界泥犁本非有。微玅誰復得知蹊, Như Lai Pháp Thân đâu chốn khác, thông cùng Ba Cõi khổ Nê Lê, Ba Cõi Nê Lê vốn không có, vi diệu ai lại biết nẻo về).” Hoặc như trong Vĩnh Bình Điển Tòa Giáo Huấn (永平典座敎訓) có đoạn: “Ngã nhược sanh Địa Ngục Ngạ Quỷ Súc Sanh Tu La đẳng chi thú, hựu sanh tự dư chi Bát Nạn thú, tuy hữu cầu tăng lực chi phú thân, thủ tự bất khả tác cúng dường Tam Bảo chi tịnh thực (我若生地獄餓鬼畜生修羅等之趣、又生自餘之八難趣、雖有求僧力之覆身、手自不可作供養三寶之淨食, ta nếu sanh vào các đường Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Tu La, hay sanh vào các đường Tám Nạn khác, tuy có cầu năng lực chư tăng che chở thân, nhưng tay không thể tự mình lấy thức ăn thanh tịnh cúng dường Tam Bảo).”
Địa ngục
地獄; C: dìyù; J: jigoku; |Theo nghĩa đen là tù ngục trong lòng đất, nơi đó tội nhân phải chịu mọi loại tra tấn do kết quả của mọi việc ác đã làm trong tiền kiếp (như phá giới). Từ gốc trong thuật ngữ Ấn Độ là naraka và niraya (Phạn và Pāli), dịch sang tiếng Hán là Nại-lạc (奈落), Na-lạc (那落) và Nê-lê (泥黎). Được xem là một trong 3 đường ác (Tam ác đạo 三惡道, Tam ác thú 三惡趣), hoặc là 1 trong Ngũ thú (五趣), Lục đạo (六道), hay Thập giới (十界). Kinh điển đề cập đến nhiều loại và tên các địa ngục, trong đó, nổi tiếng nhất là Bát nhiệt địa ngục (八熱地獄, hoặc Bát đại địa ngục 八大地獄) và Bát hàn địa ngục (八寒地獄), kéo dài từ địa ngục Đẳng hoạt (等活, s: saṃjīva) đến Địa ngục A-tì (阿鼻, s: avīci), là toàn phần của Căn bản địa ngục (根本地獄). Còn có địa ngục nhỏ hơn, kế tiếp hoặc sát bên cạnh. Tầng thứ ba địa ngục gọi là những địa ngục biệt lập (Cô địa ngục 孤地獄) ở trong núi, sa mạc ở bên trên mặt đất. Sự tạo thành và tương quan giữa các địa ngục được giải thích chi tiết trong những kinh luận như A-tì-đạt-ma Câu-xá luận. Như người ta nghĩ, giáo lí chung về địa ngục được phát triển qua một thời gian dài, can cứ vào nhiều nguồn và ảnh hưởng của tôn giáo Ấn Độ. Mọi cuốn Từ điển Phật học đều có ghi đề mục nầy, bao gồm nhiều chi tiết về danh mục và thuộc tính của từng địa ngục.
địa ngục
2311梵語 naraka 或 niraya,巴利語 niraya。音譯作捺落迦、那落迦、奈落、泥梨耶、泥梨。又作不樂、可厭、苦具、苦器、無有。係五趣之一,六趣之一,五道之一,六道之一,七有之一,十界之一,故又稱地獄道、地獄趣、地獄有、地獄界。有下列之分類:(一)八大地獄,又作八熱地獄、八大熱地獄。即等活、黑繩、眾合、叫喚(號叫)、大叫喚(大叫)、炎熱、大焦熱(極熱)、阿鼻(阿鼻旨、無間、八萬)等八大地獄。(二)八寒地獄,即頞部陀、尼剌部陀、頞哳吒(又作阿吒吒)、臛臛婆(又作阿波波)、虎虎婆、媼鉢羅、鉢特摩、摩訶鉢特摩等八寒地獄。 此外,八大地獄各有十六眷屬地獄(即副地獄,又稱十六小地獄、十六遊增地獄),合其大小,總有一三六地獄。另據觀佛三昧海經卷五所載,屬於無間(阿鼻)地獄之小地獄有十八寒地獄、十八黑闇地獄、十八小熱地獄、十八刀輪地獄、十八劍輪地獄、十八火車地獄、十八沸屎地獄、十八鑊湯地獄、十八灰河地獄、五百億劍林地獄、五百億刺林地獄、五百億銅柱地獄、五百億鐵機地獄、五百億鐵網地獄、十八鐵窟地獄、十八鐵丸地獄、十八尖石地獄、十八飲銅地獄等十八種之地獄。又無間地獄之「無間」,有趣果無間(謂招受業果不經他世,而於現世即報)、受苦無間(受苦不間斷)、時無間(於一劫中,受苦不間斷)、命無間(受苦之壽命相續不斷)、形無間(眾生之身形與地獄之大小相同而無間隙)等五種無間之意。各類地獄皆由眾生所造各種不同之業因,而招感不同之果報。 有關地獄之位置,有下列三說:(一)長阿含經卷十九、大樓炭經卷二泥犂品等載,地獄位於大海之周圍,大金剛山與第二大金剛山之間。(二)立世阿毘曇論卷一地動品載,地獄位於鐵圍山之外,其最狹處為八萬由旬,最廣處為十六萬由旬。(三)據大毘婆沙論卷一七二、俱舍論卷十一等所載,無間大地獄位於贍部洲之下二萬由旬之處,其餘七大地獄次第重疊於其上,或傍布其側。此外,另有孤地獄及邊地獄,不隸屬於上記之各大小地獄,或位於四洲之中、江河山邊,或位於地下、空中等處。有謂孤地獄即邊地獄,二者僅係名稱不同而已。〔中阿含卷十二天使經、起世因本經卷二、四泥犁經、正法念處經卷五、地藏菩薩本願經地獄名號品、立世阿毘曇論卷六、卷七、卷八、順正理論卷三十一、瑜伽師地論卷四、大智度論卷九、卷十六、卷三十、卷三十九、卷六十二〕(參閱「八寒地獄」297、「八熱地獄」311、「十六小地獄」383)
; Naraka (S) Earth-prison, hell or hells.
; Là chỗ ở của người phạm tội, chỉ thọ khổ chẳng thọ vui, tội càng lớn thì mạng sống càng lâu.
; Niraya (p)—Naraka (skt)—Niraya (p). • Địa ngục, một trong sáu đường sanh tử luân hồi, là con đường đi xuống, nơi không vui mà chỉ có khổ sở—Hell or earth prison, one of the six gati or ways of transmigration, the downward path to hell—A place of joyless and suffering—The realm of hell beings—Earth-prison. There are different kinds of hells. • Theo Vi Diệu Pháp của Ngài Bhikkhu Bodhi, địa ngục là cảnh giới sinh tồn thấp nhứt, nơi có nhiều cảnh khổ, nơi chúng sanh phải trả những nghiệp bất thiện đã tạo trong quá khứ. Đây không phải là địa ngục trường cửu, đến lúc trả xong nghiệp xấu, chúng sanh bất hạnh có thể tái sanh vào một cảnh giới khác, an vui hạnh phúc nhờ vào các nghiệp thiện—According to the Abhidharma, composed by Bhikkhu Bodhi, Hell (Niraya) is the lowest plane of existence, the place of most intense suffering. It is said that beings in the Hell have to suffer the result of their evil deeds in the past. This is not a permanent hell, once these beings pay all retributions for their past unwholesome karmas, they can be reborn in a better and happier plane owing to their past wholesome karmas: (A) Căn Bản Địa Ngục: Central or radical hells. a) Bát Nhiệt Địa Ngục: Tám địa ngục nóng trong vùng Nam của châu Diêm Phù Đề—The eight hot hells, located under the southern continent of Jambudvipa: 1) Đẳng Hoạt (Cánh hoạt) Địa Ngục: Samjiva (skt)—Sanjiva (p)—Tưởng Địa Ngục—Sau nhiều nhục hình khổ sở, như chặt, đâm, bầm, chém, tuy thế sau một cơn gió lạnh thổi và tâm thức và mang nó trở trần thế hay dần dần tỉnh lại như trước để tiếp tục thọ hình—Rebirth, where after many kinds of suffering, a cold wind blows over the soul and returns it to this life as it was before. The hell in which the denizens are chopped, stabbed, ground, and pounded, but by a cool wind are brought back to life, to undergo renewed torment. 2) Hắc Thằng Địa Ngục: Kalasutra (skt)—Kalasutta (p)—Nơi những tội phạm bị buộc bằng dây xích đen, rồi bị bằm và cưa ra từng mảnh—Where the sufferer is bound with black chains and chopped or sawn asunder. 3) Tuyến Hợp (Chúng hợp) Địa Ngục: Samghata (skt)—Sanghata (p)—Nơi mà nhiều hình phạt sụp núi đè lên tội nhân—Where are multitudes of implements of torture, or the falling of mountains upon the sufferer. 4) Hiệu Kiếu Địa Ngục: Raurava (skt)—Roruva (p)—Địa ngục mà tội nhân than khóc—Hells of crying and wailing. 5) Đại Kiếu Địa Ngục: Maharaurava (skt)—Maharoruva (p)—Địa ngục nơi tội nhân than khóc không ngừng—Hells of great wailing. 6) Viêm Nhiệt Địa Ngục: Tapana (skt & p)—Nơi tội nhân bị lửa đốt—Hells of flames and burning. 7) Đại Nhiệt (Đại thiêu chích—Đại viêm nhiệt) Địa Ngục. Địa ngục nóng nhất trong tám địa ngục nóng nơi đây mọi vật đều bị nấu chảy ra: Mahatapana (skt & p)—The hottest hells. Hells of molten leads. 8) Vô Gián Địa Ngục: Avici (skt & p)—Nơi tội nhân bị hình phạt đau đớn chết rồi tái sanh không ngừng để chịu khổ—Avici hell, the last of the eight hot hells, or unintermitted suffering, where sinners die and are reborn to suffer without interval (in which punishment, pain, birth, death continue without intermission). (B) Bát Hàn Địa Ngục: Tám địa ngục lạnh—The eight cold hells: 1) Át Phù Đà Địa Ngục: Arbuda—Nơi tội nhân luôn bị bỏng giộp vì lạnh—Where the cold causes blisters. 2) Ni Chế Bộ Đà Địa Ngục: Nirarbuda—Nơi đó lạnh đến nổi những bỏng giộp bị bể ra gây đau đớn vô cùng—Colder condition causing the blisters to burst to cause even more painful. 3) Át Triết Xá: Atata—Nơi chỉ có âm thanh từ đôi môi đông đá—Where there is the only possible sound from frozen lips. 4) A Ba Ba Địa Ngục: Habava or Apapa—Nơi quá lạnh nên chỉ có âm “A Ba” là nghe được—Where it is so cold that only this sound can be uttered. 5) Hổ Hổ Bà Địa Ngục: Ahaha, Hahadhara, Hahava, or Huhuva (skt)—Nơi lạnh quá nên tội nhân chẳng thốt ra lời, duy chỉ có âm thanh “Hổ hổ bà” xuyên qua cổ họng của họ là nghe được. Phật giáo Nam Tông không có ý niệm về loại địa ngục nầy—Where only this sound can be uttered. This is where the condemned neither stir nor speak, but the cold air passing through their throats produces this sound (ahaha, hahadhara, hahava, or huhuva). This hell is unknown to the Southern Buddhism. 6) Ưu Bát La Địa Ngục: Utpala—Nơi da đông đá như những bông sen xanh—Where the skin is frozen like blue lotus buds. 7) Bát Đặc La Địa Ngục: Padma—Chúng sanh bị rét cắt da, nơi da đông lại và vỡ tung ra như những bông sen đỏ—Where the skin is frozen and bursts open like red lotus buds. 8) Ma Ha Bát Đặc Ma Địa Ngục: Maha-padma—Hồng Liên Đại Hồng Liên Địa Ngục—Nơi quá lạnh làm cho da đông lại và vỡ tung ra như những nụ sen đỏ—Where it is very cold that the skin is frozen and bursts open like great red lotus buds. (C) Địa Ngục Phụ (Cận biên): 16 địa ngục phụ cận—Secondary hells—Adjacent hells—Sixteen inferior hells (each hot hell has a door on each of its four sides, opening from each such door are four adjacent hells. (D) Cô Độc Địa Ngục: Lokantarika (skt)—Địa ngục cô độc tọa lạc nơi không trung hay vùng núi, sa mạc, và bên dưới đất (mỗi tội nhân bị đày vào địa ngục nầy tùy nghiệp của từng người khác nhau mà bị đày riêng ở những nơi khác nhau)—Isolate hells situated in space, or in mountains, deserts, below and above the earth.
; (地獄) Phạm: Naraka hoặc Niraya, Pàli: Niraya. Dịch âm: Nại lạc ca, Na lạc ca, Nại lạc, Nê lê da, Nê lê. Cũng gọi Bất lạc, Khả yếm, Khổ cụ, Khổ khí, Vô hữu, Địa ngục đạo, Địa ngục thú, Đia ngục hữu, Địa ngục giới. Một trong Ngũ thú, một trong Lục thú, một trong Ngũ đạo, một trong Lục đạo, một trong Thất hữu, một trong Thập giới. Là nơi chịu khổ của chúng sinh tạo các nghiệp ác, như giết hại, trộm cướp, gian dâm. Địa ngục được phân loại như sau: 1. Bát đại địa ngục (cũng gọi Bát nhiệt địa ngục, Bát đại nhiệt địa ngục), gồm 8 địa ngục: Đẳng hoạt, Hắc thằng, Chúng hợp, Khiếu hoán (Hào khiếu). Đại khiếu hoán (Đại khiếu), Viêm nhiệt, Đại tiêu nhiệt (Cực nhiệt), A tị (Vô gián) v.v... 2. Bát hàn địa ngục: Át bộ đà, Ni thích bộ đà, Át chiết tra (A tra tra), Hoắc hoắc bà (A ba ba), Hổ hổ bà, Ôn bát la, Bát đặc ma và Ma ha bát đặc ma. Ngoài ra, mỗi một địa ngục trong Bát đại địa ngục đều có 16 địa ngục nhỏ phụ thuộc, tổng cộng là 136 địa ngục. Về vị trí của các địa ngục thì có 3 thuyết: 1. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 19 và phẩm Nê lê trong kinh Đại lâu thán quyển 2, thì địa ngục ở chung quanh biển lớn, ở khoảng giữa núi Đại kim cương và núi Đại kim cương thứ 2. 2. Cứ theo phẩm Địa động trong luận Lập thế a tì đàm quyển 1, thì địa ngục ở ngoài núi Thiết vi, chỗ hẹp nhất là 8 vạn do tuần, chỗ rộng nhất là 16 vạn do tuần. 3. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 172 và luận Câu xá quyển 11, thì Đại địa ngục Vô gián ở phía dưới Nam thiện bộ châu cách 2 vạn do tuần, 7 địa ngục còn lại theo thứ tự chồng xếp lên trên hoặc nằm ở bên cạnh. Ngoài ra, còn có Cô địa ngục và Biên địa ngục không lệ thuộc vào các địa ngục lớn, nhỏ nói trên, hoặc ở trong 4 châu, ven sông bên núi, hoặc ở dưới đất, giữa hư không v.v... Có chỗ nói Cô địa ngục tức là Biên địa ngục, 2 địa ngục này là một, chỉ khác nhau về tên gọi mà thôi. [X. kinh Thiên sứ trong Trung a hàm Q.12; kinh Khởi thế nhân bản Q.2; kinh Tứ nê lê; kinh Chính pháp niệm xứ Q.5; phẩm Địa ngục danh hiệu trong kinh Địa tạng bồ tát bản nguyện; luận Lập thế a tì đàm Q.6, Q.7, Q.8; luận Thuận chính lí Q.31; luận Du già sư địa Q.4; luận Đại trí độ Q.9, Q.16, Q.30, Q.39, Q.62]. (xt. Bát Hàn Địa Ngục, Bát Nhiệt Địa Ngục, Thập Lục Tiểu Địa Ngục).
địa ngục A-tỳ
phiên âm từ Phạn ngữ là Avỵci, còn gọi là Địa ngục Vô gián (無間). Vì tội nhân trong địa ngục này phải chịu những nỗi khổ không bao giờ gián đoạn, dừng lại, nên gọi là “vô gián”.
địa ngục biến
2313請參閱 教化地獄經 又作地獄變相、地獄圖、地獄繪。為十界圖之一,六道圖之一。變,變現之意。將地獄之各種景象以繪畫之方式示現者,稱為地獄變。此類為勸善懲惡所繪之地獄圖相,而為勸導眾生往生極樂世界所繪者,稱淨土圖。此種地獄描繪圖,始自印度阿旃多石窟寺。西域、中國亦有地獄圖流傳至今。 我國自唐代以後即盛行此種繪圖,張孝師、吳道子等人皆為著名之高手。其中,以吳道子最為有名,其於唐開元二十四年(736),在景公寺之壁上繪出地獄圖相時,令京都之觀者皆驚懼而不食肉,兩都之屠夫為此而轉業。據歷代名畫記所舉,張孝師、陳靜眼、盧稜伽、劉阿祖等人皆於各大寺院之壁上繪畫地獄圖。此外,圓頓觀心十法界圖、三界六道輪迴圖等,於當時亦十分流行。 日本自平安中期源信之往生要集出版後,即有淨土變圖繪問世(鎌倉時代作品)。來迎寺之十界圖(十五幅)中,有等活、黑繩、眾合、阿鼻、閻魔王廳圖等。北野天神緣起之根本緣起中則有兩卷地獄相。此外尚有禪林寺之十界圖、金戒光明寺之地獄極樂屏風與地獄草子等。〔正法念處經卷四十八、有部毘奈耶雜事卷十七、佛祖統紀卷四十、天竺別集卷二(遵式)、龍舒增廣淨土文卷八(王日休)〕
; (地獄變) Cũng gọi Địa ngục biến tướng, Địa ngục đồ, Địa ngục hội. Bức tranh vẽ những cảnh tượng địa ngục để mọi người trông thấy, gọi là Địa ngục biến, mục đích khuyên người làm thiện tránh ác. Loại tranh này xuất hiện đầu tiên ở chùa Thạch quật thôn A chiên đa (Ajantà) bên Ấn độ. Tại Trung quốc từ đời Đường trở về sau loại tranh này rất thịnh hành và Ngô đạo tử là người nổi tiếng nhất về loại tranh này. Năm Khai nguyên 24 (736) đời Đường, Ngô đạo tử vẽ Địa ngục biến trên vách chùa Cảnh công, sau khi xem, những người ở kinh đô đều sợ hãi không dám ăn thịt và các nhà đồ tể ở Lưỡng đô (Đông đô, Tây đô) phải đổi nghề. Cứ theo Lịch đại danh họa kí nói, thì Trương hiếu sư, Trần tĩnh nhãn, Lư lăng già, Lưu a tổ v.v... đều có vẽ tranh địa ngục trên vách các chùa viện và hiện vẫn còn. Ngoài ra, Viên đốn quán tâm thập pháp giới đồ, Tam giới lục đạo luân hồi đồ v.v... cũng được lưu hành rất rộng ở đương thời. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.48; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.17; Phật tổ thống kỉ Q.40; Thiên trúc biệt tập Q.2 (Tuân thức); Long thư tăng quảng tịnh độ văn Q.8 (Vương nhật hưu)].
địa ngục bạt thiệt
Hell of Pulling Tongues.
địa ngục bảo trụ
Hell of Embracing Pillar.
địa ngục canh thiệt
Hell of Plowing Tongues.
địa ngục cô độc
Isolated hells
địa ngục căn bổn
The eight hot hells
địa ngục cận biên
Adjacent hells
; Adjacent hells.
địa ngục cứ nha
Hell of Sawing Teeth.
địa ngục cực vô gián
Ultimately Uniterrupted hell.
địa ngục dương đồng
Molten Brass Hell.
địa ngục giáp sơn
Squeezing Mountain Hell.
địa ngục kiếu khấp
The hell of wailing.
địa ngục kiếu oán
Hell of Crying Out.
địa ngục lưu hỏa
Hell of Flowing Fire.
địa ngục phi đao
Hell of Flying Knives
địa ngục thiên nhẫn
Hell of Thousand Blades.
địa ngục thiên tử
Đâu Suất thiên tử—The prince of Hades (Sakyamuni)—The immediate transformation of one in hell into a deva because he had in a previous life known of the merit and power of the Hua-Yen Sutra.
địa ngục thiêu cước
Hell of Burning Foot.
địa ngục thiêu thủ
Hell of Burning Hands.
địa ngục thông thương
Hell of Piercing Spears.
địa ngục thú
See Địa Ngục Đạo.
địa ngục thảo tử
2311乃六道圖之一,為日本佛教繪卷。有益田家一卷(詞繪各七段)、文化財保護委員會一卷(詞五段、繪七段)、國立博物館一卷(詞繪各四段)等諸版本。係鎌倉初期所流行之六道繪之一。相傳繪為光長所畫;詞書為寂蓮所作。然各卷未必為同一人所作。地獄怪異景象之描繪,極其生動,其表現之巧妙,絕非平凡作品所能比者。同類之繪卷有餓鬼草子、病草子。
; (地獄草子) Một trong những tranh vẽ Lục đạo của Phật giáo Nhật bản, do Quang trường vẽ và Tịch liên soạn lời, được lưu hành vào thời Liêm thương. Tác phẩm này miêu tả những cảnh tượng ghê sợ ở địa ngục rất sống động với một kĩ thuật biểu hiện điêu luyện mà không một họa phẩm bình thường nào có thể sánh kịp. Cùng một thể tài này còn có tranh Ngã quỉ thảo tử, Bệnh thảo tử v.v...
địa ngục tranh luận
Hell of Quarreling.
Địa ngục Vô gián
xem địa ngục A-tỳ.
địa ngục vô gián
A Tỳ địa ngục, địa ngục cuối cùng trong tám địa ngục nơi những chúng sanh tội phạm chết và tái sanh không ngừng nghỉ—Avici Hell—The hell of no interval—Interrupted hell—The last of the eight great hot hells where whose suffers die and reborn incessantly.
địa ngục đa sân
Much Hatred Hell.
địa ngục đao đồ
Hell of Swords—Where the leaves and grasses are sharp-edged swords.
địa ngục đạo
Địa Ngục Thú—Một trong sáu nẻo luân hồi của chúng sanh, những chúng sanh mắc tội khi chết sẽ bị đọa vào đây—The hell-gati, or destiny of reincarnation in the hells, one of the six gati or ways of transmigration.
địa ngục đồng tỏa
Hell of Brazen Locks.
địa ngục ẩm huyết
Hell of Blood Drinking.
Địa ngục 地獄
[ja] ジゴク jigoku ||| Translated into English as "hell" but literally refers to a prison in the bowels of the earth where it prisoners are subject to all kinds of torture as a result of their extensive evil activities in their prior life (such as violating the precepts 破戒). The original Indic terms of naraka and niraya (Sanskrit and Pali) are transliterated into Chinese as 奈落 (那落) and 泥黎 respectively. It is considered as one of the three evil destinies 三惡道 (三惡趣) five destinies 五趣, six destinies 六道, and ten realms 十界. The scriptures have extensive categories and lists of the hells, among the most well-known are the eight hot hells 八熱地獄 (八大地獄) and eight cold hells 八寒地獄 that extend between the saṃjīva 等活 and avīci 阿鼻 hells, which are all part of the primary hells 根本地獄. These also have secondary, or adjacent hells attached to them. A third class of hells are the "isolated" hells 孤地獄 in the mountains, deserts, below and above the earth. The composition of and relationship between the hells is explained in detail in such scriptures as the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論. As one might expect, this extensive theory of hells developed over a long period of time, based on numerous sources and influences in Indian religion. All of the Buddhist dictionaries listed in the references for this entry contain extensive detail regarding the lists and attributes of the hells. => Theo nghĩa đen là tù ngục trong lòng đất, nơi đó tội nhân phải chịu mọi loại tra tấn do kết quả của mọi việc ác đã làm trong tiền kiếp (như phá giới). Từ gốc trong thuật ngữ Ấn Độ là naraka và niraya (Sanskrit và Pali), dịch sang tiếng Hán là Nại-lạc奈落 (Na-lạc那落) và Nê-lê (泥黎). Được xem là một trong ba đường ác (Tam ác đạo, Tam ác thú 三惡道; 三惡趣), hoặc là1 trong Ngũ thú, Lục đạo, hay Thập giới. Kinh điển đề cập đến nhiều loại và tên các địa ngục, trong đó, nổi tiếng nhất là Bát nhiệt địa ngục (Bát đại địa ngục) và Bát hàn địa ngục, kéo dài từ địa ngục Đẳng hoặt (saṃjīva 等活) đến Địa ngục A-tì (avīci 阿鼻), là toàn phần của Căn bản địa ngục. Còn có địa ngục nhỏ hơn, kế tiếp hoặc sát bên cạnh. Tầng thứ ba địa ngục gọi là những địa ngục biệt lập (Cô địa ngục) ở trong núi, sa mạc ở bên trên mặt đất. Sự tạo thành và tương quan giữa các địa ngục được giải thích chi tiết trong những kinh luận như A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận. Như người ta nghĩ, giáo lý chung về địa ngục được phát triển qua một thời gian dài, can cứ vào nhiều nguồn và ảnh hưởng của tôn giáo Ấn Độ. Mọi cuốn Từ điển Phật học đều có ghi đề mục nầy, bao gồm nhiều chi tiết về danh mục và thuộc tính của từng địa ngục.
địa nội
Annexes, or subsidiary buildings in the grounds of a monastery.
Địa Phủ
(地府): còn gọi là Âm Tào Địa Phủ (陰曹地府), chỉ dưới lòng đất, tên gọi khác của Địa Ngục. Tại Trung Quốc, phần lớn các điển tịch thần thoại cổ đại cũng như của Phật Giáo đều có đề cập đến tên gọi Âm Tào Địa Phủ. Người dân Trung Quốc chia thế giới vạn vật làm hai cực: đó là học thuyết âm dương, là thành phần quan trọng của học thuyết cổ đại Trung Quốc; như Trời (dương) và Đất (âm), nam (dương) và nữ (âm), mặt trời (dương) và mặt trăng (âm). Hơn nữa, tại Trung Quốc còn có học thuyết Ba Cõi: trên trời, con người và địa ngục. Họ cho rằng mỗi con người đều có linh hồn, 3 hồn hay 7 hồn. Sau khi con người chết đi, trước hết sẽ đọa xuống cõi Âm Tào Địa Phủ để chịu sự xét xử, thọ nhận quả báo, hình phạt; được vị phán quan cõi âm là Diêm La Vương (閻羅王) phán xét. Nếu ai trên dương gian làm việc thiện, tu nhân tích đức, sẽ đắc đạo thành tiên, sanh về cõi trời, được trường sanh bất tử. Nếu người chuyên làm việc ác, sẽ bị trừng phạt trong 18 tầng Địa Ngục dưới Âm Phủ. Người trung quốc xưa cho rằng trên trời có Ngọc Hoàng Thượng Đế chưởng quản, ở phương Tây có Phật Tổ Như Lai, trên đời có Hoàng Đế cai trị; còn cõi âm thì có Bồ Tát Địa Tạng (s: Kṣitigarbha, 地藏) cũng như các vua khác chủ quản. Theo truyền thuyết, người chưởng quan tối cao cõi Địa Phủ là Thiên Tề Nhân Thánh Đại Đế (天齊仁聖大帝), cai quản toàn thể sanh linh vạn vật. Kế đến là Bắc Âm Phong Đô Đại Đế (北陰酆都大帝). Sau đó có các Quỷ Đế (鬼帝, vua quỷ) ở 5 phương: Đông Phương Quỷ Đế Thái Uất Lũy (東方鬼帝蔡鬱壘), còn gọi là Thần Trà (神荼), cai quản Quỷ Môn Quan (鬼門關) ở Đào Chỉ Sơn (桃止山); Tây Phương Quỷ Đế Triệu Văn Hòa (西方鬼帝趙文和), còn gọi là Vương Chân Nhân (王真人), cai quản Ba Trủng Sơn (嶓塚山); Bắc Phương Quỷ Đế Trương Hành (北方鬼帝張衡), còn gọi là Dương Vân (楊雲), cai quản La Phong Sơn (羅酆山); Nam Phương Quỷ Đế Đỗ Tử Nhân (南方鬼帝杜子仁), cai quản La Phù Sơn (羅浮山); Trung Ương Quỷ Đế Chu Khất (中央鬼帝週乞), còn gọi là Khể Khang (稽康), cai quản Bão Độc Sơn (抱犢山). Bên dưới là 6 vị trời La Phong (羅酆), tức là những vị Thủ Cung Thần (守宮神), gồm: Trụ Tuyệt Âm Thiên Cung (紂絕陰天宮), Thái Sát Lượng Sự Tông Thiên Cung (泰煞諒事宗天宮), Minh Thần Nại Phạm Võ Thành Thiên Cung (明晨耐犯武城天宮), Điềm Chiêu Tội Khí Thiên Cung (恬昭罪氣天宮), Tông Linh Thất Phi Thiên Cung (宗靈七非天宮), Cảm Ty Liên Uyển Lũ Thiên Cung (敢司連宛屢天宮). Tuy nhiên, truyền thuyết cho rằng chốn Âm Tào Địa Phủ là do Thập Điện Diêm La Vương (十殿閻羅王) thống quản: Tần Quảng Vương (秦廣王), Sở Giang Vương (楚江王), Tống Đế Vương (宋帝王), Ngũ Quan Vương (五官王), Diêm La Vương (閻羅王), Bình Đẳng Vương (平等王), Thái Sơn Vương (泰山王), Đô Thị Vương (都市王), Biện Thành Vương (卞城王), Chuyển Luân Vương (轉輪王). Dưới Thập Điện Diêm La Vương còn có các vị thần khác như Thủ Tịch Phán Quan Thôi Phủ Quân (首席判官崔府君), Chung Khôi (鍾魁), Hắc Bạch Vô Thường (黑白無常), Ngưu Đầu Mã Diện (牛頭馬面), Mạnh Bà Thần (孟婆神), v.v.
Địa Quan
(地官): tên gọi của 6 chức quan dưới thời nhà Chu, tương đương với chức Tư Đồ (司徒), chuyên giám sát những việc liên quan đến giáo dục, đất đai và nhân sự. Đây cũng là tên vị quan dưới âm ty địa ngục. Địa Quancòn là tên gọi của một trong 3 vị của Tam Quan Đại Đế (三官大帝), chính danh là Địa Quan Đại Đế (地官大帝), Trung Nguyên Nhị Phẩm Xá Tội Địa Quan (中元二品赦罪地官), Trung Nguyên Xá Tội Địa Quan Nhị Phẩm Thanh Hư Đại Đế (中元赦罪地官二品清虛大帝), lệ thuộc Thượng Thanh Cảnh (上清境), do khí của Nguyên Động Hỗn Linh (地官由元洞混靈) và tinh màu vàng hỗn hợp lại thành, tổng chủ quản Ngũ Đế (五帝), Ngũ Nhạc (五嶽), các thần tiên. Ông phụng sắc chỉ của Ngọc Hoàng Thượng Đế (玉皇上帝), quản chưởng việc tội ác của con người và đến ngày rằm tháng 7 thường hạ phàm, chỉnh đốn việc tội phước cũng như xá tội cho con người. Giống như Thiên Quan, Địa Quan cũng có vài truyền thuyết khác nhau. Có truyền thuyết cho rằng ông là vua Thuấn, do vì ông có công lao to lớn trong việc khai khẩn đất đai, người dân tưởng nhớ và tôn thờ ông như là vị thần. Vua Thuấn họ Diêu (姚), tên là Trọng Hoa (重華), con cháu đời thứ 8 của Hoàng Đế (黃帝); cha tên Cổ Tẩu (瞽叟), mẹ là Ác Đăng (握登), hạ sanh Thuấn ở vùng đất Diêu Hư (姚虛). Ông để tang mẹ lúc còn nhỏ, cha lại tái giá, sanh được một con tên là Tượng (象). Cậu bé này tánh tình ngạo mạn, thường cùng với mẹ ghẻ hành hạ Thuấn. Tuy nhiên, Thuấn bẩm tính nhân từ, lại rất hiếu thảo và có tài hoa hơn người, thường cày ruộng ở Lịch Sơn (歷山), bắt cá ở Lôi Trạch (雷澤), săn bắn ở Phụ Hạ (負夏), làm đồ gốm ở Hà Tân (河濱); cho nên, người dân dẫn cả gia đình dòng họ đi theo ông để học tập các kỷ năng thao tác. Chỉ trong 2 năm, ông đã hình thành nên thôn ấp, rồi 3 năm thì phát triển thành đô thị; từ đó, uy đức và tiếng tăm của ông vang xa. Vua Nghiêu bèn tuyển người hiền và nhường ngôi cho Thuấn. Sau khi vua Thuấn băng hà, Đạo Giáo tôn sùng ông như là vị thần, chuyên xá tội cho con người vào dịp Tiết Trung Nguyên. Do vì ông chí hiếu với song thân, cho nên Tiết Trung Nguyên còn được gọi là Hiếu Tử Tiết (孝子節). Lại có thuyết cho rằng dưới thời Chu U Vương (周幽王) có 3 vị quan liêm chính là Cát Ung (葛雍), Đường Hoằng (唐宏) và Chu Thật (周實). Cả ba đều từ quan, sống cuộc đời tự tại với thiên nhiên. Đến thời vua Chơn Tông nhà Tống, họ được phong làm Thiên Quan, Địa Quan và Thủy Quan. Ngoài ra, có thuyết cho rằng Ngôn Vương Gia (言王爺) có 3 người con gái đều gả cho Trần Tử Thung (陳子摏) làm vợ; mỗi người hạ sanh được một trai, bẩm tánh khác người; nhân đó, Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊) phong cho cả ba làm Thiên Quan, Địa Quan và Thủy Quan, sắc mệnh chuyên cai quản Ba Cõi, được gọi là Tam Quan Đại Đế. Trong Thái Thượng Tam Nguyên Tứ Phước Xá Tội Giải Ách Tiêu Tai Diên Sanh Bảo Mạng Diệu Kinh (太上三元賜福赦罪解厄消災延生保命妙經), phần Địa Quan Bảo Cáo (地官寶誥) của Đạo Giáo có đoạn về Địa Quan rằng: “Chí tâm quy mạng lễ, Thanh Linh Động Dương, Bắc Đô Cung trung, bộ Tứ Thập Nhị Tào, giai cửu thiên vạn chúng, chủ quản Tam Giới Thập Phương Cửu Địa, chưởng ác Ngũ Nhạc Bát Cực Tứ Duy, thổ nạp âm dương, khiếu nam nữ thiện ác thanh hắc chi tịch, từ dục thiên địa, khảo chúng sanh lục tịch phước họa chi danh, pháp nguyên hạo đại, nhi năng ly Cửu U hạo kiếp, thùy quang nhi năng tiêu vạn tội, quần sanh phụ mẫu, tồn một triêm ân, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Trung Nguyên thất khí, xá tội Địa Quan, Động Linh Thanh Hư Đại Đế, Thanh Linh Đế Quân (志心皈命禮、青靈洞陽、北都宮中、部四十二曹、偕九千萬眾、主管三界十方九地、掌握五嶽八極四維、吐納陰陽、竅男女善惡青黑之籍、慈育天地、考眾生錄籍禍福之名、法源浩大、而能離九幽浩劫、垂光而能消萬罪、群生父母、存沒沾恩、大悲大願、大聖太慈、中元七氣、赦罪地官、洞靈清虛大帝、青靈帝君, Một lòng quy mạng lễ: Thanh Linh Động Dương, trong Bắc Đô Cung, cai quản 42 bộ quan, nhiếp chín ngàn vạn chúng, chủ quản Ba Cõi, Mười Phương, Chín Xứ, chấp chưởng Năm Núi, Tám Cực, Bốn Phương, nhổ thâu âm dương, xét hồ sơ thiện ác, trắng đen của nam nữ, từ bi nuôi dưỡng trời đất, kiểm tra từng tên họa phước của hồ sơ chúng sanh, pháp vốn lớn không cùng, mà có thể lìa kiếp nạn của chốn Cửu U, nương ánh sáng mà có thể tiêu vạn tội, bậc cha mẹ của quần sanh, người còn kẻ mất đều được thấm nhuần ơn, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, bảy khí Trung Nguyên, xá tội Địa Quan, Động Linh Thanh Hư Đại Đế, Thanh Linh Đế Quân).”
địa thiên
2307梵名 Pṛthivī。又作地神、堅牢地神、堅牢地天、持地神。即主掌大地之神。為十二天之一。釋迦成道時,地神自地顯現,驅除邪魔,隨侍於佛陀身旁,並告訴諸天佛陀轉法輪之事,為佛教之守護神。地神之形相有多種,或為男身,或為女身,諸經中記載不一。在密教中,地神係指胎藏界曼陀羅外金剛部院上方四十尊中,位於左隅伊舍那天右方之第七位。〔方廣大莊嚴經卷九降魔品、大唐西域記卷八〕(參閱「堅牢地天」4445)
; Prthivi (skt)—Địa Thiên, một trong bốn vị Chấp kim cang thần trong Kim Cang giới—The earth-deva, one of the four with thunderbolts in the Vajradhatu group.
; (地天) Phạm: Pfthivì. Cũng gọi Địa thần, Kiên lao địa thần, Kiên lao địa thiên, Trì địa thần. Vị thần trông coi về đất đai. Một trong 12 vị trời hộ trì Phật pháp. Khi đức Thích ca thành đạo, Địa thần từ dưới mặt đất hiện lên, xua đuổi tà ma, theo hầu bên cạnh đức Phật, đồng thời, thông báo cho chư thiên biết việc Phật chuyển pháp luân. Về hình tướng Địa thần, trong kinh nói không giống nhau, hoặc là thân đàn ông, hoặc là thân đàn bà. Trong Mật giáo, Địa thần chỉ cho vị thứ 7 ngồi bên phải Y xá na thiên trong 40 vị tôn phía trên viện Kim cương bộ ngoài trong Mạn đồ la Thai tạng giới. [X. phẩm Hàng ma trong kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.9; Đại đường tây vực kí Q.8]. (xt. Kiên Lao Địa Thiên).
địa thiên cấu
The earth-deva in the Garbhadhatu group.
địa thiên hậu
Earth-devi—See Địa Thiên.
địa thượng
2307指初地以上。菩薩經一大阿僧祇劫之修行,初斷一分之惑,證一分之理,稱為歡喜地,是為初地;初地以上有十地,若滿二大阿僧祇劫之修行,則可至佛果。故初地以上,稱為地上;初地以前,稱為地前。地上者稱為法身菩薩,地前者稱為凡夫菩薩。
; On the ground; above the ground; used for sơ địa dĩ thượng the stages above the initial stage of a Bodhisattva's development.
; On the ground—Above the ground.
; (地上) Chỉ cho giai vị Bồ tát từ Sơ địa trở lên. Bồ tát tu hành trải qua một đại a tăng kì kiếp, bắt đầu đoạn trừmột phần hoặc chướng, chứng đượcmột phần chân lí, gọi là Hoan hỉ địa, đó là Sơ địa. Từ Sơ địa trở lên có Thập địa, nếu tu hành đầy đủ hai đại a tăng kì kiếp thì có thể đến Phật quả. Bởi vậy, từ Sơ địa trở lên gọi là Địa thượng. Trước Sơ địa gọi là Địa tiền. Bậc Địa thượng gọi là Bồ tát Pháp thân, người Địa tiền gọi là Bồ tát phàm phu.
địa thần
Earth-devi.
; The earth-devi—Land Deities—See Địa Thiên.
địa tiên
2308<一>即地上之仙人。與地行仙同義。據抱朴子內篇卷二、卷四載,中士之人遍遊名山,稱為地仙;華山、泰山、嵩山、太白山、終南山、峨眉山、天台山、普陀山等,皆為地仙之住處。 <二>地仙亦為安樂之譬喻,如五代之張筠,富甲一方,以酒色聲伎自娛十餘年,時人皆稱其為地仙。
; Earth-rsis—Subterranean—Earth-immortals—Earth genii—Land Fairies.
; (地仙) I. Địa Tiên. Cũng gọi là Địa hành tiên. Tiên ở trên mặt đất. Cứ theo Bão phác tử nội thiên quyển 2, quyển 4, thì hàng trung sĩ du ngoạn khắp các ngọn núi nổi tiếng gọi là Địa tiên. Những nơi như Hoa sơn, Thái sơn, Tung sơn, Thái bạch sơn, Chung nam sơn, Nga mi sơn, Thiên thai sơn, Phổ đà sơn v.v... bên Trung quốc đều là chỗ ở của Địa tiên. II. Địa Tiên. Địa tiên cũng ví dụ sự yên vui, nhàn nhã. Như Trương quân thời Ngũ đại, giầu có nhất trong vùng, tự vui với tửu sắc, ca kĩ hơn 10 năm, người bấy giờ gọi là ông Địa tiên.
địa tiền
2309指菩薩修行過程中「十地」以前之階位;即初地(十地中之第一地)以前之行位。所謂十地,指菩薩修行五十二階位之最終十位;此十位能生成佛智並住持不動,荷負且化益一切眾生,恰如大地能生成、住持並荷負萬物。
; The stage of a Bodhisattva before the sơ địa initial stage.
; Những giai đoạn trước Sơ Địa của Bồ Tát—The stages of a bodhisattva before the initial stage.
; (地前) Chỉ cho các giai vị dưới Thập địa trong quá trình tu hành của Bồ tát. Tức là Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng.
địa trung
See Địa Nội.
địa trì (tài) huệ đồng tử
Đồng tử kiểm soát tài sản trần thế, vị sứ giả thứ tư bên trái của Ngài Văn Thù trên Pháp Giới—The youth who controls earthly possessions, the fourth on left of the messengers of Majusri in the Garbhadhatu group.
Địa trì luận
地持論; C: dìchílùn; J: jijiron; |Gọi đủ là Bồ Tát địa trì luận (菩薩地持經).
Địa trì luận 地持論
[ja] ジジロン Jijiron ||| Dichi lun See Pusa dichijing 菩薩地持經. => Gọi đủ là Bồ-tát Địa trì luận (菩薩地持經c: Dichi lun See Pusa dichijing ).
địa trí bà
Titibha (skt)—Một ngọn núi cao đặc biệt—A particular high mountain (1,000 quadrillion).
địa trấn tế
2322請參閱慈悲地藏懺法 又作地鎮式、地鎮法、地堅法。即築壇建堂時,將金銀等寶物埋入地中,以祭祀地神之儀式。據陀羅尼集經卷十二載,於築壇建堂前,先用繩訂定道場之四角及中央,再以白粉點之為記,次於各點處掘一孔洞,埋入七寶(金、銀、真珠、珊瑚、琥珀、水晶、琉璃)、五穀(大麥、小麥、稻穀、小豆、胡麻),以比擬佛轉法輪處之意。關於埋藏之寶物,據蕤呬耶經卷上舉出五寶、五藥、五穀等十五物,唯埋藏於道場之中央處。另據大日經疏卷四舉出五藥、五寶等十物,亦唯埋藏於中央處。 此地鎮法係依據不動安鎮軌、一髻尊陀羅尼經等而來,為息災、增益之修法。若為鎮地形者,稱為地鎮;若為鎮土壇者,稱為鎮壇。此地鎮、鎮壇若分為前後二次而修,稱為本儀;若簡略地鎮,而一次兼修二者,則稱略儀。
; (地鎮祭) Cũng gọi Địa trấn thức, Địa trấn pháp, Địa kiên pháp. Nghi thức chôn các báu vật như vàng, bạc v.v... xuống đất để cúng tế Địa thần khi xây nền nhà hoặc đàn tràng. Cứ theo kinh Đà la ni tập quyển 12, thì trước khi xây nền làm nhà hoặc đắp đàn tràng, phải dùng dây để phân địnhbốn góc và chính giữa nhà, rồi rắc phấn trắng đánh dấu. Sau đó, ở mỗi chỗ rắc phấn đều đào một lỗ trống, chônbảy thứ báu(vàng, bạc, trân châu, san hô, hổ phách, thủy tinh, lưu li), năm loại hạt (lúa tẻ, lúa mì, gạo nếp, đậu nhỏ, vừng) để tượng trưng chỗ đức Phật chuyển pháp luân. Về các báu vật được chôn giấu, theo kinh Nhuy hi da quyển thượng, có 15 vật: Năm thứ báu (vàng, bạc, san hô, hổ phách, lưu li), năm thứ thuốc (bơ, phó mát, dầu, mật, đường phèn), năm thứ hạt v.v... chỉ chôn ở chỗ chính giữa đạo tràng. Còn theo Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì có 10 vật: Năm thứ thuốc, năm thứ báu cũng chỉ chôn ở chỗ chính giữa đạo tràng. Pháp Địa trấn này có xuất xứ từ Bất động an trấn quĩ và kinh Nhất kế tôn đà la ni, là pháp tu tiêu trừ tai ách, tăng thêm lợi ích. Nếu trấn địa hình thì gọi là Địa trấn; nếu trấn thổ đàn (đàn đắp bằng đất) thì gọi là Trấn đàn. Địa trấn và Trấn đàn này nếu tu hai lần riêng biệt thì gọi là Bản nghi, còn nếu tu chung một lần hai pháp thì gọi là Lược nghi.
địa trần
Earth-dust—Atoms of the earth element—Dust of the earth.
địa tài tuệ đồng tử
See Địa Trì Tuệ Đồng Tử.
địa táng
Chôn dưới đất, một trong bốn loại tống táng người chết—Ground-burial, one of the four forms of burial—See Tứ Táng.
địa tưởng quán
2311為十六觀之第三。又作地觀、琉璃地觀。即觀想極樂國土之琉璃地內外映徹,地上有金剛七寶金幢並有黃金繩交織其間,一一寶中皆有五百色光,其光如花。此觀係於「水想觀」成就之後所作之觀法,若此觀成就後,則作「寶樹觀」。〔觀無量壽經〕(參閱「十六觀」396)
; (地想觀) Địa tuệ, Phạm: Vasumati. Dịch âm: Phược tô ma để. Cũng gọi Tài tuệ đồng tử, Trí tuệ đồng tử, Trí chàng đồng tử, Địa tuệ chàng đồng tử. Một trong năm sứ giả của ngài Văn thù, một trong 8 đại đồng tử. Đồng tử này ngồi ở vị trí thứ 4 bên trái bồ tát Văn thù trong viện Văn thù trên Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Hình tam muội da là chàng phan, mật hiệu là Bát nhã kim cương, hình tượng là thân đồng nữ mầu vàng, có 3 búi tóc, ngồi trên hoa sen đỏ, tay phải duỗi thẳng, cầm chàng phan, hướng về phía phải, tay trái nắm lại, cầm lá sen xanh nhỏ để ở trước ngực. [X. kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.5, Q.10, Q.16; Bí tạng kí].
Địa Tạng
(s: Kṣitigarbha, j: Jizō, 地藏): tức Địa Tạng Bồ Tát (地藏菩薩, Jizō Bosatsu), âm dịch là Khất Xoa Để Nghiệt Bà (乞叉底蘗婆), Chỉ Sư Đế Yết Bà (枳師帝掲婆), ý dịch là Trì Địa (持地), Diệu Tràng (妙幢), Vô Biên Tâm (無邊心). Kể từ khi đức Thế Tôn nhập diệt cho đến khi Phật Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒) xuất hiện, ngài thường hiện hình tướng Thanh Văn, phân chia thân mình khắp Sáu Đường để cứu độ hết thảy chúng sanh từ trên trời cho xuống dưới Địa Ngục, sau đó mới thệ nguyện thành Phật. Tên gọi của ngài có 6 loại như: (1) Kim Cang Nguyện Địa Tạng (金剛願地藏): vị Bồ Tát thường cứu độ chúng sanh trong cõi Địa Ngục, tay trái cầm tràng phan và tay phải bắt Ấn Thành Biện (成辨印); (2) Kim Cang Bảo Địa Tạng (金剛寳地藏): đức Địa Tạng chuyên cứu độ chúng sanh trong đường Ngạ Quỷ, tay trái cầm viên ngọc báu, và tay phải bắt Ấn Cam Lồ (甘露印) hay Ấn Thí Vô Úy (施無畏印); (3) Kim Cang Bi Địa Tạng (金剛悲地藏): đức Địa Tạng chuyên cứu độ chúng sanh trong đường Súc Sanh, vai trái mang cây Tích Trượng (s: khakkhara, khakharaka, 錫杖), bàn tay phải ngữa ra theo hình thức tiếp đón; (4) Kim Cang Tràng Địa Tạng (金剛幢地藏): đức Địa Tạng chuyên cứu độ chúng sanh trong cõi Tu La, tay trái cầm tràng phan hay cây kiếm, tay phải bắt Ấn Thí Vô Úy (施無畏印); (5) Phóng Quang Địa Tạng (放光地藏): đức Địa Tạng chuyên cứu độ chúng sanh trong cõi người, tay trái cầm cây Tích Trượng, tay phải bắt Ấn Dữ Nguyện (與願印); (6) Dự Thiên Hạ Địa Tạng (預天賀地藏): đức Địa Tạng chuyên cứu độ chúng sanh trên cõi trời, tay trái cầm viên ngọc báu, tay phải bắt Ấn Thuyết Pháp (說法印). Tại Nhật Bản, tín ngưỡng Địa Tạng phổ biến rộng rãi từ giữa thời Bình An (平安, Heian) trở đi; người ta tôn thờ ngài hai bên đường lộ, đặc biệt trong Thiền Tông thì Lục Địa Tạng Tôn (六尊地藏) được tôn trí tại các nghĩa trang. Bên cạnh đó, còn có tín ngưỡng về Địa Tạng Giữ Con (子守地藏), Địa Tạng Nuôi Con (子育地藏), Địa Tạng Sinh Con An Toàn (子安地藏). Ngoài ra còn có Diên Mạng Địa Tạng (延命地藏), Thắng Quân Địa Tạng (勝軍地藏), v.v.
; 地藏; S: kṣitigarbha; C: dìcáng;|1. Một vị Bồ Tát chuyên cứu độ sinh linh trong Ðịa ngục và trẻ con yểu tử. Có khi Ðịa Tạng cũng là người được xem là chuyên cứu giúp lữ hành phương xa. Ðó là vị Bồ Tát duy nhất được diễn tả với bạch hào (lông trắng xoáy nằm giữa hai mắt, s: ūrṇā) trên trán, một trong ba mươi hai tướng tốt của một vị Phật. Ðịa Tạng hay cầm Như ý châu (s: cin-tāmaṇi) và Tích trượng có sáu vòng, biểu hiện của sự cứu độ chúng sinh của Ngài trong Lục đạo (sáu đường tái sinh).||H 25: Ðịa Tạng Bồ Tát|Tại Trung Quốc và các nước Ðông nam Á, Ðịa Tạng được xem là một trong bốn vị Ðại Bồ Tát (ba vị khác là Quán Thế Âm, Văn-thù Sư-lị và Phổ Hiền) chuyên cứu độ những người bị sa vào địa ngục. Trú xứ của Ngài là Cửu Hoa sơn (Tứ đại danh sơn) và tương truyền rằng, Ngài đã thật sự hiện thân tại đây vào đời Ðường dưới dạng một hoàng tử xứ Triều Tiên. Sau khi chết, nhục thân của vị hoàng tử này không tan rữa và người ta đã xây dựng một ngôi tháp để thờ vị này, một bảo tháp mà ngày nay vẫn còn.|Trước đây vô lượng kiếp, Ðịa Tạng là một Bà-la-môn và đã thệ nguyện trước một vị Phật thời đó là Ngài sẽ quyết tâm tu luyện đạt Phật quả, nhưng sẽ khước từ Phật quả này nếu Ngài chưa cứu độ tất cả chúng sinh thoát khỏi Luân hồi. Trong một tiền kiếp, Ngài là một cô bé với một bà mẹ thường hay sát sinh để kiếm sống. Sau khi mẹ qua đời, cô bé này ngồi thiền mãi cho đến khi nghe một giọng nói, khuyên cô nên niệm danh đức Phật. Sau đó, cô nhập định, xuống ngay đến cửa địa ngục. Nơi đây, cô được cho biết rằng, chính vì công phu thiền định và niệm Phật mà cô đã cứu mẹ thoát khỏi địa ngục.|Nhờ thần thông, Ðịa Tạng Bồ Tát có thể biến hoá thành nhiều dạng để cứu chúng sinh trong lục độ. Trong một buổi lễ long trọng, thường là ngày thứ 100 sau khi chết, các thân nhân thường thắp hương làm lễ cầu xin Ngài hướng dẫn người chết đến cõi Cực lạc của Phật A-di-đà (s: amitābha). Sau đó, một trong những thân nhân sẽ niệm một câu thần chú để gọi người chết trở về nghe chính pháp. Lễ này được chấm dứt với sự niệm danh Phật A-di-đà và Bồ Tát Ðịa Tạng một lần nữa.|2. Ðịa Tạng cũng là một danh hiệu khác của Thiền sư La-hán Quế Sâm vì trước khi dời về viện La-hán, Sư trụ trì thiền viện Ðịa Tạng.
địa tạng
Ksitigarbha (S), Ti-tsang (C), Jisò (J). Earth-store, Earth-treasury or Earth-womb Bodhisattva.
; Earth-Store—Ksihitigarbha—Earth-treasury. ** See Địa Tạng Bồ Tát.
địa tạng bồ tát
2318地藏,梵名 Kṣitigarbha,音譯作乞叉底蘗婆。地,住處之義;藏,含藏之義。即受釋尊之付囑,於釋尊圓寂後至彌勒菩薩成道間之無佛時代,自誓度盡六道眾生始願成佛之菩薩。關於地藏菩薩之名義,地藏十輪經卷一以(大一三‧七二二上)「安忍不動,猶如大地;靜慮深密,猶如祕藏」,故稱地藏。大方廣十輪經卷一以地藏為伏藏(埋藏在地中之寶藏)之義;究竟一乘寶性論卷四以地中之伏藏喻顯「如來藏」。 據大方廣十輪經卷一序品、占察善惡業報經卷上等載,地藏菩薩由過去之大悲誓願力,示現大梵王身、帝釋身、聲聞身、閻羅王身、獅象虎狼牛馬身,乃至羅剎身、地獄身等無量無數異類之身,以教化眾生,並特別愍念五濁惡世受苦眾生,應眾生所求而消災增福,以成熟眾生之善根。地藏菩薩常變現如是無數之化身濟度眾生,故又稱為千體地藏。 地藏菩薩之本緣故事,有多種說法。據地藏菩薩本願經卷上仞利天宮神通品載,地藏菩薩於過去久遠劫前,為大長者之子,因見師子奮迅具足萬行如來之相好莊嚴,而產生恭敬景仰之心,為證得此莊嚴之相,而發願盡未來際不可計劫,度脫六道罪苦眾生。同經同品又謂,地藏菩薩為過去不可思議阿僧祇劫時之一婆羅門女,為救度其母出離地獄,而為母設供修福,並發願盡未來劫廣度罪苦眾生。又同經閻浮眾生業感品亦舉出二說:(一)地藏菩薩於過去久遠劫時為一國之王,其國內人民多造眾惡,遂發願度盡罪苦眾生皆至菩提,否則不願成佛。(二)地藏菩薩於過去久遠劫時為一女子,名為光目,其母墮於地獄受苦,光目為救度之,而發願救拔一切罪苦眾生,待眾生盡成佛後,方成正覺。上記諸說皆隨地藏信仰而廣傳人間,故佛教中常以「眾生度盡,方證菩提;地獄未空,誓不成佛」、「我不入地獄,誰入地獄」等語來形容地藏菩薩慈悲憐愍之廣大誓願。 地藏菩薩之形像有多種,大日經卷三等以之為菩薩形,並飾以寶冠、瓔珞等。大方廣十輪經卷一等則以之為沙門形。一般廣為流傳之形像,為內祕菩薩行,外現沙門形,左手持寶珠,右手執錫杖,或坐或立於蓮花上。 在密教中,地藏菩薩為胎藏界曼荼羅地藏院之主尊,呈菩薩形,左手持蓮花,花上有如意寶幢,右手持寶珠,坐於蓮花上。密號為悲願金剛、與願金剛。三昧耶形為寶珠或蓮花上之幢。種子為???(i,伊),或???(ha,訶)。真言有二種,一般多用「南麼三曼多勃馱喃訶訶訶微娑麼曳莎訶」。印相為旗印;陀羅尼集經卷六則以印相為法身印及法印。又金剛界曼荼羅中,南方寶生如來四親近中之金剛幢菩薩,與地藏菩薩同體異名。此外,據八大菩薩曼荼羅經所舉,地藏菩薩為八大菩薩之一。或謂地藏菩薩與觀音、勢至、龍樹等菩薩皆為阿彌陀佛之脅侍,稱為阿彌陀五佛。亦有謂阿彌陀佛於因位時之法藏菩薩,與地藏菩薩為同體。 我國自隋唐之後,崇尚地藏菩薩之信仰極為興盛,例如隋代之信行依地藏十輪經而高倡「普佛普法」之說與地藏菩薩禮懺法,當時稱為三階教。此外,宋代之常謹撰有地藏菩薩靈驗記一書,書中即收錄梁代至宋代有關地藏菩薩之三十二種靈驗事蹟。由於此信仰之普遍,故時人每輾轉模畫地藏菩薩像,置於寺院或私人佛堂以禮拜供養之,其較著名者有梁代漢州德陽縣善寂寺東廊壁上之地藏菩薩像。 又我國佛教界視地藏菩薩為四大菩薩之一,相傳其應化說法之道場在安徽省九華山。據宋高僧傳卷二十等載,地藏菩薩降誕為新羅國王族,姓金,名喬覺,出家後於唐玄宗時來華,入九華山修道,居數十年示寂,肉身不壞,以全身入塔。九華山之肉身殿,相傳即為地藏菩薩成道處。 地藏菩薩以悲願力救度一切眾生,尤其對地獄中之罪苦眾生特別悲愍,而示現閻羅王身、地獄身等廣為罪苦眾生說法,以教化救度之,故一般又以閻羅王為地藏菩薩之化身。如地藏菩薩發心因緣十王經中,即舉出閻羅王之本地為地藏菩薩之說。又如我國民間信仰中,地獄思想受「地藏菩薩本願經」之影響甚深,而視地藏菩薩為地獄之最高主宰,稱之為幽冥教主,其下管轄十殿閻王。近時於敦煌千佛洞發現之地藏十王圖,即繪有地藏菩薩及十王等之像,並附有宋代太平興國八年(983)造立之銘文。 據地藏十輪經卷一載,地藏菩薩具有無量數不可思議之殊勝功德,為一切世間聲聞、獨覺所不能測。地藏菩薩本願經卷上謂,地藏菩薩本已證入十地之果位,然為教化眾生,故仍在聲聞、辟支佛地,而不願成佛。同經並舉出,至心稱念地藏菩薩之名號,或禮拜供養地藏菩薩之畫像、雕像等,必能離諸憂苦,不墮惡道,並能獲得十種或二十八種利益。 在日本,地藏菩薩之信仰始自平安中期,興盛至今。此一信仰於鎌倉時代以後,滲入民間信仰。如以示現於塞河原之地藏菩薩為兒童之救護者,並有和讚歌頌之。又如育子地藏、子安地藏專事救護育子之事。此外,參禮六地藏(教化六道之地藏菩薩)、延命地藏、勝軍地藏者亦頗多。〔金剛三昧經、大方等大集經卷五十七、舊譯華嚴經卷四十四、大寶積經卷一、地藏菩薩陀羅尼經、大日經卷一至卷四、地藏菩薩儀軌、預修十王生七經、不空羂索神變真言經卷九、大日經疏卷五、卷十、卷十三、法苑珠林卷十四、景德傳燈錄卷十一〕(參閱「六地藏」1259、「延命地藏」2878、「閻魔王」6340)
; Ksitigarbha (skt) (I) Ý nghĩa và lịch sử của Ngài Địa Tạng—The meanings and history of Ksitigarbha. 1) Một trong tám vị Bồ Tát Nhập Thiền Định. Vị Bồ Tát đã cứu độ chúng sanh đau khổ nơi địa ngục. Hình ảnh Địa Tạng là hình ảnh của một trong bốn vị Bồ Tát lớn trong Phật giáo Trung Hoa. Trong một quá khứ xa xưa, Địa Tạng xuất thân từ một gia đình Bà La Môn; tuy nhiên khi quay về với đạo Phật, Ngài đã thệ nguyện với Phật rằng, “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật.” Ngài cũng muốn thành Phật, nhưng thề không thành Phật khi tất cả chúng sanh đều thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử. Ngài thường đứng, tay phải cầm tích trượng, tay trái cầm ngọc minh châu—Earth-Store Bodhisattva, one of the groups of eight Dhyani Bodhisattvas, who saves suffering beings in the hells, usually represented standing, holding in his right hand a pilgrim's staff, and in his left hand a pearl. One of the four great bodhisattvas in Chinese Buddhism. In a long long time ago, Ti-ts'ang was from a Brahmin family, converted to Buddhism and took a vow before the Buddha that, “He would never become a Buddha if there's still even one being in the hell.” He also wanted to become a Buddha, but not before he had liberated all beings from the cycle of life and death. He is usually represented standing, holding in his right hand a pilgrim's staff, and in left a pearl. 2) Hình ảnh “Địa Tạng” thường phổ biến tại các xứ viễn đông hơn là tại Ấn Độ. Tại các xứ đông Á, ngài phổ cập chỉ sau Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát—Ksitigarbha or “Earth-Womb” Bodhisattva is more popular in the Far East than he ever was in India. In East Asia, he is popular only after Avalokitesvara Bodhisattva. 3) Cũng như tất cả các vị Bồ Tát khác, ngài Địa Tạng mong mỏi cứu độ chúng sanh đang lăn trôi trong cõi Ta Bà ngũ trược ác thế, nhưng đặc biệt là Ngài cứu độ họ khỏi cảnh a tỳ địa ngục—Like all other Bodhisattvas, he aspires to deliver sentient beings wandering astray in the three realms and six paths of mundane existence, but he specializes in delivering beings from hell. 4) Tại Nhật Bản, Bồ Tát Địa Tạng phổ biến như là một vị cứu độ linh hồn các trẻ con, đặc biệt là những thai nhi bị phá—In Japan, this Bodhisattva is popular as the saviour of the souls of dead children, particularly aborted ones. (II) Phân loại Địa Tạng—Categories of Ksitigarbha—There are several groups of Ksitigarbha: 1) Lục Địa Tạng: Six Ti-Tsang—See Lục Địa Tạng. 2) Lục Sứ Giả: Six messengers—See Lục Địa Tạng. 3) Diên Mệnh Địa Tạng: Vị Bồ Tát kiểm soát sự trường thọ của sinh mệnh—Yen-Ming Ti-Tsang, who controls length of days and who is approached, as also may be Pu-Hsien, his two assistants are: a) Chưởng Thiện Điều Ngự Pháp Tính: Supervisor of good. b) Chưởng Ác Hàng Phục Vô Minh: Supervisor of evil. 4) Thắng Quân Địa Tạng: Vị Địa Tạng được các tông Mật Giáo thờ phượng. Lợi ích khi thờ phượng Ngài thì rất nhiều—The Ti-Tsang of the conquering host, he is chiefly associated with the esoteric cults. The benefits derived from his worship are many.
; (地藏菩薩) Địa tạng, Phạm: Kwitigarbha. Dịch âm: Khất xoa để nghiệt bà. Vị Bồ tát được sự phó chúc của đức Thích tôn đã tự thệ nguyện độ hết chúng sinh trong 6 đường trong khoảng thời gian từ khi đức Thích tôn viên tịch đến lúc bồ tát Di lặc thành đạo rồi Ngài mới thành Phật. Về ý nghĩa của danh hiệu bồ tát Địa tạng, thì kinh Địa tạng thập luân quyển 1 (Đại 13, 722 thượng) giải thích: An nhẫn bất động, giống như quả đất, vắng lặng sâu kín, giống như kho tàng, nên gọi là Địa tạng. Kinh Đại phương quảng thập luân quyển 1 thì cho rằng Địa tạng nghĩa là phục tạng (kho báu được chôn giấu trong lòng đất). Luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 4, dùng kho báu giấu kín trong lòng đất để ví dụ cho Như lai tạng. Cứ theo phẩm Tựa trong kinh Đại phương quảng thập luân quyển 1 và kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo quyển thượng, thì bồ tát Địa tạng do nguyện lực đại bi ở quá khứ, nên thị hiện vô lượng thân trong các loài khác nhau, như thân Đại phạm vương, thân Đế thích, thân Thanh văn, thân Diêm la vương, thân sư tử, voi, cọp, sói, trâu, ngựa cho đến thân La sát, thân địa ngục v.v... để giáo hóa chúng sinh, đặc biệt thương xót chúng sinh chịu khổ trong cõi đời năm trọc ác mà giúp chúng sinh tiêu tai tăng thọ để thành tựu căn lành. Vì sự hóa hiện vô số thân như thế nên bồ tát Địa tạng còn được gọi là Thiên thể địa tạng. Về sự tích tiền thân của bồ tát Địa tạng thì có nhiều thuyết. Cứ theo phẩm Đao lợi thiên cung thần thông trong kinh Địa tạng bồ tát bản nguyện quyển thượng, thì trong kiếp quá khư xa xưa, bồ tát Địa tạng là con một Đại trưởng giả, nhân thấy hình tướng đẹp đẽ trang nghiêm của đức Sư tử phấn tấn cụ túc vạn hạnh Như lai mà sinh lòng cung kính chiêm ngưỡng, rồi vì muốn chứng được thân tướng ấy mà phát nguyện trong đời vị lai độ thoát hết thảy lục đạo chúng sinh. Còn phẩm Diêm phù chúng sinh nghiệp cảm trong kinh đã dẫn thì nêu ra 2 thuyết. 1. Trong một kiếp quá khứ xa xưa, bồ tát Địa tạng là một vị Quốc vương, phần đông nhân dân trong nước ấy đều làm điều ác, Quốc vương bèn phát nguyện độ hết chúng sinh tội khổ, nếu không thì chẳng nguyện thành Phật. 2. Cũng trong một kiếp quá khứ lâu xa, bồ tát Địa tạng là một cô gái, tên Quang mục, mẹ nàng phải chịu khổ trong địa ngục, để cứu mẹ, Quang mục phát nguyện cứu độ tất cả chúng sinh tội khổ, cho đến khi thành Phật hết thì Quang mục mới lên ngôi Chính giác. Hình tượng của bồ tát Địa tạng có nhiều loại. Theo kinh Đại nhạt quyển 3 thì Ngài mang hình một vị Bồ tát, đầu đội mũ báu, cổ đeo chuỗi ngọc. Còn theo kinh Đại phương quảng thập luân quyển 1 thì Ngài có hình một vị sa môn. Phổ thông, hình tượng được lưu truyền rộng rãi nhất là loại hình tượng bên trong ẩn hạnh Bồ tát, bên ngoài hiện tướng sa môn, tay trái cầm ngọc báu, tay phải cầm tích trượng, ngồi hoặc đứng trên hoa sen. Trong Mật giáo, bồ tát Địa tạng là vị tôn đứng đầu viện Địa tạng trên Mạn đồ la Thai tạng giới, hiện hình Bồ tát, tay trái cầm hoa sen, trên hoa có cờ báu Như ý, tay phải cầm bảo châu, ngồi trên hoa sen, mật hiệu là Bi nguyện kim cương, Dữ nguyện kim cương. Hình tam muội da là bảo châu hoặc cây cờ trên hoa sen. Chủng tử là (i), hoặc (ha). Chân ngôn có hai loại, nhưng phần nhiều thường dùng Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm ha ha ha vi sa ma duệ sa ha. Ấn tướnglà Kì ấn (ấn cờ). Nhưng theo kinh Đà la ni tập quyển 6 thì ấn tướng của Ngài là Pháp thân ấn và Pháp ấn. Ngoài ra, Bồ tát kim cương chàng trong số 4 vị thân cận của đức Bảo sinh Như lai ở phương Nam trong Mạn đồ la Kim cương giới là cùng thể mà khác tên với bồ tát Địa tạng. Lại cứ theo kinh Bát đại bồ tát mạn đồ la, thì bồ tát Địa tạng là 1 trong 8 vị Đại bồ tát. Có thuyết cho rằng bồ tát Địa tạng cùng với các bồ tát Quan âm, Thế chí và Long thụ đều đứng hầu bên cạnh đức Phật A di đà, gọi là A di đà ngũ Phật. Cũng có thuyết cho rằng tiền thân của đức Phật A di đà là bồ tát Pháp tạng là cùng thể với bồ tát Địa tạng. Tại Trung quốc, từ đời Tùy, Đường trở đi, tín ngưỡng sùng bái bồ tát Địa tạng rất hưng thịnh. Như ngài Tín hành đời Tùy đã dựa vào kinh Địa tạng thập luân mà đề xướng thuyết Phổ Phật Phổ Pháp và pháp lễ sám bồ tát Địa tạng, bấy giờ gọi là Tam giai giáo. Ngoài ra, ngài Thường cẩn đời Tống có soạn Địa tạng bồ tát linh nghiệm kí, trong đó, soạn giả ghi chép 32 truyện tích về sự linh nghiệm của bồ tát Địa tạng từ đời Lương đến đời Tống. Do tín ngưỡng Địa tạng phổ biến, nên người đời thường vẽ hình tượng của Ngài tôn trí ở các chùa viện hoặc bàn thờ của tư gia để lễ bái cúng dường. Bức tượng bồ tát Địa tạng nổi tiếng nhất là bức tượng vẽ trên vách hồi lang phía đông của chùa Thiện tịch, huyện Đức dương, châu Hán vào đời Lương. Giới Phật giáo Trung quốc coi bồ tát Địa tạng là 1 trong 4 vị Đại bồ tát, tương truyền đạo tràng ứng hóa thuyết pháp của Ngài là núi Cửu hoa ở tỉnh An huy. Cứ theo Tống cao tăng truyện quyển 20 v.v... thì bồ tát Địa tạng giáng sinh vào dòng quốc vương nước Tân la, họ Kim, tên là Kiều giác. Sau khi xuất gia, Ngài đếnTrung quốc vào đời vua Huyền tông nhà Đường, vào núi Cửu hoa tu đạo, sau mấy mươi năm Ngài thị tịch, nhục thân của Ngài toàn vẹn không hư nát và được đặt trong tháp. Tương truyền, điện thờ nhục thân của Ngài trên núi Cửu hoa là chỗ Ngài thành đạo. Vì lòng từ bi thệ nguyện cứu độ hết thảy chúng sinh chịu khổ ở địa ngục nên bồ tát Địa tạng hóa thân làm vua Diêm la. Quan niệm về địa ngục trong tín ngưỡng dân gian Trung quốc chịu ảnh hưởng của kinh Địa tạng bồ tát bản nguyện rất sâu, coi bồ tát Địa tạng là vị chủ tể tối cao của địa ngục, gọi là U minh giáo chủ, dưới Ngài có Thập điện diêm vương cai quản. Cứ theo kinh Địa tạng thập vương quyển 1, thì bồ tát Địa tạng có vô lượng công đức thù thắng không thể nghĩ bàn, hàng Thanh văn, Độc giác không thể sánh kịp. Theo kinh Địa tạng bồ tát bản nguyện quyển thượng, thì bồ tát Địa tạng vốn đã chứng quả vị Thập địa, nhưng vì hóa độ chúng sinh, nên Ngài nguyện trụ ở quả vị Thanh văn, Duyên giác chứ không nguyện thành Phật. Kinh này cũng nói: Nếu có người chí tâm xưng niệm danh hiệu bồ tát Địa tạng hoặc lễ bái cúng dường hình tượng của Ngài thì xa lìa những nỗi buồn khổ, không rơi vào đường ác và được 10 hoặc 28 điều lợi ích. Tại Nhật bản, tín ngưỡng Địa tạng bắt đầu từ giữa thời đại Bình an, đến thời Liêm thương thì hòa nhập vào tín ngưỡng dân gian và cho mãi đến nay vẫn còn hưng thịnh. [X. kinh Kim cương tam muội; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.57; kinh Hoa nghiêm Q.44 (bản dịch cũ); kinh Đại bảo tích Q.1; kinh Địa tạng bồ tát đà la ni; kinh Đại nhật Q.1 đến Q.4; Địa tạng bồ tát nghi quĩ; kinh Dự tu thập vương sinh thất; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.9; Đại nhật kinh sớ Q.5; Q.10. Q.13; Pháp uyển châu lâm Q.14; Cảnh đức truyền đăng lục Q.11]. (xt. Lục Địa Tạng, Diên Mệnh Địa Tạng, Diêm Ma Vương).
Địa Tạng Bồ Tát bản nguyện kinh
地蔵菩薩本願經; C: dìzàng púsà běnyuàn jīng; J: jizō bosatsu hongan kyō; |2 quyển, Thật-xoa Nan-đà (實叉難陀, s: śiksānanda) dịch.
địa tạng bồ tát bản nguyện kinh
2320梵名 Kṣitigarbha-praṇidhāna-sūtra。凡二卷。略稱地藏本願經。唐代實叉難陀譯。收於大正藏第十三冊。本經敘說地藏菩薩之本願功德,及本生之誓願,強調讀誦此經可獲得不可思議之利益,消滅無量之罪業。計分十三品:(一)仞利天宮神通品,(二)分身集會品,(三)觀眾生業緣品,(四)閻浮眾生業感品,(五)地獄名號品,(六)如來讚歎品,(七)利益存亡品,(八)閻羅王眾讚歎品,(九)稱佛名號品,(十)校量布施功德緣品,(十一)地神護法品,(十二)見聞利益品,(十三)囑累人天品。 本經經題下署有唐于闐國三藏沙門實叉難陀譯,然開元釋教錄、貞元新定釋教目錄等皆無此一記載;又宋、元、明、高麗等諸藏中唯明藏收之,而比明藏更早之宋、元、高麗等諸藏皆未收,故實叉難陀傳譯之說似不足採信。另據宋代常謹之地藏菩薩靈驗記所錄引清泰寺沙門知(智)祐感應地藏記之文中可知,五代後晉高祖天福年中,西印度沙門智祐持本經之梵本至我國,然此經傳入之詳細情形不詳,於唐代之文獻中亦無有關之記述,但從靈驗記一書中引載本經分身集會品之文而論,可肯定本經於天福年中已流傳。又本經內容所敘述之地獄景況與地藏菩薩之性格,甚能融合民間之通俗信仰,故廣為普及,尤以明清之時為然。此外,據日本學者羽溪了諦之推定,本經乃成立於中亞之于闐。另據松本文三郎之研究,本經或為仿照淨土經典敘述阿彌陀佛之本願,以地藏十輪經為骨架,後經學者增補而成之偽經。 本經之註疏有地藏本願經科文一卷(岳玄)、地藏本願經綸貫一卷(靈耀)、地藏本願經科註六卷(靈耀)、地藏菩薩靈驗記一卷(常謹)等。〔大明三藏北藏目錄卷二、閱藏知津卷五、佛典批評論〕
; (地藏菩薩本願經) Phạm: Kzitigarbha-praịidhànasùtra. Gọi tắt: Địa tạng bản nguyện kinh. Gồm 2 quyển, do ngài Thực xoa nan đà dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 13. Kinh này nói về công đức bản nguyện, thệ nguyện bản sinh của bồ tát Địa tạng, người đọc tụng kinh này có thể tiêu trừ vô lượng tội nghiệp và được lợi ích không thể nghĩ bàn. Nội dung gồm 13 phẩm: 1. Phẩm Đao lợi thiên cung thần thông. 2. Phẩm Phân thân tập hội. 3. Phẩm Quán chúng sinh nghiệp duyên. 4. Phẩm Diêm phù chúng sinh nghiệp cảm. 5. Phẩm Địa ngục danh hiệu. 6. Phẩm Như lai tán thán. 7. Phẩm Lợi ích tồn vong. 8. Phẩm Diêm la vương chúng tán thán. 9. Phẩm Xưng Phật danh hiệu. 10. Phẩm Giáo lượng bố thí công đức duyên. 11. Phẩm Địa thần hộ pháp. 12. Phẩm Kiến văn lợi ích. 13. Phẩm Chúc lụy nhân thiên. Dưới đề kinh này có ghi Đường Vu điền quốc Tam tạng sa môn Thực xoa nan đà dịch (Tam tạng sa môn người nước Vu điền là ngài Thực xoa nan đà dịch vào đời Đường), nhưng trong Khai nguyên thích giáo lục và Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục không thấy ghi câu này. Hơn nữa, trong các tạng đời Tống, Nguyên, Minh và tạng Cao li thì chỉ có tạng đời Minh là ghi câu này, còn các tạng kia (Tống, Nguyên, Cao li) vốn có trước tạng Minh thì không thấy chép. Vì vậy, thuyết nói do ngài Thực xoa nan đà dịch có lẽ không đủ chứng liệu để tin. Lại nữa, cứ theo Cảm ứng Địa tạng kí của sa môn Tri (Trí) hựu chùa Thanh thái được trích dẫn trong Địa tạng bồ tát linh nghiệm kí của ngài Thường cẩn đời Tống, thì trong năm Thiên phúc (963?) thời vua Cao tổ nhà Hậu Tấn đời Ngũ đại, sa môn Trí hựu người Tây Ấn độ đã mang bản tiếng Phạm của kinh này đến Trung quốc. Nhưng cũng chỉ biết qua thế thôi, còn về việc kinh này được truyền dịch như thế nào thì không rõ, mà trong các văn hiến đời Đường cũng không thấy chỗ nào ghi chép việc này. Ngoài ra, theo sự suy đoán của Vũ khê Liễu đế, học giả người Nhật bản, thì kinh này được soạn ở nước Vu điền thuộc Trung á. Còn theo sự nghiên cứu của Tùng bản văn tam lang thì kinh này có thể là kinh giả, do phỏng theo bản nguyện của đức Phật A di đà nói trong các kinh điển Tịnh độ, lấy kinh Địa tạng thập luân làm nòng cốt, rồi các nhà Kinh học đời sau bổ sung mà thành. Về sách chú sớ kinh này thì có: Địa tạng bản nguyện kinh khoa văn 1 quyển của Nhạc huyền, Địa tạng bản nguyện kinh luân quán 1 quyển của Linh diệu, Địa tạng bản nguyện kinh khoa chú 6 quyển của linh diệu, Địa tạng bồ tát linh nghiệm kí 1 quyển của Thường cẩn v.v... [X. Đại minh tam tạng Bắc tạng mục lục Q.2; Duyệt tạng tri tân Q.5; Phật điển phê bình luận].
Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh
(地藏菩薩本願經): còn gọi là Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh (地藏本願經), Địa Tạng Bổn Hạnh Kinh (地藏本行經), Địa Tạng Bổn Thệ Lực Kinh (地藏本誓力經); gọi tắt là Địa Tạng Kinh (地藏經). Đây là kinh điển quan trọng tán dương nguyện lực cao cả, vĩ đại của Bồ Tát Địa Tạng (s: Kṣitigarbha, 地藏) như có đề cập trong kinh là: “Địa Ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ Đề (地獄未空誓不成佛、眾生度盡方證菩提, Địa Ngục chưa hết thề không thành Phật, chúng sanh độ sạch mới chứng Bồ Đề).” Kinh được thâu lục vào Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (大正新脩大藏經, Taishō Vol. 13, No. 412). Do vì nguyên lưu của kinh không được rõ ràng, sau khi được thâu lục vào Đại Tạng Kinh dưới thời nhà Minh (明, 1368-1662), học giả Phật Giáo hoài nghi rằng có bộ phận của kinh không phải do được truyền nhập từ Ấn Độ vào, mà do chế tác tại Trung Quốc. Về dịch giả, phần đầu kinh có ghi là “Đường Vu Điền Quốc Tam Tạng Sa Môn Thật Xoa Nan Đà dịch (唐于闐國三藏沙門實叉難陀譯, Tam Tạng Sa Môn Thật Xoa Nan Đà [s: Śikṣānanda, 529-645, tức Giới Hiền] của nước Vu Điền nhà Đường dịch).” Nhưng bản nhà Minh thì lại ghi là Pháp Đăng (法燈), Pháp Cự (法炬) dịch. Trên thực tế, dịch giả và niên đại dịch kinh này vẫn chưa xác định rõ. Như trong Khai Nguyên Thích Giáo Lục (開元釋敎錄, Taishō Vol. 55, No. 2154) do Trí Thăng (智昇) của Sùng Phước Tự (崇福寺) nhà Đường, cũng như Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục (貞元新定釋敎目錄, Taishō Vol. 55, No. 2157) do Sa Môn Viên Chiếu (圓照) ở Tây Minh Tự (西明寺), Tây Kinh (西京) biên soạn, cho biết rằng Thật Xoa Nan Đà dịch được 19 bộ kinh điển, nhưng lại không thấy đề cập đến bộ kinh Địa Tạng này. Đại Sư Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏, 1535-1615) nhà Minh lại y cứ vào lời bạt đầu kinh mà cho là Thật Xoa Nan Đà dịch. Tuy nhiên, đại đa số các bản lưu thông thời nhà Minh lại ghi là do Pháp Đăng và Pháp Cự dịch. Trong khi đó, hai nhân vật này không rõ thuộc thời đại nào. Tại Việt Nam, bản thông dụng do Hòa Thượng Thích Trí Tịnh Việt dịch cũng căn cứ vào bản Hán dịch của Pháp Sư Pháp Đăng. Kinh này được đề cập đến đầu tiên trong Địa Tạng Bồ Tát Tượng Linh Nghiệm Ký (地藏菩薩像靈驗記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1638), tác phẩm được thâu tập vào khoảng niên hiệu Đoan Củng (端拱, 988-989) nhà Bắc Tống, do Sa Môn Truyền Giáo Thường Cẩn (常謹) ghi lời tựa vào năm Kỷ Sửu (989) cùng niên hiệu trên. Bản này có trích dẫn nội dung của Phẩm Phân Thân Công Đức (分身功德品) và cho biết rằng Phạn bản của kinh được Sa Môn Trí Hựu (知祐) của Tây Ấn Độ mang đến Thanh Thái Tự (清泰寺), Trung Quốc vào khoảng niên hiệu Thiên Phước (天福, 936-948) của vua Cao Tổ Thạch Kính Đường (高祖石敬瑭, tại vị 936-942) nhà Hậu Tấn, thời Ngũ Đại. Thêm vào đó, tác phẩm Tam Bảo Cảm Ứng Yếu Lược Lục (三寶感應要略錄, Taishō Vol. 51, No. 2084) do Thích Phi Trọc (釋非濁) thâu lục, cũng có đề cập đến nội dung của Phẩm Đao Lợi Thiên Cung Thần Thông (忉利天宮神通品), từ đó mới biết được rằng kinh này đã được lưu hành dưới thời Bắc Tống. Gần đây, tại Tây Hạ, người ta có phát hiện bản văn tiếng Tây Hạ của Địa Tạng Kinh Tàn Bản, và đây cũng là chứng cứ cho biết rằng trước thời nhà Tống, Kinh Địa Tạng đã được truyền vào Nhật Bản rồi. Về nội dung, kinh được hình thành bởi 13 phẩm chính: (1) Đao Lợi Thiên Cung Thần Thông Phẩm (忉利天宮神通品), (2) Phân Thân Tập Hội Phẩm (分身集會品), (3) Quán Chúng Sanh Nghiệp Duyên Phẩm (觀眾生業緣品), (4) Diêm Phù Chúng Sanh Nghiệp Cảm Phẩm (閻浮眾生業感品), (5) Địa Ngục Danh Hiệu Phẩm (地獄名號品), (6) Như Lai Tán Thán Phẩm (如來讚歎品), (7) Lợi Ích Tồn Vong Phẩm (利益存亡品), (8) Diêm La Vương Chúng Tán Thán Phẩm (閻羅王眾讚歎品), (9) Xưng Phật Danh Hiệu Phẩm (稱佛名號品), (10) Giảo Lượng Bố Thí Công Đức Duyên Phẩm (校量布施功德緣品), (11) Địa Thần Hộ Pháp Phẩm (地神護法品), (12) Kiến Văn Lợi Ích Phẩm (見聞利益品) và (13) Chúc Lụy Nhân Thiên Phẩm (囑累人天品). Các bản chú giải liên quan đến kinh có Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Khoa Văn (地藏本願經科文, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 382), 1 quyển, của Tần Khê Thanh Liên Đại Sư (秦谿青蓮大師); Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú (地藏本願經科註, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 384), 6 quyển, của Thanh Liên Bí Sô Linh Thừa (青蓮苾芻靈乘) ở Cổ Diêm Khuông Am (古鹽匡菴); Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Luân Quán (地藏本願經綸貫, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 383), 1 quyển, cũng do Thanh Liên Bí Sô Linh Thừa soạn, v.v. Đối với tín ngưỡng dân gian, Kinh Địa Tạng đóng vai trò quan trọng trong việc cầu siêu độ cho những vong linh thân nhân quá vãng. Cho nên, tại Việt Nam, vào dịp Lễ Vu Lan, Lễ Chung Thất Trai Tuần, lễ Húy Nhật, Đại Trai Đàn Chẩn Tế, v.v., kinh này được trì tụng rất phổ biến.
địa tạng bồ tát nghi quỹ
2321請參閱占察經 請參閱 占察經 全一卷。唐代輸婆迦羅譯。收於大正藏第二十冊。內容述說佛在佉羅提耶山時,地藏菩薩為利益一切眾生而欲說神咒,經佛允許後,遂說此儀軌;初說大、中、小之三種神咒,次說畫像法,其次說印咒、普供養印、總說總印、請讚印,最後說成就十七種護摩之法。
; (地藏菩薩儀軌) Có 1 quyển, do ngài Du bà ca la dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung sách này thuật lại lúc đức Phật ở trên núi Khư la đề da, bồ tát Địa tạng muốn nói thần chú làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, sau khi được đức Phật hứa khả, bồ tát Địa tạng liền nói ba loại thần chú: Đại, Trung, Tiểu, kế đến nói về cách vẽ tượng, sau đó nói về ấn chú, ấn Phổ cúng dường, Tổng thuyết tổng ấn, Thỉnh tán ấn, cuối cùng nói về cách thành tựu 17 pháp Hộ ma.
địa tạng bồ tát phát tâm nhân duyên thập vương kinh
2321全一卷。成都府慈恩寺僧藏川述。略稱地藏十王經、十王經。收於卍續藏第一五○冊。本經敘說人死亡後,於冥途中經十王殿受善惡審判之情形,及地藏菩薩發心之因緣。即初述佛臨涅槃時,放大光明照耀閻羅國,閻魔王及十大王眾皆來集會;次述眾生之三魂七魄,及命終後須經秦廣、初江、宋帝、五官、閻魔、變成、太山、平等、都市、五道轉輪等十王殿,受生前所造善惡業之審判,並敘述地藏菩薩發心之因緣與本願,及明示閻魔王之本地即是地藏菩薩;最後則以佛性偈為終結。 一般所謂之十王經,係指本經與「預修十王生七經」二經,關於二經之異同處,有諸多異說,略述於下:本經之經名下題有成都府大聖慈恩寺藏川述,此與預修十王生七經之署名相同,且據本經古本卷末之記載,本經係東漢嚴佛調三藏於入定時,承真佛示現授與,後至宋仁宗天聖十年(1032),由藏川法師譯述,與預修十王生七經為同本異譯。 然日人景耀於其所著之考信錄卷四中則舉出,本經之文體稍雜亂,且混合許多日語在文句中,故推測本經非為我國之譯述,或係日本平安末期或鎌倉初期,由日人根據預修十王生七經而偽撰者。(參閱「預修十王生七經」5701)
; (地藏菩薩發心因緣十王經) Gọi tắt: Địa tạng thập vương kinh, Thập vương kinh. Có 1 quyển, do ngài Tạng xuyên, vị tăng ở chùa Từ ân phủ Thành đô soạn, thu vào Vạn tục tạng tập 150. Nội dung kinh này nói về việc người chết chịu sự phán xét thiện ác ở điện Thập vương cõi âm phủ, về nhân duyên phát tâm cũng như bản nguyện của bồ tát Địa tạng và chỉ rõ ràng tiền thân của vua Diêm ma chính là bồ tát Địa tạng, cuối cùng dùng bài kệ nói về Phật tính để kết thúc kinh. Kinh Thập vương thông thường là chỉ cho kinh này và kinh Dự tu thập vương sinh nhất. Về chỗ dị đồng giữa hai kinh này có nhiều thuyết khác nhau, trình bày sơ lược như sau: Ở dưới tên kình này có dòng chữ Thành đô phủ Đại thánh từ ân tự Tạng xuyên thuật (Tạng xuyên chùa Đại thánh từ ân phủ Thành đô soạn). Dòng chữ này cũng giống như dòng chữ ghi trong kinh Dự tu thập vương sinh thất. Nhưng theo kinh Thập vương bản cũ thì kinh này do đức Phật thị hiện trao cho Tam tạng Nghiêm Phật điều đời Đông Hán khi ngài nhập định, sau, vào năm Thiên thánh thứ 10 (1032) đời vua Nhân tông nhà Tống, pháp sư Tạng xuyên mới dịch thuật, là bản dịch khác của kinh Dự tu thập vương sinh thất. Trong Khảo tín lục quyển 4, tác giả Cảnh diệu, người Nhật bản, cho rằng văn thể của kinh này hơi lộn xộn, vả lại, lẫn lộn rất nhiều tiếng Nhật, nên suy đoán rằng kinh này không phải bản dịch của Trung quốc, nhưng là do người Nhật đã căn cứ vào kinh Dự tu thập vương sinh thất mà ngụy soạn vào cuối thời Bình an hoặc đầu thời Liêm thương của Nhật bản. (xt. Dự Tu Thập Vương Sinh Thất Kinh).
địa tạng bồ tát tam quốc linh nghiệm kí
2318凡十四卷。日僧實睿編錄,良觀續編。乃集錄印度、中國、日本三國地藏菩薩之靈驗事蹟而成。全書共一三七則,其中,第四卷之前二則、第五卷之前二則、第六卷之第一則為印度事蹟;第四卷之第三則、第五卷之第三至第六則、第六卷之第二則為中國事蹟;其餘均為日本事蹟。本書為日本地藏靈驗記之嚆矢,刊行於貞享元年(1684)。
; (地藏菩薩三國靈驗記) Gồm 14 quyển, do vị tăng người Nhật là Thực duệ biên soạn và sư Lương quán hoàn thành. Nội dung gồm 137 tắc nói về các sự tích linh nghiệm của bồ tát Địa tạng ở Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản. Trong đó, hai tắc đầu của quyển 4, hai tắc đầu của quyển 5, tắc 1 của quyển 6 là sự tích ở Ấn độ, tắc 3 của quyển 4, tắc 3 đến tắc 6 của quyển 5, tắc 2 của quyển 6 là sự tích ở Trung quốc, còn lại bao nhiên đều là sự tích ở Nhật bản. Đây là bộ sách đầu tiên của Nhật bản nói về sự linh nghiệm của bồ tát Địa tạng, được ấn hành vào niên hiệu Trinh hưởng năm đầu (1684).
địa tạng bồ tát đà la ni kinh
2321全一卷。收於大正藏第二十冊。本經敘述地藏菩薩之誓願、功德、陀羅尼等。地藏菩薩係以「眾生度盡,方證菩提;地獄未空,誓不成佛」為其大願;即為利益五濁惡世之眾生,而不惜身命。故凡眾生稱其名號者,皆可速成意願,滅除煩惱罪垢,住於涅槃道之第一樂。本經中之陀羅尼共有六十三句,誦此陀羅尼可袪除一切苦惱繫縛。
; (地藏菩薩陀羅尼經) Có 1 quyển, thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này nói về Đà la ni, công đức và thệ nguyện của bồ tát Địa tạng. Đà là ni gồm có 63 câu, người trì tụng Đà la ni này có thể diệt trừ tất cả khổ não.
Địa Tạng Bồ-tát bổn nguyên kinh 地蔵菩薩本願經
[ja] ジゾウボサツホンガンキョウ Jizō bosatsu hongan kyō ||| Dizang pusa benyuan jing; 2 fasc., trans. Śiksānanda 實叉難陀. T 412.13.777c-790a. => c: Dizang pusa benyuan jing; 2 quyển, Thật-xoa Nan-đà (Śiksānanda 實叉難陀) dịch.
địa tạng bồn
2317請參閱 地藏菩薩本願經 請參閱 地藏菩薩本願經 請參閱 地藏菩薩本願經 指設齋以宣講讚歎地藏菩薩之法會。又作地藏講、地藏會、地藏祭。此地藏盆之法會,原為我國古來之風俗,後盛行於日本。 日本中世以後,為驅除疾病與祈求死後之福德,於每月二十四日設齋開講。至今仍有地藏講式等流行著,此種法會主要係為兒童祈福而設者。舉行法會時,於街上安置地藏本尊,以供物、明燈祭祀之。此風特別盛行於關西之地。〔地藏菩薩像靈驗記揚州女張氏依母造地藏菩薩救苦記、地藏菩薩十齋日〕
; (地藏盆) Cũng gọi Địa tạng giảng, Địa tạng hội, Địa tạng tế. Là pháp hội thiết trai cúng dường và tán thán công đức của bồ tát Địa tạng, Pháp hội này vốn là phong tục của Trung quốc, về sau thịnh hành ở Nhật bản. Tại Nhật bản, từ thời Trung cổ trở đi, hàng tháng vào ngày 24 có thiết trai cúng dường để cầu lúc sống tiêu trừ tật bệnh, sau khi chết được siêu thoát. Đến nay, hình thức Địa tạng giảng vẫn còn được lưu hành, chủ yếu là để cầu phúc cho trẻ em. Khi cử hành pháp hội, an trí tượng Bản tôn Địa tạng trên đường phố, dâng nhang đèn, hoa quả cúng dường. Phong tục này đặc biệt thịnh hành ở vùng Quan tây (Kansei) Nhật bản. [X. Địa tạng bồ tát tượng linh nghiệm kí Dương châu nữ Trương thị y mẫu tạo Địa tạng bồ tát cứu khổ kí; Địa tạng bồ tát thập trai nhật].
địa tạng bổn nguyện
Earth-Store Bodhisattva's original vows—Theo Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, Đức Phật dạy: “Những chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề, từ nơi thân khẩu ý tạo tác, kết quả trăm ngàn muôn sự báo ứng như thế, nay chỉ nói sơ lược đó thôi. Những nghiệp cảm sai khác của chúng sanh trong chốn Diêm Phù Đề như thế, Địa Tạng Bồ Tát dùng trăm ngàn phương tiện để giáo hóa. Những chúng sanh ấy trước phải chịu lấy các quả báo như thế, sau lại đọa vào địa ngục trải qua nhiều kiếp không lúc nào thoát khỏi. Vì thế nên các ông là bậc bảo vệ người cùng bảo trợ cõi nước, chớ để những nghiệp chướng đó làm mê hoặc chúng sanh”—According to the Earth-Store Bodhisattva's Original Vows Sutra, the Buddha taught: “Sentient beings in the Jambudvipa make hundreds of thousands of differing retributions resulting from the habitual evil deeds of body, mouth and mind committed by the living beings of Jambudvipa. Since the living beings of Jambudvipa have such differing karmic responses, Earth Store Bodhisattva uses hundreds of thousands of expedient means to teach and transform them. The living beings who commit offenses must first undergo retributions such as these and, then, fall into the hells, where they pass through kalpas with no moment of escape. You should therefore protect people and protect their countries. Do not allow living beings to be confused by these manifold deeds.” Thus Earth-Store Bodhisattva vows: 1) Ngài Địa Tạng Bồ Tát nếu gặp kẻ sát hại loài sinh vật, thời dạy rõ quả báo vì ương lụy đời trước mà phải bị chết yểu—If Earth Store Bodhisattva meets those who take life, he speaks of a retribution of a short lifespan. 2) Nếu gặp kẻ trộm cắp, thời ngài dạy rõ quả báo nghèo khốn khổ sở—If he meets robbers and petty thieves, he speaks of a retribution of poverty and acute suffering. 3) Nếu gặp kẻ tà dâm thời ngài dạy rõ quả báo làm chim se sẽ, bồ câu, uyên ương—If he meets those who commit sexual misconduct, he speaks of the retribution of being born as pigeons and as mandrin ducks and drakes. 4) Nếu gặp kẻ nói lời thô ác, thời ngài dạy rõ quả báo quyến thuộc kình chống nhau—If he meets those of harsh speech, he speaks of the retribution of a quarreling family. 5) Nếu gặp kẻ hay khinh chê, thời ngài dạy rõ quả báo không lưỡi và miệng lở—If he meets slanderers, he speaks of the retribution of a tongueless and cankerous mouth. 6) Nếu gặp kẻ quá nóng giận, thời ngài dạy rõ quả báo thân hình xấu xí tàn tật—If he meets those with anger and hatred, he speaks of being ugly and crippled. 7) Nếu gặp kẻ bỏn xẻn thời ngài dạy rõ quả báo cầu muốn không được toại nguyện—If he meets those who are stingy, he speaks of frustrated desires. 8) Nếu gặp kẻ ham ăn, thời ngài dạy rõ quả báo đói, khát và đau cổ họng—If he meets gluttons, he speaks of the retribution of hunger, thirst and sicknesses (illnesses) of the throat. 9) Nếu gặp kẻ buông lung săn bắn, thời ngài dạy rõ quả báo kinh hãi điên cuồng mất mạng—If he meets those who enjoy hunting, he speaks of a frightening insanity and disastrous fate. 10) Nếu gặp kẻ trái nghịch cha mẹ, thời ngài dạy rõ quả báo trời đất tru lục—If he meets those who rebel against their parens, he speaks of the retribution of being killed in natural disasters. 11) Nếu gặp kẻ đốt núi rừng cây cỏ, thời ngài dạy rõ quả báo cuồng mê đến chết—If he meets those who set fire to mountains or forests, he speaks of the retribution of seeking to commit suicide in the confusion of insanity. 12) Nếu gặp cha mẹ ghẻ ăn ở độc ác, thời ngài dạy rõ quả báo thác sanh trở lại hiện đời bị roi vọt—If he meets malicious parents or step-parents, he speaks of the retribution of being flogged in future lives. 13) Nếu gặp kẻ dùng lưới bắt chim non, thời ngài dạy rõ quả báo cốt nhục chia lìa—If he meets those who net and trap young animals, he speaks of the retribution of being separated from their own children. 14) Nếu gặp kẻ hủy báng Tam Bảo, thời ngài dạy rõ quả báo đui, điếc, câm, ngọng—If he meets those who slander the Triple Jewel, he speaks of the retribution of being blind, deaf or mute. 15) Nếu gặp kẻ khinh chê giáo pháp, thời ngài dạy rõ quả báo ở mãi trong ác đạo—If he meets those who slight the Dharma and regard the teachings with arrogance, he speaks of the retribution of dwelling in the evil paths forever. 16) Nếu gặp kẻ lạm phá của thường trụ, thời ngài dạy rõ quả báo ức kiếp luân hồi nơi địa ngục—If he meets those who destroy or misuse possessions of the permanently dwelling, he speaks of the retribution of revolving in the hells for millions of kalpas. 17) Nếu gặp kẻ làm ô nhục người tịnh hạnh và vu báng Tăng già, thời ngài dạy rõ quả báo ở mãi trong loài súc sanh—If he meets those wo defile the pure conduct of others and falsely accuse the Sangha, he speaks of the retribution of an eternity in the animal realm. 18) Nếu gặp kẻ dùng nước sôi hay lửa, chém chặt, giết hại sanh vật, thời ngài dạy rõ quả báo phải luân hồi thường mạng lẫn nhau—If he meets those who scald, burn, behead, chop up or othewise harm living beings, he speaks of the retribution of repayment in kind. 19) Nếu gặp kẻ phá giới phạm trai, thời ngài dạy rõ quả báo cầm thú đói khát—If he meets those who violate precepts and the regulations of pure eating, he speaks of the retribution of being born as birds and beasts suffering from hunger and thirst. 20) Nếu gặp kẻ ngã mạn cống cao, thời ngài dạy rõ quả báo hèn hạ bị người sai khiến—If he meets those who are arrogant and haughty, he speaks of the retribution of being servile and of low classes. 21) Nếu gặp kẻ đâm thọc gây gổ, thời ngài dạy rõ quả báo không lưỡi hay trăm lưỡi—If he meets those whose double-tongued behavior causes dissension and discord, he speaks of retribution of tonguelessness (being mute) and speech impediments. 22) Nếu gặp kẻ tà kiến mê tín, thời ngài dạy rõ quả báo thọ sanh vào chốn hẻo lánh—If he meets those of deviant view, he speaks of the retribution of rebirth in the frontier regions.
địa tạng chủng điền
2322請參閱地藏菩薩本願經 禪宗公案名。指地藏院桂琛以種田吃飯答其法嗣脩山主(龍濟紹脩)之參究佛法,以顯示真實佛法存在於平常之行止中。從容錄第十二則(大四八‧二三四下):「地藏問脩山主:『甚處來?』脩云:『南方來。』藏云:『南方近日佛法如何?』脩云:『商量浩浩地。』藏云:『爭如我這裏種田博飯喫!』脩云:『爭奈三界何?』藏云:『爾喚甚麼作三界?』」 蓋南方人對佛法唯事商量(審察量知),故桂琛斥責才子筆耕,辯士舌耕,而開示真實佛法無有凡聖迷悟之論量,唯存於種田吃飯等平常心中,並以不執著三界之境,為身心脫落之真境。天童正覺頌曰(大四八‧二三五上):「宗說般般盡強為,流傳耳口便支離,種田博飯家常事,不是飽參人不知。參飽明知無所求,子房終不貴封侯,忘機歸去同魚鳥,濯足滄浪煙木秋。」〔聯燈會要卷二十六羅漢桂琛條、宗門統要續集卷十九、五燈會元卷八、五燈嚴統卷八〕
; (地藏種田) Địa tạng làm ruộng. Tên công án trong thiền lâm. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Quế sâm ở viện Địa tạng và đệ tử nối pháp là Long tế Thiệu tu. Thung dung lục tắc 12 (Đại 48, 234 hạ) chép: Ngài Địa tạng hỏi Thiệu tu: - Từ đâu đến? Tu đáp: - Từ phương nam đến. Địa tạng hỏi: - Gần đây Phật pháp ở phương nam thế nào? Thiệu tu thưa: - Bàn giải rất sôi nổi. Địa tạng nói: - Đâu bằng ta ở đây làm ruộng, ăn cơm! Thiệu tu thưa: - Còn ba cõi thì sao? Địa tạng hỏi: - Ông gọi cái gì là ba cõi? [X. điều La hán Quế sâm trong Liên đăng hội yếu Q.26; Tông môn thống yếu tục tập Q.19; Ngũ đăng hội nguyên Q.9; Ngũ đăng nghiêm thống Q.8].
địa tạng hối quá
2318指對地藏菩薩懺悔。即於地藏菩薩像前,懺悔罪過,祈求福利之行為。
; (地藏悔過) Sám hối trước hình tượng của bồ tát Địa tạng cầu tiêu trừ các tội chướng.
Địa Tạng thập luân kinh
地藏十輪經; C: dìzàng shílún jīng; J: chizō jūrin kyō; S: daśa-cakra-kṣitigarbha-sūtra; |10 quyển. Huyền Trang dịch năm 651-652. Theo Nakamura, kinh nầy được kết tập do một tăng sĩ nói tiếng gốc Iran. Tên gọi đầy đủ là Đại thừa đại tập Địa Tạng thập luân kinh (大乘大集地藏十輪經). Bản dịch khác nhan đề Đại phương quảng thập luân kinh (大方廣十輪經).
địa tạng thập luân kinh
2317凡十卷。唐玄奘譯。全稱大乘大集地藏十輪經。收於大正藏第十三冊。本經譯於唐永徽二年(651),共八品。內容係讚歎地藏菩薩之功德,並敘述如來依地藏菩薩之問,而由本願力成就十種佛輪,能破除末世之十惡輪。本經之異譯本,為「大方廣十輪經」,共八巷,十五品,文中缺略之處不少。(參閱「大方廣十輪經」757)
; (地藏十輪經) Gọi đủ: Đại thừa đại tập Địa tạng thập luân kinh. Gồm 10 quyển, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 13. Nội dung gồm 8 phẩm, tường thuật việc đức Như lai nhân lời thưa hỏi của bồ tát Địa tạng mà nói 10 thứ Phật luân, có năng lực phá trừ 10 ác luân trong đời mạt pháp, đồng thời, khen ngợi công đức của bồ tát Địa tạng. Bản dịch khác của kinh này là kinh Đại phương quảng thập luận, 8 quyển, 15 phẩm, nhưng có nhiều chỗ thiếu sót. (xt. Đại Phương Quảng Thập Luân Kinh).
Địa Tạng thập luân kinh 地藏十輪經
[ja] チゾウジュウリンキョウ Chizō jūrin kyō ||| The Dizang shilun jing; Daśa-cakra-kṣitigarbha sūtra (Ten Cakras of Kṣitigarbha, Mahāyāna Great Collection Sutra). Ten fascicles, T 411.13.722-776. Translated by Xuanzang 玄奘 in 651-652. According to Nakamura, this sutra was a compiled by priests who spoke Iranian languages. The full title of this text is 大乘大集地藏十輪經. Other translation 大方廣十輪經. => (s: Daśa-cakra-kṣitigarbha sūtra; e: Ten Cakras of Kṣitigarbha, Mahāyāna Great Collection Sutra). 10 quyển. Huyền Trang dịch năm 651-652. Theo Nakamura, kinh nầy được kết tập do một tăng sĩ nói tiếng Iran. Tên gọi đầy đủ là Đại thừa đại tập Địa Tạng thập luân kinh. Bản dịch khác nhan đề Đại phương quảng thập luân kinh.
địa tạng thập ích
2317請參閱 地藏菩薩發心因緣十王經 據地藏菩薩本願經卷下載,若以塑畫或金、銀、銅、鐵等做成地藏菩薩之形像,燒香供養,瞻禮讚歎,則於所居之處,可得十種利益,即(一)土地豐壤,(二)家宅永安,(三)先亡生天,(四)現存益壽,(五)所求遂意,(六)無水火災,(七)虛耗辟除,(八)杜絕惡夢,(九)出入神護,(十)多遇聖因。 此外,同經第十三囑累人天品中,則記載若見地藏菩薩形像,及聽聞本經乃至讀誦,並以香華等布施供養,讚歎瞻禮者,可得二十八種利益。其後並舉出,天龍、鬼神讚歎瞻禮地藏菩薩者,亦可得七種利益。
; (地藏十益) Mười điều lợi ích nói trong kinh Địa tạng. Kinh Địa tạng bồ tát bảnnguyện quyển hạ nói: Nếu có aiđắp, vẽ hoặc đúc hình tượng bồ tát Địa tạng bằng vàng bạc, đồng, sắt v.v... rồi đốt hương cúng dường, chiêm lễ ngợi khen thì chỗ người ấy ở được 10 điều lợi ích là: 1. Đất đai phì nhiêu. 2. Nhà cửa mãi mãi yên ổn. 3. Người đã mất được sinh lên cõi trời. 4. Người sống được thêm tuổi thọ. 5. Những điều mong cầu đều được như ý. 6. Không bị các tai nạn lửa đốt, nước trôi. 7. Không gặp các việc hư hao tổn hại. 8. Dứt tuyệt ác mộng. 9. Khi ra vào được quỉ thần hộ vệ. 10. Thường được gặp nhân tốt lành.
địa vị
Position, place, state.
; Position—Place—State.
Địa vị Bình đẳng như hư không
(Không Bình đẳng địa): địa vị mà hành giả có lòng bình đẳng đối với các pháp, xem tất cả đồng như hư không.
địa vị Nhất tử
xem Cực ái nhất tử.
Địa vị thứ chín
(Đệ cửu địa): trong Thập địa, tức Thiện tuệ địa. Xem Mười địa vị.
Địa vị thứ mười
(Đệ thập địa): Địa vị thứ mười là địa vị rốt ráo trong Thanh Văn Thừa. Thanh Văn Thừa có mười địa vị: 1. Thọ tam quy địa; 2. Tín địa; 3. Pháp địa; 4. Nội phàm phu địa; 5. Học tín giới địa; 6. Nhập nhân địa; 7. Tu-đà-hoàn địa; 8. Tư-đà-hàm địa; 9. A-na-hàm địa; 10. A-la-hán địa. Cần phân biệt với Thập địa của Bồ Tát. Địa vị thứ mười trong Thập địa của Bồ Tát là Pháp vân địa. Xem Mười địa vị.
địa đại
2307梵語 pṛthivī-dhātu。四大之一,六大之一。即造一切色法之四種要素之一。其法性為???(a,阿)字,顯色為黃,形色為方,觸塵為堅,業用為持,字義為本不生。(參閱「六大」1251、「四大」1649)
; Earth as one of the four elements (earth, water, fire, air)
; Prthivi-dhatu (skt)—Một trong tứ đại (đất, nước, lửa, gió)—Earth, as one of the four elements (đất: earth, nước: water, lửa: fire, gió: wind).
; (地大) Phạm: Pfthivì-dhàtu. Một trong bốn yếu tố cấu tạo thành tất cả sắc pháp (vật chất). Pháp tính của Địa đại là chữ (A), hiển sắc là mầu vàng, hình sắc là hình vuông, xúc trần là tính cứng, nghiệp dụng là giữ gìn, tự nghĩa là vốn chẳng sinh. (xt. Lục Đại, Tứ Đại).
địa để ca
Dhitika (skt)—Một vị sư Ấn Độ thời cổ xưa với tên Trung Hoa là Hữu Quý—An ancient Indian monk whose Chinese name is Yu-Kuei (Ashamed—Shy).
địa động
2309請參閱菩薩地持經 請參閱菩薩地持經 即大地震動之義。據般泥洹經舉出地動之三種因緣,稱為地動三因。即:(一)大風起時,水擾地動。此乃地依水,水依風,風依空之故。(二)得道之沙門及神妙之諸天示現感應時,地則大動。(三)佛成道時,地亦大動。 此外,據華嚴經疏卷六載,佛將說法時,所示現之地動有七因,稱為地動七因。即:(一)為使諸魔怖畏。(二)為使眾生心不散亂。(三)為使放逸者生覺知。(四)為使眾生警悟,覺了微妙法相。(五)為使眾生觀佛之說法遍於一切智。(六)為使根熟之眾生得解脫。(七)為使眾生隨順而問正義。 除上記之外,據增一阿含經卷三十七載,大地震動之因緣有八,即:(一)風水輪動時,謂閻浮提南北闊二萬一千由旬,東西闊七千由旬,厚六萬八千由旬,地下有水,水下為火,皆厚八萬四千由旬,火下為風,厚六萬八千由旬,風下尚有金剛輪,過去諸佛舍利,皆在其中。若大風動時,火亦隨動,水復隨火而動,故地亦大動。(二)菩薩處母胎時,謂菩薩從兜率天降神處母胎時,地亦大動。(三)菩薩出母胎時,謂菩薩出母胎時,地亦大動。(四)菩薩成道時,謂菩薩出家學道,成無上正覺時,地亦大動。(五)佛入涅槃時,謂佛陀入滅時地亦大動。(六)比丘現神通時,謂大神通比丘示現多種變化,或分一身為千百身,或還復為一,或飛行於虛空中,出沒於山石裏,自由而無礙,此時地亦大動。(七)諸天來佛所現梵王或帝釋形時,謂諸天有大神通,神德無量,能由佛德力,捨棄原本之天形,而得作帝釋或梵王,此時地亦大動。(八)饑饉刀兵之災將起時,謂眾生命終福盡時,或互相攻伐,或值饑饉、刀兵之災,此時地亦大動。 此外,長阿含經卷二所舉之地動八緣則為:(一)風起擾水時。(二)得道比丘現神通時。(三)菩薩降神處母胎時。(四)菩薩出母胎時。(五)菩薩初成無上正覺時。(六)佛初成道降魔時。(六)佛初成道降魔時。(七)佛教化將畢,專念不亂,欲捨性命時。(八)如來入無餘涅槃時。
; Động đất, một trong những dấu hiệu của Phật lực—Earthquake—the earth shaken—One of the signs of Buddha-power.
; (地動) Đất bị chấn động. Cứ theo kinh Bát nê hoàn thì có 3 nguyên nhân làm cho mặt đất chấn động. Đó là: 1. Khi gió thổi mạnh (bão) làm cho nước dậy sóng, đất chấn động. Đây là vì đất nương nước, nước nương gió, gió nương hư không. 2. Khi sa môn đắc đạo và chư thiên thị hiện. 3. Khi Phật thành đạo. Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 6, thì khi đức Phật sắp nói pháp, có 7 nguyên nhân làm cho mặt đất rúng động. 1. Làm cho các loài ma sợ hãi. 2. Làm cho tâm chúng sinh không tán loạn. 3. Làm cho người phóng túng điềm tĩnh lại. 4. Làm cho chúng sinh tỉnh ngộ, biết rõ pháp tướng vi diệu. 5. Làm cho chúng sinh quán xét lời thuyết pháp của Phật là từ nơi Nhất thiết trí mà ra. 6. Làm cho chúng sinh có căn cơ thuần thục được giải thoát. 7. Làm cho chúng sinh thuận theo mà thưa hỏi nghĩa chân chính. Ngoài ra, kinh Tăng nhất a hàm cũng nêu ra tám nguyên nhân làm cho mặt đất chấn động. 1. Khi phong luân và thủy luân rúng động. 2. Khi Bồ tát từ cung trời Đâu suất giáng thần vào thai mẹ. 3. Khi Bồ tát ra khỏi thai mẹ. 4. Khi Bồ tát thành đạo. 5. Khi đức Phật vào Niết bàn. 6. Khi vị tỉ khưu hiện thần thông. 7. Khi chư thiên hiện hình Phạm vương hoặc Đế thích đi đến chỗ Phật. 8. Khi nạn đói và chiến tranh sắp xảy ra.
địa động thụy
The earth shaken, one of the signs of Buddha-power.
Địa 地
[ja] チ、ジ chi, ji ||| (1) Earth, the earth, the ground (esp. as contrasted to heaven 天). (2) A land, a country, territory. (3) A place, a scene, a location, a situation, a position. A stage in the progression on the path towards enlightenment. (4) A reference to one of the ten stages 十地 (bhūmis) of the bodhisattva's course of practice. (5) The spirit of the land. => Có các nghĩa sau: 1. Đất, quả đất, mặt đất (đặc biệt phản nghĩa với Trời). 2. Một xứ, quốc gia, lãnh thổ. 3. Một địa phương, cảnh tượng, vị trí, địa thế, tư thế. 4. Một trong Thập địa (十地 s: bhūmis), công hạnh tu hành của Bồ-tát. 5. Thần đất.
Địa-bà-đạt-đa
地婆達多; C: dìpódáduō; J: chibadatta; S: devadatta; |Đề-bà-đạt-đa (提婆達多).
Địa-bà-đạt-đa 地婆達多
[ja] チバダッタ Chibadatta ||| Devadatta; see 提婆達多. => s:Devadatta; Xem Đề-bà-đạt-đa提婆達多.
địch
1) Kẻ thù: Enemy. 2) Chống lại: To oppose—To compete.
địch bảo hiền
2983江蘇溧陽人。字楚卿、楚青,一字平子。號平等閣主。早年抱革新思想,其主張與康有為、梁啟超相近。光緒三十年(1904),於上海創辦時報,以輿論鼓吹革命。民國以後,復陸續出版有關教育、實業、婦女、兒童、英文、文藝等性質之周刊。復為保存國粹及東方文化,創辦佛法叢報,首以文字宣揚佛法。民國二年(1913)之佛教月報、七年之覺社叢書,即受其啟發而出刊者。民國三年開辦之華嚴大學,亦因氏之誘導。蓋氏於民國初年之佛教弘揚,實功不可沒。 氏工於詩書畫,篤信淨土,於禪亦有領會。自皈依佛門,即以發揚佛教文化為重,民國二十年與葉恭綽等發起影印宋版磧砂藏。著有平等閣筆記一書傳世。
; (狄葆賢) Cũng gọi Địa quán, Lưu li địa quán. Tức là quán tưởng đất lưu li ở cõi nước Cực lạc chiếu suốt trong ngoài, trên mặt đất có cờ phan bằng kim cương bảy báu và dây vàng đan dệt vào nhau, trong mỗi thứ báu phóng ra 500 tia sáng, mỗi tia sáng có nhiều mầu sắc, sáng rực như hoa. Đây là pháp quán thứ 3 trong 16 pháp quán nói trong kinh Quán vô lượng thọ. Sau khi thành tựu Thủy tưởng quán thì tu pháp quán này và sau khi thành tựu Địa tưởng quán rồi thì tu Bảo thụ quán. [X. kinh Quán vô lượng thọ]. (xt. Thập Lục Quán).
địch chứng
Phủ định và xác định—Opposition and affirmation—Negative and positive.
địch luận giả
6089請參閱 曹山錄 [1]因明用語。為「立論者」之對稱。略稱敵者。即問難者、反駁者。因明之對論法中,以三支建立自宗(命題)者,稱為立論者;其對手即稱為敵論者。(參閱「他」1538)
; (敵論者) Là cơ quan dịch kinh do nhà nước thiết lập ở chùa Thái bình Hưng quốc tại kinh đô Khai phong của nhà Bắc Tống. Cũng gọi Truyền pháp viện. Viện này được thành lập vào năm Thái bình hưng quốc thứ 5 (980) đời vua Tống Thái tông. Công việc phiên dịch kinh Phật ở Trung quốc bắt đầu vào thời Hậu Hán, phần nhiều được các bậc Đế vương bảo hộ. Năm Đại nghiệp thứ 2 (606) đời Tùy, Dạng đế đặt quán Dịch kinh ở vườn Thượng lâm tại Lạc dương và sai học sĩ phiên dịch là Ngạn tông ở đó trông coi. Năm Trinh quán 22 (648) đời Đường, vua Thái tông lập viện Dịch kinh ở phía tây bắc chùa Đại từ ân để làm Dịch trường cho ngài Huyền trang. Đến thời Thái tông nhà Tống, ngài Pháp thiên dịch các kinh Thánh vô lượng thọ, Thất Phật tán v.v... quan địa phương dâng lên, vua xem hết sức vui mừng, bèn ra lệnh kiến thiết viện Dịch kinh rồi mời các ngài Thiên tức tai, Pháp thiên, Thí hộ v.v... ở đó dịch kinh. Phật tổ thống kỉ quyển 43 cho biết, năm Thái bình hưng quốc thứ 8, viện Dịch kinh được đổi tên là viện Truyền pháp, rồi lại làm viện Ấn kinh ở mé tây viện Truyền pháp. Viện dịch kinh được tổ chức hoàn bị, đặt ra chín chức vị gọi là Dịch trường cửu vị, đó là: Dịch chủ, Chứng nghĩa, Chứng văn, Thư tự Phạm học tăng, Bút thụ, Xuyết văn, Tham dịch, San định và Nhuận văn. Viện này là trung tâm dịch kinh của thời Bắc Tống, những kinh dịch ở đây đều được ghi trong Đại trung tường phù pháp bảo lục, Cảnh hựu tân tu pháp bảo lục, tất cả hơn 100 bộ. Công tác dịch kinh ở thời Bắc Tống từ năm Cảnh hựu trở về sau thiếu tư liệu, chỉ được biết có các ngài Trí cát tường, Kim tổng trì, Nhất xứng, Chiêu đức, Tuệ tuân v.v... dịch kinh ở viện này. [X. Thích thị kê cổ lược Q.4; Phật tổ lịch đại thông tải Q.18; Tống hội yếu Đạo thích điều; Truyền pháp viện bi minh].
địch nguyên vân lai
4780(1869~1937)日本淨土宗僧,佛教梵語學者。舊姓土橋,幼名竹治郎,號獨有。和歌山市北田邊町人。十歲時,因從荻原雲臺得度,故而改名為雲來,嗣繼師姓。明治十六年(1883),從福田行誡受戒,越二年,入東京淨土宗學分校,後轉回本校;明治二十八年畢業,兩年後成為該校教授。明治三十二年赴德國留學,於斯特拉斯堡大學師事列烏曼(E. Leumann)修梵語學;明治三十八年三月,獲得該大學哲學博士學位,十月歸國,任東京宗教大學教授,而後兼任各校校長或講師等職。大正九年(1920),住持東京淺草誓願寺,二年後獲文學博士之學位。大正十五年,任大正大學文學部聖語學研究室主任,翌年補正僧正,後出講立正大學。 師通達性相及梵語學,特以博通佛教梵語而得海內外之令譽。其著作有實習梵語學、印度的佛教;翻譯著作頗多,如梵和對譯無量壽經、阿彌陀經、法句經等;遺稿集有荻原雲來文集,及漢譯對照梵和大辭典。
; (荻原雲來) Đối lại với Lập luận giả. Gọi tắt: Địch giả. Tiếng dùng trong Nhân minh. Là người vấn nạn, phản bác lại luận thức của người lập luận trong Nhân minh. (xt. Tha).
Địch Sanh Tồ Lai
(荻生徂徠, Ogyū Sorai, 1666-1728): Nho gia và là Tổ của Học Phái Cổ Văn Từ, sống vào khoảng giữa thời Giang Hộ; tên là Song Tùng (雙松); tự Mậu Khanh (茂卿); thông xưng là Vật Hữu Vệ Môn (惣右衛門); hiệu Tồ Lai (徂徠); xuất thân vùng Giang Hộ. Vì thân phụ ông, Phương Am (方庵)—thị y cho Quán Lâm Hầu (館林候, sau này là Tướng Quân Đức Xuyên Cương Cát [德川綱吉, Tokugawa Tsunayoshi]), đắc tội nên ông theo cha lên sống ở vùng Thượng Tổng (上總, Kazusa). Vào năm 1690 (Nguyên Lộc [元祿] 3), ông trở về lại Giang Hộ. Ông viết cuốn Dịch Văn Thuyền Đế (譯文筌蹄), nghiên cứu rất rõ ràng về cách đọc âm Kun của chữ Hán, nên thanh danh bắt đầu nổi dậy. Năm 1696 (Nguyên Lộc 9), ông phục vụ cho Liễu Trạch Cát Bảo (柳澤吉保), rồi cảm xúc trước thi văn của Lý Phàn Long Vương Thế Trinh (李攀龍王世貞) nhà Minh, ông chủ xướng ra Cổ Văn Từ Học (古文辭學). Khi Cương Cát qua đời và Cát Bảo lui về ẩn cư, ông rời khỏi Phiên và khai sáng trường dạy tư Gia Thục Huyên Viên (家塾萱園) tại Mao Trường Đinh (茅塲町, Kayaba-chō), Nhật Bản Kiều (日本橋, Nihonbashi); rồi hình thành nên một dòng phái là Huyên Viên Học Phái (萱園學派). Năm 1714 (Chánh Đức [正德] 4), ông cho san hành cuốn Huyên Viên Tùy Bút (萱園隨筆), phê phán Cổ Nghĩa Học Phái (古義學派) của Y Đằng Nhân Trai (伊藤仁齋) vốn lấy bộ Luận Ngữ (論語) làm trung tâm, và chủ trương Cổ Học kiểu mới, làm cơ sở lý giải chính xác Lục Kinh (六經) theo phương pháp của Cổ Văn Từ Học để làm sáng tỏ con đường của chư vị Thánh hiền xưa. Ông lấy hệ thống văn hóa đồ sộ của Trung Quốc cổ đại làm chỉ tiêu cho con đường của chư vị tiền vương, mà phê phán những ngôn thuyết của hàng Nho gia hậu thế. Biện Đạo (辨道), Biện Danh (辨名) là hai tác phẩm của ông, đã làm sáng tỏ khái niệm cơ bản về Đạo, Đức, Nhân, v.v., từ lập trường của ông. Hơn nữa, ông còn trước tác cuốn Luận Ngữ Trưng (論語徵) với lối chú thích độc đáo, rồi cống hiến bản Chính Đàm (政談) thể theo sự tư vấn của Tướng Quân Cát Tông. Chính ông đã tạo uy thế mạnh mẽ cho Huyên Viên Học Phái ở Giang Hộ, đối xứng với Cổ Nghĩa Học Phái ở kinh đô Kyoto. Đệ tử của ông có một số nhân vật kiệt xuất như Thái Tể Xuân Đài (太宰春台), Phục Bộ Nam Quách (服部南郭), Sơn Tỉnh Côn Luân (山井崑崙), An Đằng Đông Dã (安藤東野), v.v. Tư thế phục cổ của ông đã tạo ảnh hưởng lớn cho nền Quốc Học đương thời, và đương nhiên dẫn đến những phản bác về chủ thuyết của Tồ Lai. Bên cạnh các trước tác nêu trên, còn có một số tác phẩm khác của ông như Nam Lưu Biệt Chí (南留別志), v.v.
địch tu thuần đạo
4780(1907~ )日本佛教學者。一九三四年,於龍谷大學文學部史學科畢業;一九四四至一九四五年間,赴中國留學,研究中國宗教史。歷任臨濟學院教授、花園大學教授。著有日宋文化交流與日本之禪宗、宋代禪宗之影響與日本文化等。
; (荻須純道) (1907 -) Nhà học giả Phật giáo Nhật bản. Năm 1934, ông tốt nghiệp môn sử học, Văn khoa thuộc Đại học Long cốc. Khoảng năm 1944 đến 1945, ông đến Trung quốc lưu học, nghiên cứu lịch sử tôn giáo Trung quốc. Ông từng làm giáo sư Học viện Lâm tế và Đại học Hoa viên. Tác phẩm của ông gồm có: Nhật tống văn hóa giao lưu dữ Nhật Địch Nguyên Vân Lai bản chi Thiền tông, Tống đại Thiền tông chi ảnh hưởng dữ Nhật bản văn hóa.
địch ủng
2983(J.W.de Jong, 1921~ )荷蘭人。萊頓大學(University of Leiden)哲學博士。法國名漢學家戴密薇(P. Demiⅰville)之弟子。嘗於萊頓大學教授佛教語言學、佛學及西藏語等課程。一九六五年赴坎培拉,任澳洲國際大學南亞洲與佛教研究學系教授,對於印度學與佛學皆有精湛研究。一九六七年曾一度出任該系主任。又任澳洲國際大學及東方學院(今改稱亞洲研究學院)院長。狄氏語文能力甚佳,能講能寫者,有荷蘭文,及英、法、德文等,能閱讀者有拉丁文等十餘種。著作甚多,所撰書評尤為著名。所著歐美佛教研究小史一書,有霍韜晦之中譯本。
; (狄雍) (1921 -) J. W. de Jong. Tiến sĩ triết học, người Hà lan, học trò của P. Demiéville, nhà Hán học nổi tiếng người Pháp. Địch ung từng là giáo sư dạy các môn Phật học, ngôn ngữ học Phật giáo và Tây tạng ngữ tại Đại học Leiden. Năm 1965, ông đến Canberra nhận chức giáo sư hệ nghiên cứu Nam á châu và Phật giáo học tại Đại học Quốc tế Úc châu. Năm 1967, ông làm chủ nhiệm của hệ nghiên cứu này. Sau, ông lại giữ chức Viện trưởng Đại học Quốc tế Úc châu và Học viện Đông phương (nay đổi là Học viện Nghiên cứu Á châu). Ông rất có năng khiếu về ngữ văn, thông thạo hơn 10 thứ tiếng như: Hà lan, Anh, Pháp, Đức, La tinh v.v... Ông nổi tiếng về viết sách phê bình. Tác phẩm: Âu Mĩ Phật giáo nghiên cứu tiểu sử (do Hoắc thao hối dịch ra Hoa văn).
định
3170令心專注於一對象,而達於不散亂之精神作用,或即指其凝然寂靜之狀態。反之,心散亂不止之狀態,則稱爲散,二者合稱定散。定原爲梵語 samādhi(三摩地、三昧)之意譯,俱舍宗及唯識宗以之爲心所之一;俱舍宗以之爲十大地法之一,唯識宗則以之爲五別境之一。 令心不散亂之修行,及由此而有之特殊精神狀態,通稱爲定,其進境有層次等差。又因止、觀,均行、不均行,有心、無心等之不同,而生四禪、四無色、二無心定等之差別,或爲禪定之總稱,或以心一境性之義而稱三摩地,或稱三昧。定與戒、慧同爲三學之一,乃佛教實踐方法之大綱。又八聖道中之正定,爲五根、五力之一,故亦稱定根、定力;六波羅蜜(六度)之一,即禪定(梵 dhyāna,禪那、靜慮)。 定之意義有種種異說。據大智度論卷二十八載,禪定、四禪二者皆稱定、三昧。據十住毘婆沙論卷十一載,禪指四禪,定指四無色定、四無量心等。成唯識論了義燈卷五本列舉定之異名,共有七種:(一)三摩呬多,梵語 samāhita,譯爲等引。等,即遠離心之浮(掉舉)、沈(惛沈)而保持平衡,乃身心俱安之狀態;引,乃由自力引起(發生功德)之意,能修此定,則離諸煩惱,而引發勝妙功德。等引通於有心、無心二定,但不通於散位。(二)三摩地、三昧,梵語 samādhi,譯爲等持,又作正心行處。能修此定,心則端直,安住一境而不動,即心平等攝持之意。通於定、散,但僅限於有心位,而不通於無心,爲定之本體。(三)三摩鉢底,梵語 samāpatti,譯爲等至。謂能修此定,正受現前,大發光明,慶快殊勝,處染不染,無有退轉,即已至身心平等之意。僅通於有心、無心二定,不通於散位,爲定之自相。(四)馱那演那,梵語 dhyāna,譯爲靜慮,或以音略譯作禪。謂澄神審慮,專思寂想,即鎮靜念慮(分別)之意,通於有心、無心、有漏、無漏,但限於色界之定,不通於無色定。(五)質多翳迦阿羯羅多,梵語 cittaikāgratā,譯爲心一境性。謂攝心一境,策勵正勤而修習,即將心集中於一對象之意,爲定之自性。(六)奢摩他,梵語 śamatha,譯爲止、正受。謂止息諸根惡不善法,能滅一切散亂煩惱,即離邪亂之想念,止心寂靜之意,僅限於有心之淨定。(七)現法樂住,梵語 dṛṣṭa-dharma-sukha-vihāra。謂修習禪定,離一切妄想,身心寂滅,現受法喜之樂而安住不動,即於現在世經由淨定、無漏定等享受定之法樂,限於色界之四根本定。 定有生得定、修得定二種:(一)生得定,謂生於色界、無色界(俱爲定地),爲依前世善業之力,自然所得之定地。(二)修得定,謂生於欲界(散地),以後天努力修行所獲得者。上記二定,於色界定中,即稱爲生靜慮、定靜慮;於無色定中,則稱爲生無色、定無色。 依定之內容及其修行之階段,可將定分爲多種。俱舍宗將其大別爲有心定與無心定等二定。有心定包括四靜慮(四禪、四色界定)與四無色定,合爲八定(八等至)。四靜慮,即:(一)初靜慮,(二)第二靜慮,(三)第三靜慮,(四)第四靜慮。於初靜慮得滅除語言,第二靜慮以上滅除尋、伺,而四靜慮順次滅除憂、苦、喜、樂等諸受。又初靜慮無鼻、舌二識,第二靜慮以上五識皆無。四無色定,即:(一)空無邊處定,得滅除與眼識和合之可見有對之色想、與耳鼻舌身四識和合之不可見有對之色想、與意識和合之不可見無對(無表色)之色想,而入無邊之虛空想。(二)識無邊處定,捨外空緣,唯緣內心識,入於無邊之識行。(三)無所有處定,厭離識處廣緣之苦,滅除識想,作無所有之行相。(四)非想非非想處定,又稱非有想非無想處定,捨離無所有之行相,知見一向非想(無粗想),進而捨非想之行相,達於非非想(有微細想)。 八定有已入定之階段,及近定之準備階段;前者稱爲根本定,或根本等至,後者稱爲近分定,然初靜慮之前階段非稱近分定,而稱未至定,故僅有七近分定。又初靜慮與第二靜慮之近分定中間之階段,稱中間定,或中間靜慮,如修習此定,即可生於大梵天。第四靜慮中,自下下品至上上品,計有九品,上上品乃色界定中最高之定,稱爲邊際定。 上記之未至、中間、七近分、八根本等諸定,視「尋」、「伺」等之有無,再分爲三種三摩地。尋,指尋求推度,爲粗雜之精神作用;伺,指伺察思惟,爲深細之精神作用。三種三摩地爲:(一)未至定與初靜慮之有尋有伺三摩地,即有覺有觀定。(二)中間定之無尋唯伺三摩地,即無覺有觀定。(三)第二靜慮近分以上之無尋無伺三摩地,即無覺無觀定。此稱三定,或稱三三摩地、三三昧。 定之性質,分爲味定、淨定、無漏定等三定,又稱三等至。(一)味定,又稱味等至。與貪愛相應而起,乃愛樂味著於前念(前剎那)淨定之定,位於八根本定與中間定。(二)淨定,又稱淨等至。相應於有漏善心所起之定。又分爲:(1)順退分定,謂順自地之煩惱而生起味定。(2)順住分定,謂順自地之淨定。(3)順勝進分定,謂順上地之淨定。(4)順決擇分定,謂順無漏智而起無漏定。於未至定、中間定、七近分定、八根本定中俱生。(三)無漏定,又稱無漏等至。爲聖者所依,乃得無漏智之定,係於未至定、中間定、四根本定(靜慮)、下三無色定(不包括有頂)所俱有,其斷除煩惱之作用甚強。 一般以有心定分爲止與觀等二品,而有均與不均之分。未至定與中間定,觀之作用較爲殊勝,即觀品增,止品減;四無色定,止之作用較爲殊勝,即觀品減,止品增;唯有色界之四根本定,止與觀均等,和合俱轉,故稱靜慮;其餘四無色定等,止、觀不均行,故總稱爲唯定。據瑜伽師地論卷三十載,以奢摩他品爲止,意爲攝心凝住一處;以毘鉢舍那品爲觀,意爲以「慧」思擇觀察種種諸境,係依奢摩他品所起者。 奢摩他品分九種心住:(一)內住,又稱令住、最初住。謂攝外攀緣,遠離內散亂,而令心堅執於境。(二)等住,又稱正念住。謂攝心之粗動而令心遍住微細。(三)安住,又稱覆審住。遠離散亂及失念,將心安置於內境。(四)近住,又稱後別住。謂親近念住而數數作意。(五)調順,又稱調柔住。謂將心調伏不使流散。(六)寂靜,又稱寂靜住。謂能深見惡尋思及隨煩惱之過患,乃將心攝伏。(七)最極寂靜,又稱降伏住。謂制伏由失念而現起之惡尋思及隨煩惱。(八)專注一趣,又稱功用住。謂由功力而定力得以相續。(九)等持,又稱平等攝持、任運住。謂自數數修習之因緣,令定心之無功用相續轉。 毘鉢舍那品分四種慧行:(一)正思擇,又稱簡擇諸法。謂以思擇分別淨行所緣之不淨、慈悲、緣起、界、持息念等五種境,善巧所緣之蘊、界、處、緣起、處非處等五種境,淨惑所緣之世道、出世道等之差別諸法。(二)最極思擇,謂於差別諸法中思擇平等之實性。(三)周遍尋思,又稱普遍尋思。謂依分別作意以取諸法之相,而遍尋思。(四)周遍伺察,又稱周審觀察。謂詳盡推求所緣之境。 無心定分爲無想定與滅盡定,均爲滅除心、心所之定;無想定係凡夫及外道誤認無想狀態爲真涅槃而修習之定,滅盡定則是聖者將定之境地作爲無餘涅槃界之靜,而修習之定。又除無想定外,四禪、四無色、滅盡等九定,不得間雜異念,而係順次修行所得者,故又稱九次第定、無間禪。然於定得自在力之不時解脫之阿羅漢,依修行四禪、四無色等八定,能超越一地,修得高一層之定,稱爲超定,或超等至、超越三昧。據俱舍論卷二十八載,八定之修相分爲有漏、無漏二類。 據瑜伽師地論卷三十一載,入定之加行有九種:(一)相應加行,謂貪行者勤修不淨觀,瞋行者勤修慈悲觀,癡行者勤修緣起觀,憍慢行者勤修界差別觀,尋思行者勤修「持息念」。(二)串習加行,謂數習止、觀。(三)不緩加行,謂常樂遠離,修習「勤行」,而未敢緩慢。(四)無倒加行,謂依法與義而不執著自己之見取。(五)應時加行,謂了知止、觀、舉、捨等之相及修時。(六)解了加行,謂於了知止觀舉捨之相後,證得定之入、住、捨等自在。(七)無厭足加行,謂於小定不退屈,更進求上勝之法。(八)不捨軛加行,謂不令心馳流於外境,而極力調柔之。(九)正加行,謂於所緣之境數數發起勝解。 由修習九種加行,能令心速疾得定;若次第修習了相作意、勝解作意、加行究竟果作意等七種作意,得證入初靜慮地。又修定者應遠離四種障:(一)怯弱障,謂不希望出離。(二)蓋覆障,謂欲貪、瞋恚、惛眠、掉悔、疑等五蓋。(三)尋思障,謂尋思「欲」等之染污。(四)自舉障,謂高舉下劣之智見。此外,說一切有部之正義,以欲界爲散地,而非修地、離欲地;定地唯於色界、無色界中。異師及大眾部則以欲界中亦有定。 大乘中,對於定之種類,更有多種說法。唯識宗及密宗之瑜伽觀行,天台宗之四種三昧,及禪宗之坐禪等,均是爲使自己臻至佛果之實踐方法,此即修定。傳說佛陀說法之前,即曾入定,此爲導他而入之定。又唯識宗於煖位、頂位、忍位、世第一法位等四善根位中之每一善根位,觀主觀與客觀之假有實無,而入於四定,即:明得定、明增定、印順定、無間定。 大乘義章卷十一載有諸家對四善根所依之界地的異說,如尊者達摩多羅以爲,欲界一向不定,故四善根唯色界所攝。尊者瞿沙以爲,欲界有六禪定,故依六禪定修起四善根。摩訶僧祇部亦主張欲界有禪定,故四善根攝於欲界。 據梁譯攝大乘論釋卷十一載,小乘清淨道論立有六十七種定,大乘立有五百定,而以大乘光定、集福德定、賢護定、首楞伽定等四定總攝之,以此四定爲諸定之通業,依此修習十波羅蜜,能令眾生成熟、佛土清淨。 另據觀無量壽經載,往生西方極樂淨土之行,有定、散二善。唐代淨土宗善導以爲,定善乃是於定心所行之善,亦即平息雜念;散善乃散心所作之善,亦即棄惡修善,二者合稱定散二善。而修此法門之修行者,各分爲定機與散機。 此外,大品般若經卷三相行品、卷五問乘品、卷二十七常啼品、舊華嚴經卷二十五、卷二十七、卷三十四、卷三十八、卷四十五、卷四十九、卷五十、伅真陀羅所問如來三昧經卷上、大方等無想經卷二等,皆列有多種三昧定之名。〔雜阿含經卷二十八、中阿含卷五十八法樂比丘尼經、六門教授習定論、大智度論卷十七、成唯識論卷五、俱舍論卷五、摩訶止觀卷九、解脫道論卷四、顯揚聖教論卷二、順正理論卷二十七、翻譯名義集卷四〕
; Xem định.
; Xem định huệ.
; Samàdhi (S). Abstract meditation, the mind fixed in one direction or, field 1-Tán định, scattered or general meditation (in the world of desire); 2-Thiền định, abstract meditation (in the realm of form and beyond form). Concentration, mental concentration, one pointedness of mind.
; Samdhi (skt)—Hoàn toàn chú tâm vào một chủ đề thiền quán—Composing the mind—Intent contemplation—Perfect absorption of thought into the one object of meditation. Abstract meditation, the mind fixed in one direction, or field. ** For more information, please see Nhị Chủng Định.
; (定) Tâm chuyên chú vào một đối tượng mà đạt đến tác dụng tinh thần không tán loạn, hoặc chỉ cho trạng thái tâm vắng lặng. Trái lại, trạng thái tâm tán loạn do không tập trung thì gọi là Tán, hợp chung lại gọi là Định tán. Định vốn là dịch ý của chữ Phạm samàdhi(tam ma địa, tam muội), tông Câu xá và tông Duy thức cho là một trong những tâm sở; tông Câu xá lập Định làm một trong 10 Đại địa pháp, còn tông Duy thức thì lập nó làm một trong 5 Biệt cảnh. Sự tu hành khiến cho tâm không tán loạn, nhờ đó mà có được trạng thái tinh thần tĩnh lặng thì gọi chung là Định. Lại do Chỉ và Quán quân bình hay không quân bình, hữu tâm hoặc vô tâm khác nhau mà sinh ra định Tứ thiền, Tứ vô sắc, Nhị vô tâm v.v... hoặc gọi chung là Thiền định. Hoặc theo nghĩa tâm một cảnh tính mà gọi là Tam ma địa hoặc Tam muội. Định cũng là một trong ba học, một trong tám Thánh đạo, một trong năm căn, một trong năm lực, cho nên cũng gọi là Định căn, Định lực; một trong sáu độ, tức là Thiền định (Phạm: dhyàna, Thiền na, Tĩnh lự). Về ý nghĩa của Định có nhiều thuyết khác nhau: Cứ theo luận Đại trí độ quyển 28, thì Thiền định và Tứ thiền cả hai đều gọi là Định, Tam muội. Cứ theo luận Thập trụ tì bà sa quyển 11, thì Thiền chỉ cho Tứ thiền, Định chỉ cho Tứ vô sắc định, Tứ vô lượng tâm. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 5 phần đầu thì nêu ra 7 tên khác nhau của Định: 1. Tam ma hi đa (Phạm: Samàhita, Hán dịch là Đẵng dẫn). Đẳng là trạng thái quân bình, tâm thần an ổn, xa lìa trạo cử và hôn trầm; Dẫn nghĩa là do tự lực tu tập định này mà xa lìa phiền não và phát sinh công đức thắng diệu. Đẳng dẫn chung cho cả định hữu tâm và định vô tâm, nhưng không chung cho tán vị (trạng thái tán loạn). 2. Tam ma địa, Tam muội (Phạm: Samàdhi, Hán dịch: Đẳng trì). Cũng gọi Chính tâm hành xứ. Tu tập định này thì tâm an trụ ở một cảnh không dao động, tức là tâm bình đẳng nhiếp trì. Đẳng trì chung cho cả định và tán, nhưng chỉ hạn ở vị hữu tâm, chứ không chung cho định vô tâm. Đây là bản thể của định. 3. Tam ma bát để (Phạm: Samàpatti, Hán dịch: Đẳng chí). Nghĩa là tu được định này thì chính thụ hiện tiền, phát ra ánh sáng, an vui thù thắng, ở trong nhiễm ô mà không bị nhiễm ô, không còn trở lui, đạt đến cảnh thân tâm bình đẳng. Đẳng chí chỉ chung cho định hữu tâm và định vô tâm, chứ không chung cho tán vị. Đây là tự tướng của định. 4. Đà na diễn na (Phạm: Dhyàna, Hán dịch: Tĩnh lự, dịch âm: Thiền na, gọi tắt: Thiền). Nghĩa là dứt hết vọng niệm phân biệt, lắng tâm quán tưởng, đạt đến trạng thái tịch lặng. Tĩnh lự chung cho cả định hữu tâm, định vô tâm, hữu lậu, vô lậu, nhưng chỉ có ở định cõi Sắc, chứ không có ở định Vô sắc. 5. Chất đa ế ca a yết la đa (Phạm: Cittaikàgratà, Hán dịch: Tâm nhất cảnh tính). Thu nhiếp tâm vào một cảnh, siêng năng gắng sức tu tập, nghĩa là tập trung tâm ý vào một đối tượng. Đây là tự tính của định. 6. Xa ma tha (Phạm: Zamatha, Hán dịch: Chỉ, Chính thụ). Ngăn dứt những pháp bất thiện của các căn, diệt tất cả phiền não tán loạn, loại trừ những tưởng niệm tà bậy. Nghĩa là lắng tâm tĩnh lặng. Xa ma tha chỉ có ở định hữu tâm. 7. Hiện pháp lạc trụ (Phạm: Dfwỉadharma-sukha-vihàra). Tu tập thiền định, dứt tất cả vọng tưởng, thân tâm vắng lặng, hiện được pháp hỉ, yên vui chẳng động, tức là ở ngay đời này nhờ tu tập các định thanh tịnh, định vô lậu v.v... mà được hưởng thụ pháp lạc của định. Hiện pháp lạc trụ chỉ có ở bốn định căn bản của cõi Sắc. Định có hai loại: Sinh đắc định và Tu đắc định. 1. Sinh đắc định: Nhờ sức thiện nghiệp ở đời trước được sinh vào cõi Sắc và cõi Vô sắc mà tự nhiên được định (vì hai cõi này đều là cõi định). 2. Tu đắc định: Sinh vào cõi Dục (cõi tán), nhờ nỗ lực tu hành mà được định. Hai định trên đây ở trong định cõi Sắc thì gọi là Sinh tĩnh lự, Định tĩnh lự, ở trong cõi Vô sắc thì gọi là Sinh vô sắc, Định vô sắc. Căn cứ theo nội dung của định và giai đoạn tu hành, có thể chia định làm nhiều loại. Tông Câu xá chia ra hai loại là Hữu tâm định và Vô tâm định. I. Hữu tâm định. Bao gồm 4 tĩnh lự (Tứ thiền, Tứ sắc giới định) và 4 định Vô sắc, cộng chung là 8 định (Bát đẳng chí). A. Bốn tĩnh lự: - Sơ tĩnh lự, dứt hết nói năng. - Đệ nhị và đệ tam tĩnh lự diệt tầm (tìm kiếm), tứ (dò xét). - Đệ tứ tĩnh lự lần lượt xa lìa các cảm thụ lo, khổ, mừng, vui... Thêm nữa, Sơ tĩnh lự, thức mũi và thức lưỡi không còn tác dụng. Từ đệ nhị tĩnh lự trở lên thì cả 5 thức đều không hoạt động. B. Bốn định Vô sắc: 1. Không vô biên xứ định: Diệt trừ sắc tưởng (gồm các sắc thấy được và không thấy được - Vô biểu sắc) mà vào tưởng hư không vô biên. 2. Thức vô biên xứ định: Bỏ duyên theo không bên ngoài, chỉ duyên theo thức bên trong mà vào hành thức vô biên. 3. Vô sở hữu xứ định: Lìa bỏ thức xứ, diệt trừ thức tưởng, đi vào hành tướng vô sở hữu. 4. Phi tưởng phi phi tưởng xứ định, cũng gọi phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ định: Lìa bỏ hành tướng vô sở hữu, tiến tới xa lìa hành tướng phi tưởng để đạt đến Phi phi tưởng định. C. Tám định: Có 2 giai đoạn: a) Giai đoạn đã vào định, gọi là Căn bản định, hoặc Căn bản. b) Giai đoạn chuẩn bị gần định, gọi là Cận phần định. Nhưng, giai đoạn trước Sơ tĩnh lự không gọi là Cận phần định mà gọi là Vị chí định, vì thế chỉ có 7 Cận phần định. Lại giai đoạn giữa Sơ tĩnh lự và Cận phần định của Đệ nhị tĩnh lự gọi là Trung gian định, hoặc Trung gian tĩnh lự, nếu tu tập định này thì được sinh lên cõi trời Đại phạm. Trong Tĩnh lự thứ 4, từ phẩm hạ hạ đến phẩm thượng thượng gồm có 9, phẩm thượng thượng là định cao nhất trong các định của cõi Sắc, gọi là định Biên tế. Các định: Vị chí, Trung gian, 7 cận phần, 8 căn bản nói ở trên, nếu xét về phương diện có tầm, tứ hay không, thì lại được chia làm 3 thứ định (tam ma địa). Đó là: 1. Định Vị chí và Sơ tĩnh lự có tầm có tứ, là định có giác có quán. 2. Định trung gian không có tầm chỉ có tứ, là định không giác có quán. 3. Định cận phần của Tĩnh lự thứ 2 trở lên không tầm không từ, tức là định không giác không quán. Ba loại định trên gọi là Tam tam ma địa, Tam muội. Tính chất của định được chia làm 3: Vị định, Tịnh định và Vô lậu định, cũng gọi Tam đẳng chí. 1. Vị định (Vị đẳng chí): Tương ứng với tham ái mà sinh khởi, là định ưa thích đắm nhiễm Tịnh định ở niệm trước thuộc trong 8 định căn bản và định trung gian. 2. Tịnh định(Tịnh đẳng chí): Tương ứng với tâm thiện hữu lậu mà sinh khởi. Lại được chia làm 4: a) Thuận thoái phần định: Thuận theo phiền não của cõi mình mà sinh khởi vị định. b. Thuận trụ phần định: Thuận theo tịnh định của cõi mình. c) Thuận thắng tiến phần định: Thuận theo tịnh định của cõi trên. d) Thuận quyết trạch phần định: Thuận theo trí vô lậu mà sinh khởi định vô lậu. 3. Vô lậu định (Vô lậu đẳng chí): Chỗ nương tựa của bậc Thánh, là định đạt được trí vô lậu, bao quát cả định Vị chí, định Trung gian, 4 định Căn bản (Tĩnh lự), 3 định Vô sắc (trừ Hữu đính). Định này có tác dụng đoạn trừ phiền não rất mạnh. Thông thường, định Hữu tâm được chia làm 2 phẩm là Chỉ và Quán. Do đó lại chia ra đồng đều và không đồng đều. Trong định Vị chí và định Trung gian, tác dụng quán mạnh hơn, tức là phẩm Quán tăng, phẩm Chỉ giảm; trong 4 định Vô sắc thì tác dụng chỉ mạnh hơn, tức là phẩm Quán giảm, phẩm Chỉ tăng; duy có 4 định căn bản ở cõi Sắc là Chỉ và Quán đồng đều, hòa hợp cùng chuyển, cho nên gọi là Tĩnh lự. Còn 4 định Vô sắc thì Chỉ và Quán không tu song song, nên gọi chung là Duy định (chỉ có định). II. Vô tâm định. Định này được chia làm 2 loại là Vô tưởng định và Diệt tận định, đều là định diệt trừ tâm và tâm sở. - Vô tưởng định: Phàm phu và ngoại đạo tu tập định này vì nhận lầm trạng thái vô tưởng là Niết bàn chân thực. - Diệt tận định: Bậc Thánh tu tập định này, lấy cảnh giới định làm cảnh giới Vô dư Niết bàn. Ngoại trừ Vô tưởng định, còn Tứ thiền, Tứ vô sắc và Diệt tận không được xen tạp niệm khác, phải theo thứ tự tu hành mà được, nên cũng gọi Cửu thứ đệ định (chín định theo thứ lớp), Vô gián thiền (thiền không xen tạp). Nhưng, bậc A la hán Bất thời giải thoát được sức tự tại đối với Thiền định, khi tu 8 định (4 thiền, 4 Vô sắc) có thể vượt bậc mà không cần theo thứ tự, thì gọi là Siêu định, hoặc Siêu đẳng chí, Siêu tam muội. Cứ theo luận Câu xá quyển 18 nói, thì tướng tu của 8 định được chia làm 2 loại là Hữu lậu và Vô lậu. Theo luận Du già sư địa quyển 31, thì có 9 thứ gia hạnh để vào định: 1. Tương ứng gia hạnh: Người tham dục siêng tu Bất tịnh quán, người hay sân thì siêng tu Từ bi quán, người ngu si siêng tu Duyên khởi quán, người kiêu mạn siêng tu Giới sai biệt quán, người hay có ý dò xét so đo thì siêng tu Sổ tức quán. 2. Quán tập gia hạnh: Siêng tu tập Chỉ và Quán. 3. Bất hoãn gia hạnh: Thường ưa xa lìa, tập hạnh siêng năng, không dám lần lữa, chậm rãi. 4. Vô đảo gia hạnh: Theo pháp và nghĩa chứ không chấp trước ý riêng của mình. 5. Ứng thời gia hạnh: Biết rõ tướng của Chỉ, Quán, Cử, Xả và lúc tu. 6. Giải liễu gia hạnh: Sau khi biết rõ tướng của Chỉ, Quán, Cử, Xả thì chứng được Nhập (vào), Trụ (an trú), Xả (buông bỏ) của định một cách tự tại. 7. Vô yếm túc gia hạnh: Ở trong định thấp không trở lui mà tiến lên để cầu pháp cao hơn. 8. Bất xả ách gia hạnh: Thường điều phục tâm ý, không để tán loạn, rong ruổi. 9. Chính gia hạnh: Đối với cảnh duyên theo luôn luôn phát khởi sự hiểu biết thù thắng. Nhờ tu tập 9 gia hạnh trên đây mà tâm mau định. Nếu lần lượt tu tập 7 loại tác ý như: Liễu tướng tác ý, Thắng giải tác ý, Gia hạnh cứu kính quả tác ý v.v... thì được chứng nhập cảnh giới Sơ tĩnh lự. Người tu định phải xa lìa 4 chướng: 1. Khiếp nhược chướng: Sự tu định bị trở ngại vì không có tâm mong cầu xuất li. 2. Phú cái chướng: Tâm bị dục tham, sân khuể, hôn miên, trạo hối và si che lấp, ngăn ngại việc tu định. 3. Tầm tứ chướng: Bị sự nhiễm ô trong tâm tưởng gây chướng ngại. 4. Tự cử chướng: Tự đề cao chỗ thấy biết thấp kém làm trở ngại. Ngoài ra, nghĩa chính thống của Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng Dục giới là cõi tán loạn, không phải là nơi tu định, lìa dục, chỉ có Sắc giới và Vô sắc giới mới là các cõi định. Còn Dị sư và Đại chúng bộ thì chủ trương Dục giới cũng có định. Đối với chủng loại của định, trong Đại thừa còn có nhiều thuyết. Chẳng hạn như Du già quán hạnh của tông Duy thức và Mật tông, 4 loại Tam muội của tông Thiên thai, Tọa thiền của Thiền tông v.v... đều là những phương pháp tu định thực tiễn để đạt đến quả Phật. Theo tông Duy thức thì 4 vị thiện căn (4 gia hạnh) là Noãn vị, Đính vị, Nhẫn vị, Thế đệ nhất pháp vị nhờ quán xét chủ quan và khách quan đều là không mà được 4 định: Minh đắc định, Minh tăng định, Ấn thuận định và Vô gián định. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 11, về cảnh giới sở y (chỗ nương tựa) của 4 thiện căn, giữa các luận sư cũng có những ý kiến khác nhau. Như tôn giả Đạt ma đa la cho cõi Dục hoàn toàn không có định, cho nên 4 thiện căn chỉ thuộc cõi Sắc; tôn giả Cù sa thì chủ trương cõi Dục có 6 thiền định, nên nhờ tu theo 6 thiền định mà sinh khởi 4 thiện căn; Ma ha tăng kỳ bộ (Đại chúng bộ) cũng cho cõi Dục có thiền định, nên 4 thiện căn thuộc cõi Dục. Cứ theo Nhiếp đại thừa luận thích quyển 11 (dịch vào đời Lương) thì luận Thanh tịnh đạo Tiểu thừa lập 67 thứ định, Đại thừa lập 500 định thu tóm vào 4 định là: Đại thừa quang định, Tập phúc đức định, Hiền hộ định và Thủ lăng nghiêm định, theo đó mà tu tập 10 Ba la mật thì có thể khiến cho chúng sinh thuần thục, cõi Phật được thanh tịnh. Còn theo kinh Quán vô lượng thọ, thì sự tu hành cầu vãng sinh Tịnh độ cực lạc phương tây có Định thiện và Tán thiện. Ngài Thiện đạo thuộc tông Tịnh độ đời Đường, cho rằng định thiện là thiện được làm trong lúc tâm định, cũng tức là dứt hết các ý niệm tạp nhạp, lăng xăng; còn tán thiện là thiện được làm trong lúc tâm tán cũng tức là bỏ ác tu thiện. Hai thứ thiện trên đây hợp chung lại gọi là Định tán nhị thiện. Hành giả tu theo pháp môn này được chia làm Định cơ và Tán cơ. Ngoài ra, kinh Đại phẩm bát nhã quyển 3 phẩm Tướng hạnh, quyển 5 phẩm Vấn thừa, quyển 27 phẩm Thường đề, kinh Hoa nghiêm các quyển 25, 27, 34, 38, 45, 49, 50 (bản dịch cũ), kinh Đồn chân đà la sở vấn Như lai tam muội quyển thượng và kinh Đại phương đẳng vô tưởng quyển 2 v.v... đều có nêu tên nhiều loại định khác nhau. [X. kinh Tạp a hàm Q.28; kinh Pháp lạc tỉ khưu ni trong Trung a hàm Q.58; luận Lục môn giáo thụ tập lục; luận Đại trí độ Q.17; luận Thành duy thức Q.5; luận Câu xá Q.5; Ma ha chỉ quán Q.9; luận Giải thoát đạo Q.4; luận Hiển dương thánh giáo Q.2; luận Thuận chính lí Q.27; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4].
định bàn tinh
3184又作定盤子。定盤,即秤;星,即秤之刻度,刻度之基點即稱定盤星,一般以之比喻一事之準則。於禪宗,轉指執著於有心或無心等任何一方,並以之爲一定之標準,而不得自在之情況。〔碧巖錄第二則評唱、第十八則評唱、嘉泰普燈錄卷十三〕
; (定盤星) Cũng gọi Định bàn tử. Định bàn là cái cân; Tinh là độ khắc trên cán cân để đo lường, ví dụ một sự việc đúng mực thước. Trong Thiền tông, từ ngữ này được dùng để chỉ người cố chấp hữu tâm hoặc vô tâm, cho đó là tiêu chuẩn nhất định, nên không được tự tại. [X. Bích nham lục phần Bình xướng tắc 2 và phần xướng tắc 18; Gia thái phổ đăng lục Q.13].
định bụng
To intend to do something.
định chung
3185禪門於「初更五點」(午後十時)稍後,由「辰司」報告時刻,繼由「堂行」在堂前敲板三通,「鐘司」隨即鳴鐘十八聲,以報坐禪終了之時刻,稱爲定鐘。又稱十八鐘、開枕鍾。俗稱初夜鐘。坐禪至此時終止,僧眾得出僧堂。定鐘之後,再度坐禪,稱爲陪修,或稱爲再請禪。〔禪林象器箋唄器門〕(參閱「再請禪」2199)
; (定鍾) Cũng gọi là Thập bát chung (18 tiếng chuông), khai chẩm chung (chuông báo hiệu giờ đi ngủ). Tục gọi là Sơ dạ chung (chuông canh một). Trong Thiền lâm, sau 22 giờ, Thần tư (người phụ trách việc báo giờ giấc) thông báo đã đến giờ; kế tiếp Đường hành (người trông nom nhà Tăng) đánh 3 hồi mộc bản ở trước nhà Tăng, sau đó, Chung tư (người phụ trách đánh chuông) đánh 18 tiếng chuông, gọi là Định chung, để báo hết giờ ngồi thiền. Sau khi nghe chuông, chúng tăng được phép ra khỏi nhà Tăng. Nếu sau định chung, lại tọa thiền nữa thì gọi là Bồi tu, hoặc gọi là Tái thỉnh thiền. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Bái khí môn]. (xt. Tái Thỉnh Thiền).
định chí
To make up one's mind—To decide.
định chỗ
To apoint the place.
Định căn
xem năm căn lành.
định căn
3179梵語 samādhīndriya,巴利語 samādhindriya。爲三十七品菩提分法與二十二根中五根(信根、精進根、念根、定根、慧根)之一。又作禪定根。根,梵語 indriya,含有增上、生長之義。定根,即指使心止於一處,不爲外境動搖之禪定力;蓋此禪定力能生起一切之功德,故謂之「根」。(參閱「五根」1137)
; Samàdhìndriya (S). Mediatation as the root of all virtue. Faculty of concentration.
; 1) Định là gốc rễ của mọi “đức.”—Meditation as the root of all virtue. 2) Một trong Ngũ Căn: One of the five roots (indriya)—See Ngũ Căn. ** For more information, please see Ngũ Căn(C).
; (定根) Phạm: Samàdhìndriya, Pàli: Samàdhindriya. Cũng gọi Thiền định căn, là một trong 5 căn (Tín căn, tinh tiến căn, niệm căn, định căn, tuệ căn). Căn, Phạm:indriya, nghĩa là thêm lên, sinh lớn. Định căn nghĩa là sức của thiền định có thể khiến cho tâm chuyên chú ở một đối tượng, mà không bị ngoại cảnh làm dao động. Sức thiền định này có thể sinh ra tất cả công đức, cho nên gọi là căn (gốc rễ). (xt. Ngũ Căn).
định danh
Vyapadisati (skt)—Gọi tên hay đặt tên—To designate—To call a name—To give a name or title.
định di
3181梵語 pratiniyama。爲唯識宗二十四不相應行法之一,百法之一。定,指決定;異,指差別。謂一切事物之善惡因果各有差別而互不混亂之意。唯識宗將一切諸法分成五大類,稱爲五位,其中第四類爲「不相應行法」,即既不屬色法、心法,亦非無爲法,然與色、心、無爲法等均有關係之法,共有二十四種,故稱二十四不相應行法,皆爲諸法中之假設名目。二十四法中之第十五、第十六、第十七等三法係針對諸法之因果關係而假立之名,即:(一)第十五法,針對諸法因果之「相續性」而假立「流轉」之法,即諸法之因果具有相續不斷之性質。(二)第十六法,針對諸法因果之「別異性」而立「定異」之法,即諸法之善因與惡因、善果與惡果,既已決定因果性質,即展現其互有差別而不相混亂之關係。(三)第十七法,針對諸法因果之「相稱性」而立「相應」之法,即諸法之因果報應有其善惡相應之關係。 瑜伽師地論卷五十二進一步舉出五種定異之差別,即:(一)流轉還滅之定異,如順逆之緣起法即屬之。(二)一切法之定異,謂一切法攝於「十二處」而無有超過、增多者。(三)領受之定異,謂一切法爲「三受」所攝而無有超過、增多者。(四)住之定異,謂一切之壽量或劫期等皆有其差異而決定之性質。(五)形量之定異,如一切有情眾生之生身形體、生處,乃至於所依存之器世間、四大洲等,皆各有定異之性。〔顯揚聖教論卷二、大乘百法明門論、大乘阿毘達磨雜集論卷二〕(參閱「心不相應行」1396)
; (定异) Phạm: Pratiniyama. Một trong 24 pháp Bất tương ứng hành, một trong 100 pháp do tông Duy thức lập ra. Định là quyết định, Dị là sai khác. Nghĩa là nhân quả thiện ác của tất cả sự vật đều khác nhau chứ không hề lẫn lộn. Tông Duy thức chia tất cả pháp làm 5 loại, gọi là Ngũ vị, trong đó, vị thứ 4 là Bất tương ứng hành pháp. Loại pháp này không thuộc sắc pháp, tâm pháp, mà cũng chẳng phải vô vi pháp, nhưng lại quan hệ với sắc, tâm và vô vi pháp, tất cả có 24 thứ nên gọi là 24 pháp Bất tương ứng hành, đều là danh mục của những pháp được giả đặt ra. Trong 24 pháp, thì các pháp thứ 15, 16, 17 là đối với quan hệ nhân quả của các pháp mà giả đặt tên. Tức là: 1. Pháp thứ 15 (Lưu chuyển): Đối với tính tương tục của nhân quả các pháp mà giả lập pháp lưu chuyển. Nghĩa là nhân quả của các pháp có tính chất liên tục không dứt. 2. Pháp thứ 16 (Định dị): Đối với tính sai khác của nhân quả các pháp mà giả lập pháp Định dị. Nghĩa là nhân thiện và nhân ác, quả thiện và quả ác của các pháp đã có tính chất nhân quả quyết định, về mặt biểu hiện tuy có quan hệ sai khác, nhưng không hề lẫn lộn với nhau. 3. Pháp thứ 17 (Tương ứng): Đối với tính tương xứng của nhân quả các pháp mà giả lập pháp Tương ứng. Nghĩa là sự báo ứng nhân quả của các pháp có mối quan hệ ứng nhau. Luận Du già sư địa quyển 52 thì nêu ra 5 loại Định dị: 1. Định dị về lưu chuyển hoàn diệt: Như pháp duyên khởi thuận nghịch. 2. Định dị về nhất thiết pháp: Tất cả pháp thu nhiếp về 12 xứ. 3. Định dị về lãnh thụ: Tất cả pháp thu nhiếp về 3 thụ. 4. Định dị về trụ: Tất cả thọ lượng hoặc kiếp số đều có tính cách quyết định khác nhau. 5. Định dị về hình: Như thân hình, nơi sinh của tất cả hữu tình chúng sinh cho đến thế giới, 4 châu là chỗ chúng sinh nương ở để sống còn v.v... đều có tính định dị. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.2; luận Đại thừa bách pháp minh môn; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.2]. (xt. Tâm Bất Tương Ứng Hành).
Định dị 定異
[ja] ジョウ jōi ||| 'Distinction of good and evil (causes);(pratiniyama).' One of the 24 elements not concomitant with mind as explained by the school of Consciousness-only. The principle that the causes and effects of good and evil are different from each other, and are not confused. A provisional element. => (s: pratiniyama). Một trong 24 tâm bất tương ưng hành pháp được giải thích trong giáo lý Duy thức. Chỉ cho tất cả nhân quả thiện ác của mỗi sự vật đều sai khác, nhưng không hỗn loạn. Là một yếu tố tạm thời.
Định Dự
(定譽, Jōyo, 958-1047): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, húy là Định Dự (定譽), thường gọi là Kỳ Thân Thượng Nhân (祈親上人), Trì Kinh Thượng Nhân (持經上人), thụy hiệu Thường Chiếu (常照); xuất thân vùng Nam Bổn (楠本), Đại Hòa (大和, Yamato), họ Hà Tỉnh (河井). Năm 13 tuổi, ông vào tu ở Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji), học về Pháp Tướng; sau đó theo hầu Chơn Hưng (眞興, Shinkō) ở Tử Đảo Tự (子島寺, Koshima-dera) và thọ phép Quán Đảnh từ Tiên Cứu (仙救). Sau khi song thân qua đời, ông chuyên tâm trì tụng Kinh Pháp Hoa để cầu nguyện cho song thân được siêu độ; vì vậy ông có tên gọi là Kỳ Thân, Trì Kinh. Vào năm 1016, thể theo điềm báo mộng Quan Âm ở Trường Cốc Tự (長谷寺, Hase-dera), biết được song thân mình đã được siêu thăng lên cõi Tịnh Độ Cao Dã Sơn, ông lên núi và hành lễ cúng dường tại đây. Ông thề nguyện nơi Miếu Không Hải và tận lực giúp sức với Kiểm Hiệu Phong Cảo (峰杲), Hành Minh (行明) cũng như Nhân Hải (仁海) của Đông Tự (東寺, Tō-ji) để phục hưng Sơn Môn.
định giác chi
3185梵語 samādhi-saṃbodhy-aṅga。乃七覺支之第六。又作定等覺支、定覺意、惟定覺意。七覺支乃順趣菩提之七種法,屬三十七菩提分法之一科。定覺支即謂「心一境性」係以定爲體,令心安住而不散亂。修此法已,則定覺滿足,滅除貪、憂,乃生捨心,進而修習捨覺支,待捨覺支滿足,則可達於無畏之境界。〔雜阿含經卷二十六〕(參閱「七覺支」125)
; Định giác phần—Samadhi-bodhyanga (skt)—Định giác phần, một trong thất giác chi, là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta nhận biết được sự cân bằng của vạn pháp—The enlightenment of meditation, one of the seven bodhyanga, or the balanced state is one of the most important to the great enlightenment; for with it, we recognize that all dharmas are in equilibrium. ** For more information, please see Thất Bồ Đề Phần in Vietnamese-English Section.
; (定覺支) Samàdhi-saôbodhy-aíga. Cũng gọi Định đẳng giác chi, Định giác ý, Duy định giác ý. Chi thứ 6 trong Thất giác chi, là 7 pháp thuận hướng tới bồ đề, là một khoa trong 37 phẩm trợ đạo. Định giác chi lấy định làm thể, khiến cho tâm an trụ ở một cảnh không để tán loạn. Tu được pháp này rồi thì định và giác đều đầy đủ, diệt trừ tham lam, lo sầu, do đó sinh tâm buông bỏ mà tiến lên tu tập Xả giác chi, đến khi Xả giác chi được trọn vẹn thì có thể đạt đến cảnh giới không sợ hãi. [X. kinh Tạp a hàm Q.26]. (xt. Thất Giác Chi).
định giả
3179指大法會行道之時,手執香爐,行於導師前之小僧之職稱。又作定者沙彌、善財童子。又因其定座於導師之下,故又有「定座」之稱。蓋善財童子爲華嚴經入法界品中,歷參五十三位善知識之童子,其形爲沙彌相,故以善財童子爲定者之異名。〔法成寺金堂供養記〕
; (定者) Cũng gọi Định giả sa di, Thiện tài đồng tử, Định tòa. Chức vụ của sa di tay bưng lư hương đi trước vị Đạo sư lúc cử hành đại pháp hội. Trong phẩm Nhập pháp giới của kinh Hoa nghiêm, đồng tử Thiện tài mang hình tướng một vị sa di đi tham vấn 53 bậc thiện tri thức, cho nên dùng đồng tử Thiện tài làm tên khác của Định giả. Lại vì Định giả ngồi dưới vị Đạo sư cho nên cũng gọi là Định tòa. [X. Pháp thành tự kim đường cúng dường kí].
Định Huệ
(定慧, Jōe, 1296-1370): vị Tăng của Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương và đầu thời Nam Bắc Triều, vị Tổ đời thứ 3 của Quang Minh Tự (光明寺) ở vùng Liêm Thương; húy là Định Huệ (定慧、定惠), hiệu là Phật Liên Xã (佛蓮社), Lương Dự (良譽); xuất thân vùng Tiểu Điền Nguyên (小田原, Odawara), Tương Mô (相模, Sagami, thuộc Kanagawa-ken [神奈川縣]); họ Đại Sum (大森, Ōmori). Lúc lên 15 tuổi, ông theo xuất gia với Lương Trung (良忠) ở Quang Minh Tự (光明寺) thuộc vùng Liêm Thương, sau đó đến học Giới Luật ở vùng Nam Đô. Sau ông trở về Liêm Thương, và chuyên tâm tu tập giáo nghĩa của Phái Bạch Kỳ (白旗派). Vào năm 1320, ông kế thế Quang Minh Tự, rồi chuyên cai quản cả Thắng Nguyện Tự (勝願寺) ở vùng Ky Điền (箕田, Mida), đến cuối đời thì ông đến sáng lập Tịnh Vận Tự (淨運寺) ở vùng Tương Mô, và phú pháp cho Thánh Quynh (聖冏).
định huệ
1) Meditation and wisdom—Wisdom arising from meditation. 2) Tên của một Thiền sư Việt Nam ở Cẩm Điền Phong Châu, Bắc Việt. Cùng với Vạn Hạnh, ngài đã tôn Thiền Ông Thiền Sư làm sư phụ và đã trở thành Pháp tử đời thứ 13 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Ít lâu sau đó sư về trụ tại chùa Quang Hưng, trong phủ Thiên Đức. Ngày thị tịch của sư không ai biết—Name of a Vietnamese Zen master from Cẩm Điền, Phong Châu, North Vietnam. Together with Vạn Hạnh, Định Huệ honored Zen Master Thiền Ông as their master. He became the Dharma heir of the twelfth lineage of the Vinitaruci Zen Sect. Sometime later he moved and stayed at Quang Hưng Temple in Thiên Đức to expand the Buddha Dharma. When he passed away was unknown.
định huệ giải thoát
Complete deliverance in regard to both wisdom and vision.
định huệ tự
3183<一>位於浙江杭縣。俗稱虎跑寺。爲唐代古剎。杭州西湖名泉甚多,其中最著名者,當推本寺之虎跑泉。傳說唐時寺中有二虎跑地作穴,泉水湧出,世稱虎跑泉。泉水甘冽清醇,滿而不溢,亦有天下第三泉之美譽。 <二>位於江蘇鎮江之焦山。與金山寺同以風景秀麗而聞名。焦山又稱浮玉山,以東漢處士焦先(光)隱居於此而得名。寺建於東漢興平年間(194~195,或謂建於唐代),稱爲普濟寺,宋代嘉定年間(1208~1209)重建,又易名焦山寺。圜悟克勤、枯木法成、佛印了元等禪師曾住此寺。元代時燒毀,直至明宣宗宣德年間(1426~1435)始重修。清聖祖康熙二十五年(1686,或謂四十二年)頒賜匾額,改名定慧寺,並重整寺院。〔大明一統志卷十一、大清一統志卷六十三、焦山志卷一〕
; (定慧寺) I. Định Tuệ Tự. Chùa ở huyện Hàng, tỉnh Chiết giang, được sáng lập vào đời Đường, tục gọi là chùa Hổ bào. Theo truyền thuyết, trong chùa Định tuệ có 2 con hổ (cọp) cào đất làm hang, nước phun lên tạo thành dòng suối, người đời gọi là suối Hổ bào. Nước suối trong vắt, ngọt, mát, nước đầy mà không tràn, là dòng suối nổi tiếng vào hàng thứ 3 tại Trung quốc. II. Định Tuệ Tự. Chùa ở núi Tiêu sơn..., huyện Trấn giang, tỉnh Giang tô. Tiêu sơn còn được gọi là Phù ngọc sơn... (núi ngọc nổi), do xử sĩ Tiêu tiên (Quang) đời Đông Hán đến đây ở ẩn nên gọi là Tiêu sơn. Chùa này được xây dựng vào khoảng năm Hưng bình (194 - 195) đời Đông Hán (cũng có thuyết nói được sáng lập vào đời Đường), gọi là chùa Phổ tế, phong cảnh rất đẹp. Khoảng năm Gia định (1208 - 1209) đời Tống được làm lại và một lần nữa đổi tên là chùa Tiêu sơn. Các thiền sư Viên ngộ Khắc cần, Khô mộc Pháp thành và Phật ấn Liễu nguyên đã từng ở chùa này. Vào đời Nguyên chùa bị thiêu hủy, mãi đến khoảng năm Tuyên đức (1426 - 1435) đời vua Tuyên tông nhà Minh mới được trùng tu. Năm Khang hi 25 (1686, có thuyết nói năm 42), vua Thánh tổ nhà Thanh ban tấm biển hiệu đổi tên là chùa Định tuệ và cho sửa sang lại. [X. Đại minh nhất thống chí Q.11; Đại thanh nhất thống chí Q.63; Tiêu sơn chí Q.1].
Định huệ xã 定慧社
[ja] ジョウエシャ Jōesha ||| The "samādhi and prajñā society" founded by the Koryŏ Sŏn master Chinul 知訥, whose goal was to establish a new community of disciplined, pure-minded practitioners deep in the mountains. => Nhóm tu tập Định huệ do Trí Nột (k: Chinul 知訥), thiền sư Cao Lệ thành lập, mục tiêu là thiết lập một cộng đồng tu tập mới có kỷ luật, chuyên hành trì tĩnh tâm trong rừng sâu.
định huệ đẳng trì
3184請參閱 佛頂國師語錄 謂等同任持禪定與智慧,雙運並修而無輕重先後之別。蓋自性有體(定)、用(慧)之關係,體即用者,慧不離定;用即體者,定不離慧。定即慧之故,由「寂」而有「智」;慧即定之故,由「智」而有「寂」,是爲定慧等持。與「定慧雙修」同義。〔修心訣〕
; (定慧等持) Đồng nghĩa với định tuệ song tu. Bởi vì định (thể) và tuệ (dụng) quan hệ mật thiết với nhau, nên thể là dụng, dụng là thể. Thể là dụng thì tuệ không lìa định, mà dụng là thể thì định không lìa tuệ. Định là tuệ nên lặng lẽ mà chiếu soi; tuệ là định nên chiếu soi mà lặng lẽ. [X. Tu tâm quyết].
định hương
3179<一>五分香之一。密教以香比喻如來之法身,即戒香、定香、慧香、解脫香、解脫知見香等五種香。其中之定香,即比喻如來之真心常住寂靜,不起妄念,不爲惑亂所動搖。(參閱「五分香」1067) <二>坐禪時,用以計量時間之線香。又長一尺者,稱定香尺。此外,置於佛前,經常燃香不絕之香爐,稱定香盤、常香盤。〔黃檗清規住持章第四〕
; Zen Master Định Hương (?-1051)—Tên của một Thiền sư Việt Nam, quê ở Chu Minh, Bắc Việt. Ngài xuất gia vào lúc hãy còn rất trẻ và trở thành một trong những đệ tử xuất sắc của Thiền Sư Đa Bảo. Sau khi Thiền sư Đa Bảo thị tịch, ngài trở thành pháp tử đời thứ sáu của dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Sau đó ngài dời về trụ tại chùa Cảm Ứng ở Thiên Đức để tiếp tục hoằng dương Phật pháp cho đến khi thị tịch vào năm 1051—Name of a Vietnamese monk from Chu Minh, North Vietnam. He left home when he was very young and became one of the most outstanding disciples of Zen Master Đa Bảo. After the latter's death, he became the Dharma heir of the sixth lineage of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. Later he went to Thiên Đức and stayed at Cảm Thành Temple to expand the Buddha Dharma until he passed away in 1051.
; (定香) I. Định hương: Hương thiền định. Một trong 5 phần hương. Mật giáo dùng 5 phần hương là giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương và giải thoát tri kiến hương để ví dụ pháp thân của Như lai. Trong đó, Định hương ví dụ cho chân tâm của Như lai tĩnh lặng thường trụ, không khởi vọng niệm, không bị hoặc loạn làm dao động. (xt. Ngũ Phần Hương). II. Định hương: Hương đốt để tính thời gian lúc ngồi thiền. Cũng gọi Định hương xích, nghĩa là nén hương dài 1 thước Tàu. Như vậy, mỗi thời ngồi thiền có thể hết 1, 2 hoặc 3 nén hương tùy theo qui định của Thiền lâm. Ngoài ra, chiếc lư hương đặt trước tượng Phật có thắp hương vòng nghi ngút suốt ngày không dứt, gọi là Định hương bàn, Thường hương bàn.
Định Hải
(定海, Jōkai, 1074-1149): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Bình An, Tự Trưởng đời thứ 77 của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), trú trì đời thứ 15 của Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji), húy là Tự Trưởng đời thứ 40, 41 của Đông Tự (東寺, Tō-ji), Tổ của Dòng Tam Bảo Viện (三寶院流); húy là Định Hải (定海), thông xưng là Tam Bảo Viện Đại Tăng Chánh (三寶院大僧正), Thượng Sanh Tăng Chánh (上生僧正); con của Hữu Đại Thần Nguyên Hiển Phòng (右大臣源顯房). Ông theo làm đệ tử của Nghĩa Phạm (義範) ở Đề Hồ Tự; đến năm 1101 thì thọ phép Quán Đảnh với Thắng Giác (勝覺) của Tam Bảo Viện (三寶院). Sau đó ông thọ nhận Dòng Tiểu Dã (小野流) từ Phạm Tuấn (範俊), Lương Nhã (良雅) và khai sáng Dòng Tam Bảo Viện. Năm 1116, ông làm Tọa Chủ của Đề Hồ Tự, tiến hành tái kiến Dược Sư Đường (藥師堂), sáng lập Thanh Lang Hội (清瀧會) và tận lực làm cho chùa này hưng thạnh. Năm 1129, ông đảm nhiệm chức Biệt Đương của Đông Đại Tự, trùng tu lại Giảng Đường của chùa, và đến năm 1133 thì tựu nhiệm chức Tự Trưởng của Đông Tự. Năm 1138, ông làm Đại Tăng Chánh, sơ lệ của Đề Hồ Tự. Đệ tử của ông có Nguyên Hải (元海), Nhất Hải (一海), v.v. Trước tác của ông có Đại Trị Ký (大治記) 1 quyển, Bảo Diên Ký (保延記) 1 quyển.
định học
Spiritual formation.
; Học qua thiền định (khả năng thu nhiếp những tinh thần phân tán hỗn loạn để hiểu rõ đạo lý và thấy tự tính của mình), một trong tam học (giới, định, tuệ)—Learning through meditation, one of the three learnings (Morality-Giới, Meditation-Định, Wisdom-Huệ).
định không
3179(729~808)越南滅喜禪派僧。北寧古法人,俗姓阮。原住天德禪眾寺,村人敬稱師爲長老。唐貞元(785~805)年間,在古法創建瓊林寺,專授南宗神會之禪法,其後南宗禪成爲滅喜禪派之主流。晚年在龍泉寺南陽禪師門下繼續修禪。元和三年示寂,世壽七十九。
; Thiền Sư Định Không (730-808)—Zen Master Định Không (730-808)—Thiền sư Việt Nam, quê tại Cổ Pháp, Bắc Việt. Sư con nhà danh giá, xuất gia khi đã lớn tuổi, nhưng tu hành thiền định rất tinh chuyên tịnh hạnh. Lúc đầu sư khai sơn chùa Quỳnh Lâm ở Cổ Pháp. Ít lâu sau đó, sư dời về trụ tại chùa Thiền Chúng ở Thiên Đức. Sư thị tịch khoảng năm 808—A Vietnamese Zen master from Cổ Pháp, North Vietnam. He was from a noble family, left home in his old age; however, he focused on practicing meditation vigorously. First, he built Quỳnh Lâm Temple in Cổ Pháp. Sometime later, he moved to stay at Thiền Chúng Temple in Thiên Đức. He passed away in 808 AD.
; (定空) (729 - 808) Thiền sư Việt nam thuộc phái Tì ni đa lưu chi, người làng Cổ pháp, tỉnh Bắc ninh, họ Nguyễn. Ngài trụ trì chùa Thiền chúng ở Thiên đức, người trong làng rất tôn kính và gọi ngài là Trưởng lão. Về sau, khoảng năm 785 - 805), ngài sáng lập chùa Quỳnh lâm ở làng Cổ pháp, nơi đây, ngài chuyên dạy Thiền pháp của thiền sư Thần hội thuộc Nam tông, cho nên Thiền Nam tông trở thành dòng chính của Thiền phái Tì ni đa lưu chi. Ngài tịch vào năm 808, thọ 79 tuổi.
Định Kiêm
(定兼, Jōken, 1106-1184): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Bình An, Kiểm Hiệu đời thứ 28 của Cao Dã Sơn, húy là Định Kiêm (定兼), thông xưng là Đại Nạp Ngôn Luật Sư (大納言律師), tự là Hồi Tâm (廻心), xuất thân vùng Vũ Trí (宇智), Đại Hòa (大和, thuộc Nara-ken [奈良縣]). Ông thọ phép Quán Đảnh với Hành Nghiêm (行嚴) của Lý Tánh Viện (理性院) ở Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji). Sau đó, ông lên Cao Dã Sơn, nhập môn thọ pháp với Kiêm Hiền (兼賢) ở Bắc Thất Viện (北室院); được Giáo Giác (敎覺) ở Chánh Trí Viện (正智院) nhận ra được tư chất của ông nên vị này nhường lại Chánh Trí Viện cho ông trú trì; từ đó ông giáo dưỡng rất nhiều học đồ. Năm 1179, ông làm Kiểm Hiệu của Cao Dã Sơn, và tại vị trong vòng 5 năm thì từ chức.
định kiến
Prejudiced (fixed) ideas.
định liệu
To make arrangements.
định luật
Law
định luật tác nghiệp
Lawfulness of karma.
định luật vũ trụ
Universal law.
định lâm tự
3177<一>位於南京市鍾山下之蔣陵里。係南朝劉宋元嘉元年(424)慧覺所建。十年,曇摩蜜多駐錫於此,因性好靜雅,乃於山之西側別建一寺,稱爲上定林寺,原則稱爲下定林寺。高德碩學來住者頗多,而爲梁三大法師(法雲、智藏、僧旻)所棲止。南齊末年之義學泰斗僧柔,亦止住此處。又梁初,法通入上定林寺三十餘年,專教導弟子坐禪、禮懺。大通二年(528)達磨示寂,葬於熊耳山,而建塔於定林寺。中大通元年(529)法雲示寂,梁武帝哀惜之餘,勅葬定林寺。其後,寺漸荒廢。今之建築乃明代弘治五年(1492)所重建,有昭明讀書臺、石龍池等勝景。 <二>位於山東莒縣城西之浮來山。相傳始建於南北朝,現存係清同治十三年(1874)所重修,分前中後三院,主要建築物有大佛殿、校經樓、三教堂等。校經樓原名毘盧閣,據傳劉勰曾於閣上校閱藏經。劉勰(465~532),字彥和,原籍東莞(山東莒縣)人,所撰「文心雕龍」爲我國古代文學理論名著,晚年出家,法號慧地,住定林寺以終。寺前巨石上鐫刻「象山樹」三篆字,落款書「隱士慧地題」,傳爲劉勰所書。大佛殿前有古銀杏,果實累累,蔚爲奇觀,相傳春秋時魯公與莒子曾會盟樹下。寺周尚有臥龍泉、經石峪、清泉峪、朝陽觀、仙書石及莒子陵等古蹟。 <三>位於山西高平縣大糧山。峰巒重疊,松柏蒼翠,寺側有定林泉,寺因此得名。寺址在山之陽,美景寶剎交相輝映。主要建築有山門、雷音殿、三佛殿、七佛殿。雷音殿斗栱支檐,飛檐挑角,雕樑畫棟,其手法之精巧秀麗,氣勢之古樸雄偉,堪稱中外佛殿建築之傑作。後門枕石刻有元代延祐四年(1317)四月二十日之刻造記。殿前月臺上豎有石雕八角形經幢兩座,均高四公尺,刻有經文、仰蓮、覆盆、寶珠頂。一爲彌勒出生寶塔,北宋太平興國二年(977)造;一爲雍熙二年(985)造。其經幢後之善法、羅漢二堂內,建有止涓、問津二洞。堂西有定林泉,水從石洞流出,涓涓有聲,清澈甘美,終年不涸。 <四>位於韓國忠清南道扶餘邑東南里。百濟滅亡之際,歷經七日夜之劫火,全寺亦於此時燒燬殆盡。現今依所發現之瓦銘,得知係百濟時代定林寺之遺址;據遺蹟狀態推察,其受中國伽藍建築之影響頗深,而爲百濟時代平地伽藍之代表寺院。今僅餘一座高十公尺之五層石塔,及一座累經補修之毘盧遮那佛之座像。據傳五層塔造於高麗時代。
định lượng luận
3181又作量決定論。爲因明七論之一。印度法稱著。共分三品,即:現量品、爲自比量品、爲他比量品。本書闡述此三種量之性質、差別、作用等。在古印度有智福善等之注釋,在西藏則有達爾麻仁欽之注釋。
; (定量論) Cũng gọi Lượng quyết định luận. Một trong 7 bộ luận Nhân minh, do ngài Pháp xứng người Ấn độ soạn. Nội dung chia làm 3 phẩm: Hiện lượng phẩm, Vi tự tỉ lượng phẩm, Vi tha tỉ lượng phẩm, trình bày về tính chất, sự sai khác và tác dụng của 3 lượng này. Sách này có 2 bản chú thích: Một của ngài Trí phúc Thiện đẳng ở Ấn độ và một của ngài Đạt nhĩ ma nhân khâm ở Tây tạng.
định lữ
Bạn đồng tu hay bạn thiền—Fellow-monks—Fellow meditators
định lực
3171梵語 samādhi-bala,巴利語同。止息散亂之心,歸於靜寂之禪定力,稱爲定力。即不論遭遇任何境地,均能如如不動之禪定力。爲三十七菩提分法中「五力」之一。又定力爲遠離欲惡不善之法,一般而言即四種靜慮。〔禪苑清規卷八〕(參閱「五力」1043)
; Samàdhibala (S). The power of abstract or ecstatic meditation, ability to overcome all disturbing thoughts.
; Samadhibhala (skt). 1) Định lực thiền quán có thể phá vở mọi loạn tưởng, một trong ngũ lực—The power of samadhi—The power of meditation—The power of abstract or estatic meditation, ability to overcome all disturbing thoughts, the fourth of the five powers (bala). 2) Nhiếp Tâm: Powers of mind-control.
; (定力) Phạm, Pàli: Samàdhi-bala. Sức thiền định ngăn dứt tâm tán toạn mà đạt đến cảnh giới tĩnh lặng, như như bất động. Là một trong 5 lực. Ngoài ra, Định lực cũng là pháp xa lìa dục ác bất thiện. [X. Thiền uyển thanh qui Q.8]. (xt. Ngũ Lực).
định môn thập lục tôn
3179指密教金剛界三十七尊中主定德之十六尊。與「慧門十六尊」相對。即四波羅蜜、內四供養、外四供養及四攝。包括金剛波羅蜜、寶波羅蜜、法波羅蜜、業波羅蜜、金剛嬉、金剛鬘、金剛歌、金剛舞、金剛香、金剛華、金剛燈、金剛塗香、金剛鉤、金剛索、金剛鏁、金剛鈴等十六尊。三十七尊中除定門十六尊、五佛外,餘即爲慧門十六尊。又內四供養與外四供養一般合稱爲八供。〔金剛頂大教王經私記卷五、卷十三、祕藏記〕
; (定門十六尊) Đối lại với Tuệ môn thập lục tôn. Chỉ cho 16 vị tôn chủ về đức định trong 37 vị tôn thuộc Kim cương giới của Mật giáo. Đó là: Kim cương ba la mật, Bảo ba la mật, Pháp ba la mật, Nghiệp ba la mật, Kim cương hí, Kim cương man, Kim cương ca, Kim cương vũ, Kim cương hương, Kim cương hoa, Kim cương đăng, Kim cương đồ hương, Kim cương câu, Kim cương sách, Kim cương tỏa, Kim cương linh. Trong 37 vị tôn trên đây, trừ 16 vị của Định môn và 5 đức Phật ra, 16 vị tôn còn lại là thuộc Tuệ môn. Ngoài ra, 4 Nội cúng dường và 4 Ngoại cúng dường gọi chung là Bát cúng (Tám Bồ tát Cúng dường). [X. Kim cương đính đại giáo vương tư kí Q.5; Q.13; Bí tạng kí].
định mệnh
Determined period of life, fate.
; Số phận đã được định trước—Fate—Determined period of life. Phật giáo không để tâm đến các thuyết tất định hay bất định, bởi vì Phật giáo chủ trương lý thuyết tự do ý chí giữa các lãnh vực nhân sinh. Do đó, Phật giáo không liên hệ đến thuyết định mệnh, nó không chấp nhận sự hiện hữu của một định mệnh. Theo đạo Phật, chúng sanh mọi loài nhận đời sống hiện hữu nhu là kết quả tự tạo, và ngay ở hiện tại, chúng cũng đang tự tạo lấy kết quả. Sống chết không phải là định mệnh có trước cho một chúng sanh, mà chỉ đơn thuần là hậu thân của nghiệp. Ai hành động, sớm muộn gì rồi cũng phải gặt lấy hậu quả, chứ không ai có khả năng quyết định vận mạng của ai trong vũ trụ nầy cả. Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật đã dạy: “Tất cả chúng ta đều là kết quả của những gì chúng ta đã tư tưởng; nó nương tựa trên các tư tưởng của chúng ta.” Vì thế làm gì có chỗ đứng cho quan niệm về “Tạo Hóa” trong đạo Phật—Buddhism has no concern with either determinism or determinateness because it is a religion of self-creation. It holds the theory of free will within the sphere of human beings. Buddhism, therefore, has nothing to do with fatalism, for it does not admit the existence of anything like destiny or the decree of fate. According to Buddhism, all living beings have assumed the present life as the result of self-creation, and are, even at present, in the midst of creating themselves. Birth and death are not the predestined fate of a living being but only a corollary of action or karma. One who acts must sooner or later reap the result of such action. Nobody can determine the fate of anybody else in this universe. In the Dharmapada Sutra, the Buddha taught: “All that we are is the result of what we have thought; it is founded on our thoughts; it is made up of our thoughts.” Thus, there is no room for the idea of “Creation” in Buddhism.
Định mệnh 定命
[ja] ジョウミョウ jōmyō ||| One's fate (karma) in this lifetime as determined by the effects of the activities in previous lifetimes. => Nghiệp (số phận) của một người trong đời nầy được ấn định sẵn do kết quả của những việc làm trong thời quá khứ.
định nghiệp
Xem nghiệp.
; Fixed karma, rebirth determined by the good or bad actions of the past. Also, the work of meditation and its result.
; 1) Sự tái sanh được quyết định bởi nghiệp thiện ác trong quá khứ—Fixed karma—Rebirth determined by the good or bad deeds in the past. 2) Việc thực hành thiền định và kết quả tất yếu của nó: The work of meditation with its result.
định nghiệp bất định nghiệp
3182即定業與不定業。謂善、惡之業所招感之果報有定與不定之別。分爲招感結果之定與不定、招感結果之時的定與不定、時與果之定與不定等三種。 (一)果之定與不定。據瑜伽師地論卷九以下、俱舍論卷十五等載,決定受異熟果之業爲定業,受果不定之業爲不定業。其間有輕、重之分,由三因緣而成者爲重業,即:(1)由意樂而成者,謂造業之動機爲強烈之煩惱;或以善心深思惟者,其業必重。(2)由加行而成者,謂行爲無間斷而鄭重造作者,是爲重業。(3)由功德田而成者,謂造業之對象爲有恩之父母、有功德之佛法僧等,此必爲重業。具有上記三因緣之任一種業,必屬重業、定業,否則即爲輕業、不定業。 (二)時之定與不定。據瑜伽師地論卷九以下、阿毘達磨集論卷四、成實論卷八、俱舍論卷十五、大乘義章卷七等載,時之定者有三種,稱三時業、三時報業或三報業,即:(1)順現法受業,略稱順現業。乃現在世作業,現在世引生果報。如入慈無量心定、四靜慮或滅盡定者,由其功德出定時,於身具備無量功德。或對以佛爲上首之僧眾作善惡業,或以猛利之意樂方便作善惡業者即是。(2)順生受業,又作順次生受業,略作順生業。即此生所作業於次生招感果報,如五無間業於次無間之生受果。(3)順後受業,又作順後次受業、順後業。指此生所作之業於次生以後感果。 (三)時與果之定與不定。依瑜伽師地論卷六十載,業有四種,即:(1)異熟定,謂受果已定而時不定。(2)時分定,謂受果之時已定,而所受之果不定。(3)俱定,謂受果、受時皆定。(4)俱不定,謂受果、受時皆不定。唯識論了義燈卷五,以俱定爲定業,其他三者爲不定業。 俱舍論卷十五就定與不定業列舉四業、五業、八業等三說:(一)四業,包括順現業、順生業、順後業、不定業。(二)五業,除四業之前三業外,不定業又分異熟定時不定、異熟不定時不定二種,合爲五業。(三)八業,謂順現、順生、順後等三業各分爲時果俱定與時定果不定二項,成爲六業,再分不定業爲時不定果定、時果俱不定等二業,合爲八業。 阿毘達磨集論卷四列有三種決定受業,即:作業決定、受異熟決定、分位決定等。依阿毘達磨雜集論卷七之闡釋:(一)業決定,謂由於宿業力,在此生中必定會造作某種業。(二)受異熟決定,謂必受之果已決定。(三)分位決定,謂順現、順生、順後等受果之受時已定。〔顯揚聖教論卷十九、百法問答鈔卷三〕
; Fixed Karma and Non-fixed Karma—Trong vòng luân hồi sanh tử, chúng sanh đã từng tạo ra vô số nghiệp tội khác nhau, nhưng ước lược lại mà nói thì có hai loại: Định Nghiệp và Bất Định Nghiệp. Định Nghiệp là thứ nghiệp nhứt định phải bị quả báo chứ không thể nào tránh khỏi. Trong khi Bất Định Nghiệp là loại nghiệp có thể bị quả báo, mà cũng có thể tránh được, hoặc là chuyển từ nặng thành nhẹ, hay chuyển quả báo sớm thành ra quả báo muộn. Tuy nhiên, dù là định nghiệp hay bất định nghiệp, người Phật tử nên luôn nhớ một sự thật tuyệt đối rằng: “Tất cả các tội nghiệp tạo ra, không tội nghiệp nào mà chẳng có quả báo cả.”—Along the circle of births and deaths, sentient beings have created infinite types of karma, but overall, there are two kinds of karma: fixed or determinate karma and non-fixed or indeterminate karma. Fixed karma is a kind of karma that is certain to have karmic consequences and is absolutely unavoidable. While the non-fixed karma is a kind of karma that has potential for having karmic retribution, but it is also possible to avoid or change from heavy to light consequences, or change from early retribution to later. Generally speaking, no matter what kind of karma, Buddhists should remember an absolute truth that: “No karma created will go without having karmic retribution.”
; (定業不定業) Định nghiệp và Bất định nghiệp. Nghĩa là các nghiệp nhân thiện, ác đưa đến quả báo có định và không định khác nhau, được chia làm 3 loại. 1. Định và bất định về quả. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 9 và luận Câu xá quyển 15, thì nghiệp quyết định chịu quả Dị thục là Định nghiệp; nghiệp chịu quả bất định là Bất định nghiệp. Trong đó, có chia ra nghiệp nhẹ và nghiệp nặng. Nghiệp nặng do 3 nhân duyên tạo thành: a) Do ý thích mà thành: Động cơ tạo nghiệp là phiền não mãnh liệt; hoặc do thiện tâm suy nghĩ sâu sắc thì nghiệp phải nặng. b. Do gia hạnh mà thành: Hành vi không gián đoạn và tạo tác cẩn thận, đó là nghiệp nặng. c) Do ruộng công đức mà thành: Tạo nghiệp để trả ơn cha mẹ, cúng dường Tam bảo. Đó là nghiệp nặng. 2. Định và bất định về thời gian. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 9, luận A tì đạt ma tập quyển 4, luận Thành thực quyển 8, luận Câu xá quyển 15 và Đại thừa nghĩa chương quyển 7, thì về thời gian, nghiệp có ba loại: a) Thuận hiện pháp thụ nghiệp, gọi tắt: Thuận hiện nghiệp: đời này tạo nghiệp, đời này chịu báo. b) Thuận sinh thụ nghiệp, cũng gọi Thuận thứ sinh thụ nghiệp, gọi tắt: Thuận sinh nghiệp. Đời này tạo nghiệp, đời sau chịu báo. c) Thuận hậu thụ nghiệp, cũng gọi Thuận hậu thứ thụ nghiệp, Thuận hậu nghiệp. Nghĩa là ở đời này tạo nghiệp, đến những đời sau mới chịu báo. 3. Định và bất định về thời gian và quả báo. Theo luận Du già sư địa quyển 60, thì nghiệp có 4 loại: a) Dị thục định: Chịu quả đã định mà thời gian thì bất định. b. Thời phần định: Thời gian chịu quả đã định, nhưng quả báo phải lãnh nhận thì bất định. c) Câu định: Chịu quả và thời gian chịu quả đều định. d) Câu bất định: Chịu quả và thời gian chịu quả đều bất định. Duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 5 cho Câu định là Định nghiệp, còn 3 loại kia là Bất định nghiệp. Về Định và Bất định nghiệp, luận Câu xá quyển 15 nêu ra 3 thuyết là: Bốn nghiệp, năm nghiệp và tám nghiệp. 1. Bốn nghiệp: Thuận hiện nghiệp, Thuận sinh nghiệp, Thuận hậu nghiệp, Bất định nghiệp. 2. Năm nghiệp: Thuận hiện nghiệp, Thuận sinh nghiệp, Thuận hậu nghiệp, Dị thục định thời bất định và Dị thục bất định thời bất định (2 loại sau thuộc Bất định nghiệp). 3. Tám nghiệp: Thuận hiện, Thuận sinh, Thuận hậu, mỗi nghiệp chia làm 2: Thời quả câu định, Thời định quả bất định, thành 6 nghiệp; Bất định nghiệp lại chia làm 2 là: Thời bất định quả định, Thời quả câu bất định, hợp thành tám nghiệp. Luận A tì đạt ma tập quyển 4 nêu ra 3 thứ quyết định thụ nghiệp là: Tác nghiệp quyết định, Thụ dị thục quyết định và Phần vị quyết định, rồi luận này giải thích: 1. Tác nghiệp quyết định: Do sức nghiệp ở đời trước mà ở trong đời này nhất định sẽ tạo tác một loại nghiệp nào đó. 2. Thụ dị thục quyết định: Quả báo phải chịu đã quyết định. 3. Phần vị quyết định: Thời gian chịu quả và quả của Thuận hiện, Thuận sinh và Thuận hậu đã quyết định. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.19; Bách pháp vấn đáp sao Q.3].
định nghiệp diệc năng chuyển
3182業有定業與不定業之別。定業,指必受異熟果之業,有善、惡之分,故惡之定業必招受苦果。然眾生若能感念佛菩薩之厚德,心不猶豫,發願淨信修行,則現世惡報及來生,得以佛菩薩之力轉其定業,不使受苦果,而速證無上菩提,此即定業亦能轉。法華文句記卷十下(大三四‧三五七上):「若其機感厚,定業亦能轉。」
; Định Nghiệp Có Thể Được Chuyển Hóa—Ngay cả định nghiệp cũng có thể được chuyển hóa bằng cách thực tập giới Phật hay nhờ thần lực của chư Phật hay chư Bồ Tát—Even the determined fate can be changed by practicing the Buddhism precepts or by the powers of Buddhas and Bodhisattvas.
; (定業亦能轉) Định nghiệp cũng có thể chuyển được. Định nghiệp là nghiệp quyết định phải chịu quả báo, như gây nghiệp ác thì chắc chắn phải lãnh nhận quả khổ. Nhưng, nếu chúng sinh nào cảm được ân đức sâu dày của Phật, Bồ tát, dốc một lòng tin thanh tịnh, phát nguyện tu hành, tâm không do dự, thì định nghiệp cũng có thể chuyển được. Pháp hoa văn cú kí quyển 10 (Đại 34, 357 thượng), nói: Nếu cơ cảm sâu dày, định nghiệp cũng chuyển được.
định ngạch tự
3185日本佛教用語。日本朝廷爲防止濫設私寺,乃限制一定數額之寺院爲官寺,稱爲定額寺。自奈良朝以來成爲一種寺格,頗受朝廷禮遇。然平安朝中期以後,漸與一般私寺無異,遂名實共廢。又住於國分寺、大寺、定額寺、勅願寺等之特定僧侶,皆接受朝廷之供養,人數不足時,向太政官申請補充,此稱定額僧。此外,現今真言宗亦稱修行「後七日御修法」之供僧爲定額僧。〔日本後紀卷十二、卷十七、續日本後紀卷七、東大寺要錄卷四〕
Định Nham Tịnh Giới
(定巖淨戒, Teigan Jōkai, ?-?): vị Thiền tăng thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Minh, hiệu là Định Nham (定巖), xuất thân Ngô Hưng (呉興, Ngô Hưng, Tỉnh Triết Giang). Ông đã từng đến tham yết Giác Nguyên Huệ Đàm (覺原慧曇) ở Thiên Giới Tự (天界寺) thuộc Nam Kinh (南京), Tỉnh Giang Tô (江蘇省) và được đại ngộ. Vào năm đầu niên hiệu Hồng Võ (洪武, 1368-1398), ông nhận sắc chỉ trú trì Linh Cốc Tự (靈谷寺) ở Kim Lăng (金陵, Nam Kinh, Tỉnh Giang Tô). Ông có viết tác phẩm Tục Khắc Liên Châu Tụng Cổ (續刻聯珠頌古) rất thịnh hành trong tùng lâm. Ngoài ra, ông còn có công trong việc cho vào Đại Tạng Kinh bộ Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄) bản nhà Minh và đính chính bản Nam Tạng Lục Tổ Đàn Kinh (南藏六祖壇經).
Định nhãn 定眼
[ja] ジョウゲン jōgen ||| To enter concentration; to become still, and not waver regarding the object in sight. Nhập định; trở nên yên tĩnh, không dao động theo cảnh trần.
định nhẫn
Kiên nhẫn trong thiền định—Patience and perseverance in meditation.
định phi
Các Thiên nữ ở Mạn Đồ La đều tượng trưng cho Định Môn; nam phối với tuệ, nữ phối với định—The female figures representing meditation in the mandalas; male is wisdom, female is meditation.
định quang như lai
3176定光,梵名 Dīpaṃkara,巴利名同。音譯提和竭羅、提洹竭。出現於過去世,曾爲釋尊授記之佛。又作錠光如來、然燈如來、普光如來、燈光如來。 關於其本緣,據增一阿含經卷十三所載,過去久遠劫有王名爲地主,將統領之閻浮里地半分予其臣善明統治,善明之第一夫人日月光生子之際,閻浮里內金光晃然,該子顏貌端正,具三十二相,因而名爲燈光。年二十九,出家學道,即夜成佛。善明王與四十億眾詣燈光如來,聽其說法,如來又至地主王處,爲其說法。此處,地主王乃釋尊自身,燈光如來即善明之王子,出現於地主王治下,而受其供養。 四分律卷三十一,則以定光如來爲勝怨王大臣提閻浮婆提之子,受勝怨王之供養,其時,有比丘名爲彌卻,以花散如來之上,脫鹿皮衣掩泥濘路,讓如來踏過,如來因此爲彌卻記莂,此處即以彌卻爲釋尊之前身。又關於定光如來出現之時劫,增一阿含經卷十三、佛本行集經卷三等,謂過去久遠劫;修行本起經卷上、太子瑞應本起經卷上等,則謂過去九十一劫。 定光如來乃過去佛中最有名者,故諸經論多以定光爲中心,而說其前後諸佛之出現,如大阿彌陀經卷上載,定光之後有三十三佛,平等覺經卷一載,有三十八佛。於今印度山崎(梵 Sānchī)塔門浮雕中,有定光如來化作大城之圖像,此與四分律卷三十一所載相合。〔增一阿含經卷三十八、卷四十、道行般若經卷六、放光般若經卷六、中本起經卷上轉法輪品、大毘婆沙論卷七十一〕(參閱「地主王」2308)
; (定光如來) Định quang, Phạm, Pàli: Dìpaôkara. Âm Hán: Đề hòa kiệt la, Đề hoàn kiệt. Cũng gọi Đĩnh quang Như lai, Nhiên đăng Như lai, Phổ quang Như lai, Đăng quang Như lai. Danh hiệu của đức Phật xuất hiện ở quá khứ từng thụ kí cho đức Thích tôn. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 13 chép, thì ở thời quá khứ xa xưa có vị vua tên là Địa chủ, đem một nửa cõi Diêm phù đề của mình chia cho bầy tôi là Thiện minh cai trị, khi đệ nhất phu nhân của Thiện minh là Nhật nguyệt quang sinh con thì khắp châu Diêm phù đề sáng rực rỡ. Diện mạo người con đoan chính, đủ 32 tướng, nhân đó đặt tên là Đăng quang. Năm 29 tuổi, người con xuất gia học đạo, liền thành chính giác, hiệu là Đăng quang Như lai. Vua Thiện minh cùng với 40 ức chúng đến nghe Như lai nói pháp. Đăng quang Như lai là con vua Thiện minh, ra đời dưới thời vua Địa chủ và được nhà vua cúng dường. Còn vua Địa chủ thì chính là tiền thân của đức Thích tôn. Luật Tứ phần quyển 31 thì nói Định quang Như lai là con của Đại thần Đề diêm phù bà đề dưới triều vua Thắng oán, được vua cúng dường. Bấy giờ có tỉ khưu tên là Di khước tung hoa lên thân đức Như lai và cởi áo bằng da nai trải lên chỗ đường sình lầy để Như lai đi qua. Nhân đó, Di khước được đức Như lai thụ kí. Di khước đây chính là tiền thân của đức Thích tôn. Về thời đại đức Định quang Như lai xuất hiện, theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 13 và kinh Phật bản hạnh tập quyển 3, thì Ngài ra đời đã từ nhiều kiếp lâu xa về quá khứ. Còn kinh Tu hành bản khởi quyển thượng và kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng thì cho rằng Ngài xuất hiện cách đây 91 kiếp. Trong các đức Phật thời quá khứ, Định quang Như lai là nổi tiếng hơn cả, bởi vậy, các kinh luận phần nhiều lấy Ngài làm trung tâm để nói về sự xuất hiện của chư Phật trước và sau Ngài. Như kinh Đại A di đà quyển thượng nói, sau đức Định quang có 33 đức Phật, kinh Bình đẳng giác quyển 1 thì cho rằng sau Ngài có 38 đức Phật. Hiện nay, trên cửa tháp Sơn kì (Phạm: Sànchì) ở Ấn độ có bức tranh khắc nổi hình đức Định quang Như lai hóa ra tòa thành lớn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.38, Q.40; kinh Đạo hành bát nhã Q.6; kinh Phóng quang bát nhã Q.6; phẩm Chuyển pháp luân trong kinh Trung bản khởi Q.thượng; luận Đại tì bà sa Q.71]. (xt. Địa Chủ Vương).
định quả sắc
3177指唯識宗所說「法處所攝色」中之自在所生色。乃「業果色」之對稱。即以前世之異熟因爲因,所招感之果報色。亦即凡聖由八解脫、四靜慮等勝定自在力所變現之五塵境。(參閱「法處所攝色」3389)
; (定果色) Đối lại với Nghiệp quả sắc. Chỉ cho sắc sinh ra một cách tự tại trong Pháp xứ sở nhiếp sắc do tông Duy thức chủ trương. Tức là quả báo sắc có được nhờ nhân dị thục đời trước. Cũng tức là 5 trần cảnh biến hiện bởi sức thắng định tự tại từ 8 giải thoát, 4 tĩnh lự của phàm và Thánh. (xt. Pháp Xứ Sở Nhiếp Sắc).
định quốc tự
3180<一>位於河南彰德(安陽)。東魏時高歡爲紀念戰勝爾朱榮而創建。北齊時道慎、隋代之靈裕等師均曾住於此,靈裕並於此造塔。 <二>位於河北靈壽之朱山。北魏末年定州之僧㯹禪師開基,初僅爲禪室,並未命名。其後,高歡之甥高叡於天保八年(557)加建,取名爲定國寺。
; (定國寺) (1632 - 1689) Vị Thiền tăng thuộc tông Hoàng bá cuối đời Minh. Cũng gọi Đạo sâm, người Vĩnh xuân, Tuyền châu, họ Trương, tự Từ nhạc, hiệu Vô hà Minh trí . Năm 15 tuổi, sư theo ngài Bằng sơn ở Tuyền châu xuất gia, tham học ngài Mộc am Tính thao. Năm Vĩnh lịch thứ 9 (1655), sư theo thầy sang Nhật bản, lưu lại chùa Phúc tế tại Trường kì. Về sau, sư trụ trì chùa Vạn phúc và sáng lập viện Vĩnh thánh, am Hưng đức. Năm Nguyên lộc thứ 2 (1689) sư tịch, thọ 58 tuổi. Sư có ngữ lục: Vĩnh thánh thiền cư thảo 3 quyển. [X. Hoàng bá đông độ tăng bảo truyện Q.thượng; Hoàng bá tông hệ phổ].
định sâm
3181(1632~1689)明末黃檗宗僧。泉州永春人,俗姓張。又稱道琛。字慈岳,初號無瑕明智。十五歲,投泉州之鵬山出家,參隨木菴性瑫。永曆九年(1655),隨從其師渡海至日本,寓止長崎福濟寺,其後參訪富田普門寺、黃檗山萬福寺。歷主福濟寺、萬福寺,復開創永聖院、興德庵。元祿二年一月示寂,世壽五十八。門人有文潭宗映、東瀾宗澤等。遺有語錄「永聖禪居艸」三卷行世。〔黃檗東渡僧寶傳卷上、黃檗宗系譜〕
định thiện
3180指定心修善。爲「散善」之對稱。即修行觀佛三昧等。就觀無量壽經所說之日觀、地想觀、真身觀、中輩觀、下輩觀等十六觀而言,慧遠、智顗、吉藏等諸師以十六觀皆爲定善之觀法,善導則以前十三觀爲定善觀法,後三觀爲散善觀法。又慧遠謂二善之中,以定善之功德爲勝。〔觀無量壽經義疏卷下〕(參閱「十六觀」396、「散善」4974)
; Thiện nghiệp đạ được qua thiền định, ngược lại với thiện nghiệp đạt được bằng cách vun bồi—Goodness achieved by meditation, in contrast with goodness cultivated during normal life (Tán thiện).
; (定善) Đối lại với Tán thiện. Định tâm tu thiện, là hạnh tu quán Phật tam muội. Nói về 16 pháp quán như Nhật quán, Địa tưởng quán, Chân thân quán, Trung bối quán, Hạ bối quán v.v... ghi trong kinh Quán vô lượng thọ, thì các ngài Tuệ viễn, Trí khải, Cát tạng... cho tất cả 16 pháp đều là định thiện, riêng ngài Thiện đạo thì chủ trương 13 pháp quán trước là định thiện, còn 3 pháp quán sau thì là tán thiện. Về công đức thì ngài Tuệ viễn cho rằng, công đức của định thiện thù thắng hơn công đức của tán thiện. [X. Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.hạ]. (xt. Thập Lục Quán, Tán Thiện).
định thuỷ
3175定,指禪定;比喻坐禪時心境湛然靜寂,猶如止水。蓋於澄淨之止水中,可映現諸物之清晰相狀;故以之比喻坐禪時若能達到凝然不動之境界,即可透見清淨自性。禪苑清規卷八坐禪儀(卍續一一一‧四六○下):「所以探珠宜靜浪,動水取應難,定水澄清,心珠自現。」
; (定水) Định là thiền định, ví dụ khi ngồi thiền tâm cảnh yên tĩnh phẳng lặng như nước lắng trong. Nước phẳng lặng trong trẻo có thể ánh hiện rõ ràng tướng trạng các vật, cũng như lúc ngồi thiền, nếu đạt đến cảnh giới tĩnh lặng, thì có thể thấy suốt tự tính thanh tịnh. Thiền uyển thanh qui quyển 8 Tọa thiền nghi (Vạn tục 111, 460 hạ), nói: Thám châu nghi tĩnh lãng. Động thủy thủ ưng nan. Định thủy trừng thanh. Tâm châu tự hiện. (Tìm châu sóng phải lặng. Nước động khó mò tìm. Nước thiền định lắng trong. Châu tâm liền tự hiện).
định thân
Định thân, một trong ngũ phần pháp thân—The Dharmakaya of meditation, one of the five forms of the Buddha-dharma-kaya. ** For more information, please see Ngũ Phần Pháp Thân.
định thọ
3183謂人的壽命有一定之數。又作定命。人之壽命在增劫與減劫時有相當之不同,於增劫時,每百年增一歲,最長增至八萬四千歲;於減劫時,每百年減一歲,最短減至十歲。定命未全而死,則稱中夭。起世經卷七(大一‧三四四中):「閻浮提人,壽命百年,中有夭逝。瞿陀尼人,壽命二百,亦有夭逝。弗婆提人,壽命三百,亦有中夭。鬱單越人,定壽千年,無有夭殤。」亦有以定壽指人之命數、命運之定數。〔俱舍論卷十一、法苑珠林卷二壽量部、南史卷三十五顧顗之傳〕(參閱「命運」3127)
; (定壽) Thọ mệnh nhất định của người ta. Cũng gọi Định mệnh. Thọ mệnh của con người ở kiếp tăng, kiếp giảm có khác nhau. Trong kiếp tăng thì cứ 100 năm thêm lên một tuổi đến cao nhất là 84.000 tuổi; ở kiếp giảm thì cứ 100 năm bớt đi một tuổi, đến thấp nhất là 10 tuổi. Thọ mệnh chưa hết mà đã chết gọi là Trung yểu (chết nửa chừng). Kinh Khởi thế quyển 7 (Đại 1, 344 trung), nói: Người cõi Diêm phù đề sống 100 tuổi, cũng có người chết non. Người ở Cù đà ni sống 200 tuổi, cũng có người chết non. Người cõi Phất bà đề sống 300 tuổi, cũng có người chết non. Còn người ở cõi Uất đơn việt thì tuổi thọ nhất định là 1.000 năm, không có chết non. Cũng có thuyết cho Định thọ là số phận và vận mệnh nhất định của con người. [X. luận Câu xá Q.11; Thọ lượng bộ trong Pháp uyển châu lâm Q.2; Cố khải truyện trong Nam sử Q.35]. (xt. Mệnh Vận).
định thủy
Định tâm trong sáng ví như mặt nước phẳng lặng—Calm waters—Quieting the waters of the heart, and so beholding the Buddha, as the moon is reflected in still water.
định trung độc đầu ý thức
3175四種意識之一。爲定中之第六識。意識有明了、定中、獨散、夢中等四種分別,其中,明了意識與眼、耳等五識俱起,故稱五俱意識;定中、獨散、夢中等三意識不與五識俱起,故稱獨頭意識。定中獨頭意識係指入定中,前五識不全示其作用,唯第六意識爲其所用。〔百法問答鈔卷一、宗鏡錄卷三十六〕(參閱「四種意識」1816)
; (定中獨頭意識) Một trong 4 loại ý thức. Là thức thứ 6 ở trong định. Ý thức có 4 loại khác nhau: Minh liễu (rõ ràng), Định trung (trong định), Độc tán (hoạt động một mình) và Mộng trung (trong mộng). Trong đó, Minh liễu cùng khởi với 5 thức gọi là Ngũ câu ý thức . Còn 3 loại Định trung, Độc tán, Mộng trung không cùng khởi với 5 thức, cho nên gọi là Độc đầu ý thức. Định trung độc đầu ý thức chỉ cho trong định, 5 thức trước hoàn toàn không có tác dụng với nó mà chỉ có ý thức thứ 6 là có tác dụng mà thôi. [X. Bách pháp vấn đáp sao Q.1; Tông kính lục Q.36]. (xt. Tứ Chủng Ý Thức).
định trí
Thiền định và trí huệ—Meditation and wisdom.
định tuệ
(I) Nghĩa của Định Tuệ—The meanings of “Concentration and Wisdom”: Thiền định (thu nhiếp những tư tưởng hỗn tạp) và trí tuệ (quán chiếu thấu suốt sự lý), giống như hai cánh tay, tay trái là thiền định, tay phải là trí tuệ—Meditation and wisdom, two of the six paramitas; likened to the two hands, the left meditation, the right wisdom. (II) Định Tuệ theo quan điểm của Lục Tổ Huệ Năng trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Phẩm Thứ Tư—Concentration and Wisdom according to the Sixth Patriarch's point of view in the Dharma Jewel Platform Sutra, Chapter Fourth: • Tổ dạy chúng rằng: Nầy thiện tri thức! Pháp môn của ta đây lấy định tuệ làm gốc, đại chúng chớ lầm nói định tuệ riêng. Định tuệ một thể không hai. Định là thể của tuệ, tuệ là dụng của định. Ngay khi tuệ, định ở tại tuệ; ngay khi định, tuệ ở tại định. Nếu biết được nghĩa nầy tức là cái học định tuệ bình đẳng. Những người học đạo chớ nói trước định rồi sau mới phát tuệ, hay trước tuệ rồi sau mới phát định, mỗi cái riêng khác. Khởi cái thấy như thế ấy, thì pháp có hai tướng. Miệng nói lời thiện, mà trong tâm không thiện thì không có định tuệ, định tuệ không bình đẳng. Nếu tâm miệng đều là thiện, trong ngoài một thứ, định tuệ tức là bình đẳng. Tự ngộ tu hành không ở chỗ tranh cãi, nếu tranh trước sau tức là đồng với người mê, không dứt sự hơn thua, trở lại tăng ngã và pháp, không lìa bốn tướng—The Master instructed the assembly: “Good Knowing Advisors, this Dharma-door of mine has concentration and wisdom as its foundation. Great assembly, do not be confused and say that concentration and wisdom are different. Concentration and wisdom are one substance, not two. Concentration is the substance of wisdom, and wisdom is the function of concentration. Where there is wisdom, concentration is in the wisdom. Where there is concentration, wisdom is in the concentration. If you understand this principle, you understand the balanced study of concentration and wisdom. Students of the Way, do not say that first there is concentration, which produces wisdom, or that first there is wisdom, which produces concentration: do not say that the two are different. To hold this view implies a duality of dharma. If your speech is good, but your mind is not, then concentration and wisdom are useless because they are not equal. If mind and speech are both good, the inner and outer are alike, and concentration and wisdom are equal. Self-enlightenment, cultivation, and practice are not a matter for debate. If you debate which comes first, then you are similar to a confused man who does not cut off ideas of victory and defeat, but magnifies the notion of self and dharmas, and does not disassociate himself from the four makrs. • Tổ lại nói thêm: “Nầy thiện tri thức! Định tuệ ví như cái gì? Ví như ngọn đèn và ánh sáng. Có ngọn đèn tức có ánh sáng, không đèn tức là tối, đèn là thể của ánh sáng, ánh sáng là dụng của đèn; tên tuy có hai mà thể vốn đồng một. Pháp định tuệ nầy lại cũng như thế.”—The Patriarch added: “Good Knowing Advisors, what are concentration and wisdom like? They are like a lamp and its light. With the lamp, there is light. Without the lamp, there is darkness. The lamp is the substance of the light and the light is the function of the lamp. Although there are two names, there is one fundamental substance. The dharma of concentration and wisdom is also thus.”
Định Tuệ Tự
(定慧寺, Jōe-ji): ngôi danh lam cổ sát hiện tọa lạc tại Tiêu Sơn (焦山), cách 9 dặm về phía Bắc Huyện Đơn Đồ (丹徒縣), Phủ Trấn Giang (鎭江府), Nhuận Châu (潤州, thuộc Trấn Đơn Đồ, Tỉnh Giang Tô), được kiến lập vào khoảng thời gian niên hiệu Hưng Bình (興平, 194-195) nhà Hán với tên gọi là Phổ Tế Tự (普濟寺). Về sau, chùa được trùng kiến trong khoảng niên hiệu Gia Định (嘉定, 1208-1224) nhà Tống và có hiệu là Tiêu Sơn Tự (焦山寺). Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克懃), Khô Mộc Pháp Thành (枯木法成), Phật Ấn Liễu Nguyên (佛印了元), v.v., đã từng trú trì nơi đây. Vào năm thứ 25 (1686) niên hiệu Khang Hy (康熙) chùa được ban sắc ngạch và đổi thành tên hiện tại. Với trung tâm là Đại Hùng Bửu Điện, Tỳ Lô Điện, chùa có hơn 10 kiến trúc khác như Biệt Điện, Phương Trượng, Phòng Khách, v.v., tất cả đều được chỉnh trang và kể từ thời nhà Tống, Nguyên trở đi, chùa trở thành thắng cảnh du lãm cho biết bao văn nhân mặc khách.
định tán
3180<一>定心與散心。又稱定散二心。定,即禪定,指止息妄念雜慮,令心住於一境;散,指心恆馳攀緣六塵之境且暫住之。故定心即停止妄想,凝聚心思,因精神集中而獲得之心;散心即散亂動搖之心。定心又分爲有漏、無漏等二種,散心則分爲善、惡、無記等三種,蓋定、散二心統攝一切之心。此外,自定心所獲得之善心,稱爲定善心,以散心修行之善心,即稱爲散善心。 <二>定善與散善。又稱定散二善。(參閱「定散二善」3180)
; A settled, or a wandering mind; the mind organized by meditation or disorganized by distraction
; Định Tâm Tán Tâm. 1) Tâm định ngược lại với tâm tán loạn. Tâm định bằng thiền, đối lại với tâm tán với những loạn động. Đây là tâm của những bậc Thánh—A settled mind verse A wandering mind—A mind organized by meditation or disorganized by distraction. The characteristic of the saint and sage. 2) Tán Tâm: Tâm tán loạn hay tự tánh của những hạng phàm phu—A mind disorganized by distraction or a wandering mind of common untutored man. The distracted heart may have the following distinctions: • Thiện: Good. • Bất Thiện: Bad. • Trung Tính: Indifferent.
; (定散) I. Định Tán. Cũng gọi Định tán nhị tâm. Định tâm và Tán tâm. Định là dứt các vọng niệm lăng xăng, chú tâm vào một đối tượng; Tán là tâm rong ruổi theo cảnh 6 trần. Định tâm được chia làm 2 loại: Hữu lậu và Vô lậu; Tán tâm thì chia làm 3 loại: Thiện, Ác, Vô kí. Định tâm và Tán tâm bao trùm tất cả tâm. II. Định tán: Định thiện và Tán thiện. Cũng gọi Định tán nhị thiện. (xt. Định Tán Nhị Thiện).
định tán nhị thiện
3180指定善與散善。略稱定散。即往生淨土之二種善。善導主張凝心摒除雜念者爲定善,即以定心所修之善;而棄惡修善者爲散善,即以散心所修之善,此二類皆得往生淨土。蓋善導以觀無量壽經所說之水觀、寶樹觀、像觀、普觀、雜想觀等十六觀中,前十三觀係以定心觀淨土之依、正二報,故稱爲定善;後三觀係以散心修習三福、九品之行,故稱爲散善。 定、散二善爲往生之行因,阿彌陀佛之弘願爲往生之勝緣,因緣和合之際乃得往生之果。此外,能修定善之根機,稱爲定機;不能修定善的散動之根機,或狹修散善者,稱爲散機,定、散二機總攝一切眾生。〔觀經玄義分〕
; Cả hai thứ “định” và “tán” đều được xem là Thiện—Both a definite subject for meditation and an indefined field are considered as valuable.
; (定散二善) Định thiện và Tán thiện, gọi tắt: Định tán. Định thiện là lắng tâm dứt trừ các ý niệm tạp nhạp, Tán thiện là đoạn diệt điều ác tu các hạnh lành. Đây là 2 loại thiện do ngài Thiện đạo chủ trương để cầu vãng sinh Tịnh độ. Trong 16 pháp quán như Thủy quán, Bảo thụ quán, Tượng quán, Phổ quán, Tạp tưởng quán v.v... nói trong kinh Quán vô lượng thọ, thì ngài Thiện đạo cho rằng 13 pháp quán trước là dùng định tâm quán tưởng về y báo, chính báo của cõi Tịnh độ, cho nên gọi là Định thiện. Còn 3 pháp quán sau là dùng tán tâm tu tập các hạnh 3 phúc, 9 phẩm, cho nên gọi là Tán thiện. Định thiện và Tán thiện là nhân của sự vãng sinh, thệ nguyện của đức Phật A di đà là thắng duyên của sự vãng sinh; khi nhân và duyên hòa hợp thì được quả vãng sinh. Ngoài ra, căn cơ có thể tu định thiện gọi là Định cơ; căn cơ không có khả năng tu định thiện mà chỉ có thể tu tập các hạnh tán thiện, thì gọi là Tán cơ. Định cơ, Tán cơ bao nhiếp hết thảy chúng sinh. [X. Quán kinh huyền nghĩa phần].
định tánh
Fixed nature—Settled mind.
định tánh hỷ lạc địa
Nhị Thiền Thiên trong cõi trời sắc giới, trong đó chư thiên vượt qua thiền định để sanh hỷ lạc—The second dhyana heaven form, in which the occupants abide in surpassing meditation or trance, which produce mental joy.
Định tánh 定性
[ja] ジョウショウ jōshō ||| 'Fixed nature.' The unalterable nature or essence of a person or thing. => Bản tính hay tính chất không thể thay đổi của một người hay của vật.
định tâm
Xem định.
; Định Ý—Tâm chuyên chú vào thiền định—A mind fixed in meditation—The meditative mind—A mind fixed on goodness.
định tâm biệt thời niệm phật
3175爲淨土宗念佛行法之一。爲發得三昧,於此世禮拜佛身,乃擇定特別時期進入道場,並剋期專心稱名念佛,或一日二日,乃至九日十日;以此一念佛行法乃特別擇時限期而修,有別於歷久恆常而行之「長時念佛」,故稱「別時念佛」;又以此行法必以「定心見佛」爲目的,故稱定心別時念佛。日本源信之往生要集卷中,將別時念佛分爲尋常別行與臨終行儀兩種,然一般之別時念佛當指「尋常別行」,如唐代善導之觀念法門、般舟三昧經、大集賢護經、迦才之淨土論、鼓音聲經、平等覺經等所示。(參閱「別時念佛」2798)
; (定心別時念佛) Định tâm niệm Phật trong một thời hạn đặc biệt. Một trong các pháp tu niệm Phật của tông Tịnh độ. Người tu Tịnh độ muốn phát được Tam muội, phải quyết định chọn một thời kì đặc biệt để vào đạo tràng, buông bỏ hết các duyên, chuyên tâm niệm Phật, hoặc 1 ngày, 2 ngày cho đến 9 ngày, 10 ngày. Vì pháp tu niệm Phật trong một thời hạn đặc biệt này khác với hành pháp Trường thời niệm Phật thông thường, cho nên gọi là Biệt thời niệm Phật. Vả lại, hành pháp này phải lấy định tâm thấy Phật làm mục đích, vì thế gọi là Định tâm biệt thời niệm Phật. Trong Vãng sinh yếu tập quyển trung, ngài Nguyên tín–người Nhật bản– đem Biệt thời niệm Phật làm 2 thứ là: Tầm thường biệt hành và Lâm chung hành nghi. Nhưng phổ thông thì Biệt thời niệm Phật chỉ cho Tầm thường biệt hành, điều này đã được nói rõ trong Quán niệm pháp môn của ngài Thiện đạo đời Đường, trong kinh Bát chu tam muội, kinh Đại tập hiền hộ, luận Tịnh độ của ngài Ca tài, kinh Cổ âm thanh, kinh Bình đẳng giác v.v... (xt. Biệt Thời Niệm Phật).
định tâm niệm phật
3175爲「散心念佛」之對稱。即止息散亂之心,安住於定心,以專注稱念佛名。然依諸經之說,定心念佛之法各有不同,般舟三昧經主張唯念佛當前正在西方極樂世界,觀佛三昧海經卷九主張觀想彼像,觀無量壽經主張觀佛之真身相好,文殊般若經卷下則主張不必憶念佛之相好,僅須心繫於佛,專稱名號,念念相續,即能於念中見過去、現在、未來諸佛。(參閱「散心念佛」4972、「觀念念佛」6959)
; (定心念佛) Đối lại với Tán tâm niệm Phật. Dứt bặt tán loạn, an trụ nơi tâm định, chuyên chú xưng niệm danh hiệu Phật. Tuy nhiên, các kinh nói về pháp định tâm niệm Phật có khác nhau: - Kinh Bát chu tam muội cho rằng, ngay trong câu niệm Phật hiện tiền chính là đang ở trong thế giới Cực lạc phương tây. - Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 9 chủ trương quán tưởng hình tượng Phật. - Kinh Quán vô lượng thọ chủ trương quán chân thân tướng hảo của Phật. - Kinh Văn thù bát nhã quyển hạ thì cho rằng không cần nhớ nghĩ tướng hảo của Phật, mà chỉ cần chuyên tâm niệm danh hiệu Phật, tương tục không gián đoạn, thì ngay trong niệm có thể thấy chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai. (xt. Tán Tâm Niệm Phật, Quán Niệm Niệm Phật).
định tâm tam muội
Quán Phật Tam Muội—Quán tưởng tụng niệm (về sự báo đáp y báo và chánh báo)—A fixed mind samadhi, i.e. fixed on the Pure Land and its glories.
định tâm định ý
A mind fixed in meditation—A fixed mind samadhi—A mind fixed on the Pure Land and its glories.
Định tâm 定心
[ja] ジョウシン jōshin ||| (akṣubhita-citta; saṃāhita). The mind of meditative concentration. The mind focused on an object without scattering. => (s: akṣubhita-citta; saṃāhita). Tâm trong cảnh giới thiền định. Tâm chuyên nhất vào một đối tượng, không tán loạn.
định tân
3183唐代僧。生卒年、籍貫均不詳。天資穎悟,強識過人。出家受具足戒後,就長安崇福寺之滿意學律,盡得相部宗之所傳,與大亮、法藏等十五人,並稱滿意門下之上足。後住嵩山鎮國寺,嘗作破迷執記一卷,開演法礪之十六大義,以破斥東塔懷素之四分律開宗記,又作四分律疏飾宗義記十卷,詳解法礪之四分律疏。開元二十一年(733),奉詔入長安大福先寺(太原寺),爲日僧榮睿、普照授具足戒。所著除前述外,尚有四分律戒本疏二卷、因明正理門論疏六卷等。〔宋高僧傳卷十四懷素傳附、唐大和上東征傳、日本高僧傳要文抄卷三〕
; (定賓) Vị tăng đời Đường, Năm sinh năm mất và quê quán đều không được rõ. Sư thông minh dĩnh ngộ, học rộng nhớ dai. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư đến chùa Sùng phúc tại Trường an theo ngài Mãn ý học luật, được truyền hết yếu chỉ của tông Tướng bộ. Sư cùng với các sư Đại lượng, Pháp tạng v.v... gồm 15 vị được coi là các đệ tử ưu tú của ngài Mãn ý. Sau, sư trụ trì chùa Trấn quốc ở núi Tung sơn. Năm Khai nguyên 21 (733), sư vâng sắc chỉ vào Trường an truyền giới Cụ túc cho 2 vị tăng Nhật bản là Vinh duệ và Phổ chiếu ở chùa Đại phúc tiên (chùa Thái nguyên). Sư có các tác phẩm: Phá mê chấp kí 1 quyển, Tứ phần luật khai tông kí (cũng gọi Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí) 10 quyển, Tứ phần luật giới bản sớ 2 quyển, Nhân minh chính lí môn luận sớ 6 quyển. [X. Hoài tố truyện phụ trong Tống cao tăng truyện Q.14; Đường đại hòa thượng đông chinh truyện; Nhật bản cao tăng truyện yếu văn sao Q.3].
định tây
3176(1895~1962)遼寧漢城人,俗姓于。名澄志。二十九歲,投禮寶一禪師披剃,法號如光。其妻女亦同時出家。翌年(1924),齊至普陀山法雨寺從達園和尚受具足戒。後居於哈爾濱極樂寺,歷任寺內要職,並弘傳戒法。自民國十八年(1929)起,任極樂寺住持,凡十七年。其間整肅清規,增建殿宇,創立佛教中學,組織慈善會,設佛經流通處等,與倓虛大師等人對於東北佛教之開拓,貢獻殊多。其後南下至青島、香港等地弘法,並任芙蓉山東林淨舍住持,專修淨土。民國五十一年五月示寂。
định tính
3177有情之種性共有五種分別,即聲聞乘定性、緣覺乘定性、菩薩乘定性、不定種性、無種性。凡於聲聞、緣覺、菩薩等三乘中,各具有唯一種子之眾生,即稱定性。又具有二種或三種種子之眾生,稱爲不定種性;不具三乘之無漏種子,僅具有人、天之有漏種子者,稱爲無種性。三種定性加不定種性、無種性,合爲五性。法相宗依此而立「五性各別」說。〔大乘入楞伽經卷二、大乘莊嚴經卷五、瑜伽師地論卷二十一、成唯識論卷二、大乘法苑義林章卷一末〕(參閱「五種性」1179)
; 1) Tánh Định: Fixed natures. 2) Tâm Định: Fixed mind.
; (定性) Tính nhất định. Loài chúng sinh chỉ có một chủng tử duy nhất gọi là Định tính. Chúng sinh có 5 loại chủng tính khác nhau là: 1. Thanh văn thừa định tính: Người có chủng tử vô lậu có thể chứng quả A la hán. 2. Độc giác thừa định tính: Người có chủng tử vô lậu có thể chứng quả Bích chi phật. 3. Bồ tát thừa định tính: Người có chủng tử vô lậu có thể chứng quả Phật. 4. Bất định chủng tính: Người có 2 hoặc 3 loại chủng tử vô lậu. 5. Vô tính: Người có chủng tử hữu lậu có thể thành quả người và trời. [X. kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; kinh Đại thừa trang nghiêm Q.5; luận Du già sư địa Q.21; luận Thành duy thức Q.2; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần cuối]. (xt. Ngũ Chủng Tính).
định tính duyên giác
See Định Tính Nhị Thừa.
định tính hỷ lạc địa
Nhị Thiền Sắc Giới, trong đó chúng sanh sống trong trạng thái thiền định kỳ diệu, nhờ đó mà nảy sinh sự vui sướng tâm thức—The second dhyana of form, in which the occupants abide in surpassing meditation or trance, which produces mental joy.
định tính nhị thừa
Bậc có chủng tử vô lậu của Thanh Văn Duyên Giác, chỉ cần tu theo nhơn Thanh Văn Duyên Giác để chứng quả A La Hán, chứ không cầu mong tiến lên ngôi vị Phật—Sravakas and Pratyeka-buddhas, whose mind is fixed on arahanship, and not on Buddhahood.
định tĩnh lự
3184爲「生靜慮」之對稱。乃生靜慮之因。此定寂靜而有慧,能審慮,故稱靜慮。蓋此定爲發得之定,雖身於欲界散地等之下地,然已斷下地之惑。此外,生靜慮即依定靜慮之因,而生於色界天之靜慮地;故四禪稱爲定靜慮,色界四禪天則稱爲生靜慮。(參閱「四禪」1843)
; (定靜慮) Đối lại với Sinh tĩnh lự. Là nhân của sinh tĩnh lự. Định này tĩnh lặng mà có tuệ, hay suy tư nên gọi là Tĩnh lự. Đây là định phát được, nên thân tuy vẫn còn ở cõi Dục (cõi Tán), nhưng đã dứt hết hoặc cõi Dục. Ngoài ra, Sinh tĩnh lự do nương vào nhân là Định tĩnh lự mà sinh vào Tĩnh lự địa cõi Sắc, vì thế Tứ thiền gọi là Định tĩnh lự, mà Tứ thiền thiên cõi Sắc thì gọi là Sinh tĩnh lự. (xt. Tứ Thiền).
định tướng
3179請參閱 歷代法寶記 <一>常住不變之相。一切世間、出世間之法中除涅槃之相外,均無有定相者。 <二>指入定之相。
; Tướng thường trụ bất biến (hết thảy mọi pháp trong thế gian đều không có định tướng)—The appearance of meditation—Fixity—Determined—Determination—Unchanging—Nirvana—All phenomena have no fixity.
; (定相) I. Định Tướng. Tướng thường trụ bất biến, tức là Niết bàn. II. Định Tướng. Tướng vào thiền định.
định tụ
One of the tam tụ.
; Một trong Tam Tụ—Accumulation of samadhi, one of the three accumulations.
Định tụ 定聚
[ja] ジョウシュ jōju ||| The firm determination to achieve liberation, or Buddhahood. Once the practitioner gains this kind of determination s/he will not falter in practice. => Quyết tâm bền vững để đạt đến giải thoát hoặc Phật tánh. Một khi hành giả đã đạt đến loại định nầy rồi thì không thối chuyển trong công phu nữa.
định vô biểu
3181爲「散無表」之對稱。定,心專注於一境而不散亂之精神狀態。無表,爲「無表色」之略稱,指依於身、口發動之善惡二業,而生於身內之一種無形色法;說一切有部以之爲身內地、水、火、風等四大所造,故列入色法,又因其乃未能表現於外以令他人感知者(如伸屈取捨等之「表色」即可表之於外而令他人感知),故稱無表。屬於「定」性之無表色有定共戒、道共戒兩種,定共戒之無表色係經由入定所得者,道共戒之無表色係起於無漏道所得者,兩者並稱爲定無表。此定無表色如入於無想定、滅盡定、無心等狀態時,亦相續不斷。
; (定無表) Đối lại với Tán vô biểu. Trạng thái tinh thần chuyên chú vào một đối tượng không tán loạn. Vô biểu là nói tắt của Vô biểu sắc, chỉ cho 2 nghiệp thiện, ác phát động nơi thân và miệng mà sản sinh một loại sắc pháp vô hình bên trong, không biểu hiện ra ngoài: Thuyết nhất thiết hữu bộ cho loại sắc pháp vô hình này là bốn đại đất, nước, lửa, gió ở trong thân, cho nên xếp chúng vào loại sắc pháp mà gọi là Vô biểu sắc. Định vô biểu có 2 loại: 1. Định cộng giới vô biểu, do nhập định mà được. 2. Đạo cộng giới vô biểu, do đạo vô lậu mà được. Lúc hành giả vào định Vô tưởng, định Diệt tận hay đang ở trong trạng thái vô tâm, thì Định vô biểu này vẫn tương tục không dứt.
định vô sắc
3180爲「生無色」之對稱。指修習所得之定。謂身在欲界散地等之下地,而已斷下地之惑,心現無色界之定心。計有:空無邊處、識無邊處、無所有處、非想非非想處等四種,乃無色界之因。又生無色生起於無色界,爲定無色在無色界之果報。(參閱「四無色定」1772)
; (定無色) Đối lại với Sinh vô sắc. Định siêu việt các cõi dưới (cõi Dục, cõi Sắc), là nhân của cõi Vô sắc. Khi hành giả đạt được định này thì thân tuy còn ở các cõi dưới, nhưng đã dứt hết các hoặc cõi dưới mà trạng thái tâm định đã hiện ở cõi Vô sắc, gồm 4 cõi: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Còn sinh vô sắc là sinh ra ngay ở cõi Vô sắc, đó là quả báo của định Vô sắc ở cõi Vô sắc. (xt. Tứ Vô Sắc Định).
Định vị 定位
[ja] ジョウイ jōi ||| A determined position. A set position. 〔瑜伽論 T 1579.30.345a11〕 => Vị trí đã được xác định. Vị trí được sắp đặt.
định đoạt
To determine—To decide.
định đề
Postulate.
định ấn
3176住於寂然不動三昧之相。又作三摩地印、三昧印。於密教中,五部各異:(一)佛部爲法界定印,即右手掌上仰安置於左手之上,拇指互拄,乃胎藏界大日如來之印,故又稱大日定印。(二)蓮華部爲妙觀察智印,以二手之拇指、食指相捻,二手縛仰置臍下,即彌陀所契之印相。(三)金剛部爲三昧印,二手縛仰,二拇指互拄。(四)寶部爲三瓣寶珠定印,先結彌陀之定印,再以二食指拄二拇指之第一指節,作三瓣寶珠狀。(五)羯磨部爲羯磨印,左右兩手外縛,各以大、小指之端相拄,安於膝上。 上記五部之印相雖有別,然各部實不二而一,故於五部之常法中皆用法界定印,或諸印可互相通用。惟胎藏界法一般用法界定印,金剛界法則用金剛部定印。〔金剛頂瑜伽中略出念誦經卷三、仁王護國般若波羅蜜多經道場念誦儀軌卷上、成就妙法蓮華經王瑜伽觀智儀軌、金剛頂經瑜伽修習毘盧遮那三摩地法、觀自在菩薩如意輪瑜伽念誦法〕
; (定印) Cũng gọi Tam ma địa ấn, Tam muội ấn. Tướng ấn ở trong định. Trong 5 bộ của Mật giáo, mỗi bộ có Định ấn khác nhau: 1. Phật bộ là Pháp giới định ấn: Bàn tay phải ngửa lên đặt ở trên bàn tay trái, hai ngón tay cái chạm vào nhau. Đây là ấn của đức Đại nhật Như lai ở Thai tạng giới, vì thế còn gọi là Đại nhật định ấn. 2. Bộ Liên hoa là Diệu quan sát trí ấn: Hai bàn tay đan lại, ngửa lên, 2 ngón cái và 2 ngón trỏ bấm vào nhau, là ấn khế của Phật A di đà. 3. Bộ Kim cương là Tam muội ấn: Hai tay đan lại và ngửa lên, 2 ngón cái chạm vào nhau. 4. Bảo bộ là Tam biện bảo châu định ấn: Trước hết kết Di đà định ấn, rồi dùng 2 ngón trỏ chạm vào đốt thứ nhất của 2 ngón cái. 5. Yết ma bộ là Yết ma ấn: Hai tay đan vào nhau ở bên ngoài, đầu 2 ngón cái và 2 ngón út bấm vào nhau đặt trên đầu gối. Tuy 5 bộ có 5 ấn tướng khác nhau, nhưng thực ra thì các bộ chỉ là một, cho nên, pháp thông thường trong 5 bộ đều dùng Pháp giới định ấn, hoặc có thể dùng chung các ấn. Chỉ riêng Thai tạng giới thì dùngPháp giới định ấn của Phật bộ và Kim cương giới thì dùng Định ấn của Kim cương bộ mà thôi. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.3; Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh đạo tràng niệm tụng nghi quĩ Q.thượng; Thành tựu diệu pháp liên hoa kinh du già quán trí nghi quĩ; Kim cương đính kinh du già tu tậpTì lô giá na tam ma địa pháp; Quán tự tại bồ tát như ý luân du già niệm tụng pháp].
Định 定
[ja] ジョウ jō, tei ||| (1) Establish, decide, lay down, stipulate, determine, fix, settle, arrange. (2) Be decided, be settled, be certain. Certainly, certainty. (3) Law, rule, regulation. (4) (dhyāna) 'Meditation,' 'concentration.' In the doctrine of the Faxiang school, it is one of the 'environment dependent' (別境) mental action elements. This ideograph is often used interchangeably with 止 (zhi) (śamatha). (5) The unification of the mind in concentration; stopping the floating of the mind and concentrating on one point. (5) Samādhi 三昧, like dhyāna, a term for meditation, but especially indicative of a deep level of concentration. => 1. Thiết lập, quyết định, sắp đặt, quy định, xác định, ấn định, ổn định, sắp xếp. 2. Được quyết định, được ấn định, chắc chắn. Nhất định, điều chắc chắn. 3. Pháp tắc, quy luật, quy tắc. 4. (s: dhyāna); theo giáo lý Pháp tướng tông, định là một trong tâm hành biệt cảnh. Thường dung thay thế cho chữ chỉ 止 (c: zhi; s: śamatha). 5. Sự hợp nhất của tâm khi tạp trung; đình chỉ sự tản mạn của tâm và chuyên nhất vào một điểm. 6. (s: Samādhi ; tam muội 三昧), cũng như thiền-na (s: dhyāna), thuật ngữ chỉ thiền định, nhưng đặc biệt trong mức độ tập trung cao hơn.
đọa
To fall down, to sink, to let fall, to destroy, to ruin.
; 1) Rơi rớt: To fall. 2) Rơi rớt từ cao xuống thấp, từ nơi tốt xuống nơi xấu: To fall from a higher to a lower place or condition.
đọa la bát để
Dvarapati or Dvaravati (skt)—Một vương quốc cổ nằm trên cao nguyên vùng Irawaddy—An ancient kingdom on the upper Irawaddy.
đọa lạc
To sink, to fall into decay.
; Decadent.
đọa đày
To maltreat—To ill-treat.
đọc
To read.
đọc kinh
To recite one's prayers—To read the scriptures.
đọc kinh mà không liễu nghĩa kinh chẳng khác chi đếm tiền cho kẻ khác mà mình vẫn nghèo nàn
To recite sutras without thoroughly understanding the meaning is the same as counting other people's money while we are still remaining poor and destitute ourselves.
đọc sư
A reader to an assembly.
đọc thầm
To read to oneself.
đọc tụng
Reading and reciting.
đố bất nam
Irsyapandaka (skt)—Bất lực, một trong năm loại “thái giám”—Impotent except when aroused by jealousy, one of the five classes of "“eunuchs."
đố kỵ
Envy—Jealous.
Đố 妒
[ja] ト to ||| Envy. A variant of 妬. => Ghen tỵ, đố ky. Biến thể của chữ 妬.
đố-la
xem đâu-la.
đốc thúc
To encourage.
Đốc 篤
[ja] トク toku ||| (1) Warm, hearty, cordial, courteous. (2) To concentrate the mind on one thing. 1. Ấm áp, nồng nhiệt, thân mật, nhã nhặn. 2. Tập trung tâm ý vào một việc.
đối
1) Đối diện: To face—Opposite. 2) Đối đáp: To reply—To respond. 3) Song đối: Pair. 4) Tỷ đối: To compare.
Đối biện 對辨
[ja] タイベン taiben ||| ' To contrastively compare.' => So sánh để nêu bật sự tương phản.
đối chiếu
Contrast.
đối chất
To confront—To bring to face-to-face.
đối cáo chúng
5793又作對告人、對告者。指佛說法之際,從聽眾中特選爲對象者。如於般若經以解空第一之須菩提,於法華經、阿彌陀經以智慧第一之舍利弗爲對告眾。蓋佛說法時之對告眾,隨其時處而有各種不同,惟皆特選於其法門最適當亦最能了解者爲對告眾。經典中常舉舍利弗爲對告眾,據大智度論卷十一之解說,即因舍利弗在佛陀諸弟子中,以智慧、多聞著稱,一切眾生之智慧,若與舍利弗相比,除佛世尊之外,於十六分中,猶不及其一分。〔法華經卷一序品、方便品、法華經文句卷八上、法華文句記卷三中〕
; Người làm trung gian (đặt ra những câu hỏi) cho Phật thuyết pháp cho tứ chúng, đặc biệt là Ngài A Nan—The intermediary for the Buddha's address to the assembly, especially Ananda.
; (對告衆) Cũng gọi Đối cáo nhân, Đối cáo giả. Là người đặc biệt được tuyển chọn đứng ra thay mặt đại chúng thưa hỏi làm đối tượng cho đức Phật thuyết pháp trong pháp hội. Khi đức Phật nói pháp, tùy theo thời gian và nơi chỗ mà có các loại đối cáo chúng khác nhau, nhưng điều đặc biệt quan trọng là phải lựa đề cử người thích hợp có khả năng hiểu rõ các pháp môn làm đối cáo chúng. Như trong kinh Bát nhã, ngài Tu bồ đề được chọn, trong kinh Pháp hoa và kinh A di đà thì ngài Xá lợi phất được chọn làm đối cáo chúng. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; Pháp hoa văn cú Q.8 phần trên; Pháp hoa văn cú kí Q.3 phần giữa].
đối căn khởi hành pháp
5795請參閱 大乘對俱舍抄 全一卷。隋代信行(541~594)撰。爲三階教重要典籍之一。本書係依據「三階」眾生之性質及其能力之優劣,而論述實踐之方法。本書現存殘簡,爲敦煌出土之古寫本,收於史坦因編號二四四六號。現存部分之內容爲:(一)一乘、三乘普別不同,(二)對根起行法五段明義,(三)發菩提心見法、行法分齊。其中對根起行法復分五段闡明之:(1)三階出世道不同所由義,(2)三階出世處不同所由義,(3)三階籍伴不同所由義,(4)三階斷障不同所由義,(5)三階六法具不具所由義。本書爲研究三階教之教判論及中心思想之基本文獻。此外,信行所著三階佛法一書,與本書並爲研究三階教之重要文獻。〔開元釋教錄卷十八、三階教籍の性質、三階佛法と對根起行(矢吹慶輝,三階教之研究第一部、第二部)〕(參閱「三階教」634)
; (對根起行法) Có 1 quyển, do ngài Tín hành (541 - 594) soạn vào đời Tùy, là một trong những tác phẩm quan trọng của Tam giai giáo. Sách này y cứ vào tính chất tam giai (ba bậc) và năng lực hơn kém của chúng sinh mà bàn về phương pháp tu hành thực tiễn. Bản hiện còn là bản viết tay xưa không còn nguyên vẹn đào được ở Đôn hoàng được thu vào loại tư liệu khảo cổ của ông A. Stein mang mã số 2.446. Nội dung phần hiện còn là: 1. Sự khác nhau giữa Nhất thừa và Tam thừa. 2. Nói rõ về nghĩa 5 đoạn của đối căn khởi hành pháp: a) Lí do khác nhau của 3 bậc xuất thế đạo. b) Lí do khác nhau của 3 bậc xuất thế xứ. c) Lí do khác nhau của 3 bậc tịch bạn. d) Lí do khác nhau của 3 bậc đoạn chướng. e) Lí do đủ hay không đủ ba bậc sáu pháp. 3. Giới hạn giữa kiến pháp và hành pháp của sự phát tâm Bồ đề. Sách này là tư liệu căn bản để nghiên cứu về thuyết phán giáo và tư tưởng trung tâm của Tam giai giáo. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.18; Tam giai giáo tịch chi tính chất; Tam giai Phật pháp dữ đối căn khởi hành (Thỉ xuy khánh huy, Tam giai giáo chi nghiên cứu bộ 1, bộ 2)]. (xt. Tam Giai Giáo).
Đối căn khởi hạnh pháp 對根起行法
[ja] タイコンキギョウホウ Taikon kigyō hō ||| (1) The "teachings and practices that arise in accordance with the capacity;" the doctrine of the Sanjiejiao 三階教 movement that stresses that the teaching and practice must be accord with the capacity of sentient beings; for the third and most degenerate level of sentient beings the only teaching deemed suitable was the pufa 普法, the "universal teaching." Also the Duigen qixing fa, the name of an important sanjie text by the sect's most important figure, Xinxing 信行; one fascicle. => 1. “Giáo lý và pháp môn tu tập xuất phát từ sự khế hợp căn cơ”, là giáo lý của Tam giai giáo (Sanjiejiao 三階教) hoặt động nhấn mạnh vào giáo lý và tu tập phải được khế hợp với căn cơ của chúng sinh; vì hầu hết căn cơ của chúng sinh trong giai đoạn thứ 3, thời kỳ mạt pháp, thấy rằng chỉ có giáo lý thích hợp là Phổ pháp (c: pufa 普法). Còn gọi là Đối căn khởi hạnh pháp, là tên một bản văn quan trọng của Tam giai giáo, gồm một quyển của Tín Hành (c: Xinxing 信行), nhân vật kiệt xuất khai sáng tông nầy.
đối cơ
5795有二義:(一)對,對答之意;機,機根之意。指禪宗師家應對學人之機根而作答。(二)指對手之機根。對接化之師家而言,受化益之學人爲對機;對諸佛而言,則以眾生爲說法之對機。禪林象器箋參請門:「學問師答,謂之問答。若唯屬師家邊,則謂之對機也。」
; Đối đáp tùy theo căn cơ của người nghe—To respond to the opportunity, or the capacity of hearers.
; (對機) Đối là đối đáp; Cơ là căn cơ. Chỉ cho việc Thầy tùy theo căn cơ của học trò mà trả lời. Thiền lâm tượng khí tiên tham thỉnh môn nói: Người học hỏi, vị thầy trả lời gọi là vấn đáp. Nếu chỉ thuộc về bên câu trả lời của thầy thì gọi là đối cơ. Ngoài ra, đức Phật tùy theo căn cơ của chúng sinh mà nói pháp cũng gọi là Đối cơ.
đối cơ thuyết pháp
5796指相應受教者(機)之能力、根機,而施以各種說教。又作隨機說法、隨機散說、隨宜說教、隨機說、應機接物。主要指佛之教化而言。若藉譬喻表現之,以佛爲大醫王,其隨宜說法即稱爲「應病與藥」。善導觀經疏玄義分載(大三七‧二四六中):「如來對機說法多種不同,漸頓隨宜,隱彰有異,或六根通說,相好亦然。」其中「六根通說」等語,係依據入楞伽經卷四謂如來於一切佛國土中,有以眉相、眼相、笑、欠呿、咳、身等說法之記載而來。又佛具有四辯八音之廣長舌相,即顯示其隨機散說之巧妙;其悲智圓滿之尊像,即表示其利益眾生之德。 與「對機說法」有關之用語,如適合於根機,稱爲逗機(逗,即投合之意)。應機施以適合時宜之教化利益,稱爲當機益物(物,即眾生之意);天台宗五時教判之中,即以華嚴、鹿苑、方等、般若等前四時爲方便之教化利益。〔金光明最勝王經卷一如來壽量品、觀經玄義分傳通記卷三、華嚴經行願品疏卷四〕(參閱「應病與藥」6434)
; (對機說法) Cũng gọi Tùy cơ thuyết pháp, Tùy cơ tán thuyết, Tùy nghi thuyết giáo, Tùy cơ thuyết, Ứng cơ tiếp vật. Nghĩa là tùy theo năng lực và căn cơ của người nghe mà nói pháp. Chủ yếu nói về sự giáo hóa của đức Phật. Đức Phật được ví như bậc Đại lương y, việc Ngài tùy nghi nói pháp được gọi là Ứng bệnh dữ dược (tùy chứng bệnh mà cho thuốc). Trong Quán kinh sớ Huyền nghĩa phần, ngài Thiện đạo nói (Đại 37, 246 trung): Như lai đối cơ nói pháp có nhiều cách khác nhau, đốn tiệm tùy nghi, ẩn hiển có khác, hoặc sáu căn cùng nói, tướng tốt cũng vậy. Những dụng ngữ khác có liên quan với Đối cơ thuyết pháp thì như thích hợp với căn cơ gọi là Đậu cơ. Thời điểm thích hợp, ứng cơ giáo hóa làm lợi ích chúng sinh, gọi là Đương cơ ích vật v.v... [X. phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.1; Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí Q.3; Hoa nghiêm kinh hành nguyện phẩm sớ Q.4]. (xt. Ứng Bệnh Dữ Dược).
đối diện
To face—To confront.
đối dương
5795<一>指在佛說法之會座上,對佛發起問答,以顯揚佛意,而成辦利益者。佛亦以此一對揚者爲此會之代表,而爲之說法,此稱對告眾。(參閱「對告眾」5793) <二>對,應對之意;揚,舉揚之意。即對學人舉揚宗旨。碧巖錄第十六則(大四八‧一五六下):「決定搆這般說話不得,對揚遭貶剝,則是一賓一主,一問一答,(中略)雪竇深知此事。」 <三>梵唄之一。指法會中舉行散華式時,於散華之偈終後,舉唱祈願佛法、世法常住安穩之偈文。係依據佛說法之會座上,對告眾稱揚佛德之義,而附以此一名稱。所使用之文句,依宗派而略有不同。
; One who drew out remarks or sermons from the Buddha.
; (對揚) I. Đối Dương. [X. Đối Cáo Chúng]. II. Đối Dương. Nêu tỏ tông chỉ cho người học. Bích nham lục tắc 16 (Đại 48, 156 hạ), nói: Quyết định nói những lời ấy thì không được, đối dương thì bị chê bị bác, đó là một khách một chủ, một hỏi một đáp (...) Tuyết đậu biết rõ việc này. III. Đối Dương. Bài kệ được đọc sau khi cử hành nghi thức tán hoa trong pháp hội để cầu nguyện Phật pháp trường tồn, thế pháp yên ổn. Là một trong những bài Phạm bái (kệ tán). Tùy theo các tông phái mà câu văn kệ được sử dụng có khác nhau.
đối kháng
To resist—To stand up against.
đối lập
Apavada (skt). • To oppose. • Refutation.
đối ngại
5796爲色法之特性。指二種物質互相障礙,無法同時占有同一空間;又由心等對象之拘束,而無從自由活動。據俱舍論卷二載,前一情形爲障礙有對,後一情形爲境界有對及所緣有對。有對,意即有對礙之性質者;無此性質者,則稱爲無對。上述三種有對中,障礙有對如手礙手、石礙石,即指五根、五境之十色法(物質),均由極微(分子)所構成,彼此互礙而被礙。境界有對指六根、六識與伴此而起之心所(心之作用),爲所取之對境所拘束,而取境之作用不得自在。所緣有對指心(六識與意根)與伴此而起之心所,爲各所緣之法所拘束,而緣慮之作用不得自在。境界有對與所緣有對之區別,在於前者以感覺之認識爲主,較爲廣泛;後者則以悟性之判斷認識爲主,故較爲偏狹。
; (對礙) Đặc tính của sắc pháp. Nghĩa là hai thứ vật chất không thể đồng thời cùng chiếm một khoảng không gian, hoặc do sự bó buộc của các đối tượng tâm v.v... nên không thể hoạt động tự do. Cứ theo luận Câu xá quyển 2, thì Đối ngại có ba thứ: 1. Chướng ngại hữu đối: Chỉ cho 10 sắc pháp (vật chất) gồm năm căn, năm cảnh đều do cực vi (phân tử) cấu thành làm chướng ngại lẫn nhau. 2. Cảnh giới hữu đối: Chỉ cho sáu căn, sáu thức cùng với tâm sở cùng khởi, nhưng bị đối cảnh sở thủ câu thúc nên tác dụng thủ cảnh không được tự do. 3. Sở duyên hữu đối: Chỉ cho tâm (sáu thức và ý căn) và tâm sở cùng khởi lên, nhưng bị các pháp sở duyên bó buộc, nên tác dụng duyên lự không được tự tại. Sự khác biệt giữa Cảnh giới hữu đối và Sở duyên hữu đối là: Cảnh giới hữu đối lấy nhận thức của cảm giác làm chính nên phạm vi của nó rộng hơn; còn Sở duyên hữu đối thì lấy nhận thức phán đoán của ngộ tính làm chủ, nên phạm vi của nó hẹp hơn.
đối ngạn
Bỉ ngạn—The other shore—The opposite bank.
đối pháp
Xem Luận.
; Abhidharma (skt)—Pháp đối quán hay đối hướng, nghĩa là dùng trí huệ của bậc Thánh đạo vô lậu để đối quán cái lý của tứ đế Niết Bàn—The corresponding law, the philosophy in the Buddha's teaching, the abhidharma; comparison of cause and effect—See Abhidharma in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đối pháp luận
Tên khác của A Tỳ Đạt Ma Luận—Another name for Abhidharma sastra.
Đối pháp luận 對法論
[ja] タイホウロン Taihō ron ||| Duifa lun; a Chinese translation of the title of the Mahāyānābhidharma-samuccaya-vyākhyā 大乘阿毘達磨雜集論 (T 1606.31.694b-774a). => Hán dịch tựa đề Đại thừa A-tỳ-đạt-ma tạp tập luận (大乘阿毘達磨雜集論s: Mahāyānābhidharma-samuccaya-vyākhyā).
đối pháp tông
Tông phái theo A Tỳ Đạt Ma Luận—The Abhidharma sect.
đối pháp tạng
5793請參閱 論 [1]請參閱 阿毘達磨雜集論述記 [1]請參閱 大乘阿毘達磨雜集論 [1]請參閱 阿毘達磨雜集論述記<一>三藏之一。即指論藏。對法,即論典。彙集一切論典,稱爲對法藏。[1] <二>即世親所造之俱舍論。梵名阿毘達磨俱舍,譯作對法藏。對法,指六足、發智等諸論;藏,指俱舍論。以俱舍論含攝六足論、發智論等之妙義,故稱之爲對法藏。俱舍論卷一(大二九‧一中):「由彼對法論中勝義入此攝故,此得藏名。」
; Luận Tạng, tạng thứ ba trong tam tạng kinh điển—The third section of the Tripitaka, the sastra, or Abhidharma.
; (對法藏) I. Đối Pháp Tạng. Một trong ba Tạng. Tức là Luận tạng. II. Đối Pháp Tạng. Luận Câu xá do ngài Thế thân trứ tác. Tên tiếng Phạm A tì đạt ma câu xá được dịch là Đối pháp tạng. Đối pháp chỉ cho các bộ luận Lục túc, Phát trí v.v...; Tạng chỉ cho luận Câu xá. Vì luận Câu xá hàm nhiếp diệu nghĩa của các bộ luận vừa kể nên gọi là Đối pháp tạng. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 1 trung), nói: Vì thắng nghĩa của các luận đối pháp kia được thu nhiếp vào bộ luận này nên luận này được gọi là Tạng.
Đối pháp 對法
[ja] タイホウ taihō ||| Literally "concerning the dharma." A Chinese translation of abhidharma, which is usually transliterated as 阿毘曇 and 阿毘達磨. Also rendered in Chinese Buddhism as 論. => Có nghĩa là 'Liên quan đến pháp'. Hán dịch chữ abhidharma, thường được Phiên âm là A-tỳ-đàm và A-tỳ-đạt-ma. Còn được Hán tạng Phật giáo dịch là Luận.
đối phó
To face—To deal with.
đối tha thuyết hướng bỉ hối
xem ba-la-đề đề-xá-ni.
đối thiên chính
5795三論宗所立三正之一。指針對斷見、常見等偏頗之見解,而顯示正理。即對於大小二乘學人有斷見與常見、空見與有見等偏見之病,對症下藥,而說非空、非有等正理。〔三論玄義〕(參閱「三正」543)
; (對偏正) Đối trị kiến giải thiên lệch. Đối với các kiến giải như đoạn kiến, thường kiến, không kiến, hữu kiến v.v... mà hiển bày chính lí Trung đạo: Chẳng phải đoạn, chẳng phải thường, chẳng phải không, chẳng phải hữu. Là một trong ba chính do tông Tam luận lập ra. [X. Tam luận huyền nghĩa]. (xt. Tam Chính).
đối thoại nội tâm
Inner dialogue.
đối thủ
5794三種羯磨法之一。又作對手、對首懺、對首懺悔。首,即面。自原始佛教至部派佛教時代,僧團於每月二回之布薩會或雨安居最後一日之自恣日中所行之懺悔作法。其後,亦廣用於一般受戒之時。若犯四十八輕罪而須行懺悔法時,須面對其他之修行僧(一人至三人),稟陳事實,表示悔悟之意,故稱對首。此一懺法應合手懺謝,故又稱對手懺悔。一般多於安居、依止、捨受衣鉢尼師壇、受藥等時行之。〔菩薩戒本疏卷下本,四分律刪繁補闕行事鈔卷上一、四分律行事鈔資持記卷中四上〕(參閱「羯磨」6137)
; Phát lồ sám hối bằng cách mặt đối mặt với vị Y Chỉ Sư—Face to face confession.
; (對首) Đối mặt. Cũng gọi Đối thủ sám, Đối thủ sám hối. Một trong ba pháp yết ma. Nếu tỉ khưu phạm tội nhẹ thì lúc sám hối phải đối trước các vị tỉ khưu khác, từ một đến ba vị, trình bày sự thực để tỏ lòng ăn năn hối ngộ, vì thế gọi là Đối thủ. Pháp sám hối này thông thường được thực hành vào dịp an cư, y chỉ, xả bỏ hoặc nhận lãnh áo bát, tọa cụ, thuốc thang... [X. Bồ tát giới bản sớ Q.hạ phần đầu; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng phần 1; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung phần 4]. (xt. Yết Ma).
đối trị
5793請參閱 阿毘達磨俱舍論 [1]梵語 pratipakṣa。原意爲否定、遮遣。於佛教中,則指以道斷除煩惱等。其中,「道」爲「能對治」,「煩惱」等爲「所對治」。據俱舍論卷二十一載,欲斷除「修所斷」之煩惱,有四種對治之道,可順次配於加行道、無間道、解脫道與勝進道等四道。即:(一)厭患對治,又作厭壞對治,首先深厭欲界生死之苦與煩惱惑業之集。(二)斷對治,其次觀苦、集、滅、道四諦之理以斷除煩惱。(三)持對治,再次保持擇滅(以真智之揀擇力來斷滅煩惱)之得,令其不失。(四)遠分對治,再觀四諦之理,以更遠離前所斷之煩惱。 大智度論卷一所載四悉檀之第三對治悉檀,詳述以不淨觀對治貪欲,以思惟慈心對治瞋恚,以因緣觀對治愚癡之法。十地經論卷四舉出三種遠離十惡之法,其第二種稱爲「對治離」,即以慈心、布施等善法對治殺、盜等惡法。又摩訶止觀卷五上所說十乘觀法中,其第七種爲「對治助開」之法,乃以助道對治障道。此外,有關各種對治之先後次第、能斷之道與所斷之惑兩者間之相應關係等,諸經論所說略有出入,大小乘亦各有異說,然大抵不外以「以無漏智對治煩惱」爲其要義。〔大毘婆沙論卷一八一、辯中邊論卷中辯修對治品、大乘起信論、大乘莊嚴經論卷四、十地經論卷一、法華經玄義卷一下〕(參閱「四種對治」1819)
; Pratipaksa (skt)—Đoạn trừ phiền não bằng cách đối đầu và chế ngự—To eliminate afflictions—To subdue afflictions by responding or facing up to and controlling them.
; (對治) Phạm: Pratipakwa. Nguyên ý là phủ định, ngăn dứt. Trong Phật giáo, chỉ cho việc dùng đạo để đoạn trừ phiền não, trong đó, đạo là Năng đối trị, phiền não là Sở đối trị. Cứ theo luận Câu xá quyển 21, muốn dứt trừ phiền não Tu sở đoạn thì phải có 4 loại đạo đối trị mà, theo thứ tự, có thể phối hợp với bốn đạo; Gia hành đạo, Vô gián đạo, Giải thoát đạo và Thắng tiến đạo. Đó là: 1. Yếm hoạn đối trị, cũng gọi Yếm hoại đối trị: Trước hết, là nhàm chán nỗi khổ sinh tử và sự tích tập các phiền não hoặc nghiệp ở cõi Dục. 2. Đoạn đối trị: Kế đến, quán xét lí Tứ đếKhổ, Tập, Diệt, Đạo để đoạn trừ phiền não. 3. Trì đối trị: Tiếp theo, giữ gìn trạch diệt đã đạt được (dùng sức giản trạch của chân trí mà đoạn trừ phiền não), không để cho mất. 4. Viễn phần đối trị: Sau đó, lại quán xét lí Tứ đế để xa lìa các phiền não đã bị đoạn trừ. Trong bốn Tất đàn nói trong luận Đại trí độ quyển 1, thì Đối trị tất đàn trình bày rõ: Quán bất tịnh để đối trị tham dục, quán từ bi để đối trị sân khuể, quán nhân duyên để đối trị ngu si. Thập địa kinh luận quyển 4 nêu bốn loại Li (lìa), loại thứ 2 là Đối trị li, tức dùng các thiện pháp từ bi, bố thí v.v... để đối trị các ác pháp giết hại, trộm cướp v.v... Còn Đối trị trợ khai trong Thập thừa quán pháp nói trong Ma ha chỉ quán quyển 5 phần trên, thì dùng Trợ đạo để đối trị chướng đạo. Ngoài ra, về thứ tự trước sau của các loại đối trị, cũng như mối quan hệ tương ứng giữa Đạo năng đoạn và Hoặc sở đoạn, thì các kinh luận nói có khác nhau, mà Đại thừa, Tiểu thừa cũng có những thuyết bất đồng, nhưng đại để thì không ngoài ý nghĩa chủ yếu là dùng trí vô lậu để đối trị phiền não. [X. luận Đại tì bà sa Q.181; phẩm Biện tu đối trị trong luận Biện trung biên Q.trung; luận Đại thừa khởi tín; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.4; Thập địa kinh luận Q.1; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1 phần dưới]. (xt. Tứ Chủng Đối Trị).
đối trị li
5794爲「究竟離」之對稱。以能治之淨法與所治之妄執相對,而拂除人、法二執,此種離脫,稱爲對治離。反之,究竟離係泯除能治、所治之相對性質,不認爲有所治之妄執,亦無能治之淨法,歸趣於絕對平等之理。對治離猶如應病投藥,故對「空」而說「有」,對「有」而說「空」,然皆未能究竟;究竟離則自真理之立場看待一切,因此能所、染淨等一切相對觀點皆遣除,體達人、法二執本來不可得,究竟而脫離妄執。故對治離符合依言真如,究竟離符合離言真如之旨。〔大乘起信論、起信論筆削記卷五〕(參閱「究竟離」2987)
; (對治離) Đối lại với Cứu cánh li. Dùng tịnh pháp năng trị và vọng chấp sở trị đối nhau để phá trừ hết hai cái chấp nhân, chấp pháp mà được giải thoát, gọi là Đối trị li. Đối trị li giống như tùy bệnh cho thuốc, bởi thế đối với Không mà nói Có, đối với Có mà nói Không, nhưng đều là chưa rốt ráo, cho nên Đối trị li phù hợp với Y ngôn chân như, khác với Cứu cánh li. [X. luận Đại thừa khởi tín; Đại thừa khởi tín luận tước kí Q.5]. (xt. Cứu Cánh Li).
đối trị trợ khai
5793天台宗十乘觀法之第七。即以助道對治障礙而開闢三解脫門。又作助道對治、善修助道法、對治助道修波羅蜜、對治諸波羅蜜。略稱助開、助道。即於修正觀時,障道之事惑現起,以彼等能助理惡無明,覆蓋理善中道觀之智慧,故修六度、十不淨、八背捨、八勝處等相應之法而對治之,以助正道,開前進之道。此爲以小助大,以徧助圓,故稱爲對治助開。〔摩訶止觀卷五上、卷八上、止觀大意、止觀輔行傳弘決卷五之一〕(參閱「十乘觀法」463)
; (對治助開) Cũng gọi Trợ đạo đối trị, Thiện tu trợ đạo pháp, Đối trị trợ đạo tu ba la mật; Đối trị chư ba la mật. Gọi tắt: Trợ khai, Trợ đạo. Dùng trợ đạo đối trị chướng ngại để mở ra ba cửa giải thoát. Là pháp quán thứ 7 trong 10 pháp quán của tông Thiên thai. Tức là trong lúc tu chính quán, các phiền não (Hoặc) chướng đạo khởi lên, trợ giúp vô minh bằng cách che lấp trí tuệ quán lí Trung đạo, cho nên phải tu các pháp tương ứng như Lục độ, Thập bất tịnh, Bát bối xả, Bát thắng xứ v.v... để đối trị mà trợ giúp cho chính đạo, mở ra con đường tiến lên phía trước. Đây là dùng tiểu trợ giúp đại, dùng thiên trợ giúp viên, cho nên gọi là Đối trị trợ khai. [X. Ma ha chỉ quán Q.5 thượng, Q.8 thượng; Chỉ quán đại ý; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5 phần 1]. (xt. Thập Thừa Quán Pháp).
đối trị tất đàn
5794四悉檀之一。又作斷惡悉檀。指佛隨應眾生之心病,而以法藥對治眾生各自之煩惱惡業。亦即應病與藥,如爲破貪欲而說不淨觀,爲破瞋恚而說慈悲觀,爲破常見而說空教,爲破斷見而說有門,此等皆爲對治眾生之妄執與煩惱而說種種法,以成就破執滅惡之利益。〔大智度論卷一〕(參閱「四悉檀」1758)
; (對治悉檀) Cũng gọi Đoạn ác tất đàn. Một trong bốn Tất đàn. Chỉ cho phương pháp tùy bệnh cho thuốc mà đức Phật dùng để đối trị phiền não ác nghiệp của mỗi chúng sinh. Như Ngài dạy quán bất tịnh để phá tham dục, quán từ bi để phá giận tức, dạy không giáo để phá thường kiến, dạy hữu môn để phá đoạn kiến v.v..., đó đều là vì đối trị vọng chấp và phiền não của chúng sinh để thành tựu lợi ích phá chấp diệt ác. [X. luận Đại trí độ Q.1]. (xt. Tứ Tất Đàn).
Đối trị 對治
[ja] タイジ taiji ||| To correct, to fix, to overcome. To remove or end delusion. Dispelling the suffering of ignorance with the wisdom of awakening (pakṣa, pratipakṣa). In the work of removal of afflictions, usually has a subjective connotation, referring to the practices and practitioner. This is distinguished from 斷, which refers to the objective elimination of the afflictions. 〔二障義 HPC 1.804c〕 => Sửa chữa, điều chỉnh, khắc phục. Tẩy trừ hoặc chấm dứt ảo tưởng. Xua tan đau khổ và vô minh bằng trí tuệ tỉnh giác (s: pakṣa, pratipakṣa). Trong công phu chuyển hoá phiền não, thường có nghĩa rộng chủ quan, liên quan đến pháp môn tu và hành giả. Điểm nầy khác hẳn với Đoạn斷, có nghĩa diệt trừ đối tượng của phiền não.
đối tượng của sự hoại diệt
Đối tượng của của sự hoại diệt là vô thường, khổ và bất tịnh—Subject to destruction—Impermanence, suffering and impurity are subject to destruction.
đối tượng nhìn thấy
Visible objects.
đối tượng nhận biết
An object of experience.
đối tượng xúc chạm
Tangible objects.
đối xúc lễ
5796即面面相對而行觸禮。觸禮,即展坐具,折四折,置於下,以額頭觸於坐具上之禮拜法,爲一種略式之禮拜(略拜)。勅修百丈清規卷三入院條(大四八‧一一二五下):「新命受草賀了,鳴僧堂鐘,領眾躬送前代歸寮,對觸禮一拜,次首座、大眾作賀,行僕皆當參拜。」
; Thờ phượng tôn kính bằng mặt đối mặt—To worship, or pay respects, face to face.
; (對觸禮) Khi lễ người đối diện, gấp tọa cụ làm 4, đặt xuống mặt đất, rồi trán chạm (xúc) trên tọa cụ. Đây là một cách lễ bái với hình thức đơn giản. Mục Nhập viện trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3 (Đại 48, 1125 hạ), nói: Sau khi vị Tân trụ trì tiếp nhận sự chúc mừng, đánh chuông nhà Tăng, vị Lãnh chúng đích thân tiễn đưa vị Trụ trì tiền nhiệm về liêu, đối xúc lễ một lạy; kế đến, vị Thủ tọa và đại chúng cùng tất cả mọi người trong tùng lâm đều đến chúc mừng lễ bái.
đối xứng
Symmetrical.
Đối ý 對意
[ja]タイイ taii ||| A mental object. 〔圓覺經略疏 1795.39〕 => Đối tướng của tâm thức. (Theo Viên Giác kinh lược sớ).
đối đàm
To converse.
đối đáp
Questions and answers.
đối đãi
Đãi đối—Relationship—In relation with (one thing associated with another).
Đối đãi 對待
[ja] タイタイ taitai ||| To deal with; attitude towards. => Giao tiếp, thái độ đối xử.
đối đầu
To face—To confront with someone.
đối đầu với sự thật
To face realities.
Đối 對
[ja] タイ tai ||| (1) To reply, to respond, to answer. (2) Reply, response, answer. (3) To face, to meet, be facing (adhisthita, adhimukha). To compare. (4) Partner, opponent. (5) To oppose, be opposite to, compare or contrast qualitatively. (6) To make a pair, to suit; agreeing with. Respond. => 1. Đáp lại, trả lời, hồi âm. 2. Lời đối đáp, sự trả lời, sự hồi âm. 3. Đương đầu, gặp nhau, đối phó (adhisthita, adhimukha). So sánh. 4. Đối tác, đối thủ. 5. Đối lập, ngược nhau, so sánh hay đối nghịch phẩm chất với nhau. 6. Làm thành một cặp, hợp với, đồng ý với. Đáp lại.
đốn
At one time, at once; suddenly, immediate; used chiefly in contrast with tiệm gradually.
; 1) Ngã dập đầu—To fall headlong—To prostrate. 2) Tức thì: Ngay tức khắc, đối lại với “tiệm” hay từ từ—At one time—At once—Suddenly—Immediate; make ready; used chiefly in contrast with “gradually”.
đốn chỉ
The will, or aim, of immediate attainment.
; Ý chỉ đốn ngộ—The will or aim of immediate attainment.
đốn chứng bồ đề
5704疾速獲得正果、證得菩提,稱爲頓證菩提。此語大多用於願文或迴向文中,乃對佛、菩薩表白自己的心願之語,其語意同於「證菩提」、「頓證佛果」等語。
; (頓證菩提) Đạt đến chính quả, chứng được bồ đề một cách mau chóng. Từ ngữ này phần nhiều được dùng trong văn nguyện hoặc văn hồi hướng, là lời bày tỏ tâm nguyện của mình trước đức Phật và chư Bồ tát. Đồng nghĩa với các từ ngữ Tốc chứng bồ đề, Đốn chứng Phật quả.
đốn cơ
5704指聞頓教而頓悟佛道之機類。圓覺經(大一七‧九二一下):「是經名爲頓教大乘,頓機眾生從此開悟。」
; căn cơ tức thì giác ngộ—The capacity or opportunity for immediate elightenment.
; (頓機) Chỉ cho những người có căn cơ bén nhạy, vừa nghe Đốn giáo là ngộ đạo liền. Kinh Viên giác (Đại 17, 921 hạ), nói: Kinh này gọi là Đại thừa đốn giáo, chúng sinh đốn cơ nhờ kinh này mà được mở tỏ.
đốn giác
Immediate apprehension, or enlightenment as opposed to gradual development.
đốn giáo
5703<一>以說法之內容而分,長時間修行而後到達悟境之教法,稱爲漸教;迅即證得佛果、成就菩提之教法,稱爲頓教。或循序漸進到證果之教法,稱爲漸教;一躍頓至佛果之教法,稱爲頓教。(參閱「頓漸二教」5704) <二>以說法之形式而言,對根器未熟之眾生,由淺入深,初說小乘,漸次說大乘之法,稱爲漸教;對頓悟之機,自始直說深法之教,稱爲頓教。 <三>華嚴宗於五教之第四,立頓教之名,謂教、理、行、果等四法皆爲頓教之旨。(參閱「五教十宗」1146) <四>唐代善導大師判觀經所說之教法爲頓教。又天台宗以四教之第四爲圓頓教,即指法華經所說之教法。(參閱「五時八教」1132) <五>日僧源空認爲大台宗、真言宗雖言頓教,然以斷除煩惱始能證理,故仍屬漸教;準此,主張不必斷煩惱,即能由凡夫頓超迷界的無量壽經之教,方爲純粹之頓教,亦乃頓中之頓。
; The doctrine that enlightenment or Buddhahood may be attained at once; also immediate teaching of the higher truth without preliminary stages.
; Là pháp của Thiền tông do phát khởi nghi tình mà đạt đến đốn ngộ, cũng gọi là pháp thiền trực tiếp, nay gọi là Tổ Sư Thiền.
; Đốn ngộ là giáo pháp tối thượng thừa có công năng giúp giác ngộ tức thì. Giáo pháp nầy liên hệ với trường phái Hoa Nghiêm và Thiền. Đốn ngộ giảng về thực chứng chân lý tức thì không tùy thuộc vào những thời giảng thuyết bằng lời hay qua những giai đoạn khác nhau—Perfect sudden teaching, sudden teaching, perfect and immediate teaching, a supreme teaching which enables ones to attain enlightenment immediately, or the doctrine that enlightenment or Buddhahood may be attained at once, or immediate teaching of the higher truth without preliminary stages. It is usually associated with the Avatamsaka and Zen schools—Sudden teaching expounds the abrupt realization of the iltimate truth without relying upon verbal explanations or progression through various stages of practice.
; (頓教) 1. Về nội dung nói pháp: Giáo pháp giúp hành giả chứng được quả Phật một cách nhanh chóng mà thành tựu bồ đề; hoặc là giáo pháp khiến người tu hành vượt lên liền đến quả Phật, gọi là Đốn giáo. (xt. Đốn Tiệm Nhị Giáo). 2. Về hình thức nói pháp: Đối với căn cơ đốn ngộ, thì ngay từ đầu, nói thẳng vào giáo pháp sâu xa vi diệu, gọi là Đốn giáo. 3. Từ ngữ do tông Hoa nghiêm đặt ra để chỉ cho bốn pháp: Giáo, Lí, Hành, Quả. (xt. Ngũ Giáo Thập Tông). 4. Theo thuyết phán giáo của đại sư Thiện đạo đời Đường thì giáo pháp của kinh Quán vô lượng thọ là Đốn giáo. Còn tông Thiên thai thì cho giáo thứ 4 trong 4 giáo là giáo Viên đốn, tức chỉ cho giáo pháp của kinh Pháp hoa. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo). 5. Ngài Nguyên không của Nhật bản cho rằng các tông Thiên thai, Chân ngôn tuy nói Đốn giáo, nhưng lại chủ trương có đoạn trừ phiền não mới chứng được chân lí, cho nên vẫn thuộc về Tiệm giáo. Còn theo giáo pháp của kinh Quán vô lượng thọ thì không cần đoạn trừ phiền não, có thể từ phàm phu mà vượt ngay ra ngoài cõi mê, gọi là Đốn giáo thuần túy, hoặc là Đốn trong Đốn.
đốn giáo nhất thừa
5703指淨土法門。係唐代善導大師所判。以其速疾成佛,故稱頓教;又以一切眾生悉得乘此乘,故稱一乘。觀經疏卷一歸三寶偈(大三七‧二四六上):「我依菩薩藏,頓教一乘海,說偈歸三寶。」
; (頓教一乘) Phạm: Zuddha-pràyazcittika. Cũng gọi Đơn đề. Đối lại với Xả đọa. Một loại tội nhẹ, nếu ai phạm thì chỉ cần đối trước người khác bày tỏ lòng ăn năn sám hối là được thanh tịnh. Về số giới Đơn đọa, các luật nói có khác nhau, hơn nữa, số giới và thứ tự giới điều của tỉ khưu, tỉ khưu ni cũng không giống nhau. Cứ theo luật Tứ phần, thì tỉ khưu có Chín mươi pháp đơn đề, cho nên thông thường Đơn đọa cũng được gọi là Cửu thập đơn đề. Pháp Đơn đọa của tỉ khưu nói trong luật Thập tụng và Tứ phần luật sớ quyển 9 của ngài Trí thủ cũng là 90 điều, nhưng không có điều Bất thụ gián (không nghe lời can ngăn) trong luật Tứ phần, mà thay vào đó bằng điều Bất cung kính thuyết pháp giáo giới nhân (không cung kính người thuyết giới răn dạy). Luật Ngũ phần thì nêu 91 điều, cũng thiếu điều Bất thụ gián trong luật Tứ phần và kết hợp hai điều Dụng trùng thủy (dùng nước có trùng) và Ẩm trùng thủy (uống nước có trùng) của luật Tứ phần thành một điều và thêm vào ba điều khác là: Vào chùa ni nói pháp cho ni không bệnh nghe, Khinh ba sư, Đòi lại vật của tăng đã cho người khác. Luật Ma ha tăng kì ghi Đơn đọa của tỉ khưu có 92 điều, kinh Giải thoát giới và Hữu bộ tì nại da tạp sự thì ghi 90 điều giống với luật Tứ phần, nhưng hạng mục của các giới điều thì hơi khác. Còn về giới điều Đơn đọa của tỉ khưu ni thì các bộ luật ghi chép cũng có thêm bớt khác nhau: luật Tứ phần nêu 178 điều, trong đó, 69 điều trước đại khái giống với các giới điều của tỉ khưu, còn 109 điều sau thì là giới pháp đặc biệt của tỉ khưu ni. Luật Ngũ phần nêu 207 điều; Ngũ phần tỉ khưu ni giới bản nêu 210 điều; còn Thập tụng tỉ khưu ni ba la đề mộc xoa giới bản cũng nêu 178 điều giống như luật Tứ phần, nhưng trong đó có 71 điều tương đồng với giới điều của tỉ khưu. Thập tụng tỉ khưu ni ba la đề mộc xoa giới bản đào được ở Đôn hoàng cũng có 178 điều, trong đó có 70 điều giống với những điều của tỉ khưu. Luật Ma ha tăng kì chỉ liệt kê có 141 điều; Hữu bộ bật sô ni tì nại da và luật Tây tạng đều nêu 180 điều, còn luậtPàli thì có 166 điều. Tóm lại, như đã nói ở trên, các tội Đơn đọa tương đối nhẹ, nếu người vi phạm thì vào ngày Bố tát chỉ cần phát lộ sám hối trước người khác là diệt được tội. [X. luật Tứ phần Q.11; luật Thập tụng Q.9 đến Q.18; luật Ma ha tăng kì Q.12 đến Q.21; Thiện kiến luật tì bà sa Q.15, Q.16; Tứ phần luật khai tông kí Q.5 phần cuối]. (xt. Ba Dật Đề).
; (頓教一乘) Chỉ cho pháp môn Tịnh độ. Đây là thuyết phán giáo của ngài Thiện đạo đời Đường. Vì pháp môn này khiến người tu hành thành Phật nhanh chóng nên gọi là Đốn giáo và tất cả chúng sinh đều có thể tu theo thừa này nên gọi là Nhất thừa. Bài kệ qui kính Tam bảo trong Quán kinh sớ quyển 1 (Đại 37, 246 thượng), nói: Con nương Bồ tát tạng, Biển Đốn giáo nhất thừa, Nói kệ qui Tam bảo.
đốn kinh
Chép lại Kinh Pháp Hoa chỉ trong vòng một ngày—To copy the Lotus Sutra at one sitting.
Đốn ngộ
(頓悟): không trãi qua giai đoạn thứ tự, chứng ngộ nhanh chóng và khai mở tâm địa; đối nghĩa với tiệm ngộ (漸悟, chứng ngộ dần dần theo từng giai đoạn). Tác phẩm Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận (頓悟入道要門論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1223) định nghĩa rằng: “Vân hà vi đốn ngộ ? Đáp: 'Đốn giả, đốn trừ vọng niệm; ngộ giả, ngộ vô sở đắc' (云何爲頓悟、答、頓者、頓除妄念、悟者、悟無所得, Thế nào là đốn ngộ ? Đáp: 'Đốn tức là nhanh chóng dứt trừ vọng niệm, ngộ là ngộ cái không đạt được').” Trong Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (大方廣圓覺修多羅了義經, Taishō Vol. 17, No. 842) cho biết rằng: “Thị kinh danh vi Đốn Giáo Đại Thừa, đốn cơ chúng sanh tùng thử khai ngộ (是經名爲頓教大乘、頓機眾生從此開悟, kinh này có tên gọi là Giáo Lý Đốn Ngộ Đại Thừa, chúng sanh có căn cơ đốn ngộ từ đây mà khai ngộ).” Như trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Ngữ Lục (無異元來禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 19, phần Khai Thị Kệ (開示偈), bài Thị Tề Bảo Minh Cư Sĩ (示齊寶明居士), có câu: “Đốn ngộ tâm nguyên khai bảo tạng, tùng tha phiền não dữ bồ đề, tam xan trà phạn tùy thời quá, vô sự thâm sơn thính điểu đề (頓悟心源開寶藏、從他煩惱與菩提。三餐茶飯隨時過、無事深山聽鳥啼, đốn ngộ nguồn tâm bày kho báu, từ kia phiền não với bồ đề, ba bữa trà cơm tùy thời độ, vô sự núi sâu chim hót nghe).” Hay trong Bát Nhã Tâm Kinh Chú Giải (般若心經註解, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 26, No. 573) lại có đoạn rằng: “Thân kiến bản lai diện mục, đốn ngộ vô sanh, tiện đăng bỉ ngạn, nhất đắc vĩnh đắc, nhất ngộ vĩnh ngộ, cánh bất phục sanh, luân hồi vĩnh tức, sanh tử vĩnh đoạn (親見本來面目、頓悟無生、便登彼岸、一得永得、一悟永悟、更不復生、輪迴永息、生死永斷, thấy rõ mặt mũi xưa nay, đốn ngộ vô sanh, bèn lên bờ kia, đx chứng mãi chứng, đã ngộ mãi ngộ, lại không sanh nữa, luân hồi chấm dứt, sanh tử mãi đoạn).”
đốn ngộ
Insatantly to apprehend, or attain to Buddha-enlightenment.
; Lý thuyết giác ngộ bất thần do Thiền Nam Tông chủ trương, ngược lại với Thiền Bắc Tông hay phái đại giác tuần tự của Tiểu Thừa. Trường phái nầy do Lục tổ Huệ Năng, tổ thứ sáu của dòng Thiền trung Hoa chủ xướng. Đốn ngộ dành cho những bậc thượng căn thượng trí—The doctrine of “sudden” enlighenment (instantly to apprehend, or attain to Buddha-enlightenment) associated with the Southern school of Zen in China, in contrast with the Northern school of “gradual” enlightenment, or Hinayana or other methods of gradual attainment. This school was founded by the sixth patriarch Hui-Neng. Immediate awakening or Immediate teaching or practice for awakening for the advanced—See Đốn Giáo.
đốn ngộ bồ tát
A Bodhisattva who attains immediately without passing through the various stages.
; Vị Bồ tát có khả năng đạt thành đạo quả tức thì mà không phải trải qua những giai đoạn khác—A bodhisattva who attains immediately without passing through the various stages.
Đốn Ngộ Chơn Tông Kim Cang Bát Nhã Tu Hành Đạt Bỉ Ngạn Pháp Môn Chơn Quyết
(頓悟眞宗金剛般若修行達彼岸法門眞訣, Tongoshinshūkongōhannyashugyōtatsuhiganhōmonshinketsu): 1 quyển, sách cương yếu thuộc hậu kỳ của Bắc Tông Thiền, được viết dưới dạng vấn đáp giữa Cư Sĩ Hầu Mạc Trần Diễm (候莫陳琰) và Thiền Sư Trí Đạt (智達), tuy nhiên theo lời tựa của vị Sắc Sứ Lệ Châu (棣州) Lưu Vô Đắc (劉無得) ghi ngày mồng 5 tháng 11 năm đầu (712) niên hiệu Tiên Thiên (先天) cho biết rằng cả hai là tục danh và pháp danh của cùng một nhân vật, ban đầu theo hầu vị Xà Lê An, sau theo học với Tú Hòa Thượng (秀和尚) và nhận được khẩu quyết; qua điểm này chúng ta có thể suy ra được rằng nó đồng loại với Đại Thừa Khai Tâm Hiển Tánh Đốn Ngộ Chơn Tông Luận (大乘開心顯性頓悟眞宗論). Hơn nữa, tác phẩm này còn có mối quan hệ mật thiết với Sư Tư Thất Tổ Phương Tiện Ngũ Môn (師資七祖方便五門), Trích Cú Trừu Tâm Lục Chi Như Tả (摘句抽心錄之如左), Huệ Viễn Hòa Thượng Đốn Ngộ Đại Thừa Bí Mật Tâm Khế Thiền Môn Pháp (慧遠和尚頓悟大乘祕密心契禪門法), là tư liệu thuộc hậu kỳ của Bắc Tông Thiền đáng chú mục. Bản Đôn Hoàng có 3 loại S5533, P2799, P3922, nhưng bản nào cũng thiếu phần đuôi. Bản dịch tiếng Tây Tạng vẫn hiện tồn.
đốn ngộ nhất thời
Momentariness—Sự Chứng ngộ diễn ra một cách đường đột; và đó là một kinh nghiệm trong nhất thời. Thực sự, không phải là đường đột và nhất thời, thì không phải là ngộ. Đốn là đặc điểm của dòng Thiền Huệ Năng, kể từ khởi nguyên của nó vào cuối thế kỷ thứ bảy. Đối thủ của Ngài là Thần Tú, nhấn mạnh trên sự khai triển tuần tự của tâm thức. Như vậy các đồ đệ của Huệ Năng hiển nhiên là những người tích cực chủ trương giáo lý đốn ngộ. Kinh nghiệm đốn ngộ nầy mở ra một nhãn giới hoàn toàn mới mẻ ngay trong một khoảnh khắc (ekamuhurtena) và toàn thể đời sống bấy giờ được đánh giá từ một quan điểm mới mẻ hẳn—Enlightenment comes upon one abruptly and is a momentary experience. In fact, if it is not abrupt and momentary, it is not enlightenment. This abruptness is what characterizes the Hui-Neng school of Zen ever since its proclamation late in the seventh century. His opponent Shen-Hsiu was insistent on a gradual unfoldment of Zen consciousness. Hui-Neng's followers were thus distinguished as strong upholders of the doctrine of abruptness. This abrupt experience of enlightenment, then, opens up in one moment (ekamuhurtena) an altogehter new vista, and the whole existence appraised from quite a new angle of observation.
Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận
(頓悟入道要門論, Tongonyōdōyōmonron): 2 quyển, còn gọi là Đốn Ngộ Yếu Môn (頓悟要門, Tongoyōmon), do Đại Châu Huệ Hải (大珠慧海) soạn, được san hành vào năm thứ 2 (1369) niên hiệu Hồng Võ (洪武). Quyển thượng là Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận (頓悟入道要門論), quyển hạ là Chư Phương Môn Nhân Tham Vấn Ngữ Lục (諸方門人參問語錄); cả hai được gọi là Đốn Ngộ Yếu Môn hay Đại Châu Thiền Sư Ngữ Lục (大珠禪師語錄). Đây là tác phẩm nhấn mạnh tư tưởng đốn ngộ của Nam Tông Thiền do Lục Tổ Huệ Năng (慧能) khởi xướng. Vào năm thứ 2 (1369) niên hiệu Hồng Võ, Diệu Diệp (妙叶) phát hiện trong hòm sách chỉ có quyển thượng mà thôi, rồi kết hợp biên tập các ngữ cú của Huệ Hải được thâu lục trong quyển 6 và 18 của Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄) để làm thành quyển hạ, thêm vào phụ lục và phần An Tâm Pháp Môn (安心法門) của Đạt Ma (達磨) và hình thành nên bản san hành thời nhà Minh. Hiện tại, nếu suy định từ nội dung tả bản của quyển thượng được tàng trữ tại Kim Trạch Văn Khố (金澤文庫, Kanazawa-bunko), hình như bản này được san hành dưới thời nhà Tống. Bản do Diệu Diệp phát hiện cũng không rõ là san bản hay tả bản. Sách chú thích về tác phẩm này có bản ấn hành của Nham Ba Văn Khố (岩波文庫, Iwanami-bunko) do Vũ Tỉnh Bá Thọ (宇井伯壽, Ui Hakuju) trước tác. Tuy nhiên, về bản Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận này, có nhiều ký thuật song song giống với bản Nam Dương Hòa Thượng Vấn Đáp Tạp Chưng Nghĩa (南陽和尚問答雜徴義, Nanyōoshōmondōzacchōgi), và sự thành lập của nó cũng có rất nhiều vấn đề.
đốn ngộ nhập đạo yếu môn luận
5702凡二卷。唐代大珠慧海撰。收於卍續藏第一一○冊。原爲一卷,現存本則有上、下二卷。下卷又稱諸方門人參問語錄,或稱諸宗所問語錄。卷尾有四明妙叶之跋。妙叶於明洪武二年(1369)偶讀頓悟入道要門論,頗有深悟,不忍私藏,遂將之與景德傳燈錄卷六之大珠章、卷二十八之大珠廣語,及聯燈會要中之初祖菩提達磨大師安心法門等合併刊行;而以後三者作卷下之內容。 本書所引經典有楞伽經、維摩經、遺教經、楞嚴經、佛名經、梵網經、金剛經、涅槃經、金光明經、華嚴經、法華經等,甚至唐代出現之佛說法句經及禪門經、大通方廣等偽經,以及六祖壇經、神會語錄、楞伽師資記、寶林傳等禪錄,或孟子及僧肇之語,均被引用。故由此書即可窺知初期禪宗教學之背景。〔祖堂集卷十四、禪門拈頌集卷八、佛祖歷代通載卷十四、頓悟要門(岩波文庫)〕
; (頓悟入道要門論) Gồm 2 quyển, do ngài Đại châu Tuệ hải soạn vào đời Đường, được đưa vào Vạn tục tạng tập 110. Luận này vốn chỉ có 1 quyển, nhưng bản hiện còn thì chia làm 2 quyển thượng và hạ. Quyển hạ còn gọi là Chư phương môn nhân tham vấn ngữ lục, hoặc gọi Chư tông sở vấn ngữ lục. Ở cuối quyển có lời bạt của ngài Tứ minh Diệu hiệp. Năm Hồng vũ thứ 2 (1369) đời Minh, ngài Diệu hiệp tình cờ đọc luận Đốn ngộ nhập đạo yếu môn, có chỗ giải ngộ sâu xa, không nỡ dấu làm của riêng nên mới lấy chương Đại châu trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 6, Đại châu quảng ngữ trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 28 và Sơ tổ Bồ đề đạt ma đại sư an tâm pháp môn trong Liên đăng hội yếu hợp chung lại rồi ấn hành làm nội dung cho quyển hạ. Trong sách này, soạn giả trích dẫn nhiều kinh điển, như: Kinh Lăng già, kinh Duy ma, kinh Di giáo, kinh Lăng nghiêm, kinh Phật danh, kinh Phạm võng, kinh Kim cương, kinh Niết bàn, kinh Kim quang minh, kinh Hoa nghiêm, kinh Pháp hoa và các ngữ lục như Lục tổ đàn kinh, Thần hội ngữ lục, Lăng già sư tư kí, Bảo lâm truyện, v.v... cho đến các kinh ngụy tác xuất hiện vào đời Đường như Phật thuyết pháp cú kinh cập Thiền môn kinh, Đại thông phương quảng v.v..., hoặc lời nói của Mạnh tử và Tăng triệu đều được trích dẫn. Đọc bộ sách này người ta có thể thấy cái bối cảnh của nền giáo học Thiền tông ở thời kì đầu. [X. Tổ đường tập Q.14; Thiền môn niệm tụng tập Q.8; Phật tổ lịch đại thông tải Q.14; Đốn ngộ yếu môn (Nham ba văn khố)].
đốn ngộ thành phật thuyết
5702主張「悟時即法性至理一體;一悟一切悟,而無階級次第之分」之學說思想。東晉僧道生(355~434)著「頓悟成佛義」,首倡此頓悟成佛說,引起佛教界長期之激烈論爭。慧觀作「漸悟論」,曇無成作「明漸論」等,闡論漸悟之義而駁斥頓悟說,然另有僧肇、支遁等提倡小頓悟義。道生之弟子道猷(道攸)、寶林、法寶等,繼續闡揚其師之論。劉宋文帝在位期間(424~453),曾延請道猷入宮宣講頓悟之義。又慧觀之弟子法瑗,亦提倡頓悟說。謝靈運贊同道生之說,作「辯宗論」,謂華人與夷人之資質有異,佛陀等主張須長期之修行;我國聖人則主張一舉得以與真理一體。至唐代,慧能系之禪僧側重頓悟;神秀系之禪僧則偏重漸悟。蓋依法華經疏卷一、二諦義卷下所載,道生雖說頓悟,然亦不廢頓悟前之漸悟修行。而慧能之弟子中,對道生之說另有批駁。此外,華嚴宗四祖澄觀(738~839),稱揚道生之說,其教學亦頗受道生之影響。 據學者推論,道生頓悟說之思想背景,有其獨特之實相觀;或因其欲與儒家思想相調和,或因受到老莊思想之熏染。至於禪宗之頓悟說與道生之頓悟說,兩者間之關聯,迄今尚無定論,若從一般之研究傾向而言,我國學者通常強調兩者之相關性,日本學者則往往注重兩者之差異性。〔出三藏記集卷十二、卷十五、肇論疏卷上(慧達)、三論遊意義〕
; (頓悟成佛說) Học thuyết chủ trương Ngộ một là ngộ tất cả chứ không chia cấp bậc thứ lớp. Tức ngay khi ngộ được lí nhất thể là thành Phật liền. Ngài Đạo sinh (355 - 434) đời Đông Tấn soạn sách Đốn ngộ thành Phật nghĩa, đề xướng thuyết Đốn ngộ thành Phật đầu tiên tại Trung quốc và đã gây ra cuộc tranh luận rất sôi nổi trong giới Phật giáo đương thời. Ngài Tuệ quán soạn Tiệm ngộ luận, ngài Đàm vô thành soạn Minh tiệm luận, cả hai đều bàn rõ nghĩa tiệm ngộ (giác ngộ dần dần theo thứ lớp) để bài bác thuyết Đốn ngộ (giác ngộ ngay tức khắc); còn các ngài Tăng triệu và Chi độn thì đề xướng ý nghĩa Tiểu đốn ngộ. Đệ tử của ngài Đạo sinh là các sư Đạo du, Bảo lâm, Pháp bảo... thì tiếp tục làm sáng tỏ luận thuyết của thầy mình. Vua Văn đế (ở ngôi 424 - 453) nhà Lưu Tống từng thỉnh sư Đạo du vào cung giảng về nghĩa Đốn ngộ. Đệ tử ngài Tuệ quán là Pháp viện cũng chủ trương thuyết Đốn ngộ. Ông Tạ linh vận soạn Biện tông luận tán đồng thuyết của ngài Đạo sinh, cho rằng tư chất của người Trung quốc khác với người Ấn độ, chư Phật chủ trương phải tu hành lâu dài, Thánh nhân Trung quốc chủ trương trong khoảnh khắc có thể hòa nhập với chân lí nhất thể. Đến đời Đường, các Thiền sư thuộc hệ thống ngài Tuệ năng thì thiên về đốn ngộ, còn các Thiền sư thuộc hệ thống ngài Thần tú thì thiên về tiệm ngộ. Cứ theo Pháp hoa kinh sớ quyển 1 và Nhị đế nghĩa quyển hạ, thì ngài Đạo sinh tuy chủ trương đốn ngộ nhưng cũng không phế bỏ sự tu hành tiệm ngộ trước đốn ngộ, cho nên đã bị đệ tử của ngài Tuệ năng phê bình phản bác. Nhưng ngài Trừng quán (738 - 839) là tổ thứ 4 của tông Hoa nghiêm thì tán dương thuyết Đốn ngộ của ngài Đạo sinh và giáo học của ngài Trừng quán cũng chịu ảnh hưởng ngài Đạo sinh rất nhiều. Theo sự suy luận của các học giả, bối cảnh tư tưởng trong thuyết Đốn ngộ của ngài Đạo sinh có cái nhìn rất đặc biệt về thực tướng; có người cho rằng ngài Đạo sinh muốn điều hòa với tư tưởng Nho gia, có người lại cho vì ngài chịu ảnh hưởng tư tưởng Lão Trang. Còn về mối quan hệ giữa thuyết Đốn ngộ của Thiền tông và thuyết Đốn ngộ của ngài Đạo sinh có hay không thì cho đến nay vẫn chưa có ý kiến quyết định. Theo khuynh hướng nghiên cứu phổ thông, học giả Trung quốc thường nhấn mạnh đến sự tương quan giữa hai thuyết, nhưng giới học giả Nhật bản thì luôn luôn chú trọng sự dị biệt giữa hai thuyết. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.12, Q.15; Triệu luận sớ Q.thượng (Tuệ đạt); Tam luận du ý nghĩa].
đốn ngộ tiệm ngộ
5703 請參閱 大乘開心顯性頓悟真宗論 快速直入究極之覺悟,稱爲頓悟;依順序漸進之覺悟,稱爲漸悟。我國五世紀頃,以涅槃經爲主,產生頓悟成佛、漸悟成佛說之論爭。其後,道生之「頓悟成佛說」由於四十卷涅槃經之譯出而獲得確認。我國禪宗,依使用教義之差異,遂產生不同之宗風,即南方之慧能系(稱南頓)與北方之神秀系(稱北漸)。在法相宗,菩薩不定性者,須經聲聞、緣覺之過程,始能迴心入菩薩道者,稱爲漸悟菩薩,又稱迴心菩薩;菩薩定性者,不須經此過程而能即刻進入菩薩階位者,稱爲頓悟菩薩,又稱直往菩薩、頓大菩薩。〔成唯識論卷九、華嚴經探玄記卷一、成唯識論述記卷一末、卷九末〕
; (頓悟漸悟) Tiến ngay vào cảnh giới giác ngộ chỉ trong khoảnh khắc gọi là Đốn ngộ, còn tiến tới dần dần theo thứ lớp thì gọi là Tiệm ngộ. Tại Trung quốc vào khoảng thế kỷ V, đã phát sinh cuộc tranh luận về thuyết Đốn ngộ thành Phật và Tiệm ngộ thành Phật. Về sau, nhờ kinh Niết bàn 40 quyển dịch ra Hán văn mà thuyết Đốn Ngộ Thành Phật của ngài Đạo sinh được công nhận. Thiền tông Trung quốc, do ứng dụng giáo nghĩa khác nhau mà sản sinh ra tông phong bất đồng: Hệ thống Tổ Tuệ năng ở miền Nam gọi là Nam đốn, hệ thống ngài Thần tú ở miền bắc gọi là Bắc tiệm. Theo tông pháp tướng thì hàng Bồ tát bất định tính phải trải qua quá trình tu hành của Thanh văn, Duyên giác mới có thể hồi tâm tiến vào đạo Bồ tát, gọi là Bồ tát tiệm ngộ hay Bồ tát hồi tâm. Nhưng hàng Bồ tát định tính thì không cần trải qua quá trình tu tập Thanh văn, Duyên giác mà tiến thẳng ngay tức khắc vào giai vị Bồ tát, gọi là Bồ tát trực vãng, hay Bồ tát đốn đại. [X. luận Thành duy thức Q.9; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần cuối, Q.9 phần cuối].
Đốn Ngộ Vô Sanh Bát Nhã Tụng
(頓悟無生般若頌, Tongomushōhannyaju): 1 quyển, do Hà Trạch Thần Hội (荷澤神會) soạn, có tên gọi khác là Hiển Tông Ký (顯宗記).
đốn pháp
The method of immediacy
; Tức thì hiểu biết và giác ngộ, đối lại với tiệm pháp—Immediate apprehension or enlightenment as opposed to gradual development.
đốn thành chư hành
5702「遍成諸行」之對稱。華嚴家謂,依圓融門修行之菩薩,若斷一惑,即斷一切惑;若修一行,即具足一切行,頓成滿道行。
; The immediate fulfilment of all acts, processes or disciplines (by the fulfilment of one)
; Tức thì hoàn thành tất cả các hành—The immediate fulfilment of all acts, processes, or disciplines by the fulfilment of one.
; (頓成諸行) Đối lại với Biến thành chư hạnh. Bồ tát tu hành theo môn Viên dung thì tu một hạnh là đầy đủ tất cả hạnh, đoạn một hoặc là đoạn tất cả hoặc, mau thành đạo hạnh viên mãn. Đây là giáo lí của tông Hoa nghiêm.
đốn tiệm
Immediate, or sudden, attainment in contrast with gradualness.
; (I) Nghĩa của Đốn Tiệm—The meanings of Sudden and Gradual Teaching: Đốn giáo đối lại với tiệm giáo. Đốn giáo và Tiệm giáo là hai trường phái, cùng tiêu biểu cho giáo lý nhà Phật, thích hợp với chúng sanh tùy căn cơ trình độ. Vì vậy đề cao giáo pháp nầy và phỉ báng giáo pháp kia là sự chấp trước điên dại, không thích hợp với người Phật tử—Immediate, or sudden, attainment, in contrast with gradualness. The two schools of Zen, the Gradual and the Sudden, represent different facets of the same teaching adapted to different types of people in different location. To praise one school while disparaging the other is therefore a form of crazy attachment, not appropriate for any Buddhists. (II) “Đốn Tiệm” theo quan điểm của Lục Tổ Huệ Năng trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Phẩm thứ Tư—“Sudden and Gradual Teachings” according to the Sixth Patriarch's point of view in the Dharma Jewel Platform Sutra, Chapter Four: Tổ dạy chúng rằng: “Nầy thiện tri thức! Xưa nay chánh giáo không có đốn tiệm, tánh người tự có lợi độn, người mê thì lần lần khế hợp, người ngộ thời chóng tu, tự biết bổn tâm, tự thấy bổn tánh, tức là không có sai biệt, do đó nên lập ra giả danh đốn tiệm. Nầy thiện tri thức! Pháp môn của ta đây từ trước đến nay, trước lập vô niệm làm tông, vô tướng làm thể, vô trụ làm bổn. Vô tướng là đối với tướng mà lìa tướng; vô niệm là đối với niệm mà không niệm; vô trụ là bản tánh của người. Ở thế gian nào là thiện ác, tốt xấu, cho đến những việc oán cùng với thân, ngôn ngữ xúc chạm, hư dối tranh đua, vân vân, thảy đều đem về không; không nghĩ trả thù hại lại, trong mỗi niệm không nghĩ cảnh trước, nếu niệm trước, niệm hiện tại, niệm sau, trong mỗi niệm tương tục không dứt gọi là hệ phược. Đối trên các pháp mỗi niệm không trụ, tức là không phược, đây là lấy vô trụ làm gốc. Nầy thiện tri thức! Ngoài lìa tất cả tướng gọi là vô tướng, hay lìa nơi tướng, tức là pháp thể thanh tịnh, đây là lấy vô tướng làm thể. Nầy thiện tri thức! Đối trên các cảnh, tâm không nhiễm, gọi là vô niệm. Đối trên niệm thường lìa cảnh, chẳng ở trên cảnh mà sanh tâm. Nếu chỉ trăm vật chẳng nghĩ, niệm phải trừ hết, một niệm dứt tức là chết, rồi sẽ sanh nơi khác, ấy là lầm to. Người học đạo suy nghĩ đó, nếu không biết cái ý của pháp thì tự tâm lầm còn có thể, lại dạy người khác, tự mê không thấy lại còn chê bai kinh Phật, vì thế nên lập vô niệm làm tông. Nầy thiện tri thức! Thế nào là lập vô niệm làm tông? Chỉ vì miệng nói thấy tánh, người mê ở trên cảnh có niệm, trên niệm lại khởi tà kiến, tất cả trần lao vọng tưởng từ đây mà sanh. Tự tánh vốn không một pháp có thể được, nếu có sở đắc, vọng nói họa phước tức là trần lao tà kiến, nên pháp môn nầy lập vô niệm làm tông. Nầy thiện tri thức! Vô là vô việc gì? Niệm là niệm vật nào? Vô đó là không có hai tướng, không có các tâm trần lao; niệm là niệm chân như bản tánh. Chân tức là thể của niệm, niệm tức là dụng của chân như, chân như tự tánh khởi niệm, không phải mắt tai mũi lưỡi hay khởi niệm, chân như có tánh cho nên khởi niệm, chân như nếu không có tánh thì mắt tai sắc thanh chính khi ấy liền hoại. Nầy thiện tri thức! Chân như tự tánh khởi niệm, sáu căn tuy có thấy nghe hiểu biết mà không nhiễm muôn cảnh, mà chơn tánh thường tự tại nên kinh nói: “Hay khéo phân biệt các pháp tướng mà đối với nghĩa đệ nhất không có động.”—The Master instructed the assembly: “Good Knowing Advisors, the right teaching is basically without a division into 'sudden' and 'gradual.' People's natures themselves are sharp or dull. When the confused person who gradually cultivates and the enlightened person who suddenly connects each recognize the original mind and see the original nature, they are no different. Therefore, the terms sudden and gradual are shown to be false names. Good Knowing Advisors, this Dharma-door of mine, from the past onwards, has been established the first with no-thought as its doctrine, no-mark as its substance, and no-dwelling as its basis. No-mark means to be apart from marks while in the midst of marks. No-thought means to be without thought while in the midst of thought. No-dwelling is the basic nature of human beings. In the world of good and evil, attractiveness and ugliness, friendliness and hostility, when faced with language which is offensive, critical, or argumentative, you should treat it all as empty and have no thought of revenge. In every thought, do not think of former states. If past, present, and future thoughts succeed one another without interruption, it is bondage. Not to dwell in dharmas from thought to thought is to be free from bondage. That is to take no-dwelling as the basis. Good Knowing Advisors, to be separate from all outward marks is called 'no-mark.' The ability to be separate from marks is the purity of the Dharma's substance. It is to take no-mark as the substance. Good Knowing Advisors, the non-defilement of the mind in all states is called 'no-thought.' In your thoughts you should always be separate from states; do not give rise to thought about them. If you merely do not think of hundred things, and so completely rid yourself of thought, then as the last thought ceases, you die and undergo rebirth in another place. That is a great mistake, of which students of the Way should take heed. To misinterpret the Dharma and make a mistake yourself might be acceptable but to exhort others to do the same is unacceptable. In your own confusion you do not see, and, moreover, you slander the Buddha's Sutras. Therefore, no-thought is to be established as the doctrine. Good Knowing Advisors, why is no-thought established as the doctrine? Because there are confused people who speak of seeing their own nature, and yet they produce thought with regard to states. Their thoughts cause deviant views to arise, and from that, all defilement and false thinking are created. Originally, not one single dharma can be obtained in the self-nature. If there is something to attain, or false talk of misfortune and blessing, that is just defilement and deviant views. Therefore, this Dharma-door establishes no-thought as its doctrine. Good Knowing Advisors, 'No' means no what? 'Thought' means thought of what? 'No' means two marks, no thought of defilement. 'Thought' means thought of the original nature of True Suchness. True Suchness is the substance of thought and thought is the function of True Suchness. The True Suchness self-nature gives rise to thought. It is not the eye, ear, nose, or tongue which can think. The True Suchness possesses a nature and therefore gives rise to thought. Without True Suchness, the eye, ear, forms, and sounds immediately go bad. Good Knowing Advisors, the True Suchness self-nature gives rise to thought, and the six faculties, although they see, hear, feel, and know, are not defiled by the ten thousand states. Your true nature is eternally independent. Therefore, the Vimalakirti Sutra says, ''If one is well able to discriminate all dharma marks, then, in the primary meaning, one does not move.'”
đốn tiệm nhị giáo
5704不依次第,快速到達覺悟之教法,稱爲頓教;依順序漸進,經長時間修行而覺悟者,稱爲漸教。若以教法形式觀之,開始即講說深奧之內容,稱爲頓教;而自淺顯內容次第講說進入深奧內容者,則稱爲漸教。上述爲一般教判之標準,即以受教之根機而論,或由佛陀說法之方法與內容區別之。又南北朝諸師之頓漸二教判中,以天台之頓、漸、祕密、不定等四教,及華嚴五教判之第四最爲著名。此外,我國禪宗南北二系於證悟過程之旨趣互異,南方慧能系主張速疾直入究極之悟,世稱「南頓」;北方神秀系則強調依序漸進之悟,世稱「北漸」,此即禪宗之頓漸二教。
; (頓漸二教) Đốn giáo và Tiệm giáo. Giáo pháp không theo thứ lớp mà giúp người tu hành đạt đến giác ngộ một cách nhanh chóng, gọi là Đốn giáo; còn giáo pháp phải theo thứ lớp tu hành dần dần trong thời gian dài mới đạt được quả Phật thì gọi là Tiệm giáo. Nói theo hình thức thuyết pháp thì ngay từ lúc đầu đã tuyên giảng giáo pháp sâu xa vi diệu thì gọi là Đốn giáo, còn theo thứ lớp nói dần dần từ cạn đến sâu thì gọi là Tiệm giáo. Đây là tiêu chuẩn phán giáo thông thường, tức là tùy theo căn cơ của chúng sinh, hoặc do phương pháp giảng thuyết và nội dung giáo pháp của đức Phật nói mà phân biệt Đốn giáo, Tiệm giáo. Ngoài ra, Thiền tông Trung quốc đối với quá trình chứng ngộ, hai hệ thống Nam và Bắc có khác nhau: Hệ thống ngài Tuệ năng ở phương Nam chủ trương chứng ngộ ngay tức khắc, cho nên được gọi là Nam đốn; còn hệ thống của ngài Thần tú ở phương Bắc thì chủ trương chứng ngộ dần dần theo thứ lớp, cho nên được gọi là Bắc tiệm.
đốn tiệm tu hành
Two views of realization: 1) Đốn ngộ: Ngộ tức thì hoặc ngay lúc thực tập—Sudden or Instantaneous realization—Realization occurs at the time of practice. 2) Tiệm ngộ: Chứng ngộ từ từ theo tiến trình tu tập—Gradual realization—Realization occurs gradually as a process continuing over a period of long line of moments.
đốn trung đốn
5702<一>謂頓教中之頓教。天台宗於所立化法四教中,歎美圓教之語。止觀輔行傳弘決卷一之五(大四六‧一七七上):「別教妙覺是漸中頓,(中略)圓教初後是頓中頓。」 <一>日本淨土宗稱讚自宗之詞。日本淨土家謂,罪惡凡夫可乘佛之本願力,出離三界之長夜,往生淨土,直證無生,故稱頓中頓。〔愚禿鈔卷上、淨土宗要卷二〕
; (頓中頓) I. Đốn Trung Đốn. Đốn giáo trong Đốn giáo, tức là Viên giáo, một trong bốn giáo hóa pháp do tông Thiên thai đặt ra. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 1 phần 5 (Đại 46, 177 thượng), nói: Biệt giáo diệu giác là Tiệm trong Đốn (...) Viên giáo sơ hậu là Đốn trong Đốn. II. Đốn Trung Đốn. Tiếng dùng của tông Tịnh độ Nhật bản. Tông này chủ trương kẻ phàm phu tội ác có thể nương nhờ sức bản nguyện của đức Phật A di đà mà được ra khỏi ba cõi, sinh về Tịnh độ chứng ngay quả vô sinh, nên gọi là Đốn trung đốn (Đốn trong đốn). [X. Ngu thốc sao Q.thượng; Tịnh độ tông yếu Q.2].
đốn tả
5704迅速書寫經典之謂。法華傳記卷八記載唐代永徽(650~655)年間,僧法雇用書生四十人,於一日之中,書成法華經,以救濟同道僧行免受地獄之苦,此即我國頓寫會之始例。日本自平安時代以來即盛行此類儀式。中右記嘉保三年(1096)三月十八日條,即有一日中書寫成一切經之記載。江戶時代,以琵琶彈唱平家物語(故事),而於每節之間書寫法華經,此種法會亦稱頓寫會。此外,頓寫所完成之經典,即稱爲頓寫經;又係於一日之內進行者,故亦稱一日經。在禪宗,亦有頓寫之法會儀式。〔禪林象器箋喪薦門〕(參閱「一日經」26、「寫經」5979)
; See Đốn Kinh.
; (頓寫) Biên chép kinh điển một cách nhanh chóng. Cứ theo Pháp hoa truyện kí quyển 8 ghi, thì khoảng năm Vĩnh trưng (650 - 655) đời Đường, ngài Tăng pháp thuê 40 thư sinh chép xong bộ kinh Pháp hoa trong một ngày để cứu bạn đồng đạo là Tăng hành thoát khỏi cảnh khổ địa ngục. Đây là hội chép kinh nhanh đầu tiên ở Trung quốc. Tại Nhật bản, từ thời đại Bình an đến nay hình thức chép kinh loại này cũng rất phổ biến. Trung hữu kí có ghi: Ngày 18 tháng 3 năm Gia bảo thứ 3 (1096) chỉ trong một ngày chép xong tất cả kinh. Thời Giang hộ, người ta dùng đàn Tì bà để xướng Bình gia vật ngữ (truyện cổ), trong mỗi tiết chép xong từng đoạn kinh Pháp hoa, pháp hội này cũng được gọi là Hội chép kinh nhanh. Ngoài ra, những kinh điển do chép nhanh mà được hoàn thành gọi là Đốn tả kinh; còn những kinh được chép xong chỉ trong một ngày thì gọi là Nhất nhật kinh. Thiền tông cũng có pháp hội chép kinh nhanh. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Tang tiến môn]. (xt. Nhất Nhật Kinh, Tả Kinh).
đốn viên
The immediate and complete way of enlightenment of Thiên Thai Pháp Hoa school.
; Đốn giáo và Viên giáo, hay con đường đi đến giác ngộ của tông Thiên Thai, trường phái Pháp Hoa—The immediate and complete way of enlightenment of the T'ien-T'ai Lotus School.
đốn đoạn
5704煩惱一時斷滅,稱爲頓斷;若經長時間漸次破除煩惱,則稱漸斷。以見、思二惑爲例,斷除見惑,猶如破石,是爲頓斷;斷除思惑,猶如藕絲,是爲漸斷。於天台宗,三藏教菩薩經過三祇百劫,煩惱猶未斷盡,至最後身,方以三十四心頓斷見、思,及其習氣等煩惱。
; To cut off at one stroke all the passions,etc.
; Cắt đứt ngay tức khắc tất cả mọi phiền não—To cut off at once stroke all the passions.
; (頓斷) Đoạn trừ phiền não ngay tức khắc gọi là Đốn đoạn; nếu đoạn trừ dần dần theo thứ lớp trong thời gian dài thì gọi là Tiệm đoạn. Hãy lấy Kiến hoặc, Tư hoặc làm ví dụ: Đoạn trừ Kiến hoặc giống như đập đá vỡ ngay, đó là Đốn đoạn; Đoạn trừ Tư hoặc giống như dứt tơ ngó sen, đó là Tiệm đoạn. Theo tông Thiên thai, Bồ tát của Tam tạng giáo trải qua ba A tăng kì và 100 kiếp vẫn chưa dứt hết phiền não, đến thân cuối cùng mới dùng 34 tâm dứt ngay Kiến, Tư hoặc và tập khí của phiền não.
đốn đại
5702指華嚴經。頓,頓教;大,大乘教。以華嚴宗之觀點而言,華嚴經乃佛於成道之初,對於頓入之菩薩所說之大乘教,故稱頓大。
; Đốn giáo Đại Thừa, chỉ Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh khi Đức Phật mới thành đạo, đốn thuyết Đại Thừa giáo cho các vị Bồ Tát đốn nhập—The Immediate school and sutra of the Mahayana, i.e. the Hua-Yen.
; (頓大) Chỉ cho kinh Hoa nghiêm. Đốn là đốn giáo; Đại là Đại thừa giáo. Theo quan điểm của tông Hoa nghiêm thì kinh Hoa nghiêm thuộc về Đại thừa giáo; đức Phật lúc mới thành đạo, tuyên nói kinh này cho hàng Bồ tát đốn nhập nghe, cho nên gọi là Đốn đại.
đốn định
Vào thiền định và tập trung tư tưởng tức thì—To enter dhyana with immediate concentration—To concentrate immediately.
đốn đốn viên
Thuyết tức thì giác ngộ của tông Hoa Nghiêm, từ được Ngài Trừng Quán dùng khi ngài bỏ tông Pháp Hoa để qua tông Hoa Nghiêm—Instantaneous perfect enlightenment of the Hua-Yen, a term used by Ch'êng-Kuan, who left the Lotus for the Hua-Yen.
đốt
1578指牽船聲,或出力所發之聲,或驀地尋見失物時所發之聲。禪籍中用於表示禪僧頓然大悟時,不覺發出之一種聲音;意謂失物得見,慶快平生。禪宗頌古聯珠通集卷十六長沙景岑條(卍續一一五‧九六下):「『你作麼生用?』師劈胷(胸)與一踏。山曰:『㘞!』」又「玉篇」明載「㘞,戶臥切」,即表阿字去聲之呼音。譬如忽然尋見失物,不覺發此「㘞」聲。禪門多言此字者,譬如禪僧尋師訪道,參究二三十年,忽然心鏡澈亮,會得此事,不覺「㘞」地一聲。禪關策進(大四八‧一○九九下):「首座入堂燒香,打香盒作聲,忽然㘞地一聲,識得自己。」故「㘞地一下」、「㘞地一聲」為禪林表示徹底大悟之常用語。〔碧巖錄第八十一則評唱、廬山蓮宗寶鑑卷十、五燈會元卷四〕
đốt hương
To burn incense.
đốt nhang
See Đốt Hương.
đồ
4781悉曇字???(ḍha)。悉曇五十字門之一。又作茶、嗏、搽、拏、那、曩、吒、陀、
; 1) Bản đồ: A map—A plan. 2) Con đường: A road—Way. 3) Đồ án: Phương cách—Method. 4) Đồ đệ: A follower—A disciple. 5) Sát hại—To butcher—To kill. 6) Sơn phết hay chà xát: To smear or rub.
; (荼) Cũng gọi: Trà, Noa, Na, Nẵng, Tra, Đà, Sá, Trạch, Đảm, Định, Đàn, Trạc. Chữ Tất đàm (đha). Là một trong 52 tự môn, chữ cuối cùng trong 42 chữ cái của tiếng Phạm nói trong các kinh Hoa nghiêm, Bát nhã, là âm lưỡi thứ 3 trong 5 loại thanh của phụ âm. Chữ Đồ giải thích theo nghĩa nông cạn là nắm giữ, theo nghĩa sâu xa là kín nhiệm, là nắm giữ chẳng thể được. Đại nhật kinh sớ quyển 7 cho rằng nắm giữ là chuyển thích từ tiếng Phạmđhaôka. Còn kinh Quang tán bát nhã quyển 7 và kinh Phóng quang bát nhã quyển 4 thì giải thích là tận cùng. Cho nên chữ Đồ là chữ cuối cùng của tất cả các chữ cái, ngoài chữ này không còn chữ nào nữa. Tông Thiên thai dùng 42 chữ cái phối với 42 giai vị của thừa Bồ tát: chữ A biểu thị Sơ trụ, chữ Đồ biểu thị Diệu giác. [X. kinh Đại nhật Q.2; phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng; luận Đại trí độ Q.48].
đồ chúng
The company of disciples.
đồ cát
Xoa hương vào tay, và cắt đứt tay là hai thái cực biểu lộ thương và ghét (Phật lấy hai hình ảnh nầy để ví với hai loại nhân duyên ân oán)—To anoint the hand, or cut it off, instances of love and hatred.
đồ cát ni
4781梵名Ḍākinī。意譯空行母。又作拏吉寧、拏吉尼、拏枳儞、荼耆尼、荼枳尼、荼吉儞、陀祇尼、吒枳尼。列於密教現圖胎藏界曼荼羅外金剛部院之南方,閻魔天之左側;計有三天鬼及一偃臥鬼。其形像為:三天鬼之中央者,周身赤肉色,右手持人足,開口食之,左手持人臂;其右方之鬼,左手持刀,右手豎肘,食指向右,餘四指彎屈執鉢;其左方之鬼,左手屈臂,握拳當胸,右手豎肘持鉢;偃臥鬼則偃臥於三天鬼之前,閉目、怒髮而聳立,二手置於身側。種子為???(haṃ),三昧耶形為劫波羅(梵 kapāla,即鉢)。據大日經疏卷十載,荼吉尼係大黑神之眷屬、夜叉鬼之一;有自在之神通力,能於六個月前得知人之死期,遂預先取食其心,而代之以他物,直至此人合當命終時,始告敗壞;蓋修此法者可得神通、大成就;毘盧遮那佛為除此眾,故以降伏三世之法門,化作大黑神而收攝之,令彼皆歸命於佛。 荼吉尼後來成為印度左道密教「瑜伽行派」所崇信之神祇,該派行五摩字(梵 pañ ca ma-kāra)瑜伽行,此五摩字為:肉(梵 māṃsa)、魚(梵 matsya)、酒(梵 madya)、印(梵 mudrā)、交合(梵 maithuna),即食肉、食魚、飲酒、結印、雜交以得至樂。其後,該教派傳入西藏,信徒奉其神為智荼吉尼(藏 Ye-śes-kyi mkhaḥ ḥgro-ma)之外,尚有佛陀荼吉尼(梵 Buddha-ḍākinī)、金剛荼吉尼(梵 Vajra-ḍākinī)等。荼吉尼法原為印度外道所盛行,密教為攝受彼外道,乃謂佛亦說此法;我國所傳譯之經軌中無之,而日本則仍盛行此法,且出種種經軌,尤以狐精為其本體。其經軌有阿羅婆沙曩吒枳尼經、相歡陀羅尼經、刀自女經、神驗咒王經、辰狐本因緣經、吒枳尼旃陀利王經等,皆未列於大藏中。〔大悲空智金剛大教王儀軌經、最上根本大樂金剛不空三昧大教王經卷三外金剛部儀軌分、大日經卷二、大日經義釋卷七〕
; Dakini (skt)—Còn gọi là Đồ Chỉ Ni, Nã Cát Nhĩ, hay Xá Chỉ Ni,Dạ Xoa hay quỷ nói chung, nhưng đặc biệt là loại quỷ chuyên moi móc tim gan người để luyện ma thuật tà thuật—Yaksas or demons in general, but especially those which eat a man's vitals; they are invoked in witchcraft to obtain power.
; (荼吉尼) Phạm: Đàkinì. Dịch ý: Không hành mẫu. Cũng gọi Noa cát ninh, Noa cát ni, Noa chỉ nễ, Đồ kì ni, Đồ chỉ ni, Đồ cát nễ, Đà kì ni, Tra chỉ ni. Nhóm 3 thiên quỉ (quỉ trời) ngồi và một quỉ nằm ngửa được bày ở bên trái Diêm ma thiên, phía nam viện Kim cương bộ ngoài trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Về hình tượng: Quỉ ở giữa toàn thân mầu đỏ, tay phải cầm chân người, đang há miệng ăn, tay trái cầm cánh tay người; quỉ bên phải, tay trái cầm dao, khuỷu tay phải dựng lên, ngón trỏ xoay về bên phải, bốn ngón kia co lại cầm bát; quỉ bên trái, cánh tay trái co lại, nắm tay để trước ngực, khuỷu tay phải dựng lên cầm bát; quỉ nằm ngửa thì nằm trước mặt ba thiên quỉ, mắt nhắm, tóc dựng ngược, hai tay đặt thẳng theo thân. Chủng tử là (haô), hình tam muội da là cái bát (Phạm:kapàla). Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 10, thì Đồ cát ni là họ hàng của Đại hắc thần (Thần đen kịt), một trong các quỉ Dạ xoa, có sức thần thông tự tại, biết được ngày chết của người ta trước 6 tháng, nên chuẩn bị trước để ăn trái tim của người ấy và dùng vật khác thay thế vào. Đến đúng lúc người ấy hấp hối thì vật tráo mới hư nát. Người tu pháp Đồ cát ni, nếu thành tựu, có thể được đại thần thông. Để trừ nhóm ác quỉ này, đức Phật Tì lô giá na dùng pháp môn Hàng phục tam thế hóa làm Đại hắc thần để thu nhiếp họ, khiến họ đều quy y Phật. Pháp Đồ cát ni vốn là của ngoại đạo Ấn độ, được phái Mật giáo tả đạo thu dụng. Về sau, giáo phái này được truyền vào Tây tạng. Trong các kinh và nghi quĩ được truyền dịch ở Trung quốc, không thấy có pháp Đồ cát ni, nhưng nó lại được thịnh hành ở Nhật bản và nhiều kinh quĩ đã được ngụy tạo. [X. kinh Đại bi không trí kim cương đại giáo vương nghi quĩ; phần Ngoại kim cương bộ nghi quĩ trong kinh Tối thượng căn bản đại lạc kim cương bất không tam muội đại giáo vương Q.3; kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7].
đồ cô
Hai hạng đồ tể và bán hàng rong. Chiên Đà La là tên gọi của người thuộc giai cấp thấp nhất trong xã hội thời Đức Phật còn tại thế—Butcher and huckster. Candala is the “generic name for a man of lowest and most despite tribe in Indian society during the Buddha's time.”
đồ hôi ngoại đạo
5419塗灰,梵名 Bhasman。又作灰塗外道。或稱獸主外道(梵 Pāśupata)、牛主外道。古代印度外道之一。即遍身塗灰,以苦行求昇天,崇拜大自在天之一派。此外道以大自在天(梵 Maheśvara)爲萬物之創造神,其全身塗灰,飲糠汁沸湯,持牛、狗、雞、雉等戒,殺羊祀彼天,執此爲解脫之因。自在天又稱獸主,此外道學彼天之法,故又稱獸主外道、牛主外道。〔北本涅槃經卷十六、華嚴經隨疏演義鈔卷十三、俱舍論光記卷九〕
; Pamsupatas, or Pasupatas (skt)—Đồ đệ của phái ngoại đạo bôi tro—Followers of Siva, Saiva ascetics; a class of heretics who smeared themselves with ashes.
; (塗灰外道) Đồ khôi, Phạm: Bhasman. Cũng gọi Khôi đồ ngoại đạo, Thú chủ ngoại đạo (Phạm: Pàzupata), Ngưu chủ ngoại đạo. Phái ngoại đạo này tu khổ hạnh để cầu sinh lên cõi trời, thường lấy tro bôi (đồ khôi) lên khắp mình. Là một trong các ngoại đạo của Ấn độ đời xưa. Phái này thờ trời Đại tự tại (Phạm: Mahezvara), cho trời này là thần sáng tạo ra muôn vật. Họ bôi tro lên toàn thân, uống nước nấu với vỏ trấu, giữ các giới bò, chó, gà, chim v.v..., giết dê cúng trời Đại tự tại, cho rằng đó là nhân của sự giải thoát. Trời Đại tự tại còn được gọi là Thú chủ (chủ của loài thú), phái ngoại đạo này học pháp của trời Đại tự tại nên cũng gọi là Thú chủ ngoại đạo, Ngưu chủ ngoại đạo. [X. kinh Niết bàn Q.16 (bản Bắc); Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.13; Câu xá luận quang kí Q.9].
đồ hương
5419梵語 vilepana。又作塗身香、塗妙香。以香塗身,以消除臭氣或惱熱。印度自古暑熱甚烈,人體易生臭氣,其地風俗遂以旃檀等香擣成粉末,和水調之,用塗其身。然於佛制中,規定比丘及沙彌等,不得塗香或戴著香花鬘。諸經亦謂,出家之人應以戒及禪定淨除其心之垢,以替代世俗人所用之塗香。但若以塗香供養諸佛、菩薩,則能獲甚大功德,故密教中以之與閼伽、華鬘、燒香、飲食、燈明等並稱六種供養;然須依各部(佛部、蓮華部、金剛部)之別而供以不同之塗香。供養時,應結塗香印,口誦真言,而以各符其類之塗香供養之。〔毘尼母經卷五、金剛頂經瑜伽修習毘盧遮那三摩地法、蘇悉地羯囉經卷上塗香藥品、大智度論卷九十三〕(參閱「香」4005)
; Xoa hương lễ Phật—To rub the body with incense or scent to worship Buddha.
; (塗香) Phạm: Vilepana. Cũng gọi Đồ thân hương, Đồ diệu hương. Thoa hương cho thân mình thơm tho. Ấn độ từ xưa khí hậu rất nóng bức, người ta dễ đổ mồ hôi, nên phong tục xứ này thường lấy các thứ hương như chiên đàn v.v... nghiền thành bột, hòa với nước, dùng để thoa lên mình cho thơm. Nhưng đức Phật chế giới, qui định tỉ khưu và sa di v.v... không được thoa hương hoặc đeo, đội tràng hoa thơm. Các kinh cũng nói, người xuất gia nên dùng giới và thiền định trừ sạch cáu bẩn của tâm mình để thay thế cho cách đeo hoa, thoa hương mà người ngoài đời dùng. Nhưng nếu dâng hương thoa cúng dường chư Phật, Bồ tát thì sẽ được công đức rất lớn. Cho nên Mật giáo gọi chung đồ hương, át già (nước trong), tràng hoa, hương đốt, thức ăn uống, đèn sáng là 6 thứ cúng dường, nhưng phải tùy theo các bộ bất đồng (Phật bộ, Liên hoa bộ, Kim cương bộ) mà cúng dường các loại đồ hương khác nhau. [X. kinh Tì ni mẫu Q.5; Kim cương đính kinh du già tu tập Tì lô giá na tam ma địa pháp; phẩm Đồ hương dược trong kinh Tô tất địa yết ra Q.thượng; luận Đại trí độ Q.93]. (xt. Hương).
đồ lô đàn na
Dronodana (skt)—See Hộc Phạn Vương.
đồ lăng huyện, úc sơn chủ
Tu-Ling-Huen-Yu (?-1049). • Đồ Lăng Huyện, Úc sơn chủ là đệ tử của Dương kỳ, thường cúng thực cho các Thiền Tăng trên đường hành cước mỗi khi ngang qua chùa của sư. Một hôm sư tiếp đón một thầy Tăng từ Dương Kỳ đến và hỏi tông chỉ Thiền của Tổ sư của Thầy Tăng là gì? Thầy Tăng nói: “Sư tổ của tôi thường hay hỏi môn đồ như sau, 'có một thầy Tăng hỏi Pháp Đăng trăm thước đầu gậy làm sao bước tới?' Pháp Đăng bảo, 'Á!'” Khi Đồ Lăng Huyện Úc nghe chuyện nầy, suy nghĩ rất nhiều. Một hôm được mời ra ngoài, Đồ Lăng cưỡi một con lừa khập khiểng, khi băng qua một cây cầu, con lừa bị kẹt chân vào một cái lỗ, khiến sư bị té nhào. Sư la lên “Á!” Hốt nhiên tiếng la đánh thức cái ý bị che khuất của mình, và sư tỏ ngộ. Sư làm bài kệ giải bày: “Ngã hữu thần châu nhất lõa Cửu bị trần lao cơ tỏa Kim triêu trần tận quang minh Chiếu kiến sơn hà vạn đóa. (Ta có thần châu một hạt Lâu bị bụi mờ che khuất Ngày nay sạch bụi sáng trưng Soi thấy nghìn trùng non nước). Tu-Ling-Hsuen-Yu, a disciple of Yang-Chi, used to feed Zen monks on pilgrimage, who passed by his temple. One day he entertained a monk from Yang-Chi and asked what his master's teaching of Zen was. The monk said: “My master would usually ask his pupils the following: A monk came to Fa-Têng and asked, 'How should one advance a step when he comes to the end of a pole one hundred feet long?' Fa-Têng said: 'Oh'” When Tu-Ling Hsuen-Yu was told of this story, it made him think a great deal. One day being invited out, Tu-Ling rode on a lame donkey, and when he was crossing a bridge the donkey got one of its legs caught in a hole, and this at once overthrew the rider on the ground. He loudly exclaimed 'Oh!' and evidently the exclamation waked up his hidden consciousness to a state of enlightenment. The verse gives vent to his experience: “I have one jewel shining bright, Long buried it was underneath worldly worries This morning the dusty veil is off, And restored its lustre, Illuminating the blue mountains in endlessundulations.
Đồ Nhiên Thảo
(徒然草, Tsurezuregusa): cuốn tùy bút viết vào khoảng thời đại Liêm Thương, 2 quyển, tác giả là Pháp Sư Cát Điền Kiêm Hảo (吉田兼好, Yoshida Kenkō, 1283?-1352), là tác phẩm được ghi lại trong khoảng thời gian trước khi ông xuất gia từ năm 1310 đến 1331. Cùng với Chẩm Thảo Tử (枕草子, Makura-no-sōshi) của Thanh Thiếu Nạp Ngôn (清少納言, Seishō Nagon, 966?-1025?), Phương Trượng Ký (方丈記, Hōjōki) của Áp Trường Minh (鴨長明, Kamo-no-Chōmei, 1155-1216), bộ tùy bút này được đánh giá là ba tác phẩm tuyệt bích về mặt văn học tùy bút của Nhật Bản. Có nhiều thuyết khác nhau về tác phẩm này, nhưng thuyết chính cho rằng bộ này được thâu tập vào khoảng cuối thời thời kỳ Liêm Thương, từ tháng 8 năm 1330 đến tháng 9 năm 1331, được hình thành bởi 244 đoạn. Thể văn chính trong đó là Hán-Nhật hỗn đồng. Về tên của tác phẩm, Đồ Nhiên (徒然, tsurezure) có nghĩa là “việc cần làm không còn nữa, cứ thỏng tay ung dung tự tại như vậy”. Một số sách chú thích về tác phẩm này có Đồ Nhiên Thảo Sao (徒然草抄, 1661) của Gia Đằng Bàn Trai (加藤磐齋, Katō Bansai, 1621-1674) thời Giang Hộ, Đồ Nhiên Thảo Văn Đoạn Sao (徒然草文段抄) của Bắc Thôn Quý Ngâm (北村季吟, Kitamura Kigin, 1625-1705), tạo ảnh hưởng rất to lớn đối với văn hóa thời Giang Hộ. Vì vậy tả bản dưới thời kỳ này rất nhiều; nhưng đến thời đại Thất Đinh thì hiếm hoi. Đây là tác phẩm mang tính sử liệu lịch sử, nên được sử dụng khá phổ biến.
Đồ nhiên 徒然
[ja] トゼン tozen ||| In vain; uselessly. => Vô ích, vô dụng.
Đồ sức hương man 塗飾香鬘
[ja] ズショクコウマン zushoku kōman ||| Decorating oneself with jewelry and an perfume, which is not permitted by members of the Buddhist clergy, and is proscribed in the ten precepts. => Tự trang điểm mình bằng châu báu và hương thơm, giới tăng sĩ Phật giáo Không được làm điều nầy, là một trong 10 giới cấm.
Đồ Sử
(圖史): chỉ cho Đồ Thư và Sử Thư. Như trong bài Tống Văn Hoàng Đế Nguyên Hoàng Hậu Ai Sách Văn (宋文皇帝元皇后哀策文) của Nhan Diên Chi (顏延之, 384-456) nhà Tống thời Nam Triều có câu: “Tấn tư tài thục, bàng tổng Đồ Sử (進思才淑、傍綜圖史, xét cùng tài năng và hiền thục, tổng hợp cả Đồ Thư và Sử Thư).” Hay trong Cựu Đường Thư (舊唐書), Truyện Tống Cảnh (宋璟傳), có đoạn: “Thả Thương Ngô chi dã, Li Sơn chi đồ, thiện ác phân khu, Đồ Sử sở tải (且蒼梧之野、驪山之徒、善惡分區、圖史所載, vả lại cánh đồng Thương Ngô, tội đồ Li Sơn, thiện ác phân rõ, sách sử có ghi).”
đồ tì
4781巴利語 jhāpita。又作闍維、闍毘、耶維、耶旬。意譯為燒燃、燒身、焚燒、燒。即火葬之意。行荼毘之火葬場即稱為荼毘所。火葬法於佛陀以前即行於印度,原為僧人死後,處理屍體之方法,佛教東漸後,中國、日本亦多用之。流行於中國叢林之俗語,則稱為「送往生」。〔長阿含卷三遊行經、有部毘奈耶藥事卷九、釋氏要覽卷下、玄應音義卷五〕(參閱「葬」5593)
; (荼毗) Pàli: Jhàpita. Cũng gọi: Xà duy, Xà tì, Da duy, Da tuần. Dịch ý: Thiêu nhiên, thiêu nhân, phần thiêu, thiêu, nghĩa là hỏa táng. Nơi cử hành Đồ tỳ gọi là Đồ tỳ sở. Phương pháp hỏa táng đã được thực hành tại Ấn độ từ trước thời đức Phật, về sau, Phật giáo cũng thu dụng. Sau khi Phật giáo được truyền đến Trung quốc và Nhật bản thì phần nhiều phương pháp này cũng được dùng theo. Trong các tùng lâm Trung quốc, Đồ tì thường được gọi là Tống vãng sinh. [X. kinh Du hành trong Trường a hàm Q.3; Hữu bộ tì nại da dược sự Q.9; Thích thị yếu lãm Q.hạ; Huyền ứng âm nghĩa Q.5]. (xt. Táng).
đồ túc dầu
Phái ngoại đạo xoa dầu dưới chân để tránh bệnh hoạn—Oil rubbed on the feet to avoid disease.
đồ tượng
5761日本佛教用語。指繪佛菩薩形像之圖。又稱描本圖像。通常爲白描線條,較重要者,則書寫記錄帖而祕藏之。圖像集之內容爲各種曼荼羅圖、別尊圖、壇、供養具、祖師像等。於密教,事相之傳承極其複雜,故其台帖圖像類亦極繁多。早期空海之祕藏記、真寂之諸說不同記,皆爲研究圖像之著作。平安末期至鎌倉初期,所整理、編集之圖像集有:尊容抄、別尊雜記、覺禪抄、阿娑縛抄。描本圖像大多已散軼,其餘則分別藏於醍醐寺、仁和寺、教王護國寺、高山寺、石山寺、高野山等。巧於繪畫之僧人極多,其後繪佛師亦參與圖像之作。由於圓珍攜至日本之胎藏舊圖像與五部心觀,數度被輾轉模寫,致使後世圖像之研究更趨複雜化。
; (圖像) Cũng gọi Miêu bản đồ tượng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho các bức tranh vẽ tượng Phật, Bồ tát, Tổ sư, hình mạn đồ la, Biệt tôn, đàn, vật cúng dường v.v... Thông thường vẽ các đường nét, không tô mầu, bức nào quan trọng thì vẽ trên lụa để cất kĩ. Trong Mật giáo, sự truyền thừa về sự tướng rất phức tạp, cho nên cũng có khá nhiều loại đồ tượng. Các tác phẩm ở thời kì đầu như: Bí tạng kí của sư Không hải, Chư thuyết bất đồng kí của sư Chân tịch đều là những công trình nghiên cứu về đồ tượng. Các tập đồ tượng được chỉnh lí, biên tập từ cuối thời kì Bình an đến đầu thời kì Liêm thương thì có: Tôn dung sao, Biệt tôn tạp kí, Giác thiền sao, A sa phọc sao... Các Miêu bản đồ tượng phần lớn đã bị thất lạc, số còn lại thì được chia ra để cất giữ tại các chùa: Đề hồ, Nhân hòa, Giáo vương hộ quốc, Cao sơn, Thạch sơn và núi Cao dã... Thời đó, có rất nhiều vị tăng họa sĩ giỏi, chuyên vẽ tranh Phật, về sau cũng tham dự việc tạo tác đồ tượng. Ngoài ra, các đồ tượng của Thai tạng giới và Ngũ bộ tâm quán cũ do ngài Viên trân mang từ Trung quốc về Nhật bản đã được sao vẽ phỏng theo lại nhiều lần làm cho việc nghiên cứu về đồ tượng ở đời sau càng thêm phức tạp.
đồ tượng sao
5761凡十卷。日本真言宗僧惠什撰。又稱尊容鈔、惠什鈔、十卷抄。本書類聚諸尊之梵號、密號、種子、三形、道場觀、印契及真言,且繪出諸尊之形像與曼荼羅,並述密供之次第。依今京都鳴瀧常樂院所藏之古寫本,其內容分爲諸佛部、經部、諸菩薩部、觀音部、忿怒部、諸天部等六部,總爲百尊六法。
; (圖像鈔) Cũng gọi Tôn dung sao, Huệ thập sao, Thập quyển sao. Gồm 10 quyển, do ngài Huệ thập thuộc tông Chân ngôn Nhật bản soạn. Sách này nói rõ về tên tiếng Phạm, mật hiệu, chủng tử, hình tam muội da, đạo tràng quán, ấn khế, chân ngôn, hình tượng của chư tôn và các loại mạn đồ la; đồng thời, trình bày về pháp cúng dường theo thứ tự trong Mật giáo. Theo bản chép tay (Đồ tượng sao) hiện được cất giữ ở viện Thường lạc tại Minh lang, Kinh đô (Kyoto) thì nội dung sách này chia làm 6 bộ: Chư Phật bộ, Kinh bộ, Chư Bồ tát bộ, Quan âm bộ, Phẫn nộ bộ và Chư thiên bộ, tổng cộng gồm 100 vị tôn và 6 pháp.
Đồ tượng sao 圖像抄
[ja] ズゾウショウ Zuzō shō ||| The Zuzō shō (Iconographic Selections). 10 fasc. [TZ.3006.3.1-57], alt. Ten Fascicle Selection 十卷抄, compiled by Yōgen 永嚴 and Ejū 惠什 in 1135. The first comprehensive iconographic treatise produced in Japan. Iconographic forms are classified under the following six headings: Buddhas 諸$佛, Rites of Various Sutras 諸經法, Bodhisattvas 菩薩, Avalokiteśvaras 觀音, Krodhas 諸忿怒, and Devas 諸天. => j: Zuzō shō; e: Iconographic Selections). 10 quyển. Tên gọi khác Thập quyển sao (十卷抄e: Ten Fascicle Selection), Vĩnh Nghiêm (永嚴Yōgen )và Huệ Thập (惠什Ejū ) biên soạn vào năm 1135. Các dạng hình tượng được phân loại thành 6 đề mục: Chư Phật, Chư kinh pháp, Bồ-tát, Quán Âm, Chư Phẫn nộ, và Chư Thiên.
đồ tỳ
Còn gọi là Trà Tỳ—Cremation.
đồ đánh lửa
dụng cụ ngày xưa được dùng để lấy lửa, nhờ vào độ nhám và sự chà xát mạnh mà phát sanh tia lửa. Dụng cụ này có thể là một miếng tre khô có vỏ nhám, hoặc một miếng đá nhám mà khi chà xát có thể sanh ra lửa. Phân bò khô được dùng như chất dễ bắt lửa và để giữ lửa trước khi cho thêm củi khô vào.
đồ đằng sùng bái
5762爲最早的宗教形式之一。圖騰,爲印第安語 totem 之音譯,含親屬、標記之意。圖騰崇拜現象首先發現於北美印第安人中,後在許多原始部族中皆發現類似現象。多數原始之氏族相信,各氏族分別源出於各種特定之物類,大多數爲動物,如鳥、獸、魚等,其次爲植物或其他物種;對本氏族之圖騰物種,常加以特殊愛護。據晚近之考察,圖騰本身多非崇拜之直接對象,依想像而刻製之圖騰柱,亦僅作爲氏族之標記而並不對之膜拜。所謂圖騰崇拜,僅係氏族社會對自然力或自然神進行崇拜中常與圖騰觀念相連;處理圖騰物種,有時亦舉行一定之宗教儀式。澳大利亞土著之某些氏族社會中,除氏族圖騰外,各人亦可有各人圖騰。此由母親首次感到胎動時所遇物種而定,可能是動植物,亦可能是某種自然力,如風、雨、日、月等。此乃因彼等不知受孕之緣由,而以爲是感到第一次胎動時所遇之物種進入母體而成。
đồ đệ
Disciple—Follower.
Đồ Đệ Viện
(徒弟院, Tsuchi-in): hay Độ Đệ Viện (度弟院). Trong Thiền Tông, đây là tên gọi những ngôi chùa của đệ tử đích truyền của mình hay môn đệ thuộc môn phái mình, họ độc chiếm chức Trú Trì và thay nhau làm Trú Trì từ đời này sang đời nọ.
đồ độc cổ
5419謂塗有毒料,使人聞其聲即死之鼓。禪宗以此比喻師家令學人喪心或滅盡貪、瞋、癡之一言一句之機言。景德傳燈錄卷十六全豁禪師條(大五一‧三二六中):「吾教意猶如塗毒鼓,擊一聲,遠近聞者皆喪。」〔北本涅槃經卷九〕
; Trống có trét thuốc độc khiến người nghe phải chết ngay—A drum smeared with poison to destroy those who hear it.
; (塗毒鼓) Quả trống có bôi chất độc, khiến người nghe tiếng trống ấy chết liền. Thiền tông dùng từ ngữ này để ví dụ lời nói cơ duyên của bậc thầy có năng lực làm cho người học diệt hết tham, sân, si. Mục Toàn khoát thiền sư trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 16 (Đại 51, 326 trung),nói: Ý trong lời dạy của ta giống như trống có bôi chất độc (đồ độc cổ), đánh một tiếng, xa gần người người nghe đều mất mạng!. [X. kinh Niết bàn Q.9 (bản Bắc)].
Đồ 徒
[ja] ト to ||| (1) A follower, a disciple, a crowd. (2) To go on foot. (3) Only, merely. (4) In vain, empty, useless. => 1. Môn đệ, đệ tử, một đám đông. 2. Đi bộ. 3. Duy, chỉ. 4. Vô ích, vô nghĩa, vô dụng.
đồi bại
Corrupt—Debauched—Immoral—Depraved.
đồi phong
Depraved customs.
đồn nhãm
To spread a false rumour.
đồn đãi
To spread a rumour.
Đồng
同; C: tóng; J: dō; |Có các nghĩa sau: 1. Giống nhau, một, đồng nhất; 2. Làm cho đồng nhất; làm thành một; đặt cùng với nhau; 3. Ở giữa, gom lại với nhau; 4. Trở thành một phần của toàn thể.
đồng
1) Cùng nhau: Together—Mutual—Same. 2) Đồng trinh: A virgin. 3) Đứa trẻ: A youth—A boy—A girl. 4) Kim loại bằng đồng: Tamra (skt)—Brass—Copper.
Đồng An Đạo Phi
(同安道丕, Dōan Dōhi, ?-?): nhân vật sống cuối thời nhà Đường, vị tăng thuộc Tào Động Tông Trung Quốc, người Hồng Châu (洪州, thuộc Tỉnh Giang Tây). Ông kế thừa dòng pháp của Vân Cư Đạo Ưng (雲居道膺), rồi đến trú tại Đồng An Viện (同安院) ở Phụng Thê Sơn (鳳棲山), Hồng Châu và tận tâm cử xướng tông phong của Tào Động.
đồng biệt nhị giáo
2244為同教與別教之並稱。又作同教別教、二種一乘。指華嚴宗所判之同教一乘與別教一乘。同教一乘,即隨應二乘、三乘等根機而說法,使其入於一多無盡之法界,故將一乘無盡之法,寄顯於始教之三乘法,或終、頓二教之一乘法,以說一乘之義。別教一乘,即別異於二乘、三乘之法,而為一多無盡之一乘法;亦即指華嚴宗獨特之思想。 此說係由華嚴宗智儼所創,乃依據大智度論共般若、不共般若之說,將如來一代聖教大別為三乘、一乘二種,更將一乘分判為同、別二教,而以法華經會三歸一之說為同教一乘,以華嚴經十十無盡之說為別教一乘。法藏承此說,而成此教判之集大成者,法藏於華嚴五教章卷一中,闡釋同、別二教之義,明示別教一乘有性海果分、緣起因分二門。性海果分門不可言說,以其為十佛自內證之境界;而緣起因分門則可言說,此係普賢之境界。其中,緣起因分門又分為分相、該攝二門:(一)分相門,即別教一乘別異於三乘之說。此一乘、三乘之差別,計有權實、教義、所明、德量、約寄位、付囑、根緣受者、難信易信、約機顯理、本末開合等十種。(二)該攝門,即三乘本係一乘法之說。以上二者互存無礙,不異不一;此不一即分相門,不異即該攝門。 其次,論同教一乘之七義:(一)法相交參,謂一乘垂於三乘,三乘參於一乘,兩宗交接連綴。(二)攝方便,謂三乘法皆係一乘法之方便法門,故咸稱一乘。(三)所流,謂三乘悉從一乘而流出。(四)殊勝門,謂以三乘中之大乘為一乘。其權實雖有異,然同為菩薩所乘,故稱一乘。(五)教事深細,謂以所說之法深細,故稱一乘。(六)八義意趣,謂一乘之說與佛密意之說,皆為八義之意趣。(七)十義方便,華嚴經孔目章將一乘分為正乘、方便乘二種,其中,方便乘有十義,即此十義方便。 蓋同教一乘主要指法華經等所說,別教一乘則指華嚴經所說;然華嚴經中有同教之旨,法華經中亦有別教之旨,故總別「同別二教」。又立定內、定外之別,即:華嚴經所明示之同別二教,係海印定中所說,故稱為定內同別;法華經所明示之同別二教,不依海印定而說,故稱為定外同別。 此外,澄觀、宗密等師對同別二教之解釋,與上述稍異。澄觀於其所著華嚴經疏卷二、華嚴經隨疏演義鈔卷十等中,以一乘中之圓融具德法門為別教;而以終、頓二教及別教中之一性一相之教義為同教。宗密於華嚴經行願品別行疏鈔卷一中,則以性起門為別教,以緣起門為同教。〔華嚴經孔目章卷二、卷四、華嚴五教章卷二、卷三、華嚴五十要問答卷上、華嚴經探玄記卷一、華嚴五教章指事卷上本、華嚴法界義鏡卷下、華嚴五教章通路記卷一至卷十〕(參閱「共教」2196、「因分果分」2274)
; (同別二教) Cũng gọi Đồng giáo biệt giáo, Nhị chủng nhất thừa. Từ ngữ gọi chung Đồng giáo và Biệt giáo theo giáo phán của tông Hoa nghiêm, tức là Đồng giáo nhất thừa và Biệt giáo nhất thừa. A. Đồng giáo nhất thừa. Tùy theo căn cơ Nhị thừa, Tam thừa mà nói pháp khiến cho họ vào được pháp giới một nhiều vô tận, cho nên nương theo pháp Tam thừa của Thủy giáo hoặc pháp Nhất thừa của Chung giáo, Đốn giáo mà nói pháp Nhất thừa vô tận. Đồng giáo nhất thừa có bảy nghĩa: 1. Pháp tướng giao tham: Trong Tam thừa có Nhất thừa, trong Nhất thừa có Tam thừa, cả hai liên tiếp, giao thoa nhau. 2. Nhiếp phương tiện: Pháp Tam thừa đều là pháp môn phương tiện của pháp Nhất thừa, cho nên đều gọi là Nhất thừa. 3. Sở lưu: Tam thừa đều từ Nhất thừa mà ra. 4. Thù thắng môn: Đại thừa trong Tam thừa là Nhất thừa. Quyền (tạm thời), Thực (chân thực) tuy có khác nhưng đều là chỗ sở y của hàng Bồ tát, cho nên gọi là Nhất thừa. 5. Giáo sự thâm tế: Vì các pháp được nói ra rất sâu xa mầu nhiệm nên gọi là Nhất thừa. 6. Bát nghĩa ý thú: Nhất thừa và mật ý của Phật đều có ý thú của tám nghĩa. 7. Thập nghĩa phương tiện: Hoa nghiêm khổng mục chương chia Nhất thừa ra làm Chính thừa và Phương tiện thừa, trong đó, Phương tiện thừa có 10 nghĩa, tức là 10 nghĩa phương tiện này. B. Biệt giáo nhất thừa. Tức là pháp Nhất thừa vô tận khác biệt với pháp Nhị thừa, Tam thừa. Đây là tư tưởng đặc biệt của tông Hoa nghiêm do ngài Trí nghiễm dựa theo thuyết Cộng bát nhã và Bất cộng bát nhã mà đặt ra. Ngài Trí nghiễm đem Thánh giáo một đời của Như lai chia làm Tam thừa và Nhất thừa, trong Nhất thừa lại chia làm Đồng giáo và Biệt giáo, rồi lấy thuyết Hội tam qui nhất (họp ba về một) trong kinh Pháp hoa làm Nhất thừa đồng giáo, và lấy thuyết Thập thập vô tận (mười mười không hết) trong kinh Hoa nghiêm làm Nhất thừa biệt giáo. Về sau, ngài Pháp tạng kế thừa thuyết này mà tập đại thành giáo phán của tông Hoa nghiêm. Trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1, ngài Pháp tạng chia Nhất thừa biệt giáo làm hai phần: 1. Tính hải quả phần: Phần này không thể nói được, vì là cảnh giới tự nội chứng của 10 đức Phật chẳng thể nghĩ bàn. 2. Duyên khởi nhân phần: Phần này có thể nói được, vì đây là cảnh giới của bồ tát Phổ hiền. Có hai môn: a) Phần tướng môn: Biệt giáo nhất thừa khác với thuyết Tam thừa. Sự sai biệt giữa Nhất thừa và Tam thừa có 10 thứ: Quyền thực, giáo nghĩa, sở minh, đức lượng, ước kí vị, phó chúc, căn duyên thụ giả, nan tín dị tín, ước cơ hiển lí và bản mạt khai hợp. b) Cai nhiếp môn: Nói pháp Tam thừa vốn là Nhất thừa. Cả hai môn trên đây vẫn tồn tại vô ngại, không phải khác, chẳng phải một: Chẳng phải một tức là Phần tướng môn, không phải khác tức là Cai nhiếp môn. Tóm lại, Đồng giáo nhất thừa chủ yếu chỉ cho giáo thuyết trong kinh Pháp hoa, còn Biệt giáo nhất thừa thì chỉ cho giáo thuyết trong kinh Hoa nghiêm. Tuy nhiên, trong kinh Hoa nghiêm có ý chỉ của Đồng giáo, mà trong kinh Pháp hoa cũng có ý chỉ của Biệt giáo, cho nên phân biệt chung là Đồng biệt nhị giáo. Ngoài ra, còn lập Định nội và Định ngoại khác nhau. Tức là: Đồng biệt nhị giáo trong kinh Hoa nghiêm là được nói từ trong định Hải ấn nên gọi là Định nội đồng biệt; còn Đồng biệt nhị giáo trong kinh Pháp hoa thì không được nói từ trong định Hải ấn nên gọi là Định ngoại đồng biệt. Nhưng, các ngài Trừng quán và Tông mật giải thích về Đồng biệt nhị giáo có hơi khác với thuyết trên. Chẳng hạn như trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 2, Hoa nghiêm tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 10, ngài Trừng quán lấy pháp môn Viên dung cụ đức trong Nhất thừa làm Biệt giáo; còn lấy Chung giáo, Đốn giáo và giáo nghĩa Nhất tính nhất tướng trong Biệt giáo làm Đồng giáo. Còn ngài Tông mật thì, trong Hoa nghiêm kinh hành nguyện phẩm biệt hành sớ sao quyển 1, lấy Tính khởi môn làm Biệt giáo, lấy Duyên khởi môn làm Đồng giáo. [X. Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.2, Q.4; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2, Q.3; Hoa nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp Q.thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương chỉ sự Q.thượng phần đầu; Hoa nghiêm pháp giới nghĩa kính Q.hạ; Hoa nghiêm ngũ giáo chương thông lộ kí Q.1 đến Q.10]. (xt. Cộng Giáo, Nhân Phần Quả Phần).
đồng bạt
5944爲寺院法會所用金屬法器之一。又作銅盤。以響銅製之,形如圓盤,中央隆起一圓,中心穿孔,附以一紐。兩手各持一鈸,互擊而出聲。中亞貝沙克魯克(Bäzäklik)出土之壁畫、敦煌出土之淨土變相、日本當麻曼荼羅虛空會、阿彌陀二十五菩薩來迎圖中,皆有此法器之圖像。〔禪林象器箋唄器門、佛像圖彙卷三、A.Stein:The Thousand-Buddhas〕(參閱「鐃鈸」6840)
; (銅鈸) Cũng gọi Đồng bàn. Cái chập chọe. Một loại pháp khí bằng đồng dùng trong pháp hội tại các chùa viện, tròn như cái mâm, ở giữa có núm, có lỗ để xỏ dây xách trong tay; mỗi tay cầm một cái xoa vào nhau phát ra tiếng. Trong các bức bích họa đào được ở Bái sa khắc lỗ khắc (Bzklik) thuộc vùng Trung á, trong các bức tranh Tịnh độ biến tướng phát hiện ở Đôn hoàng, trong bức họa A di đà nhị thập ngũ bồ tát lai nghinh và trong bức Đương ma mạn đồ la hưkhông hội của Nhật bản v.v... đều có vẽ loại pháp khí này. [X. môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên; Phật tượng đồ vựng Q.3; A. Stein: The Thousand Buddhas]. (xt. Não Bạt).
đồng bản kinh
5944指於金鍱、銅板等金屬板表面鏤刻經文之經典。佛典中有關銅板經之最早記載爲小品般若波羅蜜經卷十(大八‧五八三中):「以真金鍱書般若波羅蜜,置是函中。」又據大唐西域記卷三載,迦膩色迦王時曾以赤銅爲鍱,鏤寫論文,其後以石函緘封,復建窣堵波(塔)藏之。此外,經典中並有以銅鍱爲部派名之記載,如大乘掌珍論卷下揭出「銅鍱部師」之語。玄應音義卷二十三解釋其文意,謂銅鍱部係指上座部,該部鑿赤銅以書寫經論,其銅板藏於師子國(錫蘭)。凡此皆爲印度以金屬板鏤刻佛典之明確記載。此類印度銅板經文之遺品,如 Epigraphia Indica 第四冊即收有怛叉始羅出土之銅板文獻,同書第五冊亦收有 Maung-gon 之黃金板文獻。 於我國,銅板鏤刻經典之遺蹟難以證明,僅於補續高僧傳卷一法禎傳載有元代英宗(1321~1323 在位)作銅印大藏經之語,然此記載,究竟係指鏤刻銅板,抑或指銅材之模版印刷,今已無法稽考。於日本,福岡縣豐前市大字求菩提國玉神社藏有銅板法華經三十三板,被視爲日本國寶。又近世有小規模之銅板經,如江戶時代之石造寶篋印塔即收藏有銅板寶篋印陀羅尼。〔佛書刊行史(禿氏祐祥)、日本文化史卷一(辻善之助)〕
; (銅板經) Kinh văn được khắc trên bản kim loại đàn mỏng, như vàng, đồng v.v... Kinh Tiểu phẩm bát nhã ba la mật quyển 10 (Đại 8, 583 trung), nói: Dùng vàng ròng đàn mỏng khắc kinh Bát nhã ba la mật rồi để vào trong hòm. Đây là ghi chép sớm nhất nói về kinh bản đồng trong Phật giáo. Còn cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 3, thì vua Ca nị sắc ca từng dùng đồng đỏ đàn mỏng khắc văn luận rồi để vào hòm đá đóng kín lại và xây tháp để cất giữ trong đó. Ngoài ra, đồng còn được dùng để đặt tên bộ phái, như luận Đại thừa chưởng trân quyển hạ có nêu tên: Đồng diệp bộ sư. Huyền ứng âm nghĩa quyển 23 giải thích: Đồng diệp bộ chỉ cho Thượng tọa bộ, vì bộ này dùng đồng đỏ đàn mỏng để khắc văn kinh luận, những bản đồng ấy được cất giữ ở nước Sư tử (Tích lan). Những ghi chép trên đã minh xác tại Ấn độ xưa bản kim loại đã được sử dụng để khắc kinh Phật. Như trong sách Epigraphia Indica tập 4 có thu di phẩm kinh bản đồng của Ấn độ được tìm thấy ở Taksasila, và tập 5 của sách ấy thì thu kinh văn khắc trên bản vàng ròng được phát hiện ở Maung-gon. Ở Trung quốc, những di tích của kinh điển được khắc trên bản đồng khó chứng minh, chỉ thấy truyện Pháp trinh trong Bổ tục cao tăng truyện quyển 1 có nói đến việc vua Anh tông (tại vị 1321 - 1323) đời Nguyên in Đại tạng kinh bằng đồng, nhưng không ghi rõ là kinh được khắc lên bản đồng hay chỉ là ấn loát phỏng theo đồng; vấn đề này nay không thể biết rõ được. Còn ở Nhật bản thì có 33 bản đồng khắc kinh Pháp hoa được tàng trữ ở Ngọc thần xã, thị trấn Phong tiền, huyện Phúc cương, được coi là quốc bảo. Gần đây, người ta đã tìm được những kinh bản đồng nhỏ hơn, như Bảo khiếp ấn đà la ni được cất giữ trong tháp Bảo khiếp ấn bằng đá xây dựng vào thời đại Giang hộ. [X. Phật thư san hành sử (Thốc thị Hựu tường); Nhật bản văn hóa sử Q.1].
đồng bằng đại học
2245請參閱大乘同性經 位於日本名古屋市中村區稻葉地町七丁目一番地。係屬淨土真宗大谷派所立之四年制單科大學(相當於我國之學院)。其文學部設有佛教學科及社會福祉學科二種。其前身為真宗專門學校,淵源深遠,可遠溯至文政十年(1827)。其後歷經變更,直至昭和二十五年(1950)始改制為四年制大學。昭和三十五年更名為「同朋大學」以迄於今。
đồng bịnh
To have the same illness.
đồng bịnh tương lân
Birds of the same feather flock together.
đồng chân
5169<一>梵語 kumārabhūta。音譯究摩囉浮多。為沙彌之別稱。據玄應音義卷五載,究摩囉,乃彼土八歲未冠者,為童子之總稱;浮多,意為真,亦作實之意。 <二>(543~613)隋代僧。河東蒲坂人,俗姓李。師事曇延法師,精通大小乘,尤善涅槃經。於開皇年間(581~600),奉召住大興善寺,參與譯經。開皇十六年(596)召為涅槃眾主。大業初年,造大禪定道場,敕為道場主。大業九年示寂,世壽七十一。〔續高僧傳卷十二〕
; Từ để gọi các vị Sa Di, bản tánh đơn giản như trẻ con—A term for a monk, who should have the child-nature of simplicity.
; (童真) I. Đồng Chân. Phạm: Kumàrabhùta. Hán âm: Cứu ma ra phù đa. Tên gọi khác của Sa di. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 5, Cứu ma ra là trẻ em tám tuổi ở Ấn độ chưa làm lễ đội mũ, là tiếng gọi chung các đồng tử. Còn phù đa nghĩa là chân, thực. II. Đồng Chân (543 - 613) Vị tăng đời Tùy, người huyện Bồ bản, tỉnh Hà đông, Trung quốc, họ Lí. Sư thờ ngài Đàm diên làm thầy, tinh thông giáo lí Tiểu thừa, Đại thừa, đặc biệt là kinh Niết bàn. Khoảng năm Khai hoàng (581 - 600), sư vâng chiếu chỉ đến ở chùa Đại hưng thiện, tham dự dịch kinh. Năm Khai hoàng 16 (596), sư được nhà vua triệu làm Niết bàn chúng chủ. Đầu năm Đại nghiệp, vua dựng đạo tràng Đại thiền định và mời sư làm trụ trì. Năm Đại nghiệp thứ 9 sư tịch, thọ 71 tuổi. [X. Tục cao tăng truyện Q.12].
đồng chân trụ
Trụ thứ tám trong thập trụ, sơ sinh ở nhà Phật—The stage of youth in Buddhahood, the eighth of the ten grounds.
Đồng chân trụ 童眞住
[ja] ドウシンジュウ dōshinjū ||| The eighth of the Ten Abidings (十住) - The "abiding of the true chīd." The deluded view does not arise, and awakening does not cease. => Giai vị thứ 8 trong Thập trụ. Vọng kiến không khởi lên nữa, và sự tỉnh giác không bao gìơ mất.
đồng chủng
People of the same race.
đồng cư phật độ
The realm where common beings and saints dwell together.
đồng cảnh y
2249又作順取依。指五根。根與識共取現在之境,稱為同境。根照境如同珠光照物,然根無慮知之作用,須依五識方起慮知之作用以緣境,故稱五根為同境依。(參閱「俱有依」4028)
; (同境依) Cũng gọi Thuận thủ y. Chỉ cho năm căn. Căn và thức cùng nắm bắt cảnh hiện tại nên gọi là Đồng cảnh. Căn chiếu cảnh cũng như viên ngọc soi sáng sự vật, nhưng vì căn không có tác dụng suy tính phân biệt mà phải nương vào năm thức mới có tác dụng phân biệt để duyên theo cảnh, cho nên gọi 5 căn là Đồng cảnh y. (xt. Câu Hữu Y).
đồng danh thiên
Vị trời có cùng tên với vị mà vị ấy che chở bảo hộ—The deva who has the same name as the one he protects.
đồng di câu phần
2249因明用語。因明三十三過中,六不定過之一。即九句因中第九句「同品有非有,異品有非有」。又稱「俱品一分轉」。乃因(理由)之第三相「異品遍無性」未能完成所引發之過失。(參閱「六不定過」1253、「俱品一分轉不定過」4032)
; (同异俱分) Tiếng dùng trong Nhân minh. Là một trong sáu lỗi bất định thuộc 33 lỗi Nhân minh. Tức là câu thứ 9 Đồng phẩm cũng có cũng không, Dị phẩm cũng có cũng không trong chín cú nhân. Cũng gọi Câu phẩm nhất phần chuyển. Nhân trong trường hợp này có tính cách của một phần đồng phẩm, mà cũng có tính cách của một phần dị phẩm. Cho nên là bất định, không thể đoán định cho sự thành lập Tông. Thí dụ: Tông: Chỗ ấy nhất định có nước ngập Nhân: Vì đã mưa liên tiếp nhiều ngày. Sự thực thì có khi mưa liên tiếp nhiều ngày cũng không có nước ngập - hoặc cũng có khi nước ngập mà không phải vì mưa liên tiếp nhiều ngày - như thủy triều. Nhân này bị lỗi bất định, vì đã phạm vào điều kiện thứ 3 của Nhân là phải tuyệt đối không có tính cách của dị phẩm.
đồng diệp bộ
5945巴利名 Tambapaṇṇīya。爲部派佛教之一派。於印度部派佛教之分裂中,有關銅鍱部之名稱與派屬問題,於南傳、北傳論書中說法互異。據南傳分別說系上座部之「大史」第五章,及北傳上座系有部之「異部宗輪論」等史傳所載,並未提及本部派之名。然大眾部系清辨(梵 Bhavya)所造「異部宗精釋」一書則將本部列屬上座部中分別說部之一派。又據西藏所傳清辨之「教團分裂詳說」載,關於諸部之分派有三說,其中第三說指出赤衣(藏 Gos-dmar-ba)即爲銅鍱部。另據玄應音義卷二十三載,銅鍱部即指上座部。 於現代學者中,與清辨主張一致者,有我國之印順法師,於其所著「印度之佛教」第六章與「說一切有部爲主的論書與論師之研究」之序論中,皆謂本部屬於上座部之分別說部,以錫蘭爲其根據地,主要傳習七部阿毘達磨。
; (銅鍱部) Pàli: Tambapaṇṇīya. Một trong các bộ phái Phật giáo. Về tên gọi Đồng diệp bộ trong các bộ phái Phật giáo Ấn độ, các sách luận Nam truyền, Bắc truyền đều nói khác nhau. Trong chương 5, Đại sử của Thượng tọa bộ thuộc hệ Phân biệt thuyết Nam truyền và trong sử truyện Dị bộ tông luân luận của Hữu bộ thuộc hệ Thượng tọa bộ Bắc truyền v.v... đều không nói đến tên của bộ phái này. Nhưng, trong sách Dị bộ tông tinh thích, ngài Thanh biện (Phạm: Bhavya) cho Đồng diệp bộ là một phái của Phân biệt thuyết bộ thuộc hệ Thượng tọa bộ. Lại theo Giáo đoàn phân liệt tường thuyết (nói rõ về sự phân hóa của giáo đoàn) của ngài Thanh biện do Tây tạng truyền dịch, thì có ba thuyết về sự phân chia bộ phái, trong đó, thuyết thứ 3 cho rằng phái áo đỏ (Tạng: gos-dmar-ba) tức là Đồng điệp bộ. Còn Huyền ứng âm nghĩa quyển 23 thì bảo Đồng diệp bộ tức là Thượng tọa bộ. Trong số các học giả hiện đại, pháp sư Ấn thuận của Trung quốc đồng quan điểm với ngài Thanh biện. Trong chương 6 của sách Ấn độ chi Phật giáo, và trong bài tựa của sách Thuyết nhất thiết hữu bộ vi chủ đích luận thư dữ luận sư chi nghiên cứu, pháp sư Ấn thuận đều cho rằng Đồng diệp bộ là một phái của Phân biệt thuyết bộ thuộc hệ Thượng tọa bộ, lấy đảo Tích lan làm căn cứ địa, chủ yếu truyền bảy bộ A tì đạt ma.
đồng dụ
2249因明用語。意指同法(梵 sādharmya)之喻(梵 dṛṣṭānta,譬喻)。又作同法、同品、同法喻。乃「異喻」之對稱。即與宗(命題)之後陳(述詞)及因(理由)之意義同類均等之例喻。因明入正理論(大三二‧一一中):「云何名為同品異品?謂所立法均等義品,說名同品。如立無常,瓶等無常,是名同品。(中略)喻有二種,一者同法,一者異法。同法者,若於是處顯因同品決定有性,謂若所作,見彼無常,譬如瓶等。」 蓋於「聲是無常(宗),所作性故(因),譬如瓶等(同喻)」之論式中,「聲無常」之宗雖依「所作性」之因而得成立,更為確立起見,乃舉示與宗之後陳「無常」之意義同類均等之物件,即瓶等之實例,使敵者(問難者)更能了知宗義。此為立喻之原因。又此實例之物件,與宗義同類者,稱為宗同品;與因同類者,稱因同品。又含有此二種同品之既知之法,總稱同喻依;二種同品含於喻依中而不相離者,稱同喻之體。故若欲用喻,先舉示其喻體以結合宗與因,而以凡有所作性因之處,必有聲無常之宗義附隨之。以此檢證宗及因與喻依之瓶是否具有全部或部分之關係,稱為合作法。其不正者,稱為似同喻,又稱似同法喻(梵 sādharmyeṇa dṛṣṭāntābhāsaḥ)。似同喻有五種,即:(一)能立法不成,(二)所立法不成,(三)俱不成,(四)無合,(五)倒合。其中,前三項為關於喻依之過誤,後二項為關於喻體上之過誤。〔因明入正理論疏卷上末、因明入正理論義纂要、因明論疏明燈抄卷二本末〕
; (同喻) Cũng gọi Đồng pháp, Đồng phẩm, Đồng pháp dụ. Đối lại với Dị dụ. Tiếng dùng trong Nhân minh. Tức là ví dụ mang ý nghĩa cùng một phẩm loại với Nhân và danh từ sau (hậu trần) của Tông. Như lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường Nhân: Vì là do sự tác động mà có ra Dụ: Ví như cái bình (đồng dụ). Về sự vật đồng dụ, vừa là đồng phẩm với Tông, vừa là có tính cách của Nhân. Như cái bình, cái chén, vừa có tính vô thường, vừa có tính được tạo tác ra. Cho nên luận thức trên đây đã giúp địch luận (người vấn nạn) hiểu rõ được tông nghĩa: Đó là lí do của sự lập phần Dụ. Ngoài ra, sự vật được nêu ra trong phần Dụ cùng loại với ý nghĩa của Tông thì gọi là Tông đồng phẩm; đồng loại với Nhân gọi là Nhân đồng phẩm. Dụ còn được phân biệt là Dụ thể và Dụ y. Dụ thể là đem tất cả những gì có tính cách của đồng phẩm ra mà dụ, còn Dụ y là đưa ra một hai cái trong đồng phẩm để chứng minh. Nếu đồng dụ sai thì gọi là Tự đồng dụ. Có năm loại Tự đồng dụ: 1. Năng lập pháp bất thành. 2. Sở lập pháp bất thành. 3. Câu bất thành. 4. Vô hợp. 5. Đảo hợp. Ba loại trước liên quan đến Dụ y, hai loại sau liên quan đến Dụ thể. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng phần cuối; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu; Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.2].
Đồng giáo
同教; C: tóngjiāo; J: dōkyō; |Nghĩa rộng của Nhất thừa. Giáo lí của »Đồng giáo« có liên quan đến giáo lí »Tam thừa«. Trên quan điểm nầy, tất cả giáo lí và hiện hữu đều được dung hàm trong giáo lí Nhất thừa. Đây là giáo lí của Hoa Nghiêm tông.
đồng giáo
The unitary school—See Biệt Giáo.
Đồng giáo nhất thừa
同教一乘; C: tóngjiāo yīshèng; J: dōkyōichijō; |Giáo lí »nhất như« của Nhất thừa. Trong giáo lí Hoa Nghiêm, đây là Viên giáo, là giáo lí cho rằng Nhất thừa và Tam thừa là đồng nhất.
Đồng giáo nhất thừa 同教一乘
[ja] ドウキョウイチジョウ dōkyōichijō ||| The "same teaching" of the single vehicle. In Huayan theory this is the same as the 'Perfect Teaching' The teaching that states that the single vehicle and the three vehicles are the same. => Giáo lý "nhất như" của Nhất thừa. Trong giáo lý Hoa Nghiêm, đây là Viên giáo, là giáo lý cho rằng Nhất thừa và Tam thừa là đồng nhất.
đồng giáo thuyết thính tứ cú
2248同教,即會三乘法歸一乘法;說,指佛陀說法;聽,指眾生聽法。係華嚴經疏卷三所舉四種說與聽二者間之相互關係。即:(一)唯說無聽,謂佛真心外無別眾生,以眾生真心即佛真心,故所說之教法,唯佛所現,稱為唯說無聽。(二)唯聽無說,謂眾生心外更無別佛,以佛真心即眾生真心,故所說之教法,即眾生之自現,稱為唯聽無說。(三)說聽雙存,謂佛與眾生互存,因果交徹。佛真心現起時,不礙於眾生之真心現起,此乃二者之俱現,稱為說聽雙存。(四)說聽雙寂,謂佛即眾生故非佛,眾生即佛故非眾生,兩相形奪,二位齊融,其說法者無說無示,其聽法者無聞無得,稱為說聽雙寂。
; (同教說聽四句) Đồng giáo tức là họp Tam thừa về Nhất thừa; Thuyết là đức Phật nói pháp; Thính là chúng sinh nghe pháp. Là 4 câu nêu trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 3 nói về sự quan hệ giữa đức Phật thuyết pháp và chúng sinh nghe pháp Nhất thừa. Đó là: 1. Duy thuyết vô thính (chỉ nói không nghe): Ngoài chân tâm Phật không có chúng sinh, vì chân tâm chúng sinh tức là chân tâm Phật, cho nên giáo pháp được nói ra chỉ là sự hiển hiện của Phật. 2. Duy thính vô thuyết (chỉ nghe không nói): Ngoài tâm chúng sinh không có Phật, vì chân tâm Phật tức là chân tâm chúng sinh, cho nên giáo pháp được nói ra chỉ là do chúng sinh tự hiện. 3. Thuyết thính song tồn(nói và nghe cùng tồn tại): Phật và chúng sinh cùng tồn tại, nhân quả giao thoa nhau; khi chân tâm Phật hiện, không trở ngại sự hiện khởi của chân tâm chúng sinh, tức cả hai đều hiện. 4. Thuyết thính song tịch (nói, nghe đều vắng lặng): Phật tức là chúng sinh nên chẳng phải Phật; chúng sinh tức là Phật nên chẳng phải chúng sinh; hai bên đoạt hình tướng của nhau, hai vị trí dung hòa ngang nhau, người nói pháp không nói, không chỉ bày, người nghe pháp không nghe, không có gì để được.
Đồng giáo 同教
[ja] ドウキョウ dōkyō ||| The connotative aspect of the Single Vehicle. The "shared vehicle" teaching that is related to the teaching of the 'three vehicles.' From this standpoint, all teachings and existences are realized in the Single Vehicle. This is a teaching of the Huayan jing. => Nghĩa rộng của Nhất thừa. Giáo lý của"Đồng giáo" có liên quan đến giáo lý "Tam thừa". Từ quan điểm nầy, nên tất cả mọi giáo lý và hiện hữu đều được nhận thức qua giáo lý Nhất thừa. Đây là giáo lý của Hoa Nghiêm tông.
đồng hoa tự
4142韓國佛教三十一本山之一。位於慶尚北道達城郡公山面道鶴洞之八公山山腹,距今大邱約三十分鐘路程。關於本寺之沿革,根據朝鮮寺剎史料卷上之記載,有二說,一說為極達和尚創建於新羅炤智王十四年(492),初稱瑜伽(迦)寺。憲德王十七年(825),王之第三子心地王師再建,時值嚴冬,境內白雪皚皚,桐華盛開,遂改稱桐華寺。另一說謂文聖王二年(841)普照國師智訥所開創。高麗太祖十七年(934)、忠烈王二十四年(1298)均曾重建。文祿之役,遭日軍兵火焚毀。李朝宣祖三十九年(1605),泗溟、松雲二大師再度重建。現今寺中之三層石塔、石雕毘盧遮那佛坐像、磨崖佛坐像,為新羅時代之遺物,而須摩提殿之金銅阿彌陀佛塑像則為高麗時代之作品。
đồng hành
5169行,行者,乃於寺院服雜役者。禪宗寺院對於尚未得度之年少行者,稱為童行。又稱童侍、僧童、道者、行童。其所居之室,則稱童行堂、行堂。又教訓童行,謂之訓童行。〔南海寄歸內法傳卷三受戒軌則條、釋氏稽古略卷四北宋建隆三年條〕
; 2244梵語 sāhacarya。又作同伴、同朋。乃同心學佛修道之意。據摩訶止觀卷四下載,同行,即相互敬重,切磋琢磨,同心齊志者。蓋獨行難成,必須有同行之人互相砥礪,以資道心。如「結社念佛」,即是一例。在日本,西國巡禮者頭戴一笠,笠上書有「同行二人」,此即表示與弘法大師同行之意。此外,同行在真宗係指門徒、檀徒而言。〔舊華嚴經卷六十、新華嚴經卷七十三、法事讚卷下(善導)〕
; Cùng nhau thực tập hay cùng nhau tu hành—To go together—To go in company—To practice religion together.
; (童行) Cũng gọi Đồng thị, Tăng đồng, Đạo giả. Người làm các việc lặt vặt trong chùa viện. Trong chùa Thiền tông, những thiếu niên xuất gia chưa cạo tóc, thụ giới, gọi là Đồng hành. Nhà liêu của Đồng hành gọi là Đồng hành đường, Hành đường. Còn dạy dỗ Đồng hành thì gọi là Huấn đồng hành. [X. mục Thụ giới quĩ tắc trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3; mục Bắc Tống kiến long tam niên trong Thích thị kê cổ lược Q.4].
; (同行) Phạm: Sàhacarya. Cũng gọi Đồng bạn, Đồng bằng. Đồng tâm học đạo tu hành. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 4 phần dưới, vì một mình học Phật tu đạo thì khó thành, nên phải có người đồng hành, cùng chí hướng để khuyến khích, giúp đỡ lẫn nhau tăng trưởng đạo tâm, như kết xã niệm Phật chẳng hạn. Tại Nhật bản, những người thực hành Tây quốc tuần lễ đầu đội nón trên có viết 4 chữ Đồng hành nhị nhân(haingười cùng đi) tức là biểu tỏ ý cùng đi với vị Đại sư hoằng pháp. Ngoài ra, theo Chân tông thì Đồng hành là chỉ cho môn đồ, đàn đồ(tín đồ). [X. kinh Hoa nghiêm Q.60 (bản dịch cũ); kinh Hoa nghiêm Q.73 (bản dịch mới); Pháp sự tán Q.hạ (Thiện đạo)].
đồng hóa
To assimilate.
đồng hương
Fellow-countryman.
đồng học
1) Bạn cùng lớp hay cùng trường: Fellow-student—School-mate—Class-mate. 2) Cùng chung học với nhau: To learn or study together.
đồng khánh tự
2250位於湖南寧鄉(古稱潭州)之西,大溈山南麓。係唐代禪師溈山靈祐(771~853)弘法之處。憲宗元和末年(820 頃)靈祐即住於此,後因李景讓之奏請,賜額同慶寺。靈祐之弟子仰山慧寂出後,弘揚宗風,與師齊名,故後世以「溈仰宗」稱之。山內留有許多與靈祐有關之遺蹟,如其所居之密印寺,及仰山淨室遺蹟、宰相裴休所居住之庵、香嚴擊竹之巖等。民國十七年(1928),太虛大師曾駐錫於此。惟原有安置禮部侍郎鄭愚所撰「敕賜大圓禪師碑記」之堂塔,現僅存小屋一宇,餘已不存。〔全唐文卷八二○潭洲大溈山同慶寺大圓禪師碑銘并序、大清一統志卷二七七〕
đồng không mông quạnh
Desert place.
đồng kê
5169又稱乩童或僮子。是一種自信神靈附身,並處於恍惚入迷狀態而作預言乩示之巫師。通常在祭典中或病後或偶然在自宅時全身顫動,能操持鯊魚劍、刺球、釘棍等物自傷肩部或頭部,然流血少而面不改色。一般道教之童乩訓練,往往須使受訓者經過「坐禁」之靜坐修持,而後方成為正式之童乩。童乩大都具有跳童、驅邪捉妖、過火、落地府、進花園等巫術。此種信仰屬於道教,並非佛教。〔觀童乩(吳瀛濤,臺灣民俗第八章)〕
; (童乩) Cũng gọi Kê đồng, Đồng tử. Loại đồng bóng tin có thần linh nhập vào ông đồng, bà cốt đoán trước việc lành, dữ sẽ xảy ra. Thông thường, khi bóng ốp, ông đồng hoặc bà cốt nhảy múa, hai tay đập ngực, có khi dùng roi, gậy tự đánh vào mình, thậm chí dùng gươm chém vào vai, có ra máu nhưng nét mặt không thay đổi. Sự luyện tập đồng kê của Đạo giáo rất công phu, phải qua một thời gian lâu dài mới có thể trở thành một đồng kê chính thức. Đồng kê phần nhiều dùng vào việc bắt tà ma, yêu quái và trị bệnh. Đây là tín ngưỡng thuộc Đạo giáo. [X. Quan đồng kê (Ngô doanh đào)].
đồng la
5945爲寺院法會時所使用法器之一。係由圓盆狀青銅片製成之打擊樂器。又作銅鑼鼓、銅鉦、鉦鐃。邊緣穿有二小孔,繫有吊繩,可用手提,或以架子吊起,用棒槌敲擊中央使之鳴響,通常與鐃、鈸同時共用。由黃檗清規法具圖中所錄之銅鑼圖,可知銅鑼夙爲我國禪林所用。據「事物起原」一書所引黃帝內傳之記載,黃帝之時爲模擬雷聲而鑄鉦鐃;今之銅鑼即由鐃所轉化而來。〔金史儀衛志第二十二、佛像圖彙卷三、禪林象器箋唄器門、持寶通覽卷中鐃條〕
; Phèng la dùng trong nghi lễ—A gong.
; (銅鑼) Cũng gọi Đồng la cổ (trống đồng la), Đồng chinh (chiêng đồng), Chinh não (chiêng và não bạt). Loại pháp khí bằng đồng xanh, tròn như cái chậu, ở viền mép có 2 cái lỗ, xỏ sợi dây để xách tay, hoặc treo lên cái giá, dùng cái dùi đánh vào chính giữa thì phát ra tiếng. Thông thường được dùng chung với cái não, cái bạt đồng trong các pháp hội. Trong Hoàng bá thanh qui pháp cụ đồ thấy có hình chiếc đồng la, như vậy có thể biết, ngày trước đồng la đã được dùng trong Thiền lâm Trung quốc. Cứ theo Hoàng đế nội truyện được dẫn trong sách Sự vật khởi nguyên, thì vua Hoàng đế đã phỏng theo tiếng sấm mà chế ra chiêng não. Loại đồng la ngày nay là nhạc khí đã chuyển biến từ não. [X. Kim sử nghi vệ chí 22; Phật tượng đồ vựng Q.3; Bái khí môn trong Thiền lâm tượng khí tiên; mục Não trong Trì bảo thông giám Q.trung].
đồng liêu
Bạn đồng học—Fellow-student.
đồng loại
(People) of the same race, class or order.
đồng loại nhân
2250梵語 sabhāga-hetu。又作自分因、自種因。舊譯作習因。乃六因之一。指過去及現在一切有為法,以同類相似之法為因,而引致等流果者。如以前念之善心為因,而後念之善心又起善業;以前念之惡心為因,而後念之惡心又起惡業,如是以各自同類之法為同類法之因。又俱舍論卷六(大二九‧三一上):「同類因者,謂相似法與相似法為同類因,謂善五蘊與善五蘊展轉相望為同類因,染污與染污,無記與無記;五蘊相望,應知亦爾。」若未來法,則未起作用,無引果之義,故不成為因。此外,於見、修、無學之三道,鈍根之道為鈍及利根之道之因,利根之道為利根之道之因,此即以「等」與「勝」之法為同類因。〔大毘婆沙論卷十七、卷十八、順正理論卷十五、俱舍論光記卷六〕
; (同類因) Phạm: Sabhàga-hetu. Cũng gọi Tự phần nhân, Tự chủng nhân. Dịch cũ: Tập nhân. Một trong 6 nhân. Chỉ cho tất cả pháp hữu vi quá khứ và hiện tại lấy pháp cùng một loại làm nhân mà dẫn sinh ra quả đẳng lưu. Như lấy tâm thiện của niệm trước làm nhân thì tâm thiện của niệm sau sẽ khởi nghiệp thiện; mà lấy tâm ác của niệm trước làm nhân thì tâm ác của niệm sau cũng sẽ khởi nghiệp ác. Cứ như vậy mỗi pháp đồng loại tự làm nhân cho pháp đồng loại. Luận Câu xá quyển 6 (Đại 29, 31 thượng), nói: Đồng loại nhân là pháp tương tự làm nhân cho pháp tương tự, như 5 uẩn thiện với 5 uẩn thiện đắp đổi làm nhân đồng loại cho nhau, nhiễm ô với nhiễm ô, vô kí với vô kí. Nếu pháp vị lai thì chưa khởi tác dụng, không dẫn đến kết quả, cho nên không thể thành nhân. Ngoài ra, trong ba đạo: Kiến đạo, Tu đạo, Vô học đạo thì đạo của độn căn làm nhân cho đạo của độn căn và lợi căn, còn đạo của lợi căn thì chỉ làm nhân cho đạo của lợi căn; bởi vì đây dùng pháp Đẳng và Thắng làm Đồng loại nhân. [X. luận Đại tì bà sa Q.17, 18; luận Thuận chính lí Q.15; Câu xá luận quang kí Q.6].
đồng loại trợ nghiệp
2250又作同類善根。為「異類助業」之對稱。指淨土教五正行中之讀誦、觀察、禮拜、讚歎供養等四種助業。此四種助業雖係往生淨土之正行,然非正定之業,僅為助成五正行中之稱名念佛之業,故稱同類助業。
; (同類助業) Cũng gọi Đồng loại thiện căn. Đối lại với Dị loại trợ nghiệp. Chỉ cho bốn trợ nghiệp: Đọc tụng, quán xét, lễ bái, khen ngợi cúng dường trong năm chính hạnh của Tịnh độ giáo. Bốn trợ nghiệp này tuy là chính hạnh của việc vãng sinh Tịnh độ, nhưng không phải là nghiệp của chính định, mà chỉ là nghiệp thiện giúp cho công hạnh xưng danh niệm Phật trong năm chính hạnh, cho nên gọi là Đồng loại trợ nghiệp.
đồng loại vô ngại
2251為「異類無礙」之對稱。指同類相似之事物,互相無礙。如火與火、地與地等互不相礙。(參閱「異類無礙」5160)
; (同類無礙) Đối lại với Dị loại vô ngại. Những sự vật cùng một loại như nhau không ngăn ngại nhau, như lửa với lửa, đất với đất v.v... (xt. Dị Loại Vô Ngại).
đồng loạt
Unanimously—With one voice—In chorus.
đồng lung ma
Druma (skt). 1) Tên của loại cây: A tree in general. 2) Vua của loài Khẩn Na La hay các vị nhạc trời: A king of the Kinnaras, or Gandharvas, the celestial musicians.
đồng luân vương
5945<一>四輪王之一。爲感得銅製輪寶之轉輪聖王。於人壽四萬歲時出,統治東勝身洲、南贍部洲等二大洲。(參閱「四輪王」1837) <二>十住菩薩習種性之人作銅輪王,教化二大洲,故十住爲銅輪位,即天台宗圓教分證即之位。摩訶止觀卷二下(大四六‧一八中):「進入銅輪,破蔽根本;本謂無明,本傾枝折,顯出佛性,是分證真實位。」〔仁王般若波羅蜜經卷上〕
; (銅輪王) I. Đồng Luân Vương. Vị Chuyển luân thánh vương có bánh xe báu bằng đồng, 1 trong 4 Luân vương. Vị vua này ra đời khi con người thọ 4 vạn tuổi, cai trị Đông thắng thân châu và Nam thiệm bộ châu. II. Đồng Luân Vương. Chỉ cho hàng Bồ tát Thập trụ tập chủng tính. Hàng Bồ tát này giáo hóa hai châu lớn, cho nên Thập trụ gọi là Đồng luân vị, tức là giai vị Phần chứng tức của Viên giáo tông Thiên thai. Ma ha chỉ quán quyển 2 phần dưới (Đại 46, 18 trung), nói: Tiến vào Đồng luân, phá trừ vô minh tăm tối, hiển bày tính Phật, đó là vị Phần chứng chân thực. [X. kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.thượng].
Đồng Lí sơn
桐裡山; C: tónglǐshān; J: tōrisan; K: tong-nisan|Được Huệ Triệt (慧徹, k: hyech'ŏl) khai sáng. Là một trong 9 tông phái (cửu sơn 九山) Phật giáo thiền Hàn Quốc.
đồng lòng
Unanimous.
Đồng lý sơn 桐裡山
[ja] トウリサン Tōrisan ||| The Tongni san school, established by Hyech'ŏl 慧徹, one of the original "nine mountain 九山" schools of Korean (Silla) Sŏn Buddhism. => (k: Tongni san) Do Huệ Triệt (k: Hyech'ŏl 慧徹) khai sáng. Là một trong chín tông phái (Cửu sơn 九山) Phật giáo thiền Cao Ly (Tân La - Silla). Đông phương tối thắng đăng vương Như Lai kinh 東方最勝燈王如來經 [ja] トウホウサイショウトウオウニョライキョウ Tōhō saishō tōō nyorai kyō ||| 1 fasc. (T 1354.21.868-872); see Dōngfāng zuìshèng dēng wáng tuóluóní jīng 東方最勝燈王陀羅尼經. => (j: Tōhō saishō tōō nyorai kyō),1 quyển. Xem Đông phương tối thắng đăng vương đà-la-ni kinh 東方最勝燈王陀羅尼經. 東方最勝燈王陀羅尼經 (c: Dongfang zuisheng deng wang tuoluoni jing; Skt. Agrapradīpa-dhāraṇī-vidyārāja; t: rig sngags kyi rgyal po sgron ma mchog gi gzungs; e: Dhāraṇī of the Eastern, Foremost King of Brightness). Six Chinese versions are extant: (1) 1 fasc. (T 1029.19.744), Dhāraṇī Spell of Agra 安宅陀羅尼呪經, tr. unknown. (2) 1 fasc. (T 1351.21.864-865), Supernatural Spell of Retaining Phrases 持句神呪經, trans. Shiqian 支謙. (3) 1 fasc. (T 1352.21.865-866), Dhāraṇīpa Sutra 陀隣尼鉢經, trans. Dharmarakṣa 竺曇無蘭. (4) 1 fasc. (T 1353.21.866-868), Dhāraṇī of the Eastern, Foremost King of Brightness 東方最勝燈王陀羅尼經, trans. Jñānagupta 闍那崛多. (5) 1 fasc. (T 1354.21.868-872), Sutra of the Tathāgata, the Eastern, Foremost King of Brightness 東方最勝燈王如來經, trans. Jñānagupta 闍那崛多. (6) 1 fasc. (T 1355.21.872-874), Dhāraṇī of the Holy Foremost Brightness, the Radiant Tathāgata 聖最上燈明如來陀羅尼經, trans. Dānapāla 施護=> 1. (c: Dongfang zuisheng deng wang tuoluoni jing; s: Agrapradīpa-dhāraṇī-vidyārāja; t: rig sngags kyi rgyal po sgron ma mchog gi gzungs [To.528/858] ; (Dhāraṇī of the Eastern, Foremost King of Brightness). Có 6 bản dịch tiếng Hán hiện đang lưu hành: Án trạch đà-la-ni chú kinh (e: Dhāraṇī Spell of Agra 安宅陀羅尼呪經), 1 quyển, dịch giả vô danh. 2. Trì cú thần chú kinh (e: Supernatural Spell of Retaining Phrases 持句神呪經), 1 quyển; Chi Khiêm (c: Shiqian 支謙) dịch. 3. Đà-lân-ni-bát kinh (s: Dhāraṇīpa Sutra) 陀隣尼鉢經, 1 quyển, Trúc Đàm Vô Sấm (s: Dharmarakṣa 竺曇無蘭) dịch. 4. Đông phương tối thắng đăng vương đà-la-ni kinh , (e: Dhāraṇī of the Eastern, Foremost King of Brightness 東方最勝燈王陀羅尼經), 1 quyển; Xà-na-quật-đa (s: Jñānagupta 闍那崛多) dịch. 5. Đông phương tối thắng đăng vương Như Lai kinh (e: Sutra of the Tathāgata, the Eastern, Foremost King of Brightness 東方最勝燈王如來經), 1 quyển; Xà-na-quật-đa (s: Jñānagupta 闍那崛多) dịch. 6. Thánh tối thượng thắng minh Như Lai đà-la-ni kinh (e: Dhāraṇī of the Holy Foremost Brightness, the Radiant Tathāgata 聖最上燈明如來陀羅尼經), 1 quyển; Thi Hộ (s: Dānapāla 施護) dịch. . Đông phương tối thắng đăng vương đà-la-ni kinh 東方最勝燈王陀羅尼經 (c: Dongfang zuisheng deng wang tuoluoni jing; s: Agrapradīpa-dhāraṇī-vidyārāja; t: rig sngags kyi rgyal po sgron ma mchog gi gzungs [To.528/858] ; (Dhāraṇī of the Eastern, Foremost King of Brightness). Có 6 bản dịch tiếng Hán hiện đang lưu hành: => 1. Án trạch đà-la-ni chú kinh (e: Dhāraṇī Spell of Agra 安宅陀羅尼呪經), 1 quyển, dịch giả vô danh. 2. Trì cú thần chú kinh (e: Supernatural Spell of Retaining Phrases 持句神呪經), 1 quyển; Chi Khiêm (c: Shiqian 支謙) dịch. 3. Đà-lân-ni-bát kinh Dhāraṇīpa Sutra 陀隣尼鉢經, 1 quyển, Trúc Đàm Vô Sấm (s: Dharmarakṣa 竺曇無蘭) dịch. 4. Đông phương tối thắng đăng vương đà-la-ni kinh , (e: Dhāraṇī of the Eastern, Foremost King of Brightness 東方最勝燈王陀羅尼經), 1 quyển; Xà-na-quật-đa (s: Jñānagupta 闍那崛多) dịch. 5. Đông phương tối thắng đăng vương Như Lai kinh (e: Sutra of the Tathāgata, the Eastern, Foremost King of Brightness 東方最勝燈王如來經), 1 quyển; Xà-na-quật-đa (s: Jñānagupta 闍那崛多) dịch. 6. Thánh tối thượng thắng minh Như Lai đà-la-ni kinh (e: Dhāraṇī of the Holy Foremost Brightness, the Radiant Tathāgata 聖最上燈明如來陀羅尼經), 1 quyển; Thi Hộ (s: Dānapāla 施護) dịch.
đồng môn
Schoolfellow.
đồng nam đại phật
6103位於四川潼南縣城西約一公里處之大佛寺內。寺始建於唐咸通年間,初名定名院,又名南禪寺。據縣志載,舊有石佛首,宋靖康元年(1126)道者王了知命工匠塑造身像,高八十尺,清同治年間又重裝大佛金身,至今光彩煥然。大佛依山而鑿,坐姿,高約二十七公尺,頭飾螺髻,袒胸,著雙領下垂外衣,左手置膝前,右手平置胸前,兩眼炯炯,全身飾金,莊嚴雄偉。大佛上覆七重飛閣以蔽風雨,為後人所建。大佛寺石壁上今猶有歷代名人題詠,其中如飛霞、天開圖畫等,仍清晰可見。
; (潼南大佛) Tượng Phật lớn ở chùa Đại Phật cách huyện lị Đồng nam tỉnh Tứ xuyên chừng một cây số về mạn tây. Chùa được sáng lập vào khoảng năm Hàm thông đời Đường, mới đầu gọi là Viện Định danh, sau đổi là chùa Nam thiền. Cứ theo Huyện chí chép thì trước đã có đầu tượng Phật bằng đá, niên hiệu Tĩnh khang năm đầu (1126) đời Tống, Vương liễu tri thuê thợ đắp thân tượng cao 18 thước (Tàu). Khoảng năm Đồng trị đời Thanh, tượng lại được sửa sang sơn thếp thành Kim thân Đại Phật, mầu sắc đến nay vẫn còn rực rỡ. Tượng Đại Phật được tạc dựa theo vách núi trong tư thế ngồi, cao chừng 27 m, trên đỉnh đầu có loa kế(búi tóc hình xoắn ốc), đắp y để hở ngực, hai vạt áo ngoài buông xuống, tay trái để ở trên đầu gối, tay phải đặt ngang ngực, hai mắt sáng rực, toàn thân thếp vàng, rất đẹp. Về sau, một gác cao bảy tầng được xây cất để che mưa gió cho tượng Đại Phật. Trên vách đá chùa Đại Phật đến nay vẫn còn những đề vịnh của các danh nhân các đời, trong đó có các bức vẽ như Phi hà, Thiên khai vẫn còn thấy được rõ ràng.
đồng nghiệp
Of the same profession—Co-worker—Colleague.
đồng nghĩa với
To be synonymous with.
đồng ngư
4141以桐木所製之木魚。禪林象器箋第二十七類唄器門:「晉書張華傳云:吳郡臨平岸崩,出一石鼓,槌之無聲,帝以問華,華曰:『可取蜀中桐材,刻為魚形,扣之則鳴矣!』於是如其言,果聲聞數里。」
; (桐魚) Tấm gỗ hình con cá làm bằng gỗ cây vông. Môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên loại 27 chép, truyện Trương hoa trong Tấn thư kể rằng: Bờ sông Lâm bình ở quận Ngô bị lở, trật ra một cái trống bằng đá, đánh không kêu, vua đem việc ấy hỏi Trương hoa, Hoa đáp: Phải lấy gỗ cây vông ở đất Thục khắc hình con cá đánh thì mới kêu !. Bấy giờ làm theo lời Trương hoa, quả nhiên tiếng trống vang xa mấy dặm.
đồng nhất duyên tướng
2243緣,即能緣,相當於三密中之意密;相,即所緣,相當於身、語二密。將此二者合而為一,乃表獨一無二之義。蓋有相之緣相,必定有所對待,無相之緣相,為絕待無二;故緣遍法界而平等,相亦遍法界而如虛空,唯獨一而不見他之相,故稱同一緣相。
; (同一緣相) Duyên là năng duyên, Tướng là sở duyên. Năng duyên và sở duyên hợp làm một. Trong Mật giáo, năng duyên tương đương với Ý mật, sở duyên tương đương với Thân mật và Ngữ mật. Cả hai được hợp làm một, biểu thị nghĩa độc nhất vô nhị. Bởi vì duyên tướng của có tướng thì tất phải có đối đãi; còn duyên tướng của không tướng thì dứt đối đãi. Cho nên Duyên khắp pháp giới mà bình đẳng; Tướng cũng khắp pháp giới mà như hư không, chỉ độc nhất mà không thấy tướng khác, nên gọi là Đồng nhất duyên tướng.
đồng nhất niệm phật
2242不分智愚、善惡、老少等,均信仰阿彌陀佛之本願而稱念佛號。往生論註卷下(大四○‧八三八中):「同一念佛,無別道故,遠通夫四海之內,皆為兄弟也。」蓋無論念佛者之根機如何,只要誠心念佛,則皆有同一功德。
; (同一念佛) Không phân biệt trí ngu, thiện ác, già trẻ, tất cả đều tin vào bản nguyện của đức Phật A di đà mà niệm danh hiệu của Ngài. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 838 trung), nói: Đồng nhất niệm vì không có con đường nào khác, khắp trong bốn biển đều là anh em vậy. Vô luận căn cơ người niệm Phật như thế nào, chỉ cần thành tâm niệm Phật thì cũng đều được công đức như nhau.
đồng nhứt
Identical—The very same.
đồng nơi sanh chẳng đồng nơi tử
Phật tánh đồng mà chỗ ngộ chẳng đồng, như tiểu tử tiểu hoạt và đại tử đại hoạt chẳng đồng. Nhưng có khi chư Tổ nói như thế là làm phương tiện để khiến thiền già phát khởi nghi tình mà thôi.
đồng nữ
5167梵語 kumārī 或 dārikā。即未成年之少女。法華經卷七普門品載,以童男童女身得度者,觀世音菩薩即現童男童女身,為其說法。又觀自在菩薩化身蘘麌哩曳童女銷伏毒害陀羅尼經載,觀自在菩薩之化身蘘麌哩曳童女為眾生宣說真言,能除滅世間一切諸毒。又有託童女占吉凶,或於行法時,用咒法結線等。〔大寶積經卷九十八妙慧童女會、法華經卷四提婆達多品、無垢賢女經〕
; (童女) Phạm: Kumàrìhoặcdàrikà. Thiếu nữ vị thành niên. Phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7 nói: Người cần đến thân đồng nam đồng nữ để được độ thì bồ tát Quan thế âm liền hiện thân đồng nam đồng nữ mà thuyết pháp cho họ. Kinh Quán tự tại bồ tát hóa thân Nhương ngu lí duệ đồng nữ tiêu phục độc hại đà la ni cũng nói: Hóa thân bồ tát Quán tự tại là đồng nữ Nhương ngu lí duệ giảng nói cho chúng sinh nghe chân ngôn tiêu trừ tất cả độc hại ở thế gian. [X. hội Diệu tuệ đồng nữ trong kinh Đại bảo tích Q.98; phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa Q.4; kinh Vô cấu hiền nữ].
đồng nữ tướng
5168即指童女之身相。有謂依童女之身相,可知其將來所生男女之善或非善。俱舍論卷五(大二九‧二七下):「勿謂表有為善惡,如童女相表善非善。」俱舍論光記釋上引中之「童女相」謂,若性貞潔,腳膝纖團,皮膚細軟,齒白唇薄,必生善子,反之則生不善子。
; (童女相) Thân tướng đồng nữ. Có thuyết cho rằng cứ xem thân tướng của đồng nữ thì có thể biết sau này người ấy sinh con trai, con gái tốt hay không tốt. Luận Câu xá quyển 5 (Đại 29, 27 hạ), nói: Tướng đồng nữ có thể cho thấy thiện hay không thiện. Câu xá luận quang kí giải thích câu trên như sau: Nếu tính người con gái trong trắng, ống chân nhỏ đầu gối tròn, da dẻ mịn màng, răng trắng môi mỏng, ắt sẽ sinh con hiền lành, trái lại thì sẽ sinh con bất thiện.
đồng phàm hiện tật
2243釋尊法身本無生滅,然為教化世人,遂示疾入滅。淨覺師碑銘:「于是同凡現疾,處順將終,忽謂眾人:『有疑皆問,我于是夜,當入無餘。』」
; (同凡現疾) Thị hiện bệnh tật như người phàm phu. Pháp thân Như lai vốn không sinh diệt, nhưng để giáo hóa chúng sinh, Ngài thị hiện sắc thân có sinh, bệnh và nhập diệt giống như người thường. Trong văn bia của ngài Tịnh giác có câu: Lúc bấy giờ, Như lai thị hiện có bệnh giống như người phàm phu, đến lúc sắp tịch, Ngài bảo mọi người: Có điều gì nghi ngờ thì hỏi đi, trong đêm nay ta sẽ vào Niết bàn.
đồng pháp dụ
2245因明用語。因明喻支(譬喻)之一。乃「異法喻」之對稱。又作同法、同喻、同品。喻,比況、譬喻之意。法,總括能立與所立法。同法,即兼同於能立、所立法,亦即因同品兼宗同品。其作用在「於喻中顯示因同品決定有性」。(參閱「同喻」2249)
; (同法喻) Cũng gọi Đồng pháp, Đồng dụ, Đồng phẩm. Đối lại với Dị dụ. Tiếng dùng trong Nhân minh. Dụ tức là ví dụ; Pháp bao gồm cả pháp năng lập (Nhân) và pháp sở lập (Tông), cũng tức là Nhân đồng phẩm và Tông đồng phẩm. Đồng pháp dụ có tác dụng hiển bày trong phần Dụ quyết định phải có tính cách của Nhân đồng phẩm. (xt. Đồng Dụ).
đồng pháp tương tự quá loại
2245因明用語。古因明之祖足目所立因明「似能破」十四過類之第一。立者(立論者)於對論中雖舉出異喻,而對方竟強指其為同喻以攻擊非難之過失,即妄破正確論式之過誤,相當於世親如實論中十種顛倒難之第一種「同相難」。例如勝論師對聲論師立「聲是無常(宗,命題),勤勇無間所發性故(因,理由),譬如瓶等(同喻,由正面說明之例證);諸常住皆非勤勇無間所發性,譬如虛空(異喻,由反面說明之例證)」之正確論式。聲論師欲駁斥對方之主張,乃立「聲是常住(宗),無質礙故(因),如虛空(同喻);諸無常皆有質礙,譬如瓶等(異喻)」之論式。其中所說「瓶等」應為同法,然聲論師以「虛空」為同法,即自招此過失。蓋建立正確論式時,應以同喻為同喻,聲論師以同喻為異喻,即以「無質礙」為因,則此因既通於「如虛空」之常住法,又通於心與心所之無常法,如是即非具有決定性之因,故犯「相違決定」及「共不定」等過失。〔因明正理門論本、如實論道理難品、因明論疏瑞源記卷八〕(參閱「十四過類」415、「因明」2276)
; (同法相似過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Là lỗi thứ nhất trong 14 lỗi thuộc về Tự năng phá (phá luận sai) của Nhân minh cũ do ngài Mục túc lập. Trong khi tranh luận, người lập luận tuy đưa ra Dị dụ đúng đắn, nhưng địch luận cưỡng lại cho là Đồng dụ để công kích bác bỏ, nên phạm sai lầm này. Lỗi này tương đương với loại thứ nhất đồng tướng nạn của 10 thứ điên đảo trong luận Như thực của ngài Thế thân. Chẳng hạn như Thắng luận sư đối luận với Thanh luận sư mà lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì là do sự cần dũng không gián đoạn mà phát sinh (tức là do sự tác động của ý chí mà phát sinh). Đồng dụ: Những gì do sự cần dũng không gián đoạn mà phát sinh đều là vô thường, như cái bình v.v... Dị dụ: Những gì không phải là vô thường thì không do sự cần dũng không gián đoạn mà phát sinh, như hư không v.v... Luận thức trên đây hoàn toàn chính xác. Nhưng Thanh luận sư muốn bác bỏ chủ trương của đối phương nên lập luận thức: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì không có tính chất ngăn ngại. Đồng dụ: Những gì không có tính chất ngăn ngại đều là thường còn, như hư không v.v... Dị dụ: Những gì là vô thường đều có tính chất ngăn ngại, như cái bình v.v... Trong luận thức trên, đáng lẽ lấy bình v.v... làm Đồng pháp, nhưng Thanh luận sư lại lấy hư không làm đồng pháp nên phạm phải lỗi này. Bởi vì, lập luận đúng là phải lấy đồng dụ làm đồng dụ, đàng này Thanh luận sư lại lấy đồng dụ làm dị dụ, tức lấy không có tính ngăn ngại làm Nhân, thì Nhân này chung cho cả pháp thường còn như hư không và pháp vô thường tâm và tâm sở. Như vậy, Nhân này không có tính quyết định nên phạm các lỗi Tương vi quyết định và Cộng bất định. [X. luận Nhân minh chính lí môn phần đầu; phẩm Đạo lí nan trong luận Như thực; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.8]. (xt. Thập Tứ Quá Loại, Nhân Minh).
đồng phần
2243梵語 sabhāga。<一>又作有分、等分。分,自己之作用之義。 即根(感官之機能)、境(對象)、識(認識之主體)三者相互交涉,各別實現其自業之作用,各別完成其任務,稱為同分。例如,眼根之自業為取色境,眼識之自業為緣色境,而色境之自業,則為眼根及眼識所取;如此,根、境、識三者相互交涉。各別實現其自業。反之,根、境、識三者若僅止於相互交涉,而不實現其各別之自業,則稱為彼同分(梵 tat-sabhāga),又作餘有分、非等分。蓋彼同分非為同分,然其與彼(指同分)種類相同,故稱彼同分。此外,同分、彼同分二者,亦稱為等分、非等分;自分、彼分;有分、餘有分。〔俱舍論卷二、順正理論卷六、大毘婆沙論卷七十一、卷七十二、雜阿毘曇心論卷一〕(參閱「彼同分」3204) <二>為「眾同分」之略稱。指有情眾生之共性或共因。為俱舍七十五法之一,唯識百法之一。〔俱舍論卷五〕(參閱「眾同分」4749)
; (同分) Phạm: Sabhàga. I. Đồng Phận. Cũng gọi Hữu phận, Đẳng phận. Phận là nghĩa nhiệm vụ của chính mình. Tức căn (cơ năng cảm quan), Cảnh (đối tượng), thức (chủ thể nhận thức) giao tiếp với nhau, mỗi thứ thực hiện tác dụng riêng của mình để hoàn thành nhiệm vụ, gọi là Đồng phận. Như nhiệm vụ của nhãn căn là nhận lấy sắc cảnh, nhiệm vụ của nhãn thức là duyên theo sắc cảnh, còn sắc cảnh thì có nhiệm vụ làm sở thủ cho nhãn căn và nhãn thức. Như vậy, căn, cảnh, thức giao tiếp nhau mà thực hiện bổn phận của mình. Trái lại, nếu căn, cảnh, thức chỉ giao tiếp với nhau thôi mà không thực hiện bổn phận của mình, thì gọi là Bỉ đồng phận (Phạm: Tat-sabhàga), cũng gọi Dư hữu phận, Phi đẳng phận. Bỉ đồng phận không phải là đồng phận, nhưng là cùng chủng loại với đồng phận nên gọi là Bỉ đồng phận. Ngoài ra, Đồng phận và Bỉ đồng phận cũng gọi là Đẳng phận, Phi đẳng phận; hoặc gọi là Tự phận, Bỉ phận; hoặc Hữu phận, Dư hữu phận. [X. luận Câu xá Q.2; luận Thuận chính lí Q.6; luận Đại tì bà sa Q.71, Q.72; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1]. (xt. Bỉ Đồng Phận). II. Đồng Phận. Gọi tắt của Chúng đồng phận. Chỉ cho cộng tính hoặc cộng nhân của chúng sinh. Là một trong 75 pháp của luận Câu xá, một trong 100 pháp của Duy thức. [X. luận Câu xá Q.5]. (xt. Chúng Đồng Phận).
đồng phần di toàn
2243因明用語。因明三十三過中六不定過之一,即九句因中之第七句「同品有非有異品有」。其全名為「同品一分轉異品遍轉」。乃因之第三相異品遍無性未能完成所引發之過失。(參閱「六不定過」1253、「同品一分轉異品遍轉不定過」2246)
; (同分异全) Đồng phẩm cũng có cũng không, Dị phẩm có. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trường hợp này, Nhân có tính cách của cả Đồng phẩm và Dị phẩm, nhưng với Đồng phẩm chỉ có một phần mà Dị phẩm thì có toàn phần. Vì thế, không thể đoán định được Tông thuộc về Đồng phẩm hay Dị phẩm. Như lập luận thức: Tông: Chỗ kia không có khói. Nhân: Vì ở đó có lửa. Chỗ không có khói, có thể có lửa, mà cũng có thể không có lửa, như vậy, Nhân có một phần tính cách Đồng phẩm. Còn chỗ có khói tất nhiên là có lửa, chỗ có lửa tất nhiên là có khói chứ sao lại không có khói? Bởi thế, Nhân này có tính cách của Dị phẩm, nên bị lỗi bất định. (xt. Lục Bất Định Quá, Đồng Phẩm Nhất Phần Chuyển Dị Phẩm Biến Chuyển Bất Định Quá).
đồng phẩm
2246<一>指同類,即性質相互共通者。 <二>梵語 sapakṣa。因明用語。指因明論式中,與宗(命題)之後陳(述詞)品類相同者。同品可分「宗同品」和「因同品」二種,一般多指「宗同品」,即於論式中,與宗之意義均等、共通之品類。〔因明入正理論〕(參閱「因明」2276)
; See Đồng Loại.
; (同品) I. Đồng Phẩm. Đồng loại, tức là cùng một tính chất như nhau. II. Đồng Phẩm. Phạm: Sapakwa. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho những sự vật cùng 1 phẩm loại với danh từ sau (hậu trần) của Tông trong luận thức Nhân minh. Đồng phẩm được chia làm 2 loại: Tông đồng phẩm và Nhân đồng phẩm, nhưng phần nhiều chỉ cho Tông đồng phẩm. [X. luận Nhân minh nhập chính lí]. (xt. Nhân Minh).
đồng phẩm hữu
2246因明用語。有,全有之意。因明論式中,全部宗同品或因同品均具有能立法所說之義者,稱為同品有。例如聲論師對佛教徒立「聲為常」為宗(命題),以「所量性故」為因(理由),其中「常」為所立法,「所量」意指思想之對象,為能立法。故凡具有常性之事物(如虛空)皆為宗同品;反之,凡不具有常性之事物(如瓶)皆為宗異品。虛空及其他一切具有常性之事物,無一不可為思想之對象,故稱同品有。〔因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕
; (同品有) Tiếng dùng trong Nhân minh. Hữu là có toàn bộ, tức là toàn bộ Tông đồng phẩm hoặc Nhân đồng phẩm đều phải có nghĩa của pháp năng lập (Nhân). Như Thanh luận sư đối với tín đồ Phật giáo mà lập luận thức: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì có tính lường được. Trong đó, thường còn là pháp sở lập, lường được chỉ cho đối tượng của tư tưởng, là pháp năng lập. Như vậy, những sự vật có tính thường còn (như hư không) đều là Tông đồng phẩm; trái lại, những sự vật không có tính thường còn (như cái bình...) đều là Tông dị phẩm. Hư không và tất cả sự vật có tính thường còn, không một vật nào không là đối tượng của tư tưởng, cho nên gọi là Đồng phẩm hữu. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].
đồng phẩm hữu phi hữu
2247因明用語。「有非有」,部分為有,部分為非有之意。於因明論式中,宗同品之一部分具有能立法,一部分未具有能立法者,稱為同品有非有。例如聲生論師對聲顯論師建立論式時,以「聲非勤勇無間所發」為宗(命題),以「無常性故」為因(理由),其中,「非勤勇無間所發」為所立法,「無常」為能立法。故凡不具有勤勇無間所發性之事物(如電、虛空等)均為宗同品;反之,凡具有勤勇無間所發性之事物(如瓶等)均為宗異品。於宗同品中,電具有無常性,而虛空不具有無常性,故稱同品有非有。〔因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕
; (同品有非有) Đồng phẩm cũng có cũng không. Tiếng dùng trong Nhân minh. Nghĩa là một phần của Tông đồng phẩm có pháp năng lập, một phần không có pháp năng lập. Như Thanh sinh luận sư đối với Thanh hiển luận sư mà lập luận thức: Tông: Âm thanh không phải do sự cần dũng không gián đoạn mà phát ra. Nhân: Vì là tính vô thường. Trong đó, không phải do sự cần dũng không gián đoạn mà phát ra là pháp sở lập, vô thường là pháp năng lập. Như vậy, phàm những sự vật không do sự cần dũng không gián đoạn mà phát ra (như điện, hư không v.v...) đều là Tông đồng phẩm; trái lại, những sự vật do sự cần dũng không gián đoạn mà phát sinh (như cái bình, cái chén v.v...) đều là Tông dị phẩm. Nhưng trong Tông đồng phẩm thì điện có tính vô thường, còn hư không không có tính vô thường, cho nên gọi là Đồng phẩm hữu phi hữu. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].
đồng phẩm nhất phần chuyển di phẩm biến chuyển bất định quá
2246因明用語。同品一分轉,梵語 sapakṣa-eka-deśa-vṛtti。異品遍轉,梵語 vipakṣa-vyāpin。不定,梵語 anaikāntika。又作同分異全不定過。為因明三十三過中,因(理由)之六不定過之一。因與同品有部分關係,卻與異品有全部關係,以致不能決定宗義之過失。因原係宗與同喻之媒介,故須與同品有關(同品定有性)而與異品無關(異品遍無性),若因同時與異品、同品無關,或同時與同品、異品有關,皆稱為不定。其中,若因所關係者,在同品為部分,對異品為全部,即稱為同分異全不定。此係缺乏因第三相(異品遍無性)之過失。 例如聲生論師對聲顯論師立一「聲非勤勇無間所發(宗),無常性故(因),同喻如電、虛空等,異喻如瓶等」之論式,以非勤勇無間所發之「虛空」或「電」等為同品,「瓶」等勤勇無間所發性為異品,然同品中如「電」等雖為無常,「虛空」則不能視為無常,如此僅與同品之部分有關,反而卻遍通於「瓶」等之異品,是則其勤勇所發之性究竟指如「瓶」等之無常性,或指如「電」等之無常性,皆無法確定,此乃不定之作法,故有不定過之名。〔因明入正理論、因明入正理論疏卷中末、因明義斷、因明論疏明燈抄卷四末〕(參閱「六不定過」1253、「因明」2276)
; (同品一分轉异品遍轉不定過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Đồng phẩm nhất phần chuyển, Phạm: Sapakwa-eka-deza-vftti. Dị phẩm biến chuyển, Phạm: Vipakwavyàpin. Bất định, Phạm:Anaikàntika. Cũng gọi Đồng phần dị toàn bất định quá. Trường hợp này, Nhân bị lỗi bất định vì Nhân có một phần quan hệ với Đồng phẩm và toàn bộ quan hệ với Dị phẩm. Lẽ ra Nhân phải không có quan hệ với Dị phẩm mới đúng. Bởi thế, đã là bất định thì không thể bênh vực cho Tông được. Như lập luận thức: Tông: Con người sẽ phải chết. Nhân: Vì là một vật đang tồn tại. Vật đang tồn tại là cái Nhân có tính cách của những vật sẽ phải chết (nghĩa là có tính cách của Đồng phẩm, đúng) nhưng đồng thời cũng có cả tính cách của những vật sẽ không phải chết (nghĩa là có tính cách của Dị phẩm) nên là bất định. Và nhìn vào cái Nhân ấy, ta không thể quyết định con người sẽ phải chết hay không phải chết. Vì Đồng phẩm thì sẽ phải chết, mà Dị phẩm thì không chết. Cho nên Nhân này không xác định được nghĩa của Tông. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung phần cuối; Nhân minh nghĩa đoán; Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.4 phần cuối]. (xt. Lục Bất Định Quá, Nhân Minh).
đồng phẩm phi hữu
2247因明用語。「非有」,全無之意。因明論式中,全部宗同品皆不具有能立法者,稱為同品非有。例如聲生論師立「聲為常」為宗(命題),以「所作性故」為因(理由),其中,「常」為所立法,「所作」為能立法。故凡具有常性之事物(如虛空)皆為宗同品;反之,凡不具有常性之事物(如瓶等)皆為宗異品。虛空等具有常性之事物,無一具有所作性,故稱為同品非有。〔因明入正理論悟他門淺釋(陳大齊)〕
; (同品非有) Tiếng dùng trong Nhân minh. Nghĩa là toàn bộ Tông đồng phẩm không có pháp năng lập. Như Thanh sinh luận sư lập luận thức: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì do sự tác động mà có ra. Trong đó, thường còn là pháp sở lập, do tác động mà có ra là pháp năng lập. Như vậy, những sự vật có tính thường còn (như hư không) đều là Tông đồng phẩm; trái lại, những sự vật không có tính thường còn (như cái bình v.v...) đều là Tông dị phẩm. Những sự vật có tính thường còn như hư không v.v..., không một vật nào do sự tác động mà có ra, cho nên gọi là Đồng phẩm phi hữu. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].
đồng phẩm định hữu tính
2247梵語 sapakṣe sattvam。因明用語。因(理由)三相之一,用以表示因與宗(命題)後陳(述詞)之關係。例如「甲是乙(宗),丙故(因),諸丙皆是乙(喻,譬喻)」中,乙之同品一定須有丙之因存在,乙必須附隨於丙,然丙並不必遍通於乙,故稱定有;亦即「一定要有,不可全無」之意。故有因必有其後陳之宗依追隨,如「人必將死,動物故」,「死」中必有「動物」即可,而會死之物不一定僅限於動物(植物亦然),此即同品定有性。以因之義成立宗之義故,因之義不必與宗之義全部相同,即與宗義同類之宗同品有部分關係即可。〔因明入正理論、因明論疏明燈抄卷二末、卷三本、因明論疏瑞源記卷三〕(參閱「三支作法」534、「同喻」2249、「因明」2276)
; (同品定有性) Phạm: Sapakwe satvam. Quyết định phải có tính cách của đồng phẩm. Tiếng dùng trong Nhân minh. Một trong 3 điều kiện (3 tướng) của Nhân dùng để biểu thị mối quan hệ giữa Nhân và danh từ sau (hậu trần) của Tông. Như lập luận thức: Tông: A tức là B. Nhân: Vì D là C vậy. Dụ: Phàm là C đều là B cả. Trong đây, đồng phẩm của B nhất định phải có nhân C, B phải phụ thuộc vào C, nhưng B không hẳn phải có trong C, cho nên C được gọi là Định hữu, nghĩa là nhất định phải có, không thể hoàn toàn không có. Bởi thế, hễ có Nhân ắt phải có hậu trần (danh từ sau) của Tông theo sau. Như nói: Con người nhất định sẽ chết, vì là động vật vậy. Ở đây, trong chết phải có động vật, mà vật sẽ chết không phải chỉ có động vật, nhưng có cả thực vật, đó tức là Đồng phẩm định hữu tính. Vì lấy nghĩa của Nhân để thành lập nghĩa của Tông, nên nghĩa của Nhân không cần phải giống toàn bộ với nghĩa của Tông, tức là Tông đồng phẩm có một phần quan hệ đồng loại với nghĩa của Tông là được. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.2 phần cuối, Q.3 phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.3]. (xt. Tam Chi Tác Pháp, Đồng Dụ, Nhân Minh).
Đồng Quang
(同光, Dōkō, 700-770): vị tăng của Bắc Tông Thiền, môn hạ của Phổ Tịch (普寂) ở Tung Sơn (嵩山). Trong suốt hơn 20 năm ông khai pháp, chuyên tuyên xướng Thiền luật, và đến ngày 27 tháng 6 năm thứ 5 (770) niên hiệu Đại Lịch (大曆), ông thị tịch ở Thiếu Lâm Tự (少林寺), hưởng thọ 71 tuổi đời và 45 hạ lạp. Môn nhân của ông có khoảng hơn 30 người.
Đồng quy
同歸; C: tóngguī; J: dōki; |Quy hướng vào cùng một mục đích.
đồng quy giáo
2250又作萬善同歸教。為南朝慧觀及劉虬二者,分別各立之五時教中之第四。即以法華經為會三歸一(開會三乘,同歸一乘),而使萬善悉向菩提之法門,故稱法華為同歸教。(參閱「五時教」1136)
; (同歸教) Cũng gọi Vạn thiện đồng qui giáo. Là giáo thứ 4 trong Ngũ thời giáo do các ngài Tuệ quán và Lưu cầu thành lập vào thời Nam triều. Tức là pháp môn lấy kinh Pháp hoa làm Hội tam qui nhất(mở hội ba thừa về một thừa) để khiến muôn điều thiện đều hướng về Bồ đề. (xt. Ngũ Thời Giáo).
Đồng quy 同歸
[ja] ドウキ dōki ||| Concluding in the same intention. => Quy hướng vào cùng một mục đích.
Đồng quản
(彤管): chỉ cho cây bút màu đỏ thân gỗ, được các nữ quan thời xưa dùng để ghi chép mọi việc trong cung nội. Như trong Thi Kinh (詩經), thiên Bắc Phong (邶風), Tĩnh Nữ (靜女), có câu: “Tĩnh nữ kỳ luyến, di ngã đồng quản (靜女其孌、貽我彤管, người nữ xinh đẹp, tặng ta bút đỏ).” Trịnh Huyền (鄭玄, 127-200) nhà Hán chú thích rằng: “Đồng quản, bút xích quản dã (彤管、筆赤管也, đồng quản là cây bút có cán màu đỏ).”
đồng sanh thiên
Vị trời bảo hộ, sanh ra cùng lúc với người mà vị ấy bảo hộ che chở (mỗi người ngay từ lúc sanh ra đã có hai vị Đồng Sanh Thiên và Đồng Danh Thiên bảo hộ che chở)—The guardian deva, who is born or produced simultaneously with the person he protects.
đồng sanh thần
The guardian spirit.
Đồng sinh
同生; C: tóngshēng; J: dōshō; |Sinh cùng thời với nhau.
Đồng sinh 同生
[ja] ドウショウ dōshō ||| To be born together. => Sinh cùng thời với nhau.
Đồng sấn
(童齔): có hai nghĩa: (1) Tuổi ấu thơ, đồng niên. Như trong Cựu Đường Thư (舊唐書), Truyện Bùi Hưu (裴休傳) có câu: “Hưu chí thao kiên chánh, đồng sấn thời, huynh đệ đồng học ư Tế Nguyên biệt thự (休志操堅正、童齔時、兄弟同學於濟源別墅, Hưu chí vững kiên trì, lúc tuổi nhỏ, anh em cùng học nơi biệt thự của Tế Nguyên).” Hay như trong Quách Tân Giai Truyện (郭新楷傳) của Vương Khải Vận (王闓運, 1833-1916) cũng có câu: “Đồng sấn dĩnh dị, sổ tuế tang phụ, cô cư Trường Sa (童齔穎異、數歲喪父、孤居長沙, lúc nhỏ khác thường, mấy năm sau để tang cha, sống một mình nơi Trường Sa).” (2) Chỉ cho tiểu nhi, đứa con nít. Như trong Bắc Sử (北史), Truyện Hàn Kỳ Lân (韓麒麟傳) có đoạn rằng: “Giả lịnh nhất xứ đàn tranh, xuy địch, hoãn vũ trường ca, nhất xứ nghiêm sư khổ huấn, tụng thi giảng lễ, tuyên lịnh đồng sấn, nhậm ý sở tùng (假令一處彈箏、吹笛、緩舞長歌、一處嚴師苦訓、誦詩講禮、宣令童齔、任意所從, giả ra lịnh cho một nơi chơi đàn tranh, thổi sáo, nhảy múa, ca hát; một nơi khác thì có thầy nghiêm khắc, dạy khó khăn, đọc thơ giảng lễ nghi, rồi ra lịnh bảo trẻ nít, tùy ý theo nơi nào).” Hơn nữa, Thuyết Văn (說文) có giải thích rõ rằng: “Nam bát nguyệt sanh xỉ, bát tuế nhi sấn; nữ thất nguyệt sanh xỉ, thất tuế nhi sấn (男八月生齒、八歲而齔、女七月生齒、七歲而齔, nam tám tháng mọc răng, tám tuổi mọc răng già; nữ bảy tháng mọc răng, bảy tuổi mọc răng già).” Cho nên trẻ em 7, 8 tuổi còn được gọi là Đồng Sấn (童齔). Trẻ lên 9 tuổi là Cửu Linh (九齡). Trong Chu Thư (周書), quyển 12, Liệt Truyện (列傳) thứ 4, phần Tề Dương Vương Hiến (齊煬王憲) có đoạn rằng: “Tề Dương Vương Hiến tự Tỳ Hạ Đột, Thái Tổ đệ ngũ tử dã; tánh thông mẫn, hữu độ lượng, tuy tại đồng sấn, nhi thần thái ngực nhiên (齊煬王憲字毗賀突、太祖第五子也、性通敏、有度量、雖在童齔、而神彩嶷然, Tề Dương Vương Hiến tự là Tỳ Hạ Đột, con thứ năm của Thái Tổ [tại vị 479-482]; tánh thông mẫn, có độ lượng, tuy đang còn nhỏ tuổi mà thần thái khác người).” Trong Ma Ha A Di Đà Kinh Trung Luận (摩訶阿彌陀經衷論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 22, No. 401) có câu rằng: “Dư đồng sấn thời, nhật tùng tiên tỉ chú hương đảnh lễ, cập thập tuế quá hương đôn, văn kỳ sư phương thọ chư đệ Mạnh Tử thư (余童齔時、日從先妣炷香頂禮、及十歲過鄉墩、聞其師方授諸弟孟子書, lúc ta tuổi còn bé, hằng ngày theo mẹ đã quá vãng thắp hương đảnh lễ, đến mười tuổi khi đi qua ụ đất của làng, nghe vị thầy ấy dạy cho học trò sách Mạnh Tử).” Hoặc như trong Khai Nguyên Thích Giáo Lục (開元釋敎錄, Taishō Vol. 55, No. 2154) quyển 3, truyện của Phật Đà Bạt Đà La (s: Buddhabhadra, 佛陀跋陀羅) cũng có câu: “Kỳ đồng sấn xuất gia, dĩ thông giải kinh luận, thiếu thọ nghiệp ư Đại Thiền Sư Phật Đại Tiên (其童齔出家、已通解經論、少受業於大禪師佛大先, Ngài xuất gia lúc bé, đã thông hiểu kinh luận, lớn lên thọ giáo với Đại Thiền Sư Phật Đại Tiên).”
Đồng sử
(彤史): có hai nghĩa chính. (1) Tên của một nữ quan trong cung thời cổ đại, chuyên trách ghi chép mọi chuyện trong hậu cung của đế vương. Như trong Tân Đường Thư (新唐書), phần Bách Quan Chí (百官志) 2, có câu: “Đồng Sử nhị nhân, Chánh Lục Phẩm (彤史二人、正六品, Đồng Sử hai người, chức quan Chánh Lục Phẩm).” Trong tác phẩm Thắng Triều Đồng Sử Thập Di Ký (勝朝彤史拾遺記) của Mao Kỳ Linh (毛奇齡, 1623-1716) nhà Thanh giải thích về chức quan này rằng: “Đồng Sử giả, hậu cung nữ quan danh dã; kỳ chế, tuyển lương gia nữ tử chi tri thư giả sung chi, sử chi ký cung vi khởi cư cập nội đình yến tiết chi sự, dụng thị khuyến giới (彤史者、後宮女官名也、其制、選良家女子之知書者充之、使之記宮闈起居及內庭燕褻之事、用示勸戒, Đồng Sử là tên vị nữ quan ở hậu cung; theo quy chế, vị này tuyển chọn người nữ của gia đình tốt lành rồi bảo người chuyên trách sổ sách sung vào, khiến người này ghi chép những sinh hoạt hằng ngày trong cung nội cũng như chuyện xảy ra ở nội đình, dùng để khuyên răn và cảnh giới).” (2) Chỉ cho cung sử, sử thư chuyên ghi chép về những sinh hoạt thường nhật trong nội cung. Như trong bài thơ Chương Hoài Thái Tử Tĩnh Phi Vãn Từ (章懷太子靖妃輓詞) của Thẩm Thuyên Kỳ (沉佺期, khoảng 656-714/715) nhà Đường có câu: “Đồng sử giai thanh tải, thanh cung ý phạm lưu (彤史佳聲載、青宮懿範留, Đồng sử tiếng thơm còn ghi mãi, thanh cung quy phạm vẫn lưu truyền).”
Đồng sự
同事; C: tóngshì; J: dōji; |1. Chung sức, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau; 2. Tham gia cùng công việc của chúng sinh để cứu độ họ.
đồng sự
Samanarthata (skt)—Working together—See Tứ Nhiếp Pháp (4).
Đồng sự nhiếp
xem Bốn pháp thâu nhiếp.
đồng sự nhiếp
2244梵語 samānārthatā-saṃgraha。為四攝法之一。又作同事攝事、同事隨順方便、隨轉方便。指菩薩隨應眾生之機緣而示現,和光同塵,與一切眾生共事,令得利益,由此因緣,菩薩得以攝受眾生,眾生亦因之依從菩薩信受教法,而得入於涅槃之境。(參閱「四攝法」1853)
; (同事攝) Phạm: Samànàrthatà-saôgraha. Cũng gọi Đồng sự nhiếp sự, Đồng sự tùy thuận phương tiện, Tùy chuyển phương tiện. Bồ tát tùy theo cơ duyên của chúng sinh mà thị hiện, hòa quang đồng trần, cộng sự với tất cả chúng sinh để làm lợi ích cho họ, nhờ thế Bồ tát gần gũi chúng sinh, chúng sinh cũng nhân đó tin nhận lời dạy của Bồ tát mà được vào cảnh giới Niết bàn. Đây là một trong Tứ nhiếp pháp. (xt. Tứ Nhiếp Pháp).
Đồng sự 同事
[ja] ドウジ dōji ||| (1) To cooperate, to work together, to help each other. (2) To participate in the affairs of sentient beings in order to help them. => 1. Chung sức, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau. 2. Tham gia cùng công việc của chúng sinh để cứu độ họ.
Đồng tham
同參; C: tóngcān; J: dōsan; |Huynh đệ cùng tu tập chung một thầy hay chung một tu viện. Bạn đồng tu.
đồng tham
2248指同事一師而共同參禪者。後成為僧侶間一般之稱呼。與「同學」同義。此外,同參亦有互相研究之義。〔碧巖錄第二則〕
; (同參) Chỉ cho những người cùng thờ một thầy và cùng tham thiền học đạo, giống với nghĩa Đồng học, Đồng nghiên cứu. Từ ngữ này về sau trở thành tiếng xưng hô chung giữa các tăng lữ với nhau. [X. tắc 2 Bích nham lục].
Đồng tham 同參
[ja] ドウサン dōsan ||| A fellow student under the same teacher or in the same monastery. Fellow trainees. => Huynh đệ cùng tu tập chung một thầy hay chung một tu viện. Bạn đồng tu.
đồng thanh
Unanimously—With one voice—In chorus.
đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu
Birds of the same feather flock together.
đồng thái tự
2248位於江蘇江寧之東北。梁武帝普通二年(521)九月建立。本寺樓閣臺殿,九級浮圖聳入雲表。帝嘗親臨禮懺,捨身此寺,並設無遮大會等法會,又親升法座,開講涅槃、般若等經,後更於本寺鑄造十方佛之金銅像。梁亡陳興,本寺遂成廢墟。宋時再建,改稱法寶寺。後成軍旅營地,再度荒廢。今雞鳴寺即同泰寺址,係建於明代,然此尚有異說。〔釋氏稽古略卷二、金陵梵剎志卷二、梁書本紀第一至第三〕
; (同泰寺) Chùa ở mạn đông bắc huyện Giang ninh tỉnh Giang tô, Trung quốc, do vua Lương Vũ đế sáng lập vào tháng 9 năm Phổ thông thứ 2 (521). Chùa có lầu gác, điện đài trang nghiêm với tòa tháp chín tầng cao ngất. Nhà vua thường đến đây lễ sám, giảng kinh Bát nhã, Niết bàn, mở nhiều Đại pháp hội Vô già và đúc tượng Phật Thập phương bằng đồng để thờ. Về sau, Vũ đế qua đời tại đây. Nhà Lương mất, nhà Trần nổi lên, chùa này bèn hoang phế. Đến thời Tống, chùa được làm lại, đổi tên là chùa Pháp bảo, sau trở thành doanh trại của quân đội thì lại một lần nữa hoang vu. Có thuyết cho rằng chùa Kê minh hiện nay làm vào đời Minh tức đã được xây dựng trên nền chùa Đông thái. Nhưng thuyết này vẫn chưa được xác nhận. [X. Thích thị kê cổ lược Q.2; Kim lăng phạm sát chí Q.2; Lương thư bản kỉ thứ 1 đến thứ 3].
đồng thính di văn
2251天台宗所立化儀四教中之第三祕密教與第四不定教,即於佛說法時同座而聽,然所聞之法各異,小乘之機聞小法,大乘之機聞大法,稱為同聽異聞。又同聽異聞者所聞之教法,若為自他互相知,然受益因人而異者,稱為不定教;而自他互不相知,受益亦各自不同者,則稱為祕密教。〔法華玄義釋籤卷一〕(參閱「五時八教」1132)
; (同聽异聞) Khi đức Phật nói pháp, đại chúng cùng nghe, những pháp mà mỗi người nghe đều khác nhau: Căn cơ Tiểu thừa nghe pháp nhỏ, căn cơ Đại thừa nghe pháp lớn. Đây nói về thính chúng thuộc Bí mật giáo thứ 3 và Bất định giáo thứ 4 trong bốn giáo hóa nghi do tông Thiên thai lập ra. Như khi nghe pháp, mình và người cùng hiểu như nhau, nhưng lợi ích thu được thì khác nhau, gọi là Bất định giáo. Còn mình và người hiểu không giống nhau, mà lợi ích đạt được cũng khác nhau, thì gọi là Bí mật giáo. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1]. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).
đồng thính dị văn
Theo tông Thiên Thai, cùng nghe một thứ pháp tại cùng một tòa, nhưng lại hiểu khác nhau—According to the T'ien-T'ai sect, this means to hear the same words, but understand differently.
đồng thế ngũ sư
2243又稱橫五師。為「異世五師」之對稱。係指佛陀入滅後之百年左右(即阿育王時代),同時出自異世五師之第五優婆毱多門下之五位高足。即曇無德、薩婆多、彌沙塞、迦葉遺、婆麤富羅等五師。 據律宗綱要卷下載,此五師因對「律」之見解不同,各持己意,遂將律藏分為五部,稱為五部律。關於五部之名稱,諸說各異,據三論玄義卷二,舉出曇無德、摩訶僧祇、彌沙塞、迦葉維、犢子等五部。此外,尚有異說。〔佛藏經卷中、大方等大集經卷二十二、佛本行集經卷六十、大乘玄論卷五、出三藏記集卷三、卷十二〕(參閱「五部律」1157、「異世五師」5150)
; (同世五師) Đối lại với Dị thế ngũ sư. Cũng gọi Hoành ngũ sư. Năm vị đệ tử của ngài Ưu ba cúc đa ra đời cùng thời đại vào khoảng 500 năm sau đức Phật nhập diệt(tức thời đại vua A dục). Đó là: Đàm vô đức, Tát bà đa, Di sa tắc, Ca diếp di và Bà thô phú la. Cứ theo Luật tông cương yếu quyển hạ chép, thì vì kiến giải khác nhau, mỗi người giữ theo ý riêng, nên 5 vị kể trên bèn chia tạng luật làm 5 bộ, gọi là Ngũ bộ luật. Và về tên gọi của 5 bộ có nhiều thuyết khác nhau. Tam luận huyền nghĩa quyển 2 ghi năm bộ là: Đàm vô đức, Ma ha tăng kì, Di sa tắc, Ca diếp duy và Độc tử. [X. kinh Phật tạng Q.trung; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.22; kinh Phật bản hạnh tập Q.60; luận Đại thừa huyền Q.5; Xuất tam tạng kí tập Q.3, Q.12]. (xt. Ngũ Bộ Luật, Dị Thế Ngũ Sư).
đồng thể
Có cùng một tánh chất như nước và sóng—Of the same body or nature, as water and wave.
đồng thể chi hoặc
2251同體,即觀一切眾生與己身為同體,乃真如平等,無二無別;如波之於水、四肢之於一身。同體之惑,則謂人之根本無明,乃真如自體之迷惑;此無明與真如二者,猶如波與水之為同體,故稱同體之惑。〔法華經玄義卷五上〕
; (同體之惑) Vô minh phiền não của con người vốn cùng một thể tính với chân như hệt như sóng với nước. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5 phần trên].
đồng thể môn
2252華嚴宗認為一切現象之存在,其自體並無固有之本性,而因與緣亦非為相互矛盾之存在,乃因中有緣,緣中有因,故於一現象中,互具一切現象,此稱為同體門。反之,一切現象若各由不同之因緣而生,一一相異,則稱為異體門。於因之六義中,同體門為不待緣之義,異體門為待緣之義。此外,同體門、異體門尚各有相即、相入二義門。(參閱「同體相入」2252、「同體相即」2252)
; (同體門) Tông Hoa nghiêm cho rằng tất cả hiện tượng tồn tại, ngay từ tự thể, không hề có bản tính riêng biệt, nhân và duyên cũng không tồn tại mâu thuẫn nhau, mà trong nhân có duyên, trong duyên có nhân; cho nên trong một hiện tượng có đầy đủ tất cả hiện tượng, đây gọi là Đồng thể môn. Trái lại, tất cả hiện tượng nếu mỗi mỗi do nhân duyên bất đồng sinh ra, mỗi mỗi đều khác nhau, thì gọi là Dị thể môn. Trong sáu nghĩa của nhân, Đồng thể môn là nghĩa Bất đãi duyên (không đợi duyên), Dị thể môn là nghĩa Đãi duyên. Ngoài ra, Đồng thể môn, Dị thể môn mỗi môn còn có hai nghĩa là tương tức, tương nhập. (xt. Đồng Thể Tương Nhập, Đồng Thể Tương Tức).
đồng thể tam bảo
2251指佛寶、法寶、僧寶三者,同體不殊。又作一體三寶、同相三寶。據大乘義章卷十所舉,一體(同體)可分三義:(一)就事而論,佛體具有之覺照之義,是為佛寶;佛德具有之軌範之義,是為法寶;而佛德之和合無諍(此係僧團之特質),是為僧寶;此三義雖有別,然德體不殊,故稱一體。此義毘曇、成實、大乘中皆具有之。(二)就破相空理而論,事雖有別,然體空不殊,故稱一體。此義唯大乘法中具有。(三)就實而論,三寶雖有別,然皆以實性為體,故稱一體。此義亦唯大乘法中具有,小乘中無。〔法華經玄義卷五下、華嚴經孔目章卷二〕(參閱「三寶」700)
; (同體三寶) Cũng gọi Nhất thể tam bảo; Đồng tướng tam bảo. Tức là Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo đều cùng một thể không khác. Theo Đại thừa nghĩa chương quyển 10, thì Nhất thể (đồng thể) có thể chia làm 3 nghĩa: 1. Bàn theo sự thì Phật thể có đủ nghĩa giác chiếu: Đó là Phật bảo, Phật đức có đủ nghĩa quĩ phạm: Đó là Pháp bảo; Phật đức có nghĩa hòa hợp vô tránh (đây là đặc chất của Tăng đoàn): Đó là Tăng bảo. Ba nghĩa này tuy có khác nhau, nhưng đức thể thì không khác nên gọi là Nhất thể. Trong Tì đàm, Thành thực, Đại thừa đều có đủ ba nghĩa này. 2. Bàn theo líkhôngphá tướng: Sự tuy có khác nhưng thểkhôngthì là một, nên gọi là Nhất tướng. 3. Bàn theo thực: Tam bảo tuy có khác nhưng đều lấy thực tính làm thể nên gọi là Nhất thể. Nghĩa 2, 3 này chỉ có trong pháp Đại thừa. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5 phần dưới; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.2]. (xt. Tam Bảo).
đồng thể tướng nhập
2252為華嚴宗顯示事事無礙圓融義門之語。同體為「異體」之對稱,相入為「相即」之對稱。華嚴宗依因六義中「不待緣」之義而立之同體門中,一法與多法之力用相互交徹,互為有力與無力,而相入自在,圓融無礙,稱為同體相入。亦即諸法之本性自爾,能於一法中圓具一切法,故能具之一法與所具之一切法相望,即形成「自有力則他無力,他有力則自無力」之關係,一法與一切法相入而無礙;恰如鏡與鏡中所現之像,乃鏡中遍像、像歸於鏡之無礙自在。 華嚴五教章卷四以十文錢為譬喻,以明示「同體相入」之相。可分為「一中之多」、「多中之一」二門而論。此二門又各分為十門。其中,「一中之多」為由一至十向上次第增一之法數,「多中之一」則為由十至一向下次第遞減之法數。至於二門中法數之順序次第則與「同體相即」之二門相同。又十文錢之譬喻係以十文錢比喻十法,而以「一中之多」、「多中之一」二門之順、逆次第增減,來彰顯同體相入的自在無礙之相。〔華嚴經探玄記卷一〕(參閱「同體相即」2252)
; (同體相入) Từ ngữ của tông Hoa nghiêm nêu rõ nghĩa sự sự viên dung vô ngại. Nghĩa là tất cả các pháp là cùng một thể tính, cái này hòa vào cái kia, cái kia dung nhập trong cái này, giao thoa hòa hợp mà không ngăn ngại lẫn nhau. Đồng thể là đối lại với dị thể, tương nhập đối lại với tương tức. Tông Hoa nghiêm y cứ vào nghĩa bất đãi duyên trong sáu nghĩa nhân mà lập ra Đồng thể môn, trong đó lựcdụng của một pháp và nhiều pháp giao triệt lẫn nhau, làm hữu lực và vô lực của nhau mà dung nhập vào nhau một cách tự tại vôngại, gọi là Đồng thể tương nhập. Bởi vì bản tính của các pháp tự nhiên như thế, có thể trong một pháp đầy đủ tất cả pháp, cho nên một pháp và tất cả pháp hòa nhập vào nhau mà tạo thành mối quan hệ cái này hữu lực thì cái kia vô lực, cái kia hữu lực thì cái này vô lực; một pháp và tất cả pháp dung hòa vào nhau mà không ngăn ngại lẫn nhau, hệt như gương và hình bóng gương dung nhiếp hình bóng, hình bóng hiện khắp trong gương một cách tự tại vô ngại. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 4 dùng 10 đồng tiền làm ví dụ để chỉ rõ tướng Đồng thể tương nhập. Có thể chia làm hai môn nhiều trong một và một trong nhiều. Mỗi môn trong hai môn này lại chia làm 10 môn. Trong đó, nhiều trong một là đếm từ một tăng dần lên đến 10; còn một trong nhiều thì là đếm tuần tự từ 10 giảm xuống đến một. Thứ tự cách đếm trong hai môn này giống với hai môn Đồng thể tương tức; trong ví dụ này, 10 đồng tiền được dùng để ví dụ 10 pháp, còn thứ tự thuận nghịch tăng giảm của hai môn nhiều trong một và một trong nhiều là hiển bày rõ tướng tự tại vô ngại của Đồng thể tương nhập. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1]. (xt. Đồng Thể Tương Tức).
đồng thể tướng tức
2252為華嚴宗顯示事事無礙圓融義門之語。同體為「異體」之對稱,相即為「相入」之對稱。華嚴宗依因六義中「不待緣」之義而立之同體門中,一法與多法之法體互為空、有,相即無礙,稱為同體相即。亦即諸法之本性自爾,能於一法中圓具一切法,故能具之一法與所具之一切法相望,即形成「自有則他空,他有則自空」之關係,自他之法體相即而無礙;恰如鏡與鏡中所現之像,鏡即像,像即鏡。 華嚴五教章卷四以十文錢為譬喻,以明示同體相即之相。可分為「一即十」、「十即一」二門而論。其中,一即十(一即多)為由一至十向上次第增一之法數,十即一(多即一)則為由十至一向下次第遞減之法數。(一)一即十門,「一」與「十」皆表示一數或一法。以一法中具有一切法,故「一」與「十」中亦具有一切法。又分為十門:第一門係以「一」為本數,逐一以「一」所具之二、三、四等數而推之,可知一即二、一即三,乃至一即十。準此可知,第二門以「二」為本數、第三門以「三」為本數時亦皆如此。順次至第十門時,以「十」為本數,亦逐一以「十」所具之一、二等數推之,可知十即一、十即二,乃至十即九。(二)十即一門,「十」與「一」所代表之義與上述相同,然此門法數之順序則與上述相反。亦分為十門:第一門係以「十」為本數,逐一以「十」所具之九、八、七等數推之,可知十即九、十即八,乃至十即一。由此順次至第十門,以「一」為本數,逐一以「一」所具之十、九等數推之,可知一即十、一即九,乃至一即二。如此以十文錢順、逆次第增減,皆得相即而無礙。要之,上記係以十文錢比喻十法,再根據一法中具有一切法之道理,而逐一以十法中之每一法為本位來一一推論一切諸法之關係,以彰顯同體相即的自在無礙之相。〔華嚴經探玄記卷一〕
; (同體相即) Từ ngữ của tông Hoa nghiêm nêu rõ sự sự viên dung vô ngại. Đồng thể là đối lại với Dị thể, Tương tức đối lại với Tương nhập. Môn này là do tông Hoa nghiêm y cứ vào nghĩa bất đãi duyên trong sáu nghĩa nhân mà lập ra. Đồng thể tương tức có nghĩa là pháp thể của một pháp với nhiều pháp là không và có tương tức vô ngại,khôngvàcótức là nhau, dung nhập với nhau không chướng ngại nhau. Vì bản tính các pháp vốn tự nhiên như thế, có thể trong một pháp đầy đủ tất cả pháp; cho nên một pháp và tất cả pháp dung hòa vào nhau mà tạo thành sự quan hệ cái này có thì cái kia không, cái kia có thì cái này không, pháp thể của cái này cái kia tức là nhau vô ngại; giống như hình bóng trong gương, gương tức là hình, hình tức là gương. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 4 dùng 10 đồng tiền làm ví dụ để chỉ rõ tướng đồng thể tương tức. Có thể chia làm hai môn 1 tức 10 và 10 tức 1. Trong đó, 1 tức 10 (một tức nhiều) là cách đếm từ 1 tăng dần lên đến 10, 10 tức 1 (nhiều tức một) thì là cách đếm tuần tự từ 10 giảm dần xuống đến 1. 1. Môn 1 tức 10: 1 và 10 đều biểu thị số 1 hoặc 1 pháp. Vì trong 1 pháp có đủ tất cả pháp, cho nên trong 1 và 10 cũng có đủ tất cả pháp. Đây lại chia ra 10 môn; môn thứ 1 lấy 1 làm số gốc, rồi từ 1 thêm 1 là 2, 2 thêm 1 là 3, 3 thêm 1 là 4 v.v..., cứ suy đó thì biết 1 tức là 2, 1 tức là 3, cho đến 1 tức là 10. Cũng thế, môn thứ 2, lấy 2 làm số gốc, môn thứ 3, lấy 3 làm gốc v.v... cũng đều như thế, theo thứ tự đến môn thứ 10 lấy 10 làm gốc, cũng lại theo 1 mà tính thì trong 10 có 1, có 2 v.v... thì biết 10 tức là 1, 10 tức là 2, cho đến 10 tức là 9. 2. Môn 10 tức 1: Ý nghĩa đại khái cũng giống như ở trên, nhưng thứ tự cách đếm thì ngược lại. Cũng chia làm 10 môn; môn thứ 1 lấy 10 làm số gốc, bớt 1 thì 10 có đủ các số 9, 8, 7 v.v... cho đến 10 tức là 1. Rồi theo thứ tự đến môn thứ 10 lấy 1 làm số gốc, trong 1 có 10, có 9 v.v..., cứ thế suy ra có thể biết 1 tức 10, 1 tức 9, cho đến 1 tức 2. Như vậy, dùng 10 đồng tiền theo thứ tự thuận, nghịch, tăng, giảm đều có thể tương tức mà không trở ngại nhau. Tóm lại, trên đây dùng 10 đồng tiền để ví dụ 10 pháp, rồi căn cứ vào đạo lí trong 1 pháp có đủ tất cả pháp, lấy mỗi mỗi pháp trong 10 pháp làm bản vị mà suy ra mối quan hệ giữa tất cả pháp để nêu rõ cái tướng tự tại vô ngại của Đồng thể tương tức. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1].
đồng thể từ bi
Look on all sympathetically as of the same nature as one (fellow-feeling and compassion).
đồng thể đại bi
2251又作同體慈悲。指觀一切眾生與己身同體,而生起拔苦與樂、平等絕對之悲心。亦即初地以上之菩薩,攝眾生於自體,以眾生之苦為己苦,生起哀傷之心。北本大般涅槃經卷十六(大一二‧四五八下):「譬如父母見子遇患,心生苦惱,愍之愁毒,初無捨離;菩薩摩訶薩住是地中亦復如是,見諸眾生為煩惱病之所纏切,心生愁惱,憂念如子,身諸毛孔,血皆流出,是故此地名為一子。」〔摩訶止觀卷六上、止觀輔行傳弘決卷六之二、法華經玄義卷四下〕(參閱「慈悲」5805)
; (同體大悲) Cũng gọi Đồng thể từ bi. Quán tưởng tất cả chúng sinh với mình là cùng một thể tính mà sinh khởi tâm từ bi bình đẳng để cứu khổ, ban vui. Bồ tát Sơ địa trở lên, coi chúng sinh là chính mình, lấy nỗi khổ của chúng sinh làm nỗi khổ của chính mình mà sinh tâm thương xót. Kinh Đại bát niết bàn quyển 16 (Đại 12, 458 hạ), nói: Ví như cha mẹ thấy con bệnh hoạn, sinh lòng buồn khổ, thương xót rầu rĩ, không lúc nào rời. Bồ tát ma ha tát ở giai vị này(Nhất tử địa)cũng lại như thế, thấy các chúng sinh bị bệnh phiền não làm khổ, sinh lòng buồn sầu, lo nghĩ như thương con đỏ, đến nỗi các lỗ chân lông đều rướm máu. [X. Ma ha chỉ quán Q.6 phần trên; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6 phần 2; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4 phần dưới]. (xt. Từ Bi).
đồng thời
At the same time—Simultaneously—Contemporarily.
đồng thời cụ túc tương ưng môn
2248華嚴宗十玄門之一。此一門乃十玄門之總說,其餘九門則為此門之別義。「同時」即無前後,「具足」即無所遺漏,「相應」即不相違背。係闡明十方三世一切諸法,同時圓滿具足,隨舉一法即頓具一切諸法;一法既具,法法亦然,交互同時皆得相應具足。所謂法不孤起,大海一滴即具百川之味,乃海印三昧中同時炳現之法界大總相法門體,順逆無礙,參而不雜,此為緣起之實德、法界之妙相,可破除眾生執一切法不能一時具足之疑。〔華嚴五教章卷中、華嚴經探玄記卷一、華嚴經隨疏演義鈔卷十〕(參閱「十玄門」416)
; (同時具足相應門) Đồng thời là cùng một lúc, Cụ túc là đầy đủ, tương ứng là ứng hợp lẫn nhau, không chống trái nhau. Một trong 10 Huyền môn của tông Hoa nghiêm. Môn này là nói chung về 10 môn, 9 môn còn lại là nghĩa riêng của môn này. Nghĩa là tất cả các pháp trong 10 phương 3 đời cùng một lúc tồn tại đầy đủ trong một pháp, nêu một pháp tức đầy đủ tất cả pháp, tất cả pháp đầy đủ trong một pháp, cùng một lúc giao hòa trong nhau, ứng hợp tròn đủ, không khởi riêng biệt, như một giọt nước trong biển có đầy đủ khí vị của trăm sông, trong Hải ấn tam mội đồng thời hiện rõ thể của đại tổng tướng pháp môn của pháp giới; thuận nghịch không chướng ngại, xen nhau mà không lẫn lộn, đó là thực đức của duyên khởi, diệu tướng của pháp giới, có thể phá trừ mối nghi chấp của chúng sinh cho rằng hết thảy pháp không thể cùng một lúc tồn tại đầy đủ. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.trung; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10]. (xt. Thập Huyền Môn).
đồng tiền
Tiền bằng đồng—Copper money, or cash.
đồng triển tam bái
2248指大眾同展坐具而行三拜。為禪宗禮法之一。敕修百丈清規卷二尊祖章達磨忌條(大四八‧一一一八上):「住持上香,侍者捧香合。次東堂、西堂兩序出班上香,大眾同展三拜。」此外,於佛陀、祖師或尊宿等忌日時,出班燒香後,維那喝「大眾九拜」,大眾則同時展開坐具而行九拜,稱為同展九拜,係最敬之禮。〔敕修百丈清規卷一祝釐章聖節條、禪林象器箋禮則門〕
; (同展三拜) Đại chúng cùng trải tọa cụ lễ ba lạy. Một trong những phép lễ bái của Thiền tông. Mục Đạt ma kị, chương Tôn tổ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1118 thượng), nói: Trụ trì niệm hương, Thị giả cầm hương cắm vào lư hương. Kế đến, Đông đường, Tây đường ra dâng hương, đại chúng cùng trải tọa cụ lễ bái ba lạy (đồng triển tam bái). Ngoài ra, vào ngày Phật đản, giỗ Tổ sư hoặc các bậc tôn túc, sau khi Trụ trì dâng hương, Duy na xướng: Đại chúng cửu bái thì mọi người đồng loạt trải tọa cụ lễ 9 lạy, gọi là Đồng triển cửu bái, là phép lễ kính cẩn nhất. [X. mục Thánh tiết, chương Chúc li trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1; môn Lễ tắc trong Thiền lâm tượng khí tiên].
đồng trụ địa ngục
5944以銅柱刑治罪人之地獄。指犯邪淫行、非處非時行、不淨業等者,死後所趣生之處。據觀佛三昧海經卷五載,銅柱高六百由旬,下有猛火,火上置鐵床,床上有刀輪,輪間有鐵嘴蟲,鐵烏在其傍。罪人命終後,令生銅柱頭,猛火燒身,罪人大驚下視,見鐵床上有容貌端正女子(若罪人是女,所見則爲男子),心生愛著而欲投之,忽銅柱貫穿其身,鐵網絡頸,鐵嘴蟲唼食其軀,落鐵床上,同時六根火起,有鐵嘴蟲從眼而入,從男、女根出。若罪人爲污戒者,另有九億小蟲,嘴頭出火,唼食其軀。如是一日一夜,須經九百億之死生。罪畢生於鳩鴿中,復經五百世,生於龍中;再經五百身,設若出生人間,則遇妻子不貞、子女不孝等果報。過是已後,若值善知識,方聞法發菩提心。
; (銅柱地獄) Địa ngục trong đó tội nhân bị trừng trị bằng cách dùng cột đồng nóng. Những chúng sinh làm hạnh tà dâm, tạo các nghiệp bất tịnh, sau khi chết, phải đọa vào địa ngục này. Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 5, cột đồng cao 600 do tuần, ở dưới lửa cháy bốc lên, phía trên lửa đặt giường sắt, trên giường có bánh xe dao, giữa khoảng các bánh xe có những con trùng mồm sắt, chim sắt đậu ở bên cạnh. Sau khi tội nhân chết, phải sinh vào đây ở trên đầu cột đồng, lửa mạnh đốt thân, tội nhân sợ quá, nhìn xuống, thấy người con gái xinh đẹp (nếu tội nhân là đàn bà thì người mình thấy là con trai), sinh lòng đắm đuối yêu đương, muốn nhảy xuống với người ấy, thì bỗng nhiên cột đồng xuyên qua mình, lưới sắt quấn vào cổ, những con trùng miệng sắt ăn thịt, khi rơi xuống giường thì 6 căn bốc cháy. Cứ như thế, trong một ngày đêm, phải chín trăm ức lần chết đi sống lại. Khi tội hết, nếu được sinh làm người, thì sẽ gặp vợ bất trinh, con cái bất hiếu. Sau đó, nếu gặp được thiện tri thức mới biết nghe pháp và phát tâm Bồ đề.
đồng tâm kết
2243即以紐作綰結,而使結之兩端入於中心一處之結法。一般用於袈裟之
; (同心結) Cách thức tết nút làm khuy áo ca sa để hai đầu nút ở vào chỗ chính giữa. Cũng có khi dùng để đính vào góc đình màn làm vật trang sức. [X. môn Khí vật loại 28 trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Đồng tính kinh
同性經; C: tóngxìng jīng; J: dōshōkyō; |Tên gọi đầy đủ là Đại thừa đồng tính kinh (大乘同性經), 2 quyển, Xà-na Da-xá (闍那耶舎) dịch. Được Nguyên Hiểu (元曉) trích dẫn cho giáo lí Phật thân trong luận giải Đại Thừa khởi tín luận của sư.
Đồng tính kinh 同性經
[ja] ドウショウキョウ Dōshōkyō ||| Full title is Dasheng tongxing jing 大乘同性經. 2 fasc., trans. Jñānayaśas 闍那耶舎. T 673.16.640-653. Cited by Wŏnhyo 元曉 for Buddha-body theory in his commentary on the Awakening of Faith. => Tên gọi đầy đủ là Đại thừa Đồng tính kinh 大乘同性經 c: Dasheng tongxing jing . Hai quyển. Xà-na Da-xá dịch. Được Nguyên Hiểu trích dẫn cho giáo lý Phật thân trong luận giải Đại Thừa Khởi Tín Luận của sư.
đồng tướng
2248六相之一。謂萬法諸緣和合而成一緣起之法,雖多義而互不相違;如柱、椽、樑、瓦等之和合而成屋舍,係合力而不相違背。(參閱「六相」1280)
; All things, pure or impure, are fundamentally of the same universal.
; (同相) Một trong sáu tướng. Các pháp tuy thiên sai vạn biệt, nhưng đều do nhân duyên hòa hợp mà thành một pháp duyên khởi, không trái nghịch nhau. Như cột, kèo, rường, ngói v.v... hợp lại mà thành ngôi nhà. (xt. Lục Tướng).
Đồng Tỉnh Thuận Khánh
(筒井順慶, Tsutsui Junkei, 1549-1584): vị võ tướng sống cuối thời Chiến Quốc, thành chủ Thành Đồng Tỉnh (筒井城) ở Quận Sanh Câu (生駒郡, Ikoma-gun), Đại Hòa (大和, Yamato). Năm 1571 (niên hiệu Nguyên Quy [元龜] thứ 2), khi Tùng Vĩnh Cửu Tú (松永久秀, Matsunaga Hisahide) tạo phản Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga), ông cùng với Minh Trí Quang Tú (明智光秀) tiêu diệt Cửu Tú, chiếm cứ Thành Quận Sơn (郡山城) và quản lý toàn bộ tiểu quốc Đại Hòa. Sau vụ Biến Loạn Bổn Năng Tự (本能寺の變, Honnōji-no-hen), ông nhất thời bắt tay với Quang Tú; nhưng khi tình thế biến hóa thì ông thay đổi thái độ. Đến năm 1582 (niên hiệu Thiên Chánh [天正] thứ 10), trong trận hợp chiến ở Sơn Khi (山崎, Yamazaki), ông lại thông giao với Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi).
đồng tử
5168梵語 kumāra,巴利語同。音譯作鳩摩羅。或梵語 kumāraka,音譯鳩摩羅伽。<一>四歲或八歲以上,未滿二十歲,且尚未剃髮得度之男子,稱為童子、童兒、童真;女子則稱童女。〔舊華嚴經卷四十五入法界品、大智度論卷二十九、南海寄歸內法傳卷三受戒軌則條〕 <二>指菩薩。菩薩為如來之王子,因其如世間童子之無淫欲念,故稱為童子。 <三>隨侍佛、菩薩、諸天者,亦稱為童子。如隨侍文殊菩薩者為請召、計設尼、救護慧、烏波計設尼、光網、地慧幢、無垢光、不思議慧等八大童子。又不動明王亦有八大童子隨侍。 <四>日本古來於諸種法會、庭儀之際,必有隨伴之幼童,隨時受使喚,稱為童子。
; Xem Pháp vương tử.
; Kamura (skt)—Cưu Ma La—Cưu Ma La Ca. 1) Tên gọi chung trẻ con—A boy—Youth—A child. 2) Vị Bồ Tát được coi như là con của Như Lai: A Bodhisattva as son of the Tathagata. 3) Vị Thái Tử: A prince. 4) Đồng tử biệu thị cho sự thanh tịnh và vô tư lự và là hóa thân của những đại Bồ Tát: Young children symbolize purity and innocence and are the transformation bodies of Maha-Bodhisattvas.
; (童子) Phạm, Pàli: Kumàra. Dịch âm: Cưu ma la. Phạm: Kumàraka. Dịch âm: Cưu ma ra già. I. Đồng Tử. Con trai 4 tuổi hoặc 8 tuổi trở lên, chưa cạo tóc, chưa thụ giới, gọi là Đồng tử; Đồng nhi; Đồng chân. Nếu là con gái thì gọi Đồng nữ. [X. phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm Q.45 (bản dịch cũ); luận Đại trí độ Q.29; mục Thụ giới quĩ tắc trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3]. II. Đồng Tử. Chỉ cho Bồ tát. Bồ tát là vương tử của Như lai, ví như trẻ con thế gian không có ý niệm dâm dục nên gọi Bồ tát là Đồng tử. III. Đồng Tử. Những vị theo hầu đức Phật, Bồ tát và chư thiên cũng gọi là Đồng tử. Như tám đại đồng tử: Thỉnh triệu, Kế thiết ni, Cứu hộ tuệ, Ô ba kế thiết ni, Quang võng, Địa tuệ chàng, Vô cấu quang và Bất tư nghị tuệ theo hầu bồ tát Văn thù. IV. Đồng Tử. Ở Nhật bản, khi cử hành lễ trong pháp hội, phải có các tiểu đồng để sai bảo, những tiểu đồng ấy gọi là Đồng tử.
đồng tử hình
5168為佛像分類之一。又作童形。即頂上結髮,呈可愛少年少女之姿態。
; (童子形) Cũng gọi Đồng hình. Một trong các loại hình tượng trong Phật giáo. Tức là những hình đồng nam,đồng nữ dáng dịu dàng dễ thương, trên chỏm đầu những lọn tóc được tết lại như những trái đào.
đồng tử kinh pháp
5169為依據護諸童子經所修之祕法。父稱十五童子法、護諸童子經法、乾達婆法、童子經書寫供養作法。護諸童子經為北魏菩提流支譯。初示致使幼兒產生疾病之十五童子鬼名號:彌酬迦、彌迦王、騫陀、阿波悉魔羅、牟致迦、魔致迦、閻彌迦、迦彌尼、黎究尼、富多那、曼多難提、舍究尼、乾吒婆尼、目佉曼荼、藍婆等,次述十五鬼形狀,並說對治諸鬼之法。復依該經之記載,大梵天王向佛言,若有女人不生兒女,或在胎中失壞墮落,或生而夭折,此諸女欲求幼兒保命長壽,應常繫念修行善法,於每月之八日、十五日受持八戒,清淨沐浴、穿新淨衣,禮拜十方諸佛,至中夜取少許芥子置於自己頂上,誦大梵天王所說陀羅尼咒,當令此女人能如所願,所生小孩安穩無患,盡其形壽而不中夭。若有鬼神不從我咒者,即令彼頭破為七分,如阿梨樹枝。
; (童子經法) Cũng gọi Thập ngũ đồng tử pháp, Hộ chư đồng tử kinh pháp, Càn đạt bà pháp, Đồng tử kinh thư tả cúng dường tác pháp. Là phép tu y cứ theo kinh Hộ chư đồng tử. Kinh Hộ chư đồng tử do ngài Bồ đề lưu chi dịch vào thời Bắc Ngụy. Nội dung trước hết nêu tên của 15 con quỉ nhỏ hay làm cho trẻ con đau ốm, đó là: Di thù ca, Di ca vương, Khiên đà, A ba tất ma la, Mâu trí ca, Ma trí ca, Diêm di ca, Ca di ni, Lê cứu ni, Phú đa na, Mạn đa nan đề, Xá cứu ni, Càn tra ba ni, Mục khư mạn đồ và Lam bà. Kế đến, trình bày hình dáng của 15 con quỉ và nói về phương pháp đối trị chúng. Theo kinh này, Đại Phạm thiên vương bạch đức Phật, nếu có người nữ không sinh con cái, hoặc bị sẩy thai, hoặc sinh rồi bị chết yểu, người ấy muốn có con và cầu cho con được mạnh khỏe sống lâu, thì phải tu các thiện pháp, thụ trì tám giới quan trai vào các ngày mồng 8, 15 mỗi tháng. Khi tu pháp, phải tắm gội sạch sẽ, mặc áo mới, lễ bái chư Phật 10 phương, đến nửa đêm lấy một ít hạt cải để lên trên đỉnh đầu của mình, rồi tụng chú Đại Phạm thiên vương sở thuyết đà la ni, thì sẽ được toại nguyện.
đồng tử tự
5168位於山西太原西南二十公里龍山上。為北齊天保七年(556),宏禮禪師創建。相傳有二童子見此山石,儼似世尊,遂鐫佛像,高五十七公尺,因名童子寺。北齊文宣帝高洋曾登本寺俯瞰城景;唐代高宗於顯慶末年與皇后進寺瞻仰大佛。金天輔元年(1117),寺毀於兵火,明代嘉靖元年(1522),曾予重建,寺內建築及石雕佛像均已不存。寺前有燃燈石塔,高四公尺餘,平面六角,塔身中空,內置燈室;此塔為我國現存最古之燃燈石塔。
; (童子寺) Chùa ở trên núi Long sơn cách huyện Thái nguyên, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, về mạn tây nam 20 km, do thiền sư Hoành lễ sáng lập vào năm Thiên bảo thứ 7 (556) đời Bắc Tề. Tương truyền có hai đồng tử thấy tảng đá trên núi này giống như hình dáng đức Thế tôn, liền khắc thành tượng Phật cao 57m, do đó đặt tên là chùa Đồng tử. Vua Văn tuyên nhà Bắc Tề là Cao dương đã từng lên chùa này để ngắm kinh thành. Vào cuối năm Hiển khánh đời Đường, vua Cao tông và hoàng hậu lên chùa này lễ Phật. Niên hiệu Thiên phụ năm đầu (1117) đời Kim, chùa bị chiến tranh tàn phá, đến niên hiệu Gia tĩnh năm đầu (1522) đời Minh chùa được xây dựng lại. Những kiến trúc cũng như tượng Phật khắc bằng đá ở trong chùa đều không còn. Trước chùa có cây tháp bằng đá để thắp đèn hình 6 góc, cao hơn 4m. Đây là tháp đèn xưa nhất hiện còn ở Trung quốc.
đồng văn chúng
2250指列於諸經首之比丘、菩薩等共同聞法之大眾。法華文句卷一,將同聞眾分為聲聞、菩薩、雜眾三種。
; (同聞衆) Đại chúng cùng nghe pháp. Chỉ cho các vị tỉ khưu, Bồ tát v.v... cùng nghe đức Phật nói pháp thường được đề cập ở đầu các kinh. Pháp hoa văn cú quyển 1 chia Đồng văn chúng làm ba hạng là: Thanh văn, Bồ tát và Tạp chúng.
Đồng xứ tương vi
同處相違; C: tóngchùxiāngwéi; J: dōshosōi; |Mâu thuẫn khi xuất hiện đồng thời (của sự đối lập). Một trong 6 loại nguyên nhân mâu thuẫn đề xuất trong Du-già sư địa luận. Mâu thuẫn phát sinh từ sự hiện hữu đồng thời của các cặp đối lập như tối và sáng, khổ và vui… (theo Du-già luận 瑜伽論).
Đồng xứ tương vi 同處相違
[ja] ドウショソウイ dōshosōi ||| Conflicts in the simultaneous presence (of opposites). One of the six kinds of conflicting causes taught in the Yogācārabhūmi-śāstra. The conflict generated from the simultaneous presence of such opposites as darkness and light, suffering and joy, etc. 〔瑜伽論T 1579.30.501b〕 => Mâu thuẫn khi xuất hiện đồng thời Du-già sư địa luận. Mâu thuẫn phát sinh từ sự hiện hữu đồng thời của các cặp đối lập như tối và sáng, khổ và vui...
đồng ý
To agree—To concur—To agree with someone's opinion—To be in agreement with someone.
đồng điệu
Harmony.
đồng đạo
Of the same religion.
đồng đều
Equal.
Đồng 同
[ja] ドウ dō ||| (1) The same, one, identical. (2) To make the same; to make into one; to put together. (3) To be in between, to gather together. (4) to become part of the same group. => Có các nghĩa sau: 1. Giống nhau, một, đồng nhất. 2. Làm cho đồng nhất; làm thành một; đặt cùng với nhau. 3. Ở giữa, gom lại với nhau. 4. Trở thành một phần của toàn thể.
đổ hoá la quốc
6293覩貨邏,梵名 Tukhāra, Tuḥkhāra, Tuṣāra。係位於帕米爾高原西南與奧克薩斯河(Oxus)上游之古國。又稱睹佉羅國、吐火羅國、兜佉勒國、都佉國。此國地處東土耳其斯坦至波斯、印度之要衝,該地區原屬波斯帝國之一部分,於西元前三世紀為亞歷山大大帝征服後,出現大夏。至前二世紀為月氏(西方人稱為 Tokharoi)所滅,於前一世紀建立貴霜王朝。其後,相繼遭受印度笈多王朝、波斯薩珊王朝、嚈噠、西突厥之侵擾或統治。至七世紀頃,曾內附唐朝。後復受阿拉伯回教徒統治。 據大唐西域記卷一載,其地南北千餘里,東西三千餘里。東鄰蔥嶺(帕米爾高原),西接波刺斯(波斯,今伊朗一帶),南有大雪山(興都庫什山),北據鐵門(撒馬爾罕南方)。以冬末春初,霖雨不斷,故僧徒於十二月十六日入安居,至三月十五日解安居。 佛教傳播至此地之時代甚早。於阿育王法敕、善見律毘婆沙卷二等,皆記載阿育王時即遣使至此國。據多羅那他佛教史第五章及第十三章所載,睹貨邏王閔那拉(梵 Minara,或即那先比丘經中之彌蘭陀王,巴利名為 Milinda)時,付法藏第五祖提多迦(梵 Dhītika)率五百比丘來此弘法。又迦膩色迦王時,說一切有部四大論師之一的妙音(藏 Dbyaṅs-sgrogs)亦係覩貨邏國人。 另據出三藏記集卷二、大唐西域求法高僧傳卷上及開元釋教錄卷九等載,佛典之譯者多有睹貨邏國人,如增一阿含 經、中阿含經、阿毘曇毘婆沙論、無垢淨光大陀羅尼經等之譯者皆是。 睹貨邏國之佛教徒主要往來於迦溼彌羅地方,承襲小乘說一切有部之教法。近代於中亞發掘出土若干睹貨邏語佛典斷片,考定約抄寫於六至八世紀間,幾乎皆依梵語佛典譯出;而其中皆係說一切有部之典籍,尚未發現大乘經典。又睹貨邏語屬印歐語系,與鄰近之印度、伊朗語系不同。 此外,依現存於庫車附近之龜茲(Kizil)千佛洞壁上之遺跡,可察知睹貨邏國人亦曾致力於完成此洞窟寺之工作。〔正法念處經卷六十八、佛母大孔雀明王經卷中、阿毘曇毘婆沙論卷四十一、大智度論卷二十五、大唐西域記卷十二、往五天竺國傳、梵語雜名、北史西域列傳第八十五、隋書西域列傳第四十八、唐書突厥列傳第一四○、西域列傳第一四六下吐火羅、西域佛教の研究(羽溪了諦,宗教研究特輯號)、吐火羅‧舍衛考(井上真光,立正大裇史裇袅創立三十五周年記念史裇論文集,1960)〕
; (覩貨邏國) Phạm: Tukhāra, Tuḥkhāra, Tuṣāra. Cũng gọi Đổ khư la quốc, Thổ hỏa la quốc, Đâu khư lặc quốc, Đô khư quốc. Tên một nước xưa ở phía tây nam cao nguyên Phạ mễ nhĩ (Pamirs) và thượng du sông Oxus. Nước này nằm ở vùng xung yếu từ mạn đông Thổ nhĩ kì đến Ba tư, Ấn độ, vốn là phần đất của đế quốc Ba tư. Sau khi bị Đại đế Á lịch sơn (Alexander the Great) chinh phục vào thế kỷ III trước Tây lịch thì trở thành nước Đại hạ (Batria). Đến thế kỉ thứ II trước Tây lịch nước Đại hạ lại bị người Nguyệt thị (Tây phương gọi là người Tokharoi) tiêu diệt và kiến lập vương triều Quí sương vào thế kỉ thứ I trước Tây lịch. Sau đó lại liên tiếp bị xâm lăng hoặc thống trị bởi các vương triều Cấp đa của Ấn độ, vương triều Tát san của Ba tư, người Áp thát (một chi nhánh Hung nô) và Tây Đột quyết. Đến khoảng thế kỉ thứ VII thì xứ này nội thuộc nhà Đường của Trung quốc. Về sau lại bị tín đồ Hồi giáo Ả rập (Arab) thống trị. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 1 chép, thì nước Đổ hóa la chiều nam bắc dài hơn 1 nghìn dặm, chiều đông tây hơn 3 nghìn dặm. Đông giáp dãy Thông lĩnh (thuộc cao nguyên Pamirs), tây giáp Ba tư (nay là Iran), nam giáp với núi Đại tuyết (Hindu Kush), bắc tiếp với Thiết môn (phía nam Samarkand). Ở đây vào cuối mùa đông đầu mùa xuân mưa dầm liên miên, nên chư tăng an cư từ ngày 16 tháng 12 đến ngày rằm tháng 3 thì kết thúc. Phật giáo được truyền vào xứ này rất sớm. Trong Pháp sắc của vua A dục và Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2 đều ghi chép việc vua A dục phái Sứ đoàn Pháp quan đến đây truyền đạo. Theo chương 5 và chương 13 trong Phật giáo sử của Đa la na tha, thì vào thời vua Mân na lạp (Phạm: Minara, có lẽ là vua Milinda trong kinh Na tiên tỉ khưu) của nước Đổ hóa la, có Tổ phó pháp tạng là Đề đa ca (Phạm:Dhìtika) đã hướng dẫn 500 vị tỉ khưu đến nước này hoằng pháp. Ngoài ra, ngài Diệu âm (Tạng: Dbyaís-sgrogs), một trong 4 vị Đại luận sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ, cũng là người nước Đổ hóa la. Lại cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 2, Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện và Khai nguyên thích giáo lục quyển 9, thì trong số các dịch giả kinh điển Phật phần nhiều có người Đổ hóa la, như các dịch giả kinh Tăng nhất a hàm, kinh Trung a hàm, luận A tì đàm tì bà sa, kinh Vô cấu tịnh quang đại đà la ni v.v... Tín đồ Phật giáo nước Đổ hóa la chủ yếu quan hệ với vùng Ca thấp di la, nên đã tu học và thừa kế giáo pháp của Thuyết nhất thiết hữu bộ Tiểu thừa. Thời gần đây, ở vùng Trung á người ta đã đào được một số kinh sách Phật bằng tiếng Đổ hóa la không còn nguyên vẹn; các nhà khảo cổ suy đoán là những kinh sách này đã được sao chép vào khoảng thế kỉ VI đến thế kỉ VIII và hầu hết đã được dịch từ tiếng Phạm, trong đó đều là kinh sách của Thuyết nhất thiết hữu bộ, chứ vẫn chưa phát hiện kinh điển Đại thừa. Tiếng Đổ hóa la thuộc ngữ hệ Ấn Âu, nhưng khác với ngữ hệ của các nước láng giềng là Ấn độ và Iran. Ngoài ra, khảo sát các di tích hiện còn ở trên vách động Nghìn Phật tại nước Cưu tư (Kizil), chúng ta có thể biết người Đổ hóa la cũng đã từng đóng góp công sức vào việc hoàn thành ngôi chùa hang động này. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.68; kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương Q.trung; luận A tì đàm tì bà sa Q.41; luận Đại trí độ Q.25; Đại đường tây vực kí Q.12; Vãng ngũ thiên trúc truyện; Tùy thư tây vực liệt truyện 48; Phạm ngữ tạp danh; Bắc sử tây vực liệt truyện 85; Đường thư đột quyết liệt truyện 140; Tây vực liệt truyện 146 Thổ hỏa la; Tây vực Phật giáo chi nghiên cứu (Vũ khê Liễu đế); Thổ hỏa la; Xá vệ khảo (Tỉnh thượng Chân quang)].
đổ hào quang
To see stars.
đổ khùng
To lose one's temper.
đổ lỗi
To blame on someone—To blame something on someone.
đổ quạu
To get angry.
đổ thừa oan
To accuse falsely.
đổ đồng
On an average.
đổ-la
xem đâu-la.
đổi chủ
To change hands—To pass into someone else's possession.
đổi giọng
To change one's voice.
đổi hướng
Turnabout.
đổi hướng hoàn toàn
A complete turn about.
đổi tánh
To change one's character.
đổi ý
To change one's mind.
đổng chính chi
5595(1910~ )遼寧瀋陽人。國立中山大學法律系畢業。曾先後執教於交通大學、中央大學、中央警官學校、海洋學院、銘傳商專等。參與創辦慈光圖書館、菩提醫院、佛教蓮社等佛教弘法事業。氏爲現任立法委員,每於立法院爲維護佛教而多所獻議。民國四十五(1956),發起印行修訂中華大藏經,爲主要推動者之一。著有倫理學、理則學、國際現勢等書。
; (董正之) (1910 -) Người Thẩm dương, Liêu ninh, tốt nghiệp ngành Luật tại Đại học Quốc lập Trung sơn. Ông từng dạy ở các trường Đại học Giao thông, Đại học Trung ương, trường Cảnh sát Trung ương, Học viện Hải dương, trường chuyên khoa Thương nghiệp Minh truyền v.v... Ông cũng tham gia vào sự nghiệp hoằng pháp như sáng lập thư viện Từ quang, y viện Bồ đề, Phật giáo liên xã và vào năm Dân quốc 45 (1956), ông đề xướng việc ấn hành lại bản Tu đính Trung hoa Đại tạng kinh. Hiện ông là ủy viên của Viện Lập pháp, ông đã đưa ra nhiều kiến nghị hộ trì Phật giáo. Ông có các tác phẩm: Luân lí học, Lí tắc học, Quốc tế hiện thế.
đổng kì xương
5596(1553~1636)明代書畫家。江蘇松江華亭人。字元宰(玄宰),號思白,又號香光。自幼家貧,擅於繪畫。萬曆(1573~1620)年間中進士,時三十四歲,天啟年間,官至禮部侍郎,以宦官魏忠賢用權,引老告歸,詔加太子太保。卒於崇禎九年,諡號「文敏」。董氏性情和易,頗通禪理,又嘗研習華嚴、淨土,甚具心得。天才俊逸,詩文俱工,書法卓然成家,畫則採宋元諸家之長,名重一時。著有畫禪室隨筆、容臺文集等書。〔明史卷二八八、明人小傳卷三〕
; (董其昌) (1553 - 1636) Nhà thư họa ở đời Minh, người Hoa đình, Tùng giang, tỉnh Giang tô, tự Nguyên tể (Huyền tể), hiệu Tư bạch, Hương quang. Thủa nhỏ nhà nghèo, nhưng ông có năng khiếu về hội họa và thư pháp. Năm 34 tuổi, ông thi đậu Tiến sĩ và làm quan đến Lễ bộ thị lang. Sau vì hoạn quan Ngụy trung hiền lạm quyền, ông chán nản bèn cáo lão từ quan, vua lại ban cho ông chức Thái tử Thái bảo. Tính họ Đổng hòa nhã, giản dị. Ông thông suốt Thiền lí, và cũng rất tâm đắc với cái học Hoa nghiêm, Tịnh độ. Ông mất vào năm Sùng trinh thứ 9 (1636), thọ 83 tuổi, thụy hiệu Văn mẫn. Ông để lại các tác phẩm: Họa Thiền thất tùy bút, Dung đài văn tập. [X. Minh sử Q.288; Minh nhân tiểu truyện Q.3].
đổng mộng mai
5596(1927~ )山東高密人。別號山濤。國立臺灣師範大學藝術系畢業,中國文化大學藝術研究所碩士。曾任中學教員、行政院新聞局專員等職,並任大學講師。氏擅長佛像繪畫,著有中國佛教石雕藝術一書,及董夢梅佛畫選輯、夢梅畫集行世。民國七十年(1981),出席在韓國漢城舉行之中、韓、日三國佛教會議。七十一年榮獲中國畫學會國畫金爵獎。
đỗ
1) Ngừng lại—To stop. 2) Trông thấy: To look at—To see.
đỗ hành nghĩ
2955唐代譯經居士。京兆人。儀鳳年中(676~679)任朝散郎,行鴻臚寺典客署令,通曉各國語言,兼善文藻,尤精天竺語書。時有罽賓國僧佛陀波利攜梵經來奉獻,帝詔令行顗翻譯,於儀鳳四年正月譯出佛頂尊勝陀羅尼經一卷。其餘事蹟及生卒年均不詳。〔開元釋教錄卷九〕
; (杜行顗) Cư sĩ dịch kinh ở đời Đường, người đất Kinh triệu. Trong năm Nghi phụng (676 - 679), ông giữ chức Triều tán lang, coi việc tiếp khách ở Hồng lô tự. Ông giỏi văn chương, thông hiểu ngôn ngữ các nước, nhất là tiếng Thiên trúc. Bấy giờ, có ngài Phật đà ba lợi từ nước Kế tân mang kinh tiếng Phạm đến hiến, vua ban lệnh sai Hạnh khải phiên dịch, tháng giêng năm Nghi phụng thứ 4, ông dịch xong kinh Phật đính tôn thắng đà la ni 1 quyển. Những chi tiết khác về ông cũng như năm sinh năm mất đều không rõ. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9].
đỗ hóa la
Tukhara (skt)—Nước Hữu Chi, bây giờ là Badakchan mà các nhà địa lý Ả Rập vẫn còn gọi là Đỗ Hóa La (Tokharestan)—The present Badakchan which Arab geographers still call Tokharestan.
đỗ hồng tiệm
2956(?~769)為金剛智三藏之俗家弟子。唐代故相杜暹之族子,字之選。秉性敏悟,勤勉好學。曾受金剛智灌頂。開元二十年(741),金剛智示寂,為之作碑文以頌功德。安祿山之亂時,曾勸肅宗即位於靈武。氏在玄、肅、代宗三朝歷任官職,大曆四年(769)罷官,同年十一月逝世。諡號「文憲」。〔宋高僧傳卷一、舊唐書卷一○八、新唐書卷一二六〕
đỗ khẩu
2954法之玄妙不可言說,故杜其口以止之。註華嚴經題法界觀門頌卷下(大四五‧七○二中):「摩竭掩室,毘耶杜口。」上引「摩竭掩室」一語,指佛陀於摩竭陀國成道之初,在三個七日中不開口說法,猶如掩戶閉門,悄然無聲;表示佛法深意並非言說、音聲可傳達者。而「毘耶杜口」一語,則指維摩居士於毘耶城示疾,諸菩薩聚集各說不二法門,至文殊問及維摩時,維摩默然無言;表示不二法門並非言詮所能宣示者。〔肇論、三論玄義〕
; Im miệng—To shut the mouth—To render speechless.
; (杜口) Ngậm miệng không nói. Phật pháp sâu xa mầu nhiệm, không thể dùng lời nói mà diễn đạt được, gọi là Đỗ khẩu. Chú Hoa nghiêm kinh đề pháp giới quán môn tụng quyển hạ (Đại 45, 702 trung), nói: Ma kiệt đóng cửa, Tì da ngậm miệng. Câu Ma kiệt đóng cửa chỉ cho đức Phật lúc mới thành đạo ở nước Ma kiệt đà, trong 21 ngày không nói pháp, cũng như đóng cửa im lặng, biểu thị ý nghĩa Phật pháp sâu xa, không thể dùng ngôn thuyết, âm thanh mà truyền đạt được. Còn câu Tì da ngậm miệng thì chỉ cho cư sĩ Duy ma ở thành Tì da thị hiện có bệnh, các vị Bồ tát tụ tập bàn về pháp môn Bất nhị, đến khi bồ tát Văn thù hỏi cư sĩ Duy ma, thì Duy ma chỉ im lặng, biểu thị pháp môn bất nhị không thể dùng lời nói mà giảng giải được. [X. Triệu luận; Tam luận huyền nghĩa].
đỗ lỗ
Turuska olibanum (skt). 1) Một loại nhang thơm của Ấn Độ—Indian incense. 2) Một loại nhựa dùng làm nhang thơm. Người ta nói cây của nó giống như cây đào, mọc trong vùng Atali, Trung Á, nhựa của nó chảy đầy trên cát—Gum used for incense. It is said to resemble peach resin and grow in Atali of Central Asia. Its gum flow out on to the sands.
Đỗ Phủ
(杜甫, 712-770): thi nhân thời Thịnh Đường, tự là Tử Mỹ (子美), hiệu Thiếu Lăng (少陵). Thưở nhỏ ông sống trong cơ cực, bần hàn, đến gần 40 tuổi ông mới được ra làm quan với các chức như Tả Thập Di (左拾遺), Công Bộ Viên Ngoại Lang (工部園外郎). Từ đó cuộc sống của ông có phần thoải mái, nhưng ông lại quen cuộc sống rong chơi phóng đãng và cuối cùng chết trên đường ngao du. Ông hằng quan tâm sâu xa đến chính trị, xã hội và thơ ông thường có khuynh hướng than thở những cảnh ly loạn trong thời chinh chiến. Ông cùng thi sĩ Lý Bạch được xem như là thi nhân đệ nhất thời Đường. Sau này hậu thế tôn sùng ông như là một Thi Thánh. Ông có viết quyển Đỗ Công Bộ Tập (杜工部集) và một số bài thơ tiêu biểu của ông như: Xuân Vọng (春望), Nguyệt Dạ (月夜), Binh Xa Hành (兵車行), Giang Thôn (江村), v.v.
đỗ soạn thiền hòa
(杜撰禪和) Cũng gọi Đỗ thiền hòa. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho vị Thiền tăng chưa hiểu rõ Phật pháp một cách chân thực. Lời chú thích ở tắc 64 trong Bích nham lục (Đại 48, 194 hạ), nói: Đáng tiếc, đuổi cả đi rồi, toàn là thứ thùng sơn, phỏng làm được gì? Đỗ soạn thiền hòa, nhan nhản như vừng (mè) như thóc.
đỗ sử đa thiên
The Tusita heaven—See Tushita in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đỗ thuận
2955(557~640)華嚴宗初祖。唐代雍州萬年(陝西臨潼縣北)人,俗姓杜。十八歲出家,法號法順。師事因聖寺之僧珍(道珍),受習定業,後住於終南山,宣揚華嚴教綱。其言教多貶抑浮詞,彰顯正理,路見神樹鬼廟必焚除之。唐太宗聞其德風,引入宮內禮遇之。師復遊歷郡國,勸念阿彌陀佛,並撰「五悔文」讚詠淨土。貞觀十四年於南郊義善寺示寂,世壽八十四。後人尊為華嚴宗第一祖,世稱文殊化身、帝心尊者、燉煌菩薩。弟子中以智儼名聲最著。著有華嚴五教止觀、華嚴法界觀門、十門實相觀、會諸宗別見頌等各一卷。〔續高僧傳卷二十五、華嚴經傳記卷三、卷四、終南山杜順禪師緣起、佛祖統紀卷二十九、卷三十九〕
; (杜順) (557-640) Sơ tổ tông Hoa nghiêm ở đời Đường, người Vạn niên, Ung châu (phía bắc huyện Lâm đồng, tỉnh Thiểm tây), họ Đỗ. Sư xuất gia năm 18 tuổi, pháp hiệu là Pháp thuận, thờ ngài Tăng trân (Đạo trân) ở chùa Nhân thánh làm thầy, tu tập thiền định. Về sau, sư vào ở trong núi Chung nam tuyên giảng giáo lí Hoa nghiêm. Sư không ưa ngôn từ phù phiếm, chỉ cần hiển bày được chính lí, hễ gặp miếu quỉ cây thần trên đường sư liền đốt hết. Vua Thái tông nhà Đường nghe danh đức của sư bèn thỉnh sư vào cung để được diện kiến. Sư lại đi đến các quận huyện, khuyên người niệm Phật A di đà, đồng thời soạn Ngũ hối văn để tán thán cõi Tịnh độ, người đời tôn sư là hóa thân Văn thù, tôn giả Đế tâm, bồ tát Đôn hoàng. Năm Trinh quán 14 sư thị tịch tại chùa Nghĩa thiện ở phía nam Kinh đô, thọ 84 tuổi. Sư có các tác phẩm: Hoa nghiêm ngũ giáo chỉ quán, Hoa nghiêm pháp giới quán môn, Thập môn thực tướng quán, Hội chư tông biệt kiến tụng, mỗi thứ 1 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.25; Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.3, Q.4; Chung nam sơn Đỗ thuận thiền sư duyên khởi; Phật tổ thống kỉ Q.29, Q.39].
Đỗ Thuận 杜順 (557-640).
[ja] ドジュン Dojun ||| (557-640). The first patriarch of the Chinese Huayan lineage. => (j: Dojun; 557-640). Sơ tổ Hoa Nghiêm tông Trung Hoa.
đỗ tuyển thiền hoà
2955禪林用語。指並未真實明了佛法之禪徒。又作杜禪和。禪和,即指禪僧、禪徒。碧巖錄第六十四則之夾注(大四八‧一九四下):「可惜放過,一隊漆桶,堪作什麼?杜撰禪和,如麻似粟。」 又於禪林中,對不能了解真實佛法之和尚,或研習禪法多年而無法領受佛法真義者,稱為杜撰長老;又對不諳典故卻動輒發表高論之人,稱為杜撰家、杜家。 蓋「杜撰」一語,原指在詩文或其他著作中,妄作論述而毫無根據之情形,其典故概有下列諸說:(一)漢代之田何精通易學,遷居杜陵,世稱杜田生,然或謂其易學實無師承之處,故世人多以「杜田」或「杜園」譏之,後訛稱為「杜撰」。(二)據傳,道家五千餘卷之書中,除道德經二卷外,其餘均為唐末文人杜光庭所撰述,多屬虛誕之說,故後人多稱僅憑臆造而無所本之說為「杜撰」。(三)宋代文人杜默作詩時,常不合律,時人遂以行事不合法式者,謂之杜撰。
Đỗ Tuần Hạc
(杜荀鶴, Tojunkaku, 846-904): thi nhân cuối thời nhà Đường, tự là Ngạn Chi (彦之), hiệu là Cửu Hoa Sơn Nhân (九華山人), người Trì Châu (池州), Tỉnh An Huy (安徽省). Ông thi đỗ Tiến Sĩ vào ngày 10 tháng giêng năm thứ 2 (861) niên hiệu Đại Thuận (大順), và cũng nhằm trúng ngày sinh nhật của ông. Sau đó ông từng làm các chức vụ như Hàn Lâm Học Sĩ (翰林學士), Chủ Khách Viên Ngoại Tri Chế Cáo (主客員外知制誥). Vua nhà Lương là Châu Toàn Trung (朱全忠) rất mến mộ ông, và cũng nhân đó ông lợi dụng quyền uy của nhà vua mà dèm pha hàng quý tộc, và giết hết những kẻ nào không thích ông. Song cuối cùng ông lâm trọng bệnh và chỉ trong vòng 10 ngày sau thì qua đời. Ông là người rất phong lưu và giỏi về chơi đàn cầm cũng như thơ văn.
đỗ tây đạt tư
2955(Tulsī Dās, 1532~1623)為印度詩人、宗教改革者,屬於印度教羅摩派(梵 Rāma)。出身北印度王族,屬婆羅門種姓,為一狂熱之毘濕奴信徒,宣傳毘濕奴之化身羅摩為救世主,主張崇拜羅摩,要求人們實現仁愛之道德生活,對北印度之宗教信仰有很大影響。達斯根據民間歌謠,以東印度興第語之阿瓦第(āwādī)方言寫作。特別是以羅摩為主題而作成之「羅摩別傳」(Rāmcaritmānas),鼓吹羅摩信仰,為羅摩文學之集大成者,且為北印度印度教徒誦讀之聖書。相傳彼乃羅摩難陀第七代弟子,為以方言啟迪民眾之近代印度教改革者。
đỗ đa
See Đầu Đà.
độ
3777渡過之意。指從此處渡經生死迷惑之大海,而到達覺悟之彼岸。出家爲覺悟之第一步,故稱出家爲「得度」。又梵語 pāramitā,音譯波羅蜜多,意譯度、度彼岸,即從生死此岸到解脫涅槃之彼岸。〔菩薩內習六波羅蜜經、大智度論卷十二〕
; Xem Sát.
; Pàramità (S) To pass; to cross over; to ford. To ferry over, to save
; Paramita (skt)—Ba La Mật. (I) Nghĩa của “Độ”—The meanings of “Paramita.” 1) Dịch là vượt qua. Sanh tử ví như biển, niết bàn là vượt qua biển sanh tử qua bờ bên kia là—Interpreted by “to ferry over,” or “save.” The mortal life of reincarnations is the sea; nirvana is the other shore. 2) Độ còn có nghĩa là xuất gia như chư Tăng Ni: It also means to leave the world as a monk or nun. (II) Phân loại “Độ”—Categories of Paramitas. 1) Ngũ Độ: Five paramitas—See Ngũ Độ. 2) Lục Độ: Six paramitas—See Lục Độ Ba La Mật. 3) Thập Độ: Ten paramitas—See Thập Độ.
; (度) Vượt qua. Ý nói vượt qua được biển lớn của sự sống chết, mê lầm ở bên này, mà đến được bờ giác ngộ, giải thoát ở bên kia. Xuất gia là bước đầu đi đến giác ngộ, bởi thế nó được gọi là đắc độ. Lại tiếng Phạm pàramità, dịch âm: Ba la mật đa, dịch ý: độ, độ bỉ ngạn. Nghĩa là từ bờ sinh tử bên này đến được bờ Niết bàn bên kia. [X. kinh Bồ tát nội tập lục ba la mật; luận Đại trí độ Q.12].
độ biên chiếu hoằng
5057(1907~1977)日本佛教學者。東京人。東京大學印度哲學科畢業,留學德國,專攻印度原典學。歸國後先後任教智山專門學校、東洋大學、九州大學。氏具有豐富的文獻學知識,平生致力於佛典之翻譯與校訂。著有仏教、死後の世界、新釋尊傳、攝真實論並びに袆の研究。
; (渡邊照宏) (1907 - 1977) Học giả Phật giáo Nhật bản, người Đông kinh. Ông tốt nghiệp khoa Triết học Ấn độ tại trường Đại học Đông kinh. Sau, ông du học nước Đức, chuyên nghiên cứu Ấn độ nguyên điển học. Sau khi trở về nước, ông lần lượt dạy học tại các trường: Trí sơn chuyên môn, Đại học Đông dương, Đại học Cửu châu. Kiến thức của ông về Văn hiến học rất phong phú và đã dồn hết năng lực vào việc phiên dịch, hiệu đính các kinh điển Phật giáo. Ông có các tác phẩm: Tử hậu đích thế giới (Thế giới sau khi chết), Tân Thích tôn truyện, Phật giáo.
độ biên hải húc
5056(1872~1933)日本淨土宗僧。東京人。號壺月。曾留學德國,研究梵語、藏語、巴利語等,並專攻比較宗教學、普賢行願讚。明治四十三年(1910)返國,任教於大正、東洋大學。與高楠順次郎共同監修大正新修大藏經,並校訂梵文普賢菩薩行願讚(Bhadra-carī-praṇidhāna, 1905),對佛教貢獻甚多。又致力於教育工作與社會事業,設立淨土宗勞衬共濟會。著作有歐米の佛教,遺稿集為壺月全集二卷。〔壺月全集卷下〕
; (渡邊海旭) (1872 - 1933) Vị tăng người Nhật bản, thuộc tông Tịnh độ, người Đông kinh, hiệu Hồ nguyệt. Sư từng du học nước Đức, nghiên cứu tiếng Phạm, Tây tạng,Pàli, Tôn giáo tỉ giảo học, Phổ hiền hành nguyện tán v.v... Sư trở về nước vào năm Minh trị 34 (1910) và giữ chức Giáo sư tại các trường Đại học Đại chính, Đông dương. Sư cùng với ông Cao nam Thuận thứ lang xem xét lại Đại chính tân tu Đại tạng kinh và hiệu đính Phổ hiền hạnh nguyện tán (Phạm: Bhadra-carìpraịidhàna, 1905) bản tiếng Phạm. Đối với Phật giáo sư đã có những cống hiến to lớn. Ngoài ra, sư còn dốc sức vào công tác giáo dục và sự nghiệp xã hội, lập Tịnh độ tông lao động cộng tế hội. Sư có các tác phẩm: Âu Mĩ đích Phật giáo, Di cảo tập. [X. Hồ nguyệt toàn tập Q.hạ].
độ biên mai hùng
5057(1893~1978)日本佛教學者。島根縣人。東京大學文學部印度哲學科畢業,並留學歐洲。歸國後,先後任教東洋、駒澤、日本、千葉等大學。著有小乘仏教、上代インド仏教思想史、有部阿毘達磨の研究、根本佛教の精神、Thoughts 等書。
; (渡邊楳雄) (1893 - 1978) Học giả Phật giáo Nhật bản, người huyện Đảo căn. Ông tốt nghiệp khoa Triết học Ấn độ tại Đại học Đông kinh, rồi du học Âu châu. Sau khi trở về nước, ông lần lượt làm giáo sư ở các Đại học: Đông dương, Câu trạch, Nhật bản, Thiên diệp v.v... Các trứ tác của ông gồm có: Tiểu thừa Phật giáo, Hữu bộ a tì đạt ma chi nghiên cứu, Nhật bản Phật giáo đích tinh thần, Thoughts.
độ chúng sinh tâm
3779指欲濟度一切眾生之心,爲利他之菩薩所發之大悲心。謂發菩提心者,即度眾生心。亦即攝取眾生,使生佛國之心。〔往生論註卷下、永平廣錄卷八〕(參閱「菩提心」5200)
; (度衆生心) Tâm đại bi lợi tha của Bồ tát muốn cứu độ tất cả chúng sinh, khiến cho họ được sinh vào nước Phật. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; Vĩnh bình quảng lục Q.8]. (xt. Bồ Đề Tâm).
độ khoa
3778謂得度之試科。唐中宗景龍(707~709)初年,詔天下試經度僧,山陰靈隱僧童大義誦法華經試中第一,是爲我國度科之始。〔佛祖統紀卷五十一〕
; Chư Tăng mới xuất gia phải làu thông một phần nào đó trong tam tạng kinh điển để chuẩn bị thi “Độ Tăng.” Lệ nầy bắt đầu từ đời Đường Trung Tông bên Trung Quốc—The portion of the sutras supposed to be learned by religious novices as preparation for leaving the world as monks.
; (度科) Khoa thi tuyển chọn người xuất gia làm tăng. Vào đầu năm Cảnh long (707 - 709) đời vua Trung tông nhà Đường, vua ban lệnh mở khoa thi kinh để chọn người trong nước xuất gia làm tăng. Sư Đồng đại nghĩa ở phía bắc núi Linh ẩn thi tụng kinh Pháp hoa đỗ hạng nhất. Đây là Độ khoa lần đầu tiên tại Trung quốc. [X. Phật tổ thống kỉ Q.51].
độ luân
3780(1918~ )松江雙城人,俗姓白。法名安慈,字度輪,號宣化。年十一,禮常智法師爲師。十九歲喪母,廬墓三年,鄉里稱孝。此後,除在東北弘法外,並赴各地行腳參學。民國三十八年(1949)轉赴香港,在該地弘法十數年。五十一年赴美,於舊金山開創金山寺。六十五年,又在舊金山附近創設萬佛城,成立法界大學,致力於弘法事業。
độ lượng
Generous.
độ lạc xoa
3778梵語 atilakṣa。洛叉(梵 lakṣa)乃印度古代計算數目之單位,相當於六位數之「十萬」。十洛叉稱度洛叉,故相當於「百萬」之數。〔阿毘達磨俱舍論卷十二分別世間品〕
; 1,000,000—One million.
; (度洛叉) Phạm: Atilakwa. Lạc xoa (Phạm: lakwa) là đơn vị của số mục kế toán ở Ấn độ đời xưa, tương đương với số 100.000. Mười Lạc xoa gọi là Độ lạc xoa, tương đương với số 1.000.000. [X. phẩm Phân biệt thế gian trong luận A tì đạt ma câu xá Q.12].
độ lịch toản
6315為一需藉車拉轉,以使之鑽物之大錐。秦始皇建阿房宮(一說萬里長城)時,曾造巨大之錐,其後,此大錐已無用。禪林遂以「秦時蛏轢鑽」比喻無用之人。景德傳燈錄卷十二(大五一‧二九一中):「有僧扣門,師云:『阿誰?』僧云:『某甲。』師云:『秦時蛏轢鑽。』」
; (度轢鑽) Một loại dùi to, nặng, phải nhờ sức của xe quay tròn mới có thể khoan được vật. Khi xây dựng cung A phòng (có thuyết cho là xây Vạn lí trường thành), Tần thủy hoàng đã cho chế tạo cái dùi to này, nhưng về sau nó trở thành vô dụng. Thiền tông bèn dùng từ ngữ Tần thời độ lịch toản (cái dùi của đời Tần) để ví dụ người vô dụng. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 12 (Đại 51, 291 trung), nói: Có vị tăng đến gõ cửa. Sư hỏi: Ai đó? Vị tăng đáp: Mỗ giáp! Sư nói: Cái dùi của đời Tần (đồ vô dụng)!.
độ môn tự
3778位於湖北當陽楞伽峰。禪宗北宗神秀創於儀鳳年間(676~678),以楞伽經中「無量度門,隨類普現」一語,而稱爲楞伽孤峰度門蘭若、度門蘭若。神龍二年(706)神秀示寂,諡號「大通禪師」,乃改寺名爲「大通寺」。唐睿宗曾賜三十萬錢,作爲擴建營造之資,一時之間,成爲北宗系統之根本道場。其後荒廢,明萬曆年間(1573~1619),無跡正誨重修再興。清光緒年間(1875~1908),僧安相重修並增建,分爲度門、大通二寺。寺內現存唐代張說所撰之「玉泉寺大通禪師碑銘」,此外尚有神秀、正誨、萬法鐵峰等高僧之塔。〔楞伽師資記、荊門玉泉志〕
; (度門寺) Chùa ở ngọn núi Lăng già tại Đương dương, tỉnh Hồ bắc, do ngài Thần tú sáng lập vào khoảng năm Nghi phụng (676 - 678). Trong kinh Lăng già có câu Vô lượng độ môn, tùy loại phổ hiện, theo câu kinh này mà chùa còn được gọi là Lăng già cô phong độ môn lan nhã, Độ môn lan nhã. Vào năm Thần long thứ 12 (706), ngài Thần tú thị tịch, thụy hiệu là Đại Thông Thiền Sư, từ đó chùa được đổi tên là chùa Đại thông. Vua Duệ tông nhà Đường từng ban tặng 30 vạn tiền cho việc kiến thiết mở rộng thêm và trở thành đạo tràng căn bản của Thiền tông phương bắc. Về sau, chùa bị hoang phế. Đến khoảng năm Vạn lịch (1573 - 1619) đời Minh, ngài Vô tích Chính hối đứng ra trùng tu mới được hưng thịnh trở lại. Khoảng năm Quang tự (1875 - 1908) đời Thanh, sư An tướng sửa lại và xây dựng thêm, chia làm hai chùa Độ môn và Đại thông. Trong chùa hiện còn bài minh khắc trên bia đá nói về thiền sư Đại thông chùa Ngọc tuyền do ông Trương thuyết soạn vào đời Đường. Ngoài ra còn có tháp của các bậc cao tăng như: Thần tú, Chính hối, Vạn pháp Thiết phong v.v... [X. Lăng già sư tư kí; Kinh môn ngọc tuyền chí].
độ người
To take someone across- • Đã độ: Has been taken across. • Đương độ: Are being taken across. • Chưa độ (sẽ độ): Will be taken across.
độ nhất thiết thế gian khổ não
Sarvaloka-dhatu-padravodvega-pratyuttirna (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, thì đây là vị cứu vớt tất cả con người từ thế giới khổ não. Đây là một vị Phật giả tưởng cư ngụ về phương tây của vũ trụ chúng ta, là tiền thân của người con thứ mười của Phật Đại Thông Trí Thắng—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this one who redeems men from the misery of all worlds. A fictitious Buddha who dwelled west of our universe, an incarnation of the tenth son of Mahabhijnajnana-bhibhu.
độ sanh
Tế độ hay độ thoát chúng sanh thoát khỏi mê đồ tăm tối để đến bến bờ giác ngộ—Salvation—rescue all beings or help others liberate or free from delusions.
độ sinh
To save, rescue all beings.
độ tha
To save others.
độ thoát
3779超越生死之苦,解脫煩惱。爲得度解脫之略稱。又作得脫。即脫離三界流轉之境界,而達涅槃之彼岸。〔佛說無量壽經卷上、法華經序品〕
; To give release from the wheel of transmigration; enlightenmebt.
; Độ người thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử—Saving—Taking across—Rescuing—To give release from the wheel of transmigration; enlightenment.
; (度脫) Vượt qua nỗi khổ sống chết, trút bỏ hết các phiền não. Gọi đủ: Đắc độ giải thoát, cũng gọi Đắc thoát. Tức là xa lìa cảnh giới trôi lăn trong ba cõi, đạt đến bờ Niết bàn giải thoát bên kia. [X. kinh Phật thuyết vô lượng thọ Q.thượng; phẩm Tựa trong kinh Pháp hoa].
độ thoát chúng sanh
To save sentient beings—Theo Kinh Duy Ma Cật, khi đến thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật, Duy Ma Cật có nói với ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát về “Độ Thoát Cúng Sanh” nư sau—According to the Vimalakirti Sutra, when Manjusri Bodhisattva called to enquire after Vimalakirti's health, Vimalakirti told Manjusri about “saving sentient beings” as follows: • Văn Thù lại hỏi Duy Ma Cật: “Muốn độ chúng sanh, Bồ Tát phải trừ những gì?”—Manjusri asked: “What should a Bodhisattva wipe out in order to liberate living beings?” • Duy Ma Cật đáp: “Muốn độ thoát chúng sanh trước nhất phải trừ phiền não của họ.”—Vimalakirti replied: “When liberating living beings, a Bodhisattva should first wipe out their klesa (troubles and causes of troubles)?” • Văn Thù hỏi: “Muốn trừ phiền não, phải thực hành những gì?”—Manjusri asked: “What should he do to wipe out klesa?” • Duy Ma Cật đáp: “Phải thực hành chánh niệm.”—Vimalakirti replied: “He should uphold right mindfulness.” • Văn Thù hỏi: “Thế nào là thực hành chánh niệm?”—Manjusri asked: “What should he do to uphold right mindfulness?” • Duy Ma Cật đáp: Phải thực hành pháp không sanh không diệt: Vimalakirti replied: “He should advocate the unborn and the undying.” • Văn Thù hỏi: “Pháp gì không sanh, pháp gì không diệt? “Manjusri asked: “What is the unborn and what is the undying?” • Duy Ma Cật đáp: “Pháp bất thiện không sanh, pháp thiện không diệt.”: Vimalakirti replied: “The unborn is evil that does not arise and the undying is good that does not end.” • Văn Thù hỏi: “Pháp thiện và pháp bất thiện lấy gì làm gốc?”—Manjusri asked: “What is the root of good and evil?” • Duy Ma Cật đáp: “Lấy thân làm gốc.”—Vimalakirti replied: “The body is the root of good and evil.” • Văn Thù hỏi: “Thân lấy gì làm gốc?”—Manjusri asked: “What is the root of the body?” • Duy Ma Cật đáp: “Lấy tham dục làm gốc.”—Vimalakirti replied: “Craving is the root of the body.” • Văn Thù hỏi: “Tham dục lấy gì làm gốc?”—Manjusri asked: “What is the root of craving?” • Duy Ma Cật đáp: “Lấy hư vọng phân biệt làm gốc.”—Vimalakirti replied: “Baseless discrimination is the root of craving.” • Văn Thù hỏi: “Hư vọng phân biệt lấy gì làm gốc?”—Manjusri asked: “What is the root of baseless discrimination?” • Duy Ma Cật đáp: “Lấy tưởng điên đảo làm gốc.”—Vimalakirti replied: “Inverted thinking is the root of discrimination.” • Văn Thù hỏi: “Tưởng điên đảo lấy gì làm gốc?”—Manjusri asked: “What is the root of inverted thinking?” • Duy Ma Cật đáp: “Lấy không trụ làm gốc.”—Vimalakirti replied: “Non-abiding is the root of inverted thinking.” • Văn Thù hỏi: “Không trụ lấy gì làm gốc?”—Manjusri asked: “What is the root of non-abiding?” • Duy Ma Cật đáp: “Không trụ thì không gốc. Thưa ngài Văn Thù, ở nơi gốc không trụ mà lập tất cả pháp.”—Vimalakirti replied: “Non-abiding is rootless. Manjusri, from this non-abiding root all things arise.”
Độ thoát 度脱
[ja] ドダツ dodatsu ||| (1) To liberate oneself; achieve enlightenment, nirvāna. Salvation, deliverance. (2) To liberate others; to save others. 1. Tự giải thoát cho mình, đạt được giác ngộ, niết-bàn. Sự cứu rỗi, sự giải thoát. Giải thoát chúng sinh. Cứu độ cho người khác;
độ thân
To subsist.
; To earn a living.
độ thế
3778<一>指度脫三世迷界之事。度即渡、出,猶言出世、出世間、離世間。如華嚴經離世間品,又稱度世品經。 <二>指爲自己名利、生計所作一切之生業。 <三>指濟度世間之人。如維摩詰所說經佛國品(大一四‧五三八上):「能度諸世間。」〔佛說無量壽經卷上〕
; To save the world; to relieve human sufferings. To get through life; to pass safely through this life.
; Cứu độ chúng sanh—To help mankind—To get through life; to pass safely through this life. Also to save the world.
; (度世) I. Độ Thế. Vượt khỏi cõi mê trong ba đời. Độ nghĩa là qua sông, ra khỏi, như nói: Xuất thế, xuất thế gian, li thế gian. Như phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm cũng được gọi là Độ thế phẩm kinh. II. Độ Thế. Chỉ cho tất cả nghề nghiệp mình theo đuổi để mưu cầu danh lợi. III. Độ Thế. Chỉ cho người cứu độ thế gian. Như phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma cật sở thuyết (Đại 14, 538 thượng), nói: Hay độ các thế gian. [X. kinh Phật thuyết vô lượng thọ Q.thượng].
độ thị vương
The ruler of the Hot Hell.
độ trì
To help—To assist.
độ tăng
3779度者,出世俗、離生死。即舉行一定之儀式,令俗人出家爲僧。
; (度僧) Là nghi thức độ người thế tục xuất gia làm tăng. Độ nghĩa là ra khỏi thế tục, xa lìa sinh tử.
Độ tăng 度僧
[ja] ドソウ dosō ||| The regulation of monk and nun ordination by the government. This regulation first became practiced when too many of the clergy were able to avoid tax and military service. => Sự quy định tăng ni xuất gia của nhà nước. Quy định nầy đầu tiên được thực thi khi quá nhiều tăng sĩ xuất gia vì trốn thuế và nghĩa vụ quân sự.
độ vong
To conduct a requiem mass.
độ vô cực
Xem Ba la mật.
; Paramita (skt)—Tiếng Phạn Ba La Mật Đa (dịch cũ là Độ Vô Cực, dịch mới là Đáo Bỉ Ngạn)—To ferry across, or save, without limit—See Paramitas in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Độ vô cực 度無極
[ja] トムゴク tomugoku ||| To reach the limitless--a Chinese translation of pāramitā (波羅蜜). 〔正法華經 263.9.65c25〕 => Đến mức giới hạn. Hán dịch chữ pāramitā ( ba-la-mật波羅蜜).
Độ Điệp
(度牒, dochō): còn gọi là Độ Duyên (度緣), là giấy chứng nhận do quan phủ cấp khi Tăng Ni xuất gia, tức Chứng Điệp Tu Sĩ, trên đó có ghi ngày tháng năm xuất gia, tên các vị quan chứng minh và dấu ấn. Dưới thời Bắc Ngụy đã tồn tại chế độ này rồi. Vào năm thứ 17 (729) niên hiệu Khai Nguyên (開元) nhà Đường, nhà vua hạ chiếu ra lệnh tất cả Tăng Ni trong thiên hạ phải làm Tăng Tịch. Theo phần Từ Bộ Điệp Phụ (祠部牒附) của Đại Tống Tăng Sử Lược (大宋僧史略) quyển Trung, ở Trung Quốc, chế độ này được bắt đầu tiến hành vào năm thứ 6 (747) niên hiệu Thiên Bảo (天寳) đời vua Huyền Tông (玄宗), nhà vua ra lệnh cho tăng ni phải lệ thuộc vào vị quan sứ công đức, do Từ Bộ Ty (祠部司) của Thượng Thư Tỉnh (尚書省) cấp, cho nên nó được gọi là Từ Bộ Điệp (祠部牒). Các Tăng Ni lấy điệp này làm bằng chứng về thân phận của mình và có thể được miễn lao dịch. Vào năm thứ 10 (856) niên hiệu Đại Trung (大中) đời vua Tuyên Tông (宣宗), người ta bắt đầu tiến hành cấp giấy chứng nhận thọ giới cho các giới tử đã đăng đàn thọ giới. Nó được gọi là Giới Điệp (戒牒). Vị tăng nào không có Độ Điệp, được gọi là Tư Độ Tăng (私度僧), tức không được quan lại địa phương công nhận và chế độ này kéo dài cho đến thời nhà Thanh thì chấm dứt. Đến thời Dân Quốc, Hội Phật Giáo Trung Quốc có cấp cho Tăng Ni Giới Điệp, chứ không phải Độ Điệp. Tại Nhật Bản, nó cũng được thi hành từ sau thời Nại Lương (奈良, Nara), khi xuất gia thì được cấp Độ Điệp và khi thọ giới thì được cấp Giới Điệp. Về sau, chế độ này càng lúc càng lỏng lẻo. Dưới thời Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) của Nhật Bản, Thiền Sư Phật Thừa (佛乘, Busshō) đã cấp trong 1 ngày cả 2 điệp này. Từ sau thời Minh Trị (明治, Meiji) trở đi, vị Quản Trưởng của các tông phái chịu trách nhiệm cấp Chứng Điệp này.
độ điệp
3779在我國或日本,由官方頒發出家得度僧侶之證明書,稱爲度牒。北魏時代即存此制。唐開元十七年(729)下詔令天下僧尼每三年造籍冊,天寶六年(747)令天下僧尼隸屬於兩街功德使,並由尚書省祠部司出具,稱祠部牒,僧尼以此牒爲身分憑證,可免徭役。宣宗大中十年(856)開始授予受戒者證明文書,稱戒牒。無度牒之僧侶,稱私度僧,並不爲官方所承認,迄清代爲止,代代沿用。至民國以後,始由中國佛教會授予;然今所發者爲戒牒,而非度牒。 一般而言,度牒頒予試經(得度之際,作讀經或解釋經論之試驗)合格者,然其他仍不免趨附特恩、納金(繳納香水錢以購度牒之事)等情況。如唐肅宗至德元年(756)爲得軍資,以宰相裴冕之奏,納錢一百緡者,發給度牒,准予剃髮,此爲鬻度牒之始。至宋神宗熙寧元年(1068)七月,一說英宗治平四年(1067)十月,因歲饑河決,用司諫錢輔之言,再行鬻度牒,後其風不絕,且偽造者甚多,故於南宋高宗紹興三年(1133)八月,採朱異之議,使用綾牒。南宋亦有濫售度牒之例,史稱免丁錢或清閒錢。又於唐代以後,牒本用絹本,至宋真宗,改用爲紙本。從當時祠部所頒發之牒本,可知於天禧三年(1019)一年,全國度僧人數多達二十三萬。至宋神宗時,度牒之情形更爲一般化,而開始發行「空名度牒」,即牒本上不記法名之空牒。 佛祖統紀卷四十七紹興十五年條下記載(大四九‧四二五下):「勅天下僧道,始令納丁錢,自十千至一千三百,凡九等,謂之清閑錢。年六十已上及殘疾者,聽免納。」此外,僧侶行腳之際,須隨身攜度牒,掛搭時以示維那,以證其爲公度之僧。 日本自奈良朝以後,於得度時先頒度牒,受戒時授給戒牒。其後,制度鬆弛,鎌倉時代,佛乘禪師慧廣即於同一日頒給度牒及戒牒。明治以後則依各宗管長慣例授予。〔勅修百丈清規卷下大眾章沙彌得度、兩序章維那、大宋僧史略卷中祠部牒附〕(參閱「戒牒」2914)
; (度牒) Giấy chứng minh do nhà nước cấp cho những người xuất gia làm tăng tại Trung quốc và Nhật bản thời xưa. Ở Trung quốc, vào thời đại Bắc Ngụy đã có chế độ này rồi. Vào năm Khai nguyên 17 (729) đời Đường, vua ban lệnh cho tăng ni trong nước 3 năm làm sổ sách một lần. Năm Thiên bảo thứ 6 (747), vua hạ chiếu cho tăng ni trong nước lệ thuộc vào Lưỡng nhai công đức sứ và do Ti Thượng thư tỉnh từ bộ cấp phát giấy tờ gọi là Từ bộ điệp, tăng ni có Từ bộ điệp thì được miễn phudịch. Năm Đại trung 10 (856) đời vua Tuyên tông, những người thụ giới bắt đầu được triều đình cấp chứng minh thư gọi là Giới điệp. Những tăng sĩ không có độ điệp gọi là Tư độ tăng và không được nhà nước thừa nhận. Mãi đến cuối đời Thanh việc cấp Độ điệp mới chấm dứt. Đến thời Dân quốc trở đi, thì do Giáo hội Phật giáo Trung quốc cấp phát trở lại, nhưng là cấp Giới điệp chứ không phải Độ điệp. Theo nguyên tắc chung, những người trúng cách thi kinh (trước khi được độ phải qua một kì thi đọc kinh hoặc giải thích kinh luận) mới được cấp phát Độ điệp, nhưng trong thực tế khó tránh khỏi tệ nạn đặc ân nộp tiền. Như niên hiệu Chí đức năm đầu (756) đời vua Túc tông nhà Đường, vì nhu cầu trong quân đội, Tể tướng Bùi miện tâu lên vua xin lệnh: ai nộp 100 quan tiền mới được cấp phát Độ điệp và cho phép cạo tóc. Tệ nạn mua bán Độ điệp bắt đầu từ đó! Đến tháng 7 niên hiệu Hi ninh năm đầu (1068) đời vua Thần tông nhà Tống (có thuyết nói tháng 10 năm Trị bình thứ 4 (1067) đời vua Anh tông), nhân năm lụt lội, đói kém, nghe lời tâu của quan Ti gián tiền phụ, vua lại thi hành chính sách bán Độ điệp. Sau, chính sách này cứ kéo dài mãi nên bị kẻ gian lợi dụng làm Độ điệp giả rất nhiều. Do đó, tháng 8 năm Thiệu hưng thứ 3 (1133) đời vua Cao tông nhà Nam Tống, theo đề nghị của ông Chu dị, nhà nước bèn làm Độ điệp bằng lụa mỏng có hoa để phòng kẻ gian làm giả. Đời Nam Tống cũng có lệ lạm dụng bán Độ điệp mà lịch sử gọi là tiền miễn đinh (miễn thuế hộ khẩu) hoặc tiền thanh nhàn (mua sự thanh nhàn). Từ đời Đường về sau, Độ điệp được làm bằng lụa, đến đời Tống Chân tông thì đổi lại bằng giấy. Căn cứ vào số bản Độ điệp do Từ bộ đương thời cấp phát, thì thấy rằng, chỉ trong năm Thiên hi thứ 3 (1019) thôi, toàn quốc đã có tới 23 vạn người xuất gia làm tăng. Đến đời vua Tống Thần tông thì bắt đầu phát hành Không điệp, nghĩa là tờ Độ điệp để trống, chưa ghi pháp danh ai cả. Mục Thiệu hưng thập ngũ niên đại trong Phật tổ thống kỉ quyển 47 (Đại 49, 425 hạ) nói: Vua ban lệnh cho Tăng ni, Đạo sĩ trong nước bắt đầu nộp tiền đinh từ 1.300 đến 10.000 tiền gồm chín bậc, gọi là tiền thanh nhàn. Những người từ 60 tuổi trở lên và người tàn tật được miễn nộp. Ngoài ra, khi chư tăng đi hành cước phải mang theo Độ điệp bên mình, khi ở lại chùa nào thì xuất trình cho vị Duy na để chứng minh mình là tăng được nhà nước công nhận (công độ tăng). Tại Nhật bản, từ thời Nại lương trở đi, người xuất gia được cấp Độ điệp trước, lúc thụ giới mới trao Giới điệp. Về sau, vào thời đại Liêm thương, việc cấp phát Độ điệp có dễ dàng hơn. Thiền sư Phật thừa hiệu Tuệ quảng trong cùng một ngày cấp cả Độ điệp và Giới điệp. Từ đời Minh trị về sau, các tông phái cứ y theo lệ cũ mà cấp phát Độ điệp và Giới điệp. [X. mục Sa di đắc độ của chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; mục Từ bộ điệp phụ trong Đại tống tăng sử lược Q.trung]. (xt. Giới Điệp).
Độ điệp 度牒
[ja] ドチョウ dochō ||| A government license allowing one to become a Buddhist monk or nun. => Giấy chứng nhận của nhà nước cấp cho Tăng ni Phật giáo.
độ ốc tiêu
3778乃舊華嚴經名字品所載釋迦牟尼之別號。於大海中吸入萬流之焦石稱爲沃焦。謂眾生如焦石,五欲沃之而無饜足,唯佛能超度此欲,故號度沃焦。(參閱「沃焦」2980)
; Danh hiệu của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, người cứu độ chúng sanh khỏi bị đốt cháy bởi lửa dục vọng của chính họ, giống như đá cháy trong biển bên trên địa ngục vậy—An epithet of Sakyamuni Buddha who rescues all the living from being consumed by their desires, which resemble the burning rock in the ocean above purgatory.
; (度沃焦) Vượt qua tảng đá nóng. Biệt hiệu của đức Phật Thích ca mâu ni được nói đến trong phẩm Danh tự của kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ). Ở giữa biển cả có tảng đá nóng gọi là Ốc tiêu hút các dòng nước. Chúng sinh được ví như tảng đá nóng hút hết năm món dục lạc (tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ) mà không bao giờ nhàm chán, chỉ có đức Phật mới vượt khỏi năm món dục lạc ấy, nên gọi Ngài là Độ ốc tiêu. (xt. Ốc Tiêu).
Độ 度
[ja] ド do ||| (1) To cross over (to the shore of liberation) (nayati, pramokṣa, uttarana). (2) The perfection(s), a Chinese translation of pāramitā 若波羅. (3) To leave home and seek the way. (4) To save sentient beings. => 1. Vượt qua (đến bờ giải thoát)(s: nayati, pramokṣa, uttarana). 2. Tiếng Hán dịch chữ pāramitā :(Ba-la-mật 若波羅). 3. Xuất gia tìm đạo. 4. Cứu giúp chúng sinh.
độc
Toxic; poisonous; spiteful, malignant, virulent; wicked. Lời độc: spite, malice, virulence. Miệng lưỡi độc: spiteful, virulent tongue. Ma thiêng nước độc: insalubrious, unhealthy (climate).
; 1) Độc Nhất: Only—Sole. 2) Đơn Độc: Lẽ loi—Solitary. 3) Chất Độc: Poison. 4) Trâu hay bò con: Vatsa (skt)—A calf—Young animal. 5) Đứa trẻ: A child.
Độc Am Đạo Diễn
(獨庵道衍, Dokuan Dōen, 1335-1418): vị Thiền tăng sống vào đầu thời nhà Minh, xuất thân Trường Châu (長洲, Huyện Ngô, Tỉnh Giang Tô), họ là Diêu (姚), tên Quảng Hiếu (廣孝), hiệu Độc Am (獨庵). Năm 14 tuổi, ông xuất gia, ban đầu học Thiên Thai giáo học, sau theo Trí Cập (智及) ở Kính Sơn (徑山) tham Thiền và đạt được yếu chỉ. Sau đó, ông làm trú trì một số chùa như Phổ Khánh Tự (普慶寺) ở Lâm An (臨安), Thiên Long Tự (天龍寺) ở Hàng Châu (杭州), Lưu Quang Tự (留光寺) ở Gia Định (嘉定). Ông có năng khiếu về thi văn, lại sở trường về thuật số âm dương, và rành về hội họa. Yến Vương cùng ông đàm luận rất tâm đắc; thỉnh thoảng ông sống trong phủ nội với nhà vua, cùng vua bàn chuyện cơ mật, có công đệ nhất nên được tôn làm Thái Tử Thiếu Sư và người đời gọi ông là Diêu Thiếu Sư (姚少師). Nhà vua lại ra lệnh cho ông để tóc mặc quan phục, nhưng ông từ chối không nhận, thậm chí ban cho cả nhà cửa cung nhân hầu hạ, nhưng rốt cuộc ông chối từ tất cả. Ông từng giám tu cuốn Thái Tổ Bảo Lục (太祖寳錄), Vĩnh Lạc Đại Điển (永樂大典), v.v. Thường ngày ông sống tại Thành Tây Phật Tự (城西佛寺), mặc pháp phục lễ bái tụng kinh, chỉ nuôi dưỡng một người thị giả. Đến năm thứ 6 (1418) niên hiệu Vĩnh Lạc (永樂), ông thị tịch, hưởng thọ 84 tuổi, được ban cho thụy hiệu là Cung Tĩnh (恭靖). Ông từng viết cuốn Đạo Dư Lục (道余錄), khẳng định rằng Phật pháp không thể nào diệt tận, là tác phẩm đối trị với những ngộ nhận và công kích của Nho Giáo dưới thời nhà Tống đối với Phật Giáo. Bên cạnh đó, ông còn để lại nhiều luận thư khác về Tịnh Độ như Tịnh Độ Giản Yếu Lục (淨土簡要錄), v.v. Đối với Nhật Bản, ông cũng có mối quan hệ như đã từng viết lời tựa cho bản Tiêu Kiên Cảo (蕉堅稿) của Tuyệt Hải Trung Tân (絕海中津, 1336-1405) hay Trí Giác Phổ Minh Quốc Sư Ngữ Lục (智覺普明國師語錄) của Xuân Ốc Diệu Ba (春屋妙葩, 1311-1388).
độc bỉnh
6266即心念法。三種羯磨法之一。謂比丘懺悔作法之時,若事屬極微,或界中無人可作懺悔對象,亦得獨發心念境,自行口誦而明了舉發,則其事成辦。(參閱「羯磨」6137)
; (獨秉) Tức là pháp tâm niệm sám hối. Nghĩa là khi tỉ khưu tác pháp sám hối, nếu là việc rất nhỏ nhặt, hoặc trong chỗ mình ở, không có ai để mình hướng vào mà sám hối, thì được phép tự mình nghĩ trong tâm và miệng nói ra rõ ràng, thì cũng thành việc sám hối.
độc bồ tát giáo
6267指天台宗所判化法四教之第三別教。天台宗將佛陀一代教法判立為藏、通、別、圓四大類,稱為化法四教,每一教皆依所化眾生之根機而有別,其第三教稱為別教,此類教法為「不共教」,亦即非屬聲聞、緣覺二乘人所共習之教法,而係單獨對菩薩闡說教、理、智、斷,行、位、因、果等大乘無量之法,故亦稱獨菩薩教。有別於藏、通二教之通於二乘,亦異於圓教之佛乘。其教法內容係論說「但中」之理,依之而次第修習空、假、中之三觀,並斷盡十二品之無明而達於佛果。〔四教義卷一、天台四教儀〕(參閱「五時八教」1132、「化法四教」1325)
; (獨菩薩教) Giáo pháp của hàng Biệt giáo. Tông Thiên thai chia giáo pháp của một đời đức Phật làm 4 loại: Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo và Viên giáo, gọi là Hóa pháp tứ giáo, giáo thứ 3 là Biệt giáo. Giáo pháp này được nói riêng cho hàng Bồ tát về giáo, lí, trí, đoạn, hành, vị, nhân, quả, cho nên gọi là Độc bồ tát giáo. Nội dung giáo pháp này bàn về lí Đãn trung, nương theo lí ấy mà lần lượt tu tập 3 quán Không, Giả, Trung, dứt hết 12 phẩm vô minh mà đạt đến quả Phật. [X. Tứ giáo nghĩa Q.1; Thiên thai tứ giáo nghi]. (xt. Hóa Pháp Tứ Giáo).
độc bụng
Wicked—Cruel.
độc chiếm
To monopolize.
độc cô lạc ca
Dukula (skt)—A Loại vải mịn hay một loại nỉ—Fine cloth or a kind of linen.
độc cư
Sống đơn độc như một ẩn sĩ—Dwelling alone as a hermit.
độc cổ chử
6267為密教真言行者所持金剛杵(梵 vajra,音譯跋折囉)之一。又稱獨鈷杵、獨股、獨鈷、一股杵、一股跋折囉。股,又作鈷、囄、古,乃借音字。金剛杵,原為古代印度之武器,在密教中象徵摧破煩惱之菩提心,乃諸尊之持物或真言行者修法之道具,以分叉情形又分為獨股、三股、五股、九股等數種,各象徵不同之意義。獨股乃標示大日如來獨一法界之智;又表精進勇猛、摧破之義。以其兩頭皆不開叉而為單峰之杵狀,故稱獨股。為密迹金剛力士、千手觀音四十手中之金剛杵手及金剛藏王菩薩一○八臂中右手之一所持之物。乃金剛界曼荼羅賢劫十六尊中之大精進菩薩、二十天中之帝釋天、胎藏界曼荼羅之發生金剛部菩薩、住無戲論菩薩等之三昧耶形。 獨股另有忿怒形與普通形之兩類,亦有以把手中央之作鬼目或鬼面等形狀,而稱之為「鬼目獨鈷杵」或「鬼面獨鈷杵」者。密教修大壇時,大壇之西方,即置獨股杵,與蓮華部相應,代表金剛界阿彌陀如來、胎藏界無量壽如來之妙觀察智。此外,以獨股杵作三昧耶形,或表示獨股杵之手印等,皆稱獨股印。〔蘇婆呼童子經卷上、無二平等最上瑜伽大教王經卷六、阿閦如來念誦供養法、哞迦陀野儀軌卷一、大日經疏卷一、卷五、大日經疏演奧鈔卷十六末〕(參閱「金剛杵」3543)
; (獨股杵mc) Phạm:Vajra. Hán âm; Bạt chiết la. Cũng gọi Độc cổ, Nhất cổ chử, Nhất cổ bạt chiết la. Cái chày kim cương một chĩa của hành giả chân ngôn Mật giáo. Nguyên là thứ binh khí của Ấn độ đời xưa, trong Mật giáo nó được dùng để tượng trưng cho tâm Bồ đề phá trừ phiền não; là vật cầm tay của chư tôn hoặc đạo cụ tu pháp của hành giả Chân ngôn. Theo số chĩa mà chày có tên gọi khác nhau như: Độc cổ (chày1chĩa), Tam cổ (chày3chĩa), Ngũ cổ (chày năm chĩa), Cửu cổ (chày chín chĩa) v.v... Các loại chày này mỗi loại tượng trưng cho một ý nghĩa. Độc cổ tượng trưng cho trí Độc nhất pháp giới của Đại nhật Như lai; cũng biểu thị nghĩa tinh tiến, dũng mãnh, phá trừ phiền não. Vì 2 đầu chày không chia ra các chĩa mà chỉ có một mũi nhọn cho nên gọi là Độc cổ. Đây là vật cầm tay của lực sĩ Kim cương Mật tích, là tay kim cương chử trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm và là vật cầm ở 1 trong những tay bên phải trong 108 tay của bồ tát Kim cương tạng vương trong Mật giáo. Chày này cũng là hình tam muội da của bồ tát Đại tinh tiến trong 16 vị tôn Hiền kiếp, của trời Đế thích trong 20 vị trời trên Mạn đồ la Kim cương giới, của bồ tát Phát sinh Kim cương bộ và bồ tát Vô hí luận của Mạn đồ la Thai tạng giới. Độc cổ còn có 2 loại là: hình phẫn nộ và hình phổ thông, cũng có khi ở giữa chỗ tay cầm khắc mắt quỉ hoặc mặt quỉ gọi là Quỉ mục độc cổ chử hoặc Quỉ diện độc cổ chử. Trong Mật giáo, khi tu pháp Đai đàn thì ở hướng tây Đại đàn đặt Độc cổ chử, tương ứng với Liên hoa bộ, tượng trưng cho trí Diệu quan sát của A di đà Như lai ở Kim cương giới và của Vô lượng thọ Như lai ở Thai tạng giới. Ngoài ra, khi chày Độc cổ được dùng làm hình Tam muội da, hoặc biểu thị tay kết ấn chày Độc cổ, thì đều gọi là Độc cổ ấn. [X. kinh Tô bà hô đồng tử Q.thượng; kinh Vô nhị bình đẳng tối thượng du già đại giáo vương Q.6; A súc Như lai niệm tụng cúng dường pháp; Mâu ca đà dã nghi quĩ Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.1, Q.5; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.16 phần cuối]. (xt. Kim Cương Chử). (có ảnh)
Độc cổ chử 獨股杵
[ja] ドクコショ dokukosho ||| A type of vajra-mallet 金剛杵 wielded by heavenly beings. => Một loại Kim cương chử (金剛杵vajra-mallet) mà chư thiên thường sử dụng.
độc cổ chữ
Kim Cang một tay—The single-arm vajra.
độc dược
1) Chất độc: Poison. 2) Những người con trai uống chất độc của cha trong phẩm Phổ Môn Kinh Pháp Hoa: The sons who drank their father's poisons in the Lotus Sutra, Chapter Universal Door.
Độc giác
xem Phật Bích-chi
độc giác
Independently awakened, or alone (lonely) enlightenment—See Độc Giác Phật in Vietnamese-English Section, and Pratyeka-buddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
độc giác bồ đề
6269又作緣覺菩提。乃三菩提之一。謂獨覺之人自發菩提心,而不勸化眾生發菩提心,亦不習學大乘經義,以此因緣,獨得解脫,故稱獨覺菩提。即緣覺之盡智。〔俱舍論卷二十五、瑜伽論記卷八上、止觀輔行傳弘決卷九之三、三藏法數卷九〕(參閱「三菩提」631、「緣覺」6132)
; (獨覺菩提) Cũng gọi Duyên giác bồ đề. Một trong ba bồ đề. Hàng Độc giác chỉ tự phát tâm bồ đề chứ không khuyến hóa chúng sinh phát tâm bồ đề, cũng không học tập nghĩa kinh Đại thừa, do đó chỉ một mình được giải thoát, cho nên gọi là Độc giác bồ đề. [X. luận Câu xá Q.25; Du già luận kí Q.8 thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.9 phần 3; Tam tạng pháp số Q.9]. (xt. Tam Bồ Đề, Duyên Giác).
độc giác phật
Pratyeka-Buddha (S). Solitary Enlightened One.
; Pratyeka-buddha (skt)—Bích Chi Phật—Trong thời không có Phật, người tự quán sát mười hai nhân duyên mà tu hành giác ngộ thì gọi là Độc Giác Phật, tuy nhiên chỉ giải thoát và giác ngộ cho cá nhân mình mà thôi (Lân Giác Dụ là những người tu tập một mình; Bộ Hành Dụ là những người tu hành cùng với thiện tri thức)—Who are enlightened in the twelve nidanas (Thập nhị nhân duyên); however, the objective is personal salvation or own enlightenment. ** For more information, please see Duyên Giác.
độc giác thân
6269請參閱 如來獨證自誓三昧經華嚴經所說融三世間十身之一。華嚴宗謂圓教之菩薩以真實之智解照見法界時,所觸目者,無論萬有萬法,皆視為佛身,簡約其類別,分為十種,總稱為融三世間十身,其中,觀十二因緣而求涅槃者,即稱為獨覺身。(參閱「融三世間十身」6287)
; (獨覺身) Một trong 10 thân Dung tam thế gian được nói đến trong kinh Hoa nghiêm. Tông Hoa nghiêm cho rằng khi bồ tát Viên giáo dùng trí hiểu biết chân thực mà nhìn pháp giới thì muôn sự muôn vật, bất cứ cái gì mắt thấy, đều coi như thân Phật và chia làm 10 loại gọi chung là 10 thân dung 3 thế gian, trong đó, thân quán xét 12 nhân duyên để cầu Niết bàn, gọi là thân Độc giác. (xt. Dung Tam Thế Gian Thập Thân).
Độc giác thừa
xem Ba thừa.
độc giác tiên nhân
Ekasrnga or Unicorn rsi (skt)—Nhất Giác Tiên Nhân—Người tiên một sừng—The ascetic who fell through the wiles of a woman.
độc giác xá bi chướng
6269謂獨自修行,覺悟而離生死之人,徒能自度,難以生起大悲心,兼濟一切眾生,則無法臻於佛果,故謂之捨悲障。
; (獨覺舍悲障) Người tu hành một mình, tự giác ngộ mà lìa được sống chết, chỉ cầu độ mình chứ không phát tâm đại bi cứu giúp tất cả chúng sinh, nên không đến được quả Phật, vì thế gọi là Xả bi chướng (xả bỏ tâm đại bi là cái chướng ngại để đạt quả Phật).
độc giác ứng
6269觀音三十二應之一。謂觀音菩薩應獨覺人之機類,示現獨覺身而教化之,令得解脫。(參閱「三十二應」511)
; (獨覺應) Bồ tát Quán âm ứng với căn cơ Độc giác mà thị hiện thân Độc giác để hóa độ khiến họ được giải thoát. Là 1 trong 32 ứng thân của Ngài. (xt. Tam Thập Nhị Ứng).
Độc giác 獨覺
[ja] ドクガク dokugaku ||| A Chinese translation of the Sanskrit term pratyekabuddha. See 辟支佛. => Hán dịch chữ pratyekabuddha từ tiếng Sanskrit. Xem Bích chi Phật 辟支佛.
độc giả
Reader—Audience.
độc hành bất cộng vô minh
6266法相宗所立四種無明中不共無明之一。謂不與貪等俱起,乃與第六意識相應,獨行而起之無明。復分為二種:(一)主獨行不共無明,係與大隨八種惑、中隨二種惑俱起,而隱其體用,獨顯己之體用。(二)非主獨行不共無明,則與忿等之小隨惑俱起,小隨惑之體用顯,無明之體用隱。〔成唯識論卷五、瑜伽師地論卷五十八〕(參閱「四種無明」1815)
; (獨行不共無明) Vô minh không cùng sinh khởi một lúc với tham, sân, si v.v..., nhưng tương ứng với ý thức thứ 6 mà sinh khởi một mình. Là một trong bốn loại vô minh do tông Pháp tướng lập ra. Vô minh này được chia làm hai loại: 1. Chủ độc hành bất cộng vô minh: Cùng khởi một lúc với tám thứ phiền não (hoặc) Đại tùy và hai thứ phiền não Trung tùy, không hiển bày thể dụng của hai loại phiền não trên, mà chỉ hiển bày thể dụng của vô minh. 2. Phi chủ độc hành bất cộng vô minh: Cùng khởi một lúc với các phiền não (hoặc) Tiểu tùy như phẫn, hận v.v..., chỉ hiển bày thể dụng của phiền não Tiểu tùy, chứ không hiển bày thể dụng của vô minh. [X. luận Thành duy thức Q.5; luận Du già sư địa Q.58]. (xt. Tứ Chủng Vô Minh).
Độc hành 獨行
[ja] ドクギョウ dokugyō ||| Functioning independently; same as 不共. => Hoạt động độc lập; Đồng nghĩa với Bất cộng不共.
độc hại
Harmful.
độc kha đa
Duskrta (skt)—Tội—Offence.
độc khí
Hơi độc. Poisonous gas.
; 1) Hơi độc tỏa ra từ ba chất độc tham, sân, si: Poison vapour, emitted by the three poisons (desire, hatred and ignorance). 2) Ví thân người như một nơi chứa chất độc: The poison vessel, the body.
độc không
6267又作一空。語出大品般若經。謂諸法隨緣而皆無自性,如色、心、依、正,乃至聖、凡、因、果等法,雖千差萬別,然其體性畢竟皆空;此空理乃唯一無二者,故稱一空或獨空。依寂調音所問經卷五所說,瓦器與寶器之中空,皆為一空,了無差別。〔摩訶止觀卷七上、大明三藏法數卷四〕
; Cái lý không của vạn hữu chỉ là một (chúng ta tùy theo sự duyên mà nói về cái không của các pháp)—The one immaterial reality behind all phenomena.
; (獨空) Cũng gọi Nhất không. Chỉ có một lí không. Các pháp do nhân duyên (các điều kiện tương đối) sinh đều không có tự tính, như sắc, tâm, y, chính, cho đến phàm, Thánh v.v..., tuy thiên sai vạn biệt, nhưng thể tính của chúng thì rốt ráo đều là không. Lí không này là duy nhất, không hai, cho nên gọi là Độc không hoặc Nhất không. Từ này có xuất xứ từ kinh Đại phẩm bát nhã. Theo kinh Tịch điều âm sở vấn quyển 5 nói, thì cái không trong chiếc bình sứ và chiếc bình báu chỉ là một không chứ chẳng sai khác. [X. Ma ha chỉ quán Q.7 phần trên; Đại minh tam tạng pháp số Q.4].
Độc không 獨空
[ja] ドククウ dokukū ||| The viewpoint that all phenomena are nothing but emptiness. 〔二障義 HPC 1.805b; 大智度論 T 1509.25.〕 => Quan niệm cho rằng tất cả các hiện tượng chỉ là không (e: emptiness).
độc kinh
6904即讀誦經典。係為解義或祈願、迴向而誦讀經典。讀經包捨多種類別,若為讚歎佛德而讀,稱為誦經、諷經;若為通解經義而讀,稱為看經;為祈願而讀大部經,稱為轉讀。禪宗特區別其不同,謂諷經、轉讀,必行於佛前;看經可隨意行於寮房。又誦大般若經時,逐卷誦六百卷全文,稱為真讀,即讀經;唯讀每卷之初中後數行,而轉翻經卷,稱為轉讀。此外,於心中默讀經典,稱為心讀;以身實踐經典,稱為身讀。蓋讀經、轉經、諷經、看經、念經等名稱,雖有區別意義使用之情況,但一般皆不作區別使用。又依法華文句卷八上載,「讀」指循看經文,「誦」指離經背誦不忘。 諸經論多有教勸讀誦受持,廣說其功德。如法華經卷七陀羅尼品載,若能於本經受持讀誦解義,如教說修行,功德甚大。如觀無量壽經載,求生極樂所修三福之一,即「深信因果讀誦大乘」、「讀誦大乘方等經典」。此外,法華經法師品亦舉出五種供養本經之方法:受持、讀、誦、解說、書寫;後世遂依準此說,稱為五種法師行。又智顗之法華經玄義卷五載,讀誦大乘經典為觀行五品之第二品。據善導之觀經序分義載,讀誦大乘經典,能開智慧,進而能厭苦、欣樂涅槃;觀經散善義謂,讀誦觀無量壽經、阿彌陀經、無量壽經等淨土三經,為往生淨土五種正行之一。據選擇本願念佛集謂,受持讀誦淨土三經以外之大小乘顯密諸經典,稱為「讀誦雜行」。 蓋讀經在印度原以解義為主,逮佛經傳譯至中國,為祈願或迴向之風氣盛行。依梵網經卷下謂,當為亡者於四十九日內,讀誦講說大乘之經律、齋會求福。中國歷來亦有讀誦大乘經律以祈福消災之事,例如東晉以降,於旱魃之際,多讀誦海龍王經而祈雨;唐武后則天曾敕諸州置大雲寺,於各寺讀誦大雲經,以宣布「神皇受命」之事;唐代宗曾敕請不空三藏講誦仁王經,為崇護國家而祈願。 於日本,有吳音、漢音、訓讀等三種讀經之語調,其中,以吳音為音讀較普遍。由讀經音聲之緩急粗細,可分為真讀、行讀、草讀等。日本各宗有特定讀誦之經卷,如天台宗、日蓮宗,以法華經及開結二經為主;淨土宗、真宗以淨土三經為主;真言宗以理趣經為主。但諸宗亦有所共同依用之經,如心經、遺教經、阿彌陀經、觀音經等。此外,亦間有諷誦論文之宗派,如法相宗讀誦成唯識論即其例。〔無量壽經卷下、目連問戒律中五百輕重事問法事品、大智度論卷五十六、元亨釋書卷二十〕
; (讀經) Đọc tụng kinh điển. Tùy theo ý nghĩa của sự đọc kinh mà có những cách gọi khác nhau, như: Nếu đọc kinh để khen ngợi công đức của Phật thì gọi là Tụng kinh, Phúng kinh; nếu đọc kinh để hiểu rõ nghĩa kinh thì gọi là Khán kinh; nếu đọc kinh để cầu nguyện thì gọi Chuyển độc. Thiền tông còn phân biệt là: Phúng kinh, Chuyển độc thì phải ở trước đức Phật; còn Khán kinh thì có thể tùy ý ở trong phòng liêu. Lại khi tụng kinh Đại bát nhã từ quyển đầu cho đến hết toàn bộ 600 quyển thì gọi là Chân độc (tức là tụng kinh); còn nếu chỉ đọc lướt qua vài dòng ở đầu, giữa và cuối mỗi quyển, rồi chuyển sang quyển khác, thì gọi là Chuyển độc. Ngoài ra, đọc kinh thầm ở trong lòng thì gọi là Tâm độc, thực hành lời dạy trong kinh điển bằng lối sống hàng ngày thì gọi là Thân độc. Lại theo Pháp hoa văn cú quyển 8 phần trên, thì đọc phải nhìn vào văn kinh, còn tụng là thuộc lòng không phải nhìn vào quyển kinh. Các kinh luận phần nhiều khuyên dạy người đọc tụng, thụ trì và nói rộng về công đức của các kinh. Như phẩm Đà la ni trong kinh Pháp hoa quyển 7 nói, nếu người hay thụ trì, đọc tụng và hiểu nghĩa kinh Pháp hoa, rồi theo đúng lời dạy trong kinh mà tu hành thì sẽ được công đức rất lớn. Kinh Quán vô lượng thọ nói: Tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa phương đẳng là một trong ba phúc để được vãng sinh Tịnh độ. Trong Quán kinh Tự phần nghĩa, ngài Thiện đạo nói: Đọc tụng kinh điển Đại thừa có thể mở mang trí tuệ, biết nhàm chán các nỗi khổ mà mong cầu Niết bàn yên vui. Tại Ấn độ, đọc kinh vốn là để hiểu nghĩa kinh, nhưng đến khi kinh Phật được truyền đến Trung quốc thì việc tụng kinh chủ yếu là để hồi hướng và cầu nguyện. Vua Đại tông nhà Đường từng thỉnh ngài Bất không Tam tạng giảng tụng kinh Nhân vương cầu nguyện cho quốc thái dân an. Tại Nhật bản thì do tiếng đọc kinh có to, nhỏ, nhanh, chậm, nên chia làm Chân độc, Hành độc và Thảo độc khác nhau. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Mục liên vấn giới luật trung ngũ bách khinh trọng sự vấn pháp sự phẩm; luận Đại trí độ Q.56; Nguyên hanh thích thư Q.20].
độc kế
Wicked plot (scheme).
độc long
3328乃指釋迦佛於過去世行菩薩道時之名。釋迦佛於過去世中作大力毒龍時,爲行菩薩道而作布施、忍辱等六度行。據大智度論卷十四載,此龍受戒後,出家求靜,入林樹間,因思惟久坐而疲懈入睡;獵者見其身有彩紋、七寶雜色,遂起貪念,以杖按其頭,以刀剝其皮;龍身強力大,自念若欲傾覆一國,易如反掌,何況僅是一獵者而已。然彼以持戒之故,不吝惜其身,遂眠目、閉氣,任獵者剝取而無悔意。既失皮後,欲入水中,見諸小蟲來食其身,彼爲佛道之故,復以其身餵施諸蟲,並思惟他日成佛時,將以佛法度化其所布施之眾生。龍發此誓願後,即身乾命絕,生於忉利天上。
; Rồng độc. Poisonous, wicked dragon.
; Theo Đại Trí Độ Luận, đây là con rồng độc, đã chấp nhận giới pháp và thoát khỏi hình rồng, như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong tiền kiếp—According to the Maha-Paramita Sastra, this is a poisonous dragon, who accepted the commandments and thus escaped from his dragon form, i.e. Sakyamuni in a former incarnation.
; (毒龍) Rồng dữ, là tiền thân của Phật Thích ca mâu ni khi Ngài tu đạo Bồ tát ở đời quá khứ. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 14 chép, thì rồng này sau khi thụ giới, vào giữa rừng cây tĩnh lặng tư duy, vì quá lâu sinh mỏi mệt bèn ngủ quên; lúc ấy có người thợ săn thấy thân rồng mầu sắc bảy báu rất đẹp, liền khởi tâm tham, cầm gậy đè đầu rồng và dùng dao lột da. Rồng tự nghĩ ta có sức mạnh, dẫu muốn làm nghiêng ngửa một nước cũng dễ như trở bàn tay, huống chi đây chỉ là một gã thợ săn. Nhưng vì giữ giới, không tiếc thân mệnh nên rồng nhắm mắt, nín thở, mặc cho gã thợ săn lột lấy da mà không hề có ý oán hận. Sau khi bị lột mất da, rồng xuống nước, thấy những côn trùng bé nhỏ đến ăn thịt mình. Nhưng vì cầu Phật đạo, rồng lại xả thân bố thí cho những côn trùng đó, đồng thời nguyện rằng, khi ta thành Phật ta sẽ đem Phật pháp hóa độ cho những chúng sinh ấy trước. Sau khi phát nguyện như vậy, rồng liền mệnh chung và sinh lên cõi trời Đao lợi.
độc lâu lí nhãn tình
6932禪林用語。又作棺木裏瞠眼。髑髏,原指死人之頭骨;於禪林,轉喻人已斷除情識分別,獲得解脫。髑髏裏眼睛,即比喻由死中得活之意。蓋究極之道乃非分別之「識」所能了知,若心識滅盡,即有大活處,此即髑髏無識之境界。碧巖錄第二則(大四八‧一四二中):「僧問香嚴:『如何是道?』嚴云:『枯木裏龍吟。』僧云:『如何是道中人?』嚴云:『髑髏裏眼睛。』」
; (髑髏裏眼睛) Cũng gọi Quan mộc lí sinh nhãn. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Độc lâu lí nhãn tình là con mắt trong đầu lâu; Quan mộc lí sinh nhãn là con mắt nhìn trừng trừng trong quan tài. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để ví dụ người đã dứt hết tình thức phân biệt mà được giải thoát. Bởi vì đạo nhiệm mầu tột bậc không thể đem tình thức phân biệt mà hiểu được, chỉ khi nào diệt hết tâm thức thì cảnh giới đại hoạt dụng sẽ được mở bung ra, hệt như từ chỗ chết mà được sống (con mắt trong đầu lâu) vậy. Bích nham lục tắc 2 (Đại 48, 42 trung), chép: Vị tăng hỏi ngài Hương nghiêm: Thế nào là đạo? Ngài Hương nghiêm đáp: Rồng ngâm nga trong cây khô. Vị tăng hỏi: Thế nào là người trong đạo? Hương nghiêm trả lời: Con mắt trong đầu lâu (Độc lâu lí nhãn tình).
độc lạc tự
6268位於河北薊縣西門內,距北平東方約九十公里。寺不知創自何代,有一座上下兩級,東西五間,南北八架之觀音閣,於遼聖宗統和二年(984)重修,為我國最早之木造結構高層樓閣式建築。閣內矗立一尊高達十六公尺之泥塑觀音菩薩像,立在須彌壇上,閣之中層僅齊其腰,上層才達胸口,其頭頂則伸到閣頂藻井中,為我國現存最大泥塑像之一;頭頂上有十個小頭像,故稱十一面觀音,兩旁各有一尊侍立之菩薩,此三尊塑像為遼之原作,保存唐代遺風,面部豐滿,衣褶圓和,造型優美自然。此閣歷經多次地震而無恙,為建築防震之重要歷史實物。由明代王宏祚所撰之「修獨樂記」,可知此寺之宏偉,又由乾隆皇帝之御筆賜額,可知當時之隆盛。〔中國佛寺志畿輔梵剎志〕
độc lập
Independent.
Độc lập luận chứng phái 獨立論證派
[ja] ドクリツロンショウハ dokuritsuronshōha ||| The Svātrantika school, which was a branch of Indian Mādhyamika 中觀派 which developed out of the writings of the the Middle Way scholar Bhāvaviveka 清辯(ca. 490-570). Bhāvaviveka was known for his use of positive dialectic to support the theory of emptiness. In this he was distinguished from philosophical opponents such as Buddhapālita 佛護 and Candrakīrti 月稱, both of whom denied the validity of the use of logical propositions which ended up affirming any sort of positive position. Their theories would result in the development of an opposing school called Prāsaṇgika (Guimiulunzhengpai 歸謬論證派)。 => (e: Svātrantika school), là một nhánh của Trung quán phái Ấn Độ, do phát triển từ các tác phẩm của Thanh Biện (Bhāvaviveka 清辯; 490-570), một học giả của Trung quán. Thanh Biện nổi danh vì sứ dụng pháp biện chứng tích cực để cổ vũ cho thuyết Tính không. Trong lĩnh vực nầy, ngái tỏ ra xuất sắc so với triết gia đối thủ là Phật Hộ (Buddhapālita 佛護) và Nguyệt Xứng (Candrakīrti 月稱), cả hai đều phủ nhận tính xá thực trong vận dụng tiền đề luận lý để kết thúc mọi xác nhận bất kỳ laọi quan điiểm tích cực nào. Những lý thuyết của họ kết quả phát triển thành một phái đối lập gọi là Quy mậu luận chứng phái (歸謬論證派s: Prāsaṇgika; c: Guimiulunzhengpai).
Độc lễ
(讀禮): có hai nghĩa chính: (1) Học tập lễ tiết. Như trong Tuân Tử (荀子), phần Khuyến Học (勸學) có câu: “Thỉ hồ tụng kinh, chung hồ độc lễ (始乎誦經、終乎讀禮, trước hết là tụng kinh, sau cùng học lễ tiết).” Hay trong Hạc Lâm Ngọc Lộ (鶴林玉露) quyển 5 của La Đại Kinh (羅大經, 1196-1242) nhà Tống có đoạn: “Nhi học hiệu chi sở giảng, phùng dịch chi sở đàm, kỉ hữu nhược đồ nhi chi lễ Phật, xướng gia chi độc lễ giả, thị khả thán dã (而學校之所講、逢掖之所談、幾有若屠兒之禮佛、娼家之讀禮者、是可嘆也, vậy trường học được giảng, Nho học được luận bàn, có mấy kẻ đồ tể đến lễ Phật, bao nhà điếm học lễ nghi, thật đáng buồn thay).” (2) Người xưa trong thời gian cư tang tại nhà, thường đọc những thư tịch lễ nghi liên quan đến việc Tang Tế, vì vậy cư tang còn được gọi là độc lễ. Như trong Lễ Ký (禮記), phần Khúc Lễ (曲禮) có giải thích rằng: “Cư tang vị táng, độc tang lễ; ký táng, độc tế lễ (居喪未葬、讀喪禮、既葬、讀祭禮, thời gian cư tang chưa an táng thì đọc sách Tang Lễ, đã an táng rồi thì đọc sách Tế Lễ).” Sau này có vài tác phẩm liên quan đến độc lễ như Độc Lễ Nhật Tri (讀禮日知), 2 quyển, do Kim Chiết (金淛, ?-?) nhà Minh soạn; hay Độc Lễ Thông Khảo (讀禮通考), 120 quyển, của Từ Càn Học (徐乾學, 1631-1694) nhà Thanh, v.v. Trong Tam Giáo Bình Tâm Luận (三敎平心論, Taishō Vol. 52, No. 2117) quyển Thượng có câu: “Tăng can triều hiến, Ni phạm tục hình, thí tụng Luật nhi xuyên du, như độc lễ nhi kiêu cứ (僧干朝憲、尼犯俗刑、譬誦律而穿窬、如讀禮而憍倨, Tăng làm sai hiến pháp triều đình, Ni thì vi phạm hình phạt thế tục, giống như tụng Luật mà đào tường (trộm cắp), đọc lễ nghi mà kiêu ngạo).”
độc minh châu
6266又作異同珠。為「順明珠」(又作同異珠)之對稱。釋摩訶衍論卷二闡釋真如、生滅二法二門時,共列舉十名,其第九名為「中實」,意指第一義諦。中實又分為等住中實、別住中實兩種,並分別以獨明珠、順明珠比喻之。其中,等住中實乃「真如所入」之別名。蓋獨明珠,係指獨一明了而映照之如意寶珠,即置一切異物於此珠之前,皆映現與此珠同色之色彩,故以之比喻真如所入之法。同理,同異珠即用以比喻「生滅所入」之法。(參閱「等住中實」5171、「順明珠」5355)
; (獨明珠) Cũng gọi Dị đồng châu. Đối lại với Thuận minh châu (Đồng dị châu). Khi giải thích về Chân như môn và Sinh diệt môn, luận Thích ma ha diễn có nêu ra 10 tên gọi mà tên thứ 9 là Trung thực, hàm ý là Đệ nhất nghĩa đế. Trung thực lại được chia làm 2 loại:Đẳng trụ trung thực vàBiệt trụ trung thực, đồng thời, dùng Độc minh châu và Thuận minh châu để ví dụ. Trong đó, Đẳng trụ trung thực là tên khác của Chân như sở nhập. Độc minh châu là viên ngọc như ý có mầu sắc kì diệu phát ra ánh sáng trong suốt. Khi đặt các vật khác quanh nó thì những vật ấy được ánh hiện có cùng một mầu như ngọc, cho nên Độc minh châu được dùng để ví dụ Chân như sở nhập, còn Đồng dị châu thì ví dụ Sinh diệt sở nhập. (xt. Đẳng Trụ Trung Thực, Thuận Minh Châu).
Độc Ngôn Tánh Văn
(獨言性聞, Tokugon Shōmon, 1586-1655): vị tăng của Hoàng Bá Tông Trung Quốc, tự là Độc Ngôn (獨言), xuất thân Huyện Bồ Điền (莆田), Phủ Hưng Hóa (興化府, Tỉnh Phúc Kiến). Ông xuất gia tại Hoàng Bá Sơn (黃檗山) và trải qua hơn 10 năm hầu thầy, cuối cùng ông lãnh thọ yếu chỉ của Ẩn Nguyên Long Kỷ (隱元隆琦). Vào năm thứ 3 (1654) niên hiệu Thừa Ứng (承應), ông tháp tùng Ẩn Nguyên sang Nhật và đã từng làm các chức Duy Na, Tây Đường ở Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) thuộc Đông Minh Sơn (東明山), Trường Khi (長崎, Nagasaki). Ông thị tịch vào ngày 27 tháng 7 năm đầu (1655) niên hiệu Minh Lịch (明曆). Tác phẩm để lại của ông có Thiền Tông Vị Toản (禪宗彙纂) 4 quyển, Hoàng Bá Độc Ngôn Thiền Sư Di Cảo (黃檗獨言禪師遺稿) 2 quyển.
độc ngưu tiền thân
6667南泉、溈山等禪宗宗匠,皆言「老僧百年後,成一頭水牯牛去」。蓋牯牛為牝牛,或指去勢之牡牛;藉以諷刺今日之禪師乃犢牛之前身而已,尚不能為犢牛。
; (犢牛前身) Thân trước của con trâu nghé. Các bậc long tượng trong Thiền tông, như các ngài Nam tuyền, Qui sơn v.v... từng nói: Một trăm năm sau lão tăng đây sẽ thành con trâu nghé. Thiền tông dùng từ ngữ này để châm biếm chỉ các Thiền sư này chỉ là tiền thân của độc ngưu chứ vẫn chưa được là độc ngưu thực sự.
độc nhãn long
6267<一>一般指眇一目者;於禪林,則特指雖僅具一目而學德出類拔萃之人物。以龍古來即為我國傳說中的四靈之一,極為尊貴。從容錄第八十七則(大四八‧二八三中):「向後有獨眼龍,為子點破去在。」 <二>明招德謙禪師之異稱。德謙係唐末人,俗姓、籍貫及生卒年皆不詳。為青原行思之法系,受羅山道閑印可。大力弘揚玄旨,機法靈活銳利,為耆宿、後學所敬畏。曾任婺州(浙江)智者寺首座,後住於明招山四十餘年。以左眼殘疾,人稱獨眼龍。〔景德傳燈錄卷二十三、聯燈會要卷二十五、祖庭事苑卷二雪竇頌古〕
; (獨眼龍) I. Độc nhãn long. Rồng một mắt. Thiền tông thường dùng từ ngữ này để chỉ cho vị Thiền sư tuy có một mắt nhưng học vấn và đạo đức thì siêu tuyệt. Rồng là loài vật trong thần thoại rất được tôn quí. Thung dung lục tắc 87 (Đại 48, 283 trung), nói: Về sau sẽ có Độc nhãn long phá tan chỗ ngờ vực cho ông. II. Độc nhãn long. Biệt hiệu của thiền sư Minh chiêu Đức khiêm. Thiền sư Đức khiêm sống vào cuối đời Đường, Trung quốc, họ, quê quán, năm sinh năm mất đều không rõ. Sư thuộc pháp hệ ngài Thanh nguyên Hành tư, được ngài La sơn Đạo nhàn ấn khả. Sư có cơ pháp sống động sắc bén, hết lòng hoằng dương huyền chỉ, được các bậc kì túc và hậu học tôn kính. Sư từng là Thủ tọa ở chùa Trí giả tại Vụ châu (Chiết giang), về sau sư trụ ở núi Minh chiêu hơn 40 năm. Vì mắt trái của sư bị chột nên người đời gọi sư là Độc nhãn long. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.23; Liên đăng hội yếu Q.25; phần Tuyết đậu tụng cổ trong Tổ đình sự uyển Q.2].
độc nhất pháp giới
6266謂一切諸法,平等真實,無妄無二,一法而融攝萬法,萬法即一法。係密教之語。顯教如華嚴宗則稱一真法界,亦即天台宗所言之諸法實相。依密教所說,獨一法界,就法而言,指「阿字本不生」一心法界之體性;就人而言,指本地法身毘盧遮那如來。大日經疏卷十七(大三九‧七五八中):「言一者,此即如如之道,獨一法界,故言一也。」〔大乘起信論、大日經疏卷一〕
; Nhất Chân Pháp Giới (Hiển Giáo)—Theo Mật giáo thì Độc Nhất Pháp Giới là hết thảy pháp giới là nhất pháp (lấy một pháp mà thu được muôn pháp)—According to the esoteric schools, this is the one and only universal dharma-realm, or reality, behind all phenomena.
; (獨一法界) Tất cả các pháp bình đẳng chân thực, không hư vọng, chẳng phải hai, một pháp bao hàm muôn pháp, muôn pháp tức là một pháp. Đây là tiếng dùng của Mật giáo. Còn trong Hiển giáo thì tông Hoa nghiêm gọi Độc nhất pháp giới là Nhất chân pháp giới mà tông Thiên thai thì gọi là Chư pháp thực tướng. Theo Mật giáo, nếu đứng về phương diện pháp mà bàn, thì Độc nhất pháp giới là chỉ cho chữ (a) vốn chẳng sinh, là thể tính của nhất tâm pháp giới. Còn nếu đứng về phương diện người mà nói, thì Độc nhất pháp giới là chỉ cho Bản địa pháp thân Tì lô giá na Như lai. Đại nhật kinh sớ quyển 17 (Đại 39, 758 trung), chép: Nói một tức là đạo như như, Độc nhất pháp giới. [X. luận Đại thừa khởi tín; Đại nhật kinh sớ Q.1].
độc nhất thiện
6266係佛陀所說大小乘經典所具七善之一。依法華文句卷三之解釋,謂佛之說法純一無雜,與二乘不共而獨為菩薩說。於成實論三善品稱之為獨法。(參閱「七善」108)
; (獨一善) Theo sự giải thích trong Pháp hoa văn cú quyển 3, thì Độc nhất thiện là pháp thuần nhất không xen lẫn, do đức Phật nói riêng cho hàng Bồ tát. Là một trong Thất thiện. Trong phẩm Tam thiện của luận Thành thực, pháp này được gọi là Độc pháp. (xt. Thất Thiện).
độc nhất vô nhị
Peerless
độc phụ
Wicked woman.
độc quyền
Sole right—Copy right.
độc sinh độc tử độc khứ độc lai
6266謂人之生死,但獨自一身,無人可代,亦無有雷同。無量壽經卷下(大一二‧二七四下):「人在世間愛欲之中,獨生獨死獨去獨來,當行至趣苦樂之地。」其義同於宗門所常說「個人吃飯個人飽,個人生死個人了」之語。
; Chúng ta sinh tử hay đến đi một mình—Alone we are born and die, or come and go.
; (獨生獨死獨去獨來) Sống một mình, chết một mình, đi một mình, đến một mình. Sự sống chết của con người chỉ do một mình mình, không ai thay thế được, mà cũng không giống ai. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 274 hạ), nói: Con người ở trong thế gian yêu đương, tham muốn, sống một mình, chết một mình, đi một mình, đến một mình, sẽ tiến thẳng tới chỗ khổ vui. Đồng nghĩa với câu nói của Tông môn: Ai ăn cơm người ấy no, ai sống chết người đó biết.
độc tham
6267學人單獨進入師家之室,呈上自己對公案之見解,稱為獨參。係臨濟宗提撕學人之重要方法。其法為學人應師之喚鐘,一日中,或朝課,或粥罷,或藥石後,入室獨參。
; Cuộc gặp gỡ riêng của đệ tử và thầy trong phòng của thầy—A private consultation of a disciple with his master in the master's chamber. There are three types: 1) Thính Tham: Lắng nghe các bài giảng chung của thầy về thiền tập, thường là từng nhóm. Thính Tham có tính cách bắt buộc với những người mới bắt đầu tu—Listening to the master geneal lecturs on Zen pactice, usually in a group. This is mandatory for all beginners. 2) Độc Tham: Gặp gỡ một mình với thầy vào những lúc đã định trước. Độc Tham không bắt buộc—Meeting singly with the master at given periods. This is optional. 3) Đặc Tham: Gặp gỡ thầy một cách bí mật bất cứ lúc nào, ngày hay đêm, khi có những tình huống đặc biệt—Visiting secretly at any time, day or night, when special circumstances warrant it.
; (獨參) Người học một mình tiến vào phòng liêu của thầy để trình kiến giải của mình về công án, gọi là Độc tham. Đây là phương pháp trọng yếu của tông Lâm tế để nâng cao trình độ người học. Qui định của phép Độc tham là: Trong ngày, vào thời khóa sớm, hoặc ăn cháo xong, hoặc sau bữa cơm chiều, khi nghe tiếng chuông của thầy gọi, thì người học vào phòng liêu của thầy độc tham.
độc thiên nhị cổ
3327爲毒鼓與天鼓之並稱。天鼓,指忉利天之鼓,由天之業報生得,聞者生慎惡好善之心,比喻佛之音聲說法,可令眾弟子倍增勇氣而無所畏怖;毒鼓,原指塗有毒藥之鼓,擊之可令聞者皆死,比喻涅槃經所說佛性常在之教法,能殺害眾生之五逆十惡,使入於佛道。天台宗乃以毒鼓比喻「破惡」之邊,以天鼓比喻「生善」之邊,而謂佛陀一代之教化,擊天鼓以令人生善,擊毒鼓以令人滅惡。又以此二鼓配順逆二緣,教法於我順緣爲天鼓,逆緣爲毒鼓。 大般涅槃經卷九(大一二‧四二○上):「譬如有人以雜毒藥用塗大鼓,於大眾中擊之發聲,雖無心欲聞,聞之皆死,惟除一人不橫死者。是大乘典大涅槃經亦復如是,在在處處諸行眾中有聞聲者,所有貪欲、瞋恚、愚癡悉皆滅盡;其中雖有無心思念,是大涅槃因緣力故,能滅煩惱而結自滅;犯四重禁及五無間,聞是經已,亦作無上菩提因緣,漸斷煩惱,除不橫死一闡提也。」 又「毒鼓」一詞,古來亦多喻指法華經卷六常不輕菩薩品所說「汝等皆當作佛」之言,而稱之爲「強毒下種」。亦即對於謗法不信之人強說一乘圓教,令其聽聞,給與佛性之毒,以殲滅其惡。此外,「藥鼓」爲「毒鼓」之對稱,藥鼓又稱滅除藥鼓。菩薩念佛三昧經卷四(大一三‧八二二中):「譬如戰場所,他陣放毒箭,以聞藥鼓聲,毒消得歡樂。」〔法華經序品、新華嚴經卷十五、首楞嚴經卷上、法華經玄義卷六下、法華經文句卷八上、卷十上〕(參閱「強毒」4547)
; Hai loại trống tiêu biểu cho Phật tánh có thể tiêu diệt những điều quấy ác—The two kinds of drums, representing the Buddha-nature which can slay all evil: 1) Độc Cổ: Poison-drum. • Lời nói đắng cay để trấn ác điều ác: Harsh or stern words for repressing evil. • Nghịch Pháp: Pháp trái duyên—Misleading teaching. 2) Thiên Cổ: Deva-drum. • Lời nói hòa dịu sanh ra điều thiện: Gentle words for producing good. • Chánh Pháp: Giáo pháp thuận duyên—Correct teaching.
; (毒天二鼓) Từ gọi chung Độc cổ và Thiên cổ. Thiên cổ chỉ cho quả trống của trời Đao lợi do nghiệp báo của trời mà được, người nghe trống này sinh tâm bỏ điều ác, ham thích việc thiện, ví dụ cho âm thanh thuyết pháp của đức Phật có năng lực làm cho chúng đệ tử tăng dũng khí gấp bội, không còn sợ hãi. Độc cổ vốn chỉ cho quả trống có bôi thuốc độc, đánh lên khiến người nghe đều chết, ví dụ cho giáo pháp Phật tính thường trụ trong kinh Niết bàn có thể diệt trừ 5 nghịch, 10 ác của chúng sinh khiến cho vào trong đạo Phật. Tông Thiên thai dùng Độc cổ ví dụ phá ác, dùng Thiên cổ ví dụ sinh thiện và cho rằng đức Phật giáo hóa trong suốt cuộc đời là đánh Thiên cổ khiến người sinh thiện và đánh Độc cổ khiến người diệt ác. Kinh Đại bát niết bàn quyển 9 (Đại 12, 420 thượng), nói: Ví như người dùng thuốc độc bôi lên trống lớn rồi để giữa đại chúng mà đánh, tuy không có tâm muốn nghe, nhưng người nghe đều chết, chỉ trừ một người không chết. Kinh Đại niết bàn cũng thế; bất cứ ở đâu, hễ có người nghe thì tất cả tham dục, nóng giận, ngu si thảy đều diệt hết. Trong số này tuy có người không có tâm suy nghĩ, nhưng nhờ duyên lực của kinh Đại Niết bàn này hay tiêu trừ phiền não mà các kết sử tự diệt. Những kẻ phạm 4 trọng cấm, 5 vô gián, được nghe kinh này rồi cũng gây nhân duyên Vô thượng bồ đề mà đoạn trừ phiền não dần dần, chỉ có một hạng người không chết, ấy là Nhất xiển đề. Ngoài ra, danh từ Độc cổ phần nhiều cũng ví dụ chỉ cho câu Các ông đều sẽ thành Phật trong phẩm Thường bất khinh bồ tát của kinh Pháp hoa quyển 6 gọi là Cường độc hạ chủng (gắng sức gieo hạt giống Phật). Tức là đối với người không tin và phỉ báng giáo pháp thì gắng sức nói Viên giáo nhất thừa cho họ nghe để gieo hạt giống tính Phật cho họ diệt trừ tính ác của họ. Lại Dược cổ (trống thuốc) là đối lại với Độc cổ. Dược cổ cũng gọi là Diệt trừ dược cổ. Kinh Bồ tát niệm Phật tam muội quyển 4 (Đại 13, 822 trung), nói: Ví như ở nơi chiến trường, quân địch bắn tên độc ra, nhờ nghe tiếng Dược cổ, chất độc liền tan mà được bình an. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa; kinh Hoa nghiêm Q.15 (bản dịch mới); kinh Thủ lăng nghiêm Q.thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6 phần dưới; Pháp hoa kinh văn cú Q.8 phần trên, Q.10 phần trên]. (xt. Cường Độc).
độc thân
Single—Unmarried.
độc thảo
Venomous plants.
độc thần giáo
Monotheism.
độc thể
6905(1601~1679)明末律宗千華派第二祖。雲南楚雄人,俗姓許。字紹如,後改為見月。幼精通繪畫,尤擅長畫觀音大士像,有小吳道子之稱。十四歲時父母雙亡,由伯父撫育。後念世相無常,乃為道士。三年後,於劍川赤岩巖從一老僧習華嚴經,讀世主妙嚴品而得省悟,遂依寶洪山亮如出家。不久,因景慕三昧寂光律師,乃東行,從其受具足戒,並為上座,代講梵網經。曾檢閱四分律等律藏,若有壅滯不明之處,則向佛禱求解義。寂光臨將入寂,付囑紫衣和諸部戒本,師遂紹繼其法席。爾後,遵律施行受具、結界、安居,見聞者咸稱歎師為南山道宣之再世。 明清之際,戒法淪喪,綱紀蕩然,師力挽狂瀾,以身示範,頹墮之風,卒為所革。師曾修般舟三昧九十晝夜,共兩次,以為眾人之楷模。並遵祇園精舍之遺制而建石戒壇,開壇說戒,受戒者頗多。又嘗應諸寺之禮請說戒,道俗老幼盈途,法席之盛為近古以來所未見者。師身形高大,頂有肉髻,聲如洪鐘,貌似古佛,自謂從南雞足山來,故世稱師乃迦葉尊者之化身,多靈奇之事蹟。康熙十八年示寂,世壽七十八。著作有毘尼止持會集十六卷、毘尼作持續釋十五卷、傳戒正範四卷、大乘玄義、沙彌尼律儀要略、一夢漫言等十多種。前二部著作,於乾隆二年(1737)依福聚之奏入藏。〔毘尼日用切要香乳記卷上、梵網經菩薩戒初津卷七、新續高僧傳卷二十九、一夢漫言卷下、明季滇黔佛教考卷一(陳援庵)〕
; (讀體) (1601 - 1679) Vị tổ thứ 2 phái Thiên hoa thuộc Luật tông Trung quốc, sống vào cuối đời Minh, người Sở hùng tỉnh Vân nam, họ Hứa, tự Thiệu như, sau đổi là Kiến nguyệt. Từ nhỏ sư đã tinh thông về hội họa và vẽ tượng Quan âm đại sĩ rất khéo, nên được khen là Tiểu Ngô đạo tử. Năm 14 tuổi sư mồ côi cha mẹ, được người bác nuôi dưỡng. Sau tự nghĩ thế gian là vô thường nên sư làm Đạo sĩ. Ba năm sau, sư theo một vị lão tăng ở động Xích nham thuộc Kiếm xuyên học kinh Hoa nghiêm, đọc đến phẩm Thế chủ diệu nghiêm thì được tỉnh ngộ, sư liền y vào ngài Lượng như ở núi Bảo hồng xuất gia. Không bao lâu, nhân hâm mộ luật sư Tam muội Tịch quang sư đến theo ngài xin thụ giới Cụ túc và sau làm hượng tọa thay ngài giảng kinh Phạm võng. Sư từng duyệt lại tạng Luật, nếu chỗ nào không rõ, sư lễ Phật cầu giải nghĩa. Khi sắp tịch, luật sư Tịnh quang phó chúc áo đỏ và các bộ Giới bản cho sư, sư bèn nối chí của thầy. Từ đó về sau, sư tuân theo đúng luật mà thi hành các việc thụ giới, kết giới, an cư v.v..., khiến ai cũng khen ngợi sư là Nam sơn Đạo tuyên tái thế. Ở khoảng đời Minh và đời Thanh, giới luật suy đồi, kỉ cương đổ nát, sư ra sức chấn chỉnh, đem thân làm gương, sự suy đồi dần dần được cải thiện. Sư từng hai lần tu Bát chu tam muội suốt 90 ngày đêm để làm khuôn mẫu cho mọi người. Các chùa thường thỉnh sư giảng giới, người đến nghe và xin thụ giới rất đông, từ thời cận cổ trở lại đây chưa thấy đạo tràng nào hưng thịnh như thế. Sư có thân hình cao lớn, trên đỉnh đầu có nhục kế, tiếng nói vang như chuông, diện mạo giống Cổ Phật và vì sư từ núi Kê túc ở phương nam tới nên người đời cho sư là hóa thân của tôn giả Ca diếp, có nhiều sự tích linh dị về sư. Năm Khang hi 18 (1679) sư thị tịch, thọ 78 tuổi. Các trứ tác của sư gồm có: Tì ni chỉ trì hội tập 16 quyển, Tì ni tác trì tục thích 15 quyển, Truyền giới chính phạm 4 quyển, Đại thừa huyền nghĩa, Sa di ni luật nghi yếu lược, Nhất mộng mạn ngôn. (Theo lời tâu của Phúc tụ, hai tác phẩm trước được đưa vào Tạng năm Càn long thứ 2 (1737). [X. Tì ni nhật dụng thiết yếu hương nhũ kí Q.thượng; Phạm võng kinh Bồ tát giới sơ tân Q.7; Tân tục cao tăng truyện Q.29; Nhất mộng mạn ngôn Q.hạ; Minh quí điền kiềm Phật giáo khảo Q.1 (Trần viện am)].
độc thụ
Cây độc. Poisonous tree.
; 1) Một loại cây độc: A poison tree. 2) Một vị Ác Tăng: An evil monk.
độc tiển
Mũi tên độc, ví với phiền não—Poison arrow, i.e. illusion.
độc tiễn
Mũi tên độc. Poisoned arrow.
Độc tiễn 毒箭
[ja] ドクセン dokusen ||| A poisoned arrow, which is removed by a good doctor who knows the proper remedy (Pali salla). 〔瑜伽論 T 1579.30.625a26〕 Mũi tên độc, chỉ được nhổ ra và chữa trị do một bác sĩ giỏi biết được phương thuốc thích hợp (p: salla).
độc triệt
6904(1587~1656)明末僧。雲南呈貢人,俗姓趙。初字見曉,後改蒼雪,號南來。從其父碧潭出家於昆明妙湛寺。於雞足山寂光寺為水月儒全之侍者,掌管書記,講誦餘暇,窮研義諦。十九歲乃立志行腳參訪,從天衣習楞嚴,依雲棲袾宏受十戒、古心如馨受具足戒。師欲參謁雪浪,然明萬曆三十六年(1608)雪浪示寂,巢松開講於甘露寺,師嘗奮筆呈詩,大眾驚歎其卓異。後師依一雨於鐵山,與同門之汰如並為入室弟子,紹繼其衣鉢。雪浪之後,巢講雨筆,各有擅長,而蒼雪、汰如兼具其才,故諸方譽稱巢、雨、蒼、汰。 師承一雨之教示,與汰如共立分講之約,汰如居寶華山,師住錫中峰寺,一年宣講兩期,兩山呼應,大開法席。汰如示寂後,師獨力荷擔寶華山、慧慶寺、昭慶寺、錫山等處,宣講賢首法藏、清涼澄觀所著諸書,以及楞嚴、唯識、法華、三論等諸經論。並建中峰寺大殿,令伽藍煥然一新。 清順治十一年(1654),至吳地,雖病篤,仍不輟講座。十三年夏,應見月讀體之請,開講楞嚴經於寶華山,然體力將盡,至第二卷末,命弟子代講,乃作遺誡詩十章與辭世偈,後端坐示寂,世壽七十(一說六十九)。著作有法華珠髻若干卷、華嚴經海印道場懺儀四十二卷。嗣法之弟子有聞照、書佩等七人。 師博學多聞,善畫,尤工詩,居吳中時,常與吳梅村、錢謙益等人唱和。詩集有南來唐集四卷。王漁洋評其詩,推舉師為明代三百年第一詩僧。〔滇釋紀卷三、卷四、新續高僧傳卷六十三、釋氏疑年錄卷十一、明季滇黔佛教考卷一(陳援庵)〕
độc trùng
Venomous.
Độc Trạm Tánh Oanh
(獨湛性瑩, Dokutan Shōkei, 1628-1706): vị tăng của Hoàng Bá Tông Trung Quốc, tự là Độc Trạm (獨湛), xuất thân Huyện Bồ Điền (莆田), Phủ Hưng Hóa (興化府, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Trần (陳). Năm 16 tuổi, ông theo xuất gia với Y Châu (衣珠) ở Tích Vân Tự (積雲寺), Ngộ Sơn (悟山). Sau đó, vào năm thứ 7 (1650) niên hiệu Thuận Trị (順治), ông đến tham học với Hoàn Tín Hành Di (亘信行彌) ở Thừa Thiên Tự (承天寺), rồi năm sau thì đến tham vấn Ẩn Nguyên Long Kỷ (隱元隆琦) ở Hoàng Bá Sơn (黃檗山). Đến năm thứ 3 (1654) niên hiệu Thừa Ứng (承應), ông theo Ẩn Nguyên sang Nhật. Vào năm thứ 3 (1663) niên hiệu Khoan Văn (寛文), khi Vạn Phước Tự (萬福寺, Manfuku-ji) ở Hoàng Bá Sơn, Vũ Trị (宇治, Uji) khánh thành, ông được cử làm chức quản lý Tây Đường. Đến tháng 5 năm sau, ông kế thừa dòng pháp của Ẩn Nguyên. Sau đó, thể theo lời cung thỉnh của Cận Đằng Trinh Dụng (近藤貞用) ở Kỳ Bổn (旗本), ông đến vùng Kim Chỉ (金指), Viễn Giang (遠江, Tōtōmi, thuộc Shizuoka-ken [靜岡縣]). Vào tháng 11 năm sau, cũng tại địa phương này ông sáng lập Sơ Sơn Bảo Lâm Tự (初山寶林寺). Sống nơi đây được 18 năm, vào năm đầu (1673) niên hiệu Diên Bảo (延寶), ông kiến lập Quốc Thoại Tự (國瑞寺) ở Phụng Dương Sơn (鳳陽山), Tân Điền (新田), Thượng Dã (上野, Ueno, thuộc Gunma-ken [群馬縣]). Đến tháng giêng năm thứ 2 (1682) niên hiệu Thiên Hòa (天和), ông làm trú trì đời thứ 4 của Vạn Phước Tự. Vào tháng 3 năm thứ 2 (1685) niên hiệu Trinh Hưởng (貞享) và tháng 9 năm thứ 3 (1689) niên hiệu Nguyên Lộc (元祿), ông mở Giới Đàn. Đến tháng giêng năm thứ 5 (1691) cùng niên hiệu trên, ông lui về ẩn cư tại Sư Tử Lâm (獅子林). Tuy nhiên, vào năm thứ 8 (1694) cùng niên hiệu trên, ông chuyển đến Bảo Lâm Tự, rồi đến năm thứ 10 thì thiết lập Giới Đàn Bồ Tát và trở về lại Sư Tử Lâm. Vào ngày 26 tháng giêng năm thứ 3 (1706) niên hiệu Bảo Vĩnh (寶永), ông thị tịch, hưởng thọ 79 tuổi. Ông là vị Thiền tăng có hành trì pháp môn Niệm Phật, cho nên được gọi là Niệm Phật Độc Trạm (念佛獨湛). Trước tác của ông để lại có Sơ Sơn Độc Trạm Thiền Sư Ngữ Lục (初山獨湛禪師語錄) 1 quyển, Sơ Sơn Lệ Hiền Lục (初山勵賢錄) 1 quyển, Sơ Sơn Độc Trạm Thiền Sư Hành Do (初山獨湛禪師行由) 1 quyển, Vĩnh Tư Tổ Đức Lục (永思祖德錄) 2 quyển, Ngô Sơn Cựu Cảo (梧山舊稿) 4 quyển, Khai Đường Pháp Ngữ (開堂法語) 1 quyển, Thí Thực Yếu Quyết (施食要訣) 1 quyển, Đương Ma Hóa Phật Chức Tạo Ngẫu Ty Tây Phương Cảnh Đồ Thuyết (當麻化佛織造藕絲西方境圖說) 1 quyển, Thọ Thủ Đường Tịnh Độ Thi (授手堂淨土詩) 1 quyển, Khuyến Tu Tác Phước Niệm Phật Đồ (勸修作福念佛圖), Xưng Tán Tịnh Độ Vịnh (稱讚淨土詠) 1 quyển, Độc Trạm Hòa Thượng Hành Lược (獨湛和尚行略) 1 quyển, Phù Tang Ký Quy Vãng Sanh Truyện (扶桑寄歸徃生傳) 2 quyển, Độc Trạm An Tâm Pháp Ngữ (獨湛安心法語) 1 quyển, Độc Trạm Thiền Sư Ngữ Lục (獨湛禪師語錄) 9 quyển, v.v. Môn nhân kế thừa dòng pháp của ông có 39 người như Viên Thông Thành Đạo (圓通成道), Duyệt Phong Đạo Chương (悅峰道章)—vị trú trì đời thứ 8 của Vạn Phước Tự, v.v.
độc tài
Dictatorial.
độc tâm
Malignity.
độc tính
Toxicity—Poisonousness.
độc tôn
1) Vị duy nhất đáng tôn kính—The alone honoured one. 2) Phật: Buddha.
độc tố
Toxin.
độc tử
Vatsa (skt)—Người sáng lập ra Độc Tử Bộ. theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Độc Tử (có thuyết nói lúc ông sống ở núi rừng vắng vẻ đã tạp giao với trâu cái mà sanh ra con trai nối dõi đến ngày nay) nguyên là ngoại đạo, về sau quy y đầu Phật, và là người đã sáng lập ra Độc Tử Bộ, một trong những bộ phái chánh Nhất Thiết Hữu Bộ; lập ra thuyết “phi tứ phi ly chi ngã,” nghĩa là cái ngã không gắn liền cũng không rời ngũ uẩn, nên họ chẳng giữ giới luật, trái lại với ý chỉ mà Đức Phật đã lập ra—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Vatsa is the founder of the Vatsiputriyas., one of the main divisions of the Sarvastivada (Vaibhasika) school; they were considered schismatics through their insistence on the reality of the ego; their failure in points of discipline,” etc.; the Vinaya as taught by this school has never reached China.”
độc tử bộ
6667梵名 Vātsī-putrīyāḥ,巴利名 Vajji-puttaka。為小乘二十部之一。音譯跋私弗底梨與部、跋私弗多羅部、婆蹉妒路部、婆蹉富羅部、婆麤富羅部、婆蹉富多羅部、跋私弗部、婆蹉部。又稱跋次子部、跋私弗多羅可住子部、可住子弟子部、婆雌子部。 有關此部之分派,諸說不同。依異部宗輪論載,此部係於佛陀入滅後三百年,自說一切有部所分出者;舍利弗問經及南傳島史等,則謂於上座部分出。又南傳佛教謂其分裂年代在佛陀入滅後二百年中。 其部名與部主,三論玄義舉真諦三藏之說,謂有名為「可住」之古仙人,其後裔有可住子阿羅漢者,今此部為其弟子所倡,故稱可住子弟子部。異部宗輪論述記則別出有關犢子名稱之傳說,以前說為非;謂上古有一仙人,貪欲莫遏,染母牛而生子,自後仙種皆言犢子,為婆羅門之一姓。佛世時有犢子外道,歸佛出家,其後門徒相傳不絕,分部之後,即稱犢子部。又俱舍論光記卷三十亦以此部主為佛世時犢子外道之黨徒。蓋可住子、犢子兩者之譯語相異,係由於梵音不同所致,其長音言「可住」,短音則云「犢」;若據稱友之梵文俱舍論疏、翻譯名義大集等所載此部之梵名,則「可住」之譯語為謬誤,犢子始為正確譯名。另據日本學者赤沼智善研究,此部諸師為十六大國中筏蹉國(梵 Vatsa)之比丘,故此部之梵名作 Vatsī-putriyā(意謂筏蹉之弟子);又此部之巴利名 Vajji-puttaka,或係由 Vatsa 與第二次經典結集時之跋耆(巴 Vajji)混同而成者。 依真諦之說,此部屬於舍利弗之法系,謂舍利弗作阿毘曇論,其弟子羅睺羅大弘其說,可住子復闡述羅睺羅之說。其教義係將一切事物分為過去、未來、現在、無為、不可說等五藏,以為均屬實有,特別主張有補特伽羅(我),稱之為不可說,以此補特伽羅與五蘊不即不離(非即非離蘊),實則承認有生死輪迴之主體。歷來多有破斥補特伽羅實有說者,貶為依附佛法之外道,然後世佛教發達,大乘教義立如來藏者,與此補特伽羅思想不無關係。另據異部宗輪論載,爾後自此部更分出法上、賢冑、正量、密林山四部。其分派之原因乃源於對一偈之解釋產生異義,此偈為(大四九‧一六下):「已解脫更墮,墮由貪復還,獲安喜所樂,隨樂行至樂。」〔文殊師利問經卷下分部品、大毘婆沙論卷二、卷十一、大智度論卷二、卷十、部執異論、十八部論、中論卷二、出三藏記集卷三、成唯識論述記卷一〕(參閱「小乘二十部」928、「印度佛教」2215)
; Vatsiputriya (skt)—Độc Tử Bộ vốn là một bộ phái của Chánh Lượng Bộ (Sammitiya), nổi lên trong số các bộ phái Phật giáo vì họ chủ trương thuyết 'một thực thể vĩnh cửu trong một con người' (pudgala), và quả quyết rằng nếu không có pudgala thì cũng không có sự tái sinh. Thế Thân trong cuốn A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận đã cố tìm cách bắt chẹt quan điểm nầy. Theo Độc Tử Bộ thì 'pudgala' không đồng nhất, cũng không khác biệt với ngũ uẩn. Cũng giống như Hữu Bộ, họ cho rằng một A La Hán vẫn có thể bị thối chuyển, và người ngoại đạo cũng có thể đạt đến quyền lực siêu nhiên. Cũng giống như Chánh Lượng Bộ, họ cho rằng chư Thiên không thể có cuộc sống phạm hạnh. Họ cũng tin là có thân trung ấm. Cũng như Hóa Địa Bộ, họ chỉ tin vào năm mục của Bát Thánh Đạo. Theo truyền thuyết thì dưới triều vua Harsa, trường phái nầy được người em gái của nhà vua là Rajyasri bảo trợ—The Vatsiputriyas was the sub-ect of the Sammitiyas. They believed in 'the permanent substance of an individual.' This school took its stand on passages in sacred texts which contain the word 'pudgala' and contended that, without the existence of such a pudgala, rebirth could not be contemplated. Vasubandhu in his Abhidharma-kosa tried, in a special chapter at the end of the book, to refute this view. The pudgala, according to Vatsiputriyas, was neither the same as nor different from the skandhas. Like the Sarvastivadins, they believed that an Arhat could fall and that heretics could also attain miraculous powers. A god, according to their sub-sect, the Sammitiyas, could not practise the holy life. They also believed in antara-bhava and, like the followers of the Abhidharma, believed in a stage, between the first and second trance of the Sautrantikas, where vitarka, the first application of thought, disappears, but a vicara, or continued reflection, remains. Like the Mahisasaka, they believed in the five factors of the Noble Path. It is said that during the reign of Harsha, this school was patronized by his sister Rajasrit.
; (犢子部) Phạm: Vātsī-putrīyāḥ Pàli: Vajji-puttaka. Dịch âm: Bạt tư phất để lê dữ bộ, Bạt tư phất đa la bộ, Bà sa đố lộ bộ, Bà sa phú la bộ, Bà thô phú la bộ, Bà sa phú đa la bộ, Bạt tư phất bộ, Bà sa bộ. Cũng gọi: Bạt thứ tử bộ, Bạt tư phất đa la khả trụ tử bộ; Khả trụ tử đệ tử bộ, Bà thư tử bộ. Là một trong 20 bộ phái của Tiểu thừa. Về sự phân phái của bộ này có nhiều thuyết khác nhau. Theo Dị bộ tông luân luận, thì bộ này từ Thuyết nhất thiết hữu bộ mà chia ra vào khoảng 300 năm sau đức Phật nhập diệt. Kinh Xá lợi phất vấn và Đảo sử Nam truyền thì nói từ Thượng tọa bộ chia ra. Còn Phật giáo Nam truyền cho rằng niên đại phân phái ở vào khoảng 200 năm sau đức Phật nhập diệt. Về tên gọi và bộ chủ cũng có các thuyết bất đồng. Theo thuyết của ngài Chân đế được nêu trong Tam luận huyền nghĩa thì đời xưa có một vị tiên tên là Khả trụ, trong hàng con cháu vị tiên này có A la hán Khả trụ tử, nay bộ phái này do đệ tử của ngài Khả trụ tử đề xướng, nên gọi là Khả trụ tử đệ tử bộ. Theo Dị bộ tông luân luận thuật kí thì đời thượng cổ có một người tiên chưa hết tham dục, làm dâm với con bò cái và sinh con, từ đó về sau giòng họ của người tiên ấy được gọi là Độc tử (bò con, con bê), là một trong các họ của Bà la môn. Thời Phật tại thế có ngoại đạo giòng Độc tử quy y theo Phật xuất gia, môn đồ của người này tiếp nối truyền thừa cho nhau không dứt; cho nên, đến đời Phật giáo nguyên thủy bị chia ra thành các bộ phái, thì phái Độc tử cũng tách ra làm một bộ riêng gọi là Độc tử bộ. Câu xá luận quang kí quyển 30 cũng cho rằng bộ chủ của bộ phái này là giòng dõi của ngoại đạo Độc tử thời Phật tại thế. Bởi vì sự khác nhau giữa hai dịch ngữ: Khả trụ tử và Độc tử là do sự bất đồng trong âm Phạm mà ra, âm dài của Phạm ngữ này là Khả trụ, còn âm ngắn là Độc. Nếu căn cứ theo Câu xá luận sớ bằng tiếng Phạm của ngài Xứng hữu và Phiên dịch danh nghĩa đại tập, v.v..., nếu dịch tên Phạm Vatsì là Khả trụ thì sai mà phải dịch là Độc mới đúng. Ngoài ra, theo sự nghiên cứu của nhà học giả Nhật bản là ông Xích chiểu Trí thiện, thì các sư thuộc bộ phái này là những vị tỉ khưu của nước Phiệt sa (Phạm: Vatsa, một trong 16 nước lớn thời bấy giờ), vì thế tên Phạm của bộ này mới là Vatsì-putriyà (ý nói đệ tử ở nước Phiệt sa). Còn tên Pàli của bộ phái này là Vajjiputtakacó lẽ đã do lẫn lộn Vatsa với Bạt kì (Pàli: Vajji) trong lần kết tập kinh điển thứ 2 mà ra. Theo thuyết của ngài Chân đế, bộ phái này thuộc pháp hệ của tôn giả Xá lợi phất, cho rằng ngài Xá lợi phất soạn luận A tì đàm, đệ tử của ngài là La hầu la truyền bá rộng rãi, Khả trụ tử lại bàn rõ thêm về thuyết của ngài La hầu la. Về giáo nghĩa, bộ phái này chia tất cả sự vật làm năm tạng: Quá khứ, vị lai, hiện tại, vô vi và bất khả thuyết, thừa nhận năm tạng này đều thật có, đặc biệt chủ trương có Bổ đặc già la (ngã), gọi Bổ đặc già la là Bất khả thuyết; cho rằng Bổ đặc già la này và năm uẩn là bất tức, bất li (phi tức phi li– chẳng phải uẩn cũng chẳng lìa uẩn). Tức là thừa nhận có chủ thể sinh tử luân hồi. Xưa nay có nhiều thuyết bác bỏ thuyết Bổ đặc già la có thực và chê Độc tử bộ là ngoại đạo bám vào Phật pháp; nhưng về sau Phật giáo phát triển, giáo nghĩa Đại thừa lập thuyết Như lai tạng chưa hẳn đã không dính dáng gì đến tư tưởng Bổ đặc già la này. Cứ theo Dị bộ tông luận, thì về sau từ bộ này lại chia ra bốn bộ phái nữa là: Pháp thượng, Hiền trụ, Chính lượng và Mật lâm sơn. Nguyên nhân là vì trong lúc giải thích một bài kệ, mọi người đã có những ý kiến khác nhau mà đưa đến sự phân phái. Bài kệ ấy là (Đại 49, 16 hạ): Dĩ giải thoát cánh đọa, Đọa do tham phục hoàn; Hoạch an hỉ sở lạc, Tùy lạc hành chí lạc. [X. phẩm Phân bộ trong kinh Văn thù vấn Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.2, Q.11; luận Đại trí độ Q.2, Q10; luận Bộ chấp dị; luận Thập bát bộ; Trung luận Q.2; Xuất tam tạng kí tập Q.3; Thành duy thức luận thuật kí Q.1]. (xt. Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ, Ấn Độ Phật Giáo).
độc tử đạo nhân
Ngoại đạo phụ vào Phật pháp trong Tiểu Thừa chấp vào lý “không kiến”—Heretical followers of Hinayana, who hold a false doctrine of the Void, teaching it as total non-existence or nihilism.
Độc tử 犢子
[ja] トクシ Tokushi ||| "Calf" (vatsa). Vatsa was the founder of the 犢子部, one of the main divisions of the Sarvāstivāda school. They are considered schismatics because of their insistence on the reality of the self. => (s: vatsa). Vatsa là người thành lập Độc tử bộ 犢子部, một phái chính của Nhất thiết hữu bộ (s: Sarvāstivāda). Họ được xem là phài ly khai vì khẳng định tính thực hữu của bản ngã.
độc viên
See Anathapindika and Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên.
độc xà
Rắn độc. Poisonous, venomous serpent.
; 1) Rắn độc: A poisonous snake. 2) Ýù nói tứ đại đất, nước, lửa, gió có thể làm tổn hại con người: The four elements of the body, earth, water, fire and wind which harm a man by their variation, i.e. increase and decrease. 3) Vàng: Gold.
độc ác
Vihimsati (S). To hurt, to injure;
độc đoán
Arbitrary—Dogmatic.
độc đoán luận
Dogmatism.
Độc đầu giới thủ 獨頭戒取
[ja] ドクトウカイシュ dokutō kaishu ||| The exclusivist view of attachment to the precepts, one of the two kinds of attachment to the precepts 戒禁取. The belief that it is through the precepts that one achieves nirvana. 〔二障義HPC 1.799b; 法苑珠林 T 2212.53, fasc. 72〕 => Quan niệm cực đoan chấp cứng vào giới luật, là một trong 2 loại Giới cấm thủ戒禁取. Tin rằng chỉ qua việc giữ giới, mới đạt được niết-bàn.
độc đầu vô minh
6268二種無明之一,五種無明之一。又稱不共無明。無明,即癡之別名,指無法照了諸法事理之闇鈍心。於貪、瞋、癡、慢、疑、惡見六大惑中,無明(癡)獨起,不與其他五惑共起,故稱獨頭無明;反之,與其他五惑隨一共起之無明,則稱相應無明。獨頭無明既與六大惑中之五大惑不共,故亦不與五惑以外之諸惑俱起。〔宗鏡錄卷七十四〕(參閱「不共無明」967)
; (獨頭無明) Vô minh khởi lên một mình. Cũng gọi Bất cộng vô minh. Một trong 2 loại vô minh, một trong 5 loại vô minh. Vô minh là tên gọi khác của Si, là tâm ám độn không biết rõ sự và lí của các pháp. Trong 2 Hoặc (phiền não) căn bản: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, thì vô minh (si) khởi lên một mình, chứ không khởi cùng với 5 Hoặc kia, vì thế gọi là Độc đầu vô minh. Trái lại, nếu vô minh khởi cùng một lúc với 5 Hoặc kia thì gọi là Tương ứng vô minh. [X. Tông kính lục Q.74]. (xt. Bất Cộng Vô Minh).
độc đầu ý thức
6269法相宗所謂八識中,第六意識有明了、定中、獨散、夢中意識等四種之別,其中之定中意識、獨散意識、夢中意識,因不與前五識俱起,乃獨起而泛緣十八界,故稱獨頭意識。〔成唯識論卷七、翻譯名義集六心意識法篇〕(參閱「意識」5449)
; (獨頭意識) Trong 8 thức do tông Pháp tướng chủ trương, thì ý thức thứ 6 có 4 loại là: Minh liễu ý thức, Định trung ý thức, Độc tán ý thức và Mộng trung ý thức. Trong đó, Định trung ý thức, Độc tán ý thức và Mộng trung ý thức không cùng sinh khởi một lúc với năm thức trước (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) mà chỉ khởi một mình và duyên theo khắp 18 giới, vì thế gọi là Độc đầu ý thức. [X. luận Thành duy thức Q.7; thiên Tâm ý thức pháp trong Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6]. (xt. Ý Thức).
Độc đầu 獨頭
[ja] ドクズ dokuzu ||| Independent; independently functioning. Not bound or concomitant with other phenomena. => Độc lập; chức năng độc lập. Không ràng buộc hoặc đi đôi với các hiện tượng khác.
độc đắc
First prize.
độc ảnh cảnh
6268法相宗所立三類境之一。謂依第六意識之妄想分別,浮現實我實法之相,此相非有實體,僅為意識之見分(能照知所緣對境之主體作用)所變現之影像;如現空華、兔角之境,所現之相,多為相分(所照知之對象),乃由於能緣之心所生之妄想分別而見之影像,非有實質,僅為幻像。 三類境中,除獨影境外,尚有帶質境與性境。獨影境相對於帶質境之相分的具有本質而謂之獨,相對於性境之相分的具有實性而謂之影。故獨影境,為一時妄分別之反應,乃情有理無之法,屬於三性中之遍計所執性。 唯識樞要卷上末(大四三‧六二○中):「獨影之境,唯從見分,性、繫、種子,皆定同故。如第六識緣龜毛、空華、石女、無為、他界緣等所有諸境;如是等類,皆是隨心,無別體用,假境攝故,名為獨影。」 此境具足三種隨心:(一)性隨心,境與能緣之心同一性。(二)種隨心,境與能緣之心由同一種子而生。(三)繫隨心,境與能緣心為同一界繫。〔成唯識論了義燈卷一末〕(參閱「三類境」698)
; Những điều kiện tưởng tượng hay phân biệt tà vọng nhất thời, ảo tưởng và không thật—Imaginary or illusory conditions, ideal and unsubstantial.
; (獨影境) Một trong 3 loại cảnh do tông Pháp tướng lập ra. Nghĩa là tướng ngã, pháp do ý thức thứ 6 vọng tưởng phân biệt mà có, nó không có thực thể, chỉ là cái bóng dáng do Kiến phần của ý thức biến hiện ra, như các cảnh tướng hoa đốm giữa hư không, lông rùa, sừng thỏ v.v... đều là ảo tưởng. Độc ảnh cảnh thuộc về tính Biến kế sở chấp trong 3 tính. Duy thức xu yếu quyển thượng phần cuối (Đại 34, 620 trung), nói: Độc ảnh cảnh chỉ do kiến phần của ý thức duyên theo cảnh giả mà có, như duyên theo lông rùa, hoa đốm, thạch nữ, vô vi v.v... Những cảnh ấy đều nương vào tâm chứ không có thể, dụng riêng. Vì là cảnh giả nên gọi là Độc ảnh (chỉ là bóng dáng). Độc ảnh cảnh có đủ 3 loại tùy tâm: 1. Tính tùy tâm: Cảnh và tâm năng duyên cùng một tính. 2. Chủng tùy tâm: Cảnh và tâm năng duyên cùng một chủng tử sinh ra. 3. Hệ tùy tâm: Cảnh và tâm năng duyên cùng một giới hệ. [X. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.1 phần cuối]. (xt. Tam Loại Cảnh).
Độc ảnh cảnh 獨彰境
[ja] ドクショウキョウ dokushōkyō ||| 'Images only', 'illusory perception.' One of the three kinds of objects [三類境] in Consciousness-only theory. Images projected by the subject according to willfulness that have no real objective existence. Especially false perceptions manifested on the basis of the belief in a real self and real elements which are mistakenly discriminated by the sixth consciousness. These are images transformed and manifested solely by the subjective aspect of the discriminating consciousness. => Một trong ba loại cảnh [三類境] theo giáo lý Duy thức. Là cảnh tưởng tượng ra theo ý muốn, không phải là hiện thực khách quan. Đặc biệt vọng tưởng sai lầm thể hiện qua sự tin rằng có một thực ngã và thực pháp, đó là phân biệt sai lầm của thức thứ 6. Đây là những cảnh chỉ chuyển hiện do tưởng tượng phân biệt của thức thứ 6.
Độc 毒
[ja] ドク doku ||| (1) That which harms life, plans, etc. Poison. (viṣa) (2) To hurt, injure, cause pain. => 1. Thứ làm nguy hại mạng sống, thảo mộc, v.v... Chất độc (s: viṣa). 2. Gây thương tích, làm hại, gây đau đớn.
đội ơn
To be grateful.
độn
Dull, blunt, stupid.
; 1) Ẩn trốn: To retire—To vanish. 2) Ngu dốt: Blunt—Dull—Stupid—See Độn Căn.
độn căn
5297梵語 mṛdvindriya。指根機遲鈍者。又作下根。係「利根」之對稱。於佛道修證上,根機之利、鈍,影響其進趣之遲速與證果之勝劣。據大毘婆沙論卷五十四載,此一類行人,從來性多遲鈍故,自不披閱教文,但信他人言說而得悟道,隨信起行,稱爲隨信行。〔法華經卷三、往生要集卷上〕
; Of dull capacity, unable to receive Buddha-truth.
; Dull—Of dull capacity—Unable to receive Buddha-truth.
; (鈍根) Phạm: Mfdvindriya. Cũng gọi Hạ căn. Đối lại với Lợi căn. Chỉ cho người căn cơ chậm lụt. Trên con đường tu chứng trong đạo Phật, sự bén nhạy, chậm lụt của căn cơ rất có ảnh hưởng đến bước tiến nhanh hay chậm và sự chứng quả hơn hay kém. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 54, thì hạng người này vì căn tính chậm lụt nên không thể tự mình đọc tụng kinh điển để hiểu rõ giáo lí, chỉ tin vào lời dạy của người khác mà được ngộ đạo. [X. kinh Pháp hoa Q.3; Vãng sinh yếu tập Q.thượng].
Độn căn 鈍根
[ja] ドンコン donkon ||| Dull, foolish, incapable, stupid. "Dull faculties." The lowest of the three kinds of faculties (三根). Those of dull faculties are incapable of grasping the sudden teaching 頓教. => Tâm tính chậm hiểu, chậm lụt, ngờ ngệch. Căn tánh chậm lụt; hàng thấp nhất trong ba căn tính của người tu tập. Những người độn căn khó có thể lĩnh hội được pháp môn đốn giáo 頓教.
độn cơ
See Độn Căn.
độn luân
5684唐代新羅僧。生卒年不詳。又稱道倫。著有瑜伽論記二十四卷,該書爲瑜伽師地論唯一之全本注釋,今尚存。其內容主要依據窺基之瑜伽論略纂,並引用順憬、文備、玄範、神泰、惠景、惠達、圓測、元曉等諸師之學說。作者遁倫之事蹟則不明。然近時發現之我國趙城金藏本之瑜伽論記,署有「海東興輪寺道倫集撰」,且依據其刊記,可知其乃根據窺基之書集撰而成。此外,遁倫之著作尚有金剛般若經略記、大般若經略記、淨飯王經疏、藥師本願經疏、十一面經疏、四分律決問、新撰大乘義章、成唯識論要決等。綜合上記各書之性質,可知師之所學,係以唯識爲中心,並廣爲涉獵般若、戒律等經、律、論。
; (遁倫) Cũng gọi Đạo luân. Vị tăng gốc người Tân la (nay là Triều tiên) sống vào đời Đường, năm sinh năm mất không rõ. Sư soạn bộ Du già luận kí 24 quyển, là bản chú thích luận Du già sư địa duy nhất hiện nay còn đầy đủ. Nội dung sách này chủ yếu là y cứ vào bộ Du già luận lược toản của ngài Khuy cơ, đồng thời dẫn dụng học thuyết của các ngài Thuận cảnh, Văn bị, Huyền phạm, Thần thái, Huệ cảnh, Huệ đạt, Viên trắc, Nguyên hiểu v.v... Ngoài bộ Du già luận kí 24 quyển nói trên, ngài Đạo luân còn có các tác phẩm: Kim cương bát nhã kinh lược kí, Đại bát nhã kinh lược kí, Tịnh phạn vương kinh sớ, Dược sư bản nguyện kinh sớ, Thập nhất diện kinh sớ, Tứ phần luật quyết vấn, Tân soạn đại thừa nghĩa chương, Thành duy thức luận yếu quyết v.v... Nhìn một cách tổng hợp tính chất của các tác phẩm ghi trên, người ta thấy sở học của ngài Độn luân là lấy Duy thức học làm chính, rồi nghiên cứu rộng các kinh Bát nhã và giới luật.
độn lân
5684唐代僧。生卒年不詳。又稱富春沙門。爲唐代俱舍論學僧圓暉之門人。圓暉著有俱舍論頌疏一書,遁麟又就圓暉之俱舍論頌疏加以注釋,而成俱舍論頌疏記二十九卷,與慧暉之俱舍論頌釋疏義鈔六卷並稱於世,然遁麟之作較爲詳細。
; (遁麟) Cũng gọi Phú xuân sa môn. Vị tăng sống vào đời Đường, năm sinh năm mất không rõ. Sư là đệ tử của ngài Viên huy. Sư chuyên nghiên cứu luận Câu xá và chú thích bộ Câu xá luận tụng sớ của thầy, làm thành bộ Câu xá luận tụng sớ kí 29 quyển. Tác phẩm này rất rõ ràng và nổi tiếng.
độn sắc
5296日本天台宗、真言宗所用法衣之一種。又稱鈍色衣、鈍衣、純色、椎鈍。係以精好之生絹所製單衣無紋之法衣,由袍、裙、帶三部分合成,略似袍服。著用時於襟上加三角之板者,稱爲僧綱襟。 佛世時,佛弟子多赤體披著袈裟,入於聚落乞食,以袒胸露乳之故,每遭世人譏嘲,佛陀乃制定著用僧祇支(梵 saṃkakṣikā,意譯覆肩衣,即遮掩兩腋之襯衣)之法,以襯於袈裟之下。其後,此法傳至中土,至後魏時,或加「衿袖」,成爲「褊衫」;或加腰帶,以別宗派。傳至日本後,將衿袖製成匕首狀者,即謂「僧綱」,其中又分袍服與鈍色兩種,前者爲兩層以上之衣,後者則爲單層法衣。 或謂鈍色即指灰色,乃黑色之壞色,爲一般法衣中之喪服。〔五分律卷二十、摩訶僧祇律卷三十八、顯密威儀便覽卷上〕(參閱「僧祇支」5737)
; (鈍色) Cũng gọi Độn sắc y, Độn y, Chùy độn. Một loại áo pháp của các tăng sĩ thuộc tông Thiên thai và tông Chân ngôn Nhật bản. Thời đức Phật còn tại thế, đệ tử của Ngài phần nhiều mặc ca sa để trật ngực lộ vú, khi vào làng xóm khất thực thường bị người đời chê cười, đức Phật bèn chế định pháp mặc Tăng kì chi (Phạm: Saôkakwkà, Tàu dịch là Phú kiên y, tức là áo lót che kín hai nách) để mặc lót dưới ca sa. Về sau, pháp này được truyền vào Trung quốc, đến đời Hậu Ngụy có chỗ may thêm tay áo mà thành áo đơn mặc lót mình, hoặc thêm dây lưng để phân biệt tông phái. Khi truyền sang Nhật bản thì được may bằng lụa tốt, hơi giống chiếc áo choàng gồm cả áo dài, quần và đai lưng. Có thuyết nói Độn sắc là chỉ cho mầu tro, mầu đen, là một loại trang phục. [X. luật Ngũ phần Q.20; luật Ma ha tăng kì Q.38; Hiển mật uy nghi tiện lãm Q.thượng]. (xt. Tăng Kì Chi).
độn sử
5296「利使」之對稱。指十種根本煩惱中之貪、瞋、癡、慢、疑等五種煩惱。以其性遲鈍,故稱爲五鈍使,係迷於「事」之惑,即指迷於現象界之煩惱;反之,迷於「理」之惑,則稱爲利使,即迷於各種諦理之煩惱,如身見、邊執見、邪見、見取見、戒禁取見等五種煩惱,以其性猛利,故稱爲利使,因有五種,又稱爲五利使。合此鈍、利十種煩惱,稱爲十使。〔成唯識論卷六、大乘義章卷五末〕(參閱「十隨眠」499)
; The five envoys of stupidity.
; Năm sứ giả của sự ngu độn hay mê chấp vào cái hoặc của sự, đối lại với ngũ lợi sử—The five envoys of stupidity, i.e. of the lower passions, in contrast with the five higher wholesome deeds—See Ngũ Độn Sử, and Ngũ Lợi Sử.
; (鈍使) Đối lại với Lợi sử. Là năm loại phiền não: Tham, sân, si, mạn, nghi trong 10 loại phiền não căn bản. Vì tính chất của các phiền não này trì độn, khó dứt trừ nên gọi là Độn sử, tức là các phiền não mê lầm đối với thế giới hiện tượng. Trái lại, những phiền não mê lầm đối với chân lí, như năm loại phiền não: Thân kiến, biên chấp kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến, vì tính chất của chúng nhạy bén nên gọi Lợi sử. Hợp cả năm độn sử và năm lợi sử lại gọi chung là Thập sử. [X. luận Thành duy thức Q.6; Đại thừa nghĩa chương Q.5 phần cuối]. (xt. Thập Tùy Miên).
độn thế
5683又作隱居、隱遁。摒除世事,隱居山野,修學佛道;亦即出家之意。於日本鎌倉時代以後,特指中年以後之出家。又遁世之本意,原指捨棄名利,專心修行佛道。至後世,每成爲流行之風尚。(參閱「厭世」5758)
; Tránh xa thế tục để trở thành Tăng sĩ hay ẩn sĩ—To retire from the world and become a monk, or to withdraw from the community and become a hermit.
; (遁世) Cũng gọi Ẩn cư, Ẩn độn. Tránh xa việc đời, ở ẩn trong núi rừng, tu học Phật đạo; đây cũng tức là ý xuất gia. Ở Nhật bản, từ thời đại Liêm thương về sau, từ ngữ Độn thế đặc biệt chỉ cho người xuất gia từ trung niên trở lên. (xt. Yếm Thế).
độn thổ
To vanish under ground.
Độn 鈍
[ja] ドン don ||| (1) Dull (knife edge, etc.) (2) Mental dullness, slowness, foolishness. (3) Dullness of the religious/spiritual faculty; the lowest of the three levels of faculties (三根). (4) Defilements that are difficult to sever. => 1. Cùn, không bén (dao...). 2. Tâm tính chậm hiểu, chậm lụt, ngờ ngệch. 3. Căn tánh chậm lụt; hàng thấp nhất trong ba căn tính của người tu tập. 4. Phiền não khó điều phục.
Động
動; C: dòng; J: dō;|Có các nghĩa sau: 1. Sự hoạt động, sự chuyển động, sự vận động (s: cestā). Hành động. Hoạt động; 2. Rung động, rung, lay động, rùng mình, rung lên (s: kampita); 3. Sự nhận thức, sự nhận biết, sự suy nghĩ, sự suy xét; 4. Tính chuyển động hay độ loãng có thể thấy được nơi gió. Phẩm chất đặc biệt của Phong đại (風大). Tính chất cơ bản của gió.
động
4391即地水火風四大中,風大之自性。即風具有動搖之性,可產生流引、增盛之作用,故能令四大所造物質相續變移至他方。俱舍論卷一(大二九‧三中):「風界動性,由此能引大種造色,令其相續,生至餘方,如吹燈光,故名為動。」
; 1) Chuyển động: Tự tính của gió gây ra sự chuyển động (của các đại khác)—Move—Motion—Mutable—Movement arises from the nature of wind which is the cause of motion. 2) Hang động: A hole—A cave.
; (動) Lay động, tự tính của gió. Gió có tác dụng chuyển động, đưa đi, đẩy tới, làm cho các sắc pháp (vật chất) do bốn đại tạo ra liên tục dời đổi, biến động.
động bất động pháp
4391指欲界之法為動法,色界、無色界之法為不動法。欲界之法,多起五欲妄想,是為無常,故稱動法。不動法,則指定而不動之色界定、無色界定等法。另據注維摩經卷五載,色界與無色界眾生之壽命劫數長久,外道以為常,故稱不動。遺教經(大一二‧一一一二中):「一切世間動不動法,皆是敗壞不安之相。」
; Các pháp trong dục giới vô thường nhanh chóng gọi là động pháp; các pháp trên hai cõi sắc và vô sắc giới vĩnh cửu bất động nên gọi là bất động pháp—The mutable and immutable, the changing and the unchanging, the Kamadhatu, or realms of metempsychosis and the two higher realms, Rupadhatu and Arupadhatu.
; (動不動法) Pháp động và pháp không động. 1. Pháp động: Chỉ cho các pháp ở cõi Dục; các pháp cõi Dục là vô thường, luôn luôn khiến cho chúng sinh khởi vọng tưởng năm dục. 2. Pháp bất động: Chỉ cho các pháp Sắc giới định và Vô sắc giới định. Vì là pháp định nên không lay động. Theo Chú duy ma kinh quyển 5, thọ mệnh của chúng sinh ở cõi Sắc và cõi Vô sắc trải qua nhiều số kiếp lâu dài, ngoại đạo cho là thường, nên gọi là Bất động. Kinh Di giáo (Đại 12, 1112 trung), nói: Tất cả pháp động hay bất động trong thế gian đều là tướng bại hoại bất an.
Động chuyển
動轉; C: dòngzhuăn; J: dōten;|Sự chuyển động và thay đổi (sự biến đổi).
Động chuyển 動轉
[ja] ドウテン dōten ||| Movement and change (transformation). => Sự vận động và thay đổi (sự biến đổi).
động cơ thúc đẩy
Motivation.
Động diêu (dao)
動搖; C: dòngyáo; J: dōyō;|Có hai nghĩa: 1. Chuyển động, lay động, rùng mình, rung lên; 2. Sự do dự, không quả quyết.
Động diêu 動搖
[ja] ドウヨウ dōyō ||| (1) To move, shake, tremble, vibrate. (2) Mental vacillation or unsteadiness. => Có hai nghĩa: 1. Chuyển động, lay động, rùng mình, rung lên. 2. Sự do dự, không quả quyết.
động dụng thập vật
4391指禪林中屬於寺院所有而可供使用之器物。禪苑清規卷三(卍續一一一‧四四七上):「寮舍、門窗、牆壁、動用什物,逐時修換嚴飾。」
; (動用什物) Các vật dụng của chúng tăng trong các chùa viện thuộc Thiền tông. Thiền uyển thanh qui quyển 3 (Vạn tục 111, 447 thượng), nói: Phòng xá, cửa giả, tường vách và các đồ vật khác (động dụng thập vật) cần phải sửa chữa cho được tốt đẹp.
động gia
3879曹洞家之略稱。指曹洞宗。相對於此,臨濟宗稱爲濟家。
; See Tào Động.
; (洞家) Gọi đủ: Tào động gia. Chỉ cho tông Tào động. Cũng thế, tông Lâm tế gọi là Tế gia.
động huyền linh bảo thái thượng chân nhân vấn tật kinh
3879請參閱 洞山悟本大師語錄 全一卷。爲道教經典,乃抄襲自佛教大乘經典之作。內容記述靈耀寶藏天尊爲十方大聖諸眾宣講大乘經義時,與其弟子無始真人所作有關「病」與「死」之問答。其中「問疾」之語係根據維摩經之問疾品而來。另有根據法華經普門品,僅改動佛教用語及人名爲道教風格而成。
; (洞玄靈寶太上真人問疾經) Có 1 quyển. Kinh của Đạo giáo do sao chép theo kinh điển của Phật giáo Đại thừa mà thành. Nội dung tường thuật những lời vấn đáp có liên quan đến bệnh và chết giữa Linh diệu Bảo tạng Thiên tôn và đệ tử là Vô thủy chân nhân. Trong đó, lời vấn tật là phỏng theo phẩm Vấn tật của kinh Duy ma. Ngoài ra, còn phỏng theo phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa, chỉ đổi dụng ngữ và nhân vật của Phật giáo cho thành nhân danh và phong cách của Đạo giáo mà thôi.
động hạ
See Tào Động.
động lòng
Touched—Moved—Affected.
động lòng từ
To be moved or touched by one's compassion.
động lực
Motive power.
động sơn
3867位於江西高安(古屬筠州)。一說洞山即新豐山。九世紀中葉,唐末良价禪師住於該山之普利院,致力禪學之教化,參學者每達數百人。後良价傳法予本寂。本寂後遷至撫州曹山。其法系稱作曹山;良价之法系稱洞山。合稱之,即爲曹洞宗。其後,有道全、師虔、道延、慶禪師等,相繼於洞山闡揚禪風。〔宋高僧傳卷十二洞山良价條、筠州洞山普利禪院傳法記〕
; See Lương Giới Động Sơn Thiền Sư.
; (洞山) Núi ở Cao an (xưa thuộc Quân châu), tỉnh Giang tây, Trung quốc. Có thuyết cho rằng Động sơn tức là núi Tân phong. Vào giữa thế kỷ IX (cuối đời Đường), thiền sư Lương giới trụ ở viện Phổ lợi tại núi này hoằng dương Thiền học rất thịnh. Về sau, ngài Lương giới truyền pháp cho sư Bản tịch. Sau đó, sư Bản tịch dời đến núi Tào sơn ở Vũ châu. Pháp hệ của sư gọi là Tào sơn; pháp hệ của ngài Lương giới gọi là Động sơn, hợp chung lại gọi là tông Tào động. Về sau, các thiền sư Đạo toàn, Sư kiền, Đạo diên, thiền sư Khánh v.v... tiếp nối nhau ở núi Động sơn xiển dương pháp Thiền của tông Tào động. [X. mục Động sơn Lương giới trong Tống cao tăng truyện Q.12; Quân châu động sơn Phổ lợi thiền viện truyền pháp kí].
động sơn bất an
3868禪宗公案名。洞山良价寓不安(生病),商量超絕安不安即得相見屋中之本佛。景德傳燈錄卷十五載有一僧至洞山之病床,問(大五一‧三二三中):「有不病者也無?」洞山答:「有。」更問:「不病者還看和尚否?」洞山答:「老僧看他有分。」僧又問:「和尚爭得看他?」洞山云:「老僧看時即不見有病。」此則公案中,僧所問之「不病者」即指人人圓具之本佛。更問「不病者還看和尚否」,謂本佛是否看護身體之病。又問「和尚爭得看他」,謂如何得與本佛相見。洞山答以「即不見有病」,蓋謂若不墮病、不病二見,身心共脫落時,已了無病痛可言。〔五燈會元卷十三、從容錄第九十四則天童正覺之頌〕
; (洞山不安) Công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa thiền sư Lương giới trong khi bệnh với một vị tăng. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 15 (Đại 51, 323 trung), nói: Một hôm ngài Động sơn bị bệnh, có một vị tăng đến bên giường bệnh hỏi: - Có ai không bệnh chăng? - Có! Ngài Động sơn đáp. Vị tăng lại hỏi: - Người không bệnh có đến thăm Hòa thượng không? - Lão tăng đến thăm người ấy thì có. Tăng lại hỏi: - Hòa thượng làm sao thăm người ấy được? - Khi lão tăng đến thăm thì chẳng thấy có bệnh! Động sơn đáp. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.13; Thung dung lục tắc 94 Thiên đồng chính giác tụng].
động sơn cung chân
3875請參閱 洞山悟本大師語錄 禪宗公案名。又作洞山見影。此公案乃因洞山良价供養其師雲巖曇晟之像,與僧之問答。從容錄第四十九則(大四八‧二五八上):「洞山供養雲巖真次,遂舉前邈真話,有僧問:『雲巖道「祇這是」,意旨如何?』山云:『我當時幾錯會先師意。』僧云:『未審雲巖還知有也無?』山云:『若不知有,爭解恁麼道?若知有,爭肯恁蛱道?』」洞山供養其師雲巖之像,顯示對師所言「祇這是」有所體取。此「祇這是」乃謂佛法於即今即處完全現成之事實。
; (洞山供真) Cũng gọi Động sơn kiến ảnh. Động sơn cúng dường chân tượng. Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Động sơn Lương giới và một vị tăng, lúc ngài cúng dường chân tượng của thầy ngài là thiền sư Vân nham Đàm thạnh. Thung dung lục tắc 49 (Đại 48, 256 thượng), chép: Động sơn cúng dường chân tượng của ngài Vân nham, lúc Động sơn nhắc lại lời thầy dạy trước kia, thì có vị tăng hỏi: - Ngài Vân nham nói Chính là cái ấy ý chỉ như thế nào? Động sơn đáp: - Lúc bấy giờ có lẽ tôi đã hiểu sai ý của Thầy. Vị tăng lại hỏi: - Không rõ ngài Vân nham có biết là có hay không? Động sơn nói: - Nếu không biết là có thì hiểu thế nào mà nói được? Nếu biết là có thì đâu chịu nói như vậy?.
Động Sơn Hiểu Thông
(洞山曉聰, Dōzan Kyōsō, ?-1030): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, xuất thân Huyện Khúc Giang (曲江縣), Thiều Châu (韶州, Tỉnh Quảng Đông), họ Lâm (林). Sau khi xuất gia, ông kế thừa dòng pháp của Văn Thù Ứng Chơn (文殊應眞), và sống ở Động Sơn (洞山), Quân Châu (筠州, Tỉnh Giang Tây). Vào ngày 14 tháng 6 năm thứ 8 (1030) niên hiệu Thiên Thánh (天聖), ông thị tịch.
động sơn lương giá
3875(807~869)我國禪宗曹洞宗之祖。唐代越州會稽(浙江會稽)人,俗姓俞。幼從師誦般若心經,以無根塵之義問其師,其師駭然,即指往五洩山禮靈默禪師披剃。年二十一,詣嵩山受具足戒,尋謁南泉普願,深領其旨,又訪溈山靈祐,參「無情說法」之公案,不契。受指示詣雲巖曇晟,問無情說法之義,辭歸時,涉水睹影,大悟前旨。後嗣雲巖之法,於江西洞山弘揚佛法,倡五位君臣說,門風頗振。咸通十年,命剃髮披衣,鳴鐘辭眾,大眾號慟不止。師忽開目謂曰(大五一‧三二三中):「夫出家之人,心不附物,是真修行;勞生息死,於悲何有?」眾猶戀慕不已,乃延七日,至第八日浴訖,於丈室端坐長往。世壽六十三,法臘四十二。勅諡「悟本禪師」。其嗣法弟子有雲居道膺、曹山本寂、龍牙居遁、華嚴休靜、青林師虔等二十餘人。尤以本寂之法系,稱作曹山,合稱之,即爲曹洞宗。著有寶鏡三昧歌、玄中銘、洞山語錄等。〔瑞州洞山良价禪師語錄、宋高僧傳卷十二、景德傳燈錄卷十五、禪學思想史卷上〕
Động Sơn Lương Giới
(洞山良价, Dōzan Ryōkai, 807-869): người Huyện Chư Kỵ (諸曁), Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang), họ là Du (兪). Ông xuất gia từ hồi còn nhỏ, theo tu học với Linh Mặc (靈默) ở Ngũ Duệ Sơn (五睿山), đến năm 21 tuổi thì thọ Cụ Túc giới với Luật Sư Duệ ở Tung Sơn (嵩山). Ông đã từng tham yết Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願), Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐), và học với Vân Nham Đàm Thịnh (雲巖曇晟), rồi cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Gặp nạn phế Phật Hội Xương (845), ông ẩn thân lánh nạn, rồi trong khoảng niên hiệu Đại Trung (大中, 847-860), ông vào ở trong Tân Phong Động (新豐洞), vùng Cao An (高安), Dự Chương (豫章, Tỉnh Giang Tây), và nhờ sự quy y của Lôi Hoành, ông xây dựng ngôi Động Sơn Quảng Phước Tự (洞山廣福寺, tức Phổ Lợi Thiền Viện [普利禪院]). Vào ngày mồng 8 tháng 3 năm thứ 10 (869) niên hiệu Hàm Thông (咸通), ông thị tịch, hưởng thọ 63 tuổi đời và 42 hạ lạp. Ông được ban cho thụy hiệu là Ngộ Bổn Đại Sư (悟本大師), về sau được kính ngưỡng như là vị Cao Tổ của Tào Động Tông Trung Quốc. Môn hạ của ông có một số nhân vật xuất chúng như Vân Cư Đạo Ưng (雲居道膺), Tào Sơn Bổn Tịch (曹山本寂), Sơ Sơn Khuông Nhân (疎山匡仁), v.v.
động sơn lương giới
Tung-Shan-Lieng-Chieh—Ông sanh năm 807 sau Tây Lịch, là tổ thứ nhất của phái Tào Động Trung Quốc và người đã thiết định Năm Vị hay Ngũ Sơn Tào Động. Động Sơn đến với Thư Sơn Huệ Siêu. Huệ Siêu hỏi: “Ông đã trụ tại một phương, nay đến đây làm gì?” Động Sơn nói: “Tôi bị dày vò bởi một mối ngờ, không biết phải làm sao nên đến đây.” Huệ Siêu gọi lớn: “Lương Giới! (tên thật của Động Sơn)” Động Sơn cất tiếng: “Dạ!” Huệ Siêu hỏi: “Cái gì thế?” Động Sơn không biết trả lời ra sao, và Huệ Siêu nói ngay: “Phật đẹp quá, chỉ hiềm không có lửa sáng!” Theo Truyền Đăng Lục, vì không có lửa sáng nên sự vô trí không được thắp sáng, khi biết được điều nầy, sẽ có sự thắp sáng. Ông tịch năm 869 sau Tây Lịch—He was born in 807 A.D. He was the first Patriarch of the T'ao-Tung Sect and formulator of the Five Degrees. Tung-Shan came to see Hui-chao of Shu-Shan, and the latter asked: “You re already master of a monastery, and what do you want here?” Tung-Shan said: “I am distressed with a doubt and do not know what to do, hence my coming here.” The master called out: “O Liang-Chieh!” which was Tung-Shan's real name, and Liang Chieh replied at once, “Yes, sir.” Hui-Chao asked: “What is that?” Chieh failed to answer, and Hui-Chao gave this judgment, “Fine Buddha no doubt, and what a pity he has no flames.” According to the Transmision of the Lamps, as he has no flames, his ignorance is not illuminating. When he becomes conscious of the fact, there is enlightenment. He died in 869 A.D. ** Please see Lương Giới Động Sơn Thiền Sư.
; (洞山良價) (807 - 869) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người Cối kế, Quân châu (Chiết giang), họ Du, tổ khai sáng của tông Tào động. Thủa nhỏ, sư theo thầy học Bát nhã tâm kinh, đem nghĩa không căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), không trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) hỏi thầy: Con có mắt, tai, mũi, lưỡi v.v... tại sao trong kinh nói không có?. Vị thầy rất ngạc nhiên, liền bảo sư đến núi Ngũ tiết tham yết thiền sư Linh mặc. Năm 21 tuổi, sư đến Tung sơn thụ giới Cụ túc rồi yết kiến ngài Nam tuyền Phổ nguyện, lãnh hội được ý chỉ của ngài. Sau, sư đến tham học thiền sư Qui sơn Linh hựu, tham cứu công án Vô tình thuyết pháp nhưng không khế hợp. Tiếp đó, theo lời chỉ dạy của ngài Qui sơn Linh hựu, sư đến thiền sư Vân nham Đàm thạnh, hỏi về nghĩa Vô tình thuyết pháp. Lúc từ tạ ngài Đàm thạnh trở về, qua sông thấy bóng mình dưới nước, sư đại ngộ. Về sau, sư nối pháp của ngài Vân nham, hoằng dương Phật pháp ở Động sơn, tỉnh Giang tây, đề xướng thuyết Ngũ vị quân thần, tông phong rất thịnh. Năm Hàm thông thứ 10 (869), sư bảo đệ tử cạo tóc cho sư, sau đó, sư mặc áo rồi đánh chuông từ biệt đại chúng, đại chúng thương tiếc khóc than. Bỗng nhiên sư mở mắt bảo rằng (Đại 51, 323 trung): Phàm người xuất gia, tâm không vướng mắc vào sự vật, đó là tu hành chân chính; chấm dứt sống chết lao khổ, có gì mà buồn thương?. Đại chúng vẫn lưu luyến không thôi, kéo dài suốt bảy ngày, đến ngày thứ 8 sư tắm gội xong, lên phương trượng ngồi ngay thẳng mà tịch, thọ 63 tuổi, hạ lạp 42 năm, được vua ban thụy hiệu Ngộ Bản Thiền Sư. Đệ tử nối pháp có: Vân cư Đạo ưng, Tào sơn Bản tịch, Long nha Cư độn, Hoa nghiêm Hữu tĩnh, Thanh lâm Sư kiền v.v... gồm hơn 20 người. Trong đó, đặc biệt pháp hệ của Bản tịch được gọi là Tào sơn, hợp lại với Động sơn mà thành tông Tào động. Thiền sư Động sơn Lương giới để lại các tác phẩm sau: Bảo kính tam muội ca, Huyền trung minh, Động sơn ngữ lục. [X. Thụy châu Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục; Tống cao tăng truyện Q.12; Cảnh đức truyền đăng lục Q.15; Thiền học tư tưởng sử Q.thượng].
Động Sơn Lương Giới Thiền sư ngữ lục
洞山良价禪師語録; C: dòngshān liángjiè chánshī yŭlù; J: dōsan ryōkai zenshi goroku;|Tên gọi tắt của Thuỵ Châu Động Sơn Lương Giới Thiền sư ngữ lục (瑞州洞山良价禪師語録). Ðộng Sơn Lương Giới.
Động Sơn Lương Giới Thiền sư ngữ lục 洞山良价禪師語録
洞山良价禪師語録 [py] Dòngshān liángjiè chánshī yŭlù [wg] T'ung-shan Liang-chieh ch'an-shih yü-lu [ko] 동산량개선사어록 Tongsan yanggae sŏnsa ŏrok Dōsan ryōkai zenshi goroku ||| The Dongshan liangjie chanshi yulu abbreviated title of Ruizhou Dongshan liangjie chanshi yulu 瑞州洞山良价禪師語録. => (j: Tongsan yanggae sŏnsa ŏrok Dōsan ryōkai zenshi goroku ; c: Dongshan liangjie chanshi yulu). Tên gọi tắt của Thụy Châu (c: Ruizhou Dongshan liangjie chanshi yulu 瑞州洞山良价禪師語録).
động sơn ngũ vị
3868曹洞宗開祖洞山良价接引學人所設立之權宜方法。即依偏正回互之理,開示正中偏等五位之別。據禪宗正脈卷七洞山良价條(卍續一四六‧一○八下):「盛化豫章、高安之洞山,權開五位,善接三根,大闡一音,廣弘萬品。橫抽寶劍,剪諸見之稠林;妙叶玄通,截萬端之穿鑿。又得曹山,深明的旨,妙唱嘉猷,道合君臣,偏正回互,由是洞上玄風播於天下。」景德傳燈錄卷十七(大五一‧三三七上):「及受洞山五位銓量,特爲叢林標準。」由是,知洞山良价提倡五位之說,曹山本寂銓量之,以爲洞門之標準。 五位者,即:正中偏、偏中正、正中來、偏中至、兼中到。其中,所謂正,爲兩儀中之陰,即意味靜、體、空、理、平等、絕對、本覺、真如等;偏,則爲陽,意味動、用、色、事、差別、相對、不覺、生滅等。即說偏正回互,而生正中偏等五位之別,以顯示法之德用自在,此乃開悟過程之五階段,即:(一)正中偏,此一階段之證悟,乃以現象界爲主,唯其所見之現象界已被認爲係絕對我之境界。其頌曰(大四七‧五二五下):「三更初夜月明前,莫怪相逢不相識,隱隱猶懷舊日嫌。」首句中,「三更初夜」爲正位,「月明」爲偏位,即指明暗黑白未分之位;次句謂正即偏,顯示色即是空之理;末句乃指正偏互融,各還其本來面目,表示不變隨緣之義。(二)偏中正,此一階段不再強烈呈現分別見解,現象界之一切逐漸隱退。其頌曰:「失曉老婆逢古鏡,分明覿面別無真,休更迷頭猶認影。」首句中,「失曉老婆」爲正中偏位,「逢古鏡」則爲偏中正位,即自千差萬別之事象直指真如平等之法界;次句謂明相未顯之時,如向古鏡而面容不分明;末句乃勸誡學人勿徒迷鏡中影像之有無,以示隨緣不變之理。(三)正中來,此階段已不再感覺身心之存在,二者皆泯滅無餘,即本體已達無念之境,應萬象之差別,變現出沒自在之妙用。其頌曰:「無中有路隔塵埃,但能不觸當今諱,也勝前朝斷舌才。」首句之「無中」爲正位,「有路」爲來偏,即空無物之「體」、「相」回互,能成色相、有相之活路,以示佛凡尚隔之相;次句謂其正位之「說有說無」皆不中,若背觸之則失其本意;末句則謂不觸之功是爲天真,在於潛行密用的隱微之間,以顯示有語中之無語、無語中之有語,即指無始之本覺佛性如來藏心之意。(四)偏中至,此階段從現象界差別之妙用,體悟現象與本體冥合,而達於無念無想之境。其頌曰:「兩刃交鋒不須避,好手猶如火裏蓮,宛然自有沖天志。」首句示現偏之功用變通無窮,於語默是非之間事事交鋒,既不走避亦不爲所傷;次句謂其功用隨處希有,如蓮花之在火裏猶聲色天然;末句則謂居聲色是非之途所必歸之所,即指不覺之全相之意。(五)兼中到,此即圓滿總收正偏來至無礙自在之境。其頌曰:「不落有無誰敢和?人人盡欲出常流,折合還歸炭裏坐。」首句謂入有之時乃爲絕對之有,非無可對;入無之時亦爲絕對之無,非有可對;顯現當頭正面泯絕比鄰,不墮有無二邊之見。次句則勸誡學人勿迷失於常流日用之軌。末句則導入「一相無相、究竟非思量」之歸處,即顯示究竟大覺道位之意。 要言之,正偏五位之說在立本覺、不覺之二元,本覺乃向下隨緣,以顯現萬有差別之事象,即以靜中有動爲中正偏;不覺則爲向上還滅,以隨順真如平等之理性,即以動中有靜爲偏中正。此正偏二者道合而歸於一元,即以動靜不二爲兼中到。此係取大乘起信論所說之「本覺、不覺、不變、隨緣」之說,配以周易陰陽五行之說,組織而成者。 良价又別作「功勳五位」之說,即:向、奉、功、共功、功功。據明代永覺元賢所著洞上古轍卷上載:(一)所謂向,師(洞山)曰(卍續一二五‧三五八上):「契飯時作麼生?」又曰:「得力須忘飽,休糧更不饑。」向,趣向之意。然必須先知「有」,若不先知有,則無所趣向,且於日常動靜之間不可須臾忘卻。真正向之所專,則無暇計饑飽。(二)所謂奉,師曰:「背時作麼生?」又曰:「只知朱紫貴,辜負本來人。」奉,乃承奉之奉。於「向」之後,接之以「奉」,如人之奉事長上,必先歸敬而後承奉,若「背」(貪合外塵,乃背本分之事)則不能奉。(三)所謂功,師曰:「放下鋤頭時作麼生?」又曰:「撒手端然坐,白雲深處閒。」把鋤頭,乃有向奉之意;放下鋤頭,則意味不向奉。由前向奉之功至此頓忘,故謂放下鋤頭。後句則表契入正位。(四)所謂共功,師曰:「不得色。」又曰:「素粉難沈路,長安不久居。」共功者,謂諸法並興,故稱共。洞山所謂不得色者,乃爲前位是一色,而諸法俱隱,此位則一色消盡,諸法俱現,一色亦不可復得。(五)所謂功功,師曰:「不共。」又曰:「混然無諱處,此外復何求?」功功者,此功較前位之功爲深,故稱功功。由前位之有共,此位則不共;非特法不可得,非法亦不可得,理事混然,並無隱藏之跡,乃佛道之極致。然猶名功者,蓋以視向上之事亦屬人力所造作,故亦爲功。是以此五位揭示學人修鍊功夫之階次,即自最初之歸向,其次之承奉,乃至最後得不共之功功。據日僧指月慧印(1689~1764)之「不能語偏正五位說」,謂此五位(功勳五位)與正偏五位形似而義稍別,正偏五位旨在彰顯法之德用自在,功勳五位則在闡明「功」之初後、「修」之生熟,且重點在於偏中。 其後,曹山本寂乃承洞山五位之說,藉君臣相對之誼而說明五位之旨訣,稱爲君臣五位。(一)君,所謂「妙德尊寰宇,高明朗太虛」;意指本來無一物之空界,爲正位,相當於正偏五位中之正中來、功勳五位中之「功」。(二)臣,所謂「靈機弘聖道,真智利群生」,即受君命,廣弘聖道,現一切森羅萬象;意指萬象有形之色界,爲偏位,相當於正偏五位中之偏中至、功勳五位中之「共功」。此即陰陽之兩儀,本覺與不覺對立之二元。(三)臣向君,所謂「不墮諸異趣,凝情望聖容」,臣專承事於君,其赤誠無階級差別之問題;意指捨事入理,相當於向上還滅之偏中正、功勳五位中之「奉」,此偏中正即將差別之事象,歸於無差別平等界之正位。(四)君視臣,所謂「妙容雖不動,光燭本無偏」,君之視臣,公平無私,一視同仁,即背理就事之意,相當於向下緣起之正中偏、功勳五位中之「向」。(五)君臣道合,所謂「混然無內外,和融上下平」,君臣道合則天下太平,爲冥應眾緣而不墮諸有之意,相當於正偏五位中之兼中到、功勳五位中之「功功」,即動靜合一、事理不二、非正非偏之究竟大覺之道位。 及至石霜慶諸,亦以洞山五位說爲基礎,以王子之出生、素質、根機及其種種修行努力、所表現之德、可就帝位等爲譬喻,而說明五種修行階段之差異,稱爲王子五位。即:(一)誕生王子,乃國王正嫡所生之皇太子,謂能頓入一色,全不借功勳。相當於君臣五位中之君、正偏五位中之正中來;比喻本覺佛性。(二)朝生王子,指庶生之子,苦學力行,身處外朝,居於臣位,輔佐其君,止事外紹之功,終在臣職,以外王之王種姓故,亦稱王子。相當於君臣五位中之臣、正偏五位中之偏中至;比喻漸漸修學悉當成佛之義。(三)末生王子,指天子之末子,雖久經功勳而得就君位,然遠謝一切,專事內紹。相當於君臣五位中之臣向君、正偏五位中之偏中正;比喻用漸次功夫以入於一色。(四)化生王子,指旁分帝化轉位就功之子,稟承父命,居於臣位,能輔王化。相當於君臣五位中之君視臣、正偏五位中之正中偏;比喻菩薩化他度生之位。(五)內生王子,指生於內宮,克紹君位,與父王之體無異,乃統理萬機,群臣能輔佐之並與之道合之位。相當於君臣五位中之君臣道合、正偏五位中之兼中到;比喻理智一如、本來成佛之玄奧。 洞上古轍卷上謂,以功勳、君臣、王子等五位配於正偏五位者爲非,蓋功勳五位與王子五位皆是偏位上之事,且功勳五位是豎論功夫之淺深,王子五位則中分內紹外紹,故有不同。又君臣五位所分之君臣兩位,乃接引學人之權宜作法,係從正偏五位中之兼至(偏中至)一位中所分出者,故亦不宜以之配於正偏五位。此係元賢自取「正中來一元說」,並據以解釋正偏五位說。元賢雖謂君臣五位之正偏二元說爲兼至一位中所分出,且正偏五位及君臣五位等其旨非一,然認爲洞山、曹山之間非有異轍,且彼之正偏五位係基於周易之陰陽五行說,由是可知正偏二元論實爲其說法之宗旨,誠然如此,則元賢之主張失其正鵠。 又良价之寶鏡三昧歌以此五位配於周易之爻卦,曹山元證禪師語錄亦作黑白五種圓相,以表示此五位,其中,有三疊五變之說,即重離六爻????之卦,陰爻陽爻回互疊變而成五卦,具荎草之五味,如金剛杵之首尾闊而中狹,此喻顯正偏五位。寂音慧洪之合古徹卷上解三疊五變,謂離爲南方之卦,火也,心之譬也。其爻六劃回互而成五卦,重疊之,而成三卦,如????,取二、三、四爻而成一卦─巽卦(????),取三、四、五爻而又成一卦─兌卦(????),此謂疊之爲三;下巽上兌又成一卦─大過(????),下兌上巽又成中孚之卦(????),此謂變之成五。配以曹山之五相,而出左圖:(正即陰白,偏即陽黑) 對於此,元賢之洞上古徹卷上出五位總圖(正爲黑,偏爲白),並爲之解說。 最上一相,表示黑白未兆之前,即所謂向上宗乘事;次一相表示黑白既分之後,即所謂正中有偏、偏中有正、偏正交互之義;中間仍有一虛圈者,表示向上事,今亦隱於黑白之間。又引申此偏正交互之義,則成五位:(一)以黑多白少者爲正中偏。(二)白多黑少者爲偏中正。(三)中黑外白者爲正中來,蓋以前二位造至尊貴位,復不守尊貴,乃轉正向偏,正不居正,偏出於正,而偏不落偏,故黑在外而白在內。(四)以全白者爲兼中至,乃於正中來之後,妙印當風,縱橫無忌,事理雙炤,明暗並用,以其全體即用,故其相全白。(五)全黑者爲兼中到,乃妙盡功忘,混然無跡,事理雙銷,是非不立者,以其全用即體,故其相全黑。前二位相對未兼者,後二位相對既兼者,唯正中來一位無對。即兼中至全體即用與兼中到全用即體;正中偏黑多白少與偏中正白多黑少互爲相對,唯正中來位於五方中之中央,故無相對者,即獨尊之意。相對於慧洪傳承自曹山以來之說所作之正偏二元說,元賢乃主張本覺一元說,其說雖非無理,但與洞曹兩山之本意已大相乖離。 我國自古即盛行陰陽五行之說,南北朝時道儒漸興,其說混入佛教,及至唐宋,其傾向愈顯,如圭峰宗密以乾卦爲圓覺妙心,又以「元亨利貞」配「常樂我淨」四德,復於禪源諸詮集都序卷下二,以黑白十種圓相表示大乘起信論所說之流轉還滅之次第。又宋代周敦頤所作之太極圖說,恐亦受宗密及洞山五位等說之影響。〔圓覺經略鈔卷一、洞山良价禪師語錄、五燈會元卷十二、卷十三、古尊宿語錄卷十一、禪宗正脈卷七、卷十三、寶鏡三昧本義〕
; Năm cấp bậc chứng ngộ do Động Sơn Lương Giới thiết lập. Giống như 10 bài kệ chăn trâu, đây là các mức độ khác nhau về sự thành tựu trong nhà Thiền—Five degrees of Tung-Shan-Liang-Chieh—Like the Ten Osherding Verses, these are different levels or degrees of Zen realization formulated by Zen master Tung-Shan-Liang-Chieh: 1) Chánh Trung Thiên: Ngôi vị thứ nhất nhận thức về thế giới hiện tượng ngự trị, nhưng nó được nhận thức như là chiều kích của ngã tuyệt đối—The first level in which realization of the world of phenomena is dominant, but it is perceived as a dimension of the absolute self. 2) Thiên Trung Chánh: Giai đoạn thứ nhì nầy hình thái vô phân biệt đến với giai đoạn trước một cách mãnh liệt và sự phân biệt bị đẩy lùi vào phía sau—The second level or second stage the undifferentiated aspect comes strongly to the fore and diversity recedes into background. 3) Chánh Trung Lai: Giai đoạn thứ ba là ngôi vị trong ấy không còn ý thức về thân hay tâm. Cả hai đã được xả bỏ hoàn toàn—The third grade is a level of realization wherein no awareness of body or mind remains; both “drop away” completely. 4) Thiên Trung Chí: Giai đoạn thứ tư, với ngôi vị nầy, tính duy nhất của mỗi sự vật được nhận thức ở mức độ độc nhất. Bây giờ núi là núi, sông là sông; chứ không còn núi đẹp sông buồn nữa—The fourth grade is the singularity of each object is perceived at its highest degree of uniqueness. Now mountain is mountain, river is river; ther is no such a beautiful or loving mountain or a boring river. 5) Kiêm Trung Đáo: Ở vị thứ năm hay là mức cao nhất, sắc và không tương tức tương nhập đến độ không còn ý thức cả hai, các ý niệm ngộ mê đều biến mất, đây là giai đoạn của tự do nội tại trọn vẹn—In the fifth and highest grade, form and emptiness mutually penetrate to such a degree that no longer is ther consciousness of either. Ideas of enlightenment or delusion entirely vanish. This is the stage of perfect inner freedom.
; (洞山五位) Gồm 3 thuyết: Chính thiên ngũ vị, Công huân ngũ vị, Quân thần ngũ vị. I. Chính Thiên Ngũ Vị. Phương pháp quyền nghi (tạm thời thích nghi) do tổ khai sáng của tông Tào động là thiền sư Động sơn Lương giới đặt ra để tiếp hóa người học. Tức là căn cứ vào lí thiên chính hồi hỗ mà chỉ rõ sự sai biệt của Ngũ vị: Chính trung thiên, Thiên trung chính, Chính trung lai, Thiên trung chí và Kiêm trung đáo. Trong đó, Chính thuộc âm trong lưỡng nghi, nghĩa là tĩnh, thể, không, lí, bình đẳng, tuyệt đối, bản giác, chân như v.v... Thiên thuộc dương, nghĩa là động, dụng, sắc, sự, sai biệt, tương đối, bất giác, sinh diệt v.v... Tức là do lí thiên chính hồi hỗ (thiên và chính đắp đổi lẫn nhau) mà phát sinh sự sai biệt của Ngũ vị, để hiển bày rõ cái đức dụng tự tại của pháp, sau đây là năm giai đoạn của quá trình khai ngộ. 1. Chính trung thiên. Giai đoạn chứng ngộ này lấy thế giới hiện tượng làm chính, chỉ có thế giới hiện tượng được nhận là cảnh giới của cái Ngã tuyệt đối. Lời tụng (Đại 47, 525 hạ): Đầu hôm canh ba trăng vằng vặc Chớ trách gặp nhau chẳng nhận ra Âm thầm vẫn nhớ cảnh đẹp qua. Trong câu thứ 1 Đầu hôm canh ba là Chính vị, trăng vằng vặc là Thiên vị, tức là chỉ cho vị sáng tối, đen trắng chưa phân biệt; câu thứ 2 là chính tức thiên, hiển bày lí sắc tức thị không; câu thứ 3 chỉ cho Chính, Thiên dung hòa vào nhau, mỗi mỗi trở về với bản lai diện mục của mình, biểu thị nghĩa bất biến tùy duyên. 2. Thiên trung chính. Ở giai đoạn này chẳng còn trình hiện các kiến giải phân biệt mạnh mẽ, mà tất cả thế giới hiện tượng lui ẩn dần dần. Lời tụng: Bà già lóa mắt soi gương cũ Rõ ràng chẳng nhận được chân dung Thôi chớ mê mờ nhận lầm bóng. Trong câu thứ 1, Bà già lóa mắt là vị Thiên trong Chính, soi gương cũ là vị Chính trong Thiên, tức là từ sự tướng thiên sai vạn biệt mà chỉ thẳng đến pháp giới chân như bình đẳng. Câu thứ 2 nghĩa là khi tướng sáng chưa lộ hẳn thì giống như nhìn vào gương mà nét mặt chẳng hiện rõ. Câu thứ 3 khuyên răn người học chớ mê chấp theo sự có và không của những bóng dáng trong gương, đó là hiển bày lí tùy duyên bất biến. 3. Chính trung lai. Ở giai đoạn này chẳng còn cảm thấy có thân và tâm, cả hai đều dứt bặt, tức là bản thể đã đạt đến cảnh giới vô niệm, phát sinh diệu dụng, ứng hợp với sự sai biệt của muôn tượng, tùy duyên biến hiện một cách tự tại vô ngại. Lời tụng: Trong không có lối cách hồng trần. Nay cần chẳng phạm điều cấm kị. Cắt lưỡi tài hơn cả cổ nhân. Trong câu thứ 1, trong không là vị Chính, có lối là Lai thiên, tức là thể, tướng của không vô vật nương tựa nhau, có thể thành con đường hoạt dụng của sắc tướng, hữu tướng để biểu thị tướng Phật và phàm phu còn ngăn cách. Câu thứ 2 nghĩa là nói có, nói không trong vị Chính đều chẳng đúng, nếu trái phạm thì mất bản ý. Câu thứ 3 thì bảo cái công chẳng xúc phạm đúng là thiên chân, ở trong tiềm hạnh ẩn kín mà hiển rõ chỗ không nói trong có nói, chỗ có nói trong không nói, tức chỉ cho bản giác Phật tính Như lai tạng tâm vô thủy. 4. Thiên trung chí. Giai đoạn này là từ sự diệu dụng của thế giới hiện tượng sai biệt mà thể ngộ được hiện tượng và bản thể ngầm khế hợp nhau, đạt đến cảnh giới vô tưởng vô niệm. Lời tụng: Hai kiếm giao nhau chẳng sợ phiền. Cao tay nào khác sen trong lửa. Rõ ràng tự có chí xung thiên. Trong câu thứ 1 cho thấy cái công dụng của Thiên biến thông cùng khắp; giữa nói im, phải trái, sự sự giao tranh đã không trốn chạy mà cũng chẳng bị thương tổn. Câu thứ 2 nói công dụng của Thiên tùy chỗ mong cầu mà nó đáp ứng, cũng như hoa sen ở trong lửa mà mầu sắc vẫn tươi. Câu thứ 3 thì bảo trên con đường thanh sắc, thị phi ắt có chỗ trở về, tức chỉ cho toàn tướng của bất giác. 5. Kiêm trung đáo. Đây là cảnh giới viên mãn tự tại vô ngại gồm thâu cả Chính, Thiên, Lai, Chí. Tụng rằng: Chẳng mắc có không ai dám đương? Người người thảy muốn thoát dòng thường. Tan hợp trở về ngồi tro lạnh. Câu thứ 1 nghĩa là khi vào chỗ có là cái có tuyệt đối, chứ chẳng phải đối với không mà có; khi vào chỗ không cũng là cái không tuyệt đối chứ chẳng phải đối với có mà không. Đó là hiển bày sự đương đầu đối diện dứt bặt so sánh hai bên, không rơi vào kiến chấp có không. Câu thứ 2 là khuyên răn người tu học chớ mê mà quên mất những phép tắc sinh hoạt tầm thường hàng ngày. Câu thứ 3 thì dẫn dắt đến chỗ nhất tướng vô tướng, rốt ráo chẳng nghĩ bàn, tức là biểu thị đạo Đại giác cùng tột. Nói tóm lại, thuyết Chính thiên ngũ vị được kiến lập trên nền tảng nhị nguyên Bản giác và Bất giác; Bản giác là hướng hạ tùy duyên để hiển bày sự tướng sai biệt của vạn hữu, tức là lấy trong tĩnh có động làm Thiên trong Chính; Bất giác thì hướng thượng hoàn diệt, thuận theo lý tính bình đẳng của chân như, tức là lấy trong động có tĩnh làm Chính trong Thiên. Hai đường Chính, Thiên hợp làm một mà trở về nhất nguyên, tức là lấy động tĩnh bất nhị làm Kiêm trung đáo. Thuyết Chính thiên ngũ vị này là dùng thuyết Bản giác, Bất giác, Bất biến, Tùy duyên trong luận Đại thừa khởi tín, phối hợp với thuyết âm dương ngũ hành trong sách Chu dịch mà lập thành. Trong Bảo kính tam muội ca, ngài Động sơn Lương giới đem Ngũ vị phối với hào quẻ của Chu dịch; trong Tào sơn nguyên chứng thiền sư ngữ lục cũng vẽ năm cái vòng tròn đen trắng để biểu thị Ngũ vị, trong đó có thuyết Chồng 3 biến 5, tức là quẻ Trùng li 6 hào , các hào âm hào dương đắp đổi chồng lên nhau mà biến thành năm quẻ, như năm mùi vị của cỏ trị, như chày kim cương ở giữa hẹp hai đầu rộng, ví dụ Chính thiên ngũ vị. Trong Hợp cổ triệt quyển thượng, ngài Tịch âm Tuệ hồng giải thích chồng 3 biến 5 nghĩa là quẻ Li là phương Nam, thuộc Hỏa, ví với tâm. Sáu hào (sáu vạch) đắp đổi lẫn nhau mà thành năm quẻ, chồng lên nhau mà thành ba quẻ, như , lấy hào 2, hào 3, hào 4 thành một quẻ - quẻ Tốn (), lấy hào 3, hào 4, hào 5 cũng thành một quẻ - quẻ Đoài (), đây là chồng lên thành 3; dưới Tốn trên Đoài cũng thành một quẻ - quẻ Đại quá (), dưới Đoài trên Tốn lại thành quẻ Trung phu (), đây là biến thành 5 . Đem phối hợp với 5 tướng tròn (5 vòng tròn) của Tào sơn được đồ biểu như sau:(Chính tức âm trắng, Thiên tức dương đen). Cái vòng tròn trên cùng biểu thị nghĩa chưa chia đen trắng, tức là việc tông thừa hướng thượng; vòng thứ 2 biểu thị nghĩa đã chia ra đen trắng, tức là nghĩa trong Chính có Thiên, trong Thiên có Chính, Thiên, Chính giao thoa nhau; ở khoảng giữa có một vòng tròn nhỏ trắng toát, biểu thị việc hướng thượng, nhưng hiện vẫn còn giấu mình giữa đen trắng. Lại suy rộng nghĩa Thiên, Chính giao thoa này ra thì thành Ngũ vị: 1. Lấy đen nhiều trắng ít làm Chính trong thiên. 2. Trắng nhiều đen ít là Thiên trong chính. 3. Đen trong trắng ngoài là Chính trung lai. Bởi vì hai vị trước đã đến vị tôn quí mà không giữ ngôi tôn quí lại chuyển Chính tới Thiên, Chính chẳng ở vị Chính, Thiên ra ở vị Chính, nhưng Thiên không lạc mất Thiên, cho nên đen ở ngoài, còn trắng ở trong. 4. Lấy vòng trắng toát làm Kiêm trung chí, sau Chính trung lai thì diệu ấn tung hoành, sự lí cùng chiếu, sáng tối đều dùng, bởi vì toàn thể tức là dụng, cho nên vòng tròn trắng toát. 5. Đen tuyền là Kiêm trung đáo, nghĩa là diệu hết thì quên công, dung hợp không dấu vết, sự lí đều bặt, thị phi chẳng còn, bởi vì toàn dụng tức là thể, cho nên vòng tròn đen tuyền. Hai vị trước chưa gồm tương đối, hai vị sau gồm cả tương đối, chỉ có vị Chính trung lai là không có đối đãi. Tức là Kiêm trung chí thì toàn thể tức là dụng và Kiêm trung đáo thì toàn dụng tức là thể. Chính trung thiên đen nhiều trắng ít và Thiên trung chính trắng nhiều đen ít tương đối với nhau, chỉ có vị Chính trung lai là ở chính giữa năm phương, cho nên không có đối đãi, tức là vị độc tôn. Thuyết âm dương ngũ hành đã phổ biến ở Trung quốc từ xưa. Thời Nam Bắc triều, Đạo giáo và Nho giáo dần dần hưng thịnh, thuyết Ngũ hành du nhập Phật giáo, và đến cuối đời Đường thì ảnh hưởng càng rõ rệt; như ngài Khuê phong Tông mật lấy quẻ Càn ...làm Viên giác diệu tâm, đem nguyên hanh lợi trinh phối hợp với bốn đức thường lạc ngã tịnh. Rồi trong sách Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển hạ phần 2, ngài Tông mật lại dùng 10 tướng vòng tròn đen trắng để biểu thị thứ tự của sự lưu chuyển hoàn diệt được nói trong luận Đại thừa khởi tín. Còn thuyết Thái cực đồ của Chu đôn di đời Tống có lẽ cũng đã chịu ảnh hưởngthuyếtcủa ngài Tông mật và của Động sơn ngũ vị. II. Thuyết Công Huân Ngũ Vị. Tức là năm giai đoạn tu hành hướng tới chứng ngộ. Bao gồm: Hướng, Phụng, Công, Cộng công và Công công. Cứ theo Động thượng cổ triệt quyển thượng của ngài Vĩnh giác Nguyên hiền đời Minh chép, thì: 1. Về Hướng: Ngài Động sơn nói (Vạn tục 125, 358 thượng): Khi ăn cơm thì nghĩ gì? Sư lại nói: Đắc lực nên quên no, thôi ăn lại chẳng đói. Hướng nghĩa là hướng tới. Nhưng trước hết phải biết có, nếu trước chẳng biết có, thì không biết hướng tới đâu, vả lại, trong động tĩnh hàng ngày không được quên giây phút nào. Nếu chân chính và chuyên nhất hướng tới, thì chẳng còn thì giờ rảnh rỗi để nghĩ tới đói no. 2. Về Phụng: Sư nói: Khi trái nghịch thì sao? Lại nói: Chỉ biết có giầu sang, cô phụ người bản lai. Phụng nghĩa là vâng thờ. Sau hướng tiếp đến dùng phụng, cũng như vâng thờ bậc trưởng thượng, thì trước hết phải qui kính rồi sau mới thừa phụng, nếu trái nghịch(tham đắm ngoại trần mà trái với việc hướng thượng) thì chẳng thể thừa phụng. 3. Về Công: Sư nói: Khi buông cái bừa thì nghĩ gì?. Lại nói: Buông tay ngồi thanh thản, nhàn tản mây trắng bay. Cầm bừa là hướng tới thừa phụng; buông bừa là chẳng hướng tới thừa phụng. Nhờ có cái công hướng tới thừa phụng từ trước, nên đến đây bỗng quên đi, cho nên bảo là buông bỏ bừa xuống. Câu sau biểu thị khế nhập chính vị. 4. Về Cộng công: Sư nói: Chẳng được sắc. Lại nói: Phấn trắng khó giấu đường, Trường an chẳng ở lâu. Cộng công nghĩa là các pháp cùng khởi, cho nên gọi là cộng. Ngài Động sơn nói không được sắc, nghĩa là vị trước còn một sắc thì các pháp đều ẩn, vị này thì một sắc đã mất hết nên các pháp đều hiện, một sắc cũng không thể được lại nữa. 5. Về Công công: Sư nói: Chẳng cộng. Lại nói: Lẫn lộn chẳng kiêng kị, ngoài đây lại cầu gì? Công công nghĩa là công này sâu xa hơn công của vị trước, cho nên gọi là Công công. Do vị trước có cộng nên vị này chẳng cộng, pháp chẳng thể được mà phi pháp cũng chẳng thể được, lí sự hòa nhập tuyệt không dấu vết, đó là chỗ cùng tột của Phật đạo. Tuy nhiên, vẫn còn gọi Công là bởi vì việc hướng thượng cũng thuộc sức người tạo ra. Vì thế, Ngũ vị này nhằm nêu rõ thứ bậc công phu tu hành của người học, tức trước hết là qui hướng, kế đến là thừa phụng và cuối cùng là được công công bất cộng. Trong Bất năng ngữ chính thiên ngũ vị thuyết, vị tăng Nhật bản là ngài Chỉ nguyệt Tuệ ấn (1689 - 1764) cho rằng, về hình thức thì Công huân ngũ vị giống với Chính thiên ngũ vị, nhưng về nghĩa thì hơi khác: Chính thiên ngũ vị nhằm hiển bày rõ cái đức dụng tự tại của pháp, còn Công huân ngũ vị thì xiển minh về đầu tiên và cuối cùng của Công, thuần thục hay chưa thuần thục của Tu, trọng điểm là ở nơi Thiên. III. Quân Thần Ngũ Vị. Về sau, thiền sư Tào sơn Bản tịch mượn nghĩa vua và bầy tôi để thuyết minh ý chỉ của Ngũ vị gọi là Quân thần ngũ vị: 1. Quân(vua): Diệu đức tràn hoàn vũ, sáng tỏ khắp thái hư. Chỉ cho cõi hư không xưa nay vốn chẳng có một vật gì, dụ cho Chính vị, tương đương với Chính trung lai trong Chính thiên ngũ vị và với Công trong Công huân ngũ vị. 2. Thần(bầy tôi): Linh cơ hoằng đạo Thánh, chân trí lợi quần sinh. Vâng mệnh vua, mở mang Thánh đạo, hiển hiện tất cả muôn tượng sum la: Chỉ cho cõi sắc thiên hình vạn tượng, dụ cho Thiên vị, tương đương với Thiên trung chí trong Chính thiên ngũ vị và với Cộng công trong Công huân ngũ vị. Đây là nhị nguyên âm và dương, bản giác và bất giác đối lập nhau. 3. Thần hướng quân (bầy tôi hướng lên vua): Không rơi vào ngả khác, chú tâm trông Thánh dung. Bầy tôi chuyên vâng thờ vua, trung thành không phân giai cấp sai biệt; chỉ cho việc bỏ sự vào lí, tương đương với Chính trong thiên hướng thượng hoàn diệt và với Phụng trong Công huân ngũ vị. Chính trong thiên ở đây tức là Chính vị đem tất cả sự tướng sai biệt qui về thế giới bình đẳng vô sai biệt. 4. Quân thị thần(vua đối với bầy tôi): Vẻ mặt tuy không động, rạng rỡ vốn chẳng thiên. Vua đối với bầy tôi công bằng không thiên vị, thương quí tất cả, tức là từ trong lí đi vào sự, tương đương với Thiên trong chính hướng hạ duyên khởi và với Hướng trong Công huân ngũ vị. 5. Quân thần đạo hợp(đạo vua tôi hợp nhất): Dung nhập chẳng trong ngoài, hòa đồng không trên dưới. Đạo vua tôi hòa hợp thì thiên hạ thái bình, nghĩa là ngầm ứng hợp với mọi duyên mà không rơi vào các ngả, tương đương với Kiêm trung đáo trong Chính thiên ngũ vị và với Công công trong Công huân ngũ vị. Tức là động tĩnh hợp nhất, sự lí bất nhị, là vị của đạo Đại giác cùng tột, chẳng chính chẳng thiên vậy. [X. Viên giác kinh lược sao Q.1; Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục; Ngũ đăng hội nguyên Q.12, Q.13; Cổ tôn túc ngữ lục Q.11; Thiền tông chính mạch Q.7, Q13; Bảo kính tam muội bản nghĩa].
động sơn ngũ vị hiển quyết
3873全一篇。唐代洞山良价作,宋代慧霞編。係述說正中偏之五位。全文內容如下(大四七‧五四一下):「正位卻偏,就偏辨得、是圓兩意。偏位雖偏,亦圓兩意,緣中辨得,是有語中無語。或有正位中來者,是無語中有語。或有偏位中來者,是有語中無語。或有相兼帶來者,這裏不說有語無語,這裏直須正面而去,這裏不得不圓轉,事須圓轉。然在途之語總是病,夫當人先須辨得語句,正面而去,有語是恁麼來,無語是恁蛱去。作家中不無言語,不涉有語無語,這個喚作兼帶語,兼帶語全無的的也。他智上座臨遷化時,向人道:『雲巖不知有,我悔當時不向伊說。雖然如此,且不違於藥山蔡子。』看他智上座,合作麼生老婆也!南泉曰:『異類中行,且密闍黎不知有。』」其中,最初之一百五十一字,乃說明正中偏之五位,其他如「智上座」以下,則是論師承之部分。全文收在撫州曹山本寂禪師語錄卷下。本篇之註疏較重要者有曹山本寂之諫、五位顯訣元字腳(洞水)、五位顯訣耕雲註種月捃摝藁(傑堂能勝等)、五位顯訣參註(本光瞎堂)。
; (洞山五位顯訣) Có 1 quyển, do thiền sư Động sơn Lương giới soạn vào đời Đường, ngài Tuệ hà biên tập vào đời Tống, được chép trong Phủ châu Tào sơn Bản tịch thiền sư ngữ lục quyển hạ, Đại chính tạng tập 47. Nội dung trình bày về năm vị Thiên trong chính. Toàn văn như sau: Vị chính nhưng lại thiên, theo thiên phân biện được, đó là đủ hai ý. Vị thiên tuy là thiên, nhưng cũng đủ hai ý, trong duyên phân biện được, là không nói trong có nói. Hoặc có người trong vị chính mà đến (lai), là có nói trong không nói. Hoặc có người trong vị thiên mà đến, là không nói trong có nói. Hoặc có người từ vị chính, vị thiên cùng đến, thì chỗ này không kể có nói hay không nói, phải ngay nơi chính diện mà đi (khứ), chỗ này không thể không xoay chuyển một cách viên mãn, vì là sự nên cần phải xoay chuyển viên mãn. Nhưng lời nói giữa đường đều là bệnh, phàm người trong cuộc, trước hết phải biện biệt được câu nói, chính diện mà đi, có nói là đến như thế, không nói là đi như thế. Người trong nhà không thể không nói, nhưng nói mà không bị vướng mắc vào lời nói thì cũng như không nói, cái đó gọi là kiêm đới ngữ (nói mà như không nói), kiêm đới ngữ hoàn toàn không nhằm mục đích gì. Khi thượng tọa Trí sắp tịch, nói với mọi người rằng: Vân nham chẳng biết có, ta hối hận lúc đó đã chẳng nói gì với ông ấy. Tuy nhiên như thế, nhưng cũng chẳng trái với con rùa Dược sơn. Xem Thượng tọa Trí tại sao từ bi đến thế! Ngài Nam tuyền nói: Đi giữa các loài khác mà Xà lê Mật chẳng biết có. Trong toàn bản văn trên đây, 151 chữ đầu là thuyết minh về năm vị Thiên trong chính, còn từ câu Thượng tọa Trí trở xuống là nói về phần truyền thừa. Sách này có nhiều bản chú sớ, nhưng quan trọng hơn cả thì có: Tào sơn Bản tịch chi gián, Ngũ vị hiển quyết nguyên tự cước (Động thủy), Ngũ vị hiển quyết canh vân chú chủng nguyện quấn lộc cảo (Kiệt đường Năng thắng...), Ngũ vị hiển quyết tham chú (Bản quang Hạt đường).
động sơn ngũ vị tụng
3869係對洞山所創倡偏正五位之逐位頌。一般認爲係由洞山頌出,然洞山五位顯訣之編者慧霞,則謂「先曹山本寂禪師逐位頌并註別揀」,依其意,頌應爲曹山之作。其頌云(大四七‧五二五下):「正中偏,三更初夜月明前,莫怪相逢不相識,隱隱猶懷舊日嫌。偏中正,失曉老婆逢古鏡,分明覿面別無真,休更迷頭猶認影。正中來,無中有路隔塵埃,但能不觸當今諱,也勝前朝斷舌才。兼中至,兩刃交鋒不須避,好手猶如火裏蓮,宛然自有沖天志。兼中到,不落有無誰敢和?人人盡欲出常流,折合還歸炭裏坐。」 又洞山別作功勳五位之說,乃向、奉、功、共功、功功等五修行之功果、階段。其頌云(大四七‧五二五下):「聖主由來法帝堯,御人以禮曲龍腰,有時鬧市頭邊過,到處文明賀聖朝。淨洗濃粧爲阿誰?子規聲裏勸人歸,百花落盡啼無盡,更向亂峰深處啼。枯木花開劫外春,倒騎玉象趁麒麟,而今高隱千峰外,月皎風清好日辰。眾生諸佛不相侵,山自高兮水自深,萬別千差明底事,鷓鴣啼處百花新。頭角纔生已不堪,擬心求佛好羞慚,迢迢空劫無人識,肯向南詢五十三。」〔曹洞二師錄卷下〕
; (洞山五位頌) Những bài kệ tụng về Ngũ vị của ngài Động sơn Lương giới. Có hai loại: Chính thiên ngũ vị tụng và Công huân ngũ vị tụng. 1. Chính Thiên Ngũ Vị Tụng. Thông thường những bài tụng này được công nhận là tác phẩm của thiền sư Động sơn Lương giới, nhưng theo ngài Tuệ hà, người biên tập Động sơn ngũ vị hiển quyết, thì đầu tiên, thiền sư Tào sơn Bản tịch theo từng vị trong Ngũ vị mà làm các bài tụng và bình chú. Như vậy, những bài tụng này là của ngài Tào sơn chứ không phải của ngài Động sơn. Toàn văn các bài kệ Ngũ vị như sau: - Chính trung thiên: Đầu hôm canh ba trăng vằng vặc. Chớ trách gặp nhau chẳng nhận ra. Âm thầm vẫn nhớ cảnh đẹp qua. - Thiên trung chính: Bà già lóa mắt soi gương cũ. Rõ ràng chẳng thấy được chân dung. Thôi chớ mê mờ nhận lầm bong. - Chính trung lai: Trong không có lối cách hồng trần. Nay cần chẳng phạm điều cấm kị. Cắt lưỡi dài hơn cả cổ nhân. - Thiên trung chí: Hai kiếm giao nhau chẳng sợ phiền. Cao tay nào khác sen trong lửa. Rõ ràng tự có chí xung thiên. - Kiêm trung đáo: Chẳng dính có không ai dám đương? Người người thảy muốn thoát dòng thường. Tan hợp trở về ngồi tro lạnh. 2. Công Huân Ngũ Vị. Những bài tụng nói về 5 giai đoạn và công quả tu hành theo thứ tự 5 vị: Hướng, Phụng, Công, Cộng công và Công công, được chép trong Đại chính tạng tập 47, trang 525. Hướng: Minh chúa xưa nay học Đế Nghiêu. Cầu hiền trọng sĩ diệt tâm kiêu. Những khi qua chốn dân huyên náo. Xứ xứ tung hô chúc Thánh triều. Phụng: Vì ai rửa sạch vết điểm trang. Khuyên người trở lại, quốc kêu vang. Trăm hoa rụng hết còn kêu mãi. Tiếng gọi ngân xa ngút tận ngàn. Công: Cây khô hoa nở chẳng cần xuân. Voi kia cưỡi ngược đuổi kì lân. Hôm nay cao ẩn ngoài nghìn núi. Gió mát trăng thanh đẹp vạn lần. Cộng công: Chúng sinh với Phật chẳng như nhau. Núi tự cao mà nước tự sâu. Nghìn sai muôn khác đều rõ suốt. Hoa nở chim ca cảnh nhiệm mầu. Công công: Đầu mới mọc sừng đã khó kham. Rắp tâm cầu Phật lại càng lầm. Kiếp không thăm thẳm nào ai biết. Muốn tìm tri thức hướng về Nam. [X. Tào động nhị sư Q.hạ].
động sơn ngộ bản đại sư ngữ lục
3876全一卷。唐代洞山良价撰。收於大正藏第四十七冊。又稱洞山良价禪師語錄,略稱洞山錄。本書被視爲曹洞禪最重要之語錄。內容收錄上堂、示眾、舉古、問答等一二○則,歌頌有十一種。曹洞禪綿密之禪風橫溢於全書,爲了解我國曹洞禪風最具代表性之資料。
; (洞山悟本大師語錄) Cũng gọi Động sơn lương giới thiền sư ngữ lục. Gọi tắt: Động sơn lục. Có 1 quyển, do thiền sư Động sơn Lương giới soạn vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung có 120 tắc, gồm các mục: Thướng đường, Thị chúng, Cử cổ, Vấn đáp v.v... và 11 loại thi ca kệ tụng. Sách này được xem là bộ ngữ lục trọng yếu nhất của Thiền Tào động và là tư liệu quí báu cho việc tìm hiểu về phong cách của dòng Thiền này.
động sơn phất tụ xuất khứ
3876禪宗公案名。此則公案爲百顏明哲與洞山良价、密師伯之問答機緣。景德傳燈錄卷十四(大五一‧三一五下):「洞山與密師伯到參,師(百顏)問曰:『闍黎近離什麼處?』洞山曰:『近離湖南。』師曰:『觀察使姓什麼?』曰:『不得姓。』師曰:『名什麼?』曰:『不得名。』師曰:『還治事也無?』曰:『自有郎幕在。』師曰:『豈不出入?』洞山便拂袖去。師明日入僧堂曰:『昨日對二闍梨一轉語不稔,今請二闍梨道,若道得,老僧便開粥飯相伴過夏。速道!速道!』洞山曰:『太尊貴生!』師乃開粥共過一夏。」此則公案係洞山對百顏提示純真獨露、無出入去來、不染污之本來面目。
; (洞山拂袖出去) Tên công án trong Thiền tông. Động sơn phất tay áo bỏ đi. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa các ngài Bách nham Minh triết và Động sơn Lương giới cùng với Mật sư bá. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14 (Đại 51, 315 hạ) chép: Động sơn cùng với Mật sư bá đến tham yết, sư (Bách nham) hỏi: - Gần đây xà lê đi đâu? Động sơn đáp: - Đi Hồ nam. Sư hỏi: - Quan sát sứ họ gì? Động sơn đáp: - Không có họ. Sư lại hỏi: - Tên gì? Động sơn trả lời: - Không có tên! Sư hỏi: - Có làm việc dân hay không? Động sơn đáp: - Tự có quan ở trong trướng. Sư hỏi: - Thế không ra vào à? Động sơn phủi tay áo bỏ đi. Hôm sau, ngài Bách nham Minh triết vào Tăng đường nói: - Hôm qua hai vị Xà lê chưa đáp đúng một câu chuyển ngữ, nay mời hai vị nói, nếu nói được, Lão tăng mời ở lại cùng làm bạn qua an cư. Nói mau! Nói mau! Động sơn nói: - Rất tôn quí! Ngài Bách nham liền mời hai vị ở lại.
động sơn phật hướng thượng sự
3875禪宗公案名。景德傳燈錄卷十五(大五一‧三二二下):「師(洞山良价)有時云:『體得佛向上事,方有些子語話分。』僧便問:『如何是語話?』師曰:『語話時闍黎不聞。』:曰『和尚還聞否?』師曰:『待我不語話時即聞。』」所謂佛向上事,即佛之真相實態。洞山教示以佛道修行具現之,始能體會、了知佛向上事。(參閱「洞山垂語」3876)
; (洞山佛向上事) Công án này thuật lại cơ duyên vấn đáp giữa ngài Động sơn Lương giới với 1 vị tăng. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 15 (Đại 51, 322 hạ), chép: Một hôm, Động sơn Lương giới nói: - Thể ngộ được việc Phật hướng thượng mới có thể nói được một vài lời. Một vị tăng liền hỏi: - Thế nào là nói một vài lời? Sư đáp: - Lúc nói thì Xà lê (tăng) không nghe. Vị tăng lại hỏi: - Thế Hòa thượng có nghe không? Sư đáp: - Đợi lúc ta không nói thì nghe. (xt. Động Sơn Thùy Ngữ).
động sơn quá thuỷ
3878禪宗公案名。乃洞山良价與神山僧密行腳途中,渡河時之問答機緣。五燈會元卷五(卍續一三八‧九三上):「師(神山僧密)與洞山渡水,山曰:『莫錯下腳!』師曰:『錯即過不得也。』山曰:『不錯底事作麼生?』師曰:『共長老過水。』」此公案之要點在於「不錯底事作蛱生」,即問最安全之渡法。答以二人一起渡過,以此顯示尋常之道。此乃最能表現洞山宗風之公案。
; (洞山過水) Tên công án trong Thiền tông. Động sơn qua sông. Công án này tường thuật cơ duyên vấn đáp giữa thiền sư Động sơn Lương giới và ngài Thần sơn Tăng mật khi qua sông. Ngũ đăng hội nguyên quyển 5 (Vạn tục 138, 93 thượng) chép: Thần sơn Tăng mật cùng với Động sơn qua sông, Động sơn bảo: - Coi chừng! Chớ bước lầm! Tăng mật nói: - Lầm thì không qua được. Động sơn hỏi: - Việc không lầm là thế nào? Tăng mật đáp: - Là cùng Trưởng lão qua sông!.
động sơn quá thuỷ ngộ đạo
3878禪宗公案名。洞山良价告辭其師雲巖曇晟,於途中將渡水時,見自己身影,悟而賦偈。景德傳燈錄卷十五載其偈(大五一‧三二一下):「切忌從他覓,迢迢與我疎;我今獨自往,處處得逢渠。渠今正是我,我今不是渠;應須恁麼會,方得契如如。」
; (洞山過水悟道) Động sơn qua sông ngộ đạo. Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về cơ duyên ngộ đạo của thiền sư Động sơn Lương giới. Thiền sư Động sơn Lương giới từ biệt thầy của mình là ngài Vân nham Đàm thạnh để đi tham vấn; một hôm nhân lúc qua sông thấy bóng của mình dưới nước mà đại ngộ, liền làm bài kệ được chép trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 15 như sau (Đại 51, 321 hạ): Theo người khác mà tìm, Mãi mãi vẫn xa nhau; Nay ta đi một mình, Chỗ nào cũng gặp hắn. Nay hắn chính là ta, Ta nay chẳng phải hắn; Phải nên hiểu như thế. Mới khế hợp như như.
động sơn quả tử
3878禪宗公案名。係洞山良价與泰首座之問答機緣。洞山良价禪師語錄(大四七‧五二三上):「師與泰首座冬節喫菓子次,乃問:『有一物,上拄天,下拄地,黑似漆,常在動用中,動用中收不得。且道,過在甚麼處?」泰云:『過在動用中。』師喚侍者掇退菓卓。」真如(一物)爲宇宙一切之原則,一切事物於其中生滅,真如超越生滅而生氣蓬勃地活動;此活動非在動用中,亦非超越動用,洞山所說「有一物」即指真如而言。泰首座答以「過在動用中」,洞山遂斥泰首座於動用中將之固定而執著,故喚侍者掇退果卓。
; (洞山菓子) Động sơn và trái cây. Tên công án trong Thiền tông. Công án này trình bày về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Động sơn Lương giới và Thủ tọa Thái. Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục (Đại 47, 523 thượng), chép: Một ngày mùa đông, Sư cùng với Thủ tọa Thái đang ăn trái cây, Sư hỏi: - Có một vật trên chống trời, dưới chống đất, đen như mun, nó cử động hàng ngày mà nắm bắt không được, vậy ông thử nói xem lỗi ở chỗ nào? Thủ tọa Thái trả lời: - Lỗi ở trong chỗ cử động hàng ngày! Sư gọi thị giả mang mâm trái cây đi. Ở đây, Thủ tọa Thái còn chấp trước sự cử động hàng ngày, nên bị ngài Động sơn chê bằng cách gọi thị giả bưng mâm trái cây đi, biểu thị ý phải lìa bỏ tất cả sự dính mắc mới được giải thoát hoàn toàn.
động sơn tam chủng cương yếu
3868洞山良价所提倡之宗旨可分爲三:(一)敲唱俱行,學人敲叩師門乞教,師家應學人而唱己宗,彼此親密無二。(二)金鎖玄路,菩提涅槃如黃金之美,然爲彼所縛,便如金鎖。玄路,意爲向上一路。若爲法縛、佛縛,滯迷向上一路,即是金鎖玄路。(三)不墮凡聖,滅絕一切對待,出離三界,而得涅槃寂靜。〔五家宗旨纂要卷中、洞上古轍卷上〕
; (洞山三種綱要) Tông chỉ của ngài Động sơn Lương giới có thể chia làm ba điểm cương yếu: 1. Xao xướng câu hành (gõ và xướng cùng thực hành một lúc): Người học gõ cửa xin thầy chỉ giáo, vị thầy tùy theo căn cơ của người học mà đề xướng tông chỉ của mình, hai bên đều khế hợp. 2. Kim tỏa huyền lộ(khóa vàng đường sâu kín): Bồ đề, Niết bàn đẹp như vàng ròng, nhưng nếu chấp trước thì Bồ đề, Niết bàn sẽ trở thành sợi dây vàng trói buộc. Còn đường sâu kín là chỉ cho con đường hướng thượng, nếu chấp trước thì mê mất đường: Đó là nghĩa kim tỏa huyền lộ. 3. Bất đọa phàm Thánh (chẳng rơi vào phàm Thánh): Dứt hết tất cả đối đãi, ra khỏi ba cõi mà được Niết bàn vắng lặng. [X. Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.trung; Động thượng cổ triệt Q.thượng].
động sơn tam cú
3867洞山良价禪師指導學人時所用之三語句,即「向上一句」、「門頭一句」、「超百億一句」。一句,即表示以自己所信之一語句拈提宗旨。(一)向上一句,指導學人,令彼等到達佛向上之境界。佛向上,即不執著於佛之境界且應超越之。(二)門頭一句,於現實之中辨得圓融無礙者;亦即通過差別之事象,開示平等之真理。(三)超百億一句,又作絕續句、不來句、倒底一句,即謂一切究極之當體。〔曹洞五位卷下〕
; (洞山三句) Ba câu nói do thiền sư Động sơn Lương giới dùng khi chỉ dạy người học. Đó là: 1. Hướng thượng nhất cú: Chỉ dẫn người học khiến họ đạt tới cảnh giới Phật hướng thượng. Phật hướng thượng nghĩa là không chấp vào cảnh giới Phật mà phải vượt qua cảnh giới ấy. 2. Môn đầu nhất cú: Ở ngay trong hiện thực mà thấy rõ lí viên dung vô ngại; cũng là thông qua các hiện tượng sai biệt mà mở bày chân lí bình đẳng. 3. Siêu bách ức nhất cú, cũng gọi Tuyệt tục cú, Bất lai cú, Đáo để nhất cú. Nghĩa là chỗ rốt ráo cùng tột. Nhất cú có nghĩa là sử dụng một câu mà mình tin chắc để nêu lên tông chỉ. [X. Tào động ngũ vị Q.hạ].
động sơn tam lộ
3867又作洞宗三路。洞山良价爲接引學人而設之三種手段:(一)鳥道,鳥飛空中,其跡不存,取無蹤跡、斷消息,往來空寂處之意。(二)玄路,玄玄微妙之路。取離言語文字之意。(三)展手,與垂手同義,不止向上一路,更係爲人度生之化他門。前二者屬自受用門,後者則屬他受用門。〔洞山良价禪師語錄、禪學思想史卷上(忽滑谷快天)〕
; (洞山三路) Cũng gọi Động tông tam lộ. Ba phương pháp tiếp dẫn người học do thiền sư Động sơn Lương giới đặt ra. 1. Điểu đạo: Chim bay trong hư không, chẳng để lại dấu vết; hàm ý đạt đến cảnh giới dứt bặt tung tích, tịch diệt vắng lặng. 2. Huyền lộ: Đường sâu kín nhiệm mầu: Cảnh giới lìa ngôn ngữ văn tự. 3. Triển thủ(dang tay), cùng nghĩa với Thùy thủ(thõng tay). Nghĩa là không dừng lại ở con đường hướng thượng, mà trở lại mở cửa phương tiện hóa độ chúng sinh. Hai phương pháp trước thuộc về môn Tự thụ dụng, phương pháp thứ 3 thuộc về môn Tha thụ dụng. [X. Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục; Thiền học tư tưởng sử Q.thượng (Hốt hoạt cốc khoái thiên)].
động sơn tam sâm lậu
3868又作三種滲漏。曹洞宗之祖洞山良价將修行者所易陷之弊害歸納爲三種:(一)見滲漏,猶有我見之意,執著於知之對象,而不見真實。(二)情滲漏,猶存情識之意,取此捨彼,乃含有彼此對立之思維方法。(三)語滲漏,滯礙於語句,不知文字僅爲了悟真理之工具,徒然用心於文字、語言之解明。〔洞山良价禪師語錄〕
; (洞山三滲漏) Cũng gọi Tam chủng sấm lậu. Ba cái hại mà người tu hành dễ mắc phải được thiền sư Động sơn Lương giới nêu ra để cảnh giác người học. Sấm lậu nghĩa là sự rò rỉ thấm ra ngoài. 1. Kiến sấm lậu: Vẫn còn ngã kiến, bám chặt vào cái đối tượng nhận biết nên không thấy được chân thực. 2. Tình sấm lậu: Vẫn còn tình thức phân biệt, lấy cái này bỏ cái kia, còn trong vòng đối đãi. 3. Ngữ sấm lậu: Chấp trước vào ngôn ngữ văn tự chứ không biết đó chỉ là công cụ, tạm thời được dùng để diễn đạt chân lí, cho nên mới luống công phí sức tìm hiểu. [X. Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục].
động sơn tam đốn
3867禪宗公案名。乃洞山守初初參雲門文偃時之問答機緣。三頓即六十棒。洞山初次參謁雲門,詳述行腳之經歷,雲門予以三頓棒。翌日,洞山尚不明白過在何處,遂問;雲門斥謂(大五一‧三八九中):「飯袋子!江西、湖南,便與麼!」洞山始相應性根,於此大悟。此公案乃提示四處行腳,徒然向外求佛法之過誤。〔景德傳燈錄卷二十三洞山守初章〕
; (洞山三頓) Động sơn ba trận đòn (60 gậy). Tên công án trong Thiền tông. Công án này thuật lại cơ duyên vấn đáp giữa ngài Động sơn Thủ sơ khi tham vấn ngài Vân môn Văn yển lần đầu tiên. Động sơn đến tham yết ngài Vân môn lần đầu, thuật rõ những nơi mình đã đi qua, ngài Vân môn bảo ta phải cho ông ba trận đòn. Động sơn vẫn không hiểu rõ là mình có lỗi ở chỗ nào, hôm sau bèn đến hỏi lại. Ngài Vân môn mắng rằng (Đại 51, 389 trung): Đồ túi cơm! Ông đã đi khắp Giang tây, Hồ nam mà vẫn như thế à!. Ngay câu nói đó, Động sơn đại ngộ. Trong công án này, sự sai lầm của Động sơn từ trước là ở chỗ đi khắp nơi để mong tìm cầu Phật pháp ở ngoài mình. [X. chương Động sơn Thủ sơ trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.23].
động sơn thuyết tâm thuyết tính
3878禪宗公案名。神山僧密與洞山良价之問答機緣。洞山良价禪師語錄(大四七‧五二一中):「師與神山行次,指路傍院云:『裏面有人說心說性。』神山云:『是誰?』師云:『被師伯一問,直得去死十分。』神山云:『說心說性底誰?』師云:『死中得活。』」說心說性,乃人間生活之實態。若不提升爲思惟之對象,則可活潑潑地自然流轉;一旦成爲思惟之對象,生命則枯乾衰死。此則公案,以「說心說性底誰」一語將說心說性由概念之枯死還歸於生生流動之生命。
; (洞山說心說性) Động sơn nói tâm nói tính. Tên công án trong Thiền tông. Công án này thuật lại cơ duyên vấn đáp giữa thiền sư Động sơn Lương giới và ngài Thần sơn Tăng mật. Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục (Đại 47, 521 trung), chép: Một hôm, cùng đi với ngài Thần sơn, Sư chỉ vào một Thiền viện bên đường bảo: - Trong ấy có người nói tâm nói tính. Thần sơn hỏi: - Ai vậy? Sư nói: - Bị Sư bá hỏi một câu, ngay đó chết hết mười phần. Thần sơn lại hỏi: - Người nói tâm nói tính thực sự là ai? Sư đáp: - Được cái sống trong cái chết.
động sơn thuỳ ngữ
3876禪宗公案名。洞山良价嘗垂語曰:「須知有佛向上事。」時有僧出問:「如何是佛向上事?」山答曰:「非佛。」所謂佛向上事,即超越佛之意。此公案係洞山爲徹底排除佛之固定化,大膽表現真佛之所在而提示「非佛」一語。〔鐵笛倒吹第七十七則〕(參閱「洞山佛向上事」3875)
; (洞山垂語) Lời dạy của Động sơn. Tên công án trong Thiền tông. Một hôm, ngài Động sơn dạy chúng: Phải biết có việc Phật hướng thượng. Lúc ấy có vị tăng bước ra hỏi: Như thế nào là việc Phật hướng thượng?. Ngài Động sơn trả lời: Không có Phật!. Việc Phật hướng thượng có nghĩa là vượt lên trên Phật. Yếu chỉ của công án này là phá trừ quan niệm cố định hóa Phật để biểu hiện Phật chân thực. (xt. Động Sơn Phật Hướng Thượng Sự).
động sơn thuỷ thâm thiển
3874禪宗公案名。洞山良价禪師與其法嗣雲居道膺渡水時之問答機緣。洞山錄(大四七‧五一三上):「雲居隨師渡水次,師問:『水深多少?』居云:『不濕。』師曰:『麁人。』居云:『請師道。』師曰:『不乾。』」洞山藉「水深多少」一語教示弟子道膺,此水乃指世間之濁水;謂佛弟子對世間濁水或深或淺,皆當受取,如雲居之自淨其身並非正確。
; (洞山水深淺) Động sơn hỏi sông sâu hay cạn. Tên công án trong Thiền tông. Công án này thuật lại cơ duyên vấn đáp giữa ngài Động sơn Lương giới và đệ tử là sư Vân cư Đạo ưng khi thầy trò qua sông. Động sơn lục (Đại 47, 513 thượng) chép: Một hôm, Vân cư theo thầy qua sông, sư hỏi: - Nước sâu hay cạn? Vân cư đáp: - Không ướt. Sư nói: - Kẻ thô. Vân cư thưa: - Xin thầy dạy. Sư nói: - Không khô.
động sơn thường thiết
3876禪宗公案名。又作洞山那身說法。乃洞山良价對僧有關於三身之問答機緣。從容錄第九十八則(大四八‧二九○下):「僧問洞山:『三身中,那身不墮諸數?』山云:『吾常于此切。』」三身即法身、報身、應身,此係就教理上分析佛身觀,然真實之佛身超越教理之理解,乃於即今即處現成。洞山言「吾常于此切」即表示佛法之究竟。
; (洞山常切) Động sơn thường gần gũi. Cũng gọi Động sơn na thân thuyết pháp. Động sơn thân nào nói pháp. Tên công án trong Thiền tông. Công án này thuật lại cơ duyên vấn đáp giữa ngài Động sơn Lương giới và một vị tăng về ba thân. Thung dung lục tắc 98 (Đại 48, 290 hạ) chép: Vị tăng hỏi ngài Động sơn: - Trong ba thân, thân nào không rơi vào các con số? Ngài Động sơn trả lời: - Ta thường gần gũi với thân ấy. Ba thân tức là Pháp thân, Báo thân và Ứng thân, đây là đứng về phương diện giáo lí mà phân tích thân Phật; tất cả chỉ là những khái niệm. Còn thân Phật chân thực thì vượt ra ngoài các khái niệm. Ngài Động sơn nói Ta thường gần gũi thân ấy là biểu thị chỗ tột cùng của Phật pháp.
Động Sơn Thủ Sơ
(洞山守初, Dōzan Shusho, 910-990): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Lương Nguyên (良源), Phủ Phụng Tường (鳳翔府), họ là Phó (傅). Năm lên 16 tuổi, ông theo tu với Chí Thẩm (志諗) ở Không Động Sơn (崆峒山), Vị Châu (渭州, Tỉnh Thiểm Tây), rồi thọ Cụ Túc giới với Luật Sư Tịnh Viên (淨圓) ở Kinh Châu (涇州, Tỉnh Thiểm Tây). Ban đầu ông học về Luật, sau đến tham cứu với Vân Môn Văn Yển (雲門文偃), cuối cùng cơ duyên khế hợp và được kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm đầu (948) niên hiệu Càn Hựu (乾祐) nhà Nam Hán, thể theo lời cung thỉnh của đại chúng, ông đến trú ở Động Sơn (洞山). Vào năm thứ 6 (981) niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) nhà Tống, ông nhận hiệu Tông (Sùng) Huệ Đại Sư (宗[崇]慧大師). Đến tháng 7 năm đầu (990) niên hiệu Thuần Hóa (淳化), ông thị tịch, hưởng thọ 81 tuổi. Công án “ma tam cân (麻三斤, mè ba cân)” của ông rất nổi tiếng.
động sơn thủ sơ thiền sư ngữ yếu
3874全一卷。五代宋初洞山守初撰。收於卍續藏第一一八冊(古尊宿語錄卷三十八)。由上堂示眾之語要及歌頌而成。問答類似雲門之一字關。
; (洞山守初禪師語要) Có 1 quyển, do ngài Động sơn Thủ sơ soạn vào cuối đời Ngũ đại và đầu đời Tống, thu vào Vạn tục tạng tập 118 (Cổ tôn túc ngữ lục quyển 38). Nội dung gồm các ngữ yếu Thướng đường thị chúng và các bài kệ tụng. Sách được viết theo thể tài vấn đáp giống như Nhất tự quan của ngài Vân môn.
Động Sơn Trí Càn
(洞山致乾, Dōzan Shiken, ?-?): vị Thiền tăng của Phái Hoàng Long thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống, đặc biệt hoạt động vào khoảng thời gian nhà Bắc Tống, pháp từ của Bảo Phong Khắc Văn (寳峰克文). Ông đã từng trú tại Động Sơn (洞山), Thoại Châu (瑞州, Tỉnh Giang Tây).
động sơn trừ danh
3876禪宗公案名。洞山良价禪師語錄(大四七‧五二六中):「師將圓寂,謂眾云:『吾有閑名在世,誰人爲吾除得?』眾皆無對。時沙彌出云:『請和尚法號。』師云:『吾閑名已謝。』」此則公案係表洞山良价謝遣空名,以示真實佛身之接化。〔禪苑蒙求卷中〕
; (洞山除名) Động sơn trừ bỏ cái danh. Tên công án trong Thiền tông. Công án này thuật lại cơ duyên vấn đáp giữa thiền sư Động sơn Lương giới lúc sắp tịch với một vị Sa di. Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục (Đại 47, 526 trung) chép: Lúc sắp viên tịch, Sư bảo mọi người rằng: - Ta có cái hư danh ở đời, ai là người trừ bỏ được nó cho ta? Mọi người đều im lặng, lúc đó có vị Sa di bước ra thưa: - Xin pháp hiệu của Hòa thượng. Sư nói: - Hư danh của ta đã hết. [X. Thiền uyển mông cầu Q.trung].
động sơn tân chủ cú
3878洞山良价以賓主之關係表示佛法之玄妙。主,即正位,表示理態;賓,即偏位,表示事態。凡有四句皆出自洞上古轍卷上:(一)主中主,即理之本體,絕能所之對立者。洞山謂(卍續一二五‧三五九上):「東宮雖至嫡,不面聖堯顏。」解:「喻如帝王深居九重之內也。」(二)主中賓,從理之本體發出事態。洞山謂:「龍樓鋪草座。」解:「喻如臣相奉命而出者也。」(三)賓中主,一切事態皆以理之本體爲基本。洞山謂:「茅戶挂珠簾。」解:「如鬧市裏天子也。」(四)賓中賓,事態即爲事態,絕能所之對立;亦即體用相違,全未有主。洞山謂:「蕩子無家計,飄零不自知。」解:「喻如化外之民,無主之客也。」
; (洞山賓主句) Bốn câu nói về mối quan hệ giữa chủ và khách do thiền sư Động sơn Lương giới đặt ra để hiển bày lí sâu kín mầu nhiệm của Phật pháp. Chủ, tức là vị Chính, tượng trưng cho Lí; Khách, tức là vị Thiên, tượng trưng cho Sự. Động thượng cổ triệt quyển thượng nêu bốn câu như sau: 1. Chủ trong chủ, tức là bản thể của Lí, dứt hết đối đãi Năng và Sở. Ngài Động sơn nói (Vạn tục 125, 359 thượng): Đông cung tuy là đích tử, nhưng chẳng gặp được Thánh Nghiêu. Giải: Ví như vua ở trong thâm cung rất nghiêm ngặt. 2. Khách trong chủ, từ trong bản thể của Lí hiển hiện ra Sự. Ngài Động sơn nói: Lầu rồng trưng bày tòa cỏ. Giải: Ví như bầy tôi vâng mệnh vua mà xuất hiện. 3. Chủ trong khách, tất cả Sự đều lấy bản thể của Lí làm nền tảng. Ngài Động sơn nói: Nhà tranh treo mành quế. Giải: Ví như Thiên tử ở trong chỗ chợ búa ồn ào. 4. Khách trong khách, Sự tức là Sự, dứt đối đãi Năng và Sở. Cũng tức là thể dụng trái nhau, hoàn toàn chưa có vị Chủ. Ngài Động sơn nói: Lãng tử không nhà cửa, nổi trôi chẳng tự hay. Giải: Ví như dân ở ngoài phạm vi giáo hóa và chính trị của triều đình, là khách không có chủ.
động sơn tứ cú
3874指洞山守初禪師所提倡之四句。(一)言無展事,謂言語非能開示事實,須於言語之外多方理會。(二)語不投機,謂一切言語不投合來機,須於語句之間自得妙悟。(三)承言者喪,以文字言句來承當佛祖之一大事者,反因之而失卻真意。(四)滯句者迷,真理非依文句言字而妙悟,故拘泥言語反易迷昧。〔洞山守初禪師語錄(古尊宿語錄卷三十八)、五家宗旨纂要卷中洞山初有四句條〕
; (洞山四句) Bốn câu do thiền sư Động sơn Thủ sơ đề xướng. Đó là: 1. Ngôn vô triển sự: Lời nói không hiển bày được sự thực, phải vượt ra ngoài lời nói mới có thể lãnh hội được. 2. Ngữ bất đầu cơ: Tất cả lời nói không trúng hợp với căn cơ, nên ở giữa các câu nói phải tự diệu ngộ. 3. Thừa ngôn giả táng: Văn tự ngôn ngữ được dùng để đảm đương đại sự của Phật tổ; nhưng trái lại, cũng nhân đó mà mất đi chân ý. 4. Trệ cú giả mê: Không thể nương vào văn tự ngữ ngôn mà diệu ngộ được chân lí, cho nên cố chấp vào lời nói thì dễ bị mê muội. [X. Động sơn Thủ sơ thiền sư ngữ lục (Cổ tôn túc ngữ lục Q.38); mục Động sơn Sơ hữu tứ cú trong Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.trung].
động sơn vô hàn thử
3877禪宗公案名。又作洞山寒暑迴避、洞山寒熱不到。乃洞山良价寓寒暑以示學人超脫生死之事。碧巖錄第四十三則(大四八‧一八○上):「僧問洞山:『寒暑到來,如何迴避?』山云:『何不向無寒暑處去?』僧云:『如何是無寒暑處?』山云:『寒時寒殺闍黎,熱時熱殺闍黎。』」洞山以寒暑喻生死,謂寒時安住於寒處,熱時安住於熱處,無有分別,始得自由;即提示於生死中得解脫之妙處。
; (洞山無寒暑) Động sơn không lạnh nóng. Cũng gọi Động sơn hàn thử hồi tị, Động sơn hàn nhiệt bất đáo. Tên công án trong Thiền tông. Công án này thuật lại cơ duyên vấn đáp giữa thiền sư Động sơn Lương giới và một vị tăng về cái lạnh và nóng. Bích nham lục tắc 43 (Đại 48, 180 thượng) chép: Có vị tăng hỏi ngài Động sơn: - Khi lạnh nóng đến thì tránh vào đâu? Sư đáp: - Sao ông không đến chỗ không lạnh không nóng mà tránh? Vị tăng lại hỏi: - Thế nào là chỗ không lạnh không nóng? Sư trả lời: - Lúc lạnh thì lạnh chết xà lê, mà lúc nóng cũng nóng chết xà lê!. Lạnh nóng ví dụ sinh tử. Chỗ giải thoát mầu nhiệm là ở ngay trong sinh tử mà liễu thoát sinh tử.
động sơn vô thốn thảo
3877禪宗公案名。又作洞山無草、洞山初秋。石霜慶諸與大陽警玄對洞山良价之示眾添加評語之公案。從容錄第八十九則(大四八‧二八五上):「洞山示眾云:『秋初夏末,兄弟或東或西,直須向萬里無寸草處去。』又云:『只如萬里無寸草處,作麼生去?』石霜云:『出門便是草。』大陽云:『直道不出門,亦是草漫漫地。』」洞山於夏末初秋之間,教示行腳僧向解脫處而努力,又示以如何行去。無寸草處即無妄念之處。石霜所說,意謂妄念乃必然,無可避免,若特意逃避即是妄念,亦即顯示本來無妄念之實態。大陽之評,比石霜更爲徹底,謂此處即是,更無出不出門之問題。
; (洞山無寸草) Động sơn không tấc cỏ. Cũng gọi Động sơn vô thảo, Động sơn sơ thu. Công án này nói về lời dạy chúng của thiền sư Động sơn Lương giới và lời bình của các ngài Thạch sương Khánh chư và Đại dương Cảnh huyền. Thung dung lục tắc 89 (Đại 48, 285 thượng) chép: Ngài Động sơn dạy mọi người rằng: ‘Cuối mùa hạ đầu mùa thu, anh em hoặc đi đông hoặc đi tây, nên đi đến nơi muôn dặm không tấc cỏ’. Ngài lại nói: ‘Nhưng mà nơi muôn dặm không tấc cỏ ấy làm sao mà đi đến được?’. Thạch sương nói: ‘Ra khỏi cửa liền là cỏ’. Đại dương bảo: ‘Nói cho ngay chẳng ra khỏi cửa cũng là cỏ mọc tràn lan’. Nơi không tấc cỏ tức là không có vọng niệm. Theo ngài Thạch sương thì vọng niệm là tất nhiên, không thể tránh khỏi, nếu cố ý tránh vọng niệm thì chính đó là vọng niệm, cũng tức là hiển bày cái lí xưa nay vốn không vọng niệm. Ngài Đại dương còn triệt để hơn, bảo ngay chỗ này là không tấc cỏ, chứ chẳng có vấn đề ra khỏi hay không ra khỏi cửa.
động sơn điểu đạo
3877禪宗公案名。係洞山巧示修行佛法之理想方法。洞山悟本禪師語錄(大四七‧五一一上):「僧問:『師尋常教學人行鳥道,未審如何是鳥道?』師曰:『不逢一人。』云:『如何行?』師曰:『直須足下無私去。』云:『秖如行鳥道,莫便是本來面目否?』師曰:『闍黎因甚顛倒?』云:『甚麼處是學人顛倒?』師曰:『若不顛倒,因甚麼卻認奴作郎?』云:『如何是本來面目?』師曰:『不行鳥道。』」鳥道比喻不染污之行,即指不留痕跡自由無礙之佛道修行,昔來皆作「沒蹤跡」、「斷消息」。此則以鳥飛完全不留蹤跡而作喻。對於僧之問「如何是鳥道」,洞山之答即示此。然若執著鳥道,即非鳥道,故洞山更示以「不行鳥道」,以脫卻其執著。〔五燈會元卷十三〕
; (洞山鳥道) Động sơn đường chim. Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về phương pháp khéo léo mà ngài Động sơn dùng để hướng dẫn người tu hành Phật đạo. Động sơn ngộ bản thiền sư ngữ lục (Đại 47, 511 thượng) chép: Có vị tăng hỏi: - Bình thường thầy dạy người học đi đường chim, chưa rõ thế nào là đường chim? Sư bảo: - Chẳng gặp một người. Vị tăng hỏi: - Đi như thế nào? Sư đáp: - Phải ngay dưới chân không một việc riêng khác. Vị tăng thưa: - Đi đường chim, có phải là bản lai diện mục không ạ? Sư hỏi lại: - Xà lê vì đâu mà quá điên đảo? Vị tăng thưa: - Con điên đảo ở chỗ nào? Sư nói: - Không điên đảo tại sao lại nhận đầy tớ làm chủ? Vị tăng hỏi: - Thế nào là bản lai diện mục? Sư bảo: - Chẳng đi đường chim! Điểu đạo (đường chim) trong công án này là ví dụ hạnh không nhiễm ô. Tức chỉ cho sự tu hành Phật đạo một cách tự tại vô ngại, không để lại dấu vết gì, không chấp trước phương tiện nào. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.13].
động sơn đào mễ thoại
3877禪宗公案名。雪峰義存於洞山良价會下作飯頭時,洞山與雪峰之問答機緣。洞山良价禪師語錄(大四七‧五二一下):「雪峰作飯頭,淘米次,師問:『淘沙去米?淘米去沙?』雪峰云:『沙米一時去。』師云:『大眾喫箇甚麼?』雪峰遂覆卻米盆。師云:『據子因緣,合在德山。』」此則公案要點爲「淘去」,淘去處即爲佛法修行之眼目。沙、米可作種種解釋,或謂煩惱、菩提,或謂俗諦、真諦。洞山對雪峰撥無一蹴而去一切對立之激烈氣質,視透其適合於德山,遂勸其往德山門下。此公案乃顯示洞山於法(真理)無私心之親切作風。
; (洞山淘米話) Động sơn nói về việc đãi gạo. Tên công án trong Thiền tông. Công án này kể lại cơ duyên vấn đáp giữa thiền sư Động sơn Lương giới và ngài Tuyết phong Nghĩa tồn. Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục (Đại 47, 521 hạ) chép: Tuyết phong làm Phạn đầu (người trông nom việc cơm cháo), có lần đang đãi gạo, sư hỏi: - Ông đãi lấy cát bỏ gạo hay đãi lấy gạo bỏ cát? Tuyết phong đáp: - Cát và gạo đều bỏ hết! Sư nói: - Thế đại chúng lấy gì ăn? Tuyết phong bèn đậy rá gạo lại. Sư nói: - Cứ theo nhân duyên này, ta thấy ông thích hợp với Đức sơn. Câu nói sau cùng cho thấy tấm lòng thân thiết chân thành của thiền sư Lương giới đối với ngài Tuyết phong.
động sơn đáo đỉnh ma
3875禪宗公案名。洞山良价禪師與僧之問答機緣。此則公案敘述洞山假託僧之遊山,勘驗其行履(本來面目)之接化方式。洞山良价禪師語錄(大四七‧五二三下):「師問僧:『甚處來?』云:『遊山來。』師云:『還到頂麼?』云:『到!』師云:『頂上有人麼?』云:『無人。』師云:『恁麼則不到頂也。』云:『若不到頂,爭知無人?』師云:『何不且住?』云:『某甲不辭住,西天有人不肯。』師云:『我從來疑著這漢。』」
; (洞山到頂麽) Động sơn đến đỉnh núi không? Tên công án trong Thiền tông. Công án này thuật lại cơ duyên vấn đáp giữa thiền sư Động sơn Lương giới với một vị tăng. Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục (Đại 47, 532 hạ) chép: Sư hỏi vị tăng: - Ông đi đâu về? Tăng đáp: - Dạo núi về. Sư hỏi: - Có lên đến đỉnh không? Tăng nói: - Lên đến! Sư hỏi: - Trên đỉnh có người không? Vị tăng đáp: - Không có người. Sư nói: - Như vậy thì ông chưa lên đến đỉnh rồi. Vị tăng hỏi: - Nếu không lên đến đỉnh thì làm sao biết không có người? Sư hỏi: - Thế tại sao không ở lại? Vị tăng đáp: - Con đâu có ngại, nhưng Tây thiên có người không chịu. Sư nói: - Trước nay ta đã ngờ gã này.
động sơn đại sự
3868禪宗公案名。洞山良价禪師與僧之問答機緣。洞山錄(大四七‧五一一下):「師問僧:『世間何物最苦?』僧云:『地獄最苦。』師曰:『不然!』云:『師意如何?』師曰:『在此衣線下不明大事,是名最苦。』」洞山提示生死之根本問題未能解決爲最苦;謂人眩惑於目前之事物而不究真實。衣線下,指袈裟,引申爲修行佛道之事。〔五燈會元卷十三、虛堂集卷一〕
; (洞山大事) Việc lớn của Động sơn. Tên công án trong Thiền tông. Công án này tường thuật về cơ duyên vấn đáp giữa thiền sư Động sơn Lương giới với một vị tăng. Động sơn lục (Đại 47, 511 hạ), ghi: Sư hỏi vị tăng: - Thế gian cái gì khổ nhất? Vị tăng đáp: - Địa ngục khổ nhất. Sư nói: - Không đúng! Vị tăng lại hỏi: - Ý sư thế nào? Sư nói: - Ngay dưới lớp áo ca sa này không rõ được việc lớn, ấy là khổ nhất. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.13; Hư đường tập Q.1].
động sơn địa thần
3874禪宗公案名。有關洞山良价禪師與土地神之故事。洞山住持僧院期間,不令土地神窺知其蹤跡。一日見僧拋散米粒,念頭一動,終被得知。碧巖錄第九十七則(大四八‧二二一上):「洞山和尚一生住院,土地神覓他蹤跡不見。一日,廚前拋撒米麵,洞山起心曰:『常住物色,何得作踐如此?』土地神遂得一見,便禮拜。」
; (洞山地神) Động sơn và Thần đất. Tên công án trong Thiền tông. Công án này kể lại sự tích Địa thần được thấy thiền sư Động sơn Lương giới. Bích nham lục tắc 97 (Đại 48, 221 thượng), chép: Trong suốt thời gian hòa thượng Động sơn ở tăng viện, Thổ thần không tìm thấy vết tích của ngài. Bỗng một hôm, thấy mấy hạt gạo rơi rớt ở trước nhà bếp, ngài Động sơn khởi tâm, nói: Vật của thường trụ đâu được giẫm đạp như thế? Thổ thần nhân cơ hội ấy mới được thấy ngài, liền lễ bái.
động thượng
3867乃洞山良价禪師所倡導之禪宗,亦用以指曹洞宗。因相對於末師末流而言,故稱洞上。
; See Tào Động.
; (洞上) Thiền tông do thiền sư Động sơn Lương giới sáng lập, cũng dùng để chỉ cho tông Tào động. Vì để phân biệt với các Thiền phái thuộc tông Tào động do các sư đời sau đề xướng, nên gọi là tông Thiền do chính ngài Động sơn khai sinh là Động thượng.
Động Thượng Cổ Triệt
(洞上古轍, Dōjōkotetsu): 2 quyển, trước tác của Vĩnh Giác Nguyên Hiền (永覺元賢) nhà Minh, do Vi Lâm Đạo Bái (爲林道霈) biên tập, san hành trong khoảng thời gian niên hiệu Khang Hy (康熙, 1662-1722). Đây là tác phẩm do Vĩnh Giác Nguyên Hiền―pháp từ của Vô Minh Huệ Kinh (無明慧經)―viết vào năm thứ 17 (1644) niên hiệu Sùng Trinh (崇貞) để đính chính những sai lầm của chư vị cổ đức và truyền đạt cốt tủy tông chỉ của Tào Động Tông. Quyển thượng có Tham Đồng Khế Chú (參同契註), Bảo Kính Tam Muội Chú (寳鏡三昧註), Ngũ Vị Thuyết Chú (五位說註), Thập Huyền Đàm Chú (十玄談註), v.v.; quyển hạ có tựa đề là Tiên Đức Vi Ngôn (先德微言), nêu lên cương lĩnh tông môn của Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀) và thêm vào lời bình xướng.
động thượng cổ triệt
3867凡二卷。又稱永覺和尚洞上古轍。明朝永覺元賢輯,爲霖道霈重編。收於卍續藏第一二五冊。內容係輯錄曹洞宗之古德語要。卷上先釋石頭希遷之參同契及洞山良价之寶鏡三昧。次分洞山五位、五位圖說等目,乃有關五位頌之總輯錄。卷下標先德微言,列舉有關諸師宗綱之語要,以示曹洞宗之宗旨。本書收錄於永覺禪師廣錄卷二十七、卷二十八。〔禪籍目錄、禪學思想史卷下(忽滑谷快天)〕
; (洞上古轍) Cũng gọi Vĩnh giác hòa thượng động thượng cổ triệt. Gồm 2 quyển, do ngài Vĩnh giác Nguyên hiền biên tập vào đời Minh, ngài Vi lâm Đạo bái chép lại, thu vào Vạn tục tạng tập 125. Nội dung thu chép các ngữ yếu của những bậc Cổ đức thuộc tông Tào động. Quyển thượng, trước hết, giải thích về Tham đồng khế của ngài Thạch đầu Hi thiên và về Bảo kính tam muội của ngài Động sơn Lương giới, kế đến, chia ra các mục: Động sơn ngũ vị, Ngũ vị đồ thuyết v.v... là những mục có liên quan đến Ngũ vị tụng. Quyển hạ ghi chép những lời dạy sâu xa của các bậc Tiên đức để nêu rõ yếu chỉ của tông Tào động. Bộ sách này được đưa vào Vĩnh giác thiền sư quảng lục Q.27, 28. [X. Thiền tịch mục lục; Thiền học tư tưởng sử Q.hạ (Hốt hoạt cốc khoái thiên)].
động trước
4393禪林用語。原為動搖之意,此謂心搖動不定、起妄想。碧巖錄第六則(大四八‧一四六中):「空生巖畔花狼籍,彈指堪悲舜若多,莫動著!動著三十棒。」
; (動著) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tâm lay động không định, thường khởi vọng tưởng. Bích nham lục tắc 6 (Đại 48, 183 thượng), nói: Bên động không sinh hoa rơi rắc Thuấn nhã đa thần bỗng buồn thương Chớ dao động!(Mạc động trước!) Dao động thì chịu 30 gậy!
động tĩnh nhị tướng
4394為事物所具有之二種相狀。動為活動之一面,靜為止息之一面。碧巖錄第四十六則(大四八‧一八三上):「所入既寂,動靜二相,了然不生。若道是雨滴聲,也不是;若道不是雨滴聲,也不是。」
; (動靜二相) Tướng động và tướng tĩnh. Động là hoạt động, tĩnh là dừng nghỉ, hai trạng thái của sự vật. Bích nham lục tắc 46 (Đại 48, 183 thượng), nói: Chỗ vào đã vắng lặng, hai tướng động tĩnh rõ ràng chẳng sinh. Nếu nói là tiếng giọt mưa thì không phải, mà nói chẳng phải tiếng giọt mưa cũng không đúng.
Động tức
動息; C: dòngxí; J: tōsoku;|Tiếng Hán dịch chữ samaṇa từ tiếng Pali và chữ śramaṇa từ tiếng Phạn. Xem Sa-môn (沙門).
Động tức 動息
[ja] トウソク tōsoku ||| A Chinese translation of the Pali samaṇa and the Sanskrit śramaṇa. See shamen 沙門. => Tiếng Hán dịch chữ samaṇa từ tiếng Pali và chữ śramaṇa từ tiếng Sanskrit. Xem Sa môn.
động vật
4392佛教經典、故事集中,常以動物表現。其理由有三:(一)業(梵 karma)與輪迴(梵 saṃsāra)思想之影響。(二)精靈崇拜(animism,animatism)之傾向。(三)譬喻、擬人化表現之發達。經典中尤以本生譚(梵 Jātaka)文學為然,每以當時流傳之動物譬喻,講說佛陀前生之功德,此為教化眾生最具效果之方法。 經典中,以動物為主角之寓言,占有重要之地位,如一角仙人故事、六牙白象本生、月中兔本生等,皆為膾炙人口之動物譬喻故事。此外,猿、豬、龜、鹿、象等動物,於本生譚文學中皆深具人性。佛典中以動物為角色者不少,如本生鬘(梵 Jātakamālā)、所行藏(巴 Cariyā-piṭaka)、生經、六度集經、佛本行集經、百喻經、出曜經、撰集百緣經、雜寶藏經、菩薩本行經、菩薩本緣經、菩薩本生鬘論,及經律異相等。另有以親切可愛之動物為題材之譬喻教訓,如盲龜浮木(喻於此世間獲得人身,由聽聞佛法而獲歡喜,誠屬難能可貴)、麟角喻獨覺(喻獨自修行而獲覺悟)、黑白二鼠(又作二鼠嚙藤,喻人類肉體之無常與煩惱之無盡)、師子身中蟲(喻處於佛門中卻破壞佛法者)、蝦蟆禪(喻獨善其身,自得利益之覺悟)、野狐禪(喻虛偽之覺悟者)、人雄師子(佛陀之異名)等。 輪迴轉生思想中之畜生道為三惡道之一,住於因無知而彼此殺害苦多樂少之世界,此即罪業深重者所轉生之處。於六趣說中,另加聲聞、緣覺等四聖,而有十界之說。然雖墮為畜生,仍有主張可成佛者,此即「十界互具說」。大乘佛教特別重視有關動物之佛性及成佛等問題,故有「一切眾生悉有佛性」、「五性各別說」等各種議論產生,如著名的「狗子佛性」之公案。佛陀的傳記中,愛護動物之故事極多,如捨身飼虎、月中兔本生等。不殺生戒為佛教徒所必遵守之最重戒,犯不食肉戒,則斷卻大慈佛性之種子。佛陀曾禁止無意義之馬祠祭(梵 Aśvamedha)。阿育王之碑文中,有關保護動物之記載共有九處,可知阿育王係以佛法之精神為善政之基礎。我國與日本舉行放生會,即為一種愛護動物的精神之儀式化。 伴著萬物有魂之信仰,於印度神話中,亦常可見到動物崇拜。例如以庚申之猿、馬頭之馬、荼吉尼(梵 Ḍākinī,又作稻荷)之狐、金毘羅(梵 Kumbhīra)、象頭人身神(Geneśa)之象,以及龍、蛇等為崇拜之對象,至今於印度尚有視牛為神聖者之風習,鹿野苑(梵 Mṛgadāva)之阿育王石柱柱頭之獅子或牛,印度獨立以後用以象徵國家。
; (動物) Trong các kinh điển và truyện cổ của Phật giáo, các động vật thường được dùng để biểu hiện. Có 3 lí do: 1. Ảnh hưởng của tư tưởng nghiệp (Phạm: karma) và luân hồi (Phạm: saôsàra). 2. Khuynh hướng sùng bái tinh linh (animism, animatism). 3. Ví dụ, biểu hiện sự bắt chước như người. Đặc biệt trong những truyện tiền sinh (Phạm: Jàtaka) của đức Phật, những động vật được lưu truyền ở đương thời thường được dùng làm ví dụ để nói về công đức của Ngài ở các kiếp trước, đây là phương pháp giáo hóa chúng sinh rất có hiệu quả. Những truyện như Vị Tiên một sừng, Voi trắng sáu ngà, Thỏ trong mặt trăng v.v... đều là những truyện rất thú vị. Ngoài ra, những con vật như vượn, lợn (heo), rùa, nai, voi v.v... trong các truyện tiền thân của Phật đều rất có tính người. Rồi những con vật được dùng làm ví dụ trong các truyện ngụ ngôn có tính cách giáo dục như: Rùa mù gặp khúc gỗ nổi (ví dụ ở đời được thân người là khó, được nghe Phật pháp còn khó hơn), Lân giác dụ Độc giác (ví dụ tự tu hành mà được giác ngộ), Hai con chuột đen và trắng (ví dụ thân người ta vô thường), Trùng trong thân sư tử (ví dụ kẻ ở trong cửa Phật phá hoại Phật pháp), Thiền con ếch (ví dụ tự giác ngộ cho mình, không làm lợi ích cho người khác), Thiền con chồn (ví dụ kẻ giác ngộ giả hiệu), Sư tử giữa loài người (từ ngữ tôn xưng đức Phật) v.v... đều rất thân thiết dễ thương. Súc sinh đạo là một trong ba ác đạo, nhưng cũng có thuyết chủ trương súc sinh có thể thành Phật, đó tức là thuyết Thập giới hỗ cụ. Phật giáo Đại thừa đặc biệt xem trọng vấn đề Phật tính và thành Phật của động vật, nên đã nảy sinh các nghị luận như: Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, Năm tính đều khác v.v... mà nổi tiếng nhất là công án Con chó có Phật tính. Giới không giết là giới quan trọng nhất mà tín đồ Phật giáo phải tuân thủ, ăn thịt loài vật là dứt hạt giống từ bi. Trong các văn bia của vua A dục có rất nhiều chỗ nói về việc bảo hộ động vật, điều đó chứng tỏ vua A dục đã lấy tinh thần của Phật pháp làm cơ sở cho nền nhân chính (chính trị được đặt trên nền tảng nhân từ). Các nước theo Phật giáo nói chung, thường tổ chức các hội phóng sinh, đó là tinh thần thương yêu và bảo hộ động vật được nghi thức hóa.
động vật sùng bái
4392屬自然崇拜之一種。始於後期自然宗教,乃狩獵時期原始社會意識之反映。最早期之動物崇拜可溯源至法國南部阿里埃日(Ariēge)魯瓦弗雷爾山(Trois Frēres)舊石器時代遺址洞穴中所發現半人半獸形之獸主像;於小亞細亞薩特勒許餘克(Śatel Hüyük)新石器時代遺址亦發現七千年前之原始祭臺,及雄牛、兀鷹之壁畫,皆顯示動物崇拜之跡象。及至游牧時代,動物崇拜仍繼續發展,如耶教聖經中對猶太人先祖游牧荒野時曾禮拜金牛犢像之描述;甚至在文明社會中,仍殘留有動物崇拜之跡,此可由古代宗教與今存宗教中均有敬拜神牛傳統得窺一二。 各民族動物崇拜之種類,因地方而異。有些人視無鱗之魚為不祥物,視黑魚為七星魚而禁止食用,對貓頭鷹亦不具好感,我國內地崇拜狐狸、黃鼠狼之風俗也很普遍。動物崇拜中,以蛇之崇拜最常見,於史記漢高祖本紀,記載劉邦之母夢與神(蛟)交於大澤之陂而生。劉邦斬蛇,則謂白帝子化為蛇,被赤帝子所斬。又傳說中尚有許多蟒神之故事。龍、麒麟、鳳凰、龜並稱四靈,被信仰為神祕、吉祥之動物。 印度人對於各種鳥獸、爬蟲,皆加以崇拜,尤其是牡牛被視為特別神聖之動物。古印度吠陀時代之雅利安人,同時信仰很多神,動物崇拜中,牽引三界諸神之車,大都為馬神。於梨俱吠陀中,以天父特尤斯(梵 Dyaus)為牡牛形。後來之印度教即以牡牛為毘濕奴之化身而加以崇拜;最初僅將天空之雲層形容為牡牛而想像為神之形狀,後漸以真牛為神之表徵。此外,尚有野羊、犬、野豬、鳥、蛇等動物神,蛇神崇拜則與後來龍之信仰有關。 歸納動物崇拜,有如下幾種類別:(一)以某種動物具有毒性、危險及攻擊力,而成為崇拜對象,如獅子、毒蛇、鱷魚等。(二)經濟性動機,如以某種常食用動物為崇拜對象。(三)具有神祕性、狡猾性等動物之崇拜。(四)認為人死後將成為某種動物,或為其族之祖先而加以崇拜。(五)對於出入於墳墓間動物之崇拜。(六)將動物某種特性與自然神相結合,而被視為神之使者或象徵。
; (動物崇拜) Tín ngưỡng sùng bái động vật bắt đầu vào thời kì sau của tôn giáo tự nhiên phản ánh ý thức xã hội nguyên thủy ở thời kì săn bắn. Sự sùng bái động vật sớm nhất có thể đã bắt nguồn ở ngọn núi Trois Frères tại Ariège ở miền nam nước Pháp, nơi đây, trong di chỉ hang động, người ta đã phát hiện hình tượng nửa người nửa thú thuộc thời kì thứ nhất trong thời kì đồ đá (ère poléolithique). Trong di chỉ Zatel Hüyük tại Trung á thuộc thời đại đồ đá mới (âge néolithique) người ta cũng tìm thấy đài tế lễ thời nguyên thủy và các bức tranh vách vẽ bò đực, chim ưng một chân, đều là những vết tích cho thấy sự sùng bái động vật. Đến thời đại du mục, tín ngưỡng sùng bái động vật vẫn tiếp tục phát triển, như sự miêu tả trong Thánh kinh của Da giáo về việc tổ tiên người Do thái, khi chăn trâu bò dê cừu ngoài đồng, từng lễ bái tượng con nghé vàng. Thậm chí trong các xã hội văn minh vẫn còn sót lại dấu vết của sự sùng bái động vật, điều này cho thấy truyền thống thờ kính bò thần vẫn còn tồn tại trong tôn giáo ngày nay cũng như nó đã tồn tại trong tôn giáo cổ đại. Do tính cách địa phương mà tín ngưỡng sùng bái động vật của các dân tộc có khác nhau. Có những người coi con cá không có vảy là con vật chẳng tốt lành, xem con cá đen là cá Thất tinh (sao Bắc đẩu) và cấm chỉ không được ăn; đối với con chim cắt đầu mèo cũng không có thiện cảm. Trung quốc có phong tục sùng bái cáo chồn, nhưng con vật được người Trung quốc sùng bái nhất là con rắn. Hán Cao tổ bản kỉ trong sách Sử kí ghi rằng, mẹ Lưu bang nằm mộng giao hoan với con thuồng luồng trên bờ chằm Đại trạch mà sinh ra ông. Việc Lưu bang chém rắn thì cho rằng con của Bạch đế hóa làm rắn, bị con của Xích đế chém. Trong truyền thuyết, cũng còn rất nhiều chuyện về thần trăn. Bốn con vật được xem như thần bí và tốt lành là: rồng, kì lân, phượng hoàng và rùa được gọi là Tứ linh. Người Ấn độ đối với các loài chim thú, sâu bọ đều sùng bái, nhất là bò đực được xem như con vật thần. Ở thời đại Phệ đà, người Aryan tin thờ rất nhiều thần, con ngựa được sùng bái như thần kéo xe cho các vị trời trong ba cõi. Thời Lê câu phệ đà, hình Dyaus (bố trời) là hình bò đực. Ấn độ giáo sau này lấy hình bò đực làm hóa thân của thần Tì thấp nô. Lúc đầu chỉ hình dung tầng mây giữa hư không là bò đực mà tưởng tượng đó là hình dáng của thần, về sau thì dần dần lấy bò đực thật tượng trưng cho thần. Ngoài ra, còn có dê rừng, chó rừng, lợn rừng, chim, rắn v.v... cũng được coi là những con vật thần. Riêng sự sùng bái thần rắn thì có quan hệ với tín ngưỡng con rồng sau này. Tóm lại, sự sùng bái động vật có mấy loại khác nhau sau đây: 1. Lấy những động vật có độc tính, có sức mạnh và nguy hiểm làm đối tượng sùng bái, như sư tử, rắn độc, cá sấu v.v... 2. Do động cơ có tính cách kinh tế, như lấy những động vật thường bị ăn thịt làm đối tượng sùng bái. 3. Sùng bái những động vật có tính cách thần bí, khôn lanh. 4. Cho rằng người ta sau khi chết sẽ trở thành một loại động vật nào đó, hoặc động vật ấy là tổ tiên của dòng họ mình nên rất sùng bái. 5. Sùng bái những động vật ra vào giữa các mộ phần. 6. Kết hợp đặc tính của động vật nào đó với thần tự nhiên, rồi coi đó là sứ giả của thần hoặc tượng trưng cho thần mà sùng bái.
Động Âm Đại Đế
(洞陰大帝): một trong Tam Quan (三官), là Thủy Quan Đại Đế (地官大帝), gọi đủ là Hạ Nguyên Giải Ách Thủy Quan Tam Phẩm Động Âm Đại Đế (下元解厄水官三品洞陰大帝), Hạ Nguyên Tam Phẩm Giải Ách Thủy Quan Động Âm Đại Đế (下元三品解厄水官洞陰大帝), lệ thuộc Ngọc Thanh Cảnh (玉清境). Thủy Quan do khí của Phong Trạch (風澤) hòa với tinh của Thần Hạo (晨浩) mà thành, tổng chủ quản các vị thần tiên trong cõi nước. Mỗi năm vào dịp Rằm tháng 10, ông hạ phàm răn dạy tội phước, giải trừ các tai nạn, hạn ách cho con người.
Động Đình
(洞庭): tức Động Đình Hồ (洞庭湖), tên gọi hồ lớn ở miền Bắc Tỉnh Hồ Nam (湖南省), bờ Nam Trường Giang (長江), diện tích 2, 820 km2, được xem như là hồ nước lớn thứ 2 Trung Quốc với tên là Bát Bách Lí Động Đình (八百里洞庭, Động Đình Tám Trăm Dặm). Cả 4 dòng sông Tương (湘), Tư (資), Nguyên (沅) và Lễ (澧) cùng đỗ vào hồ này; tại Huyện Nhạc Dương (岳陽縣), hồ nhập vào Trường Giang. Trong hồ có khá nhiều núi nhỏ, trong đó nổi tiếng nhất là Quân Sơn (君山). Bên bờ hồ có các cổ tích, thắng cảnh như Lầu Nhạc Dương (岳陽樓), v.v. Trong Bát Nghĩa Ký (八義記), phần Sơn Thần Điểm Hóa (山神點化) có câu: “Tam túy Nhạc Dương Nhân bất thức, lãng ngâm phi quá Động Đình Hồ (三醉岳陽人不識、朗吟飛過洞庭湖, say túy Lầu Nhạc Dương người chẳng biết, ngâm nga qua khỏi Hồ Động Đình).” Hay trong Tương Phi Miếu Ký Lược (湘妃廟記略) có giải thích rõ rằng: “Động Đình cái thần tiên động phủ chi nhất dã, dĩ kỳ vi Động Đình chi đình, cố viết Động Đình; toại chỉ Động Đình chi sơn dĩ danh hồ viết Động Đình Hồ (洞庭蓋神仙洞府之一也、以其爲洞庭之庭、故曰洞庭、遂指洞庭之山以名湖曰洞庭湖, Động Đình là một trong các động phủ của thần tiên, do vì nó là cái đình của Động Đình, nên gọi là Động Đình; lại chỉ cho việc lấy tên núi Động Đình đặt cho hồ là Hồ Động Đình).” Trong Sở Từ (楚辭), Cửu Ca (九歌), phần Tương Phu Nhân (湘夫人) có câu: “Niễu niễu hề thu phong, Động Đình ba hề mộc diệp hạ (嫋嫋兮秋風、洞庭波兮木葉下, yểu điệu chừ gió thu, sóng Động Đình chừ dưới lá cây).”
Động 動
[ja] ドウ dō ||| (1) Action, movement, motion (cestā). To do. To act. (2) Quake, tremble, shake, shiver, vibrate (kampita). (3) Perception, awareness, reflection, consideration. (4) Mobility or fluidity which can be seen in wind. The special quality of the element wind (風大). The basic nature of wind. => Có các nghĩa sau: 1. Sự hoạt động , sự chuyển động, sự vận động (s: cestā). Hành động. Hoạt động. 2. Rung động, rung, lay động, rùng mình, rung lên (s: kampita). 3. Sự nhận thức, sự nhận biết, sự suy nghĩ, sự suy xét. 4. Tính chuyển động hay độ loãng có thể thấy được nơi gió. Phẩm chất đặc biệt của Phong đại. Tính chất cơ bản của gió.
đột
1) Đột nhiên: Suddenly—Abruptly—Unexpectedly. 2) Nhô ra: To protrude.
đột biến
To transform suddenly.
đột bà
Dhupa (skt)—Nhang thơm—Incense—Frankincense—Fragrant gum.
đột ca
3924梵名 Durgā。印度教雪山神女化身之一。意譯難近母。爲濕婆之妻子,又爲一獨立之女神─降魔女神,性力派所崇奉主神之一。身著赭衣,騎獅或虎,有八、十或十八隻手,執各種兵器。印度孟加拉省每年春秋兩季均爲之舉行祭祀,爲當地最熱鬧之節日。
; Durga, Bhima, or Marici (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Đột Ca là vợ của Ma Hê Thủ La Thiên, người mà mỗi năm vào mùa thu người ta đều phải dâng cúng thịt người—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Durga is the wife of Mahesvara, to whom human flesh was offered once a year in autumn.
; (突迦) Phạm: Durgà. Dịch ý: Nan cận mẫu (người mẹ khó gần). Hóa thân của nữ thần Tuyết sơn trong Ấn độ giáo, là vợ của thần Thấp bà, cũng là một vị nữ thần độc lập-thần Hàng ma, một trong những vị thần chính do phái Tính lực tôn thờ. Vị thần này mặc áo đỏ, cỡi sư tử hoặc hổ (cọp), có 8, 10 hoặc 18 tay, mỗi tay cầm một loại binh khí. Vào hai mùa xuân và thu mỗi năm, dân chúng của tỉnh Bengal ở Ấn độ đều có tổ chức lễ cúng tế vị thần này.
đột cát la
3924梵語 duṣkṛta,巴利語 dukkaṭa。戒律之罪名。即惡作惡語等諸輕罪。又作突膝吉栗多、突瑟几理多、獨柯多。意譯爲惡作、小過、輕垢、越毘尼。爲五篇之一,六聚戒之一,乃一切輕罪之總稱。於比丘二百五十戒中,屬二不定、百眾學、七滅諍。此外,式叉迦羅尼(梵 śikṣākaraṇīya)亦爲突吉羅之異稱,即學、應學、應當學之意。據唐代法礪之四分律疏卷六本載,突吉羅係就防患未然而命名,式叉迦羅尼則爲對治已犯戒之情形而命名;兩者名稱雖不同,而實爲一事。此罪很輕,只須對一人(故作之時)或對自己責心懺悔(非故作之時)。善見律毘婆沙卷九分八種突吉羅:(一)方便突吉羅,(二)共相突吉羅,(三)重物突吉羅,(四)非錢突吉羅,(五)毘尼突吉羅,(六)知突吉羅,(七)白突吉羅,(八)聞突吉羅。另於大乘戒中,凡殺生戒等重禁之外的其餘諸罪均屬突吉羅罪,例如菩薩地持經卷五所舉之四十二種突吉羅、優婆塞五戒威儀經所舉之三十八種突吉羅、菩薩善戒經(一卷)所舉之五十種失意罪、瑜伽師地論卷四十一所舉之四十四種惡作罪、梵網經卷下所舉之四十八種輕垢罪等均屬之。〔摩訶僧祇律卷二十五、四分律卷五十九〕(參閱「律」3789)
; Duskrta (skt)—Dukkata (p)—Đột Cát Lật Đa—Đột Sắt Kỷ Lý Đa—Ác tác nơi thân nghiệp và khẩu nghiệp (còn gọi là thức-xoa-già-la-ni)—Wrong-doing—Evil action—Misdeed—Sin—External sins of body and mouth, i.e. deed and words.
; (突吉羅) Phạm: duṣkṛta, Pàli: dukkaṭa. Cũng gọi Đột tất cát lật đa, Đột sắt kỉ lí đa, Độc kha đa. Hán dịch: Ác tác, Tiểu quá, Khinh cấu, Việt tì ni. Tên tội trong giới luật, tức những tội nhẹ như ác tác, ác ngữ. Là một trong năm thiên, một trong sáu tụ giới, gọi chung tất cả tội nhẹ. Trong 250 giới của tỉ khưu, Đột cát la bao gồm hai giới bất định, 100 giới chúng học và bảy giới diệt tránh. Ngoài ra, Thức xoa ca la ni giới (Phạm: Zikwàkaraịìya) cũng là tên gọi khác của Đột cát la, nghĩa là học, nên học, cần phải học. Cứ theo Tứ phần luật sớ quyển 6 phần đầu của ngài Pháp lệ đời Đường, thì Đột cát la là đứng về mặt phòng ngừa chưa phạm giới mà đặt tên, còn Thức xoa ca la ni thì vì đối trị trường hợp đã phạm giới mà đặt tên, hai tên gọi tuy khác nhưng sự thực chỉ là một. Tội Đột cát la rất nhẹ, chỉ cần đối trước một người (khi cố ý phạm) hoặc tự tâm mình (khi không cố ý phạm) ăn năn tự trách là được. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 9 chia ra tám loại Đột cát la: 1. Phương tiện đột cát la. 2. Cộng tướng đột cát la. 3. Trọng vật đột cát la. 4. Phi tiền đột cát la. 5. Tì ni đột cát la. 6. Tri đột cát la. 7. Bạch đột cát la. 8. Văn đột cát la. Riêng trong giới Đại thừa, ngoài các tội nặng như giết hại, trộm cướp v.v... những tội còn lại đều thuộc về tội Đột cát la. Như 42 Đột cát la trong kinh Bồ tát địa trì quyển 5, 38 Đột cát la trong kinh Ưu bà tắc ngũ giới uy nghi, 50 tội thất ý trong kinh Bồ tát thiện giới (1 quyển), 44 tội ác tác trong luận Du già sư địa quyển 41 và 48 tội khinh cấu trong kinh Phạm võng quyển hạ. [X. luật Ma ha tăng kì Q.25; luật Tứ phần Q.59]. (xt. Luật).
đột khởi
To break out suddenly.
đột lộ nã
Drona (skt)—Tên một vị Bà La Môn, người đã lãnh phần chia đều xá lợi của Phật để ngăn chận sự tranh chấp của các quốc vương thái tử—A Brahman who is said to have divided the cremation remains of the Buddha to prevent strife for them among contending princes.
đột ngộ
To awake suddenly.
đột nhiên
See Đột.
đột nhập
To break into—To burst into.
đột sắt kỷ lý đa
Duskrta (skt)—See Đột Cát La.
đột tất cát lật đa
Duskrta (skt)—Tên đầy đủ của Đột Cát La—A complete name for Duskrta—See Đột Cát La.
Đột-kiết-la
phiên âm từ Phạn ngữ là Duşkºta, dịch nghĩa là ác tác hoặc ác khẩu, tùy theo trường hợp phạm tội thuộc thân nghiệp hay khẩu nghiệp, nghĩa là chỉ chung những hành vi không tốt.. Đột-kiết-la cũng còn được gọi là Thức-xoa-ca-la-ni, phiên âm từ Phạn ngữ là Śikṣkaranỵya, Hán dịch là ưng đương học, hay ứng học tác, nghĩa là cần phải học. Các giới này thường được gọi chung là Bách chúng học pháp, bởi vì pháp này có một trăm điều cần phải học hỏi và noi theo, quy định chi tiết cách ứng xử hàng ngày, tạo nên oai nghi tế hạnh của người xuất gia. Những pháp này rất chi ly, không nhất thiết mỗi khi phạm vào đều phải bị xử phạt, nhưng là khuôn mẫu rất quan trọng cho mỗi người để sống tốt đời sống tu tập. Người xuất gia phải luôn luôn ghi nhớ và mỗi khi có phạm vào phải tự mình phát lộ sám hối. Đột-kiết-la là những giới nhỏ nhặt nhất trong giới luật của vị tỳ-kheo, quy định chi tiết cách ứng xử hàng ngày, tạo nên oai nghi tế hạnh của người xuất gia. Những giới này rất chi ly, nhỏ nhặt và không nhất thiết mỗi mỗi khi phạm vào đều phải bị xử phạt, nhưng lại là khuôn mẫu rất quan trọng để vị tỳ-kheo có thể sống tốt đời sống tu tập.
Đới Chấn
(戴震, Taishin, 1723-1777): nhà Khảo Chứng Học sống dưới thời nhà Thanh, tự là Đông Nguyên (東原). Ông tinh thông cả lễ chế, danh vật, chế độ, thiên văn, v.v., có sở trường về học vấn Huấn Cổ Khảo Chứng (訓詁考証, khảo chứng và giải thích nghĩa văn) và đã từng tham gia biên tập bộ Tứ Khố Toàn Thư (四庫全書). Trước tác của ông có Mao Trịnh Thi Khảo Chứng (毛鄭詩考証), Mạnh Tử Tự Nghĩa Sớ Chứng (孟子字義疏証), Đông Nguyên Văn Tập (東原文集), v.v.
đới hành
4521即伴隨賓客、尊宿而行之意。帶行之僧及行者,稱為帶行僧行;又帶行侍者,稱為帶行小師;帶行之知事僧,稱為帶行知事。敕修百丈清規卷二(大四八‧一一二三中):「若法嗣到寺煎點,令帶行知事到庫司會計。」
; (帶行) Người đi theo vị khách tăng hoặc bậc tôn túc để phục vụ. Vị tăng đới hành và hành giả, gọi là Đới hành tăng hành. Còn Đới hành thị giả cũng gọi Đới hành tiểu sư. Vị tăng đi theo vị Tri sự gọi là Đới hành tri sự.
đới luỹ
4521即牽連無辜,增添麻煩之意。亦即拖累。碧巖錄第四十七則(大四八‧一八三中):「若恁麼情解,且喜沒交涉,更帶累雲門,要見便見,無爾穿鑿處。」帶累,又為拘泥、執著之意,與「滯累」一詞同義。帶累先聖,指使佛祖遭受牽連、煩擾之意。碧嚴錄第七十六則(大四八‧二○四上):「四七二三諸祖師。(有條攀條,帶累先聖,不唯只帶累一人)」另外,牽連無罪之人,使之受苦,稱為帶累平人;添加他人麻煩,稱為帶累別人。〔碧巖錄第三則、第二十二則〕
; (帶累) Làm liên lụy, phiền hà đến người khác. Bích nham lục tắc 47 (Đại 48, 183 trung) chép: Nếu hiểu theo hình thức thì không những chẳng dính dáng gì mà còn đới lụy cho Vân môn; cần thấy liền thấy, hết chỗ xuyên tạc. Ngoài ra, làm liên lụy đến người vô tội khiến họ phải khổ, gọi là Đới lụy bình nhân; gây thêm phiền hà cho người khác gọi là Đới lụy biệt nhân. [X. Bích nham lục tắc 3, 23].
đới nghiệp vãng sinh
4521謂命終之後,帶著宿業,往生他道。業,即吾人之身、語、意等一切之身心活動,具有力量可影響未來。往生,即死此生彼之意。就廣義可言,通指受生三界六道及諸佛淨土,然主要指受生極樂。吾人漂流於六道輪迴中,一生所造之善惡業為數甚多,有生天業、做人業,或墮三惡道業。然命終後僅能受一種果報;依佛法揭示,凡所作業都可能感果,但非一定感果,須視時節因緣而定。若一生中造三種業,卻不能同時生三道;若生一道,其他二道之業即為其所帶,然因緣條件不足,故無潤生之可能。此種往生即稱帶業往生。 修念佛法門者,若因緣條件具足,於命終時,得往生淨土,其宿昔所造之惡業、不淨業,無法現行,此即所謂帶業往生。一般凡夫,由於真智慧未現前,即使得以往生,亦僅能帶業往生,而帶去之業力亦因「緣」不具足而無感果之可能,此即屬於「非擇滅」。反之,若為大智慧之聖者,因已斷離煩惱繫縛,證得真諦,永不再受輪迴,故其感生死苦果之業力亦已消滅,此即屬於「擇滅」,係聖道所得。
; (帶業往生) Sau khi chết, mang theo nghiệp kiếp trước mà sinh qua cõi khác. Nghiệp nghĩa là tất cả những hoạt động của thân, miệng, ý của người ta đều có sức ảnh hưởng đến vị lai. Vãng sinh nghĩa là chết ở nơi này sinh đến chỗ khác. Nói theo nghĩa rộng là chỉ chung cho sự thụ sinh trong ba cõi, sáu đường và Tịnh độ của chư Phật, nhưng ở đây đặc biệt chỉ cho sự vãng sinh Cực lạc phương Tây. Người tu pháp môn niệm Phật, nếu đủ điều kiện nhân duyên thì lúc chết được sinh qua cõi Tịnh độ và mang theo cả nghiệp đã tạo ở kiếp trước, gọi là Đới nghiệp vãng sinh. Nói chung, phàm phu vì trí tuệ chân thực chưa phát sinh, nên dù có được vãng sinh cũng chỉ là đới nghiệp vãng sinh; nhưng cũng vì thiếu điều kiện nhân duyên nên nghiệp lực mang theo ấy không có khả năng mang lại quả báo, đó là thuộc về Phi trạch diệt. Trái lại, nếu là bậc Thánh đại trí tuệ, thì vì đã dứt hết phiền não, trói buột, đã chứng chân lí, không còn bị luân hồi nữa, nên sức nghiệp cảm quả khổ sinh tử đã tiêu diệt, đó là thuộc về Trạch diệt.
đới số thích
4521梵語 dvigu,巴利語 digu。六合釋之一。指複合詞之前部分為數詞者。大乘法苑義林章卷一總料簡章釋之謂,數即一、十、百、千等數,帶為挾帶之意;法體挾帶數法,稱為帶數釋。如二十唯識論,唯識言所明之法,二十為頌數之名,挾數為名,即稱帶數釋。又如三界(梵 tri-lokaṃ)、十戒(梵 daśa-śīlaṃ)、五根(梵 pañcendriyāni)等均是。又帶數釋之梵語 dvigu,直譯為二牛,即為帶數,故為此釋之原名。〔俱舍論光記卷一、華嚴經探玄記卷三〕(參閱「六合釋」1255)
; (帶數釋) Phạm: Dvigu, Pàli: Digu. Chỉ cho từ số đứng trước từ kép. Một trong sáu cách giải thích danh từ kép (Lục hợp thích). Chương Tổng liệu giản trong Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1 giải thích rằng, số là các số 1, 10, 100, 1.000 v.v..., đới là mang theo. Pháp có mang theo số đi kèm gọi là Đới số thích. Chẳng hạn như luận Nhị thập duy thức thì Duy thức là pháp sở minh (pháp được nói rõ), còn nhị thập là số bài tụng, vì lấy số đi kèm theo mà đặt tên nên gọi là Đới số thích. Cũng như Tam giới (Phạm: Tri-lokaô), Thập giới (Phạm: Daza-zìlaô), Ngũ căn (Phạm: Paĩcendriyàni) v.v... đều là Đới số thích. Ngoài ra, tiếng Phạm Dvigu được dịch là hai con bò, đó chính là tên gốc của Đới số thích. [X. Câu xá luận quang kí Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3]. (xt. Lục Hợp Thích).
đới đao ngoạ
4521又作帶刀睡。指右脅而臥。蓋帶刀者,佩刀於左腰,故左脅不得臥。據宋高僧傳卷十百丈懷海章載,臥必斜枕床脣,稱為帶刀睡。僧之臥寢有五種行法,即頭首向佛、臥時不見佛、兩足不並伸、不向壁及伏臥、不豎兩膝。〔禪林象器箋卷十二、三千威儀卷上〕
; (帶刀臥) Cũng gọi Đới đao thụy: Đeo dao mà nằm ngủ. Nằm nghiêng bên phải vì hông bên trái mang dao (giới đao, là một trong 18 vật dụng tỉ khưu được phép mang trong người theo qui định của giới luật, dùng để cắt vải may áo, cạo tóc hoặc cắt móng tay). Cứ theo chương Bách trượng Hoài hải trong Tống cao tăng truyện quyển 10, thì nằm nghiêng gọi là Đới đao thụy. Khi vị tăng nằm ngủ phải giữ đúng năm pháp. 1. Quay đầu về phía Phật. 2. Nằm nghiêng bên phải. 3. Hai chân duỗi thẳng và xếp lên nhau. 4. Không được nằm sấp. 5. Không được dựng đứng hai đầu gối. [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.12; Tam thiên uy nghi Q.thượng].
đới đao ngữ
4521禪林用語。原指言語中藏有殺活自在之利刀;於禪林中,轉指銳利顯眼之機語。解釋洞山五位顯訣(卍續一一九‧四六七下):「最玅兼帶,無過藥山答雲巖帶刀語,及百丈下堂大眾欲散未散時,索云:『是甚麼?』藥山遙聞此語云:『在此!』」
; (帶刀語) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lời nói như có chứa dao sắc sinh sát tự tại. Thiền lâm dùng từ ngữ này để chỉ cho lời nói cơ duyên bén nhọn có năng lực mở mắt trí tuệ cho người học. Giải thích Động sơn ngũ vị hiển quyết (Vạn tục 119, 467 hạ) chép: Nói đến lời kiêm đới hay nhất thì không lời nào vượt qua được lời đới đao ngữ của ngài Dược sơn trả lời ngài Vân nham và lời đáp Ở đây! khi Dược sơn nghe ngài Bách trượng hỏi đại chúng câu: Là cái gì?.
đờ người
Dumb with amazement.
đời
Life.
đời bất hạnh
A wretched life.
đời người
Man's life. Lời Phật dạy về “Đời Người” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings of “Man's life” in the Dharmapada Sutra: 1) Người kia vì không hiểu rằng: “Chúng ta sắp bị hủy diệt, nên mới phí sức tranh luận hơn thua. Nếu họ hiểu rõ điều đó, thì chẳng còn tranh luận nữa.”—Some never sees that everybody perishes in any argument. Those who realize this, do not argue (Dharmapada 6). 2) Những người chỉ muốn sống trong khoái lạc, không chịu nhiếp hộ các căn, ăn uống vô độ, biếng nhác chẳng tinh cần, họ là người dễ bị ma nhiếp phục như cành mềm trước cơn gió—Those who only want to live with pleasant things, with senses unrestrained, in food immoderate, indolent, inactive, are quickly overthrown by the mara as a weak tree breaks before a big wind (Dharmapada 7). 3) Những người nguyện ở trong cảnh chẳng khoái lạc, khôn khéo nhiếp hộ các căn, uống ăn tiết độ, vững tin và siêng năng, ma không dễ gì thắng họ, như gió thổi núi đá—Those who contemplate “impurities,” with senses restrained, moderate in food, faithful and active, mara cannot overthrow him as it's impossible for the wind to overthrow a rocky mountain (Dharmapada 8). 4) Ngươi nay đã giống ngọn lá héo khô; Diêm ma sứ giả (tử thần) ở sát bên mình. Ngươi đang đứng trước ngưỡng cửa chết, bước lữ đồ ngươi thiếu hẳn tư lương—You are like a withered leaf now. The messenger of death is waiting for you. You are standing at the threshold of your departure, but you have no provision for your journey (Dharmapada 235). 5) Ngươi hãy tự tạo cho mình một hòn đảo an toàn, gấp rút tinh cần làm kẻ khôn ngoan, gột sạch bao nhiêu phiền não trần cấu, để bước lên Thánh cảnh của hàng chư thiên—Make yourself an island. Be wise to strive quickly! When you cleanse your impurities, you will enter into the heavenly world of the Ariyas (gods) (Dharmapada 236). 6) Đời sống ngươi nay sắp lụn tàn, ngươi đang dịch bước gần Diêm vương, giữa đường đã không nơi ngơi nghỉ, bước lữ hành ngươi cũng thiếu hẳn tư lương—Your life has come to an end now. You stand in death presence. There is no resting place for you on the way, but you have no provision (are not prepared) for your journey (Dharmapada 237). 7) Ngươi hãy tạo lấy cho mình một hòn đảo an toàn, gấp rút tinh cần làm kẻ khôn ngoan, gột sạch bao nhiêu phiền não trần cấu, chớ trở lui đường sanh lão nguy nan—Make an island for yourself. Be wise to strive quickly! When you cleanse your impurities, you will not come back again to birth and old age (Dharmapada 238).
đời người là một cây nến đang cháy
Man's life is a burning candle.
đời nào
Never.
đời sau
Future generations.
đời sống
Life.
đời sống cao đẹp
A life of beauty.
đời sống thanh tịnh và bình dị
A pure simple life.
đời sống vật chất
Material life.
đời sống đạo lý
Religious life.
đời tư
Private life.
đời xưa
Ancient times.
đời đời
Forever—Eternally—Perpetually.
đợi chờ
To expect.
đợi thời
To wait for an opportunity.
đục nước béo cò
To fish in troubled waters.
đụng chạm quyền lợi
Interests conflict.
đụt mưa
To take shelter from the rain.
đủ
Sufficient—Adequate—Enough.
đủ dùng
See Đủ.
đủ khả năng
To be capable (efficient).
đủ mặt
Everybody is present.
đủ sức
To be competent (able).
đủ trí khôn
Sufficient intelligence.
đủ tài
See Đủ Sức.
đủ tư cách
To be qualified to do something.
đủ ăn
To be well off—To have enough to eat.
đức
6005由行正道而得之意,引申為利益、幸福等意。功德、福德、道德等則為一般之成語。德指已得正道而無失,道指已得(德)而及於他人。佛果之功德分為智德(菩提,即完成智)與斷德(涅槃,即完全絕滅煩惱)二種,或智、斷、恩(依願力救度眾生)三德。佛菩薩之德性分為悲德(利他)與智德(自利)。又與生俱有之真實本性,稱為性德;反之,依後天修行而得之德,稱為修德。性德與修德,即合稱二德。大涅槃則具有法身、般若、解脫等三德。古代印度六派哲學之一的勝論學派,立十句義之第二為德句義(存在的屬性之範疇),亦為二十四德之一。數論學派亦作三德之說。(參閱「三德」668)
; Guna (S) Virtue, moral excellence, moral power, power; goodness, kindness Có đức: virtuous; good, kind. Cha mẹ hiền lành để đức cho con: benevolent parents bequeath divine blessings to their children. Đức mỏng: ill fated; unblest. Đức dày: blest.
; Guna (skt)—Virtue—Moral—Moral power—Moral excellence.
; (德) Cái đức đạt được nhờ tu hành chính đạo, như những từ Công đức, Phúc đức, Đạo đức v.v... Công đức của quả vị Phật được chia làm hai loại: 1. Trí đức: Bồ đề, tức là trí tuệ viên mãn. 2. Đoạn đức: Niết bàn, tức đã hoàn toàn diệt hết phiền não. Hoặc gồm ba đức: Trí, Đoạn, Ân (theo nguyện lực cứu độ chúng sinh). Tính đức của Phật và Bồ tát cũng có 2 thứ là: Bi đức (lợi người) và Trí đức (lợi mình). Bản tính chân thực vốn có gọi là Tính đức; còn cái đức nhờ tu hành mới đạt được thì gọi là Tu đức. Cả 2 gọi chung là Nhị đức. Đại niết bàn thì có đủ ba đức: Pháp thân, Bát nhã và Giải thoát. Học phái Thắng luận (Phạm: Vaizewika), một trong 6 phái Triết học của Ấn độ đời xưa, có lập ra Thập cú nghĩa (10 nguyên lí), trong đó Đức cú nghĩa là một trong 24 đức. Học phái Số luận (Phạm: Sàôkhya) cũng có đề xướng thuyết Ba đức. (xt. Tam Đức).
đức bình
Còn gọi là Hiền Bình, Thiện Bình, hay Cát Tường Bình (người có chiếc bình nầy sẽ cầu gì được nấy)—The vase or talisman of power.
Đức bạc 德薄
[ja] トクハク tokuhaku ||| Meager in virtue; light virtue. 〔法華經 T 262.9.42c06〕 Đức mỏng.
đức bản
The root of the moral life, or of religious power
Đức bản 德本
[ja] トクホン tokuhon ||| (1) The roots of virtue (kuśala-mūla); equivalent in meaning to 善根 and 功德. 〔法華經 T 262.9.55a25〕 (2) Name of a Japanese monk (NBJJ326). => 1. Căn bản đạo đức (kuśala-mūla); Đồng nghĩa với Thiện căn và Công đức. 2. Đức Bản. Tên của một vị tăng Nhật Bản.
đức bảo
6017(1512~1581)明代臨濟宗僧。金臺(北平)人,俗姓吳。號笑巖,世稱笑巖德寶禪師。幼年孤苦。年二十,聽講華嚴大疏。二十二歲,禮廣慧寺之大寂為師,剃髮受具足戒。歷參善知識三十餘人,復往參龍泉寺無聞明聰禪師。一日提籃於水邊洗菜,因菜莖墮於水中,逐水圜轉捉不著,忽有省悟,並得明聰印可。後遊江漢而入終南山,歷住高座、牛首、圓通等諸剎。萬曆五年(1577)結菴於燕京(北平)柳巷,九年示寂,世壽七十。〔五燈會元續略卷八、南宋元明禪林僧寶傳卷十四、續燈存〖膏thế 月là禾〗卷十〕
đức bằng
6011(?~1167)宋代曹洞宗僧。又作得明。杭州(浙江)鹽官人,俗姓顧。法號澹堂。初隨同縣圓覺寺文慧守璋禪師。紹興十八年(1148),參謁徑山之真歇清了。一日,忽聞木杵通竹節之聲,豁然大悟,世稱竹筒和尚、澹堂竹筒。真歇移住皐亭崇先顯孝寺時,師隨侍之,直至真歇示寂。紹興二十三年,住持崇先寺。兩度奉召入慈寧殿,為慈寧太后講說心要,蒙賜法衣。守璋告老歸隱時,師亦隨歸。後再住崇先寺。乾道三年示寂,生年與世壽不詳。遺有澹堂竹筒語錄。〔補續高僧傳卷九、真歇劫外錄崇先真歇了禪師塔銘〕
đức bổn
1) Căn bản đạo đức của cuộc sống: The root of the moral life, or of religious power. 2) Danh hiệu của Đức Phật A Di Đà như là căn bản của mọi đức hạnh: Name for Amitabha as rot of all virtue
đức chiếu
6015(1920~1984)臺灣臺中縣人,俗姓張。別號惟宗。日本花園大學畢業。民國二十五年(1936),於龍泉寺依隆道法師出家。四十年,與德僧法師創建善光寺。四十四年,於臺中寶覺寺受具足戒。歷任臺中善光寺開山住持、善光雜誌社社長兼發行人、臺中縣佛教支會常務理事、理事等。著有關於百丈懷海禪師的思想、十牛圖講話、信心銘講要、證道歌略解、禪林句集淺釋等。
; (德照) (1920 - 1984) Vị tăng Trung quốc, người huyện Đài trung, Đài loan, họ Trương, biệt hiệu Duy tông, tốt nghiệp trường Đại học Hoa viên tại Nhật bản. Năm Dân quốc 25 (1936), sư theo ngài Long đạo xuất gia ở chùa Long tuyền. Năm Dân quốc 40 (1951), Sư cùng với pháp sư Đức tăng sáng lập chùa Thiện quang. Năm Dân quốc 44 (1955), Sư thụ giới Cụ túc ở chùa Bảo giác tại Đài trung. Sư từng làm Trụ trì đầu tiên của chùa Thiền quang ở Đài trung, chủ nhiệm Thiện quang tạp chí xã và Xử lí thường vụ Chi hội Phật giáo huyện Đài trung. Sư có các trứ tác: Bách trượng Hoài hải thiền sư đích tư tưởng, Thập ngưu đồ giảng thoại, Tín tâm minh giảng yếu, Chứng đạo ca lược giải, Thiền lâm cú tập thiển thích.
đức chân
6012(1892~ )臺灣臺中人,俗姓許。出身於霧峰頂厝林家望族。民國二十四年(1935),赴福州鼓山參訪。二十六年,任臺中霧峰靈山寺住持。四十七年,創設靈山學苑。四十九年,師與德欽尼師重建靈山寺,先後完成大殿、靈山塔、齋堂等堂宇。
Đức Chí 德志
[ja] トクシ tokushi ||| Translation of Jñānagupta, commonly known by the transcription of 闍那崛多. [Dictionary References][Credit] cmuller(entry) => Dịch chữ Jñānagupta, thường biết qua dạng Phiên âm là Xà-na Quật-đa闍那崛多.
đức cách ấn kinh viện
6012為川康地區大規模印經中心之一。位於西康德格縣更慶寺內。為德格土司卻吉登巴澤仁於清雍正七年(1729)創建。與拉薩之布達拉宮印經院、日喀則印經院,並稱為三大印經院。院內藏有宗教、歷史、文學、藝術、醫學、天文、曆算等藏文典籍之書版二十餘萬塊。所印書籍流傳很廣,行銷至印度、尼泊爾、日本、東南亞,乃至西歐等地區。雍正八年,德格版西藏大藏經問世,校字精細,刻工秀美,見稱於世。與奈塘版、北京版、拉薩版齊名。又印經院所在地區在清光緒(1875~1908)末年以前,隸屬西藏四部之一的康部,故向為西藏文化重地。
; (德格印經院) Trung tâm ấn hành kinh sách rất qui mô ở chùa Cánh khánh huyện Đức cách, Tây khang, do quan huyện Đức cách là ông Khước cát đăng ba trạch nhân sáng lập vào năm Ung chính thứ 7 (1729) đời Thanh. Viện này cùng với viện Bố đạt lạp cung ở Lạp tát (Lhasa) và viện Nhật khách tắc là ba viện in kinh lớn nhất ở Tây tạng. Trong Viện có cất giữ hơn hai trăm nghìn pho sách bằng tiếng Tây tạng thuộc các lĩnh vực: Tôn giáo, lịch sử, văn học, nghệ thuật, y học, thiên văn, lịch toán v.v... Sách vở do trung tâm này in ấn được lưu hành ở nhiều nước, như: Ấn độ, Nepal, Nhật bản, Đông nam á, cho đến Tây âu v.v... Đại tạng kinh Tây tạng bản Đức cách được ấn hành vào năm Ung chính thứ 8 (1730) rất đẹp, nét chữ sắc sảo, nổi tiếng ngang với các bản Nại đường, Bắc kinh và Lhasa. Ngoài ra, Viện in kinh này được đặt tại Tây khang, là một trong bốn bộ thuộc Tây tạng, từ xưa vốn là đất văn hóa trọng yếu của Tây tạng.
Đức cú nghĩa
xem Cầu-na.
đức cơ
6013(1634~1700)清初律僧。為律宗千華派第三祖。休寧(安徽)人,俗姓林。字定庵。早歲信佛,不近酒肉,嘗聞老僧讀金剛經,因萌出世之意,及父歿、弟長,乃下姑蘇訪吳中有道知識,依蘇州寶林寺之竹懷出家,後就寶華山隆昌寺之讀體受具足戒,專研諸部律凡十五年。於讀體入寂後,受其衣鉢,繼為寶華山第三世,規約嚴整,御眾寬嚴交濟,勞作以身先之,四方僧俗雲集,規模日宏。 清康熙十三年(1674),江南旱災之際,賑粥不足,師乃率眾托鉢於儀真、淮陽等地。康熙三十九年於念佛聲中示寂,世壽六十七。弟子三十八名中,真義繼主寶華山。著作有毘尼關要十六卷、羯磨會釋十四卷、比丘戒本會義十二卷、寶華山志十二卷。其中毘尼關要於乾隆二年入藏。〔大昭慶律寺志卷八、新續高僧傳卷二十九〕
; (德基) (1634 - 1700) Vị tăng Trung quốc ở đầu đời Thanh, người Hưu minh (tỉnh An huy), họ Lâm, tự Định am, tổ thứ 3 của phái Thiên hoa luật tông. Sư tin Phật từ thủa nhỏ, tránh xa rượu thịt, nhân nghe vị tăng đọc kinh Kim cương mà phát chí xuất thế. Đến khi cha mất, em khôn lớn, Sư theo ngài Trúc hoài xuất gia ở chùa Bảo lâm tại Tô châu. Về sau, Sư y vào ngài Độc thể thụ giới Cụ túc ở chùa Long xương, núi Bảo hoa, chuyên nghiên cứu các bộ luật trong 15 năm. Sau khi ngài Độc thể nhập tịch, Sư lãnh nhận áo bát của Thầy. Tiếp nối làm Tổ sư đời thứ 3 của phái Thiên hoa luật tông. Trong đạo tràng của Sư rất có qui củ; Sư dạy chúng tăng vừa khoan dung vừa nghiêm khắc; những việc khó nhọc thì Sư đích thân ra làm trước. Tăng tục từ khắp nơi về tu học mỗi ngày một đông, đạo tràng càng ngày càng hưng thịnh. Năm Khang hi 39 (1700), Sư thị tịch giữa tiếng niệm Phật, thọ 67 tuổi. Trong số 38 vị đệ tử của Sư, vị Chân nghĩa kế thừa làm Trụ trì núi Bảo hoa. Sư để lại các tác phẩm: Tì ni quan yếu 16 quyển, Yết ma hội thích 14 quyển, Tỉ khưu giới bản hội nghĩa 12 quyển, Bảo hoa sơn chí 12 quyển. Trong đó, bộ Tì ni quan yếu được đưa vào Đại tạng vào năm Càn long thứ 2 (1737). [X. Đại chiêu khánh luật tự chí Q.8; Tân tục cao tăng truyện Q.29].
đức di
6015(1231~?)元代臨濟宗楊岐派僧。高安(江西)人,俗姓盧。號蒙山,世稱古筠比丘。曾參謁蘇州承天寺孤蟾如瑩、徑山虛堂智愚等師,後依福州鼓山之皖山正凝修學,並為其法嗣。初於松江(江蘇)澱山弘法。至元二十七年(1290)再編六祖壇經,且致力流布,一般即稱此為「德異本」。此外,另有佛祖三經序、蒙山和尚六道普說等著作。〔增續傳燈錄卷四、續燈存〖膏thế 月là禾〗卷五、五燈嚴統卷二十二〕
; (德异) (1231 - ?) Vị Thiền tăng thuộc phái Dương kì tông Lâm tế ở đời Nguyên, người huyện Cao an, tỉnh Giang tây, họ Lư, hiệu Mông sơn, người đời gọi Sư là Cổ quân tỉ khưu. Sư từng tham yết các ngài Cô thiềm Như oánh ở chùa Thừa thiên tại Tô châu, ngài Hư đường Trí ngu ở Kính sơn v.v... Về sau, Sư tham yết ngài Hoàn sơn Chính ngưng ở Cổ sơn thuộc Phúc châu và được truyền pháp. Sau, Sư hoằng pháp ở Điến sơn tại Tùng giang (tỉnh Giang tô). Năm Chí nguyên 27 (1290), Sư biên chép lại Lục tổ đàn kinh và cho lưu hành. Bản này thông thường được gọi là Bản Đức Dị. Ngoài ra, Sư còn có các trước tác: Phật tổ tam kinh tự, Dược sơn hòa thượng lục đạo phổ thuyết. [X. Tăng tục truyền đăng lục Q.4; Tục đăng tồn cảo Q.5; Ngũ đăng nghiêm thống Q.22].
đức dung
6017為民國初年活躍於臺灣佛教界之臺籍僧人。俗姓沈。生卒年不詳。日本統治臺灣期間,日本曹洞宗之勢力在臺甚熾。光緒三十四年(1908),師隨日本曹洞宗禪師大圓玄致東渡日本留學,為臺僧留日之第一人。返臺之後,於民國五年(1916)與本圓、善慧等人共同設立臺灣佛教青年會、佛教中學林,並促使自此中學林畢業之青年僧侶留學日本,故臺僧留日之人數日漸增多,對於當時臺灣佛教形成日本化之傾向不無影響。後任基隆靈泉寺住持。〔中國佛教發展史中冊(中村元)〕
đức dị mộng sơn
See Mộng Sơn Đức Dị.
đức dục
Moral education.
đức dụng
6008宋代臨濟宗楊岐派僧。婺州(浙江金華縣)人,俗姓戴。初於智者寺試經得度,先後參謁長蘆崇信、保寧圓璣、佛眼清遠等諸師。高庵善悟自廬陵天寧寺遷至雲居山時,師隨侍之,並嗣其法。常與佛果、佛鑑、佛眼等會下之諸師往來,聲譽甚隆。後居於閩中之際山,歷主東禪、西禪二寺及天寧寺、雙林寺。昔於高庵座下任監寺之職時,見重一方,禪林間以「用大碗」譽稱之。生卒年不詳。〔嘉泰普燈錄卷二十、五燈會元卷二十〕
Đức dụng 徳用
[ja] トクヨウ tokuyō ||| (1) Function; excellent function. Meritorious function. (2) Causing oneself to gain benefit. 1. Tác dụng; công năng tuyệt hảo. Tác dụng của công đức. 2. Khiến cho chính mình đạt được lợi ích.
đức hiệu
6015指諸佛功德圓滿之名號。此名號乃萬德所歸,如「南無阿彌陀佛」六字名號。稱讚淨土經有「不可思議功德名號」一語。至後世,有人於其名外另設「表德號」(道號),多以字充當之,如顏氏家訓所言:「名以正體,字以表德。」
; (德號) Danh hiệu của chư Phật có đầy đủ muôn đức như danh hiệu Na mô A di đà Phật. Đến đời sau, ngoài tên ra có người còn đặt thêm Biểu đức hiệu (Đạo hiệu), phần nhiều dùng chữ Tự....ở trước hiệu này. Như Nhan thị gia huấn nói: Tên là để chỉ người, Tự là để chỉ đức của người ấy.
đức huy
6017元代臨濟宗僧。又作德煇。號東陽。明宗天曆二年(1329)掌理百丈寺,文宗至順元年(1330)重建法堂。順宗至元元年(1335)奉敕重輯百丈清規,二年即頒布於天下叢林。賜號「廣慧禪師」。生卒年及籍貫均不詳。增集續傳燈錄卷四之目錄,列出大慧宗杲下五代晦機元熙之法嗣十名,其中有東林東陽德輝禪師之名,然未載其傳記。〔東海一漚集卷三、上東陽和尚書、蒲室集、佛祖宗派圖、敕修百丈清規左觿卷一、元代白話碑集錄〕
; (德輝) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế sống vào đời Nguyên, hiệu là Đông dương. Năm Thiên lịch thứ 2 (1329) đời vua Minh tông, Sư trông coi chùa Bách trượng. Niên hiệu Chí thuận năm đầu (1330) đời vua Văn tông, Sư làm lại nhà Pháp đường. Niên hiệu Chí nguyên năm đầu (1335), Sư phụng mệnh vua biên tập lại Bách trượng thanh qui và năm sau cho phổ biến khắp các tùng lâm trong nước, được vua ban hiệu là Quảng Tuệ Thiền Sư. Năm sinh năm mất và quê quán của Sư đều không được rõ. Trong mục lục của Tăng tập tục truyền đăng lục quyển 4, có nêu tên 10 vị nối pháp ngài Hối cơ Nguyên hi thuộc phái ngài Đại tuệ Tông cảo đời thứ 5, trong đó có tên thiền sư Đông dương Đức huy ở Đông lâm, nhưng chưa chép tiểu sử của Sư. [X. Đông hải nhất âu tập Q.3; Thướng đông dương hòa thượng thư; Bồ thất tập; Phật tổ tông phái đồ; Sắc tu Bách trượng thanh qui tả huề Q.1; Nguyên đại bạch thoại bi tập lục].
đức huệ
6016梵名 Guṇamati。音譯窶拏末底、瞿那末底、求那摩帝。南印度人。生於西元五世紀後半至六世紀前半。乃安慧之師,唯識十大論師之一。幼時敏達,學通三藏,理窮四諦,又擅長定門。其時摩揭陀國有數論外道摩沓婆(梵 Mādhava),學通內外,論極幽微;受國王崇敬,敕封食邑二城。師欲挫其銳,遣門人示意,將於三年後論破之。 及約期至,乃於王前對論,至第六日摩沓婆辭窮,遂吐血而死。師乃請王以外道之封邑建伽藍,王供養甚篤。其後師曾住那爛陀寺,雅譽高極一時。又與堅慧共遊止於伐臘毘國之阿折羅伽藍,於其中著諸論,現存隨相論一卷、中論疏及唯識三十頌釋等。 關於中論疏,據多羅那他(梵 Tāranātha)之印度佛教史載,師為德光(梵 Guṇaprabha)之弟子,從安慧學習,造中論疏,以摧破清辨(梵 Bhavya)及其弟子三鉢羅都多(梵 Sampraduta)之說。另據成唯識論卷一本謂安慧為師之門人。又西藏藏經中,師之著作有緣起初分分別說論疏(梵 Pratītya-samutpādādi-vibhaṅga-nirdeśa-ṭīkā)與解說如理論疏(梵 Vyākhyā-yukti-ṭīkā)二部,均注解世親之論。〔大唐西域記卷八、卷九、卷十一、歷代三寶紀卷九、南海寄歸內法傳卷四、翻譯名義集卷二、印度哲學研究卷五、日譯稱友俱舍論疏〕
; (德慧) Phạm: Guṇamati. Dịch âm: Lũ noa mạt để, Cù na mạt để, Cầu na ma đế. Cao tăng người Nam Ấn độ, sinh vào khoảng hậu bán thế kỉ V đến tiền bán thế kỉ VI, là một trong 10 vị Đại luận sư Duy thức, thầy của sư An tuệ. Ngài thông minh từ nhỏ, học suốt ba tạng, hiểu rõ lí Tứ đế, lại sở trường về Thiền định. Thời bấy giờ ở nước Ma yết đà có một ngoại đạo Số luận tên là Ma đạp bà (Phạm: Màdhava) học thông nội ngoại điển, biện luận rất tinh vi, mạch lạc, được nhà vua sùng kính, ban cho bổng lộc hai thành ấp. Ngài Đức tuệ muốn hàng phục ngoại đạo này nên sai môn nhân đến báo cho ông ta biết trước là ba năm sau ngài sẽ tranh luận đế phá thuyết của ông ta. Đúng hẹn, ngài và Ma đạp bà biện luận với nhau trước sự chứng kiến của nhà vua. Đến ngày thứ 6 thì Ma đạp bà lí cùng lực kiệt, thổ huyết mà chết. Ngài xin vua lấy những thành ấp đã phong cho ngoại đạo để kiến thiết già lam, vua chấp thuận và cúng dường ngài rất hậu. Về sau, ngài từng ở chùa Na lan đà, tiếng tăm lừng lẫy một thời. Ngoài ra, có thời gian ngài cùng với ngài Kiên tuệ đến ở chùa A chiết la tại nước Phạt lạp tì để trước tác các bộ luận. Cứ theo cuốn Sử Phật giáo Ấn độ của Đa la na tha (Phạm: Tàranàtha), thì Đức tuệ đệ tử của ngài Đức quang (Phạm: Guịaprabha), theo ngài An tuệ học tập rồi soạn ra bộ Trung luận sớ để phá thuyết của ngài Thanh biện (Phạm: Bhavya) và đệ tử của ngài là Tam bát la đô đa (Phạm: Sampraduta). Nhưng luận Thành duy thức quyển 1 phần đầu thì lại cho rằng, sư An tuệ là môn nhân của ngài Đức tuệ, trái ngược hẳn với thuyết trong Sử Phật giáo Ấn độ của Đa la na tha nói trên. Các trước tác của ngài gồm có: Duyên khởi sơ phần phân biệt thuyết luận sớ, Giải thuyết như lí luận sớ, Trung luận sớ, Duy thức tam thập tụng thích, luận Tùy tướng 1 quyển. [X. Đại đường tây vực kí Q.8, Q.9, Q.11; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2; Ấn độ triết học nghiên cứu Q.5; Câu xá luận sớ của Xứng hữu (bản dịch tiếng Nhật)].
đức hành
6009梵語 guṇa。德,乃所成之善;行,乃能成之道。有二義:(一)指功德與行法。金剛針論(大三二‧一七一中):「是故戒行復修德業,名婆羅門;乃至首陀修於德行,成婆羅門。」(二)指具足功德之行法,即修三學、六度者。仁王經卷上(大八‧八二五上):「有十億七賢居士德行具足。」
; (德行) Phạm: Guịa. Điều thiện đã thành tựu gọi là Đức; đạo quả chứng được gọi là Hạnh. Đức hạnh có hai nghĩa: 1. Công đức và hành pháp. Luận Kim cương châm (Đại 32, 171 trung), nói: ... Cho nên đã có giới hạnh lại còn phải tu đức nghiệp mới gọi là Bà la môn; cho đến hạng Thủ đà la nếu tu đức hạnh cũng trở thành Bà la môn. 2. Các pháp tu có đầy đủ các công đức, như Tam học và Lục độ. Kinh Nhân vương quyển thượng (Đại 8, 825 thượng), nói: Có 10 ức cư sĩ ở giai vị Thất hiền đầy đủ đức hạnh.
đức hương
The fragrance of virtue.
; Hương thơm đức hạnh—The fragrance of virtue.
đức hạnh
Moral conduct and religious exercises, or discipline; moral conduct. Moral deed; upright conduct; virtuous; (of a woman) chaste.
; Công đức và công hạnh tu trì—Virtues—Virtuous—Morality—Good conduct—Moral conduct and religious exercises, or discipline. Những lời Phật dạy về “Đức Hạnh” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Virtues” in the Dharmapada Sutra: 1) Mùi hương của các thứ hoa, dù là hoa chiên đàn, hoa đa già la, hay hoa mạt ly đều không thể bay ngược gió, chỉ có mùi hương đức hạnh của người chân chính, tuy ngược gió vẫn bay khắp cả muôn phương—The scent of flowers does not blow against the wind, nor does the fragrance of sandalwood and jasmine, but the fragrance of the virtuous blows against the wind; the virtuous man pervades every direction (Dharmapada 54). 2) Hương chiên đàn, hương đa già la, hương bạt tất kỳ, hương thanh liên, trong tất cả thứ hương, chỉ thứ hương đức hạnh là hơn cả—Of little account is the fragrance of sandal-wood, lotus, jasmine; above all these kinds of fragrance, the fragrance of virtue is by far the best (Dharmapada 55). 3) Hương chiên đàn, hương đa già la đều là thứ hương vi diệu, nhưng không sánh bằng hương người đức hạnh, xông ngát tận chư thiên—Of little account is the fragrance of sandal; the fragrance of the virtuous rises up to the gods as the highest (Dharmapada 56). 4) Người nào thành tựu các giới hạnh, hằng ngày chẳng buông lung, an trụ trong chính trí và giải thoát, thì ác ma không thể dòm ngó được—Mara never finds the path of those who are virtuous, careful in living and freed by right knowledge (Dharmapada 57). 5) Già vẫn sống đức hạnh là vui, thành tựu chánh tín là vui, đầy đủ trí tuệ là vui, không làm điều ác là vui—To be virtue until old age is pleasant; to have steadfast faith is pleasant; to attain wisdom is pleasant; not to do evil is pleasant (Dharmapada 333).
Đức hải
(德海): công đức to lớn như biển cả. Như trong Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明最勝王經, Taishō Vol. 16, No. 665) có đoạn: “Như Lai đức hải thậm thâm quảng, phi chư thí dụ sở năng tri, ư chúng thường khởi đại bi tâm, phương tiện tinh cần hằng bất tức (如來德海甚深廣、非諸譬喻所能知、於眾常起大悲心、方便精勤恆不息, Như Lai biển đức rất sâu rộng, chẳng thí dụ nào thể biết được, với chúng thường khởi tâm đại bi, phương tiện tinh tấn luôn không dứt).” Hay trong lời tựa của bài thơ Yết Tuyền Thượng Nhân (謁璿上人) do Vương Duy (王維, 701-761) nhà Đường sáng tác, có câu: “Huyền quan đại khải, đức hải quần vịnh, thời vũ ký giáng, xuân vật câu mỹ (玄關大啟、德海群泳、時雨旣降、春物俱美, cửa huyền rộng mở, biển đức bơi lội, mưa đến lúc đỗ, muôn vật đẹp xuân).”
đức hải
The ocean-like character and influence of virtue.
; Ảnh hưởng của công đức sâu rộng như biển cả mênh mông—The ocean like character and influence of virtue.
đức hồng
6011(1071~1128)宋代臨濟宗黃龍派僧。瑞州(江西高安)人,俗姓喻(或謂彭、俞)。字覺範。號寂音尊者。年十九,試經於東京天王寺而得度,初名慧洪,能通唯識論奧義,並博覽子、史奇書,書一過目畢生不忘,落筆萬言了無停思,而以詩名轟動京華。後南返,參謁真淨克文而得法。崇寧(1102~1106)年中,師住持臨川北禪院,後遷金陵清涼寺,未久,為僧控以冒籍訕謗,誣陷入獄,丞相張商英、太尉郭天民等為之奏免,准更德洪之名,並賜紫衣。政和元年(1111)頃,張、郭獲譴外謫,有嫉之者,誣指師與二人交通,詔奪袈裟,發配俫州,三年始得歸。同年冬,復拘之於并州獄,踰年獲釋,遂棄僧服入九峰洞山,以文章自娛。其後,將赴湘西,途經南昌,復為道士誣陷下獄,幸遇赦得免,遂入居南臺明白庵。靖康元年(1126),蒙賜再度剃髮,恢復慧洪舊名。建炎二年寂於同安,世壽五十八。著述極豐,如林間錄二卷、禪林僧寶傳三十卷、高僧傳十二卷、智證傳十卷、志林十卷、冷齋夜話十卷、天廚禁臠一卷、石門文字禪三十卷、法華合論七卷、楞嚴尊頂義十卷、金剛法源論一卷等。〔佛祖歷代通載卷十九、嘉泰普燈錄卷七、續傳燈錄卷二十二、石門文字禪卷二十四寂音自序〕
; (德洪) (1071 - 1128) Vị Thiền tăng thuộc phái Hoàng long tông Lâm tế đời Tống, người Thụy châu (Cao an Giang tây), họ Dụ (có người bảo họ Bành, Du), tự là Giác phạm, hiệu là Tịch âm tôn giả. Năm 19 tuổi, Sư dự cuộc thi kinh ở chùa Thiên vương tại Đông kinh, Sư đậu và được phép xuất gia. Mới đầu, Sư lấy tên là Tuệ hồng. Sư tinh thông luận Duy thức, đọc khắp các sách Nho, Đạo và chư tử, đọc qua một lần là nhớ mãi không quên, đặt ngòi bút xuống là thành thơ văn không cần suy nghĩ. Sau, Sư trở về Nam tham yết ngài Chân tịnh Khắc văn mà đắc pháp. Khoảng năm Sùng trinh (1102 - 1106), Sư trụ trì Bắc Thiền viện ở Lâm xuyên, sau dời về chùa Thanh lương ở Kim lăng, không bao lâu Sư bị một vị tăng vu khống tội giả mạo tăng tịch, nên bị bắt giam. Thừa tướng Trương thương anh và Thái úy Quách thiên dân tâu xin miễn tội cho Sư, vua phê chuẩn và đổi tên cho Sư là Đức hồng và ban cho áo đỏ. Khoảng niên hiệu Chính hòa năm đầu (1111), Trương thương anh và Quách thiên dân bị cách chức và đem đi đày, có kẻ ghen ghét vu cho sư là liên lạc với hai người, nên vua ra lệnh tước bỏ áo ca sa và đày đi Nhai châu, ba năm mới được tha. Mùa đông năm ấy Sư lại bị bắt giam ở nhà ngục Tinh châu, qua năm sau được phóng thích; Sư bèn bỏ tăng phục, vào Động sơn ở Cửu phong, vui thú với văn chương. Về sau, Sư đến Tương tây, trên đường đi qua Nam xương lại bị các Đạo sĩ vu oan nên Sư bị hạ ngục. May được vua ân xá, Sư liền vào am Minh bạch tại Nam đài. Niên hiệu Tĩnh khang năm đầu (1126), Sư lại được phép cạo tóc xuất gia, lấy tên cũ Tuệ hồng. Năm Kiến viêm thứ 2 (1128), Sư tịch ở Đồng an, thọ 58 tuổi. Sư trước tác rất nhiều, như: Lâm gian lục 2 quyển, Thiền lâm tăng bảo truyện 30 quyển, Cao tăng truyện 12 quyển, Trí chứng truyện 10 quyển, Chí lâm 10 quyển, Lãnh trai dạ thoại 10 quyển, Thiên trù cấm luyến 1 quyển, Thạch môn văn tự thiền 30 quyển, Pháp hoa hợp luận 7 quyển, Lăng nghiêm tôn đính nghĩa 10 quyển, Kim cương pháp nguyên luận 1 quyển. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.19; Gia thái phổ đăng lục Q.7; Tục truyền đăng lục Q.22; Tịch âm tự trong Thạch môn văn tự thiền Q.24].
đức lâm
6011為日據時代臺灣佛教文化界知名之士。早歲出家,曾赴日本駒澤大學留學,從學於日本佛教學者忽滑谷快天。返臺後,經常撰文針砭當時佛教之缺失。能詩能文,中日文皆能撰述。除一度主編南瀛佛教之外,經常弘法於全省各地,並曾籌組臺灣佛教青年會。早年曾任臺南白河大仙巖(大仙寺)副寺,並開創臺中佛教會館。後還俗,以居士身去世。生卒年不詳。
đức lập
6009清代僧。字鶴臞,又字君直。號西池。初以修禪得悟,後轉持淨土法門,精勤修持,無有懈怠。住持吳地之怡賢寺,四眾景仰,法化大行。又善詩畫,工草書。書室名為藕花園,著有藕花園詩。生卒年及籍貫皆不詳。〔清畫家詩史壬卷下〕
đức minh
6010(1683~1762)清代曹洞宗僧。霅川(浙江)長興人,俗姓殷。號白光。年二十一,參謁野山克歸和尚。復參謁石鼓,得其印記。其後,至漢陽建歸元寺。乾隆二十七年示寂,世壽七十九,法臘四十二。著有語錄二卷。〔增訂佛祖道影卷三(虛雲)〕
đức môn
Virtuous family.
đức mẫu
Mẹ của mọi công đức, như niềm tin là căn bản của cuộc sống tôn giáo—The mother of virtue, i.e. faith which is the root of the religious life.
đức nguyên thiền tự
6015位於臺灣嘉義竹崎鄉。義敏和尚創立於清乾隆五年(1740)。初稱清華山觀音亭,民國二年(1913)改稱清華山德源禪寺。五十二年惟覺法師任住持,發心重建大雄寶殿及寮房,歷時三年始成。寺貌巍峨,莊嚴宏偉。寺中附設清華山德源禪學院,培植禪宗人才,發揚宗風。
đức ngọc
6008(1628~1701)明末清初臨濟宗僧。西蜀果州(四川)營山人,俗姓王。號聖可。明末亂起,時師十五歲,遇老僧囑師常念觀音聖號而得脫險;二十七歲投遼陽禪師出家,後至洪雅(四川)八面山澄江和尚處受具足戒,遂遍參南北諸名宿,及參見破山海明,得受印記而嗣其法。 師初住綏陽之嘉瑞寺,清康熙七年(1668)返蜀,至渝城(重慶),應士庶學侶之請住於華嚴洞,創建華嚴寺,說法弘化三十餘年。康熙四十年示寂,世壽七十四。有聖可禪師語錄十卷、禪林寶訓順硃四卷行世。〔正源略集卷五、增訂佛祖道影卷二(虛雲)〕
; (德玉) (1628 - 1701) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người Doanh sơn, Quả châu (Tứ xuyên), Tây thục, họ Vương, hiệu là Thánh khả. Vào cuối đời Minh, thời thế bắt đầu loạn lạc, lúc đó Sư được 15 tuổi, gặp vị lão tăng dạy niệm danh hiệu Quan âm và thoát được nguy hiểm. Năm 27 tuổi, Sư theo ngài Liêu dương xuất gia, sau Sư đến chỗ hòa thượng Trừng giang ở núi Bát diện tại Hồng nhã (Tứ xuyên) thụ giới Cụ túc. Sau đó, Sư đi tham vấn các bậc tôn túc ở khắp các miền Bắc, Nam, cuối cùng, Sư tham kiến ngài Phá sơn Hải minh, được ấn khả và nối pháp của ngài. Lúc đầu Sư trụ trì chùa Gia thụy tại Tuy dương. Năm Khang hi thứ 7 (1668) đời Thanh, Sư trở lại đất Thục, đến Du thành (Trùng khánh), nhận lời thỉnh cầu của tín chúng, Sư sáng lập chùa Hoa nghiêm, ở đây, Sư thuyết pháp hoằng hóa hơn 30 năm. Năm Khang hi 40 (1701) Sư tịch, thọ 74 tuổi. Trước tác: Thánh khả thiền sư ngữ lục 10 quyển, Thiền lâm bảo huấn thuận châu 4 quyển. [X. Chính nguyên lược tập Q.5; Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư vân)].
đức nhiên
6014(?~1388)明初臨濟宗僧。松江府(江蘇)華亭人,俗姓張。號唯菴。幼從無用貴禪師剃髮出家,遍叩諸方後,於千巖元長會下得法。後遵石屋清珙之懸記,歸返華亭,築室郭匯之陽,名為松隱。住三年,刺血書寫華嚴經,有異感,居民為建寶坊。千巖遷化後,繼金華(浙江)聖壽寺之席。洪武二十一年示寂,世壽不詳。後人為師立塔於松隱。著有松隱唯菴和尚語錄三卷行世。〔五燈全書卷五十八、補續高僧傳卷二十五〕
; (德然) (? - 1388) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở đầu đời Minh, người Hoa đình, phủ Tùng giang, tỉnh Giang tô, họ Trương, hiệu Duy am. Thủa nhỏ, Sư theo thiền sư Vô dụng quí xuất gia, về sau, Sư đi tham học các nơi, cuối cùng đắc pháp với ngài Thiên nham Nguyên trường. Rồi Sư theo lời huyền kí của ngài Thạch ốc Thanh củng, trở về Hoa đình cất am Tùng ẩn ở phía nam Quách hối ở ẩn. Sư ở đây được ba năm, chích máu viết kinh Hoa nghiêm, cảm điềm lạ, nên nhân dân làm chùa thỉnh Sư trụ trì. Sau khi ngài Thiên nham tịch, Sư kế thừa chức Trụ trì chùa Thánh thọ ở Kim hoa. Năm Hồng vũ 21 (1388) Sư tịch, không rõ tuổi thọ. Người đời sau xây tháp thờ Sư ở Tùng ẩn. Sư để lại tác phẩm: Tùng ẩn duy am hòa thượng ngữ lục 3 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.58; Bổ tục cao tăng truyện Q.25].
đức nhuận tự
6016位於三國時代建康(今南京)一帶。吳國赤烏五年(242),尚書令闞澤喜捨其宅改建,並以其字「德潤」立為寺名,可謂江南古剎之一。
đức như lai
Xem Thích ca mâu ni.
Đức Nhất
(德一, Tokuitsu, ?-?): vị học tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống vào khoảng đầu thời kỳ Bình An, tương truyền là con trai của Huệ Mỹ Trọng Ma Lữ (惠美仲麻呂). Ông học ở Nại Lương (奈良, Nara), sau chuyển đến vùng Đông Quốc (東國, Tōgoku), trú tại Hội Tân (會津, Aizu, thuộc Fukushima-ken [福島縣]) và lập chùa ở Khủng Ba Sơn (筑波山), vùng Thường Lục (常陸, Hitachi, thuộc Ibaraki-ken [茨城縣]). Ông đã từng luận tranh với Tối Trừng (最澄, Saichō) xung quanh vấn đề giáo học của Pháp Tướng Tông và Thiên Thai Tông, về tánh chân thật của tư tưởng Tam Thừa và tư tưởng Nhất Thừa. Từ đó, ông bắt đầu viết cuốn Phật Tánh Sao (佛性抄), Trung Biên Nghĩa Cảnh (中邊義境) 3 quyển, Giá Dị Kiến Chương (遮異見章) 3 quyển, Huệ Nhật Vũ Túc (惠日羽足) 3 quyển, Trung Biên Nghĩa Cảnh Tàn (中邊義境殘) 20 quyển, v.v. Ngoài ra, ông còn soạn bản Chơn Ngôn Tông Vị Quyết Văn (眞言宗未決文) để trình bày 11 điều nghi vấn đối với giáo học Chơn Ngôn Tông của Không Hải (空海, Kūkai). Miếu thờ Đức Nhất hiện có ở Huệ Nhật Tự (惠日寺), Fukushima-ken (福島縣).
đức niệm
6010(1937~ )越南人,俗姓胡。九歲入天主教神學院,十四歲逃出校門,改入佛學院,皈依南越佛學院印光寺,並留寺鑽研佛學達十六年,後入佛教萬行大學修畢大學課程。一九六九年留學我國國立臺灣師範大學,一九七二年獲碩士學位,隨即入臺灣大學中文研究所博士班、政治大學中文研究所深造。一九七八年,以「中國文學與越南李朝文學之研究」獲得我國國家博士學位。歷任越南平洋中學監督、新市菩提中學校長、嘉定省佛教會會長、越南全國佛教學院總祕書長、越南佛教講師團講師、美國洛杉磯東方大學佛學研究所所長及國際佛學院院長。其著作散見於百科、安樂、香禪等越南佛教刊物,及美國越南佛教月刊、法國慶英月刊等國內外佛教刊物。
; Hòa Thượng Thích Đức Niệm, một trong những danh Tăng Việt Nam thời cận đại. Năm 1978, ngài nhận bằng Tiến Sĩ Phật Học tại Đài Loan. Cùng năm ấy, ngài là chủ tịch hiệp hội cứu trợ người tỵ nạn. Vào năm 1981, ngài thành lập Phật Học Viện Quốc Tế để đào tạo chư Tăng Ni, cũng như phiên dịch và in ấn kinh luật luận Phật giáo. Vào năm 1992, ngài là Thượng Thủ của Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất tại Hoa Kỳ. Ngài cũng đã viết và in nhiều sách Phật giáo trong đó có tập Đại Thừa Tịnh Độ Luận và Pháp Ngữ Lục, vân vân—Most Venerable Thích Đức Niệm, one of the most outstanding Vietnamese monks in the modern era. In 1978, he obtained his Ph.D. in Buddhist study at Taiwan University. In the same year, he was also the President of the Refugee Relief Association in Taiwan. In 1981, he founded the International Buddhist Monastic Institute in the United States to train monks and nuns as well as to translate and publish Buddhist sutras, vinaya, and commentaries. In 1992, he was head of the Leadership Council Vietnamese-American Unified Buddhist Congress, an umbrella organizarion covering several Buddhist organizations in the United States. He also wrote and published several Buddhist books including A Commentary On Mahayana Pureland Thought, Thích Đức Niệm's Dharma Talks, etc.
; (德念) (1937 -) Vị tăng Việt nam, họ Hồ. Năm 9 tuổi, Sư vào học ở Viện Thần học của Thiên chúa giáo; năm 14 tuổi, Sư trốn khỏi viện này và đổi vào xin học tại viện Phật học Nam việt đặt ở chùa Ấn quang suốt 16 năm, sau đó theo học tại viện Đại học Vạn hạnh của Phật giáo ở Sài gòn. Năm 1969, Sư sang Đài loan theo học ở trường Đại học Sư phạm tại Đài bắc. Năm 1972, Sư đậu Thạc sĩ. Sau đó, Sư theo học tại trường Đại học Đài loan. Đến năm 1978, Sư đậu văn bằng Tiến sĩ Quốc gia với luận án Nghiên cứu văn học Trung quốc và văn học Việt nam đời Lí. Sư từng giữ các chức vụ: Giám đốc trường Trung học Bình dương, Hiệu trưởng trường Trung học Bồ đề Chợ mới, Hội trưởng hội Phật giáo Gia định, Thành viên Giảng sư đoàn của Phật giáo Nam Việt, Trưởng sở Sở nghiên cứu Phật học của Đại học Đông phương và Viện trưởng Viện Phật học Quốc tế tại Los Angeles, Hoa kì.
đức phong
6011(1622~?)明末清初臨濟宗僧。上洋人,俗姓顧。十八歲,國事遽變,遂萌出家之志。先後參禮福田寺之袪非、定生二師出家。後至金澤禪堂、四明禪院、龍華寺等處修學,復參謁百癡行元禪師。永曆四年(1650),於蘆溪建庵閉關。三年後,參謁南翔(江蘇)白鶴寺之恆和尚。復於魏塘閉關三年,出禮棲真寺之純朴。後嗣百癡行元之法,至順治十五年(1658)移住鵡湖之般若寺。撰有德風禪師般若語錄六卷。寂年與世壽均不詳。
; The wind ofvirtue, or of religious power.
; Gió công đức hay sức mạnh tôn giáo—The wind of virtue, or of religious power.
; (德風) (1622 - ?) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở cuối đời Minh và đầu đời Thanh, người Thượng dương, họ Cố. Năm 18 tuổi, sư y vào hai ngài Khư phi và Định sinh xuất gia ở chùa Phúc điền. Sau, Sư đến học ở Thiền đường Kim trạch, Thiền viện Tứ minh và chùa Long hoa, rồi dến tham yết thiền sư Bách si Hành nguyên. Năm Vĩnh lịch thứ 4 (1650), Sư nhập thất ở Lư khê. Ba năm sau tham yết hòa thượng Hằng ở chùa Bạch hạc tại Nam tường (Giang tô). Sau đó, Sư lại nhập thất ba năm ở Ngụy đường, khi ra thất, Sư đến lễ ngài Thuần phác ở chùa Thê chân. Sau, Sư nối pháp của ngài Bách si Hành nguyên. Đến năm Thuận trị 15 (1658), Sư dời về ở chùa Bát nhã tại Vũ hồ. Năm sư tịch và tuổi thọ đều không được rõ. Sư để lại tác phẩm: Đức phong thiền sư bát nhã ngữ lục 6 quyển.
đức phú
6013(1627~1690)明末清初臨濟宗僧。蜀南(四川)眉州人,俗姓龔。號其白,世稱其白德富。幼年之時,聽聞金剛經而志於出家。崇禎七年(1634),參禮古渝之慈航剃髮,時年八歲。順治四年(1647),隨師講經,遇一禪師而感悟,遂至峨眉山。後其師入寂,服喪三年,復出行腳。至灌邑(四川)住持玉泉寺三十餘年,大振宗風。康熙十九年(1680),以一方宗師之身,復投崇寧(成都)福昌寺丈雪通醉之座下。至丈雪遷至昭覺寺,師始辭歸玉泉寺。後嗣法於丈雪。康熙二十九年示寂,世壽六十四。遺有玉泉其白富禪師語錄三卷。〔五燈全書卷八十七〕
; (德富) (1627 - 1690) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người Mi châu, Thục nam (Tứ xuyên), họ Cung, hiệu Kì bạch, người đời gọi là Kì bạch Đức phú. Năm Sùng trinh thứ 7 (1634), Sư lễ ngài Từ hàng ở Cổ du xin xuất gia, lúc ấy Sư mới 8 tuổi. Năm Thuận trị thứ 4 (1647), Sư theo thầy giảng kinh, gặp một vị Thiền sư mà cảm ngộ, Sư liền đến núi Nga mi tu tập. Sau khi thầy tịch, Sư phục tang ba năm rồi đi hành cước, đến Quán ấp (Tứ xuyên) Sư trụ trì chùa Ngọc tuyền, Sư ở đây được hơn 30 năm, đại chấn tông phong. Năm Khang hi 19 (1680), Sư lại mang tấm thân Tông sư của một cõi đến xin làm đệ tử của ngài Trượng tuyết Thông túy ở chùa Phúc xương tại Sùng ninh (Thành đô) và được nối pháp. Đến khi ngài Trượng tuyết dời về ở chùa Chiêu giác, Sư mới tạ từ ngài để trở về chùa Ngọc tuyền. Năm Khang hi 29 (1690) Sư thị tịch, thọ 64 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Ngọc tuyền kì bạch Phú thiền sư ngữ lục 3 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.87].
đức phật
See Buddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đức phật dạy trong kinh pháp cú
“Người tham lam bỏn xẻn không thể sanh lên cõi trời, người ngu si không ưa tán dương việc bố thí, nhưng người trí thấy bố thí lại tùy hỷ công đức và tương lai họ sẽ dự hưởng phần an lạc.”—The Buddha taught in the Dharmapada Sutra, verse 177: “Misers cannot go to the heaven, fools cannot indeed praise charity. A wise man rejoices in alsmgiving and thus becomes happy thereafter.”
đức phật thích ca mâu ni
Sakyamuni Buddha—See Buddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đức phật tổ
Xem Thích ca mâu ni.
đức phật tổ như lai
Xem Thích ca mâu ni.
đức phổ
6014(1025~1091)宋代臨濟宗黃龍派僧。緜州(四川)人,俗姓蒲。師事富樂山之靜禪師,十八歲受具足戒。後出蜀中,至荊州(湖北)遇一禪僧,聞禪宗教外別傳之旨,遂於熙寧元年(1068)參謁黃龍慧南,並嗣其法。熙寧八年,住持慧雲院。其後遷主吉州禾山,世稱禾山德普。元祐六年示寂,世壽六十七,法臘四十九。師於示寂之前,已預知寂期,並告知諸弟子,弟子乃預為祭祀,祭儀終了,師乃遷化,傳為禪林美譚,稱之為「德普預祀」。〔禪林僧寶傳卷二十九、續傳燈錄卷十六、禪苑蒙求卷中〕
; (德普) (1025 - 1091) Vị Thiền tăng thuộc phái Hoàng long tông Lâm tế ở đời Tống, người Miên châu (Tứ xuyên), họ Bồ. Năm 18 tuổi, Sư thụ giới Cụ túc, thờ thiền sư Tĩnh ở núi Phú lạc làm thầy. Sau, Sư rời đất Thục, đến Kinh châu (tỉnh Hồ bắc) tham yết ngài Hoàng long Tuệ nam và được nối pháp của ngài. Năm Hi ninh thứ 8 (1076), Sư trụ trì viện Tuệ vân, về sau Sư dời đến Hòa sơn tại Cát châu, người đời gọi là Hòa sơn Đức phổ. Năm Nguyên hựu thứ 6 (1091) Sư tịch, thọ 67 tuổi, pháp lạp 49. [X. Thiền lâm tăng bảo truyện Q.29; Tục truyền đăng lục Q.16; Thiền uyển mông cầu Q.trung].
đức quang
6009<一>梵名 Guṇaprabha。音譯瞿拏鉢剌婆。北印度鉢伐多國人。據大唐西域記卷四秣底補羅國條載,師英傑而弘敏,博物強識。住於中印度秣底補羅國之僧伽藍,初習大乘,未窮其玄奧,因覽毘婆沙論,心生欽羨,乃捨大乘而學小乘,後造論數十部以破大乘;又製俗書數十餘部,斥先進先哲之典論。 師於佛經研究雖久,卻疑情未除。其時,有提婆犀那(天軍)羅漢,常往來於睹史多天(兜率天),師亦願見彌勒(慈氏)請益決疑,遂與羅漢同至天宮謁彌勒,然僅行長揖而不禮拜。羅漢言(大五一‧八九一下):「慈氏菩薩次紹佛位,何乃自高,敢不致敬?方欲受業,如何不屈?」德光對曰:「尊者此言誠為指誨,然我具戒苾芻、出家弟子;慈氏菩薩受天福樂非出家之侶,而欲作禮,恐非所宜。」因此往來三返,不得請疑。後師欲重求覲禮,然因我慢心終不可得,後入山林修發通定,又因我慢未除,不得證道果。 據多羅那他(梵 Tāranātha)印度佛教史載,師生於秣菟羅國之婆羅門家,出家受具足戒後投世親門下學大小乘,住於阿古拉普利寺(梵 Agra-puri),持戒清淨,與護法論師等同為十大論師之一,與安慧、陳那為同時期之人。南海寄歸內法傳卷四西方學法條謂,德光弘傳律藏。又西藏藏經中所存師之著作,署名 Gshi thams-cad yod-par smra-baḥi ḥdul-ba ḥdsin-pa chen-po bram-ze slob-dpon btsun-pa yon-tan ḥod(聖根本說一切有部大持律婆羅門阿闍梨尊者德光),與多羅那他所傳相合。另據大慈恩寺三藏法師傳卷二載,玄奘於秣底補羅國(633)從師之弟子蜜多斯那學辯真論、隨發智論等,時蜜多斯那九十歲,依此推知師之出世年代應於六世紀時。據傳著有辯真論等百餘部,然未被漢譯,僅於西藏藏經中存有師之作品七部。〔俱舍論光記卷二十三、翻譯名義集卷二、T. Watters: On Yuang Chwang, vol. Ⅰ〕 <二>(1121~1203)南宋臨濟宗大慧派僧。臨江(江西)新喻人,俗姓彭。自號東庵。為南嶽門下第十六世。二十一歲依同郡東山光化寺之足庵吉落髮、受具足戒,後師徒相攜入閩,住福州西禪寺。未久參謁大慧宗杲於阿育王寺,稟教契悟後,為函丈之侍者數年。乾道三年(1167)住同郡天寧寺,時衲子雲集。孝宗欽仰其高風,淳熙三年(1176),敕住杭州靈隱寺,屢召入宮中稱對揚旨,留宿中觀堂。帝特賜號「佛照禪師」。後奏進宗門直指一篇。嘉泰三年示寂,世壽八十三,戒臘七十。敕諡「普慧宗覺大禪師」。著有佛照禪師奏對錄一卷、佛照光和尚語要一卷。門人有浙翁如琰、北磵居簡等。〔古尊宿語錄卷四十八、宗門統要續集卷二十二、五燈會元卷二十、佛祖歷代通載卷二十一〕
; (德光) I. Đức Quang. Phạm: Guịaprabha. Dịch âm: Cù noa bát lạt bà. Người nước Bát phạt đa thuộc Bắc Ấn độ. Cứ theo mục Mạt để bổ la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 4, thì Sư là bậc tài trí hơn người, học rộng nhớ dai, từng ở các chùa (Tăng già lam) tại nước Mạt để bổ la thuộc Trung Ấn độ. Ban đầu Sư học tập Đại thừa nhưng chưa hiểu rõ nghĩa lí sâu xa, nhân xem luận Tì bà sa, trong lòng khâm phục, nên Sư bỏ Đại thừa học Tiểu thừa, sau viết mấy mươi bộ luận để phá Đại thừa. Tuy Sư nghiên cứu kinh Phật đã lâu nhưng chưa dứt được lòng ngờ. Bấy giờ có La hán Đề bà tê na (Thiên quân) thường lên xuống cõi trời Đâu suất, Sư cũng mong được gặp bồ tát Di lặc để xin Ngài giải quyết mối nghi, nên cùng với La hán lên trời Đâu suất yết kiến ngài Di lặc, nhưng khi gặp Ngài Sư chỉ vái chào chứ không đính lễ. La hán nói (Đại 51, 891 hạ): Bồ tát Di lặc sẽ nối Phật vị, sao ông tự cao không chịu kính lễ? Ông muốn theo học sao không hạ mình? Đức quang đáp: Lời Tôn giả chỉ dạy rất đúng, nhưng tôi là tỉ khưu, đệ tử xuất gia của đức Phật, còn bồ tát Di lặc thụ hưởng phúc báo cõi trời, chẳng phải người xuất gia, như vậy, tôi e lễ lạy là không phù hợp. Do đó, dù đã lên xuống cõi trời Đâu suất ba lần mà sư vẫn không xin bồ tát Di lặc giải quyết mối ngờ. Sau, Sư muốn đi lần nữa để lễ bồ tát, nhưng vì lòng ngã mạn quá cao nên lại thôi. Rồi Sư vào núi tu Thiền định, nhưng tâm ngã mạn chưa trừ nên không chứng được đạo quả. Cứ theo Phật giáo sử Ấn độ của Đa la na tha (Phạm: Tàranàtha), thì sư Đức quang sinh trong gia đình Bà la môn, sau khi xuất gia thụ giới, theo ngài Thế thân tu học ở chùa A cổ lạp phổ lợi (Phạm: Agra-puri), giới hạnh tinh nghiêm. Sư là một trong 10 vị Đại Luận sư, là người cùng thời đại với các ngài Hộ pháp, An tuệ, Trần na v.v... Nam Hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 mục Tây phương học pháp nói: Sư Đức quang hoằng truyền tạng Luật. Còn tác phẩm của sư trong Đại tạng kinh Tây tạng được đề tên là: Gshi thams-cad yod-par smra-baḥi ḥdul-ba ḥdsin-pa chen-po bram-ze slob-dpon btsun-pa yon-tan ḥod (Thánh căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ đại trì luật Bà la môn A xà lê tôn giả Đức quang). Điểm này ăn khớp với điều được ghi trong Phật giáo sử Ấn độ của Đa la na tha. Ngoài ra, cứ theo Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 2 chép, thì vào năm 633, ngài Huyền trang đến nước Mạt để bổ la học luận Biện chân, luận Tùy phát trí v.v... do ngài Mật đa tư na dạy; ngài Mật đa tư na là đệ tử của ngài Đức quang, lúc bấy giờ đã 90 tuổi. Theo đó mà suy luận thì biết ngài Đức quang đã sinh vào thế kỉ thứ VI. Theo truyền thuyết, ngài Đức quang đã soạn hơn 100 bộ luận, trong đó có luận Biện chân, luận Tùy phát trí v.v... nhưng chưa được dịch ra chữ Hán, chỉ có 7 bộ được bảo tồn trong Đại tạng kinh Tây tạng. [X. Câu xá luận quang kí Q.23; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2; T. Watters: On Yuang Chwang, vol. I]. II. Đức Quang (1121 - 1203). Vị Thiền tăng Trung quốc thuộc phái Đại tuệ, tông Lâm tế sống vào thời Nam Tống, người Tân dụ, Lâm giang (Giang tây), họ Bành, hiệu Đông am. Năm 21 tuổi, Sư y vào ngài Túc am cát xuất gia ở chùa Quang hóa tại Đông sơn. Sau khi thụ giới Cụ túc, Sư theo thầy đến ở chùa Tây thiền tại Phúc châu thuộc tỉnh Phúc kiến. Ít lâu sau, Sư đến tham yết ngài Đại tuệ Tông cảo ở chùa A dục vương. Sau khi khế ngộ, Sư ở lại làm thị giả mấy năm để báo ơn thầy. Năm Càn đạo thứ 3 (1167, Sư trụ trì chùa Thiên ninh ở Đồng quận, người đến theo học rất đông. Năm Thuần hi thứ 3 (1176), vua Hiếu tông kính ngưỡng đức độ của Sư, thỉnh Sư trụ trì chùa Linh ẩn ở Hàng châu. Từ đó, vua thường triệu thỉnh Sư vào cung giảng pháp và ban hiệu Phật Chiếu Thiền Sư. Sau, Sư có dâng lên vua một thiên Tông môn trực chỉ. Năm Gia thái thứ 3 (1203) Sư tịch, thọ 83 tuổi, 70 tuổi hạ, vua ban thụy hiệu Phổ Tuệ Tông Giác Đại Thiền Sư. Sư có các tác phẩm: Phật chiếu thiền sư tấu đối lục 1 quyển, Phật chiếu Quang hòa thượng ngữ yếu 1 quyển.
đức sinh đồng tử
6008德生,梵名 Śrī-sambhava。乃善財童子所參五十三善知識之第五十一位。與有德童女同住於妙意華門城,二人已證得菩薩解脫,以淨智觀諸世間皆幻住,係由因緣所生之故,乃至一切菩薩眾會變化調伏諸所施為皆幻住,係由願與智所攝成之故。〔六十華嚴經卷五十七、華嚴經行願品疏卷三、華嚴經疏卷五十五〕(參閱「五十三參」1048)
; (德生童子) Đức sinh, Phạm: Zrì sambhava. Vị thiện tri thức thứ 51 mà đồng tử Thiện tài tham vấn. Vị Đồng tử này cùng với đồng nữ Hữu đức ở trong thành Diệu ý hoa môn, hai người đã chứng được Bồ tát giải thoát, dùng trí tuệ thanh tịnh quán xét các pháp thế gian đều như huyễn, vì là do nhân duyên sinh, cho đến hết thảy phương tiện mà chúng hội Bồ tát biến hóa ra để điều phục chúng sinh cũng đều là huyễn trụ, vì đó là do nguyện và trí dung nhiếp mà thành. [X. kinh Hoa nghiêm Q.57 (bản 60 quyển); Hoa nghiêm kinh Hành nguyện phẩm sớ Q.3; Hoa nghiêm kinh sớ Q.55]. (xt. Ngũ Thập Tam Tham).
đức sĩ
Virtuous scholar, a term for a monk in the Đường dynasty.
; Đức Sĩ là một từ dùng để gọi vị Tăng dưới thời nhà Đường—Virtuous scholar, a term for a monk during the T'ang dynasty.
đức sơn bổng
6007與「臨濟喝」齊名。唐代德山宣鑑禪師常以棒打為接引學人之法,形成特殊之家風,世稱德山棒。五燈會元卷七(卍續一三八‧一一六上):「道得也三十棒,道不得也三十棒。」景德傳燈錄卷十五(大五一‧三一八上):「師尋常遇僧到參,多以拄杖打。臨濟聞之,遣侍者來參,教令:『德山若打汝,但接取拄杖,當胸一拄。』侍者到,方禮拜,師乃打,侍者接得拄杖與一拄,師歸方丈。(中略)師上堂曰:『問即有過,不問又乖。』有僧出禮拜,師便打。僧曰:『某甲始禮拜,為什麼便打?』師曰:『待汝開口,堪作什麼?』」 德山對棒打之舉未作任何解釋,若由諸相關之公案推斷,在「以心傳心,不立文字」宗旨下,不得開口言說,只能以棒打點醒學人。其目的有二:(一)截斷學人之心識活動,令彼在急遽間不假思索,得於當下見性。(二)不許學人直接說出悟境,以免觸犯自性不可說之忌諱。另有謂棒打或為測試學人臨機之反應而設。〔碧巖錄第一至第四則、鎮州臨濟慧照禪師語錄〕
; (德山棒) Cây gậy Đức sơn. Sánh ngang với Lâm tế hát (tiếng hét Lâm tế). Thiền sư Đức sơn Tuyên giám ở đời Đường hay dùng gậy đánh làm phương pháp tiếp dẫn người học. Phương pháp này đã trở thành một gia phong riêng mà người đời gọi là Cây gậy Đức sơn. Ngũ đăng hội nguyên quyển 7 (Vạn tục 138, 116 thượng) chép: Nói được cũng lãnh 30 gậy, nói không được cũng lãnh 30 gậy. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 15 (Đại 51, 318 thượng) chép: Bình thường gặp tăng đến tham vấn, sư cầm gậy đánh. Lâm tế nghe được, liền sai thị giả đến tham và dặn rằng: Nếu Đức sơn đánh ngươi, ngươi hãy nắm ngay lấy gậy, đánh vào ngực ông ta một cái Thị giả của Lâm tế đến, mới vừa lễ bái thì sư liền đánh, thị giả nắm được gậy và đánh vào ngực Sư một cái, Sư về phương trượng (...).Một hôm sư lên Pháp đường dạy rằng: Hỏi liền có lỗi, không hỏi thì trái. Sư nói xong, có vị tăng bước ra lễ bái, sư liền đánh. Vị tăng hỏi: Con mới lễ bái, tại sao bị đánh?. Sư đáp: Đợi đến lúc ông mở miệng, thì làm sao kịp nữa?. Đối với việc ngài Đức sơn dùng gậy đánh người học, chưa có một sự giải thích nào, nhưng, nếu dựa vào nội dung của các công án có liên quan mà suy đoán, thì việc ấy nhằm hai mục đích: 1. Dứt tuyệt những hoạt động tâm thức của người học, khiến cho họ trong lúc cấp bách không cần suy nghĩ, ngay đó được thấy tính. 2. Không cho phép người học trực tiếp nói ra cảnh giới giác ngộ, để khỏi xúc phạm điều cấm kị là Tự tính bất khả thuyết. Ngoài ra, cũng có thuyết cho rằng, việc dùng gậy đánh là để trắc nghiệm sự phản ứng tức thời của người học như thế nào, để tùy cơ mà tiếp hóa. [X. Bích nham lục tắc 1 đến tắc 4; Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục].
Đức Sơn Duyên Mật
(德山緣密, Tokuzan Emmitsu, ?-?): nhân vật sống vào đầu thời nhà Tống, vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, pháp từ của Vân Môn Văn Yển (雲門文偃). Ông sống tại Đức Sơn (德山) thuộc Lãng Châu (朗州, Tỉnh Hồ Nam). Ông lấy ba câu “Hàm cái càn khôn, tùy ba trục lãng, tiệt đoạn chúng lưu (函蓋乾坤、隨波逐浪、截斷眾流, trùm khắp càn khôn, đuổi theo sóng gió, chận hết các dòng)” của Vân Môn làm bài tụng để tiếp độ chúng tăng. Ông được ban hiệu là Viên Minh Đại Sư (圓明大師).
đức sơn tam thế tâm bất khả đắc
6006禪宗公案名。又作婆子點心。係唐代德山宣鑑禪師與一賣油餅婆子間之機緣語句。德山雖精通金剛經,然局囿於文字義理之研究,經婆子點破,方知自己執迷之過。 據碧巖錄第四則所載,德山精究律藏,通達金剛經,聞知南方盛行禪風,倡言「即心是佛」,遂擔金剛經疏鈔欲往破之。途中,遇一婆子賣油糍(餅),德山放下疏鈔欲食點心。婆子卻問持何經典,德山答言金剛經疏鈔。婆子聞言,意欲考量德山,遂謂若能回答所問,即布施油糍;若未能答,則另請前往他處覓食。隨即問德山(大四八‧一四三下):「金剛經云:『過去心不可得,現在心不可得,未來心不可得。』上座欲點那箇心?」德山為之語塞。 於金剛經中,「過去心不可得」等語之上文有「諸心皆為非心」之語,婆子略去上文而截取下文以問,德山未及究竟,卻為文字所縛,故作答不得。又於禪苑蒙求卷下,亦詳載此則公案。
; (德山三世心不可得) Cũng gọi Bà tử điểm tâm. Tên công án trong Thiền tông. Công án này thuật lại những câu nói cơ duyên giữa thiền sư Đức sơn Tuyên giám đời Đường và một bà lão bán bánh. Cứ theo tắc 4 trong Bích nham lục, thì ngài Đức sơn nghiên cứu tinh tường Luật tạng, thông suốt kinh Kim cương. Nghe phương Nam thịnh hành Thiền pháp, các Thiền sư chủ trương Tức tâm tức Phật, Tức tâm thị Phật. Sư bèn mang bộ Kim cương kinh sớ sao đến đó mong phá bỏ chủ trương trên. Một hôm, sư gặp một bà lão bán bánh bên đường, Sư vào hàng định mua bánh để điểm tâm. Bà lão hỏi: - Sư đang mang cái gì thế? Sư đáp: - Bộ Kim cương kinh sớ sao! Bà lão nghe xong, nói với ngài Đức sơn: - Tôi có một câu hỏi, nếu sư trả lời được thì xin cúng dường bánh, bằng không thì mời Sư đi nơi khác mà mua. Sư nói: - Bà cứ hỏi. Bà lão liền hỏi (Đại 48, 143 hạ). - Kinh Kim cương nói: Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc, vậy sư muốn điểm cái tâm nào?. Ngài Đức sơn lúng túng, không trả lời được.
Đức Sơn Tuyên Giám
(德山宣鑑, Tokusan Senkan, 780-865): xuất thân vùng Kiếm Nam (劒南, thuộc Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Chu (周). Ông chuyên học về Luật cũng như Tánh Tướng, rất tinh thông Kinh Kim Cang, nên được mọi người gọi là Chu Kim Cang (周金剛). Chính ông có ý định luận phá Thiền của phương nam, nhưng ngược lại thì ông quy hướng về Thiền, rồi đến tham yết Long Đàm Sùng Tín (龍潭崇信) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông có đến Quy Sơn (潙山) gặp qua Linh Hựu (靈祐), đã từng sống tại Lễ Dương (澧陽, thuộc Lễ Châu, Tỉnh Hồ Nam) trong vòng 30 năm. Khi gặp nạn phế Phật Hội Xương của Võ Tông vào năm 845, ông vào lánh nạn trong một thạch thất của Độc Phù Sơn (獨浮山). Đến đầu niên hiệu Đại Trung (大中), thể theo lời thỉnh cầu của vị Thái Thú Bệ Diên Vọng (薜延望), ông đến trú tại Đức Sơn vùng Võ Lăng và bắt đầu cử xướng tông phong của mình. Vào ngày mồng 3 tháng 12 năm thứ 6 (865) niên hiệu Hàm Thông (咸通) nhà Đường, ông thị tịch, hưởng thọ 86 tuổi đời và 65 hạ lạp. Ông được ban cho thụy hiệu là Kiến Tánh Đại Sư (見性大師).
đức sơn tuyên giám
6006(782~865)唐代禪僧。劍南(四川)人,俗姓周。法名宣鑑。年少出家,二十歲受具足戒,於大小乘諸經貫通旨趣,因常講金剛般若經,時人美稱為周金剛。嘗聞盛張於南方之禪法,倡言直指人心,見性成佛;與所學不相類,遂欲與彼等辯難,圖息其說。乃攜道氤之金剛經疏鈔出蜀,首至澧陽參謁龍潭信禪師,問答之間,豁然頓悟,遂焚金剛經疏鈔,成為青原第五世。 以法系之異,常以棒打為教,而有「德山棒」之稱譽,係一嚴格修行者。師住澧陽三十年,遭唐武宗(841~846 在位)廢教,避難於獨浮山之石室。大中(847~859)初,應武陵(湖南)太守薛廷望堅請,始居德山,大振宗風,蔚為一大叢林,其道風峻嶮,棒打天下衲子,與溈山、洞山、臨濟之道風相對峙。咸通六年十二月三日,忽告諸門徒曰(大五一‧三一八上):「捫空追響,勞汝心神,夢覺覺非,竟有何事?」言訖安坐而化,世壽八十四,僧臘六十五,敕諡見性大師。門人眾多,如巖頭全豁、雪峰義存、瑞龍慧恭、泉州瓦棺、雙流尉遲等。〔宋高僧傳卷十二、景德傳燈錄卷十五、祖堂集卷五、五燈會元卷七〕
; Thiền sư Đức Sơn Tuyên Giám—Zen master Te-Shan-Hsuan-Chien (780-865). • Ông sanh vào năm 780 sau Tây Lịch, là một trong những đại sư đời nhà Đường. Ông là đề tài của nhiều công án. Một trong những công án nầy kể lại chuyện ông giác ngộ khi thầy ông (Long Đàm) thổi tắt cây đuốc hay “Cây Đuốc Long Đàm.” Ông tịch vào năm 865 sau Tây Lịch. Theo Thiền Sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận Tập II, Đức Sơn không chỉ giỏi về Kinh Kim Cang mà còn giỏi cả về những ngành triết học Phật giáo khác như Câu Xá và Du Già Luận. Nhưng ban đầu ngài chống đối Thiền một cách quyết liệt, và chủ đích ra khỏi vùng đất Châu là để tiêu hủy Thiền. Dù sao, đây cũng là động cơ điều động bề mặt của tâm thức ngài; còn những gì trôi chảy bên trong chiều sâu thì ngài hoàn toàn không ý thức đến. Định luật tâm lý về sự tương phản chắc có thế lực và được tăng cường chống lại động lực bề mặt khi ngài gặp một địch thủ hoàn toàn bất ngờ dưới hình thức một chủ quán bán trà. Lần đầu tiên đối đáp với Sùng Tín về Đầm Rồng, lớp vỏ chắc cứng của tâm trí Đức Sơn bị đập nát hoàn toàn, giải tỏa tất cả những thế lực ẩn nấp sâu xa trong tâm thức của ngài. Rồi khi ngọn đuốc bỗng dưng bị thổi tắt, tất cả những gì ngài đã từ chối trước khi có biến cố nầy bây giờ được lấy lại vô điều kiện. Đó là một đại biến toàn diện của tâm trí. Cái đã từng được trân trọng nầy chẳng đáng bằng một cọng rơm —He was born in 780 A.D., one of the great Zen master during the T'ang dysnasty. He is the subject of several koans. One of which tells how he attained enlightenment through his master blowing out of a candle. He died in 865 A.D. According to Zen Master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Te-Shan was learned not only in the Vajracchedika, but in other departments of Buddhist philosophy such as the Abhidharma-soka and the Yogacara. But in the beginning he was decidedly against Zen, and the object of his coming out of Chou district was to annihilate it. This at any rate was the motive that directed the surface current of his consciousness; as to what was going on underneath he was altogether unaware of it. The psychological law of contrariness was undoubtedly in force and was strengthened as agianst his superficialmotive when he encountered a most unexpected opponent in the form of a tea-house keeper. His first talk with Ch'ung-Hsin concerning the Dragon's Pool (Lung-T'an) completely crushed the hard crust of te-Shan's mentality, releasing all the forces deeply hidden in his consciousness. When the candle was suddenly blown out, all that was negated prior to this incident unconditionally reasserted itself. A complete mental cataclysm took place. What had been regarded as most precious was now not worth a straw. • Đức Sơn nổi tiếng về lối vung gậy, ông cũng là người học Kinh Kim Cương trước khi qui đầu theo Thiền. Khác với tiền bối của mình tức Lục Tổ Huệ Năng, Đức Sơn học giáo lý của kinh điển rất nhiều và đọc rộng các kinh sớ; vậy kiến thức về kinh Bát Nhã của ngài có hệ thống hơn của Huệ Năng. Ngài nghe nói phái Thiền nầy xuất hiện ở phương Nam, theo đó một người có thể thành Phật nếu nắm ngay được bản tính uyên nguyên của mình. Ngài nghĩ đây không thể là lời dạy của chính Đức Phật, mà là của Ma vương, rồi quyết định đi xuống phương Nam. Về phương diện nầy, sứ mệnh của ngài lại khác với Huệ Năng. Huệ Năng thì muốn thâm nhập tinh thần của kinh Kim Cang dưới sự dẫn dắt của Ngũ Tổ, còn ý tưởng của Đức Sơn là muốn phá hủy Thiền tông nếu có thể được. Cả hai đều học kinh Kim Cang, nhưng cảm hứng của họ ngược chiều nhau. Chủ đích đầu tiên của Đức Sơn là đi tới Long Đàm, nơi đây có một Thiền sư tên là Sùng Tín. Trên đường lên núi, ngài dừng chân tại một quán trà và hỏi bà chủ quán có cái gì điểm tâm. “Điểm tâm” trong tiếng Hán vừa có nghĩa là ăn sáng, mà cũng có nghĩa là “chấm điểm tâm linh.” Thay vì mang cho du Tăng những đồ ăn điểm tâm theo lời yêu cầu, bà lại hỏi: “Thầy mang cái gì trên lưng vậy?” Đức Sơn đáp: “Những bản sớ giải của kinh Kim Cang.” Bà già nói: “Thì ra thế! Thầy cho tôi hỏi một câu có được không? Nếu Thầy trả lời trúng ý tôi xin đãi thầy một bữa điểm tâm; nếu thầy chịu thua, xin thầy hãy đi chỗ khác.” Đức Sơn đồng ý. Rồi bà chủ quán trà hỏi: “Trong kinh Kim Cang tôi đọc thấy câu nầy 'quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc. Vậy thầy muốn điểm cái tâm nào?” Câu hỏi bất ngờ từ một người đàn bà quê mùa có vẻ tầm thường ấy đã hoàn toàn đảo lộn tài đa văn quảng kiến của Đức Sơn, vì tất cả kiến thức của ngài về Kim Cang cùng những sớ giải của kinh chẳng gợi hứng cho ngài chút nào cả. Nhà học giả đáng thương nầy phải ra đi mà chẳng được bữa ăn. Không những chỉ có thế, ngài còn phải từ bỏ cái ý định là khuất phục các Thiền sư, bởi nếu chẳng làm gì được với một bà già quê mùa thì mong gì khuất phục nổi một Thiền sư thực thụ—Te-Shan, who is noted for his swinging a staff, was also a student of the Vajracchedika Sutra before he was converted to Zen. Different from his predecessor, Hui Neng, he was very learned in the teaching of the sutra and was extensively read in its commentaries, showing that his knowledge of the Prajnaparamita was more sytematic than was Hui-Neng''. He heard of this Zen teaching in the south, according to which a man could be a Buddha by immediately taking hold of his inmost nature. This he thought could not be the Buddha's own teaching, but the Evil One's, and he decided to go down south. In this respect his mission again differed from that of Hui-Neng. Hui Neng wished to get into the spirit of the Vajracchedika under the guidance of the Fifth Patriarch, while Te-Shan's idea was to destroy Zen if possible. They were both students of the Vajracchedika, but the sutra inspired them in a way diametrically opposite. Te-Shan's first objective was Lung-T'an where resided a Zen master called Ch'ung-Hsin. On his way to the mountain he stopped at a tea house where he asked the woman-keeper to give him some refreshments. In Chinese, “refreshment” not only means “tien-hsin” (breakfast), but literally, it means “to punctuate the mind.” Instead of setting out the request refreshments for the tired monk-traveller, the woman asked: "“What are you carrying on your back?” Te-Shan replied: “They are commentaries on the Vajracchedika.” The woman said: “The are indeed! May I ask you a question? If you can answer it to my satisfaction, you will have your refreshments free; but if you fail, you will have to go somewhere else.” To this Te-Shan agreed. The woman-keeper of the tea house then proposed the following: “I read in the Vajracchedika that the mind is obtainable neither in the past, nor in the present, nor in the future. If so, which mind do you wish to punctuate?” This unexpected question from an apparently insignificant country-woman completely upset knapsackful scholarship of Te-Shan, for all his knowledge of the vajracchedika together with its various commentaries gave him no inspiration whatever. The poor scholar had to go without his breakfast. Not only this, he also had to abandon his bold enterprise to defeat the teachers of Zen; for when he was no match even for the keeper of a rodside tea house, how could he expect to defeat a professional Zen master? • Ngay trước khi gặp gỡ Long Đàm Sùng Tín, chắc chắn ngài đã phải xét lại sứ mệnh của mình. Đến khi gặp Long Đàm (cái đầm rồng) Sùng Tín ngài nói: “Tôi nghe người ta nói nhiều về Long Đàm; bây giờ thấy ra thì chẳng có rồng cũng chẳng có đầm gì ở đây hết.” Sùng Tín trả lời ôn hòa: “Quả thực ông đang ở giữa Long Đàm. Cuối cùng Đức Sơn quyết định ở lại Long Đàm và theo học Thiền với Thiền sư nầy—Even before he saw Ch'ung-Hsin, master of Lung-T'an, he was certainly made to think more about his self-imposed mission. When Te-Shan saw Ch'u'g-Hsin, he said: “I have heard people talked so much of Lung-T'an (dragon's pool), yet as I see it, there is no dragon here, nor any pool."”Ch''ng-Hsin quietly said: "“ou are indeed in the midst of Lung-T'an.” Te-Shan finally decided to stay at Lung-T'an and to study Zen under the guidance of its master. • Một buổi chiều, ngài ngồi ở ngoài thất, lặng lẽ nhưng hăng say tìm kiếm chân lý. Sùng Tín hỏi: “Sao không vào?” Đức Sơn đáp: “Trời tối.” Tổ sư bèn thắp một ngọn đuốc trao cho Đức Sơn. Lúc Đức Sơn sắp sữa đón lấy đuốc thì Sùng Tín bèn thổi tắt mất. Nhân đó tâm của Đức Sơn đột nhiên mở rộng trước chân lý của đạo Thiền. Đức Sơn cung kính làm lễ, và Tổ sư hỏi: “Thấy gì?” Đức Sơn đáp: “Từ nay trở đi chẳng còn chút nghi ngờ những thoại đầu nào của lão Hòa Thượng nữa.” Sáng hôm sau, Đức Sơn mang tất cả những sách sớ giải về Kinh Kim Cang mà ngài đã coi trọng và đi đâu cũng mang theo, ném hết vào lửa và đốt thành tro, không chừa lại gì hết. Ngài nói: “Đàm huyền luận diệu cho đến đâu cũng chẳng khác đặc một sợi lông vào giữa hư không vô tận; còn cùng kiếp tận số tìm kiếm then chốt máy huyền vi như đổ một giọt nước xuống vực sâu không đáy, chẳng thấm vào đâu. Học với chẳng học, mình ta biết.” Sáng hôm sau, Hòa Thượng Long Đàm thượng đường thuyết pháp. Ngài gọi Tăng chúng lại nói: “Trong đây có một lão Tăng răng như rừng gươm, miệng tợ chậu máu, đánh một hèo chẳng ngoái cổ, lúc khác lại lên chót núi chớn chở dựng đạo của ta ở đấy.”—One evening he was sitting ouside the room quietly and yet earnestly in search of the truth. Ch'ung-Hsin said: “Why do you not come in?” Te-Shan replied: “It is dark.” Whereupon Ch'ung-Hsin lighted a candle and handed to Te-Shan. When Te-Shan was about to take it, Ch'ung-Hsin blew it out. This suddenly opened his mind to the truth of Zen teaching. Te-Shan bowed respectfully.” The master asked: “What is the matter with you?” Te-Shan asserted: “After this, whatever propositions the Zen masters may make about Zen, I shall never again cherish a doubt about them.” The next morning Te-Shan took out all his commentaries on the Vajracchedika, once so valued and considered so indispensable that he had to carry them about with him wherever he went, committed them to the flames and turned them all into ashes. He exclaimed: “However deep your knowledge of abstrue philosohy, it is like a piece of hair placed in the vastness of space; and however important your experience in worldly things, it is like a drop of water thrown into an unfathomable abyss.” The next morning, Zen master Lung-T'an entered the hall to preach the assembly, said: "Among you monks, there is a old monk, whose teeth are as sharp as swords, and mouth is as red as a basin of blood, a blow on his head will not make him turn back; later he will ascend the top of a sheer mountain to establish my sect.” • Về sau khi Đức Sơn đã trở thành một bậc thầy, ngài thường nói với kẻ hỏi đạo: “Dù nói được hay nói không được, nhà ngươi cũng lãnh ba chục hèo.” Một vị Tăng hỏi: “Phật là ai?” Đức Sơn bảo: “Phật là một lão Tỳ Kheo bên trời Tây.” Vị Tăng lại hỏi: “Giác là thế nào?” Đức Sơn bèn đập cho người hỏi một gậy và bảo: “Đi ra khỏi đây; đừng có tung bụi quanh ta.” Một thầy Tăng khác muốn biết đôi điều về Thiền, nhưng Đức Sơn nạt nộ: “Ta chẳng có gì mà cho, hãy xéo đi.”—Afterwards, when Te-Shan himself became a master, he used to say to an inquirer: “Whether you say 'yes,' you get thirty blows; whether you say 'no,' you get thirty blows just the same.” A monk asked him: “Who is the Buddha?” Te-Shan relpied: He is an old monk of the Western country.” The monk continued to ask: “What is enlightenment?” Te-Shan gave the questioner a blow, saying: “You get out of here; do not scatter dirt around us!” Another monk wished to know something about Zen, but Te-Shan roared: “I have nothing to give, begone!”
; (德山宣鑒) (782 - 865) Vị Thiền tăng ở đời Đường, người Kiếm nam (Tứ xuyên), họ Chu, pháp danh Tuyên giám. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, đến năm 20 tuổi thụ giới Cụ túc, thông suốt yếu chỉ của các kinh Đại Tiểu thừa, vì thường giảng kinh Kim cương bát nhã nên người đương thời gọi Sư là Chu Kim cương. Sư nghe ở phương Nam Thiền pháp thịnh hành, đề xướng Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật, khác hẳn với sở học của Sư. Sư muốn biện luận với các nhà Thiền học miền Nam mong dập tắt thuyết của họ, nên sư mang bộ Kim cương kinh sớ sao của ngài Đạo nhân ra khỏi đất Thục đến Lễ dương định vấn nạn thiền sư Long đàm Sùng tín. Không ngờ, trong lúc vấn đáp, sư hoát nhiên đốn ngộ, bèn đốt Kim cương sớ sao và trở thành đệ tử đời thứ 5 của dòng Thanh nguyên. Sư là bậc tu hành nghiêm khắc, thường dùng gậy đánh người học để tiếp dẫn họ, nên có danh xưng là Đức sơn bổng. Sư ở tại Lễ dương 30 năm, gặp lúc vua Vũ tông (ở ngôi 841 - 846) nhà Đường phế bỏ Phật giáo, sư vào lánh nạn ở một thạch thất trong núi Độc phù. Đầu năm Đại trung (847 - 859), theo lời thỉnh cầu của Thái thú Vũ lăng (Hồ nam) tên là Tiết đình vọng, sư mới đến Đức sơn hoằng dương tông phong, dần dần nơi này trở thành một đại tùng lâm, đạo phong của sư sánh ngang với các ngài Qui sơn, Động sơn, Lâm tế. Ngày 3 tháng 12 năm Hàm thông thứ 6 (865), bỗng nhiên sư bảo các môn đồ rằng (Đại 51, 318 thượng): Nắm bắt hư không, đuổi theo tiếng vang, chỉ nhọc tâm thần các ông thôi, tỉnh mộng rồi mới biết lỗi, rốt cuộc có gì đâu?. Nói xong, sư ngồi yên thị tịch, thọ 84 tuổi, 65 tuổi hạ, vua ban thụy hiệu Kiến Tính Đại Sư. Đệ tử của sư rất đông, trong đó có nhiều vị nổi tiếng như: Nham đầu Toàn khoát, Tuyết phong Nghĩa tồn, Thụy long Tuệ cung, Tuyền châu Ngõa quan, Song lưu Úy trì v.v... [X. Tống cao tăng truyện Q.12; Cảnh đức truyền đăng lục Q.15; Tổ đường tập Q.5; Ngũ đăng hội nguyên Q.7].
đức sơn tự
6006位於臺灣南投竹山鎮。創建迄今已二百餘年,為臺灣著名古剎之一。民國二十一年(1932),玄清、達超二師同任住持,數經修築擴建,五十一年興工重建,五十三年落成,殿宇宏偉莊嚴,寺境幽雅。寺中設有大慈講堂及極樂塔。蔣故總統經國先生於六十一至六十五年間之行政院院長任期內,曾三度蒞臨本寺參訪。
đức thanh
6013(1546~1623)明代僧。金陵全椒(安徽)人,俗姓蔡。字澄印,號憨山。年十一即懷出家之志,翌年投報恩寺西林永寧誦習經教,兼修儒學,博通內外黃老之學。十九歲往謁棲霞山雲谷法會,讀中峰廣錄,乃決志參禪。遂返報恩寺落髮,從無極明信受具足戒,聽華嚴玄談。因慕清涼澄觀之為人,乃自字澄印。嘉靖四十四年(1565)再參法會,得授念佛公案。隆慶五年(1571)以後遊歷諸方,留連京城諸講肆,又參謁徧融、笑巖二師。萬曆元年(1573)遊五臺山,見憨山奇秀,乃取之為號。九年,與福登同請京中大德五百眾於五臺山修無遮會,太后並遣使為皇儲祈福。後住東海牢山(山東嶗山),聲望甚高。 萬曆十四年,神宗以大藏經十五部頒於天下名山,太后特賜牢山一部,並建海印寺,請師住持。二十三年,以私修廟宇之罪被誣入獄,流放雷州(廣東)。二十八年,依南韶道祝之請,止住曹溪,翌年重開祖庭,選僧受戒,立義學,養沙彌,設立庫司清規,大振祖風。四十二年,太后崩殂,恩詔許還僧服,歷遊名山勝蹟,說法弘化。四十四年,在廬山五乳峰創建法雲禪寺,倣慧遠之法,專心修持淨業。天啟二年(1622),復應韶陽太守張公之請,再入曹溪。三年十月示寂,世壽七十八。諡號「弘覺禪師」。後人為師立塔於南華寺天子崗。世稱憨山大師。與袾宏、真可、智旭並稱明末四大高僧。 其思想融合禪與華嚴,倡導禪淨無別、三教歸一之說。弟子有福善、通炯等。著述甚多,有華嚴綱要八十卷、楞嚴經通議十卷、法華經通義七卷、起信論直解、圓覺經直解、肇論略注各二卷、唯識論解、淨土會語、中庸直指、春秋左氏心法、老子道德經注、觀老莊影響論等,另有門人匯編之憨山夢遊集五十五卷、憨山語錄二十卷。〔淨土聖賢錄卷五、高僧摘要卷三、正源略集卷八、續稽古略卷三、續燈存〖膏thế 月là禾〗卷十二〕
; (德清) (1546 - 1623) Vị tăng ở đời Minh, người Toàn tiêu, Kim lăng (An huy), họ Thái, tự Trừng ấn, hiệu Hàm sơn. Năm 11 tuổi, sư đã lập chí xuất gia, năm sau sư đến chùa Báo ân theo ngài Tây lâm Vĩnh ninh học tập kinh điển và học thông cả Nho giáo, Đạo giáo. Năm 19 tuổi, sư đến yết kiến ngài Vân cốc Pháp hội ở núi Thê hà, nhân đọc bộ Trung phong quảng lục mới quyết chí tham thiền. Sư bèn trở lại chùa Báo ân y vào ngài Vô cực Minh tín xuất gia thụ giới Cụ túc. Nhân nghe giảng Hoa nghiêm huyền đàm, ngưỡng mộ đạo phong của ngài Thanh lương Trừng quán nên mới lấy tự là Trừng ấn. Năm Gia tĩnh 44 (1565), Sư lại tham yết ngài Pháp hội, được ngài trao cho công án Niệm Phật. Từ năm Long khánh thứ 5 (1571) về sư, sư vân du các nơi, tham học ở các trường giảng tại kinh thành, yết kiến hai ngài Biến dung và Tiếu nham. Niên hiệu Vạn lịch năm đầu (1573), Sư lên núi Ngũ đài, thấy phong cảnh Hàm sơn thanh tú kì vĩ mới dùng làm hiệu. Năm Vạn lịch thứ 9 (1581), sư cùng với ngài Phúc đăng thỉnh 500 vị Đại đức trong kinh thành lên mở hội Vô già trên núi Ngũ đài, Thái hậu cũng sai sứ đến cầu phúc cho Thái tử. Về sau, sư ở tại Lao sơn, Đông hải (Lao sơn, tỉnh Sơn đông), nổi tiếng một thời. Năm Vạn lịch 14 (1586), vua Thần tông đem 15 bộ Đại tạng kinh ban cho các chùa lớn trong nước trong đó có chùa Lao sơn. Đồng thời, Thái hậu làm chùa Hải ấn rồi thỉnh sư trụ trì. Năm Vạn lịch 23 (1595), vì tội tự ý sửa chùa Hải ấn, lại bị ghen ghét và vu cáo, nên Sư bị đày đến Lôi châu (Quảng đông). Năm Vạn lịch 28 (1600), theo lời mời của ngài Nam thiều Đạo chúc, Sư đến trụ ở Tào khê, năm sau Sư mở lại Tổ đình, chọn tăng thụ giới, mở trường học, nuôi sa di, thiết lập thanh qui, chấn hưng gia phong của Tổ. Năm Vạn lịch 42 (1614), trước khi chết, Thái hậu đã ban chiếu ân xá cho sư được mặc tăng phục trở lại. Từ đó, sư thường đi thuyết pháp hoằng hóa ở các nơi danh sơn thắng tích. Năm Vạn lịch 44 (1616), sư sáng lập Pháp vân thiền tự ở ngọn Ngũ nhũ tại Lô sơn, phỏng theo pháp hội của ngài Tuệ viễn, chuyên tu tịnh nghiệp. Năm Thiên khải thứ 2 (1622), sư lại nhận lời mời của quan Thái thú Thiều châu là Trương công về Tào khê lần nữa để hoằng pháp. Tháng 10 năm Thiên khải thứ 3 (1623) sư tịch, thọ 78 tuổi, thụy hiệu Hoằng Giác Thiền Sư. Người đời sau dựng tháp thờ sư ở sườn núi Thiên tử chùa Nam hoa và gọi sư là Hàm sơn đại sư. Tư tưởng của sư lúc sinh thời là dung hợp Thiền với Hoa nghiêm, đề xướng thuyết Thiền Tịnh vô biệt, tam giáo qui nhất (Thiền và Tịnh độ không khác nhau, Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo là một). Sư cùng với các ngài Châu hoành, Chân khả và Trí húc được gọi chung là bốn vị Đại cao tăng của Trung quốc ở cuối đời Minh. Đệ tử của sư có các vị: Phúc thiện, Thông quýnh. Các trước tác của sư gồm có: Hoa nghiêm cương yếu 80 quyển, Lăng nghiêm kinh thông nghị 10 quyển, Pháp hoa kinh thông nghĩa 7 quyển, Khởi tín luận trực giải, Viên giác kinh trực giải, Triệu luận lược chú, mỗi thứ 2 quyển, Duy thức luận giải, Tịnh độ hội ngữ, Trung dung trực chỉ, Xuân thu tả thị tâm pháp, Lão tử đạo đức kinh chú, Quan Lão Trang ảnh hưởng luận. Ngoài ra, còn có bộ Hàm sơn mộng du tập 55 quyển, Hàm sơn ngữ lục 20 quyển do đệ tử sư thu chép biên tập. [X. Tịnh độ thánh hiền lục Q.5; Cao tăng trích yếu Q.3; Chính nguyên lược tập Q.8; Tục kê cổ lược Q.3; Tục đăng tồn cảo Q.12].
Đức Thanh 徳清
[ja] トクショウ Tokusei ||| Deqing (1546-1623) A Ming period Chan monk, from the Yangqi 楊岐 lineage of the Linji臨濟宗 tradition. Also known by the title of Hanshan 憨山, posthumously named Hongjue chanshi 弘覺大師. Dharma-heir of Yunyu fanghui 雲谷方會. A prolific writer and scriptural commentator, including a commentary on the Yuanjue jing 圓覺經 (Z 258.10.480-509). => c: Deqing (1546-1623) Thiền sư đời Minh, thuộc dòng Dương Kỳ (c: Yangqi 楊岐), tông Lâm Tế (c: Linji臨濟宗). Còn được gọi là Hám Sơn (c: Hanshan 憨山). Thuỵ hiệu là Hoằng Giác Đại sư (c: Hongjue chanshi 弘覺大師). Đệ tử nối pháp của Vân Cốc Phương Hội (c: Yunyu fanghui 雲谷方會). Là một người trứ tác nhiều luận giải các kinh, đặc biệt là chú giải kinh Viên Giác.
đức thiều
6016(891~972)宋代僧。為法眼宗第二祖。處州龍泉(浙江龍泉)人,一說縉雲(浙江縉雲)人,俗姓陳。十五歲出家,十八歲受具足戒。嘗遍訪明師五十四人,後為臨川法眼文益之法嗣,復入天台山訪智顗之遺蹟,止住白沙寺。後受吳越王錢弘俶迎至杭州,尊為國師。時天台山之螺溪義寂慨嘆天台教籍之散佚,聞高麗存有天台教籍,與師共議之,師乃乞錢弘俶遣使帶回。後遷天台般若寺,並興建道場數十所。宋太祖開寶五年入寂,世壽八十二。弟子有永明延壽、長壽朋彥、大寧可弘等百餘人。著有傳燈錄。〔宋高僧傳卷十三、禪林僧寶傳卷七、聯燈會要卷二十七〕
; (德韶) (891 - 972) Vị Thiền tăng ở đời Tống, người Long tuyền, Xử châu (Chiết giang), có thuyết nói sư là người Tấn vân (Chiết giang), họ Trần, là Tổ chứ 2 của tông Pháp nhãn. Năm 15 tuổi, sư xuất gia, đến 18 tuổi thụ giới Cụ túc. Sư từng tham yết 54 vị cao đức, cuối cùng nối pháp của ngài Pháp nhãn Văn ích ở Lâm xuyên. Sư từng vào núi Thiên thai chiêm bái các di tích của đại sư Trí khải, trụ lại ở chùa Bạch sa. Sau, sư được Ngô việt vương Tiền hoằng thục thỉnh về Hàng châu, tôn làm Quốc sư. Lúc bấy giờ, ngài Loa khê Nghĩa tịch đang trụ ở núi Thiên thai, than thở là kinh sách của tông Thiên thai đã bị thất lạc nhiều và nghe nói những kinh sách ấy hiện còn ở bên Cao li, nên bàn với sư, sư bèn xin Tiền hoằng thục sai sứ đi thỉnh về. Sau, sư dời về ở chùa Thiên thai Bát nhã và kiến tạo mấy mươi đạo tràng. Năm Khai bảo thứ 5 (972) đời vua Thái tổ nhà Tống Sư tịch, thọ 82 tuổi. Đệ tử của sư gồm các vị: Vĩnh minh Diên thọ, Trường thọ Bằng ngạn, Đại ninh Khả hoằng v.v... Sư để lại trước tác: Truyền đăng lục. [X. Tống cao tăng truyện Q.13; Thiền lâm tăng bảo truyện Q.7; Liên đăng hội yếu Q.27].
đức thiều thiền sư
Zen master Te-Shao—Thiền sư Đức Thiều sanh năm 881, là đệ tử và pháp tử của Thiền sư Vân Ích Pháp Nhãn—Zen master Te-Shao was born in 881, was a disciplie and Dharma heir of Fa-Yan-Wen-Yi. • Sư tham vấn Hòa Thượng Tuần ở Long Nha. Sư hỏi: “Bậc tôn hùng vì sao gần chẳng được?” Long Nha đáp: “Như lửa với lửa.” Sư hỏi: “Chợt gặp nước đến thì sao?” Long Nha bảo: “Ngươi chẳng biết.” Sư lại hỏi: “Trời chẳng che đất chẳng chở, lý nầy thế nào?” Long Nha đáp: “Nên như thế.” Sư không lãnh hội được, liền cầu xin chỉ dạy. Long Nha bảo: “Đạo giả! Ngươi về sau tự biết.”—Upon meeting Long-Ya, Te-Shao asked: “Why can't the people of today reach the level of the ancient worthies?” Long-Ya said: “It's like fire and fire.” Te-Shao said: “If suddenly there's water, then what?” Long-Ya said: “Go! You don't understand what I'm saying.” Te-Shao also asked Long-Ya: “What is the meaning of the 'sky can't cover it, the earth can't contain it'?” Long-Ya said: “It's just like that.” Te-Shao asked the same question repeatedly, but each timeLong-Ya gave the same answer. Finally, when he asked again, Long-Ya said: “I've already spoken, now you go find out on your own.” • Một hôm, Pháp Nhãn thượng đường, có vị Tăng hỏi: “Thế nào là một giọt nước ở nguồn Tào?” Pháp Nhãn đáp: “Là giọt nước ở nguồn Tào.” Vị Tăng ấy mờ mịt thối lui. Sư ngồi bên cạnh hoát nhiên khai ngộ, bình sanh những mối nghi ngờ dường như băng tiêu, cảm động đến rơi nước mắt ướt áo. Sư trình chỗ sở ngộ cho Pháp Nhãn. Pháp Nhãn bảo: “Ngươi về sau sẽ làm thầy Quốc Vương, khiến ánh đạo vàng của Tổ Sư càng rộng lớn, ta không sánh bằng.” Trên đây cho chúng ta thấy, Thiền không thể cầu được trong ngôn ngữ văn tự, dầu Thiền vẫn dùng ngôn ngữ văn tự để truyền đạt. Người tu Thiền nắm lấy diệu lý Thiền qua ngôn ngữ, chứ không phải trong ngôn ngữ—One day, as Fa-Yan resided in the hall, a monk asked him: “What is a single drop of the Cao source?” Fa-Yan said: “A single drop of Cao source.” The monk dejectedly retreated. Later, as Te-Shao reflected on this exchange while meditating, he suddenly experienced enlightenment, with the obstructions of everyday life flowing away like melting ice. Te-Shao went to Fa-Yan with news of this event. Fa-Yan is reported to have said: “Later you will be the teacher of kings. I won't compare with the brilliance of your attainment on the ancestral way.” This shows that Zen is not to be sought in ideas or words, but at the same time it also shows that without ideas or words Zen cannot convey itself to others. To grasp the exquisite meaning of Zen as expressing itself in words and yet not in them. • Một hôm sư thượng đường thuyết pháp. Có một vị Tăng hỏi: “Người xưa nói thấy Bát Nhã tức bị Bát Nhã ràng buộc, chẳng thấy Bát Nhã cũng bị Bát Nhã ràng buộc. Sao đã thấy Bát Nhã mà còn bị Bát Nhã ràng buộc là gì?” Sư hỏi: “Ông nói Bát Nhã thấy cái gì?” Vị Tăng hỏi: “Chẳng thấy Bát Nhã thì bị ràng buộc như thế nào?” Sư đáp: “Ông nói Bát Nhã chẳng thấy cái gì?” Rồi sư tiếp: “Nếu thấy Bát Nhã, đó chẳng phải là Bát Nhã; chẳng thấy Bát Nhã, đó cũng chẳng phải là Bát Nhã. Bát Nhã là cái gì mà nói là thấy, và chẳng thấy?” Sư lại tiếp: “Nên người xưa nói: 'Nếu thiếu một pháp, chẳng thành pháp thân; nếu thừa một pháp, chẳng thành pháp thân; nếu có một pháp để thành chẳng thành pháp thân; nếu không một pháp nào để thành, cũng chẳng thành pháp thân.' Chư Thượng Tọa, đó là chân tông Bát Nhã.”—One day he entered the hall to preach. A monk asked: “I understand this was an ancient wise man's saying 'When a man sees Prajna he is tied to it; when he sees it not he is also tied to it.' Noe I wish to know how it is that man seeing Prajna could be tied to it.” The master said: “You tell me what it is that is seen by Prajna.” The monk asked: “When a man sees not Prajna, how could he be tied to it?” The master said: “You tell me if there is anything that is not seen by Prajna.” The master then went on: “Prajna seen is no Prajna, nor is Prajna unseen Prajna; how could one apply the predicate, seen or unseen, to Prajna? Therefore, it is said of old that 'When one thing is missing, the Dharmakaya is not complete; when one thing is superfluous, the Dharmakaya is not complete; and again when there is one thing to be asserted the Dharmakaya is not complete; when there is nothing to be asserted, the Dharmakaya is not complete.' This indeed the essence of Prajna.” • Một hôm khác, sư thượng đường bảo: “Tối nay không ai được hỏi, ai hỏi sẽ lãnh ba mươi hèo.” Bấy giờ có một nhà sư vừa bước ra làm lễ, ngài bèn đánh. Nhà sư nói: “Chưa hỏi câu nào, sao Hòa Thượng lại đánh?” Sư hỏi: “Ông người xứ nào?” Nhà sư đáp: “Ở Tân La (Cao Li).” Sư nói: “Đáng lãnh ba chục hèo trước khi lên thuyền.”—Another day he entered the hall and declared: “I shall not allow any questioning tonight; questioners will get thirty blows.” A monk came forward, and when he was about to make bows, Te-Shan gave him a blow. The monk said: “When I am not even proposing a question, why should you strike me so?” He asked: “Where is your native place?” The monk said: “I come from Hsin-Lo (Korea).” Te-Shan said: “You deserve thirty blows even before you got into the boat.” • Sư dạo núi Thiên Thai xem những di tích của Hòa Thượng Thiền Sư Trí Khải, dường như chỗ mình ở cũ. Sư lại đồng họ với Trí Khải. Người đương thời gọi sư là Hậu Thân Trí Khải. Ban đầu sư trụ tại Bạch Sa. Lúc đó, Thái Tử Trung Hiến Vương trấn ở Thai Châu, nghe danh sư thỉnh đến hỏi đạo. Sư bảo: “Ngày sau làm chủ thiên hạ nên nhớ ơn Phật pháp.”—Te-Shao traveled to reside at the home of T'ien-T'ai Buddhism, a temple named Bai-Sa (White Sands) on Mount T'ien-T'ai. There he found that the records of the T'ien-T'ai school were largely lost or in a state of disrepair because of the social upheaval accompanying the end of the T'ang dynasty. Te-Shao assisted with the retrieval of lost T'ien-T'ai doctrinal text from Korea, thus restoring that school in China. The king of the kingdom of Wu-Yue invited Te-Shao to reside and teach at the famous lake city of Hang-Chou and honoured him with the title “National Teacher.” • Sư thị tịch năm 972—he passed away in 972.
đức thế tôn
Xem Thích ca mâu ni.
đức tin
Faith.
đức tin vô căn
(vô căn tín): đức tin phát khởi ban đầu nhờ sức gia trì của Phật, chưa có được bất cứ nền tảng nào nên gọi là vô căn. Những người trước chưa từng tin tưởng nơi Phật, Pháp và Tăng, nhờ có nhân duyên được gặp Phật liền phát khởi đức tin, gọi là vô căn tín. Từ đó về sau mới nhân đây mà phát triển các căn lành.
Đức trạch
(德澤): ân trạch, ân huệ. Như trong bài Trường Ca Hành (長歌行) của Lạc Phủ Thi Tập (樂府詩集) có câu: “Dương xuân bố đức trạch, vạn vật sanh quang huy (陽春布德澤,萬物生光輝, Xuân tươi ban ân huệ, muôn vật sáng rực rỡ).” Hay trong (解老) của Hàn Phi Tử (韓非子) có đoạn rằng: “Hữu đạo chi quân, ngoại vô oán thù ư lân địch, nhi nội hữu đức trạch ư nhân dân (有道之君、外無怨讎於鄰敵、而內有德澤於人民, Vua có đạo thì ngoài không có oán thù đối với kẻ địch lân bang, mà bên trong có ban ân huệ cho nhân dân).” Hơn nữa, trong Thượng Thư Đại Truyện (尚書大傳) quyển 2 cũng có câu: “Thanh triều thăng ca giả, ca tiên nhân chi công liệt đức trạch dã (清廟升歌者、歌先人之功烈德澤也, ca nhân thời nhà Thanh là người ca tụng công lao, ân huệ của các bậc tiền nhân).”
đức trạch
Favour.
đức tính cần thiết
Essential qualities.
đức tông
6010(1621~1684)清代曹洞宗僧。零陵(廣西)人,俗姓蔣。字逕庭。十三歲,聽永州(湖南)大定庵無學之教,二十七歲出家,遍參天德、西蓮、羅漢諸山,至天圓,拜謁義山且拙。後閱嶷山握中智符之語錄,極為驚歎,三十三歲參禮嶷山,三十五歲秉拂,三十七歲嗣法。康熙元年(1662),住清湘(廣西)南源洪聖寺,其後歷住壽佛庵、理山聖明寺、興隆菴、嶷山祝聖寺、千佛林、貝葉林等十五處。康熙二十三年示寂,世壽六十四。著有逕庭宗禪師語錄二卷行世。陳允恭為撰塔銘。
; (德宗) (1621 - 1684) Vị Thiền tăng thuộc tông Tào động sống vào đời Thanh, người Linh lăng (Quảng tây), họ Tưởng, tự là Kính đình. Năm 13 tuổi, sư thụ giáo nơi ngài Vô học ở am Đại định tại Vĩnh châu (Hồ nam). Năm 27 tuổi, sư xuất gia và tham học các ngài Thiên đức, Tây liên, La hán v.v... Rồi sư đến Thiên viên tham yết ngài Nghĩa sơn Thả chuyết. Sau, nhân xem ngữ lục của ngài Ác Trung Trí phù ở Nghi sơn mà sinh lòng thán phục và ngưỡng mộ, cho nên, năm 33 tuổi, sư đến tham bái ngài Nghi sơn, năm 35 tuổi, sư thăng tòa giảng pháp và đến năm 37 tuổi thì được nối pháp của thầy. Năm Khang hi 23 (1684) Sư tịch, thọ 64 tuổi. Sư có tác phẩm: Kính đình tông thiền sư ngữ lục 2 quyển.
đức tăng
6016(1929~ )臺灣臺中縣人,俗姓王。別號惟旨。日本花園大學畢業。民國三十五年(1946),依龍泉寺隆道法師出家。四十年,協助德照法師創建善光寺。四十四年,於臺中寶覺寺受具足戒。現任臺中縣善光寺住持、善光雜誌主編兼發行人、臺中縣佛教支會理事。著有善光讀本。
đức tề
6016日本第一位僧人,乃日本男子出家之濫觴。俗名鞍部多須那,司馬達等之子。用明天皇二年(587),天皇患瘡,將崩,師上奏願為天皇出家,建寺安置丈六佛像,修道以祈福。至崇峻天皇三年(590)方依其誓言出家,人稱德齊法師。後創南淵阪田寺,安置丈六佛像及脅侍菩薩,為天皇祈求冥福。生卒年不詳。〔日本書紀卷二十一〕
đức tự
See Swastika in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đức vương quan âm
6007三十三觀音之一。相當於法華經卷七普門品之(大九‧五七上)「應以梵王身得度者,即現梵王身而為說法」之觀音化身。蓋梵王乃色界之主,其德殊勝,故稱德王。世所流通之像為趺坐岩上,左手安置於臍前,右手持楊柳。
; (德王觀音) Thân Phạm vương, một trong 33 hóa thân của bồ tát Quan âm. Phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7 (Đại 9, 57 thượng), nói: Nếu cần đến thân Phạm vương để hóa độ chúng sinh, thì bồ tát Quan âm liền thị hiện thân Phạm vương để thuyết pháp cho chúng sinh ấy nghe. Phạm vương đứng đầu cõi Sắc, phúc đức rất thù thắng nên gọi là Đức vương. Hình tượng Đức vương ngồi kết già trên phiến đá, tay trái để ở trước rốn, tay phải cầm nhành dương liễu.
đức xoa ca
Taksaka (skt)—Một trong tứ long vương—One of the four dragon-kings.
Đức Xuyên
(德川, Tokugawa): tên gọi của một dòng họ, là dòng họ Tướng Quân của chính quyền Mạc Phủ Giang Hộ. Nguyên lai của dòng họ này phát xuất từ họ Tùng Bình (松平, Matsudaira) ở Thôn Tùng Bình (松平村), Quận Gia Mậu (加茂郡), tiểu quốc Tam Hà (三河, Mikawa). Có thuyết cho rằng để làm Tướng Quân, Gia Khang (家康, Ieyasu) đã cho Phạm Thuấn (梵舜) ngụy tạo gia hệ của mình mà đổi thành Đức Xuyên.
Đức Xuyên Gia Khang
(德川家康, Tokugawa Ieyasu, 1542-1616): vị Tướng Quân đầu tiên của dòng họ Đức Xuyên, con đầu của Tùng Bình Quảng Trung (松平廣忠), tên lúc nhỏ là Trúc Thiên Đại (竹千代), tên khi lớn là Nguyên Khang (源康); Giới Danh là Đông Chiếu Đại Quyền Hiện An Quốc Viện Điện Đức Liên Xã Sùng Dự Đạo Hòa Đại Cư Sĩ (東照大權現安國院殿德蓮社崇譽道和大居士) hay An Quốc Viện Điện Đức Liên Xã Sùng Dự Đạo Hòa Đại Cư Sĩ (安國院殿德蓮社崇譽道和大居士). Sau một thời gian lệ thuộc vào Kim Xuyên Nghĩa Nguyên (金川義元), ông bắt tay với Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga), rồi hòa thân với Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi). Năm 1590, ông bị phong bế ở Quan Bát Châu (關八州), nên vào Thành Giang Hộ (江戸城, Edo-jō), và sau khi Tú Cát qua đời thì ông chấp chính ở Thành Phục Kiến (伏見城, Fushimi-jō). Vào năm 1600, trong trận chiến ở Sekigahara (関が原), ông phá tan phe đảng Thạch Điền Tam Thành (石田三成); đến năm 1603 thì được bổ nhiệm làm Chinh Di Đại Tướng Quân và mở ra chính quyền Mạc Phủ ở Giang Hộ. Về sau, ông nhường chức Tướng Quân cho Tú Trung (秀忠, Hidetada), rồi trở về sống ẩn cư. Ông được ban thụy hiệu là Đông Chiếu Đại Quyền Hiện (東照大權現), pháp hiệu là An Quốc Viện (安國院).
Đức Xuyên Gia Quang
(德川家光, Tokugawa Iemitsu, 1604-1651): vị tướng quân đời thứ 3 của dòng họ Đức Xuyên (德川, Tokugawa), con trai thứ của Tú Trung (秀忠, Hidetada). Chính ông là người đã chế ra luật lịnh pháp độ, bình định vụ loạn Đảo Nguyên (島原, Shimabara), ban bố lịnh phong tỏa đất nước, trấn áp chư hầu, và xác lập sự hưng thạnh cho dòng họ Đức Xuyên (德川, Tokugawa). Ông được ban cho thụy hiệu là Đại Du Viện (大猷院).
Đức Xuyên Lại Tuyên
(德川賴宣, Tokugawa Yorinobu, 1602-1671): Tổ của dòng họ Đức Xuyên ở vùng Kỷ Y (紀伊, Kii), con trai đầu của Gia Khang (家康, Ieyasu); tên lúc nhỏ là trường phước hoàn (長福丸); biệt danh là Kỷ Y Lại Tuyên (紀伊賴宣); tôn xưng là Nam Long Công (南龍公); thần hiệu là Nam Long Đại Thần (南龍大神); giới danh là Nam Long Viện Điện Tùng Nhị Vị Tiền Á Tướng Khải Vĩnh Thiên Hoảng Đại Cư Sĩ (南龍院殿從二位前亞相顗永天晃大居士), Nam Long Viện Điện Nhị Phẩm Tiền Á Tướng Vĩnh Thiên Hoảng Đại Cư Sĩ (南龍院殿二品前亞相永天晃大居士). Ông có tánh tình hung hăng, sở trường về thi ca. Chính ông đã từng lập công trong trận đánh Osaka.
Đức Xuyên Quang Quốc
(德川光圀, Tokugawa Mitsukuni, 1628-1700): Phiên chủ đời thứ 2 của Phiên Thủy Hộ (水戸藩, Mito-han) thuộc tiểu quốc Thường Lục (常陸, Hitachi), sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ. Tên lúc nhỏ của ông là Tam Mộc Trường Hoàn (三木長丸), Đức Xuyên Thiên Đại Tùng (德川千代松), Đức Lượng (德亮); tự là Tử Long (子龍), Quán Chi (觀之); hiệu Nhật Tân Trai (日新齋), Thường Sơn Nhân (常山人), Suất Nhiên Tử (率然子), Mai Lí (梅里); biệt danh là Thủy Hộ Quang Quốc (水戸光圀), Thủy Hộ Hoàng Môn (水戸黃門); thụy hiệu là Nghĩa Công (義公); thần hiệu là Cao Nhượng Vị Đạo Căn Chi Mạng (高讓味道根之命); thân phụ là Đức Xuyên Lại Phòng (德川賴房, Tokugawa Yorifusa), mẫu thân là Cốc Cửu Tử (谷久子). Năm 1661 (Khoan Văn [寬文] nguyên niên), ông kế thừa sự nghiệp dòng họ, chỉ huy chính trị của Phiên trong vòng 29 năm trường, đã đóng góp công lao to lớn trong việc xác lập nền chính trị của Phiên thông qua các việc cấm tuẫn tử (殉死, dùng người sống chôn theo người chết), cải cách và chỉnh lý các đền thờ cũng như tự viện, chính sách khuyến nông, nêu cao đạo phong của sĩ phu, v.v. Chính ông đã phê phán lịnh thương xót sinh loại của Tướng Quân Đức Xuyên Cương Cát (德川綱吉, Tokugawa Tsunayoshi); và đến năm 1690 (Nguyên Lộc [元祿] 3), vì tuổi già sức yếu, ông lui về ẩn cư ở Tây Sơn Trang (西山莊), tự xưng là Tây Sơn Ẩn Sĩ (西山隱士); và nhường lại gia nghiệp cho Đức Xuyên Cương Điều (德川綱條, Tokugawa Tsunaeda), con của người anh Lại Trùng (賴重). Ông là người chuyên khuyến khích Nho học, mở ra Chương Khảo Quán (彰考館) để biên tập bộ Đại Nhật Bản Sử (大日本史), dồn hết năng lực chú thích bộ Vạn Diệp Tập (萬葉集) và tạo cơ sở vững chắc cho Thủy Hộ Học. Bên cạnh đó, ông còn kiến lập bia của Nam Công (楠公), ở vùng Thấu Xuyên (湊川), và mời sứ thần nhà Minh là Chu Thuấn Thủy (朱舜水) sang Phiên Thủy Hộ. Chính vì lẽ đó, những dật thoại cũng như truyền ký về Đức Xuyên Quang Quốc được thêu dệt và viết nên rất nhiều; xuất hiện các giảng đàm và sách thật lục về một vị minh quân như Quang Quốc, tạo ảnh hưởng lớn vào thời Cận Đại. Đặc biệt câu chuyện ông đi du hóa ở các tiểu quốc để xem xét dân tình, dẹp trừ bạo loạn, tham ô, v.v., là đề tài được mọi người rất ưa thích bàn luận, được ghi lại trong tác phẩm Đông Hải Đạo Trung Tất Lật Mao (東海道中膝栗毛) của Thập Phản Xá Nhất Cửu (十返舍一九, Jippensha Ikkū) dưới biệt danh là Thủy Hộ Hoàng Môn.
Đức Xuyên Tú Trung
(德川秀忠, Tokugawa Hidetada, 1579-1632): vị Tướng Quân đời thứ 2 của dòng họ Đức Xuyên (德川, Tokugawa), con thứ 3 của Gia Khang (家康, Ieyasu). Chính ông là người đã tận lực xây dựng chính quyền Mạc Phủ và được ban cho thụy hiệu là Đài Đức Viện (台德院).
Đức Xuyên Tề Chiêu
(德川齊昭, Tokugawa Nariaki, 1800-1860): nhà Đại Danh sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ, Phiên chủ đời thứ 9 của Phiên Thủy Hộ (水戸藩, Mito-han), thân phụ của Đức Xuyên Khánh Hỷ (德川慶喜, Tokugawa Yoshinobu), Tướng Quân đời thứ 15 (cuối cùng) của chính quyền Mạc Phủ Giang Hộ. Thân sinh ông là Đức Xuyên Trị Kỷ (德川治紀, Tokugawa Harutoshi), thân mẫu là Anh Tưởng Viện (英想院); tên lúc nhỏ là Hổ Tam Lang (虎三郎), Kính Tam Lang (敬三郎); thụy hiệu là Liệt Công (烈公); tự Tử Tín (子信); hiệu là Cảnh Sơn (景山), Tiềm Long Các (潛龍閣); thần hiệu là Áp Kiến Nam Quốc Chi Ngự Thuẫn Mạng (押健男國之御楯命), Nại Lí An Kỷ Lương Chi Mạng (奈里安紀良之命). Năm 1829 (Văn Chính [文政] 12), ông làm Phiên chủ, trọng dụng nhóm Đằng Điền Đông Hồ (藤田東湖, Fujita Tōko) và tiến hành cải cách chính trị của Phiên. Nhờ có khuyến khích nhân dân dự trữ thóc lúa, nên dân chính an định; rồi ông cho thiết lập Hoằng Đạo Quán (弘道館), xúc tiến cải cách quân sự theo kiểu phương Tây và tăng cường phòng thủ bờ biển. Tuy nhiên, do vì cưỡng chế nộp Hồng Chung để đúc đại pháo, cọng thêm chính sách bài Phật quá khích cực đoan của ông dựa trên tư tưởng gọi là Thần Nho Nhất Trí (神儒一致), vào năm 1844 (Hoằng Hóa [弘化] nguyên niên), ông bị chính quyền Mạc Phủ hạ mệnh bắt phải lui về ẩn cư. Chính trong khoảng thời gian này, thỉnh thoảng ông cũng có dâng thư đề đạt ý kiến trình lên chính quyền như Mậu Tuất Phong Sự (戊戌封事, 1838), nói về tính tất yếu cần phải cải cách nền chính trị của chính quyền Mạc Phủ; hay như trạng thư nói về việc tăng cường đề phòng hải vức cũng như vấn đề thuyền của ngoại quốc xem thường luật lịnh của chính quyền, v.v. Sau khi thuyền của Peri đến Nhật, vào tháng 7 năm 1853 (Gia Vĩnh [嘉永] 6), ông được tham dự bàn việc quân chính với quan Lão Trung A Bộ Chánh Hoằng (阿部正弘); nhưng đến tháng 7 năm 1857 (An Chính [安政] 4), ông từ chức. Đến cuối đời, ông bị xử lý buộc phải cấm túc, không được ra ngoài và qua đời tại Thủy Hộ. Ông từng làm các chức quan như Tùng Tam Vị (從三位), Tả Cận Vệ Quyền Trung Tướng (左近衛權中將) kiêm Tả Vệ Môn Thúc Tham Nghị (左衛門督參議), Quyền Trung Nạp Ngôn (權中納言); và sau được truy tặng chức Tùng Nhị Vị (從二位), Quyền Đại Nạp Ngôn (權大納言), Tùng Nhất Vị (從一位), Chánh Nhất Vị (正一位).
đức điền
6009指佛及阿羅漢等證果者。佛、阿羅漢等皆具足諸勝功德,對彼等行供養則能生諸福德,猶如耕種田地而得長養萬物,故比喻為德田。〔俱舍論光記卷十八〕(參閱「福田」5852)
; Field of virtue, or of religious power, i.e. the cult of arhats and Buddhas.
; Ruộng công đức, ám chỉ những bậc A La Hán, Bồ Tát, và Phật—Field of virtue, or of religious power, i.e. the cult of arhats, bodhisattvas, and Buddhas.
; (德田) Ruộng đức, ví dụ các bậc đã chứng quả vị Phật hoặc A la hán. Vì các Ngài có đầy đủ công đức thù thắng, cúng dường các Ngài thì sẽ được nhiều phúc đức, cũng như người làm ruộng, gieo trồng hạt giống tốt sẽ thu hoạch nhiều kết quả, cho nên gọi là Đức điền. [X. Câu xá luận quang kí Q.18]. (xt. Phúc Điền).
Đức Đại Tự
(德大寺, Tokudai-ji): ngôi chùa của Nhật Liên Tông, tọa lạc tại 4-6-2 Ueno (上野), Daito-ku (台東區), Tokyo-to (東京都), rất nổi tiếng với danh hiệu là ngôi Ma Lợi Chi Thiên (摩利支天) ở vùng Thượng Dã (上野, Ueno); sơn hiệu là Diệu Tuyên Sơn (妙宣山). Tổ khai sơn của chùa là Từ Quang Viện Nhật Di (慈光院日遺), và chùa được suy định là xây dựng vào khoảng đầu hay giữa thế kỷ thứ 17. Tượng thờ chính của chùa là Khai Vận Đại Ma Lợi Chi Thiên (開運大摩利支天), nhằm để cầu nguyện trừ tai ách, làm ăn mua bán phát đạt; và đặc biệt tượng này được xem như là rất linh nghiệm đối với việc khai vận; cho nên, từ ngày xưa các tín đồ từ xa đã tập trung về đây để khấn nguyện cầu xin. Dưới thời đại Giang Hộ, trong ba ngày đầu của tháng Giêng được quy định là ngày Chúc Hạ của dòng họ Tướng Quân; nên đến ngày mồng 4 thì các tín đồ mới được đến chùa lễ bái. Nguyên ngữ của Ma Lợi Chi (s: Marici, 摩利支) có nghĩa là Dương Viêm (陽炎), hay Uy Quang (威光), và thường phát xuất từ mặt trời ra, nên được xem như là vị Thần hiển hiện để thủ hộ Phật pháp. Bản thân Nhật Liên cũng “trì Kinh Ma Lợi Chi Thiên Pháp Hoa để cứu độ tất cả chúng sanh.” Tương truyền tôn tượng Ma Lợi Chi Thiên này do Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi) tạo nên. Vào thánh Giêng, tháng 5, tháng 9, tháng 11 thì có lễ hội lớn ở đây; khi ấy chùa mới phân phát cho các tín đồ một loại cơm màu vàng giống y vàng ròng có trộn với hai loại đậu đen để trừ tai ách. Đây chính là lễ hội kéo dài liên tục từ ngày xưa khi chùa mới thành lập cho đến nay của Đức Đại Tự. Người ta cho rằng khi ăn loại cơm này thì không những chỉ trừ được tai ách hoạn nạn, mà còn được bệnh tật tiêu trừ, và vận nhà sáng sủa, thăng tiến phát đạt nữa.
đức độ
Virtuous and generous.
Đức Ẩn Quán Hưu
(德隱貫休, Tokuin Kankyū, 832-912): tự là Đức Ẩn (德隱), đệ tử của Thạch Sương Khánh Chư (石霜慶諸), nổi tiếng với tư cách là thi tăng, xuất thân họ Khương (姜), vùng Lan Khê (蘭谿), Kim Hoa (金華, Tỉnh Triết Giang). Năm lên 7 tuổi, ông theo xuất gia với Viên Trinh (圓貞) ở An Hòa Tự (安和寺) trong vùng. Ông sở trường về làm thơ, viết sách và vẽ tranh, thường đi du hóa khắp nơi và giao du rộng rãi với các tầng lớp tăng tục. Ông còn được Ngô Việt Vương (呉越王) họ Tiền dùng lễ trọng đãi và ban cho hiệu là Thiền Nguyệt Đại Sư (禪月大師). Trước tác của ông có Tây Nhạc Tập (西嶽集). Ông thị tịch vào năm thứ 2 (912) niên hiệu Càn Hóa (乾化), hưởng thọ 81 tuổi.
Đức 徳
[ja] トク toku ||| (1) Virtue, merit, power, goodness. The positive power that arises from a life of virtue. (2) Conduct, behavior, energy, power. [Buddhism] 'virtue,' 'goodness,' The 'power derived from goodness.' (1) Virtuous root(s) (alpa-kuśala-mūla). (2) Virtuous merits, good deeds and their results (punya). (3) The virtuous qualities, or superior traits of a sage (guna). (4) Virtuous deeds (vrtta) (5) The function of great compassion. (6) Attribute, distinctive quality (guna). => 1. Đức hạnh, công đức, năng lực, tính tốt. Năng lực xác thực từ cuộc sống đạo đức. 2. Đạo đức, tư cách đạo đức, khả năng tiềm tàng, năng lực . [Phật học] Đức hạnh, tính tốt. Năng lực xuất phát từ đạo hạnh. 1. Thiện căn (s: alpa-kuśala-mūla). 2. Công đức, việc thiện và kết quả tốt lành (s: punya) 3. Phẩm hạnh đạo đức, đặc tính siêu việt của một bậc thánh (s: guna). 4. Việc công đức (s: vrtta. 5. Công năng của tâm đại bi. 6. Thuộc tính, đặc tính phân biệt (guna).
Đức-xoa-ca 德叉迦
[ja] トクサカ Tokusaka ||| Takṣaka. A type of dragon king that has many tongues. 〔法華經 T 262.9.2a22〕 => ( s: Takṣaka). Một loài rồng có nhiều lưỡi.
đứng dậy
To stand up—To get up—To rise to.
đứng mũi
To assume all the responsibility.
đứng nghiêm
To stand at attention.
đứng sửng
To remain motionless.
đứng trơ trơ
To stand motionless.
đứng tuổi
To be middle-aged.
đứng yên
To stand (keep—remain) still.
đứng đầu
To head—To be chief of.
đứng đắn
Decent—Đúng đắn.
đứng đờ ra
To be stupified.
đừng làm việc gì mình không muốn người khác làm cho mình
Do as you would be done by.
đừng lãng phí thời gian
Don't waste any moment of time (time).
đừng sợ
Don't be afraid.
đừng tin vào
Not to believe in.
đừng xem lỗi người, hãy xem lỗi mình
Let's not seek others' faults, but one's own deeds.
đừng xét người qua bề ngoài
Don't judge a man from his outside—Don't judge people by their appearance.
ơn
Favour.
ơn chư bồ tát
The favour of Bodhisattvas.
ơn dầy
Great favor.
ơn huệ
Favor.
ơn nghĩa
Favour—Benefit.
ơn riêng
Special favour.
ơn trên
Ngoại đạo tin rằng có một thứ gọi là “Ơn trên”—Externalists believe that there exists a so-called The favour of God.
ơn đức
Gratitude.
ư
Sở y—Chỗ y chỉ nương dựa—At—In—On—To—From—By—Than.
ư huy
Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Ư Huy là tên của Ladakh. “Vùng thượng nguồn sông Ấn Hà, dưới sự cai trị của người Cashmere, nhưng cư dân ở đây lại là người Tây Tạng—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is a name for Ladakh. “The upper Indus valley under Cashmerian rule but inhabited by Tibetans.”
ư đế
Tất cả các pháp do Phật nói là “giáo đế” (là chỗ dựa nương cho thế đế và đệ nhất nghĩa), rằng tính của chư pháp là không (người đời lại điên đảo cho là có tức là thế đế; các bậc Hiền Thánh thì biết rõ thực tánh của chư pháp là không tức là đệ nhất đế)—All Buddha's teaching is “based upon the dogmas” that all things are unreal, and that world is illusion.
Ư 於
[ja] オ o ||| (1) At, in, on, from, to, by, than. (2) To be (in a certain place). (3) With reference to, of, as for, as to. (4) Because of. (5) Like, as if. (6) Sometimes, in the middle of a sentence, it is an auxiliary word with little meaning. => 1. Ở tại, trong, trên, từ, đến, bởi, hơn. 2. Ở (một nơi nào đó). 3. Có liên quan đến, của, vì, với. 4. Bởi vì. 5. Như, như thể. 5. Có khi đứng ở giữa câu. Là một trợ từ không có nghĩa.
ưa
To be fond of—To like—Fondness.
ưa bươi móc lỗi người
Preferring (delighting) in exposing other people's faults (wrong doings).
ưa chuộng
To esteem—To prefer—To like.
ưa chuộng giáo lý huyền bí siêu việt
Preferring mysterious and transcendental doctrines.
ưa cãi nhau
See Ưa Gây Gổ.
ưa gây gổ
To be quarrelsome.
ưa nói lỗi người
Preferring (delighting) in speaking other people's mistakes.
ưa nịnh
To be fond of flattering.
ưa thích
Desire—To like—To be fond of.
ưng
1) Chim Ưng: Eagle—Hawk—Falcon. 2) Ngỗng trời: Hamsa (skt)—A wild goose. 3) Ưng thuận: To consent—To agree.
ưng bụng
To consent.
Ưng Chung
(應鍾、應鍾): có hai nghĩa chính:(1) Tên gọi âm thứ 6 trong 6 âm thanh thuộc về Âm của 12 luật âm, tương đương với âm Thượng Vô (上無, kamimu) trong 12 âm luật của Nhật Bản. (2) Tên gọi khác của tháng 10 Âm Lịch. Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 có giải thích rằng: “Thập nguyệt kiến Hợi viết Đại Uyên Hiến, hựu viết Ưng Chung, hoặc danh Mạnh Đông, Khai Đông, Tiểu Xuân; diệc danh Dương Nguyệt, Lương Nguyệt đẳng (十月建亥日大淵獻、又曰應鐘、或名孟冬、開冬、小春、亦稱陽月、良月等, tháng Mười kiến Hợi, gọi là Đại Uyên Hiến, còn gọi là Ưng Chung, hoặc gọi là Mạnh Đông, Khai Đông, Tiểu Xuân; cũng có tên là Dương Nguyệt, Lương Nguyệt, v.v.).” Hay trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 cho biết thêm rằng: “Hợi vi Ưng Chung, thập nguyệt chi thần danh Hợi; Hợi giả, hặc dã; ngôn âm dương khí hặc sát vạn vật, cố vị chi Hợi (亥爲應鍾、十月之辰名亥、亥者、劾也、言陰陽氣劾殺萬物、故謂之亥, Hợi là Ưng Chung, chi của tháng Mười là Hợi; Hợi là hặc [hạch sách]; có nghĩa là khí âm dương hạch sách vạn vật, nên gọi nó là Hợi).”
ưng châu
Ying-chou (C).
ưng chịu
To agree.
Ưng cúng 應供
[ja] オウグ ōgu ||| (1) Literally, "one who deserves offerings" because he has completely rid himself of all selfish tendencies--an arhat 阿羅漢 (Pali arahant; Tib. dgra bcom pa). This is one of the ten epithets 十號 of the Buddha. (2) One who has achieved the stage of no more learning 無學果. => 1. “Bậc xứng đáng thọ nhận sự cúng dường” vì đã hoàn toàn rũ sạch trong tâm mọi khuynh hướng tự ngã—là một A-la-hán ( 阿羅漢s:arhat; p: arahant; t: dgra bcom pa). Là một trong 10 danh hiệu của Đức Phật. 2. Bậc đã đạt đến quả vị Vô học.
Ưng hiện 應現
[ja] オウゲン ōgen ||| The manifestation of a body by a buddha or a bodhisattva in response to the mental condition of sentient beings. Manifestation according to the situation. => Thân biểu hiện của một Đức Phật hay Bồ-tát tương ưng tâm niệm của từng chúng sinh. Thân ứng hiện theo từng hoàn cảnh và quốc độ.
ưng hành
Đi qua theo hình chữ V, giống như đội hình bay của loài ngỗng trời—To pass in V-shaped formation like wild geese.
Ưng lý viên thật tông 應理圓實宗
[ja] オウリエンジツシュウ ōri enjitsushū ||| One of the terms used by the Faxiang school to describe itself. So-named because the school claims to respond to all doctrinal problems with correct theoretical reasoning. => Một trong các thuật ngữ mà Pháp tướng tông tự mô tả về mình. Tên gọi như thế vì tông nầy tuyên bố thích ứng với mọi pháp môn bằng lý tròn đầy chân thực.
ưng quật ma la
Aṅgulimāla (S) Xem Ương quật ma la.
; Aṅgulimālya (S), Aṅgulimāla (S)Ưng quật ma la, Ưng quật lỵ ma la, Chỉ ManTên một người Bà la môn giết 999 người chặt ngón tay xo thành xâu đội làm tóc, tin rằng giết được 1000 người thì được sanh lên trời cao. Vì không tìm được ai, y rượt mẹ mà giết. Phật hiện ra, cảm hóa và cho y qui y thjọ phép xuất gia, sau đắc A la hánXem Ưng quật ma la.
ưng quật ma la kinh
Aṅgulimālya sŪtra (S)Ưng quật na Kinh, Chỉ Man kinhTên một bộ kinh Xem Ưng quật ma la Kinh.
ưng sa già lam
See Hỗ Sa Già Lam.
ưng thuận
Patisantharo (P), Courtesy.
; To accept—To consent.
ưng tháp
Dã Ngan Tự, tên một tự viện nổi tiếng ở Trung Hoa—The Wild Goose Temple, name of a famous monastery in China.
Ưng tri thắng tướng 應知勝相
[ja] オウチショウソウ ōchi shōsō ||| The distinguishing characteristics of the knowable: the three natures of other-dependent 依他性相, imaginary 分別性相, and perfectly real 眞實性相. 〔攝大乘論 T 1593.31.118a22〕 => Các đặc tính tiêu biểu của cái biết (thức): Y tha tính tướng, Phân biệt tính tướng, và Chân thực tính tướng.
Ưng tri y chính 應知依止
[ja] オウチエシ ōchi eshi ||| The support of the knowable--the store consciousness 阿頼耶識. 〔攝大乘論 T 1593.31.118a21〕 => Chỗ y cứ của cái biết – Tàng thức, A-lại-da thức.
Ưng tri 應知
[ja] オウチ ōchi ||| (1) That which should be known; the knowable (Skt. jānīyāt; Tib. śes par bya). 〔攝大乘論 T 1593.31.113b17〕(2) That which should be investigated (jñeya). => 1. Điều nên phải biết; điều có thể nhận ra được (s: jānīyāt; t: śes par bya). 2. Điều phải nên tìm hiểu (s: jñeya).
ưng tác nghiệp
Yogā-vihita-karma (S).
Ưng tác 應作
[ja] オウサ ōsa ||| The manifestation of a body by a Buddha or a bodhisattva for the purpose of teaching sentient beings. Synonymous with yinghua 應化. => Thân biểu hiện của một Đức Phật hay Bồ-tát vì mục đích giáo hoá chúng sinh. Đồng nghĩa với Ứng hoá (應化c: yinghua) .
Ưng tích 應迹
[ja] オウジャク ōjaku ||| A transformation-body manifest in response to the various temperaments of sentient beings. => Hoá thân của một Đức Phật hay Bồ-tát thị hiện đáp ứng với nhiều khí chất khác nhau của chúng sinh.
Ưng tụng 應頌
[ja] オジュ ōju ||| Chinese translation of the Sanksrit geya. See 祇夜. One of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. => Hán dịch chữ geya từ tiếng Sanskrit. Là một trong 12 thể loại của kinh điển Phật giáo.
ưng tự
A term for a monastery.
ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm (kinh kim cang)
Theo Kinh Kim Cang, một vị Bồ tát nên có các tư tưởng được thức tỉnh mà không trụ vào bất cứ thứ gì cả—According to the Diamond Sutra, a Bodhisattva should produce a thought which is nowhere supported, or a thought awakened without abiding in anything whatever. Toàn câu Đức Phật dạy trong Kinh Kim Cang như sau: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm (không nên sinh tâm trụ vào sắc, không nên sinh tâm trụ vào thanh, hương, vị, xúc, Pháp. Nên sinh tâm Vô Sở Trụ, tức là không trụ vào chỗ nào)—The complete sentence which the Buddha taught Subhuti as follows: “Do not act on sight. Do not act on sound, smell, taste, touch or Dharma. One should act without attachments.”
ưng ý
See Ưng (1).
Ưng 應
[ja] オウ ō ||| (1) Not different from . . . (2) Concomitant with, bound to. To answer, reply to, respond to; accept, obey, comply with, accede to; meet, supply. In proportion, to; in obedience to. (3) The manifestation of the buddha-body in response to the mind of sentient beings 應身 (yingshen). (4) The manifestation of a body by an enlightening being. (5) In Buddhist logic, a technical term referring to a case where one's proposition proves to be wrong-"mistaken logic." (prasajyate, prasaṅga). (6) An abbreviation of 應同, a Chinese term for arhat. (7) In the act of; on the point of. => 1. Không khác với... 2. Đồng thời với, nhất định. Đáp lại, trả lời; wng thuận, bằng lòng, đồng ý theo, thừa nhận; phù hợp, đáp ứng. Tương xứng với, vâng thuận theo. 3. Thân biểu hiện của Đức Phật do cảm ứng với tâm của chúng sinh (ứng thân應身 c: yingshen).4. Thân biểu hiện của một đấng giác ngộ.5. Trong luận lý học Phật giáo, đó là một thuật ngữ chuyên môn đề cập đến trường hợp tiền đề chứng minh bị sai “lạc đề” (s: prasajyate, prasaṅga. 6. Viết tắt của Ưng đồng. thuật ngữ Trung Hoa để gọi A-la-hán (s: arhat) 7. Nên, cần phải.
Ưu
優; C: yōu; J: yū, u;|Có hai nghĩa: 1. Hơn, vượt trội hơn, tốt hơn; 2. Dùng để chú âm u trong tiếng Phạn và Pa-li.
ưu
6060梵語 daurmanasya。表示憂惱、心不悅之意。在五受中稱為憂受,二十二根中稱為憂根。俱舍論卷三謂,此損惱不悅之心,僅與意識相應。然成唯識論卷五則列舉二說,一說如上所述,一說能與五識、意識相應;其中,受逼迫之輕微者為憂,重者為苦。此憂根僅限於欲界,不通於色界、無色界。〔大毘婆沙論卷一三九、卷一四二、俱舍論光記卷三、成唯識論述記卷五本〕
; Abundant, excessive; exceptional, extra; at ease; an actor; chiefly translit u sounds.
; Sorrow, grief, anxiety, melancholy; to mourn, grieve; translit u, yu.
; 1) Phân ưu: To condole or express sympathy with someone. 2) Ưu hạng: Very good—Excellent. 3) Ưu phiền: Sorrow—Grief—Melancholy—Anxiety.
ưu ba bà bà
Xem Thiện túc.
ưu ba bà sa
6404梵語 upavāsa。又作鄔婆沙。指於一日一夜受持八戒之在家男女。意譯為近住,即近聖道而住之義。又譯作齋,為持八齋戒之義。或譯為善宿,取其離惡而宿於善道之義。〔成實論卷九、俱舍論光記卷十四、玄應音義卷二十三〕
; Xem Thiện túc.
; Upavasa (skt)—Ưu Bà Sa. 1) Cận Trụ: To dwell in. 2) Trai giới: Fasting—Abstinence. 3) Người trì giữ bát quan trai giới hay thập thiện: A person who keeps eight or ten prohibitions.
ưu ba cúc đa
Upagupta (P), (S, P), Moggaliputta-Tissa (P)Vị tổ thứ tư, một trong 28 vị tổ Phật giáo ở Ấn độ. Tên khác của Mục Kiền Liên Tử Đế Tu.
; Upagupta (S). The fourth Indian Patriarch. Another name of Moggaliputta-Tissa.
; Upagupta (skt)—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (4).
ưu ba kiêu xá la
Upayakausalya (skt)—Ba La Mật thứ bảy—The seventh paramita. ** For more information, please see Thập Độ Ba La Mật (7).
ưu ba kiết
Upakùta (S).
ưu ba la long vương
Xem Thanh Liên Long vương.
ưu ba li
6404<一>梵名 Upāli,巴利名同。佛陀十大弟子之一。又作優婆離、鄔波離、憂波利。意譯作近執、近取。印度迦毘羅衛國人。出身首陀羅種,為宮廷之理髮師。佛陀成道第六年,王子跋提、阿那律、阿難等七人出家時,優波離亦隨同出家。實為佛陀廣開門戶,四姓平等攝化之第一步。 優波離精於戒律,修持嚴謹,譽為「持律第一」;後於第一次經典結集時,誦出律部。有關其前生功德、出家因緣,載於佛本行集經卷五十三至卷五十五。又中阿含卷五十二優婆離經,記述優婆離就律向佛陀請問;而同經卷三十二之優婆離居士,與師乃同名異人。 在密教,為胎藏界曼荼羅釋迦院中諸聲聞之一,居於釋迦左方上列第七位。其形像,全身呈肉色,現比丘形,趺坐於荷葉上。〔增一阿含經卷三弟子品、四分律卷四、卷五、五分律卷三十、摩訶僧祇律卷三十二、大智度論卷二〕 <二>巴利名 Upāli。又作優婆離。十八世紀泰國僧。奉泰國大城王朝波隆科斯王(Borom Kos)之命,組織僧團,至錫蘭傳授泰國式戒法。西元一七五三年,依泰國僧團儀式,為薩羅難迦羅及五位錫蘭沙彌授比丘戒,開創錫蘭暹羅派(Syāma-vaṃsa)之始,後入寂於錫蘭。
; Upāli (S, P)Một trong thập đại đại đệ tử. Người thợ cạo tóc, vị trì luật hạng nhất.
; Upàli (S). A barber of sùdra caste, who became a disciple of Sàkyamuni, was one of the three sthaviras of the first Synod, and reputed as the principal compiler of the Vinaya, hence his title Trì giới Keeper of the Laws.
; Upali (skt)—Ưu Ba Lợi—See Ưu Bà Li.
ưu ba li phạm
6404梵唄之一。又作優婆離梵。係於沙彌受戒儀式時所唱誦之梵唄。其文句為:「稽首禮諸佛及比丘僧,令演毘尼法,令正法久住,優波離為首,及餘身證者,今說戒要義,諸賢咸共聽。」禪苑清規卷九沙彌受戒文載(卍續一一一‧四六二下):「作梵闍梨(作『優波離梵』,如不能,即作『云何梵』):『云何於此經,究竟到彼岸?願佛開微密(咒香),廣為眾生說,為剃頭受戒者說。』」
Ưu Ba Ly
(s, p: Upāli, 優波離): còn gọi là Ưu Bà Ly (優婆離), Ô Ba Ly (鄔波離), Ưu Ba Lợi (憂波利); ý dịch là cận chấp (近執), cận thủ (近取); là một trong 10 vị đại đệ tử của đức Phật; xuất thân xứ Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛) của Ấn Độ, thuộc dòng dõi giai cấp Thủ Đà La (s: śūdra, p: sudda, 首陀羅), vốn là người thợ hớt tóc trong cung đình. Sau khi thành đạo được 6 năm, nhóm 7 người gồm Bạt Đề (s: Bhadrika, p: Bhaddiya, 跋提), A Na Luật (阿那律, tức A Nậu Lâu Đà [s: Aniruddha, p: Anuruddha, 阿冕樓馱]), A Nan (s, p: Ānanda, 阿難), v.v., phát tâm xuất gia; Ưu Ba Ly cũng theo nhóm này xin xuất gia. Chính tôn giả đã giúp đức Phật mở rộng cánh cửa nhiếp hóa bình đẳng, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, giai cấp, v.v. Tôn giả là người tinh thông về giới luật, tu trì nghiêm cẩn, được xem như là “Trì Luật Đệ Nhất (持律第一, vâng giữ giới luật số một).” Cho nên, trong cuộc kết tập kinh điển lần đầu tiên, tôn giả đã tụng Luật Bộ. Về công đức lúc sinh tiền, nhân duyên xuất gia của tôn giả, có ký lục trong Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 53~55. Về phía Mật Giáo, tôn giả là một trong các vị Thanh Văn trong Thích Ca Viện thuộc Thai Tạng Giới Mạn Trà La (胎藏界曼荼羅), ở bên trái đức Phật Thích Ca. Về hình tượng, hiện thân Tỳ Kheo, ngồi kiết già trên lá sen. Ngoài ra, Ưu Ba Ly hay Ưu Bà Ly (s, p: Upāli, 優婆離), còn là tên của vị tăng người Thái Lan sống vào khoảng thế kỷ 18, vâng mệnh đức vua Ba Long Khoa Tư (波隆科斯, Borom Kos) của vương triều Đại Thành (大城) tổ chức tăng đoàn, rồi sang Tích Lan truyền trao giới pháp theo phương thức Xiêm La. Vào năm 1753, theo nghi thức của tăng đoàn Thái Lan, sư truyền trao Tỳ Kheo giới cho Tát La Nan Ca La (薩羅難迦羅) và 5 vị Sa Di Tích Lan, bắt đầu khai sáng Phái Tích Lan Xiêm La (錫蘭暹羅派, Syāma-vaṃsa), và sau đó qua đời tại xứ này.
ưu ba ma na
6404梵名 Upamāna。又作優婆摩那。意譯為譬喻。據慧琳音義卷二十六載,優波摩那係佛陀之庶子。北本涅槃經卷三十四迦葉壽量品曾述及「比丘優婆摩那」之名。〔翻梵語卷二〕
ưu ba nan đà long vương
6405優波難陀,梵名 Upananda。又作婆難陀龍王、跋難陀龍王。意譯為重喜龍王、延喜龍王、大喜龍王,賢喜龍王。八大龍王之一。與難陀龍王為兄弟,故一般連稱此二龍王為難陀跋難陀。優波難陀善能順應人心,調御風雨,深得百姓歡喜,故有大喜等名稱。 據增一阿含經卷二十八所載,昔時佛陀至三十三天為母說法時,難陀、優波難陀龍王見彼諸沙門飛行於天上,遂興起瞋恚心,欲放大火風阻止,後為目犍連降伏,乃隨眾至佛所聽法。諸龍王於大乘諸經中被視為護法之龍神,多列於佛陀說法之會座中,如法華經卷一序品、北本涅槃經卷一壽命品所載。又過去現在因果經卷一亦載,佛陀降誕之時,此二龍王於虛空中吐清淨水,一溫一涼,以灌太子之身。 在密教,優波難陀與難陀皆位列於胎藏界曼荼羅外金剛部中之南西北三門內左邊。大日經疏卷五(大三九‧六三五上):「第二重廂曲之中置二龍王,右曰難陀,左曰跋難陀。首上皆有七龍頭,右手持刀,左手持羂索,乘雲而住。」〔大智度論卷三、法華經文句卷二下、法華經玄贊卷二本、出三藏記集卷二、慧琳音義卷二十五〕(參閱「難陀龍王」6723)
ưu ba nan đà tỳ kheo
Xem Luận nghị.
ưu ba ni sa đà
Upaniṣad (S)áo nghĩa thư1- Một trong những đệ tử Phật đắc A la hán (một trong những thượng thủ) 2- Tên một bộ kinh Vệ đà.
ưu ba ni sa độ
Upanisad (skt)—See Ưu Ba Ni Tát Đàm Phân.
ưu ba ni tát đàm phân
Upanisad (skt)—Ưu Bà Ni Sa Đàm. 1) Giác quan bí mật của kinh trong Mật Giáo—The secret sense of the sutra in esoteric doctrine. 2) Những tư tưởng căn bản và thần bí của triết học cổ Ấn Độ, không phải là tác phẩm do một người vào một thời nào đó viết, do vậy không thể xác định niên đại ra đời. Nó kèm theo những bài tán tụng của Kinh Vệ Đà, rồi sau mới xuất hiện phần Bà La Môn, mục đích là khẳng quyết cảm giác huyền bí của Kinh Vệ Đà—Philosophical or mystical writings by various authors at various periods attached to the Brahmanas, the aim of which is the ascertainment of the secret sense of the veda.
ưu ba nã da na
6403梵語 upanayana 之音譯。意譯為將導。乃婆羅門教之入盟式。即弟子拜師之儀式,此儀式均於少年時舉行。於印度四姓中,除最低賤之首陀羅外,其餘三姓少年,均可於儀式中自師傳受聖紐,此後即能受學吠陀聖典。
ưu ba phiến đa
6403梵名 Upaśānta。又作優波羶大、優波羶馱。約生於西元三世紀頃之比丘,其事蹟不詳。著有阿毘曇心論六卷,係因法勝「阿毘曇心論」過於簡略,而依之再增廣而成者。出三藏記集卷十二列舉薩婆多部記目錄五十三祖中,第三十祖名為優波羶馱羅漢;又於同書之佛大跋陀羅師宗相承五十四祖中,第二十七祖名為優波羶大,此二人應皆與優波扇多為同一人。〔開元釋教錄卷十三、閱藏知津卷十九、俱舍論法義卷一、緣山三大藏總目錄卷中〕
ưu ba phiến đa tỳ kheo
Upassanta (S)Tên một vị sư.
ưu ba sa ca
Upasaka (skt)—See Ưu Bà Tắc.
ưu ba thất sa
See Xá Lợi Phất, and Sariputra.
ưu ba thế xá
See Xá Lợi Phất, and Sariputra.
ưu ba đà da
Xem Hoà thượng.
ưu ba đề xá
6404<一>梵語 upadeśa 之音譯。十二部經(佛經之十二種體裁或形式)之一。即隨(梵 upa)、示(梵 diś)之義。又作優婆提舍、優婆題舍、優波替舍、烏波第鑠、鄔波第鑠。意譯作指示、教訓、顯示、宣說、論義、論義經、注解章句經。即對佛陀所說之教法,加以注解或衍義,使其意義更加顯明,亦即經中問答論議之一類。 然大智度論卷三十三謂,佛自己就四聖諦、六波羅蜜等一一順次解說其義者,或摩訶迦旃延解說修多羅者,及像法時代之論師如法所說者(指阿毘達磨等論書),悉皆名為優波提舍。又阿毘達磨順正理論卷四十四、瑜伽師地論卷二十五等,以摩呾理迦(梵 mātṛkā)、阿毘達磨皆為優波提舍之異名,其義已廣為敷衍。稱妙法蓮華經優波提舍、無量壽經優波提舍者,即係本經隨文義釋之義。〔北本涅槃經卷十五、瑜伽師地論卷八十一、顯揚聖教論卷六〕(參閱「阿毘達磨」3641、「摩呾理迦」6071) <二>梵名 Upatiṣya。印度小乘論之比丘,著解脫道論。(參閱「優波底沙」6403)
; Xem Luận nghị Xem Đại Quang A la hán.
; Upadesa (S). Section of the Canon
; Upadesa (skt)—Còn gọi là Ô Ba Đề Thước, Ưu Bà Đề Xá, Ô Ba Đệ Thước, hay Ưu Ba Thế Xá. 1) Một trong 12 bộ kinh: A section of Buddhist literature, general treatises, one of the 12 sutras in the sutra-pitaka. 2) Upatisya (skt)—Có lẽ là tên của Ngài Xá Lợi Phất—Perhaps a name of Sariputra. 3) Đồng nghĩa với A Tỳ Đạt Ma Tạng Kinh: A synonym for the Abhidharma-pitaka. 4) Đồng nghĩa với Mật Chú của phái Du Già: A synonym for the Tantras of the Yogacara school.
ưu ba để sa
6403梵名 Upatiṣya,巴利名 Uptissa。印度小乘論之比丘。又作優婆提舍、優波替舍。意譯為大光。與舍利弗從其父所得之名 Upatiṣya 相同。據推定生於摩哂陀(紀元前三世紀阿育王之子)之後。著有解脫道論,係依坐禪人得脫之階段,分別解釋戒、定、慧等解脫法門。其餘事蹟不詳。〔參閱「舍利弗」3498)
ưu bi
Grief; sadness.
ưu bà cúc đa
6407梵名 Upagupta。為付法藏第四祖,異世五師之一。又作憂波毱多、優波笈多、優波崛多、鄔波毱多、優波毱提、憂波毱、優波崛。略稱崛多。意譯作大護、近藏、近護、小護。以阿育王之帝師而知名,為中印度摩突羅國(梵 Mathurā)毱多長者之子。 優婆毱多性慈愍聰慧,具辯才。付法藏第三祖商那和修知是法器,乃教以繫念之法;若起惡心,則於左邊著黑石,若生善念,則於右邊著白石。優婆毱多依教攝念,最初黑石多,漸漸黑白石相等,至滿七日唯見白石時,商那和修遂為說四諦法,優婆毱多當下證得須陀洹果。又觀諸法苦、空,無常,證得阿那含果,至出家受具足戒時,得阿羅漢果。 其時阿育王聞優婆毱多於摩突羅國優留曼荼山之那羅拔利阿蘭若處為眾說法,欲往觀之,優婆毱多以其居處狹隘,遂率眾一萬八千人至華氏城為王說法,並告之佛陀諸舊跡,指示起塔供養,並建舍利弗、目犍連、大迦葉、阿難等諸大弟子之塔以供養之,據傳共造八萬四千塔。 據阿育王傳卷三載,佛陀曾於摩突羅國對阿難言(大五○‧一一一中):「我百年後,摩突羅國有毱多長者之子名優波毱多,教授禪法。弟子之中最為第一,雖無相好,化度如我。」優婆毱多大弘法化,度眾無數,化緣事畢,付法於提多迦,遂取滅度。俱舍論光記卷五謂優婆毱多著理目足論,然事實難詳。上記所說係北傳典籍所載,南傳則缺其名。 據近代學者研究,阿育王之師目犍連子帝須(巴 Moggaliputta-tissa),與優婆毱多或為同一人。推測目犍連子帝須其名,係取佛陀弟子目犍連之名與舍利弗之姓帝須而成,疑係優婆毱多兼具此二大弟子之德行,故後人賦與此一敬稱。〔雜阿含經卷二十三、卷二十五、善見律毘婆沙卷一、大智度論卷十、俱舍寶疏卷五、阿育王經卷八至卷十、阿育王傳卷四至卷六、付法藏因緣傳卷三、卷四、大唐西域記卷四〕
ưu bà di
6407梵話 upāsikā 之音譯。又作優婆私訶、優婆斯、優波賜迦。譯為清信女、近善女、近事女、近宿女、信女。即親近三寶、受三歸、持五戒、施行善法之女眾。為在家二眾之一,四眾之一,七眾之一。增一阿含經卷三列舉佛在世時以難陀難陀婆羅為優婆夷三十人之上首。南方所傳巴利律藏大品(Mahā-vagga),則謂優婆夷始於耶舍(在五比丘後出家受戒者)之母。〔俱舍論卷十四、維摩經略疏卷二、大唐西域記卷九〕
; Upāsikā (S, P)Tín nữ, nữ cư sĩ, cận sự nữNgười đàn bà tu Phật tại gia.
; Upàsikà (S). Female lay disciples who engage to observe the first five precepts.
; Upasika (s&p)—Còn gọi là Ưu Ba Di, Ưu Ba Tư, Ô Ba Tư Ca, Ưu Ba Tứ Ca, hay Ư Bà Tư Kha—Phật tử tại gia nữ hay cận sự nữ, tại gia nhưng tu hành trì ngũ giới—Lay women—A female disciple who remains at home—A female observer of at least one of the five commandments (lay precepts)—Members of the laity who have taken the Bodhisattva precepts.
ưu bà di tịnh hành pháp môn kinh
6407凡二卷。譯者不詳。約譯於北涼(397~439)。又稱優婆夷淨行經、淨行經、淨行品。收於大正藏第十四冊。本經係為毘舍佉之母而說優婆夷之淨行。共分三品:(一)修行品,列舉優婆夷應修學之十法及應遠離之五十八法。(二)修學品,舉示初學菩薩修習淨行之五十項,以及為得如來三十二大人相,所應修習之二十項。(三)瑞應品,述說菩薩處胎初生有十六種瑞應,生時有三十二種瑞應。
ưu bà di đoạ xá ca kinh
6407請參閱 優婆夷淨行法門經全一卷。又稱優陂夷墮舍迦經。譯者不詳。收於大正藏第一冊。本經與佛說齋經(支謙譯)、八關齋經(沮渠京聲譯)皆為中阿含卷五十五持齋經之別譯。內容為佛陀對優婆夷墮舍迦說齋戒之法及其功德。即於每月六齋日信持八戒,凡一日一夜,其功德遠勝於將十六大國之珍寶施與僧伽。
ưu bà di ứng
6407三十二應之一。優婆夷,指七眾中之在家女眾。觀世音菩薩為教化眾生,遂應其機類而示現三十二種身相;若女子受持五戒,觀世音菩薩即以優婆夷身現於其前,而為說法,成就其事,稱為優婆夷應。〔大佛頂首楞嚴經卷六〕(參閱「三十二應」511)
ưu bà kế thiết ni đồng tử
6410優婆髻設尼,梵名 Upakeśinī。為文殊五使者之一,亦為八大童子之一。又作小計設尼童子、鄔波童子、繼室尼童子、烏波髻設尼童子。或稱奉教菩薩。位於胎藏界曼荼羅文殊院中央靠南第二位。梵語 keśinī,意謂美髮之女;upa,為接近、隸屬之意。此尊係表文殊能施之三昧。其形像呈童女形,頂上有三髻,全身黃色,右手置於胸前,持獨股戟(表示此尊銳利之妙慧),左手豎掌,食指、中指內屈,著天衣,坐於赤蓮花上。密號為密持金剛。餘諸經軌所載另有異說。〔大日經卷一具緣品、卷五祕密漫荼羅品、大日經疏卷五〕
ưu bà li
Upali (skt)—See Giới Ba Li.
ưu bà li kinh
6410凡二部。(一)攝於中阿含經卷三十二(收於大正藏第一冊)。敘述長苦行尼揵從佛之問,答以身口意三罰中身罰為最重,佛則立意業為最重。優婆離居士從尼揵處聞此說後,為非難佛之立義而詣佛所,最後反歸化為佛弟子,斷惑證果。 (二)攝於中阿含經卷五十二。就中優婆離以七滅諍等比丘行事之如法不如法者詢問世尊,斯為持律第一之優婆離。另有「優婆離問佛經」(優婆離律)一卷,收於大正藏第二十四冊。
ưu bà ly
Oupali (S)Một đệ tử Phật, trước làm nghề cạo tóc, giai cấp hạ tiện, theo 6 ông hoàng dòng họ Thích đi xuất gia, sau đắc quả A la hán, được Phật khen là Trì luật đệ nhất.
ưu bà nan đà
Xem Bạt nan đà.
ưu bà phiên đà
Upasānta (S)Tên một vị Đại luận sư.
ưu bà quật đa
Upagupta (S). A sùdra by birth, who entered upon monastic life when 17 years old. He was renowned as almost a Buddha, lived under King Asoka, and is reputed as the fourth patriarch, 200 years after the nirvàna. Also Ưu ba cúc đa.
ưu bà tắc
6408梵語 upāsaka 之音譯。又作烏波索迦、優波娑迦、伊蒲塞。意譯為近事、近事男、近善男、信士、信男、清信士。即在家親近奉事三寶、受持五戒之男居士。為在家二眾之一,四眾之一,七眾之一。與優婆夷同係在家之信仰佛法者。依佛本行集經卷三十二載,佛陀成道後,至差梨尼迦樹林結跏趺坐,其時,來自北天竺之提謂(梵 Trapuṣa)、波利(梵 Bhallika)二商主以麨、酪,蜜所和之摶供養佛陀,而受三自歸,是為最初之優婆塞。又依優婆塞戒經卷三載,若受三歸並受持一戒者,稱一分優婆塞;受持二戒者,稱少分優婆塞;受持二戒已,若破一戒,稱為無分優婆塞;若受持三、四戒者,稱多分優婆塞;受持五戒者,則稱滿分優婆塞。蓋有部律允許分受五戒,有此五種之別。〔俱舍論卷十四、大智度論卷十三、大唐西城記卷九、南海寄歸內法傳卷三〕(參閱「優婆夷」6407)
; Upāsaka (P)Thiện nam, Nam cư sĩ, Cận sự namCư sĩ tu tại gia.
; Upàsaka (S). Originally mening a servant, one of low caste, it became the name for a Buddhist layman who engages to observe the first five precepts, a follower, disciple, devotee.
; Upasaka (s&p)—Còn gọi là Y Bồ Tắc, Ô Ba Sách Ca, Ưu Ba Sa Ca, Ưu Bà Sa Kha, Ô Ba Tắc Ca, hay Ô Ba Tố Ca. 1) Nghĩa nguyên thủy là một người đầy tớ thuộc giai cấp hạ tiện, sau danh từ nầy trở thành tên gọi Phật tử tại gia, người tu hành trì giữ năm giới: Originally meaning a servant, one of low caste, it became the name for a Buddhist layman who engages to observe the first five commandments, a follower, disciple, devotee. 2) Nam Phật tử tại gia, người thọ trì ngũ giới Tam quy. Phật tử tại gia thọ trì Bồ Tát giới. Theo truyền thống Phật giáo Đại Thừa thì người cư sĩ, ngoài việc hộ trì Tam Bảo, khả năng giải thoát của họ là không thể nghĩ bàn—Laymen—A male observer of at least one of the five commandments (lay precepts) and takes refuge in the Triratna—Members of the laity who have taken Bodhisattva precepts. In the Mahayana tradition, laymen are of great importance, because in addition to their support of the triratna, their possibility of attaining emancipation is indisputable. 3) Tịnh Độ tông lại cho rằng có ba loại cư sĩ; tuy nhiên chỉ có hai hạng cư sĩ có thể được lợi lạc khi tu theo Tịnh Độ—The Pure Land Sect believes that there are three types of laymen; however, only two types of them can benefit from the Pure Land: a) Loại thứ nhất là những cư sĩ thành tâm thật ý, dù ngu si mê muội thế nào đi nữa, khi nghe giáo pháp mà hoàn toàn tín tâm chấp nhận và tu tập thì chắc chắn sẽ vãng sanh Cực Lạc: The first types of those who can benefit from the Pure Land are those who are completely ignorant and deluded, but truthful and sincere individuals who upon hearing the teaching, wholeheartedly believe, accept and practice it continuously. b) Loại thứ hai có thể được lợi lạc khi tu theo Tịnh Độ là những cư sĩ có trí huệ thâm sâu và nhiều căn lành với Tịnh Độ, những người thông hiểu cả lý lẫn sự cũng như công đức đạt được qua pháp môn niệm Phật, do đó phát nguyện tin tưởng và thực hành Tịnh Độ: The second types of those who can benefit from the Pure Land are those with deep wisdom and good roots in the Pure Land method who clearly understand noumenon and phenomena and the virtues achieved through Buddha Recitation and who therefore resolve to believe and practice it. c) Loại thứ ba là hạng cư sĩ có phàm trí, nhưng không có khả năng hiểu được pháp thâm diệu, mà cũng không có chút tín tâm nào; hạng nầy chỉ học cho thuộc kinh điển rồi rảo bước đó đây nhàn đàm hý luận, thì chắc chắn trạm dừng chân kế tiếp sẽ là địa ngục—The third type of laymen are those with ordinary intelligence, but they can neither understand profoundly, nor do they have any belief in the Pure Land. They only study sutras by heart, then going from place to place to enjoy their idle talks, their next sure stop in the cycle of Birth and Death is “hell.”
ưu bà tắc giới kinh
6409請參閱 優婆塞五戒相經 請參閱 優婆塞五戒經 梵名 Upāsaka-śīla-sūtra。凡七卷,或五卷、六卷、十卷。又稱善生經、優婆塞戒本。北涼曇無讖譯(426)。收於大正藏第二十四冊。現唯存漢譯本。係善生長者為大乘在家信者(優婆塞)說三歸五戒等。乃由長阿含及中阿含中之善生經(六方禮經),敷演成為一部大乘經典。 本經分二十八品,說明菩薩之發心、立願、修學、持戒、精進、禪定、智慧等。特別在受持品中,除說明在家菩薩應受五戒之外,更提出六重、二十八失意等,通於梵網經所說十重四十八輕戒之大乘獨有之戒法。六重法即不殺生、不偷盜、不虛說、不邪淫、不說四眾過、不酤酒。二十八失意即包含有關不供養師長、飲酒、不看護病患等條文。經中除引用法華、大城、智印、鹿子等經外,並述及北本涅槃經卷二十六所說之生因了因說,更舉出曇無德、彌沙塞、薩婆多等部派之名,故在經典成立史上佔有重要地位。尤其以本經闡說大乘戒,因此特別受我國重視。〔出三藏記集卷二、卷九、開元釋教錄卷四、大乘戒經之研究(大野法道)〕
ưu bà tắc ngũ giới tướng kinh
6409全一卷。又稱五戒相經、優婆塞五戒略論。劉宋求那跋摩譯。收於大正藏第二十四冊。釋尊依淨飯王之請,對於殺戒、盜戒、淫戒、妄語戒、酒戒等五戒,一一舉出事例,述說各種罪惡之輕重,有不可悔罪,如殺戒中有自作、教人、遣使等殺人法,均屬不可悔罪;另有中罪、小罪等,則可懺悔而達到滅罪。本經係仿小乘廣律之解說形式而作。〔出三藏記集卷三、歷代三寶紀卷十、大唐內典錄卷四〕
ưu bà tắc ngũ giới uy nghi kinh
6409全一卷。劉宋求那跋摩譯。又稱菩薩優婆塞五戒威儀經、五戒威儀經。收於大正藏第二十四冊。與曇無讖譯之菩薩戒本經、玄奘譯之菩薩戒本為同本異譯。內容記述菩薩戒之戒相、持戒功德、懺悔法、自誓受法,及優婆塞所應具備之威儀等。如明示依優婆塞五戒生活者,須遠離身四惡、口五惡、五邪命、五事嚴飾與五事放逸等。所說攝於大乘律。〔開元釋教錄卷五〕
ưu bà tắc ứng
6409三十二應之一。優婆塞,指七眾中之在家男眾。觀世音菩薩為教化眾生,應其機類而示現三十二種身相;若男子受持五戒,觀世音菩薩即現優婆塞身於其面前,而為說法,成就其事,稱為優婆塞應。(參閱「三十二應」511)
ưu bà đà da
Upàdhyàya (S). A spiritual teacher. A genaral term for monk. Also hòa thượng, thân giáo sư.
; Upadhyaya (skt)—Còn gọi là Ổ Ba Đà Da, Ưu Ba Na Ha, hay Ưu Ba Đệ Da Dạ. 1) Hòa Thượng: Nguyên thủy Ưu Ba Đà Da có nghĩa là thân giáo sư, y chỉ sư, hay y học sư; về sau nầy tại các xứ Trung Á, từ nầy được dùng như là một vị Thầy trong Phật giáo nói chung, để phân biệt với luật sư hay thiền sư, nhưng từ nầy còn được dùng để gọi Hòa Thượng là thân giáo sư hay vị thày chỉ dạy trực tiếp trong tự viện—Originally a subsidiary teacher of the Vedangas; later through Central Asia, it became a term for a teacher of Buddhism, in distinction from disciplinists and intuitionalists, but as Ho-Shang it attained universal application to all masters. 2) Từ để gọi một vị Tăng: A general term for monk.
ưu bà đế tu
Upatissa (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
ưu bà đề xá
Upadesa (skt)—See Ưu Ba Đề Xá.
ưu bát la
Utpala (S), Uppala (P)Âu ba la địa ngục1- Tên một vị Long vương. 2- Hoa sen màu vàng, một loại hoa cõi trời 3- Tên của một trong 8 loại ngục lạnh.
; Utpala (S). The blue lotus, to the shape of whose leaves the Buddha's eyes are likened; also applies to other water lilies. Name of a dragon king; also one of the cold hells, and one of the hot hells.
; Utpala (skt)—Còn gọi là Ưu Bát, Ô Bát La, Âu Bát La, hay Ưu Bát Lạt. 1) Thanh Liên Hoa: Hoa sen xanh, lá nó dẹt dài, gần cuống hơi tròn, phía đầu nhỏ dần giống như đôi mắt Phật—Blue lotus, to the shape of whose leaves the Buddha's eyes are likened. 2) Tên gọi chung của các loại bông lục bình: A general name for other water lilies. 3) Tên của một loài Long Vương: Name of a dragon king. 4) Một trong bát hàn địa ngục: One of the eight cold hells—See Địa Ngục (B) (6).
ưu bát la hoa
6411優鉢羅,梵語 utpala,巴利語 uppala。即睡蓮。學名 Nymphaea tetragona,屬睡蓮科。又作烏鉢羅花、漚鉢羅花、優鉢剌花、殟鉢羅花。意譯作青蓮花。若冠青色(梵 nīla)之形容詞,則作泥廬鉢羅花(梵 nīlotpala)。法華玄贊卷一載,殟鉢羅華為青蓮華。玄應音義卷三稱之為黛花。大日經疏卷十五謂優鉢羅有赤白二色,又有不赤不白者,形似泥廬鉢羅花。依之,或係優鉢羅花以青色者居多,且青色者為殊勝,故通常稱為青色。 考之梵本,其附加赤(rakta)、青(nīla)等形容詞之語不少。梵文佛所行讚經作 raktātpala,法華經藥王品(大九‧五四下)「應以青蓮花盛滿末香」、妙音品(大九‧五五下)「目如廣大青蓮華葉」等處,則使用 nīlotpala 一語。〔起世經卷二、無量壽經卷上、翻譯名義集卷八〕(參閱「尼羅烏鉢羅華」1896)
ưu bát la long vương
6411優鉢羅,梵名 Utpalaka。八大龍王之一。又作漚鉢羅龍王、優波陀龍王。意譯作青蓮花龍王、黛色蓮花龍王。以其居於青蓮花之池,故有此名。法華經序品,記述八大龍王來會,列有其名。〔法華文句卷二下、法華玄贊卷二〕
ưu bát la địa ngục
6411優鉢羅,梵名 Utpala。八寒地獄之一。又作嗢鉢羅地獄、優鉢地獄。意譯作青蓮花地獄、黛花地獄。此地獄寒氣強盛,罪人全身皆為青瘀,皮膚破裂,故有此稱。俱舍論疏卷十一(大四一‧六一六中):「嗢鉢羅者,此云青蓮花。寒轉增故,身色變青,如青蓮花。」又起世經卷四列為十地獄之第七,謂優鉢羅地獄中有猛火燄,其色如優鉢羅花。〔長阿含經卷十九、大樓炭經卷二、北本涅槃經卷十一伽師地論卷四、大智度論卷十六、翻譯名義集卷七〕(參閱「優鉢羅華」6411)
Ưu bố 憂怖
[ja] ウフ ufu ||| Anxiety and fear; worry and fear; grief and fear. 〔法華經 T 262.9.05a17〕 => Lo âu và sợ hãi; lo lắng sợ sệt; sầu lo và sợ hãi.
ưu câu trá toạ
6407優俱吒,梵語 utkuṭa。又作嗢俱吒坐。意譯作蹲踞坐。印度之一種坐法。係以右腳踩於左腳上,呈蹲狀,臀部不著地。於密教,此乃呈現忿怒形時之坐法,而與降伏法相應。〔金剛頂瑜伽中略出念誦經卷一、不空羂索經卷九、南海寄歸內法傳卷三、慧琳音義卷二十六〕
ưu hoạn
To be afflicted with a calamity, with misfortune.
Ưu hoạn 憂患
[ja] ウゲン ugen ||| Anxiety, worry, care, distress (upasarga). 〔法華經 T 262.9.13a13〕 => Lo âu, buồn phiền, sự lo lắng, nỗi đau khổ (s: upasarga).
ưu hạng
First class honour.
ưu hải
The ocean of sorrow.
ưu hỏa
The fires of sorrow or distress.
; Lửa ưu phiền—The fire of sorrow or distress.
ưu kim
Kunkuma (skt). 1) Cây nghệ: saffron. 2) Một loại cây dùng làm dầu thơm: A plant from which scent is made.
Ưu liệt
優劣; C: yōuliè; J: yūretsu;|Tốt và xấu; xuất sắc và yếu kém.
ưu liệt
Excellent and bad.
Ưu liệt 優劣
[ja] ウレツ yūretsu ||| Superior and inferior; excellent and poor. => Tốt và xấu; xuất sắc và yếu kém.
ưu lâu ca
Uluka (skt)—Ưu Lưu Ca—Au Lư Già—Ưu Lũ Khư—Ôn Lộ Ca—Âu Lâu—Hưu Lưu Tiên Nhân. 1) Chim cú mèo: The owl. 2) Hưu Lưu Tiên Nhân, ra đời vào khoảng 800 năm trước thời Phật đản sanh, người sáng lập ra triết Thắng Luận: A rsi, 800 years before Sakyamuni, reputed as founder of the Vaisesika philosophy.
ưu lâu khư
6412梵名 Ulūka,巴利名同。印度六派哲學中勝論派之祖。又作優樓迦、憂流迦、嘔廬迦、嗢露迦、優婁佉、羯拏僕(梵 Kaṇabhuj)、蹇拏僕(梵 Kaṇāda,又譯蹇尼陀、迦那陀)。意譯為鵂鶹、獯猴子。或稱鵂鶹仙人、鵂角仙、食米齊(米屑)仙人。據成唯識論述記卷一末載,其人生於成劫之末,然百論疏卷上之中則謂其生於佛陀之前八百年頃。據傳,曾著勝論經(梵 Vaiśeṣika-sūtra),成為勝論學派之根本要典。其論旨係對宇宙萬物作空間之分析,屬唯物多元論,將諸法之範疇分別為實、德、業、同、異、和合六種,稱六句義。一說優樓佉非人名,而係種族名稱。又在金七十論卷下,列舉數論派之傳承,所列第五祖之名為優樓迦,然恐非上文之優樓佉。〔成實論卷二、四宗論、摩訶止觀卷十上、因明入正理論疏卷中、玄應音義卷二十四、印度六派哲學〕(參閱「勝論學派」4869)
ưu lâu tần loa
Uruvila (S)Tên một vùng có ngôi làng Nan đà, có sông Ni liên thiền, quê hương cô thôn nữ Thiện Sanh, người cúng dường sữa cho đức Phật vào ngày Ngài thành đạo. Thị trấn xứ Senani, bên cạnh dòng sông Niranjara (Ni liên thiền). Cảnh vật tại đây xinh đẹp, đức Phật đã cùng Kiều trần như (Kondanna) và bốn người khác: Bhaddiya, Vappa, Mahanama và Assaji cùng tu khổ hạnh.
; Uruvilva (skt). 1) Cây đu đủ: Papaya-tree. 2) Tên khu rừng gần đạo tràng Gaya nơi mà Đức Thích Ca Mâu Ni thực tập khổ hạnh trước khi ngài giác ngộ: Name of a forest near Gaya where Sakyamuni practiced austere asceticism before his enlightenment.
ưu lâu tần loa ca diếp
6412梵名 Uruvilvā-kāśyapa,巴利名 Uruvela-kassapa。佛陀弟子三迦葉之一。優樓頻螺(梵 Uruvilvā)為位於佛陀伽耶南方尼連禪河畔之地名,迦葉(梵 Kāśyapa)為其姓。又稱耆年迦葉、上時迦葉。未歸依佛陀之前,與二位胞弟伽耶迦葉(梵 Gayā-kāśyapa)、那提迦葉(梵 Nadī-kāśyapa)皆信奉事火外道;以其頭上結髮如螺髻形,故又稱螺髮梵志(梵 Jaṭila)。 三兄弟領弟子千人住於摩揭陀國時,為有名望之長老,故四方歸信雲集。後佛陀示現種種神通度化,遂成為佛弟子,將祭火器具皆投入尼連禪河。今印度山琦(Sanchī)大塔塔門之浮雕中,即有佛陀教化三迦葉之事蹟。 在密教中,位居胎藏界曼荼羅遍知院之三角智印左方。形像為全身肉色,現比丘形,合掌坐於座具上。密號善巧金剛。〔中阿含經卷十一、普曜經卷八、中本起經卷上、佛所行讚卷四、五分律卷十六、四分律卷三十二、青龍寺儀軌卷中、大唐西域記卷八、玄應音義卷二十五、慧琳音義卷二十六〕
; Uruvilva-kasyapa (S)Một Thanh văn đệ tử của Phật, ông là huynh trưởng trong ba anh em nhà Ca Diếp: Uruvilva Kāśyapa, Gaya Kāśyapa, Nadi Kāśyapa.
; Uruvilvà Kàsyapa (S). One of the principal disciple of Sàkyamuni, so called because he practiced ascetism in the Uruvilvà forest, or, because he had on his breast a mark resembling the fruit of the papaya (uruvilvà) He is to reaapear as Buddha Samantaprabhàsa.
; Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp là một trong ba vị Ca Diếp, đệ tử của Phật. Người ta gọi ông như vậy là vì ông tu hành khổ hạnh trong khu rừng Ưu Lâu Tần Loa, ông cũng có tướng hảo trên ngực in hình quả đu đủ. Phật thọ ký cho ông về sau nầy thành Phật hiệu là Phổ Minh Như Lai—Uruvilva Kasyapa, one of the three Kasyapas, one of the principal disciples of sakyamuni, so called because he practiced asceticism in the Uruvilva forest, or because he had on his breast a mark resembling the fruit of the papaya. He is to reappear as Budha Samantaprabhasa.
ưu lâu tần loa tụ lạc
6412梵名 Uruvilvāgrāma,巴利名 Uruvelā gāma。又作鬱鞞羅斯那尼(巴 Uruvelā-senāni)、優為羅縣、漚樓頻螺聚落。位於佛陀伽耶(梵 Buddha gayā)南方尼連禪河(梵 Nairañjanā)沿岸,約係現今烏里爾(Urel)地方。佛陀曾於其地修苦行六年。大智度論卷三十四(大二五‧三一一上):「釋迦文佛,於漚樓頻螺樹林中,食一麻一米。」後佛陀於該地乞食,接受長者斯那之女須闍多供養飲食。 梵語 uruvilvā 係由 urvāru(瓜名,學名 Cucumis usitatissimus)轉化之語,因其地遍生此瓜樹,故以之為名。法華文句卷一下(大三四‧一一中):「優樓頻蠡,亦優樓毘,亦優為,此翻木瓜林。」此外,該聚落亦為優樓頻螺迦葉之出生地。〔雜阿含經卷四十四、中阿含經卷八、卷三十三、卷五十六、五分律卷八、大智度論卷三、玄應音義卷二十五〕
ưu lưu mạn đà
Urumunda (skt)—tên một ngọn núi được nói tới trong Kinh A Dục Vương—Name of a mountain in the Asoka sutra.
ưu lưu mạn đà sơn
6406梵名 Urumuṇḍa,巴利名 Urumaṇḍa。位於中印度朱木那河(Jumna,即閻牟那河)西南,古代屬秣菟羅國(梵 Mathurā)。又作優留荼山、優流荼山、優留曼荼山、烏盧門荼山。意譯大醍醐山。阿育王經卷七(大五○‧一五五上):「優流漫陀,翻大醍醐。」據景德傳燈錄卷一商那和修章載,如來行化至秣菟羅國,見一青林,枝葉繁茂,遂告知阿難,此地稱為優流荼山;於如來滅度一百年後,有比丘商那和修在此轉妙法輪。商那和修即付法藏第三祖,其後,第四祖優婆毱多亦在此大弘法化。〔雜阿含經卷二十三、根本說一切有部毘奈耶藥事卷十八、阿育王傳卷三、翻梵語卷九〕
ưu lự
Anxious—Uneasy.
ưu muộn
Sorrowful—Sad—See Muộn.
ưu mỹ
Excellent
ưu nhàn
Unoccupied—Free.
Ưu não 憂惱
[ja] ウノウ unō ||| Worry, anxiety, stress, alarm (duḥkha). 〔法華經 T 262.9.29a14〕 => Buồn phiền, lo lắng, sự căng thẳng (s: duḥkha).
ưu phiền
Sad—Sorrowful
ưu sầu
See Ưu phiền.
ưu thi la thảo
6401 【優尸羅草】梵語 uśīra,巴利語 usīra。又作憂尸羅草、烏施羅草、嗢尸羅草。意譯為茅根香。亦稱飲第箎、香菜。冷藥草之一,屬於蜀黍類,其根有香氣。學名 Andropogon muricatus。產於喜馬拉雅山麓、恆河流域、緬甸、斯里蘭卡、爪哇、非洲等地,分布在海拔約一千三百公尺以上之區域。於印度,在盛夏時節,以其粉末塗身,可袪除苦熱而得清涼。〔最勝王經卷七、正法念處經卷二十三、蕤呬耶經卷中、十誦律卷十一〕
ưu thiền già ma điểu
6413優禪伽摩,梵語 uccaṅgama。又作憂承伽摩鳥、鬱遮鳥。意譯高逝鳥、高行鳥。起世因本經卷二鬱多囉究留品(大一‧三七二上):「爾時,彼鳥優禪伽摩從大山谷迅疾飛來,即銜其髮,將彼死屍擲置餘洲。」又在印度,以 uccaṅgama 一語為飛鳥之總稱。〔大樓炭經卷一〕
ưu thế
The world of trouble and sorrow.
; 1) Có uy thế nhất: Superiority. 2) Thế giới của phiền não và ưu sầu: The world of trouble and sorrow.
ưu thọ
Daurmanasya-vedanā (S)Một trong ngũ thọ.
; Một trong năm thứ thọ—Sorrow, one of the five vedanas, or emotions, or sensations—See Ngũ Thọ (A) (1).
ưu thụ
Sorrow, one of the five emotions.
ưu tiên
Priority.
ưu tú
Distinguished—Eminent—Excellent.
ưu tư
See Ưu phiền.
ưu tất xoa
Upeksà (S). The state of mental equilibrum in which the mind has no bent or attachment, and neither meditates nor acts, a state of indifference. Explained by xả abandonment. Also xả tướng, hành xả
; Upeksa (skt)—See Ưu Tất Xả.
ưu tất xá
6410梵語 upekṣā。又作憂畢叉。意譯為捨、平等、不諍。即行心平等,捨離偏執,故謂之捨。〔北本涅槃經卷三十、大乘義章卷十、慧琳音義卷二十六、翻譯名義集卷四〕(參閱「捨」4590)
ưu tất xả
Upeksa (skt)—Ưu Tất Xoa. 1) Xả bỏ: Một trong ba pháp tu Chỉ Quán Xả (Samadhi—Xa Ma Tha, Vipasyana—Tỳ Bà Xá Na, Upeksa—Ưu Tất Soa). Nội tâm bình đẳng không chấp trước—Explained by abandonment, or indifference attained in abstraction, i.e. indifference to pain or pleasure, equanimity, resignation, stoicism. Looking on , hedonic neutrality or indifference, zero point between joy and sorrow, disinterestedness, neutral feeling—See Chỉ Quán Xả. 2) Trì giữ tâm bình đẳng, bất thiên nhất phương (không nghiêng về bên nào)—The state of mental equilibrium in which the mind has no bent or attachment, and neither meditates nor acts, a state of indifference.
ưu việt
To be transcendental.
ưu ái
Affection.
ưu đa
6403梵語 gūḍha。又作優多殺、憂多。陷人於暗坑之法。十誦律卷二所舉十五種殺之一。即於某人必經之道中,預作無煙火坑,以沙土覆蓋其上,令人不察而墜落坑中。比丘若作坑害人,而致人於死,犯波羅夷重禁。〔十誦律卷二十一、菩薩戒義疏卷下(智顗)〕
ưu đa la
6403梵名 Uttara,巴利名同。<一>為佛陀弟子之一。常離群索居,於墓地獨自修行以思味法樂,而有「塚間第一」之稱。據傳善於記憶。〔增一阿含經卷三弟子品〕 <二>據撰集百緣經卷五記載,佛陀在王舍城迦蘭陀竹林時,有一長者,其妻生一男兒,端正殊妙,乃世上希有,因而取名為優多羅(勝上之意),後出家為比丘。其母因生前吝於布施,死後墮入餓鬼道;優多羅遂盡心供養佛陀及四方僧眾,令母得生於忉利天。
; Uttara (S) Upper, superior, higher, further.
; See U Đa La.
ưu đa la cứu lưu
See U Đa La Cứu Lưu.
ưu đa la tăng già
See U Đa La Tăng Già.
ưu điền
Udayana (skt)—Vu Điền—Ưu Đà Diên—Ưu Đà Diễn Na—Ô Đà Diễn Na Phạt Sai—Vua Ưu Điền của xứ Câu Thiểm Di, người cùng thời với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Vua Ưu Điền nổi tiếng về việc tạc tượng Phật đầu tiên—King of Kausambi and contemporary of Sakyamuni, who is reputed to have made the first image of the Buddha.
ưu điền vương
6410優填,梵名 Udayana。又稱優陀延王、嗢陀演那王、鄔陀衍那王。全稱嗢陀演那伐蹉(梵 Udayana-vatsa)。意譯日子王、出愛王。為佛世時憍賞彌國(梵 Kauśāmbī)之王。因王后篤信佛法,遂成為佛陀之大外護。據增一阿含經卷二十八載,佛陀曾昇至三十三天,為生母說法,彼時,優填王未能禮佛,憂苦愁病,群臣遂以牛頭栴檀(牛頭山所產之香木)造一尊五尺佛像,王乃痊癒。此為印度造佛像之濫觴。另於大方便佛報恩經卷三、觀佛三昧海經卷六、大乘造像功德經卷上等皆述及此事。然於造立形像福報經、作佛形像經,則謂王十四歲時,至佛所請問造像功德,而未提及佛至三十三天之事。相傳此佛像之模像曾傳來我國,且於三國時期,以此模像再雕之佛像東傳日本,嵯峨清涼寺之栴檀瑞像即是。 此外,關於優填王是否為憍賞彌國王,諸經論所說不一。如增一阿含經卷二十八,並舉出優填王為拔嗟國王,優陀延王為南海之主。〔法句譬喻經卷四、優填王經、大乘日子王所問經、瑜伽論記卷十七上、大唐西域記卷五、卷十二〕
; Udayana (S). Name of a king. Also Ưu đà diên vương.
; See Ưu Điền.
ưu điền vương kinh
6411全一卷。西晉法炬譯。收於大正藏第十二冊。此經有三譯,與大乘日子王所問經、大寶積經卷九十七優陀延王會為同本異譯。敘述優填王之后歸依佛陀,證得須陀洹果,而王卻因聽信無比夫人讒言,欲以百箭射殺王后。然所射之箭均繞后三匝,而還住於王前。王大為驚懼,偕無比夫人詣佛所懺罪,佛乃為說誡女色事。王即接受佛陀教化,歸依三寶。〔出三藏記集卷四、開元釋教錄卷二〕
ưu điểm
Good point—Strong point.
ưu đà di
Udāyi (S)Ưu-đa-diMột Thanh văn đệ tử của Phật.
; Udāyin (S)Tên một vị đệ tử của đức Phật đã đắc A la hán.
; Udàyin (S). To rise, shine forth; a disciple of Sàkyamuni, to appear as Buddha Samantaprabhàsa Phổ Minh Như Lai.
; Udayin (skt)—Một trong những đệ tử của Phật, sau nầy thành Phật hiệu là Phổ Minh Như Lai—One of the disciplies of the Buddha, to appear as Buddha Samantaprabhasa.
ưu đà diên vương
Udayāna (S), Udena (P)Ưu đà diên vươngCai trị xứ Câu đàm di thời đức Phật.
ưu đà già
Udaka (skt)—Nước—Water.
ưu đà la
Uttala (S)Tổ tiên đời thứ năm cũa dòng họ Thích Ca Xem Vô vấn tự thuyết.
ưu đà la la ma tử
6406請參閱 優婆夷墮舍迦經 [1]梵名 Udraka-rāma-putra,巴利名 Uddaka-rāma-putta。乃住於王舍城附近阿蘭若林中,說非想非非想定之外道仙人。又稱鬱頭藍子、鬱頭藍弗、鬱陀羅伽。意譯作雄傑、猛喜、極喜。釋尊出家後,先訪阿羅邏迦藍,次就此仙人求法。〔佛本行集經卷二十二答羅摩子品〕
; See U Đà La La Ma Tử.
ưu đà na
6405梵語 udāna。又作烏拕南、嗢拕那、鄔陀南、優檀那、憂陀那、鬱陀那。<一>十二部經(佛經之十二種體裁或形式)之一。舊譯為無問自說經。乃指佛因自己感悟,不待人問而自然宣說之經典。覺音三藏於巴利文長部經註序中謂優陀那有八十二經,即現今巴利三藏雜部所收之 udāna。俱舍論光記卷一釋此為(大四一‧一一上):「若言鄔陀南,此云集散,集散說故;或言集施,集所說義,施有情故。」上引所說「集散」義,或將 udāna 與梵語 uttāna(散布)混同之故;或謂係將「集」與梵語 uddāna(攝頌)之「攝」義混同而成。又大智度論卷三十三(大二五‧三○七上):「優陀那者,名有法,佛必應說,而無有問者,佛略開問端。」(參閱「鄔陀南」5685) <二>指氣息。大智度論卷六(大二五‧一○三上):「如人欲語時,口中風名憂陀那,還入至臍,觸臍響出,響出時觸七處(頸、齶、齒、唇、舌、咽、胸)退,是名語言。」然宗密之圓覺經大疏鈔卷十一下,以臍下一寸稱為優陀那,指丹田而言。 <三>印、總略、總攝、標相之義。大乘義章卷二(大四四‧五○七中):「優檀那者,是中國語,此名為印。故大智論明法無常、無我、涅槃,名三法印,成實亦爾。法相揩定,不易之義名印也。」
; Udàna(ya) (S). Voluntary discourses, a section of the canon. Also Tự thuyết.
; Udana or Udanaya (skt)—Còn gọi là Ô Đà Nam, Uất Đà Na, hay Ưu Đàn Na. 1) Tiếng gió ở cổ họng phát ra khi nói: Udana (skt)—Breathing upwards from the throat into the head; gutteral sounds 2) Đan Điền: Chỗ nằm bên dưới rốn khoảng một tấc—The navel (the exact location of “Udana” is three inches under the navel); umbilical; the middle. 3) Những bài kinh vô vấn tự thuyết của Đức Phật, một trong 12 phần của Tạng Kinh: Udanaya (skt)—Voluntary address (discourses), or volunteered remarks by the Buddha, sermons that came from within him without external request (voluntarily to testify), one of the twelve sections of the canon.
ưu đàm
6413(1911~ )河南人。親炙慈航法師多年。嘗求學於武昌佛學院。大陸淪陷後遷居香港,曾任香港僧伽聯合會主席等職。後轉赴新加坡宏法。
; Yu-tan (C).
; Udumbara (S). The glomarous fig tree, symbol of the arrival of a Buddha on the Earth.
; Udumbara (skt)—See Ưu Đàm Ba La Hoa.
ưu đàm ba la
Xem Hoa ưu đàm.
; Udumbara (skt)—Người ta nói rằng cây Ưu Đàm Ba La có trái mà không có hoa. Thường thì lâu lâu lắm nó mới nở hoa một lần (khoảng 3000 năm). Hoa Ưu Đàm nở là biểu tượng cho sự xuất hiện hiếm hoi của Phật. Người ta nói Hoa Ưu Đàm ba ngàn năm mới nở một lần. Cũng như gặp được Phật pháp và Phật cũng hiếm như loại hoa Ưu Đàm nầy—Udumbara flower—An Udumbara tree is said usually to bear fruit without flowers. Once in a very long period of time (about 3,000 years), it is said to bloom; hence, the udumbara flower is a symbol of the rare appearance of a Buddha. This flower is said to bloom once every three thousand years. For this reason, it is often used as an illustration of how difficult it is to come in contact with true Buddhist teachings as well as the rarity of encountering a Buddha.
ưu đàm ba la hoa
See Ưu Đàm Ba La.
ưu đàm bát hoa
The udumbara tree; supposed to produce fruit without flowers; once in 3,000 years it is said to flower, hence is a symbol of the rare appearance of Buddha. The Ficus glomerula.
ưu đàm bát la
See Ưu Đàm Ba La.
ưu đàm bạt la hoa
6413優曇跋羅,梵語 uḍumbara 或 udumbara,巴利語 udumbara。又作烏曇盋羅花、憂曇波花、鄔曇鉢羅花、優曇花、鬱曇花。略稱曇花。意譯作靈瑞花、空起花、起空花。屬於桑科中之隱花植物,學名 Ficus glomerata。產於喜馬拉雅山麓、德干高原及斯里蘭卡等地。樹幹高三公尺餘,葉有二種,一平滑,另一粗糙,皆長十至十八公分,尖端細長。雌雄異花,花托大者如拳,小者如拇指,十餘個聚生於樹幹,雖可食用而味不佳。 據慧琳音義卷八記載,此為祥瑞靈異之所感,乃天花,為世間所無,若如來下生,以大福德力故,能感得此花出現。又以其希有難遇,佛教諸經中以此花比喻難值佛出世之處極多,如無量壽經卷上(大一二‧二六六下):「無量億劫難值難見,猶靈瑞華時時乃出。」蓋因其花隱於壺狀凹陷之花托中,故常被誤以為無花植物,由此而產生各種傳說。 印度自吠陀時代至今,用其粗葉作護摩木,亦即作為祭祀時之薪木。又在佛教,過去七佛成道之菩提樹各有不同,優曇跋羅樹為第五佛拘那含牟尼如來成道之菩提樹。〔雜阿含經卷二十六、大般若波羅蜜多經卷一七一、新華嚴經卷八十、蘇悉地羯囉經卷中、善見律毘婆沙卷三、法華文句卷四上、玄應音義卷二十一〕
ưu đàn na
Uddana (skt)—Trói buộc—Fasten—Bind—Seal.
ưu đãi
To treat with the kindest attention—To favour.
Ưu 優
[ja] ユウ、ウ yū, u ||| (1) To surpass, excel, be superior. (2) Transcription of Sanskrit/Pali u sound. => Có hai nghĩa: 1. Hơn, vượt trội hơn, tốt hơn. 2. Dùng để chú âm u trong tiếng Sanskrit và Pali .
Ưu 憂
[ja] ウ u ||| (1) Used for transcribing Indic "u" phonemes. (2) To grieve, lament, be anxious, sad, unhappy, gloomy. Distress, sorrow, trouble, anxiety, grief (Skt. śoka Pali soka). => 1. Dùng để ký âm “u” trong ngữ âm Ấn Độ. 2. Lo buồn, than van, băn khoăn, buồn rầu, khổ sở, u sầu. Nỗi lo, sự buồn phiền, điều phiền muộn, mối băn khoăn, nỗi thương tiếc (s: śoka; p: soka).
Ưu-ba-li
優波離; C: yōupōlí; J: upari; S, P: upāli; |Một trong Mười đại đệ tử của Phật. Ưu-ba-li nguyên là thợ cạo cho dòng Thích-ca. Về sau, khi vào Tăng-già, Ưu-ba-li lại có vị trí cao hơn các vương tử Thích-ca vì được Phật thu nhận trước. Nhờ tài cạo râu tóc, khi vào Tăng-già Ưu-ba-li lại chuyên trách cạo đầu cho các tăng sĩ. Ưu-ba-li nổi tiếng là người giữ giới luật nghiêm minh. Trong lần Kết tập thứ nhất, Tôn giả được hỏi về giới luật và những gì Tôn giả nói đều được ghi vào Luật tạng (律藏; s, p: vinaya-piṭaka).
Ưu-ba-ly 優 波 離
[ja] ウパリ Upari ||| A transcription of the Sanskrit Upāli. See 優婆離. => Phiên âm chữ Upāli từ tiếng Sanskrit. Xem Ưu-bà-ly 優婆離.
Ưu-ba-đề-xá
phiên âm từ Phạn ngữ là Upadeśa, dịch nghĩa là Luận nghị, là những kinh có nội dung biện luận, phân biệt rõ chính tà, phải quấy.
; 優波提舍; S: upadeśa, upadaiśa; cách phiên âm Hán Việt, dịch nghĩa là Luận nghị (論議);|Nghĩa là lời dạy, lời khai thị, bài luận giải, sự tranh luận. A-tì-đạt-ma cũng được gọi là Ưu-ba-đề-xá.
Ưu-bà-cúc-đa
優婆菊多; S: upagupta;|Tổ thứ tư của Thiền tông Ấn Ðộ.
Ưu-bà-di
優婆夷; C: yōupóyí; J: ubai; S, P: upāsikā; dịch nghĩa là Cận sự nữ;|Phiên âm chữ upāsikā từ tiếng Phạn. Nữ Phật tử tu tập tại gia; Nữ cư sĩ, Cận sự nữ. Cư sĩ.
ưu-bà-di
phiên âm từ Phạn ngữ là upsik, tức cư sĩ nữ, cũng gọi là cận sự nữ, chỉ người nữ đệ tử tin Phật tu tại gia, thọ Tam quy y và giữ theo Ngũ giới.
Ưu-bà-di 優婆夷
[ja] ウバイ ubai ||| A transcription of the Sanskrit upāsikā. A female lay disciple;laywoman, laywomen. => Phiên âm chữ upāsikā từ tiếng Sanskrit. Nữ Phật tử tu tập tại gia; Nữ cư sĩ, Cận sự nữ.
Ưu-bà-li
優婆離; C: yōupólí; J: ūbari; S: upāli, cũng viết Ưu-ba-li (優波離).|Ưu-ba-li (優波離)
Ưu-bà-ly 優婆離
[ja] ウバリ Ūbari ||| Upāli (also written 優波離), one of the ten principal disciples of the Buddha 十大弟子, said to be perfected in his practice of Buddhist morality. The tradition regards him as being responsible for the compliation of the earliest vinaya 律collection at the First Council 第一結集. => (s: Upāli), cũng viết Ưu Ba Ly優波離, 1 trong 10 đệ tử lớn của Đức Phật (Thập đại đệ tử); được cho là giữ giới luật Phật chế hoàn chỉnh nhất. Tương truyền Ngài là người đảm nhiệm việc tuyên lại giới luật đầu tiên trong hội nghị kết tập kinh điển lần thứ nhất.
Ưu-bà-tắc
優婆塞; C: yōupósē; J: ubasoku; S: upāsa-ka.|Phiên âm từ tiếng Phạn. Nam Phật tử tu tập tại gia; Nam cư sĩ, Cận sự nam. Thuật ngữ tiếng Phạn nầy được dùng trong nhiều hệ phái tôn giáo Ấn Độ, sau được Phật giáo sử dụng. Cư sĩ.
ưu-bà-tắc
phiên âm từ Phạn ngữ là upsaka, tức cư sĩ nam, cũng gọi là cận sự nam, chỉ người nam giới quy y Phật và tu tập tại gia, trong điều kiện sống với gia đình.
Ưu-bà-tắc giới kinh
優婆塞戒經; C: yōupósē jiè jīng; J: ubasoku kai kyō;|Kinh, 7 quyển, Đàm-vô-sấm (曇無讖) dịch.
Ưu-bà-tắc giới kinh 優婆塞戒經
[ja] ウバソクカイキョウ Ubasoku kai kyou ||| Youpose jie jing; 7 fasc., trans. Dharmakṣema 曇無讖. T 1488.24.1034a-1075c. => (j: Ubasoku kai kyou, c: Youpose jie jing). Kinh; 7 quyển ; Đàm Vô Sấm dịch.
Ưu-bà-tắc 優婆塞
[ja] ウバソク ubasoku ||| (upāsaka). A transcription of the Sanskrit. A male lay disciple; layman, laymen. The Sanskrit term was used by various sects in India, and was borrowed into Buddhism. => (s: upāsaka) Phiên âm từ tiếng Sanskrit. Nam Phật tử tu tập tại gia; Nam cư sĩ, Cận sự nam. Thuật ngữ Sanskrit nầy được dùng trong nhiều hệ phái Ấn Độ, rồi được Phật giáo sử dụng.
Ưu-bà-đề-xá
優婆提舍; C: yōupótíshè; J: yūbadaisha;|Phiên âm chữ upadeśa từ tiếng Phạn, (t: gtan la phab pa), nghĩa là bàn cãi, thảo luận, tranh luận, đặc biệt về đề tài triết học. Dịch sang tiếng Hán là Luận nghị (論議). Là 1 trong 12 thể loại của Kinh luận Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經), nghĩa là thảo luận về giáo lí, đưa ra những câu hỏi và trả lời.
Ưu-bà-đề-xá 優婆提舎
[ja] ユウバダイシャ yūbadaisha ||| Transliteration of the Sanskrit upadeśa (Tib. gtan la phab pa), which means to argue, discuss, debate, especially philosophical topics. Translated into Chinese as 論議. As one of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經, it refers to discussions of doctrine, carried out in the form of question and answer. => Phiên âm chữ upadeśa từ tiếng Sanskrit, (t: gtan la phab pa), nghĩa là bàn cãi, thảo luận, tranh luận, đặc biệt về đề tài triết học. Dịch sang tiếng Hán là Luận nghị. Là 1 trong 12 thể loại của Kinh luận Phật giáo (Thập nhị bộ kinh), nghĩa là thảo luận về giáo lý, đưa ra những câu hỏi và trả lời.
Ưu-bát-la
優鉢羅; C: yōubōluó; J: uhatsura; S: utpala;|Có hai nghĩa: 1. Tên một loài hoa, được mô tả là có màu đỏ, hoặc xanh lục trong nhiều kinh văn khác nhau; 2. Trong kinh Pháp Hoa, đó là tên của một vị Long vương (theo kinh Pháp Hoa).
ưu-bát-la
phiên âm từ Phạn ngữ là utpala, cũng đọc là ưu-bát-lạt hay ô-bát-la, là một loại hoa sen quý màu xanh. Xem bốn loại hoa sen.
Ưu-bát-la 優鉢羅
[ja] ウハツラ uhatsura ||| (1) The utpala; the name of a flower, which is described as being red, green, or white, according to different texts. (2) In the Lotus Sutra, the name of a dragon-king. 〔法華經 T 262.9.2a23〕 => (s: utpala; j: uhatsura) Có hai nghĩa: 1. Tên một loài hoa, được mô tả là có màu đỏ, hoặc xanh lục trong nhiều kinh văn khác nhau. 2. Trong Kinh Pháp Hoa , đó là tên của một vị Long vương.
ưu-bát-lạt
xem ưu-bát-la.
Ưu-lâu-tần-loa
優樓頻螺; C: yōulóupínluó; J: urubinra;|Thôn làng nơi Tôn giả Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp (優樓頻螺迦葉; s: uruvilvā-kāśyapa) sinh ra.
Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp
優樓頻螺迦葉; C: yōulóupínluó jiāshě; J: u-rubinra kashō; S: uruvilvā-kāśyapa.|Người anh cả trong 3 anh em Ca-diếp (Tam Ca-diếp 三迦葉), đều là đệ tử thân cận của Thích-ca Mâu-ni. Có thời gian Tôn giả sống ở làng Ưu-lâu-tần-loa (s: uruvilvā) xứ Ma-kiệt-đà (s: magadha).
Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp 優樓頻螺迦葉
[ja] ウルビンラカショウ Urubinra kashō ||| Uruvilvā-Kāśyapa, the eldest of the three Kāśyapas 三迦葉 who were close disciples of Śākyamuni. He had at one time lived in the village of Uruvilvā in Magadha. 〔法華經 T 262.9.28c3〕 => (s: Uruvilvā-Kāśyapa), người anh cả trong 3 anh em Ca-diếp (Tam Ca-diếp ), đều là đệ tử thân cận của Thích-ca Mâu-ni . Có thời gian Ngài sống ở làng Uruvilvā xứ Ma-kiệt-đà (s: Magadha) .
Ưu-lâu-tần-loa 優樓頻螺
[ja] ウルビンラ Urubinra ||| Uruvilvā; the village that was the original home of Uruvilvā-Kasyapa 優樓頻螺迦葉. => (s: Urubinra ); ngôi làng nơi Ngài Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp sinh ra.
Ưu-tất-xoa
優畢叉; C: yōubìchā; J: uhissha;|Phiên âm chữ upekṣa từ tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Xả (捨 hoặc 舎), nghĩa là »xả bỏ mọi quan niệm cực đoan«.
ưu-tất-xoa
hay ưu-tất-xả, phiên âm từ Phạn ngữ upekṣa, thường được dịch với các nghĩa như: buông xả, bình đẳng, trì tâm bình đẳng, bất thiên nhất phương...
Ưu-tất-xoa 優畢叉
[ja] ウヒッシャ uhissha ||| A transcription of the Sanskrit upekṣa, translated in Chinese as she 舎 or 捨, meaning "detachment from all extremes." => Phiên âm chữ upekṣa từ tiếng Sanskrit, dịch sang tiếng Hán là Xả (c: she ; 舎 hoặc 捨), nghĩa là "xả bỏ mọi quan niệm cực đoan".
ưu-tất-xả
xem ưu-tất-xoa.
Ưu-đà-di
優陀夷; C: yōutuóyí; J: udai; S: udāyin.|Ô-đà-di (烏陀夷).
Ưu-đà-di 優陀夷
[ja] ウダイ Udai ||| Udāyin. See 烏陀夷. 〔法華經 T 262.9.28c4〕 => (s: Udāyin). Xem Ô-đà-di 烏陀夷.
ưu-đà-di-bạt-đa
Udāyibhadda (P).
Ưu-đà-la-ma tử
xem Uất-đầu-lam-phất.
Ưu-đà-na
phiên âm từ Phạn ngữ là Udna, dịch nghĩa: Tự thuyết hay Vô vấn tự thuyết. Xem Mười hai bộ kinh.
; 憂 (優) 陀那; C: yōutuónà; J: udana; S, P: udā-na; danh từ dịch âm, dịch nghĩa Tự thuyết;|Phiên âm chữ udāna từ tiếng Phạn, là những lời dạy của đức Phật mà không xuất phát từ sự thưa hỏi hay gợi ý của đệ tử. Dịch sang tiếng Hán là Tự thuyết (自説). Là 1 trong 12 thể loại của kinh luận Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經). Tiểu bộ kinh
Ưu-đà-na 優陀那
[ja] ウダナ udana ||| Transcription of the Sanskrit udāna, which are statements on doctrine by the Buddha that are not made as as a response to a prompt from one of his disciples. Translated into Chinese as 自説. One of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. => Phiên âm chữ udāna từ tiếng Sanskrit, là những lời dạy của Đức Phật mà không xuất phát từ sự thưa hỏi hay gợi ý của đệ tử. Dịch sang tiếng Hán là Tự thuyết. Là 1 trong 12 thể loại của Kinh luận Phật giáo (Thập nhị bộ kinh).
Ưu-đàm
優曇; S: udumbara; dịch trọn âm Hán Việt là Ưu-đàm-ba-la, dịch nghĩa là Linh Thuỵ, là »Ðiềm lành linh ứng«;|Một loài hoa chỉ nở ba ngàn năm một lần (có thuyết nói là 12 năm) để báo hiệu một Chuyển luân vương (s: cakravartī-rāja, ca-kravartin) hoặc một vị Phật giáng sinh.
ưu-đàm
tên hoa được phiên âm từ Phạn ngữ udumbara, nên còn đọc là ưu-đàm-bát-la, ưu-đàm-bà-la, ô-đàm-bạt-la... đều chỉ một loại hoa này; Hán dịch nghĩa là linh thụy, tức là hoa báo điềm lành. Pháp Hoa văn cú quyển 4, phẩm thượng, nói rằng hoa này đến ba ngàn năm mới nở một lần, khi hoa nở ắt có Chuyển luân Thánh vương ra đời. Kinh Phật nói chung thường dùng hình ảnh hoa ưu-đàm để so sánh với chuyện hiếm có, nhất là việc Phật ra đời.
ưu-đàm-bà-la
xem ưu-đàm.
ưu-đàm-bát-la
xem ưu-đàm.
ươn
1) To spoil. 2) Base—Vile (ươn hèn).
ương
1) Chim ương: Chim mái, biểu hiệu cho sự thủy chung—Hen of mandarin duck, symbolizing conjugal fidelity. 2) Tai ương—Calamity. 3) Trung ương: Middle—Medial.
ương câu thi
See Ương Câu Xá.
ương câu xá
6371梵語 aṅkuśa,巴利語 ankusa。即曲鉤、鐵鉤。又作盎句奢、鴦俱奢。於諸經中,每與錐並提,乃古代印度人調御象最常用之器具。於密教中,此字含有普集、召集之義,通常置於四攝中之第一。此外,於千手觀音四十手中,其中有一手執持曲鉤,稱為鐵鉤手,亦稱俱尸鐵鉤手。〔長阿含卷十釋提桓因問經、慧琳音義卷二十一、可洪音義卷九、諸說不同記卷六〕
; Angusa (skt)—Còn gọi là Ương Câu Xa, Ương Câu Giả, hay Ương Câu Thi—Mũi tên hay một loại vũ khí bén—An arrow—A barbed weapon.
ương cũ lợi ma la
6372梵名 Aṅguli-mālya,巴利名 Aṅguli-māla。為佛陀弟子之一。又作鴦崛利摩羅、央掘摩羅。意譯指鬘、指髻。原為室羅伐悉底城之凶人,因信邪師之言,囑其殺人一千,各取一指作鬘,始得授以涅槃之法。摩羅遂常殺人,並將所得之指串為鬘狀而戴於身上。殺至九百九十九人時,最後欲殺其母以成一千之數。佛陀憐憫之,乃為其說法,終至懺悔改過而入佛門,後得阿羅漢果。〔雜阿含經卷三十八、增一阿含經卷三十一、鴦掘摩經、鴦掘髻經〕(參閱「央掘摩羅」1879)
ương cừu ma la
See Ương Quật Ma La.
ương du phạt ma vương
6372鴦輸伐摩,梵名 Aṃśu-varman。意譯光冑王。為西元七世紀時之尼波羅(梵 Nepāla,即今尼泊爾)國王。又作鴦輪伐摩王,輪乃輸之誤。碩學聰敏,自造聲明論,又重學敬德,名聲遠播。其女波利庫姬(梵 Bhṛkuṭi)嫁予西藏雙贊恩甘菩王(藏 Sroṅ-btsan gam-po),後並接引藏王歸依佛教。〔大唐西域記卷七、L.A. Waddell: The Buddhism of Tibet; S. Beal: Buddhist Records of the Western World, vol. Ⅱ〕
ương già
Xem Bộ loại.
; See Ương Quật Đa La.
ương già quốc
6371鴦伽,梵名 Aṅga,巴利名同。為古代印度十六大國之一。又作鴦迦國、鴦伽摩伽陀國、盎誐國、泱伽國。位於摩揭陀國之東,於佛世時,一度隸屬摩揭陀國。其都城為贍波(梵 Campā)。或謂鴦伽國亦稱鴦掘多羅國。〔長阿含卷五闍尼沙經、四分律疏飾宗義記卷八末〕(參閱「鴦掘多羅國」6372)
ương già đà vương
6371為釋尊於過去世行菩薩道時所教化之國王。佛本行集經卷四十三載,昔時,鴦伽陀王雖府庫充盈,卻邪見熾盛,因而墮於顛倒道。後遇那羅陀大天仙為王說法,明示正見,令王之心迴轉而獲法喜充滿。上記那羅陀大天仙即釋尊之前身,鴦伽陀王則為優樓頻螺迦葉之前身。
ương gàn
Stubborn and crazy.
ương kiệt la tư tiên
6372鴦竭羅私,梵名 Aṅgiras。為古代印度仙人。又作阿詣羅仙。意譯身汗液仙。為七大仙之一,在密教中則屬火天眷屬之一。大日經疏卷十六(大三九‧七四四上):「此仙不從胎生,從汗液而生,故得名也。」(參閱「阿詣羅仙」3665)
ương ngạnh
Stubborn—Obstinate—Headstrong.
ương quật lị ma la
Angulimàla (S). The killer who was converted by Buddha. Also Chỉ man, Vô não.
ương quật ma la
1879梵名 Aṅguli-mālya 或 Aṅguli-mālīya,巴利名 Aṅguli-māla。佛陀弟子之一。又作央掘魔羅、鴦掘摩羅、央仇魔羅、鴦窶利摩羅、鴦掘摩。意譯為指鬘、指髻,或一切世間現。若梵漢並舉,則稱鴦崛鬘、鴦崛髻。又稱指鬘外道。初為住於室羅伐悉底城之凶人,嘗師事邪師摩尼跋陀羅,恭順謙敬。後以師母誣其凌辱之罪,其師遂命其出遊修行,並囑殺害千人,各取一指作鬘,始得授以涅槃之法。央掘摩羅於是出城殺人,每殺一人則取一指為華鬘,故有「指鬘」之稱。至九百九十九人時,欲弒其母以成一千之數。佛陀遙知而愍,遂前往化度之,央掘摩羅見佛陀前來,執劍趨前,意欲害之,後經佛陀為說正法,乃改過懺悔而入佛門,後證得羅漢果。或謂某日央掘摩羅入城乞食,城中人民以瓦石擊之,並以刀斬之,央掘摩羅流血淋漓,還至佛所。其後,不知所終。〔雜阿含經卷三十八、增一阿含經卷三十一、央掘魔羅經、大唐西域記卷六〕
; Một môn đồ Bà La Môn, người đã tu tập sai lầm bằng cách giết người và đeo chuỗi được xâu lại bằng những ngón tay của những người chết, và coi chuyện sát hại người là một hành động tín ngưỡng linh thiêng. Sau khi ông giết 99 người, người thứ 100 mà ông gặp là mẹ ông. Trong khi đang đuổi giết mẹ, thì Đức Phật xuất hiện, ông bèn buông tha mẹ mà đuổi theo Phật. Tuy nhiên, sau vài câu trao đổi với Phật, ông được Phật cảm hóa. Hối hận vì những tội lỗi của mình, ông bèn xin gia nhập Tăng đoàn. Với thiên nhãn thông, Phật nhìn thấy cò thể hóa độ được ông trở thành A La hán vì những thiện nghiệp trong những đời trước của ông. Theo kinh điển Phật thì một ngày nọ trong khi đang khất thực trong vùng, Phật xuất hiện trước nhà của Ương Quật Ma La, trong khi ông nầy đang đuổi giết mẹ, khi thấy Phật Ương Quật bèn đuổi theo để giết Phật. Cứ chạy theo Phật mà không bắt kịp, Ương Quật bèn la to lên kêu Phật dừng lại, dừng lại ! Phật bèn đáp lại rằng: “Nầy Ương Quật ! Ta đã dừng lại từ lâu và đang đợi nhà ngươi đây! Tuy nhiên, vấn đề là ngươi không chịu dừng lại.” Sau đó Phật giải thích cho Ương Quật thế nào là “Dừng lại.” Cuối cùng Ương Quật hiểu và cải đạo thành Phật tử và cuối cùng sau khi dụng công tu tập ông đã đắc quả A La Hán—Angulimala—A Brahmin follower who erroneously practiced by killing people and wore chaplet of finger-bones (the Sivaitic sect that wore such chaplets), and made assassination a religious act. After he killed 99 people, the hundredth person he met was his mother. While chasing to kill his mother, the Buddha appeared, he turned to chase the Buddha; however, after some conversations with the Buddha, he was converted by the Buddha. He repented his evil ways and joined the Order—He was a greatest killer when the Buddha was alive. However, the Buddha with his Buddha eye, foresaw that this killer had the potential to attain Arhathood enlightenment because of his good karma from previous lives. According to Buddhist sutras, one day when the Buddha was in the neighborhood to beg for food, he appeared in front of Angulimala's house, the killer was attempting to kill his mother , but he saw the Buddha and decided to chase after the Buddha instead. He kept chasing the Buddha but in no way he could catch up with the Buddha. He then yelled at the Buddha: “Gotama, stop! Stop! Stop! He Kept asking the Buddha to stop. The Buddha responded: “Angu! I have stop for so long and have been waiting for you; however, the problem is you; you don't want to stop.” The Buddha then continued to explain to him the real meaning of “stop.” He understood and was converted to practice Buddhism and eventually attained enlightenment.
ương quật ma la kinh
1879梵名 Aṅgulimālika。凡四卷。劉宋求那跋陀羅譯。收於大正藏第二冊。本經乃敘述央掘魔羅歸依佛陀之事蹟,及如來對於此事件所作之種種說法。佛陀住於舍衛城時,有凶賊央掘魔羅受邪師摩尼跋陀羅之教,殺千人,並取其指作為指鬘,當彼欲加害佛陀時,卻反為佛陀所教化,遂捨指鬘而歸依佛。未久,彼與舍利弗、目犍連等諸大弟子及文殊菩薩討論法義時,佛亦教以受戒之事。此外,佛又為其解釋佛住於無生際復住於此際之因緣,更為其說南方一切寶莊嚴國之「一切世間樂見上大精進如來」之化現,並讚歎彼國之眾生悉皆幻化而不可思議。本經之教旨謂一切眾生皆有如來藏佛性,佛法為唯一究竟乘,其餘皆為方便法門,故本經與妙法蓮華經、大般涅槃經之旨趣相同。 此外,另有西晉竺法護所譯之鴦掘摩經一卷、西晉法炬譯之鴦崛髻經一卷,二者皆為增一阿含經卷三十一及巴利文中部經第八十六經之同本,亦收於大正藏第二冊。〔出三藏記集卷二、開元釋教錄卷二、卷五、至元法寶勘同總錄卷三〕
ương quật sản nan
1879禪宗公案名。又作央掘產難。央崛,即佛陀之弟子央崛摩羅。據五燈會元卷一世尊章記載,央崛某日入城托鉢,至一長者家,正值其家婦人難產,長者乃求助安胎順產之法,央崛不知,遂急返佛陀處,請示救助之法,佛陀告之(卍續一三八‧三下):「汝速去報言:『我自從賢聖法來,未曾殺生。』」央崛奉佛陀之言,速往告長者,其婦聞得佛言,當時即平安分娩。〔宗門葛藤集〕
ương quật đa la
Anga (skt)—Nước Ương Quật Đa La còn gọi là Ương Già, nằm về phía bắc xứ Ma Kiệt Đà—Described as a country north of Magadha.
ương quật đa la quốc
6371梵名 Aṅguttarāpa,巴利名同。又作央瞿多羅國、阿牟多羅國。意譯體勝國。為印度古代小國,位於十六大國中鴦伽國與末羅國之間,都城為阿波那(巴 Āpaṇa)。據南傳律藏大品所載,世尊曾遊行至阿波那,受螺髻梵志翅㝹(巴 Keṇiya Jaṭila)之供養。翅㝹為結髮行者、拜火教徒,白日著黃衣並修苦行,夜間則享五欲之樂;雖非佛弟子,卻對世尊極為恭敬,常行供養。翅㝹之友婆羅門施羅(巴 Sela),經翅㝹之引介而成為佛弟子。此外,據四分律疏飾宗義記卷八末載,鴦掘多羅國位在摩揭陀國北方,或稱鴦伽國。〔五分律卷二十二、四分律卷四十二、中部經九十二施羅經〕
ương thu phạt ma
Amsuvarman (skt)—Một vị vua của xứ Nepal thời cổ, là dòng dõi Licchavis (Lực Sĩ)—A king of ancient Nepal, descendant of the Licchavis.
Ương-cừu-ma-la
xem Ương-quật-ma.
ương-già bắc phương thủy
, địa danh Anguttarapa (P).
Ương-quật-ma
phiên âm từ Phạn ngữ là Aṅgulimlya, cũng đọc là Ương-quật-ma-la, Ương-cừu-ma-la hay Ương-quật-man, dịch nghĩa là chỉ man (指鬘), nghĩa là dùng ngón tay người kết làm vòng để đội trên đầu. Gọi tên như thế là vì người này tin theo ngoại đạo tà thuyết, cho rằng giết chết nhiều người thì được vào Niết-bàn. Ông ta đã giết chết đến 999 người, đều chặt lấy ngón tay xâu lại thành chuỗi đội lên đầu. Mọi người đều sợ hãi, không còn ai dám đến gần để ông ta giết nữa, vì thế nên ông định giết mẹ mình cho đủ số 1.000 người. Đức Phật biết được việc này liền hiện đến giáo hóa, khiến ông ta cải tà quy chánh, từ bỏ việc giết hại và quy y theo Phật, phát tâm cầu Phật đạo.
Ương-quật-ma-la
xem Ương-quật-ma.
Ương-quật-man
xem Ương-quật-ma.
ước
3926<一>簡約、要約之意。 <二>就、於之意。例如論廢立之時,以根機爲標準而規定者,稱爲「約機廢立」;由法之勝劣而規定者,則稱「約法廢立」。又如說明一事時,若自佛之一方而言,稱「約佛之所談」;若自眾生之一方而言,稱「約生之所談」。大乘義章卷十九(大四四‧八三九上):「於此門中,四義分別:一分其相別,二約色、心、非色心等三義分別,第三約就五陰分別,第四約就六根分別。」
; 1) Ao ước: To long for—To wish—To desire—To hope—To yearn for. 2) Hiệp ước: Agreement—Treaty—Restrain—Agree—Bind—Covenant. 3) Ước lượng: To estimate—To guess—To conjecture—About.
ước bộ
See Ước Giáo.
ước chừng
About—Approximately.
ước cơ
To avail oneself of opportunity, or suitable conditions.
ước giáo ước bộ
1) Ước Giáo: Theo giáo lý mà bàn luận—According to their doctrine. 2) Ước Bộ: Theo tông phái mà bàn luận—According to their school.
ước hành lục tự
3926行,修行,或萬善萬行之意;六字者,即南無阿彌陀佛。意即阿彌陀佛五劫間思惟,兆載永劫間修業所得之大功德,總賅於「南無阿彌陀佛」六字中。(參閱「五劫思惟」1096)
ước hẹn
To make (set up) an appointment.
ước lượng
See Ước (2).
ước mong
To desire—To wish.
ước mơ
See Ước mong.
ước nguyện
Aspiration.
; To vow.
ước ngôn
Promise.
ước pháp ước cơ
1) Ước Pháp: Căn cứ vào giáo pháp mà bàn luận—According to the doctrine, or discussions based on the doctrine. 2) Ước Cơ: Căn cứ về phía người thụ pháp mà bàn luận—According to method or suitable conditions.
ước sắt ngải địch cẩn
3926(Edkins, Joseph; 1823~1905)英國之漢學學者。一八四八年,以傳教師之身分抵上海。一八六一年,在天津開教,一八六三年入北京。同時兼任稅關通譯,轉住各地,後歿於上海。氏精通中國語言及中國史學,著作頗多,其中有從基督教立場批判佛教者。有關宗教之著書如下:The religious condition of Chinese, 1859; Religion in China, 1877; Chinese Buddhism, 1880; The Nirvana of the Northern Buddhists, 1881; Notice of the Chinese Buddhism, 1885,嘗於同治五年(1866)出版漢文之「釋教正謬」,該書出版後,佛教學者著書加以評破者頗多。
ước tính
To estimate.
ước vọng
See Ước Mong.
ước đoán
To guess—To forecast.
ước định
To estimate.
ước độ
See Ước chừng.
ướm hỏi
To ask in order to find a person's feelings.
ướm thử
To try on.
ướp
To embalm (corpse)—To preserve (meat—fish--fruits)—To salt (ướp muối).
ướp hương
To perfume.
ướp sen
To perfume with lotus flowers.
ướt
Wet.
ướt sũng
Completely soaked.
ướt át
Damp—Humid.
Ưởng chưởng
(鞅掌): nhọc nhằn, bận bịu, hối hả. Trong bài Bắc Sơn (北山) của Thi Kinh (詩經) có câu: “Hoặc vương sự ưởng chưởng (或王事鞅掌, hoặc có khi việc vua bận bịu).” Hay như trong bài Dữ Sơn Cự Nguyên Tuyệt Giao Thư (與山巨源絕交書) của Kê Khang (嵇康, 223-263) có đoạn: “Tâm bất nại phiền, nhi quan sự ưởng chưởng, cơ vụ triền kỳ tâm (心不耐煩、而官事鞅掌、機務纏其心, tâm chẳng ngại phiền, nhưng chuyện quan bận rộn, công việc trói buộc tâm).” Câu “gia đường ưởng chưởng (家堂鞅掌)” có nghĩa là công việc nhà bề bộn, bận rộn.
ải sư thúc
Thiền tăng Khuông Nhân sống vào đời Ngũ Đại, bởi thân thể sư lùn thấp nên bị gọi là »Ải sư thúc« (Sư thúc lùn). X. Khuông Nhân.
ải tử khán hí tuỳ nhân thượng hạ
Người lùn đi xem hát, chẳng trông thấy gì nhưng cũng bắt chước người khác vỗ tay tán thưởng, dụ chỉ người tu thiền pháp nhãn chẳng sáng, chỉ làm theo người khác một cách máy móc, còn bị người ta khống chế. [i]Pháp Diễn ngữ lục[/i] q. trung ghi: »忽 有 箇 出 來 道。長 老 爾 恁 麼 道 也。 則 白 雲 萬 里。者 箇 說 話。喚 作 矮 子 看 戲。隨 人 上 下。三 十 年 後 一 場 好 笑。且 道 笑 箇 什 麼?笑 白 雲 萬 里。– [i]Chợt có một vị tăng bước ra nói: Thưa trưởng lão, ông nói thế ấy cũng là mây trắng ngàn dặm! Lời nói này còn gọi là người lùn đi xem hát, chẳng trông thấy gì nhưng cũng bắt chước người khác vỗ tay tán thưởng, ba mươi năm sau vẫn còn buồn cười mãi. Thử hỏi cười cái gì? Cười mây trắng ngàn dặm[/i]«.
ảm đạm
Gloomy—Sombre—Dull—Overcast—Dismal—Dreary.
ảnh
6002其義有三:(一)遮日光而生之薄闇色,係十二顯色之一。俱舍論卷一(大二九‧二下):「障光明生,於中餘色可見,名影。」(二)比喻因緣所生之事物。謂影自實體生而無實性,故有此喻。維摩經方便品(大一四‧五三九中):「是身如影,從業緣現。」無量壽經卷下(大一二‧二七三上):「知法如電、影,究竟菩薩道。」又金剛經謂一切有爲法,如夢、幻、泡、影。(三)比喻物之不相離。諸經論常將苦樂、善惡等業因與果報之相因相應、互不相離,喻之如「影之隨形」。如法句經卷上(大四‧五六二上):「福樂自追,如影隨形。」〔菩薩處胎經卷七〕
; Chaya (S)Bóng rọi, một trong 12 loại hiển sắc mắt thường có thể thấy được.
; Hình ảnh: Image—Picture—Photograph—hadow—Reflection—Hint.
; (影) Có ba nghĩa:1. Màu tối lờ mờ do che ánh sáng mặt trời mà có, là một trong mười hai hiển sắc. Luận Câu Xá quyển 1 (Đại 29, 2 hạ), nói: Che ánh mặt trời mà có, trong đó, các sắc khác có thể được nhìn thấy, gọi là ảnh (bóng). 2. Thí dụ các sự vật do nhân duyên sinh. Nghĩa là bóng từ thực thể mà sinh nhưng không có thực tính. Kinh Duy Ma phẩm Phương Tiện (Đại 14, 539 trung), nói: Thân này như bóng, từ nghiệp duyên hiện. Kinh Vô Lượng Thọ quyển hạ (Đại 12, 273 thượng), nói: Biết các pháp như điện, như bóng, rốt ráo đạo Bồ Tát. Lại kinh Kim Cương Bảo tất cả pháp hữu vi như chiêm bao, như trò dối, như bọt nước, như bóng. 3. Thí dụ vật không lìa nhau. Các kinh luận thường đem nghiệp nhân và quả báo của khổ vui, thiện ác, nhân nào quả ấy, không rời nhau, mà ví dụ như bóng theo hình. Kinh Pháp Cú quyển thượng (Đại 4, 562 thượng), nói: Phúc lạc tự đến, như bóng theo hình. [X. kinh Bồ Tát Xử Thai Q.7].
ảnh biến dạng
Distorted picture.
ảnh chụp lẹ
Snap shot.
ảnh chụp xa
Telephotograph.
ảnh cúng
Thờ cúng ảnh tượng—Image worship.
ảnh dụ
Pratibhasa-upama (S)Thí dụ chỉ các pháp như hình bóng.
ảnh giả
Virual image.
ảnh hiện
The epiphany of the shaddow, i.e. the temporal Buddha.
ảnh hướng
6003指佛菩薩之應現。又作影響、影嚮。諸佛菩薩爲輔助佛陀教化而自在示現,如影之隨形,如響之應聲,以隨機濟度眾生。影,即由本體一時應現之意。〔法華文句卷二下〕
; The coming of a deity, responding, responsive.
; (影向) Chỉ sự ứng hiện của Phật, Bồ tát. Còn gọi là Ảnh hưởng. Chư Phật Bồ Tát, vì giúp đỡ Đức Phật giáo hóa mà thị hiện một cách tự do tự tại, như bóng theo hình, như vang đáp tiếng, để tùy cơ cứu độ chúng sinh. Ảnh, hàm ý là từ nơi bản thể mà ứng hiện một lúc nào đó. [X. Pháp Hoa Văn Cú Q.2 hạ].
ảnh hướng chúng
6003又作影響眾、影嚮眾。係四眾之一。諸佛菩薩爲輔佐如來之教化,隱其圓極之果,示現於聽法眾中,即所謂釋迦法王如形、聲,諸菩薩如影、響;例如文殊、普賢等諸菩薩等皆是。法華文句卷二下(大三四‧二六下):「古往諸佛,法身菩薩,隱其圓極,匡輔法王,如眾星繞月,雖無爲作而有巨益,此名影嚮眾。」法華文句記卷二下(大三四‧一九○中):「次釋影響眾者,然化主形聲必資伴以影響,方令發起擊動事遂,如響之應聲,影之隨形。」
; See Ảnh Hưởng Chúng.
; (影向衆) Cũng gọi là Ảnh hưởng chúng. Là một trong bốn chúng. Chư Phật Bồ Tát, vì giúp đỡ Đức Như Lai trong việc giáo hóa, ẩn quả viên cực của các Ngài, mà chỉ thị hiện ở trong chúng nghe pháp, tức đều được gọi là Thích Ca Pháp Vương như hình, như tiếng, chư Bồ Tát như bóng, như vang, chẳng hạn như các Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền đều thuộc loại này. Pháp Hoa Văn Cú quyển 2 phần dưới (Đại 34, 26 hạ), nói: Chư Phật quá khứ, Pháp thân Bồ tát, ẩn quả cao tột, giúp đỡ Pháp Vương, như các vì sao vây quanh mặt trăng, tuy không làm gì, nhưng lợi ích rất lớn, đây gọi là Ảnh hưởng chúng. Pháp Hoa Văn Cú Kí quyển 2 phần dưới (Đại 34, 190 trung), nói: Thứ đến giải thích chúng Ảnh hưởng, tức có nghĩa là hình và tiếng của vị hóa chủ phải có bóng, vang giúp đỡ thì mới phát khởi được việc cảm hóa, như vang đáp tiếng, bóng theo hình.
ảnh hưởng
1) Ảnh hưởng: Influence—To affect. 2) Ảnh và âm hưởng: Shadow and echo.
ảnh hưởng chúng
Còn gọi là Ảnh Hướng Chúng—Những vị đến đáp ứng lời cầu nguyện của chúng sanh như Ngài Văn Thù hay Quán Âm—The responsive group in the Lotus Sutra, who came in response to a call, e.g. Manjusri, Kuan-Yin, etc.
Ảnh hưởng 影響
[ja] エイキョウ、ヨウキョウ eikyō yōkō ||| (1) 'shadows and echoes'; shape and sound. (2) Influence, traces. - => 1. Hình bóng và âm thanh. - 2. Tác dụng, vết tích. -
ảnh hộ
Như bóng theo hình, không tách rời thân thể, luôn luôn đi kèm để ủng hộ thân thể—Like a shaddow guardian, always following like a shaddow the substance.
ảnh in
Print.
ảnh lược hỗ hiển
6004略作影略。於說明二種有關之事件時,此方所略之事由他方顯發,他方所略之事由此方說明。如是相互補充成完全之說明方式,稱爲影略互顯。例如維摩經弟子品中有「斷煩惱,入涅槃」一句,在「斷煩惱」之次省略「得菩提」,在「入涅槃」之前省略「離生死」。即於與煩惱相對之菩提、與涅槃相對之生死以影略互顯之方式說明之。〔成唯識論卷六、俱舍論光記卷一、成唯識論述記卷六末〕
; (影略互顯) Nói tắt là Ảnh lược. Khi thuyết minh hai sự kiện có liên quan với nhau, sự kiện phía này lược bớt đi là do phía kia hiển bảy ra, sự kiện phía kia lược bớt đi là do phía này thuyết minh rõ, cứ như thế bổ sung cho nhau mà thành phương thức thuyết minh hoàn toàn, thế gọi là Ảnh lược hỗ hiển. Chẳng hạn, trong kinh Duy Ma phẩm, có một câu: Đoạn phiền não, nhập Niết Bàn, sau đoạn phiền não là đắc bồ đề được lược bớt đi (đoạn phiền não đắc bồ đề), và trước nhập Niết Bàn là ly sinh tử được bỏ bớt đi (ly sinh tử nhập Niết Bàn). Tức giữa bồ đề tương đối với phiền não, giữa sinh tử tương đối với Niết Bàn, dùng phương thức Ảnh lược hỗ hiển để thuyết minh. [X. luận Thành Duy Thức Q.6; luận Câu Xá Quang Kí Q.1; luận Thành Duy Thức Thuật Kí Q.6 phần cuối].
ảnh nổi
Stereophotograph.
ảnh quang tuyến
X-Ray photograph.
ảnh sự
Hết thảy sự vật trên thế gian đều là hư ảo như hình bóng, chứ không phải là cái chân thực—Shadow things, i.e. all things are mere shadows, not the reality.
ảnh tướng
Pratibimba (S), Reflection Paṭibimba (P).
; Pratibimba (S). Image, reflection.
ảnh tượng
6004<一>與「本質」相對。比喻立名,以表顯心中所現之相分(外界事物映現於心之影像)。與相分連稱爲影像相分。(參閱「本質」1975) <二>指祖師先德肖像之雕塑或畫像。又作影、真影、寫影。據高僧法顯傳載,那竭城南方有石室博山,由該處復往西南行,有佛之留影。印度人多爲佛、菩薩塑繪,而少有爲出家人塑繪者。然於中國及日本,爲祖師先德塑繪之風頗盛,於其生前所雕繪者則謂「壽像」。此外,禪宗有所謂之「頂相」,即半身像。
; Pratibimba (skt)—Ảnh tượng không có sự hiện hữu thật sự, không có tự tánh—Statue—Image—Shaddows—Reflections, with no real existence or nature of their own.
; (影像) Đối với bản chất. Thí dụ đặt tên để hiển bày cái tướng phần biểu hiện ở trong tâm (ảnh tượng của những sự vật bên ngoài chiếu hiện trong tâm). Ghép liền với tướng phần mà gọi là Ảnh tượng tướng phần. (xt. Bản Chất). Chỉ hình tượng của các Tổ sư được chạm trổ, đắp nặn hoặc vẽ. Cũng gọi là Ảnh, Chân ảnh, Tả ảnh. Cứ theo Cao Tăng Pháp Hiển truyện chép, thì phía nam thành Na Kiệt, có núi Thạch Thất rộng lớn, từ đó lại đi về phía Tây Nam thì có ảnh của Đức Phật còn lại. Người Ấn Độ phần nhiều đắp vẽ tượng Phật và Bồ Tát, chứ ít ai đắp vẽ tượng người xuất gia. Nhưng, tại Trung Quốc và Nhật Bản, phong tục đắp vẽ tượng các Tổ sư tiên đức thì rất thịnh, nếu được tạc hoặc vẽ lúc còn sống thì gọi là thọ tượng. Ngoài ra, Thiền tông có cái gọi là Đính tướng, tức là tượng bán thân.
ảnh tượng tâm linh
Mental image.
Ảnh tượng 影像
[ja] ヨウゾウ yōzō ||| As 'image and shape', this term refers to the lack of self-nature of phenomena. (2) In Consciousness-only theory, the term refers to the various images manifested in the mind due to discrimination. The complement of benzhi 本質. I.e., colors and shapes, etc., as perceived by the eye consciousness. - =>1. Cũng như 'hình và dáng', thuật ngữ này nói đến bản chất vô tự tính của các hiện - tượng. - 2. Theo giáo lý Duy thức, thuật ngữ này đề cập đến sự biểu hiện nhiều hình tướng do tâm phân biệt. Phần bổ sung cho bản chất (c: benzhi 本質), nghĩa là sắc tướng v.v... được nhận biết qua nhãn thức.
ảnh đường
6003指安置宗祖或高僧影像之堂宇。又稱祖堂、祖殿、大師堂、開山堂。乃我國昔日庶民奉祠先人遺像之所,後佛教借此二字轉指安置祖師遺像之殿堂。據宋高僧傳卷二十五載,在長安設有唐代善導大師之影堂。於日本,供奉諸佛、菩薩、諸神、祖師、先德之像,即稱爲影供。真言宗之法會,亦稱影供。
; Ảnh đường là nơi bày biện tất cả những tôn tượng thờ kính hay nơi phụng thờ di tượng của tiên nhân—A hall where are the images, or pictures, of objects of worhship.
; (影堂) Chỉ tòa nhà, trong đó, đặt ảnh tượng của các tổ sáng lập các tông phái hoặc của các bậc cao tăng. Cũng gọi là Tổ đường, Tổ điện, Đại sư đường, Khai sơn đường. Là nơi ngày xưa người dân Trung Quốc phụng thờ di tượng của tiền nhân, sau Phật giáo mượn hai chữ ấy để chỉ ngôi điện đường an trí di tượng của các Tổ sư. Cứ theo Tống Cao Tăng Truyện quyển 25 chép, thì tại Trường An có ảnh đường của đại sư Thiện Đạo đời Đường. Ở Nhật Bản, thờ cúng tượng của chư Phật, Bồ Tát, chư thần, tổ sư, tiên đức, gọi là ảnh cúng. Pháp hội của tông Chân ngôn cũng gọi là ảnh cúng.
ảnh đồ
Photo map.
ảnh ảo
Virual image.
ảnh ấn
Photolithigraphy.
ảo
Màya (S) Illusion; illusory, illusive, unreal, deceptive, false, deceitful
; Mava (skt)—Illusory—False—Illusive—Hallucination.
ảo cảnh
Mirage.
ảo cảnh.
Mirage, hallucination, phantasm.
ảo cấu
Ảo ảnh và cấu trược (thân và tâm cũng là ảo ảnh và cấu trược)—Illusory and defiled (body and mind are alike illusion and unclean).
ảo dã
The wilderness of illusion, i.e. the mortal life.
; The wilderness of illusion (mortal life).
ảo giác
Hallucination, aberrtion.
; Vipallasa (p)—Hallucination a) Chư pháp trong thế giới hiện tượng là không thật như người ta thường nghĩ. Chúng vô thường, bất định, không có thực thể và luôn biến đổi. Kỳ thật, chúng là những bóng ma ảo ảnh. Vô minh lệ thuộc vào trạng thái ảo giác—Aversion—Illusion—Things in the phenomenal world are not real or substantial, as ordinary people regard them to be. They are transient, momentary, indefinite, insubstantial, and subject to constant alteration. In reality, they are like phantoms or hallucinations. Ignorance is subject to the state of hallucination. b) Có ba loại ảo giác—There are three kinds of hallucination: - Tưởng ảo giác: Sanna-vipallasa (p)—Hallucination of perception. - Tâm ảo giác: Citta-vipallasa (p)—Còn gọi là Thức ảo giác—Hallucination of mind (consciousness). - Kiến ảo giác: Ditthi-vipallasa (p)—Hallucination of views—Kiến ảo giác khiến ta thấy cái vô thường là thường—Hallucination of views cause us to see impermanence as permanence.
ảo giả
The illusory—All things
ảo hoặc
To delude, to deceive, to gull; illusory, illusive, delusive, deceptive.
; Illusory (a)—To delude (v).
ảo huyền
Unreal.
ảo hóa
To transform, to metamorphose.
; Illusion and transformation—Illusory transformation.
ảo hữu
Illusory existence.
ảo hữu.
Illusory existence.
ảo lực
Powers of an illusionist.
; Sức lực của người mơ mộng ảo huyền—An illusionist's powers.
ảo môn
The ways or methods of illusion, or of Bodhisattva transformation.
; The way or method of illusion, or of bodhisattva transformation.
ảo mộng
Empty dream.
; Illusion—To ne under illusion.
ảo nhựt vương
Baladitya (skt)—Bà La A Điệt Đa—The morning sun king.
ảo não
Sorrowful.
ảo pháp
Conjuring, illusion, methods of bodhisattva transformation.
ảo pháp.
Conjuring tricks, illusion, methods of Bodhisattvavtransformation.
ảo sĩ
An illusionist—A conjurer.
ảo sư
An illusionist, a conjurer.
; An ilusionist.
ảo thuật
Magic.
ảo thuật.
Prestidigitation, magic.
ảo thân
An illusion-body.
ảo thân.
The illusory body, i.e. this body is not real but an illusion.
ảo thị
Optical illusion.
ảo trần
Illusive world.
ảo tâm
The illusion mind, or mind is unreal.
; The illusion mind (Mind is unreal).
ảo tướng
Illusion, illusory appearance.
; Illusion—Illusory appearance.
ảo tưởng
Tà kiến dẫn tới phân biệt sai lầm, không rõ rệt, cho sai là đúng, cho đúng là sai. Đây là loại ảo tưởng hay phiền não vi tế—Illusion—Delusion—Wrong views for being confused about principles and giving rise to discrimination. Thought delusions are unclear, muddled thoughts, taking what is wrong as right, and what is right as wrong. Delusions of thought are afflictions at the subtle level.
ảo tưởng tâm linh
Hallucination.
ảo tưởng.
Chimera, utopia, fantasy, wild fancy.
Ảo ảnh
幻 影; S, P: māyā; dịch âm là Ma-da, cũng được gọi là giả tướng (假 相), đọc đúng là »Huyễn ảnh«;|Danh từ được dùng để chỉ thế giới hiện tượng đang liên tục thay đổi này. Ðối với người chưa giác ngộ thì thế giới này là thế giới duy nhất có thật. Ảo ảnh được dùng để chỉ tất cả các hiện tượng sinh diệt, không thuộc thật tại cuối cùng (Ba thân). Một khi thấu hiểu rằng mọi Pháp đều là ảo ảnh thì điều đó đồng nghĩa với Giác ngộ (Bồ-đề) và đạt Niết-bàn. |Theo quan niệm Phật giáo thì »thấy« thế giới, tự chủ rằng có »một người« đang nhận thức và có »vật được nhận thức«, có »ta« có »vật« có thế giới luân chuyển này chưa phải là sai lầm. Sai lầm là ở chỗ cho rằng sự vật bất biến, trường tồn và thế giới này là duy nhất, có thật. Ðây mới là Kiến giải bất thiện vì nó ngăn trở những tri kiến bổ ích khác. Thật sự thì cái tương đối và cái tuyệt đối không hề rời nhau; và như thế, ảo ảnh (mê) và Bồ-đề (ngộ) bản tính không hai. Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác trình bày rất tuyệt vời sự việc này ngay trong phần đầu của bài Chứng đạo ca:|君不見|絕學無爲閑道人。不除妄想不求真|無明實性即佛性。幻化空身即法身|法身覺了無一物。本源自性天真佛|Quân bất kiến!|Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân|Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân|Vô minh thật tính tức Phật tính|Huyễn hoá không thân tức pháp thân|Pháp thân giác liễu vô nhất vật|Bản nguyên tự tính Thiên chân Phật…|Bạn chẳng thấy sao!|Tuyệt học, vô vi – đạo nhân nhàn|Chẳng trừ vọng tưởng – chẳng cầu chân|Thật tính của vô minh – chính Phật tính|Thân huyễn hoá trống rỗng này – chính Pháp thân|Chứng Pháp thân – chẳng một vật|Tự tính nguyên là Thiên chân Phật!…
ảo ảnh
Xem Huyễn.
; Tà kiến cho rằng những thứ bên ngoài như ăn, mặc, ngủ, vân vân là thật chứ không là những thứ giả tạm. Đây là loại ảo ảnh thô thiển bên ngoài—Delusion of views—Wrong views for externals (clothes, food, sleep, etc), which are viewed as real rather than empty in their true nature. Delusion of views are connected with seeing and grasping at the gross level.
ảo ảnh lúc trời nắng nóng
người đi trong sa mạc hay trên đường lớn vào lúc nắng nóng, do không khí nóng bốc lên mà nhìn thấy từ xa lung linh huyền ảo hiện ra đủ thứ ảo ảnh, có khi cũng tùy sự tưởng tượng của mình, như thấy có nước (đang khát nước), có người đi lại, có nhà cửa, cây cối... đều là những ảo ảnh không thật.
ảo ảnh.
Illusion, delusion.
ấm
Xem Uẩn.
; Skandas (S) Group, aggregate.
ấm cúng
Cosy.
ấm cảnh
The present world as the state of the five skandhas.
ấm lạnh
Hot and cold.
ấm ma
The five skandhas considered as màras or demon fighting against the Buddha's nature ofmen.
; See Ngũ Uẩn.
ấm no
To be at ease—To be in easy circumstances.
ấm quang bộ
Mahakasyapiya (skt)—Bộ phái nầy khác với Nhất Thiết Hữu Bộ và Pháp Tạng Bộ đôi chút nhưng rất gần với Thượng Tọa Bộ, nên còn được gọi là Sthavariya. Ấm Quang Bộ tin rằng quá khứ đã sinh quả thì không còn tồn tại nữa, còn quá khứ chưa sinh quả thì tiếp tục tồn tại; do đó, họ làm rung chuyển phần nào địa vị của phái Hữu Bộ vốn cho rằng quá khứ cũng tồn tại như hiện tại vậy. Đôi khi Ấm Quang Bộ được xem như là trường phái thỏa hiệp giữa Hữu Bộ (Sarvastivadin) và Phân Tích Bộ (Vibhajyavadin). Phái nầy cũng đòi có bộ Tam Tạng của riêng họ—The Mahakasyapiyas differed on minor poits from the Sarvastivadins and the Dharmaguptikas, and were closer to the Sthaviravadins. Hence, they are also called the Sthavariyas. The Mahakasyapiyas believed that the past which has borne fruit ceases to exist, but that which has not yet ripened continues to exist, thus partially modifying the position of the Sarvastivadins, for whom the past also exists like the present. The Mahakasyapiyas are sometimes represented as having effected a compromise between the Sarvastivadins and the Vibhajyavadins, and also claim a tripitaka of their own.
ấm vọng
The skandha-illusion, or the unreality of the skandhas.
ấm vọng nhất niệm
4826天台宗觀門之境體。指凡夫日常所起一剎那之妄心。又作介爾妄心。陰妄,陰為蘊之新譯,即此心屬五蘊中之識蘊而為迷妄者;一念,為一剎那之心、介爾之細念。指第六識之無記心。天台之意旨,謂現前介爾之妄心圓具三千諸法,含藏圓融三諦之妙理,故得以成為所觀之境。其他諸法雖非不具此妙理,然初心者不堪直以融妙之法體為所觀,故不就眾生界或佛界而揀擇近要易修之觀己一念之心法,作為所觀之境。〔摩訶止觀卷五上、四念處卷四、十不二門指要鈔卷上〕
; (陰妄一念) Là cảnh thể của Quán môn thuộc tông Thiên thai. Chỉ cái vọng tâm trong một sát na mà người phàm phu khởi lên hàng ngày. Còn gọi là Giới nhĩ vọng tâm. Ấm vọng, là tiếng dịch mới của chữ uẩn, tức tâm này là thức uẩn trong năm uẩn, là tâm mê vọng; nhất niệm, là tâm của một sát na, cái tâm niệm rất là vi tế. Chỉ tâm vô kí của thức thứ sáu. Ý chỉ tông Thiên thai bảo trong cái tâm một sát na hiện tiền, có đầy đủ ba nghìn các pháp, hàm chứa lí mầu nhiệm của ba đế viên dung, vì thế, nó được trở thành cái cảnh (đối tượng) để quán xét. Các pháp khác tuy không phải không có đủ lí mầu nhiệm ấy, nhưng vì người sơ tâm khó có thể trực tiếp lấy pháp thể viên dung vi diệu làm cảnh sở quán, nên không lựa chọn trong chúng sinh giới hoặc Phật giới, mà lấy ngay cái tâm một niệm hiện tiền của chính mình làm đối tượng để quán xét, vì nó gần gũi và dễ tu hơn. [X. Ma ha chỉ quán Q.5 phần trên; Tứ niệm xứ Q.4; Thập bất nhị môn chỉ yếu sao Q.thượng].
ấm ảo
The five skandhas like a passing illusion.
ấm, nhập, giới
Ba yếu tố hiện hữu tạo thành mọi chúng sinh. Ấm là năm ấm (hay năm uẩn), nhập là mười hai nhập, giới là mười tám giới. Năm ấm gồm có: sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm. Mười hai nhập là mười hai mối quan hệ tiếp xúc giữa căn và trần. Khi sáu căn gồm nhãn căn, nhĩ căn, tỉ căn, thiệt căn, thân căn và ý căn thiệp nhập với sáu trần gồm hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, sự xúc chạm và các pháp (đối tượng của ý) thì tạo thành sáu nhập là nhãn nhập, nhĩ nhập, tỉ nhập, thiệt nhập, thân nhập và ý nhập, gọi chung là nội lục nhập (sáu nhập bên trong). Khi sáu trần bên ngoài thiệp nhập với sáu căn bên trong thì tạo thành sáu nhập là sắc nhập, thanh nhập, hương nhập, vị nhập, xúc nhập và pháp nhập, gọi chung là ngoại lục nhập (sáu nhập bên ngoài). Mười tám giới tức mười tám chỗ sinh khởi vọng niệm, bao gồm sáu căn ở trong (lục căn nội giới), sáu trần ở ngoài (lục trần ngoại giới) và sáu thức ở khoảng giữa (lục thức trung giới). Sáu thức gồm nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Trong Phật học cần có sự phân biệt giữa ý căn (là một trong sáu căn) và ý thức (là một trong sáu thức) với tâm hay tâm thức nói chung, được dùng để chỉ năng lực tinh thần có khả năng kiểm soát cả ý thức và tất cả các thức khác. Vì thế, sự tu tập phải dựa trên nền tảng của tâm thức chứ không phải ý thức.
; The five skandhas, the twelve entrances, or bases through which consciousness enters, and the eighteen dhàtu or elements..
Ấn
印; S: mudrā;| Một dấu hiệu thân thể. Trong tranh tượng, các đức Phật thường được trình bày với một kiểu tay đặc biệt, vừa là một cử chỉ tự nhiên, vừa là một dấu hiệu của tính chất Phật (Phật tính). Trong Ðại thừa, các Thủ ấn (chỉ các ấn nơi tay, còn Khế ấn là những tư thế khác như cầm ngọc, toạ thiền…) này đều có một ý nghĩa đặc biệt, nhất là trong các tông phái như Thiên Thai, Kim cương thừa và các ấn này thường đi đôi với Man-tra. Ngoài ra, các ấn này giúp hành giả chứng được các cấp tâm thức nội tại, bằng cách giữ vững những vị trí thân thể nhất định và tạo mối liên hệ giữa hành giả với các vị Phật hoặc Ðạo sư trong lúc hành trì một Nghi quỹ (s: sādha-na).| Các ấn quan trọng nhất là: 1. Ấn thiền (禪 印; dhyāni-mudrā), 2. Ấn giáo hoá (教 化 印; vitarka-mudrā), 3. Ấn chuyển pháp luân (轉 法 輪 印; dharmacakrapravartana-mudrā), 4. Ấn xúc địa (觸 地 印; bhūmisparśa-mudrā), 5. Ấn vô uý (無 畏 印; abhaya-mudrā), 6. Ấn thí nguyện (施 願 印; varada-mudrā), cũng được gọi là Dữ nguyện ấn (與 願 印), Thí dữ ấn (施 與 印), 7. Ấn tối thượng bồ-đề (無 上 菩 提 印; uttarabodhi-mudrā), 8. Ấn trí huệ vô thượng (無 上 智 印; bodhyagri-mudrā), 9. Ấn hiệp chưởng (合 掌 印; añjali-mudrā, 10. Ấn kim cương hiệp chưởng (金 剛 合 掌 印; vaj-rapradama-mudrā). | | | H 2: Ấn thiền|| 1. Ấn thiền (s: dhyāni-mudrā): lưng bàn tay mặt để trên lòng bàn tay trái, hai ngón cái chạm nhau. Hai bàn tay để trên lòng, ngang bụng. Bàn tay mặt phía trên tượng trưng cho tâm thức giác ngộ, bàn tay trái phía dưới tượng trưng thế giới hiện tượng. Ấn quyết này biểu lộ sự giác ngộ đã vượt lên thế giới hiện tượng, nó cũng biểu lộ tâm thức giác ngộ đã vượt qua tâm thức phân biệt, trong đó Luân hồi hay Niết-bàn chỉ là một.| Ấn thiền có một dạng khác, trong đó các ngón tay giữa, ngón đeo nhẫn và ngón út của hai bàn tay nằm lên nhau, ngón cái và ngón trỏ mỗi tay tạo thành hai vòng tròn chạm nhau, hai vòng tròn đó biểu tượng thế giới chân như và thế giới hiện tượng. Ấn này hay được tạo hình nơi tranh tượng của Phật A-di-đà và hay được gọi là »Ấn thiền A-di-đà«. Trong Thiền tông, thiền giả lại để bàn tay trái trên bàn tay mặt lúc Toạ thiền. Ðiều này thể hiện thân trái (tĩnh) nằm trên thân phải (động), nhằm chỉ rõ thái độ trầm lắng của Thiền tông.| |H 3: Ấn giáo hoá|| 2. Ấn giáo hoá (s: vitarka-mudrā): tay mặt chỉ lên, tay trái chỉ xuống, hai lòng bàn tay chỉ tới trước. Trong mỗi tay, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau, làm vòng tròn. Bàn tai mặt đưa ngang vai, bàn tay trái ngang bụng. Trong một dạng khác của ấn giáo hoá, lòng bàn tay trái hướng lên, để ngang bụng, tay mặt ngang vai, ngón tay trỏ và tay cái làm hình tròn. Trong một dạng khác thì ngón trỏ và ngón út duỗi thẳng, ngón giữa và đeo nhẫn co lại. Lòng bàn tay trái hướng lên, tay mặt hướng xuống. Người ta hay bắt gặp ấn giáo hoá nơi tranh tượng Phật A-di-đà, có khi nơi Ðại Nhật Phật (s: mahāvairoca-na).| |H 4: Ấn chuyển pháp luân|| 3. Ấn chuyển pháp luân (s: dharmacakrapravarta-na-mudrā): tay trái hướng vào thân, tay mặt hướng ra. Trong mỗi tay, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau thành vòng tròn, hai vòng tròn đó chạm nhau. Người ta hay thấy ấn chuyển pháp luân nơi tranh tượng của Phật Thích-ca, A-di-đà, Ðại Nhật và Di-lặc.| |H 5: Ấn xúc địa|| 4. Ấn xúc địa (bhūmisparśa-mudrā): tay trái hướng lên, đặt ngang bụng, tay mặt chỉ xuống, lưng tay mặt xoay tới trước. Ðó là ấn quyết mà đức Thích-ca gọi thổ địa chứng minh mình đạt Phật quả và cũng là dấu hiệu của sự không lay chuyển, vì vậy Bất Ðộng Phật (s: akṣobhya) cũng hay được trình bày với ấn này.| |H 6: Ấn vô uý|| 5. Ấn vô uý (s: abhaya-mudrā): tay mặt với các ngón tay duỗi ra chỉ về phía trước, ngang tầm vai. Ðây là ấn quyết mà Phật Thích-ca sử dụng ngay sau khi đắc đạo. Phật Bất Không Thành Tựu (s: amoghasiddhi) cũng hay được trình bày với ấn này| |H 7: Ấn thí nguyện|| 6. Ấn thí nguyện (s: varada-mudrā): thí nguyện là cho phép được toại nguyện, lòng tay mặt hướng về phía trước, bàn tay chỉ xuống. Nếu ở tượng Phật Thích-ca là đó biểu hiện gọi trời (xem ấn xúc địa) chứng minh Phật quả. Phật Bảo Sinh (s: ratnasam-bhava) cũng hay được diễn tả với ấn quyết này. Trong một dạng khác, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau thành vòng tròn. Ấn vô uý và ấn thí nguyện hay được trình bày chung trong một tranh tượng. Thường tay mặt bắt ấn vô uý, tay trái ấn thí nguyện. Tượng đứng của các vị Phật hay có hai ấn này. | |H 8: Ấn tối thượng Bồ-đề|| 7. Ấn tối thượng Bồ-đề (s: uttarabodhi-mudrā): hai bàn tay chắp ngang ngực, hai ngón trỏ duỗi thẳng chạm vào nhau, như mũi nhọn của một Kim cương chử. Các ngón khác lồng vào nhau, hai ngón cái chạm nhau hay để lên nhau. Tranh tượng của Phật Ðại Nhật hay được trình bày với ấn này. | |H 9: Ấn trí huệ vô thượng|| 8. Ấn trí huệ vô thượng (s: bodhyagri-mudrā): ngón tay trỏ của bàn tay mặt được năm ngón kia của tay trái nắm lấy. Ấn này người ta hay thấy nơi Phật Ðại Nhật. Trong Mật tông có nhiều cách giải thích ấn này, nhưng nói chung một ngón tay chỉ rõ sự nhất thể của vạn sự và năm ngón kia chỉ tướng trạng vô cùng của thế giới hiện tượng.| |H 10: Ấn hiệp chưởng|| 9. Ấn hiệp chưởng (s: añjali-mudrā): hai bàn tay chắp trước ngực, được sử dụng để tán thán, ca ngợi, và cũng là cử chỉ chào hỏi thông thường tại Ấn Ðộ. Với dạng ấn, hai bàn tay chắp lại chỉ Chân như. Trong các tranh tượng, Phật và các vị Bồ Tát không bao giờ được trình bày với ấn này vì trong Ba thế giới, không có ai vượt ngoài trí huệ của chư vị và vì vậy, chư vị không cần phải tán thán ai cả.| |H 11: Ấn kim cương hiệp chưởng|| 10. Ấn kim cương hiệp chưởng (s: vajrapradama-mudrā): đầu ngón tay của hai bàn tay chắp vào nhau. Ấn này là biểu hiện của tín tâm bất động, vững chắc như Kim cương (s: vajra).
ấn
Mudrā (S), chak gya (T), Muddā (P)Pháp ấnMan trà la (ý mật) cùng với thần chú (dharini) là ngữ mật và ấn là thân mật nếu được khéo học và thực hành thì hành giả sẽ là một với chư Phật., thân ngữ ý mình là thân ngữ ý của chư Phật. Xem Pháp ấn.
; Mudrà (S). Seal, stamp, sign, symbol, emblem; proof, assurance, approve. Manual signs indicative of various ideas.
; Mudra (skt)—Seal—Seal of the temple—Sign—signet—Symbol—Emblem—Proof—Approve—Asurance.
ấn chuyển pháp luân
Dharmacakra-pravartana mudrā (S).
ấn chính
2204(1617~1694)清代臨濟宗僧。四川岳池人,俗姓姜。諱道正。號蓮月。嘗以刀自斷髮,初聽聞楞嚴、唯識等講說,後有志於禪,遂上萬峰,參訪破山海明、象崖性珽。後宴坐於夜郎山懷白堂六年。順治十五年(1658)進住遵義府(貴州遵義)九青山東印寺,其後歷住覺林、寶輪、度達、保壽(以上位於四川)、龍興、景德(以上位於湖北)等寺。康熙三十三年示寂,世壽七十八。有蓮月禪師語錄六卷、玉泉蓮月正禪師語錄二卷行世。〔五燈全書卷七十、新續高僧傳第四集卷五十六〕
; (印正) (1617 - 1694) Vị tăng tông Lâm tế đời Thanh. Người Nhạc trì Tứ xuyên, họ Khương. Húy Đạo chính, hiệu Liên nguyệt. Sư từng lấy dao tự cắt tóc, đầu tiên, nghe giảng kinh Lăng nghiêm, luận Duy thức, sau lập chí tu Thiền, sư bèn lên núi Vạn phong tham vấn các ngài Phá sơn Hải minh, Tượng nhai Tính đĩnh. Sau ngồi thiền ở núi Dạ lang, nhà Hoài bạch sáu năm. Năm Thuận trị 15 (1658), sư lên ở chùa Đông ấn, núi Cửu thanh, phủ Tuân nghĩa (Quí châu); về sau, lần lượt ở các chùa Giác lâm, Bảo luân, Độ đạt, Bảo thọ (các chùa trên đây đều ở Tứ xuyên), Long hưng, Cảnh đức (ở tỉnh Hồ bắc) v.v... Năm Khang hi 33 sư tịch, thọ bảy mươi tám tuổi. Có Liên nguyệt thiền sư ngữ lục sáu quyển, Ngọc tuyền liên nguyệt chính Thiền sư ngữ lục hai quyển lưu hành ở đời. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.70; Tân tục cao tăng truyện tập 4, Q.56].
ấn chú
2207又作印明、印言、契明。乃印相與陀羅尼之並稱。即手結諸佛菩薩之印契,口誦真言陀羅尼。印,乃諸尊之身密;咒,則係陀羅尼之異名,為諸尊之語密,二者具有密切之關係。修行者若結誦印咒,則可得廣大功德。又授與印明而直傳灌頂,稱為印明灌頂,如理趣經所說之灌頂印信、大黑灌頂印信、聖天灌頂印信等,均屬印明灌頂。〔無量壽如來觀行供養儀軌、陀羅尼集經卷一〕(參閱「印相」2231、「陀羅尼」3607)
; Ấn và chú—Sign and mantra.
; (印咒) Còn gọi là Ấn minh, Ấn ngôn, Khế minh. Gọi chung ấn tướng và đà la ni. Tức tay kết khế ấn của chư Phật Bồ tát, miệng tụng chân ngôn đà la ni. Ấn, là thân mật của chư tôn; Chú, tên gọi khác của đà la ni, là ngữ mật của chư tôn, cả hai có quan hệ mật thiết với nhau. Người tu hành nếu kết ấn tụng chú thì có thể được công đức rộng lớn. Lại trao ấn minh cho mà truyền quán đính, thì gọi là Ấn minh quán đính, như Quán đính ấn tín, Đại hắc quán đính ấn tín, Thánh thiên quán đính ấn tín v.v... được nói trong kinh Lí thú, đều thuộc Ấn minh quán đính. [X. Vô lượng thọ Như lai quán hành cúng dường nghi quĩ; kinh Đà la ni tập Q.1]. (xt. Ấn Tướng, Đà La Ni).
ấn chỉ
2233<一>禪林以小紙片,朱印其寺號,稱為印紙。〔禪林象器箋第二十三類簿券門〕 <二>印與紙之並稱。 <三>指已印刷之字紙。為譬喻之用語。蓋一篇文章有前後、次第之分,然印刷於紙上時,則同時顯現一文之全義,而無前後、次第之分別,此稱為印紙同時。華嚴五教章卷一即以此「印紙同時」比喻佛陀說法之前後、一時說,認為佛陀說法雖有前後、次第之分,然於理則互不相違,同時顯現真理全義,而無有前後、次第之別。
; (印紙) 1. Thiền lâm dùng mẩu giấy nhỏ in hiệu chùa màu đỏ, gọi là Ấn chỉ. [X. Thiền lâm tượng khí tiên loại 23 Bạ khoán môn]. 2. Nói chung in và giấy 3. Chi cho giấy đã in chữ. Tiếng dùng làm thí dụ. Bởi vì một thiên văn chương có chia ra thứ tự, trước sau, nhưng khi được in lên giấy, thì đồng thời hiển hiện toàn nghĩa của một văn, chứ không phân biệt thứ tự, trước sau, đây gọi là ấn chỉ đồng thời. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1, dùng ấn chỉ đồng thời này để thí dụ đức Phật nói pháp, tuy có chia thứ tự, trước sau, nhưng lí thì không trái nhau, đồng thời hiển hiện toàn nghĩa chân lí, mà không phân biệt thứ tự, trước sau.
ấn chỉ đồng thời
Ấn dấu tay một lượt, giống như in, chứ không phải viết từng chữ—At one and the same time, like printing (which is synchronous, not like writing which is word by word).
ấn chứng
Inka-shomèi (J). Seal of approval.
; Cũng gọi là truyền Tâm ấn. Ấn là con dấu, chứng là chứng nhận. Tâm của trò đã ngộ rồi nhờ tâm thầy ấn chứng trò ấy đã ngộ.
; Seal of approval—Sự xác nhận chính thức về phần của một vị thầy rằng một đệ tử của ông đã hoàn tất đầy đủ việc tu luyện với sự hướng dẫn của chính ông, nói cách khác là đã tốt nghiệp, hay đã đạt đạo trong Phật giáo. Với các thiền sư dùng hệ thống công án, thì nó ám chỉ rằng người học trò đã xong mọi công án do ông thầy chỉ định. Các thiền sư không dùng công án thì ban ấn chứng bằng sự thỏa mãn của các vị nầy về mức độ giác ngộ hay thấu triệt giáo pháp của người học trò. Một đệ tử khi đã được ấn chứng, có thể hoặc không có thể được phép bắt đầu dạy người khác, điều nầy tùy thuộc vào mức độ giác ngộ nông sâu, sức mạnh cá tính và sự trưởng thành của người đệ tử. Dĩ nhiên điều nầy cũng tùy thuộc rất nhiều vào phẩm cách cá nhân của vị thầy. Nếu vị thầy tài ba đức độ và tiêu chuẩn cao, ông sẽ không dễ dàng khinh suất mà để cho đệ tử bắt đầu dạy cho người khác một cách hời hợt. Nhưng nếu là một vị thầy tầm thường, thì rất có thể môn đệ của ông, ấn chứng hay không ấn chứng, cũng sẽ là “một cái dấu vụng về của một con dấu vụng về.” Trong nhà thiền người ta thường hay nói: “Cây đắng không sanh trái ngọt.”—Formal acknowledgment on the part of the master that his disciple has fully completed his training under him, in other words, graduated, or attained enlightenment in Buddhism. With masters who use the koan system it implies the the disciple has passed all the koans prescribed by that master. The bestowal of the seal of approval by masters who do not use koans signifies their satisfaction with their disciple's level of understanding. One who recieves the seal of approval may or may not be given permission by his master to begin teaching, for much depends on the depth of the student's enlightenment, the strength of his character, and the maturity of his personality. Obviously, much also depends on the personal qualities of the master himself. If he is wise, virtuous, and accomplished, with high standards, his permission to teach will not be lightly given. But if he is a mediocre, very likely his disciple, sealed or not-yet-sealed, will be “a poor stamp of a poor stamp.” In zen it is often said, “The fruit can be no better than the tree that produced it.”
Ấn Dung
(印融, Inyū, 1435-1519): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Thất Đinh và Chiến Quốc, húy là Ấn Dung (印融), tự là Lại Thừa (賴乘), xuất thân vùng Cửu Bảo (久保, Kubo), Võ Tàng (武藏, Musashi). Lúc còn trẻ, ông đi du học khắp các vùng kinh đô Kyoto, Nại Lương (奈良, Nara); đến năm 1460, ông thọ pháp với Hiền Kế (賢繼) ở Tam Hội Tự (三會寺) vùng Ô Sơn (烏山, Karasuyama), Võ Tàng; rồi học áo nghĩa của Dòng Tây Viện qua Trường Viên (長圓), Viên Trấn (圓鎭). Sau đó, ông đến trú tại Vô Lượng Thọ Viện (無量壽院) của Cao Dã Sơn, chuyên tu về Mật Giáo. Đến khoảng năm 1488, ông trở về lại Võ Tàng, sống qua một số nơi như Quang Đức Tự (光德寺) ở Kim Trạch (金澤, Kanazawa), Tích Trượng Tự (錫杖寺), Tam Hội Tự ở Hà Khẩu (河口, Kawaguchi), v.v.; từ đó ông tận lực truyền bá Mật Giáo để phục hưng lại tình trạng suy thối ở vùng Quan Đông (關東, Kantō). Đệ tử phú pháp của ông có Thị Dung (是融), Giác Dung (覺融). Trước tác của ông có San Bảo Ẩn Độn Sao (杣本隱遁鈔) 20 quyển, Thích Luận Chỉ Nam Sao (釋論指南鈔) 10 quyển, Đại Nhật Kinh Sớ Chỉ Nam Sao Điếu Vật (大日經疏指南鈔釣物) 9 quyển, Thích Luận Ngu Án Sao (釋論愚案鈔) 7 quyển, Cổ Bút Sao (古筆鈔) 6 quyển, v.v.
ấn giáo hóa
Vitarkamudrā (S).
ấn giản
2235(1202~1257)宋末元初臨濟宗僧。山西寧遠(五寨)人,俗姓宋。字海雲。七歲受讀儒書,過目成誦,每發妙解。崇慶元年(1212)十一歲時,參謁中觀沼而隨其出家,並受具足戒。後遵中觀之遺命北去燕京(北京),途中遇雨甚寒,於擊石取火時,突見明光迸發而大悟,道:「今始知眉橫鼻豎。」遂往謁北京大慶壽寺之中和璋求證,未久,得其印可,並嗣其法。由此聲譽大彰,歷住仁智、興國、永慶、大慶壽等寺,宣說佛法。元太宗九年(1237),賜號「光天鎮國大士」。其後,憲宗聞之,迎請至上都,叩問法要。時,尚未即位之世祖亦事以師禮,並以天下事請教之。憲宗七年示寂,世壽五十六。諡「佛日圓明大師」。〔佛祖歷代通載卷二十一、五燈會元續略卷四、五燈全書卷五十六、雪樓集卷六〕
ấn hiệp chưởng
Ajali-mudrā (S).
ấn hoại văn thành
2235指以蠟印印泥,蠟印雖毀壞,然其跡則顯成印文。諸經論中多以其為生死相續之譬喻。即以印壞喻死,文成譬生,顯示死生同時之義。亦即譬喻十二因緣相續循環之理。乃比喻有情世界之輪迴,現在諸蘊雖已滅,卻生出「中有」諸蘊;此並非現在諸蘊變成中有諸蘊,亦非中有諸蘊自然產生,乃由於現在諸蘊壞滅之因緣,而有中有之諸蘊;恰如印壞而文成。又淨土宗以其作為念佛往生之譬喻,即以印壞喻色身之斷滅,以文成喻往生淨土。〔北本大般涅槃經卷二十九、大智度論卷十二、摩訶止觀卷九下、安樂集卷上〕
; (印壞文成) Chỉ con dấu bằng sáp in lên đất bùn, con dấu thì nát mất, nhưng vết nó còn đó. Trong các kinh luận phần nhiều dùng từ ngữ này để thí dụ sự sống chết nối nhau không dứt. Tức dùng con dấu nát mất để thí dụ cái chết, vết còn lại thí dụ cái sống, hiển bày nghĩa sống chết đồng thời. Cũng là thí dụ cái lí tương tục tuần hoàn của mười hai nhân duyên. Thí dụ sự luân hồi của thế giới hữu tinh, các uẩn hiện tại tuy đã diệt, nhưng lại sinh các uẩn Trung hữu; đây không có nghĩa là các uẩn hiện tại biến thành các uẩn Trung hữu, cũng không phải các uẩn Trung hữu tự nhiên sinh, mà là do các uẩn hiện tại hoại diệt nên mới có các uẩn Trung hữu, cũng như con dấu nát mất mà thành vết còn lại. Lại tông Tịnh độ dùng nó để thí dụ niệm Phật vãng sinh, tức con dấu nát thí dụ sự hoại diệt của sắc thân, vết còn lại thí dụ vãng sinh Tịnh độ. [X. kinh Đại ban Niết bàn (bản Bắc) Q.29; luận Đại trí độ Q.12; Ma ha chỉ quán Q.9 phần dưới; An lạc tập Q.thượng].
ấn hành
To print—To publish.
ấn hải
2231(1927~ )江蘇如皋人,俗姓劉。號圓修。十三歲依同縣定慧寺智明法師出家。民國三十六年(1947)春受具足戒於南京寶華山,後即求法於常州天寧佛學院。三十八年春來臺,依止慈航法師。四十三年親近印順導師於福嚴精舍與慧日講堂。其後二十二年間,曾出任該二道場之監院與住持,並籌辦太虛、福嚴二佛學院,任職二院副院長。曾講學於臺中中華佛教學院、基隆正覺佛學院及中國佛教會所辦之大專佛學講座。五十六年春,遊化東南亞各地。六十五年,應美國紐約東禪寺之請,講說彌勒上生經。六十六年返臺,辭卸慧日講堂住持之職,再度赴美,創建法印寺於南加州洛杉磯。今弘化於美國。著有彌勒上生經講記,譯有中印禪宗史、中國淨土教理史、佛教唯心論概論等。印海近譯有淨土教概論、律宗綱要等。
ấn kha
ssuredly can, i.e. recognition of ability, or suitability.
ấn khả
2204指印證認可。即弟子修道成就時,為師者加以印證過後,承認、許可其所悟境界之意。此詞屢見於維摩經卷上之經文。禪宗、密教亦常用之,例如密教修法中之「印可灌頂」、「印可加行」等即是。所謂印可灌頂,即受阿闍梨之印可並灌頂之義;又作許可灌頂。印可加行,乃印可灌頂之前行;又作許可加行。一般於四度加行畢,修千日護摩後,即舉行印可灌頂。此外,論語皇侃義疏中亦載有「皆被孔子印可也」一語。〔大日經卷三、觀經疏卷四(善導)〕
; Inka (J).
; (印可) Sự ấn chứng nhận cho là được. Hàm ý khi học trò thành tựu sự tu hành, được thầy ấn chứng thừa nhận cái cảnh giới mà học trò đã ngộ được là đúng. Từ ngữ này thường thấy trong kinh Duy ma. Thiền tông, Mật giáo thường cũng dùng nó, chẳng hạn như ấn khả quán đính, ấn khả gia hành trong pháp tu của Mật giáo. Ấn khả quán đính có nghĩa là sự cho phép làm lễ quán đính của thầy A xà lê; còn gọi là Hứa khả quán đính. Ấn khả gia hành có nghĩa là nhận cho được tu hành các pháp chuẩn bị trước lễ quán đính. Thông thường, sau khi tu Tứ độ gia hành, một nghìn ngày hộ ma xong, thì cử hành Ấn khả quán đính. Ngoài ra, trong Luận ngữ hoàng khản nghĩa sớ cũng có câu Giai bị Khổng tử ấn khả dã (đều được Khổng tử nhận cho là được).
Ấn khả chứng minh
印 可 證 明; J: inka shōmei; cũng thường được gọi tắt là ấn chứng;|Thuật ngữ thường được dùng trong Thiền tông chỉ sự xác nhận của thầy rằng môn đệ của mình đã hoàn tất đầy đủ việc làm dưới sự hướng dẫn của mình, có thể nói là »thành đạo.«|Nếu những vị thầy sử dụng Công án (j: kōan) trong chương trình giảng dạy thì việc ấn khả có nghĩa là thiền sinh đã giải tất cả những công án và vị thầy đã hài lòng với các kết quả đạt được. Nếu vị thầy không sử dụng công án thì sự ấn khả đồng nghĩa với sự hài lòng của vị thầy về mức độ thông đạt chân lí của đệ tử. Chỉ sau khi được ấn khả và khi những yếu tố quan trọng khác – ví như khả năng am hiểu người để hướng dẫn họ – đã sẵn có hoặc đã tu luyện thành đạt thì người được ấn khả này mới được hướng dẫn môn đệ trên thiền đạo và tự gọi mình là Pháp tự (法 嗣) của vị thầy và mang danh hiệu Lão sư (j: rōshi). Nhưng ngay khi tất cả những điều kiện trên đã đạt và thiền sinh đã được ấn khả thì việc này không có nghĩa rằng, thiền sinh đã chấm dứt việc tu tập trên con đường thiền. Càng nhìn rõ xuyên suốt thiền sinh càng thấy rằng, việc tu tập thiền không bao giờ đến nơi cùng tận và kéo dài vô số kiếp. Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền bảo rằng, ngay cả đức Phật Thích-ca cũng còn đang trên đường tu tập.|Với sự ấn chứng, vị thầy xác định rằng, thiền sinh đã ít nhất đạt được cấp bậc Kiến tính (j: kenshō) như chính mình và từ nay có thể tự đứng vững một mình. Theo truyền thống của Thiền tông thì vị thầy lúc nào cũng phải cố gắng dạy học trò vượt hẳn chính mình (về mặt giác ngộ). Nếu trình độ của đệ tử chỉ bằng thầy thì nguy cơ suy tàn của tâm ấn trong những thế hệ sau đó rất lớn.
ấn khả chứng minh
Inka shōmei (J).
Ấn khả 印可
[ja] インカ inka ||| Approval of the enlightenment of the disciple by the teacher, thus acknowledging the disciple's ability to be a teacher in her/his own right. - =>Chứng nhận sự giác ngộ của đệ tử từ người thầy, thừa nhận năng lực của đệ tử mình có thể trở thành một vị tăng.
ấn khế
Ấn Tướng—Khế Ấn—Ấn tướng là biểu tượng chỉ rõ những ý nghĩa khác nhau. Có nhiều ấn khế khác nhau và nhiều ấn tướng của chư Phật và chư Bồ Tát—Manual signs indicative of various ideas. There are many other indications and various symbols of the Buddhas and Bodhisattvas: 1) Mỗi ngón tay biểu tượng cho ngũ đại, đất, nước, lửa, gió và hư không, bắt đầu bằng ngón út: Each finger represents one of the five primary elements, earth, water, fire, air, and space, beginning with the little finger. 2) Cánh tay trái biểu tượng cho sự định tĩnh: The left hand represents “stillness” or “meditation.” 3) Cánh tay phải biểu tượng cho sự biện biệt hay trí huệ: The right hand represents “discernment” or “wisdom.”
Ấn khế 印契
[ja] インゲイ ingei ||| Signs made with the hands, usually seen in sculptural and painted representations of buddhas and bodhisattvas, that indicate various kinds of symbolism associated with concepts in the Buddhist teaching. See 印相. - =>Ấn bằng tay, thường được thấy trong tranh hoặc tượng Phật hoặc Bồ-tát, biểu thị vô số biểu tượng đa dạng liên quan đến các ý niệm trong giáo lý Phật giáo. Xem Ấn tướng. -
ấn kinh viện
2235位於河南開封太平興國寺之西側。宋太宗太平興國七年(982),天息災、法天、施護等僧,於太平興國寺之譯經院從事譯經。次年,於譯經院旁建立印經院,將新譯之經直接送此印刻,以免抄寫之繁。〔大宋僧史略卷上、佛祖統紀卷四十三、宋史本紀第四、第七、第十〕(參閱「太平興國寺」1371)
; (印經院) Viện in kinh. Nằm về mé tây chùa Thái bình hưng quốc huyện Khai phong tỉnh Hà nam. Năm Thái bình hưng quốc thứ 7 (982) đời Tống thái tông, các ngài Thiên tức tai, Pháp thiên, Thí hộ ở Viện dịch kinh của chùa Thái bình hưng quốc làm việc phiên dịch kinh điển. Năm sau, viện in kinh được xây dựng bên cạnh viện dịch kinh, những kinh mới được dịch xong, đưa ngay xuống viện khắc in để tránh việc sao chép cho đỡ tốn công. [X. Đại tống tăng sử lược Q.thượng; Phật tổ thống kỉ Q.43; Tống sử bản kỉ Q.4, Q.7, Q.10]. (xt. Thái Bình Hưng Quốc Tự).
ấn loát
See Ấn Hành.
ấn loát thuật
2206興於我國,原係因應佛教徒之需要,而發達於文化圈。由印刷遺物而推論,最古或為隋代所刻,然年代不詳。日本方面,於神護景雲四年(770)所刻成之百萬塔陀羅尼,為日本最早之印刷品。我國方面,唐咸通九年(868)所完成之「金剛般若經」,為最早之印刷品,亦為現存世界上最古的雕版經本印刷品,其扉頁之「祇樹給孤獨園圖」,現藏於英國大英博物館,其刻工技術之進步,世人共譽。 然有組織之大部佛典印刷係於進入十世紀之後,以四川最為發達;佛教大藏經之最初印刷,亦於十一世紀末之四川地方開版,後分送至各地之大寺院,其時所印之經典皆為漢文佛典。宋、元、明印行之大藏經皆係木版雕印本,自民初之頻伽藏乃開始使用鉛活字印刷。又於元朝統治中國之時,回紇文與西夏文之佛典亦有印刷本,此因元朝之領土包括回紇、西夏,且同為戎族,元室乃特為彼等印刷回紇文與西夏文之佛典。當時負責從事此項工作者,則為元朝種族政策下備受歧視之漢人,印刷工作全在杭州進行。此外,如朝鮮、安南等地,亦有佛典之刊印。又於出土文物中,亦有少數古代印度語之印刷品,然屬於我國系統之印刷術並未流行於印度,直至十九世紀末,印度始有天城體(梵 deva-nāgarī)文字之鉛活字佛典興起。 自九世紀末至十世紀之間,我國內地大量印刷各種佛典,分送至全國各地及中亞等地,其中僅有少數倖存至今。於今中亞所出土之印刷佛典,其初期形式皆為卷子本,如上記所述之「金剛般若經」即為卷子本。自十一世紀頃,始以折本與冊子本為主。漢文、回紇文、西夏文之佛典均有折本與冊子本,然卷子本之印刷佛典僅有漢文,數量亦不多。 於日本,平安時代南都諸寺皆有法華經、成唯識論之印行,於鎌倉時期稱此系統所刊印之佛典為「春日版」,其後有高野山關係寺院之「高野版」,與京都禪宗五山之「五山版」,另有以京都為中心之「淨土教版」。至室町時代,乃以鎌倉為據點,隨而普及各地,及至室町末期,遂發展為商賈買賣之出版。印刷活字版之流行,至江戶初期始興盛,此即一六三七年以活字版所印行之天海藏,此後日本之大藏經,亦多用活字印行。此外,刻有圖像之印刷術,乃傳自唐朝之摺佛,自平安末期至鎌倉時代皆甚流行,其形大者如兩界曼荼羅、涅槃像,小者如頒於寺院之尊影、護符等木板摺佛印刷。明治之後,西洋盛行鉛活字印刷,木版遂急速衰頹而為鉛活字所取代。(參閱「活字版」3880)
; (印刷術) Kĩ thuật in phát khởi ở Trung quốc, nguyên nhân là đáp ứng nhu cầu của tín đồ Phật giáo mà phát triển thuật ấn loát trong phạm vi văn hóa. Cứ theo các di vật in ấn còn lại mà suy luận, thì bản khắc cổ nhất là vào thời nhà Tùy, nhưng niên đại không rõ. Về Nhật bản, thì Bách vạn tháp đà la ni được khắc xong vào năm Thần hộ cảnh vân thứ 4 (770) là ấn loát phẩm sớm nhất của Nhật bản. Về phương diện Trung quốc, thì Kim cương bát nhã kinh được hoàn thành vào năm Hàm thông thứ 9 (968) đời Đường, là ấn loát phẩm sớm nhất, cũng là ấn loát phẩm bản kinh khắc cổ nhất hiện còn trên thế giới; ở ngay tờ đầu của cuốn kinh có vẽ bản đồ Kì thụ Cấp cô độc viên, hiện tàng trữ tại Đại Anh bác vật quán của nước Anh, kĩ thuật khắc chữ Bách Vạn Tháp Đà La Ni của Nhật Bản in năm 770 của người thợ rất tiến bộ, người đời ai cũng khen ngợi. Nhưng, sự ấn loát đại bộ kinh điển Phật một cách có tổ chức thì phải đợi đến sau thế kỉ thứ X, phát đạt nhất, là tỉnh Tứ xuyên. Đại tạng kinh Phật giáo, được in lần đầu tiên vào cuối thế kỉ XI, cũng in tại Tứ xuyên, sau mới phân phối đi các chùa viện lớn ở các nơi, các kinh điển in vào thời kì này đều là kinh điển Hán văn. Đại tạng kinh ấn hành vào các đời Tống, Nguyên, Minh đều là các bản in khắc trên bản gỗ, từ tạng Tần già vào đầu năm Dân quốc mới bắt đầu dùng chữ rời bằng chì để in. Lại thời kì nhà Nguyên thống trị Trung quốc, cũng có bản in kinh Phật bằng văn Hồi hột và văn Tây hạ, lí do là vì lãnh thổ triều Nguyên bao gồm cả đất Hồi hột, Tây hạ, vả lại cũng cùng là Nhung tộc (giống mọi rợ) với nhau, nên nhà Nguyên đã vì họ mà in ấn kinh sách Phật bằng văn Hồi hột và văn Tây hạ. Thời bấy giờ, những người phụ trách công việc in ấn là người Hán, bị kì thị bởi chính sách chủng tộc của triều Nguyên, công việc ấn loát toàn được tiến hành tại Hàng châu. Ngoài ra, như Triều tiên và Việt nam cũng có khắc in kinh điển Phật. Lại trong các văn vật được tìm đào thấy, cũng có số ít ấn loát phẩm bằng tiếng Ấn độ cổ đại, song thuật ấn loát của Trung quốc chưa thấy lưu hành tại Ấn độ, mãi đến cuối thế kỉ XIX, Ấn độ mới bắt đầu in kinh điển Phật bằng chữ rời chì trong thể chữ Thiên thành (Phạm:devanàgarì) Từ cuối thế kỉ IX đến thế kỉ X, số lượng lớn kinh điển Phật in ở Trung quốc, được phân phối đi các nơi trên toàn quốc, đến các miền Trung á, trong đó, chỉ có số ít may còn đến ngày nay. Các kinh điển in được tìm đào thấy ở Trung á hiện nay, cho thấy hình thức thời kì đầu đều là bản cuốn lại, như kinh Kim cương bát nhã nói ở trên là một bản cuốn. Từ khoảng thế kỉ XI, mới thấy các bản xếp và đóng thành quyển được dùng. Các kinh Phật bằng văn Hán, văn Hồi hột và văn Tây hạ, đều là bản xếp, bản đóng, nhưng bản cuốn thì chỉ có trong văn Hán, và số lượng cũng rất ít. Tại Nhật bản, vào thời đại Bình an, các chùa ở Nam đô đều có ấn hành kinh Pháp hoa, luận Thành duy thức. Vào thời Liêm thương, hệ thống san hành kinh Phật ấy được gọi là Xuân nhật bản, về sau, có Cao dã bản do chùa viện ở núi Cao dã ấn hành, còn có Tịnh độ giáo bản lấy Kinh đô làm trung tâm. Đến thời đại Thất đinh lấy Liêm thương làm cứ điểm, rồi từ đó phổ cập các nơi, và đến cuối thời kì Thất đinh thì phát triển thành xuất bản thương mãi. Sự in ấn bằng bản chữ rời đến đầu thời kì Giang hộ mới hưng thịnh, tức vào năm 1637, Thiên hải tạng được ấn hành bằng bản chữ rời, từ đó về sau, Đại tạng kinh Nhật bản phần nhiều cũng ấn hành bằng chữ rời. Ngoài ra, có các bức tranh tượng Kinh Kim Cương Bát Nhã Đời Đường Trung Quốc In Năm 968 Tạng Tần Già vẽ được khắc in, là tranh Phật truyền vào từ đời Đường, từ cuối thời Bình an đến thời Liêm thương được lưu hành rộng rãi, khổ lớn như Lưỡng giới mạn đồ la, tượng Niết bàn, khổ nhỏ thì như tranh tượng ban cho các chùa viện, hộ phù v.v..., tranh Phật in bản gỗ. Sau thời Minh trị, thuật ấn loát bằng chữ rời chì của phương Tây thịnh hành, bản gỗ bèn suy đồi nhanh chóng mà thay thế bằng chữ rời chì. (xt. Hoạt Tự Bản).
ấn mẫu
2205即密教用來作為一切印契基礎之基本印。有十二合掌、六種拳兩種。合掌,表示未開敷之蓮花;拳,表示月輪。又以合掌為印母之印契,一般多係就眾生邊與本有門而明其義;而以拳為印母之印契,則多就如來邊與修生門而明其義。〔大日經密印品、大日經疏卷十三〕(參閱「十二合掌」336、「六種拳印」1304)
; Anjali (skt)—Hai bàn tay và các ngón tay chấp lại, đây là “mẹ” của tất cả các dấu ấn—The two hands with palms and fingers together, the “mother” of all manual signs.
; (印母) Ấn mẹ, tức là ấn căn bản mà Mật giáo dùng làm nền tảng cho tất cả các ấn. Có hai loại là mười hai kiểu chắp tay, sáu kiểu nắm tay. Chắp tay, biểu thị cho hoa sen chưa nở, nắm tay, biểu thị mặt trăng. Nếu dùng chắp tay làm ấn căn bản (ấn mẫu), thì thông thường, phần nhiều đứng về phía chúng sinh và Bản hữu môn để mà thuyết minh ý nghĩa của nó; còn nếu lấy nắm tay làm ấn căn bản, thì phần nhiều đứng về phía Như Lai và Tu sinh môn để mà giải thích ý nghĩa của nó. [X. kinh Đại nhật phẩm Mật ấn; Đại nhật kinh sớ Q.13]. (xt. Thập Nhị Hợp Chưởng, Lục Chủng Quyền Ân).
ấn ni phật giáo
2204佛教在印尼,為古老之宗教,亦為新興之宗教。西元五世紀初,爪哇島上已有少數佛教徒,法顯訪問該島時(414),見婆羅門教盛行,而佛教則尚在肇始之階段。其後二十餘年,有比丘求羅弗文(梵 Guṇavarman)於此弘法、譯經,佛教方正式傳入,先後有王母后、國王及人民歸依。至第七世紀,佛教已傳入蘇門答臘,時巴鄰旁王為蘇瓦嘉耶(śrī-vijaya)。當義淨於唐高宗咸亨二年(671)自廣州泛海南行,途經巴鄰旁時,即稱道該地佛教教育之興隆,可媲美印度那爛陀寺,事見南海寄歸內法傳序文。義淨其後又至室利佛逝(今蘇門答臘東部)留止六個月,學習聲明。後在印度留學十一年,至武后垂拱三年(687)仍循海路回國,重經室利佛逝,留止二年,於此期間,譯出雜經論,著南海寄歸內法傳、大唐西域求法高僧傳,而為我國第一位在印尼譯述之人。 自七世紀至十一世紀之四百年間,為印尼佛教鼎盛時期。七世紀時,於那爛陀寺大學任教三十年之達摩普羅(梵 Dharmapāla),自康居至蘇門答臘弘法。又七世紀時,室利佛逝王國興起,全國上下均虔誠信仰佛教。據根本說一切有部百一羯磨卷五之譯者小注載,其國有僧眾千餘人,皆以學問為要務,且多行托鉢之法,其沙門儀軌與中印度大抵相同。八世紀中葉以後約百年間,著名的佛教建築相繼完成,如婆羅浮屠(Borobodur),係建於九世紀之賽朗度拉斯王朝,為目前全球大乘佛教最大最壯觀之聖地。此外,另如曼達特(Mendut)、卡拉森(Kalasan)、薩壘(Sari)等皆為馳名宇內之佛教建築,佛教隆興之情形可以想知。其時,大乘佛教因世楞達羅王之贊助而得以宣揚,該王並曾於拿楞陀、拉迦普敦二地興建甚多寺宇。同時,密宗亦傳入。 本世紀以來,佛教居士林普遍設立,一九五三年第一個居士林成立於日惹,類此居士林,今全國約有四十餘處。一九五七年,三寶壠之印尼佛學社、棉蘭市之蘇島佛學社亦相繼創立,一九五八年,印尼佛教菩提總會於佛陀伽耶寺召開第一次大會。一九八四年十月,印尼佛教各大宗派共同協力,於蘇門答臘創立「印尼佛教大學」,已獲印尼政府批准登記備案,為印尼唯一之佛教大學。〔印尼之佛教(慧海)〕
; (印尼佛教) PHẬT GIÁO INDONESIA - Phật giáo tại Indonesia là tôn giáo rất xưa, nhưng cũng là tôn giáo mới phát. Đầu thế kỉ thứ V Tây lịch, trên đảo Trảo oa (Java) đã có một số ít tín đồ Phật giáo, khi ngài Pháp hiển ghé thăm đảo này (414), thấy Bà la môn giáo thịnh hành, mà Phật giáo thì vẫn còn ở giai đoạn khởi thủy. Hơn hai mươi năm sau, có vị tỉ khưu tên là Cầu la phất văn (Phạm: Gunavarman) đến đây hoằng pháp, dịch kinh, Phật giáo mới chính thức được truyền nhập, rồi lần lượt có hoàng thái hậu, quốc vương và nhân dân qui y. Đến thế kỉ thứ VII, Phật giáo đã truyền vào Tô môn đáp lạp (Sumatra), vua xứ Ba lân bàng (Palembang) lúc đó là Tô gia gia (Zrìvijaya). Năm Hàm hanh thứ 2 (671) đời Đường cao tông, từ Quảng châu, ngài Nghĩa tịnh vượt biển đi về phương Nam, lúc qua Palembang, ngài đã khen ngợi nền giáo dục Phật giáo tại đó hưng thịnh, có thể sánh ngang với chùa Na lan đà ở Ấn độ, việc này thấy ghi trong bài tựa của Nam hải kí qui nội pháp truyện. Sau đó, Nghĩa tịnh lại đến Thất lợi phật thệ (nay là đông bộ Tô môn đáp lạp) nghỉ lại sáu tháng để học tập ngôn ngữ. Sau, ngài đến Ấn độ lưu học mười một năm, tới năm Thùy củng thứ 3 (687) đời Vũ hậu, lại theo đường biển về nước và ghé qua Thất lợi phật thệ lần thứ hai, lưu lại đó hai năm; trong thời gian này, ngài dịch Tạp kinh luận, viết Nam hải kí qui nội pháp truyện, Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện, là người Trung quốc đầu tiên dịch thuật tại Ấn ni. Trong khoảng bốn trăm năm, từ thế kỉ VII đến thế kỉ X, là thời kì cường thịnh của Phật giáo Ấn ni. Trong thế kỉ VII, Đạt ma phổ la (Phạm:Dharmapàla), đã dạy tại Đại học Na lan đà ba mươi năm, nay từ nước Khang cư đến Tô môn đáp lạp hoằng pháp. Cũng trong thế kỉ VII, Vương quốc Thất lợi phật thệ hưng khởi, trên dưới toàn quốc đều thành kính tin theo Phật giáo. Cứ theo Cước chú của người dịch trong Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ bách nhất yết ma quyển 5 chép, thì nước ấy có hơn một nghìn Tăng chúng, đều lấy học vấn làm việc chính, và phần nhiều hành pháp thác bát (đi khất thực), phép tắc của sa môn ở đây đại để cũng giống như ở trung Ấn độ. Từ giữa thế kỉ VIII về sau, trong khoảng một trăm năm, các kiến trúc Phật giáo trứ danh nối nhau hoàn thành, như Bà la phù đồ (Borobudur), được xây dựng vào thế kỉ IX, dưới triều vua Tái lãng độ lạp tư, là Thánh địa lộng lẫy nhất, to lớn nhất của Phật giáo Đại thừa trên toàn cầu hiện nay. Ngoài ra, các kiến trúc Phật giáo khác, như Mạn đạt đặc (Mendut), Tạp lạp sâm (Kalasan), Tát lũy (Sari) v.v... cũng đều nổi tiếng trong nước, tình hình hưng thịnh của Phật giáo có thể coi đó mà biết được. Thời ấy, Phật giáo nhờ sự tán trợ của vua Thế lăng đạt la mà được tuyên dương, nhà vua còn xây nhiều chùa viện tại hai nơi Nã lăng đà và Lạp ca phả đôn. Đồng thời, Mật giáo cũng du nhập. Ở thế kỉ này, Phật giáo cư sĩ lâm đã được thiết lập một cách rộng khắp, năm 1953, tổ chức Cư sĩ lâm đầu tiên được thành lập ở Nhật nhạ, nay trên toàn quốc có khoảng hơn bốn mươi tổ chức như thế. Năm 1957, hội Phật học Ấn ni tại Tam bảo lũng, hội Phật học Tô đảo tại Miên lan thị cũng nối nhau được thành lập, năm 1958, Tổng hội Phật giáo Bồ đề Ấn ni mở đại hội lần thứ nhất tại chùa Phật đà già gia. Tháng 10 năm 1984, các tông phái lớn của Phật giáo Ấn ni, cùng góp sức sáng lập Đại học Phật giáo Ấn ni tại Tô ma đáp lạp, đơn xin phép đã được Chính phủ Ấn ni phê chuẩn, là Đại học Phật giáo duy nhất tại Ấn ni. [X. Ấn ni chi Phật giáo (Tuệ hải)].
ấn pháp quán đỉnh
2209又作祕印灌頂、手印灌頂、離作業灌頂。乃大日經卷五祕密漫荼羅品所說三種灌頂之一。指未辦備支具作業,僅以少量供物供養三寶,而由阿闍黎授與弟子傳法印真言之灌頂。印,指傳法灌頂之印;法,指灌頂之規持儀則。蓋對機性具足之弟子,當行傳法灌頂,然弟子資力乏少,未能辦備事業灌頂所需之支具時,阿闍黎則特許行此印法灌頂。又為恐弟子生怠慢心有損眾德,故對機性、資力具足者,必以事業灌頂傳法,而不行印法灌頂。〔大日經疏卷十五、大日經疏鈔卷三、大日經見聞記卷七〕
; (印法灌頂) Còn gọi là Bí ấn quán đính, Thủ ấn quán đính, Li tác nghiệp quán đính. Là một trong ba loại quán đính được nói trong phẩm Bí mật mạn đồ la, kinh Đại nhật quyển 5. Chỉ cho loại quán đính chưa làm đầy đủ mọi tác pháp mà chỉ mới sắm sửa một ít cúng vật cúng dường Tam bảo, nhưng thầy A xà lê đã trao truyền pháp ấn chân ngôn cho đệ tử. Ấn, chỉ ấn khế truyền phép quán đính; Pháp, chỉ các nghi tắc quán đính phải tuân theo. Bởi vì, đối với các đệ tử đã đầy đủ căn cơ mới được truyền pháp quán đính, nhưng đệ tử chưa đầy đủ các điều kiện màsự nghiệp quán đính đòi hỏi, thầy A xà lê vẫn đặc biệt cho phép cử hành Ấn pháp quán đính. Lại vì sợ các đệ tử sinh tâm biếng nhác chán nản, nên đối với những người đã đầy đủ khả năng căn cơ, thì phải truyền pháp Sự nghiệp quán đính, chứ không cử hành Ấn pháp quán đính. [X. Đại nhật kinh sớ Q.15; Đại nhật kinh sớ sao Q.3; Đại nhật kinh kiến văn kí Q.7].
ấn phù
Talisman.
ấn phật
A Buddha made of incense and burnt—A symbolical Buddha.
ấn phật tác pháp
2206印佛,即以香、土砂、木材等做成佛形而以香薰之。印佛作法,則指以土砂、木材等畫或雕成佛像約九公分左右,燃香薰之,藉此以滅罪,或施此尊佛像之功德予眾生。其作法次第為:先行三禮,誦如來咒,次以薰煙印佛於虛空中(或印於水中、砂中等),次金剛合掌,唱偈「我今香煙印如來,相好具足放光明,遍滿虛空世界海,猶如燈炎無障礙。依此印佛功德力,利益無邊有情海,共生極樂證妙果,恆為眾生解脫緣。」次結誦佛眼印言、大日印言。上述偈中之「我今香煙印如來」一句,可因時制宜,如供奉菩薩或其他諸尊者,則可改誦「我今香煙印菩薩」等。此外,若將木材等雕刻成五輪塔婆形作法,而不以佛形作法者,則稱為印塔作法。〔作法集、真言修行頌卷二〕
; Một phương pháp của trường phái Mật Tông, tìm sự trợ giúp tâm linh bằng cách in hình Phật trên giấy, hay tạo hình Phật trên cát, trong không gian, và cử hành một nghi thức lễ đặc biệt—An esoteric method of seeking spirit-aid by printing a Buddha on paper, or forming his image on sand, or in the air, and peforming specific rites.
; (印佛作法) Tức dùng hương, đất sét, gỗ mà tạo thành hình Phật rồi thắp hương xông. Ấn Phật tác pháp là cách thức tạo hình tượng Phật, như dùng đất hoặc gỗ để đắp hay chạm thành tượng Phật khoảng độ chín phân Tây, rồi đốt hương xông, nhờ đó mà diệt tội, hoặc đem công đức tôn Phật tượng này hồi hướng cho chúng sinh. Thứ tự hành lễ là: trước hết lạy ba lạy, tụng chú Như lai, kế đến, đặt tượng Phật xông hương giữa hư không, rồi chắp tay, đọc bài kệ: Nay con dâng hương cúng Như lai, tướng hảo đầy đủ phóng ánh sáng, đầy khắp hư không thế giới hải, cũng như mặt trời không chướng ngại. Nhờ sức công đức ấn Phật này, lợi ích vô biên hữu tình hải, cùng sinh Cực lạc chứng diệu quả, thường là duyên giải thoát chúng sinh. Cuối cùng, kết thúc, tụng Phật nhãn ấn ngôn, Đại nhật ấn ngôn. Câu Nay con dâng hương cúng Như lai trong bài kệ trên, có thể tùy trường hợp mà thay đổi, chẳng hạn khi cúng dường các Bồ tát hoặc chư tôn khác, thì có thể đổi là Nay con dâng hương cúng Bồ tát.v.v... Ngoài ra, nếu dùng gỗ mà chạm trổ thành hình Ngũ luân tháp bà, chứ không làm thành hình Phật, thì gọi là Ấn tháp tác pháp.[X. Tác pháp tập; Chân ngôn tu hành tụng Q.2].
ấn quang
2206<一>佛陀之心印所發之光明。大日經疏卷六(大三九‧六四七上):「心蓮花眼遇菩提印光。」 <二>(1862~1940)我國當代淨土宗高僧,蓮宗第十三祖。陝西郃陽人,俗姓趙。名聖量,字印光。別號常慚愧僧。少治儒學,喜讀程、朱之書。曾排佛,遭目失明,繼而猛省,轉研佛典,以至誠所感,目疾獲癒。年二十一,至終南山南五臺,歸依蓮華洞道純長老出家。光緒八年(1882),掛搭湖北竹溪蓮華寺。未久,受具足戒於陝西興安雙溪寺。二十六歲,赴淨土道場紅螺山資福寺念佛,自號「繼廬山行者」以明其志。其後,往浙江居普陀山法雨寺二十餘年,朝夕唯閱藏念佛,不求聞達。曾兩度閉關,空諸色相。民國元年(1912),以文稿刊於佛學叢報,署名「常慚愧僧」,名震遐邇。民國七年,為募印「安士全書」而常至上海,遂駐錫太平寺,各方投函請益者甚眾,師皆慈悲攝受。 師畢生弘揚淨土,其行事堅守「不當住持,不收徒眾,不登大座」之三大原則;且淡泊名利,刻苦儉樸,恆示人以老實修持之道。年七十,閉關於吳縣報恩寺,初不欲見客,後始對大眾開示。曾修輯普陀、清涼、峨眉、九華等四大名山之志書。又於吳縣復建靈巖山寺,由真達和尚主其事,為我國淨土宗第一道場。民國二十九年,示寂於靈巖山寺,世壽七十九。荼毘後,得五色舍利花及舍利珠無數。師一生操守弘毅,學行俱優,感化甚廣,被譽為民國以來淨土第一尊宿。坊間有印光大師文鈔及印光大師全集行世。
; 1) Ánh sáng chiếu từ biểu tượng trên ngực của Phật hay Bồ Tát—Illumination from the symbol on a Buddha's or Bodhisattva's breast. 2) Tên của một ngôi chùa nổi tiếng nằm trong quận 10, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Trí Hữu trụ trì chùa Linh Ứng Đà Nẳng xây vào năm 1948. Đến năm 1950, Hòa Thượng Thiện Hòa cho xây lại ngôi Chánh điện theo kiểu chùa Từ Đàm ở Huế, đổi tên là Ấn Quang Tự, và thành lập Phật Học Đường Nam Việt. Chùa được xây dựng liên tục trong 20 năm. Ngôi Chánh điện được tái thiết vào năm 1966. Tổ đình Ấn Quang nguyên là trụ sở của Phật Học Đường Nam Việt từ năm 1950 đến năm 1963, văn phòng của Giáo Hội Tăng Già Việt Nam từ năm 1951 đến năm 1963, văn phòng Viện Hóa Đạo và Viện Tăng Thống từ năm 1959 đến 1963—Name of a famous pagoda, located in the tenth district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built in 1948 and named Ứng Quang by Most Venerable Trí Hữu, Head of Linh Ứng Pagoda of Đà Nẳng province. In 1950, Most Venerable Thiện Hòa had its Main Hall reconstructed following the design of Từ Đàm Pagoda from Huế. He also renamed it Ấn Quang and founded the South Vietnam School of Buddhist Studies. It has been continuously built for twenty years. The Main Hall was rebuilt in 1966. Formerly, Ấn Quang Pagoda was the ofice of the South Vietnam School of Buddhist Studies from 1950 to 1953, the office of South Vietnam Buddhist Sangha Association from 1951 to 1963, the office of Vietnam Buddhist Sangha from 1959 to 1963.
; (印光) I. Ấn quang. Ánh sáng phát ra từ tâm ấn của Phật. Đại nhật kinh sớ quyển 6 (Đại 39, 647 thượng), nói: Con mắt tâm hoa sen gặp ánh sáng phát ra từ tâm Bồ đề của Phật. II. Ấn quang. (1862 - 1940), là vị cao Tăng thuộc tông Tịnh độ của Trung quốc hiện đại, tổ thứ 13 của tông Tịnh độ. Người huyện Cáp dương tỉnh Thiểm tây, họ Triệu. Tên là Thánh lượng, tự Ấn quang. Biệt hiệu Thường tàm quí tăng. Lúc nhỏ học Nho, thích đọc sách Trình, Chu. Đã từng bài báng Phật, sau mắt bị mờ bèn sực tỉnh, trở lại học tập nghiên cứu kinh Phật, lòng chí thành được cảm thông, mắt dần dần sáng ra và, cuối cùng, khỏi hẳn. Năm hai mươi mốt tuổi, đến Nam ngũ đài núi Chung nam, qui y và xuất gia theo Trưởng lão Đạo thuần tại động hoa sen. Năm Quang tự thứ 8 (1882), đến trú trì chùa Liên hoa ở Trúc khê thuộc tỉnh Hồ bắc. Sau không lâu, thụ giới Cụ túc tại chùa Song khê ở Hưng An tỉnh Thiểm tây. Năm hai mươi sáu tuổi, đến Đạo tràng Tịnh độ ở chùa Tư phúc núi Hồng loa niệm Phật, tự đặt hiệu là Kế Lư sơn hành giả (Kế tiếp những người tu hành Lư sơn) để nói rõ chí của mình. Về sau, đến ở chùa Pháp vũ, núi Phổ đà tỉnh Triết giang hơn hai mươi năm, sớm tối chuyên xem Đại tạng và niệm Phật, không muốn ai biết đến. Đã đóng cửa hai lần, buông hết sắc tướng. Dân quốc năm đầu (1912), gửi bài in trên Phật học tùng báo, kí tên là Thường tàm quí tăng (Vị Tăng thường hổ thẹn), tiếng đồn khắp nơi. Năm Dân quốc thứ 7, vì việc khuyến hóa để in sách An sĩ toàn thư nên thường đến Thượng Hải và trú tại chùa Thái bình, các nơi đến cúng dường và hỏi đạo rất đông, sư đều hoan hỉ nhiếp thụ.Sư suốt đời hoằng dương Tịnh độ, sư thực hành ba nguyên tắc lớn một cách rất kiên trì là: Không đảm trách việc trú trì, không thu nhận học trò, không lên tòa giảng lớn; sư rất nhạt nhẽo với danh lợi, khắc khổ kiệm phác, luôn chỉ bày cho người ta con đường tu trì chính thực. Năm bảy mươi tuổi, ở chùa Báo ân Ngô huyện đóng cửa, lúc đầu không tiếp ai, sau mới khai thị đại chúng. Đã từng thu góp và sửa chữa các sách Chí thư về bốn ngọn núi lừng danh Phổ đà, Thanh lương, Nga mi và Cửu hoa. Lại xây dựng chùa Linh nham sơn tại Ngô huyện, do Hòa thượng Chân đạt chủ sự, là Đạo tràng Tịnh độ đứng vào bậc nhất tại Trung quốc. Năm Dân quốc 29, sư thị tịch ở chùa Linh nham sơn, thọ bảy mươi chín tuổi. Sau khi trà tì (tức là thiêu), thu được hoa Xá lợi năm sắc và nhiều ngọc xá lợi. Sư trọn đời giữ gìn tiết tháo trong sạch, quả quyết, học và hành đều đủ, cảm hóa rất rộng, được coi là bậc tôn túc Tịnh độ bậc nhất từ năm Dân quốc đến nay. Các sách in có Ấn quang đại sư văn sao và Ấn quang đại sư toàn tập lưu hành ở đời.
ấn quang đại sư
Great Master Yin-Kuang—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Ngài Ấn Quang tên là Thánh Lượng, biệt hiệu Thường Tàm. Ấn Quang Đại Sư sanh vào cuối đời nhà Thanh, bước qua kỷ nguyên Dân Quốc. Ngài họ Triệu ở đất Hiệp Tây. Thuở bé Ngài theo Nho học, lớn lên lấy việc duy trì đạo Khổng làm trách nhiệm, vì thế ngài vô tình nghe theo tà thuyết của Âu Dương Tu và Hàn Dũ, bài bác Phật pháp. Sau đó ngài bị bệnh liên tiếp mấy năm. Tự xét biết lỗi lầm, ngài liền hối cải tâm niệm bài phá Phật pháp khi trước. Niên hiệu Quang Chữ thứ bảy đời nhà Thanh, căn lành kịp đến lúc ngài vừa hai mươi tuổi. Ngài xuất gia với Hòa Thượng Đạo Thuần tại chùa Liên Hoa Động trong núi Chung Nam. Ít lâu sau ngài thọ cụ túc giới tại chùa Song Khê trong huyện Hưng An với Ấn Luật Sư. Ngài đã từng bị bệnh đau mắt khi vừa mới chào đời, lớn lên tuy đã khỏi nhưng thị lực rất kém. Mỗi khi mắt vừa đỏ là chỉ còn thấy lờ mờ. Vì tính cẩn thận và chữ đẹp, nên sau khi thọ cụ túc giới ngài được cử làm thơ ký. Do viết chữ quá nhiều nên mắt của ngài luôn đỏ như huyết. Lúc trước, nhơn khi phơi kinh, ngài được xem bộ Long Thư Tịnh Độ của ngài Vương Nhật Hưu trứ tác, biết rõ công đức niệm Phật, nên kỳ thọ giới nầy, ban đêm sau khi đại chúng đã yên nghỉ, riêng ngài vẫn còn ngồi niệm Phật luôn. Ban ngày trong lúc viết chữ, ngài cũng không rời câu niệm Phật. Nhờ vậy đôi mắt tuy phát đỏ, nhưng vẫn có thể gắng gượng biên chép được. Khi giới đàn vừa mãn thì bệnh mắt của ngài cũng vừa khỏi. Do đây nên ngài biết công đức niệm Phật không thể nghĩ bàn. Cũng nhờ vào nhân duyên chánh yếu nầy mới khiến ngài quy hướng Tịnh Độ và khuyên người niệm Phật. Vì cảm mến đức hạnh của ngài nên Hòa Thượng Hóa Văn thỉnh ngài về ở Tàng Kinh Các của chùa Pháp Võ để tỉnh tâm tu niệm. Tính đến cuối đời nhà Thanh, trong hơn ba mươi năm xuất gia, trước sau ngài đều mai danh ẩn tích, không thích cùng người ngoài tới lui giao tiếp, để yên tu cầu chứng Niệm Phật Tam Muội. Mãi đến năm ngài được 59 tuổi, ngài mới bắt đầu thâu nhận đệ tử. Số đệ tử tại gia của ngài lên đến hơn 300 ngàn, bao gồm từ hàng quyền quý giàu sang, danh nhơn, học sĩ cho đến thường dân. Ngài dạy: “Pháp môn Tịnh Độ là do Phật Thích Ca và A Di Đà kiến lập. Các vị Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền hướng dẫn và duy trì. Đức Mã Minh và Long Thọ hoằng dương. Các Tổ Huệ Viễn, Thiên Thai, Thanh Lương, Vĩnh Minh, Liên Trì, Ngẫu Ích xướng đạo cùng tiếp phần giáo hóa. Vì thế nên nay khuyên khắp các hàng Thánh, Trí, Phàm, Ngu đồng nên tu hành vậy. Người đã tu “tịnh nghiệp” thì phải: 'Giữ luân thường, làm hết bổn phận. Dứt tà niệm, gìn lòng thành kính. Trừ bỏ các điều ác, vâng làm các việc lành. Đừng giết hại, gắng ăn chay. Thương tiếc và hộ trì mạng sống loài vật. Tín, nguyện niệm Phật cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc.'” Năm ngài được 77 tuổi, nhằm ngày 24 tháng 10, ngài dự biết trước kỳ vãng sanh, nên cho triệu tập các chư Tăng và cư sĩ về chùa Linh Nham, dặn dò tứ chúng rằng: “Pháp môn niệm Phật không có chi là đặc biệt kỳ lạ cả. Chỉ cần khẩn thiết chí thành thì không ai là chẳng được Phật tiếp dẫn. Qua ngày mồng 4 tháng 11, ngài bị cảm nhẹ, song vẫn tinh tấn niệm Phật. Niệm xong, bảo đem nước đến rữa tay rồi ngài đứng lên nói: “Phật A Di Đà đã đến tiếp dẫn. Tôi sắp đi đây. Đại chúng phải nên tín nguyện niệm Phật, cầu vãng sanh về chốn Tây Phương.” Nói đoạn ngài ngồi kiết già, chắp tay trì danh theo tiếng trợ niệm của đại chúng rồi an lành viên tịch. Ngài được 60 Tăng lạp, tuổi thọ 80—According to Most Venerable Thích Thìn Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Yin-Kuang's given name was Thánh Lượng, and his self-given name was Thường Tàm. He was born during the end of the Ch'ing Dynasty and the beginning of the Republic of China. He was a descendent of the Triệu Family at Hiệp Tây region. As a child, he studied Confucianism and as he got older he took on the responsibility of maintaining Confucius Teachings as his purpose in life; therefore, he inadvertently followed the false teachings of O-Yang-Tzu and Han-Du to degrade and criticize the Buddha-Dharma. Thereafter he was sick continuously for several years. Upon self-reflection he realized he was gravely mistaken and immediately abandoned his old ways of degrading and criticizing the Buddha's Teachings. In the seventh year of Kuang-Ch'u reign period of the Ch'ing Dynasty, he turned twenty and his cultivated karma had ripened; thus, he became ordained under Most Venerable T'ao-Shuan at the Lotus Flower Cavern Temple in the Chung-Nam Mountain. Soon after, he took the Bhiksu Precepts with Precept-Master Yin at the Song-Khe Temple of the Hung-An district. Six months after birth, he already had problems with his sight. Though he recovered from this illness, his eye sight was so weak. Every time his eyes turned a little red, he had a difficult time seeing. His nature was prudent and his hand writing was very beautiful; thus, during taking the Bhiksu Precepts, he was assigned as a secretary of the temple. During the day time, because he spent so much time writing, his eyes worsened and turned completely red. During that time, while drying the sutras, he had opportunity to read a Buddhist text called “Pureland Dragon Poetry” written by a Wang-Ru-Huu. Knowing clearly the virtues and merits of practicing Buddha Recitation, during the period he tok the precepts, he would often stay up to continue practicing Buddha Recitation in the temple long after everyone had gone to sleep. Even during the day while writing, his mind never ceased to recite the Buddha's name. Consequently, though his eyes were blazingly red, he was still able to continue to write. At the conclusion of the Bhiksu precept-maintaining period, his eyes had healed completely. Relying on this evidence, he knew the virtues and merits obtained from Buddha Recitation were unimaginable. This also established a foundation as well as being one of the main reasons he decided eventually to focus on propagating Pureland Buddhism, to teach and encourage everyone to practice Buddha Recitation. Admired for his conducts and virtues, Most Venerable Hua-Wen invited him to come and live in the library at Fa-Wu Temple so he could cultivate more peacefully. Counting to the end of the Ch'ing Dynasty, for a period of thirty years, he remained unknown and hidden because he preferred not to associate himself with the outside world so he could cultivate peacefully praying to attain the Buddha Recitation Samadhi. He did not accept any disciples until he was 59 years of age. He had a total of more than three hundred thousand lay disciples, from nobility to rich and famous, scholars to common peole. He taught that, “Sakyamuni Buddha and Amitabha established the Dharma Door of Pureland Buddhism; directed and maintained by Manjusri and Samantabhadra Maha-Bodhisattvas; propagated by Great Masters Asvaghosha and Nagarjuna; practiced and further spread widely by Patriarchs Hui-Yuan, T'ien-T'ai, Ch'ing-Lieng, Yung-Ming, Lien-Ch'ih, Ou-I, etc. Therefore, today I encourage everyone from Enlightened to the Unenlightened, the wise to the ignorant, for all also cultivate this Dharma tradition. People who cultivate Pure-Karma must 'Maintain their humanity, fulfill all of one's responsibilities. Eliminate all unwholesome thoughts, maintain true faith. Abandon all wicked practices, practice all wholesome conducts. Do not murder and destroy others. Try to become vegetarians. Have compassion and protect the life of living creatures. Have faith, Vow and Practice Buddha Recitation praying to gain rebirth to the Ultimate Bliss Western Pureland.'” When he was 77 years old, he returned to Linh Nham Temple. On October 24, he knew ahead of time his gaining rebirth was near; therefore, he summoned ordained and lay Buddhists to Linh Nham Temple. During the meeting, he instructed the following: “There is nothing speacial or unusual about the Buddha Recitation Dharma Door. If genuine and sincere, no one will be excluded from the Buddha's rescue and deliverance.” Then on November 4, he came down with a minor illness, but he still diligently practiced Buddha Recitation. After reciting he asked for water to wash his hands and then stood up and said, “Amitabha Buddha has come to deliver me. I will go soon. You all must have faith, vow and practice Buddha Recitation to pray for rebirth in the Western Pureland.” After speaking, he returned to his seat to sit in the lotus position, put his palms together following the supporting recitations of the great assembly and then he peacefully passed away. He was eighty years old with a Dharma age of 60.
ấn quán
Printing house.
ấn thiền
Dhyāni-mūdra (S), Dhyana seal.
ấn thuận
2233(1906~ )浙江海寧人,俗姓張。幼讀詩書,兼研中醫。又好研學道家及西方宗教之學。二十歲時,偶讀莊子,見馮夢禎序文:「然則莊文郭注,其佛法之先驅耶?」遂萌生探索佛法之興趣。二十三歲,其母猝然病逝,內心受極大震撼。未久,叔祖父、父親亦相繼病逝,乃感人生無常,而有出家之志。二十五歲,出家於普陀山福泉庵清念和尚座下,法名印順,號盛正。禮昱山長老為義師,受具足戒於天童寺。曾於閩南佛學院、武昌佛學院就學,參訪虛雲和尚、慈舟律師,並親近太虛大師等人。經常往來於普陀、廈門、武昌之間,授課講經。民國二十五年(1936),在普陀佛頂山閱藏。後赴杭州西湖、揚州等地遊歷,巧逢太虛大師,遂奉其命前往武昌佛學院,繼赴漢藏教理院,入四川,時年三十三歲。自此常與法尊法師討論法義。 四十二歲,主編「太虛大師全書」於雪竇寺。四十四歲離廈赴香港,膺任香港佛教聯合會會長暨世界佛教友誼會港澳分會會長,在港印行「佛法概論」。四十七歲,以李子寬居士之請,及應中國佛教會之決議,代表出席在日本召開之世界佛教友誼會第二屆代表大會,遂至臺灣。其後曾任臺北善導寺導師、海潮音雜誌社社長。四十八歲,將擬建於香港之福嚴精舍,移建於臺灣新竹青草湖畔,並定居臺灣。 四十九歲,應性願法師之邀,赴菲律賓弘法。五十一歲任善導寺住持,惟於次年即離該寺。其後,曾多次出國弘法。後於新竹設立女眾佛學院,並在臺北創建慧日講堂。民國五十三年冬,在嘉義建妙雲蘭若,同年五月,在該地掩關靜修。一年後,應中國文化學院(文化大學之前身)之聘,任該校哲學系教授。六十八歲時,日本大正大學以其中國禪宗史一書,而授予文學博士學位。佛教界中從其修學者,有常覺、演培、續明、仁俊等法師。師治佛學,不受傳統佛教宗派觀念之影響,而能客觀地對全體佛教作一全面性之釐清、闡釋和批判。並直接從原始佛教經論之阿含、毘曇,及印度之空、有、真常三系諸經論,直探佛陀及後代大師之精義。尤其對龍樹中觀之學,曾作深入之探討,可謂自宋迄今對中觀之研究最有貢獻者。此外,對原始佛教、部派佛教、中國禪宗史等亦有精深之研究。另對於印度大乘佛教,師分判其為性空唯名、虛妄唯識、真常唯心三大系,此與舊說大異其趣。 師著作宏富,有中觀今論、唯識學探源、性空學探源、原始佛教聖典之集成、說一切有部為主的論書與論師之研究、中國禪宗史、初期大乘佛教之起源與開展、如來藏之研究、雜阿含經論會編等書。其大部分著述及弘法記錄,輯為妙雲集(二十四冊)行世。
; (印順) (1906 - ?) Người huyện Hải ninh tỉnh Triết giang, họ Trương. Lúc bé học Thi, Thư, kiêm nghiên cứu Trung y. Lại thích học Đạo gia và tìm hiểu các tôn giáo phương Tây. Năm hai mươi tuổi, tình cờ đọc Trang tử, thấy trong bài tựa của Phùng mộng trinh có câu: Song mà, nhìn kĩ, văn của Trang tử có phải là mở đường cho Phật pháp chăng? bèn nảy sinh cái hứng thú tìm hiểu Phật pháp. Năm hai mươi ba tuổi, thân mẫu chợt nhuốm bệnh rồi mất, lòng rất chấn động. Chưa bao lâu, ông chú mất, rồi tiếp đến thân phụ cũng bệnh mà mất theo, bèn cảm sự vô thường của kiếp người và nảy cái chí xuất gia. Năm hai mươi lăm tuổi, xuất gia theo Hòa thượng Thanh niệm ở am Phúc tuyền, núi Phổ đà, pháp danh là Ấn thuận, hiệu là Thịnh chính. Lễ trưởng lão Dực sơn làm nghĩa sư, thụ giới Cụ túc tại chùa Thiên đồng. Đã từng theo học tại Phật học viện Nam mân, Phật học viện Vũ xương, tham vấn Hòa thượng Hư vân, luật sư Từ hàng và gần gũi Đại sư Thái hư. Thường qua lại các nơi Phổ đà, Hạ môn và Vũ xương giảng kinh. Năm Dân quốc 25 (1936), ở tại núi Phổ đà Phật đỉnh đọc Đại tạng. Sau du lịch các nơi Tây hồ ở Hàng châu, Dương châu, gặp đại sư Thái hư và, vâng mệnh của Đại sư, trước đến Phật học viện Vũ xương, kế đến viện Hán Tạng giáo lí, rồi vào Tứ xuyên làm các Phật sự, lúc đó ba mươi ba tuổi. Từ đấy, thường bàn luận về pháp nghĩa với pháp sư Pháp tôn. Năm bốn mươi hai tuổi, chủ biên Thái hư đại sư toàn thư ở chùa Tuyết đậu. Năm bốn mươi tư tuổi, rời Hạ đến Hương cảng, nhận chức Hội trưởng Hội liên hiệp Phật giáo Hương cảng, và Hội trưởng phân hội Cảng - Áo của hội Phật giáo thế giới hữu nghị, tại Hương cảng cho ấn hành Phật pháp khái luận. Năm bốn mươi bảy tuổi, nhận lời mời của cư sĩ Lí tử khoan và quyết nghị của hội Phật giáo Trung quốc cử làm đại biểu đi dự Đại hội đại biểu của hội Phật giáo thế giới hữu nghị lần thứ hai họp tại Nhật bản, sư bèn đến Đài loan. Về sau, nhận chức Đạo sư của chùa Thiện đạo ở Đài bắc và Trưởng ban biên tập Tạp chí Hải triều âm. Năm bốn mươi tám tuổi, dựng tinh xá Phúc nghiêm theo kiểu tinh xá ở Hương cảng trên bờ hồ Tân trúc thanh thảo và định cư tại Đài loan. Năm bốn mươi chín tuổi, theo đề nghị của pháp sư Tính nguyện, sang Phi luật tân hoằng pháp. Năm năm mươi mốt tuổi, nhận chức trú trì chùa Thiện đạo, và chỉ năm sau đã rời chùa đi. Về sau, đã nhiều lần ra nước ngoài hoằng pháp. Lại kiến thiết Phật học viện dành cho nữ chúng tại Tân trúc, và sáng lập giảng đường Tuệ nhật ở Đài bắc. Mùa đông năm Dân quốc 53, dựng Diệu vân lan nhã tại Gia nghĩa, đến tháng 5 năm ấy thì đóng cửa tĩnh tu tại đây. Một năm sau, đáp lời mời của Học viện văn hóa Trung quốc (tiền thân của Đại học văn hóa), nhận chức giáo thụ khoa Triết học. Năm sáu mươi tám tuổi, do tác phẩm Trung quốc Thiền tông sử của sư mà sư được viện Đại học Đại chính của Nhật bản trao tặng văn bằng Tiến sĩ văn học. Trong giới Phật giáo theo sư tu học, có các pháp sư Thường giác, Diễn bồi, Tục minh, Nhân tuấn v.v... Đối với việc học Phật, sư không chịu ảnh hưởng của quan niệm tông phái Phật giáo truyền thống nào, mà đứng về phương diện toàn thể Phật giáo để học hỏi, nghiên cứu, rồi giải thích và phê phán một cách khách quan. Đồng thời, trực tiếp từ các kinh luận của Phật giáo Nguyên thủy, như A hàm, Tì đàm, và các kinh luận thuộc ba hệ Không, Hữu, Chân thường của Ấn độ mà tìm ra tinh nghĩa của lời Phật dạy và của các đại sư đời sau. Đặc biệt đối với cái học Trung quán của ngài Long thụ, sư đã tìm tòi một cách thấu đáo sâu xa, có thể nói, từ đời Tống đến nay, đối với sự nghiên cứu Trung quán, sư đã có cống hiến rất lớn. Ngoài ra, về Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Bộ phái, lịch sử Thiền tông Trung quốc, sư cũng nghiên cứu một cách tinh thâm. Riêng đối Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ, sư chia thành ba hệ lớn là: Tính không duy danh, Hư vọng duy thức, Chân thường duy tâm, có cái lí thú lớn và khác với các thuyết cũ. Sự trước tác của sư rất phong phú, có các tác phẩm như: Trung quán kim luận, Duy thức học thám nguyên, Tính không học thám nguyên, Nguyên thủy Phật giáo thánh điển chi tập thành, Thuyết nhất thiết hữu bộ vi chủ đích luận thư dữ luận sư chi nghiên cứu, Trung quốc Thiền tông sử, Sơ kì Đại thừa Phật giáo chi khởi nguyên dữ khai triển, Như lai tạng chi nghiên cứu, Tạp a hàm kinh luận hội biên v.v... Đại bộ phận trước thuật và các ghi chép những buổi thuyết pháp của sư được gom vào thành Diệu vân tập (24 tập) lưu hành ở đời.
ấn thuận định
2234唯識家於四善根位之忍位中,發下品之如實智,觀所取之境為空無,而決定印持之;由此印持而觀能取之識,亦如境般之為空,而順樂忍可之,如此印前順後之定,稱為印順定。其修行之次第如下:即先於下忍發如實智,觀所取之境為空無而印持之;次於中忍觀能取之識為空無而忍可之;後於上忍,則對能取之空無加以印持之。〔成唯識論卷九〕(參閱「加行位」1570、「四如實智」1686、「四善根位」1767)
; (印順定) Ở vị Nhẫn trong bốn vị Thiện căn, nhà Duy thức phát trí như thực phẩm dưới, quán cảnh sở thủ là không vô, rồi nắm giữ lại; từ sự nắm giữ ấy mà quán cái thức năng thủ, cũng hệt như cảnh là không vô, mà thuận vui nhận chịu, cái định nắm giữ trước, thuận vui sau như thế, gọi là Ấn thuận định. Thứ tự tu hành định ấy như sau: trước hết, phát trí như thực ở hạ nhẫn, quán cảnh sở thủ là không vô mà nắm giữ lấy; thứ đến, ở trung nhẫn, quán thức năng thủ là không vô mà nhận chịu; cuối cùng, ở thượng nhẫn thì nắm giữ cái không vô của năng thủ. [X. luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Gia Hành Vị, Tứ Như Thực Trí, Thiện Căn Vị).
ấn thành
The territory of India.
ấn thổ
India.
ấn tiền khôi khuếch
2209印,指印字、印刷;印前,超越語言文字所能表詮之境界;恢廓,廣大貌。即本來之自性。從容錄第四十四則(大四八‧二五五下):「機底聯綿兮,自有金針玉線(難謾具眼);印前恢廓兮,元無鳥篆蟲文(字義炳然)。」
; (印前恢廓) Ấn, chỉ chữ in, việc in; Ấn tiền, là cảnh giới vượt ra ngoài sự diễn tả giảng giải của lời nói chữ nghĩa; Khôi khuếch, dáng rộng lớn. Tức là tự tính xưa nay vốn có. Thung dung lục Tắc 44 (Đại 48, 255 hạ), nói: Dưới khung cửi lằng nhằng, tự có kim vàng chỉ ngọc (khó lừa con mắt hoàn toàn); ấn tiền khôi khuếch, nguyên không có chữ chim văn trùng (Tự nghĩa bính nhiên, chữ nghĩa sáng ngời).
Ấn tâm
(印心): Thiền Tông chủ trương ấn chứng nơi tâm mà đốn ngộ. Như trong bài tựa của Lăng Già A Bạt Đa La Bảo Kinh (楞伽阿跋多羅寶經, Taishō Vol. 16, No. 670) có đoạn: “Ngô quán Chấn Đán sở hữu kinh giáo, duy Lăng Già tứ quyển khả dĩ ấn tâm (吾觀震旦所有經敎、惟楞伽四卷可以印心, ta xét các kinh giáo vốn có của trung quốc, chỉ có bốn quyển Lăng Già mới có thể dùng để ấn tâm).” Hay trong Tông Kính Lục (宗鏡錄, Taishō Vol. 48, No. 2016) quyển 98 lại có đoạn rằng: “Tùng thượng dĩ lai, Tổ Phật tương truyền nhất tâm chi pháp, dĩ tâm ấn tâm, bất truyền dư pháp (從上已來、祖佛相傳一心之法、以心印心、不傳餘法, từ xưa đến nay, Tổ Phật cùng truyền một pháp nhất tâm, lấy tâm ấn chứng tâm, không truyền pháp nào khác).”
ấn tích
Imprint of a seal.
ấn tín
2209<一>在禪林中,指師家授法於弟子之信物。 <二>乃密教於阿闍黎付囑弟子時之法門授受印可書。印,印可之意;信,符契之意。廣義言之,印信乃指阿闍黎付囑之法具;而一般則指記載所授法之印明(印契與真言)之文書。印信之種類甚多,較普遍者共有三紙,分別記載所授法之印明、血脈與紹文。印明,即祕印與真言;血脈,即法門一脈相承之系統;紹文,則指敘述相承之緣由,以表明此法付囑旨趣之文。〔文殊師利寶藏陀羅尼經〕
; Official seal.
; (印信) I. Ấn tín. Trong Thiền lâm, chỉ vật làm tin thầy dùng để trao pháp cho học trò. II. Ấn tín. Trong Mật giáo, chỉ sách Ấn khả khi thầy A xà lê dặn dò trao pháp môn cho học trò. Ấn, hàm ý thừa nhận là được; Tín, hàm ý phù hợp. Nói theo nghĩa rộng, ấn tín là Pháp cụ mà A xà lê trao phó dặn dò, thông thường chỉ văn thư ghi chép ấn minh (ấn khế và chân ngôn) để trao phó pháp. Có nhiều loại ấn tín, nhưng tương đối phổ biến thì có ba: Ấn minh ghi chép pháp được trao phó, Huyết mạch và Thiệu văn. Ấn minh, tức bí ấn và chân ngôn; Huyết mạch, tức hệ thống pháp môn một mạch được truyền thừa; Thiệu văn, chỉ sự tường thuật cái duyên do được truyền thừa, là văn bản nói rõ cái ý thú của pháp được trao phó. [X. Kinh Văn thù sư lợi bảo tạng đà la ni].
ấn tông
2208(627~713)唐代僧。吳郡(江蘇吳縣)人。唐咸亨元年(670)抵京師,敕居大敬愛寺,懇辭不受,往蘄春參謁弘忍大師。後於廣州法性寺宣講涅槃經,遇六祖慧能大師,始悟玄理,而以慧能為傳法師。其採集自梁至唐之諸方賢達者之言,著成心要集行世。先天二年二月示寂於會稽山妙喜寺,世壽八十七。〔景德傳燈錄卷五〕(參閱「法性寺」3359)
; Yin-Tsung (C), Inshu (J)Tên một tông phái.
; Inshū (J).
; (印宗) (627 - 713) Vị tăng đời Đường. Người Ngô quận (Ngô huyện tỉnh Giang tô). Niên hiệu Hàm hanh năm đầu (670), đến Kinh sư, vua mời ở chùa Đại kính ái, sư từ tạ không nhận, đến Kì xuân tham yết đại sư Hoằng nhẫn. Sau ở chùa Pháp tính Quảng châu, tuyên giảng kinh Niếtbàn, gặp Lục tổ đại sư Tuệ năng mới ngộ được lí huyền, và thờ Tuệ năng làm thầy truyền pháp. Sư sưu tập những lời nói của các bậc hiền đạt bốn phương từ đời Lương đến đời Đường mà viết thành Tâm yếu tập lưu hành ở đời. Năm Tiên thiên thứ 2, tháng 2, sư thị tịch tại chùa Diệu hỉ, núi Cối kê, thọ tám mươi bảy tuổi. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.5]. (xt. Pháp Tính Tự).
ấn tướng
2230梵語 mudrā,巴利語 muddā。音譯作母捺羅、慕捺羅、母陀羅、牟陀羅、目陀羅。又作手印、契印、印契、密印、印。即密教用來標示曼荼羅海會中佛、菩薩、天部等諸尊各自之內證三昧及本誓之外相。亦指修行者為相應於諸尊之本誓,以成就三密涉入之境地所結之手印。此外,諸尊所執之器物,亦稱印相。印,信之義;即印可決定、決定不改、標幟之義。顯教多用為印章、捺印、印可之義,密教則多指標幟之義,象徵諸尊內證本誓之功德。又密教所說之印,以廣義而言,大曼荼羅、三昧耶曼荼羅、法曼荼羅、羯磨曼荼羅等四曼荼羅皆稱為印;此蓋因四曼荼羅皆為法界標幟之故。狹義言之,則僅指四曼荼羅中之三昧耶曼荼羅,三密中之身密、諸尊之三昧耶身。而於一般密教典籍中,印契或印相一詞多指狹義用法。凡夫眾生之煩惱未斷,若身持本尊之密印,口、意二密亦與本尊相應,則由三密相應加持之力,而與本尊相互涉入,得成就悉地。故印之意義,於密教而言,即指身、口、意三密中之身密。 在密教之前,印度所行之印契較常用者有:「施無畏印」,乃右手開啟,掌心朝外,舉於肩側之相;「轉法輪印」,乃置兩手於胸側,右掌與左掌相反,左右諸指輕觸之相;「觸地印」,坐相,乃右手向地垂之相,又稱降魔印、破魔印,為佛陀成道時之相;「禪定印」,乃兩手悉展五指,左掌疊於右掌下,呈冥想思惟之相,又作法界定相;「施願印」,乃右手伸展,掌心向外之相,又作與願印、施與印。 密教之印契極多,通常以六種拳與十二合掌為基本印(印母)。又一般修法中,多以十八契印為觀法時之基本印相。關於印相之種類,據大日經卷六本尊三昧品、大日經疏卷二十所舉,印相可分為有相(有形)、無相(無形)二種:(一)有相,即簡別諸相而住於一相;又可分為二種:(1)手印,即諸尊所持之印,如金剛界大日如來之智拳印、胎藏界大日如來之法界定印等。(2)契印,即諸尊所執之器物,亦即標示諸尊本誓之器杖、刀、蓮花等三昧耶形,如觀音之蓮花、文殊之利劍等。(二)無相,即不偏於一相而具足一切相,亦即舉手投足皆為密印之境界。此無相之印相,契達印相之實義,為深祕中深祕之印。關於手印與契印之區別,就淺略而言,結於手上之印,稱為手印;描畫之印相,稱為契印;就深祕而言,手印指諸尊及修行者所結之印相;契印指諸尊之三昧耶形以四種曼荼羅中之三昧耶曼荼羅為印。 又密教中對結印之兩手及十指有特殊之稱呼,一般稱兩手為二羽、日月掌、二掌;稱十指為十度(十波羅蜜)、十輪、十蓮、十法界、十真如、十峰。並將兩手配於金剛界與胎藏界,或配於定與慧、理與智等;將五指配於五蘊、五佛頂、五根、五字、五大等;十指配於十度。列表如右。 此表中之五指配於五大,係根據大日經卷四密印品之說而來。又十指配於十度之順序有二說,一說出自金剛智、善無畏所譯之經論,如上表之十度(一);一說出自不空所譯之經論,如上表之十度(二)。 印相能標示諸尊之內證、本誓,故由一指之屈伸結印,即能令法界震動,凡聖同會。十指代表十法界,為曼荼羅之總體,故將十指屈伸離合可結成任何之印。凡夫眾生雖未斷除煩惱,但所結印相之力用與聖力相等,能驅使諸賢聖及諸天鬼神。又由密印之功力,能使護法之明王善神至修行者之身旁加以護持,並成就所願。由於印相之功用甚大,故於結印時應恭敬慎重,修行者在結印前須先稟承師傳,否則不但所結之印失去功用,又會受「越三昧耶」之重罪。此外,結印修行時,為防止鬼神惡魔之擾亂,故應避免在顯露之處結印,而以袈裟、淨巾、衣端、法衣之袖等遮覆。又印相原為威儀行事上的身體動作,例如說法印,即以手的擺動來結印幫助說明;定印,係將兩手置於趺座之上,以便利心之安定。 印相最早時並無固定軌則,密教興起後,採取印度教之行事而有印相之說,並進一步闡釋印相之意義及利益。印相由於各種儀軌成立時間上之先後差異,及印度、尼泊爾、我國等各地傳承之不同,而產生諸多差異。又密教金剛界、胎藏界兩部曼荼羅諸尊之根本印不一,及依修法儀式而結之印相亦各異,致使印相之種類繁複難計。現今一般所用的佛菩薩之印相較重要者有;金剛界大日如來之智拳印、胎藏界大日如來之法界定印、阿彌陀佛之力端定印(又作彌陀定印)、來迎佛之安慰印、施無畏印、與願印、吉祥印、合掌印等。此外,以同一尊佛菩薩而言,顯教之印相與密教之印相亦時有不同。〔陀羅尼集經卷一、略出念誦經卷一、蘇悉地羯囉經、阿閦如來念誦供養法、毘沙門天王軌、蓮華部心軌、大日經疏卷十三、卷十四〕(參閱「手印」1412)
; (印相) Phạm: Mudrà, Pāli: Muddà. Dịch âm là Mẫunạila, Mẫuđàla, Mâuđàla, Mục đà la. Còn gọi là Thủ ấn, Khế ấn, Ấn khế, Mật ấn, Ấn. Tức Mật giáo dùng để nêu tỏ Tam muội nội chứng và bản thệ ngoại tướng của các Tôn Phật, Bồtát và Thiên bộ trong hải hội Mạn đồ la. Cũng chỉ thủ ấn mà những người tu hành kết, mong tương ứng với bản thệ của chư tôn để thành tựu cảnh giới của Tam mât . Ngoài ra, các vật mà chư tôn cầm trong tay cũng gọi là Ấn tướng. Ấn, hàm nghĩa là tin; tức quyết định cho là được, quyết định không thay đổi, là nghĩa tiêu biểu. Hiển giáo phần nhiều dùng với nghĩa ấn chương, nại ấn, ấn khả, Mật giáo thì phần nhiều dùng với nghĩa tiêu biểu, tượng trưng công đức nội chứng bản thệ của chư tôn. Lại ấn trong Mật giáo, nói theo nghĩa rộng, thì bốn Mạn đồ la là: Đại mạn đồ la, Tam muội da mạn đồ la, Pháp mạn đồ la, Yết ma mạn đồ la, đều gọi là ấn cả; đó là vì bốn mạn đồ la đều là tiêu biểu của pháp giới. Nói theo nghĩa hẹp, thì trong bốn Mạn đồ la, chỉ cho Tam muội da mạn đồ la, chỉ cho Thân mật trong ba mật, tức thân Tam muội da của chư tôn. Và trong các kinh điển Mật giáo thông thường, từ ngữ Ấn khế hoặc Ấn tướng phần nhiều chỉ cách dùng theo nghĩa hẹp. Chúng sinh phàm phu chưa dứt phiền não, nếu thân trì mật ấn của bản tôn, hai mật miệng và ý cũng tương ứng với bản tôn, thì nhờ sức gia trì của ba mật tương ứng mà cùng hòa nhập với bản tôn, được thành tựu Tất địa. Cho nên, ý nghĩa ấn, nói theo Mật giáo, là chỉ cho thân mật trong ba mật thân, khẩu, ý. Trước thời Mật giáo, các khế ấn thường được dùng tại Ấn độ, thì có Thí vô úy ấn, hình tướng tay phải mở ra, lòng bàn tay hướng ra ngoài, dơ lên bên cạnh vai; Chuyển pháp luân ấn, đặt hai tay ở cạnh ngực, lòng bàn tay phải, lòng bàn tay trái ngược nhau, các ngón tay trái hơi chạm vào nhau; Xúc địa ấn, tướng ngồi, tay phải rủ xuống đất, còn gọi là Hàng ma ấn, Phá ma ấn, là tướng ấn lúc đức Phật thành đạo; Thiền định ấn, cả hai tay duỗi thẳng năm ngón, bàn taytrái đặt ở dưới bàn tay phải, biểu lộ tướng tư duy thầm tưởng, còn gọi là Pháp giới định tướng; Thí nguyện ấn, tay phải duỗi thẳng, lòng bàn tay hướng ra ngoài, còn gọi là Dữ nguyên ấn, Thí dữ ấn. Khế ấn của Mật giáo rất nhiều, thông thường lấy sáu kiểu nắm tay và mười hai kiểu chắp tay làm ấn cơ bản (ấn mẫu). Lại trong các pháp tu phổ thông, phần nhiều lấy mười tám khế ấn làm ấn tướng cơ bản 1. Ấn Hàng Ma 2. Ấn Thí Vô Úy 3. Ấn Thiền Định 4. Ấn Dữ Nguyện khi tu phép quán. Về các loại ấn tướng, cứ theo kinh Đại nhật quyển 6 phẩm Bản tôn tam muội, Đại nhật kinh sớ quyển 20 chép, thì ấn tướng có thể chia làm hai loại là Hữu tướng (có hình) và Vô tướng (vô hình): 1. Hữu tướng, tức lựa chọn trong các tướng mà trụ ở một tướng; lại có thể chia làm hai thứ: a. Thủ ấn , tức là ấn của chư tôn kết trì, như là Trí quyền ấn của Đại nhật Như lai ở Kim cương giới, Pháp giới định ấn của Đại nhật Nhưlai ở Thai tạng giới. b. Khế ấn....., tức là các khí vật chư tôn cầm trên tay, cũng tức là các hình Tam muội dao gậy, dao, hoa sen tiêu biểu bản thệ của chư tôn, như hoa sen của Quan âm, kiếm sắc của Văn thù. 2. Vô tướng, tức không thiên ở một tướng mà đầy đủ tất cả tướng, cũng tức giơ tay, đưa chân đều là cảnh giới của mật ấn. Ấn tướng vô tướng này phù hợp với thực nghĩa của ấn tướng, là ấn sâu kín trong sâu kín. Về sự phân biệt giữa Thủ ấn và Khế ấn, nói một cách thiển lược là, ấn kết trên tay gọi là Thủ ấn; ấn tướng vẽ theo các kiểu gọi là Khế ấn; nói một cách sâu xa thì Thủ ấn chỉ ấn tướng do chư tôn hoặc người tu hành kết trên tay; còn Khế ấn là chỉ hình tam muộida của chư tôn lấy tammuộida mạn đồ la trong bốn Mạn đồ la làm ấn. Lại trong Mật giáo, đối với hai tay kết ấn và mười ngón tay, có cách gọi đặc biệt, thông thường gọi hai tay là Nhị vũ (hai cánh), Nhật nguyệt chưởng (bàn tay mặt trời, mặt trăng), Nhị chưởng ......(hai bàn tay); gọi mười ngón tay là Thập độ .(mười ba la mật), Thập luân .(mười bánh xe), Thập liên ..... (mười cánh sen), Thập pháp giới, Thập chân như, Thập phong ......(mười ngọn núi). Đồng thời, phối hai tay với Kim cương giới và Thai tạng giới, hoặc phối với định và tuệ, lí và trí; phối năm ngón với năm uẩn, năm Phật đính, năm căn, năm chữ, năm đại v.v...; mười ngón phối với mười độ.Năm ngón phối với năm đại là căn cứ theo thuyết trong kinh Đại nhật quyển 4 phẩm Mật ấn. Còn thứ tự mười ngón phối với mười độ thì có hai thuyết, một thuyết có xuất xứ từ các kinh luận do các ngài Kim cương trí và Thiện vô úy dịch, còn thuyết kia thì có xuất xứ từ các kinh luận do ngài Bất không dịch. Ấn tướng có khả năng tiêu biểu sự nội chứng và bản thệ của chư tôn, vì thế, một ngón tay co duỗi kết ấn có khả năng làm chấn động pháp giới, phàm Thánh cùng hội họp. Mười ngón đại biểu mười pháp giới, là tổng thể của mạn đồ la, cho nên khi mười ngón tay co duỗi li hợp có thể kết thành bất cứ ấn nào. Phàm phu chúng sinh tuy chưa dứt trừ phiền não, nhưng cái lực dụng của sự kết ấn tướng cũng ngang với sức của bậc Thánh, có thể sai khiến các hiền thánh và chư thiên quỉ thần. Lại nhờ công lực của mật ấn, có thể sai sử Minh vương thiên thần hộ pháp đến bên cạnh người tu hành để hộ vệ, đồng thời, thành tựu những điều sở nguyện. Vì công dụng của ấn tướng quá lớn, nên khi kết ấn phải cung kính thận trọng, người tu hành, trước khi kết ấn, phải xin thầy trao truyền dạy bảo, nếu không thì chẳng những mất công dụng của ấn tướng mà còn phạm trọng tội vượt tam muội da. Ngoài ra, khi kết ấn tu hành, để đề phòng quỉ thần ác ma quấy rối, không nên kết ấn giữa nơi trống trải, mà phải lấy ca sa, khăn sạch, vạt áo hoặc tay áo che đi. Lại ấn tướng nguyên là động tác của thân thể trong uy nghi hành sự, chẳng hạn như ấn thuyết pháp thì giơ tay kết ấn để giúp cho sự thuyết minh, còn định ấn thì đặt hai tay trên hai chân kết già để giúp cho tâm an định. Lúc đầu, ấn tướng không có qui tắc cố định, sau khi Mật giáo hưng khởi, thu dụng cách hành sự của Ấn độ giáo, mới có thuyết ấn tướng, rồi tiến thêm bước nữa mà giải thích rõ ý nghĩa và lợi ích của ấn tướng. Do thời gian thành lập các loại phép tắc về ấn tướng có trước, sau khác nhau, và sự truyền thừa tại Ấn độ, Népal và Trung quốc có bất đồng, nên đã sản sinh nhiều thứ sai dị. Lại ấn căn bản của chư tôn trong mạn đồ la thuộc hai bộ Kim cương và Thai tạng trong Mật giáo cũng bất nhất, và ấn tướng kết theo nghi thức của các phép tu cũng sai khác, đến nỗi khiến cho các loại ấn tướng trở thành phồn tạp khó nhận. Hiện nay, các ấn tướng của Phật Bồtát được thông dụng và tương đối trọng yếu thì có: Trí quyền ấn của Đại nhật Như lai ở Kim cương giới, Pháp giới định ấn của Đại nhật Như lai ở Thai tạng giới, Lực đoan định ấn của PhậtAdiđà (còn gọi là Diđà định ấn), An úy ấn của Lai nghinh Phật, Thí vô úy ấn, Dữ nguyện ấn, Cát tường ấn và Hợp chưởng ấn v.v... Ngoài ra, cùng một tôn vị Phật Bồtát mà ấn tướng của Hiển giáo và ấn tướng của Mật giáo có khi cũng khác nhau. [X. kinh Đà la ni tập Q.1; kinh Lược xuất niệm tụng Q.1; kinh Tô tất địa yết la; A súc Như lai niệm tụng cúng dường pháp; Tì samôn thiên vương quĩ; Liên hoa bộ tâm quĩ; Đại nhật kinh sớ Q.13, Q.14]. (xt. Thủ Ấn).
Ấn tướng 印相
[ja] インゾウ insō ||| Skt. mūdra; Pali muddā, transcribed as 牟陀羅 and 母陀羅. A sign or gesture made with the hands of a buddha or bodhisattva, representing some message of the Buddhist teaching, as seen in Buddhist iconography. Such gestures correspond to natural gestures (of teaching, protecting, and so on) and also to certain aspects of the Buddhist teaching or particular buddha depicted. Mūdras became especially relevant in Mahāyāna esoteric schools 密教, where they were used to accompany the performance of liturgies and the recitation of mantras 呪. Although mūdras are made by joining the fingers together in a variety of ways, sometimes objects held in the hand such as a lotus flower, sword, and so forth, a regarded as being part of the mūdra. - s: mūdra; p: muddā - =>Phiên âm là Mâu-đà-la 牟陀羅 và Mẫu-đà-la母陀羅. Dấu hiệu hay cử chỉ bằng tay của Đức Phật hay Bồ-tát, biểu tượng thông điệp từ giáo lý đạo Phật, như thường thấy trong tranh tượng Phật giáo. Những cử chỉ như thế tương xứng với những biểu hiện tự nhiên (của giáo lý, sự hộ trì ...) và cũng tương xứng với những khía cạnh nào đó của giáo lý đạo Phật hay những danh hiệu đặc biệt của Đức Phật. Thủ ấn trở nên đặc biệt nổi bật trong Phật giáo Mật tông Đại thừa, trong đó thường dùng nghi thức lễ bái và trì tụng thần chú (s: mantras 呪). Mặc dù thủ ấn được thực hiện bằng cách kết hợp những ngón tay theo một phương pháp đa dạng, nhưng đôi khi bàn tay cũng cầm một vài pháp khí như hoa sen, kiếm,những vật như thế cũng được xem như một phần của thủ ấn. -
ấn tượng
Impression.
ấn tối thượng bồ đề
Uttarabodhi-mudrā (S).
ấn định
2209指印可決定。即師家洞觀學人心地,加以證明認可其悟境圓熟之義。
; To appoint—To settle.
; (印定) Hàm ý là ấn khả quyết định. Tức có nghĩa là thầy đã thấy suốt tâm địa của học trò, chứng minh và thừa nhận cái cảnh giới giác ngộ viên mãn mà trò đã đạt được.
ấn độ
2209梵名 Indu。位於喜馬拉雅山脈之南,為亞細亞大陸中央南方突出之一大半島。又作身毒、申毒、天竺、天篤、身篤、乾篤、賢豆、呬度、印第亞、印特伽羅、末睇提捨、婆羅門國、沐胥、阿離耶提捨、因陀羅婆陀那。 關於印度之名稱,有諸多異說。早於史記大宛列傳第六十三中,即見「身毒」之名。其後,後漢書西域傳第七十八等舉出「天竺」之名。魏晉以來之佛典中,即多用「天竺」之稱呼。至唐代以後,則以「印度」為主稱。此外,據大唐西域記卷二、大慈恩寺三藏法師傳卷二等載,「印度」之意譯為「月」。另有一說,認為印度一詞,係出自信度河(梵 Sindhu)之梵名,後因波斯人與希臘人之次第訛傳而成印度之稱。 印度之國土,可分成三個地形區,即北印度、德干高原與南印度。中古時期印度地方之劃分,則為東、西、南、北、中等五區,稱為五天竺、五印度。略稱五天、五竺、五印。境內有印度河(Indus)、恆河(Ganges)、布拉馬普特拉河(Brahmaputra)等三大河灌溉之,除西方之印度沙漠外,全境土壤堪稱肥沃。恒河流域為全印度最熱之地,熱季氣溫經常高達攝氏四十九度,布拉馬普特拉河流域則為世界雨量最多之處。 印度文明,約於西元前二千五百年時(或謂西元前三千年至前二千年),即於印度河流域滋生,稱為印度河文化,當時即已發展出水利灌溉、計劃縝密之街道、公共浴室、磚造樓房、排水系統等,極具現代觀念之都市設計要素。西元一九二一至一九二二年,考古學者在本區發掘出莫汗佐達羅(Mohenjo-daro)及哈拉巴(Harappā)兩座古都,即屬此一時期之文明遺蹟。西元前二千餘年,雅利安族越過興都庫什山脈(Hindu Kush),侵入印度河上游之五河(梵 Pañjāb)地方,其中之一部更自印度河流域蔓延至恒河流域,征服原住土著,漸次組織社會,形成其特有的種姓階級文化。有關此類印度太古王統之記事,佛典所記載者不少。另於印度兩大史詩摩訶婆羅多(梵 Mahābhārata)、羅摩耶那(梵 Rāmāyaṇa)等之記事中,亦舉出不少印度太古之國名。至佛陀時代,則有所謂十六大國同時並存,如長阿含卷五闍尼沙經、中阿含卷五十五持齋經、大毘婆沙論卷一二四等,皆詳舉其一一之國名。此外,關於印度之梵文經典及文學著作,據現存之文獻中可知,最古之梨俱吠陀,約於西元前一千二百年左右成立,係世界最古之頌歌集。其後,沙摩吠陀、夜柔吠陀、阿闍婆吠陀、梵書、森林書、奧義書等相續完成。 印度原住民族達羅毘荼人(Dravidians)為非洲黑人與蒙古人混血而成之種族,其後入侵之雅利安人與之混血,乃成今之印度族。雅利安人階級意識強烈,將社會分成四種階級,即:(一)婆羅門(梵 brāhmaṇa,祭司)。(二)剎帝利(梵 kṣatriya,王族)。(三)吠舍(梵 vaiśya,商人、農人)。(四)首陀羅(梵 śūdra,奴隸)。此種階級制度,稱為種姓制度、四姓。此外,尚有不屬於種姓制度之賤民。雅利安人之宗教,原本崇拜存於自然力中之靈魂,並想加以統御,後逐漸轉變崇拜多神,總稱為婆羅門教。 西元前五、六百年左右,婆羅門教日漸衰微,釋迦牟尼創立佛教以革新婆羅門教之腐敗,並為打破階級制度而組成教團,耆那教亦為此一革新而共同努力。同時,尚有闍伊那、瑜伽等諸派之興起,呈現蓬勃之現象。當時之中印度,西蘇納加王朝(梵 Śaiśunāga)勃興,至頻婆娑羅王之子阿闍世王時,君臨摩揭陀國,為恆河中游之一大霸權。佛教受到阿闍世王之保護,盛行於當時之印度。西蘇納加王朝之後,難陀王朝(梵 Nanda)代之而起。 西元前三二七年(一說三二六年),希臘馬其頓國王亞歷山大大帝入侵印度,占有印度河河畔之地。於此動亂之際,難陀族青年旃陀羅笈多王(梵 Candragupta)崛起,平定北印度,以摩揭陀國華氏城(梵 Pāṭaliputra)為都,建立孔雀王朝(梵 Maurya),開拓與希臘間之交通,融合印度、希臘二文明,乃有所謂「希臘印度式藝術」之誕生。至旃陀羅笈多之孫阿育王即位,篤信佛法,推行佛教政策,又派遣傳教師至各國弘法,形成佛教之隆盛時代。其後相次興起者,有貴霜王朝(梵 Kuṣāṃa)、熏迦王朝(梵 Śuṅga)、康瓦王朝(梵 Kaṇva)、薩哈王朝(梵 Sāh)。 西元三百年頃,笈多王朝(梵 Gupta)興起,於文學、藝術、建築、科學等各方面均有輝煌成果,為印度文化史上之黃金時代。另於軍事方面,曾討伐北印度之大月氏,又曾抵禦匈奴別支嚈噠人之入侵,導致國力大挫,伏下覆亡之機。然於六世紀時之超日王(梵 Vikramāditya)驅逐嚈噠,文化武功一時興隆,而為中興之王。笈多王朝末期,小邦林立,其中較強盛之一邦建立伐彈那王朝(梵 Vardhana),亦稱戒日王朝。六○六年,戒日王(梵 Śīlāditya)即位。王乃一代英主,力行佛教保護政策,玄奘西遊印度時,即值此王之治世。笈多王朝之後,又有卡魯迦(梵 Chālukya)、喀沙里(梵 Kesari)等諸王朝興起。 在南印度,西元前二二○年頃,有案達羅王朝(梵 Andhrabhṛtya)之崛起,至西元三百餘年,此王朝之勢始終強盛。於此時期,婆羅門教漸次復興,而與佛教形成對峙之勢,另一方面兩教之間又彼此攝取特質。對復甦之婆羅門教而言,此時已漸汰舊更新,種下新婆羅門教(即印度教)勃興之因;而於佛教之中,則有大乘思想之萌啟,產生許多深遠獨特之教義。其後,由於中印度孔雀王朝之滅亡,佛教之中心乃逐漸移至北印度。直至西元八百年頃,佛教與印度教可謂交替興隆,此起彼落,其後印度教勢力愈盛,漸有全面壓倒之勢,而佛教則漸於印度本土沒落式微。 於孔雀王朝衰退之同時,大月氏族之閻膏珍侵入北印度,建立犍陀羅國之貴霜王朝,其孫迦膩色迦王大擴疆域,國威盛極一時,並行佛教保護政策,與阿育王同為印度佛教史上兩大護法之帝王。曾於迦濕彌羅國,以世友尊者為上首,纂輯大毘婆沙論。另於東印度孟加拉,西元六六○年頃,瞿波羅(梵 Gopāla)建立波羅王朝(梵 Pāla),維持東印度四、五百年之安定局勢,歷代君王皆崇奉佛教(大乘密教),尤以第四世之達磨波羅(梵 Dharmapāla)致力護持佛教,並建立歐丹多富梨寺(梵 Uddaṇḍapura)、超戒寺(梵 Vikramaśīla)等大寺院,作為信仰與研究之中心,對密教之發展有極大影響。 西元一○○一年,回教王馬穆德(Mahmud)侵入印度,直至一五二六年,蒙兀兒帝國(Mogul)建立為止,形成印度史上為期五百餘年之回教時代,期間大肆破壞佛教與印度教之寺院、聖地,虐殺僧尼,導致印度佛教之全面滅亡。蒙兀兒帝國為鐵木兒六世孫拔巴(Babar, 1483~1530)所建,亦信仰回教。拔巴之孫阿克拜大帝(Akbare)為帝國最偉大之帝王,在位期間,領土大擴,並對異教採取寬容政策。然至十七世紀,帝國逐漸衰微。 另一方面,於地理大發現後,印度成為英、法、荷蘭、葡萄牙人海外殖民之角逐地。一六○○年,英國東印度公司成立,逐漸取得控制權。一七五七年,克萊武(Robert Clive)率軍大敗印度各反對諸侯之軍隊,東印度公司乃成為印度之絕對領導勢力。一八五八年,英國政府接管東印度公司而直接統治印度。於此之前,印度各地已開始醞釀獨立運動,歷經兩次世界大戰,始由甘地(Gandhi, 1869~1948)領導之「不合作運動」形成普遍而有力之風潮,而於一九四七年八月獲得獨立。於同年,已有數百年強烈衝突之印、回兩教問題,亦由英、印雙方同意,成立巴基斯坦回教國。然印度分成兩國後,印、回兩教間之流血事件更為頻仍。此外,巴基斯坦立國後又發生長期內戰,經常有成千上萬的東巴基斯坦難民湧入印度。至一九七一年十二月,經由印度援助下,擊潰西巴基斯坦軍,獨立為孟加拉國。另於一九七五年五月,位於印度東北之錫金則併入印度,成為印度共和國聯邦政府之最後一州(第二十二州)。 今日之印度,印度教徒最多,回教徒次之,其餘之佛教徒、基督教徒、耆那教徒、錫克教徒則為數甚少,其中佛教徒約有一千一百多萬人。近來賤民階級紛紛改信佛教,遂形成印度社會問題之一。印度教派每視佛教為其一支,而視佛陀為其諸聖之一。印度現今所遺留之古代繪畫、雕刻,以佛教之遺蹟為其寶庫。印度獨立後大都以佛教思想為其政治理想之藍本,且將其國旗之紡紗車改為佛教之法輪,並以佛教之五戒為其推進和平政策之五原則。因此,佛教在印度之重要性有待重新之評估。 印度現有人口約六億五千萬,佔世界總人口百分之十五,僅次於中國大陸。種族繁多,素有世界人種博物館之稱;語言紛歧,多達一百八十種(最常用者有十四種),成為印度發展之一大障礙。今日之印度,雖已擁有核子武力,然就全國而言,仍為貧窮落後之國度。礦產雖豐富,大多數卻未開採利用。全國人口暴漲,文盲偏高,貧富甚為懸殊。衛生情況極差,人民普遍營養不良,醫療設施不足,死亡率極高。雖經政府積極推動長期五年經濟計劃,然成長率緩慢,各種建設大多仰賴他國之補助或貸款,國民生活水準低落,迄一九八○年為止,其國民年平均所得僅約八十美元(以一九七七年而言,我國國民年平均所得為一一八二美元,美國為七六八四美元),其生活之貧困可以想知。此外,宗教、種姓、種族等舊有紛歧,仍是社會之嚴重問題。〔佛祖統紀卷三十二、唐書西域列傳第一四六上、古今圖書集成邊裔典第五十八、慧琳音義卷十、希麟音義卷二、卷三、卷八、V.A. Smith: Early History of India;S. Robert: Indian Chronography; J. Dowson:A Classical Dictionary of Hindu Mythology〕
; India Người Tàu còn dịch là Thiên trước, Thiên trúc, Tây trúc, Tây thiên, Tây vực.
; India.
; Hiền Đậu—India—Hindu.
; (印度) Phạm: Indu. Nằm về phía nam Hi mã lạp sơn, một đại bán đảo nhô ra về phía nam từ giữa đại lục Á tế á. Còn gọi là Thân độc, Thiên trúc, Thiên đốc, Thân đốc, Càn đốc, Hiền đậu, Hi độ, Ấn đệ á, Ấn đặc già la, Mật thê đề xá, Bà la môn quốc, Mộc tư, A li gia đề xá, Nhân đà la bà đà na.Về tên gọi của Ấn độ, có nhiều thuyết khác nhau. Đầu tiên, trong Sử kí đại uyển liệt truyện thứ 63, người ta đã thấy tên Thân độc. Về sau, Hậu hán thư tây vực truyện thứ 78, nêu ra tên Thiên trúc. Trong kinh Phật, từ đời Ngụy Tấn trở đi, phần nhiều dùng tên gọi Thiên trúc. Đến đời Đường trở về sau, thì lấy Ấn độ làm tên chính. Ngoài ra, cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2, Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện quyển 2, thì Ấn độ được dịch ý là Nguyệt. Còn một thuyết khác cho rằng, tên Ấn độ là từ chữ Phạm Tín độ hà (Sindhu, sông Tín độ) mà ra, về sau, nhân người Ba tư và người Hi lạp truyền sai đi mà thành là Ấn độ.Đất nước Ấn độ có thể chia làm ba khu địa hình: bắc Ấn độ, cao nguyên Đức can (Deccan) và nam Ấn độ. Vào thời Trung cổ, Ấn độ được chia thành năm khu, là Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung gọi là năm Thiên trúc, năm Ấn độ, nói tắt là năm Thiên, năm Trúc, năm Ấn. Nội địa có ba con sông lớn là sông Ấn độ (Indus), sông Hằng (Ganges), sông Bá lạp mã phổ đặc lạp (Brahmaputra), ngoài sa mạc Ấn độ ở phía tây ra, đất đai trong toàn cõi có thể được coi là phì nhiêu. Lưu vực sông Hằng là nơi nóng nhất trên toàn cõi Ấn độ, về mùa nóng, nhiệt độ thường lên tới 49oC., còn lưu vực sông Bá lạp mã phổ đặc lạp thì là nơi có lượng mưa nhiều nhất thế giới.Nền văn minh Ấn độ đã phát sinh từ lưu vực sông Ấn độ, vào khoảng 2500 năm trước Tây lịch (có thuyết bảo 3.000 năm đến 2.000 năm trước Tây lịch), gọi là Ấn độ hà văn hóa, thời ấy đã phát triển hệ thống đưa nước vào ruộng, hệ thống đường sá, nhà tắm công cộng, lầu gác bằng gạch và các thiết bị vệ sinh, là những yếu tố rất giống với quan niệm thiết kế đô thị hiện đại. Vào năm 1921 đến 1922 Tây lịch, các nhà khảo cổ đã đào được, tại khu vực này, hai tòa đô thị cổ là Mạc hãn tá đạt la (Mohenjo daro) và Cáp lạp ba (Harappà) tức là những di tích thuộc thời kì văn minh này. Hơn 2.000 năm trước Tây lịch, dân tộc Nhã lợi an (Aryan) đã vượt qua dãy núi Khố thập sơn (Hindu Kush) mà đi vào địa phương Ngũ hà (Phạm:Paĩjàb) ở thượng du sông Ấn độ, trong đó, một phần dân tộc ấy lại từ lưu vực sông Ấn độ lần tới lưu vực sông Hằng, chinh phục thổ dân địa phương, dần dần tổ chức thành xã hội, hình thành nền văn hóa giai cấp phân biệt chủng tộc. Về loại truyền thống Ấn độ xa xưa này, trong kinh điển Phật ghi chép rất nhiều. Ngoài ra, trong hai kiệt tác Sử thi lớn là Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata) và La ma da na (Phạm: Ràmàyaịa) của Ấn độ, cũng nêu ra nhiều tên nước xa xưa của Ấn độ. Đến thời đại đức Phật thì có mười sáu nước lớn đồng thời tồn tại, như Trường a hàm quyển 5 kinh Xà ni sa, Trung a hàm quyển 55 kinh Trì trai, luận Đại tì bà sa quyển 24 v.v... đều nói rõ tên của mỗi nước. Ngoài ra, về các kinh điển và các tác phẩm văn học bằng chữ Phạm của Ấn độ, thì cứ xem trong văn hiến hiện còn cũng có thể biết, như Lê câu phệ đà, được thành lập vào khoảng 1200 năm trước Tây lịch, là tập ca tán xưa nhất thế giới. Về sau, Sa ma phệ đà, Dạ nhu phệ đà, A lan bà phệ đà, Phạm thư, Sâm lâm thư, Áo nghĩa thư v.v... lần lượt được hoàn thành. Thổ dân Đạt la tì đồ (Dravidians) cố hữu tại Ấn độ là dòng giống người Phi châu da đen lai người Mông cổ, về sau lại lai người Nhã lợi an mà thành dân tộc Ấn độ ngày nay. Ý thức giai cấp của người Nhã lợi an rất mạnh, họ chia xã hội làm bốn giai cấp, đó là:1. Bà la môn (Phạm: Bràhamaịa, tế tư).2. Sát đế lợi (Phạm: Kwatriya, vương tộc)3. Phệ xá (Phạm: Vaizya, thương gia, nông dân).4. Thủ đà la (Phạm:Zùdra, nô lệ).Chế độ giai cấp này gọi là Chủng tính chế độ, Tứ tính. Ngoài ra, còn một hạng tiện dân không thuộc chế độ chủng tính. Tôn giáo của người Nhã lợi an vốn sùng bái linh hồn tồn tại trong thiên nhiên, và tin linh hồn có sức thống trị, sau dần dần biến thành tín ngưỡng sùng bái nhiều thần, gọi chung là Bà la môn giáoKhoảng năm, sáu trăm năm trước Tây lịch, Bà la môn giáo ngày càng suy vi, đức Thích ca mâu ni sáng lập Phật giáo để cách tân những cái hủ bại của Bà la môn giáo, đồng thời, đả phá chế độ giai cấp mà tổ chức thành giáo đoàn, Kì na giáo cũng góp sức trong cuộc cách tân này. Cùng lúc, còn có các phái Xà y na, Du già hưng khởi, làm cho việc cách tân trở thành một hiện tượng sôi động. Bấy giờ, ở miền trung Ấn độ, Vương triều Tây tô nạp gia (Phạm: Zaizunàga) bột khởi, đến khi vua A xà thế, con vua Tần bà sa la, làm vua nước Ma yết đà thì trở thành bá quyền miền trung du sông Hằng. Phật giáo lúc bấy giờ được vua A xà thế ủng hộ, nên rất thịnh hành tại Ấn độ vào thời ấy. Sau Vương triều Tây tô nạp gia, Vương triều Nan đà (Nanda) kế tiếp nổi lên.Năm 327 (có thuyết nói 326) trước Tây lịch, quốc vương Hi lạp mã kì đốn là Á lịch sơn đại đế xâm nhập Ấn độ, chiếm lãnh khu vực ven sông Ấn độ. Nhân lúc tao loạn, Chiên đà la cấp đa (Phạm: Candragupta), ông vua trẻ tuổi dòng Nan đà, quật khởi, bình định miền bắc Ấn độ, lấy thành Hoa thị (Phạm: Pàỉaliputra) của nước Ma yết đà làm thủ đô, thành lập Vương triều Khổng tước (Phạm: Maurya), mở ra sự giao thông với Hi lạp và dung hợp hai nền văn minh Ấn độ - Hi-lạp mà sản sinh cái gọi là Hi lạp - Ấn độ thức nghệ thuật (nghệ thuật theo hình thức Hi lạp - Ấn độ). Đến khi cháu đích tôn của Chiên đà la cấp đa là vua A dục lên ngôi, thi hành chính sách bảo hộ Phật giáo, lại phái các đoàn truyền giáo đến các nước truyền pháp, hình thành một thời đại Phật giáo hưng thịnh. Các triều đại về sau nối nhau hưng khởi là: Vương triều Quí sương (Phạm: Kuwàôa), Vương triều Huân ca (Phạm: Zuga), Vương triều Khang ngõa (Phạm: Kaịva) và Vương triều Tát cáp (Phạm:Sàh).Khoảng 300 năm sau Tây lịch, Vương triều Cấp đa (Phạm:Gupta) hưng khởi, về các phương diện văn học, nghệ thuật, kiến trúc, khoa học v.v... đều có các thành quả sáng chói, là thời đại hoàng kim trong lịch sử văn hóa Ấn độ. Về mặt quân sự thì đã đánh nước Đại nguyệt chi ở phía bắc Ấn độ, lại từng chống sự xâm lược của người Ap thát, một chi khác của Hung nô, dẫn đến thế nước hao tổn, có nguy cơ suy bại. Tuy nhiên, vào thế kỉ thứ VI, vua Siêu nhật (Phạm: Vikramàditya) đánh đuổi được người Áp thát, thì văn hóa, vũ công lại một thời được trung hưng. Vào thời kì cuối của Vương triều Cấp đa, các nước nhỏ mọc lên như nấm, trong đó, mạnh hơn cả, có Vương triều Phạt đàn na (Phạm: Vardhana), còn gọi là Vương triều Giới nhật. Năm 606, vua Giới nhật (Phạm:Zìlàditya) lên ngôi. Nhà vua một đời hùng mạnh, ra sức thi hành chính sách bảo hộ Phật giáo. Khi ngài Huyền trang tây du Ấn độ, chính là gặp lúc nhà vua này đang trị vì. Sau Vương triều Cấp đa, là các Vương triều Tạp lỗ ca (Phạm: Chàlukya), Khách sa li (Phạm:Kesari) nối nhau hưng khởi.Ở nam Ấn độ, khoảng 220 năm trước Tây lịch, có Vương triều Án đạt la (Phạm: Andhrabhftya) quật khởi, cho đến hơn 300 năm sau Tây lịch, thanh thế của Vương triều này vẫn cường thịnh. Vào thời kỳ này, Bà la môn giáo dần dần phục hưng và hình thành cái thế đối đầu với Phật giáo, nhưng ở phương diện khác, thì giữa hai tôn giáo lại tiếp thu những đặc chất của nhau. Đứng về mặt phục sinh của Bà la môn giáo mà nói, thì thời kỳ này, lọc bỏ cái cũ, bồi bổ cái mới, tức đã gieo mầm cho sự bột hưng của tân Bà la môn giáo (tức là Ấn độ giáo); và trong Phật giáo thì tư tưởng Đại thừa cũng đã manh nha để rồi sản sinh nhiều giáo nghĩa sâu xa kì đặc. Về sau, do sự diệt vong của Vương triều Khổng tước tại trung Ấn độ, mà trung tâm của Phật giáo đã dần dần di chuyển lên miền bắc Ấn độ. Mãi đến 800 năm sau Tây lịch, thì Phật giáo và Ấn độ giáo đã thay nhau hưng thịnh, hễ đạo này lên thì đạo kia xuống, về sau, thế lực của Ấn độ giáo càng ngày càng mạnh, đến mức có thể áp đảo toàn diện, thì Phật giáo dần dần cũng rơi vào tình trạng gần như tuyệt diệt, ngay trên mảnh đất đã sản sinh ra mình.Đồng thời với sự suy thoái của Vương triều Khổng tước, Diêm cao trân, người Đại nguyệt chi, xâm nhập bắc Ấn độ lập nên nước Kiện đà la và Vương triều Quí sương,cháu đích tôn là vua Ca nị sắc ca mở rộng bờ cõi, làm cho uy thế thịnh cực một thời, lại thi hành chính sách bảo hộ Phật giáo, cùng với vua A dục, trong lịch sử Phật giáo Ấn độ, là hai vị Đế vương đại hộ pháp. Nhà vua đã mở đại hội kết tập ở nước Ca thấp di la, thỉnh tôn giả Thế hữu làm chủ tọa, biên tập luận Đại tì bà sa. Ngoài ra, tại Mạnh gia lạp (Bengal), phía đông Ấn độ, khoảng năm 660 Tây lịch, Cù ba la (Phạm: Gopàla), kiến lập Vương triều Ba la (Phạm: Pàla), giữ được thế ổn định tại đông Ấn độ đến bốn, năm trăm năm, các vua đời nào cũng sùng tín Phật giáo (Mật giáo Đại thừa), đặc biệt là Đạt ma ba la (Phạm: Dharmapàla) đời thứ tư, hết lòng hộ trì Phật pháp, và xây dựng nhiều chùa viện lớn, như chùa Âu đan đa phú lê (Phạm: Uddaịđapura), chùa Siêu giới (Phạm: Vikramazìla) v.v... thành những trung tâm tín ngưỡng và nghiên cứu, đối với sự phát triển Mật giáo, có ảnh hưởng rất lớn.Năm 1001 Tây lịch, vua Hồi giáo là Mã mục đức (Mahmud) xâm nhập Ấn độ. Tính đến năm 1516, đế quốc Mông ngột nhi (Mogul) được thành lập hơn năm trăm năm, là thời đại Hồi giáo trong lịch sử Ấn độ; thời kỳ này, Hồi giáo hủy hoại các chùa viện, Thánh tích của Phật giáo và Ấn độ giáo, tàn sát tăng ni, đến nỗi Phật giáo hoàn toàn tuyệt tích tại Ấn độ. Đế quốc Mông ngột nhi do cháu đời thứ 6 của Thiết mộc nhi, là Bạt ba (Babar, 1483-1530) dựng lên, cũng tin theo Hồi giáo. Cháu nội của Bạt ba là A khắc bái đại đế (Akbar), là ông vua vĩ đại nhất của đế quốc Mông ngột nhi, thời gian ông ta cai trị, lãnh thổ được mở rộng, và áp dụng chính sách khoan dung đối với các tôn giáo khác. Nhưng đến thế kỉ XVII thì đế quốc dần dà suy vi.Mặt khác, sau khi địa lí được phát hiện mạnh, thì Ấn độ đã trở thành nơi tranh giành hơn thua giữa các thế lực thực dân nước ngoài, như Anh, Pháp, Hà lan, Bồ đào nha v.v... Năm 1600, công ty Đông Ấn độ của nước Anh được thành lập, dần dần nắm được quyền khống chế. Năm 1757, Khắc lai vũ (Robert Clive) xuất quân đánh bại quân đội của các chư hầu Ấn độ chống đối và công ty Đông Ấn độ trở thành thế lực lãnh đạo Ấn độ một cách tuyệt đối. Năm 1858, chính phủ nước Anh tiếp quản công ty Đông Ấn độ và trực tiếp cai trị Ấn độ. Trước đó, các địa phương Ấn độ đã bắt đầu nhen nhúm cuộc vận động giành độc lập, qua hai cuộc thế giới đại chiến mới do Cam địa (Gandhi, 1869-1948) lãnh đạo cuộc Vận động bất hợp tác mà hình thành phong trào quần chúng rất mạnh và đến tháng 8 năm 1947 thì giành được độc lập. Cùng năm ấy, vấn đề xung đột kịch liệt giữa Ấn giáo và Hồi giáo, cũng được hai bên Anh quốc và Ấn độ đồng ý giải quyết bằng cách thành lập nước Hồi giáo Ba cơ tư thản (Pakistan). Mặc dầu Ấn độ đã chia làm hai nước rồi, nhưng những sự kiện đưa đến đổ máu giữa Ấn, Hồi vẫn còn đó, có khi lại tăng thêm. Hơn nữa, sau khi lập quốc, Ba cơ tư thản lại phát sinh nội chiến liên miên, thường thường có hàng trăm ngàn nạn dân từ đông Ba cơ tư thản tràn vào Ấn độ. Đến tháng 12 năm 1971, nhờ sự giúp đỡ của Ấn độ, đông Ba cơ tư thản đánh tan quân tây Ba cơ tư thản, rồi tuyên bố độc lập và đổi tên nước là Mạnh gia lạp (Bangladesh). Ngoài ra, tháng 5 năm 1975, nước Xích kim, nằm về phía đông bắc Ấn độ, cũng sáp nhập vào Ấn độ mà thành là tiểu bang cuối cùng (tiểu bang thứ 22) trong chính phủ nước Cộng hòa liên bang Ấn độ.Tại Ấn độ ngày nay, số tín đồ Ấn độ giáo đông nhất, kế đó là tín đồ Hồi giáo, kì dư, tín đồ Phật giáo, Cơ đốc giáo, Kì na giáo và Tích khắc giáo thì thuộc thành phần thiểu số, trong đó, tín đồ Phật giáo có độ hơn một triệu người. Gần đây, giai cấp tiện dân ùn ùn theo Phật giáo, sự kiện ấy đã trở thành vấn đề trong xã hội Ấn độ. Các phái Ấn độ giáo coi Phật giáo như một chi phái của họ, và coi đức Phật là vị thần của Ấn độ giáo. Trong các tác phẩm hội họa, điêu khắc cổ đại còn được bảo tồn tại Ấn độ cho đến ngày nay, những di tích của Phật giáo được coi là kho báu. Từ sau ngày Ấn độ được độc lập, phần nhiều lấy tư tưởng Phật giáo làm gương cho lí tưởng chính trị, hơn nữa, lá quốc kì Ấn độ có in hình bánh xe Pháp luân của Phật giáo, đồng thời, năm giới của Phật giáo được suy tiến thành chính sách năm nguyên tắc hòa bình. Do đó, tính trọng yếu của Phật giáo tại Ấn độ sẽ được đánh giá lại. Dân số Ấn độ hiện nay khoảng hơn sáu trăm triệu người chiếm mười lăm phần trăm dân số toàn thế giới, chỉ đứng sau Cộng hòa nhân dân Trung quốc. Quá nhiều chủng tộc, hiện được gọi là Nhân chủng bác vật quán của thế giới; ngôn ngữ phức tạp, có tới một trăm tám mươi thứ (thông dụng nhất có mười bốn thứ), một vấn đề trở ngại lớn trong sự phát triển của Ấn độ. Ấn độ ngày nay tuy đã có vũ khí hạt nhân, nhưng đứng về mặt toàn quốc mà nói, thì vẫn còn là một nước nghèo nàn lạc hậu. Khoáng sản tuy phong phú nhưng phần lớn chưa được khai thác đúng mức để có thể lợi dụng. Dân số toàn quốc tăng nhanh, con số người mù chữ cao và cái hố ngăn cách giữa người nghèo và người giàu càng thêm sâu rộng. Tình hình vệ sinh rất tồi, dân chúng phần nhiều suy dinh dưỡng, các thiết bị y tế thiếu thốn và số tử vong rất cao. Tuy chính phủ đã tích cực đặt các kế hoạch kinh tế dài hạn năm năm, nhưng kết quả chậm chạp các thứ kiến thiết phần nhiều trông vào sự giúp đỡ hoặc vay mượn của nước khác. Mức sinh hoạt của quốc dân xuống thấp, tính mức đến năm 1980, lợi tức bình quân cả năm, mỗi người dân được khoảng tám mươi Mĩ kim (trong khi lợi tức bình quân cả năm tại Đài loan (năm 1977) mỗi người dân được một nghìn một trăm tám mươi hai Mĩ kim, và tại nước Mĩ, mỗi người được bảy nghìn sáu trăm tám mươi tư Mĩ kim), nỗi nghèo khó của người dân Ấn độ như thế nào, cứ xem đó đủ biết. Ngoài ra, sự phân chia tôn giáo, giai cấp, chủng tộc, vẫn y nguyên là vấn đề nghiêm trọng của xã hội. [X. Phật tổ thống kỉ Q.32; trên; Cổ kim đồ thư tập thành biên duệ điển thứ 58; Tuệ lâm âm nghĩa Q.10; Hi lân âm nghĩa Q.2, Q.3, Q.8; V. A. Smith: Early History of India; S. Robert: Indian Chronography; J. Dowson: A Classical Dictionary of Hindu Mythology].
ấn độ chi phát hiện
2209(The Discovery of India)印度政治家、首任總理尼赫魯(Pandit Jawaharlal Nehru, 1889~1964)撰,一九四六年刊行。尼氏因參加反英獨立運動而多次入獄,本書即於獄中執筆,闡示其印度史觀及對獨立運動之主張。內容包括:獄中生活、家族回憶錄、概說印度河太古文明至蒙兀兒王朝之輝煌文化史,及詳說英國之統治、印度民族運動之興起、與英帝國主義之抗爭、二次大戰與印度之狀況等;重點在政治、經濟、社會方面,及甘地所領導之不合作運動等。由作者對印度之精神基礎、道德觀念、文化遺產等,所作之冷靜分析、評價,可略窺印度之真實風貌。
; (印度之發現) (THE DISCOVERY OF INDIA) Do nhà chính trị và là Thủ tướng đầu tiên của Ấn độ, Ni hách lỗ (Pandit Jawaharlal Nehru, 1889 - 1964) soạn, được ấn hành năm 1946. Vì tham gia cuộc vận động chống người Anh giành độc lập mà Nehru đã nhiều lần đi tù; bộ sách này được viết trong tù, trình bày quan niệm của ông về lịch sử Ấn độ và chủ trương vận động giành độc lập. Nội dung bao gồm: sự sinh hoạt trong tù, hồi kí về gia tộc, nói tổng quát về nền văn minh thái cổ của sông Ấn độ, đến lịch sử văn hóa sáng chói dưới triều đại Mông ngột nhi, và tường thuật chi tiết về sự thống trị của nước Anh, sự hứng khởi của cuộc vận động dân tộc Ấn độ, sự chống lại chủ nghĩa đế quốc Anh, hai cuộc đại chiến và tình huống nước Ấn độ v.v... trọng tâm là chính trị, kinh tế, phương diện xã hội và cuộc vận động bất hợp tác do Cam địa lãnh đạo. Qua sự phân tích và đánh giá bình tĩnh của tác giả về tinh thần cơ bản, quan niệm đạo đức và di sản văn hóa của Ấn độ, người ta có thể thấy chân tướng của Ấn độ.
ấn độ cổ văn minh
2214指印度西北境印度河流域,盛於西元前三千年頃,前後約五百年間之文明。由莫汗佐達羅(Mohenjo-daro)與哈拉巴(Harappa,現屬巴基斯坦)兩廢墟之研究,可知其為銅器時代之文明。莫汗佐達羅含有死丘之意,位於印度河下游之信度省,面積約十六平方公里。此廢墟分上、中、下三部,上有三層(後期),中有三層(中期),下僅一層(初期),共計七層,由此七層可推定上、下層約間隔五百年。距此廢墟東北方向約六五○公里之哈拉巴古城,由其出土物觀之,知其與莫汗佐達羅為同一時代、同一民族所創同一文化之遺蹟,且較前者為一更大規模之都市。兩處道路皆井然有序,具都市計劃之型態,為世界建築史之特殊者。住宅之外,大浴場、市場、儲藏室等公共建設皆具之,市民之主食為大麥、小麥等穀類。從眾多陶製女神像遺物可知,母神信仰之偶像崇拜盛行於當時之西亞、中亞。此外,亦有樹木、動物、自然現象、性器等崇拜之風。又雖有墓地遺蹟之發掘,然死者埋葬法不詳。政治型態不明,王宮之形式亦難確知。 此外,於印度河流域中,另又發現旃符達羅(Chanhu-daro)、阿母利(Amri)、集夫卡(Jhukar)等處有銅器與石器並用的古代文化之遺蹟,此遺蹟類似於美索不達米亞、埃及等太古文明。就印度民族文化之獨立性而論,雖不可視之為模仿自蘇美文化,但由此文化遺蹟亦可推證印度與西方文明國間之貿易關係。 印度古文明既非雅利安人所創,且較吠陀文明為早,與印度先住民族達羅毘荼人(Dravidians)有無關連,不得而知;即以遺骸之鑑定研究,亦難有定論。所發現者,僅能了解後代中非雅利安系之宗教曾受其影響而已。所遺留之文字,現代人亦無法全然解讀。 莫汗佐達羅與哈拉巴二城市之毀壞,或因大洪水,或遭雅利安人之毀滅。後一說法,近來學者頗為流行。人類歷史於短暫間發展迅速,令人目眩;亦於剎那間忽焉而逝,令人興嘆!凡此種種,皆可視同人類文明史上之金字塔,予人無限回味。〔Sir John Marshal: Mohenjo-daro the Indus Civilization, 3 vols., 1931;E. Mackay: The Indus Civilization, 1935; Wheeler: The Indus Civilization, 1958〕
; (印度古文明) Chỉ nền văn minh phát sinh tại lưu vực sông Ấn độ, phía tây bắc Ấn, khoảng 3.000 năm trước Tây lịch, và tồn tại được độ năm trăm năm. Qua sự nghiên cứu các di chỉ của hai thành phố cũ Mạc hãn tá đạt la (Mohenjo-daro) và Cáp lạp ba (Harappa, hiện nay thuộc Pakistan), người ta có thể biết nền văn minh ấy thuộc thời đại đồ đồng. Mạc hãn tá đạt la nằm ở tỉnh Tín độ, miền hạ du sông Tín độ, diện tích khoảng mười sáu cây số vuông. Di chỉ này chia làm ba bộ phận trên, giữa, dưới, trên có ba tầng (thời kì sau), giữa có ba tầng (thời kì giữa), dưới chỉ có một tầng (thời kì đầu), tất cả bảy tầng, từ bảy tầng này, có thể ước định tầng trên và tầng dưới cách nhau độ năm trăm năm. Cách di chỉ này về hướng đông bắc khoảng sáu trăm năm mươi cây số là cổ thành Cáp lạp ba, qua những vật đào được ở đây, người ta biết thành này cũng một thời đại với Mạc hãn tá đạt la, là di tích văn hóa do cùng một dân tộc sáng lập, và so với Mạc hãn tá đạt la, đô thị này có quy mô rộng lớn hơn. Đường sá tại hai nơi này đều có trật tự rành mạch, có điều lí hẳn hoi, mang hình thái những đô thị có kế hoạch, là những kiến trúc đặc thù trong lịch sử kiến trúc của thế giới. Ngoài nhà ở ra, có các kiến thiết công cộng như nhà tắm, chợ, kho tàng v.v... đều đầy đủ; thực phẩm chính của thị dân là mì và gạo. Qua các tượng nữ thần được đắp nặn còn sót lại, người ta biết được là tín ngưỡng sùng bái ngẫu tượng thần mẹ của vùng Tây á, Trung á đang thịnh hành ở thời bấy giờ. Ngoài ra cũng có phong tục sùng bái cây cối, động vật và các hiện tượng thiên nhiên. Lại tuy có đào được các di tích mồ mả, nhưng không rõ được phép tắc và nghi thức chôn cất người chết như thế nào. Hình thái chính trị và kiểu cách cung vua cũng không được rõ.Ngoài ra, trong lưu vực sông Ấn độ, người ta còn phát hiện được những di tích thuộc nền văn hóa cổ đại, trong đó có các đồ dùng ở cả hai thời kì đồ đồng và đồ đá, tại các nơi như Chiên phù đạt la (Chanhudaro), A mẫu lợi (Amri) và Tập phu táp (Jhukar) v.v..., những di tích này cũng giống như những di tích thuộc nền văn minh thái cổ ở Mĩ tốt bất đạt mễ á (Mesopotamia) và ở Ai cập. Đứng về phương diện tính độc lập văn hóa của dân tộc Ấn độ mà nói, thì tuy không thể bảo văn hóa Ấn độ đã bắt chước văn hóa Mesopotamia, nhưng qua các di tích văn hóa còn sót lại, người ta có thể suy định rằng giữa Ấn độ và các nước văn minh phương Tây đã có quan hệ mậu dịch. Văn minh cổ Ấn độ tất nhiên đã chẳng phải do người Nhã lợi an sáng lập, nhưng, giữa nền văn minh Phệ đà tương đối có sớm với những người thuộc dân tộc Đạt la tì đồ (Draidians) vốn đã định cư tại Ấn độ từ trước khi người Nhã lợi an đến, có liên quan gì không, thì điều đó người ta cũng không thể biết được; mà qua sự nghiên cứu và giám định các di hài, cũng khó mà biết được một cách chính xác. Qua các vật được phát hiện, người ta chỉ biết rằng, tôn giáo ở đời sau, không thuộc hệ Nhã lợi an, thì đã từng chịu ảnh hưởng của dân tộc Đạt la tì đồ mà thôi. Đến như văn tự của họ còn sót lại, người hiện đại cũng không có cách nào đọc và hiểu được hoàn toàn. Hai thành thị Mạc hãn tá đạt la và Cáp lạp ba đã bị phá hủy bởi nạn lụt hoặc do người Nhã lợi an hủy diệt. Giả thuyết sau được các học giả gần đây đồng ý nhiều hơn. Lịch sử nhân loại phát triển nhanh chóng trong một thời gian ngắn, khiến người ta chóa mắt; cũng có khi chỉ trong nháy mắt đã tan biến, khiến người ta than thở! Phàm những hiện tượng như thế, đều có thể được coi là lịch sử văn minh chung của nhân loại, như những Kim tự tháp, đã khiến người ta nuối tiếc vô hạn. [X. Sir John Marshah: Mohenjo-daro the Indus Civilization, 3 vols., 1931; E. Mackay: The Indus Civilization, 1935; Wheeler: The Indus Civilization, 1959].
ấn độ giáo
2222(Hinduism)通常指新婆羅門教。即印度古來正統思想之婆羅門教,攝取佛教與耆那教教義以及複雜的民間信仰,而發展成的一種宗教。與其說是一有明確體系之宗教,毋寧說在歷史之發展中由於教義、儀軌、制度、風俗習慣等,孕育而成之一種宗教社會乃至社會性宗教之總稱。婆羅門教可分為前後兩期或三期,亦有將最後一期之發展階段特稱為印度教者。西元前四世紀左右印度教始產生,四世紀以後才逐漸興盛,上層階級之信徒激增。狹義言之,印度教即為因佛教興盛而曾一度衰微的婆羅門教之復興。 由於婆羅門階層之哲學論師輩出,相形之下,佛教遂陷於衰微之勢;而在政治上,由於西北部拉吉普特族(Rājput)之堅持種姓制度,亦使佛教徒勢力衰退。此外,因以與民間宗教融合同化及新聖典之編纂為中心,而在傳統的繼承之外,以嶄新面目及姿態產生一現代之印度教。至西元八○○年左右,印度教一方面繼承吠陀聖典之權威,另一方面則受奧義書及吠檀多學派濃厚之影響,而與民族兩大敘事詩摩訶婆羅多(梵 Mahābhārata)、羅摩耶那(梵 Rāmāyaṇa)以及毘濕奴之種族(梵 Harivaṃśa)、薄伽梵歌(梵 Bhagavad-gītā)與富蘭那(梵 Purāṇa)、新奧義書(梵 New-Upaniṣad)之類、怛特羅(梵 Tantra)、阿笈摩(梵 Āgama)等有共通之主張。 從神格而言,由吠陀神話發展成富蘭那神話(狹義的印度教神話),由於毘濕奴與濕婆二神之抬頭,而以此二神與梵(梵 brahman)同為最高實在之原理,確立一體三神之教理,此即其特色。其中,對毘濕奴化身的吉栗瑟拏(梵 Kṛṣṇa)、羅摩之崇拜,顯著的反映在民眾信仰當中。其主要宗派有毘濕奴派及濕婆派、性力派(梵 Śākta)、紹拉派(梵 Saura)、誐那帕底耶派(梵 Gānapatya)、斯磨魯達派(梵 Smārta),此外更有其他派別之分歧出現。由十二至十八世紀之間,則有各種革新的宗派,例如喀比爾派以及其同系諸派、錫克教、達杜派(Dādū)等的興起。 十九世紀蒙兀兒帝國滅亡,再加上英國入侵,促使宗教改革運動在基督教的活躍與歐洲近代宗教思想的影響下產生,而有梵教會(Brāhma-Samāj)及雅利安協會(Ārya-Samāj)兩個教會開始活動,此外,同類之宗教運動派及傳道會等尚有多種。羅摩克利須那教派(梵 Rāmakṛṣṇa Paramahaṃsa)、神智教會等亦經常展開各種活動。 印度教之思想體系乃在究明宇宙本質的「梵」與個人本質的「我」之間之一體相、精神與物質兩界之相關相、智慧(明)與無明之思辨相、信愛之實踐相,以及關於業、輪迴、解脫等之探討,樹立各種學說,後世各宗派均以此為依據而產生如下諸派:商羯羅(梵 Śaṅkara)之絕對不二論(不二一元論),巴史卡拉(梵 Bhāskara)之二元一元論,羅摩拏遮(梵 Rāmanuja)之制限不二說,寧巴爾迦(梵 Nimbārka)之二元一元論(不一不異說),婆爾羅巴(梵 Vallabha)之純粹一元論,摩陀婆(梵 Madhva)之二元論(多元論的實在論),毘濕奴史瓦閔(梵 Viṣṇusvāmin)之二元論等。二十世紀初,奧若賓都遘須(Aurobindo Ghosh)倡導整體不二論,用現代之觀點來解釋吠檀多哲學,對印度知識分子有很大影響。 目前,以印度聯邦為中心的東西各地,印度教徒約有三億,二次世界大戰後,印度獨立以來,自與巴基斯坦分裂後,其與伊斯蘭教間之爭端時起,至今不斷。〔Sir Monier Monier-Williams:Brāhmanism and Hinduism, or religious thought and life in India, 1891;L.D. Barnett: Hinduism, 1906; Renⅰ Guⅰnon:Introduction gⅰnⅰrale a l'ⅰtude des doctrines hindoues, 1921;Sir, C. Eliot: Hinduism and Buddhism, a Historical Sketch, 3 vols., 1921〕(參閱「婆羅門教」4464)
; Sanàtanadharma (S). Hinduism.
; Hinduism—Đây là tên gọi chung cho hệ thống xã hội, văn hóa và tôn giáo của giống Aryan ở Ấn Độ, đây là giống dân di cư vào Ấn Độ vào ngay trước thời kỳ bắt đầu có lịch sử của nước nầy. Cương yếu Ấn Độ giáo là Bà La Môn chủ trương—Hinduism or Brahmanism, the general name given to the social-cultural-religious system of the Indo-Aryan, who migrated into India just before the dawn of history. In its essence, Brahmanism advocates: 1) Duy trì xã hội làm bốn giai cấp, trong đó Bà La Môn là giai cấp tối thượng: The manitenance of the four castes (see Tứ Giai Cấp Ấn Độ) which assures the supremacy of the priest caste, the brahmana. 2) Theo nguyên tắc thờ phượng Thượng đế bằng những nghi thức đề ra từ Thánh Kinh Vệ Đà: Appeasement of the gods by means of rituals derived from the Sacred Vedas. 3) Trung thành hay tin tưởng tuyệt đối vào thuyết nghiệp quả luân hồi, lấy sự tái sanh vào cõi trời làm mục tiêu tối thượng cho người trần tục: Complete faith and fidelity to the theory of karma and reincarnation, with rebirth in heaven seen as the final goal of earthly life. 4) Theo truyền thống Ấn Giáo, nhiệm vụ chính của người nữ là sanh con và làm việc trong nhà. Vì vậy mà nó coi cuộc sống độc thân là cuộc sống vô ích, và những người đàn bà không kết hôn đáng bị phỉ báng: In Hindu tradition, the main duties assigned to women were childbearing and housework. Thus it considers a single life as a wasted life and unmarried women were subject to scoffs.
; (印度教) (HINDUISM) Thông thường chỉ Tân Bà la môn giáo. Tức là Bà la môn giáo chính thống từ xưa đến nay tại Ấn độ, tiếp thu các giáo nghĩa của Phật giáo, Kì na giáo và các tín ngưỡng dân gian phức tạp mà phát triển thành một thứ tôn giáo. Thay vì là một tôn giáo có hệ thống rõ ràng chính xác, Bà la môn giáo là thứ tôn giáo xã hội, hoặc có tính xã hội, do sự phát triển lịch sử giáo nghĩa, nghi thức, chế độ, phong tục tập quán, mà gây thành. Bà la môn giáo có thể được chia thành hai thời kì hoặc ba thời kì, cũng có người đem giai đoạn phát triển ở thời kì cuối cùng, đặc biệt gọi là Ấn độ giáo. Ấn độ giáo phát sinh khoảng thế kỉ thứ IV trước Tây lịch, mãi bốn thế kỉ sau mới dần dần hưng thịnh, tín đồ thuộc giai cấp thượng tầng tăng nhanh. Nói theo nghĩa hẹp, thì Ấn độ giáo là sự phục hưng của Bà la môn giáo sau một thời suy vi do sự hưng thịnh của Phật giáo. Do sự xuất hiện đông đảo các nhà triết học và luận sư thuộc giai cấp Bà la môn mà Phật giáo bị rơi vào tình thế suy yếu; và về mặt chính trị, do sự kiên quyết của dân tộc Lạp cát phổ đặc (Ràjput) ở phía tây bắc, duy trì chế độ giai cấp, cũng khiến cho thế lực của tín đồ Phật giáo phải suy thoái. Ngoài ra, do việc lấy sự dung hợp đồng hóa với tôn giáo dân gian, và sự biên soạn các kinh điển mới làm trung tâm, và, ngoài sự Đền thờ của Ấn Độ Giáo kế thừa truyền thống ra, Bà la môn giáo đã dùng bộ mặt và tư thái cực mới ấy mà sản sinh ra một Ấn độ giáo hiện đại. Đến khoảng 800 năm Tây lịch, Ấn độ giáo, một mặt kế thừa quyền uy của Thánh kinh Phệ đà, mặt khác, lại chịu ảnh hưởng sâu đậm của Áo nghĩa thư và các học phái Phệ đàn đa, đồng thời, có nhiều điểm chủ trương tương đồng với hai tác phẩm dân tộc lớn là Đại tự sự thi Mahaøbhaørata (dịch âm là Ma ha bà la đa), Raømaøyaịa (dịch âm La ma da na) và với các loại khác, như chủng tộc Tì thấp nô (Phạm: Harivaôsa), Bạc già phạm ca (Phạm: Bhagavadgìtà), Phú lan na (Phạm: Puràịa), Tân áo nghĩa thư (Phạm:New-Upaniwad), Đán đặc la (Phạm: Tantra) và A cấp ma (Phạm:Àgama) v.v... Đứng về phương diện thần cách mà nói, thì từ nơi thần thoại Phệ đà mà phát triển thành thần thoại Phú lan na (thần thoại Ấn độ theo nghĩa hẹp), rồi từ nơi kết hợp hai thần Tì thấp nô và Thấp bà với Phạm (Phạm:Brahman) làm một nguyên lí thực tại đồng nhất, tối cao, mà xác lập giáo lí Tam thần nhất thể, đó là đặc điểm của Bà la môn giáo. Trong đó, sự sùng bái Cát lật sắt noa (Phạm:Kfwịa, hóa thân của Tì thấp nô), La ma (Ràma), phản ánh rõ tín ngưỡng trong dân chúng. Các tông phái chủ yếu thì có phái Tì thấp noa, phái Thấp bà, phái Tính lực (Phạm:Zaøkta), phái Thiệu lạp (Phạm:Saura), phái Nga na phạ để da (Phạm: Gànapatya), phái Tư ma lỗ đạt (Phạm:Smàrta), ngoài ra, còn có nhiều chi phái khác xuất hiện. Khoảng từ thế kỉ XII đến thế kỉ XVIII, có các tông phái cách tân, chẳng hạn như phái Khách tỉ nhĩ và các phái cùng hệ thống: Tích khắc giáo, phái Đạt đỗ (Dàdù) v.v... trỗi dậy. Thế kỉ XIX, đế quốc Mông ngột nhi diệt vong, rồi tiếp đến sự xâm nhập của người Anh, do sự hoạt động của Cơ đốc giáo và ảnh hưởng tư tưởng tôn giáo cận đại ở Âu châu mà xúc thành cuộc vận động canh tân tôn giáo, vì thế mới nảy sinh các hiệp hội, như hội Phạm giáo (Bràhma-Samàj) và Nhã lợi an hiệp hội (Àrya-Samàj) bắt đầu hoạt động; ngoài ra, còn có nhiều phái vận động tôn giáo và các hội truyền đạo tương tự. Giáo phái Lamakhắclợituna (Phạm: Ràmakfwịa Paramahaôsa), Thần trí giáo hội v.v... cũng mở mang hoạt động. Hệ thống tư tưởng của Ấn độ giáo là nghiên cứu cho rõ cái tướng nhất thể giữa bản chất vũ trụ Phạm và bản chất cá nhân Ngã, cái tướng tương quan giữa tinh thần giới và vật chất giới, cái tướng tư biện giữa trí tuệ (minh) và vô minh, cái tướng thực tiễn của tín ái, cho đến việc tìm hiểu về nghiệp, luân hồi, giải thoát, kiến lập các loại học thuyết v.v...; các tông phái đời sau đều căn cứ vào những điểm kể trên mà sản sinh các phái dưới đây: - Phái Thương yết la (Phạm: Zaíkara) với thuyết Tuyệt đối bất nhị luận (Nhất nguyên luận bất nhị). Phái Ba sử tạp lạp (Phạm: Bhàskara) với thuyết Nhất nguyên luận nhị nguyên. Phái La ma noa già (Phạm: Ràmanuja) với Chế hạn bất nhị thuyết. - Phái Ninh ba nhĩ ca (Phạm: Nimbàrka) với Nhất nguyên nhị nguyên luận (thuyết bất nhất bất dị). - Phái Bà nhĩ la ba (Phạm: Vallabha) với Thuần túy nhất nguyên luận. Phái Ma đà bà (Phạm: Madhva) với Nhị nguyên luận (Thực tại luận đa nguyên).Phái Tì thấp nô sử ngõa mẫn (Phạm: Viwnusvàmin) với Nhị nguyên luận v.v... Đầu thế kỉ XX, Áo nhã tân đô cấu tu (Aurobindo Ghosh) đề xướng Chỉnh thể bất nhị luận, dùng quan điểm hiện đại để giải thích triết học Phệ đàn đa, có ảnh hưởng rất lớn đối với giới trí thức Ấn độ. Ngày nay, lấy Liên bang Ấn độ làm trung tâm, tín đồ Ấn độ giáo có khoảng ba ức triệu người, sau đại chiến thế giới lần thứ hai, Ấn độ bị chia cắt và mối tranh chấp giữa Ấn độ giáo và Y tư lan giáo (Hồi giáo), cho đến nay, vẫn chưa dứt. [X. Sir Monier Monier - Williams: Bràhmanism and Hinduism, or religious thought and life in India, 1891; L. D. Barnett: Hinduism, 1906; René Guénon: Introduction générale à l’étude des doctrines hindoues, 1921; Sir C. Eliot: Hindnism and Buddhism, a historical sketch, 3 vols., 1921]. (xt. Bà La Môn Giáo).
ấn độ giáo đại hội
2225(Śāratiya Hindu Mahāsabha)全稱印度教大齋會。為印度教社團之一。一九二三年洛提拉克(Lokmanya Tilak, 1856~1920)創建,早期主要理論家為沙瓦迦爾(V.D. Savarkar, 1883~1966)。其宗旨:組織全國性之印度教徒聯盟,幫助在宗教動亂中受難之印度教徒,使被迫入伊斯蘭教者改宗印度教,宣傳印度教節日,並建立一個印度教統一之國家。
ấn độ hà
2220(Indus)梵名 Sindhu(信度)。乃印度之大河。發源於西藏高原,流經喜馬拉雅山與喀拉崑崙山兩山脈之間,流向西南而貫穿喜馬拉雅山,右岸交會喀布爾河,左岸匯流旁遮普(梵 Pañjāb,五河之意)地方之諸支流,經巴基斯坦而入阿拉伯海。五河之地乃古印度文化之據點;佛教文化則盛行於喀布爾流域、旁遮普北方之犍陀羅。(參閱「印度古文明」2214)
; (印度河) (INDUS) Tên Phạm:Sindhu (Tín độ). Là con sông lớn của Ấn độ. Bắt nguồn từ cao nguyên Tây tạng, chảy qua giữa khoảng hai dãy núi Hi mã lạp sơn và Khách lạp côn lôn, rồi chảy về hướng tây nam xuyên qua Hi mã lạp sơn, hữu ngạn chảy vào sông Khách bá nhĩ, tả ngạn là chỗ gặp nhau của các nhánh sông ở địa phương Bàng già phổ (Phạm: Puĩjàb, Ngũ hà), rồi chảy qua Ba cơ tư thản (Pakistan) mà vào biển A lạp bá (Arab). Địa phương Ngũ hà là cứ điểm của nền văn minh cổ Ấn độ; văn hóa Phật giáo thì thịnh hành tại lưu vực Khách bá nhĩ, Kiện đà la ở phía bắc Bàng già phổ. (xt. Ấn Độ Cổ Văn Minh).
ấn độ học
2227(Indologie)綜合對於印度文化中之文學、藝術、歷史、哲學、語言、考古學、宗教等之研究,統稱為印度學。與「漢學」等同為東方學之一部門。西歐各國對印度文化之探索,可追溯至古希臘時代。其後,亦有傳教士為傳教方便而研究印度文化。然採取客觀態度,且較有系統之研究,則在十八世紀之後。時英國為鞏固其殖民地之統治權,遂有計劃地研究印度文化。此後,各國哲學家、考古學家、語言學者、歷史學者等,亦不斷從事印度學之研究,並且成績斐然。 在語言學及佛教研究方面,英國、德國、法國、俄國、印度、荷蘭、丹麥、美國、日本等地,出現甚多著名之梵語、巴利語學者,且發展出一門特殊的比較語言學,而藉此比較語言學之研究成果,更推進了佛教研究。十八世紀末,英國學者荷吉森(B.H. Hodgson)、鍾士(Jones, William)、柯爾布魯克(Colebrooke, Henry Thomas)等,首先將梵語原典以英語翻譯出版。荷吉森搜集甚多梵語佛典,並加以翻譯、研究,導致西歐諸國之佛教研究盛行。鍾士於加爾各答創設亞細亞協會,並於一八七八年演講中指出梵語和希臘語、拉丁語有頗多類似之處,因此造成英、德、法國及歐洲各地研究梵語之風潮。柯爾布魯克亦著論場(Miscellaneous Essays)三卷。大衛斯(Rhys Davids)於倫敦設立巴利語聖典協會,將巴利三藏以羅馬字刊行,並出版巴利語英語辭典。此外,亦有將巴利三藏譯為英、法、德、俄文本刊行者。 德國柏林大學教授韋伯(Weber, Albrecht Friedrich)編集之印度研究(Indische Studien)十八卷,成為研究耆那教之先驅。格拉斯納普(Helmuth von Glasenapp)及蘇伯林(Walther Schubring)等人繼之推展研究。英籍德國學穆勒(Müller, Friedrich Max)注釋梨俱吠陀原典,開創了比較宗教學;並監修編譯東方聖典(Sacred Books of the East)五十一卷。佛學研究著名學者奧登柏格(Oldenberg Hermann)大量整理出版巴利文經典,並與赫列布南特(Hillebrandt, Alfred)等人共同推進吠陀之研究。 法國之語言學者布諾夫(Burnouf, Eugⅰne)對於梵語佛教原典之研究,貢獻頗鉅,著有印度佛教史序說(Introduction a l'histoire du Bouddhisme Indien),並與德國學者拉森(Lassen, Christian)共著巴利語論(Essai sur le Pali),此外又與布特寧格(Böhtlingk, Otto Von)共同完成龐大的梵語辭典。佛教學者斯納爾(Senart, ⑼mile Charles Marie)精通梵語、巴利語,校訂出版「大事」(梵 Mahāvastu)三卷,著有佛陀傳論(Essai sur la lⅰgendedu Buddha),及諸多論文,對阿育王碑文之研究提供莫大助力。萊維(Lⅰvi, Sylvain)致力於漢譯佛典、梵、藏原典之比較研究,與日本高楠順次郎共同監修佛教辭典「法寶義林」(Hobogirin),另有諸多著作。圖吉(Guiseppe Tucci)著印度與西藏(Indo-Tibetica IV)一書,為研究大乘圖像之重要文獻。 蘇俄佛教學者斯徹巴斯基(Theodor Stcherbatsky)精通梵、藏及歐洲十餘種語言,尤其精通佛教因明,著有佛教之涅槃概念(The Conception of Buddhist Nirvana)、佛教論理(Buddhist Logic)等。此外,印度佛教之研究不限於印度語,並及於漢譯及西藏語佛典,印度學者乾德拉達斯(Sarat Chandra Das)著有藏英辭典(A Tibetan-English Dictionary)。另有巴達卡(R. G. Bhandarkar)及薩斯特立(Haraprasāda Sāstrī)亦精研印度學。在荷蘭,有佛教梵語學者克恩(Hendrik kern),丹麥有豪斯貝爾(Michael Viggo Fausb|oll),美國則有慧特尼(William Collins Whitney; 1841~1904)、霍金斯(Edward Washburn Hopkins)。日本方面,南條文雄著大明三藏聖教目錄,高楠順次郎著佛教哲學精義(The Essentials ofBuddhist Philosophy),另有宮本正尊、宇井伯壽、中村元等,皆致力於印度學及佛學之推進。 十九世紀末,中亞細亞之探險,開拓了印度學之新領域,俄、英、德、法、瑞典、日本等國學者,紛紛前往。如俄國奧登保(Ol'denburg)、英國史坦因(M.A. Stein)、魯道夫霍諾爾(Rudolf Hoernle)、德國葛倫維德(Albert Grünwedel)、陸庫克(Von Le Coq)、法國伯希和(Paul Pelliot)、日本大谷光瑞、瑞典赫定(Sven Hedin)等,皆搜集大量佛教原典或抄本,分別以梵文、和闐文(Khotanese)、維吾兒文(Uigur)、西藏文及漢文等寫成。目前,諸多抄本大多收藏於各國圖書館、博物館。德國學者歐福瑞(Theodor Aufrecht)根據各地收藏之梵文抄本,著有梵語抄本文獻目錄(Catalogue of Sanskrit Manuscripts)。 在印度哲學研究方面,印度學者杜意聖(Deussen, Paul)著印度哲學概論(Outline of Indian philosophy)等。德國學者哥爾比(Rīchard Von Garbe),對於吠陀、印度正統六派哲學、佛教,造詣頗深,著有數論哲學(Die Sāṅkhya Philosophie)、數論與瑜伽(Sāṅkhya und Yoga)等。 在印度文學方面,著名者有印度學者賓菲(Theodor Benfey)及賀特(Johannes Hertel)。奧地利學者溫特爾尼玆(Moriz Winternitz)著印度文學史(History of India Literature),為重要之研究資料。 關於印度歷史,雷普森(Edward James Rapson)編著劍橋印度史六卷。威克拿格(Wilhelm Wackernagel)、布勒(Georg Bühler)等,共同出版 Grundriss Indo-Arischen Philologie und Altertumskunde 三十八卷,皆為重要著作。又印度碑銘學、美術、考古學方面,著名學者有普林西普(James Prinsep)、哈欽(J. Hackin)、馬許爾(John Marshal)等。 歷來關於印度學方面之叢書,有印度文庫(Bibliotheca Indica)、佛教文庫(Bibliotheca Buddhica),及 Trivandrum Sanskrit Series, Chowkhambā Skt. S.,Bombay Skt. and Prakrit S., Gaekwad's Oriental S., Anandasra Skt. Series,Harvard Oriental Series, Oriental Translation Fund, Mānikacandra Digambara Jaina Granthamālā,Sanātana-Jaina-Granthamālā 等。 印度學之研究雖僅歷時一世紀,已有卓著之成效,但尚待開拓之處依然不少。又於印度學中,有關佛學之研究中心,在二次世界大戰之後,已漸從歐洲移往印度、錫蘭、日本諸國,且成績斐然。如印度之泰戈爾(Tagore)於聖尼肯登(Sāntinikⅰtan)所創設之 Vishwa-Bhārāti 大學,通稱國際大學,後改國立大學,盛行梵漢對照之研究。國立德里大學設立佛學系。比哈省政府設立巴利佛學院,並發掘佛教遺蹟,如印度考古局於案陀羅省(梵 Andhra)發掘龍樹城(梵 Nagarjunakonda)。阿拉哈巴大學古史系發掘憍賞彌(梵 Kausāmbi)遺址。錫蘭亦致力於重建佛教,達摩波羅(梵 Dharmapālā)於一八九一年創立摩訶菩提會(Maha Bodhi Society),並於世界各地設立分會。錫蘭大學文學院院長馬拉拉斯萊伽(G.P. Malalasekera)任主編,重刊巴利藏經。日本於百年以來即為國際佛學重鎮,除立正、駒澤、大谷、佛教、龍谷等二十餘所專門佛教大學外,一般公私立大學,如京都大學亦設立宗教研究室,東京大學設有印度哲學科,所研究之範圍,亦從傳統佛學而逐漸擴及印度學各科門。又緬甸、泰國、高棉、越南等國,對印度學之弘揚,亦不遺餘力。
; (印度學) (INDOLOGIE) Sự nghiên cứu tổng hợp về văn học, nghệ thuật, lịch sử, triết học, ngôn ngữ, khảo cổ học và tôn giáo v.v... trong nền văn hóa Ấn độ, thì gọi chung là Ấn độ học. Cùng với Hán học cũng là một bộ môn của Đông phương học. Các nước Tây Âu tìm hiểu văn hóa Ấn độ, có thể truy đến thời đại cổ Hi lạp. Về sau, cũng có các nhà truyền giáo, vì mục đích truyền giáo mà phương tiện nghiên cứu văn hóa Ấn độ. Nhưng, phải đợi đến sau thế kỉ thứ XVIII thì người ta mới nghiên cứu văn hóa Ấn độ với một thái độ khách quan và có hệ thống. Bấy giờ, để củng cố quyền thống trị thực dân địa, người Anh bèn đặt kế hoạch nghiên cứu văn hóa Ấn độ. Từ đó về sau, các nhà triết học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, lịch sử học v.v... của các nước cũng không ngừng theo đuổi việc nghiên cứu Ấn độ học và thành tích cũng khá rõ rệt. Về phương diện nghiên cứu ngôn ngữ học và Phật học, tại các nước Anh, Pháp, Đức, Nga, Ấn độ, Hà lan, Đan mạch, Mỹ và Nhật v.v... đã xuất hiện rất nhiều học giả trứ danh về tiếng Phạm, tiếngPāli, và phát triển thành một môn ngôn ngữ học tỉ giảo đặc thù, và nhờ đó lại tiến đến nghiên cứu Phật giáo. Cuối thế kỉ XVIII, các học giả nước Anh, như Hà cát lâm (B.H. Hodgson), Chung sĩ (Jones, William), Kha nhĩ bá lỗ khắc (Colebrooke, Henry Thomas) v.v... đầu tiên phiên dịch nguyên điển tiếng Phạm ra tiếng Anh và xuất bản. Hà cát lâm sưu tập rất nhiều kinh điển Phật bằng tiếng Phạm, đồng thời, nghiên cứu, phiên dịch, đưa đến việc nghiên cứu Phật giáo thịnh hành tại các nước Tây Âu. Chung sĩ sáng lập hiệp hội Á tế á tại Gia nhĩ các đáp (Calcutta), đồng thời, năm 1878, trong khi diễn giảng, đã nêu ra nhiều chỗ giống nhau giữa tiếng Phạm, tiếng Hi lạp và tiếng Lạp đinh (Latin), do đó, tạo thành phong trào nghiên cứu tiếng Phạm tại các nước Anh, Pháp, Đức và các nước khác ở Âu châu. Kha nhĩ bá lỗ khắc cũng trứ tác Luận trường (Miscellaneous Essays) ba quyển. Đại vệ tư (Rhys Davids) thành lập Hiệp hội Thánh điểnPāli tại Luân đôn, ấn hành ba tạngPāli bằng chữ La mã và xuất bản từ điểnPāli -Anh. Ngoài ra, cũng phiên dịch ba tạngPāli ra các tiếng Anh, Pháp, Đức, Nga để ấn hành. Giáo sư Đại học Bách lâm (Berlin) người Đức là Vi-bá (Weber, Albrecht Friedrich) biên tập Ấn độ nghiên cứu (Indische Studien) mười tám quyển, là tiên khu trong việc nghiên cứu Kì na giáo. Cách lạp tư nạp phổ (Helmuth von Glasenapp) và Tô bá lâm (Walther Schubring) kế tục mở rộng sự nghiên cứu. Nhà học giả người Đức quốc tịch Anh là Mục lặc (Muller, Friedrich Max) chú thích nguyên điển Lê câu phệ đà, đã khai sáng ra môn tôn giáo tỉ giảo học; đồng thời, trông nom việc biên dịch các Thánh điển Đông phương (Sacred Books of the East) gồm năm mươi mốt quyển. Nhà học giả nghiên cứu Phật học trứ danh là Áo đăng bách cách (Oldenberg Hermann), chỉnh lí và xuất bản một lượng lớn kinh điểnPāli, rồi cùng với Hách liệt bá nam đặc (Hillenbrandt, Alfred) đẩy mạnh việc nghiên cứu Phệ đà. Nhà ngữ học người Pháp là Bá-nặc-phu (Burnouf, Eugène) đã có những cống hiến rất lớn cho việc nghiên cứu nguyên điển Phật giáo bằng tiếng Phạm, ông đã viết Ấn độ Phật giáo sử tự thuyết (Introduction à l’histoire du Buddlisme Indien), và cộng tác với học giả người Đức là Lạp lâm (Lassen, Christian) cùng viết Pāli ngữ luận (Essai sur lePāli); ngoài ra, ông còn cộng tác với Bá đặc ninh cách (Bohtlingk, Otto Von) hoàn thành bộ đại từ điển tiếng Phạm. Nhà học giả Phật giáo là Tư nạp nhĩ (Senart, Émile Charles Marie) tinh thông tiếng Phạm, tiếngPāli, đã hiệu đính và xuất bản Đại sự (Mahàvastu) ba quyển, trứ tác Phật-đà truyện luận (Essai sur la légende bu Buddha), và các luận văn khác, đồng thời, ông đã giúp công rất nhiều vào việc nghiên cứu những văn bia của vua A dục. Lai duy (Lévi, Sylvain) dốc sức nghiên cứu kinh sách Phật qua các bản dịch chữ Hán, chữ Tây tạng, rồi so sánh đối chiếu với nguyên điển tiếng Phạm, lại cùng với Cao nam thuận thứ-lang người Nhật, xem xét sửa chữa bộ từ điển Phật giáo Pháp bảo nghĩa lâm (Hobogirin), ông còn có nhiều tác phẩm nữa. Đồ cát (Guiseppe Tucci) viết Ấn độ và Tây tạng (Indo - Tibetica IV) là tác phẩm trọng yếu trong việc nghiên cứu tranh tượng vẽ của Đại thừa. Nhà học giả Phật giáo người Nga là Tư triệt ba tư cơ (Theodor Stcherbatsky) tinh thông tiếng Phạm, tiếng Tây tạng và hơn mười thứ ngôn ngữ Âu châu, đặc biệt tinh thông Nhân minh Phật giáo, có viết Khái niệm về Niết bàn Phật giáo (The Conception of Buddhist Nirvana), Phật giáo luận lí (Buddhist Logic) v.v... Ngoài ra, sự nghiên cứu Phật giáo Ấn độ không chỉ giới hạn ở ngôn ngữ Ấn độ, mà gồm cả kinh điển Phật trong các bản Hán dịch và Tạng dịch nữa. Nhà học giả Ấn độ là Cần đức lạp đạt tư (Sarat Chandra Das) có soạn bộ từ điển Tạng - Anh (A Tibetan - English Dictionary). Ngoài ra, còn có Bađạtlạp (R.G. Bhandarkar), Tát tư đạt lập (HaraprasàdaSàstrì) cũng tinh thông Ấn độ học. Tại Hà lan, có học giả Phật giáo tiếng Phạm là Khắc-ân (Hendrik Kern), Đan mạch có Hào tư bối nhĩ (Michael Viggo Fausbôll), nước Mĩ thì có Tuệ đặc ni (William Collins Whitney), Hoắc kim tư (Edward Washburn Hopkins). Phía Nhật bản thì có Nam điều văn-hùng soạn Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục, Cao nam thuận thứ lang viết Phật giáo triết học tinh nghĩa (The Essentials of Buddhist Philosophy). Ngoài ra, còn có Cung bản chính tôn, Vũ tỉnh bá thọ, Trung thôn nguyên v.v... đều hết sức đẩy mạnh việc nghiên cứu Ấn độ học và Phật học. Vào cuối thế kỉ XIX, các học giả Nga, Anh, Pháp, Đức, Thụy điển và Nhật bản v.v... ùn ùn đi trước trong việc thám hiểm miền trung Á tế á, đã khai thác những lãnh vực mới của Ấn độ học. Như Áo đăng bảo (Ol’denburg) người Nga, Sử thản nhân (M. A. Stein), Lỗ đạo phu hoắc nặc nhĩ (Rudolf Hoernle) người Anh, Cát luân duy đức (Albert Grunwede), Lục khố khắc (Von Le Coq) người Đức, Bá hi hòa (Paul Pelliot) người Pháp, Đại cốc quang thụy người Nhật, Hách định (Sven Hedin) người Thụy điển v.v... đều đã sưu tập một lượng lớn những nguyên điển hoặc bản sao của kinh sách Phật viết bằng các thứ tiếng Phạm, Vu điền (Khotanese), Duy ngô nhi (Uigur), Tây tạng và Hán v.v... Hiện nay, phần lớn các bản sao đã được thu góp để bảo tồn tại các thư viện và bác vật quán của các nước. Nhà học giả người Đức là Âu phúc thụy (Theodor Aufrecht) đã căn cứ vào các bản sao tiếng Phạm thu góp tại các nơi mà soạn Phạm ngữ sao bản văn hiến mục lục (Catalogue of Sanskrit Manuscripts). Về mặt nghiên cứu triết học Ấn độ, thì học giả Ấn độ học là Đỗ ý thánh (Deussen, Paul) có trứ tác Ấn độ triết học khái luận (Outline of Indian Philosophy). Học giả người Đức là Kha nhĩ tỉ(Richard Von Garbe) đi khá sâu vào việc nghiên cứu Phệ đà, sáu phái triết học chính thống của Ấn độ, Phật giáo, và có các tác phẩm Triết học số luận (DieSàkhya Philosophie), Số luận và Du-dà (Sàkhya und Yoga) v.v... Về mặt văn học Ấn độ thì có Tân phi (Theodor Benfey) và Hạ đặc (Johannes Herte) nổi tiếng. Học giả người Áo địa lợi là Ôn đặc nhĩ ni tư (Moriz Winternitz, có viết Ấn độ văn học sử (History of India Literature), là tư liệu nghiên cứu trọng yếu. Về mặt lịch sử Ấn độ, thì Lôi phổ sân (Edward James Rappson) biên soạn Kiếm kiều Ấn độ sử (History of Cambridge India) sáu quyển. Uy khắc nã cách (Wilhelme Wackernagel), Bá-lặc (Georg Buhler), cùng chung xuất bản Grundriss Indo- Arischen Philologie und Altertumskunde ba mươi tám quyển, đều là những tác phẩm trọng yếu. Còn về phương diện Bi minh học, Mĩ thuật, Khảo cổ học Ấn độ thì có các học giả Phổ lâm tây phổ (James Prinsep), Cáp khâm (J. Hackin), Mã hứa nhĩ (John Marshall) v.v... được nổi tiếng. Về phương diện tùng thư của Ấn độ học trước nay, có Ấn độ văn khố (Bibliotheca Indica), Phật giáo văn khố (Bibliotheca - Buddhica) và Trivandrum Sanskrit Series, Chowkhambà Skt. S., Bombay Skt. and Prakrit S., Gaekward’s Oriental S., Anandasra Skt. Series, Harvard Oriental Series, Oriental Translation Fund, Mànikacandra Digambara Jaina Granthamàlà, Sanàtana - Jaina – Granthamàlà.v.v... Sự nghiên cứu về Ấn độ tuy đã trải qua thời gian một thế kỉ và đã có thành quả vượt trội, nhưng vẫn còn có nhiều chỗ chưa được khai thác. Lại trong Ấn độ học, sau thế chiến hai, trung tâm nghiên cứu Phật học, đã dần dần di chuyển từ Âu châu sang các nước Ấn độ, Tích lan, Nhật bản và thành tích cũng sáng sủa. Như Đại học Vishwa – Bhàràti ở Thánh ni khẳng đăng (Sàntinikétan) do Thái qua nhĩ (Tagore) thành lập tại Ấn độ, thường gọi là Đại học Quốc tế, sau đổi là Đại học Quốc lập, có môn Phạm Hán đối chiếu nghiên cứu. Đại học quốc lập Đức lí (Delhi) thì thiết lập hệ Phật học. Chính phủ tỉnh Tỉ cáp (Bihar) xây dựng viện Phật họcPāli, đồng thời, đào tìm các di tích Phật giáo, như Ấn độ khảo cổ cục ở tỉnh Án đà la (Andhra) đã đào thấy thành Long-thụ (Phạm: Nagarjunakonda). Hệ Cổ sử tại Đại học A lạp cáp ba, đã tìm đào được di chỉ Kiều thướng di (Kausàmbi). Tích lan cũng cố sức trùng hưng Phật giáo. Năm 1891, Đạt ma ba la (Phạm: Dharmapàlà) sáng lập hội Ma ha bồ đề (Maha - Bodhi Society), và mở chi hội tại các nơi trên thế giới. Viện trưởng viện Đại học Văn học của Tích lan là Ma lạp lạp tư lai già (G. P. Malalasekera) lãnh việc chủ biên và in lại Kinh tạngPāli. Từ một trăm năm trở lại đây, Nhật bản cũng đứng vào hàng các nước trùng hưng Phật giáo quốc tế. Ngoài hơn hai mươi đại học Phật giáo chuyên môn, như các Đại học Lập chính, Câu trạch, Đại cốc, Phật giáo, Long cốc v.v... ra, các Đại học công, tư lập khác cũng có dạy môn Phật học, như Đại học Kinh đô có khoa nghiên cứu tôn giáo, Đại học Đông kinh, có khoa triết học Ấn độ, cũng từ truyền thống Phật học mà dần dần mở rộng đến các khoa môn khác của Ấn độ học. Rồi đến các nước Miến điện, Thái lan, Cao miên và Việt nam, cũng tận lực phát huy Phật học và Ấn độ học nói chung.
ấn độ phật giáo
2214自佛陀以來,至部派佛教、大乘中觀、瑜伽派等次第衍出,印度佛教之概況,分述如次: <一>原始佛教:瞿曇佛陀於西元前四六三年在迦毘羅衛城(梵 Kapilavastu,巴 Kapilavatthu,即今尼泊爾邊境)誕生,自三十五歲悟道,至西元前三八三年入滅,其間對弟子之教示,於滅度之後,由弟子們結集之;這一段時期之佛教,即稱為「原始佛教」或「根本佛教」。 佛陀的說法,最初乃以記憶或誦讀互相傳授,其後始以巴利語撰寫,經(巴 sutta)中最古老的要數經集(巴 Sutta-nipāta)、法句經(巴 Dhamma-pada)、如是語經(巴 Iti-vuttaka)、無問自說經(巴 Udāna)等,以上諸經及律(巴 vinaya),皆被承認為佛陀所說之法,至於是否雜有弟子的言論在內,則無法判別,故一概冠以「原始佛教」之名稱。 原始佛教之思想立場,乃在現實生活中認識「苦」,了解苦之根源為無常變遷,主張一切存在之物並無一主宰的我存在,而樹立「無我」之觀點。無我的現象世界即由「緣起」而生,「十二因緣」則在說明緣起的道理,總括以上所說,而有「四諦八正道」之教說。其他尚有戒定慧三學、慈悲喜捨四無量心及四神足、五分法身、五根、五力、七覺支等教義。係以出家之比丘、比丘尼為中心,再加上在家之信士、信女而構成之僧伽(梵 saṃgha,巴同),於戒律中皆有制定。教團不承認造成印度社會弊端之種姓制度,雖是賤民出身之比丘,其出家受戒之戒臘(年資)高,一樣位於帝王出身的比丘之上首。此外,教團亦經常為在家居士解說布施、五戒、生天論等法。 <二>部派佛教:佛陀入滅一百年頃,即西元前二八三年以後,佛教教團分裂成革新之大眾部及保守之上座部兩個部派。據北傳佛教資料記載,分裂原因係由於大天(梵 Mahādeva)的提倡五事新說;據南傳佛教資料錫蘭島史(島王統史,巴 Dīpavaṃsa)、大王統史(巴 Mahāvaṃsa)記載,則謂由於跋耆族(巴 Vajjiputtaka)之比丘倡導十事新說而造成分裂。大天為摩偷羅國(梵 Mathurā)出身之比丘,於華氏城(梵 Pāṭaliputra)宣揚佛教。在阿育王所建之雞園寺(梵 Kukkuṭārāma,巴同)提倡五事新說,為保守派長老斥為妄語,僧團因此分裂為二。所謂五事即指:(1)餘所誘(餘人污染衣),阿羅漢仍抵制不了天魔之誘惑,而偶有夢遺之現象。(2)無知(無明),阿羅漢等四果猶有「不染污無知」。(3)猶豫(疑),證四果之聖者,對於佛法諸諦尚有疑惑處,並非完全徹悟無疑。(4)他令入(他度),若干阿羅漢證果時,必須由他人(如佛陀)印證、提醒,才能對聖道真正悟入。(5)道因聲故起(聖道言所顯),修行者若修習出世智慧之聖道,必須至誠唱念「苦哉」之語,才能使聖道現起。 跋耆族比丘所提倡之十事乃指:(1)角鹽淨,可以蓄鹽於角器中。(2)二指淨,如未吃飽,可以於規定時間後經二指量(日影)之時間內,繼續進食。(3)他聚落淨,即在一食之後,仍可至另一聚落復食。(4)住處淨,同一教區內之各群比丘,可以在各居處舉行布薩。(5)贊同淨,於眾議處決之時,若得應到比丘之同意,則雖應出席之總人數仍然不足,仍可舉行羯磨。(6)所習淨,可以隨順和尚阿闍黎之常習。(7)生和合(不攢搖)淨,可以飲食未經攪拌去脂之牛乳。(8)飲闍樓㘈淨,可以飲用末發酵或半發酵之椰子汁(即闍樓㘈)。(9)無緣座具淨,縫製坐具可以不貼邊,大小隨意。(10)金銀淨,可以接受金銀。倡導十事新說時,耶舍比丘得到離婆多長老(梵 Revata,巴同)之援助,在毘舍離城舉行大集會,一致決議此新說不合法,故稱之為「十事非法」。此次之集會,同時亦為律典之結集大會,參加比丘共七百人,故稱七百結集。 又所謂「大天五事」之說,或係後來從大眾部分派獨立出來之一位同樣叫大天者,所擴大影射大天之言行思想附會而成者,故若論佛教根本分裂之因,當以十事非法較為恰當。當然,根本分裂並非當時立即發生,而係稍後才逐漸形成者。思想前進之比丘所主張之十事新說,對於保守派之長老而言,一時無法接受,因此乃有十事非法之說,而造成教團中保守派及革新派壁壘分明之對峙。西元前二八○至二三○年頃,革新派之比丘成立另一派系,可謂分裂由此開始。因為加入此派者多,故又稱為大眾部(梵 Mahāsaṃghika,巴同);相對而言,長老上座們之保守派即稱上座部(巴 Theravāda)。 (一)上座部:此一部派認為阿羅~即佛,亦即持有「由於修行而證得羅漢果者如佛一般」之看法。此派於佛陀入滅後三世紀,亦即西元前一八三至八三年頃,分裂為本上座部與說一切有部(略稱有部)兩個部派。本上座部派遷往喜馬拉雅山,被稱為雪山部(梵 Haimavata,巴 Hemavatika)。說一切有部以迦濕彌羅為根據地,發展成一大勢力。有部之下又分出犢子部,犢子部又分出法上、賢冑、正量、密林山住四部。其次,佛陀入滅後三世紀,有部又分裂出化地部,再從化地部分出法藏部;佛陀入滅三世紀末自有部又分出飲光部(善歲部);佛陀入滅四世紀又自有部分出經量部(說轉部)。故原來的有部即稱為根本說一切有部,而上座部本末一共成立十一個部派。 根本說一切有部之特徵,不同於根本上座部之重視經與律,而特別重視論部。曾編輯大毘婆沙論、發智論、六足論等龐大論書,主張我空法有、三世實有、法體恆有,強調一切存在之物皆為實在,故被稱為「說一切有」。 (二)大眾部:此部派認為佛陀乃是一種人格之超越者,而加以崇拜。主張佛的肉身異於常人,常人即使修行而證得阿羅漢果,於現世亦無法與佛相等。大眾部於佛陀入滅後二世紀又分出一說、說世出及雞胤等三部。陸續又分出多聞部、說假部二派。繼之,又分制多山、西山住、北山住三個部派,本末一共成立九個部派。大眾部革新之風氣極盛,由於對佛陀懷有很深的敬意,故促使大乘佛教產生,並形成其勢力範圍。 <三>菩薩團:與部派佛教平行之大乘佛教,產生於西元以後。在此之前,即有在家信眾組成之集團,亦即菩薩團。菩薩團於阿育王之治世(268 B.C.~232 B.C.)前後開始,即以印度各地之佛塔(梵 stūpa,奉祀佛陀遺骨之塔)為中心而團結成者,由於禮拜佛塔,而對佛陀產生堅定之信仰,深得宗教之法樂。相對於比丘之僧伽而自稱菩薩團(梵 bodhisattva-gaṇa)。「團」本為商人之組織,因菩薩團中多數為都市之工商業者,故以團稱名。此一佛塔信仰團體即發展成後來的大乘佛教教團。 <四>大乘佛教:佛塔信仰之菩薩團,除禮拜佛塔外,更進一步編集屬於他們的經典,首先有完成於西元前後之般若經,其次有法華經、維摩經、華嚴經、無量壽經等,分別為菩薩團所輯成。此種大同團結之精神,成為大乘佛教之根本精神。大乘佛教之思想立場為「空」(梵 śūnyatā)。所謂「空」,原指「什麼都沒有」或「什麼都沒有之狀態」,亦即認為於此現象世界中,沒有任何可以執著之物,所以除非能抓住能生存之東西,否則就不能說是真正存在。就存在本身而言,仍須透過眼前之事象方能把握,此外別無他途。故般若心經中說「色即是空、空即是色」,即是此理。色(梵 rūpa),即指有形之物質,意謂一般存在之現象。法華經中除主張「一佛乘」之說,另又舉出「二乘作佛」之思想。所謂「二乘」乃聲聞、緣覺,亦即指傳統教團中之比丘。二乘作佛,概謂教團中之比丘們皆應歸於菩薩道。 法華經又主張「久遠實成之佛」(即指久遠以前就存在,並且擁有無量壽命之佛),無量壽經則說「無量壽命之佛」。兩者同樣說明其存在之根本,源於有永遠不滅之生命,即稱為佛。般若經之空,乃就哲學立場而言,而此處所說之空則自宗教觀點來看。維摩經以戲劇結構來強調菩薩道精神之偉大,遠超過比丘之立場。華嚴經則出現「一即一切,一切即一」之大世界觀。其中不論任何說法,皆以大乘之名而擴大人生觀及宇宙觀,此即其立論根據。大乘佛教之中、後期,大論師輩出,並有龐大論書著作出現,美術、建築等方面亦大受影響。不久,傳至西域、中國、日本,而產生獨特之大乘佛教文化。後期之大乘佛教,由於受到印度教之密教性格,以及印度土著信仰之強烈影響,乃呈現顯著之密教化,以致逐漸衰落,回教徒入侵印度後,佛教亦隨之滅亡。 (一)中觀派:中期之大乘佛教分為中觀派(梵 Mādhyamika)與瑜伽派兩大派。中觀派以龍樹「中論」為根柢宣揚般若空觀。中論之說法為覺悟一切之存在皆源自緣起性(相互依存之關係),不主張「無」,亦不主張「有」,而主張真空中道之正觀。龍樹之門人提婆(梵 Āryadeva)著「百論」等書以破斥外道,及小乘教義,羅睺羅跋陀羅(梵 Rāhulabhadra)則注釋中論中「八不」之意義。笈多王朝時代初期,則有梵志青目所撰「中論本頌」之注釋、婆藪開士之「百論本頌」注澤本。其後,四至五世紀出現之佛護(梵 Buddhapālita)之系統稱為具緣派(梵 Prāsaṅgika),清辨(梵 Bhāvaviveka)之系統稱為依自起派(梵 Svātantrika)。此即中觀派分出之二大派系。此二人皆為僧護(梵 Saṃgharakṣita)之弟子,此外又研習龍樹之學。佛護主張緣起諸法之畢竟空,清辨強調自俗諦門觀緣起法皆無自性不可得,若自真諦門看,則主張一切法皆有常住之本性存在。佛護的具緣派之派系中,於七世紀頃有月稱論師(梵 Candrakīrti)出,著「中論注」,其教勢遂盛。 (二)瑜伽派:係以彌勒(梵 Maitreya,270~350 頃)為開祖之學派。相傳瑜伽師地論(梵 Yogācāra-bhūmi)、大乘莊嚴經論頌、辯中邊論頌、現觀莊嚴論等書即為彌勒所撰。以般若空之思想為本,以瑜伽行(調息,攝心,令之與正理相應之修行)為基礎,建立唯識說(一切存在皆由心識之變現,主張唯有心識才是實在的),一方面由於自性清淨而有「如來藏緣起」之思想。無著(梵 Asaṅga, 310~390 頃)為此派第二祖,著顯揚聖教論頌、攝大乘論(梵 Mahāyāna-saṃgraha),及大乘阿毘達磨集論(梵 Mahāyānābhidharmasamuccaya)等書,而確立瑜伽派。其弟世親(梵 Vasubandhu)著唯識三十論頌(梵 Triṃśikā-kārikā)、唯識二十論頌(梵 Viṃśatikā-kārikā)、攝大乘論釋等書,宣揚瑜伽唯識之說。世親學系分為陳那(梵 Dignāga)與德慧(梵 Guṇamati)二大系統,陳那亦為印度論理學之集大成者。 至七世紀中葉,佛教急速印度教化而產生密教。因七世紀頃,在印度邊境建立回教國家之阿拉伯人壓迫印度人,對此,印度諸王及人民由於反抗意識而傾向民族宗教之印度教。佛教於此政治背景下,認為與印度教妥協乃保存佛教本身之最妥善方法,遂逐漸融合印度教而傾向密教化。至十二世紀末,回教徒侵入佛教中心地(即南部之比哈爾州一帶)時,佛教已完全融入印度教中。同時,由於回教軍隊屢次入侵,徹底摧毀佛教寺院,僧徒亦多逃往國外,至此,佛教在印度乃告消聲匿跡。(參閱「佛教」2658、「佛教教理」2688)
; Phật Giáo Ấn Độ, bắt đầu tại Ma Kiệt Đà (bây giờ là Bihar), dưới thời Phật Thích Ca, Ngài nhập Niết Bàn khoảng năm 486 trước Tây Lịch—Indian Buddhism, which began in Magadha (now Bihar), under Sakyamuni, the date of whose nirvana was around 486 B.C.
; (印度佛教) Tình huống Phật giáo Ấn độ từ đức Phật diễn tiến đến Bộ phái Phật giáo, Đại thừa Trung quán, Du già phái, sẽ được tường thuật một cách đại khái như sau: I. Nguyên thủy Phật giáo. Đức Phật Cù đàm giáng sinh tại thành Ca tì la vệ (Phạm:Kapilavastu,Pāli:Kapilavatthu, tức nay là biên giới nước Népal) vào năm 463 trước Tây lịch, từ ba mươi tuổi ngài ngộ đạo đến năm 383 trước Tây lịch ngài nhập diệt, trong thời gian đó, những điều Phật dạy bảo các đệ tử, sau khi Ngài nhập diệt, được các đệ tử kết tập lại; Phật giáo ở thời kì này gọi là Nguyên thủy Phật giáo hoặc Căn bản Phật giáo. Đức Phật nói pháp, lúc đầu các đệ tử chỉ đọc tụng thuộc lòng rồi truyền miệng cho nhau, về sau mới dùng chữ Pāli để ghi chép, những kinh (Pāli: Sutta) cổ xưa nhất là Yếu số kinh tập (Pāli:Sutta-nipàta), kinh Pháp cú (Pāli: Dhamma-pada), kinh Như thị ngữ (Pāli:Iti-vuttaka), kinh Vô vấn tự thuyết (Pāli: Udàna) v.v..., các kinh và luật (Pāli:Vinaya) kể trên đây đều được thừa nhận là do chính đức Phật nói, còn vấn đề có những lời bàn luận của các đệ tử lẫn lộn trong đó hay không, thì không có cách nào phân biệt và quyết định được, cho nên nhất khái gọi là Nguyên thủy Phật giáo. Lập trường tư tưởng của Phật giáo nguyên thủy, là trong sinh hoạt hiện thực, nhận thức được cái khổ, hiểu rõ căn nguyên của khổ là sự vô thường biến thiên, chủ trương trong tất cả sự vật tồn tại, không có một chủ tể đích thực tồn tại, mà kiến lập quan điểm Vô ngã. Thế giới hiện tượng vô ngã là do duyên khởi mà sinh, mười hai nhân duyên là đạo lí thuyết minh về duyên khởi, tổng quát những điều nói trên đây mà có giáo thuyết Tứ đế bát chính đạo. Ngoài ra, còn có ba học giới định tuệ, bốn vô lượng tâm từ bi hỉ xả và các giáo nghĩa bốn thần túc, năm phần Pháp thân, năm căn, năm lực, bảy giác chi v.v... Lấy tỉ khưu, tỉ khưu ni xuất gia làm trung tâm, lại thêm thiện nan tín nữ tại gia mà cấu thành Tăng già (Phạm, Pāli: Saôgha), các giới luật đều có chế định. Giáo đoàn không thừa nhận chế độ giai cấp, tệ đoan của xã hội Ấn độ thời bấy giờ, dù tỉ-khưu xuất thân từ giai cấp tiện dân, nhưng nếu xuất gia thụ giới trước và giới lạp (tuổi hạ) cao, thì vẫn ngồi trên những tỉ khưu thuộc dòng dõi đế vương nhưng xuất gia thụ giới sau và giới lạp kém. Ngoài ra, Giáo đoàn cũng thường giải thích cho các cư sĩ tại gia về các pháp bố thí, về năm giới và thuyết sinh lên các cõi trời. II. Bộ phái Phật giáo. Khoảng một trăm năm sau khi đức Phật nhập diệt, tức năm 283 trước Tây lịch trở đi, Giáo đoàn Phật giáo chia thành hai bộ phái là Đại chúng bộ cách tân và Thượng tọa bộ bảo thủ. Cứ theo tư liệu của Phật giáo Bắc truyền ghi chép, thì nguyên nhân đưa đến sự phân hóa là do Đại thiên (Phạm:Mahàdeva) đề xướng thuyết mới về năm việc; còn cứ theo các tư liệu của Phật giáo Nam truyền, như Đảo sử (Pāli:Dìpavaôsa), Đại vương thống sử (Pāli:Mahàvaôsa) ghi chép, thì nguyên nhân là do các tỉ khưu thuộc chủng tộc Bạt kì (Pāli:Vajjiputtaka) nêu lên thuyết mới về mười việc mà đưa đến chia rẽ. Đại thiên là tỉ khưu xuất thân từ nước Ma thâu la (Phạm:Mathurà), tuyên dương Phật giáo tại thành Hoa thị (Phạm:Pàỉaliputra). Đại thiên đề xướng thuyết mới về năm việc tại chùa Kê viên (Phạm: Kukkuỉàràma), bị phái Trưởng lão bảo thủ lên án là vọng ngữ. Tăng đoàn do đó mà chia làm hai phái. Cái gọi là năm việc mới tức là: 1. Dư sở dụ (người khác làm bẩn quần áo), A la hán vẫn không chống chế được sự cám dỗ của Thiên ma mà tình cờ có hiện tượng mộng di. 2. Vô tri (vô minh), A la hán còn có Bất nhiễm ô vô tri. 3. Do dự (ngờ), bậc Thánh chứng quả thứ tư, đối với Phật pháp vẫn còn có chỗ ngờ vực, chứ chưa hoàn toàn triệt ngộ . 4. Tha linh nhập (do người khác độ), bất cứ vị A la hán nào, khi chứng quả, cũng phải do người khác (như Phật chẳng hạn) thức tỉnh, ấn chứng mới có thể ngộ nhập Thánh đạo một cách chân chính. 5. Đạo nhân thanh cố khởi (Thánh đạo nhờ lời nói mà hiển bày), người tu hành nếu tu tập Thánh đạo xuất thế thì phải chí thành xướng niệm tiếng Khổ thay! mới có thể khiến Thánh đạo hiện khởi. Còn phía các tỉ khưu Bạt kì đề xướng mười việc là: 1. Dác diêm tịnh, được phép chứa muối trong ống tre hoặc nứa. 2. Nhị chỉ tịnh, nếu ăn chưa no, thì ánh mặt trời đã xế trong vòng hai ngón tay sau giờ ngọ, vẫn được phép ăn thêm. 3. Tha tụ lạc tịnh, tức đã ăn ở một nơi rồi, nhưng đến làng khác vẫn được ăn nữa. 4. Trụ xứ tịnh, các tỉ khưu ở trong cùng một giáo khu, nhưng ở đâu làm lễ Bố tát ở đấy chứ không cần tập trung vào một chỗ. 5. Tán đồng tịnh, khi bàn bạc để quyết định một việc gì, nếu đã được các tỉ khưu đồng ý, thì tuy tổng số người hiện diện không đủ, vẫn được cử hành yết ma. 6. Sở tập tịnh, có thể thuận theo tập quán thường ngày của Hòa thượng a xà lê. 7. Sinh hòa hợp tịnh, sữa chưa bị khuấy đều làm mất váng thì được uống. 8. Ẩm xà lâu nghĩ tịnh, nước quả dừa (tức xà lâu nghĩ) chưa bốc men hoặc mới hơi chua chua thì được uống. 9. Vô duyên tọa cụ tịnh, may tọa cụ không cần viền mép, lớn nhỏ tùy ý. 10. Kim ngân tịnh, được phép nhận vàng bạc. Khi thuyết mới về mười việc trên đây được đề xướng rồi, tỉ khưu Da xá được sự tán trợ của Trưởng lão Li bà đa (Phạm, Pāli: Revata), bèn triệu tập đại hội tại thành Tì xá li, nhất trí quyết nghị thuyết mới này là bất hợp pháp, bởi thế gọi là Thập sự phi pháp,............. Đại hội lần này, đồng thời, cũng là Đại hội kết tập Luật điển, có bảy trăm vị tỉ khưu tham dự, cho nên gọi là Thất bách kết tập,............ Còn cái gọi là thuyết Đại thiên ngũ sự, thì có thể là một vị Đại thiên, trùng tên nào đó ở đời sau đã từ Đại chúng bộ chia thành một phái độc lập, rồi phụ họa và mở rộng tư tưởng của Đại thiên mà thành thuyết Ngũ sự, vì thế, khi bàn về nguyên nhân đưa đến sự chia rẽ trong căn bản Phật giáo, thì thuyết Thập sự phi pháp có vẻ hợp lí hơn. Dĩ nhiên, sự chia rẽ chẳng phải chỉ nảy sinh ngay lúc bấy giờ, mà về sau phát triển dần dần mới hình thành. Đối với phái Trưởng lão bảo thủ thì thuyết mới Thập sự mà các tỉ khưu có tư tưởng tiền tiến chủ trương, không thể chấp nhận được, do đó, mới có thuyết Thập sự phi pháp, tạo thành bức tường ngăn cách rõ rệt giữa phái bảo thủ và phái canh tân trong Giáo đoàn. Khoảng từ năm 280 đến 230 trước Tây lịch, những tỉ khưu thuộc phái canh tân đã thành lập một hệ phái riêng, có thể nói, sự phân hóa đã bắt đầu từ đó. Vì những người gia nhập phái này đông hơn, nên còn gọi là Đại chúng bộ (Phạm, Pāli: Mahàsaôghika); để đối lại, phái các Trưởng lão Thượng tọa bảo thủ bèn gọi là Thượng tọa bộ (Pāli: Theravàda). 1. Thượng tọa bộ. Phái này thừa nhận rằng A la hán tức là Phật và chủ trương nhờ tu hành mà chứng được quả A la hán như Phật không khác. Ba trăm năm sau Phật nhập diệt, tức vào khoảng từ 180 đến 80 năm trước Tây lịch, phái này lại chia thành hai bộ phái là Thượng tọa bộ gốc và Thuyết nhất thiết hữu bộ (gọi tắt là Hữu bộ). Thượng tọa bộ gốc rời đến núi Hi mã lạp nhã, nên gọi là Tuyết sơn bộ (Phạm: Haimavata, Pāli: Hemavatika). Thuyết nhất thiết hữu bộ lấy Ca thấp di la làm căn cứ địa, phát triển thành một thế lực mới. Từ Hữu bộ chia ra Độc tử bộ, rồi từ Độc tử bộ lại chia ra bốn bộ nữa là Pháp thượng, Hiền trụ, Chính lượng và Mật lâm sơn trụ. Kế đó, cũng trong ba trăm năm sau Phật nhập diệt, lại từ Hữu bộ chia ra Hóa địa bộ, rồi từ Hóa địa bộ lại chia ra Pháp tạng bộ; cho đến cuối ba trăm năm sau Phật nhập diệt, từ Hữu bộ lại chia ra Ẩm quang bộ (Thiện tuế bộ); bốn trăm năm sau Phật nhập diệt lại từ Hữu bộ chia ra Kinh lượng bộ (Thuyết chuyển bộ). Do đó, Hữu bộ gốc được gọi là Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ và, như thế, Thượng tọa bộ trước sau đã chia thành mười một bộ phái. Khác với Thượng tọa bộ gốc coi trọng Kinh và Luật, đặc trưng của Thuyết nhất thiết hữu bộ là coi trọng Luận bộ. Bộ này đã từng biên tập các bộ luận vĩ đại, như luận Đại tì bà sa, luận Phát trí, luận Lục túc v.v..., chủ trương ngã không pháp hữu, tam thế thực hữu, pháp thể hằng hữu, nhấn mạnh hết thảy sự vật tồn tại đều là thực tại, bởi thế mới được gọi là Thuyết nhất thiết hữu bộ. 2. Đại chúng bộ. Bộ phái này thừa nhận và sùng bái đức Phật như một người có nhân cách siêu việt, cho rằng nhục thân của Phật khác với người thường, người thường dù có tu hành mà chứng được quả A la hán chăng nữa, nhưng ở đời này không có cách nào sánh ngang với Phật được. Hai trăm năm sau Phật nhập diệt, Đại chúng bộ lại chia thành ba bộ nữa là Nhất thuyết, Thuyết xuất thế và Kê dận. Về sau lại chia ra hai bộ nữa là Đa văn, Thuyết giả. Kế tiếp, lại chia thành ba bộ Chế đa sơn, Tây sơn trụ và Bắc sơn trụ, cộng trước sau thành chín bộ phái. Cái phong khí canh tân của Đại chúng bộ rất thịnh, do lòng sùng kính đức Phật rất sâu, nên đã manh nha tư tưởng Đại thừa Phật giáo và mở rộng phạm vi thế lực.III. Bồ tát đoàn. Sau Tây lịch kỉ nguyên, Phật giáo Đại thừa xuất hiện và tồn tại song song với Phật giáo Bộ phái. Trước đó, đã có các tập đoàn do tín chúng tại gia tổ chức thành, cũng tức là Bồ tt đoàn. Bồ tát đoàn đã bắt đầu từ thời vua A dục tại thế (268 B.C. - 232 B.C.), tức lấy tháp Phật (Phạm: stùpa, tháp thờ di cốt của Phật) làm trung tâm đoàn kết mà lập thành, do lễ bái tháp Phật mà nảy sinh niềm tin kiên định đối với đức Phật, được pháp lạc tôn giáo sâu xa. Đối lại với Tăng già của các tỉ khưu, các nhóm tín chúng tại gia này tự xưng là Bồ tát đoàn (Phạm: bodhisattva – gaịa). Đoàn nguyên là tổ chức của các thương nhân, vì trong Bồ-tát đoàn gồm đa số là các nhà công thương nghiệp đô thị, cho nên dùng chữ đoàn để đặt tên. Đoàn thể tín ngưỡng tháp Phật ấy về sau phát triển thành giáo đoàn của Phật giáo Đại thừa. IV. Đại thừa Phật giáo. Bồ-tát đoàn tín ngưỡng tháp Phật, ngoài việc lễ bái tháp Phật ra, lại tiến thêm bước nữa mà biên tập kinh điển riêng của mình. Trước hết, vào khoảng Tây lịch kỉ nguyên, hoàn thành kinh Bát nhã, kế đến, kinh Pháp hoa, kinh Duy ma, kinh Hoa nghiêm, kinh Vô lượng thọ v.v... lần lượt do Bồ tát đoàn biên tập thành. Cái tinh thần đoàn kết đại đồng này trở thành tinh thần căn bản của Phật giáo Đại thừa. Lập trường tư tưởng của Phật giáo Đại thừa là không (Phạm:sùnyatà). Cái gọi là không nguyên là chỉ không có gì hoặc trạng thái không có gì, tức cho rằng trong thế giới hiện tượng này, không có bất cứ vật gì có thể nắm bắt được, vì thế, không có một vật gì có thể bảo là tồn tại đích thực. Cho nên, trong Bát nhã tâm kinh nói sắc tức là không, không tức là sắc, chính là lí ấy. Sắc (Phạm:rùpa), tức chỉ vật chất hữu hình, hàm ý là tất cả hiện tượng tồn tại. Trong kinh Pháp hoa, ngoài thuyết chủ trương Một Phật thừa ra, còn nêu lên tư tưởng Hai thừa thành Phật. Hai thừa là Thanh văn, Duyên giác, tức chỉ các tỉ khưu trong Giáo đoàn truyền thống. Hai thừa thành Phật, đại khái nói các tỉ khưu trong Giáo đoàn đều nên qui y đạo Bồ tát. Kinh Pháp hoa còn chủ trương Phật thực đã thành từ lâu xa rồi (tức chỉ thọ mệnh của Phật là vô lượng, Ngài đã tồn tại từ trước kia, lâu xa lắm rồi). Kinh Vô lượng thọ thì nói Đức Phật sống lâu vô lượng. Cả hai đều thuyết minh như nhau về căn bản của sự tồn tại, bắt nguồn từ sinh mệnh vĩnh viễn bất diệt, tức gọi là Phật. Cái không trong kinh Bát nhã thì nói theo lập trường triết học, còn cái không nói ở đây thì lại được nhận xét theo quan điểm tôn giáo. Kinh Duy ma dùng kết cấu hí kịch để nhấn mạnh tinh thần vĩ đại của Bồ tát, hơn lập trường tỉ khưu xa. Kinh Hoa nghiêm thì nêu lên thế giới quan Một tức hết thảy, hết thảy tức một. Trong đó, dù nói cách nào đi nữa cũng đều dùng danh từ Đại thừa mà khoáng trương nhân sinh quan và vũ trụ quan, đó là căn cứ lập luận của Hoa nghiêm. Ở thời kì sau của Phật giáo Đại thừa, đã có rất nhiều đại luận sư ra đời, và nhiều bộ luận lớn đã xuất hiện, phương diện mĩ thuật, kiến trúc cũng chịu nhiều ảnh hưởng. Không bao lâu, các bộ luận ấy được truyền đến Tây vực, Trung quốc, Nhật bản và sản sinh nền văn hóa đặc thù của Phật giáo Đại thừa. Thời kì sau của Phật giáo Đại thừa, vì chịu ảnh hưởng tính cách mật giáo của Ấn độ giáo và tín ngưỡng dân gian Ấn độ một cách mạnh mẽ, nên Phật giáo Đại thừa đã lộ rõ nét Mật giáo hóa, đến nỗi đi dần đến tình trạng suy đồi, rồi tiếp sau sự xâm nhập của Hồi giáo thì Phật giáo cũng theo đó mà diệt vong.1.Trung quán phái. Phật giáo Đại thừa ở thời kì giữa chia thành hai phái lớn là phái Trung quán (Phạm: Màdhyamika) và phái Du già. Phái Trung quán lấy Trung luận của ngài Long thụ làm căn bản để tuyên dương Bát nhã không quán. Lập trường tư tưởng của Trung luận là giác ngộ hết thảy sự tồn tại đều bắt nguồn từ tính duyên khởi (quan hệ hỗ tương y tồn), chẳng chủ trương không, cũng chẳng chủ trương có, mà chủ trương chính quán chân không trung đạo. Học trò của Long thụ là Đề bà (Phạm: Àryadeva) viết Bách luận để bác xích ngoại đạo và giáo nghĩa Tiểu thừa, La hầu la bạt đà la (Phạm: Ràhulabhadra) thì chú thích ý nghĩa Bát bất trong Trung luận. Đầu thời đại Vương triều Cấp đa thì có Trung luận bản tụng, chú thích do Phạm chí Thanh mục soạn, và Bách luận bản tụng, chú thích của Bà tẩu khai sĩ. Về sau, từ thế kỉ thứ IV đến thế kỉ thứ V, xuất hiện hệ thống của Phật hộ (Phạm:BuddhaPālita), gọi là Cụ duyên phái (Phạm:Pràsagika), hệ thống Thanh biện (Phạm:Bhàvaviveka), gọi là Y tự khởi phái (Phạm: Svàtantrika). Đó là hai hệ phái lớn từ phái Trung quán mà chia ra. Hai người này đều là học trò của ngài Tăng hộ (Phạm:Saôgharakwita), ngoài ra còn nghiên cứu học tập cái học của ngài Long thụ. Phật hộ chủ trương các pháp duyên khởi tất kính là không, Thanh biện thì chủ trương, nếu nhận xét từ phương diện Tục đế, thì các pháp duyên khởi đều không có tự tính, nhưng nếu đứng về phương diện Chân đế mà nhận xét, thì hết thảy pháp đều có bản tính tồn tại thường trụ. Khoảng thế kỉ thứ VII, trong hệ phái thuộc phái Cụ duyên của Phật hộ, có luận sư Nguyệt xứng (Phạm:Candrakìrti) xuất hiện, viết Trung luận chú, làm cho giáo nghĩa Trung luận thêm thịnh. 2. Du già phái. Lấy ngài Di lặc (Phạm: Maitreya, khoảng 270 - 350) làm vị thủy tổ của học phái. Tương truyền luận Du già sư địa (Phạm:Yogàcàra-bhùmi), Đại thừa trang nghiêm kinh luận tụng, Biện trung biên luận tụng, Hiện quán trang nghiêm luận v.v... là do Di lặc soạn. Lấy tư tưởng không trong kinh Bát nhã làm gốc, lấy Du già hành (sự tu hành điều hòa hơi thở, thu nhiếp tâm khiến tương ứng với chính lí) làm nền tảng mà kiến lập thuyết Duy thức (hết thảy sự tồn tại đều do tâm thức biến hiện, chủ trương chỉ có thức là thực tại), một mặt do chủ trương tự tính thanh tịnh mà có tư tưởng Như Lai tạng duyên khởi. Ngài Vô trước (Phạm: Asaga, khoảng 310 - 390) là tổ thứ hai của phái này, viết Hiển dương thánh giáo luận tụng, luận Nhiếp đại thừa (Phạm: Mahàyànasaôgraha) và luận Đại thừa a tì đạt ma tập (Phạm: Mahàyànàbhidharmasamuccaya) v.v... mà xác lập phái Du già. Em Vô trước là Thế thân (Phạm:Vasubandbu) viết Duy thức tam thập luận tụng (Phạm:Triôzikàkàrikà), Duy thức nhị thập luận tụng (Phạm:Viôzatikà-kàrikà), Nhiếp đại thừa luận thích v.v... tuyên dương thuyết Du già duy thức. Tư tưởng hệ Thế thân chia làm hai hệ thống lớn là Trần na (Phạm: Dignàga) và Đức tuệ (Phạm: Guịamati), Trần na cũng là nhà tập đại thành của luận lí học Ấn độ. Đến giữa thế kỉ thứ VII, Phật giáo cấp tốc Ấn độ giáo hóa mà sản sinh Mật giáo. Vì khoảng thế kỉ VII, người A lạp bá (Arab) thành lập nước Hồi giáo ở biên giới Ấn độ, áp bách người Ấn độ. Trước tình hình ấy, các vua chúa và nhân dân Ấn độ, do ý thức chống đối mà quay về tôn giáo dân tộc là Ấn độ giáo. Trong cái bối cảnh chính trị như vậy, Phật giáo cho rằng thỏa hiệp với Ấn độ giáo là phương pháp tốt nhất để bảo tồn bản thân Phật giáo, bèn dần dần dung hợp với Ấn độ giáo mà đi đến Mật giáo hóa Phật giáo. Đến cuối thế kỉ XII, tín đồ Hồi giáo tràn đến cứ địa trung tâm của Phật giáo (tức là một dải đất ở phía nam tiểu bang Bihar) thì Phật giáo đã hoàn toàn dung hợp vào Ấn độ giáo. Đồng thời, quân đội Hồi giáo xâm nhập luôn, triệt để phá hủy các chùa viện Phật giáo, tăng đồ hầu hết chạy trốn ra nước ngoài, đến đây, Phật giáo tại Ấn độ coi như đã tuyệt tích. (xt. Phật Giáo, Phật Giáo Giáo Lí).
ấn độ phật giáo mĩ thuật
2215釋尊在世期間,優填王曾以旃檀木雕製佛像,然此僅係傳聞而已,自現在之尼泊爾境內所發掘出土之舍利瓶,上有釋迦族奉祀之刻銘,為價值頗高之美術品,但佛教美術最著名之遺品,則以西元前三世紀之阿育王所建之石柱頭獸類雕刻為最古老。 西元後一世紀至熏迦、案達羅王朝時代之遺物有山琦(Sānchī)、巴赫特(Bharhut, Bharrhut)、菩提伽耶(Buddhagayā)等塔或塔之欄楯,此一時代,菩提樹、法輪、足跡、塔等皆為佛陀之表徵,然亦未直接表現出佛陀形像。題材除上述外,以佛陀本生故事及佛傳居多。二世紀時(即迦膩色迦王時代),表現西北印度佛教之犍陀羅(Gandhāra)美術(又稱希臘佛教美術)勃興,其題材以佛菩薩像及其他佛傳圖居多,塔之覆鉢部分高度增加。稍後,中央印度之秣菟羅(梵 Mathurā)及南印度之阿摩羅婆提(梵 Amarāvatī)亦盛行佛像之雕刻,西印度另有那西克(Nāsik)、迦利(Kārle)等窟院之挖掘。四世紀至七世紀前半,以笈多王朝(梵 Gupta)為中心之時代,其遺物有菩提伽耶之佛殿及鹿野苑(梵 Mṛgadāva)之達密克塔(Dhamekh)、祇園精舍(梵 Jeta-vana,巴同)遺蹟、那爛陀精舍(梵 Nālanda)遺蹟等。雕刻除釋尊像外,僅見觀音、彌勒、金剛手等菩薩遺品,手法幾近完成,形式也逐漸定型。窟院有阿旃多(Ajantā,創始於西元前)、伊羅拉(Ellora)、巴格赫(Bāgh)、甘赫瑞(Kāṇheri)等之挖掘,其中一部分還有壁畫。此期之美術對中國唐代藝術及爪哇等地美術都有影響。自八世紀至十世紀初期,以東印度波羅王朝為中心之時代,則有密教美術之興起,有那爛陀精舍遺蹟及其他千面千臂觀音、文殊、多羅等密教佛像出土,此外,造像量度經及造像法等專書亦隨之出現。其後,佛教衰滅,佛教美術也隨之衰亡。〔Hugo Munsterberg: Art of India and Southeast Asia, 1970;Owen C. Kail: Buddhist Cave Temples of India, 1975; David L. Snellgrove:The Image of the Buddha, 1978〕
; (印度佛教美術) Khi đức Thế tôn còn tại thế, vua Ưu điền đã dùng gỗ chiên đàn để tạc tượng Phật, nhưng đây chỉ nghe truyền thế thôi. Còn hiện nay đã tìm đào được bình đựng Xá lợi ở Nibạcnhĩ (Népal), trên có ghi dòng họ Thích ca phụng thờ, là mĩ thuật phẩm có nhiều giá trị, nhưng những di phẩm mĩ thuật Phật giáo nổi tiếng và xưa nhất thì phải kể đến những cột đá trên đầu cột có chạm các con thú do vua A dục kiến tạo vào thế kỉ thứ ba trước Tây lịch. Những di vật thế kỉ thứ nhất sau Tây lịch đến thời đại các Vương triều Huân ca, Án đạt la thì có tháp hoặc lan can của tháp. Sơn kì (Sànchì), Ba hách đặc (Bharhut, Bharrhut), Bồ đề già gia (Buddhagayà), thời đại này, cây bồ đề, bánh xe pháp, lốt chân, tháp v.v... đều là biểu trưng của Phật, nhưng chưa trực tiếp biểu hiện hình tượng của Phật. Ngoài các biểu trưng kể trên ra, đề tài phần nhiều là sự tích bản sinh (tiền thân) của đức Phật và Phật truyện. Thế kỉ thứ hai (tức thời đại vua Ca nị sắc ca), biểu hiện mĩ thuật Phật giáo Kiện đà la (Candhàra), (còn gọi là mĩ thuật Hi lạp Phật giáo) vùng tây bắc Ấn độ bột phát, phần nhiều lấy tượng Phật, Bồ tát và tranh vẽ truyện Phật làm đề tài, độ cao của bộ phận bát úp trên ngọn tháp cũng tăng thêm. Về sau không lâu, tại Mạt nâu la (Phạm: athurà) ở trung Ấn độ, và A ma la bà đề (Phạm:Amaràvatì) ở nam Ấn độ, mĩ thuật điêu khắc tượng Phật cũng thịnh hành, tây Ấn độ thì có các hang viện ở Na tây khắc (Nàsik), Ca lợi (Kàrle) v.v... Từ thế kỉ thứ tư đến nửa trước của thế kỉ thứ bảy, thời đại lấy Vương triều Cấp đa (Phạm:Gupta) làm trung tâm, những di vật ở thời kì này gồm có điện Phật ở Bồ đề già da và tháp Đạt mật khắc (Dhamekh) ở vườn Lộc dã (Phạm: Mfgadàva), di tích tịnh xá Kì viên (Phạm,Pāli:Jeta-vana), di tích tịnh xá Na lan đà (Phạm: Nàlanda). Ngoài các tượng chạm trổ của Phật ra, chỉ thấy di phẩm tượng của bồ tát Quan âm, Di lặc, Kim cương thủ, kĩ thuật gần hoàn toàn, hình thức cũng dần dần ổn định. Hang viện thì có các hang ở A chiên đa (Ajantà, khai sáng trước Tây lịch), Y la lạp (Ellora), Ba cách hách (Bàgh), Cam hách thụy (Kàịheri) v.v..., trong đó, một bộ phận tranh vẽ trên vách vẫn còn. Mĩ thuật thời kì này đối với nghệ thuật Trung quốc đời Đường và mĩ thuật Trảo oa (Java) đều có ảnh hưởng. Từ thế kỉ thứ tám đến đầu thế kỉ thứ mười, thời đại lấy Vương triều Ba la làm trung tâm, thì mĩ thuật ật giáo hưng khởi, có di tích Na lan đà và các tượng Quan âm nghìn mắt nghìn tay, Văn thù, Đa la của Mật giáo, ngoài ra, các kinh sách chuyên môn như kinh Tạo tượng lượng độ, Tạo tượng pháp v.v... cũng xuất hiện. Về sau, Phật giáo bị hoại diệt, mĩ thuật Phật giáo cũng theo đó mà suy vong. [X. Hugo Munsterberg: Art of India and Southeast Asia, 1970; Owen C. Kail: Buddhist Cave Temples of India, 1975; David L. Snellgrove: The Image of the Buddha, 1978].
ấn độ phật giáo nghi chế
2219佛陀成道後,於鹿野苑初轉法輪度化憍陳如等五比丘,此乃佛教僧團形成之嚆矢。於僧團中,佛陀為比丘訂定理想之生活方式,即以「四依法」為生活準則:(一)常行乞食,於每日午前行乞食一次以充腹。(二)著糞掃衣,於塚間、尸林、糞堆處拾得廢布而製成之衣。(三)依樹下坐。(四)用陳棄藥,陳棄藥,係指由排泄物製成之藥物,或指人所捨棄不用之各種藥材等;為比丘發病時所依用之藥物。佛教比丘依此四法而修行,則令人安於不貪愛、無執著之生活。 就四依法而言,則知當時僧團經濟分配,基本上以平等互利,共得共分為原則,所謂「利和同均」,即於僧團中無高下之別,一切平等分利。其後,佛陀度化耶輸伽童子後,應其父迎請供養及施衣,又接受頻婆娑羅王布施竹園,聽許居士建造講堂、僧房,布施田畝、果園等,故僧團經濟生活即由最初之乞食演變為受請、應供,由著糞掃衣,演為「受衣」等。 有關僧伽團體生活之規定,於犍度中有詳細說明,此係佛陀涅槃後,教團之長老將有關受戒、布薩、安居等僧團內之儀式作法,與日常生活之規定條文,加以分類整理而成者。其中,三種較重要儀式,即:(一)進具之作法,規定出家受具足戒法之儀式。(二)布薩之儀式,布薩即令同住之比丘於固定日期中,集會一處或齊集布薩堂(梵 uposathāgāra),禮請精熟律法之比丘,誦念全部之波羅提木叉(若遇八難等諸緣,則僅誦念其中一部分即可),以反省或於眾前懺悔過失,使比丘均能長住於淨戒中,長養善法,增長功德。(三)安居,印度每年夏季雨期長達三月之久,此三個月間,出家比丘禁止外出遊方而聚居一處以致力修行,稱為安居。此為避免雨季期間外出,踩殺地面之蟲類及草樹之新芽,而招引世譏,故於安居期間,制定布薩、自恣、迦絺那衣等儀式。 此外,於僧團中為防止僧伽惡行,而維持僧團秩序及發展,以期佛法久住,佛陀遂制戒設律。有關僧團制度之戒律,詳載於律藏中,然因部派之不同,律亦有五部之別,惟其基本精神,則不出十義,稱為結戒十義。據根本說一切有部毘奈耶卷一載,十義即:(一)攝取於僧,(二)令僧歡喜,(三)令僧樂住,(四)降伏破戒,(五)慚愧者得安,(六)不信令信,(七)信者增長,(八)斷現在有漏,(九)斷未來有漏,(十)令梵行得久住。又戒律依受持對象之不同而分為:比丘戒、比丘尼戒,沙彌、沙彌尼十戒、式叉摩那六法戒,優婆塞、優婆夷在家戒(三歸、五戒、八關齋戒)、菩薩戒等。〔四分律卷一、卷三十二、卷四十一、五分律卷一、摩訶僧祇律卷一、十誦律卷三十九、根本說一切有部目得迦卷七、卷九〕(參閱「布薩」1910、「安居」2398、「佛教教制」2683、「戒」2896、「受戒」3101)
; (印度佛教儀制) Sau khi đức Phật thành đạo, nói pháp lần đầu tiên tại vườn Lộc dã độ cho năm vị tỉ khưu Kiều trần như, đó là dấu hiệu báo trước sự hình thành Tăng đoàn Phật giáo. Trong Tăng đoàn, đức Phật đã định ra phương thức sinh hoạt lí tưởng cho các tỉ khưu, tức lấy Tứ y pháp làm chuẩn tắc sinh hoạt: 1. Thường hành khất thực, mỗi ngày, trước giờ ngọ, đi xin ăn một lần để nuôi thân.2. Trước phẩn tảo y, mặc áo may bằng những mảnh vải bị vứt bỏ nhặt được tại các nơi nghĩa địa, rừng xác và đống rác. 3. Y thụ hạ tọa, ngồi dựa gốc cây. 4. Dụng trần khí dược, trần khí dược, chỉ thuốc được chế bằng các vật đã bài tiết, hoặc chỉ các dược liệu người ta đã vứt bỏ, làm thuốc dùng mỗi khi tỉ khưu đau ốm. Tỉ khưu Phật giáo tu hành theo bốn pháp trên, khiến cuộc sinh hoạt yên vui, không tham ái, không chấp trước. Nhận xét qua Tứ y pháp, thì biết sự phân phối kinh tế trong Tăng đoàn lúc bấy giờ, căn bản lấy sự bình đẳng cùng có lợi, cùng được cùng chia làm nguyên tắc, cái gọi là lợi hòa đồng quân, tức là trong Tăng đoàn không phân biệt trên dưới, cao thấp, mà nhất loạt bình đẳng, chia lợi đồng đều. Về sau, sau khi đức Phật độ cho Da du già đồng tử, người cha của đồng tử bèn thỉnh Phật cúng dường và dâng y, đức Phật nhận lời, lại tiếp nhận sự cúng dường Trúc viên của vua Tần bà sa la, cho phép cư sĩ xây dựng nhà giảng, phòng tăng, dâng ruộng đất và vườn v.v..., bởi thế, sự sinh hoạt của Tăng đoàn lúc đầu đi xin ăn, nay diễn biến thành nhận lời thỉnh mời, nhận sự cúng dường, và từ việc mặc áo phẩn tảo diễn thành sự nhận áo, v.v... Về những qui định sinh hoạt đoàn thể trong Tăng già, trong Kiền độ có nói tường tận, tức sau khi đức Phật nhập Niết bàn, các vị Trưởng lão trong Giáo đoàn đem những nghi thức tác pháp về các việc thụ giới, bố tát, an cư trong Tăng đoàn và các qui định trong sự sinh hoạt hàng ngày mà phân loại, chỉnh lí. Trong đó, có ba thứ nghi thức tương đối trọng yếu là: 1.Tiến cụ tác pháp, là nghi thức qui định xuất gia thụ giới pháp Cụ túc. 2.Bố tát nghi thức, Bố tát là vào những ngày cố định, các tỉ khưu sống chung phải tập họp ở một nơi, hoặc họp tập ở nhà Bố tát (Phạm:uposathàgàra), lễ thỉnh vị tỉ khưu tinh thông luật pháp, tụng niệm toàn bộ Ba la đề mộc xoa (nếu trong hoàn cảnh gặp nạn thì chỉ tụng một bộ phận cũng được), để phản tỉnh hoặc có lỗi thì sám hối trước chúng tăng, khiến các tỉ khưu đều có thể ở trong tịnh giới, nuôi lớn pháp lành, tăng thêm công đức. 3.An cư, ở Ấn độ, hàng năm vào mùa hạ, trời mưa suốt ba tháng, Trong ba tháng ấy, tỉ khưu xuất gia, không được đi ra ngoài mà phải tập trung ở một nơi dốc sức tu hành, gọi là an cư. Sở dĩ như thế, là vì mùa mưa nếu đi ra ngoài sẽ dẫm đạp lên các loại côn trùng, những mầm non của cây cỏ mà bị người đời chê cười, cho nên, trong thời gian an cư, chế định các nghi thức Bố tát, Tự tứ và Ca hi na y v.v... Ngoài ra, để phòng ngừa những hành vi xấu ác có thể xảy ra trong Tăng đoàn, để duy trì trật tự và sự phát triển của Tăng đoàn khiến Phật pháp trường tồn, mà đức Phật đã chế giới, đặt luật. Về chế độ giới luật trong Tăng đoàn, đã được chép rõ trong tạng Luật, song vì các bộ phái bất đồng nên luật cũng có năm bộ khác nhau, duy tinh thần cơ bản thì không ngoài mười nghĩa, gọi là Kết giới thập nghĩa. Cứ theo Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da quyển 1 chép, thì mười nghĩa ấy là: 1. Nhiếp thủ trong tăng, 2. Khiến tăng vui mừng, 3. Khiến tăng ở vui, 4. Hàng phục phá giới, 5. Người biết hổ thẹn được yên, 6. Không tin thì khiến tin, 7. Tin rồi thì thêm lớn, 8. Dứt hữu lậu hiện tại, 9. Dứt hữu lậu vị lai, 10. Khiến Phạm hạnh lâu dài. Lại giới luật tùy theo các đối tượng thụ trì khác nhau mà chia thành: giới tỉ khưu, giới tỉ khưu ni, mười giới sa di, sa di ni, sáu pháp giới thức xoa ma na, giới ưu bà tắc, ưu bà di tại gia (Tam qui, Ngũ giới, Bát quan trai giới), giới Bồ tát v.v... [X. luật Tứ phần Q.1, Q.32, Q.41; luật Ngũ phần Q.1; luật Ma ha tăng kì Q.1; luật Thập tụng Q.39; Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ mục đắc ca Q.7, Q.9]. (xt. Bố Tát, An Cư, Phật Giáo Giáo Chế, Giới, Thụ Giới).
ấn độ triết học
2222印度稱哲學為「見解」(梵 darśana),其特色是不受自然科學所限,以探究一切萬物普遍之根本真理為主,且具有極濃厚之宗教色彩。於印度哲學史中,也有唯物論者及懷疑論者之產生,雖然如此,然僅限於一個時期,並且不帶有傳統色彩。印度各派哲學,除唯物論以外,其他皆主張從人生之痛苦中脫離出來,而進入一種永遠、普遍之世界,亦即為一種宗教實踐。 雅利安人於西元前十三世紀前後入侵印度,至西元前一千年成立梨俱吠陀(梵 ^g-veda)時代之宗教,於此期間,他們均過著定居之集體生活,信奉自然神、英雄神,及維持社會秩序之律法神。此外,天則(梵 ṛta)、禁制(梵 vrata)、達磨(梵 dharman,即後來的 dharma)等根本法則亦隨之產生。然在梨俱吠陀時代,無論對於自然、倫理、祭祀等之各種思想、活動,皆尚未歸類劃分,不論神的觀念或哲學之原理,亦皆未趨成熟。 至西元前一千年左右,雅利安人逐漸向東遷徙,占據耶牟那河(梵 Yamunā)與恆河間最肥沃之土地。戰爭平息後,其生活與文化急遽向上提昇而進入梵書(梵 Brāhmaṇa)時代。以被征服之民族為奴隸(梵 śūdra,首陀羅),自稱為地位最高之「祭司」,亦即所謂的婆羅門(梵 brāhmaṇa)。於奠定階級制度之同時,亦進行吠陀聖典之編集,此即婆羅門至上、祭祀萬能之時代。此一時期,由於古來的多神思想未能滿足當時之需,遂有最高統一神之探究,於是出現最高之創造神「造物主」(梵 Prajāpati),發展而產生一種梵(梵 Brahman)我(梵 ātman,阿特曼)之根本原理,或以「無」為一切之始的學說。 其次為森林書(梵 Āraṇyaka)時代、奧義書(梵 Upaniṣad)時代。奧義書時代乃為專門探究宇宙之本質「梵」,與個人之本質「我」之奧義書哲學之成立期。 西元前六世紀,為印度文化之轉變期。位居東方邊域之摩揭陀王國等國勃興,文化中心亦隨之東漸,新興都市建立,受自由思想家影響之新思想抬頭。此時期之特色在於對抗梵我的本質主義哲學,而感覺論、唯物論之傾向亦頗強烈,甚至含有懷疑、厭世、虛無之色彩。所謂「六師外道」即為此一思想之代表:(一)阿耆多,主張有地、水、火、風四元素,認為人皆由此四元素構成,身體破滅時亦隨之消滅。此係感覺之唯物論,為順世派之先驅。(二)散若夷,否定認識之客觀具有絕對準確之性質,而唱不可知論。(三)末伽梨,為邪命外道之代表者,認為生存者之構成要素有靈魂、地、水、火、風、虛空、得、失、苦、樂、生、死等十二種,而視之為實體。主張無因論,否定依業之輪迴。(四)婆浮陀,認為有地、水、火、風、苦、樂、命我等七種要素。(五)不蘭迦葉,主張道德之善惡不招生善惡果報,立無道德論。(六)尼乾陀若提子,即耆那教之教祖伐馱摩那(梵 Vardhamāna),別名摩訶毘羅(梵 Mahāvira,意譯大雄),係與佛陀同時代之人,曾將二三百年前左右之波斯(Pasa)教義加以修改,而立不殺生、不妄語、離不與取、不邪淫、無所得等五大誓。其世界觀係依運動之條件(梵 dharma)、靜止之條件(梵 adharma)、虛空(梵 ākāśa)、命我(梵 jīva)、素材(梵 pudgala)等五種有聚(梵 astikāya)所作之理論推衍。 佛教教祖釋迦牟尼亦在此時出現,其特色乃是中止形而上學及本質主義之推論方式,而從現實之中尋求解決之道(梵 dharma,法)。當時之耆那教與佛教逐漸發展成為大宗教,尤以佛教受到阿育王(268 B.C.~232 B.C.頃在位)之歸依與護持,遂得向東方各國急遽擴展。 孔雀王朝時代(317 B.C.~180 B.C.頃),佛教分為保守之上座部及革新之大眾部兩個部派,後來更發展成眾多部派。 從西元前一世紀至西元後二世紀頃,大乘佛教興起,許多大乘經典亦於此時成立。至此,以前之佛教稱為原始佛教與小乘佛教。所謂大乘佛教興起,乃是由民眾所推展的一種宗教改革運動,強調利他精神及菩薩行之實踐。此期之學派則推中觀派與瑜伽行派(唯識派)兩者勢力較大。中觀派之世界觀係以「空」思想為基礎,瑜伽行派則立「實有」之說,其思想主旨係針對現實之一種分析考察。 七世紀左右以來,佛教中受印度教所影響之密教大為盛行,而呈現一種墮落傾向。十三世紀初期,由於回教徒之征服,佛教遂從印度消失。其他各教,如耆那教則在一世紀時分裂為空衣派、白衣派,其後對印度文化之影響甚多,直至近代已趨衰微。其信徒以商人居多。在正統婆羅門系統中則有六派哲學:(一) 數論學派,開祖為迦毘羅(350 B.C.~250 B.C.頃),樹立純粹精神及根本原質之兩大原理。(二)瑜伽派,其形上學說與數論學派大致相同,唯瑜伽派主張有最高神。在實踐方面,本派強調精神之統一。(三)彌曼差學派,對吠陀聖典所規定的祭祀儀禮之實行及意義,以哲學立場加以研究。此派為耆米尼(200 B.C.~100 B.C.頃)所確立。(四)勝論學派,開祖羯那陀(150 B.C.~50 B.C.頃),闡明一切現象,確立實體、性質、運動、普遍、特殊、內屬等六項原理。(五)尼夜耶(正理)學派,開祖喬達摩(50~150 頃),又作足目。對於形上學之說法與勝論學派大致相同,較側重論理學方面之研究。(六)吠檀多學派,開祖為跋多羅衍那(100 B.C.~1 B.C.頃),於吠陀聖典中,特別以奧義書部分為根本,而集梵我哲學之大成。 婆羅門系思想(婆羅門教)與土著之民間信仰結合而成印度教。主神為毘濕奴及濕婆,以毘濕奴為最高神者稱為毘濕奴派,以濕婆為最高神者即稱濕婆派,此兩派勢力最大。大敘事詩「摩訶婆羅多」乃印度教信仰之傳承,自古以來即為一般印度人所喜愛吟誦,其中薄伽梵歌部分,為印度人敬之如聖典。就整個印度文化史而言,從婆羅門教至印度教之一系列思想潮流,乃印度思想史上之正統。 由於吠檀多哲學之發展,而有商羯羅(梵 Śaṇkara, 700~750 頃)之不二一元論、羅摩拏遮(梵 Rāmānuja, 1016~1091 頃)的制限不二說、寧巴爾迦(西元十四世紀)之不一不異說等思想出現。 表現近代思想特徵之印度近代思想家有:否定種姓制度(caste)之羅摩難陀(Rāmānanda,西元十四世紀末至十五世紀初,為羅摩拏遮派之修行僧)、否認宗教之區別而強調世俗生活意義之喀比爾(Kabīr, 1440~1518)、確立純粹一元論之婆爾羅巴(Vallabha, 1473?~1531)。其後復有那那克(Nānak, 1469~1538)逐漸肯定現實而樹立世俗教團,主張僧侶可以結婚,亦可與商業團體連繫,使商業上之利益與信仰功德結合。那那克又結合印度教及伊斯蘭教而創立錫克教(Sikhism)。 受西洋思想之刺激,印度逐漸產生社會改革運動,其顛峰時期有藍姆漢羅伊(Rām Mohan Roy, 1772~1833)在西元一八二八年設立梵教會(Brāhma-Samāj),主張崇拜唯一的梵,否認種姓階級歧視,認為寡婦可以再婚,鼓動英國總督起而禁止焚死寡婦之習俗。十九世紀之改革運動中,最有魄力的首推在西元一八七五年創立雅利安協會(ārya-Samāj)之戴雅南達沙羅斯婆地(Dayānanda Sarasvatī, 1824~1883)。繼之推展印度各宗教成為世界性活動者有:羅摩克利須那傳道會(The Ramakrishna Mission),羅摩克利須那(梵 Rāmakṛṣṇa, 1834~1886)富有神秘之靈感,且深受近代理性主義之影響,主張諸宗教一致平等,此一傳道會為維威卡難達(Vivekānanda, 1863~1902)所創立。其他類似者有印度服務教團、神智教會等。此外,由於佛教復興運動產生而有摩訶菩提會(The Mahābodhi Society)之創立,並與種姓制度廢止運動相結合。其後,印度獨立之父甘地(Gandhi, 1869~1948)、泰戈爾(Tagore, 1861~1941)、奧若賓都遘須(Aurobindo Ghosh, 1872~1950)、羅達克利須南(Radhakrishnan, 1888~1975)等人之思想,影響後代至鉅。
; (印度哲學) Ấn độ gọi triết học là kiến giải (Phạm: Darzana), đặc sắc của nó là không chịu sự giới hạn của khoa học tự nhiên, lấy việc tìm tòi chân lí căn bản của hết thảy muôn vật phổ biến làm chủ, và mang sắc thái tôn giáo rất đậm đà. Trong lịch sử triết học Ấn độ cũng có các nhà Duy vật luận, Hoài nghi luận, nhưng chỉ hạn trong một thời kì, và cũng không có sắc thái truyền thống. Các phái triết học Ấn độ, trừ Duy vật luận ra, các phái đều chủ trương thoát khỏi sự đau khổ của kiếp người mà tiến đến một loại thế giới vĩnh viễn, phổ biến, cũng tức là một loại tôn giáo thực tiễn. Người Nhã lợi an đã xâm nhập Ấn độ vào khoảng thế kỉ XIII trước Tây lịch, đến thế kỉ X trước Tây lịch thì thành lập tôn giáo thời đại Lê câu phệ đà (Phạm:Fg-veda), ở thời kì này, họ đã định cư sinh hoạt tập thể, tin thờ các thần tự nhiên, thần anh hùng và thần luật pháp duy trì trật tự xã hội. Ngoài ra, các pháp tắc căn bản như thiên tắc (Phạm: fta), cấm chế (Phạm: vrata), đạt ma (Phạm: dharman, tức sau này làdharma) v.v... cũng theo đó mà sản sinh. Song, vào thời đại Lê câu phệ đà, những tư tưởng và hoạt động đối với tự nhiên, luân lí, tế tự, đều vẫn chưa được qui hoạch và phân loại, quan niệm thần hoặc nguyên lí triết học, cũng đều chưa thành thục. Đến khoảng một nghìn năm trước Tây lịch, người Nhã lợi an dần dần đi về phía đông, chiếm cứ các vùng đất phì nhiêu nhất ở khoảng giữa hai con sông Da mâu na (Phạm: Yamunà) và sông Hằng. Sau khi chiến tranh chấm dứt, sinh hoạt và văn hóa của họ đã tiến vào thời đại Phạm thư (Phạm:Bràhmaịa). Họ bắt những dân tộc bị chinh phục làm nô lệ (Phạm:sùdra, Thủ đà la), họ tự nhận là Tư tế ở địa vị cao nhất, cũng tức là Bà la môn (Phạm: Bràhman). Đồng thời với chế độ giai cấp được đặt định, Thánh điển Phệ đà cũng được tiến hành biên tập, đây là thời đại Bà la môn tối thượng, tế tự vạn năng. Thời kì này, vì tư tưởng đa thần chưa thỏa mãn được yêu cầu thời đại, nên mới có sự tìm tòi một vị thần tối cao thống nhất, do đó, xuất hiện thần sáng tạo (tạo vật chủ, Phạm: Prajàpati) cao nhất, rồi dần dần phát triển mà sản sinh một thứ nguyên lí căn bản Phạm (Phạm: Brahman), Ngã (Phạm: àtman, a đặc mạn), hoặc là học thuyết lấy vô làm đầu hết thảy. Kế đến thời đại Sâm lâm thư (Phạm: Àraịyaka), thời đại Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad). Thời đại Áo nghĩa thư chuyên môn tìm tòi bản chất vũ trụ Phạm và bản chất cá nhân Ngã, là thời kì triết học Áo nghĩa thư được thành lập. Thế kỉ thứ sáu trước Tây lịch là thời kì chuyển biến trong triết học Ấn độ. Vương quốc Ma yết đà nằm về phía đông và các nước kế cận bột hưng, trung tâm văn hóa cũng theo đó mà dần dần chuyển di về đông, những đô thị mới được thiết lập, tư tưởng mới chịu ảnh hưởng của các nhà tự do tư tưởng cũng trỗi dậy. Cái đặc sắc của thời này là ở chỗ phản đối chủ nghĩa triết học bản chất Phạm - Ngã, và khuynh hướng cảm giác luận, duy vật luận cũng rất mạnh, thậm chí bao hàm sắc thái hoài nghi, yếm thế và hư vô. Cái gọi là Lục sư ngoại đạo tức đại biểu cho tư tưởng này: 1.A kì đa, chủ trương bốn nguyên tố đất, nước, lửa, gió, cho rằng con người đều do bốn nguyên tố này cấu tạo thành, khi thân thể rữa nát thì bốn nguyên tố ấy cũng tiêu diệt theo. Đây là Duy vật luận cảm giác, là tiền khu của phái Thuận thế. 2.Tán nhã di, phủ định nhận thức khách quan có tính chất chính xác tuyệt đối, mà đề xướng Bất khả tri luận. 3.Mạt già lê, đại biểu phái Tà mệnh ngoại đạo, thừa nhận có mười hai thứ yếu tố cấu tạo thành sinh tồn là linh hồn, đất, nước, lửa, gió, hư không, được, mất, khổ, vui, sống, chết, và coi đó là thực thể. Vô nhân luận, phủ định luân hồi theo nghiệp. 4.Bà phù đà, thừa nhận có bảy thứ yếu tố là đất, nước, lửa, gió, khổ, vui và mệnh ngã.5.Bất lan ca diếp, chủ trương đạo đức thiện ác không mang lại quả báo thiện ác, thành lập Vô đạo đức luận. 6.Ni kiền đà nhã đề tử, tức là Phạt đà ma na (Phạm:Vardhamàna), giáo tổ của Kì na giáo, biệt danh là Ma ha tì la (Phạm: Mahàvira, dịch ý là đại hùng), là người cùng thời đại với đức Phật, đã sửa đổi giáo nghĩa Ba tư (Pasa) khoảng hai nghìn ba trăm năm trước mà lập thành năm thệ nguyện lớn là: không giết hại, không nói dối, không trộm cướp, không tà dâm, không mưu cầu bất cứ vật gì. Thế giới quan của Kì na giáo dựa vào năm thứ hữu tụ (Phạm:astikàya) là: điều kiện vận động (Phạm: dharma), điều kiện chỉ tĩnh (Phạm: adharma), hư không (Phạm:àkàza), mệnh ngã (Phạm: jìva) và tố tài (Phạm:pudgala) để lí luận suy diễn. Giáo tổ Phật giáo là đức Thích ca mâu ni cũng xuất hiện vào thời kì này, cái đặc sắc của Ngài là không theo phương thức suy luận hình nhi thượng học và bản chất chủ nghĩa, mà từ ngay trong hiện thực tìm ra con đường (dharma, pháp) giải quyết. Kì na giáo và Phật giáo thời ấy dần dần phát triển thành hai tôn giáo lớn, nhất là Phật giáo, được sự hỗ trợ của vua A dục (ở ngôi khoảng từ 268 B.C. - 232 B.C.), bèn nhanh chóng truyền rộng đến các nước ở phương đông. Thời đại Vương triều Khổng tước (khoảng 317 B.C. - 180 B.C.), Phật giáo chia thành hai bộ phái là Thượng tọa bộ bảo thủ và Đại chúng bộ cách tân, về sau còn phát triển thành nhiều bộ phái nữa. Từ khoảng thế kỉ thứ I trước Tây lịch đến thế kỉ thứ II sau Tây lịch, Phật giáo Đại thừa hưng khởi, nhiều kinh điển Đại thừa cũng được thành lập vào thời kì này. Đến đây, Phật giáo trở về trước được gọi là Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Tiểu thừa. Cái gọi là Phật giáo Đại thừa hưng khởi, là do dân chúng khai triển một thứ vận động cải cách tôn giáo, nhấn mạnh tinh thần lợi tha và thực tiễn của hạnh Bồ tát. Các học phái ở thời kì này thì có phái Trung quán và phái Du già (phái Duy thức) và thế lực của cả hai tương đối đều lớn. Thế giới quan của phái Trung quán lấy tư tưởng Không làm cơ sở, phái Du già thì lập thuyết thực hữu, chủ ý tư tưởng của phái này là nhắm tới một phương thức khảo sát phân tích hiện thực. Khoảng thế kỉ thứ VII trở đi, Mật giáo trong Phật giáo đã chịu ảnh hưởng của Ấn độ giáo mà được thịnh hành, nhưng đồng thời, cũng đã phơi bày cái khuynh hướng trụy lạc. Đến thời kì đầu thế kỉ XIII, do tín đồ Hồi giáo chinh phục, Phật giáo bị tiêu diệt ở Ấn độ. Còn các giáo khác, như Kì na giáo, trong vòng một thế kỉ, đã chia thành phái Không y và phái Bạch y, về sau có rất nhiều ảnh hưởng đối với văn hóa Ấn độ, mãi đến thời gần đây mới suy vi. Tín đồ phái này phần nhiều là các thương gia. Trong hệ thống chính thống của Bà la môn thì có sáu phái triết học: 1.Số luận học phái, thủy tổ là Ca tì la (350 B.C. - 250 B.C.), thành lập hai nguyên lí lớn là tinh thần thuần túy và nguyên chất căn bản. 2.Du già phái, thuyết hình thượng học của phái này và phái Số luận đại trí tương đồng, duy phái Du già chủ trương có thần tối cao; về phương diện thực tiễn, phái này nhấn mạnh tinh thần thống nhất. 3.Di mạn sai học phái, đứng trên lập trường triết học mà nghiên cứu ý nghĩa và sự thực hành các nghi lễ tế tự được qui định trong Thánh điển Phệ đà. Phái này do Kì mễ ni (khoảng 200 B.C. - 100 B.C.) xác lập. 4.Thắng luận học phái, thủy tổ là Yết na đà (khoảng 150 B.C. - 50 B.C.), xiển minh hết thảy hiện tượng, xác lập sáu nguyên lí thực thể, tính chất, vận động, phổ biến, đặc thù và nội thuộc. 5.Ni dạ da (chính lí) học phái, thủy tổ là Kiều đạt ma (khoảng 50 - 150), còn gọi là Túc mục. Quan điểm của phái này về hình thượng học với Thắng luận học phái, đại trí tương đồng, nhưng nghiêng về phương diện nghiên cứu luận lí học nhiều hơn. 6.Phệ đàn-đa học phái, thủy tổ là Bạt đa la diễn na (khoảng 100 B.C. - 1 B.C.), trong Thánh điển Phệ đà, đặc biệt lấy bộ phận Áo nghĩa thư làm căn bản mà tập đại thành triết học Phạm - Ngã. Tư tưởng hệ Bà la môn (Bà la môn giáo) kết hợp với tín ngưỡng dân gian mà thành Ấn độ giáo. Thần chủ yếu là Tì thấp nô và Thấp bà, những người lấy Tì thấp nô làm thần tối cao thì gọi là Tì thấp nô phái, thế lực hai phái này đều rất lớn. Đại tự sự thi Ma ha bà la đa là truyền thừa của tín ngưỡng Ấn độ giáo, từ xưa đến nay, hầu hết người Ấn độ đều thích ngâm tụng, trong đó, phần các bài ca Bạc già phạm, được người Ấn tôn kính như kinh Thánh. Đứng về mặt toàn thể văn hóa sử Ấn độ mà nói, thì trào lưu tư tưởng hệ từ Bà la môn giáo đến Ấn độ giáo là lịch sử tư tưởng chính thống của Ấn độ. Do sự phát triển của triết học Phệ đàn đa mà xuất hiện các luồng tư tưởng như Bất nhị nhất nguyên luận của Thương yết la (Phạm: Zaịkara, khoảng 700 - 750), thuyết Chế hạn bất nhị của La ma noa già (Phạm:Ràmànuja, khoảng 1016 - 1091), và thuyết Bất nhất bất dị của Ninh ba nhĩ ca (thế kỉ XIV). Các nhà tư tưởng Ấn độ cận đại biểu hiện đặc trưng của tư tưởng Ấn độ cận đại thì có La ma nan đà (Ràmànanda, cuối thế kỉ XIV đến đầu thế kỉ XV, là nhà tu hành thuộc phái La ma noa già), phủ định chế độ Chủng tính (caste), Khách tỉ nhĩ (Kabìr, 1440 - 1518), phủ nhận sự phân biệt tôn giáo, nhấn mạnh ý nghĩa sinh hoạt thế tục, Bà nhĩ la ba (Vallabha, 1473? - 1531), xác lập nhất nguyên luận thuần túy. Về sau còn có Na na khắc (Nànak, 1469 - 1538), dần dần khẳng định hiện thực, lập nên giáo đoàn thế tục, chủ trương tăng lữ được phép kết hôn, và được phép liên hiệp với đoàn thể thương nghiệp, kết hợp lợi ích thương nghiệp với công đức tín ngưỡng. Na na khắc lại kết hợp Ấn độ giáo và Y tư lan giáo mà sáng lập ra Khắc tích giáo (Sikhism). Do sự kích thích của tư tưởng Tây phương, Ấn độ dần dần sản sinh các cuộc vận động cải cách xã hội, ở thời kì tiên phong, có Lam mỗ hán la y (Ràm Mohan Roy, 1772 - 1833) lập Phạm giáo hội (Bràhma-Samàj) vào năm 1828, chủ trương sùng bái Phạm duy nhất, phủ nhận sự kì thị chủng tính giai cấp, cho quả phụ được phép tái giá, vận động Tổng đốc nước Anh cấm chỉ tập tục đốt sống quả phụ. Trong các cuộc vận động cải cách ở thế kỉ XIX, thì Nhã lợi an hiệp hội (Àrya –Samàj) do Đái nhã nam đạt sa la tư bà địa (Dayànanda Sarasvatì, 1824 - 1883) sáng lập vào năm 1875 có thế lực mạnh nhất. Người tiếp theo đã phát triển các tôn giáo Ấn độ thành sinh hoạt có tính quốc tế là Duy uy tạp nan đạt (Vivekànanda, 1863 - 1902), ông đã sáng lập La ma khắc lợi tu na truyền đạo hội (The Ràmakfwịa Mission), La ma khắc lợi tu na (Phạm: Ràmkfwịa, 1834 - 1886) rất giầu linh cảm thần bí, và chịu ảnh hưởng rất sâu của chủ nghĩa lí tính cận đại, chủ trương các tôn giáo nhất trí bình đẳng. Các tổ chức tương tự khác nữa là Ấn độ phục vụ giáo đoàn, Thần trí giáo hội v.v... Ngoài ra, do có cuộc vận động phục hưng Phật giáo mà hội Ma ha bồ đề (The Mahàbodhi Society) được thành lập, cùng kết hợp với cuộc vận động hủy bỏ chế độ chủng tính. Về sau, tư tưởng của cha đẻ nền độc lập Ấn độ là Cam địa (Gandhi, 1869 - 1948), của Thái qua nhĩ (Tagore, 1861 - 1941), của Áo nhã tân đô cấu tu (Aurobindo Ghosh, 1872 - 1950) và của La đạt khắc lợi tu nam (Radhakrishnan, 1888 - 1975) v.v... ảnh hưởng đến đời sau rất lớn.
ấn độ tạng chí
2227乃日本平田篤胤所撰。本書原預定編成二十五卷至三十卷,然尚未完成。今僅存一至八卷,及二十一、二十二、二十三等三卷,共計十一卷。本書係就印度之風俗、佛教之教理及其歷史加以考證論述。其中,初三卷題為印度國俗品,以大唐西域記為基礎,並參考諸經論,詳述四吠陀之大綱,及九十五種外道之教義要領。四至八卷題為大千世界品,依長阿含世記經等諸經之說,而敘述佛教之世界觀,主要為記述須彌四洲之事。二十一、二十二、二十三等三卷題為印度傳通品,依據異部宗輪論、大唐西域記等陳述部派時代佛教之趨勢。除上述所說之外,本書亦有述及由我國傳入日本之佛教,分為數種宗派之原由。 本書約作於文政九年(1826)左右,卷首附有永平寺禹鄰叟、鎮德寺覺巖寫於天保十一年(1840)之漢文序。節錄本書之書籍,有篤胤之門人矢野玄道所作之印度藏志略前集二卷,明治二十一年(1888)出版。
; (印度藏志) Do Bình điền đốc dận, người Nhật bản soạn. Sách này vốn dự định biên thành hai mưoi lăm đến ba mươi quyển nhưng vẫn chưa hoàn thành. Nay chỉ còn quyển một đến quyển tám và ba quyển hai mươi mốt, hai mươi hai, hai mươi ba, cộng là mười một quyển. Nội dung bộ sách là khảo chứng và tường thuật về phong tục Ấn độ, giáo lí và lịch sử Phật giáo. Trong đó, ba quyển đầu đề là Ấn độ quốc tục phẩm, lấy Đại đường tây vực kí làm cơ sở, rồi tham khảo các kinh luận, tường thuật đại cương bốn Phệ đà, và các giáo nghĩa chủ yếu của chín mươi lăm thứ ngoại đạo. Quyển bốn đến quyển tám đề là Đại thiên thế giới phẩm, dựa vào thuyết trong kinh Thế kí và các kinh Trường a hàm mà trình bày Về thế giới quan Phật giáo, chủ yếu tường thuật bốn châu Tu di. Ba quyển hai mốt, hai hai và hăm ba đề là Ấn độ thông phẩm, căn cứ theo luận Dị bộ tông luân, Đại đường tây vực kí mà trình bày cái xu thế của Phật giáo vào thời đại bộ phái. Ngoài các tiết mục kể trên đây, bộ sách cũng nói đến Phật giáo từ Trung quốc truyền vào Nhật bản, và nguyên do chia thành các tông phái. Sách này được soạn vào khoảng năm Văn chính thứ 9 (1826), quyển đầu có Vũ lân tẩu chùa Vĩnh bình, Giác nham chùa Trấn đức, viết bài tựa bằng chữ Hán vào năm Thiên bảo 11 (1840). Môn nhân của Đốc dận là Thỉ dã huyền đạo có sao chép một số tiết mục trong sách này, gọi là Ấn độ tạng chí lược tiền tập 2 quyển và xuất bản năm Minh trị 21 (1888).
ấn độ văn hoá nghiên cứu sở
2213為研究印度學術之機構。初名「印度研究所」,隸屬於中華學術院,所址設於中國文化大學。其成立之宗旨,在培養印度佛學及印度社會文化方面之專門人才,以促進中印文化之交流。民國五十七年(1968)八月,首屆國際華學會議於華岡召開,與會之印度學者建議由創辦人張其昀設立,翌年成立籌備處,聘請羅家倫任理事長。六十二年三月一日正式成立,邀請國內專研印度文化、宗教之學者為研究委員,從事研究工作。歷任所長有沈錡、吳俊才、陳民耿、王漢中等。六十九年五月,張其昀禮請佛光山星雲大師出長該所,同年八月展開招生工作,作育志於研習印度宗教、文化之專門人才。師資、設備完善,七十一年由中國文化大學以「印度文化研究所」之名,向教育部申請立案,翌年獲准。
Ấn 印
[ja] イン in ||| (1) A seal, a stamp. (2) A mark, an indication, a trace. (3) In Buddhism, the stamp of approval received from a recognized master which admits the student to be in possession of a level of enlightenment sufficient to be a qualified teacher in his/her own right. (4) An abbreviation of the term mūdra. See 印相. - Có các nghĩa sau: - =>1. Dấu ấn, con dấu - 2. Dấu, sự biểu thị, vết tích. - 3. Trong Phật giáo, ấn chứng là sự công nhận của một bậc thầy đã chứng ngộ đối với đệ tử đã có được mức độ giác ngộ thích đáng, trở nên một vị tăng có đủ khả năng làm thầy. - 4. Viết tắt của từ mūdra. Xem Ấn tướng印相.
ấp úng
To mumble—To speak indistinctly.
ấu
1) Young. 2) Water caltrop.
ấu học
Elementary education.
ấu nhi
Baby—Infant.
ấu nhật vương
Xem Tân Nhật vương.
ấu thời
Childhood.
ấu trĩ
Childish—Inexperienced.
ẩm
1) Ẩm ướt: Moisture. 2) Cho trâu bò uống nước: To water cattle. 3) Nuốt: To swallow. 4) Uống: To drink.
ẩm huyết địa ngục
Địa ngục nơi mà tội nhân phải uống máu—The hell where sufferers have to drink blood.
ẩm quang
5705 請參閱 俱舍論頌釋疏 <一>梵名 Kāśyapa(音譯迦葉波,略譯迦葉)之意譯。佛及佛弟子中均有以此爲名者。(參閱「迦葉」3969) <二>(1718~1804)日本真言宗正法律之祖。大阪人。通稱慈雲尊者,號葛城山人、百不知童子。出家後遊學於京都、奈良。所學極廣,凡顯、密、悉曇、禪、律,或神道等,皆勤加修學。以釋迦在世時之正法來發願,而特倡正法律。後移居河內(大阪府)葛城山高貴寺,並以該寺爲正法律之本山。著有方服圖儀、南海寄歸傳角纜鈔、十善法語、慈雲尊者全集十九卷。另有梵學津梁一千卷,乃一部有關悉曇學之大著作。文化元年入寂,享年八十七。世人亦尊爲雲傳神道之創始者。〔慈雲尊者略傳、續日本高僧傳一卷〕
; Nuốt ánh sáng, tên của ngài Ca Diếp, một trong mười vị đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca. Ông đắc quả A La Hán 3 năm 8 ngày sau ngày Thái tử Tất Đạt Đa thành Phật. Ông mang tên Ẩm Quang có lẽ là vì thân hình chói sáng của ông—Drinking light, name of Kasyapa, one of the ten great disciples of Sakyamuni Buddha. He became an arhat 3 years 8 days after Siddhartha became a Buddha. He possibly got this title because of his radiant body. ** For more information, please see Ca Diếp in Vietnamese-English Section, and Kasyapa in Sanskrit/Pali-Vietnamse Section.
; (飲光) I. Ẩm quang. Phạm: Kàzyapa (phiên âm là Ca diệp ba, nói tắt là Ca diệp), dịch ý là Ẩm quang, Phật và các đệ tử của Phật đều có vị lấy danh từ này làm tên gọi. (xt. Ca Diếp). II. Ẩm quang (1718 - 1804), là Tổ của tông Chân ngôn chính pháp luật Nhật bản. Người Đại phản (Osaka). Thường gọi là Từ vân tôn giả, hiệu Cát thành sơn nhân, Bách bất tri đồng tử. Sau khi xuất gia, sư đến học tại Kinh đô Kyoto, Nại lương (Nara). Học rất rộng, phàm Hiển, Mật, Tất đàm, Thiền, Luật, Thần đạo v.v... đều ra sức tu học. Lấy Chính pháp của đức Phật khi còn tại thế làm bản nguyện mà đề xướng Chính pháp luật. Sau rời đến ở chùa Cao quí, núi Cát thành (phủ Đại phản) tỉnh Hà nội, và lấy ngôi chùa ấy làm núi chính của Chính pháp luật. Trước tác gồm có: Phương phục đồ nghi, Nam hải kí qui truyện dốc lãm sao, Thập thiện pháp ngữ, Từ vân tôn giả toàn tập, 19 quyển. Ngoài ra, còn có Phạm học tân lương một nghìn quyển, là một bộ đại trước tác có liên quan đến Tất đàm học. Niên hiệu Văn hóa năm đầu sư tịch, hưởng thọ tám mươi bảy tuổi. Người đời cũng tôn sư làm vị tổ khai sáng của Vân truyền Thần đạo. [X. Từ vân tôn giả lược truyện; Tục Nhật bản cao tăng truyện Q.1].
Ẩm Quang Bộ
(s: Kāśyapīya, 飲光部): âm dịch là Ca Diếp Di Bộ (迦葉遺部), Ca Diếp Duy Bộ (迦葉維部), còn gọi là Ẩm Quang Đệ Tử Bộ (飲光弟子部), Thiện Tuế Bộ (善歳部), là một trong 20 bộ phái của Phật Giáo Tiểu Thừa. Khoảng 300 năm sau khi đức Phật nhập diệt, bộ phái này tách riêng ra từ Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (s: Sarvāstivādin, 說一切有部) và tổ sáng lập là Ca Diếp Ba (s: Kāśyapa, 迦葉波). Theo truyện cho biết, ngày xưa có một vị tiên nhân, thân có ánh sáng chói lọi, có thể uống các thứ ánh sáng, làm cho không hiện hình, cho nên có tên là Ẩm Quang Tiên Nhân (飲光仙人, Tiên Nhân Uống Ánh Sáng). Bộ phái này chủ trương rằng tất cảc các hành đều diệt trong khoảnh khắc của sát na; cho rằng phiền não chưa đoạn, nghiệp quả chưa chín muồi, tức quá khứ có hình thể; cho nên nếu đã chặt đứt hết phiền não, nghiệp quả đã thật sự chín muồi thì hình thể quá khứ không còn nữa. Luật truyền thừa của họ là Giải Thoát Giới Kinh (解脫戒經).
ẩm quang bộ
5705梵名 Kāśyapīya。音譯作迦葉遺部、迦葉維部。又稱飲光弟子部、善歲部。乃小乘二十部之一,亦爲五部律之一。係佛陀入滅三百年頃,自說一切有部中分裂出者。此部派之祖爲迦葉波,乃上古飲光仙人種,故以飲光爲姓。據傳,上古有一仙人,其身有金光,能飲諸光,令不復現,故稱飲光仙人。此部派之教義,類於有部及法藏部,主張一切諸行必滅於剎那之間。謂煩惱未斷,業果未熟,即是過去有體;若煩惱已斷或業果已熟,過去其體即無。所傳之律爲解脫戒經,然其廣律未曾傳來我國。〔舍利弗問經、異部宗輪論述記卷上、出三藏記集卷三〕(參閱「上座部」719)
; Kāśyapiyaḥ (S), Suvarsaka (P).Tên một tông phái. Xem Ca Diếp Tỳ bộ.
; Kàsyapìya (S). Ca diếp di bộ name of a sect.
; (飲光部) Phạm: Kàzyapìya. Dịch âm là Ca diếp di bộ, Ca diếp duy bộ. Còn gọi là Ẩm quang đệ tử bộ, Thiện tuế bộ. Là một trong hai mươi bộ Tiểu thừa, cũng là một trong năm bộ luật. Khoảng ba trăm năm sau Phật nhập diệt, từ trong Thuyết nhất thiết hữu bộ mà phân hóa ra. Tổ của bộ phái này là ngài Ca diếp ba, thuộc dòng Ẩm quang tiên nhân đời thượng cổ, nên lấy Ẩm quang làm họ. Cứ theo truyền thuyết, đời thượng cổ có người tiên, thân hình có ánh sáng vàng, hay uống hút các ánh sáng khác không cho hiện lại, bởi thế gọi là Ẩm quang tiên nhân (người tiên uống ánh sáng). Giáo nghĩa của bộ phái này tương tự giáo nghĩa của Hữu bộ và Pháp tạng bộ, chủ trương tất cả các hành đều diệt trong khoảng sát na. Nghĩa là phiền não chưa diệt, nghiệp quả chưa chín, thì tức quá khứ có thực thể; nếu phiền não đã diệt, hoặc nghiệp quả đã chín, thì thực thể quá khứ tức không. Luật của bộ phái này là kinh Giải thoát giới, nhưng quảng luật của luật này chưa được truyền đến Trung quốc [X. kinh Xá lợi-phất vấn; Dị bộ tông luân luận thuật kí Q.thượng; Xuất tam tạng kí tập Q.3]. (xt. Thượng Tọa Bộ).
ẩm thấp
Humid—Damp.
ẩm thực
5706飲料食物。欲界之有情必依飲食資身。謂以香、味、觸三法爲體,入於口腹而能資益諸根者。佛地經論卷一(大二六‧二九五上):「能任持身,令不斷壞,長養善法,故名爲食。」飲食之種類有:飯、麥豆、麨、肉、餅等五噉食,與根、莖、葉、花、果等五嚼食。佛制以日午爲法食之正時。摩訶僧祇律謂,午時日影過一髮一瞬,即是非時。又據摩德勒伽論載,若得食時,口口作念,凡限食三匙爲一口,第一匙默云「願斷一切惡」,第二匙云「願修一切善」,第三匙云「所修善根迴向眾生,普共成佛」。〔梵摩難國王經、南海寄歸內法傳卷一〕
; Thức uống và thức ăn là hai món mà cho chúng sanh dựa vào để sống; ẩm thực dục hay thực dục là một trong tam dục; cúng dường thực phẩm là một trong năm món bố thí—Eating and drinking—Drink and food, two things on which sentient beings depend; desire for them is one of the three passions; offerings of them are one of the five forms of offerings. ** For more information, please see Tam Dục, and Ngũ Chủng Bố Thí in Vietnamese- English Section.
; (飲食) Thức uống vật ăn. Hữu tình ở Dục giới phải nhờ ăn uống để nuôi thân. Tức là lấy ba pháp hương, vị, xúc làm thể, ăn vào miệng, bụng mà có thể nuôi lớn các căn. Phật địa kinh luận quyển 1 (Đại 26, 295 thượng), nói: Hay nuôi giữ thân, không khiến hoại dứt, tăng trưởng pháp lành, nên gọi là ăn. Các thức ăn uống thì có năm loại đạm thực (ăn nhai) là: cơm, đậu mạch, miến, thịt, bánh, và năm loại tước thực (ăn nhấm) là củ, cây, lá, hoa và quả. Phật chế giờ ngọ trong ngày là chính giờ pháp thực. Luật Ma ha tăng kì bảo, mặt trời xế qua giờ ngọ bằng một sợi tóc, một chớp mắt, tức là phi thời. Lại cứ theo luận Ma đắc lặc già chép, nếu giờ được ăn, thì mỗi miếng đều phải tưởng niệm, phàm khi ăn, hạn cứ ba thìa (muỗng) là một miếng; thìa thứ nhất tưởng niệm nguyện dứt tất cả điều ác, thìa thứ hai tưởng niệm nguyện tu tất cả điều thiện, thìa thứ ba nguyện hồi hướng cho tất cả chúng sinh những căn lành đã tu được và tất cả đều thành Phật. [X. kinh Phạm ma nan quốc vương; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1].
ẩm tửu
Uống rượu bị cấm trong giới thứ năm của ngũ giới căn bản, và giới thứ hai của 48 giới khinh trong Kinh Phạm Võng—To drink wine or alcoholic liquor, forbidden by the fifth of the five basic commandments, and the second of the 48 lighter precepts in the Brahma Net Sutra. ** For more information, please see Ngũ Giới, and Bốn Mươi Tám Giới Khinh in Vietnamese-English Section.
ẩm tửu giới
5706梵語 madya-pāna-virati。爲五戒之一,梵網四十八輕戒之一。酒乃迷亂起罪之根本,故大小二乘、道俗七眾俱禁之。依四分律卷十六所載,佛陀於支陀國時,沙伽陀詣拘睒彌主之家受飲食,主人奉以黑酒,既飲而還,於歸途倒地嘔吐。佛即知之,遂制比丘飲酒之戒,若違禁者,犯波逸提。佛更爲說飲酒之十過,即顏色惡、少力、眼視不明、現瞋恚之相、壞田業資之法、增致疾病、益鬥訟、惡名流布、智慧減少、死墮三惡道等,稱爲飲酒十過。 長阿含卷十一阿㝹夷經亦列舉飲酒之六種過失,即失財、生病、鬥訟、惡名流布、生恚怒、智慧日損等。大智度論卷十三更詳舉飲酒三十五種過失。又大方便佛報恩經卷六謂,飲酒易犯其他諸罪,昔有優婆塞,以飲酒故,邪淫他婦,盜殺他雞,更妄言無作。以酒亂性故,一時五戒俱犯。俱舍論卷十四(大二九‧七七中):「諸飲酒者,心多縱逸,不能守護諸餘律儀,故爲護餘,令離飲酒。」〔梵網菩薩戒本疏卷三、俱舍論光記卷十四、大乘義章卷七、大明三藏法數卷四十三〕
; (飲酒戒) Phạm: Madya-pàna-virati. Là một trong năm giới, một trong bốn mươi tám giới nhẹ trong kinh Phạm võng. Rượu là gốc của sự mê loạn, gây nên tội ác, cho nên, Đại thừa, Tiểu thừa, bảy chúng tăng, tục đều bị cấm. Theo luật Tứ phần quyển 16 chép, khi đức Phật ở nước Chiđà, Sa giàđà đến một gia đình ở Câu diệm di ăn uống, chủ nhà đem rượu đen dâng cúng, ăn uống xong trở về, trên đường về, lảo đảo nôn ọe. Đức Phật biết chuyện, bèn chế giới cấm tỉ khưu uống rượu, nếu không tuân thì phạm tội Badậtđề. Phật lại nhân đó, nói uống rượu có mười lỗi, tức sắc diện xấu xí, đi lảo đảo, mắt lờ đờ, hay cáu giận, tốn tiền của, sinh bệnh tật, thích cãi nhau, người chê cười, trí tuệ kém, khi chết rơi vào ba ngả ác, gọi là Ẩm tửu thập quá. Trường a hàm quyển 11 kinh A nâu di, cũng nêu lên sáu thứ lỗi của sự uống rượu, tức mất của, sinh bệnh, tranh cãi, mang tiếng xấu, hay tức giận, trí tuệ giảm dần. Luận Đại trí độ quyển 13, còn nói chi tiết hơn mà nêu lên những ba mươi lăm thứ lỗi về uống rượu. Lại kinh Đại phương tiện Phật báo ân quyển 6 bảo, uống rượu dễ phạm các tội ác khác. Ngày xưa có một Ưu bà tắc, vì uống rượu mà gian dâm với vợ người ta, ăn cắp và giết gà người ta, rồi lại chối (nói dối) là không làm. Vì uống rượu làm loạn tính nên một lúc phạm cả năm giới. Luận Câu xá quyển 14 (Đại 29, 77 trung), nói: Những kẻ uống rượu, tâm thường dông dỡ, không giữ được các luật nghi khác, vì thế, để giữ các luật nghi khác mà xa lìa sự uống rượu. [X. Phạm võng bồ tát giới bản sớ Q.3; Câu xá luận quang kí Q.14; Đại thừa nghĩa chương Q.7; Đại minh tam tạng pháp số Q.43].
ẩn
To hide, lie in hiding; conceal; obscure, esoteric; retired.
; 1) Ẩn dật: To hide—To live retired. 2) Mật: Esoteric—Obscure.
ẩn chương
6535「顯說」之對稱。日本淨土真宗用以解釋觀無量壽經所設判目之一。即彰顯經中隱於文字言句中之真義。以此說明彌陀之本願為他力念佛之實義。
; (隱彰) Đối lại với Hiển thuyết. Là từ ngữ do Tịnh độ chân tông của Nhật bản dùng để giải thích kinh Quán vô lượng thọ. Tức làm cho rõ nghĩa chân thực nằm ẩn dấu trong các câu văn của kinh. Đây thuyết minh rõ nghĩa chân thực của bản nguyện Di đà là tha lực niệm Phật.
ẩn cư
Aranyaka (S). A lan nhã, nhàn cư To live in retirement, hermitage.
; To dwell in seclusion ( in retirement).
ẩn danh
To reserve one's anonymity, to preserve one's incognito.
; To conceal one's name.
ẩn dật
To hide from the world; to seclude oneself from society.
; Living in isolation—Seclude oneself from society—To retire from the world—To live in seclusion.
ẩn dụ
Metaphorical, figurative.
; Opammam (p)—Aupamya (skt)—Metaphor—Simile.
ẩn hiển tứ cú
6535為「存壞四句」之對稱。華嚴宗三祖法藏於華嚴五教章卷一,將別教一乘該攝門之下分為不異、不一等二門,不異門之下又分三即一、一即三等二項目。復於「三即一」之下作四句分別,以論三乘之存壞,稱為存壞四句;於「一即三」之下亦作四句分別,以論一乘之隱顯,稱為隱顯四句。然關於一乘隱顯之四句,法藏並未直接舉示其語句,而僅謂以存壞四句反推之。 所謂以存壞四句反推之隱顯四句,即:(一)由即三故不待隱,(二)由即三故不礙顯(三)由即三故無不隱,(四)由即三故無可顯。於初二句中,以一即三之故,一乘之相宛然;於後二句中,以一即三之故,一乘之相隱沒不顯。又由初二義之故,三乘之教法得有所依;由後二義之故,假立之權教得以成就。雖有四句,皆唯有三乘而更無一乘,此乃「一即三」之不異門。(參閱「存壞四句」2385)
; (隱顯四句) Đối lại với Tồn hoại tứ cú. Trong Ngũ giáo chương quyển 1, tổ thứ ba của tông Hoa nghiêm là ngài Pháp tạng, chia Biệt giáo nhất thừa cai nhiếp môn làm hai môn Bất dị và Bất nhất, rồi Bất dị môn lại được chia thành hai hạng mục là Tam tức nhất, Nhất tức tam. Trong Tam tức nhất lại phân biệt làm bốn câu để bàn sự còn mất của ba thừa, gọi là Tồn hoại tứ cú; trong Nhất tức tam cũng phân biệt bốn câu để bàn sự ẩn hiển của Nhất thừa, gọi là Ẩn hiển tứ cú. Nhưng, về bốn câu Nhất thừa ẩn hiển, ngài Pháp tạng chưa trực tiếp nêu tỏ câu văn, mà chỉ dựa vào bốn câu tồn hoại để suy luận. Dùng bốn câu tồn hoại mà suy luận đến bốn câu ẩn hiển là thế này: 1. Vì tức ba nên chẳng đợi ẩn, 2. Vì tức ba nên không ngại hiển, 3. Vì tức ba nên không gì mà chẳng ẩn, 4. Vì tức ba nên không gì có thể hiển. Trong hai câu đầu, vì một tức là ba, nên tướng Nhất thừa y nhiên rõ ràng; trong hai câu sau, vì một tức là ba, nên tướng Nhất thừa ẩn mất không hiển. Lại vì hai nghĩa đầu nên giáo nghĩa ba thừa có chỗ sở y; vì hai nghĩa sau nên quyền giáo giả lập mới được thành tựu. Tuy có bốn câu, nhưng đều chỉ có ba thừa chứ không có Nhất thừa, đó là Bất dị môn Nhất tức tam vậy. (xt. Tồn Hoại Tứ Cú).
ẩn hiển đế
Vohàra-sacca (P). Sự thật ước định Commonly accepted truth.
ẩn hình
See Ẩn Thân.
ẩn hình pháp
6533隱藏自己身形之法,即隱身術。據龍樹菩薩傳載,龍樹未出家前,曾學隱身法,入國王之後宮侵凌侍女;其法係以七十種藥材研製成青藥丸,加水磨之,以塗眼瞼,即可隱身。此疑係印度自古相傳之一種咒術。 密教以摩利支天法為隱形法。摩利支天具有大神通力,擅於隱身。密教行者以此天為本尊之修法,稱摩利支天法。修法時結摩利支天隱形印,誦持其真言,藉由加持力,可令一切天魔惡鬼外道等求覓行者之形體而不可得。 前述之摩利支天隱形印,據摩利支天經所載,其印相,即以左手作拳,而拇指微捻食指之指甲,其狀如環,餘三指握拳,並觀想自身入於此印之孔中;右手平掌,右旋摩此印而蓋於孔上。行者觀想此印為摩利支天身,彼即隱藏於摩利支天心中。 又據大摩里支菩薩經卷三載,以黑土、梟眼等製成藥丸,含於口中,一心誦持摩里支菩薩真言,亦可藉加持力而隱身。〔末利支提婆華鬘經、一字頂輪王瑜伽觀行儀軌、摩利支菩薩略念誦法、摩利支天陀羅尼咒經、摩利支天一印法、慧琳音義卷四十二〕
; (隱形法) Là phép tự dấu cất thân hình của mìn đi, tức là thuật ẩn thân tàng hình. Cứ theo Long thụ Bồ tát truyện chép, thì khi ngài Long thụ chưa xuất gia, từng đã học phép tàng hình, vào cung nhà vua lấn lướt xâm phạm các thị nữ; phương pháp làm phép này là, dùng bảy mươi thứ dược liệu nghiền ra mà chế thành thuốc viên xanh, rồi mài với nước thoa lên mí mắt là có thể tàng hình tức khắc. Đây có thể là một loại chú thuật Ấn độ đã tương truyền từ xưa chăng? Mật giáo dùng phép Ma lợi chi thiên làm phép ẩn hình. Ma lợi chi thiên có sức thần thông lớn, chuyên dùng để ẩn thân. Mật giáo hành giả lấy vị Trời này làm vị tôn chính của phép tu, gọi là Ma lợi chi thiên pháp. Khi tu phép này, kết ấn Ma lợi chi thiên ẩn mình, tụng trì chân ngôn, nhờ sức gia trì, có thể khiến cho tất cả thiên ma ác quỉ ngoại đạo đều không tìm được hình thể của hành giả. Ấn Ma lợi chi thiên ẩn hình vừa nói ở trên, cứ theo kinh Ma lợi chi thiên chép, thì ấn tướng là: tay trái nắm lại, ngón cái hơi bấm vào móng ngón trỏ làm thành hình cái vòng, còn ba ngón kia thì nắm chặt lại, đồng thời, quán tưởng thân mình chui vào cái lỗ ấn ấy; bàn tay phải đặt lên lỗ ấn, vừa xoa vừa xoay về bên phải. Hành giả quán tưởng ấn này là thân của trời Ma lợi chi, và hành giả sẽ ẩn nấp trong tâm của trời Ma lợi chi. Lại cứ theo kinh Đại ma lí chi bồ tát quyển 3 chép, thì lấy đất đen và mắt con chim kiêu (giống như loài cú vọ) chế thành thuốc viên, ngậm trong miệng, dốc lòng tụng trì chân ngôn Ma lí chi bồ tát, cũng có thể nhờ sức gia trì mà tàng hình. [X. kinh Mạt lợi chi đề bà hoa man; Nhất tự đính luân vương du già quán hành nghi quĩ; Ma lợi chi bồ tát lược niệm tụng pháp; kinh Ma lợi chi thiên đà la ni chú; Ma lợi chi thiên nhất ấn pháp; Tuệ lâm âm nghĩa Q.42].
ẩn khuất
Hidden—Concealed.
ẩn lánh
To retire from sight.
ẩn lực
Hidden force—Mystic power.
ẩn mình
To hide oneself.
ẩn mật
6535如來說法有顯彰、隱密二意。「顯彰隱密」為日本淨土真宗用以解釋觀無量壽經所設判目之一。顯彰,為語言文字分明顯示者;隱密,為說者之本意密隱於文內者。顯說為方便,密意為真實。此與以了義教為真實,以不了義教為方便者不同。〔演密鈔卷二、教行證文類卷六本〕
; To keep secret. Esoteric meaning, in contrast with hiển liễu exoteric or plain meaning.
; Nghĩa bí mật, đối lại với hiển liễu hay lời nói văn tự có ý nghĩa phân minh rõ ràng—Esoteric meaning in contrast with exoteric, or plain meaning. ** For more information, please see Nhị Nghĩa in Vietnamese-English Section.
; (隱密) Đức Như lai nói pháp có hai ý hiển chương (rõ ràng) và ẩn mật (kín đáo). Từ ngữ Hiển chương ẩn mật là một mục do Tịnh độ chân tông Nhật bản dùng để giải thích kinh Quán vô lượng thọ. Hiển chương ., là hiển bày ra lời nói, văn chữ phân minh rõ ràng; còn ẩn mật là cái ý chính của người nói được dấu kín trong câu văn. Nói rõ là phương tiện, ý kín là chân thực. Đây có khác với chủ trương cho liễu nghĩa giáo là chân thực, bất liễu nghĩa giáo là phương tiện. [X. Diễn mật sao Q.2; Giáo hành chứng văn hoại Q.6 phần đầu].
ẩn mật nghĩa
Secret, esoteric, occult meaning.
ẩn mặt
To hide from someone.
ẩn một như lai tạng
6533請參閱 普照國師語錄 十種如來藏之一。又作隱覆如來藏。即法身如來為煩惱所隱沒覆藏。(參閱「十種如來藏」485)
; (隱沒如來藏) Là một trong mười loại Như lai tạng. Còn gọi là Ẩn phú Như lai tạng. Tức pháp thân Như lai bị phiền não che lấp khiến ẩn mất. (xt. Thập Chủng Như Lai Tạng).
ẩn một tướng
6533報身佛所具五種相之一。指壽命無盡之佛暫時隱沒而不現形。(參閱「報身五種相」4921)
; (隱沒相) Là một trong năm loại tướng của Báo thân Phật. Tức ý là Phật sống lâu vô tận, nhưng tạm thời ẩn khuất mà không hiện hình. (xt. Báo Thân Ngũ Chủng Tướng).
ẩn nguyên long khí
Yin-Yuan Lung-ch'i (C), Yinyuan Longqi (C), Ingen Ryuki (J)Thiền sư phái Lâm Tế, trụ trì tu viện trên núi Hoàng Bá. Ngài sang Nhật năm 1654 và lập trường phái Obaku.
; Yin-Yuan-Lung-Ch'i—Thiền sư nổi tiếng thuộc phái Lâm Tế, viện chủ tu viện Wang-Fu trên núi Hoàng Bá. Ẩn Nguyên sang Nhật Bản năm 1654, lập ra phái Obaku ở đó. Hoàng gia Nhật Bản phong cho ngài danh hiệu sau khi mất là Daikô-Fushô-Kokushi. Những châm ngôn và những bài thuyết giảng của ngài được sưu tập trong các tác phẩm nhan đề Obaku-hôgo, Fushô-kikushi-kôroku, và Ingen-hôgo—Yin-Yuan-Lung-Ch'i 1592-1673, a famous Chinese Ch'an master of the Lin-Chih school, abbot of the Wan-Fu monastery on Mount Huang-Po in China. Yin-Yuan went to Japan in 1654 and founded there the Obaku Kokushi. His teachings and sayings are recorded in the Obaku-hogo, the Fushô-kokushi-koroku, and the Ingen-hôgô.
Ẩn Nguyên Long Kì
隱 元 隆 琦; C: yǐnyuán lóngqí; J: ingen ryūki, 1592-1673;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế. Năm 1564, Sư nhận lời mời của nhà sư Nhật tên Dật Nhiên, sang Nhật Bản truyền tông Hoàng Bá (j: ōbaku-shū). Sau Sư được Nhật hoàng ban cho hiệu Ðại Quang Phổ Chiếu Quốc sư (j: daikō fushō kokushi).|Sư họ Lâm, quê ở Phúc Châu. Năm lên 16, nhân một buổi nằm dưới cây tùng nhìn thiên hà tinh tú vận chuyển, Sư bỗng thấy làm lạ nghĩ rằng, ngoài Tiên, Phật ra không ai có thể hiểu được những hiện tượng này và phát sinh ý nghĩ đi tu để thành Phật. Năm 22 tuổi, Sư đến núi Phổ-đà theo Hoà thượng Triều Âm học hỏi, ngày ngày rót trà hầu chúng. Năm 29 tuổi, Sư đến núi Hoàng Bá chính thức cạo đầu tu hành. Sau, Sư tham vấn Thiền sư Mật Vân Viên Ngộ và được Ấn khả. Năm thứ 6 niên hiệu Sùng Trinh (1633), Thiền sư Phí Ẩn Thông Dung chủ trì núi Hoàng Bá, cử Sư làm Tây đường, năm thứ 10 cử làm chủ pháp tịch Hoàng Bá. Trong hệ thống truyền thừa, Sư được xem là kế thừa Phí Ẩn Thông Dung (費 隱 通 容; 1593-1661). Năm 1654, Sư cùng hơn 20 đệ tử cất bước sang Nhật.|Sư vốn xuất thân từ tông môn Lâm Tế nhưng sống vào cuối đời Minh (1368-1644) đầu đời nhà Thanh (1644-1911) sau Thiền sư Vân Thê Châu Hoằng. Vì thế Sư chịu ảnh hưởng rất nặng tư tưởng »Thiền Tịnh hợp nhất« của Vân Thê Ðại sư và khi đến Nhật Bản hoằng hoá, tông chỉ của Sư cũng không trùng hợp với tông chỉ Lâm Tế được truyền thời Liêm Thương (j: kamakura) tại Nhật. Nhưng cũng vì sự khác biệt này mà Sư và các đệ tử được tiếp đón rất nồng hậu, Thiền tăng Nhật Bản tranh nhau đến tham vấn học hỏi và sau này, dòng thiền của Sư được chính thức công nhận là một tông phái riêng biệt, được gọi là Hoàng Bá tông.|Sư tịch năm 1673 tại Nhật Bản.
ẩn nguyên long kì.
Ingen Ryuki (J). Yin yuan Long chi (C). Founder of Rinzai Zen sect in Japan.
Ẩn Nguyên Long Kỷ
(隱元隆琦, Ingen Ryūki, 1592-1673): vị tổ khai sáng Hoàng Bá Tông Nhật Bản, người vùng Phúc Thanh (福清), Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Lâm (林), hiệu là Ẩn Nguyên (隱元), sinh ngày mồng 4 tháng 11 năm thứ 20 niên hiệu Vạn Lịch (萬曆) nhà Minh. Năm lên 9 tuổi, ông có chí ham học, nhưng năm sau thì bỏ học, theo nghiệp trồng tiêu. Có đêm nọ ông ngồi nằm dưới gốc cây tùng, mới ngộ được rằng muốn hiểu rõ diệu lý của trời đất, mặt trời, mặt trăng, các vì sao, v.v., thì không còn con đường nào hơn là quy y vào cửa Phật. Cuối cùng với lòng quyết tâm, năm 23 tuổi ông lên Phổ Đà Sơn (普陀山) ở Nam Hải, thuộc Ninh Ba (寧波, Tỉnh Triết Giang), tham bái Triều Âm Động Chủ (潮音洞主). Năm lên 29 tuổi, ông đến viếng thăm Hoàng Bá Sơn (黃檗山), theo Giám Nguyên Hưng Thọ (鑑源興壽) xuống tóc xuất gia, và sau đó đi tham bái khắp các nơi. Trong thời gian này, ông có học Kinh Pháp Hoa ở Hưng Thiện Tự (興善寺) vùng Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Triết Giang), rồi Kinh Lăng Nghiêm ở Bích Vân Tự (碧雲寺). Bên cạnh đó ông còn đến gõ cửa Mật Vân Viên Ngộ (密雲圓悟) và thọ nhận tâm ấn của vị này. Vào năm thứ 6 (1633) niên hiệu Sùng Trinh (崇貞), khi Phí Ẩn Thông Dung (費隱通容) đang sống tại Hoàng Bá Sơn, ông được cử làm chức Tây Đường, sau thể theo lời thỉnh cầu, ông lên quản lý cả Hoàng Bá Tông và đã làm cho tông phong rạng rỡ tột đỉnh; bên cạnh đó ông còn tận lực cho xây dựng các ngôi đường vũ khang trang hơn, và trở thành pháp từ của Phí Ẩn. Ông đã từng sống qua một số chùa như Phước Nghiêm Tự (福嚴寺) ở Sùng Đức (崇德, Tỉnh Triết Giang), Long Tuyền Tự (龍泉寺) ở Trường Lạc (長樂, Tỉnh Phúc Kiến). Đến năm thứ 11 (1654) niên hiệu Thuận Trị (順治), nhận lời cung thỉnh của mấy vị tăng nhóm Dật Nhiên Tánh Dung (逸然性融) ở Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) vùng Trường Khi (長崎, Nagasaki), ông cùng với Đại Mi Tánh Thiện (大眉性善), Độc Trạm Tánh Oanh (獨湛性瑩), Độc Ngôn Tánh Văn (獨言性聞), Nam Nguyên Tánh Phái (南源性派), v.v., hơn 30 người đệ tử lên thuyền sang Nhật, đến Hưng Phước Tự. Khi ấy ông đã 63 tuổi. Năm sau, ông chuyển đến Sùng Phước Tự (崇福寺, Sūfuku-ji), rồi thể theo lời mời của Long Khê Tánh Tiềm (龍溪性潜) ở Phổ Môn Tự (普門寺, Fumon-ji) vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu), ông đến làm trú trì chùa này. Sau đó, vào tháng 9 năm đầu (1651) niên hiệu Vạn Trị (萬治), ông đi lên phía đông, đến trú ngụ tại Lân Tường Viện (麟祥院) ở Thang Đảo (湯島, Yushima) vùng Giang Hộ (江戸, Edo, thuộc Tokyo), đến yết kiến Tướng Quân Đức Xuyên Gia Cương (德川家綱, Tokugawa Ietsuna), và vì hàng sĩ thứ mà thuyết pháp lợi sanh. Vào tháng 5 năm đầu (1661) niên hiệu Khoan Văn (寬文), ông sáng lập Hoàng Bá Sơn Vạn Phước Tự (黃檗山萬福寺) tại vùng đất Vũ Trị (宇治, Uji), làm căn cứ truyền bá Thiền phong của Hoàng Bá Tông tại Nhật Bản; và đến tháng 9 năm thứ 4 đồng niên hiệu trên, ông nhường ngôi trú trì lại cho Mộc Am Tánh Thao (木菴性瑫), và lui về ẩn cư. Vào tháng 2 năm thứ 13 cùng niên hiệu trên, ông bị bệnh nhẹ; ngày 30 cùng tháng này Hậu Thủy Vĩ Thượng Hoàng (後水尾上皇, Gomizunō Jōkō) sai sứ đến vấn an ông. Đến ngày mồng 2 tháng 4, ông được ban cho hiệu là Đại Quang Phổ Chiếu Quốc Sư (大光普照國師). Vào ngày mồng 3 tháng 4 năm sau, ông thị tịch, hưởng thọ 82 tuổi đời, 54 hạ lạp, và được ban tặng thêm cho thụy hiệu là Phật Từ Quảng Giám Thiền Sư (佛慈廣鑑禪師). Ngoài ra ông còn có một số hiệu khác như Kính Sơn Thủ Xuất Thiền Sư (徑山首出禪師), Giác Tánh Viên Minh Thiền Sư (覺性圓明禪師). Trước tác của ông để lại có Hoàng Bá Ngữ Lục (黃檗語錄) 2 quyển, Long Tuyền Ngữ Lục (龍泉語錄) 1 quyển, Hoàng Bá Sơn Chí (黃檗山誌) 8 quyển, Hoằng Giới Pháp Nghi (弘戒法儀) 2 quyển, Dĩ Thượng Trung Quốc Soạn Thuật (以上中國撰術), Phù Tang Hội Lục (扶桑會錄) 2 quyển, Phổ Chiếu Quốc Sư Quảng Ngữ Lục (普照國師廣語錄) 20 quyển, Hoàng Bá Hòa Thượng Thái Hòa Tập (黃檗和上太和集) 2 quyển, Đồng Kết Tập (同結集) 2 quyển, Sùng Phước Tự Lục (崇福寺錄), Phật Tổ Đồ Tán (佛祖圖賛), Phật Xá Lợi Ký (佛舎利記), Ẩn Nguyên Pháp Ngữ (隱元法語), Phổ Môn Thảo Lục (普門艸錄), Tùng Ẩn Tập (松隱集), Vân Đào Tập (雲濤集), Hoàng Bá Thanh Quy (黃檗清規), v.v.
ẩn nhạc tự
6535位於浙江紹興、嵊縣間之石城山。此山重巖疊嶂,林木葱鬱,有石兀立若牆,賡連數百丈。寺為東晉永和(345~356)初年沙門帛僧光所創。梁天監(502~519)年中,僧護、僧淑等於寺北鐫造十丈石佛,武帝聞之,遣僧祐往助,歷時十餘年始成,為江南最大石佛。
; (隱嶽寺) Là ngôi chùa trên núi Thạch thành, nằm khoảng giữa Thặng huyện và Thiệu hưng thuộc tỉnh Triết giang. Ngọn núi trùng điệp lởm chởm, cây cối um tùm, những phiến đá đứng thẳng như tường vách, nối nhau đến vài trăm trượng. Chùa do sa môn Bạch tăng quang sáng lập vào niên hiệu Vĩnh hòa năm đầu (345 - 356), đời Đông Tấn. Trong năm Thiên giám (502 - 519), Tăng hộ, Tăng thục, tạc một pho tượng Phật bằng đá cao mười trượng đặt ở phía bắc chùa, vua Vũ đế nghe tin, bèn sai Tăng hựu đến giúp sức, trải hơn mười năm mới xong, là tượng Phật bằng đá lớn nhất vùng Giang nam.
ẩn nhẫn
To resign oneself. Ẩn nhẫn chờ thời, to bide one's time; to lie in wait for, to watch one's opportunity.
; To suffer in silence.
ẩn niệm phật
6533日本佛教用語。為淨土真宗「異安心」祕密法門之一。於傳教儀式時,必進入土藏(倉庫)、麴室,然後祕密施行,故稱為隱念佛。通常又稱土藏祕事、鍵鎖法門、御藏法門、內證講、夜中法門、御杓子講等。 其起源不詳,或係平安時代末期,新義真言宗之祖覺鑁時始盛行。初以真言念佛,祈念「即身成佛」。其思想依憑空海之大日經開題、般若心經祕鍵、無量壽如來供養作法次第、覺鑁之五輪九字明祕密釋等書。實踐方面則以一期大要祕密集、孝養集等為基礎。其後,並採取真宗之一念即得往生、現生不退入正定聚之教義。於寶曆四年(1754)及元祿年中(1688~1704),受江戶幕府壓制,曾有不少殉教者,然仍有四萬餘信徒。其教勢今仍興盛,信徒達數十萬人。其活動地域,以岩手縣中南部之膽澤、和賀、稗貫、西磐井等地為中心。派別眾多,各以親鸞、是信坊、蓮如、鍵屋等為宗祖而立派。要之,採行此一祕密法門之教團,於各種行事或聚會活動,對教外人士必嚴加保密,故引起外人種種猜測及誤解;其所以受官方壓制,其故在此。
; (隱念佛) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Là một pháp môn bí mật Dị an tâm (an tâm khác lạ) của Tịnh độ chân tông. Nghi thức khi truyền giáo là phải vào trong kho thóc, buồng để men rượu, rồi mới làm phép bí mật, cho nên gọi là Ẩn niệm Phật (niệm Phật kín). Thông thường còn gọi là Thồ tàng bí sự, Kiện tỏa pháp môn, Ngự tàng pháp môn, Nội chứng giảng, Dạ trung pháp môn, Ngự tiêu tử giảng v.v... Nguồn gốc của pháp môn này không được rõ, có thể là bắt đầu từ cuối thời đại Bình an, rồi đến thời tổ sư của tông Tân nghĩa chân ngôn là Giác tông mới thịnh hành. Lúc đầu, dùng chân ngôn niệm Phật, niệm cầu Tức thân thành Phật. Tư tưởng của Ẩn niệm Phật dựa vào các thư tịch, như Đại nhật kinh khai đề của Không hải, Bát-nhã tâm kinh bí kiện, Vô lượng thọ Như lai cúng dường tác pháp thứ đệ, Ngũ luân cửu tự minh bí mật thích của Giác tông v.v... Về mặt thực tiễn thì lấy Nhất kì đại yếu bí mật tập, Hiếu dưỡng tập làm cơ sở. Về sau, thu dụng giáo nghĩa Nhất niệm tức đắc vãng sinh, Hiện sinh bất thoái nhập chính định tụ của Chân tông. Vào năm Bảo lịch thứ 4 (1754) và trong năm Nguyên lục (1688- 1704), bị Giang hộ mạc phủ (bộ tư lệnh quân đội) đàn áp, đã có nhiều người tử đạo, nhưng vẫn còn hơn bốn vạn tín đồ. Thế lực của phái này đến nay vẫn mạnh, con số tín đồ có đến vài chục vạn. Địa bàn hoạt động thì lấy Đảm trạch ở phía nam huyện Nham thủ, Hòa hạ, Tì quán, Tây bàn tỉnh, làm trung tâm. Có rất nhiều phái khác nhau, nhưng đều lấy Thân loan, Thị tín phường, Liên như, Kiện ốc v.v... làm tông tổ mà lập phái. Tóm lại, những người tu hành theo pháp môn bí mật này, khi hành đạo hoặc hội họp, đều giữ kín, không cho ai biết, vì thế đưa đến tình trạng người ngoài nhòm ngó, nghi ngờ và hiểu lầm, mà cái lí do bị nhà cầm quyền đàn áp cũng là ở đó.
ẩn náu
To refuge—To take refuge.
ẩn phong
6534唐代僧。生卒年不詳。南嶽之門下。福建邵武人,俗姓鄧。世稱鄧隱峰。初參謁馬祖道一,不能得其奧旨,復從學於石頭希遷,後於馬祖道一言下開悟,並為其法嗣。後與南泉、溈山交遊頻繁,冬留衡嶽,夏住清涼。元和年間(806~820),欲登五臺山,於淮西出發途中,受阻於叛軍吳元濟與官軍交戰,遂擲錫空中,飛身而過,兩軍將兵見之,戰意頓息。師既顯神異,慮成惑眾,遂入五臺山,於金剛窟前倒立而寂。〔祖堂集卷十五、宋高僧傳卷二十一、景德傳燈錄卷八鄧隱峰章〕
; (隱峰) Vị tăng đời Đường. Năm sinh năm mất không rõ. Học trò của ngài Nam nhạc. Người huyện Thiệu vũ, tỉnh Phúc kiến, họ Đặng. Đời gọi là Đặng ẩn phong. Đầu tiên, sư tham yết ngài Mã tổ Đạo nhất, không lãnh hội được ý chỉ sâu xa, bèn đến theo học Thạch đầu Hi thiên, sau lại nhờ một câu nói của Mã tổ Đạo nhất mà khai ngộ, và trở thành người nối pháp của Mã tổ. Sau giao du với Nam tuyền, Qui sơn nhiều lần, mùa đông ở Hành nhạc, mùa hạ đến Thanh lương. Khoảng năm Nguyên hòa (806 - 820), sư muốn lên núi Ngũ đài, phát xuất từ Hoài tây, giữa đường bị cản trở vì loạn quân Ngô nguyên tế và quân triều đình đang đánh nhau, sư bèn phóng gậy tích lên không trung rồi cất mình bay qua, binh tướng của hai phe thấy thế liền ngưng chiến. Sư đã hiện bày thần thông khác lạ, sợ sẽ trở thành sự mê hoặc người đời, bèn vào núi Ngũ đài, đứng ngược mà tịch trước cửa động Kim cương. [X. Tổ đường tập Q.15; Tống cao tăng truyện Q.21; Cảnh đức truyền đăng lục Q.8 Đặng ẩn phong chương].
ẩn phong phi tích
6534唐代元和年間(806~820),隱峰禪師欲登五臺山,途中遇官軍與賊兵交戰,師為除彼等之苦患,乃擲錫空中,飛身而過,兩軍將士仰觀,均符日前之夢兆,鬥心頓息。此則事蹟亦可顯示隱峰之神通力與慈悲心。〔景德傳燈錄卷八鄧隱峰章、禪苑蒙求卷上〕
; (隱峰飛錫) Khoảng năm Nguyên hòa (806 - 820) đời Đường, Thiền sư Ẩn phong muốn lên núi Ngũ đài, giữa đường gặp quân triều đình và quân giặc đánh nhau, để trừ tai nạn cho cả hai bên, sư liền phóng gậy tích lên hư không rồi cất mình bay qua, quân, tướng hai phe ngẩng xem, đều cho là đúng với giấc mơ đã báo hôm trước, rồi hòa giải không đánh nhau nữa. Sự tích này hiển bày sức thần thông và lòng từ bi của Ẩn phong. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.8 Đặng ẩn phong chương; Thiền uyển mông cầu Q.thượng].
ẩn phong tồi xa
6535禪宗公案名。據禪苑蒙求卷中載,隱峰禪師一日推車,遇馬祖舒展其腳,坐於路上。師云(卍續一四八‧一二○下):「請師收足。」馬祖云:「已展不縮。」師云:「已進不退。」乃推車碾損師腳。祖歸法堂,執斧子云:「適來碾損老僧腳底,出來!」師便出,於祖前伸長頸子,祖乃放下斧頭。上記公案乃顯示馬祖化導學人之機略,及隱峰懸命求道之風貌。〔五燈會元卷三、光明藏卷中、葛藤集卷下〕
; (隱峰推車) Tên công án trong Thiền tông. Cứ theo Thiền uyển mông cầu quyển trung chép, thì một ngày nọ, Thiền sư Ẩn phong đẩy xe, gặp ngài Mã tổ đang ngồi giữa đường duỗi thẳng hai chân. Sư nói (Vạn tục 148, 120 hạ): Xin thầy co chân lại. Mã tổ nói: Đã duỗi rồi, không co. Sư nói: Đã tiến thì không lùi!. Nói xong bèn đẩy xe qua, khiến chân Mã tổ bị thương tích. Về tới Pháp đường, Mã tổ tay cầm búa, nói: Gọi kẻ đã làm chân lão tăng bị thương ra đây!. Ẩn phong đến ngay, đứng trước Mã tổ giơ cổ ra, Mã tổ liền vứt cái búa xuống. Công án trên đây cho thấy cái cơ mưu hóa đạo học trò của Mã tổ, và cái phong cách cầu đạo không tiếc thân mệnh của Ẩn phong. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.3; Quang minh tạng Q.trung; Cát đằng tập Q.hạ].
ẩn phong đảo hoá
6534禪宗公案名。隱峰禪師立倒示寂之故事。據景德傳燈錄卷八鄧隱峰章載,隱峰將示寂,先問眾云(大五一‧二五九下):「諸方遷化,坐去、臥去,吾嘗見之,還有立化也無?」眾云:「有也。」師云:「還有倒立者否?」眾云:「未嘗見有。」師乃倒立而化,亭亭然其衣順體。時眾議言荼毘,而體屹然不動,遠近瞻視,驚歎不已。師有妹為尼,時在彼處聽聞,乃俯近而咄曰:「老兄!疇昔不循法律,死更熒惑於人!」於是以手推之,僨然而踣,遂就闍維(即荼毘),收舍利入塔。隱峰倒立而死,雖是一種對生死自由無礙之表現,但易流於神異奇蹟之談,因得其妹之一轉語,始打破此弊。
; (隱峰倒化) Tên công án trong Thiền tông. Sự tích Thiền sư Ẩn phong đứng ngược mà thị tịch. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 Đặng ẩn phong chương chép, thì sư Ẩn phong lúc sắp thị tịch, trước hỏi chúng tăng rằng (Đại 51, 259 hạ): Các người khi hóa, ngồi mà hóa, nằm mà hóa, ta đã từng thấy, nhưng có ai đứng mà hóa không? Chúng tăng trả lời: Dạ có. Sư hỏi: Vậy có ai đứng ngược mà hóa không? Chúng tăng trả lời: Chưa từng thấy. Sư bèn đứng ngược mà hóa, nhưng y phục vẫn thuận chiều trên thân thể. Lúc đó, chúng tăng bảo nhau hỏa thiêu nhưng thân thể vẫn y nhiên bất động, xa gần chiêm ngưỡng, i cũng kinh lạ và tán thán không ngớt. Sư có người em gái làm ni, khi nghe tin, đến nơi phục xuống bên cạnh, nói: Sư huynh! Lúc trước đã chẳng tuân theo pháp luật, nay chết rồi mà còn mê hoặc người ta!. Nói xong, đưa tay đẩy một cái, sư liền ngã xuống, chúng tăng đem hỏa thiêu, thu xá lợi nhập tháp. Sư Ẩn phong đứng ngược mà chết, sự kiện ấy tuy là biểu hiện tự do vô ngại đối với sự sống chết, nhưng đối với người đời thì đó là một phép lạ thần kì, nên được người em nói một câu chuyển ngữ mới đánh tan được quan niệm thần kì ấy.
ẩn phú thuyết
6535隱實理而說、方便說。大法鼓經卷上(大九‧二九一上):「隱覆說者,謂言如來畢竟涅槃,而實如來常住不滅。」
; (隱覆說) Dấu kín lí thực mà nói, phương tiện mà nói. Kinh Đại pháp cổ quyển thượng (Đại 9, 291 thượng), nói: Nói ẩn phú có nghĩa là nói Như lai rốt ráo đã vào Niết bàn, nhưng thực thì Như lai thường trú không diệt.
ẩn phú thụ kí
6535四種授記之一。謂對於修行精進者,固應授與成佛之記莂,但恐授記將令彼生起增上慢或懈怠,若不授記卻會令眾懷疑其修行之功;此時佛以威神力不令其人知悉,而僅令他人得聞其授記,稱為隱覆授記。(參閱「四種授記」1812)
; (隱覆授記) Là một trong bốn loại thụ kí. Đối với những người tu hành tinh tiến thì, cố nhiên, phải thụ kí trước cho thành Phật, nhưng lại e những người được thụ kí như thế sẽ sinh tâm tăng thượng mạn hoặc sinh lười biếng, còn nếu không thụ kí hứa trước thì lại e mọi người sinh tâm nghi ngờ cái công lao tu hành của mình. Để tránh tình trạng ấy, đức Phật bèn dùng sức uy thần không để người được thụ kí biết là mình đã được thụ kí, mà chỉ cho người khác biết là người ấy đã được thụ kí, như thế gọi là Ẩn phú thụ kí. (xt. Tứ Chủng Thụ Kí).
ẩn sĩ
Recluse.
ẩn sĩ a sá ca
Atthaka (P)Bà-la-môn A-sá-ca.
ẩn sĩ bà-cửu
Bhagu (P)Bà-la-môn Bà-cữu.
ẩn sĩ bạt-la-đà thẩm-xa
Bhāradvāja (P)Dược Vương. Phả la đọa. Bạt-la-đà-phạn-xà. Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
ẩn sĩ cao quý
A noble hermit—A retired scholar.
ẩn sở
Cầu xí—A privy.
ẩn sở tác pháp
6533密教行者如廁時,或入一切不淨之處時所修之法。又作隱所法。係於頂上觀「恽」字,於左右脅觀「吽」字,並觀想恽、吽字皆有火焰圍燒。左手作金剛拳,右手作蓮華拳,加持額頭、左肩、右肩、心、喉等五處,口誦烏樞沙摩明王之真言。蓋烏樞沙摩明王以深淨大悲,不避穢觸,救護眾生,其大威光猶如猛火,可燒除煩惱妄見、分別垢淨生滅之心。又此尊之真言有多種,修隱所作法時,口誦其小咒即可,即「唵矩嚕馱曩吽弱」。〔大威力烏樞瑟摩明王經卷下、大威怒烏芻澀麼儀軌經、慧琳音義卷三十六〕
; (隱所作法) Là phép tu của những hành giả Mật giáo khi vào nhà xí (nhà cầu) hoặc vào tất cả nơi bất tịnh. Còn gọi là Ẩn sở pháp. Tức quán chữ Lãm ở trên đỉnh đầu, quán chữ Hồng ở hai bên hông tả hữu, đồng thời, quán tưởng chữ lãm, chữ hồng đều có ánh lửa bao chung quanh. Tay trái nắm tay kim cương, tay phải nắm tay hoa sen, gia trì năm chỗ là trán, vai trái, vai phải, ngực và cổ họng, miệng tụng chân ngôn Ô khu sa ma minh vương. Vì minh vương Ô khu sa ma dùng tâm đại bi thanh tịnh sâu xa, vào chỗ nhơ nhớp để cứu hộ chúng sinh, ánh uy quang của Minh vương cũng như lửa mạnh, có khả năng đốt cháy tiêu trừ phiền não vọng kiến và tâm phân biệt nhơ sạch sinh diệt. Lại chân ngôn của vị Tôn này có nhiều thứ, khi tu phép Ẩn sở tác thì miệng tụng chú ngắn cũng được, đó là: Án củ rô đà nẵng hồng nhược. [X. kinh Đại uy lực Ô khu sắc ma minh vương Q.hạ ; Tuệ lâm âm nghĩa Q.36].
ẩn thân
Tàng hình—To vanish—To become invisible.
ẩn tình
Deep seated, inmost feelings.
ẩn ác dương thiện
To conceal one's faults and to display one's qualities.
ẩn ý
Secret thought.
; Idea at the back of one's mind—Dissembled thought.
ẩu
1) Ẩu tả: Không cẩn thận—Careless—Negligent. 2) Ói mửa: To spit—To vomit—To disgorge.
ẩu hầu hầu
Ahaha or Hahava (skt)—See Địa Ngục (B) (b) (5).
ẩu đả
To fight.
Ẩu-lộ-già 嘔露迦
[ja] ウルカ Uruka ||| Ulūka, another name of Kaṇāda 迦那陀, the founder of the Vaiśeṣika 勝論宗 school of Indian phīosophy. - =>s: Ulūka; tên gọi khác của ông Ca-na-đà (s: Kaṇāda 迦那陀), người sáng lập Thắng luận tông (s: Vaiśeṣika 勝論宗) , một trường phái triết học Ấn Độ. -
ẻo lả
Slender—Thin.
ế
6492悉曇字???(ī)。又作伊、曳、縊、曀、意、藹、㖶。為悉曇十二韻之一,五十字門之一。方廣大莊嚴經卷四(大三‧五五九下):「唱伊字時,出一切世間眾多病聲。」蓋此字係由梵語 īti(疾病、災禍之義)之字首ī而來。又北本大般涅槃經卷八謂翳字有自在(梵 īśvara)、嫉妒(梵 īrśyā)之義。〔文殊問經字母品第十四〕(參閱「伊」2152)
; 1) Ế ẩm: To be unwanted. 2) Tế: To offer in sacrifice.
ế ca
Eka (skt)—Một—Đơn—One—Once—Single—Unique.
ế ca nhã trá la sát vương
6492翳迦惹吒羅剎,梵名 Ekajaṭā-rakṣa。意譯一髻羅剎。位於密教胎藏界曼荼羅蘇悉地院南端之菩薩。以不二之一智現忿怒形,降伏煩惱。若人受持此菩薩之真言,能摧碎天魔、毒惡鬼神,及一切疫病等害。真言為「翳門惹鄰吽」。一髻尊陀羅尼經(大二○‧四八五下):「爾時,觀自在菩薩(中略)而入無能勝三昧,從頂化出翳迦惹吒羅剎王。」(參閱「一髻羅剎」81)
ế ca nhạ tra la sát vương
Xem Nhất Kế La sát.
ế ca san ni
6492梵語 ekāsanika,巴利語 ekāsanikaṅga。意譯一坐食、一食、受一食法。為十二頭陀行之一。修行者以屢次求食,妨礙修道,故一日中僅求食一次,稱為一坐食。〔中阿含經卷五十、四分律疏飾宗記卷五本〕(參閱「十二頭陀行」346)
; Xem Nhất thực.
ế la bát đát la
Elapattra (skt). 1) Tên một loài rồng đã đến tham vấn với Đức Thích Ca Mâu Ni về vấn đế tái sanh trên đường cao hơn—A naga who is said to have consulted Sakyamuni about rebirth in a higher sphere. 2) Một loại cây kè đã bị loài rồng nầy phá hủy trước đây: A palm-tree formerly destroy by that naga.
Ế Phát Tháp Ký
(瘞髪塔記, Eihatsutōki): 1 quyển, còn gọi là Quang Hiếu Tự Ế Phát Tháp Ký (光孝寺瘞髪塔記, Kōkōjieihatsutōki), do Pháp Tài (法才, trú trì Pháp Tánh Tự [法性寺]) soạn vào năm đầu (676) niên hiệu Nghi Phụng (儀鳳). Đây là tác phẩm ghi lại nguyên do xây dựng ngôi tháp an trí tóc của Lục Tổ Huệ Năng (慧能) tại Quang Hiếu Tự (光孝寺) để kỷ niệm lúc ông xuất gia.
ế thân dược
6492即隱身藥。又作翳形藥。用此藥塗眼,則他人不能見及。六十華嚴經卷四十四(大九‧六八○中):「譬如有人以翳身藥自塗其目,行、住、坐、臥無能見者,唯有彼人悉能覩見。如來亦復如是,永離世間,無能見者,唯一切智菩薩境界,非諸聲聞之所能知。」同經卷五十九亦謂,譬如有人用翳身藥以塗其目,自在遊行,無能見者;菩薩摩訶薩亦復如是,得菩提心,滿足大願,自在遊行,入於魔境界,為一切眾魔所不能見。〔不空羂索咒心經、聖觀自在菩薩不空王祕密心陀羅尼經、龍樹菩薩傳、華嚴經疏卷五十五、華嚴經隨疏演義鈔卷八十四、安樂集卷上〕
; Loại thuốc tàng hình—A drug for making the body invisible.
ế tiền
Cúng giấy tiền ngay trước huyệt mộ—Offerings of paper money at the grave.
ế đồ ca trùng
6492為食糞之蟲,如蜣蜋之類。慧琳音義卷十五翳荼迦之註(大五四‧三九六):「蟲名也,食糞,如蜣蜋之類。」
Ế 翳
[ja] エイ ei ||| (1) Be partially blind; purblind; dimsighted. (2) A hindrance to the vision; a hindrance. => 1. Mắt bị nhặm; nắt bị mờ; thấy không rõ. 2. Bị chướng ngại trong cái thấy; chướng ngại.
ỏm tỏi
To be noisy.
ố
To hate—Hatred.
ố tác
(噁作) ... I. Ố Tác. Phạm: Kaukftya. Cũng gọi Ác tác. Đồng nghĩa: Hối. Chán ghét việc đã làm, tức là sau khi làm việc xấu ác sinh tâm hối hận, là 1 trong những loại tâm sở, 1 trong 75 pháp do Thuyết nhất thiết hữu bộ thành lập, 1 trong 4 pháp Bất định của tông Pháp tướng. Theo sự giải thích trong luận Câu xá quyển 4 thì Ố tác có 3 nghĩa: 1. Duyên theo việc xấu ác đã làm mà hối hận, gọi là Ố tác; tức đặt tên Ố tác(cảnh sở duyên)là dựa theo sự hối hận(Ố)của năng duyên. 2. Hối hận(năng y)là do chán ghét việc ác đã làm(sở y)mà sinh, cho nên đặt tên Ố tác là dựa theo sự hối hận(năng y). 3. Hối hận là quả của ố tác(ghét việc đã làm), cho nên đặt tên Ố tác là dựa vào nhân trên quả hối hận. Ba nghĩa trên đều là hối hận việc ác đã làm. Nhưng tính chất của Ố tác không phải nhất định là bất thiện; bất luận thiện hoặc bất thiện, hễ việc đã làm mà không hợp tình hợp lí, thì đều gọi là Ố tác. Luận Đại tì bà sa quyển 37 thì nêu ra 4 trường hợp ố tác. 1. Hối hận về nghiệp ác đã tạo. 2. Hối hận về nghiệp thiện đã tạo. 3. Hối hận về nghiệp thiện đã tạo chưa trọn vẹn. 4. Hối hận về nghiệp ác đã tạo chưa được đúng mức. Bốn trường hợp trên là nói về nghiệp đã được tạo tác. Còn luận Câu xá quyển 4 thì cho hối hận về những việc chưa được làm, cũng gọi là Ố tác. Ví dụ hối hận Tại sao mình lại không làm việc ấy cũng là Ố tác.Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng hối hận đã không làm việc thiện là Ố tác thiện; còn hối hận đã không làm việc bất thiện thì là Ố tác bất thiện. Hữu bộ chủ trương chỉ có thiện và bất thiện, chứ không có vô kí. Cứ theo luận Câu xá quyển 4, trong số các Luận sư khác, cũng có thuyết chủ trương Ố tác thông cả vô kí. Thành duy thức luận thuật kí quyển 7, phần đầu cũng cho rằng Ố tác thông cả thiện, ác và vô kí. Các nhà Duy thức gọi Ố tác là Hối nhưng sự giải thích của họ khác với luận Câu xá. Luận Thành duy thức quyển 7 thuyết minh: Hối là chán ghét nghiệp ác đã tạo, lấy hối hận làm tính, ngăn ngại Xa ma tha (chỉ quán)làm nghiệp; Ố tác là giả đặt tên nhân trên quả, còn Hối thì dựa vào đương thể mà đặt tên. [X. luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.11; luận Du già sư địa Q.11; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.7; Câu xá luận quang kí Q.4; Câu xá luận bảo sớ Q.4; Bách pháp vấn đáp sao Q.1].II. Ố Tác. Tội Đột cát la (Phạm: Duwkfta) trong giới luật. Chỉ cho những hành vi xấu ác nhỏ nhiệm. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.9]. (xt. Đột Cát La, Ác Tác). ỔCũng gọi Ô, Ưu, Ốc. Chỉ cho chữ ( ) (u) trong 12 nguyên âm của chữ Tất đàm, 1 trong 50 chữ cái Tất đàm.Theo phẩm Thích tự mẫu trong kinh Kim cương đính, chữ Ổ biểu thị tất cả pháp thí dụ bất khả đắc. Theo kinh Đại phương quảng trang nghiêm quyển 4, khi xướng chữ Ổ thì phát ra tiếng về việc não loạn của thế gian (Phạm: Upadrava-bahulaô jagat). Theo phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn quyển thượng, chữ Ổ bao gồm các nghĩa: Hoang loạn, bức bách, thí dụ... Còn theo kinh Đại bát niết bàn quyển 8 (bản Bắc) thì chữ Ổ có nghĩa là tối thượng tối thắng (Phạm:Uttama). Ngoài ra, để phân biệt với chữ Ổ biểu thị nghĩa tổn giảm, từ xưa đến nay chữ này phần nhiều được gọi là chữ Ổ thí dụ. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.11, phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn; Tất đàm tự kí].
ốc
1) Ướt: Wet. 2) Rữa: To wash. 3) Nhuận ốc: To enrich. 4) Phòng ốc: A room—A house.
ốc khỏa nhân
1) Gia chủ: The master of the house. 2) Nội tâm: the mind within. 3) Nội trợ: A wife.
ốc lí nhân
3775禪林用語。<一>又作屋裏主人翁、屋裏主人公。指人人本具之佛性。蓋以家屋喻身體,以主人翁喻佛性。〔出曜經卷二十八、臨濟錄〕 <二>指參禪於同一師家之人,即指同學同參之人。蓋取其如住同一屋裏之意。
; (屋裏人) I. Ốc Lí Nhân. Cũng gọi Ốc lí chủ nhân ông, Ốc lí chủ nhân công. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho người chủ ngôi nhà, ví dụ Phật tính sẵn có trong hết thảy chúng sinh. Tức ngôi nhà ví dụ thân thể chúng sinh; ông chủ ví vụ Phật tính. [X. kinh Xuất diệu Q.28; Lâm tế lục]. II. Ốc Lí Nhân. Người trong 1 nhà, chỉ cho người tham học cùng 1 thầy. Gọi là Ốc lí nhân là vì họ cùng ở chung 1 nhà.
Ốc Tiêu
(沃焦[礁]): tên gọi một tảng đá rất to lớn hút nước mà trong Cựu Hoa Nghiêm Kinh (舊華嚴經) quyển 59 có đề cập đến, do vì nó to lớn như núi nên được gọi là Ốc Tiêu Sơn (沃焦山). Dưới núi này có hỏa khí của A Tỳ Địa Ngục (s: Avīci-naraka, 阿鼻地獄) bốc lên ngùn ngụt cho nên nó thường nóng bức. Như trong Kim Cang Tam Muội Bản Tánh Thanh Tịnh Bất Hoại Bất Diệt Kinh (金剛三昧本性清淨不壞不滅經) có đoạn rằng: “Như A Nậu đại trì xuất tứ đại hà, thử tứ đại hà phân vi bát hà, cập Diêm Phù Đề nhất thiết chúng lưu giai quy đại hải; dĩ Ốc Tiêu Sơn cố, đại hải bất tăng, dĩ Kim Cang Luân cố, đại hải bất giảm (如阿耨大池出四大河、此四大河分爲八河、及閻浮提一切眾流皆歸大海、以沃焦山故、大海不增、以金剛輪故、大海不減, như hồ lớn A Nậu phân thành bốn con sông lớn, bốn sông lớn này lại chia thành tám sông, chúng cùng với tất cả các sông cõi Diêm Phù Đề đều đỗ về biển lớn; vì núi Ốc Tiêu này mà biển lớn không tăng; và nhờ có vòng Kim Cang mà biển lớn không giảm)”. Ngoài ra, còn có biển Ốc Tiêu, là nơi chúng sanh thọ khổ. Bên cạnh đó, trong kinh điển Phật Giáo thường dùng từ Ốc Tiêu để ví cho dục tình vô cùng vô tận của kẻ phàm phu ngu muội, cũng như sự nóng bức của viên đá này, khổ đau không có ngôn từ nào diễn đạt được. Đạo Giáo giải thích rõ về truyền thuyết, xuất xứ của núi Ốc Tiêu có phần hơi khác. Trong Cẩm Tú Vạn Hoa Cốc (錦繡萬花谷) có đoạn rằng: “Ốc Tiêu tại bích hải chi đông, hữu thạch khoát tứ vạn lí, hậu tứ vạn lý, cư bách xuyên chi hạ, cố hựu danh Vĩ Lư; Sơn Hải Kinh Nghiêu thời, thập nhật tinh xuất, Nghiêu sử Nghệ xạ cửu nhật, lạc vi Ốc Tiêu (沃焦在碧海之東、有石闊四萬里、厚四萬里、居百川之下、故又名尾閭、《山海經》堯時、十日並出、堯使羿射九日、落為沃焦, Núi Ốc Tiêu ở phía Đông biển xanh, có khối đá rộng bốn vạn dặm, dày bốn vạn dặm, nằm dưới trăm con sông, nên có tên là Vĩ Lư; Sơn Hải Kinh cho rằng dưới thời nhà Nghiêu, có mười mặt trời cùng xuất hiện, vua Nghiêu sai Hậu Nghệ bắn chín mặt trời, rơi xuống thành núi Ốc Tiêu).” Bên cạnh đó, Hoài Nam Tử (淮南子) còn cho biết thêm rằng: “Nghiêu nãi mạng Nghệ xạ thập nhật, trung kỳ cửu nhật, nhật trúng ô tận tử (堯乃令羿射十日、中其九日、日中烏盡死, Vua Nghiêu bèn ra lệnh cho Hậu Nghệ bắn mười mặt trời, trong chín mặt trời đều bị trúng tên chết hết)”. Sau này mười mặt trời bị Hậu Nghệ (后羿) bắn được giải thích là Thang Quốc (湯國, xứ sở nước nóng); tương truyền 9 mặt trời bị bắn rơi trôi nỗi về phía Nhật Bản, cho nên tại Quận A Tô (阿蘇郡, Aso-gun), Huyện Hùng Bổn (熊本縣, Kumamoto-ken), Cửu Châu (九州, Kyūshū), Nhật Bản có thành lập “Thang Cốc Thiên Quốc (湯谷天國, Thiên Quốc Hang Nước Nóng)”. Người Trung Quốc thường gọi Nhật Bản là “Ốc Tiêu” hay “Vĩ Lư (尾閭)”. Tại ngôi điện phía nam của Cực Lạc Tự (極樂寺), vùng Cáp Nhĩ Tân (哈爾濱), Hắc Long Giang (黑龍江), Trung Quốc có thờ hai vị U Minh Giáo Chủ (幽明敎主) và Địa Tạng Vương Bồ Tát (地藏王菩薩); kinh văn có ghi rằng: “Tống Đế Vương cai quản đáy biển lớn, dưới núi Ốc Tiêu phía đông nam, Hắc Thằng Đại Địa Ngục; người sống trên dương thế, nếu người nào không biết ơn quốc gia, thê thiếp phụ tình ân ái của chồng, thọ nhận ân huệ cũng như tài sản của người khác, bản thân phạm tội mà không gắng sức cải tạo; sau khi chết rồi xuống cõi âm, đều do Tống Đế Vương quản lý.”
ốc tiêu
2980為舊華嚴經卷五十九所載大海底下之廣大吸水石;以此石廣大如山,故又稱沃焦山。其下為阿鼻地獄之火氣所炙,故此石經常焦熱。金剛三昧本性清淨不壞不滅經(大一五‧六九八中):「如阿耨大池出四大河,此四大河分為八河,及閻浮提一切眾流皆歸大海。以沃燋山故,大海不增;以金剛輪故,大海不減。」 又有沃焦石之海,稱為沃焦海,乃眾生受苦之處。此外,佛典中亦常以「沃焦」一詞比喻凡夫之欲情無窮無盡,猶如此石之焦熱難耐,苦不堪言;準此,釋迦牟尼又稱為「度沃焦」,蓋謂舉世之中,獨有佛為超度此苦之人。〔觀佛三昧海經卷五、賢愚因緣經卷四、法華文句記卷九下〕
; (沃焦) ... Cũng gọi Ốc tiêu sơn. Khối đá lớn hút nước ở dưới đáy biển cả được nói đến trong kinh Hoa nghiêm quyển 59 (bản dịch cũ). Vì khối đá này to lớn như núi nên cũng gọi Ốc tiêu sơn(núi hút nước). Ở dưới khối đá này là lửa của địa ngục A tị bốc lên, lúc nào nó cũng bị đốt nóng, vì thế nó có sức hút nước rất mạnh. Kinh Kim cương tam muội bản tính thanh tịnh bất hoại bất diệt (Đại 15, 698 trung) nói: Như ao nước lớn A nậu chảy ra 4 sông lớn, 4 sông lớn này lại chia làm 8 sông nhỏ, 8 con sông nhỏ này và tất cả các dòng nước trong cõi Diêm phù đề đều chảy ra biển cả. Do núi Ốc tiêu nên biển cả không tăng; do Kim cương luân nên biển cả không giảm. Biển nào có đá Ốc tiêu, gọi là biển Ốc tiêu, là nơi chúng sinh chịu khổ. Trong kinh Phật, núi Ốc tiêu được dùng để ví dụ cho dục tình vô cùng tận của phàm phu; hết thảy phàm phu đều bị lửa dục nung nấu, giống như núi Ốc tiêu bị lửa địa ngục thiêu đốt. Chỉ có đức Phật Thích ca vượt qua được cái khổ của sự thiêu đốt ấy, nên gọi Ngài là Độ ốc tiêu. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.5; kinh Hiền ngu nhân duyên Q.4; Pháp hoa văn cú kí Q.9, phần cuối].
ốc tiêu hải
Biển chứa Ốc Tiêu Thạch—The ocean which contains the rock or mountain of Patala.
ốc tiêu sơn
See Ốc Tiêu Thạch.
ốc tiêu thạch
Núi đá dưới đáy biển, bên trên địa ngục nóng, hút nước và giữ cho lưu lượng nước không tăng cũng như không tràn ngập lên bờ—The rock or mountain, Patala, on the bottom of the ocean, just above the hot purgatory, which absorbs the water and thus keeps the sea from increasing and overflowing.
ốc xá giả
Gah-karakam (C).
ống xăm
Auger.
ốt đát la
5396梵名 Uttara。又作嗢呾羅、鬱多羅。意譯作上。南印度珠利耶國人,爲阿羅漢,得六神通,具八解脫。大唐西域記卷十珠利耶國條(大五一‧九三一中):「城西不遠有故伽藍,提婆菩薩與羅漢論議之處。初,提婆菩薩聞此伽藍有嗢呾羅阿羅漢,得六神通,具八解脫,遂來遠尋,觀其風範。既至伽藍,投羅漢宿。羅漢少欲知足,唯置一床。提婆既至,無以爲席,乃聚落葉,指令就坐。羅漢入定,夜分方出。提婆於是陳疑請決,羅漢隨難爲釋,提婆尋聲重質,第七轉已,杜口不酬,竊運神通力,往睹史多天請問慈氏。慈氏爲釋,因而告曰:『彼提婆者,曠劫修行,賢劫之中當紹佛位,非爾所知,宜深禮敬。』如彈指頃,還復本座,乃復抑揚妙義,剖析微言。提婆謂曰:『此慈氏菩薩聖智之釋也,豈仁者所能詳究哉?』羅漢曰:『然,如來旨。』於是避席禮謝,深加敬歎。」
; (嗢怛羅) Phạm:Uttara. Cũng gọi Uất đa la. Hán dịch: Thượng. Vị A la hán chứng được 6 thần thông, 8 giải thoát, người nước Châu lợi da, thuộc Nam Ấn độ. Theo điều Châu lợi da quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 10 (Đại 51, 931 trung) chép, thì cách Đô thành về phía tây không xa có 1 ngôi chùa cũ là nơi diễn ra cuộc tranh luận giữa bồ tát Đề bà và vị A la hán này. Lúc đầu, bồ tát Đề bà nghe chùa này có A la hán Ốt đát la, đã chứng được 6 thần thông, 8 giải thoát, cho nên ngài đã từ xa tìm đến để gặp La hán. Khi đến chùa này, ngài nghỉ lại, nhưng vị La hán là người thiểu dục tri túc, chỉ có 1 cái giường, nay bồ tát Đề bà đến không có gì để ngồi, vị La hán liền vun đám lá rụng lại mời ngài ngồi. Sau đó, La hán nhập định, đến nửa đêm mới xuất định. Bấy giờ, ngài Đề bà liền nêu những điều mình thắc mắc để xin La hán quyết nghi, La hán lần lượt giải đáp, hễ La hán giải đáp đến đâu thì ngài Đề bà lại hỏi dồn ngay đến đó, sau lần thứ 7 thì La hán không giải đáp được nữa. La hán lại vào định, vận dụng thần thông ngầm bay lên cung trời Đâu suất thưa hỏi bồ tát Từ thị. Ngài Từ thị giải thích cho La hán nghe, rồi nhân đó bảo rằng: Vị Đề bà ấy đã tu hành nhiều kiếp và sẽ thành Phật trong kiếp Hiền, đó chẳng phải là điều mà ông biết được, hãy nên hết lòng lễ kính. Rồi chỉ trong khoảnh khắc như búng ngón tay, La hán đã trở lại chỗ cũ và lại xiển dương diệu nghĩa, phân tích bằng những lời mầu nhiệm. Nghe xong, ngài Đề bà nói rằng: Đó là sự giải thích bằng Thánh trí của bồ tát Từ thị, chứ đâu phải của Hiền giả? La hán nói: Vâng, đó là ý chỉ của Như lai. Dứt lời, La hán đứng dậy lễ tạ ngài Đề bà với tất cả lòng thành kính và thán phục.
Ốt-đạt-lạc-ca
xem Uất-đầu-lam-phất.
ồ lên một tiếng
Là hình dung cái cảm giác như điện chớp ngay lúc khai ngộ, bỗng nhiên bản thể đầy khắp không gian thời gian.
ồ ạt
To move impetuously.
ồn ào
Kalakala (S), Confused noise.
; Noisy—Clamorous.
ổ
5436悉曇宇???(u)。又作烏、汙、優、屋。悉曇十二韻之一,五十字門之一。金剛頂經釋字母品謂,塢字門,表一切法譬喻不可得。又方廣大莊嚴經卷四謂,唱烏字時,出「世間諸惱亂事之聲」(梵 upadrava-bahulaṃ jagat)。另據文殊師利問經卷上字母品載,塢字含有荒亂、逼迫、譬喻等諸義。北本大般涅槃經卷八則釋之爲最上最勝(梵 uttama)之義。又爲簡別於表示「減損之義」之「污」字,自古以來多稱此字爲「譬喻之塢字」。〔佛本行集經卷十一、文殊問經字母品第十四、悉曇字記〕
ổ ba bà sa
5684梵語 upavāsa,巴利語同。又作優婆娑、鄔婆婆沙。意譯作近住、善宿。指在家受持八關齋戒者。故八關齋戒又稱近住戒、近住律儀。近住之義有多種,或謂近阿羅漢住,以受此律儀而隨學彼之故;或長養在家之善根,令近出家之善根而住;或謂近盡壽戒而住,故稱近住;或以近時而住,故稱近住。受持此戒之時限爲一日一夜。〔大毘婆沙論卷一二四、成實論卷八之八戒齋品、玄應音義卷二十三〕(參閱「八關齋戒」317)
; (鄔波婆沙) Phạm,Pàli: Upavàsa. Cũng gọi Ưu bà sa, Ổ bà bà sa. Hán dịch: Cận trụ, Thiện túc. Chỉ cho người tại gia thụ trì giới Bát quan trai. Bởi thế nên Bát quan trai giới còn được gọi là Cận trụ giới, Cận trụ luật nghi. Cận trụ (ở gần) có nhiều nghĩa, hoặc có nghĩa là Cận A la hán trụ(ở gần vị A la hán), vì người lãnh nhận luật nghi này phải theo vị A hán để học hỏi; hoặc có nghĩa là gần gũi với căn lành của người xuất gia để nuôi lớn thiện căn của người tại gia; hoặc có nghĩa là ở gần với giới tận thọ(giới trọn đời)nên gọi là Cận trụ; hoặc có nghĩa là chỉ ở 1 thời gian gần, nên gọi là Cận trụ, vì thời gian thụ trì giới này chỉ trong 1 ngày 1 đêm. [X. luận Đại tì bà sa Q.124; phẩm Bát giới trai trong luận Thành thực Q.8; Huyền ứng âm nghĩa Q.23]. (xt. Bát Quan Trai Giới).
ổ ba ni sát đàm phần
5684梵語 upaniṣadam-api。又作優波尼沙陀分、憂波尼奢分。略稱尼殺曇、尼薩曇。古印度形容極少之數量名稱。希麟音義卷一(大五四‧九三七中):「尼殺曇分,梵語,數法之極也,或云優波尼洒陁,慧苑音義引瑜伽大論譯爲微細分。如析一毛以爲百分,又析彼一分爲百千萬分,又於析分中加前析之,乃至鄰虛,至不可析處,名爲鄔波尼殺曇分也。」又翻譯名義大集譯爲「作因則」,恐爲意譯。〔大般若波羅蜜多經卷四、瑜伽論略纂卷十一、慧苑音義卷上〕
; (鄔波尼殺曇分) Phạm: Upaniwadam-api. Cũng gọi Ưu ba ni sa đà phần, Ưu ba ni xa phần. Gọi tắt: Ni sát đàm, Ni tát đàm. Danh từ chỉ số lượng cực kì bé nhỏ ở Ấn độ đời xưa. Hi lân âm nghĩa quyển 1 (Đại 54, 937 trung) nói: Tiếng Phạm Ni sát đàm phần là đơn vị cực nhỏ trong số tính đếm; hoặc gọi là Ưu ba ni sái đà, Tuệ lâm âm nghĩa dẫn Du già đại luận dịch là phần nhỏ nhiệm. Như chẻ 1 sợi lông ra làm 100 phần, rồi lại chẻ 1 phần trong 100 phần ấy ra làm trăm nghìn vạn phần, lại lấy 1 phần trong trăm nghìn vạn phần ấy chẻ ra như trước, cho đến lân hư(sát mé hư không), tức đến chỗ không thể chẻ ra được nữa, đó gọi là Ô ba ni sát đàm phần. [X. kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.4; Du già luận lược toản Q.11; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].
ổ ba tam bát na
5684梵語 upasaṃpanna,巴利語同。意譯作近圓戒、進具戒。意謂受具足戒已、親近涅槃,爲受大戒者之美稱。又稱具足戒。略稱大戒。欲爲比丘,先受十戒爲沙彌,至滿二十歲時,更受二百五十戒,始爲比丘。受此二百五十戒者,稱鄔波三鉢那。錫蘭、緬甸受沙彌戒,年齡最少須八歲。南海寄歸內法傳卷三(大五四‧二一九下):「既受戒已,名鄔波三鉢那。」注曰(大五四‧二一九下):「鄔波是近,三鉢那是圓,謂涅槃也。今受大戒,即是親近涅槃。」〔毘尼母經卷一、十誦律卷二十、摩訶僧祇律卷四十三〕(參閱「具足戒」3078)
; (鄔波三鉢那) (xt. Cụ Túc Giới).
ổ ba đà da
5685梵語 upādhyāya,巴利語 upajjhāya。又作優波陀訶、塢波陀耶、憂波弟耶、郁波弟耶夜、鄔婆提耶。意譯爲親教師、近誦、依學。與「和尚」同義。以弟子年少,不離於師,常隨常近,受經而誦,故稱近誦;又以弟子依於師家而出道習業,故又稱依學。〔菩提資糧論卷五、玄應音義卷二十三〕(參閱「和尚」3124)
; (鄔波馱耶) Phạm:Upàdhyàya. Pàli: Upajjhàya. Cũng gọi Ưu ba đà ha, Ưu ba đệ da, Úc ba đệ da dạ, Ổ bà đề da. Hán dịch: Thân giáo sư, Cận tụng, Y học (y chỉ để học). Đồng nghĩa: Hòa thượng. Vì đệ tử trẻ tuổi không được xa thầy, thường ở gần thầy nhận kinh để tụng, nên gọi là Cận tụng. Lại vì đệ tử nương tựa nơi thầy để học đạo, tu tập, nên cũng gọi là Y học ( ). [X. luận Bồ đề tư lương Q.5; Huyền ứng âm nghĩa Q.23]. (xt. Hòa Thượng).
ổ xà diễn na quốc
5685鄔闍衍那,梵名 Ujayana,巴利名 Ujjenī。又稱優禪尼國、溫逝尼國、鬱支國。位於摩揭陀國西南之古國名。亦爲都城名,爲古代印度阿槃提國(梵 Avanti,巴同)之首府,位於頻闍耶山(梵 Vindhya)之北,相當於現今尼布德哈河(Nerbuddha)北方之摩爾瓦(Malwa)地方。 大唐西域記卷十一載,該國幅員六千餘里,其都城周圍有三十餘里,居民殷盛,家室富饒。有伽藍數十所,僧徒三百餘人,兼習大小二乘。佛弟子迦旃延、蓮華色比丘尼,及譯經三藏真諦、月婆首那等,均爲此國之人。或謂此地即阿育王時代之卑提寫村(巴 Vedisa-nagara),阿育王未登位時,曾治此地,娶一長者女,生二子。後二子均出家,爲錫蘭佛教之開創者,即摩哂陀及比丘尼僧伽密多。〔善見律毘婆沙卷二、五分律卷四、續高僧傳卷一〕
; (鄔闍衍那國) Ổ xà diễn na, Phạm:Ujayana. Pàli: Ujjenì. Cũng gọi Ưu thiền ni quốc, Ôn thệ ni quốc, Uất chi quốc. Tên 1 nước xưa nằm về phía tây nam nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, cũng là tên 1 đô thành, là thủ phủ của nước A bàn đề (Phạm,Pàli: Avanti) tại Ấn độ cổ đại, ở phía bắc núi Tần xà da (Phạm: Vindhya), tương đương với vùng Malwa, phía bắc sông Nerbuddha hiện nay. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 11 thì nước này chu vi hơn 6.000 dặm, đô thành chu vi hơn 30 dặm, dân cư đông đúc, nhà cửa san sát và giàu có. Có vài mươi ngôi chùa với hơn 300 vị tăng, học cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa. Các vị đệ tử Phật như ngài Ca chiên diên, tỉ khưu ni Liên hoa sắc và các vị Tam tạng Chân đế, Nguyệt bà Thủ na... đều là công dân nước này. Cũng có thuyết cho rằng đây chính là thôn Ti đề tả (Pàli: Vedisa-nagara) ở thời đại vua A dục. Khi chưa lên ngôi, A dục đã từng cai trị xứ này, kết hôn với con gái của 1 trưởng giả, sinh được 2 con, về sau đều xuất gia và là những người khai sáng nền Phật giáo Tích lan: Đó chính là ngài Ma hi đà và tỉ khưu ni Tăng già mật đa. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.2; luận Ngũ phần Q.4, Tục cao tăng truyện Q.1].
ổ đà nam
5685梵語 udāna,巴利語同。又作烏陀南、嗢托南、優陀那、鬱陀那。意譯作自然、法句、歎、撰錄、自說、無問自說、感興偈。九分教之一,十二部經之一。佛不待弟子之問,其心映照,逕自吐露,稱爲鄔陀南。ud-āna 本爲氣息之義,轉指由感興而自然發出之音聲。大毘婆沙論卷一二六(大二七‧六六○上):「自說云何?謂諸經中因憂喜事,世尊自說。」 又大智度論卷三十三將鄔陀南分爲三種:(一)無有問者而佛略開問端,如雜阿含經中所廣說者。(二)諸天對須菩提讚頌世尊各種希有難得之事,如般若波羅蜜品所說。(三)佛涅槃後,諸弟子所抄集之要偈,如無常偈(無常品)、婆羅門偈(婆羅門品)等。〔北本大般涅槃經卷十五、瑜伽師地論卷二十五、大乘義章卷一、慧琳音義卷五十〕
; (鄔陀南) Phạm,Pàli: Udàna. Cũng gọi Ô đà nam, Ôn thác nam, Ưu đà na, Uất đà na. Hán dịch: Tự nhiên, Pháp cú, Thán, Soạn lục, Tự thuyết, Vôvấn tự thuyết, Cảm thán kệ. Một trong 9 phần giáo, 1 trong 12 thể tài kinh. Ổ đà nam nghĩa là Phật không đợi các đệ tử hỏi, mà trong tâm Ngài cảm thấy cần thiết và tự nói ra.Ud-ànanghĩa gốc là hơi thở, chuyển chỉ cho việc do cảm hứng mà tự nhiên phát ra âm thanh. Luận Đại tì bà sa quyển 126 (Đại 27, 660 thượng) nói: Tự thuyết là gì? Nghĩa là trong các kinh, nhân những việc vui buồn đức Thế tôn tự nói ra. Ngoài ra, luận Đại trí độ quyển 33 đem chia Ô đà nam làm 3 loại: 1. Không có người hỏi mà đức Phật đặt ra những vấn đề, như những việ được nói trong kinh Tạp a hàm. 2. Chư thiên đối trước ngài Tu bồ đề ngợi khen những việc hiếm có khó được của đức Phật, như những điều được ghi trong phẩm Bát nhã ba la mật. 3. Các bài kệ do các vị đệ tử sưu tập sau khi đức Phật nhập Niết bàn, như kệ Vô thường(phẩm Vô thường), kệ Bà la môn (phẩm Bà la môn)... [X. kinh Đại bát niết bàn quyển 15 (bản Bắc), luận Du già sư địa Q.25; Đại thừa nghĩa chương Q.1; Tuệ lâm âm nghĩa Q.50].
ổn mật điền địa
6669謂遠離一切差別、相對,入於平等一如、安穩親密之境地。即大悟者之境地。〔信心銘夜塘水卷上〕
; (穩密田地) Nghĩa là xa lìa tất cả cảnh giới sai biệt, tương đối mà tiến vào cảnh giới tuyệt đối bình đẳng nhất như, an ổn thân mật, tức là cảnh giới của bậc đại ngộ. [X. Tín tâm minh dạ đường thủy Q.thượng].
ở chung
To live together.
ở không
To be idle.
ở lành
To be honest—To be upright
ở lì
To stay in the same place and ignore all warning.
ở trong núi
Girikshit (S), Living in the mountain.
ở trên trời
Gaganastha (S), Situated in the sky.
ở ẩn
To live in retirement.
ởm ờ
To pretend not to know.
ủ dột
Doleful—Sorrowful.
ủ rũ
Disconsolate—Sad.
ủa
Oh ! What ?
ủi
1) Ủi cho bằng: To level (uneven terrain)—To push. 2) Ủi quần áo: To press—To iron (clothes).
ủng
Ôm—To hug—To embrace.
ủng bố lạp cương
5696位於西藏奈布東東南五公里處。相傳於古藏王袷陀朵嘌思顏贊王(又譯作拉脫脫日聶贊)之世,天降佛經等佛教信物於雍布拉崗王宮,爲西藏有佛教之始,故素被視爲西藏最古之佛教建築。後來之建築爲清康熙(1662~1722)年間第巴桑結嘉穆錯時所修建,現已毀。
ủng chính đế
5696(1687~1735)爲清朝第五代皇帝。姓愛新覺羅,名胤禎。諡號「憲皇帝」。廟號世宗。爲康熙皇帝之四子。在位期間(1723~1735),採嚴厲之獨裁政策,大力整治內政,爲其後之高宗乾隆年間奠定繁榮之基礎。帝曾參禮禪僧迦陵性音而大悟,自號圓明居士,撰有御選語錄、揀魔辨異錄。主張儒、釋、道三教一致,佛教諸宗一致,禪宗五家一致。並師法雲棲祩宏,主張整肅禪門弊風,鼓吹淨土法門。其提倡念佛,對近世佛教之影響甚大。
ủng hoà cung
5697請參閱 御選語錄位於北平市內之喇嘛寺院。爲我國內地最大之西藏佛教寺廟。據載,雍和宮原係清世宗之潛邸,雍正三年(1725)改爲「雍和宮」。帝崩(1735)後暫以安置棺槨,翌年奉安其神御。至乾隆九年(1744)十月,高宗謹遵先例,迎請高僧居於雍和宮,而以達賴喇嘛派遣之堪布(藏 mkhan-po)爲掌教,自蒙古各旗所選之三百餘名喇嘛爲定額,並在駐京呼圖克圖之中,設有阿嘉、洞濶爾、土觀等呼圖克圖之倉。因原爲親王府,故其建築與其他之喇嘛廟多有不同。民國以後,開放供人參觀。 寺前有乾隆所撰以漢、滿、蒙、藏四種文字合刻之「喇嘛說」石碑一座。全宮景分十六處:(一)天王殿,殿門高處爲彌勒尊者像,左右有四大天王分列兩旁。(二)溫度孫殿,殿上有樓,樓上供歡喜佛,其塑像造型極爲醜怪。另有金剛護法觀音化身馬王等像。(三)雍和宮,正面供五尊佛像,中央爲當來下生佛,東西爲飲光、慶喜二佛。殿內陳列極樂世界模型,左右壁上則繪有十八羅漢圖像。(四)額木哥殿,內有壇城,供黃教祖師宗喀巴及班禪之像。(五)永佑殿,供無量壽佛、獅吼藥師佛。(六)東配殿,俗稱鬼神殿,內置五尊歡喜佛。(七)法輪殿,爲全廟喇嘛誦經之處,殿中有壇,供一純金佛像。(八)佛照樓,供一金鑲玉無量壽佛。(九)大佛樓,內置西藏進貢之檀木大佛像,高十七點六公尺。(十)綏成殿,內供三頭六臂之大白傘蓋佛。(十一)雅木得光樓,內供一狗頭人身,頸懸人頭項鍊,腳踏赤身婦女之神像。(十二)武聖殿。(十三)菩薩殿,內供乘象、虎、獅之三大士像。(十四)西配殿,供彌勒等九佛。(十五)扎
ủng hộ
6223扶持守護之意。指佛教之外護者守護佛、法、僧三寶等。據七佛經載,毘婆尸佛自兜率天降臨閻浮提時,有四大天子,具足威德,身被甲冑,手執弓刀,擁護菩薩,不使人非人等侵害之。法華經卷七陀羅尼品(大九‧五八下):「時釋迦牟尼佛讚藥王菩薩言:『善哉!善哉!藥王!汝愍念擁護此法師故,說是陀羅尼。』」又如金光明經卷一序品謂,信持金光明經者,有護世四王,及諸官屬、無量夜叉眾等,悉來擁護之。〔有部毘奈耶雜事卷四、慧琳音義卷二十九〕
; To support—To stand for—To back up—To hug in the bosom and guard.
ủng trung tróc miết
6575禪林用語。又作甕裡不走鱉。比喻欲得到之人、物均已在掌握之中,唾手即得,絕無走脫之虞。人天眼目卷一(大四八‧三○五中):「汾云:『披毛戴角,銜鐵負鞍,一言勘破維摩詰;甕裏不走鱉,也不放爾在。』」
ủy
1) Ủy nhiệm: Ủy thác—To confide—To trust. 2) Ném xuống: To cast down—To throw down. 3) Cuối cùng: The end.
ủy lạo
To comfort—To solace—To console.
ủy mỵ
Weakened.
ủy nhiệm
To entrust duty to someone.
ủy quyền
To give power of attorney.
ủy thuận
Nói về sự quy tịch của một vị Tăng—To die, said of a monk.
ủy thác
To entrust—To confide—To trust.
ứ
To be stagnant—To stagnate.
ứa gan
Boiling with anger.
ứa nước mắt
To bring tears to one's eyes.
Ức
億; C: yì; J: oku;|Có hai nghĩa: 1. Trăm triệu (100.000.000), một số lượng lớn; 2. Đếm, tính, ước lượng.
ức
5957梵語 koṭi。爲計數之單位。我國古代「億」之數有大小二種算法,小數爲十進位,以十萬爲億,十億爲兆;大數爲萬進位,以萬萬爲億,萬億爲兆。故「億」亦引伸爲盈滿之意。於佛典中,億之說法不同,如華嚴經探玄記卷四(大三五‧一七四下):「西國數法有三種億,一、百萬。二、千萬。三、萬萬。(中略)俱胝者,此云億,是千萬爲億,此中據千萬爲一億。」 另據瑜伽師地論略纂卷一載,於印度,億有四種說法:(一)十萬爲億,(二)百萬爲億,(三)千萬爲億,(四)萬萬爲億。以經論中所說爲例,如於瑜伽、顯揚等論中以百萬爲億,十億爲俱胝,故謂百俱胝爲一佛土。華嚴經以千萬爲億,稱爲百萬億。大智度論以十萬爲億,稱爲百億。
; 6220指對於某一對象,心中懸繫而不忘。大乘義章卷二(大四四‧四九二上):「常守一緣,不能捨離,於緣發悟名憶。」
; 1) Ký ức hay sự nhớ lại—To recall—To recollect—To reflect on. 2) Một trăm triệu: One hundred million.
ức chế
To oppress.
ức chỉ
Răn đe hay đàn áp—To oppress—To suppress.
ức chỉ môn
2952抑止,壓制之意;門,法門、教法。即指佛為抑止眾生為惡,故暫將其慈悲心隱藏不顯,而說凡作惡者不得往生之教法。無量壽經卷上載,法藏菩薩四十八願中之第十八願謂,犯五逆及誹謗正法者不得往生。然觀無量壽經則說,五逆、十惡之眾生若唸佛,仍可往生。善導釋之,於觀經疏散善義中分設抑止、攝取二門,而謂無量壽經係從未造業之立場而言,屬於抑止門,故說五逆、謗法者不得往生;觀無量壽經則從已造業之立場而言,屬於攝取門,故說五逆、十惡之眾生仍可往生。〔觀經散善義傳通記卷三、法華問答卷下〕
ức chỉ nhiếp thủ
2952抑止,制遮之義;攝取,容受之義。謂佛以慈悲、智慧之故,於智慧門制遮逆惡諸罪,於慈悲門容受善惡一切而無漏。〔釋淨土群疑論卷三〕
; Răn đe và dung nạp, giống như chiết phục nhiếp thọ. Về phương diện trí tuệ thì răn đe và cự tuyệt tội ác bạo ngược; về mặt từ bi thì dung nạp hết thảy thiện ác một cách không sót lọt—The suppression or universal reception of evil beings; pity demands the latter course; to subdue the evil and receive the good.
ức chỉ ác sự
Trấn áp những việc ác—Suppress evil deeds.
ức dương giáo
2952又作褒貶抑揚教。為劉宋之慧觀所判立的五時教之一。於漸教第三時中,讚揚菩薩,抑挫聲聞,稱為抑揚教,如維摩經、思益經等之說。(參閱「五時教」1136)
; Thời giáo thứ ba trong Ngũ Thời Giáo của Đức Phật, được Niết Bàn Tông Trung Quốc xiển dương—The third of the five periods of Buddha's teaching, as held by the Nirvana sect of China. ** For more information, please see Ngũ Thời Giáo (3).
Ức dương giáo 抑揚教
[ja] ヨクヨウキョウ yokuyōkyō ||| The "modulated teaching." The third of the five of Śākyamuni's teaching periods, according to Huiguan. => Giáo lý điều chỉnh cho phù hợp với căn cơ của chúng sinh. Theo Huệ Quán, đây là thời kỳ thứ 3 trong năm thời kỳ thuyết giáo của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni .
ức hiếp
See Ức Chế.
ức kiếp
5958劫,梵語 kalpa,音譯劫波,略作劫,爲古代印度極大時限之時間單位;億,形容數量極多、盈滿。億劫,有二義:(一)表無限長之時間,乃百千萬億劫之略稱。法華經(大九‧五下):「於無量億劫,行此諸道已;道場得成果,我已悉知見。」(二)表永遠之意。往生要集卷中(大八四‧六四上):「若有諂誑不淨心,億劫尋求莫值遇。」
ức lòng
Indignant.
ức niệm
6220梵語 smṛti,巴利語 sati。憶,憶持不忘之義;念,明記不忘之義。深刻於心內,記憶而不忘失,稱為憶念。一般係指念念不忘佛陀或諸佛之功德而言。日本淨土真宗有時以此為信心之別名。〔法蘊足論卷二、觀無量壽經疏卷四、往生論註卷上〕(參閱「念」3206)
; Ký ức ghi nhớ—To recall—To remember—To keep in mind.
ức niệm bồ tát
Smritisajatyah (P)Sanh Niệm Xứ Bồ tát.
ức niệm luân
6220三輪之一。又作意輪、記說輪、記心輪。指佛、菩薩之意業。佛、菩薩能鑑察眾生之根機意樂,隨宜說法而無錯謬,故稱其意業之作用為憶念輪。輪,即指佛、菩薩之身、口、意三業,能圓滿無礙而運轉,碾摧眾生之煩惱,一如輪王之輪寶具有圓滿、運轉、碎破之德。〔地藏十輪經卷六、大乘法苑義林章卷六〕(參閱「三輪」679)
ức niệm tỳ ni luật
Sati-vinaya (S).
Ức niệm 憶念
[ja] オクネン okunen ||| (1) To remember, to memorize, recall. The mental function of recalling the past. (2) The continual remembrance of the virtues of Amitābha Buddha, or remembrance of his vows. (3) To recite the name of Amitābha Buddha. => Nhớ lại, ghi nhớ, hồi tưởng. Tâm sở nhớ lại quá khứ. Thường xuyên, liên tục nhớ nghĩ đến đức hạnh của Đức Phật A-di-đà, hay nhớ nghĩ đến các lời nguyện của Ngài. Trì niệm danh hiệu của Đức Phật A-di-đà.
ức trì
6221梵語 dhāraṇa,巴利語同。指於法記憶受持而不忘失。觀無量壽經(大一二‧三四二下):「汝等憶持,廣為大眾分別解說。」
; Ký ức ghi nhớ gìn giữ không quên không mất—To keep in mind—To remember and maintain.
Ức tưởng phân biệt 憶想分別
[ja] オクソウフンベツ okusō funbetsu ||| To think about, conjecture, speculate (saṃjñā-vikalpa). => Suy nghĩ về, sự ước đoán, suy đoán (s: saṃjñā-vikalpa).
ức đoán
To estimate—To guess.
Ức 億
[ja] オク oku ||| (1) 100,000,000; a large amount. (2) To count, to calculate; to figure. => Có hai nghĩa: 1. Trăm triệu (100,000,000), một số lượng lớn. 2.Đếm, tính, ước lượng. Ức 憶 [ja] オク oku ||| (1) To think. (2) To remember. (3) To concentrate the mind on a single object without forgetting or losing it. => Suy nghĩ. Nhớ lại. Tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất không để quên mất đối tượng ấy.
Ức 抑
[ja] ヨク yoku ||| (1) Stop, check, curb, restrain, suppress, put down, control. govern, master. (2) Now, well, to begin with..., in the first place... (3) But, still, and yet, nevertheless. => 1. Dừng lại, hạn chế, kiềm chế, dằn lại, đè nén, dằn xuống, kiểm soát, khống chế, trấn áp. 2. Bây giờ, thế thì, bắt đầu bằng..., điểm đầu tiên là... 3. Nhưng mà, được rồi, và rồi, tuy nhiên.
ứng
Respond, correspond, answer, reply;
; 1) Ứng trước: To advance money to someone. 2) Đáp ứng: To respond—To correspond—To answer—To reply. 3) Thích ứng: Appropriate—Adaptability.
ứng am đàm hoa thiền sư ngữ lục
6435 【應菴和尚語錄→】請參閱 應菴曇華禪師語錄凡十卷。又作應菴和尚語錄。宋代應菴曇華撰,守詮等編,孝宗乾道二年(1166)刊行。收於卍續藏第一二○冊。內容包括卷一至卷六之住妙嚴禪院、住天童山景德禪寺第十四會之語錄,卷七至卷九之法語、書,卷十之頌古、真贊、偈|、佛事等,卷末附錄塔銘、祭文、松源和尚普說等。
ứng biến
To make the best of—To adapt oneself to.
ứng báo
Thưởng phạt tùy theo những việc làm trước đây—Corresponding retribution—Rewards and punishments in accordance with previous moral action.
Ứng báo 應報
[ja] オウホウ ōhō ||| Retribution. Karmic reward. => Quả báo, nghiệp báo. Ứng quả [ja] オウカ ōka ||| The result of practice in attaining the level arhat 阿羅漢. 應果 Kết quả tu tập đạt được khi chứng A-la-hán.
ứng bản
6431即應化身之根本。在天台宗,藏、通、別、圓等化法四教中之別、圓二教即以中道為應本。〔天台四教儀集註卷下〕(參閱「中道應本」1033)
ứng bệnh dữ dược
6434謂醫師針對病症施藥,比喻佛菩薩等善知識應所對之根機而說法。佛陀自古被稱為醫者之王,若視人間種種迷惑、束縛、貪婪、瞋恚等煩惱為種種病症,則佛陀應各種病症所說之法,不啻為一劑良藥。心地觀經卷二報恩品(大三‧二九六下):「諸如來轉於法輪,遠離四失,說相應法。一、無非處,二、無非時,三、無非器,四、無非法。應病與藥,令得復除。」 據北本涅槃經卷二十五載,諸凡夫之病總為貪欲、瞋恚、愚癡等三種。教示貪欲病者觀骨相,瞋恚病者觀慈悲相,愚癡病者觀十二緣相。此即以煩惱為病,佛法為藥之譬喻。〔文殊悔過經、維摩經卷上佛國品〕
; Phật thuyết pháp như một vị lương y, tùy theo bệnh của chúng sanh mà cho thuốc—To give medicine suited to the disease, the Buddha's mode of teaching.
ứng ca
Anga (skt)—Chân tay hay thân hình—A limb—Member—Body.
ứng chánh biến tri
Ứng Cúng và Chánh Biến Tri, là hai danh hiệu của Đức Phật—The arhat of perfect knowledge, a title of a Buddha. ** For more information, please see Thập Hiệu.
ứng chân
Arhat (skt)—A La Hán, bậc chánh chân xứng đáng được sự cúng dường của người và trời—A worthy true one who is in harmony with truth.
Ứng Chân 應眞
[ja] オウシン ōshin ||| YingzhenA Tang dynasty Chan monk who was an early teacher of Yangshan Huiji 仰山慧寂 (Yangshan Huiji). => (c:Yingzhen) Thiền sư đời Đường, trước là thầy của Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂 c: Yangshan Huiji).
ứng cung
6432梵語 arhat 或 arhant,巴利語 arahat 或 arahant。音譯阿羅漢、阿羅訶。為佛十號之一。又作應真、應。指斷盡一切煩惱,智德圓滿,應受人天供養、尊敬者。亦即應受一切人天以種種香、花、瓔珞、幢幡、伎樂等供養者。禪苑清規卷八(卍續一一一‧四六○下):「僧為佛子,應供無殊,天上人間,咸所恭敬。」此外,於小乘佛教中,指無學果之聖者。〔北本涅槃經卷十八、方廣大莊嚴經卷一、無量壽經卷上、法華經卷一、善見律毘婆沙卷四、寶性論卷二、大智度論卷二十四、大乘義章卷二十末〕(參閱「阿羅漢」3692)
ứng cán
6434請參閱 正恭敬經(1034~1096)宋代臨濟宗黃龍派僧。袁州(江西宜春)萍鄉人,俗姓彭。出家受具足戒後,即遍參諸方尊宿。及至照覺禪師東林常總之法席,始大悟而嗣其法。常總於元豐三年(1080)受命住持盧山東林寺,師即繼掌泐潭之寶峰禪院。紹聖三年入寂,世壽六十三。〔嘉泰普燈錄卷六、五燈會元卷十七〕
Ứng Cúng
(s: arhat, arhant, p: arahat, arahant, 應供): một trong 10 hiệu của Như Lai, âm dịch là A La Hán (阿羅漢), A La Ha (阿羅訶); còn gọi là Ứng Chơn (應眞), Ứng (應); chỉ cho người đã đoạn tận hết thảy các điều ác, phiền não, bậc đáng tôn kính với trí và đức viên mãn, xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của trời và người. Như trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 24 có đoạn rằng: “Ứng thọ nhất thiết thế gian cúng dường cố, danh vi Ứng Cúng nhân (應受一切世間供養故、名爲應供人, vì xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của thế gian, nên có tên gọi là người Ứng Cúng).” Hay trong Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1245) quyển 8 cũng có đoạn: “Tăng vi Phật tử, ứng cúng vô thù, thiên thượng nhân gian, hàm sở cung kính (僧爲佛子、應供無殊、天上人間、咸所恭敬, tăng là Phật tử, cúng dường không khác, trên trời cõi người, thảy đều cung kính).” Trong Nghệ Văn Loại Tụ (藝文類聚) quyển 77 dẫn bài văn Trường Can Tự Chúng Thực Bi (長干寺眾食碑) của Từ Lăng (徐陵, 507-583) nhà Trần thời Nam Triều, có đoạn: “Ư thị tư doanh chúng nghiệp, nguyện tạo phường trù, thứ sử Ứng Cúng chi tăng, giai đồng tự nhiên chi thực (於是思營眾業、願造坊廚、庶使應供之僧,皆同自然之食, vì vậy gây nên các nghiệp, nguyện xây nhà trù, khiến cho Ứng Cúng chư tăng, đều cùng tự nhiên thọ thực).”
ứng cúng
Xem A la hán.
; Arhat (S). Worthy of worship.
; Arhat (skt)—Bậc đã xa lìa mọi điều ác, xứng đáng được hưởng thụ sự cúng dường của người và trời, một trong mười danh hiệu của Như Lai—Worthy of worship, one of the ten titles of a Tathagata. ** For more information, please see A La Hán, A La Hán Quả, Arhat, and Thập Hiệu.
ứng cúng quả
Xem A la hán.
; Quả A La Hán—The reward of arhatship. ** For more information, please see Thập Hiệu.
ứng diệt tấn
6435梵語 pravāsanīya。略稱應擯。義同於擯出。係戒律中對犯重罪之僧眾所行之刑罰。如比丘犯四波羅夷罪者,應當滅除僧籍而擯逐於僧團之外。〔四分律行事鈔資持記卷上一之四〕(參閱「擯出」6440)
ứng dụng
Respond to needs—Ability to aid—To apply.
ứng dụng vô biên
6431與「應化無方」之義同。謂佛菩薩為救度眾生而應現化身之妙用,無礙自在,無時而不現,無處而不顯,即應化之神力自在。如觀世音菩薩應機示現三十三身以利益眾生。
; Khả năng phổ hiện vô biên nhằm cứu độ chúng sanh—Omnipresent response to need; universal ability to aid.
ứng hiện
Ứng theo cơ duyên mà hiện thân (Chân pháp thân Phật giống như hư không, ứng theo vật mà hiện hình như trăng trong nước)—Responsive manifestation—Revelation through a suitable medium—See Ứng Tác.
ứng hoà tông luận
6433為日本佛教史上之著名法爭,由我國歷來性相二宗之衝突所引起。村上天皇應和三年(963)八月,於宮中開講法華經義,奈良法相宗十師及北嶺天台宗十師皆應邀研討。爭論焦點集中於一切皆能成佛或有不能成佛者。天台主張一切皆能成佛,法相則堅持五性各別說,認為有不能成佛者存在(即無佛性者不能成佛)。天台之良源與法相之仲算爭論激烈,良源舉法華經「無一不成佛」為證,仲算指其意為「無之一不成佛」加以反駁,意即無佛性者不能成佛。良源又舉圓覺經(大一七‧九一七中):「地獄天宮皆為淨土,有性無性齊成佛道。」對此,仲算轉讀而駁其意為:「若地獄、天宮皆淨土,有性、無性當然齊成佛道。」要之,法相一派唯以巧妙之漢譯讀法強詞爭辯。似此論爭在我國亦曾發生。
ứng hoá
6429又作應現、應化利生。佛、菩薩應眾生之利益而變現與眾生同類之形像,稱為應化。據大智度論卷九十四載,應化,謂諸菩薩於眾生中,或化作父,或化作子,或化作師,或化作弟子,或為貧窮,或為富貴,而皆不被污染;如是遊戲於神通,以成就眾生,清淨佛土。 法華經論卷下,以「應化佛菩提」為三佛菩提之一,以「應化聲聞」為四種聲聞之一,皆係內祕實證,外現諸相,以導利眾生。又關於佛菩薩之應化,如觀世音菩薩應機而現三十三身,自在變化而不受任何拘縛,稱為應化無方。而如是應化之佛身,即稱為應化身、應身等。〔菩薩瓔珞本業經卷下、往生論註卷下、大唐西域記卷七〕(參閱「權化」6891)
ứng hoá pháp thân
6430指自法身佛應現之佛、菩薩、人、天、鬼、畜生等無量身。又稱他受用報身、應身、化身。菩薩瓔珞本業經卷上載,自初地至佛地,各有二種法身,即法性身與應化法身。謂於第一義諦之法中,由實性生智(般若),故為實智之法身;法名自體,集藏為身,一切眾生之善根,感此實智之法身,故法身能應現無量之法身。一切世界國土身、一切眾生身、一切佛身、一切菩薩身,皆悉能現不可思議之身。 同經卷下另舉二法身,即果極法身、應化法身。其應化法身如影之隨形,以果身為常之故,應身亦為常。故他受用報身及應身、化身等總稱為法身。〔梁譯攝大乘論釋卷十三、法華論卷下、金剛仙論卷九〕(參閱「法身」3353)
Ứng hoá pháp thân 應化法身
[ja] オウゲホウシン ōgehōshin ||| The response, transformation and dharma-bodies of the Buddha. The dharma body and and the other bodies which are functions of it. See 三身. 〔仁王經 T 245.8.827a3〕 => Ứng thân, Hoá thân và Pháp thân Phật. Dụng của Pháp thân và các thân khác. Xem Tam thân.
ứng hoá phật bồ đề
6430又稱方便菩提。就佛三身而言,可分為三種菩提,應化佛菩提為其中之一。謂於應當示現化導之處所,隨即示現。如釋尊出宮至伽耶城,坐於菩提樹下得阿耨多羅三藐三菩提。〔法華經玄義卷五下、止觀輔行傳弘決卷三之一、金光明玄義卷上〕(參閱「三菩提」631)
ứng hoá thanh văn
6430四種聲聞之一。即佛菩薩為化導眾生,暫現聲聞身,以令眾生進入大乘法門者。如舍利弗、目犍連等聲聞眾。〔法華文句卷四上、三藏法數卷十六〕
Ứng hoá 應化
[ja] オウケ ōke ||| (1) The manifestation of a body by a buddha or bodhisattva concomitant with the respective capacities of sentient beings in order to save them (nirmita). (2) The activity of saving sentient beings. => 1. Thân biểu hiện của một Đức Phật hay Bồ-tát tương ưng với căn cơ riêng của từng chúng sinh mà cứu độ cho họ (s: nirmita). 2. Việc cứu độ chúng sinh.
ứng hoặc
Sự đáp ứng của chư Phật vì nhu cầu của chúng sanh—The responses of Buddhas and spirits to the needs of men.
ứng hình
6434佛應眾生之根機而示現教化,稱為應形。義同於應身、應化等。金光明經卷二(大一六‧三四四中):「佛真法身,猶如虛空,應物現形,如水中月。」〔維摩經序品〕
; Ứng Thân—The form of manifestation, the nirmanakaya. ** For more information, please see Ứng Thân and Tam Thân Phật.
ứng hóa
Nirmàna means formation, with Buddhists, transformation, or incarnation. Responsive incarnation, or manifestation, in accordance with the nature or needs of different beings.
; Nirmana (skt)—Ứng là ứng hiện theo cơ duyên chúng sanh mà hiện thân. Hóa là biến hóa, là ứng theo duyên của thân Phật mà biến hóa thành các loại thân khác nhau—Nirmana means formation, with Buddhists transformation, or incarnation. Responsive incarnation, or manifestation, in accordance with the nature or needs of different beings. ** For more information, please see Tam Thân Phật.
ứng hóa lợi sanh
Sự ứng hiện của chư Phật và chư Bồ Tát, vì chúng sanh mà ứng hiện thuyết pháp khiến họ đi vào con đường Phật đạo, để đạt được lợi ích vô thượng—Revelation or incarnation of Buddhas or Bodhisatvas for the benefit of the living.
ứng hóa lợi sinh
Revelation or incarnation for the benefit of the living.
ứng hóa pháp thân
Pháp thân của Đức Phật, ứng hiện vô lượng thân (thân của mọi quốc độ, thân của mọi thế giới, thân của tất cả chúng sanh, của tất cả Phật và Bồ Tát)—Responsive manifestation of the Dharmakaya, or Absolute Buddha, in infinite forms. ** For more information, please see Tam Thân Phật.
ứng hóa thanh văn
Chân thân Phật hay Bồ Tát ứng hóa làm Thanh Văn để dẫn dắt người khác (Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên)—Buddhas or Bodhisattvas incarnate as sravakas, or disciples.
ứng hóa thân
Tramsformation bodyXem Hóa thânXem Hóa Phật.
; Nirmànakàya (S). The Buddha incarnate, the transformation body.
; Nirmakaya (skt)—Ứng Thân—Hóa Thân—Từ chân thân Phật mà ứng hiện ra Ứng Hóa Thân để tuyên lưu Chánh Pháp—The Buddha incarnate, the transformation body, capable of assuming any form for the propagation of Buddha-truth. ** For more information, please see Tam Thân Phật.
ứng hộ
6436<一>諸佛菩薩為眾生之利益而應機化現,稱為應化;若應同眾生之願望,於冥暗中守護眾生,則稱為應護。 <二>指眾生所歸依者,即如來。
; Sự ứng hiện và bảo hộ chúng sanh của chư Phật và chư Bồ Tát—The response and protection of Buddhas and Bodhisattvas according to the desires of all beings.
ứng khách thị giả
6433方丈六侍者之一。即代為招呼客人之侍者。禪林象器箋職位門六侍者條:「方丈有六侍者,一、巾瓶,二、應客,三、書錄,四、衣鉢,五、茶飯,六、幹辦。是皆室中親炙,必須為法忘軀、英奇嚴密之子以任此職,庶不孤此法乳也。」(參閱「侍者」3059)
ứng khí
Pàtra (S). The begging bowl, the utensil corresponding to the dharma. Also ứng lượng khí.
; Patra (skt)—Ứng Lượng Khí—Cái bát sắt của Tỳ Kheo dùng đựng thức ăn khi đi khất thực. Bát đựng đủ một phần ăn cho một vị Tăng hay Ni—Begging bowl, the utensil corresponding to the dharma, the utensil which responds to the respectful gifts of others; the vessel which corresponds with one's needs.
ứng khẩu
To speak extempore (without preparation).
ứng kim ngọc đường
6433(1916~ )江蘇無錫人,出生於上海。民國二十九年(1940)於上海歸依章嘉大師。四十年徙居臺灣,復依止南亭法師。四十四年移居美國紐約,五十一年在該地成立美東佛教研究總會,開紐約華人佛教組織之先河。五十九年又在紐約州南開羅鎮創建大乘寺,禮請港臺諸師住持,為美洲東部華人建寺之濫觴。目前氏為美國東部一帶佛教之重要護法。
ứng lí viên thật tông
6434略稱應理宗。為法相宗(唯識宗)之別名,係依解深密經勝義諦相品所說而立。以唐代慈恩窺基為初祖,立五位百法,判有為無為之諸法,發起一切唯識之旨,為大乘之一派。此宗所詮之理乃中道之教法,離空有二邊,能應一切理,圓滿真實,故稱應理圓實宗。〔法華玄贊卷一本〕(參閱「法相宗」3373)
ứng lý viên thực tông
Một tên khác của Pháp Tướng Tông (cho rằng chư pháp đều ứng hợp với lý một cách chân thực và viên mãn)—Another name of the Dharmalaksana school. ** For more information, please see Pháp Tướng Tông.
Ứng lượng khí
應量器; J: ōryoki; S: pātra;|Ðược dịch theo âm là Bát-đà-la, Bát.
ứng lượng khí
Patra (skt)—See Ứng Khí.
ứng mệnh
To obey an order.
ứng mộng
To see in a dream.
ứng nghi
Arhat (skt)—Bậc có đủ uy nghi xứng đáng được người và trời cúng dường—Deserving of respect, or corresponding to the correct. ** For more information, please see A La Hán, A La Hán Quả and Arhat.
ứng nhân
6429謂應受人、天供養之人,即阿羅漢。亦稱應供、應真。南海寄歸內法傳卷一(大五四‧二○五上):「次有弘法,應人結集。」又所謂應真,即應受人、天供養之真人。然據法華文句卷一上、法華文句記卷一下之解釋,謂應真乃應於真理之人;即以「應」為能應之智,「真」為所應之理。〔般泥洹經卷上、出三藏記集卷一〕
; Arhat or Arhan (skt)—A La Hán hay bậc đáng được cúng dường—An arhat, or a sage who is deserving worship. ** For more information, please see A La Hán, A La Hán Quả, and Arhat.
ứng niệm
Himavanta (S)Hi ma phạ đaMột trong Dạ xoa bát đại tướng: Bảo Hiền, Mãn Hiền, Mật Chủ, Oai Thần, Ứng Niệm, Đại Mãn, Vô tỷ lực, Mật Nghiêm.
ứng phu
6430宋代雲門宗僧。滁州(安徽滁縣)清流人,俗姓蔣。生卒年不詳。初入江寧府(江蘇南京)保寧禪院承泰門下,出家並受具足戒。後依天衣義懷,傳雲門之宗要。歷住潤州(江蘇鎮江)甘露、真州(江蘇儀徵)長蘆崇福禪院,號「廣照禪師」。門人有長蘆宗頤、雪竇道榮、慧日智覺等二十五人。〔續傳燈錄卷八、五燈會元卷十六、五燈嚴統卷十六〕
ứng pháp
Tương ứng với pháp và không trái ngược với lý—In harmony with dharma or law.
ứng pháp diệu báo
Áo của một vị Tăng—The mystic or beautiful garment in accordance with Buddha-truth, i.e. the monk's robe.
ứng pháp diệu phục
6433指僧眾所披之袈裟。應法,謂與法相應而不悖於理。以袈裟之形、色、量三者皆相應於佛制,故稱應法妙服。或以自在如法,稱為應法;自然所得,稱為妙服。無量壽經卷上(大一二‧二六九上):「如佛所讚,應法妙服,自然在身。」
ứng pháp sa di
6433三沙彌之一。謂正合沙彌之位。沙彌,係受持出家十戒而尚未受具足戒之男子。凡十四歲至十九歲之男子,出家得度,依一定之儀式受持十戒,稱為應法沙彌。禪苑清規卷九沙彌受戒文(卍續一一一‧四六三下):「次受沙彌十戒,即形備法儀,此稱勤策;依師而住,受利同僧,是為應法沙彌。」〔四分律行事鈔資持記卷下四之二〕(參閱「沙彌」2976)
; Một trong ba loại sa di, tuổi từ 14 đến 19—One of the three kinds of Sramana, a novice, preparing for the monkhood, between 14 and 19 years of age.
ứng phó
To cope—To face.
ứng phật
See Ứng Thân and Tam Thân Phật.
ứng quả
6433即阿羅漢果。阿羅漢,係梵語 arhat 之音譯,意譯則作應、應供,即謂斷盡一切煩惱,具足應受人天供養之福德者;故稱阿羅漢果為應果。〔俱舍論卷二十四〕
; Quả A La Hán—Arhat-fruit, the reward of arhatship.
ứng ra
To advance money.
ứng thanh tức hiện di đà
6436指觀無量壽經中說第七觀時,出現於韋提希夫人面前之阿彌陀佛。亦即應釋迦演說除苦惱法而應聲出現之佛,故稱應身即現彌陀。經云(大一二‧三四二下):「佛告阿難及韋提希:『諦聽!諦聽!善思念之,吾當為汝分別解說除苦惱法。』(中略)說是語時,無量壽佛住立空中。」善導解釋此義,謂彌陀應聲即現時,行者即證得往生。〔觀經疏定善義〕
ứng thiên tự
6430位於洛陽夾馬營。營在紋城東郊,為宋太祖誕生處,真宗時敕立為寺,供奉太祖像,賜額應天禪寺。後改稱發祥寺,俗稱東大寺。民國十七年(1928)為馮玉祥所毀,住僧四散。二十年,馮失勢遁逃,眾僧歸寺,重整佛像法器,遂漸復法事。二十六年,抗戰軍興,又復驅僧毀像,改為河南鹽務局及稅警團營房。
Ứng Thuận Vương
應順王; tk. 13;|Một Cư sĩ ngộ yếu chỉ thiền, được xem là môn đệ trong thiền phái Vô Ngôn Thông, đời thứ 15. Ông đắc pháp nơi Thiền sư Tức Lự và được xếp ngang hàng với các vị Thiền sư danh tiếng thời bấy giờ. Ông cũng là người cuối cùng được ghi lại trong hệ thống truyền thừa của dòng Vô Ngôn Thông trước khi dòng thiền này được thiền phái Trúc Lâm Yên Tử hấp thụ.
ứng thuận vương thiền sư
Zen Master Ứng Thuận Vương—Thiền sư Việt Nam, quê ở Thăng Long, Bắc Việt. Ngài là một quan chức trong triều đình dưới thời vua Trần Thái Tông. Ngài là một trong những đệ tử tại gia xuất sắc của Thiền sư Túc Lự, và là pháp tử đời thứ 15 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Nơi và khi nào ngài thị tịch vẫn chưa ai rõ—A Vietnamese Zen master from Thăng Long, Hanoi, North Vietnam. He was an official in the royal court during the reign of king Trần Thái Tông. He was one of the most outstanding lay disciples of Zen master Túc Lự, and became the dharma heir of the fifteenth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. His whereabout and when he passed away were unknown.
ứng thành tông
Xem Cụ Duyên tông.
Ứng thân
應身; S: nirmāṇakāya; hoặc Ứng hoá thân, Hoá thân;|Ba thân
ứng thân
6431梵語 nirmāṇa-kāya。又稱應佛、應身佛、應化身、應化法身。即佛為教化眾生,應眾生之根機而變化顯現之身。有數種分類:<一>二身之一。為「真身」之對稱。大乘義章卷十九分佛身為真身、應身二種,而以隨化所現之身,稱為應身,其形有所在,故生彼此之別,諸根相好各有分限。故知此處乃統稱應、化二身為應身。〔菩薩瓔珞本業經卷下〕(參閱「二身」199) <二>三身之一。(一)法、報二身之對稱。同於變化身。大乘同性經卷下分佛身為報身、應身、真身三種,而以穢土成佛、當成佛、兜率以下,乃至住持一切正、像、末法所顯現者,皆稱為應身。此外,如攝大乘論(魏譯)卷上以之與真身、報身共為三身,十地經論卷三以之與報身佛、法身佛共為三身佛。另天台宗於藏、通、別、圓之化法四教謂有能說之教主,乃立四佛。其中藏教之教主稱劣應身,現丈六卑小之身,住於凡聖同居土;通教之教主稱勝應身,又作帶劣勝應身,乃丈六之佛,具神通變現自在,住於方便有餘土。(二)法、化二身之對稱。即指八相成道之佛,此佛身具足三十二相、八十種好、項背圓光,隨機化現,忽有忽無。(三)法、化二身之對稱。指為十地菩薩說法之佛身。〔金光明最勝王經卷二、梁譯攝大乘論卷上、觀經疏玄義分(善導)〕 <三>四身之一。法、報、化三身之對稱。即為地前諸菩薩而現之佛身,此佛身係依定力而現起者,故不攝於五趣。〔合部金光明經卷一〕
; Nirmāṇakāya (S), Nirmāṇa-kāyah (S), Accommodated Body, Transformed body, Ōjin (J), Tulku (T), Ứng hóa thân, Biến hóa thân, Hóa thânThân Phật ứng với cơ duyên khác nhau mà hóa hiện. Nếu ứng hiện Phật hình là ứng thân, nếu ứng hiện khácvới Phật hình thì gọi là hóa thân. Pháp thân là tự tính thân.
; Sambhogakaya (skt)—Nirmanakaya (skt). 1) Thân Phật ứng với cơ duyên khác nhau mà hóa hiện, một trong ba thân Phật—Transformation body—Manifested body, or any incarnation of Buddha, one of the three bodies of a Buddha. 2) Thân Phật tương ứng với chân như: The Buddha-incarnation of the Bhutatathata. ** For more information, please see Tam Thân Phật, and Thiên Thai Nhị Ứng Thân.
ứng thân dữ hoá thân đồng di
6432謂於應身與化身之同異,諸經說法不同,如同性經、金光明經於應身之外立化身,則二身差別;大乘起信論於應身之外不立化身;唯識論、法華論等在化身之外不立應身,以化身即應身。(參閱「三身」555)
ứng thân kí
6432「法身記」之對稱。指應身佛之記莂。即將來八相成道其應身之相所示現之年數、國名、佛名等種種記莂。在天台宗所立本、迹二門中屬於迹門。法華文句卷四上(大三四‧四七下):「八相是應記;既得應記,知必有本,欲使物知聞,共結來緣,故與應記耳。」
Ứng thân 應身 (s: nirmāna-kāya).
[ja] オウジン ōjin ||| (nirmāna-kāya). The body manifested by a Buddha or bodhisattva according to the various capacities of sentient beings. The buddha-body that is unlimited in its capacity to save sentient beings. Also known in some schools as the "transformation body (化身)" or the "transformation-response body (化應身)." It is one of the three bodies of the Buddha (三身), and when the transformation-response body is distinguished into transformation body and response body, it becomes one of the four bodies. (1) A body that the Buddha manifests in order to teach sentient beings, which transforms according to the object of the teaching. (2) The buddha-body that is received as a reward for past practices, namely, the "reward-body (報身)." (3) The body that receives impressions from the discriminating consciousness and is manifested according to the minds of worldlings and practitioners of the two vehicles. => Thân thị hiện của Đức Phật hay của Bồ-tát tuỳ theo căn cơ khác nhau của chúng sinh. Thân thị hiện của đức Phật có vô hạn năng lực để sứu độ vô lượng chúng sinh. Một số tông phái khác gọi là Hoá thân hay là Ứng hoá thân. Là một trong Tam thân Phật, và khi Ứng hoá thân được tách biệt thành Ứng thân và Hoá thân, thì Ứng thân trở thành một trong 4 thân. 1. Thân thị hiện của Đức Phật để giáo hoá chúng sinh, thị hiện tương ứng với đối tượng của việc giáo hoá. 2. Thân Phật có được như là kết quả của mọi công hạnh tu tập thiện nghiệp trong quá khứ, gọi là Báo thân. 3. Thân có được do cảm nhận từ tâm thức phân biệt, thị hiện tuỳ theo tâm của hàng phàm phu và Nhị thừa.
ứng thời
Timely.
ứng thụ thức
6432十一識之一。即塵識。塵識係由色、聲、香、味、觸、法等六塵轉作之識,故稱應受識。〔顯識論〕(參閱「十一識」328)
ứng tác
6431<一>應機而示現。與「應現」、「應化」同義。謂佛菩薩應眾生之根機,而權巧方便示現種種身相威儀等。法華文句卷二下(大三四‧二四上):「名月是寶吉祥月天子,大勢至應作;普香是明星天子,虛空藏應作;寶光是寶意日天子,觀世音應作。」〔釋摩訶衍論卷十〕 <二>梵名 Chandaka。音譯車匿、闡陀迦、闍那。佛弟子之一。係悉達太子出家踰城時之馭者。後隨佛出家,證阿羅漢果。(參閱「車匿」3020)
; Theo cơ duyên mà xuất hiện tác động—Responsive appearance, revelation—See Ứng Hiện.
ứng tích
6434謂應化垂迹。即佛菩薩應眾生之機緣而自其本體示現種種身以濟度眾生。觀音玄義卷上(大三四‧八八○中):「上地為真為本,下地為應為迹。」〔勝鬘寶窟卷中本〕(參閱「本迹二門」1965)
; Ứng hiện để lại dấu tích (thân ứng với cơ duyên mà hóa hiện để lại dấu tích)—Evidential nirmanakaya, manifestations or indications of incarnation.
ứng tụng
6435梵語 geya,巴利語 geyya。音譯祇夜。又作重頌、重頌偈。九分教之一,十二分教(十二部經)之一。此類經典之形式,係重覆前述散文部分,而以韻文表示之。阿毘達磨順正理論卷四十四(大二九‧五九五上):「言應頌者,謂以勝妙緝句言詞,隨述讚前契經所說。」 蓋於九分教、十二分教中,應頌之形式屬於伽陀(梵 gāthā,偈頌)之一,然伽陀僅係韻文,不必與前後經文之教說直接有關;而應頌則係對前述經文內容之複說、追補,必與前說直接有關。又憂陀那(梵 udāna,無問自說)雖亦係偈頌形式,然因其係佛感興而自宣說,非待人問始說,故別成一項。〔北本涅槃經卷十五、大毘婆沙論卷一二六、瑜伽師地論卷三十八、華嚴經疏卷二十四〕(參閱「十二部經」344)
; Geya (S), Singing (S, P)Trùng tụng, Kỳ dạKệ giải thích giáo thuyết mà khế kinh đã nói.
; Geya (S). Corresponding verses, i.e. a prose address repeated in verse
; Geya (skt)—Kỳ Dạ—Trùng Tụng—Trùng Tụng Kệ—Lập lại nội dung theo phần tản văn đã trình ở trên bằng văn vần cho dễ nhớ—Corresponding verses, i.e. prose address repeated in verse; the verse section of the canon.
ứng từ
6435(1873~1965)安徽歙縣人,俗姓余。字顯親。光緒二十四年(1898),投南京三聖庵出家。越四年,受戒於浙江天童寺,以八指頭陀為戒和尚。後參禪於常州天寧寺冶開和尚座下,頗有領悟。光緒三十四年,與月霞法師同時受法於冶開和尚。後嘗繼月霞領導「法界學院」。民國十二年(1923),掩關於杭州西湖菩提寺,未久開講於常州「清涼學院」。師畢生以弘揚華嚴為職志,以參禪為心宗,倡刻華嚴經三種譯本、華嚴五教章(法藏)、華嚴大疏演義鈔(澄觀),及法華、楞嚴、楞伽等諸經疏。五十四年八月於上海示寂,世壽九十三。
ứng vô sở trụ nhi sinh kì tâm
6434為金剛般若經中之名句。又稱無住心、非心。與般若心經中「空即是色」義同。意即不論處於何境,此心皆能無所執著,而自然生起。心若有所執著,猶如生根不動,則無法有效掌握一切。故不論於何處,心都不可存有絲毫執著,才能隨時任運自在,而如實體悟真理。我國禪宗六祖慧能於未出家前,於市中販柴為生,偶經一客舍,聞誦金剛經,至此語,心即開悟,頓萌出家之志。〔六祖壇經行由品〕
ứng văn
6431(1337~?)諱允炆。明太祖朱元璋之孫,後即位,年號建文。於燕王靖難之變時,剃髮並改名應文,逃離京師。經湖湘入蜀,遊雲南,復還閩,入廣西壽佛寺,住十五年。未久,寓居南寧一蕭寺。流落三十九年後,經恩州知事岑瑛奏聞京師,賜號「老佛」,迎入西內,時年六十四。 於途中,應文賦詩云(大五○‧九一一中):「流落江湖四十秋,歸來不覺雪盈頭,乾坤有恨家何在?江漢無情水自流。長樂宮中雲影暗,昭陽殿裡雨聲愁,新蒲細柳年年綠,野老吞聲哭未休。」大明高僧傳以其名為「應能」,恐係訛誤。〔大明高僧傳卷三、續釋氏稽古略卷三、明史卷四〕
ứng đoan
6435(1069~1129)宋代臨濟宗黃龍派僧。世稱法輪應端。南昌(位於江西)人,俗姓徐。幼年即依化度寺善月出家,精通華嚴要旨。曾參謁真淨克文,然機緣不契。後參黃龍山靈源惟清,得其印可,並嗣其法。建炎年間住於法輪寺,建炎三年入寂,世壽六十一。〔嘉泰普燈錄卷十、大明高僧傳卷七〕
ứng đáp
To reply—To answer.
ứng đối
See Ứng đáp.
ứng đối trị
Payattika (S)Ba dật đề90 giới linh tinh của tỳ kheo. Một đoạn trong 8 đoạn của 250 giới tỳ kheo.
ứng độ
6429二土之一,三土之一,四土之一。又作應化土。即佛應眾生之機感所示現之佛土。為應身佛所居住之處,故亦稱應身土。依淨影寺慧遠之大乘義章卷十九淨土義六門分別所說,佛土分真土、應土二種。真土,妙寂離相而形無定所;應土,隨情異現而有所局限與差別。 同書又分法性土、實報土、圓應土三種。謂圓應土能隨眾生之機,示現淨穢、善惡、廣狹等種種之土,其用無缺,前二種則為真土,猶如淨珠,圓應土即隨淨珠之眾相而影現種種之土。如就八相成道之應身釋迦牟尼佛言之,此世界為其應土,而呈穢土相;阿彌陀佛之極樂世界亦為應土,而呈淨土相。 若就應土之義而論,可分為二:即由大悲願力之因緣所現之種種土,稱為報應土;由淨土三昧法門力所現之種種土,稱為法應土。此外,大乘玄論卷五另列舉五種佛土,即淨土、不淨土、不淨淨土、淨不淨土、雜土。諸土皆眾生自業所感,故稱為眾生報土,然以佛能現之功言之,亦稱為應土。
; Hóa Độ—Ứng trong cơ duyên chúng sanh mà hóa hiện nơi đất nước—Any land or realm suited to the needs of its occupants, one of the two lands. ** For more information, please see Hóa Độ and Nhị Độ.
ứng ứng
6436為「法應」之對稱。法身之感應,稱為法應;應身之感應,則稱為應應。法華玄義卷六上(大三三‧七四七中):「法應則冥益,應應則顯益。」
; Chân thân Phật ứng hiện tùy theo nhu cầu của chúng sanh—Nirmanakaya response, its response to the needs of all.
ừ
Yes.
ực
To swallow loudly—To drink down.
ỷ
A kind of open-work variegated silk.
; 1) Ỷ la: Thứ lụa xinh đẹp—A kind of soft and pretty silk. 2) Ỷ vào—To rely on—To depend on—To accord with—Dependent.
ỷ bản
4023與禪版同。坐禪時所倚之道具,厚約一公分,長五十七公分餘,寬十二公分餘,上下穿小圓孔,用時束定於繩床之橫繩。〔禪林象器箋第二十八類器物門〕(參閱「禪板」6470)
ỷ giàu
To rely on one's wealth.
ỷ lại
To depend on—To lean on—To rely on.
ỷ ngôn
Nói chuyện dâm ô—Sexual talk.
ỷ ngữ
5888梵語 saṃbhinna-pralāpa。又作雜穢語、無義語。指一切淫意不正之言詞。十惡之一。成實論卷八以非實語、實語而不以時、實語以時而隨順衰惱、實語以時而言無本末義理無次等皆爲綺語。又瑜伽師地論卷八載,綺語之別稱有非時語、非實語、非義語、非靜語、不思量語、不靜語、雜亂語、非有教語、非有喻語、非有法語等。〔成實論卷九、瑜伽師地論卷五十九、卷六十、法界次第初門卷上之上〕(參閱「十善十惡」468)
; Sexual talk; improper remarks.
; Tạp Uế Ngữ—Những ngôn từ hàm ý dâm ô bất chánh—Obscene or lewd words and speech—See Thập Ác Nghiệp.
ỷ phục tương thừa
4023謂二者或倚或伏相乘密接之關係。倚,寄、依之意;伏,潛、臥、隱之意;乘,由、因、駕之意。此語出自往生論註卷上,老子第五十八章亦有「禍兮福所倚,福兮禍所伏」之語。舉例言之,因與果之關係即是倚伏相乘,因乃果之所伏,果為因之所倚,因果輾轉相接,無有限量,因果互相倚伏,故稱為相乘。〔顯深義記(慧然)〕
ỷ quyền
Powerful—To rely on one's power.
ỷ tha
Ỷ lại hay tin tưởng vào người hay vật khác, chứ không tin tưởng nơi chính mình—Dependent on or trusting to someone or something else; trusting on another, not on self.
ỷ tha khởi tánh
Không có tự tánh, mà là tập hợp của nhiều yếu tố—Not having an independent nature, not a nature of its own, but constituted of elements.
ỷ tha thập dụ
Theo Kinh Duy Ma cật, sự không thực của pháp hữu vi được ví với tự thân biểu hiện trong mười thí dụ—According to The Vimalakirti Sutra, the unreality of dependent or conditioned things, e.g. the body or self, illustrated in ten comparisons: 1) Như bọt biển: Sea water foam. 2) Như bong bóng nước: Water bubble. 3) Như ánh lửa lập lòe: Twinkling flame. 4) Như thân cây mã đề: Plantain. 5) Như Ảo: Illusion. 6) Như mộng: Dream. 7) Như bóng: Shadow. 8) Như âm hưởng: Echo. 9) Như mây: Cloud. 10) Như ánh điển chớp: Lightning.
ỷ tha tâm
Tâm trong trạng thái lệ thuộc, lệ thuộc vào Phật hay cầu Phật để được tái sanh vào một cõi cao hơn—The mind in a dependent state, that of the Buddha in a higher state of incarnation.
ỷ tha tự tánh
Một trong ba tánh, tùy thuộc vào những yếu tố khác mà kiến lập chứ không có tự tánh của chính mình—One of the three natures, dependent on constructive elements and without a nature of its own.
ỷ tài
To rely on one's talent.
ỷ tượng
4024坐像之一種。坐時兩足垂下,或平行或交叉。另有丁子坐,則僅垂一足,另一足屈於股上,稱為半跏像。
ỷ viên
Tánh lệ thuộc hay pháp hữu vi và tánh viên mãn hay pháp vô vi của chơn như—Dependent and perfect, i.e. the dependent or conditioned nature, and the perfect nature of the unconditioned bhutatathata.
ỷ địa
See Y Địa.